Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 160 bài ] 

Tiểu sử các tác giả trong và ngoài nước

 
 09.04.2009, 13:03
Hình đại diện của thành viên
.::[S]top [L]uv::.
.::[S]top [L]uv::.
 
Ngày tham gia: 13.09.2007, 13:13
Tuổi: 29 Chưa rõ
Bài viết: 347
Được thanks: 514 lần
Điểm: 7.83
 [Tư liệu văn học] Tiểu sử các tác giả trong và ngoài nước - Điểm: 10
Chào Bạn đã đến với Toppic "Tiểu sử các tác giả văn học trong và ngoài nước" :bighug:


        Ở đây mọi người có thể cập nhật về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của các nhà văn, nhà thơ của văn học Việt Nam hoặc của các nước ngoài , để tìm có thể tìm hiểu và bổ sung thêm kiến thức văn học cho mình . Lưu ý, tác giả nào post rồi sẽ không post lên nữa ở trang đầu này cập nhật tác giả đã được post lên để khỏi bị lập lại.



TÁC GIẢ VIỆT NAM


- A Khuê .:.Chuyển.:.

- Anh Chi .:.Chuyển.:.

- Anh Đức .:.Chuyển.:.

- Anh Ngọc .:.Chuyển.:.

- Bà Huyện Thanh Quan .:.Chuyển.:.

- Bằng Việt .:.Chuyển.:.

- Bùi Ngọc Tuấn .:.Chuyển.:.

- Bùi Tông Quán .:.Chuyển.:.

- Chế Lan Viên .:.Chuyển.:.

- Chính Hữu .:.Chuyển.:.

- Chu Lai .:.Chuyển.:.

- Chu Văn An .:.Chuyển.:.

- Cung Giũ Nguyên .:.Chuyển.:.

- Đào Duy Từ .:.Chuyển.:.

- Đào Hồng Cẩm .:.Chuyển.:.

- Đào Vũ .:.Chuyển.:.

- Đặng Thai Mai .:.Chuyển.:.

- Đoàn Giỏi .:.Chuyển.:.

- Đoàn Thạch Biền .:.Chuyển.:.

- Đoàn Thị Điểm .:.Chuyển.:.

- Giang Nam .:.Chuyển.:.

- Gibert Trần Chánh Chiếu .:.Chuyển.:.

- Hàn Mặc Tử .:.Chuyển.:.

- Học Phi .:.Chuyển.:.

- Hồ Chí Minh .:.Chuyển.:.

- Hồ Dzếnh .:.Chuyển.:.

- Hồ Phương .:.Chuyển.:.

- Hồ Xuân Hương .:.Chuyển.:.

- Hoài Thanh .:.Chuyển.:.

- Hoàng Cầm .:.Chuyển.:.

- Hoàng Nhuận Cầm .:.Chuyển.:.

- Hoàng Phủ Ngọc Tường .:.Chuyển.:.

- Hoàng Trung Thông .:.Chuyển.:.

- Hồng Nguyên .:.Chuyển.:.

- Hữu Loan .:.Chuyển.:.

- Hữu Mai .:.Chuyển.:.

- Huy Cận .:.Chuyển.:.

- Kim Lân .:.Chuyên.:.

- Lâm Thị Mỹ Dạ .:.Chuyển.:.

- Lê Đình Kỵ .:.Chuyển.:.

- Lê Hữu Trác .:.Chuyển.:.

- Lê Minh Khuê .:.Chuyển.:.

- Lê Quý Đôn .:.Chuyển.:.

- Lộng Chương .:.Chuyển.:.

- Lưu Quang Vũ .:.Chuyển.:.

- Lưu Trọng Lư .:.Chuyển.:.

- Ma Văn Kháng .:.Chuyển.:.

- Minh Huệ .:.Chuyển.:.

- Nam Cao .:.Chuyển.:.

- Ngô Tất Tố .:.Chuyển.:.

- Nguyễn Bính .:.Chuyển.:.

- Nguyễn Bỉnh Khiêm .:.Chuyển.:.

- Nguyễn Công Hoan .:.Chuyển.:.

- Nguyễn Đình Chiểu .:.Chuyển.:.

- Nguyễn Du .:.Chuyển.:.

- Nguyễn Dữ .:.Chuyên.:.

- Nguyễn Duy .:.Chuyển.:.

- Nguyễn Đức Mậu .:.Chuyển.:.

- Nguyễn Đình Thi .:.Chuyển.:.

- Nguyễn Hải Chí .:.Chuyển.:.

- Nguyên Hồng .:.Chuyển.:.

- Nguyễn Huy Tưởng .:.Chuyển.:.

- Nguyễn Khải .:.Chuyển.:.

- Nguyễn Khoa Điềm .:.Chuyển.:.

- Nguyễn Khuyến .:.Chuyển.:.

- Nguyễn Kiên .:.Chuyển.:.

- Nguyễn Minh Châu .:.Chuyển.:.

- Nguyễn Nhật Ánh .:.Chuyển.:.

- Nguyên Ngọc (Nguyễn Trung Thành) .:.Chuyển.:.

- Nguyễn Ngọc Tư .:.Chuyển.:.

- Nguyễn Quang Sáng .:.Chuyển.:.

- Nguyễn Thi .:.Chuyển.:.

- Nguyễn Thị Duệ .:.Chuyển.:.

- Nguyễn Trãi .:.Chuyển.:.

- Nguyễn Tuân .:.Chuyển.:.

- Nguyễn Tường Tam .:.Chuyển.:.

- Nguyễn Văn Bổng .:.Chuyển.:.

- Nông Quốc Chấn .:.Chuyển.:.

- Phạm Duy Tốn .:.Chuyển.:.

- Phạm Ngũ Lão .:.Chuyển.:.

- Phạm Tiến Duật .:.Chuyên.:.

- Phan Bội Châu .:.Chuyển.:.

- Phan Châu Trinh .:.Chuyển.:.

- Phan Thị Thanh Nhan .:.Chuyển.:.

- Phan Tứ .:.Chuyển,:,

- Quách Tấn .:.Chuyển.:.

- Quang Dũng .:.Chuyển.:.

- Sơn Nam .:.Chuyển.:.

- Tản Đà .:.Chuyển.:.

- Tế Hanh .:.Chuyển.:.

- Thanh Hải .:.Chuyển.:.

- Thanh Thảo .:.Chuyển.:.

- Thạch Lam .:.Chuyển.:.

- Thâm Tâm .:.Chuyển.:.

- Thế Lữ .:.Chuyển.:.

- Thôi Hữu .:.Chuyển.:.

- T.T.Kh. .:.Chuyển.:.

- Tô Hoài .:.Chuyển.:.

- Tố Hữu .:.Chuyển.:.

- Tú Xương .:.Chuyển.:.

- Tú Mỡ .:.Chuyển.:.

- Trần Dần .:.Chuyển.:.

- Trần Đăng .:.Chuyển.:.

- Trần Đăng Khoa .:.Chuyển.:.

- Trần Mai Hạnh .:.Chuyển.:.

- Trần Mai Ninh .:.Chuyển.:.

- Trần Quốc Tuấn .:.Chuyển.:.

- Trần Trọng Kim .:.Chuyển.:.

- Trần Tuấn Khải .:.Chuyển.:.

- Trường Chinh .:.Chuyển.:.

- Văn Cao .:.Chuyển.:.

- Viễn Phương .:.Chuyển.:.

- Võ Huy Tâm .:.Chuyển.:.

- Vũ Bằng .:.Chuyển.:.

- Vũ Đình Liên .:.Chuyển.:.

- Vũ Trọng Phụng .:.Chuyển.:.

- Xuân Diệu .:.Chuyển.:.

- Xuân Quỳnh .:.Chuyển.:.

- Y Phương .:.Chuyển.:.

- Yến Lan .:.Chuyển.:.


______


TÁC GIẢ NƯỚC NGOÀI


- Aleksandr Sergeyevich Pushkin (Nga) .:.Chuyển.:.

- Alexandre Dumas - Con (Pháp) .:.Chuyển.:.

- Alexandre Dumas (Pháp) .:.Chuyển.:.

- Anton Pavlovich Chekhov (Nga) .:.Chuyển.:.

- Bạch Cư Dị (TQ) .:.Chuyển.:.

- Charles John Huffam Dickens (Anh) .:.Chuyển.:.

- Chinghiz Aitmatov (Nga) .:.Chuyển.:.

- Christian Johann Heinrich Heine .:.Chuyển.:.

- Conan Doyle (Ireland) .:.Chuyển.:.

- Dan Brown (Mỹ) .:.Chuyển.:.

- Đỗ Phủ (TQ) .:.Chuyển.:.

- Emily Brontë (Anh) .:.Chuyển.:.

- Gustave Flaubert (Pháp) .:.Chuyển.:.

- Haruki Murakami (Nhật) .:.Chuyển.:.

