Diễn đàn Lê Quý Đôn
Cấm đăng tin quảng cáo các lớp học, khoá học, hội thảo, tìm học sinh... Các bài quảng cáo sẽ bị xoá.


Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 41 bài ] 

Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải

 
Có bài mới 27.09.2018, 16:53
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5390 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XXVII

Nhân hoàng thái tử giữ ấn nam chinh thắng trận trở về, có đem theo tù binh để làm lễ hiến phù ở nhà thái miếu, vua Thuận Thiên cho thiết triều để bình công.

Thái bảo Đào Thạc Phụ được nhà vua trao quyền giám quản tựa như một vị quân sư cho hoàng thái tử, trong cuộc thảo phạt Chiêm Thành, đã tâu trình cặn kẽ mọi diễn tiến của cuộc nam chinh. Thái bảo hết lời ca ngợi tài cầm quân của hoàng thái tử. Ông nói với tất cả lòng trung thực và dưới con mắt của một vị giám sát nghiêm ngặt: – Thái tử tuy còn rất trẻ, mới gần hai chục tuổi thôi, nhưng đã tỏ lộ bản lĩnh vững vàng của một bậc nhân tướng, bậc trí tướng. Vì sao thần lại nói thái tử sớm tỏ lộ các đức tính ưu việt này, là bởi đối với quân sĩ dưới quyền, thái tử hết lòng yêu thương họ, dè sẻn máu xương họ. Bằng cớ là mỗi khi phân phái binh sĩ vào nơi hiểm địa, thái tử đều cho người đi dò la đường sá, dò la lực lượng địch, kể cả sự mạnh yếu nhất thời của nó. Lại sắp xếp cả viện binh ứng cứu khi cần, để người vào trận yên tâm rằng mình không bị cắt đứt với hậu quân, với đại quân.

Lại trước khi khai triển lực lượng tiến đánh địch quân, thái tử cho hội chư tướng để họ được biết về nội tình của giặc, lực lượng của giặc, cả những nơi quân giặc đồn trú. Sau đó lập sa bàn, rồi bày thành thế trận. Lúc nào vây hãm, lúc nào khiêu chiến, lúc nào đột kích ở đâu ở đâu, rồi lúc nhất tề cùng tiến, hiệu lệnh, mật lệnh, khẩu lệnh tất thảy đều rành mạch, rõ ràng không thể nhầm lẫn được. Tất thảy các việc trên thái tử đều hỏi han tham bác các tướng dưới quyền.

Cho nên khi vào trận, từ các mũi tiến quân đến các tướng cầm quân, tiến lui, công thủ thảy đều nhịp nhàng, không hề có rối loạn.

Đánh địch ngay trên đất địch, mà thái tử còn nắm chắc địa hình địch, như biết rõ trong lòng bàn tay mình có bao nhiêu đường nét vậy. Cứ xem cung cách thái tử chỉ huy, bày xếp, đủ tỏ là bậc trí tướng.

Không chỉ bày xếp, sai phái binh sĩ, mà đích thân thái tử cũng xông pha như một vị tướng. Chính thái tử đã cầm đầu toán quân phục nơi đường hẻm, đúng đường giặc chạy trốn, và chém đầu tướng giặc, khiến giặc phải đầu hàng. Vì vậy, công cuộc thảo phạt đạt thành tựu nhanh chóng. Tâu bệ hạ, điều này nữa, tỏ lộ thêm đức dũng của người làm tướng nơi thái tử.

Tâu bệ hạ, điều đáng nói ở đây là khi quân ta rút đi rồi, vẫn không bị người Chiêm coi như một kẻ xâm lăng. Trái lại, họ coi ta như một đội quân nhân nghĩa. Còn lỗi lầm, họ đổ lên đầu các nhà cầm quyền nước họ, trước hết là tổng trấn Bố Linh là kẻ luôn gieo rắc mầm hoạ. Chinh phục được cả lòng dân nước địch, không phải là việc bất cứ một vị tướng nào cũng làm được.

Lại nói về các thuộc hạ của thái tử như nội thị Lý Nhân Nghĩa, tướng quân Lê Phụng Hiểu, tướng quân Ngô An Ngữ, Lý Huyền Sư… khi lâm trận đều là những bậc tài trí, dũng mãnh cả. Họ xứng đáng được bệ hạ ban thưởng. Công trạng của từng người, thần sẽ lập thành một bản tấu riêng để bệ hạ ngự duyệt.

Dạ muôn tâu, tước trật hay phẩm vật mà tự tay hoàng thượng ban cho, không ai không coi đó là niềm phúc hạnh của đời mình.

Thần xin bệ hạ gia ân cho một việc nữa, ấy là binh sĩ theo thái tử đi chinh phạt khó nhọc, lại lập được công lớn, xin bệ hạ cho mở tiệc khao quân, rồi cho phép họ nghỉ dăm bữa nửa tháng, để họ về lại gia hương thăm ông bà, cha mẹ và vợ con, mai này có giặc họ lại hăng hái lập công.

Nghe thái bảo lược tâu về cuộc nam chinh đại thắng, vua Thuận Thiên lấy làm đẹp ý. Nhất là sự trưởng thành của hoàng thái tử.

- Vậy là con ta đã có phong độ của một vị tướng, có cốt cách của một bậc quân trưởng. Thế là con ta đã thành người lớn, đủ trí lực vào đời.

Nhà vua nhìn khắp lượt quần thần, gương mặt ai nấy đều rạng rỡ chứng tỏ mọi người đều đồng lòng.

Với vẻ cởi mở, vua nói:

- Thái bảo tâu trình các việc như thế đều rõ cả. Nhân đây ta có nhời khen thái bảo, khen tất cả đoàn quân nam chinh. Ta y chuẩn các việc thái bảo vừa tâu.

Nhân có việc mà ta muốn bàn với các khanh. Ấy là việc hoàng thái tử đã lớn, đã đến tuổi nạp phi, làm hôn thú để chính danh vị. Chẳng là bữa trước, ta nghe Lý Nhân Nghĩa tâu báo việc thái tử Lý Phật Mã có để mắt tới con gái nhà họ Mai bên hương Tam Sơn – nơi thái tử về mở phủ. Chẳng hay gia thế nhà họ Mai thế nào, nhân thân Mai thị ra sao, khanh nói mau để các quan còn nghị bàn.

Lý Nhân Nghĩa liền xuất ban tâu:

- Trình hoàng thượng, Mai Trọng Hựu hương Tam Sơn là một nhà hào phú nối đời tu nhân tích đức, con cái được học hành, được giáo dưỡng nên người. Mai Trọng Hựu là một cư sĩ nổi tiếng trong vùng. Các thiền sư thường triệu thỉnh ông ta đi giảng về Phật pháp cho các sa môn. Con trai cả của nhà họ Mai là Mai Mạnh Minh, bạn đồng môn với hoàng thái tử mà sư phụ chính là thiền sư Cứu Chỉ.

Nghe đến đây, nhà vua bỗng “À!” lên một tiếng.

- Được! Được lắm! Gia đạo như thế là được lắm. Khanh nói tiếp đi.

- Tâu, người con thứ hai là Mai Trọng Mẫn cũng vào hàng mẫn tiệp. Thứ nữ là Mai Minh Nguyệt có theo đòi chữ nghĩa ít năm. Nay tuổi vừa trăng tròn. Nhan sắc không thuộc loại chim sa cá lặn, nhưng lại có vẻ đẹp hoang sơ nơi hương ấp, còn tính hiếu thuận, lòng nhân từ chất phác thì thần chưa thấy ai có thể sánh được với người thiếu nữ này. Mai phu nhân là người đoan chính coi sóc việc nhà cũng như truyền dạy cho ái nữ các điều về dung, công, ngôn, hạnh thật khó có ai bì kịp.

Nội thị Lý Nhân Nghĩa tỏ vẻ đắc ý. Ông ngước nhìn nhà vua, nhìn triều quan:

- Tâu hoàng thượng, hoàng thái tử đúng là người có con mắt tinh đời. Tuy vậy, tâu hoàng thượng, thần chỉ còn một chút băn khoăn, Lý Nhân Nghĩa vừa nói xong liền ngồi thụp xuống.

- Được rồi, lát nữa khanh hãy nói điều băn khoăn của khanh, nhà vua vừa nói vừa nhìn khắp lượt triều quan. Bỗng nhà vua gặng hỏi:

- Ở đây có ai biết về gia thế nhà họ Mai nữa không?

Mấy vị triều quan quê ở Đông Ngàn, Tiên Du nói rõ thêm về gia đạo nhà họ Mai từ mấy đời trước. Đại loại là việc tu nhân tích đức, việc học hành, họ Mai từng nổi tiếng trong vùng.

Vua lại hỏi:

- Nếu ta lập ái nữ của Mai Trọng Hựu làm chính phi cho hoàng thái tử thì ý các khanh thế nào? À quên, ban nãy viên ngoại lang Lý Nhân Nghĩa nói có một chút băn khoăn. Vậy băn khoăn nỗi gì, khanh nói rõ ta nghe.

Viên ngoại lang nội thị Lý Nhân Nghĩa lại xuất ban:

- Tâu hoàng thượng, thần chỉ băn khoăn là gia thế nhà họ Mai không đăng đối được với hoàng thái tử, còn như về đường gia đạo thì không có gì phải phàn nàn cả.

- Khanh kỹ tính quá. Nếu xét đăng đối thì con ta ế vợ mất. Nhà vua cười vỡ ra. Cả triều quan cùng cười, vua tôi thật là vui vẻ.

Vua Thuận Thiên lại nói:

- Ta kén vợ cho con cũng như các ông thôi, là chọn nơi có đức chứ không phải chọn nơi có của, có quyền. Giàu có mà thất đức; chức trọng quyền cao mà thất đức thì sự nghiệp mỏng lắm, sập đổ lúc nào không biết. Vua gạn hỏi: – Nếu các quan không có ai phản bác, thì ta quyết lập ái nữ của nhà họ Mai làm chính phi cho hoàng thái tử. Vậy ta nhờ viên ngoại lang Lý Nhân Nghĩa đứng ra làm mai làm mối cho. Bên khâm thiên giám chọn ngày lành tháng tốt để làm lễ kết tóc cho hai trẻ. Vua lại dụ cho ty Thái chúc phải lo yến tiệc và đưa dẫn lễ lạt qua nhà họ Mai cho đúng với phép tắc của triều đình, và phong tục của dân nước.

Qua lễ cưới dân nước đồn ầm lên về chuyện con vua lại lấy con nhà thứ dân. Chuyện lan truyền đến làng Xuân Phương.

Bà con trong làng ngày nào cũng kéo nhau đến nhà cụ Giá. Họ muốn gặp đích thân cháu cụ theo hầu hoàng thái tử, để hỏi cho ra ngô ra khoai, xem có đúng như nhời đồn thiên hạ không.

Bữa nọ đô Sắn tướng quân từ kinh đô về thăm nhà. Theo hầu chàng còn có một gã “dũng nhi” tuổi chừng mười sáu, mười bảy.

Đô Sắn cỡi con ngựa tía, nòi Hồ. Nom chàng cao lớn, phương phi, oai vệ khác thường. Viên “dũng nhi” cỡi con ngựa ré Nước Hai, nom nhỏ nhắn như một con la, bốn chân thon, mình lẳn, mông chắc, bắp săn; sức sải không bằng con tía nòi Hồ, nhưng sức dẻo dai và ăn tạp thì con tía của đô Sắn chắc không thể theo được con ngựa Nước Hai này.

“Dũng nhi” là con cái thuộc các nhà nòi tướng, được tuyển chọn kỹ càng qua các kỳ sát hạch dựa trên các khiếu năng bẩm thụ, lại cho vào trường huấn hỗ từ mười ba đến mười lăm tuổi, và phải qua một kỳ khảo hạch cuối nữa. Võ sinh nào trúng cách mới được chọn vào đội “Dũng nhi”. Từ đội “Dũng nhi” lại được phái theo hầu các tướng để kèm dạy, cho tới khi phương trưởng sẽ trở thành các tiểu tướng quân.

Viên “dũng nhi” theo hầu đô Sắn là con ruột của biên tướng Nùng Tồn Mộc đang trọng trấn tại châu Bình Lâm. Y có tên là Nùng Tồn Thụ, nhưng mọi người vẫn quen gọi y là “dũng nhi”.

Lại nói đô Sắn vừa bước vào sân, trao dây cương cho Tồn Thụ cột ngựa vào gốc cây mít ở góc vườn, chàng chạy ào vào góc nhà, ôm lấy hai vai bà cụ Giá, giọng vồn vã, chàng hỏi:

- Bà! Bà ơi! Bà có khoẻ không? Bà có nhớ cháu không? Ôi bà, bà gầy quá.

Bà cụ Giá dạo này điếc lắm. Cụ không nghe được những gì cháu nói. Cụ ngửng nhìn Sắn, đôi tròng mắt đục lờ cùi nhãn, nước mắt rân rấn ứa ra, chắc là cụ đang xúc động. Cụ dùng mười đầu ngón tay teo tóp như những chiếc cẳng gà phơi khô, cứ rờ nắn khuôn mặt của Sắn. Mãi lâu sau, cụ mới nói được ra lời, giọng run run:

- Cha mẹ mày, không nhớ vợ nhớ con ư mà mãi hôm nay mới về.

Đồ Sắn cười hì hì. Vẫn cái giọng cười của anh lực điền ngày nào. Nhìn trước nhìn sau không thấy vợ con, Sắn ghé vào tai bà hỏi thật to:

- Bà ơi! Mẹ con thằng Cò đi đâu rồi?

- Mẹ con nó về thăm ngoại từ sáng sớm. Chắc nó sắp về đấy.

Đang mải thăm hỏi bà nội sau mấy tháng chưa về, vừa quay mặt ra nhà ngoài, đô Sắn đã thấy bà con xóm làng kéo nhau đến đầy một nhà. Sắn vội ra chào hỏi mọi người. Đang loay hoay không biết phải nước non tiếp đón dân làng như thế nào, thì mẹ con Lan cũng vừa bước vào sân. Cô đon đả chào hỏi bà con, rồi dẫn thằng Cò vào trong buồng chào cụ. Đặt chiếc bánh khúc còn nóng hổi vào bát, hai tay nâng lên rồi đặt vào tay bà cụ Giá:

- Cụ ơi! Bánh khúc nóng mẹ con gởi biếu cụ. Cụ ăn cho nóng ạ.

Cụ Giá không nom rõ trong bát là vật gì. Cũng không nghe rõ cháu dâu nói gì, nhưng ngửi thấy mùi hăng hăng của lá khúc, mùi mỡ phần ngầy ngậy, mùi tiêu cay cay, và mùi thơm xôi nếp, cụ biết nó là bánh khúc. Cụ cũng thầm đoán là bên nhà ông xã trưởng làm bánh khúc, nhân con bé đưa con sang thăm ông bà ngoại, cụ ngoại, lúc về bà xã trưởng gởi biếu đây. Chao ôi, người gì mà nhân đức thế. Đúng là ông xã trưởng đã đổi đời cho bà cháu bà. Lại còn cho cô Lan về làm dâu nhà bà nữa chứ. Thứ bậc, nó là vợ thằng Sắn, thì nó gọi mình bằng bà thôi, chứ cứ như cách ăn cách ở, cách cư xử của cô Lan, lắm lúc bà cứ nghĩ rằng giời phật thương bà cháu bà, nên cho cô tiên xuống làm vợ thằng Sắn. Nghĩ thế, cho nên không bao giờ bà cụ dám gọi cháu dâu bằng con nọ con kia. Dù biết rằng cô Lan cũng thích bà gọi như vậy, mà bà cũng muốn gọi như vậy lắm để nó ấm cúng tình bà cháu. Nhưng bà lại chạnh nghĩ, nếu như có điều gì luống cuống, giời phật gọi cô ấy về thì bà cháu bà lại khổ, lại cô đơn. Bà cụ Giá cứ luẩn quẩn trong cái sự mắc vướng ấy, nên cụ vừa vui sướng, lại vừa lo âu, lắm lúc cứ nẫu cả ruột.

Nhà đông khách, thằng Cò không dám ra ngoài, nó cứ bện lấy cụ nội. Bà cụ Giá vừa đưa cái mùi thơm thơm của bánh khúc chớm vào miệng thì dừng lại. Cụ gọi:

- Cò ơi! Con ăn hộ cụ nhá!

Thằng Cò quay ngoắt về phía cụ nội. Nó nắm lấy bàn tay cầm đũa của cụ, lại cầm bát bánh đặt vào lòng tay cụ, nó nói, giọng trẻ đến là thương: – Cụ ơi, cụ ăn đi. Con vừa ăn bên bà ngoại rồi. Bà ngoại gói cho mẹ con một bọc to lắm đem về biếu cụ đấy. Cụ ăn hết con lại lấy nữa cụ ăn. Nó nâng bàn tay cầm bát của cụ lên dỗ dành: – Cụ ăn đi. Ăn đi nào!

Bà cụ Giá nở nụ cười sung sướng trên gương mặt già dăn deo. – Cha mẹ mày! Cụ chửi yêu thằng chắt nội. – Nào thì cụ ăn.

Ở nhà ngoài, cô Lan xăng xái têm trầu, rót nước mời khách. Viên “dũng nhi” Nùng Tồn Thụ cũng nhanh nhẹn giúp chủ tướng bê trầu nước mời tận tay các bậc cao tuổi. Cả một nhà tấp nập râm ran thì nghe tiếng vó ngựa lộp cộp phía đầu sân. Ai nấy ngoảnh nhìn ra. Ông xã trưởng vừa từ mình ngựa xuống đã nói ngay:

- Người của triều đình về, bản chức chưa kịp làm lễ tiếp rước. Thật là có lỗi! Có lỗi!

- Ôi thày, Đô Sắn vừa ở trong nhà chạy ra sân đã vội chào nhạc phụ, và anh cúi xuống vái lạy ông xã trưởng ba vái: – Con lạy thày! Con thật có tội. Con vừa về nhà chưa kịp sang thăm thày…

Ông xã trưởng vừa bước vào nhà thì sư cụ chùa làng cũng xúng xính trong bộ áo chùng nâu, mũ nâu, tay chống cây gậy trúc bước vào sân.

Thấy sư cụ tới, mọi người ùa cả ra sân chào:

- Bạch cụ! Bạch cụ!… Cả làng từ già đến trẻ đều tỏ lòng tôn kính nhà sư.

Đô Sắn cũng chạy tới trước sư cụ chắp tay vái ba vái: – Con bạch cụ ạ!

Ông xã trưởng mời mọi người vào trong nhà. Nhưng khách đông quá, phải trải thêm chiếu ngồi ngoài sân.

Biết sự mong mỏi của dân làng, ông xã trưởng bèn lên tiếng:

- Bạch sư cụ, kính thưa các cụ và bà con dân làng. Từ độ nghe tin hoàng thái tử làm lễ kết tóc với một người con gái hương Tam Sơn, ai cũng cho đó là một sự lạ. Ai cũng bán tín bán nghi. Sao lại có chuyện con vua lấy con dân. Có đúng thế không thưa các cụ, thưa bà con.

- Đúng đấy! Đúng như thế đấy ông xã trưởng ạ. Mọi người đồng thanh đáp.

- Vậy thì thưa các cụ, thưa bà con, nhân có chuyện tế tử của tôi, đô Sắn vừa mới ở Thăng Long về, chính đô Sắn lại là tướng hầu cận của hoàng thái tử; sự việc có như thế nào, cháu Sắn đã mục sở thị, cháu sẽ kể lại hầu các cụ.

- Đa tạ! Đạ tạ! Tiếng các cụ đáp lời ông xã trưởng.

- Vậy thời anh Sắn, con đã nghe tỏ đầu đuôi việc các cụ trong làng đến nhà con rồi chứ. Tỏ rồi, thì con kể lại những điều con được chứng kiến như thế nào để các cụ nghe.

- Thưa các cụ! Ông xã trưởng lại quay về phía mọi người nói tiếp: – Chính nhà cháu cũng u u minh minh về chuyện này. Thành thử bà con có ai hỏi, cháu cứ lúng túng ở trong mồm như người ngậm hột thị, chẳng biết nói năng làm sao. May quá, lại có anh tế tử ghé nhà. Cháu sẽ hầu chuyện các cụ – Nào, bắt đầu đi thằng bố Sắn.

Sắn đứng giữa nhà, chắp tay vái bốn hướng – Xin các cụ, con xin tường lại đầu đuôi sự việc để các cụ rõ.

- Đúng là hoàng thái tử của đương kim hoàng thượng triều Thuận Thiên, đã làm lễ kết tóc với một người con gái họ Mai ở hương Tam Sơn. Nhà họ Mai là một phú hộ, nối đời làm việc thiện, nên được hưởng phúc. Nhà họ Mai là một nhà hiếu học. Mai ông là cư sĩ, thường giao du với các bậc thiền sư đạo cao đức trọng. Các bậc cao tăng thường tôn Mai ông là bậc thiện trí thức. Người huynh trưởng của Mai thị từng là đồng môn với thái tử thời niên thiếu. Dạ bẩm các cụ, đúng là hoàng thái tử đã làm lễ kết tóc với con gái của một nhà thứ dân, vì rằng Mai ông không có một thứ phẩm hàm, chức tước nào cả. Dạ, gọi là thứ dân thôi chứ không phải thường dân đâu ạ.

- Như vậy cũng đã là ghê lắm! Một cụ cắt lời đô Sắn nói chen – Đúng là từ thượng cổ chưa có chuyện con vua lấy con nhà thứ dân.

- Bạch các cụ, tôi xin có đôi lời. Sư cụ lên tiếng:

- Thật ra việc hoàng thái tử gá nghĩa với một thôn nữ, đối với triều Thuận Thiên cũng không lấy gì làm lạ lắm đâu ạ. Sư cụ ngưng lời nhìn mọi người. Dân làng im phăng phắc ngóng nghe lời sư. – Chẳng là đức Thuận Thiên xuất thân từ cửa Phật – sư nói tiếp, nên tâm của ngài là tâm Phật. Đã là tâm Phật thì không có sự phân biệt đối đãi. Đã không phân thứ bậc nữa thì đối đãi sao còn có phân biệt. Hoá nên một khi thái tử cầu xin, lập tức hoàng thượng y chuẩn.

- Dạ đúng như thế đấy ạ. Sự việc diễn ra đúng như nhời sư cụ vừa dạy đó, đô Sắn xác nhận. Song mọi người vẫn chưa hết ngạc nhiên, vẫn cho đó là một sự lạ.

Đoạn sư cụ lại quay về phía đô Sắn hỏi:

- Quan tướng quân có nhớ mấy năm trước, nhân tiết Thiên thành đức Thuận Thiên, dân làng ta đem tiến kinh giọng hát của bà Đào?

- Bạch cụ, con nhớ. Dạo ấy con và thái tử có gặp nhạc phụ con ở trên kinh. Nghe biết sự việc, con đã trình với hoàng thái tử. Chính nhờ có hoàng thái tử ra tay thu xếp, nên mẹ con bà Đào mới được ra mắt hoàng thượng, trình giọng hát. Dạ, bạch cụ vì rằng đồ lễ khắp nước tiến dâng, mọi thứ kỳ bí, phi phàm của đủ mọi người, mà ai cũng đều muốn đích thân đem dâng tiến nhà vua. Đông đúc đến như thế, nếu không có tay trong, thật khó mà lọt được tới bệ rồng. Dạ, bạch cụ, con có nghe nói giọng hát của bà Đào đã lay động cả hoàng cung, đã làm se thắt bao con tim của các bậc vương giả. Chính vì thế, hoàng thượng đã truyền phải thâu nhận mẹ con bà Đào vào ban nhạc cung đình. Cũng từ bữa ấy, nhà vua thường lui tới phường nhạc, để lại được nghe giọng hát của bà Đào. Bỗng một hôm ngài truyền hỏi, nương tử có giọng hát thần sầu kia tên gì. Viên trung quan bèn thưa:

- Trình hoàng thượng, thị ấy tên Đào.

Nhân đó vua truyền:

- Từ nay các con hát đều gọi là “đào nương”.

- Phước thiện thay! Sư cụ nói – Ở đời mọi việc không ra ngoài luật nhân quả, – cụ lại tiếp.

Sư cụ dứt lời, không khí từ trong nhà tới ngoài sân đều im phăng phắc. Mọi người đều có ý nán chờ xem sư cụ có nói gì nữa không. Bởi trong làng, sư cụ là người được kính trọng nhất. Thử hỏi, tới cả chục năm nay, nghĩa là từ khi triều Thuận Thiên được thiết lập, các anh trai làng này, anh nào có chữ mà chẳng là học trò sư cụ. Lại các điều hơn nhẽ thiệt ai chưa thông tỏ đều phải chạy ra chùa, nhờ sư cụ giảng giải. Rồi ốm đau, tật bệnh, thuốc men có việc gì không đến tay nhà chùa. Sư cụ đúng là một bậc thầy của cả làng.

Một phút im lặng qua đi, vừa đủ cho mọi người nghĩ suy về các việc hành xử của triều Thuận Thiên. Chợt ông nho Quế bèn cất tiếng nói. Ông nho Quế cũng vào loại chữ nghĩa kha khá ở trong làng. Đành rằng về sức học, ông không thể so với sư cụ là người đã từng theo học tại Đạo tràng Thăng Long. Nhưng cỡ tuổi ông ở cái làng Xuân Phương này, về đường chữ nghĩa, là ông ngang ngửa với ông xã trưởng Lương Thanh Khiết.

Ông nho Quế hắng giọng:

- Tôi xin được hỏi thêm về hoàng thái tử. Chúng tôi vẫn nghe nói, thái tử có về mở phủ tại hương Tam Sơn. Đồn rằng thầy, tớ, quân quyền về đấy cũng phát cây lấn rừng, làm nhà, cấy trồng như đám nông phu chúng tôi. Lại nghe nói, đích thân thái tử trần lưng ra làm như mọi người, ăn cùng mọi người. Rồi cũng phải đóng tô đóng thuế như mọi người. Chẳng hay chuyện đó hư thực thế nào ông đô Sắn?

Đô Sắn liền đứng dậy, anh mỉm cười vái các cụ hai vái rồi nói:

- Trình các cụ, tất cả các việc mà cụ nho Quế hỏi là thực cả đấy, chứ không phải là chuyện đồn thổi đâu ạ. Chính nhà cháu khi về hầu thái tử là từ đất Tam Sơn, cho nên mọi việc cháu đều được chứng kiến cả. Thưa các cụ, chẳng riêng gì hoàng thái tử cầm dao phát rẫy, cầm cuốc cuốc đất mà ngay cả hoàng thượng cũng đích thân nắm theo cày, cày ruộng tịch điền hằng năm ở Thăng Long kia chứ có đâu xa. Và thưa các cụ, hoàng thượng vẫn tự cấy lấy lúa gạo để làm xôi oản dâng cúng tổ tiên vào các ngày huý kị và các ngày lễ, tết trong năm. Hoàng thượng thường răn dạy các hoàng tử, không ỷ lại vào dân, mà phải tự mình làm ra phẩm vật của mùa vụ để dâng kính tổ tiên, ấy là đạo hiếu! Một khi hoàng thượng đã có nhời răn bảo, các hoàng tử sao dám trái ý ngài.

Ông nho Quế giơ tay lên vái trời:

- Con lạy chư thiên, một triều đại như thế, đạo nghĩa như thế, đạo lý như thế dân ta ắt được cậy nhờ. Cái đói, cái rét, cái bất nhân, cái ngu muội chắc không còn được dung dưỡng như dưới triều Lê Long Đĩnh nữa.

- Đúng là như vậy đấy! Các người cứ ngẫm mà xem, sư cụ nói.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 27.09.2018, 16:54
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5390 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XXVIII

Từ ngày lập Mai Thị Minh Nguyệt làm chính phi lại đưa về ở cung Long Đức, nom thái tử như người phát tướng. Gương mặt lúc nào cũng bừng sáng, rạng rỡ. Nói năng hoạt bát. Các việc làm đều nhịp nhàng giờ nào việc ấy, lúc kiếm cung tập tành, lúc thi thư xướng hoạ. Lại cũng hay tới phường Thái Hoà thăm nhà Ngô An Ngữ. Chẳng là năm trước nhà họ Ngô sinh được một trưởng nam, thật là khôi ngô tuấn tú. Ngô An Ngữ trước sinh tới năm con gái liền mà không được một đứa trai, tưởng bị phạt tự, ông ta buồn lắm. Lại đi cưới một người thiếp, ai ngờ vẫn sinh con gái. Ngày đêm cầu khẩn, chăm làm việc thiện, ai dè tới năm Kỷ Mùi, tức Thuận Thiên thứ mười (1019) thì sinh đặng con trai. Cũng là sự lạ, thằng bé lúc sinh lại ra ngược, một tay nắm chặt cuống nhau, tay kia thì che bụng, nom thật nực cười. Bà mụ bảo cậu bé này có cái vẻ như người vừa thủ thế vừa công thế, sau này làm tướng võ chăng?

Ngô An Ngữ năm trước sinh con trai, năm sau theo thái tử đi chinh phạt Chiêm Thành lập được công lớn, ai cũng bảo nhà ấy phúc đáo trùng lai. Đứa bé mới hơn một tuổi đã chạy nhanh, nói sõi. Nom đẹp như một tiên đồng. Đôi mắt to phát ánh sáng xanh, lông mày rậm hơi xếch, dài trùm đuôi mắt. Trán cao, lưỡng quyền như hai chiếc gò nở nang, cằm bạnh; mũi thẳng, chuẩn đầu hơi tròn; miệng rộng; môi đỏ hơi dày, nhân trung vừa rộng vừa sâu. Nom cậu bé tam đình ngũ nhạc cân đối rõ ra một quý tướng. Năm bé ba tuổi có một thầy tướng nhác trông đã nói: “Cậu bé này ra đời làm vượng cho nước”. Ngắm nghía giây lâu, ông chép miệng: “Chỉ tiếc một nỗi…” rồi ông bỏ lửng. Ngô An Ngữ gạn hỏi thế nào ông cũng không nói nữa. Chuyện ấy lâu ngày người ta cũng quên mà chỉ chú ý tới đứa bé cứ lớn như thổi, không một tật bệnh gì, không nhõng nhẽo quấy khóc như đám trẻ cùng lứa. Vừa tròn ba tuổi thì Ngô An Ngữ đã đón thầy về nhà dạy bé học. Cũng là thử xem đứa bé có khiếu năng học hành, có sáng dạ không. Ai ngờ, từ buổi đầu nó đã ngoan ngoãn nghe lời thầy chỉ bảo. Rồi từ đấy, hằng ngày nó chịu học như một đứa bé tám, chín tuổi.