- Ivan Bunin (Nga) .:.Chuyển.:.

- Ivan Turgenev (Nga) .:.Chuyển.:.

- Jack London (Mỹ) .:.Chuyển.:.

- Joanne Kathleen Rowling (Anh) .:.Chuyển.:.

- Kim Dung (TQ) .:.Chuyển.:.

- Lev Nikolayevich Tolstoy (Nga) .:.Chuyển.:.

- Lỗ Tấn (TQ) .:.Chuyển.:.

- Lý Bạch (TQ) .:.Chuyển.:.

- Margaret Mitchell (Mỹ) .:.Chuyển.:.

- Maxim Gorky (Nga) .:.Chuyển.:.

- Miguel de Cervantes y Saavedra (Tây Ban Nha) .:.Chuyển.:.

- Rabindranath Tagore .:.Chuyển.:.

- Richard Russell (Mỹ) .:.Chuyển.:.

- Samuel Langhorne Clemens (Mỹ) .:.Chuyển.:.

- Stefan Zweig (Áo) .:.Chuyển.:.

- Stephenie Meyer (Mỹ) .:.Chuyển.:.

- Tào Tuyết Cần (TQ) .:.Chuyển.:.

- Thiếu Hạo (TQ) .:.Chuyển.:.

- Tiêu Đỉnh (TQ) .:.Chuyển.:.

- Tô Đông Pha (TQ) .:.Chuyển.:.

- Victor Hugo (Pháp) .:.Chuyển.:.

- William Shakespeare (Anh) .:.Chuyển.:.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
2 thành viên đã gởi lời cảm ơn nightly về bài viết trên: --Sói Xám--, Bỉ Ngạn Hoa
     

Có bài mới 10.04.2009, 18:26
Hình đại diện của thành viên
Dark Lord
Dark Lord
 
Ngày tham gia: 16.05.2007, 17:55
Tuổi: 29 Nam
Bài viết: 694
Được thanks: 467 lần
Điểm: 3.1
Có bài mới Re: Tiểu sử các tác giả văn học trong và ngoài nước - Điểm: 10
Nhà văn Nguyễn Tuân


Nguyễn Tuân (10/7/1910 – 28/7/1987) là một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam.

Ông quê ở xã Nhân Mục (tên nôm là Mọc), thôn Thượng Đình, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho khi Hán học đã tàn.

Nguyễn Tuân học đến cuối bậc Thành chung (tương đương với cấp Trunghọc cơ sở hiện nay) thì bị đuổi vì tham gia một cuộc bãi khóa phản đốimấy giáo viên Pháp nói xấu người Việt (1929). Sau đó ít lâu ông lại bị tù vì "xê dịch" qua biên giới không có giấy phép. Ở tù ra, ông bắt đầu viết báo, viết văn.

Nguyễn Tuân cầm bút từ khoảng đầu những năm 1930, nhưng nổi tiếng từ năm 1938 với các tác phẩm tùy bút, bút ký có phong cách độc đáo như Vang bóng một thời, Một chuyến đi... Năm 1941, Nguyễn Tuân lại bị bắt giam một lần nữa vì giao du với những người hoạt động chính trị.

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham gia cách mạng và kháng chiến, trở thành một cây bút tiêu biểu của nền văn học mới. Từ 1948 đến 1958, ông giữ chức tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam.

Các tác phẩm chính sau cách mạng của Nguyễn Tuân là tập bút ký Sông Đà (1960), một số tập ký chống Mỹ (1965-1975) và nhiều bài tùy bút về cảnh sắc và hương vị đất nước.

Nguyễn Tuân mất tại Hà Nội vào năm 1987, để lại một sự nghiệp vănhọc phong phú với những trang viết độc đáo và đầy tài hoa. Năm 1996 ông được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I).

Những tác phẩm nổi tiêng cua Nguyễn Tuân

  • Ngọn đèn dầu lạc (1939)
  • Vang bóng một thời (1940)
  • Chiếc lư đồng mắt cua (1941)
  • Tàn đèn dầu lạc (1941)
  • Một chuyến đi (1941)
  • Tùy bút (1941)
  • Tóc chị Hoài (1943)
  • Tùy bút II (1943)
  • Nguyễn (1945)
  • Chùa Đàn (1946)
  • Đường vui (1949)
  • Tình chiến dịch (1950)
  • Thắng càn (1953)
  • Chú Giao làng Seo (1953)
  • Đi thăm Trung Hoa (1955)
  • Tùy bút kháng chiến (1955)
  • Tùy bút kháng chiến và hòa bình (1956)
  • Truyện một cái thuyền đất (1958)
  • Sông Đà (1960)
  • Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972)
  • (1976)
  • Tuyển tập Nguyễn Tuân (tập I: 1981, tập II: 1982)
  • Yêu ngôn (2000, sau khi mất


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 10.04.2009, 20:47
Hình đại diện của thành viên
Bang Chủ Sư Ngoan Hiền Bang Cầm Thú
Bang Chủ Sư Ngoan Hiền Bang Cầm Thú
 
Ngày tham gia: 20.07.2006, 10:47
Tuổi: 26 Nữ
Bài viết: 37096
Được thanks: 80133 lần
Điểm: 12.32
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: Tiểu sử các tác giả văn học trong và ngoài nước
Hồ Chí Minh (1890–1969) tên thật là Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành, khi hoạt động ở nước ngoài lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, rồi Hồ Chí Minh.

Người sinh ngày 19 tháng Năm 1890, trong một gia đình trí thức nghèo, gốc nông dân. Thân phụ là cụ Nguyễn Sinh Sắc đỗ Phó bảng và từng làm việc cho triều Nguyễn, nhưng bị cách chức vì có tinh thần yêu nước thương dân, ông thường có thái độ chống đối bọn quan trên và bọn thực dân Pháp. Thân mẫu cụ bà Hoàng Thị Loan là con gái một nhà Nho làm nghề dạy học nên cũng được học ít nhiều, bà tính tình hiền hậu, đảm đang, quen việc đồng áng, dệt vải, hết lòng săn sóc chồng, dạy dỗ các con. Chị của Người là Nguyễn Thị Thanh và anh là Nguyễn Sinh Khiêm đều vào tù ra tội nhiều lần vì có tham gia chống thực dân Pháp.

Quê hương của Người (làng Kim Liên quê nội liền kề với làng Hoàng Trù quê ngoại, đều thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An). Người rất khâm phục cuộc khởi nghĩa Cần Vương do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1885-1896), phong trào Đông Du của Phan Bội Châu (1904-1908), Cuộc vận động cải cách do Phan Chu Trinh khởi xướng  (1905-1908), Cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám đứng đầu (1885-1913). Nhưng vượt qua những hạn chế của các nhà yêu nước đi trước, năm 1911 Người quyết định vượt biển sang phương Tây, quê hương của những cuộc cách mạng dân chủ, nơi có nền khoa học và kỹ thuật phát triển để thực hiện mục đích là dành độc lập, tự do. Trước khi xuất dương tìm đường cứu nước Người đã có thời gian học tại các trường học tại Vinh, Huế nên có điều kiện chủ động và nhanh chóng hoà nhập vào xã hội phương Tây.

Người nhanh chóng tiếp thu chủ nghĩa Mác Lênin khi hoạt động trên đất Pháp. Chính vào lúc phong trào cách mạng Pháp đang dâng cao dưới ảnh hưởng tốt đẹp của Cách mạng tháng Mười Nga (1917) và thông qua những đại biểu của những người cùng khổ nhất của nước Pháp, Người đã bắt gặp chân lý cứu nước là chủ nghĩa Mác Lênin. Từ đến với chủ nghĩa Mác Lênin, trở thành người cộng sản đầu tiên ở Việt Nam và là một trong số những người sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp (1920).

Từ năm 1921 đến 1930, với những hoạt động phong phú và sáng tạo ở Pháp, Liên Xô, Trung Quốc... vừa ra sức học tập nâng cao trình độ lý luận cách mạng vừa tham gia các hoạt động của Đảng Cộng sản Pháp và của Quốc tế cộng sản, viết sách, báo, mở lớp huấn luyện đào tạo, truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin vào Việt Nam một cách hệ thống...

Từ sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (ngày 3 tháng Hai 1930) trong những năm tiếp theo, mặc dù gặp nhiều khó khăn trong hoạt động cách mạng, có thời gian bị bắt và tù đày trong nhà lao đế quốc Anh ở Hồng Kông (1931-1932), Người vẫn theo dõi sát sao phong trào cách mạng trong nước, kịp thời đóng góp với Trung ương Đảng ở trong nước nhiều ý kiến cụ thể để chỉ đạo tốt đường lối của Đảng.

Ngày 8 tháng Hai 1941, Người trở về Tổ quốc chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ VIII của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam họp vào tháng Năm 1941.

Tháng Tám 1942 với tên gọi mới là Hồ Chí Minh, Người sang Trung Quốc để liên lạc với các lực lượng cách mạng của người Việt Nam bên đó và lực lượng của Đồng minh. Vừa qua biên giới, Người đã bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch vô cớ bắt giam hơn một năm, qua gần 30 nhà lao của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây. Thời gian Người đã viết tập thơ Ngục trung nhật ký, một tác phẩm lịch sử và văn học được đánh giá cao.

Người đã vận dụng thành công học thuyết Mác Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam đưa tới thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945 có ý nghĩa lịch sử và có tính chất thời đại mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.

Sau ngày Tuyên ngôn độc lập (ngày 2 tháng Chín 1945) tình hình đất nước vô cùng khó khăn, vì giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng do Hồ Chí Minh đứng đầu, nhân dân Việt Nam đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ với chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội (1954). Sau giải phóng miền Bắc, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân hai miền Nam, Bắc tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước.

Hồ Chí Minh là linh hồn của hai cuộc kháng chiến cứu nước, Người chủ trương tiến hành chiến tranh nhân dân, dựa vào sức mạnh chính nghĩa và truyền thống bất khuất của dân tộc Việt Nam nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn dân đánh thắng bọn xâm lược.

**Tác phẩm:
Ngục trung nhật ký
Đối nguyệt     
Không đề
Tức cảnh Pác Bó
Tân xuất ngục học đăng sơn
Lịch sử nước ta
Nguyên tiêu
Nhóm lửa     
Pác Bó hùng vĩ
Thượng sơn
11. Cảnh khuya     
Cảnh rừng Việt Bắc     
Thu dạ (II)
Chơi trăng     
Vô đề (II)


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 10.04.2009, 22:44
Hình đại diện của thành viên
Thành viên cấp 5
Thành viên cấp 5
 
Ngày tham gia: 29.09.2008, 18:25
Bài viết: 311
Được thanks: 35 lần
Điểm: 4.98
Có bài mới Re: Tiểu sử các tác giả văn học trong và ngoài nước
Ngô Tất Tố sinh năm1894 ở làng Lộc Hà, tổng Hội Phụ, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh (nay là xã MaiLâm, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội). Từ nhỏ, Ngô Tất Tố theo học chữNho. Năm Nhâm Tý 1912, ông bắt đầu dự thi. Đến năm Ất Mão 1915 ông đỗđầu kỳ sát hạch, nên được gọi là đầu xứ Tố.

Năm 1926, Ngô Tất Tố ra Hà Nội làm báo rồi cùng với Tản Đà vào SàiGòn. Sau gần ba năm ở Sài Gòn không thành công, Ngô Tất Tố trở ra HàNội vẫn với hai bàn tay trắng.

Ông sinh sống bằng cách viết bài cho các báo: Phổ thông, Tương lai,Công dân, Đông Pháp, Thời vụ, Hà Nội tân văn... với nhiều bút danh khácnhau như: Thục Điểu, Lộc Hà, Lộc Đình, Thôn Dân, Phó Chi, Tuệ Nhơn,Thuyết Hải, Xuân Trào, Hy Cừ... Ngô Tất Tố qua đời vào tháng 4 năm1954.

Ngô Tất Tố có viết nhiều công trình nghiên cứu như: Phê bình Nhogiáo của Trần Trọng Kim (1938), Mặc Tử (1942), Kinh dịch (1944) ...trong đó ông phê phán những tư tưởng tiêu cực của Nho học.

Trong cuốn tiểu thuyết Lều chõng, ông mô tả cảnh thi cử dưới chế độxã hội phong kiến xưa, nêu lên sự sụp đổ tinh thần của những nho sĩsuốt đời lấy khoa cử làm con đường tiến thân nhưng lại bị hoàn toànthất vọng.

Tắt đèn là tác phẩm thành công nhất của Ngô Tất Tố, trong đó ôngnêu lên cảnh cơ khổ cùng cực của tầng lớp nông dân Việt Nam dưới sự bóclột cay nghiệt của giới địa chủ.

Trong lĩnh vực dịch thuật, ông là tác giả cuốn Đường Thi, Cẩm Hương đình.

Về thơ sáng tác ông còn để lại 33 bài đăng rải rác trên các tạp chí.

Đánh giá công lao to lớn của ông, Hội đồng Nhà nước đã quyết định truy tặng Ngô Tất Tố Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 1).

Các tác phẩm:
- Tắt đèn (1939)  
- Lều chõng (1939)  
- Việc làng (1940)  
- Lão Tử (1942)
- Mặc tử (1942)
- Trong rừng nho    
- Văn học Việt Nam (1942)
- Hoàng Lê nhất thống chí
- Phiên chợ trung du


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 10.04.2009, 22:46
Hình đại diện của thành viên
Bang Chủ Sư Ngoan Hiền Bang Cầm Thú
Bang Chủ Sư Ngoan Hiền Bang Cầm Thú
 
Ngày tham gia: 20.07.2006, 10:47
Tuổi: 26 Nữ
Bài viết: 37096
Được thanks: 80133 lần
Điểm: 12.32
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: Tiểu sử các tác giả văn học trong và ngoài nước
Trần Quốc Tuấn (1232-1300) hiệu Hưng Đạo, là con An sinh vương Trần Liễu, cháu gọi Trần Thái Tông bằng chú, người hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, được phong ấp ở hương Vạn Kiếp, thuộc huyện Chí Linh, châu Nam sách, lộ Lạng Giang.

Theo truyền thuyết, từ nhỏ Trần Quốc Tuấn đã ham thích trò chơi đánh trận, sáu tuổi biết làm thơ. Lớn lên, học vấn rất uyên bác, vừa giỏi văn chương vừa hiểu thấu lục thao tam lược, cưỡi ngựa, bắn cung đều thành thạo. Năm 1257, quân Nguyên sang xâm lược nước ta lần đầu, ông được cử cầm quân giữ biên thuỳ phía Bắc. Ba chục năm sau, trong hai cuộc kháng chiến chông Nguyên Mông lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1287-88), ông lại được đè bạt làm tiết chế thông lĩnh toàn quân và đã giành thắng lợi lẫy lừng.

Là một vị tướng tài kiêm văn võ, biết đánh giá đúng vai trò quan trọng của dân - nền tảng của xã tắc - và của quân - lông cánh của chim hồng chim hộc - Trần Hưng Đạo đã biết đề ra một đường lối quân sự ưu việt, có tính chất nhân dân, mà tiêu biểu là hai cuộc rut lui chiến lược khỏi Kinh thành Thăng-long, tránh cho nhà Trần những tổn thất lớn, và tạo thời cơ bẻ gãy lực lượng của địch. Những kế hoạch làm vườn không nhà trông trên hắp các nẻo đường mà giặc đi qua, những hoạt động phối hợp nhịp nhàng giữa hương binh và quân đội chính quy của nhà nước, những trận phục kích lừng danh như trận Bạch Đằng đã làm cho tên tuổi của ông sống mãi. Ngay đến kẻ thù cũng phải nhắc đến mấy chữ Hưng đạo vương với niềm kính trọng.

Bên cạnh tư tưởng quân sự đột xuất, Trần Quốc Tuấn còn nêu một tấm gương về lòng trung nghĩa sáng suốt, biết gạt bỏ mọi hiềm khích riêng để đoàn kết các tôn thất và tướng tá trong triều nhằm phò vua giúp nước, đánh bại kẻ thù. Sử sách từng ghi lại câu nói nổi tiếng của ông với vua Trần Thánh Tông, khi đát nước đang lâm vào tình thế nghìn cân treo sợi tóc: "Xin bệ hạ hãy chém đầu tôi trước rồi sau sẽ hàng". Cho đến trước khi chết ông vẫn ân cần dặn vua Trần Anh Tông trong mọi chính sách của nhà nước phong kiến phải biết "nới sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc". Ông không những là một công thần của nhà Trần mà còn là một anh hùng lớn của dân tộc.

Trần Quốc Tuấn mất ngày 20 tháng Tám năm Canh tý (3-9-1300) tại nhà riêng ở Vạn Kiếp. Sau khi mất, ông được triều đình phong tặng Thái sư thượng phụ thượng quốc công, nhân võ Hưng Đạo đại vương.

Tác phẩm: theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Trần Quốc Tuấn có soạn Binh gia diệu lý yếu lược (còn gọi là binh thư yếu lược) và Vạn Kiếp tông bí truyền thư, nhưng văn bản nay đều đã gần như thất lạc. Tác phẩm thứ ba duy nhất còn giữ được của ông là bài Dụ chư tỳ tướng hịch văn, vẫn quen gọi là Hịch tướng sĩ. Đây là bài hịch viết vào khoảng trước cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai, nhằm kêu gọi tướng sĩ chăm lo luyện tập và nghiên cứu binh thư để kịp thời đối phó với âm mưu xâm lược của giặc. Bài hịch chứng tỏ tài năng văn chương trác luyện và nhiệt tình yêu nước cháy bỏng của Trần Quốc Tuấn.