Theo thầy đồ thì đứa bé rất sáng dạ, dạy đâu nhớ đó, chỉ một lần là thuộc cả chữ lẫn nghĩa. Sau dăm bảy ngày thử sức, Ngô An Ngữ nói với thầy chỉ nên dạy truyền khẩu, chớ không cho học chữ nữa, sợ thằng bé hại sức. Ai dè đứa bé nhất định không nghe, đòi học chữ cho bằng được. Cũng năm ấy nhà họ Ngô lại sinh tiếp một bé trai nữa. Đứa bé này, về mọi mặt không được như anh nó.

Hoàng thái tử dường như thích ngắm nhìn, thích trò chuyện với đứa bé con nhà họ Ngô. Có lần thái tử dạy nó một câu thật khó. Thái tử viết ra cho đứa bé nhận mặt chữ, rồi dạy cho cách đọc. Xong thái tử lấy đi ngay tờ giấy đó. Ba ngày sau hoàng thái tử trở lại nhà Ngô An Ngữ gọi bé con ra bảo: “Ngươi viết lại những chữ hôm trước ta dạy ngươi”. Đứa bé cầm bút viết đủ câu, các chữ không chữ nào thiếu nét. Thái tử lại bảo: “Ngươi đọc đi”. Đứa bé chỉ vào từng chữ đọc: “Nhân bất phong ba vị lão tài”. Thái tử bèn hỏi: “Chữ này của ai?”. Đáp: “Của thái tử cho cháu ạ!”

Thái tử ôm lấy đứa bé vừa cười vừa nói: “Đúng là chữ ta cho cháu viết. Nhưng không phải chữ của ta, chữ của đức Mạnh Tử đó”. Không ngờ mấy chữ thái tử cho để đo trí của đứa bé, lại hoá thành định mệnh của cuộc đời nó.

Nhìn ngắm đứa bé giây lâu trong vòng tay, thái tử buột miệng hỏi Ngô An Ngữ:

- Tướng quân đã đặt tên cho cháu bé chưa?

- Dạ bẩm thái tử, thần chỉ mới đặt nhũ danh cho cháu là “Cò” thôi ạ, còn tên tự thần chưa kịp đặt. Nếu thái tử không chê thằng bé, xin thái tử ban cho cháu một cái tên.

- Ông cho ta vinh dự này chăng, thái tử nói với tất cả niềm vui và cả tình yêu từ lâu người đã dành cho đứa bé. – Theo ta, thằng bé này đĩnh ngộ lắm, cứ đặt cho nó cái tên Tuấn, Ngô Tuấn. Vậy chớ tướng quân có chấp nhận không?

- Bẩm thái tử, đó là đại hạnh cho cha con thần.

- Ta quên hỏi tướng quân, chẳng hay có trùng với tên ai trong phả hệ họ Ngô không. Tướng quân phải xem lại, nếu trùng, ta sẽ đặt cho cháu một cái tên khác.

- Bẩm thái tử, theo trí nhớ của thần thì trong phả tộc nhà thần chưa có ai mang tên đó.

- Vậy là cháu bé có cái duyên được mang tên Ngô Tuấn rồi.

Cũng từ bữa đó, gia đình nhà Ngô An Ngữ gọi con là Tuấn, và bỏ luôn nhũ danh “Cò”.

Lại nói, từ ngày chính phi về làm chủ cung Long Đức, thái tử hay mời khách thi văn, khách kiếm cung đến đàm đạo. Có khi còn gọi cả phường hát vào hát thâu đêm. Đôi khi thái tử còn soạn cả lời cho đào hát.

Từ ngày trở lại cung Long Đức, phần đất khai khẩn được, gọi là “mở phủ”, thái tử đem cúng cả cho chùa Tam Sơn của thiền sư Định Hương trưởng lão.

Bữa làm lễ hiến đất trước Tam bảo xong, trưởng lão mời thái tử về trai phòng đàm đạo.

Sư nói: – Vậy là việc con đi mở phủ đã viên thành. Ta mừng cho con. Hoàng thượng đưa con đi mở phủ, tức là cho con cận dân, để mai này trị vì thiên hạ, con biết thương dân. Ta chắc nhà vua đã giáo huấn con nhiều điều, lại được các bậc sư phó chăn dắt, khai mở cho con với biết bao nhiêu kinh sách. Dù con đã biết, nhưng ta vẫn muốn nhắc lại, đức Cồ Đàm đã bỏ ra gần hết cuộc đời để tìm lẽ sinh tử. Cuối cùng ngài ngộ ra một chữ “KHÔNG”. Đó là cửa đi vào giải thoát. Ngài từ bỏ ngôi vua để đi tìm lẽ đạo. Còn con, nghiệp của con là trị vì thiên hạ. Người ở trên thiên hạ không phải là người cái gì cũng biết. Cho nên con phải biết lắng nghe. Nghe những người thân cận ta, nghe những người yêu ta, nghe cả người ghét ta, nghe cả kẻ thù của ta. Hãy xem tất cả họ nói gì. Sau đó con lại nghe người dân nói. Con nên nhớ những gì thuộc về sự thật, nó thường làm ta cay đắng. Nhưng nếu ta biết chấp nhận nó, và dám đương đầu với nó một cách kiên cường, lúc ấy con sẽ là người xuất chúng, xứng đáng là người đứng đầu trăm họ. Con nên nhớ, khi con ở ngôi cửu ngũ, mỗi cái phảy tay, mỗi cái gật đầu của con là ảnh hưởng tốt, xấu tới toàn thiên hạ. Đôi khi nó là cả sự thịnh suy, sự mất còn của cả quốc gia nữa đấy. Nay cờ đã sắp đến tay, nên con phải học hỏi để mai đây điều hành nó, tức là vận hành cả cái sinh mệnh của nước, cho thật đúng với thiện đạo của trời đất. Thiền sư bỗng ngừng lời, ngài nhìn sâu vào ấn đường của thái tử một lát, lại tiếp: – Con tuổi Canh Tý, tới năm Mậu Thìn, tức là năm năm nữa tới kỳ đại hạn. Hạn tam hợp này lại biến tam tai, cuối cùng con vẫn trụ được. Lấy gì giải hạn ư? Lấy tâm để giải hạn, lấy trí để trừ hung. Con nhớ nhé, Phật dạy ta Đại bi, Phật cũng lại dạy phải Đại hùng. Trước khi về triều, tình thầy trò, ta chỉ biết khuyên con như vậy. Con đã học Phật. Con còn nhớ Phật dạy sinh tử là lẽ thường hằng. Rồi Phật lại dạy chớ coi thường chuyện sinh tử. Ý tứ nhẽ đời, nhẽ đạo phải từ đây suy ra mà hành hoá, kẻo lại mắc vào mê ngộ. Vừa dứt lời thiền sư đã thả hồn vào hư không tịch tĩnh, thái tử vẫn có ý chờ thầy khai ngộ tiếp. Im lặng chừng tới nửa khắc canh giờ, bỗng sư cất tiếng nói như thả từ thinh không xuống từng thanh âm trong suốt: – Thôi con về đi, mọi sự ở đời đều không thể vượt qua được thiên mệnh. Ta cũng không dám tiết lậu gì thêm nữa.

Thái tử về triều đem giấy bút ra chép lại những lời thầy dạy mà chàng đã khắc ghi trong óc não. Những ngày sau đó, chàng cứ băn khoăn về cái đại hạn tam hợp năm Mậu Thìn sắp tới, mà thầy bảo nó sẽ biến thành tam tai. Không yên tâm, thái tử quay ra bốc được quẻ bát thuần càn, nhưng cả hào một và hào ba của nội quái đều động. Tức là quẻ thuần càn cương kiện biến thành quẻ “tụng”. Tụng là tranh chấp. Tranh chấp là đổ vỡ. Đổ vỡ là có quan hệ đến an nguy, đến sinh tử. Thảo nào thầy dặn ta về “chớ coi thường chuyện sinh tử”. Thái tử cảm thấy lo sợ, không biết điều gì sẽ đến. Chàng lại khảo tiếp. Hào năm của ngoại quái lại động. Quy về quẻ “vị tế”. Thái tử tạm yên tâm và tự nhủ: Thầy dặn thêm lời cuối: “Mọi sự ở đời đều không thể vượt qua được thiên mệnh”, ứng với quẻ này đây. Lại nghĩ, đoạn trường còn những năm năm nữa lo gì. Vả lại phụ vương còn, vương triều vững như bàn thạch, đất nước bốn phương đều thái bình. Biên cương chỉ lo cái hoạ phương bắc thì nhà Tống đang suy yếu, lo giữ nhà chẳng xong, sao dám giở trò gì với ta. Mặt nam, đã chịu thường niên triều cống. Vậy ta còn phải lo gì nữa.

Tuổi trẻ cũng làm cho mọi thứ quên mau. Nhất là từ mấy tháng nay, cái bụng của chính phi đã hơi hơi căng khiến thái tử vui như mở hội ở trong lòng. Miệng chàng luôn luôn mỉm cười. Chàng nhớ, cách đây chừng ba tháng, sau cuộc ân ái, chàng còn đang thân trần nằm duỗi dài bên nàng, ngủ say như một cây gỗ. Bỗng nàng lay gọi chàng cho bằng được. Choàng dậy trong ánh nến nhạt nhoà, chàng nhận ra gương mặt của chính phi đẹp như một thiên thần. Chàng ghì riết nàng vào trong lòng, lại toan… nàng vội đẩy chàng ra và nghiêm giọng:

- Có một việc hệ trọng thiếp muốn tâu.

- Giời ơi, còn có việc gì hệ trọng hơn việc ân ái giữa ta với nàng trong buổi đêm khuya khoắt này. Nói xong, chàng xiết chặt vòng tay ôm nàng.

Nàng nghiêm giọng:

- Chàng phải để cho thiếp tâu xong đã.

- Vậy nàng nói ngay đi, ta nghe đây. Đang ngủ say thì thức ta dậy. Tưởng nàng đòi ta ân ái nữa, hoá ra lại có chuyện gì đây.

Giọng e ấp – Lúc chàng với em qua xong việc mây mưa. Chàng ngủ say, thiếp cũng ngủ say. Thiếp mơ đang đi chơi cùng chàng trên đồi thông vào một đêm trăng tỏ. Vừa lên tới đỉnh đồi mệt quá, thiếp ngồi nghỉ dưới gốc thông. Thấy thảm lá thông êm như đệm, thiếp bèn ngả mình dưới gốc thông nhìn bầu trời, nhìn vầng trăng tròn vành vạnh. Tự nhiên thiếp như buồn ngủ, liền ngáp to một cái. Thế là vầng trăng chui tọt vào miệng thiếp, và nó còn đang nằm trong bụng đây này. Vẫn chưa hết bàng hoàng, nàng chỉ tay vào bụng. Chàng ơi, chẳng biết đây là điềm mộng gì. Nàng tỏ ra lo lắng.

Thái tử vội nhỏm ngồi dậy, với tấm xiêm quàng tạm lên mình, vẻ nghiêm cẩn, chàng nói:

- Ta với nàng ăn nằm với nhau mấy năm nay, sự thăng hoa trong những lúc ái ân thì nhiều đấy, nhưng chưa một lần kết trái. Giấc mơ của nàng, nếu đúng như nhời, thời lần này ắt nàng sinh quý tử. Điềm lành đấy! Đại cát đấy! Đó là trời cho thiên tiên đồng tử xuống đầu thai vào nhà họ Lý. Hãy bảo trọng. Nói xong thái tử nhẹ đặt lên má chính phi một nụ hôn. Chàng đặt tay lên bụng vợ vuốt nhẹ: – Thiên tiên đồng tử của ta. Đứng dậy, mặc áo quần xong, chàng nói: – Ngày mai ta phải làm lễ tạ ơn trời đất. Nhất định lần này nàng sẽ thụ thai.

… Tới kỳ khai hoa, trong cung sực nức mùi thơm. Chẳng hiểu đó là hương lạ trời ban hay bọn hoạn quan xông kỳ nam rồi phao lên rằng đó là thiên hương mà đi khắp tam cung lục viện, không một nơi nào có được mùi thơm tinh khiết ấy.

Chính phi không cảm thấy đau đớn như những cô gái sinh con lần đầu, nàng chỉ thấy hơi tưng tức phần bụng dưới. Lại thấy đứa bé trong bụng như giãy đạp đòi ra.

Viên thái y dâng nàng một bát thuốc có màu hồng nhạt, mùi thơm ngọt, uống xong, thấy trong người dễ chịu. Các bà mụ dìu chính phi vào phòng kín. Một lát đã thấy tiếng trẻ khóc oa oa.

Nghe nói quý tử vừa ra khỏi lòng mẹ đã mở mắt nhìn mọi người, hai bàn tay nắm chặt. Bà mụ xoè tay bé ra, mỗi lòng bàn tay đều có một chữ nhất.

Gần một tuổi hoàng nhi đã lẫm chẫm biết đi, nói cười bi bô. Vầng trán cao, đôi mắt tròn xoe, sáng rực như có thần nhãn, da trắng hồng, đôi môi đỏ mọng. Ngày hoàng nhi tròn một tuổi cung Long Đức vui như ngày hội. Các quan trong triều đều đến chúc mừng. Tổ nội, vua Thuận Thiên mặc áo bào bằng vóc đại hồng, trước ngực thêu hai con rồng vờn mặt trời, chân đi hia đen thêu lưỡng long tranh châu, ngài thân đến cung Long Đức thăm cháu. Nhà vua vừa chìa hai bàn tay ra, hoàng nhi bèn chạy ào vào lòng ông, ôm chặt lấy cổ ông.

Vua Thuận Thiên xúc động đến rơi nước mắt. Ngài bế cháu tung lên cao. Hoàng nhi cười khanh khách, vuốt râu ông. Chợt trông thấy con rồng trước ngực áo nhà vua, hoàng nhi bèn đưa tay túm lấy. Không nắm được con rồng, hoàng nhi khóc ré lên.

Nhà vua vui lắm. Ngài quay ra nói với mọi người:

- Thằng bé này có nhân cách đế vương.

Các quan làm lễ đặt tên, bàn thảo mãi mọi người dâng cái tên Nhật Tôn. Vua Thuận Thiên và cả hoàng tử đều hài lòng. Hoàng thái tử rất muốn cho con mình sớm bầu bạn với Ngô Tuấn, con của Ngô An Ngữ. Bởi thái tử rất yêu con của Ngữ.

Cứ theo như nhận xét của thái tử, Ngô Tuấn lớn lên sẽ trở thành người hữu dụng cho nước. Nhất định ta phải nuôi vỗ thằng bé này, sau sẽ trở thành người tâm phúc của con ta. Thoạt đầu thái tử nói Ngô An Ngữ đưa Ngô Tuấn sang cung Long Đức chơi với hoàng nhi. Không ngờ, ngay từ phút đầu, hai trẻ đã hợp nhau. Ngô Tuấn bốn tuổi, hoàng nhi một tuổi. Tuấn vừa biết bày xếp đồ chơi, vừa biết cách chơi với em bé, lại cũng biết nhường nhịn nữa.

Thế là hàng ngày bên cung Long Đức đánh xe song mã sang phường Thái Hoà đón Ngô Tuấn sang chơi với hoàng nhi. Phải chăng đây là điềm triệu do trời bày xếp. Ta hãy cứ theo hai trẻ này cho tới ngày khôn lớn.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 27.09.2018, 16:54
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5390 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XXIX

Thấm thoắt khoá thiền đầu tiên của Đạo tràng Thắng Nghiêm đã sắp mãn. Sau bốn năm, các thiền sinh đã lãnh hội nơi các thầy về các pháp tu chứng thật là vi diệu. Nhưng cũng còn nhiều điều mong được tỏ sáng hơn. Ý nguyện chung của các thiền sinh là được tham vấn các bậc cao tăng trong nước. Vì vậy, thiền sư Hương Nghiêm, tu viện trưởng bèn thỉnh các bậc túc thiền về để cho các thiền sinh tham vấn.

Thiền sinh đông kể có cả ngàn người, nhưng cao tăng lại quá ít, nên không thể giải đáp cho từng người, mà phải phân ra từng nhóm; mỗi nhóm vài chục thiền sinh để tham vấn với một thiền sư.

Nhóm do Đa Bảo thiền sư giải đáp, có một thiền sinh bê vào thiền phòng một đỉnh trầm đặt trước chỗ Đa Bảo ngồi. Khói trầm toả thơm ngào ngạt.

Đa Bảo hỏi:

- Hỡi thiền sinh, con vừa mang cái gì vào thiền phòng đó?

- Bạch thầy, lư trầm ạ.

- Để làm gì vậy?

- Dạ, để cho cái tâm của chúng con được an định.

Thiền sư Đa Bảo cười ha hả:

- Vậy chớ theo con, tâm của chúng ta đang vọng động chăng?

- Dạ thầy không ạ. – Tất cả thiền sinh đều đồng thanh đáp.

- Vậy thì ta cần gì đến cái hư ảnh của lư trầm. Ta không nghĩ là tất cả, nhưng ở đây có người đã có ý cầu tìm tha lực. Điều đó sẽ làm cản trở con đường tinh tấn của các con.

Mọi người im lặng. Đại lão thiền sư vẻ mặt an nhiên tự tại. Ta có cảm giác đất có sụt xuống nơi ngài đang ngồi, thì gương mặt kia cũng không có gì thay đổi. Bỗng ngài mở lời:

- Hỡi các thiền sinh, ta có thể giúp gì được nơi các con đây?

Một thiền sinh xin nói:

- Bạch thầy, con nghe các thầy giảng: “Đức Như Lai thường nói các pháp sinh đều do nơi cái tâm biến hiện ra, nghĩa là tất cả mọi sự vô hình như nhân quả, luân hồi hay các sự hữu hình to lớn như thế giới, nhỏ như vi trần cũng đều do tâm tạo ra”.

Vậy bạch thầy, tâm là cái gì ạ?

Đa Bảo mỉm cười lắc đầu:

- Tâm là cái thần minh cao cả của con người. Nhờ nó thế giới hữu hình, thế giới vô hình mới hiển lộ được, mới hiện hữu được. Nhưng ta hỏi, cái tâm của con ở đâu, hình tướng nó thế nào, con có thấy không? Thiền sư Đa Bảo vừa hỏi vừa chỉ vào một thiền sinh ngồi trước ngài.

Thiền sinh đó liền đáp:

- Lạy thầy, thầy hỏi chân tâm hay vọng tâm?

- Vậy, con nhìn ra cái tâm phân biệt, tức là sắc tướng và vô sắc tướng. Như vậy nếu cái vọng tâm diệt ắt cái chân tâm cũng không còn nữa. Và nếu cái tâm của con phải chịu cảnh đoạn diệt thì con tu để làm gì?

Thiền sinh kia đáp:

- Con bạch thầy, thế nào là chân tâm ạ?

- Theo con thì cái gì không phải chân tâm? – Đa Bảo hỏi lại.

Thiền sinh kia bừng tỉnh, mặt mày khoái hoạt như người vừa đốn ngộ bèn hỏi lại sư:

- Bạch thầy, thầy lấy gì làm bảo chứng?

- Đói ăn, khát uống. – Đa Bảo đáp.

Vị thiền sinh kia liền sụp lạy.

Đại lão thiền sư đưa mắt nhìn khắp lượt các thiền sinh, ngài thầm nghĩ, mấy người này nay mai sẽ về trụ tại các chùa để giáo hoá đám nông phu. Trong đó có người trí, có kẻ ngu. Nếu không đem cái tâm vị tha hỉ xả của Bồ tát ra hành hoá, mà còn có sự phân biệt đối đãi giữa trí ngu, sang hèn, giàu nghèo thì làm sao mà dắt dẫn mọi người tới được bến bờ giải thoát, vả lại, họ còn quá trẻ, ít trải qua chứng nghiệm, nên có thể bị động dao, nghiêng ngả. Sư bèn hỏi:

- Hỡi các thiền sinh, mai đây các con sẽ về trụ tại các chùa. Không phải hằng ngày các con chỉ ăn ở với kinh sách và tượng bụt, mà các con phải lăn xả vào đời để cứu đời. Vậy chớ các con đã vững lòng tin vào mình chưa? Ta nghĩ, qua bốn năm học hành, tu tập, các con mới bước đầu được khai thị thôi, Đạo học còn mênh mang lắm. Các con nghĩ thế nào?

Sau bốn năm giam hãm trong các thiền phòng tu học, nay sắp mãn khoá, trong lòng các thiền sinh đều như chim sắp được sổ lồng, nên háo hức lắm, tin ở nơi mình lắm. Mọi người đồng thanh đáp:

- Bạch thầy, tâm chúng con đã hướng trọn về Phật Đà, không gì có thể chuyển lay nổi.

Nghe các thiền sinh đáp với giọng điệu tự mãn, thiền sư mỉm cười.

- Nếu được như nhời, ta mừng cho các con. Song ta lưu ý các con. Tu đạo là cốt ở tu tâm. Các con học kinh là nhằm lãnh hội các ý tưởng cao đẹp của kinh, chớ đừng phụ thuộc vào lời kinh. Không nên câu chấp dễ trở thành mê mờ. Như người đi đường chợt gặp một con sông cần phải vượt qua. Có người hảo tâm đem đến cho mướn một chiếc thuyền để vượt sông. Khi sang tới bờ bên kia, thay vì bỏ thuyền lại cho những ai cần qua sông, thì anh ta lại cứ khư khư đội cái thuyền ở trên đầu với ý nghĩ, biết đâu lại chẳng gặp một con sông khác. Thành thử anh ta không tiến lên được mà vứt thuyền đi lại tiếc. Đó là kẻ si, nhận lầm phương tiện làm mục đích.

- Bạch thầy như vậy có nghĩa chúng con vẫn phải suốt đời tu đạo? – Các thiền sinh đồng lòng hỏi vậy.

Sư đáp:

- Phải! Tu cho tới bậc đại giác. Ấy là tâm nguyện ta mong cho các con. Ta mong sao các con, lứa thiền sinh khoá đầu của thời Thuận Thiên, sẽ là những hạt giống tốt, cho việc Đạo của dân tộc được phát khởi. Nó cũng chính là nguồn lực làm cho nước nhà giàu thịnh về mọi mặt.

Trong khi đó, ở một thiền phòng khác, Thiền sư Vạn Hạnh đang giảng giải về tham dục của con người thế gian: “… Dục vọng của con người thường được phóng chiếu ra thành những huyễn tượng tương lai; rồi tận lực theo đuổi để thực hiện cho bằng được cái tương lai hư vọng ấy, và gọi đó là lý tưởng siêu việt. Rồi hối thúc toàn xã hội phải sống theo ý tưởng đó, làm theo ý tưởng đó; thường là áp đặt, khiên cưỡng mọi người phải tuân phục bằng một hệ thống pháp luật và cường quyền.

Song, người đời có biết đâu rằng làm như vậy là đẩy cả một xã hội chạy theo một ý niệm, một vọng tưởng, một ảo ảnh do bản ngã vẽ ra, nhằm thoả mãn tham vọng của một số người, đôi khi lại chỉ do một người thao túng. Cho nên chỉ có người mê mới đi cầu tìm nơi tương lai mờ huyễn, còn người ngộ thì cứ tuỳ duyên mà hành xử. Ấy là Đạo. Đáng tiếc, phần nhiều những kẻ thâu tóm hết quyền lực trong tay cho mưu đồ thống trị; đều sống trong mê ngộ mà không tự biết. Chợt đến khi trắng tay vì sụp đổ, chúng mới kịp nhận ra thì đã quá muộn. Về tham dục, ta nhớ trong kinh Viên Giác có ghi lời Phật dạy: “Kẻ nào muốn có tất cả, kẻ đó sẽ mất hết”.

Thiền sư chợt ngừng lời, phóng nhãn tạng tới khắp lượt thiền sinh. Chợt ngài im lặng ngồi trong thế kiết già như người nhập định.

Đám thiền sinh từ lâu nghe danh đã từng ngưỡng mộ thầy Vạn Hạnh. Nay lại được diện kiến thầy, tham vấn thầy thì thật là ngoài tầm mong ước của hầu hết các thiền sinh; thật chẳng khác gì cái hạnh phúc được thấy đức Phật thị hiện. Và biết đâu, thầy chẳng là hậu thân của một vị Phật hoặc một vị Bồ tát nào đấy. Đạo lực của thầy huyền diệu khiến các bậc cao tăng tiền bối như Đỗ Pháp Thuận, Đạo giả Thiền Ông còn phải kính nể. Người ta còn đồn đại thầy là hiện thân của Tam thế Phật. Bởi những điều thầy chỉ dẫn cho quá khứ, hiện tại và tương lai thảy đều như lời thầy nói, không sai biệt một ly nào.

Thầy là người cao tuổi nhất trong các bậc thiền lão hiện tồn của cả nước. Thầy cũng là người đạo cao đức trọng nhất trong các bậc thiền sư của cả nước. Vì vậy, được nghe thầy giảng pháp, thiền sinh nào chẳng cho đó là phước duyên trốn đường tu đạo của mình.

Tuy tuổi cao, nhưng trí tuệ thầy còn minh mẫn tới mức siêu phàm. Giọng nói thầy trầm sâu và vang xa, chứng tỏ nội lực của thầy còn thâm hậu lắm.

Đột nhiên thầy hỏi:

- Này hỡi các thiền sinh, có điều gì cần hỏi thì hỏi cho rốt ráo đi.

Được thầy khích lệ, không khí trong thiền phòng như ấm áp hẳn lên, sinh động hẳn lên.

Một thiền sinh bước ra khỏi chỗ ngồi, mạnh dạn thưa:

- Bạch thầy, tại sao vào các khoá lễ, các thầy cũng như lớp thiền sinh chúng con đều phải niệm Phật? Nhất là các tín chúng hễ vào chùa là vái tượng Phật, rồi niệm Phật dài dài. Vậy chớ có ai thấy Phật ở đâu mà cứ niệm hoài như vậy?

Thầy Vạn Hạnh cười. Giọng thầy trong trẻo mà ấm áp như tiếng chuông ngân khiến mọi người cảm thấy gần gũi. Chợt thầy đáp:

- Vậy chớ nếu có Phật thị hiện thì ai còn niệm Phật làm gì nữa.

Đám thiền sinh cười vỡ ra.

Khi yên tĩnh trở lại, thầy Vạn Hạnh bèn nói:

- Niệm Phật, không phải là kêu hồng danh của vị Phật nào ra để cầu xin một cái gì tựa như công danh, tiền bạc, phước đức. Phật không thể cho, và cũng không có để mà cho. Phật đã chẳng nói: “Nhân nào thì quả ấy”. Có nghĩa là có gieo trồng mới có gặt hái. Hạnh phúc của mỗi người là do người ấy tạo lập, không ai có thể làm thay được, kể cả Phật. Ý nghĩa của việc niệm Phật là ghi nhớ các đức tính của các bậc giác ngộ như thanh tịnh, giải thoát, trí tuệ… Niệm Phật là để khai mở những đức tính như tinh tấn, tỉnh giác, từ bi, hỉ xả… sẵn có nơi mỗi con người được mở tung ra, và dùng nó để hành xử.

Vậy niệm Phật là để khai mở Phật tính nơi mỗi con người, cũng tức là khai mở nội lực thay vì bám víu vào tha lực. Niệm Phật như thế chính là niệm Phật tại tâm đó.

Do niệm Phật thành tâm mà lòng từ ái khai mở, khổ báo được yên, nên người ta đã nhân cách hoá thành Đức Quán Thế Âm Bồ tát.

Do niệm Phật mà phát khởi thiện tâm, không thoái hoá vào đường ác, nên nhân cách hoá thành Đức Địa Tạng Bồ tát.

Do niệm Phật trầm tĩnh mà chân khí hoàn nguyên, tiêu tan tật bệnh nên nhân cách hoá thành Đức Dược Sư Bồ tát…

Còn như ai đó đạo lực đã viên mãn, đã đạt tới chính đẳng, chính giác thì người đó chính là Phật rồi, còn phải niệm Phật làm gì nữa.

Mặc dù đã học hành tu tập trong suốt bốn năm, nhưng tới bây giờ các thiền sinh mới hiểu đến rốt ráo ý nghĩa của việc niệm Phật. Mọi người thật sự vui mừng vì đã có duyên phước được nghe thầy giảng dạy.

- Hỡi các thiền sinh! Thiền sư Vạn Hạnh bỗng cất cao tiếng gọi. – Sứ mệnh của các con sắp tới không chỉ là về một ngôi chùa làng, khư khư việc tụng kinh gõ mõ, suốt đời náu mình dưới bóng Phật đài, mong cầu giải thoát cho riêng mình.

Nếu chỉ có vậy, thì công lao học hành, tu tập suốt đời của các con thật là uổng phí. Mà hãy noi gương Phật tổ. Giải thoát bản thân mình, song cũng phải giáo hoá để cho nhiều người được giải thoát. Phật giải thoát cho chúng sinh của cả thế giới ta bà. Còn các con, phải khai ngộ cho chúng sinh nơi mình chăn dắt, để họ tìm lấy con đường giải thoát.

Muốn khai ngộ cho họ đi vào con đường giải thoát, thì phải khai tâm. Nhưng muốn khai tâm, trước hết phải khai trí cho họ. Người chưa được khai trí thì tuệ chưa sinh; tuệ chưa sinh thì làm sao mà phân biệt được sự phải quấy. Phải quấy đã không nhận ra được thì biết nẻo nào là giải thoát, nẻo nào là địa ngục, là trầm luân.

Người chưa có trí tuệ soi sáng, thường bị hãm trong vòng vây của vô minh. Cho nên công việc của các con trước hết là khai trí cho dân chúng đang đắm chìm trong ngòi, đầm, ao, lạch của tham-sân-si.

Lại nhìn như rọi sáng vào từng cặp mắt của mỗi thiền sinh, thầy Vạn Hạnh ân cần nhắc nhủ:

- Các con, nếu mỗi người không khai được trí, không mở được tâm thì giải thoát không có nẻo tìm vào. Con người như vậy, có khác nào một sinh linh chưa tiến hoá. Công việc của các con vô cùng khó nhọc. Hẳn đây cũng là điều Phật Đà thử thách lòng từ hỉ nơi các con. Ta chắc các con đều nhận thấy từ khi nhà Lý thay thế nhà Lê trị vì thiên hạ, vua Thuận Thiên đã làm được những việc mà lịch sử trước đó chưa hề có.

Tha giảm tô thuế, đã đành là việc cực lớn. Nhưng cái lớn hơn là phá bỏ cả một hệ thống nhà tù cùng các cực hình man rợ đối với con người. Bãi bỏ án tử hình, tôn trọng các quyền của con người mà Phật Đà cùng chư thiên đã ban cho họ. Trong đó các quyền về dân sinh được tạo lập một cách công bằng. Mọi người ai cũng có quyền có ruộng đất để sinh sống, nếu họ chịu khó khai khẩn đất đai hoang hoá, đất lấn rừng, lấn biển sẽ là của họ. Nhà nước tha tô thuế từ bảy đến mười năm, tuỳ theo công sức họ bỏ ra.