Ngoài các tác phẩm trên, Trần Quốc Tuấn cũng để lại nhiều lời nói có ý nghĩa khuyên răn hay triết lý, được nhắc nhở và ghi chép như những huấn dụ quý báu đối với người năm vận mệnh xã tắc qua nhiều thời đại.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 11.04.2009, 11:13
Hình đại diện của thành viên
Dark Lord
Dark Lord
 
Ngày tham gia: 16.05.2007, 17:55
Tuổi: 29 Nam
Bài viết: 694
Được thanks: 467 lần
Điểm: 3.1
Có bài mới Re: Tiểu sử các tác giả văn học trong và ngoài nước
Hồng Hà nữ sĩ-Đoàn Thị Điểm


Đoàn Thị Điểm ( 1705 – 1748), hiệu Hồng Hà, biệt hiệu Ban Tang. Sinh tại làng Hiến Phạm, xã Giai Phạm, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Do lấy chồng họ Nguyễn nên bà còn có tên là Nguyễn Thị Điểm.
Mẹ của bà là Võ thị, vợ kế ông hương cống Lê Doãn Nghi, tương truyền trong một giấc mơ ông Nghi thấy có người ban cho họ Đoàn liền lấy họ Đoàn. Ngoài ra bà còn có một anh ruột là ông giám sinh Đoàn Luân.
Đoàn Thị Điểm là người có tài trí và nhan sắc hơn người, nổi tiếngtừ hồi trẻ. Năm 6 tuổi đã học rất giỏi. Năm 16 tuổi, có quan thượng thư Lê Anh Tuấn mến mộ muốn xin làm con nuôi, để tiến cử vào cung chúa Trịnh ,nhưng bà nhất định từ chối. Về sau cha mất, gia đình phải chuyển về quê nhà, được ít lâu dời về làng Võ Ngai, tại đây Đoàn Thị Điểm cùng anh trai Đoàn Luân hành nghề dạy học.
Nhưng ông Luân mất sớm, bà Điểm lại đem gia đình lên Sài Trang, ở đây bà được vời dạy học cho một cung nữ.Thời gian này bà kiêm luôn nghề bốc thuốc, gần như một tay nuôi sống cảgia đình - gồm 2 cháu nhỏ, mẹ và bà chị dâu goá. Bởi tài năng và sắcđẹp cộng với tính hiếu thuận rất đáng quý, bấy giờ bà được nhiều ngườicầu hôn nhưng nghĩ đến gia đình đành chối từ tất cả.
Năm 1739 bà lại dẫn gia đình về xã Chương Dương dạy học.
Năm 1743, sau một lời cầu hôn bất ngờ và chân thành, bà nhận lời làm vợ lẽ của ông binh bộ tả thị lang Nguyễn Kiều,theo ông về kinh đô. Ông Nguyễn Kiều sinh năm 1695, đậu tiến sĩ năm 21tuổi, nổi tiếng là người hay chữ. Sau đám cưới vài ngày, thì ông Kiều phải đi sứ sang Tàu. Thời gian này Đoàn Thị Điểm còn nghiên cứu thiên văn, bói toán và viết sách...
Năm 1746, ba năm chờ chồng dài đằng đẳng vừa kết thúc, bà lại phải khăn gói, từ biệt mẹ già cháu nhỏ để sang Nghệ An, nơi ông Kiều mới được triều đình bổ nhiệm. Sang Nghệ An buồn bã quá, một phần nhớ người thân lại thêm lạnước lạ cái, bệnh hoạn xuất hiện rồi ngày càng phát, đến 9/11/1748 (âm lịch), Đoàn Thị Điểm qua đời, hưởng dương 44 tuổi.
Sự kính yêu của người đời sau với Đoàn Thị Điểm không chỉ vì tài thivăn điêu luyện, đặc sắc, còn vì bà có những phẩm chất cao quý, đức hạnhtốt đẹp xứng đáng là mẫu phụ nữ tiêu biểu của xã hội Việt Nam ở mọi thời đại.

Tác phẩm

Đoàn Thị Điểm viết sách nhiều nhưng thất lạc cũng nhiều, hậu thế chỉ còn biết đến một vài tác phẩm Hồng Hà nữ sĩ gồm:



Tục truyền kỳ

Còn gọi là Truyền kỳ tân phả, sách viết bằng chữ nho. Trong có 7 truyện:

[*]Vân các thần nữ (Bà chúa Liễu Hạnh)
[*]Hải khẩu linh từ (nữ thần Chế Thắng)
[*]An ấp liệt nữ (tiểu thiếp Đinh NHo Hàn)
[*]Nghĩa khuyển thập miêu (chó nuôi mèo)
[*]Hoành sơn tiến cục (cờ trên núi Hoành)
[*]Mai huyền (cây mai huyền bí)
[*]Yến anh đối thoại (Yến anh nói chuyện)
Hai truyện cuối trong danh sách trên đã bị thất lạc. Sách này là nối tiếp sách Truyền kỳ mạn lục)của ông Nguyễn Dữ



Chinh Phụ Ngâm

Là bản việt hoá của tác phẩm Chinh phụ ngâm bằng hán văn của ông Đặng Trần Cônsáng tác.
Bản dịch gồm 412 câu theo lối song thất lục bát, trong diễn tả nhiềutâm trạng: hy vọng, buồn bã, giận hờn tựu về một mối đó là nỗi nhớnhung khắc khoải của một người chinh phụ (vợ có chồng đi lính) đang chờ chồng trở về sum họp.
Đây có lẽ cũng là tâm trạng của bà Điểm trong các năm 1743-1746 khi ông Nguyễn Kiểu đi sứ sang Trung Quôc.
Tuy là bản dịch, nhưng thậm chí còn được yêu thích hơn bản chính, nên đến nay được xem như là một sáng tác của bà Điểm.
Tác phẩm từng được dịch ra tiếng Pháp bởi những nhà Văn trong nhóm Mercure de France, với tên Les Plaintes d’une Chinh phu (1939). Sau này giáo sư Takeuchi dịch ra tiếng Nhật, với tên Seifu Ginkyoku.
Cùng với Truyện Kiều của Nguyễn Du, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, bản dịch Chinh Phụ Ngâm của Hồng Hà nữ sĩ được xem là tác phẩm ưu tú nhất của nền thi văn trung đại Việt Nam.


Đã sửa bởi NickyHwang lúc 11.04.2009, 11:25.

Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 11.04.2009, 11:23
Hình đại diện của thành viên
Bang Chủ Sư Ngoan Hiền Bang Cầm Thú
Bang Chủ Sư Ngoan Hiền Bang Cầm Thú
 
Ngày tham gia: 20.07.2006, 10:47
Tuổi: 26 Nữ
Bài viết: 37096
Được thanks: 80133 lần
Điểm: 12.32
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: Tiểu sử các tác giả văn học trong và ngoài nước
Trong nền văn học Việt Nam, nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương là một hiện tượng đặc biệt, không chỉ trong nội dung và nghệ thuật sáng tác mà ngay cả các văn bản sáng tác của nữ sĩ họ Hồ vẫn còn là những vấn đề đặc biệt, cần tiếp tục nghiên cứu tìm hiểu. Riêng về cuộc đời riêng tư của nhà thơ, cho đến nay vẫn còn là những dấu hỏi, chưa có một công trình nghiên cứu nào đáng tin cậy cả.

Theo các nhà nghiên cứu đầu tiên về Hồ Xuân Hương như Nguyễn Hữu Tiến, Dương Quảng Hàm thì bà là con ông Hồ Phi Diễn (1703-1786) ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Ông thi đậu tú tài năm 24 tuổi dưới triều Lê Bảo Thái. Nhà nghèo không thể tiếp tục học, ông ra dạy học ở Hải Hưng, Hà Bắc, để kiếm sống. Tại đây ông đã lấy cô gái Bắc Ninh, họ Hà, làm vợ lẻ - Hồ Xuân Hương ra đời là kết quả của mối tình duyên đó.

Trước khi nữ sĩ chào đời, gia đình thầy đồ Diễn dọn về ở phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận (gần Hồ Tây - Hà Nội bây giờ). Lúc Hồ Xuân Hương đã lớn, gia đình về thôn Tiên Thị, Tổng Tiên Túc, huyện Thọ Xương (nay là phố Lý Quốc Sư - Hà Nội). Ở tuổi thành niên, nữ sĩ có một ngôi nhà riêng dựng gần hồ Tây, lấy tên là Cổ Nguyệt đường.

Nhiều tài liệu cho biết, Hồ Xuân Hương ở với mẹ, có đi học, sáng dạ, thông minh, nhưng không được học nhiều, thích làm thơ. Bà có một bạn thơ rất đỗi tri âm, tri kỉ là Chiêu Hổ. Nhưng Chiêu Hổ là ai? vẫn còn là một ẩn số?

Cuộc đời riêng tư của nữ sĩ chịu nhiều đau khổ. Bà lấy chồng muộn, xây dựng gia đình, nhưng chẳng mấy hạnh phúc - Cuộc hôn nhân (làm lẻ) với Tổng Cóc, một tên ác bá, ngu dốt, là một nỗi đau buồn của nhà thơ. Khi làm lẻ ông Phủ Vĩnh Tường cũng chẳng vui vẻ, hạnh phúc gì hơn!

Còn về năm sinh tháng đẻ, có nhiều tài liệu rất chung chung: "Bà sống vào khoảng cuối Lê, đầu Nguyễn". Đây là một quãng thời gian hết sức co giãn, rất rộng, cốt để dung hoà nhiều giả thiết về thời điểm sống của nhà thơ, trước khi chưa có một tài liệu đủ cơ sở chắc chắn khẳng định thời điểm sống của bà. Trong gia phả của họ Hồ ở làng Quỳnh Đôi có chép Hồ Xuân Hương ở đời thứ 12, là con của Hồ Phi Diễn, và sinh năm 1772, mất năm 1822

Nhưng, dù chưa thật chính xác, đầy đủ, hoàn hảo và dù độ tin cậy chưa cao, suốt mấy thập kỷ qua, biết bao nhà nghiên cứu văn học, dày công sưu tầm vẫn chưa tạo dựng được một số nữ thi sĩ họ Hồ bằng xương bằng thịt đích thực. Nhưng họ cũng đã vẽ nên được bóng dáng nữ sĩ độc đáo có cha có mẹ, có quê cha đất tổ, có cả thời gian sinh thành, ly biệt và cuộc đời tình duyên riêng tư của bà không mấy xuôn xẻ hạnh phúc, nếu không muốn nói là bất hạnh. Âu cũng là một công việc đáng ghi nhớ, dù chưa thoả mãn lòng mong mỏi của bạn đọc trong nhiều thế hệ.

** Tác phẩm
- Đề vịnh Hạ Long
- Đồ Sơn bát vịnh
- Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập
- Lưu hương ký
Một số bài thơ Nôm
- Tự tình 1, 2, 3
- Duyên kỳ ngộ     
- Thân phận người đàn bà
- Bánh trôi nước     
- Khóc tổng Cóc
- Không chồng mà chửa
- Lấy chồng chung
- Mắng học trò     
- Chơi thuyền thưởng nguyệt
- Vịnh hoa cúc
- Quán nước bên đường
- Dỗ người đàn bà khóc chồng


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 11.04.2009, 12:26
Hình đại diện của thành viên
.::[S]top [L]uv::.
.::[S]top [L]uv::.
 
Ngày tham gia: 13.09.2007, 13:13
Tuổi: 29 Chưa rõ
Bài viết: 347
Được thanks: 514 lần
Điểm: 7.83
Có bài mới Re: Tiểu sử các tác giả văn học trong và ngoài nước
Nhà văn Kim Dung


Kim Dung tên thật là Tra Lương Dung, sinh năm 1924 tại trấn Viên Hoa, huyện Hải Ninh, tỉnh Triết Giang. Họ Tra là một danh gia lâu đời ở trong vùng. Năm lên tám tuổi, ông đọc bộ tiểu thuyết đầu tiên là bộ Hoang Giang nữ hiệp thấy say mê nên từ đó đã có mộng sẽ viết về bộ môn này. Năm 15 tuổi, mới học năm thứ ba trung học ông đã cả gan viết một cuốn sách luyện thi vào đệ thất (lớp 6) và được nhiều người trong mấy tỉnh lân cận mua đọc. Có thể nói đó là tác phẩm đầu tay của ông. Ðến năm 1941, khi còn đang học năm cuối bậc Trung Học, vì tình hình chiến sự ông phải tản cư qua nhiều phủ huyện. Cũng năm đó, ông viết một truyện trào phúng dưới nhan đề "Cuộc du hành của Alice" (nhái theo truyện Alice in Wonderland) có ý châm biếm ông hiệu trưởng nên đã bị đuổi.

Năm 1944, ông thi đậu vào Ban Ngoại Giao, trường Chính Trị quốc gia tại thủ phủ Trùng Khánh nhưng cũng vì tố cáo một vụ lem nhem trong trường mà bị khai trừ. Ông xin làm việc trong một nhà in và có thì giờ đọc nhiều sách phiêu lưu, mạo hiểm bằng tiếng Anh, và những truyện đó đã ảnh hưởng mạnh đến lối hành văn của ông sau này.

Ðến năm 1945, sau khi Nhật thua trận, ông quay trở về cố hương rồi qua Hàng Châu làm ký giả cho tờ Ðông Nam nhật báo. Nhưng không lâu, ông lại sang Thượng Hải ghi tên học luật, ngành Quốc Tế công pháp. Ông cũng là một trong ba người trong toàn quốc đậu kỳ thi tuyển phiên dịch pháp luật của Ðại Công Báo.

Tháng ba năm 1948, khi tờ Ðại Công Báo tái bản tại Hương Cảng, ông được cử sang làm việc tại đây. Tháng 11 năm 1949, ông viết một bài dài nhan đề "Quyền tư hữu của Hoa kiều theo luật quốc tế" và từ đó chuyên viết về bộ môn công pháp quốc tế. Năm 1950, sau khi cộng sản chiếm được Hoa lục, gia đình ông bị qui vào thành phần địa chủ, cha ông bị đem ra đấu tố nên từ đó Tra Lương Dung không còn liên lạc với gia đình được nữa.

Ðến năm 1952, ông sang làm việc cho tờ Tân Vãn Báo, viết phiếm luận. Cũng thời gian này, ông có viết một số truyện phim chẳng hạn như "Lan Hoa Hoa" hay "Tuyệt Ðại Giai Nhân".

Năm 1955, ông bắt đầu viết tiểu thuyết võ hiệp. Bộ truyện đầu tay của ông là Thư Kiếm Ân Cừu Lục (tức Thư Kiếm Giang Sơn) được đăng hàng ngày trên tờ Tân Vãn Báo.

Năm 1956, ông bắt đầu viết bộ thứ hai là "Bích Huyết Kiếm".

Năm 1957, ông bỏ viết báo quay sang làm việc cho công ty điện ảnh Trường Thành nhưng vẫn tiếp tục viết bộ truyện thứ ba là "Tuyết Sơn Phi Hồ" và sau đó là "Xạ Ðiêu Anh Hùng Truyện". Tiếng tăm của ông từ lúc này bắt đầu nổi. Ông cũng viết một số truyện phim cho công ty Trường Thành như "Ba Mối Tình", "Ðừng Bỏ Anh", "Tiếng Ðàn Khuya" ...

Năm 1959, ông cảm thấy không hợp với đường lối thiên tả của công ty Trường Thành nên từ chức, cùng với bạn học cũ thời Trung Học là Thẩm Bảo Tân xuất bản tờ Minh Báo. Số đầu tiên là ngày 20 tháng năm, 1959. Ngay từ số đầu, ông đăng truyện dài võ hiệp thứ năm là bộ "Thần Ðiêu Hiệp Lữ". Cũng thời gian đó, ông lại đăng "Phi Hồ Ngoại Truyện" trên tờ "Võ Hiệp và Lịch Sử".

Năm 1961, ông viết "Ỷ Thiên Ðồ Long Ký" và "Bạch Mã Khiếu Tây Phong".

Năm 1963 thì "Thiên Long Bát Bộ" bắt đầu. Cũng năm đó, ông viết một bài xã luận nổi tiếng là bài "Cần có quần cho dân chứ không cần đầu đạn nguyên tử" đả kích mạnh vào chính sách của nhà cầm quyền Trung Cộng để dân đói mà cứ chạy theo việc chế tạo võ khí hạch tâm. Trong suốt hai năm liền, hai tờ Minh Báo (thiên hữu) và tờ Ðại Công Báo (thiên tả), ngày nào cũng có những bài bút chiến kịch liệt.

Trong năm 1965, ông đi du hành Âu Châu từ tháng 5 đến tháng 6 mới về. Thành thử, truyện dài Thiên Long Bát Bộ phải nhờ bạn ông là Nghê Khuông viết thay một thời gian. Cuối năm đó, ông ra thêm tờ Minh Báo Nguyệt San là một tạp chí tương đối có trình độ cao hơn, giành cho giới trí thức.