Này các con! Thầy Vạn Hạnh bỗng gieo một câu nói hết đỗi thân thương. Dường như nó phát ra nơi cái tâm từ ái của thầy – Dù vua Thuận Thiên đã làm hết sức mình, nhưng sự hồi sinh của đất nước lại quá chậm chạp. Vì sao vậy? Vì mấy năm ở ngôi dù chỉ bốn năm thôi, nhưng Lê Ngọa triều đã vắt kiệt sức dân để lao vào các thú ăn chơi hoang phí và đoạ lạc.

Các con đều là con em của nhà nông, chắc các con hiểu người nông phu cần gì?

Các bậc sĩ đại phu các đời đều có bàn đến chuyện này. Song ta thấy duy có đức Khổng Tử là người nói đúng nhất về cái mà người nông phu cần.

Phu Tử nói: “Vua lấy dân làm Trời. Dân lấy miếng ăn làm Trời”.

Trời của người nông phu hiện nay vẫn còn là miếng ăn. Vì vậy, các con phải lo giúp người nông phu gắng sức cấy trồng, chăn nuôi để sao trong vòng vài ba năm nữa ổn cố được phần dân sinh.

Muốn ổn cố được dân sinh thì phải triệt bọn mua lúa non vào lúc giáp hạt, triệt cả bọn cho vay nặng lãi. Bằng cách nào ư? Phải khuyến cáo người nông phu biết ăn tiêu dè sẻn ngay từ đầu vụ gặt, ngay từ khi lúa còn ăm ắp đầy bồ. Tới khi giáp hạt, chớ có bán lúa non, mà các nhà trợ giúp lẫn nhau, cho nhau vay đổi hạt. Chỉ vài ba vụ như thế là người nông phu chống được nạn đói khi giáp hạt. Chống được nạn bán lúa non. Một sào lúa tốt, khi gặt được năm đến sáu phương thóc khô, nhưng nếu phải bán cho nhà giàu từ khi lúa mới vào mẩy thì chỉ được có một phương thóc khô thôi. Việc này có nhẽ nhà chùa phải làm gương. Vì rằng chùa nào cũng được nhà nước cấp cho dăm ba mẫu ruộng, chùa nào cũng có thóc dư. Vậy đem số thóc dư đó ra giúp người nông phu trong mùa giáp hạt.

Thứ nữa là phải chống cái nạn chức dịch nơi hương thôn hà hiếp người dân, phụ thu lạm bổ quá nhiều khiến cho họ đến khánh kiệt. Nơi nào có bọn đục khoét dân, lập tức các nhà sư phải có sớ tâu ngay về triều. Triều Thuận Thiên không dung túng lũ quan ăn tàn phá hại này đâu.

Song hành với việc mở trường, dạy cho lũ trẻ biết chữ, nhà chùa cũng nên giảng giải cho người nông phu trong làng vào các ngày sóc, vọng họ ra chùa lễ Phật khá đông, về những điều được phép làm và những điều cấm kỵ theo luật pháp của triều đình. Chỉ khi người dân làm quen với luật pháp và hiểu luật pháp, thì khi đó họ mới tự bảo vệ mình được.

Khi dân sinh, dân trí đã an định rồi, thì việc khai phóng dân tâm mới có cơ thành tựu. Vả lại các con nên nhớ, các việc ta nói trên đều là quốc sách lâu dài của triều Thuận Thiên.

Vì sao ta nói các con phải hiệp tác với triều đình? Là bởi các việc triều đình đang làm đều khế hợp với giáo lý Phật; đều khế hợp với lòng mong mỏi của muôn dân. Cái may mắn cho các con là đang sống vào buổi thịnh thời. Chứ thực vào các bước suy vong, triều đình chỉ lo hút máu hút mủ dân lành, khiến toàn dân phải bực giận mà chống đối như thời Lê Ngọa triều mà ta vừa trải đó.

Ngưng nghỉ giây lát, thiền sư lại nói: – Này các con, đời người không ai không trải qua bốn núi. Tức là SINH-GIÀ-ỐM-CHẾT. Đối với các nhà tu hành, các bậc thiện trí thức, họ coi việc đó nhẹ như hơi thở. Nhưng đối với người nông phu thì núi nào cũng là núi Thái Sơn cả.

Vì vậy, các con ngoài danh phận là một thầy chùa còn phải kiêm cả thầy giáo và thầy thuốc nữa. Phải dạy cho người dân cách chữa trị lấy bệnh tật. Giúp họ biết cách tìm hái cây thuốc, biết trồng cây thuốc trong vườn để trị các bệnh thông thường. Bệnh nặng, bệnh khó chữa trị mới phải đến chùa hoặc thầy lang.

Làm trọn vẹn các điều trên thì việc hoằng dương chính pháp của các con mới có cơ may thành tựu.

Từ Đạo tràng, thiền sư Vạn Hạnh về thẳng viện Cảm Tuyền chứ không ghé điện Dưỡng Tâm thăm vua Thuận Thiên như đã dự liệu. Tự nhiên sư thấy động tâm, bèn ôn nhớ lại cả cuộc đời từ khi còn niên thiếu… Cũng không biết do cơ duyên nào mà dòng họ Nguyễn nhà ta, một dòng họ danh gia vọng tộc lại đời đời thờ Phật. Cha ta chủ về Phật, nhưng trong nhà lại chất chứa không biết bao nhiêu là sách của hai nhà Nho – Lão. Thành thử lớn lên, ta đọc không sót một nhà nào. Cho đến cả y, lý, số, phong thuỷ, cùng sách của các binh gia ta đều tham bác cả. Đầu óc chất chứa đầy kinh luân của cả ba nhà PHẬT-NHO-LÃO. Với sức tri như thế ắt phải hành rồi.

Cha mẹ ướm hỏi ta có muốn lập gia đình, có muốn ra làm quan. Thường vào tuổi hai mươi, con người ta đều thích công danh phú quý, vợ đẹp con khôn. Thế mà ta lại thờ ơ, ghét chán. Ta bèn ngỏ ý với song thân xin được xuất gia tu Phật. Song thân ta đôi phen khuyên bảo, nhưng thấy ý ta đã quyết, bèn thu xếp cho ta học với Thiền Ông đạo giả là bậc chân tu nổi tiếng đương thời.

Ta còn có người bạn tu là Định Huệ cũng được Thiền Ông thu nạp làm đệ tử.

Tiếng rằng tu Phật, nhưng thầy truyền dạy cho ta không thiếu một sách gì của cả ba nhà Thích-Nho-Đạo. Có nhẽ vì thế mà cái trí được rộng mở, nên thấy biết được chỗ ưu việt của đạo Thích mà sở đắc.

Trao truyền tâm ấn cho ta được ít lâu thì thầy viên tịch. Ta là người kế tổ truyền đăng, nối pháp. Thế rồi ta gặp Công Uẩn bên chùa Kiến Sơ, nơi bạn ta là sư Lý Khánh Văn đang trụ trì tại đó. Thấy thằng bé có tướng lạ, sau có thể trở thành vị vua giỏi, làm cho nước nhà được giàu thịnh, ta tỏ lời ngợi khen.

Khánh Văn bèn đem Công Uẩn ký thác cho ta nuôi dạy. Ta rắp tâm trao truyền cho Công Uẩn những gì mà ta biết. Những mong Công Uẩn không chỉ vực cho nước ta trở nên cường thịnh, mà còn phải tận tâm biến cả nước ta trở thành quốc độ Phật ở trong cõi thế gian này.

Nhưng để cho Công Uẩn tồn tại và hiển lộ được, thì quả là một kỳ công. Trước hết phải biến một thằng bé ngu ngơ thành một bậc đại trí. Bởi nếu không là một bậc đại trí thì làm sao mà ở trên thiên hạ, làm sao mà sai khiến được thiên hạ. Nhưng có trí mà không có được cái TÂM ĐẠO, thì khi quyền thế vào tay, là ra tay tàn sát rồi sa vào tham dục như Ngọa triều Lê Long Đĩnh đó.

Việc ta đưa Công Uẩn vào coi sóc cấm quân của hoàng đế Lê Hoàn, không phải là chuyện khó. Nhưng tránh được hiểm họa khi có kẻ nói “Lê mất Lý lên”, rồi Ngọa triều ăn quả khế thấy hạt mận, thì xuống lệnh tàn sát người họ Lý, khiến ta phải ra tay che chắn cho vị thế của Lý Công Uẩn và cả tính mệnh của Công Uẩn nữa, thì đó là chuyện muôn khó. Lại khi Ngọa triều mất, làm thế nào để cả triều đình cùng nhìn nhận người giữ ngôi tôn của nước Nam phải là Lý Công Uẩn… Chao ôi, từ khi Công Uẩn sáu tuổi, đến ba mươi sáu tuổi thì được nước, suốt ba mươi năm ròng rã ta xiết bao khó nhọc. Tuy vậy, ta vẫn nghĩ đó là sự sắp đặt của chư thiên, sự hộ trì của chư Phật và hồn thiêng sông núi thì công việc mới viên thành, chớ cứ như mưu người, sức người sao có thể làm nổi các việc tày trời đó. Lại như Công Uẩn không phải là người có tư chất thiên bẩm, thì làm sao tiếp nhận nổi cả tâm tuệ và trí tuệ Phật để vào đời mà hành xử được.

Âu cũng là cơ trời, vận nước; còn ta chỉ là kẻ trợ duyên…

Liền sau đó Vạn Hạnh cho gọi các đệ tử vào, ngày đêm giảng pháp. Lại luôn lục vấn các đệ tử xem ai có mắc mớ gì về việc tu tập, việc sống chết, việc nhân quả, việc luân hồi… để thầy khai mở cho đến chỗ rốt ráo.

Vào một đêm đẹp trời, trăng sáng như rót bạc xuống trần gian. Bốn bề núi rừng đều yên ắng. Ngay cả tiếng chim, tiếng thú ăn đêm cũng bặt vắng. Phủ của hoàng thái tử Lý Phật Mã cũng chìm trong sự lặng câm đó. Thái tử đang vào giấc ngủ sâu sau buổi tọa thiền thì bỗng giật mình bởi tiếng chó sủa rất to phía ngoài cửa. Con Huyền Đề sủa đúng ba tiếng rồi lách liếp chui vào nhà. Nó bắc hai chân lên giường liếm láp cánh tay thái tử đang bỏ ngoài chăn. Vừa lúc thái tử tỉnh ngủ liền tung chăn trở dậy. Con chó mừng rối rít, nó thả ra tiếng rên ư ử.

Biết Huyền Đề là con chó khôn, chắc có chuyện gì nó mới phải vào đánh thức chủ. Thái tử vừa tra chân vào đôi dép cỏ, con Huyền Đề đã te tái chạy theo. Cửa vừa hé, nó đã nhảy vọt ra, và cứ thế xăm xăm dẫn thái tử về phía tầu ngựa.

Con Nê Thông thấy chủ bèn hí lên một hồi rồi thúc chuồng đòi ra. Cảm như có sự lạ, thái tử bèn mở cửa tầu ngựa. Con Nê Thông lao ra giữa sân đứng lúc lắc bờm, chờ chủ. Không kịp đóng yên, thái tử nhảy luôn lên lưng ngựa. Con Huyền Đề lập tức chạy trước dẫn đường, con Nê Thông phóng nước đại chạy theo. Vừa đến cổng chùa Lục Tổ là ngôi chùa mà Vạn Hạnh xuất gia theo học với Thiền Ông Đạo Giả rồi sau đó được kế tiếp trụ trì, thì cả hai con Huyền Đề và Nê Thông cùng dừng lại.

Trước đó chừng một khắc, sư Vạn Hạnh bảo các đệ tử đang thọ pháp:

- Các con đi sửa soạn nước uống, độ một khắc canh nữa ra mở cổng đón khách vào cho ta.

Đúng lúc con Nê Thông dừng lại thì cánh cổng bên trong chùa cũng bật mở. Thái tử hết sức kinh ngạc, rằng sao đại lão thiền sư biết ta đến mà cho người ra mở cửa đúng lúc thế này.

Vị sa môn, đệ tử của sư Vạn Hạnh còn khiếp phục hơn thế. Rằng thầy đã đạt tới mức thiên nhĩ thông mà các trò không một ai hay biết.

Bước vào thiền môn, hoàng thái tử thấy sư đang ngồi bán kiết trên thiền sàng. Một cây đèn sáu bấc soi tỏ nét an nhiên tự tại trên gương mặt thiền sư, hoàng thái tử sụp lạy.

- Đa tạ! – Sư nói. Ta già rồi không ra ngoài làm lễ cung nghinh được, mong thái tử đại xá.

- Chúng con thuộc hàng đệ tử, đại sư chớ đa lễ.

- Ta mong thái tử quá. Sắp đến ngày của ta rồi đó. Phật pháp và cả sự bình trị nữa, còn điều gì chưa hiểu, hỏi đi.

- Con chỉ muốn hỏi đại sư, nếu mai này con chết, con sẽ đi về đâu?

- Thái tử đã biết mình từ đâu đến chưa?

Lý Phật Mã chợt bừng tỉnh. Sụp lạy đại sư ba lạy.

- Con đã ngộ lẽ sinh tử rồi ạ.

- Còn việc bình trị thiên hạ, tới đây thái tử phải gánh vác. Vậy có điều gì cần hỏi? – Vạn Hạnh phóng chiếu nhãn quang ấm áp trùm phủ lên thái tử.

Lý Phật Mã mạnh dạn thưa:

- Con xin đại sư cho lời chỉ giáo.

Nhìn thẳng vào gương mặt đạo hạnh của hoàng thái tử Lý Phật Mã, sư Vạn Hạnh nói thong thả như đếm từng lời:

- Thái tử sẽ là người nối dòng đại thống, trị vì thiên hạ. Thái tử sẽ là người hoằng chính pháp.

Nên nhớ, phụ vương thái tử được nước là nhờ có trí tuệ, có đức tuệ, có tâm tuệ. Cứ theo đó mà làm cho thật tốt, nước ắt phải mạnh, đạo ắt phải vững vàng khởi phát.

Ngừng một lát rồi như chìm vào trạng thái nhập định. Chợt đại sư lại nói:

- Ta dặn lời này, thái tử phải nhớ nằm lòng, nếu không sẽ thiệt tới cả sinh mạng đó. Thương nước, thương dân, thương chúng sinh, nhưng trước hết phải thương lấy thân mình. Nếu cái thân không còn thời chẳng thương nổi ai đâu.

Khuyến người làm điều thiện thì phải trừng trị kẻ làm điều gian manh, ác hiểm. Nếu không sẽ là đại hoạ.

Từ nay cho đến lúc lên ngôi, thái tử không bao giờ được rời xa hai vị tả hữu phụ bật là Lê Phụng Hiểu, Lý Nhân Nghĩa. Còn Ngô An Ngữ, Nguyễn Văn Sắn là những chân tay thân tín. An Ngữ sẽ có duyên nghiệp lâu dài với nhà Lý đó.

Thiền sư Vạn Hạnh mở bừng hai mắt. Sư nhìn Lý Phật Mã với một tình cảm thắm thiết, như ngài đang thầm trao cả tâm đạo và tâm ấn cho thái tử. Rồi sư đặt bàn tay dăn deo lên đỉnh đầu thái tử, miệng đọc chú làm lễ quán đảnh cho Lý Phật Mã, một vị vua Phật sau này.

Lý Phật Mã phủ phục, tạ đại sư ba lễ. Sư vẫy tay hất lui:

- Thái tử về, về ngay đi!

Thái tử tạ sư rồi trở về phủ tại hương Tam Sơn. Trời vừa hửng sáng.

Sớm ra, sư gọi các đệ tử vào thiền phòng, đọc cho mọi người nghe bài kệ:

Chân như điện ảnh hữu hoàn vô,

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô.

Nhậm vận thịnh suy vô bổ uý

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.[83]

Đọc xong lời kệ, Vạn Hạnh ngồi theo thế kiết già mà hoá. Hôm ấy đúng là ngày rằm, sư ra đi trong tình trạng tỉnh thức, không ốm đau bệnh tật gì.

Triều đình cùng giáo hội làm lễ hoả thiêu rồi xây tháp chứa xá lỵ để đèn hương phụng thờ. Từ vua, quan cho chí người dân trong nước, không ai là không tỏ lòng tôn kính, không ai không tỏ lòng thương tiếc một thiền tăng đã suốt đời phụng sự quốc gia dân tộc và đạo pháp.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 27.09.2018, 16:55
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5390 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XXX

Vừa đi kinh lý các trấn, lộ và các vùng cửa quan xung yếu nơi biên ải về, vua Thuận Thiên bèn cho triệu hoàng thái tử Lý Phật Mã về triều. Vua nói:

- Từ nay con về ở hẳn cung Long Đức. Cung đó vừa gần dân vừa gần hoàng thành, tiện công việc cho con, và cũng tiện ta sai bảo.

- Thưa phụ vương, con về ngay hay bao giờ về ạ? – Lý Phật Mã nhẹ nhàng hỏi vua cha.

- Con về ngay. Có nhiều việc ta cần bàn bạc với con, và trao truyền cho con cái thuật trị nước, để dù có bất chợt ta ra đi, con không bị hẫng hụt.

Nghe vua cha nói đến sự ra đi, hoàng tử chợt buồn, chưa bao giờ chàng cảm thấy muốn gần phụ vương như lúc này.

Một lát, nhà vua lại hỏi:

- Nếu mai đây việc trị quốc vào tay, con sẽ làm như thế nào?

- Được phụ vương răn dạy kỹ càng, lại được các thiền sư là các bậc thiện trí thức dẫn dắt, con sẽ gắng sức noi theo các việc phụ vương đã hành hoá mà con được biết tới cả chục năm nay.

Lý Công Uẩn có vẻ hài lòng về người con mà nhà vua sẽ trao truyền ngôi báu. Vì vậy, nhà vua càng muốn trao cho con mình cái tâm thiện để chăn dắt muôn dân.

Vua Thuận Thiên nhìn con với cái nhìn trìu mến, ngài đứng dậy và vẫy tay cho Phật Mã đi theo ra phía vườn ngự.

Ngồi trên chiếc ghế đẽo từ củ tre già đặt dưới gốc một cây mai cỗi, nhà vua chỉ vào một phiến đá cạnh đó bảo Phật Mã:

- Con ngồi đây! Ta muốn hằng ngày cha con ta luôn có những cuộc chuyện trò. Con đừng ngại nói những điều con nghĩ, đôi khi con tưởng như điều đó không làm đẹp lòng ta.

Vừa rồi con nói, con đã xem xét các việc ta làm. Chắc là sau này con sẽ làm như cha đã làm. Có phải thế không con?

Thái tử có vẻ ngập ngừng.

- Con cứ nói điều con nghĩ. Đừng sợ cha cho là sai quấy rồi trách phạt. Nếu cha không biết sự đúng, sai của con, sao cha có thể chỉ bảo cho con được.

- Dạ thưa phụ vương, con xem xét các việc phụ vương đã làm trên nền tảng của cái thiện, để sau này con cũng sẽ làm các việc trên nền tảng đó. Còn như vào việc thì mỗi lúc, mỗi thời có những nét riêng của nó. Con giả dụ rằng, trong hơn mười năm qua, phụ vương tha tô thuế tới ba lần, trong đó hai lần, mỗi lần tha tới ba năm liền.

Phụ vương thương dân, là bởi sức dân quá kiệt. Lê Ngọa triều tróc nã người dân đến tận xương, tận tuỷ. Bây giờ sức dân đã hồi phục, mùa màng bội thu tới mấy năm liền.

Khi phụ vương trao trọng trách cho con, dân vừa no đủ, vừa được mùa, mà con lại tiếp tục tha tô thuế nữa, chắc con sẽ phạm sai lầm không thể tha thứ.

- Vì sao vậy? Vua Thuận Thiên hỏi.

- Thưa phụ vương, khi người dân đã no đủ rồi mà triều đình vẫn tiếp tục tha tô thuế, sẽ khiến cho người dân sao nhãng trách phận của họ đối với nước. Sẽ khiến cho họ có ý nghĩ là triều đình sợ dân. Bởi việc tha tô thuế lúc này hoàn toàn không gây được ảnh hưởng gì trong dân. Nó không còn ý nghĩa của việc cứu trợ nữa. Vả lại thưa phụ hoàng, con nghĩ nhà nước cũng cần phải có tiền bạc để mở mang công nghiệp như khai phá đất đai, tăng việc cấy trồng. Và cả sự học hành của người dân nữa. Sao cho nhiều người biết chữ. Chức dịch từ hương ấp trở lên đều phải tinh thông chữ nghĩa, am tường pháp luật. Có thế họ mới hướng đạo cho dân được. Ngoài ra, quốc khố phải đầy đủ mới có thể nuôi quân, luyện quân và sắm sửa binh khí. Bởi binh không chỉ là việc hiểm, mà còn tốn kém vào bậc nhất trong mọi khoản chi tiêu.

Lý Phật Mã được vua cha khích lệ, nên lời nói trở nên lưu loát, chữ nghĩa thông sáng. Chàng nhìn vua cha, xem ông có còn muốn nghe.

Vua Thuận Thiên nở nụ cười, như thầm khen thái tử là người trí lự. Đoạn ngài nói:

- Ta mừng vì con đã khôn lớn. Ngay từ bây giờ, con có thể thay ta cầm cân nảy mực quốc gia này. Vì sao ư? Bởi vì con đã biết cân nhắc, việc gì nên làm, việc gì không nên làm. Cũng như việc gì cần theo về triều trước, việc gì không nên theo triều trước. Không có lệ, tạo ra lệ. Không có luật, ban hành luật. Song luật lệ gì thì cũng phải xuất phát từ sự ích lợi của toàn dân. Nếu chỉ làm điều mà triều đình yêu thích, còn dân thì chán ghét, tức là tự biến triều đình thành kẻ thù của dân. Khi ấy thì không sức mạnh nào có thể giữ cho triều đình khỏi sụp đổ.

Thái tử lại hỏi:

- Thưa phụ hoàng, bấy lâu con vẫn cứ băn khoăn. Đứng ở ngôi quân trưởng, quyền uy nhất nước, mọi thứ đều khuôn theo ý mình, như thế thì làm sao mà tránh khỏi lầm lẫn được. Kể cả sự lầm lẫn chết người.

Vua Thuận Thiên vụt đứng dậy đi đi lại lại với vẻ khoái hoạt.

- Bẩm phụ vương có gì vui bất chợt? – Thái tử hỏi nhà vua.

- Ta không vui sao được. Vui là bởi con đã có nghĩ suy về những trạng huống đó, thì nhất định con sẽ không vướng mắc vào nó.

Nếu con muốn biết việc con làm có đúng hay không đúng, con phải lấy trí ra xét đoán cho minh bạch.

Nếu con muốn biết việc con làm có thiện hay không thiện, con phải lấy cái tâm con ra thẩm định.

Nếu trí bảo đúng mà tâm vẫn còn băn khoăn thì việc chưa nên quyết vội.

Vua Thuận Thiên ngừng lời, ngài nhìn thái tử với cái nhìn bao trùm, như là ngài đo lại một lần nữa tài năng, trí tuệ và thiện đức nơi chàng. Đoạn nhà vua nói:

- Con hãy lắng nghe ta nói đây. Nếu muốn tránh được sai lầm, con phải biết lắng nghe. Dũng cảm lắm con mới nghe nổi những điều nói thật. Khi con gạt những điều nói thật ra ngoài tai, thì triều đình chỉ còn thuần một bầy xu nịnh, và dối lừa đến trơ trẽn.

Ta nhớ những năm đầu triều Thuận Thiên, các gián nghị đại phu đã dâng sớ can ta nhiều việc. Có việc ta nghe. Có việc ta không nghe. Các quan không chịu, dâng mãi sớ như là hạch tội ta.

Nếu ta không bình tâm xem xét, ắt phải chém đầu họ mất.

Ngự sử đài nhiều người can. Nhưng có lý lẽ nhất vẫn là hai vị tả hữu gián nghị đại phu là Lương Tằng và Trịnh Văn Túc.

Nhất là Trịnh Văn Túc, ta đã chớm ghét ông ta. Ta thường tránh mặt hoặc không cho gặp.

Sau kiểm xét lại, thấy họ vì nước, vì ta mà quên cả tấm thân quý giá của mình, để liều chết can ngăn ta.

Vua Thuận Thiên nuốt một tiếng thở dài, dường như nhà vua vẫn còn ân hận về những hành vi thái quá của mình.

- Đất nước, vua nói tiếp, – nếu không có được những tôi trung như thế, sao có thể đứng vững được.

Nếu người làm vua biết gần các bề tôi trung thực, thẳng thắn thì đất nước lo gì không vững mạnh. Người trung thực tựa như một loài ngọc quý, tự thân nó đã đẹp, không cần khoác lên nó một thứ màu mè gì hết. Không cần phải các lời hoa mỹ để nói về nó. Tuy nhiên, không phải ai cũng nhìn ra ngọc thật đâu con ạ. Thế gian hầu hết nhận đá làm ngọc. Bởi đá người ta mới cần mài, giũa cho thật nhẵn nhụi, thật bóng lên. Rồi không biết bao nhiêu lời lẻo mép khoe khoang nào là trân ngọc, bảo ngọc. Nào là người quyền quý này đòi mua nó; người quyền quý kia trả giá bao nhiêu. Rốt cuộc nó chỉ là đá, nhưng lại được ấp ôm như một báu vật. Còn ngọc thật thì lăn lóc chẳng ai hay. Lịch sử đã cho ta một bài học khó quên, đó là “ngọc bích họ Hoà” thời Chiến quốc.

Để tưởng thưởng tấm lòng kiên trung của một bề tôi, thế là năm Ất mão, ta thăng cho Trịnh Văn Túc đứng đầu hàng tam cô, chức Thiếu sư.

Túc không phải là người ham chức tước, tiền bạc. Được thăng, Văn Túc chỉ làm một tờ biểu tạ ơn. Không hãnh diện, không hống hách.

- Được! Được! Lúc nào rồi ta sẽ cho con đọc lại những tờ biểu của hai người này.

Con nên nhớ kỹ một điều, nếu trong triều có những bầy tôi như thế, những kẻ manh tâm kéo bè kéo cánh, xu nịnh không dám ra mặt. Cho nên phải bảo vệ trung thần bằng cách trao cho họ những trọng trách quốc gia. Nhưng trên hết phải tin họ. Nếu nghe lời bọn xiểm nịnh gièm pha rồi đi đến hắt hủi họ, thì chẳng mấy chốc bọn nịnh thần sẽ biến trung thần của con thành gian thần hết.

Thái tử chú ý lắng nghe từng lời của vua cha căn dặn. Bỗng chàng băn khoăn hỏi:

- Bẩm phụ vương, con thấy việc này không dễ gì mà biện biệt được người trung với kẻ nịnh. Bởi phụ vương ở ngôi cửu ngũ, bề tôi nào mà chẳng kính cẩn ngọt ngào.

Vua Thuận Thiên bật cười vỗ vai thái tử:

- Con ta thơ ngây quá. Bởi con chưa trải đời, trải việc. Vào việc, tự con sẽ đọc được nhân cách của mỗi người qua gương mặt và lời nói của họ. Tới khi xét định thành tựu các việc làm của họ nữa, là con có thể định giá họ được.

Thông thường, người trung thực, việc làm và lời nói của họ không sai khác. Còn người không trung thực, lời nói thường hay uốn éo quanh co. Nói thì hay, còn làm lại dở. Người trung thực, tài đảm, họ sống gần với chân lý, nên họ không cần viện dẫn kinh sách hoặc cầu cạnh các thế lực để che chắn. Do vậy, nó góc cạnh, xù xì, đôi khi làm ta khó chịu. Chính các ông Trịnh Văn Túc và Lương Tằng đã giúp cha nhận ra điều này. Ta mong con, khi cầm quyền chớ có xa lánh những lời nói thẳng ngay và những người liều chết can ngăn. Chính những người đó mới là những nhà ái quốc chân chính, và cũng là người yêu con thật lòng.

Thái tử nghe vua cha nói mà cảm thấy lo lắng. Mặc dù chàng mới ngoài hai chục tuổi, cũng đã từng cầm quân đánh dẹp các sách, động người man làm phản. Kể cả cầm quân viễn chinh, phá trận giặc, chém tướng giặc nhưng xem ra không rối rắm như thế trận lòng người.

Vẻ trầm ngâm, chàng nói:

- Phụ vương, con sẽ gắng nhập tâm để hành xử những điều phụ vương răn dạy. Song, con ao ước, nếu như phụ vương lại viết ra những điều căn cốt nhất trong đạo trị nước, để lưu dấu cho đời sau thì đó mới thực là đại hạnh.

Vua Thuận Thiên không kìm được tiếng cười, ngài đứng bật dậy và cười lớn. Một lát, cơn cười dịu xuống, nhà vua vỗ vai con, thân mật nói:

- Con à, sách viết về đạo trị nước thì nhiều lắm, nhưng không ai vượt nổi hai nhà: Khổng Tử và Mạnh Tử.

Có phải các bậc vua chúa mù chữ và vô học cả đâu. Nhưng từ sách đến cuộc đời không phải là việc giản đơn. Cho nên Khổng Tử mới dạy phải thành ý mới chính được tâm. Tức là phải chân thực thì mới chính tâm được. Mà tâm có chính, mới chính được các điều bất chính. Còn Mạnh Tử thì ra sức viết sách để dạy đời, nhưng ông lại lưu ý hậu thế rằng: “Tín tận thư như vô thư”. Tức là tận tín vào sách thà đừng đọc sách. Cho nên sách, chỉ là những bài học, những phương hướng gợi mở, còn cuộc đời thực mới là những chương sách quý chờ người sau viết tiếp.

Bởi vậy, cha có viết để lại cho con cả trăm pho sách, về những việc thành bại trong đời cha có quan hệ đến việc thành bại của nước, thì đó cũng chỉ là để con tham bác chứ nó không thể là phương lược hành xử của thời đại con được. Bởi người nào có việc của người ấy. Thời đại nào có việc của chính thời đại ấy, nó không giống các thời trước nó hoặc sau nó. Cho nên không thể đem việc xưa vào việc nay được. Nhưng từ các việc của người xưa ấy, ta học được sự thành bại của đời trước, để bước đi của ta thêm vững vàng. Đây chính là sự học rút ra từ lịch sử, tựa như mục đích của Khổng Tử soạn kinh Xuân Thu vậy.

- Dạ, con xin lĩnh ý phụ vương.

- Ta gọi con về đây, tức ta muốn trao truyền cho con những gì ta đã trải, đã thành và đã bại. Vậy có gì con đang trăn trở suy tư, con cứ hỏi. Không phải mọi điều ta đều thông sáng cả đâu. Nếu có điều gì cả hai cha con ta cùng không gỡ được, ta sẽ tìm đến các vị cao tăng, các đạo sĩ để tham vấn. Nào, con thử nói ta nghe, nếu như con đã ở ngôi.

Sau một hồi suy tư thầm lặng, thái tử lên tiếng:

- Thưa phụ vương, đối với một quốc gia điều gì là quan yếu nhất?

- Phải rồi, con phải đặt ra những chuyện như vậy. Vì đã sắp tới lúc con phải phất cờ rồi đó. Vua Thuận Thiên với vẻ cởi mở, ngài nói: – Việc quan yếu nhất của một quốc gia là sự ổn định chính trị. Muốn có ổn định chính trị, phải ổn định được kinh tế. Sao cho người dân ai cũng có việc làm, ai cũng có cái ăn, cái mặc. Hai cái ổn định này hỗ tương nhau tạo thành sự ổn định quốc gia.

- Nhưng thưa phụ vương, căn cốt của sự ổn định quốc gia là những cái gì ạ?

- A ha! Nhà vua lại cười lớn. – Thì ra con ta đã trưởng thành. Thế mà cha cứ tưởng con vẫn là một chàng hoàng tử bé bé ngày nào. Đúng là cha nhìn nhận con không lầm. Sinh thời, thầy của ta – đức Vạn Hạnh cũng lượng định con sẽ là người đức độ, quyền biến. Ngay cái tên con cũng nói lên điều đó. Ta đặt tên con là Đức Chính, còn thầy ta lại gọi con là Phật Mã. Tức là con ngựa của nhà Phật. Con sẽ là người tải đạo.

Sực nhớ lời con hỏi, vua Thuận Thiên bèn nói – Suýt ta quên con hỏi về căn cốt của sự ổn định quốc gia là những cái gì.

Căn cốt đó là bộ máy nhà nước con ạ, tức những người cầm quyền ấy. Sao cho vừa đủ, không nhiều quá dễ gây cồng kềnh, chồng chéo mà tốn kém. Cũng đừng ít quá để bê bối không làm hết việc. Nhưng quan yếu hơn cả là phải tận dụng được hầu hết nhân tài trong nước.

Triều đình phải chăm lo vun đắp nhân tài, khi đã có nhân tài rồi phải lo cắt đặt đúng người đúng việc, đúng sở trường của họ.

Việc sử dụng hiền tài không dễ, phải biết nhún nhường thì mới dùng được người hiền tài. Nếu cậy mình ở ngôi cao, bắt mọi người phải khuôn theo ý mình thì khó có thể thu dụng được người hiền tài. Bắt tù ai hoặc giết ai trong vương quốc ta trị vì thì quá dễ. Nhưng bắt kẻ sĩ, tức những bậc chân tài làm theo ý ngông ngạo của mình thì khó đấy. Họ có thể bỏ bổng lộc, bỏ tất cả để đi ở ẩn, thậm chí họ có thể tự chết trước khi ta có ý định giết họ. Con cũng nên nhớ thêm điều này, nếu con sử dụng sở đoản của các bậc chân tài vào việc lớn, tức là con đã giết họ mà con không tự biết. Nước sẽ vì thế mà suy yếu.

Một điều nữa ta cũng cần lưu ý con rằng: đường thịnh nghiệp có rất nhiều ngả, rất nhiều cách khác nhau để đưa quốc gia tới chỗ giàu mạnh. Nhưng suy vong thì chỉ có một nẻo thôi. Vì vậy sự suy vi sụp đổ nó mau hơn sự hưng thịnh. Nẻo đó là gì? Là bắt đầu từ sự xa lìa người tốt, thân cận với kẻ xấu. Ghét người nói thẳng, ưa kẻ xu nịnh. Ngại gian khó, đắm chìm trong các lạc thú trần gian. Như vậy không chỉ sụp đổ cơ nghiệp tổ tông mà còn có nguy cơ mất nước.

Lý Phật Mã không ngờ được vua cha ưu ái trao truyền cho những điều quan yếu nhất của phép trị nước, tựa như các bậc chân tu trao truyền tâm ấn cho đệ tử. Chàng phấn chấn tự tin và mạnh dạn hỏi thêm:

- Thưa phụ hoàng, thế còn đối sách với nước đại Tống cùng các nước Lão Qua, Chiêm Thành, Chân Lạp thì sao?

- Lão Qua là nước nhỏ yếu. Chỉ gây nổi các vụ cướp vặt không làm nên trò trống gì. Giả dụ họ có gây rối biên dân, thì biên quan ta gửi điệp văn sang trách cứ và đòi bồi hoàn là đủ.

Lại như nước Chiêm Thành cậy có hải đoàn hùng mạnh, hay gây hấn với nước ta. Thực ra đây cũng chỉ là những vụ cướp lớn của đám hải tặc do nhà nước Champa chủ trương thôi chứ chưa phải là quy mô của một cuộc xâm lăng.

Với nước Chiêm Thành, thì đối sách trừng phạt như ta sai con đi chinh thảo tháng chạp năm Canh thân là được. Ta cũng lạ, cái nước Champa này chỉ chuyên việc gây rối. Họ tuy mạnh về hải binh, nhưng bộ binh, kỵ binh lại rất tồi, và ý chí của họ không kiên định. Nước này không có gì đáng ngại. Nếu bị trừng phạt đau, thì họ cũng nể sợ được một thời gian vừa đủ để ngấm đòn.

Còn nước Chân Lạp thì ở xa ta. Nước này đang cường thịnh. Họ đã thôn tính xong mấy nước lân bang. Nước ta với Chân Lạp vốn không có thù oán lại ở xa nhau, nên họ cũng muốn sống hoà hiếu. Họ thường sai sứ mang phương vật sang tặng biếu ta. Với nước này, nên kết hảo.

Ngoài ra, Tống là một nước lớn. Nước này đang vào thịnh thời của sự yếu suy. Phía bắc, phía tây đang khốn đốn với các nước Liêu, Hạ.

Không những thế, nội bộ họ còn bị chia rẽ trầm trọng. Vì vậy, trước mắt với người Tống chưa có chuyện gì đáng ngại. Nhưng về lâu về dài thì phải phòng bị kỹ càng mặt bắc.

Người Trung Hoa có thế mạnh về mặt văn hoá. Văn tự họ có rất sớm. Lại sản sinh được nhiều học giả với các học thuyết lớn từ thời nhà Chu. Nền văn minh của họ phát sinh từ lưu vực sông Hoàng Hà. Nơi đây mênh mông những cánh đồng phù sa màu mỡ, nền nông nghiệp của họ không một nước nào theo kịp. Do vậy, đất nước của họ phát triển về mọi mặt, mặt nào cũng đạt tới đỉnh cao rất sớm, khiến các lân bang phải khát thèm.

Thoạt kỳ thuỷ, nước Trung Hoa cũng không lớn hơn nhiều lắm so với các nước lân bang. Nhưng với chính sách chinh phục và đồng hoá, khiến nhiều quốc gia bị tiêu vong. Và nước Trung Hoa ngày càng phình đại ra mênh mông như ngày nay.

Thái tử nghe vua cha nói, mà chàng cảm như là một sự lạ. Bèn hỏi:

- Bẩm phụ vương, làm thế nào mà họ đồng hoá được cả một quốc gia. Như nước ta, họ đô hộ tới cả ngàn năm rồi, nhưng nước ta vẫn là nước ta chứ đồng hoá làm sao nổi ạ.

Vua Thuận Thiên cười độ lượng, ngài thân mật vỗ vai hoàng tử, rồi thuận tay ngài chỉ vào cội chi mai ngay bên chỗ ngồi, và nói:

- Con hãy coi cây mai đây. Con có thấy thân hình nó mảnh dẻ, cành nhánh nhỏ xíu mà khô khốc như mấy nhành rào tre. Mùa này trút hết lá, rút nhựa vào trong để nuôi thân và vỏ cây. Nhưng con nhìn kỹ xem, nơi các đốt cành kia đã hơi nhu nhú chiếc mầm chờ. Mai đây khi mùa xuân tới, là nó bật nụ, trổ hoa, nảy lộc. Đó, con xem, dân tộc mình có đức tính của loài mai. Tuy mảnh mai nhỏ bé, song bất chấp sương, tuyết, gió, mưa; biết cách đối phó để sinh tồn. Vì vậy, Trung Hoa không thể Hán hoá, không thể đồng hoá chúng ta được.

Chung đụng biên thuỳ với nước này chẳng qua là chuyện bất khả kháng thôi con ạ. Song ta lưu ý con phải hết sức tỉnh giác, nếu không họ dùng sách tằm ăn dâu lấn hết đất ta đó.

Thoạt đầu là họ lùa dân họ sang xâm canh ở những vùng khuất lấp trên đất ta. Biên dân, biên quân ta chưa phát lộ được thì họ đã xua dân họ sang làm nhà làm cửa ở tràn lan. Rồi đưa cả mồ ông mả cha sang chôn cất.

Xâm canh, xâm cư, xâm táng xong, ta mới phát lộ được thì rất khó thu hồi. Biên quan họ cãi lý với ta rằng, họ ở đất này đã lâu đời thì mới có nhà cửa, mồ mả chứ. Nếu như ta không đủ vũ lực để đòi lại, mà họ cũng không đủ lý, đủ lực để giữ đất lấn cướp phi pháp ấy, thì họ thương nghị. Rất chi là dẻo mềm, thôi thì mỗi bên chịu thiệt một ít, xin chia đôi mỗi bên một nửa phần đất tranh chấp. Đó là một cách con ạ. Cách này họ chỉ làm khi nước họ đang có quan hệ tốt với ta, hoặc là trong nước họ đang có loạn, hoặc là họ đang ở thế yếu. Chung quy, họ chỉ có quan hệ tốt với ta khi họ đang suy yếu.

- Thưa phụ vương, vậy khi họ cường thịnh thì đối sách của họ với lân bang ra sao?

Đột nhiên gương mặt nhà vua trở nên trầm buồn. Ngài chậm rãi dằn từng tiếng:

- Con ạ, họ cường thịnh thì là một đại hoạ cho các nước lân bang. Nếu họ chưa chinh phục được, chưa thôn tính được thì các quốc gia lân bang phải thần phục họ, triều cống họ, và phải chịu là thân phận thần tử.

Thái tử nghe vua cha nói, trong lòng sôi sục bầu máu nóng. Có nhẽ chàng không thể nào chấp nhận cái sự lấy thịt đè người ấy, bèn hỏi:

- Bẩm phụ vương, nếu họ chinh phục được, thì họ làm gì ạ?

Nhà vua cười, cái cười mới đau khổ làm sao. Nhìn con với vẻ cảm thông, vua nói:

- Con à, nếu họ chinh phục được, thì mình phải làm nô lệ cho họ, họ muốn gì ở mình mà chẳng được. Họ chinh phục được thì họ bắt mình phải bỏ tất cả những cái gì của mình hiện có để theo họ. Bỏ cái gì à? Bỏ văn hoá của mình như phong tục, tập quán và các lề thói do tổ tiên mình truyền lại. Bỏ cả cách ăn, cách mặc của mình để phải ăn, phải mặc như người họ. Rồi cuối cùng là phải bỏ cả tiếng nói của mình để nói tiếng của họ. Thế là xong cuộc đồng hoá của họ. Qua vài đời là đào thải hết gốc gác Việt tộc, chỉ còn thuần tuý một thứ Hán nửa mùa thôi.

Vua Thuận Thiên lại mỉm cười.

- Vậy chớ con nghĩ sao? – Nhà vua hỏi.

- Thưa phụ vương, nếu đúng như phụ vương nói, thì qua một ngàn năm nước ta bị người Tàu đô hộ, người mình phải trở thành người Hán cả rồi chứ ạ?

- Hàng ngàn quốc gia nhỏ bé khác, sống xung quanh lưu vực sông Hoàng Hà đã bị như vậy đó. Vì thế, nước Trung Hoa ngày nay mới mênh mông như vậy, chứ hồi mới lập quốc, họ chỉ quanh quẩn trong khu vực của mấy nước Lỗ, nước Tề, nước Tống, nước Tần… cổ xưa mà thôi.

Đất Bách Việt ở phía nam sông Trường Giang xưa, đâu phải là đất Trung Hoa. Thế mà nay tất cả đều là dân Trung Hoa, đất Trung Hoa trừ xứ Lạc Việt chúng ta.

Vì sao ta không bị đồng hoá ư?

Vì dân ta kiên cường không chịu từ bỏ tập tục của mình; không từ bỏ tiếng nói của mình; không chịu lấy chồng, lấy vợ người Hán. Nếu mất tiếng nói, mất phong tục tập quán và máu huyết bị pha loãng thì sẽ mất đứt dân tộc và mất luôn cả Tổ quốc con à.

Trong khi vua Thuận Thiên từng giờ, từng phút giảng giải để khai mở cho vua nối về thuật trị nước và đối sách với các nước lân bang, thì tại cung của Vũ Đức vương, các vương là hoàng đệ của Đông cung thái tử Lý Đức Chính như Khai Quốc vương, Đông Chinh vương, Dực Thánh vương, họp bàn. Mở đầu, Vũ Đức vương nói:

- Chư huynh đệ, chúng ta đều là con của phụ hoàng cả. Thế mà việc chọn lập, chúng ta không được đếm xỉa gì đến. Thật là vô lý.

Nói rằng chủ về đức ư? Thì Đức Chính đã hơn gì anh em ta. Cùng là con của phụ hoàng cả, sao lại có người ưu đức có người thiểu đức. Chúng ta đã làm gì thất đức nào? Vả lại xưa nay có ai trị nước chỉ bằng đức?

- Có! Có người trị nước bằng đức – Khai Quốc vương nói – Đó là Khổng phu tử, khi ông làm quan đại tư khấu tại nước Lỗ. Thật ra là ông mong mỏi có một xã hội đức trị thì đúng hơn. Vua nước Lỗ không chịu được, bởi lúc nào ông cũng lải nhải nói về đức. Cuối cùng, ông cũng phải bỏ nước Lỗ mà đi chu du thật là cực nhọc khắp thiên hạ, chẳng một nước nào chịu trao quyền chức cho ông. Rốt cuộc, ông cũng chỉ là một ông thầy rao giảng về đạo đức suốt cuộc đời. Nhưng dưới gầm trời, chẳng có một nước nào từ cổ chí kim, thực thi được một nền đức trị, mà chỉ mơ về sự đức hoá cũng như là sự thiện hoá xã hội thôi.

Dực Thánh vương nghe các người anh em nói cũng thấy nong nóng phía vành tai. Chàng nói:

- Có khi chúng ta phải cùng xin phụ hoàng cho mở cuộc thi tài. Ai đứng đầu thập bát ban, người ấy sẽ được kế vị.

Nói xong, Dực Thánh vương cảm như mình bị hố to. Bởi nếu thi thố thì kiếm thuật, cung thuật không ai địch nổi Vũ Đức vương. Quyền thuật, đao thuật không ai sánh nổi Khai Quốc vương. Roi và thiết lĩnh không ai bằng Đông Chinh vương.

Tự so sánh, rồi tự hỏi: “Còn ta, ta giỏi cái gì nào?”. “À, ta chỉ được mỗi cái sở đắc là thiết trùy, không thể so với mọi người được. Mà rồi có thi thố, có bình chọn cũng chẳng đến lượt ta. Lại còn thế lực nữa chứ. Mẹ của Vũ Đức vương đã khiến được phụ hoàng sủng ái. Các thầy văn thầy võ của Vũ Đức vương cũng là những bậc siêu phàm.

Từ trong sâu thẳm của lòng mình, Đông Chinh vương vẫn cho rằng trong mấy người anh em, cả tài lẫn đức, không ai bằng huynh trưởng Đức Chính. Thế nhưng…

Những cuộc bàn bạc như thế cứ mau dần. Mấy anh em cũng vì thế mà trở nên thân thiết, gần gũi. Đôi khi, các cuộc họp kín còn mời cả các thầy võ, thầy văn dự bàn.

Trong số các thầy dạy võ, có Lưu Hoằng Định người Tống vốn là một tay kiếm khách bạt quần được Tống Chân tông cử về giúp Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí xâm lăng nước ta, bị bắt cầm tù năm Giáp dần. Cho tới khi Vũ Đức vương phát lộ ra tài năng của Lưu Hoằng Định, rồi được phép của vua cha, Vũ bái Định làm thầy. Nay thấy các hoàng tử tụ họp bàn chuyện không phục vua nối đã lập. Cứ đà này, chắc họ sẽ bàn tới chuyện sát hại đông cung hoàng thái tử Lý Đức Chính. Và nếu như hạ sát được Đức Chính, sẽ đến lượt họ hạ sát nhau. Còn như việc này bại lộ, không những họ có tội mà ta cùng bị liên luỵ.

Nghĩ vậy, Lưu Hoằng Định thấy không thể lẩn quất ở kinh thành được nữa. Tai bay vạ gió đến nơi rồi.

Vào một đêm tối trời, y khoác tay nải trốn khỏi kinh thành, ra tận cảng Vân Đồn, trèo lên một chiếc tàu buôn nước ngoài. Từ đấy, không ai rõ tin tức Lưu Hoằng Định ở đâu nữa.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 27.09.2018, 16:55
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5390 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XXXI

Khai Quốc vương dự bàn với mấy người anh em xong bèn lên ngựa về thẳng Trường Yên.

Khai Quốc vương vốn là một người mẫn nhuệ, đa mưu túc trí, lại được gia thần vào hàng trí huệ như Đinh Thành cư sĩ, nên mọi việc làm đều có mưu tính trước sau.

Chẳng hạn như việc Khai Quốc vương được cư sĩ gà cho xin với vua Thuận Thiên về mở phủ tại Trường Yên.

Cư sĩ Đinh Thành nói:

- Vương nghĩ xem, ở nước ta có nơi nào địa thế vừa hiểm trở vừa thuận lợi như Trường Yên. Sát nách hai bên tả hữu đều có sông lớn, có thể dùng vào việc hành binh hoặc luyện tập quân thủy. Hơn chục dặm về phía đông là đã ra tới cửa biển. Phía tây là núi rừng hiểm trở. Đất này đã giúp hai triều Đinh – Lê giữ vững nghiệp đế. Tiến có thể đưa quân đi khắp nơi trong bờ cõi. Xa hơn có thể ra biển, đi tới bất cứ nước nào mà ta muốn. Lúc về, ta có thể thủ thế trong núi, trong hang. Cả một vùng sơn động nổi tiếng từ xưa. Nơi đây, nếu biết dụng binh, có thể nhân sức mình lên gấp cả trăm lần so với nơi khác. Sao Vương không xin với hoàng thượng về trấn trị Trường Yên?

Đó là lời mách bảo của cư sĩ Đinh Thành, vị gia thần của hoàng tử Bồ tức Khai Quốc vương.

Vì vậy, Khai Quốc vương đã có biểu trình vua cha xin đi trấn trị Trường Yên, với sứ mệnh làm phên giậu cho Thăng Long.

Nghe thuận tai và cũng cần có tướng tâm phúc giữ vùng đất hiểm yếu này; vả lại Khai Quốc vương tuy tuổi còn trẻ nhưng mưu lược hơn người, lại được các gia tướng là những người đã từng trải, nên nhà vua bằng lòng cho hoàng tử ra trấn giữ Trường Yên.

Từ ngày được về làm chủ đất Trường Yên, Khai Quốc vương để tâm ngay vào việc rèn luyện cho mình một đội binh mạnh.

Về hội với các huynh đệ trong phủ Vũ Đức vương, Khai Quốc vương muốn giữ mối quan hệ ràng buộc. Nếu như trong các vương, có vương nào được lên ngôi thay Phật Mã, thì chàng vẫn là chỗ thân tín. Ngược lại, nếu các vương không làm xoay chuyển được tình thế, chuyện lộ ra thì chàng là người ngoài cuộc, vô can. Bởi chàng ở khuất lấp tại nẻo Trường Yên. Phật Mã chẳng lấy căn cứ gì mà trị tội. Còn như lấy danh nghĩa triều đình đem quân trách phạt, thì với địa thế hiểm trở này, với đội quân tinh nhuệ này, sao ta không có thể hùng cứ một phương.

Tính toán kỹ càng, mọi việc đều kín như bưng, trong số các anh em, không ai dò biết được thâm ý của Khai Quốc vương, cũng như không ai có cớ gì có thể nghi ngờ vương.

Khai Quốc thường cho người về kinh thành hỏi các huynh đệ, và luôn có những món quà lạ gởi biếu các vương. Khi thì cặp ngà voi, lúc lại chiếc mật gấu hoặc mỗi vương một cặp sừng sơn dương làm vật trang trí trong nhà.

Cử người về thăm hỏi, biếu xén quà cáp chỉ là chuyện bề ngoài, thực tình vương cho người tâm phúc đi dò xét, thám thính xem sự động tĩnh trong các vương phủ, và cả động tĩnh trong triều đình.

Quân về báo, tại các vương phủ của Vũ Đức vương, Dực Thánh vương, Đông Chinh vương đang ráo riết luyện quân như cung nỏ, đao kiếm, giáo truỳ, kết hợp với các môn quyền, cước, đả thương, điểm huyệt. Mọi thứ nghe ra đều gấp gáp lắm.

Trong khi đó tại cung Long Đức, đông cung thái tử Lý Đức Chính ngày ngày vẫn đọc sách hoặc bình văn với các bậc sư phó. Đôi khi bàn bạc về các thuật trong Tôn Tử binh pháp với các gia tướng thật là sôi nổi.

Có lần thái tử mở cuộc nhàn đàm với các gia tướng, kỳ thực là một cuộc sát hạch. Ví như thái tử hỏi tướng quân Lê Phụng Hiểu:

- Giả dụ như phía sau quân ta, có quân giặc truy đuổi gấp. Tới một ngã ba, có một ngả đường rộng thênh thang, mặt đường vắng ngắt, không hề có một dấu hiệu nào chứng tỏ có quân phục. Ngả kia là đường độc đạo len giữa hai vách núi dựng đứng, đây đó có một vài lá cờ như là cờ hiệu lại loáng thoáng có những ngọn khói trắng bốc lên, chứng tỏ trong rừng có quân đóng, ngoài đường có quân phục. Vậy nếu tướng quân nắm quyền tổng quản, tướng quân sẽ cho quân đi theo đường nào?

Cau vầng trán rộng, vẻ suy tư và lim dim đôi mắt chim ưng, Lê Phụng Hiểu đáp:

- Theo thiển ý của thần, trong binh pháp có nói hư hư thực thực, lấy thực làm hư, lấy hư làm thực để lừa địch, dụ địch hoặc tránh địch. Phép này thiên biến vạn hoá. Cái cảnh ngộ mà thái tử hỏi đó thật khó nói. Bởi khi lâm trận, phải biết kẻ đối đầu với mình là ai, trí lự họ đến đâu, tài cán họ đến đâu mà ứng phó.

Nhưng thông thường, ít ai dám dẫn đại quân đi vào đường hẻm. Đối phương không dại gì mà không dụng cái thế nhất nhân địch vạn, nhờ vào sự hiểm trở của núi rừng.

Còn như biết chắc nơi đường lớn có quân phục, có thế trận đã bày sẵn thì phải cứu xét nó là thế trận gì mà tìm ra cách phá. Lấy cái mạnh nhất thời của ta đánh vào chỗ yếu nhất thời của địch, chắc sẽ chuyển được từ thế bị địch chặn sang thế chặn địch. Trong binh pháp gọi thế này là “phản vi chủ”.

Thế trận mà thái tử vừa hỏi thần, chính là kế của Khổng Minh sai Quan Vân Trường bắt Tào Tháo nơi Hoa Dong tiểu lộ.

Sở dĩ Khổng Minh thắng Tào Tháo ở trận này, là do ông nắm được tâm lý đa nghi của Tháo chứ thực ra Tào Tháo đâu phải là tướng tồi. Vì thế thần mới nói, phải xem tướng đối địch với mình là người như thế nào, thì sự đối phó mới hợp.

Vả lại, bẩm thái tử, nếu đi vào đường lớn, mà ta đề phòng sẽ có quân phục thì ta lập kế đánh phản phục, nếu không thu toàn thắng cũng không thể bị thiệt hại nhiều như đi đường hẻm. Bởi đường hẻm, không cách gì có thể khai triển được lực lượng, phát huy được cái mạnh sở trường của quân ta.

Thái tử gật đầu, có vẻ đẹp lòng về các kiến giải của tướng Lê Phụng Hiểu. Đoạn chàng quay sang hỏi đô Sắn tướng quân:

- Nếu lâm trận, ngươi phải giao đấu với một lão tướng dày dạn chiến trường của giặc. Vị lão tướng ấy tuy tuổi cao, nhưng sức lực không thua kém ngươi, võ nghệ ngang tầm với ngươi; ngươi sẽ đối phó ra sao?

Đô Sắn vốn là một cậu bé mồ côi cha mẹ, nhà nghèo, thất học ở với bà, được ông xã trưởng Lương Thanh Khiết gả con gái và gởi theo học với các bậc thiền sư danh tiếng. Sau gặp thái tử Phật Mã thu dụng như ta đã biết. Thái tử lại cho theo đoàn viễn chinh sang Chiêm Thành lập được công lớn.

Đô Sắn bây giờ là một đô tướng có học, chớ không phải thằng cu Sắn của bà cụ Giá bị xã trưởng Thằng chèn ép như dưới thời Lê Ngọa triều nữa.

Thấy thái tử đưa ra một giả tưởng để Sắn ứng phó, chàng lập tức đưa nó vào đầu và bắt nó hiển lộ. Chàng hình dung một viên dũng tướng tả xung hữu đột, đang bổ một cây đại đao xuống đầu chàng.

Sực nhớ thái tử hỏi, Sắn vội đáp:

- Tâu thái tử, gặp một lão tướng võ nghệ cao cường, sức lực dư thừa, kinh nghiệm dồi dào thần trước hết phải kính cẩn và thận trọng.

- Tại sao phải kính cẩn? Thái tử hỏi – Lâm trận, bất phân già trẻ, gặp khi đối phương sơ hở phải đánh phủ đầu để giành phần thắng chứ?

Sắn nhoẻn miệng cười rất tươi. Chàng vòng tay bái thái tử, rồi tiếp:

- Tâu, người lớn tuổi, thần coi như cha thần, nên phải kính cẩn. Nói năng phải lễ độ. Vào giao đấu, thần phải bái trước để xin phép, bởi trong khi đánh nhau quyết liệt vì lẽ tồn vong không thể nhường, nhún. Rồi thần còn phải mời vị trưởng thượng đó ra đòn trước. Gặp khi họ bất lợi vì binh khí bị đánh gãy, hoặc đánh bật ra khỏi tay, thì thần phải ngừng tay đao để đối phương thay binh khí. Dạ bẩm, thái tử đã từng dạy thần về lễ trong giao đấu. Các sư phụ và sư huynh cũng đều răn dạy như thế, sao thần dám làm trái được.

- Tiếp đó là gì nữa? Thái tử hỏi.

- Bẩm thái tử, thần phải vừa đánh vừa dò xem sự biến ảo của các ngón đòn có gì lợi hại. Người giỏi võ lại từng trải trận mạc, qua giao đấu cả trăm hợp cũng chưa chắc đã phát lộ được điểm yếu của họ. Nhưng thưa thái tử, dù giỏi giang đến mấy mà tuổi cao, thì đánh tới năm trăm hiệp tay đao ắt đã kém phần linh lợi. Dẫu có đòn hiểm cũng khó bề thi triển. Dạ, đối với các cao thủ mà giao đấu với đối phương trẻ tuổi, trong vòng một trăm hiệp đầu, thường là người trẻ tuổi bị thua. Dạ, thua vì tuổi trẻ hay mắc tính kiêu ngông, vừa vào trận đã toan hạ gục đối thủ. Do háo thắng, nên rất dễ sơ hở. Mà đối với các bậc cao thủ, chỉ cần một sơ hở nhỏ của đối phương là họ có thể hạ gục đối phương ngay tức thì.

Dạ, gặp đối thủ như vậy, thần phải rèn cho mình ý chí quyết đấu và quyết thắng. Nhưng phải kiên nhẫn quần cho đối phương phải bộc lộ nhược điểm, trong khi sức của họ xuống dần, sức của thần vẫn còn sung mãn, nhằm đúng lúc họ vừa mệt vừa sơ hở thì việc hạ gục họ chỉ còn trong giây lát.

- Khá khen cho ngươi. Thái tử rất bằng lòng về sự tiến bộ vượt bậc của đô Sắn. – Ta hy vọng, vương nói tiếp – ngươi sẽ là một tướng giỏi của triều đình.

Nhìn Ngô An Ngữ, một người điềm đạm, tuy tuổi không còn trẻ, nhưng Ngô là một tướng cơ mưu, dòng dõi Ngô tiên chúa, ông đã từng làm quan dưới triều Lê Trung tông, Lê Long Đĩnh cùng với phụ vương ta. Thái tử nói:

- Ta muốn dành cho tướng quân một câu hỏi, mà ngay chính ta cũng rất lúng túng trong phép giải đáp. Chẳng hay tướng quân có vui lòng ứng hợp.

Ngô An Ngữ vui vẻ:

- Bẩm thái tử cứ dạy, phận bề tôi, thần biết đến đâu, tâu đến đó.

- Vậy thì nếu tướng quân được cử đi bình một đất nước mà người dân được chăm sóc no đủ. Vua nước họ được dân kính, dân yêu. Quan lại trong ngoài triều đều biết chăm dân, lo cho dân có cuộc sống an lạc. Nước họ biết sống hoà hiếu với lân bang.

Đó, nếu phải chinh phục một nước như vậy, tướng quân dùng phương sách nào.

Dường như không cần phải suy nghĩ, tướng Ngô An Ngữ liền đáp:

- Bẩm thái tử, một nước mà vua tôi đồng lòng như vậy, vua yêu dân như con, dân kính vua như cha. Quan lại cũng một lòng một dạ vì nước, vì dân. Nước ấy lại hiếu hoà, không một lân quốc nào bị coi là nước địch.

Tâu thái tử, nếu có một nước như thế mà kẻ nào dám kéo quân đến xâm phạm, chắc chắn là thủ bại. Một nước như thế, không kẻ thù nào không bị đánh bại.

Thần trộm nghĩ, nếu có một nước như thế, thái tử nên xin với hoàng thượng mau mau kết hảo.

Thái tử Lý Phật Mã bỗng cười phá lên.

- Quả đúng là như vậy. Tướng quân có tư cách của một bậc nhân tướng! Ôi, ta không thể không vui sướng vì có các tướng như ông phò tá.

Từ ngày đông cung hoàng thái tử Lý Đức Chính được vua cha triệu về và cho ở cung Long Đức để gần cận tiện bề cho nhà vua giáo hoá và trao truyền những yếu chỉ trong phép trị nước, thái tử luôn sửa mình để nghe vua cha răn dạy. Chàng vui mừng vì vua cha không chỉ nói những điều hay, và cả những điều dở đã đem ra thi thố mà mình không tự biết. Vua cha nói về cái thành cũng có, nhưng thường là nhà vua nói về cái bại của mình để làm gương răn dạy thái tử.