Ðến năm 1967, sau khi Trung Cộng phát động cuộc Cách Mạng Văn Hóa, phe thiên tả càng đả kích ông mạnh mẽ hơn khi ông ủng hộ đường lối chặt chẽ của nhà cầm quyền Hongkong, cương quyết không để cho Cộng Sản len lỏi lũng đoạn. Cánh tả vì thế đã nhại tên ông, gọi là Sài Lang Dung, và là người đứng thứ hai trong danh sách phải thủ tiêu của chúng. Cũng thời gian đó, ông xuất bản thêm tờ Tân Minh Nhật Báo ở Mã Lai và Singapore, lại ra thêm tuần báo là tờ Minh Báo Chu San. Ông cũng bắt đầu viết bộ "Tiếu Ngạo Giang Hồ".

Tháng 10 năm 1969, ông bắt đầu viết "Lộc Ðỉnh Ký" Năm 1972, sau khi hoàn tất bộ truyện này, Kim Dung tuyên bố chấm dứt công trình của ông không viết thêm nữa. Tuy nhiên, ông đã giành suốt mười năm kế tiếp để sửa chữa lại toàn bộ 14 tác phẩm. Ông gom góp toàn bộ những gì ông đã viết suốt 20 năm qua thành một bộ 36 cuốn, dưới nhan đề "Kim Dung võ hiệp tiểu thuyết toàn tập".

Bản nhuận sắc này, ngoài văn phong trau chuốt hơn, ông cũng sửa đổi, thêm bớt nhiều chi tiết. Không những ông viết lại nhiều đoạn trước đây không hợp lý, nhiều tên người (cả nhân vật chính) ông cũng đổi (chẳng hạn như Ân Lợi Hanh, một trong Võ Ðương Thất Hiệp đổi thành Ân Lê Ðình, Triệu Minh thành Triệu Mẫn, Vương Ngọc Yến thành Vương Ngữ Yên ...). Ðoạn Nghê Khuông viết trong Thiên Long Bát Bộ ông cũng bỏ đi hết, viết lại một đoạn khác trám vào cho thống nhất lối hành văn, tình tiết và không bị tiếng là nhận của người khác là của mình.
Cũng vì ông thay đổi khá nhiều, một số thân hữu và độc giả đã than phiền là mất hứng thú khi đọc lại. Dẫu là cốt truyện trước đây không hay bằng nhưng đã in sâu trong tim óc nên dù sửa cho hay hơn, hợp tình hợp lý hơn, người ta vẫn hoài vọng xa xưa. Chính thế, để chiều ý người đọc, một số tác phẩm sau cùng ông chỉ sửa rất ít và Lộc Ðỉnh Ký thì gần như nguyên bản.

Tháng tư năm 1973, ông đi thăm Ðài Loan và có hội đàm với Thủ tướng Tưởng Kinh Quốc và nhiều nhân vật cao cấp của chính quyền Trung Hoa dân quốc. Khi về, ông viết loạt bài phóng sự "Thấy gì, nghe gì, nghĩ gì ở Ðài Loan", rất được quần chúng tán thưởng.

Ðến năm 1980, tờ Võ Lâm tại Quảng Châu đăng truyện "Anh Hùng Xạ Ðiêu", mở đầu cho một phong trào đọc Kim Dung ngay tại Hoa Lục. Công ty Viễn Ảnh tại Ðài Loan (là nhà xuất bản chính thức được in sách của Kim Dung tại đây) cũng phát động một chiến dịch nghiên cứu về ông và từ đó đến nay đã xuất bản trên 20 cuốn gọi là bộ "Kim Học Nghiên Cứu Tùng Thư".

Năm 1981, sau 28 năm xa quê hương, ông cùng vợ con về thăm Hoa lục. Trong dịp này, Ðặng Tiểu Bình đã mời ông đàm luận tại Nhân Dân Ðại Sảnh. Ông ở lại đến hơn một tháng đi khắp 13 tỉnh để thăm phong cảnh. Sau khi Trung Cộng ký với Anh hiệp định giao trả Hongkong, ông lại viết nhiều bài xã luận về tương lai của hòn đảo. Năm 1984, ông lại đi Trung cộng và lần này có hội kiến với Tổng Thư Ký của đảng cộng sản là Hồ Diệu Bang.

Ðến năm 1985, khi Trung Cộng thành lập một cơ quan nghiên cứu về tình trạng đặc biệt của Hongkong, ông được mời làm một ủy viên trong cơ cấu này, đặc trách tiểu tổ "Thể chế Chính trị ". Cũng vì thế, ông đã bị nhiều nhân vật và thanh niên cực đoan coi là ông đầu hàng địch. Ông phải viết một loạt bài nhan đề "Phải bình tĩnh bàn luận về một thể chế chính trị" để đưa ra quan điểm của mình, kết luận là một thái độ nóng nảy không thích hợp cho tình thế và chỉ đưa đến bất lợi hơn cho tình trạng của Hongkong sau năm 1997.


Ðến tháng năm năm 1989, khi xảy ra biến cố Thiên An môn, ông từ chức để phản đối thái độ đàn áp dân chủ. Cũng thời gian đó, khi kỷ niệm ba mươi năm hoạt động của công ty Minh Báo, ông cũng từ chức chủ nhiệm chấp hành, chỉ còn giữ chức chủ tịch ban quản trị. Tháng 3 năm 1991, Kim Dung ký với công ty một khế ước chỉ phục vụ thêm ba năm nữa (trong vai trò cố vấn) và sau đó sẽ hoàn toàn về hưu.

Năm 1992, ông được đại học Oxford (Anh) mời sang diễn thuyết về vấn đề tương quan giữa Hongkong và Trung quốc. Cuối năm đó, ông thành lập nhà in Kim Dung để xuất bản những tác phẩm mà ông coi là có giá trị.

Năm 1993, ông lại đi Bắc Kinh do lời mời của Giang Trạch Dân để bàn về vai trò của Hongkong sau khi Trung cộng tiếp thu. Ðến tháng tư năm đó, ông tuyến bố từ chức chủ tịch ban quản trị Minh Báo, chỉ còn là một chủ tịch danh dự, và viết bài tuyên bố hoàn toàn nghỉ ngơi như dự tính, theo gương hai nhân vật lịch sử mà ông hằng kính ngưỡng là Trương Lương và Phạm Lãi, công thành thân thoái.

Ðến năm 1994, bản dịch ra Anh văn các tác phẩm võ hiệp của ông được đại học Trung Văn lần đầu phát hành. Ðồng thời, toàn bộ cũng được chuyển sang giản tự (tức lối chữ Hán đơn giản mà Trung cộng sử dụng) phổ biến tại Hoa lục. Trong nghiên cứu về những tác giả lỗi lạc nhất của Trung Hoa trong thế kỷ thứ hai mươi, đại học Bắc Kinh xếp ông vào nhân vật thứ tư, sau Lỗ Tấn, Thẩm Tòng Văn, Ba Kim nhưng đứng trước Lão Xá, Úc Ðạt Phu và Vương Mông. Ðại học Bắc Kinh cũng mời ông làm giáo sư danh dự. Hiện nay nhiều người đang tra cứu tiểu sử cũng như bình luận về những tác phẩm của Kim Dung.

Tiểu thuyết của ông mở đầu cho một phong trào võ hiệp. Hầu như ở đâu có người Hoa đều có người đọc văn của ông. Ở nước ta, ảnh hưởng của ông đến giờ này cũng vẫn còn sâu đậm. Có thề nói, những truyện của ông đã ra ngoài khuôn khổ của sách giải trí mà hàm chứa nhiều bài học nhân sinh của Nho, Lão, Thiền tông cũng như những ẩn số xã hội khác. Ông lại dựng truyện trong những khung cảnh lịch sử, và có tài làm cho người ta lầm những nhân vật tưởng tượng của ông là sự thật.


Ngoài ra còn một truyện ngắn duy nhất ông viết không được liệt kê trong danh sách tác phẩm võ hiệp của ông là Việt Nữ Kiếm.