Có lần thái tử đã mạnh dạn hỏi:

- Thưa phụ hoàng, làm thế nào để có thể biết được các chính lệnh của triều đình ban ra là đúng hoặc là sai.

Nhìn thái tử với cái nhìn bao trùm, nhà vua như một lần nữa nhắc cân xem con người này – cái phần máu thịt này của ta, có đủ sức gánh vác việc lớn quốc gia. Không phải đây là lần đầu tiên ngài có suy nghĩ như vậy. Thực ra đã rất nhiều lần ngài đem chuyện kế vị ra bàn trong khu mật viện, rằng phải cân nhắc thật kỹ càng, trong số các hoàng tử, ai là người đủ đức, đủ tài ở ngôi quân trưởng. Nhà vua có nhiều hoàng tử, nhưng thực tài, rốt lại chỉ có hai người. Đó là Chính và Bồ. Tức là Khai Thiên vương và Khai Quốc vương. Hai người này tài thì xấp xỉ ngang nhau, nhưng đức thì Chính hơn hẳn Bồ.

Thực ra nhà vua còn một hoàng tử thứ tám nữa là Uy Minh vương Lý Nhật Quang thường được khen là người có đức. Nhưng vì tính nhân, nhu thái quá, sợ gặp việc lớn khó quyết nên vua không chọn lập; nhưng lại hết lòng yêu thương chăm sóc.

Khu mật viện đã bàn đi bàn lại, nhà vua cũng cân nhắc mãi. Ngài đặt lợi quyền quốc gia lên trên hết, không câu nệ vào chuyện con trưởng, con thứ, miễn là người ấy phải có tài và có đức.

Thật ra thì không phải không có nhiều người nói tốt cho Bồ. Vua biết Bồ rất khôn ngoan, hay lo lót cậy nhờ người này người khác. Còn Chính thì đúng là một cái cây mọc thẳng. Nó là một người vừa trung thực, vừa bộc trực mà có thiện tâm. Cái mà một người làm việc lớn trên phương diện quốc gia cần phải có, là tính vị nhân chứ không vị kỷ, là lòng khoan dung. Cái đó ta thấy có ở Chính. Vậy ta yên tâm trao truyền ngôi báu.

Triền miên mãi với các ý nghĩ gần xa, vua Thuận Thiên chợt nhớ đến câu hỏi của con. Ngài thân mật đáp:

- Này con, mỗi khi chính lệnh ban ra, con phải luôn nghĩ về nó. Nếu lương tâm con không áy náy, chắc là ổn đó. Nhưng người có thể xem xét chính lệnh của triều đình ban ra hợp hay không hợp lòng người, ấy chính là dân. Còn triều đình thì bao giờ mà chẳng đúng. Suy cho cùng thì chính lệnh gì cũng đổ lên đầu dân. Vậy muốn biết điều này, phải cử người của triều đình về các miền quê, kể cả nơi thôn cùng xóm vắng nghe ngóng xem người dân khi thi hành các chính lệnh ấy, thì có lợi hay có hại cho họ. Có lợi thì họ khen, có hại thì họ oán. Cứ theo đó khắc biết mà chỉnh bị lại cho ngay chính. Việc này ta đã đặt chức xuất nạp quan. Qua đó có thể đo được lòng dân.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 27.09.2018, 16:56
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5390 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XXXII

Bữa nọ, nhà vua thấy trong người nhẹ nhõm, lòng đang phấn chấn, tự dưng lại nhớ cảnh Dâm Đàm, bèn gọi nội thị vào phán:

- Ngươi nói viên đô uý đô Tùy long, soạn sửa lâu thuyền Kim Phượng, nửa giờ nữa ta sẽ dùng đến.

Lại cho gọi hoàng thái tử Lý Phật Mã vào chầu. Hoàng thái tử vừa ló vào cung, nhà vua liền đứng dậy vỗ vai chàng rồi kéo ra phía Long Trì – Con đi cùng ta. Chiều nay ta muốn ngoạn cảnh Dâm Đàm.

Hoàng thái tử lặng lẽ bước theo vua cha xuống lâu thuyền.

Kim Phượng là một trong bốn lâu thuyền mà đức Thuận Thiên ưa dùng. Lâu thuyền không lớn, chỉ có hai tầng. Tầng dưới chứa các đồ ngự dụng để dâng đức kim thượng trong khi du ngoạn như trà, rượu, các đồ ăn nhẹ cùng nhiều vật dụng khác. Lâu thuyền gắn hai chục mái chèo cùng bốn mươi trải thủ cực khoẻ thay nhau chèo để giữ cho thuyền lúc nào cũng đi nhanh. Nếu cần đi gấp, mỗi mái hai tay chèo, thuyền đi chẳng kém gì sức ngựa phi.

Tầng dưới của lâu thuyền đóng kín như thuyền chiến, từ ngoài nhìn vào mạn chỉ thấy các mái chèo bổ nước đều tăm tắp, chứ không thấy trải thủ. Tầng trên chia làm ba khoang, mỗi khoang là một phòng. Khoang lái, dành cho mười lính hộ vệ trong đội hổ bôn. Khoang giữa, vua ngự. Khoang mũi, dành cho mấy ả a hoàn hầu hạ vua.

Khoang vua ngự, sàn ghép thuần gỗ thơm như tùng, bách. Vách thuyền là những con tiện bằng gỗ đinh hương vừa thơm vừa chắc. Hai bên vách thuyền treo loáng thoáng vài bức tranh thêu cảnh ngư-tiều-canh-độc, cảnh Yên Tử sơn, Tản Viên sơn nom sống động như các cảnh đó đang thị hiện.

Mới non chiều, mặt trời đang chênh chếch phía Tản Viên sơn. Hơi nước bốc như khói, như sương giăng trắng mặt hồ. Những cánh rừng rậm rì trên những hòn đảo nhấp nhô trong hồ lúc ẩn lúc hiện, nom như cảnh sắc thần tiên. Nhà vua chợt ngửng nhìn lên bầu trời chói nắng. Cái nắng thật là mạnh, những tia hồng hồng rọi xuống cố chọc thủng màn sương khói bao phủ mặt hồ mà không thể nào lách xuống được. Đầu xuân, được một ngày nắng như thế này thật là hiếm hoi. Tuy trời nắng, nhưng vẫn giá ngăn ngắt. Vua Thuận Thiên đang ngước nhìn về phía trời tây, gắng tìm qua phía bầu trời trắng đục màu sữa kia, xem đỉnh Ba Vì, đỉnh Tản Viên nằm ở chỗ nào. Thật ra đỉnh Ba Vì, đỉnh Tản Viên sơn nằm ở chỗ nào, thì ngay trong đêm tối nhà vua cũng nhìn thấy nó ở trong lòng. Tuy nhiên, lúc này nhà vua vẫn muốn nhìn thấy nó như nhiều lần qua lại vùng này nhà vua đã nhìn dãy Ba Vì hiển hiện như một bức trường thành ở phía tây, và dòng sông Cái có sắc nước đỏ ngầu tựa như một lưỡi kiếm khổng lồ ở phía đông, chặn lối vào của giặc từ phương bắc. Từ khi còn làm chức quan nhỏ dưới triều Lê Hoàn, Lý Công Uẩn thường từ Hoa Lư qua lại vùng này để về quê hương Dịch Bảng, hoặc từ Dịch Bảng qua đây để vào kinh thành Hoa Lư, nhà vua đã thuộc nằm lòng tất cả.

Nhà vua bèn vẫy hoàng thái tử lại gần, ngài chỉ tay ra mặt hồ, lại chỉ lên bầu trời, rồi khoát tay vòng từ phía đông sang phía tây và hỏi:

- Con có thấy non sông ta thật là cẩm tú không?

- Bẩm phụ vương, đất nước ta không những đẹp mà còn hùng vĩ nữa.

- Đúng như con nói. Chỉ tiếc bữa nay trời mù sương quá. Nếu không, dãy Ba Vì kia và dòng sông đỏ lựng này hiển lộ, con mới thấy nó khả ái dường nào. Vừa nói, vua Thuận Thiên vừa chỉ về phía tây, rồi ngài ngoái tay chỉ về phía đông.

Hoàng thái tử thấy vua cha bữa nay như khoẻ ra, như có điều gì vui lắm người đang ấp ủ ở trong lòng. Đáp lời cha, Lý Phật Mã nói:

- Trình phụ vương, con đã được phụ vương nhiều lần răn dạy về thế đất của Thăng Long. Phía tây, dãy Ba Vì đột khởi lên như một bức tường thành, lại như một chiếc lưng ngai làm điểm tựa vững chắc cho Thăng Long, mà nhìn từ xa, những đỉnh núi như những mãnh hổ đang ngồi phục với thế thật là vững chãi.

Lại phía đông, dòng sông uốn lượn như một con thần long đang cuộn mình. Và dòng sông đỏ lựng phù sa kia cũng tựa như một lưỡi kiếm thép khổng lồ lúc nào cũng nung đỏ để chặn bước tiến của giặc dữ phương bắc.

Thái tử hạ giọng:

- Phụ vương đã dạy như thế, sao con dám nguôi quên. Bẩm phụ vương, chẳng cần trời quang mây tạnh, ngay cả ban đêm, nhắm mắt lại con vẫn thấy núi Tản, sông Lô hiển hiện ở trong đầu.

Nhìn con, nhìn bầu trời trắng đục, ánh nắng mờ mờ, nghe tiếng những mái chèo khua nước đều đều, nhà vua nở một nụ cười hiền hậu, ngài vỗ vai hoàng thái tử, giọng trìu mến:

- Con à, cái thế rồng cuộn hổ ngồi mà con vừa nhắc lại, đâu phải ý của ta.

- Bẩm phụ vương, ngoài phụ vương ra, còn ai đủ kiến văn nhìn ra những điều kỳ bí đó trong khu linh địa này.

Nhà vua nhìn con mỉm cười:

- Vậy con thử đoán xem, ở nước ta, ai có con mắt nhìn thấu tám cõi đó.

Thái tử chau mày, dường như chàng đang kiểm xét trong trí nhớ của chàng xem có những đấng bậc nào có tài quán thông khiến phụ vương cũng phải tâm phục làm vậy. Chợt có một cái gì đó vừa loé ở trong đầu, thái tử vội chắp tay:

- Bẩm phụ vương, con ngờ rằng người kỳ tài ấy là đức Vạn Hạnh thiền sư. Nói xong chàng ngửng nhìn vua cha, chờ một ý cha ban.

Vua Thuận Thiên mỉm cười khiến gương mặt ngài như sáng lên, ngài vỗ vai con xác nhận:

- Đúng vậy con ạ. Chính đức Vạn Hạnh đã chỉ ra những điều bí ẩn đó. Và ngài khuyên với ý xa xôi từ khi ta còn giữ một chức quan nhỏ trong cấm đình dưới triều Lê Long Đĩnh. Nhớ một bữa ta với ngài cùng đi từ hương Dịch Bảng về Hoa Lư. Khi qua vùng Dâm Đàm ngài sai dừng thuyền lại để ngài xem ngắm núi sông. Đoạn ngài nói với vẻ bâng quơ: “Đây mới chính là đất của đế đô muôn đời. Ta chỉ tiếc nhà Lê với nhãn giới thiển cận cứ thủ hiểm kinh đô ở nơi hang động, khiến thế nước không thoát ra được, không hanh thông lên được”.

Thả tầm mắt ra bốn hướng chợt nhà vua bắt gặp một đàn sếu bay ngang đầu. Trời mù sương sếu phải bay thấp nên nghe rõ tiếng chim đập cánh. Đàn chim bay đen cả bầu trời. Chúng bay theo hình chữ bát[84]. Nhô lên trước hình chữ bát là một tốp dẫn đầu chừng năm con bay theo hàng dọc.

Đầu đàn phải là con chim khoẻ nhất, khôn nhất và định hướng bay chính xác nhất. Tốp đầu đàn thường có từ ba đến năm con, phòng khi con đầu tiên gặp rủi ro thì con tiếp theo thay thế. Do đó hành trình của cả đàn không bao giờ bị rối loạn hoặc lạc hướng bay.

Như là một sự lạ, bởi chưa bao giờ nhà vua bắt gặp một đàn chim đông đến như vậy, ngài bèn ngước nhìn. Bỗng từ đâu đó, như có ai thả rơi một vật khá nặng trúng vai nhà vua. Vật lạ đánh trúng mỏm xương vai phải của ngài ngự. Thấy nhói đau, ngài vội so vai và cũng có phần hơi hoảng sợ nữa, tưởng như có thích khách.

Đám a hoàn vội hô hoán:

- Bệ hạ! Bệ hạ! Trứng ngỗng trời! Trứng ngỗng trời!

Nhà vua ngoái nhìn bả vai thấy lòng trắng, lòng đỏ trứng rớt nhoe nhoét cả long bào.

Mấy a hoàn xúm vào lau áo cho vua. Thái tử sáp lại gần vua cha. Lòng chàng bối rối không biết đây là điềm lành hay điềm gở.

Mặt nhà vua hơi biến sắc. Chắc ngài nghĩ đến một điềm triệu gì đây. Nhưng nhà vua tự trấn tĩnh ngay. Ngài đặt tay lên vai con và lại tiếp tục câu chuyện đang nói dở:

- Này con! Nhưng người phát lộ ra vùng đất này tụ hội anh linh tú khí trước cả đức Vạn Hạnh, lại chính là Cao Biền kia.

Cao Biền được Đường Hàm Thông phái sang làm Tiết độ sứ cai quản đất này từ năm Bính tuất (866), y đã chọn nơi đây làm Tiết trấn. Chính y cho đắp La thành vòng quanh tới một nghìn chín trăm tám mươi hai trượng. Lại đắp đê bao không cho nước tràn vào tới hai nghìn một trăm hai mươi nhăm trượng. Và đi xem xét hình thế núi Tản sông Lô, thấy đất này có vượng khí đế vương, nên y đã cho đào đắp, yểm trấn nhiều nơi nhằm triệt long mạch.

Nghe vua cha nói “Cao Biền triệt long mạch”, hoàng thái tử giật mình hỏi lại ngay:

- Bẩm phụ vương, Cao Biền trấn yểm thế có gây hoạ hại gì cho đất nước mình không ạ?

- Việc núi sông hình thành là do Trời đã an bài. Nước ta có vùng linh địa này cũng là tự Trời bày xếp cả. Ấy là mệnh trời. Cao Biền không tự lượng sức dám chống lại thiên đạo. Lúc đầu y cũng có làm cho thế nước ta chao đảo. Nhưng sau, núi sông lại liền mạch, việc yểm trấn trở nên vô dụng. Đó chẳng là ý trời ư? Ngay phía tây thành Đại La, Biền đã yểm dưới hố sâu tới cả ngàn cân sắt, nhưng trời nổi sấm sét đánh bật tung giữa một đêm trăng sáng, khiến Biền phải run sợ mà từ bỏ dã tâm.

Cho nên sau này nối nghiệp ta, con phải nhớ truyền đời, chính nơi đây – chính cái hồ Dâm Đàm này là một đại huyệt của nước Nam. Đây là vùng tụ khí của cả miền linh địa; hồ này chính là não thuỷ của Thăng Long. Vậy nên phải giữ để cho không bao giờ nước hồ cạn kiệt, không được san lấp mặt hồ. Nhà vua bỗng nghiêm trang lạ thường. Ngài nói dằn từng tiếng: “Con phải nhớ nằm lòng lời ta dặn đây: DÂM ĐÀM TUYỆT THĂNG LONG DIỆT”.

Thái tử như đã lãnh hội được tính nghiêm cẩn trong lời vua cha ký thác, chàng đáp:

- Bẩm phụ vương, con xin ghi lòng tạc dạ.

Lâu thuyền vẫn rẽ nước đi loanh quanh mấy hòn đảo. Càng về chiều, sương khói càng bốc lên mù mịt, che lấp cả tầm nhìn. Chỉ vài chục trượng đã không nhìn rõ hình thù các vật phía trước. Vì vậy, có khi thuyền đi sát vào bãi sâm cầm, cả người và chim đều không nhìn thấy nhau, chợt động nước, chim vút bay lên, người chỉ nghe thấy tiếng vỗ cánh rào rào mà đoán đàn chim đông đúc tới mức nào. Trời mỗi lúc mỗi mù mịt thêm. Thuyền không dám đi nhanh nữa, sợ va vào các thuyền câu, thuyền chài lưới, hoặc đâm vào các đảo chi chít cây rừng. Người cầm lái đã phải gõ chuông làm tín hiệu cho các thuyền lạ biết mà tránh.

Nhìn bầu trời càng lúc càng trắng đục như sữa, nhà vua bảo con:

- Đất nước ta tuy cẩm tú, nhưng cũng là miền đất lam chướng, người phương bắc đến đất này chỉ mắc bệnh thời khí mà chết. Vì vậy sứ nhà đông Hán sau khi ở nước ta về đã can gián vua họ rằng: “Xứ ấy ở xa ta hàng vạn vạn dặm. Đường đi hiểm trở, sông nước mịt mùng. Quân ta có đánh chưa chắc đã lấy được nước ấy. Dẫu có lấy được cũng không ở được, bởi khí hậu lam chướng. Quanh năm ẩm thấp, sương mù đến nghìn nhận, chim còn chẳng nhìn thấy đường bay, đâm vào nhau rơi xuống chết trắng cả mặt đường…”

Nhà vua ngừng lời nhìn ra bầu trời bốn bề mù mịt khói sương. Gió xuân hây hẩy, đem theo cái mát lạnh của mặt hồ phả vào khoang thuyền. Vua Thuận Thiên rùng mình ớn lạnh. Thái tử khoát tay chỉ vào vai nhà vua, mấy ả a hoàn vội lấy áo ấm khoác lên vai ngài ngự. Lý Phật Mã nhìn sắc mặt vua cha như có phần hồ nghi về sức khoẻ của ngài. Chàng hỏi:

- Bẩm phụ vương có thấy trong người khó ở không ạ.

Nhà vua lắc đầu.

Chàng lại hỏi:

- Bẩm phụ vương, người Hán biết đất ta hiểm trở, lại cũng biết đất ta lam chướng. Nhưng nối đời họ vẫn không từ bỏ mưu đồ xâm lấn. Từ Tần, Hán, Ngô, Tấn, Tề, Lương, Tuỳ, Đường rồi lại Tống, chẳng triều đại nào chúng không dòm ngó đất ta.

- Đúng thế đấy con ạ. Đó là thói tham bẩn của một con ác thú. Về phần ta, có giữ được nước hay không đều như ở sức ta cả. Ta yếu, thì họ xâm lăng, họ đặt nền thống trị. Ta mạnh, thì họ xin rút quân, xin giảng hoà. Trước khi rút, thế nào họ cũng ngoạm một miếng giang san của ta, để ta cứ phải đòi đi đòi lại trong thế giằng co. Rồi cũng lại từ mảnh đất giằng co ấy, họ vin vào làm cớ để khai lại cuộc chiến khi nào họ đủ lực. Thành thử sống chung với họ rất chi là khó chịu. Họ trở mặt như trở bàn tay, mình nhu nhơ một tí là mất nước như chơi.

Thái tử thở dài, hỏi lại:

- Bẩm phụ vương, thế có cách nào tránh được can qua không ạ.

- Có chứ con. – Vua Thuận Thiên nói với con bằng một giọng âu yếm, cứ như chàng còn trong độ tuổi thiếu niên – Tránh được con ạ, nhà vua nói tiếp. – Nhưng ta phải mạnh về binh lực, giàu về lương thảo, khí giới. Dân ta phải cùng một lòng một dạ giữ nước.

- Tâu phụ vương, có cách nào làm cho thế nước được như phụ vương nói. Như nước ta hiện nay binh đã đủ mạnh chưa, lương thảo đã dư dả chưa.

- Này con! Con thử tính xem từ khi cha được nước tới nay là bao nhiêu năm rồi?

- Thưa phụ hoàng, đã sang năm thứ mười tám rồi. Chẳng lẽ người không nhớ sao?

- Tính năm thì là mười tám năm đấy, nhưng thực ra ta mới trị vì có mười bảy năm, mùa xuân này mới là mùa xuân thứ mười tám của triều Thuận Thiên. Vậy con có biết ta tha tô thuế cho dân bao nhiêu năm không?

- Dạ, khi phụ vương tha tô thuế là lúc con còn nhỏ. Nhưng xem trong biên niên sử, con biết dân được tha ba lần, hai lần đầu, mỗi lần ba năm; lần thứ hai chỉ có một năm rưỡi thôi. Con không hiểu phụ vương tha tô thuế nhiều như vậy thì nhà nước lấy gì nuôi quân, nuôi bộ máy cai trị.

- Tha tô thuế cho dân nhiều làm vậy, nhưng có mất gì của ta, mất gì của triều đình. Ngược lại, triều đình còn nhân đó có lợi nhiều lắm. Ta nói con nghe, trước hết là việc binh, ta dùng chính sách ngụ binh ư nông. Vậy là ta có một đội quân cực lớn, triều đình lại đỡ phải chi phí tốn kém. Hằng năm, cứ tới vụ nông nhàn tháng ba, tháng tám xuân thu nhị kỳ, ta tập trung tất cả nông phu trong toàn cõi từ mười tám đến bốn mươi nhăm tuổi đi luyện tập. Triều đình chỉ cử người thành thạo việc binh về huấn dạy cho họ các thứ binh khí mà trong quân đang dùng, cũng như các thuật đánh thành, đánh quân phục, thuật hành binh… Ngay đến cả áo quần tập luyện cho tới việc ăn uống, người nông phu cũng đều phải tự lo hết. Thế mà họ vẫn vui vẻ chấp thuận.

Ngừng lời, nhà vua nhìn hoàng thái tử với một vẻ như là mãn nguyện. Chợt vua lại nói:

- Con thử nghĩ xem, ta giấu việc nguy hiểm, chính là việc binh ấy, vào cái chỗ nhàn nhã nhất, tức là nơi thôn ấp đồng quê, nghĩa là ta tin vào dân như ta tin vào chính ta vậy. Do được tha tô thuế, lại không bị ép buộc phải xa nhà, người nông phu vì thế càng ráng sức làm ăn để thoát khỏi cảnh đói nghèo. Ngoài tha tô thuế liền năm, ta còn cấp thêm đất ruộng, lại khuyến khích khai hoang vỡ hoá, rồi cho sở hữu luôn đất ấy. Còn thuế khoá chung trong toàn xã hội, ta chỉ quy về sáu sắc thuế đánh vào các nguồn lợi từ rừng và biển. Vả lại, nếu ta có thu số thuế gấp cả chục lần số thuế ta đã tha cho họ, vị tất đã nuôi nổi đội quân lớn như vậy. Không những thế, triều đình còn bị dân oán nữa. Một khi đã được tha tô thuế, người dân còn có lý gì để oán ta. Còn có lý gì để không ráng sức làm giàu cho chính mình. Khi họ đã có của ăn của để mà kẻ nào dám động đến quốc thổ ta, ắt kẻ ấy tự chuốc lấy thất bại. Bởi toàn thể đất nước ta, mỗi người dân sẽ là một người lính, nước có giặc là họ lập tức ra mặt trận ngay, vì rằng ai ai cũng đều được tập tành huấn hỗ rồi. Mà đi chiến đấu là để bảo vệ chính mình.

Việc nuôi dân, nuôi quân như thế, con hiểu rồi chứ. Nhà vua nói và lặng nhìn thái tử.

- Bẩm phụ vương con hiểu ạ. Con hiểu cả cái ý sâu xa, cao cả của việc phụ vương liền năm tha tô thuế, là nhằm nuôi vỗ sức dân lâu dài, nhằm hưng thế nước. Vâng con hiểu.

- Còn việc nuôi bộ máy cai trị cũng không tốn kém nhiều đâu con ạ. Những chức dịch nơi hương ấp do dân bầu ra, dân sẽ góp trả họ bằng công lao dịch. Chẳng hạn mỗi người dân đến tuổi trưởng thành mỗi năm phải góp cho nhà nước mười lăm ngày công để cấy ruộng công và làm các việc công ích khác, thì trích cho xã trưởng từ một trăm đến một trăm năm mươi ngày công tuỳ số dân của hương ấp. Các quan từ châu, quận đến lộ và các quan làm việc tại triều, được trả theo số lúa được quy định theo từng cấp bậc. Số lúa ấy lấy từ ruộng công điền. Ngoài ra còn được triều đình cấp thêm đất ruộng tại nơi hương ấp.

Lâu thuyền vẫn lướt nhẹ trên mặt hồ mù sương. Tiếng gõ mảng lanh canh của mấy chiếc thuyền đang bủa lưới khiến người lái thuyền phải đổi hướng. Thuyền rẽ ngoặt sang một góc khuất nơi một hòn đảo lồ lộ như một trái núi giữa hồ, bất chợt đâm vào một đàn sâm cầm đang dập dềnh trên mặt nước, chúng hốt hoảng lao vút khỏi mặt hồ, tạo thành những tiếng động rào rào như trời chợt đổ cơn mưa đá.

Nhìn sát những gương mặt dịu hiền của mấy ả a hoàn, lại nhìn cảnh đất nước thanh bình, giàu thịnh như một xứ sở thần tiên, vua Thuận Thiên bỗng động lòng trắc ẩn nhớ cảnh đất nước điêu linh dưới triều ác vương Lê Long Đĩnh. Lại nhớ đến công lao vun đắp cho ngôi nước của các bậc thiền sư như thày Vạn Hạnh, thày Đa Bảo cùng biết bao bậc thiện trí thức khác. Vậy mà các ngài đã lần lượt bỏ ta mà nhập niết bàn. Lòng rưng rưng nhà vua gọi con:

- Này Phật Mã!

Thái tử vẫn đứng cách nhà vua chưa đầy hai bước chân, chàng bèn ngoảnh lại:

- Dạ thưa phụ vương có điều gì dạy con ạ.

- Con nhớ kỹ điều ta sắp nói đây. Mắt nhà vua như nhìn vào xa xăm. Đoạn ngài chậm rãi. Mỗi lời nói như được ủ bọc từ tim óc nhà vua bỗng nhiên bật nảy ra. – Này con, ta sở dĩ được nước, công lao chủ yếu từ nơi các bậc đại thiền sư, bản thân ta cũng được sinh ra và được giáo dưỡng từ nơi cửa Phật. Vậy là triều đại nhà Lý ta gốc ở Phật. Cho nên trách phận của con sau này vừa phải giữ nước, vừa phải giữ đạo. Giữ sao cho đạo hoà được vào đời, nhưng không được đời quá, không được thế tục quá. Thế tục quá thì đạo suy. Nhưng cũng đừng siêu việt quá. Siêu việt quá thì đạo nhạt, vì dân không theo được.

Suốt một đời hành hoá, ta nghiệm ra điều này: Nước là nhân của đạo, đạo là hồn của nước, chúng dân là nhựa sống của cả hai thứ đó.

Nói xong, nhà vua vỗ nhẹ vào hai vai thái tử rồi ngài lui vào lâu thuyền, và khoát tay cho thuyền quay mũi, còn ngài ngồi kiết già trên tấm toạ cụ, mắt lim dim thả hồn vào đại định.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 27.09.2018, 16:56
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5390 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XXXIII

Từ bữa đi thăm lại hồ Dâm Đàm trở về, nhà vua cứ hâm hấp sốt về chiều, mồ hội rịn ra thấm hết cả lưng áo. Cứ một canh giờ, nội thị lại thay áo cho vua. Và khoảng cuối giờ hợi thì cất sốt, mồ hôi cũng ráo hẳn. Ngày hôm sau lại lặp lại y hệt ngày trước đó.

Hội đủ các thái y danh tiếng để tìm ra phương thuốc chẩn trị, nhưng không một phương thuốc nào công hiệu.

Thấy trong mình ngày một khó ở, nhà vua biết mệnh mình đã sắp tận, bèn cho triệu tả hữu đến điện Long An để lập di chiếu.

Trong số các tả hữu thân cận với nhà vua có thái uý Lý Trưng Hiền, viên ngoại lang Lý Nhân Nghĩa, thái phó Đặng Văn Hiếu, thái bảo Đào Thạc Phụ.

Các quan đến đầy đủ, vua dụ:

- Sinh diệt tụ tán là lẽ thường hằng của tạo hoá. Phàm ở đời hễ có sinh là có diệt. Ta cũng không nằm ngoài cái lý đó. Nay ta còn minh mẫn, muốn lập di chiếu truyền ngôi cho hoàng thái tử Lý Đức Chính là hoàng trưởng tử. Ta đã lập ngôi Đông cung cho Đức Chính từ năm Nhâm tí. Đức Chính vừa có đức độ vừa có phong thái của một bậc đế vương, là người hiểu thông kim cổ, giỏi việc trị loạn, ta tin Đức Chính có thể thay ta làm cho quốc gia hùng mạnh, hồn Việt thăng hoa. Nếu ta có mệnh hệ nào thì phải lập ngay Đức Chính là vua nối. Vậy theo lời ta vừa dụ, các khanh lập ngay tờ di chiếu để ta phê trước mặt các khanh. Sau đó các khanh cùng ký làm bảo chứng. Các khanh cũng phải thề trước ta, sau khi ta viên tịch, không ai được đổi ý.

Các quan cùng rập đầu vái lạy. Di chiếu được lập tức thì.

Nội thị viên ngoại lang Lý Nhân Nghĩa nâng tờ di chiếu cho vua đọc. Vua lại sai đọc to cho mọi người cùng nghe. Sau đó ngài châu phê, rồi lần lượt đưa cho bốn vị đại thần ký bảo chứng ở phía dưới.

Lập xong di chiếu, vua ngậm ngùi nói với mọi người.

- Ta vô cùng biết ơn các khanh đã cùng ta gánh vác việc nước. Nay mệnh ta đã sắp tận mà các khanh cũng đã luống tuổi. Trong cuộc đời phụng sự quốc gia, ta biết các khanh đã tận lòng trung với nước. Tiếc rằng ta hậu đãi các khanh không được như ý. Ta đã nói Đức Chính khi lên ngôi, phải trọng đãi các khanh. Thôi, các khanh về đi. Nói xong vua vẫy tay cho mọi người lui. Ai nấy chảy nước mắt cúi đầu vái lạy.

Vua lại gọi:

- Nhân Nghĩa ở lại với ta.

Lý Nhân Nghĩa vừa phủ phục dưới chân long sàng, vua sai đuổi hết tả hữu và bọn nội nhân, bọn trung quan khác ra khỏi cung. Lại sai Nhân Nghĩa đi kiểm xét thêm một lần nữa.

Khi Nhân Nghĩa đóng hết các cửa cung quay lại long sàng, vua nói:

- Ta với khanh, tình là nội tộc, nghĩa là vua tôi. Nay ta sắp đi, muốn ký thác cho khanh một việc lớn. Khanh chưa làm hỏng một việc nào mỗi khi ta giao phó. Nhưng các việc khanh đã làm cho triều Thuận Thiên, chưa việc nào hệ trọng như việc ta sắp ký thác cho khanh đây. Nếu khanh chịu giúp, ta mới nói.

Lý Nhân Nghĩa khóc mà tâu rằng:

- Bệ hạ đã có lòng uỷ thác trước khi đi xa, thần dù da ngựa bọc thây, dù gan nát óc lầy cũng không từ nan. Nếu bệ hạ còn chút nghi ngờ, thần xin chết trước để bệ hạ thấy tấm lòng son. Nói rồi Nhân Nghĩa vụt chạy ra toan đập đầu vào cột điện mà chết.

- Nhân Nghĩa! Nhân Nghĩa! Khanh mau lại đây. Nhà vua thét gọi lạc cả giọng. Cơn ho đến khiến nhà vua vừa đỡ ngực vừa rũ xuống.

Lý Nhân Nghĩa vội chạy lại đỡ nhà vua rồi luôn miệng nói:

- Bệ hạ! Bệ hạ! Thần đáng tội chết. Xin bệ hạ bình tâm ban thánh chỉ. Thần hứa sẽ tận lực.

Ngồi thở một lát, mặt nhà vua đã hơi có sắc máu. Vua vẫy tay nói nhỏ:

- Khanh ngồi sát vào ta đi.

Lý Nhân Nghĩa lấy thân mình cho vua tựa.

- Khanh đúng là nhân nghĩa, hệt như cái tên tổ phụ đặt cho. Ta chỉ tiếc vì không trọng dụng khanh được nữa, nhưng lòng tin cẩn với khanh, ta chưa bao giờ phải ân hận. Khanh biết đấy, ta sinh được nhiều hoàng nam. Đáng tiếc, ngôi vua chỉ có một. Con ta nhiều đứa có tài. Nhưng trị nước, đòi hỏi người có đức. Đức lớn bao trùm mới bao dong được kẻ dưới, mới chịu nhún mình mà dụng nhân tài. Mấy chục năm ròng, ta luôn kiểm xét các con để chọn người kế vị. Quả thật trong bọn chúng, chỉ có Đức Chính là hơn cả. Ta nghĩ vậy. Và triều quan ai cũng nói đúng như vậy.

- Tâu bệ hạ, việc đó đã rõ rành rành, ngôi Đông cung đã lập. Nay bệ hạ lại có di chiếu. Nếu chẳng may bệ hạ thất lộc, thì triều đình cứ việc tuyên chiếu để tôn hoàng thái tử lên ngôi, bệ hạ còn phải lo gì nữa. Vả lại, các hoàng tử khác cũng đã an phận.

- Thì ta cũng chỉ mong sự việc được như thế. Nhưng ta mơ hồ cảm thấy chúng nó sẽ nghịch mệnh.

- Tâu, người có khả năng nghịch mệnh nhất là Khai Quốc vương, bệ hạ đã cho đi trấn Trường Yên rồi. Sao bệ hạ còn phải bận tâm trước lúc đi xa.

Nhà vua cười, nụ cười méo mó nở trên gương mặt khắc khổ. Đoạn vua nói:

- Ở đời cái chỗ không ngờ nhất lại là chỗ đáng ngờ nhất. Thôi thì cứ phòng bị là hơn cả. Vả lại, bữa trước chơi hồ Dâm Đàm, bỗng nhiên một trái trứng ngỗng trời đẻ rơi trúng vai bên tả của ta. Chiếc trứng vỡ nát, lòng đỏ, lòng trắng chảy tràn nửa thân áo ta. Bởi vậy, ta ngờ có chuyện người trong một bọc gây hoạ. Đó chẳng phải là điềm báo trước sao. Cho nên khanh cùng bọn người tâm phúc như Phụng Hiểu, Phùng Chân, Lý Thạc, Ngô An Ngữ… từ giờ không được rời Đức Chính nửa bước. Lại nữa khi ta đi, phải tuyên chiếu tôn Đức Chính lên ngôi đã, rồi mới được phát tang. Khanh nhớ nhé.

Nói xong, nhà vua ngả xuống chồng gối xếp nằm nghỉ.

Lý Nhân Nghĩa rời điện Long An thì trời đã chạng vạng tối. Ông không về nhà mình mà đi thẳng tới cung Long Đức.

Thái tử hỏi han sức khoẻ vua cha và toan vào cung thăm viếng.

Lý Nhân Nghĩa ngăn lại:

- Hoàng thượng cùng tả hữu vừa lập xong di chiếu chiều nay. Điện Long An từ giờ phút này nội bất xuất ngoại bất nhập, thái tử không thể vào cung được nữa. Tất cả đều phải chờ tin tức từ điện Long An phát ra qua thái uý Lý Trưng Hiền.

Lý Nhân Nghĩa cho hội Lý Huyền Sư, Lý Thạc, Phùng Chân, Lê Phụng Hiểu, Ngô An Ngữ, đô Sắn cùng các tướng tâm phúc để trao việc, phòng có biến. Lại nói kín nói hở vua Thuận Thiên đang lâm trọng bệnh. Qua đó, mọi người đều hiểu nhà vua sắp băng, và phải bảo vệ thái tử lên ngôi bằng mọi giá.

Lê Phụng Hiểu cũng cho triệu đội dũng sĩ để giao phó công việc cho từng người.

Thật ra thì từ đêm trước, thái tử đã mơ thấy một giấc mơ lạ… Cứ như là thần đã báo trước cho biết mọi việc. Vì vậy, mỗi việc làm, thái tử đều cân nhắc thận trọng. Lại sai Phụng Hiểu phải canh phòng nghiêm ngặt, phòng có biến, nhưng không được làm kinh động. Các vương Đông Chinh, Vũ Đức, Dực Thánh từ ngày biết vua cha lâm trọng bệnh đã cùng nhau nhóm họp tại cung của Vũ Đức vương để bàn bạc. Các vương đều nói:

- Vua cha bất công.

Vũ Đức vương mặt lạnh tanh nói:

- Thử hỏi chúng ta kém gì Đức Chính. Chẳng qua Đức Chính có tài ton hót, nịnh bợ, nên được vua cha tin yêu. Lại bọn tả hữu của Đức Chính năng lui tới điện Long An, nói lót cho Chính. Phen này mà trừ được Đức Chính, ta thề sẽ bêu đầu hết bọn tả hữu của Chính.

Cũng từ bữa đó, phủ binh của các vương đều cấm trại, và cử người giám sát điện Long An, giám sát cung Long Đức rất chặt chẽ.

Ngay buổi chiều, thấy các quan đầu triều được triệu vào điện Long An như thái uý Lý Trưng Hiền, thái phó Đặng Văn Hiếu, thái bảo Đào Thạc Phụ, viên ngoại lang Lý Nhân Nghĩa, các vương đều đoán là có việc thảo di chiếu, và thiên tử thác mệnh.

Giờ sửu, ngày mậu tuất tháng ba vua băng. Được tin, các quan đều kéo tới cung Long Đức mời hoàng tử Lý Đức Chính sớm mai về điện Long An để tuyên chiếu và vâng mệnh lên ngôi.

Trong khi đó ba vương cũng đã sẵn sàng. Ai cũng biết, cung Long Đức nằm ở phía tây kinh thành, nên mỗi khi vào cấm thành, thái tử Lý Đức Chính thường đi cửa Quảng Phúc. Vì vậy, Vũ Đức vương, Dực Thánh vương hợp binh phục tại cửa này, chờ Đức Chính vào cấm thành là đánh úp. Còn Đông Chinh vương đem binh vào phục các nơi hiểm yếu trong Long thành. Các vương cũng cử người tâm phúc mật báo cho Khai Quốc vương tại Trường Yên, kíp ra tay phối hợp.

Sáng ra, thái tử vào cấm thành từ cửa Tường Phù, tức là cửa phía đông kinh thành. Thật ra thì thái tử đã định đi cửa Quảng Phúc như thói quen thường ngày. Nhưng từ sáng sớm, con Huyền Đề đã nằm phục trước cửa tầu ngựa, nơi con Nê Thông đang đủng đỉnh nhai từng cọng cỏ. Tới khi có mã phu vào dắt ngựa ra đóng yên cương, và khi thái tử nhảy lên mình ngựa ra roi nhằm cửa phía tây kinh thành thì con Nê Thông quay ngoắt lại và cứ thế bổ vó theo con Huyền Đề dẫn đường từ phía trước.

Nghĩ đây cũng là một điềm triệu, nhất là với con Huyền Đề thì thái tử đã có đôi lần chiêm nghiệm. Vì thế, thái tử khoát tay cho tả hữu quân quyền đi theo về cửa Tường Phù ở phía đông cấm thành.

Thái tử vừa vào tới điện Càn Nguyên thì biết là đang có biến, liền sai đóng hết các cửa điện lại và cử các dũng sĩ canh gác nghiêm cẩn.

Lúc này tại cửa Quảng Phúc hai vương Vũ Đức và Dực Thánh đang tung quân đánh gấp.

Trong cấm thành, Đông Chinh vương cũng cho quân đi sục sạo tìm kiếm nơi ẩn náu của thái tử Đức Chính. Các vương đã bàn tính, sau khi trừ xong thái tử Đức Chính, sẽ hội quân tại điện Long An, ép các quan lập vua mới rồi mới phát tang Thái tổ.

Tin tức các nơi cấp báo về điện Càn Nguyên, phủ binh của ba vương đang đánh rát lắm, sợ cấm quân không chống đỡ nổi, xin thái tử ra tay.

Lý Đức Chính bèn nói với tả hữu rằng:

- Ta đối với anh em chưa có một chút gì phụ bạc. Nay ba vương dám làm việc bất nghĩa như thế. Muốn chiếm ngôi báu, không coi di mệnh của tiên đế ra gì. Vậy ta phải làm gì đây? Các người hãy nghĩ giùm ta.

Nội thị Lý Nhân Nghĩa nói ngay:

- Đã gọi là anh em thì phải coi nhau như chân như tay, sống chết có nhau. Bên trong thì cùng nhau bàn bạc, bên ngoài đồng tâm hiệp lực chống giặc, giữ nước, giữ nhà. Nay tiên đế vừa băng, ba vương nhẫn tâm làm phản mưu hại thái tử để cướp ngôi. Vừa trái di mệnh vừa trái đạo lý; các vương đã phạm vào tội bất trung, bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa. Vậy có còn là anh em nữa không, hay đã là cừu địch? Xin thái tử xuống lệnh cho bọn thần bắt các vương về trị tội.

Thái tử với vẻ buồn rầu đáp:

- Ta thật lấy làm xấu hổ, tiên đế vừa băng, chưa kịp khâm liệm, chưa kịp phát tang mà anh em đã chém giết lẫn nhau, để cho muôn đời sau còn có chỗ chê cười.

Vừa lúc đó thái uý Lý Trưng Hiền cho quân vào bẩm:

- Quân của Vũ Đức vương, Dực Thánh vương đang bủa vây điện Tập Hiền, điện Nhật Quang.

Đông Chinh vương đang kéo quân về phía điện Cao Minh. Điện Càn Nguyên bị uy hiếp! Cấp báo! Cấp báo!

Mọi người đang rối như ngồi trên đống lửa. Lê Phụng Hiểu lồng lộn như một con hổ đang muốn phá cũi sổ lồng. Trong khi đó hoàng thái tử Lý Đức Chính vẫn cứ điềm tĩnh, dường như là án binh bất động.

Lý Nhân Nghĩa không còn giữ được bình tĩnh nữa, bèn lên tiếng gay gắt:

- Tiên đế cho điện hạ là người: đức có thể nối được cái chí, tài có thể làm nổi việc lớn, nên đem thiên hạ phó thác cho điện hạ. Nay giặc đánh đến tận cửa khuyết rồi, mà còn ngồi đây nói đến điều nhân nghĩa kiểu đàn bà, thử hỏi đối với sự phó thác của tiên đế sẽ ra sao đây?

Thái tử sầm mặt lại nói với tả hữu:

- Ta há không biết điều đó sao. Chẳng qua ta muốn giấu tội ác cho ba vương, tưởng họ biết hối lỗi tự thẹn mà lui quân, ai dè họ lại rắp tâm làm loạn. Tình thế đã đến nước này, quả ta không còn chọn lựa nào khác. Các tướng nghe lệnh ta truyền:

- Lý Nhân Nghĩa, Lê Phụng Hiểu, Ngô An Ngữ, Lý Huyền Sư, Dương Bình, Quách Thịnh, đô Sắn, cơ nào, đội ấy các ngươi ra tay đi! Hãy đốt ba phát pháo hiệu để các cánh quân khác của ta biết hiệu lệnh mà xông ra phối hợp.

Các tướng khóc vì cảm động và phục lạy:

- Chết vì hoạn nạn của vua là chức phận của chúng thần. Nay đã được chỗ đáng chết, chúng thần xin phụng mệnh.

Ba phát pháo hiệu nổ vang như tiếng sét. Các cửa điện Càn Nguyên đều nhất loạt mở toang. Quân trong cung ào ra như lũ quét, mỗi người mang trong mình sức mạnh có thể địch tới cả trăm người.

Nghe pháo hiệu, quân tả hữu kim ngô của Vệ Trúc, Phí Xa Lỗi phục trong cung Long Thuỵ, cung Thuý Hoa; quân tả hữu Vũ vệ của Đàm Thản, Đô Giản phục trong điện Giảng Võ, cung Nguyệt Minh cùng lúc ào ra vây bủa quân của ba vương.

Lê Phụng Hiểu vỗ ngựa kéo quân xốc thẳng tới cửa Quảng Phúc. Con Huyền Đề vút lên như một mũi tên chạy trước ngựa của Phụng Hiểu để vòng về phía điện Tập Hiền.

Đúng lúc ấy Vũ Đức vương, Dực Thánh vương cũng quặt ngựa lại vây lấy Phụng Hiểu. Và quân tả hữu kim ngô của Vệ Trúc, Phí Xa Lỗi cũng đuổi gần kịp hai vương.

Lê Phụng Hiểu ghìm ngựa quát to kể tội các vương:

- Tiên đế vừa băng. Bọn Vũ Đức vương đã ngấp nghé ngôi báu, không coi vua nối vào đâu, trên quên ơn tiên đế, dưới trái nghĩa tôi con.

Vì thế, thần là Phụng Hiểu xin đem thanh gươm này để dâng! Nói xong vung gươm, tế ngựa xông thẳng vào Vũ Đức vương.

Vương quay ngựa toan dùng miếng đà đao học được của Lưu Hoằng Định, bộ tướng của Dương Trường Huệ bị bắt làm tù binh trong trận đánh ở bến Kim Hoa năm Giáp dần, sau trở thành thầy dạy võ cho Vũ Đức vương. Song vì thấy vương chỉ mưu toan chuyện tạo phản, sợ cháy thành vạ lây, Hoằng Định đã bỏ vương đi từ lâu.

Khi Vũ Đức vương vừa quay ngựa, lập tức con Huyền Đề lao vào đớp đúng bắp vế con ngựa của Vũ Đức vương. Ngựa của vương vừa khuỵu chân trước, Lê Phụng Hiểu lướt ngựa tới hươi đao, vương và cả con ngựa chưa kịp gượng dậy thì đầu của vương đã rơi “bịch” trước chân ngựa của Lê Phụng Hiểu.

Phụng Hiểu hơi né mình lấy mũi đao gảy một cái, đầu của Vũ Đức vương tung lên, tay kia của Phụng Hiểu liền túm lấy. Ông đáp lại phía sau cho đám thuộc hạ bọc gói đem về. Lúc này máu từ cổ Vũ Đức vương mới kịp phun lên như một cây pháo bông đỏ lòm.

Thừa thắng, Lê Phụng Hiểu tung quân đánh rát, lại sai quân đi chẹn bốn cửa thành. Phủ binh của ba vương chỉ là một lũ lính công tử, địch sao được với binh của triều đình, địch sao nổi với cường binh của Lê Phụng Hiểu. Vì thế bọn này bị truy đuổi, bị chém giết tơi bời, không một mống nào chạy thoát.

Lê Phụng Hiểu tế ngựa sục khắp bốn cửa đông, tây, nam, bắc muốn tìm giết hết bọn Đông Chinh vương, Dực Thánh vương để trừ hậu hoạ cho nước.

Bọn các vương do Vũ Đức cầm đầu, vì Vũ Đức được giới võ lâm tôn như một bậc cao thủ. Ấy thế mà khi gặp Lê Phụng Hiểu, chưa kịp giao đấu đã rơi đầu, khiến các vương khiếp sợ phải bỏ ngựa, quăng gươm, thay áo chạy vào cung Thuý Hoa nhờ đám cung nữ và hoạn quan che chở, vẫn còn chưa hết run sợ.

Lê Phụng Hiểu trở về, nhung phục còn nhuốm máu đỏ tươi, vội quỳ trước linh cữu Thái tổ, tâu việc thắng trận. Sau đó trở lại điện Càn Nguyên báo cho thái tử hay, đã dẹp xong loạn ba vương.

Thái tử nhìn nhung phục của Lê Phụng Hiểu vẫn còn vết máu tươi, lại nhìn gương mặt hiên ngang khí phách của viên dũng tướng mà tiên đế đã sáng suốt ban cho, để kết thành tâm phúc, lòng rưng rung cảm động, chàng nói:

- Ta sở dĩ gánh vác được cơ nghiệp to lớn của tiên đế, lại giữ được toàn vẹn tấm thân của cha mẹ để lại, đều là nhờ vào sức của khanh. Thuở nhỏ ta đọc sử nhà Đường bên Tàu, thấy Uất Trì Kính Đức xả thân cứu vua gặp nạn. Đúng là không có Uất Trì Kính Đức quên thân cứu chủ, chắc là Tần vương[85] đã chết trước mũi giáo của Đơn Hùng Tín. Khi lớn lên, ta cứ bị chuyện này ám ảnh mãi và ta tự nghĩ, đời sau chắc không ai được như Kính Đức.

Nay gặp nạn mới thấy Phụng Hiểu còn trung dũng hơn Kính Đức nhiều lắm. Thế mới biết lửa thử vàng…

Cảm kích về lời khen của chủ, Lê Phụng Hiểu lạy hai lạy mà rằng:

- Đức lớn của điện hạ đã cảm thấu cả trời đất. Hoá nên kẻ nào xâm phạm đến điện hạ, lập tức thần linh ra tay mà giết đi, bọn thần có công gì đâu.

- Đúng là có trời đất, thần linh giúp rập, nhưng nếu không có sự trung dũng của chư khanh, thì cơ nghiệp của ta sao giữ được. Không nên quy công tất cả cho thần.

Ngày hôm sau, trước linh cữu Thái tổ, quần thần tôn thái tử Lý Phật Mã lên ngôi, đổi niên hiệu là Thiên Thành.

Đông Chinh, Dực Thánh đến cửa khuyết khóc lạy xin được tha tội, và xin được chịu tang Thái tổ.

Từ điện Long An, nơi quàn di hài Thái tổ trở về cung Long Đức, vua Thái tông[86] thấy trong lòng cuộn lên nỗi bùi ngùi khó tả.

Vua sai nội thị mở cung Dưỡng Tâm để ngài vào đó nghỉ. Gọi là nghỉ, nhưng thực ngổn ngang trăm mối. Mới chỉ một hai ngày qua, mà sao nhà vua cảm như công việc của cả trăm năm dồn nén lại, và nó bật tung ra như một cơn ác mộng. Nhà vua tự hỏi: – Có phải đức ta bạc hay kiếp trước ta mắc vào nghiệp chướng, nay phải trả nghiệp đây. Ai dè tiên đế nằm xuống chưa kịp khâm liệm, chưa kịp phát tang thì một lũ em đã rủ nhau nổi loạn. Ta không biết, nếu giết được ta thì chúng sẽ làm gì. Ba đứa ấy lòng tham đều chất ngất, sẽ chẳng đứa nào chịu cho đứa nào giữ ngôi tôn. Chúng sẽ dàn xếp với nhau thế nào. Chắc lại giết lẫn nhau một lần nữa. Trong ba đứa ấy, mưu mô thủ đoạn thì Vũ Đức vương đứng đầu. Đúng là nó chẳng chịu ở yên bao giờ. Vua cha đến khổ vì nó. Mặc dù người đã rất nghiêm khắc. Mới hay cha sinh con, trời sinh tính.

Phụ vương đã từng căn dặn ta về mấy người anh em. Khai Quốc là kẻ có tài, lắm mưu. Làm tướng đánh trận thì giỏi, nhưng thiếu tính bao dong, nên người dưới khó ở. Vũ Đức thì hẹp lượng, lại sân si làm cho nó phải đoản mệnh.

Phụ vương lại dụ, chúng nó mắc vào vòng tham dục của thế gian, chấp vào cái lý thế gian nên tự mình chuốc lấy phiền não. Khi nào hoạ đến, con gắng kìm nén cuồng nộ mà mở lòng từ ái với các em. Ta biết trước sau rồi tai hoạ sẽ đến, nhưng ta chưa đủ đạo lực để hoá giải. Phải chăng quả này là do nhân đã gieo trồng từ những kiếp trước. Đúng là hạnh phúc hay bất hạnh của mỗi con người đều tự mình tạo lập lấy.

Không ngờ những điều tiên đế dự liệu nó lại đến sớm như vậy. Bây giờ ta biết tính sao đây. Triều Thái tông vừa lập, nếu luật pháp không nghiêm từ trong nhà, như người xưa thường nói “quân pháp vô thân”, thì làm sao mà nêu gương cho thiên hạ được. Nếu nghiêm phép nước, tạo phản là tội phải chém bêu đầu. Chẳng nhẽ mở đầu cho triều đại Thái tông lại là cái chết của ba người anh em ư? Nếu vậy, ta sẽ mắc tội bất nghĩa vì giết em, lại mắc tội bất hiếu vì không nghe lời tiên đế đã căn dặn lúc sinh thời.

Ôi, những người anh em, sao các người làm ta khó xử. Nếu không trị tội các người, thì các tướng còn ai dám vì ta mà dấn thân vào nơi nước lửa. Mà trị tội các người có khác nào tay phải cầm dao chém vào tay trái. Việc này, ta phải hỏi mấy người tâm phúc.

Đúng lúc ấy cung quan là Lý Huyền Sư rón rén bước vào. Thấy nhà vua thân tựa chồng gối xếp, tay bóp trán, mặt bơ phờ mệt mỏi, y khẽ bước đến gần, chắp tay cung kính, miệng mấp máy như người nói thầm:

- Bệ hạ! Bệ hạ còn buồn nỗi gì nữa.

Không thấy nhà vua bắt chuyện Lý Huyền Sư lại nhăn nhở:

- Bệ hạ! Bệ hạ nên giải khuây đi. Cớ chi bệ hạ tự làm khổ mình đến thế. Đằng nào thì tiên đế cũng đã băng. Khi sinh thời, người từng dạy: sống chết là đạo của trời đất. Đời là bể khổ, nay tiên đế đã giải thoát khỏi kiếp nhân sinh đi vào cõi niết bàn rồi, hà cớ gì bệ hạ còn phải buồn.

Hay vì cái loạn tam vương? Thì đã dẹp bỏ xong xuôi. Không còn gì làm cho bệ hạ phải lo nữa, vậy cớ chi bệ hạ phải buồn.

Dù Lý Huyền Sư là người tâm phúc, lại dám xả thân vì chủ, nhưng sao Thái tông vẫn không hay biết y đang nói gì. Nhà vua chỉ cảm thấy một thứ âm thanh vo ve như tiếng nhặng kêu phía vành tai.

Không kéo được Thái tông ra khỏi nỗi buồn trĩu nặng, Lý Huyền Sư quanh quẩn một lúc rồi cũng lủi ra ngoài. Phía hành lang, một thiếu nữ đang gục ngủ trên mặt kỷ. Huyền Sư núm tóc cô bé giật ngửa mặt lên. Thiếu nữ kêu: Ối! Ối!

- Mẹ cha mày số đen rồi con ạ! Huyền Sư cất tiếng chửi tục. Người con gái vẫn còn ngái ngủ, mặt ngơ ngác. Nom gương mặt thiếu nữ chẳng khác một đứa trẻ mới lớn.

- Mày mấy tuổi rồi? – Huyền Sư hỏi.

- Dạ bẩm, con mười ba tuổi.

- Đúng không?

- Dạ đúng. Mẹ con bảo thế.

- Mày tiến cung được mấy hôm rồi.

- Dạ, con mới vào hôm nay.

- Mày có biết mày vào đây làm gì không?

- Dạ không.

- Thôi được, mày tên gì?

- Con tên là Gái. Nhưng vào đây các ông bảo tên con là Quỳnh Hoa.

- Ai bảo?

- Cái ông già không râu, mồm móm nói lắp, dạy con như thế.

- Cha mày. Cụ ấy mà nghe mày nói thế, là không còn cái xương nào đâu con ơi. Ông mày đây còn phải sợ nữa là. Thôi được mày là gì Hoa?

- Dạ Quỳnh Hoa.

- Ừ thì Quỳnh Hoa, hôm nay tao định đưa mày vào hầu thiên tử giải khuây. Nhưng số mày không may, để hôm khác. Nhớ mặt tao nhá, nếu sau này được sủng ái phải đền ơn tao.

- Con chẳng hiểu ông nói cái gì.

- Thế mày vào đây làm gì?

- Làm sao mà con biết được. Các quan bảo lệnh triều đình bắt đi. Con khóc. Mẹ con cũng khóc. Chỉ có bố con là không khóc, nhưng ông buồn lắm. Nếu ông cho con về nhà với bố mẹ, thì con nhớ ơn ông suốt đời.

- Ngu ạ. Mày mà được hoàng thượng sủng ái thì cả họ nhà mày sướng. Huyền Sư lại dẫn người cung nữ mới tuyển trả về cung.

Trong điện Dưỡng Tâm nhà vua thiếp ngủ đi lúc nào. Trong mơ: người, vật, lửa cháy, quân reo cứ diễn ra chập chờn. Bỗng thấy Vũ Đức vương ló mặt vào. Vũ không chào hỏi nói năng, mặt lạnh tanh. Vua hỏi: – Vương đệ đến ta có việc gì. Vũ hét lên: – Trả đầu ta đây! Y vừa dứt lời xong thì chiếc đầu rụng xuống lăn lông lốc, và một dòng máu đỏ phun lên từ cổ Vũ. Thái tông thét lên: Thích khách!

Thị vệ chạy vào. Nhà vua mặt tái nhợt, mồ hôi lấm tấm trên vừng trán rộng.

- Nước!

Thị vệ dâng trà bổ dưỡng, uống xong, vua cho lui.

Còn lại một mình trong cung, vua dần hồi nhớ giấc mơ hãi hùng. Lần giở lại mấy đêm trước, tức là trước khi ba vương khởi loạn một ngày, vua mơ thấy thần núi Đồng Cổ hiện về, nói các việc ba vương sẽ làm phản vào ngày hôm sau, hãy đem quân đánh dẹp ngay đi. Thức dậy, vua lấy làm lạ. Nhưng nhớ hồi năm Canh thân, tức chín năm về trước nhân chuyến nam chinh, thảo phạt người Chiêm, vua có ghé núi Đan Nê, vào làm lễ thần Đồng Cổ. Đêm ấy thần cũng báo mộng kỳ này đi đánh dẹp sẽ lập công lớn trở về. Thần hứa, sẽ đi theo hộ trì. Mọi việc diễn ra hệt như lời trong mộng. Vì thế lần này vua tin ngay, và đã có mật bàn với thái uý Lý Trưng Hiền đem các vệ Kim ngô, Vũ vệ phục tại các nơi hiểm yếu trước. Lại giữ đội quân Thần bổng và tướng hùm sói Lê Phụng Hiểu ở bên mình; và giấu nhẹm cánh quân này trong điện Càn Nguyên. Vì thế khi ba vương đem binh nổi loạn, vua vẫn giữ được bình tĩnh, và chỉ cho quân ra đánh dẹp khi các vương kia đã lộ hình tích là kẻ phản nghịch. Công ấy của thần lớn lắm, không thể không lập miếu thờ. Tuy nhiên, các việc này vua chỉ cho làm lặng lẽ chứ không hé lộ thiên cơ cho bất kỳ một người nào được biết.

Sáng hôm sau thiết triều, dù đã cố nén giấu, vua Thái tông cũng không xoá nổi những nét u buồn, khắc khổ trên gương mặt một người trai non ba chục tuổi.

Khai triều, nhà vua nói:

- Ta rất xấu hổ với các quan về việc ba vương làm loạn. Vũ Đức vương tự mình làm nên tội chết, đã phải chết. Còn Đông Chinh vương, Dực Thánh vương hôm qua đã tới cửa khuyết lạy xin được tha tội và được chịu tang tiên đế. Ta vì tình cốt nhục chưa nỡ giết. Trộm nghĩ, còn phép nước thì sao. Chẳng nhẽ người trong hoàng gia, hoàng tộc thì có quyền đứng ngoài hoặc đứng trên phép nước chăng.

Nhìn khắp lượt triều quan rồi dừng lại giây lâu, nhà vua lại tiếp:

- Lòng ta đang rối bời, ta mong các khanh hãy giúp ta khu xử việc này, để sao ta không mắc tội bất nhân, bất nhẫn tàn sát cả anh em; nhưng cũng đừng để đương thời và hậu thế coi ta là kẻ trị vì nhu nhược đặt tình riêng trên phép nước.

Nhân đây, ta tỏ lòng khen ngợi các khanh trong lúc hoạn nạn, đã chung sức chung lòng, cương dũng vượt qua hiểm nguy, sớm chấm dứt cuộc đầu rơi, máu đổ. Công ấy lớn lắm. Ta mong các khanh tận tâm giúp rập cho triều Thiên Thành hơn nữa.

Hết thảy triều quan đều im lặng. Ai cũng cho việc này là muôn khó. Được tình thì thất lý. Được lý lại đoạn tình. Tội ác ba vương đã rành rành. Bạn nghịch là tội chém bêu đầu. Nhà vua có lượng tình thì cũng phải lĩnh án tam ban[87].

Các quan cứ rì rầm bàn tán, mãi không có người nào xuất ban. Nhà vua cũng nóng lòng, lúc thì nhìn Lý Nhân Nghĩa, lúc lại nhìn Lương Nhậm Văn, Lý Đạo Kỷ, Liêu Gia Trung… như là một sự cầu cứu. Mãi lâu sau Lương Nhậm Văn mới xuất ban tâu:

- Thần trộm nghĩ, tội các vương đã rõ rành rành, không thể nào mà che bịt được. Thử hỏi, người trong nước, lúc này còn ai không biết tội các vương. Vì vậy, triều đình dứt khoát phải nghiêm xử.