Tổng cộng Kim Dung chỉ viết có 14 bộ tiểu thuyết mà chính ông đã lấy những chữ đầu đặt thành đôi câu đối để cho dễ nhớ:

Phi Tuyết Liên Thiên Xạ Bạch Lộc
Tiếu Thư Thần Hiệp Ỷ Bích Uyên
Phi Hồ Ngoại Truyện
Tuyết Sơn Phi Hồ
Liên Thành Quyết
Thiên Long Bát Bộ
Xạ Ðiêu Anh Hùng Truyện
Bạch Mã Khiếu Tây Phong
Lộc Ðỉnh Ký
Tiếu Ngạo Giang Hồ
Thư Kiếm Ân Cừu Lục
Thần Ðiêu Hiệp Lữ
Hiệp Khách Hành
Thiên Ðồ Long Ký
Bích Huyết Kiếm
Uyên Ương Ðao

2 câu đối đc đọc thế này :
Phi tiếu phi tuyết liên thiên xạ bạch

Lộc tiếu thư thần hiệp ỷ bích uyên


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 11.04.2009, 20:51
Hình đại diện của thành viên
Bang Chủ Sư Ngoan Hiền Bang Cầm Thú
Bang Chủ Sư Ngoan Hiền Bang Cầm Thú
 
Ngày tham gia: 20.07.2006, 10:47
Tuổi: 26 Nữ
Bài viết: 37096
Được thanks: 80133 lần
Điểm: 12.32
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: Tiểu sử các tác giả văn học trong và ngoài nước
Bà huyện Thanh Quan là một nữ sĩ thời Nguyễn. Tiểu sử của bà không được đầy đủ lắm. Người ta chỉ biết bà là ái nữ của một vị danh Nho, sinh quán tại làng Nghi Tàm, huyện Thọ Xương (nay là Hoàn Long, tỉnh Hà Đông). Bà lập gia đình với ông Lưu Nghị, tự là Lưu Nguyên Uẩn, người làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông, đỗ cử nhân khoa Tân Tỵ, năm Minh Mạng thứ hai, được bổ làm tri huyện Thanh Quan. Do đó nữ sĩ được gọi là Bà huyện Thanh Quan hay Bà Thanh Quan. Trong Nam thi hợp tuyển của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc có đề cập về chồng của nữ sĩ như sau: "Chồng bà là ông Lưu Nguyên Uẩn, sinh năm 1804, đậu tú tài năm 1825, cử nhân năm 1828 và được bổ nhiệm làm tri huyện Thanh Quan. Ông huyện Thanh Quan vì can án phải cách, bổ làm Bát phẩm thơ lại Bộ hình. Sau lại thăng lên chức Viên ngoại lang".

Bà huyện Thanh Quan rất say mê cái thú văn chương và xem đó là một thú tiêu khiển thanh tao nhất. Trong câu đối dán trong dịp Tết, bà đã hạ bút:

    Duyên với văn chương nên dán chữ
    Nợ gì trời đất phải trồng nêu

Nói về bà, có nhiều giai thoại rất lý thú. Nhân một hôm ông huyện đi vắng, có một người đàn bà còn trẻ, tên là Nguyễn Thị Đào đến kiện người chồng phụ bạc, phế bỏ việc gia đình, hắt hủi vợ nhà, và yêu cầu quan trên cho mình được ly dị với chồng. Nhận thấy nội dung lá đơn lời lẽ rất cảm động, thương cho người thiếu phụ chịu lỡ dở cuộc duyên tình phí bỏ cả ngày xanh trong cảnh cô đơn, bà Huyện liền quên cả luật pháp, phê vào lá đơn của Nguyễn Thị Đào bốn câu thơ:

    Phó cho con Nguyễn Thị Đào
    Nước trong leo lẻo, cắm sào đợi ai
    Chữ rằng: Xuân bất tái lai
    Cho về kiếm chút, chẳng mai nữa già

Do việc làm của bà mà ông Huyện bị quan trên quở trách. Nhưng cách đó chẳng lâu, ông lại được thăng chức và thuyên chuyển về Bộ hình làm chức lang trung. Nhờ có tài văn chương lỗi lạc, Bà huyện Thanh Quan được vua Tự Đức vời vào cung và phong chức Cung trung Giáo tập để dạy cho các cung nhân học. Trọng tài học của bà, vua Tự Đức có ban cho bà được đề thơ vào một cái chén cổ, có bức hoạ sơn thuỷ. Bà đã ứng khẩu đọc hai câu:

    In như thảo mộc trời Nam lại
    Đem cả sơn hà đất Bắc sang

Vua Tự Đức vốn thích văn chương nên thường làm thơ cho bà hoạ lại, bà hoạ rất tài nên được vua rất quý trọng. Về những tác phẩm bằng chữ Nôm của Bà huyện Thanh Quan, hiện nay chỉ còn lại những bài thơ thất ngôn: Thăng Long hoài cổ, Chùa Trấn Bắc, Đền Trấn Võ, Qua đèo Ngang, Cảnh thu, Nhớ nhà, Cảnh chiều hôm,...

Phần quan trọng trong thơ văn của Bà huyện Thanh Quan là phần hoài cổ, tiếc thương quá khứ vàng son của tiền triều. Sinh trưởng vào thời Lê mạt và Nguyễn Sơ, bà đã chứng kiến bao cảnh thay ngôi đổi vị, chiến tranh tang thương. Cái ươn hèn của con cháu Hậu Lê, vua Lê Chiêu Thống toan "rước voi về dày mả tổ",... Bà huyện Thanh Quan, cũng như thi hào Nguyễn Du, muốn dùng văn thơ để diễn tả "những điều trông thấy mà đau đớn lòng". Vốn là phận nữ nhi, bà không thể viết lên những lời nuối tiếc nhà Lê như là một di thần, nhưng bà chỉ muốn nói lên lòng tha thiết tiếc thương cho một thời rực rỡ xa xưa, bị vùi dập vì loạn ly khói lửa. Trong bài Thăng Long hoài cổ, bà đã nói lên lòng thương tiếc không nguôi những dĩ vãng oai hùng, những thời vàng son thuở trước. Giờ đây, chiến tranh loạn lạc, bao cảnh đổi dời, đổ nát điêu tàn.

    Tạo hoá gây chi cuộc hý trường
    Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương
    Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
    Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
    Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
    Nước còn cau mặt với tang thương
    Nghìn năm gương cũ soi kim cổ
    Cảnh đấy người đây luống đoạn trường

Vốn là một trang nữ lưu tài sắc, Bà huyện Thanh Quan, cũng như hầu hết các thi nhân kim cổ, có một nguồn tình cảm dạt dào, một tấm lòng tha thiết với gia đình. Trên con đường từ đất Bắc vào kinh đô Huế để nhậm chức Cung trung Giáo tập, qua bao gian nan, một mình phải vượt suối, trèo đèo, bà đã có dịp để lòng mình sống với hiu quạnh cô đơn. Và bài thơ Chiều hôm nhớ nhà đã được viết ra để hồi tưởng lại những ngày sống với gia đình trong ấm ngoài êm. Nếu lòng hoài cổ thiết tha, sự thân mật với gia đình càng nồng nhiệt bao nhiêu, thì trước tạo vật, nữ sĩ cũng thấy lòng giăng trải để rộng đón những cảnh hùng vĩ của núi sông. Sự trầm mặc của Bà huyện Thanh Quan đôi khi đã thể hiện ở bên ngoài. Ta tưởng chừng như bà là một người đa cảm, đa sầu, tâm hồn dễ rung động trước ngoại cảnh. Nhưng thật ra, nỗi buồn của nữ sĩ rất nhẹ nhàng, kín đáo. Có lẽ vì quen nếp sống cổ kính của đạo lý Khổng Mạnh, bà rất dễ dè dặt, không để tình cảm bộc lộ một cách ầm ĩ. Tuy nhiên ta cũng thấy được phần nào nội tâm xao xuyến qua lời thơ. Lời thơ của bà rất nhẹ nhàng, dùng lời văn khuê các, đoan trang. Thơ buồn man mác trong những câu:

    Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
    Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

hoặc là:

    Ba hồi chiêu mộ chuông gầm sóng
    Một vũng tang thương nước lộn trời

Và những u hoài của một lữ thứ khi hoàng hôn xuống đã được thể hiện linh động nhưng mang vẻ trầm mặc, hắt hiu:

    Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi
    Dặm liễu sương sa khách bước dồn

hoặc là:

    Vàng toả non Tây, bóng ác tà
    Đầm đầm ngọn cỏ, tuyết phun hoa

Những lời thơ óng chuốt, đượm một vẻ bâng khuâng luyến tiếc, đã nói lên phần nào sự rung cảm chân thành của nữ sĩ trước tạo vật, trước thay đổi của nhân thế. Hầu hết trong thơ của bà, chúng ta có thể tìm thấy những đường nét hao hao giống tám bức cổ hoạ của Trung Hoa: Bình sa lạc nhạn (đàn chim nhạn bay xuống bãi cát), Sơn thị tình lam (cảnh chợ chiều dưới chân núi), Viễn phố quy phàm (thuyền buồm ở phố xa về), Ngư thôn tịch mịch (cảnh xóm thuyền chải buổi chiều), Sơn tự hàn chung (tiếng chuông chùa văng vẳng trên núi), Động Đình thu nguyệt (trăng thu trên hồ Động Đình), Giang biên mộ tuyết (cảnh gần tối tuyết sa ở bên sông), Tiêu Tương dạ vũ (cảnh đêm mưa trên sông Tiêu Tương).

Do những bài thơ ngụ ý tiếc thương quá khứ, Bà huyện Thanh Quan được nhiều nhà phê bình văn học xếp vào những thi sĩ có khuynh hướng hoài cổ.