Lương Nhậm Văn dừng lại nhìn khắp lượt triều quan, xem ý tứ các quan thế nào. Xem ra các quan, ai cũng gật gù tán thưởng. Nhậm Văn lại chú mục vào đức kim thượng, thấy nhà vua mặt ủ buồn, chứ không tươi như lúc ta vừa xuất ban. Lương Nhậm Văn lại cất giọng sang sảng:

- Tội của ba vương đã rõ ràng không có gì phải bàn cãi. Nhưng tội của những người dạy dỗ các vương thì sao? Theo thần, các bà thái hậu sinh ra các vương vì nuông chiều con thái quá, để các vương lộng hành, không thể nói là các bà không có tội. Vì vậy phải hạ phẩm cấp từ hàng thái hậu xuống phu nhân hoặc thục nhân, cung nhân hay nhũ nhân, nhụ nhân là tuỳ các quan nghị bàn và hoàng thượng y chuẩn. Vậy còn các bậc sư phó, tức những người thầy dạy của các hoàng tử thì sao? Thần nhớ, có lần còn sinh thời Thái tổ, người đã cho triệu tất cả các vị sư phó đến dụ rằng: “Ta giao phó các con ta để các ông dạy dỗ cho nên người. Nếu các con ta trở thành người trung hiếu, công các ông lớn lắm. Nếu các con ta hư hỗn hoặc mắc vào vòng lao lý, tội các ông cũng lớn lắm…”. Trong những năm qua triều đình đã tri ân các bậc sư phó, trọng đãi, hậu đãi như thế, Thái tổ vẫn chưa cho là đủ. Thế mà nay ba vương, tức là các học trò của các vị mắc vào tội đại nghịch, chẳng nhẽ các vị lại vô can sao?

Chưa có chứng cớ để nói các vị sư phó là tòng phạm, nhưng chuyện rõ rành rành là các vị giáo hoá học trò không thấu đáo phận vua tôi, không đạt tình hiếu đễ. Dạy học trò trở nên bất trung, bất hiếu mà thầy vẫn nhởn nhơ hưởng lương hưởng lộc sao? Thiết nghĩ triều đình phải thu lại ruộng lộc điền của các ông sư phó này, bãi bỏ cái danh nghĩa sư phó, đuổi về quê quán làm thứ dân, và phải chịu phần lao dịch.

Xem ra phần nghị tội các bà thái hậu và các vị sư phó của Lương Nhậm Văn khiến các quan ai nấy đều có vẻ tâm phục.

Còn về phần các ông hoàng đã phạm tội thì sao? Lương Nhậm Văn lại nhìn các triều quan thấy ai nấy đều có vẻ căng thẳng. Ngay nhà vua cũng bần thần. Thái tông tự nghĩ: Y luận tội các bà thái hậu, các ông sư phó, rồi y đưa ra cách xử rất công minh, không ai có thể bắt bẻ. Nếu như bây giờ, y lại buộc các vương vào tội đại nghịch mà xử thì sao? Kể cũng khó mà bác được y. Đành rằng, ta có thể dùng quyền tối hậu mà phán xét. Nhưng đó là chuyện thế bất đắc dĩ.

- Còn tội của tam vương thì sao? – Lương Nhậm Văn cao giọng hỏi: – Vũ Đức vương đã thọ án chém. Việc ấy là xứng đáng. Thần xin bệ hạ sớm ban thưởng cho Vũ vệ tướng quân Lê Phụng Hiểu để khuyến khích người trung dũng.

Đối với Dực Thánh vương và Đông Chinh vương tội đáng bêu đầu nhưng các bà thái hậu, các ông sư phó đã đồng chịu tội nên có thể giảm bớt bằng cách tha cho sinh mạng, nhưng từ nay không được phép lập phủ binh nữa, nhằm tránh hậu hoạ.

Dám xin bệ hạ minh xét. Nói xong Lương Nhậm Văn vái nhà vua hai vái, quay vái các đồng liệt một vái rồi lui về chỗ.

Các quan đều cho cao kiến của Lương Nhậm Văn là thấu tình đạt lý. Đành rằng cho các vương hưởng án ấy là quá nương tay. Nhưng như nhà vua đã nói, ngài không muốn buổi khai triều của thời đại Thiên Thành, lại cũng là buổi khai đao với mấy người anh em ruột thịt.

Về phần nhà vua, thật ngoài tầm mong đợi của ngài. Vừa không mang tiếng giết người đồng tông, vừa không thả lỏng kỷ cương pháp độ, lại vừa ngăn lấp hậu hoạ.

Vua Thái tông đưa hai tay sửa lại cái mũ bình thiên cho ngay ngắn, mà nó vốn đã ngay ngắn. Sửa lại nếp áo long bào, thả vạt trước cho phủ kín cả đôi hia, tay cầm chiếc kim hốt giơ cao, vua phán:

- Ta thấy những lời phân giải của Lương Nhậm Văn là hữu lý, hữu tình. Theo ta, không còn cách nào tốt hơn thế. Nếu các quan không có ai phản bác thì ta y chuẩn.

Dưới sân rồng các quan đều hô to:

- Thiên tuế! Thiên tuế! Thiên thiên tuế!

Lời hô ấy có nghĩa là mọi người đã đồng tâm nhất trí.

Vua lại nói, ta muốn nhân cơ hội này để chấn chỉnh nội các. Vậy các khanh tự nghĩ, ai xứng chức nào được tự mình đề xuất, hoặc đề xuất cho người khác. Nhưng phải công tâm, phải chịu trách nhiệm về các việc đề cử ấy, tức là phải có bảo cử. Ai vì tham lam hoặc kéo bè kết cánh một cách xằng bậy mà đẩy nhau lên, xét tài đức đều không xứng chức, tất bị biếm, bị bãi. Việc này phiên chầu sau, ta sẽ quyết. Vua phảy chiếc kim hốt và phán:

- Bãi chầu!


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 27.09.2018, 16:56
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5390 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XXXIV

Thái tổ băng nhưng chưa chọn được ngày lành để an táng nên vẫn quàn tại điện Long An.

Việc làm lễ chiêu tịch diện[88] do các nhà sư đảm nhiệm cúng kiếng. Một tuần làm lễ cầu siêu một lần, do các bậc cao tăng và các đạo sĩ cùng lên đàn tràng. Nhà vua chỉ có mặt những lúc cần thiết vào các ngày cầu siêu. Việc triều chính vẫn diễn ra bình thường.

Vừa lên ngôi, vua bèn xuống chiếu đại xá thiên hạ. Tôn mẹ là Lê thị làm Linh hiển thái hậu. Lại cũng theo tiên đế, cùng lúc lập bảy hoàng hậu. Cho cha sinh hoàng hậu họ Mai là Mai Trọng Hựu làm An quốc thượng tướng, cha sinh hoàng hậu họ Vương là Vương Đỗ làm Phụ quốc thượng tướng, cha sinh hoàng hậu họ Đinh là Đinh Ngô Thượng làm Khương quốc thượng tướng. Đây chỉ là các hư chức nhằm tôn vinh các vị quốc trượng đang còn tại thế để cho ăn lộc, chứ không có thực quyền.

Công việc triều chính thật là bề bộn. Vua vừa về quê hương Dịch Bảng khánh thành nhà Thái miếu và miếu Thái tổ. Trở lại Thăng Long chưa kịp tra xét công việc, đã có tin báo người man ở châu Chân Đăng mưu làm phản.

Để phên giậu nơi biên ải được chắc chắn, năm trước vua lên tuần thú châu Lạng có vời đầu mục Thân Thiệu Thái đến phủ dụ.

Họ Thân vây cánh trùm phủ khắp vùng lại là nhà hào phú hay phóng tài hoá thu nhân tâm. Gặp những năm mất mùa, đói kém, Thiệu Thái thường xuất lúa gạo ra cứu giúp người dân trong vùng. Vì thế dân rất kính nể, có thể nói nhất hô bá ứng. Người dân ở vùng này phần đông biết họ Thân hơn là biết đến triều đình. Vì thế, vua Thái tông muốn thu phục họ này để kết làm vây cánh, thêm sức mạnh cho vùng biên ải, cũng tức là thêm sức mạnh cho triều đình.

Do đấy, nhà vua bèn dụ Thân Thiệu Thái về triều, cho đi thăm thú cảnh đẹp Thăng Long. Đêm đêm nhà vua thết yến tại điện Tập Hiền, tại thềm Đan Trì. Cũng có đêm yến tiệc được bày tại vườn Thượng uyển. Cung nữ từng bầy múa hát, nhạc thiều réo rắt khiến Thân Thiệu Thái tưởng như mình đang lạc vào xứ sở của thần tiên. Mặt ngây ra nhìn bầy vũ nữ, tai chật ứ tiếng ti tiếng trúc. Bốn phương tám hướng, hướng nào cũng ngây ngất hương thơm. Còn hoa thì lấp lánh đủ màu dưới ánh sáng lung linh của hàng ngàn ngọn đèn lồng, nom tựa một trời sao. Thân Thiệu Thái thầm so sánh: Ta làm chủ một vùng, giàu có, thần thế, quân quyền, tưởng đã là tột đỉnh vinh hoa phú quý, nhưng về tới Thăng Long, về tới triều đình, ta chẳng là cái gì cả.

Hết yến tiệc đến vũ nữ, mỹ nữ cái gì Thân Thiệu Thái cũng được vua cho thưởng thức. Cuộc đời như thế này, tưởng đã đến cùng xa cực xỉ. Nay Thái lại được đi xem duyệt mấy đô quân. Nào kỵ binh, nào thuỷ binh, nào tượng binh, cơ nào đội ấy uy nghi, nghiêm chỉnh. Cờ hiệu, kèn trống, lệnh truyền tiến lui nhất nhất tề chỉnh, khiến Thân Thiệu Thái phải tâm phục. Vua lại cho Thái xem đội quân thần nỗ.

Nom đội quân thần nỗ của thiên tử diễu võ dương oai quanh trường bắn, Thái nghĩ thầm: – Nhà vua uy hiếp mình đây. Ta có thua triều đình, chỉ thua về thuỷ binh, kỵ binh, tượng binh thôi. Còn như cung nỏ, sao thiện xạ bằng quân của ta được.

Một trăm cung thủ với mười tấm bia. Mỗi đợt có mười cung thủ tham dự. Các cung thủ nom còn rất trẻ, môi đỏ như tô son, má đậm lông tơ, da săn chắc, bắp thịt tròn lẳn. Mỗi chàng đóng một chiếc khố vải màu thanh cát. Vai nở, ngực to, bụng lẳn, mông tròn nom các chàng xạ thủ có dáng dấp như những con ngựa chiến nòi Hồ. Mỗi cung thủ đeo trên vai một cây cung và một giỏ tên có ba mũi tên đánh dấu nhất, nhị, tam.

Dứt ba hồi chín tiếng trống thì các cung thủ đã đứng vào bệ bắn. Khoảng cách từ bệ bắn tới bia là một trăm năm mươi bộ. Trên đài cao điểm một tiếng trống. Các cung thủ lắp tên vào ổ. Sang tiếng trống thứ hai, nhất loạt giương cung. Tiếng trống thứ ba vừa điểm, nghe phựt một tiếng gió. Cùng một lúc mười mũi tên dàn hàng ngang vun vút lao đi như mười cánh én, rồi cùng cắm phập vào mười tấm bia.

Sau ba lần bắn thì viên đô uý coi sóc trường bắn dẫn Thân Thiệu Thái lần lượt đi xem từng tấm bia một. Điều làm cho viên đầu mục xứ Lạng châu này kinh ngạc là không có một mũi tên nào bay lạc hướng. Tất cả các bia, cả ba mũi tên đều chụm quanh hồng tâm. Nghĩa là tên cắm ở các vòng từ số bảy đến số mười. Có tới ba bia, cả ba mũi tên đều xuyên đúng hồng tâm.

Sau mười loạt bắn, Thân Thiệu Thái đều được mời đi kiểm xét kết quả trên bia đã khiến họ Thân phải tâm phục đội thần nỗ của triều đình.

Viên đô uý coi sóc trường bắn, đang định mời Thân Thiệu Thái vào nhà tân khách thì nghe có tiếng vó ngựa dồn dập phía cổng ngoài. Vừa ló ra, đã thấy một đoàn người ngựa dừng lại trước sân.

Viên tuỳ long vội vào bẩm:

- Hoàng thượng giá lâm!

Viên đô uý và mọi người tới trước ngựa nhà vua cúi lạy:

- Hoàng thượng tha tội, lũ thần chưa kịp làm lễ cung nghinh.

- Miễn lễ. – Vua vừa nói vừa xuống ngựa.

Viên mã phu vội đón lấy dây cương rồi dẫn ngựa vào tầu cho ăn uống.

Sau vua là công chúa Bình Dương. Bữa nay công chúa phục trang thật là giản dị. Một dải khăn lụa màu hồng, điểm những viên kim cương lấp lánh ánh sáng bảy sắc cầu vồng, chít ngang mái tóc thề đen nhức, buông xoã trên bờ vai. Công chúa có vẻ đẹp khác thường. Nàng hồn nhiên, khoẻ khoắn. Cặp mắt tròn như mắt nai, nhưng tinh anh như mắt bồ câu chứ không ngơ ngác. Gương mặt hơi tròn, chiếc mũi thẳng thanh tú, miệng nhỏ xinh xinh, cặp môi đỏ mọng, hai hàm răng nhỏ đều tăm tắp, trắng muốt. Mỗi khi nàng nhoẻn cười hàm răng loá sáng, khiến gương mặt tươi như một đoá hồng hàm tiếu. Nàng có nước da trắng và mịn làm sao. Thật chẳng có gì so sánh được. Trứng gà bóc ư. Làm gì có màu trắng mịn phơn phớt hồng như cặp má kia của nàng. Công chúa có dáng người cao, thon thả. Đôi tay dài, các ngón thon như những búp măng. Hai cổ tay đeo đôi vòng ngọc bích. Cái màu xanh kỳ ảo của ngọc như tôn lên vẻ đẹp của cổ tay, của bàn tay người con gái sinh ra từ nơi cung cấm. Công chúa vận chiếc áo dài lụa bạch. Trước ngực thêu đôi chim phượng múa. Nơi mắt phượng, mào phượng và ở các sắc lông cánh dát li ti hàng trăm viên kim cương. Chiếc áo rộng được thắt hờ một chiếc đai nạm đầy ngọc quý khiến thân hình thon thon đáy đả. Nơi cổ công chúa đeo chiếc vòng vàng mảnh mai nạm hồng ngọc, sắc ngọc hồng ánh lên làm gương mặt công chúa lúc nào cũng có vẻ hồng hào. Đôi bàn chân nhỏ nhắn của công chúa xỏ hờ vào cặp hài nhung màu huyết dụ, rắc loáng thoáng mấy hạt kim cương. Mỗi bước đi uyển chuyển, kim cương nơi mũi hài hút nắng lại loá lên như những ánh sao rơi.

Đi sau công chúa là đô thống thượng tướng quân Lê Phụng Hiểu. Sau nữa là đô Sắn. Hai viên quan cận vệ của nhà vua.

Thấy mười tấm bia và các mũi tên còn chụm trên từng bia, vua hỏi viên Đô uý:

- Chẳng hay những ai vừa bắn kia?

- Tâu bệ hạ, đó là các cung thủ trong đội quân thần nỗ của thiên tử, vừa thi triển cho châu mục Lạng Châu xem đấy ạ.

Vua Thái tông nở nụ cười thân mật hỏi Thân Thiệu Thái:

- Khanh thấy quân cung nỏ của trẫm thế nào?

- Muôn tâu, thật là những vị thần nỗ.

- Trẫm muốn được mục kích tài “bách bộ xuyên dương” của khanh. Nhà vua lại cười: – Ta nghe đồn khi khanh đã giương cung thì không một con thú nào chạy thoát.

- Đô uý đâu! Vua gọi. – Đem cung tên lại đây hầu Thân châu mục.

Lập tức cung tên được đưa tới. Đích thân nhà vua trao cung tên vào tay Thân Thiệu Thái.

Thân Thiệu Thái cúi đầu vái nhà vua hai vái rồi đỡ lấy cung, tên.

Thái không đứng vào bệ bắn mà đứng cách xa bệ chừng năm mươi bộ nữa. Như thế có nghĩa là Thân Thiệu Thái chấp các cung thủ trong đội thần nỗ của triều đình năm mươi bộ. Y chọn một mũi tên có đuôi màu đỏ, lắp tên giương cung bắn vào một tấm bia mà ba mũi tên đã chen chúc trong hồng tâm. Dây cung vừa bựt nhẹ, chỉ thấy tiếng gió rít, mũi tên có cái đuôi đỏ đang rung rung trên tấm bia. Mọi người vỗ tay reo hò cổ vũ. Thân Thiệu Thái vừa cảm động vừa tự phụ, y lắp một mũi tên khác toan bắn tiếp. Công chúa Bình Dương khẽ nhún chân nhảy một bước đến cạnh Thân Thiệu Thái. Nàng cầm lấy cây cung từ tay họ Thân, và chọn một mũi tên khác có đuôi màu cánh trả. Lắp tên, giương cung và tách một tiếng. Mũi tên cũng lao đi như mọi mũi tên của các cung thủ khác. Ai nấy hò reo tưởng đến vỡ trời. Tất cả cùng ùa chạy tới xem bia. Mũi tên của Thân Thiệu Thái nằm chen giữa ba mũi tên trong hồng tâm. Còn mũi tên màu cánh trả của công chúa thì chẻ đôi cuống tên của họ Thân và nằm kẹp chặt trong đó, đuôi tên màu cánh trả vẫn còn rung rung trong gió.

Thân Thiệu Thái từ lúc nom thấy dung nhan công chúa đã như người bị hút hồn, nay thấy tài thần tiễn của nàng, chàng như người mất cả hồn vía. Đến trước công chúa, Thân Thiệu Thái xá một xá rồi quỳ xuống lạy nàng hai lạy.

Công chúa ngạc nhiên đỡ người đàn ông lạ mặt mà vua cha tỏ vẻ ưu ái này, nàng đáp lại một xá.

Từ lâu, Thân Thiệu Thái và cánh họ Thân trên Lạng Châu vẫn tự phụ tài thiện chiến của họ, binh triều đình không thể so bì được. Đến như binh nước đại Tống, đôi khi tràn sang cướp phá mùa màng hoặc bắt trộm trâu bò, còn bị gia binh của họ Thân đánh cho tơi bời. Xong việc, Thái cử người sang trách cứ và đòi bồi thường thiệt hại. Các quan binh Tống triều muốn cầu hoà, nên cứ phải nén giận bồi hoàn.

Nay tận mắt thấy các sắc binh của triều đình, loại nào cũng hùng mạnh như binh tướng nhà trời cả. Ngay chuyện cung nỏ, xưa nay người man vẫn coi thường tài thiện xạ của người xuôi, thế mà công chúa, liễu yếu đào tơ cũng làm cho ta phải bẽ mặt. Lại còn Lê Phụng Hiểu, nom ông ta quả là một dũng tướng. Chỉ nửa bước ngựa đã chém bay đầu Vũ Đức vương. Vũ Đức vương tiếng đồn dậy Châu Lạng, rằng hoàng tử đích thị là một cao thủ võ lâm. Thế mà… Càng nghĩ, Thân Thiệu Thái càng tâm phục nhà vua, tâm phục triều đình và các tướng sĩ tài giỏi của người.

Vua Lý Thái tông đưa tay rút nhẹ hai mũi tên kẹp vào nhau của công chúa Bình Dương và châu mục Lạng Châu Thân Thiệu Thái. Nhà vua sai lấy vuông lụa bạch gói lại rồi đưa về cung.

Đêm ấy, sau tiệc yến, vua cho triệu Thân Thiệu Thái vào cung Long Đức. Vua hỏi han tình hình biên ải. Và binh dân nhà Tống còn quấy nhiễu bên ta không. Lại hỏi mấy ngày về Thăng Long có làm cho Thân Thiệu Thái hài lòng không. Thân Thiệu Thái nói không sót một điều gì. Cuối cùng Thái bày tỏ:

- Bệ hạ! Nếu thần không về Thăng Long thì nhãn giới của thần còn hẹp lắm. Thần đội ơn bệ hạ. Bệ hạ cứ tin ở thần, trao việc gì thần xin hết lòng trung với bệ hạ.

- Vậy thì nghe ta nói đây. Nhà vua mỉm cười nhìn Thân Thiệu Thái với tất cả sự tin tưởng và hào hứng: – Ta cho khanh thu hết tô thuế đồng ruộng và rừng cây toàn Châu Lạng mà không phải nộp về triều nữa.

- Đội ơn bệ hạ, cho thần nhiều thế.

Thật ra thì từ trước tới nay, triều đình cũng chẳng thu được một xu thuế nào ở Lạng Châu. Bởi các đầu mục tróc nã được của dân đến đâu, lại ăn tiêu xa xỉ đến đấy. Thà rằng ta cho họ cái mà ta không lấy được để họ phải chịu ơn ta. Nhà vua nghĩ vậy và hào phóng thi ân cho châu mục Thân Thiệu Thái khoản tô thuế kếch xù. Thái sung sướng ra mặt.

- Nhưng khanh phải thay ta làm mấy việc, nhà vua nhắc lại.

- Bệ hạ cứ giao cả trăm việc thần cũng làm được mà. Bệ hạ nói đi.

- Việc thứ nhất, khanh phải khoan thư để dân có thể sống được. Làm sao trong dân không còn người nào phải chịu đói nữa. Nếu đói, dân sẽ tụ nhau đi cướp bóc, làm loạn xã hội. Để dân phải làm loạn thì của nả của khanh khó mà giữ được nữa. Việc thứ hai, khanh phải lập lấy một đội binh mạnh, phối hợp với binh của triều đình giữ gìn biên cương cho thật chắc. Một tấc đất của ta cũng không để lọt vào tay người Tống được.

Việc thứ ba, ta sẽ gả công chúa Bình Dương cho ngươi. Vua Thái tông ngừng lời để dò xem ý tứ của họ Thân.

Quả nhiên Thân Thiệu Thái không còn tin ở tai mình nữa. Mắt y nhìn nhà vua như lồi ra, giọng run run y phủ phục dưới chân nhà vua hỏi lại:

- Bệ hạ! Bệ hạ nói gì thần không hiểu được nữa rồi.

- Ta nói, ta gả công chúa, con ta cho ngươi. Vậy chớ ngươi nghe rõ chưa?

- Thần nghe rõ rồi ạ. Tâu, có phải cái cô bắn mũi tên ban chiều không ạ?

Thái tông quay lại phía sau kỷ, với lấy vuông lụa bạch. Ngài mở ra. Hai mũi tên vẫn còn ôm xiết lấy nhau giữa hai màu đỏ và xanh cánh trả. Vua lại nói:

- Đây là duyên trời xe cho khanh cùng công chúa.

- Bệ hạ! Nhưng mà thần đã có vợ rồi. Lại có một thằng con be bé thế này này. Vừa nói y vừa dư dứ bàn tay làm cỡ chiều cao một đứa bé vài ba tuổi.

- Sao ta không biết điều đó. Một người có thể lấy nhiều vợ. Khanh có mấy vợ rồi?

- Thần mới lấy một vợ thôi. Bệ hạ, cô công chúa bắn cung giỏi quá, thần sợ đấy. Mà cô ấy cũng còn be bé mà.

Nhà vua cười vỡ ra. Sự thật vua rất vui vì tính hồn nhiên chân thật của họ Thân. Vua an ủi:

- Ta gả công chúa cho ngươi. Vì công chúa là ngọc diệp kim chi, dù có lấy sau người vợ trước của ngươi, vẫn phải coi là chính thất. Nhưng quả là công chúa còn nhỏ tuổi. Sang năm mới đến tuổi trăng tròn. Vậy sang năm nữa, khi công chúa tròn mười sáu tuổi, triều đình sẽ cho ngươi làm lễ vu quy với công chúa.

Ngươi còn muốn lưu lại Thăng Long bao lâu nữa, muốn thăm thú những nơi nào nữa, muốn mua sắm cái gì cứ nói, nội thị sẽ lo tất cả cho ngươi.

- Tâu bệ hạ, thần chỉ muốn về lại Lạng Châu thôi. Thần nhớ nhà, nhớ vợ con lắm rồi.

- Vậy thời ta sẽ cho ngươi về sớm. Người đã nhớ các việc ta dặn cần phải làm ngay không.

- Tâu, thần nhớ ạ. Bệ hạ giao cho thần làm ba việc. Không để dân đói. Giữ biên cương không để mất một tấc đất. Đúng rồi, thần chỉ phải làm hai việc ấy thôi. Còn việc thứ ba thì bệ hạ phải làm chớ. Tâu, bệ hạ gả công chúa cho thần là việc thứ ba. Việc ấy bệ hạ phải làm chớ, thần không làm được đâu.

- Ôi cái thằng man này chỉ khéo dại ăn người! Nhà vua kêu lên như vậy trong tiếng cười độ lượng.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 27.09.2018, 16:57
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5390 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XXXV

Lại nói đến Khai Quốc vương tức hoàng tử Bồ được vua cha cho trị nhậm phủ Trường Yên từ tháng sáu năm Quý sửu, tới nay kể đã mười lăm năm. Khai Quốc vương là người có tư chất thông minh từ nhỏ. Học đâu nhớ đấy, nhưng không thiên trọng nghiệp văn. Càng lớn, hoàng tử càng muốn tìm kết thân với các bậc hào kiệt trong thiên hạ. Lại thích giao du với các cao thủ võ lâm, và thường tổ chức giao đấu giữa các môn phái để tìm ra các bậc siêu tuyệt, trước là để đo sức mình với thiên hạ, sau đó là chiêu tập về tụ dưới trướng, vừa để tăng sức mạnh, vừa để tăng vây cánh.

Ít lâu nay, các hoàng tử Đông Chinh vương, Dực Thánh vương, Vũ Đức vương thường hay đi lại thăm viếng phủ Trường Yên, và cũng có đôi lần Khai Quốc vương về Thăng Long đáp lễ.

Dò xét ý tứ, thấy con đường mình đã ngầm chọn với cao vọng của các vương xem ra không hợp nhau. Khai Thiên vương đã tỏ lộ cái mầm vương đạo, nên được vua cha chọn lập từ sớm. Ta được xem như một kẻ ương gàn, nên vua cha đuổi ra Trường Yên trấn trị. Chính cư sĩ Đinh Thành xui ta xin vua cha cho ra Trường Yên. Ngày đó còn nhỏ tuổi, đôi lúc nhớ kinh thành, nhớ mẫu hậu, nhớ nhũ mẫu nên nhiều lúc ta cứ oán vua cha đẩy đi miền sơn cước. Nhưng lớn lên, ta ý thức được đây là miền đất thủ hiểm vô song. Chính Đinh Tiên Hoàng nhờ đất này mà nên nghiệp đế. Đúng là trong hoạ có phúc. Vì vậy ta đã không ngừng chỉnh bị binh lực, và đã rèn luyện trong tay có một đội tinh binh vào hàng xuất quỷ nhập thần. Lại nữa, các cao thủ võ lâm trong vùng đều một lòng quy phụ. Chỉ cần ta hô một tiếng, lập tức các anh hùng, hảo hán sẽ nhanh chóng tới chầu.

Sẵn có sức mạnh về binh lực, lại có cả uy lực, và võ công của bản thân Khai Quốc vương cũng vào hàng thượng thặng, kết hợp với tính hiếu thắng và cả hiếu kỳ nữa, nên vương đã cùng với bọn bộ hạ mặc các đồ giả trang, đeo mặt nạ của các loài ma quỷ đón đường cướp bóc khách thương, hoặc xông vào các làng gây nhiễu loạn cho các nhà giàu có.

Các xã quan, hoặc châu, quận tâu lên các việc vừa xảy ra, thì lập tức vương sai họ phải tìm ra manh mối, bắt kẻ đầu sỏ giao nộp; nếu không sẽ bị trừng trị. Thế là các chức dịch thảy đều sợ hãi, không dám tâu báo về phủ hoặc về triều đình. Thật ra thì cả người dân lẫn chức dịch đều biết Khai Quốc vương là kẻ ném đá giấu tay. Nên không có một ai dại gì mà tố giác. Từ đó, Khai Quốc vương mặc sức hoành hành trong giới lục lâm. Nhưng các việc đó chỉ diễn ra vào ban đêm, và cũng chỉ xảy ra mang tính nhất thời, còn ban ngày thì luật pháp vẫn được nghiêm giữ. Thảng có kẻ nào dùng quyền thế, dùng sức mạnh mà uy hiếp hoặc đè nén, cướp bóc kẻ yếu, sự việc được phát giác thì Khai Quốc vương trị tội rất nặng. Thành thử dân chúng và cả quan lại trong phủ Trường Yên, vừa tin sợ vương lại vừa nghi ngờ vương, đôi khi oán vương.

Được tin vua cha vừa băng, các vương ở Thăng Long đang nổi loạn, Khai Quốc vương bèn họp tả hữu. Vương nói:

- Tiên đế vừa băng. Ngôi nước đã lập. Đông cung chưa kịp tức vị thì các vương đã nổi lên tranh cướp ngôi báu. Ta ở xa Thăng Long. Vả ta cũng biết việc này thế tất sẽ xảy ra, nhưng ta không tham dự. Đất nước hẳn lại phân ly như thời tiền Đinh mà thôi.

Nay thời cơ đã đến. Trong lúc các vương còn mải tranh chấp ngôi trời, không phòng bị, ta định nhân cơ hội tiến binh để mở mang cương thổ, chẳng hay ý các ông thế nào?

Hai viên tả hữu vũ vệ cùng xuất ban xin nói. Nom hai viên tướng oai phong lẫm liệt, mặc dù họ không mang theo binh khí, không mặc nhung phục, Khai Quốc vương có vẻ bằng lòng lắm. Thuận tay, vương chỉ vào viên tả vũ vệ:

- Tướng quân nói thử ta nghe.

Tả vũ vệ Đinh Trọng Toán năm nay ba mươi hai tuổi, vốn là một tay thợ săn nổi tiếng, vừa có tài thiện xạ, vừa có sức khoẻ hơn người. Nhưng nổi tiếng nhất là lần y tay không đánh chết con gấu ngựa, khi con vật này nhảy chồm lên định cướp đõ ong mật trên tay Trọng Toán giữa một khu rừng rậm.

Đinh Trọng Toán đứng thẳng người, tay đưa lên vuốt nếp áo, rồi vuốt nhẹ một bên hông, theo thói quen của một võ tướng thường hay rờ vào chuôi kiếm đeo ở bên sườn. Đoạn y nói:

- Bẩm đại vương, đại vương như con cá kình bị hãm nơi đầm ngòi chật hẹp không thể vẫy vùng cụng cựa; nay nước tràn, đê vỡ thì đâu cũng là biển cả, không nhân cơ hội này mà dấn lên, thử hỏi đại vương còn chờ chi nữa?