Tác phẩm
- Đền Trấn Võ     
- Chùa Trấn Bắc     
- Thăng Long hoài cổ
- Cảnh chiều hôm     
- Chiều hôm nhớ nhà     
- Cảnh thu     
- Qua đèo Ngang     


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 11.04.2009, 23:05
Hình đại diện của thành viên
Thành viên cấp 6
Thành viên cấp 6
 
Ngày tham gia: 24.12.2006, 19:18
Tuổi: 27 Nữ
Bài viết: 353
Được thanks: 129 lần
Điểm: 6.14
Có bài mới Re: Tiểu sử các tác giả văn học trong và ngoài nước
Văn Cao tên thật là Nguyễn Văn Cao, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1923 tại Lạch Tray, đoạn sông Cấm chảy qua Hải Phòng, nhưng quê gốc ở thôn An Lễ, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Xuất thân trong một gia đình viên chức, cha của Văn Cao vốn là giám đốc nhà máy nước Hải Phòng. Thuở nhỏ, Văn Cao hoc ở trường tiểu học Bonnal, sau lên học trung học tại trường dòng Saint Josef, là nơi ông bắt đầu học âm nhạc. Năm 1938, khi mới 15 tuổi, vì gia đình sa sút, Văn Cao bỏ học sau khi kết thúc năm thứ hai bậc thành trung. Ông làm điện thoại viên ở sở Bưu điện tại Hải Phòng, nhưng được một tháng thì bỏ việc.

Cuối những năm 1930, tân nhạc Việt Nam ra đời. Ở Hải Phòng khi đó tập trung nhiều nhạc sĩ tiên phong như Đinh Nhu, Lê Thương, Hoàng Quý... Văn Cao tham gia vào nhóm Đồng Vọng của Hoàng Quý cùng Tô Vũ, Canh Thân, Đỗ Nhuận... và bắt đầu sáng tác ca khúc đầu tay là Buồn tàn thu vào năm 16 tuổi. Cùng nhóm Đồng Vọng, Văn Cao còn sáng tác một số ca khúc hướng đạo vui tươi khác như Gió núi, Gò Đống Đa, Anh em khá cầm tay. Cũng trong thời gian ở Hải Phòng, Văn Cao làm quen với Phạm Duy, khi đó là ca sĩ trong gánh hát Đức Huy. Phạm Duy chính là người đã hát Buồn tàn thu, giúp ca khúc trở nên phổ biến. Năm 1940, Văn Cao có một chuyến đi vào miền Nam. Ở Huế, Văn Cao đã viết Một đêm đàn lạnh trên sông Huế, được coi là bài thơ đầu tay.

Năm 1942, nghe theo lời khuyên của Phạm Duy, Văn Cao rời Hải Phòng lên Hà Nội. Ông thuê căn gác nhỏ số 171 phố Mongrant - nay là 45 Nguyễn Thượng Hiền - và theo học dự thính tại Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Văn Cao còn làm thơ, viết truyện đăng trên Tiểu thuyết Thứ Bảy. Năm 1943 và 1944, Văn Cao hai lần xuất hiện trong triển lãm Salon Unique tổ chức tại nhà Khai trí Tiến Đức, Hà Nội với các bức tranh sơn dầu: Cô gái dạy thì, Sám hối, Nửa đêm. Đặc biệt tác phẩm Cuộc khiêu vũ những người tự tử (Le Bal aux suicidés) được đánh giá cao và gây chấn động dư luận. Tuy được báo chí khen ngợi, nhưng tranh của Văn Cao không bán được. Ông trải qua một thời gian dài ở Hà Nội trong thiếu thốn. Cùng bạn bè, Văn Cao thường phải đứng bán các tác phẩm của mình trên các đường phố Hà Nội, Hải Phòng.

Các tác phẩm:

    * Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc (1945, khi chứng kiến nạn đói năm 1945)
    * Anh có nghe không (Giai phẩm Mùa xuân - tháng 2, 1956)
    * Một đêm Hà Nội
    * Những ngày báo hiệu mùa xuân
    * Khuôn mặt em (1974)
    * Ai về Kinh bắc
    * Một đêm đàn lạnh trên sông Huế
    * Ba biến khúc tuổi 65 (tháng 9-1988)

<từ nguồn :http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_Cao>


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 160 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Hiện đại] Làm thế nào để không nhớ hắn - Mộng Tiêu Nhị

1 ... 7, 8, 9

2 • [Hiện đại] Xin chào Chu tiên sinh! Dạ Mạn

1 ... 7, 8, 9

3 • [Xuyên không] Vương phi thần trộm Hưu phu lúc động phòng! - Thủy Mặc Thanh Yên

1 ... 24, 25, 26

4 • [Hiện đại Thanh mai trúc mã] Đều Tại Vầng Trăng Gây Họa - 11 Giờ Phải Ngủ

1 ... 11, 12, 13

5 • [Xuyên không - Cổ xuyên hiện] Ảnh hậu đối mặt hàng ngày - Ngã Yêu Thành Tiên

1 ... 10, 11, 12

6 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 41, 42, 43

7 • [Xuyên không] Hỉ doanh môn - Ý Thiên Trọng

1 ... 31, 32, 33

8 • [Hiện đại] Eo thon nhỏ - Khương Chi Ngư [NEW C59]

1 ... 5, 6, 7

9 • [Xuyên không] Cuộc sống nông thôn nhàn rỗi - Kẹo Vitamin C

1 ... 31, 32, 33

10 • [Hiện đại] Cục cưng lật bàn Con là do mẹ trộm được? - Ninh Cẩn

1 ... 25, 26, 27

11 • [Xuyên không - Dị giới] Phế sài muốn nghịch thiên Ma Đế cuồng phi - Tiêu Thất Gia - New C810

1 ... 34, 35, 36

12 • [Hiện đại] Anh Trai VS Em Gái - Trà Trà Hảo Manh

1, 2, 3, 4

13 • [Hiện đại] Bó tay chịu trói - Thiên Thần Di Cô

1 ... 8, 9, 10

14 • [Hiện đại] Hôn nhân giá ngàn vàng - Cẩm Tố Lưu Niên (103/104]

1 ... 52, 53, 54

[Cổ đại - Trùng sinh] Đích trưởng nữ - Hạ Nhật Phấn Mạt

1 ... 23, 24, 25

[Cổ đại - Trùng sinh] Trọng sinh cao môn đích nữ - Tần Giản

1 ... 40, 41, 42

17 • [Cổ đại] Kiêu Tế - Quả Mộc Tử

1 ... 13, 14, 15

18 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 72, 73, 74

19 • [Hiện đại] Vui vẻ gặp lại - Miêu Diệc Hữu Tú

1 ... 6, 7, 8

20 • [Xuyên không] Nịch sủng Chí tôn cuồng phi - Mặc Thập Tứ

1 ... 15, 16, 17



The Wolf: có ai biết tạo weibo không dạ?
Công Tử Tuyết: Re: Loài hoa nào tượng trưng cho khí chất của bạn? :wave:
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 248 điểm để mua Quạt máy
Shop - Đấu giá: Melodysoyani vừa đặt giá 329 điểm để mua Bò nhảy múa
Shop - Đấu giá: Tiểu Linh Đang vừa đặt giá 805 điểm để mua Ngồi chờ bạn trai
Shop - Đấu giá: Xám vừa đặt giá 317 điểm để mua Yoyo đầu hàng
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 786 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 747 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 710 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 1051 điểm để mua Cá voi xanh
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 675 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 641 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Shop - Đấu giá: Tử Tranh vừa đặt giá 528 điểm để mua Kem ly 2
Shop - Đấu giá: Maria Nyoko vừa đặt giá 294 điểm để mua Mây Alway Happy
Công Tử Tuyết: Re: [Trắc Nghiệm] Bạn là cô nàng nào trong "Tam sinh tam thế: Thập lý đào hoa"
Shop - Đấu giá: Lavender - Blue vừa đặt giá 387 điểm để mua Chim cánh cụt
Shop - Đấu giá: Hoa Lan Nhỏ vừa đặt giá 1000 điểm để mua Cá voi xanh
Shop - Đấu giá: Hoa Lan Nhỏ vừa đặt giá 279 điểm để mua Mây Alway Happy
Shop - Đấu giá: Maria Nyoko vừa đặt giá 264 điểm để mua Mây Alway Happy
Shop - Đấu giá: Maria Nyoko vừa đặt giá 400 điểm để mua Trung thu Hằng Nga
Shop - Đấu giá: Maria Nyoko vừa đặt giá 300 điểm để mua Lồng đèn đỏ 2
Shop - Đấu giá: windchime vừa đặt giá 839 điểm để mua Cá voi xanh
Shop - Đấu giá: Libra moon vừa đặt giá 609 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Công Tử Tuyết: Re: 12 cung hoàng đạo và 12 con giáp
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 579 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 798 điểm để mua Cá voi xanh
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 736 điểm để mua Bé trứng gà
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 700 điểm để mua Bé trứng gà
Shop - Đấu giá: Minh Huyền Phong vừa đặt giá 303 điểm để mua Thư tình
Shop - Đấu giá: windchime vừa đặt giá 759 điểm để mua Cá voi xanh

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.