Khai Quốc vương gật gật mái đầu đen nhức, tỏ vẻ hài lòng về viên bộ tướng. Vương lại hỏi:

- Ngươi bảo ta dấn lên là dấn lên cái gì? Ngươi nói rõ ta nghe.

- Tâu, dấn lên tức là đánh thôi. Đem quân toả ra bốn phía mà mở mang cương thổ. Nếu các vương, mỗi vương hùng cứ một phương thì ai có nhiều đất, nhiều dân hơn thì người ấy làm bá chủ thiên hạ. Trọng Toán ngừng lời, nhìn thẳng về phía Khai Quốc vương, y nhấn mạnh: – Cái chí của đại vương chẳng phải thế sao?

Khai Quốc vương không đáp lời Đinh Trọng Toán, mà quay về phía hữu vũ vệ Nguyễn Quang Nhường, vương nói:

- Ta muốn nghe cao ý của tướng quân.

Nguyễn Quang Nhường liền đứng phắt dậy, vái Khai Quốc vương hai vái:

- Bẩm đại vương, nếu đại vương thấy việc nên làm, phải cấp kỳ làm ngay, không do dự; do dự là thời cơ qua đi, sẽ hỏng cả đại sự. Vẻ ngập ngừng nửa muốn nói tiếp nửa lại e ngại.

Thoáng Khai Quốc vương đã đoán biết tới tám chín phần tâm trạng của Nhường, vương liền giục:

- Tướng quân cứ nói thẳng ý nghĩ của mình. Đây là lúc luận bàn, ta muốn nghe các người nói đúng điều các người nghĩ, phải trái mặc lòng, không ai bắt bẻ.

Thấy chủ tướng mở lòng, Nguyễn Quang Nhường lại tiếp:

- Tâu đại vương, đúng như ý của quan tả vũ vệ, ai chiếm được nhiều đất, nhiều dân, người đó sẽ nắm phần ưu thắng, sẽ làm bá trong thiên hạ. Theo thiển ý của thần, đại vương không nên kéo binh về kinh sư.

- Tại sao không đem binh về kinh sư? – Khai Quốc vương chẹn ngang bằng một câu hỏi.

Nguyễn Quang Nhường nhìn thẳng vào chủ tướng, lại nhìn vào đám quần hùng và mưu sĩ, đoạn thong thả nói:

- Đem binh về kinh sư có hai điều thất lợi: Thứ nhất là công nhiên chống lại triều đình. Dù ngôi tôn thuộc về ai thì lập tức người ấy cũng cho đại vương là làm phản. Đại vương không thể biện minh với ai được.

Điều thất lợi thứ hai là binh của đại vương sao hùng hậu bằng binh của triều đình. Vạn nhất mà xảy ra huyết chiến, đại vương có nắm chắc phần thắng về mình không, có bảo toàn được binh lực không?

Trái lại, bây giờ đại vương tản binh ra tứ phía mà chiếm đất, có khác chi đi vào chỗ không người. Bởi tinh binh đã tập hợp hết về triều, còn lại đám dân binh sao dám đương đầu với đại vương. Thế là đại vương dùng sức quân nhàn rỗi mà vẫn mở mang được cương thổ. Việc ấy, xưa nay ít người làm được lắm. Nói xong Nguyễn Quang Nhường vái Khai Quốc vương hai vái rồi lui về ban.

- Tướng quân nói rất hợp ý ta! – Khai Quốc vương khen. Vậy thời bên văn ban các ông có ý gì khác không. Nói xong, Khai Quốc vương nhìn khắp mấy người giúp rập mà vương thường coi là mưu sĩ, nhưng không thấy một ai nhúc nhích. Chợt thầy đồ Lương Thúc Bằng nắn lại chiếc khăn lượt, sửa lại hàng khuy áo, rồi đứng dậy vái Khai Quốc vương một vái và nói:

- Lương Thúc tôi xin có nhời.

- Ấy chết, sao sư phụ lại xử thế làm ta trở thành kẻ thất lễ với thầy. Dạ xin thầy cho nghe cao ý.

- Thần không thể không nói, bởi chưng đức Thuận Thiên đã giao phó cho thần giáo hoá hoàng tử biết biện biệt những điều phải quấy. Nay đức tiên đế vừa băng, việc tang chưa đâu vào đâu, các hoàng huynh, hoàng đệ đã nổi dậy tranh cướp ngôi trời. Nay đại vương lại đưa quân đi chiếm đất, thiết tưởng việc ấy không hợp với đạo Trời và cả lẽ người nữa.

Băn khoăn giây lát, Lương Thúc Bằng lại nói: – Nếu hoàng tử quyết làm việc này, Lương Thúc tôi xin liều chết mà nói rằng, ngài đã phạm vào tội bất mục đối với các vương huynh, vương đệ; còn đối với tiên đế, ngài phạm tội đại bất hiếu, dám xin vương nghĩ lại.

Càng nghe viên sư phó nói, Khai Quốc vương càng thấy bức bối, khó chịu, mặt hoàng tử đỏ phừng phừng, nếu không kìm nén, ắt đã có hành vi thất lễ với người thầy học.

Vái thêm một vái – xin vương đại xá, rồi Lương Thúc ngồi xuống ghế. Cái dáng ông vẫn khòng khòng của một người lớn tuổi.

- Còn ai can nữa thì nói mau đi! – Bỗng Khai Quốc vương nói như người hét: – Ta đang muốn nghe đây!

Lại một vị sư phó nữa đứng lên. Ông này trẻ hơn, tuổi ngoại tứ tuần, dáng người to khoẻ, giọng nói oang oang. Ông được triệu vào phủ Trường Yên để dạy hoàng tử về các môn thiên văn, địa lý. Vái hoàng tử một vái, ông nói luôn:

- Tôi không nghĩ như Lương tiên ông. Theo tôi, hiếu là ở trong lòng, mục là ở trong lòng. Nay các vương kia ở gần kề tiên đế, kíp khi tiên đế vừa băng, triều đình còn chưa kịp phát tang, trong ngoài còn chưa hay biết mà các vương đã khởi sự. Thử hỏi các vương kia có nghĩ đến hiếu, đến mục không. Nay thời cơ đến mà không túm lấy ngay, e rằng tới ngày nào đó thầy trò lại không có chỗ nương thân. Theo thiển ý của thần, nếu hoàng tử thấy việc thuận thì cứ làm liền đi, kẻo rồi lại hối không kịp. Sư phó Nguyễn Thiếu Kiệt nói xong vái Khai Quốc vương một vái, ông ngồi xuống nở nụ cười mãn nguyện, như tự tưởng thưởng cho cao ý của chính mình.

Tranh cãi râm ran mãi, người nói “nên”, người nói “không nên”, nhưng tựu trung “phe chiến” đông hơn “phe hoà”.

Khai Quốc vương lại một lần nữa gặng hỏi:

- Các ông có ai còn ý gì nói nốt ta nghe.

Cư sĩ Đinh Thành từ nãy vẫn lắng nghe mọi người nói. Ông thấy có nhiều điều hợp với ý ông. Nhất là ý tưởng của hai viên tả hữu vũ vệ. Thật ra đó là bài bản mà ông đã bày xếp. Chính ông gà cho hoàng tử xin với vua Thuận Thiên để về trấn tại đất này. Nay thời cơ đến nhẽ ra ông phải là người đứng lên phất cờ chứ. Thế mà Khai Quốc vương đã quên khuấy cái việc vì sao vương được về đất này rồi.

Sự thể thế này, có nhẽ ta cũng phải quên ngay cái công ta khơi mào, nếu không trước sau rồi cũng mang hoạ vào thân. Nghĩ vậy, Đinh Thành lại nhìn ông sư phó, tức thầy đồ Lương Thúc Bằng đang ngồi bó gối ở góc kia. Gương mặt ông ta an nhiên bình thản như mặt nước hồ thu, mặc dù ông ta vừa táp vào mặt Khai Quốc vương những lời búa bổ. Ta chắc chẳng bao lâu nữa rồi ông ta cũng được mời khéo về quê. Nhưng quả thật ông ta là người có nhân cách cao, trong đám các ông thầy và đám mưu sĩ tại phủ Khai Quốc vương này.

Không ai nói nữa, Khai Quốc vương đi đến quyết sách:

- Theo ta, phải đánh cấp kỳ ba mặt đông, tây, nam. Còn bắc án binh bất động.

Các tướng nhao nhao hỏi:

- Sao đại vương lại kiềng mặt bắc?

- Thì đánh chó phải ngó chủ chứ. Các người không biết mặt bắc là mặt tiếp cận với Thăng Long sao. Ở đây, các vương huynh, vương đệ của ta đang tranh chấp. Vả lại phương ngôn có câu “ăn tìm đến, đánh nhau tìm đi” kia mà. Vậy các tướng hãy nghe ta nói đây.

Khai Quốc vương dõng dạc tuyên lệnh:

- Tả vũ vệ Đinh Trọng Toán, lĩnh một ngàn quân tiến về mặt đông.

- Hữu vũ vệ Nguyễn Quang Nhường, lĩnh một ngàn quân tiến về phía nam.

- Đô thống Lý Khôi Nguyên, lĩnh một ngàn quân tiến về phía tây.

- Các tướng nghe kỹ điều ta dặn đây! Các người phải tìm mọi cách tâm phục bọn đầu lĩnh để chúng đầu hàng, tránh mọi sự đổ máu. Sau khi chiêu vỗ xong, lại cho ở nguyên chức cũ, bổng lộc giữ nguyên không suy suyển. Cấm ngặt việc xua quân vào thôn ấp cướp của, giết người gây xáo trộn nhân tâm. Bởi cái đích của ta là mở mang cương giới, cho nên việc chiêu an không được xem thường. Kẻ nào trái lệnh, ta cho các tướng được quyền chém trước, tâu sau.

Các tướng cứ vững lòng tiến quân, đích thân ta trọng trấn Trường Yên và nghe ngóng động tĩnh từ Thăng Long, chờ các tướng báo tiệp về.

Một phát pháo hiệu nổ vang. Các tướng lần lượt dẫn quân ra khỏi cửa thành.

Khai Quốc vương vừa quay vào nơi trướng hổ thì có sứ từ Thăng Long về cấp báo: “Ba vương nổi loạn. Vũ Đức vương, Dực Thánh vương phục quân cửa tây, đón giết thái tử vào cung. Nhưng thái tử lại đi cửa đông. Lê Phụng Hiểu đem quân ra nghênh chiến. Chưa giao đấu được hiệp nào Vũ Đức vương đã bị Lê Phụng Hiểu chém bay thủ cấp. Phủ binh của các vương tan tác. Đông Chinh vương, Dực Thánh vương đầu trần, chân đất đứng sau cửa khuyết xin hàng. Thăng Long đã yên trở lại”.

Khai Quốc vương tâm trạng rối bời. Thế chân vạc không còn nữa, ta biết tính sao đây. Quân vừa ra khỏi thành, vị tất đã gọi được chúng về. Lỡ triều đình đem binh đến chiêu an thì sao. Về với Phật Mã hay chống lại Phật Mã đây?

Phật Mã là đương kim thiên tử. Chống lại Phật Mã là chống lại triều đình.

Ta nhân danh gì để chống lại Phật Mã? – Hỏi tội Phật Mã giết hại anh em ư? Không được. Vũ Đức nổi loạn. Tam vương nổi loạn, cả Thăng Long đều biết.

Ta chống Phật Mã là danh không chính. Danh không chính thì ngôn khó thuận. Bởi kéo binh về Thăng Long là phải phát hịch. Lời hịch viết sao đây? Không viết được gì cả. Bởi nó nghịch nhĩ, trái đạo. Đã trái tai lại trái đạo, còn ai theo mình nữa. Khó thay!

Vậy ta phải làm gì đây? Ra hàng ư? Ai đánh mà ta hàng. Thôi thì án binh bất động là thượng sách.

Khai Quốc vương sai các tướng đem binh chặn các đường hiểm yếu từ Thăng Long đổ về Trường Yên, còn mình ở tại trung quân để nghe ngóng động tĩnh.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 27.09.2018, 16:58
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5390 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XXXVI

Tham tri chính sự Lý Mật dâng sớ hạch tội Khai Quốc vương.

Một là thiên tử băng mà không về chịu tang.

Hai là vua mới nối dòng đại thống mà không về chầu.

Ba là nhân cớ nước nhà có tang mà xua quân đi bốn phía mở mang cương thổ mưu bạn nghịch.

Phạm một trong ba tội ấy đã phải chém bêu đầu, thế mà Khai Quốc vương lại phạm cả ba trọng tội, xin bệ hạ sớm trừng trị để giữ nghiêm phép nước.

Lý Mật vừa vái nhà vua lui về chỗ thì Đỗ Sấm, Hữu gián nghị đại phu cũng xuất ban tâu:

- Bệ hạ, mấy hôm nay bên Thượng thư sảnh, Trung thư sảnh đều nghị bàn việc Khai Quốc vương làm phản. Tội của Khai Quốc vương đã rõ rành rành, như bên Thượng thư sảnh đã cáo giác, qua lời sớ mà quan Tham tri chính sự Lý Mật vừa tuyên. Xin bệ hạ sớm trừ bỏ, đừng để cái ung nhọt ấy làm suy yếu cả quốc gia.

Tâu bệ hạ, ngay cả hai nước thù địch, thì cũng không nhân chuyện nước kia có tang mà đem quân vây đánh. Ngay cả hai nước đang đánh nhau mà một bên có quốc tang, bên kia lập tức hưu chiến. Chúng thần không hiểu Khai Quốc vương là hạng người nào, lại dám ngang nhiên giày xéo lên kỷ cương lễ luật như vậy.

Đỗ Sấm nhìn thẳng lên ngai vàng, nơi nhà vua đang ngự, với vẻ cương nghị, ông nói tiếp: – Tâu bệ hạ, nếu không sớm trị tội Khai Quốc, thì trong nước sẽ xảy ra huyết chiến, xảy ra huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt. Nếu không nghiêm trị Khai Quốc người trong nước ắt chia lòng, luân thường đạo lý lại lâm vào rối nát như thời Long Đĩnh Ngọa triều mà thôi.

Vua Thái tông lòng ngổn ngang trăm mối. Vua cha chết còn chưa kịp mai táng, thì ba người anh em nổi lên định cướp ngôi. Nhờ phúc lớn ta dẹp yên, lại đến Khai Quốc vương làm phản. Các quan cáo giác không phải là vô cớ. Thật là nhục cho gia đạo, nhục cả quốc thống. Nhà vua còn chưa kịp huấn dụ gì thì nội lệnh sử Hoàng Thúc Phương đã lại xin nói. Vua biết người này lòng dạ thẳng ngay, nhưng nếu lại phải nghe những điều cáo giác đau lòng nữa, ta sao chịu nổi.

Hoàng Thúc Phương một lần nữa giơ cao chiếc hốt. – Thần, nội lệnh sử xin bệ hạ cho được tâu ạ. Nhà vua miễn cưỡng gật đầu. Hoàng Thúc Phương bước ra khỏi ban, vái nhà vua hai vái rồi nói:

- Tâu bệ hạ, thần không biết phải chép cái gì vào chính sử đây. Tưởng rằng cái hoạ Lê Long Đĩnh giết Lê Trung tông chỉ xảy ra một lần trong lịch sử nước ta. Thái tổ cao hoàng đế triều ta là một bậc học thức tinh thuần, lại xuất thân từ cửa Phật, nên từ khi triều Thuận Thiên trị vì, đã đem lại không biết bao điều tốt lành cho nhân quần xã hội. Biết bao thuần phong mỹ tục mới được hình thành trong mấy chục năm nay. Thái tổ rất coi trọng việc khai trí cho nhân chúng, hoá nên Thái tổ càng coi trọng việc giáo hoá cho các hoàng tử. Mỗi hoàng tử có tới mấy ông sư phó. Thuần chọn các bậc thầy văn, thầy võ vào hàng đệ nhất trong thiên hạ để giáo hoá. Tưởng được học hành dạy dỗ như vậy, các vương phải là những tấm gương cho thiên hạ soi vào. Nay vì lòng tham, sân khởi động, đã làm các vương trở thành sói lang, không những để hận cho nhà, mà còn là mối nguy hoạ cho xã tắc. Thử hỏi lấy gì mà gột rửa được vết nhơ này. Hoá nên, bệ hạ phải nhanh chóng trị tội Khai Quốc, để yên lòng thiên hạ. Nếu không, người hiền sẽ bỏ bệ hạ mà đi, người trí cũng bỏ bệ hạ mà đi. Tới lúc ấy, sự thể còn nguy hơn là nước có giặc. Xin bệ hạ lưu tâm.

Khu mật viên Xung Tân xuất ban xin nói:

- Tâu hoàng thượng, việc các đồng liêu của thần vừa trình bệ hạ, là việc không thể trì hoãn được nữa. Thần cũng không có ý gì khác. Duy có một điều để yên lòng thiên hạ, để đoạn diệt sự dòm ngó, chúng thần xin bệ hạ cho lập ngay ngôi Đông cung.

Các quan còn nhiều người giơ cao hốt xin nói. Nhưng nhà vua cho như thế là đủ, nên vẫy tay cho mọi người an toạ.

Nhà vua nói:

- Những điều các khanh vừa tâu, đều là nỗi bức xúc của trẫm. Việc dẹp loạn Trường Yên, trẫm sẽ thân chinh. Nhân đây trẫm y chuẩn việc sách phong hoàng tử Nhật Tôn làm Đông cung thái tử.

- Chư khanh! – nhà vua nói, giọng cảm động. – Tại đây, nhiều người theo Thái tổ từ ngày mở nước, xiết bao khó nhọc, và không thể nói là đôi lúc không có hiểm nguy. Vì thế, có người đã phải bỏ cả mạng sống của mình ngoài chiến trận hoặc nơi biên tái. Nhiều vị tuổi cao, sức yếu không thể tiếp tục công việc mỗi ngày một nhiều hơn, nặng nhọc hơn. Vả lại, ở đời không có vật gì lại không thay đổi cả. Chức quan cũng thế thôi, khi thăng, khi giáng đều theo tài đức và công lao mà sắp đặt. Hơn nữa còn biết bao người trẻ tuổi có tài mà không được cất nhắc vào việc. Vậy nên, ta nhất loạt thăng cho mỗi quan một bậc. Và từ sáu mươi tuổi, nhất loạt hồi hưu. Ai chưa đến tuổi, nhưng vì sức yếu, hoặc ai tuổi còn trẻ, sức còn khoẻ mà thấy không đủ tài đức gánh vác công việc, đều có thể xin nghỉ để còn được hưởng chế độ hưu quan. Chớ để khi ta khảo khoá mà thải, loại thì không được cấp hưu bổng nữa. Ta đã nói, mọi người đều nhất loạt được lên một bậc kể cả tại chức hay hồi hưu. Phần đất ruộng cấp cho các hưu quan, tuỳ theo chức tước và công lao mà được hưởng, đúng lệ mà tiên đế đã đặt ra. Ta vẫn muốn cấp cho các quan nhiều hơn thế, nhưng ruộng đất thì không sinh sôi mà con người ngày một nhiều thêm. Thử hỏi, vua tôi lấy đất ở đâu mà chia mãi cho nhau. Vậy, các khanh tạm bằng lòng như các pháp độ từ thời tiên đế.

Sau đây, ta tuyên cáo một số quan chức đầu triều. Là ta căn cứ vào tài đức của mỗi người được bộc lộ qua công việc, mà ta để ý từ cả chục năm qua. Trong số đó cũng có những người mới nổi gần đây.

Sau tuyên cáo này, nếu bên Khu mật viện thấy ai không xứng ở chức thì cáo giác. Các quan ở các đài, sảnh, viện thấy có điều gì bất như ý đều có thể làm sớ tâu lên. Lại nữa, các quan đã được ta cất nhắc, nhưng thấy không xứng chức, hoặc chức chưa xứng với tài đều có thể khải về.

Việc dẹp quân phản Trường Yên, ta sẽ thân chinh. Thái phó Ngô Thượng Đình, thái uý Nguyễn Quang Lợi, Đô thống thượng tướng quân Lê Phụng Hiểu, uy vệ thượng tướng quân Vũ Ba Tư đi theo quân cùng ta.

Nội trong ba ngày, thái uý Nguyễn Quang Lợi phải điều đủ năm vạn quân để đúng giờ dần ngày canh ngọ khởi binh đi đánh Trường Yên.

Việc lưu thủ kinh sư ta trao cho Lý Nhân Nghĩa, Lương Nhậm Văn đồng giám quốc.

Đúng ngày giờ ba vạn quân gồm các chủng kỵ binh, tượng binh, bộ binh lục tục ra khỏi kinh thành. Hai vạn thủy binh từ hồ Dâm Đàm qua nẻo Nhuệ Giang mà vào Hoàng Giang.

Kiệu vua vừa ra khỏi cửa Đại Hưng, thì gặp một đám trẻ vừa trai vừa gái chơi trò chồng nụ chồng hoa và đá cầu lông gà.

Nom thấy cảnh vui mắt, vua bảo tả hữu dừng kiệu, rồi sai người đem cho lũ trẻ mỗi đứa một tiền. Đoạn vua bảo thái uý Nguyễn Quang Lợi, điềm triệu trẻ con chơi vui thế này, ta chắc việc chinh phục Trường Yên sẽ thuận lợi, không đổ máu.

Quân đi nườm nượp, cờ xí rợp trời. Voi ngựa hí vang, dân chúng kinh kỳ đổ ra xem như đi trảy hội.

Đúng giờ mùi ngày nhâm thân, năm vạn quân triều đình đã hình thành thế bao vây Trường Yên.

Vua Lý Thái tông gửi cho Khai Quốc vương tờ cáo trạng:

“Ta gạt nước mắt viết hịch này. Tiên đế băng chưa kịp phát tang thì tam vương nổi loạn. Nay di hài của tiên đế vẫn còn quàn tại điện Long An chờ vương đệ về chịu tang.

Ai ngờ vương đệ chia lòng, đoạn tình cốt nhục, đang tâm làm phản. Các quan dâng sớ hặc vương đệ phạm ba trọng tội:

- Một là thiên tử tạ thế mà không về chịu tang.

- Hai là vua mới nối dòng đại thống mà không về chầu.

- Ba là nhân cớ nước có tang xua quân gây hấn mưu chia cắt núi sông, phá tán cơ nghiệp mà tổ tông tạo dựng.

Vương đệ thừa biết, phạm một trong ba tội ấy cũng đủ rơi đầu.

Nay ta đem đại binh đến hỏi tội. Nhược bằng biết hối lỗi ăn năn, sớm liệu quy hàng thì nể tình máu mủ ruột rà, ta sẽ mở đường hiếu sinh. Nếu chẳng biết liệu sức mình, manh tâm chống trả, buộc ta phải ra tay thì thành tan ngói vỡ, ta không dám đảm bảo sự tồn sinh của các người”.

Khai Quốc vương cử ba ngàn quân và các tướng giỏi đi khua khoắng khắp nơi. Nói rằng chiêu an, nhưng quân đã quen thói hà hiếp dân nên đi đến đâu cũng xảy ra chuyện cướp của, đánh người, hãm hiếp đàn bà con gái. Thành thử lòng dân phẫn uất. Nay muốn thu quân về chống đỡ thì không kịp nữa. Trong thành chỉ còn hơn một ngàn quân, so với năm vạn quân hùm sói của triều đình, khác nào đem trứng mà chọi với đá.

Còn một nhúm tả hữu, vương cho nhóm họp luận bàn. Chẳng ai có cao kiến gì hơn là việc quy phục triều đình, giữ tình hoà hiếu, trọn đạo vua tôi là thượng sách. Trước tình cảnh khốn cùng, dù có tham vọng đến mấy, mưu mô đến mấy cũng đành khoanh tay thúc thủ.

Khai Quốc vương sai người trói mình rồi đem ấn, kiếm cùng chìa khoá bốn cổng thành tới trước kiệu Thái tông xin hàng.

Vua hạ lệnh quan quân vào thành ai dám xâm phạm đến cái tơ cái tóc của dân, hà hiếp dân thì chém. Quân sĩ giữ nghiêm quân lệnh, nhân dân trong thành Trường Yên nô nức kéo nhau ra đứng đầy đường, tung hô vua mới. Lại dắt trâu, bò đem dê lợn cùng rượu dâng biếu để vua khao quân.

Vua vỗ về uý lạo. Cả thành Trường Yên đều thoả dạ thoả lòng.

Vua tuyên chỉ áp giải Khai Quốc vương và liêu thuộc về hết Thăng Long.

Từ Trường Yên về, vua xuống chiếu tha tội chết cho Khai Quốc vương, Đông Chinh vương, Dực Thánh vương, cho khôi phục tước hiệu, nhưng buộc tất cả đều phải ở lại Thăng Long, không được dời đi nơi khác, không được tái lập phủ binh. Lại cho cả mấy người cùng được chịu tang Thái tổ, hằng ngày được phép vào điện Long An túc trực bên linh cữu và dâng cơm, làm lễ chiêu tịch diện. Vua lại dụ: “Tiếc thay, các người không phải không có tài, chỉ vì tự phụ, không chịu nghe lời giáo huấn của tiên đế mà trở nên bất hiếu, bất trung, nêu gương xấu cho thiên hạ. Lại để thiệt cho nước. Nước mất người tài là yếu suy thế nước. Nay các người đang đối mặt với một sự thật là các người thiếu đức vì không gạt bỏ được tham-sân-si. Nếu dám đương đầu với nó một cách kiên cường và thắng được nó, các người vẫn còn cơ hội đem tài ra giúp nước. Các người học Phật, sao không thấm nhời Phật dạy. Các người có nhớ là Phật từng nói: “Nếu con thắng được một người, con là lực sĩ. Nếu con thắng được một trăm người, con là võ sĩ thượng thừa. Nhưng nếu con thắng được chính con, con mới là võ sĩ siêu tuyệt”.

Vậy chớ các người có nhớ nhời Phật dạy ấy chép ở Kinh nào không?

Từ nay, ta trông đợi nơi các người, gắng tu chính cái tâm để có thể thắng được chính mình, để trở thành người hữu dụng cho nước…”

Các vương đều cúi mặt nghe lời dụ. Chẳng biết trong lòng đang xót xa, ân hận để rồi đổi lỗi, hay đang âm mưu một điều gì khác nữa.

Hữu ty dâng sớ nói nhà vua sai xây toà miếu tại bên hữu thành Đại La, phía sau chùa Thánh Thọ trên đất làng Yên Thái, đến nay đã xong, xin nhà vua đến duyệt xét.

Vua đến xem lấy làm hài lòng. Lại cho đòi trung thư thị lang Liêu Gia Trung đến dụ:

- Đền này thờ thần Đồng Cổ. Công của thần lớn lắm, độ trì cho nước vững từ thời Hùng Vương. Lại năm Canh thân, vâng mệnh tiên đế ta đem quân đi đánh Chiêm Thành, qua đền thờ thần ở núi Đan Nê Châu Ái, ta có vào lễ và xin được thần trợ giúp. Đêm thần về báo mộng sẽ giúp cho thắng trận.

Trận ấy, ta thắng lớn, trên đường về ta lại ghé Đan Nê để tạ thần. Ta cũng hứa, khi nào lên ngôi sẽ lập đền thờ. Lại gần đây khi Thái tổ sắp băng, thần cũng báo mộng cho ta hôm sau ba vương làm loạn, sớm trừ đi. Do đó, ta cắt cử các tướng phòng bị trước. Nên khi việc xảy ra là dẹp ngay được. Ta cho khanh hay lai lịch của thần như vậy, để khanh biết mà viết hoành phi, câu đối. Cấm khanh không được tiết lậu thiên cơ. Khanh phải cử ngay người vào đền Đồng Cổ ở Đan Nê mà sao thần phả, rồi rước hèm về thờ tại đây. Hậu cung bày gì hả. Rước một cỗ ngai rồi đặt thần vị của Ngài vào đây. Ngoài ra phải có một chiếc trống đồng đặt trên kỷ sơn son thếp vàng, để tượng trưng cho linh ảnh của thần. Đúng rồi, đặt trống trong hậu cung, ngay phía trước ngai. Tả hữu ban, thờ thần nào hả. Tả ban thờ Thái thượng lão quân. Hữu ban thờ Phật. Khanh còn không biết nước ta theo về tam giáo sao.

Hôm sau, vua lại đến thăm đền Đồng Cổ, xem công việc đã hoàn tất chưa. Trong hậu cung đã lập xong ban thờ đúng như ý vua.

Tả ban, các đạo sĩ trong quán Thái Thanh đang loay hoay đặt tượng Thái thượng Lão quân. Mấy người khác đang hí húi vẽ hình bát quái trước bệ thờ.

Hữu ban đã đặt xong tượng Phật tổ Thích Ca Mâu Ni. Vách khuôn hai bên bệ thờ, các thiền sư đang bàn bạc nên viết câu đối nào cho phù hợp. Vua đi qua thấy sẵn bút mực bèn cầm lấy một cây, viết luôn tám chữ:

Sinh diệt diệt dĩ

Tịch diệt vi lạc

Qua tám chữ, nhà vua muốn chỉ cho thế gian, nếu dứt bỏ được ý niệm về sự sinh diệt, thì sẽ hiểu cõi tịch diệt. Tức là cõi niết bàn.

Các bậc cao tăng, các đạo sĩ đều khen lời văn giản dị, ý tứ cao siêu.

Đúng sáng ngày hai mươi nhăm tháng ba, giờ dần, các quan từ nhất nhị phẩm tới hàng thất bát cửu phẩm, không sót một ai, đều phải có mặt trước sân rồng. Rồi cờ giong trống mở đi về phía đền Đồng Cổ. Dân chúng kinh kỳ thấy lạ, đổ ra xem vua và các quan dẫn bộ về phía đông Long thành.

Dân chúng đều lấy làm lạ, bởi từ thượng cổ chưa có một hội nào, một cuộc lễ rước nào mà đích thân nhà vua đi đầu và tất cả triều quan lục tục theo sau. Chỉ xem áo xiêm, mũ mãng, đai hia cùng nhìn rõ mặt rồng, nhìn tường tận từng viên quan cũng đã làm dân chúng thành Thăng Long thoả chí tò mò. Dân cứ nườm nượp đi theo đoàn rước về tới một ngôi đền thật là khang trang, to đẹp mà trước đó vài tháng chỉ là khu đất trồng rau của chùa Thánh Thọ, khiến mọi người sững sờ, tưởng như một phép lạ.

Khi vua và các quan tới cửa đền liền đi vòng về bên tả, qua một đàn đất mới đắp, cờ xí cắm la liệt quanh đàn. Đi hết một vòng thì đứng dàn thành hàng lối, đội ngũ tề chỉnh. Tất cả gươm, giáo đều treo trước thần vị. Một hoà thượng cùng một đạo sĩ nâng bát huyết pha rượu trắng, lấy từ các con vật hiến tế dâng lên hoàng thượng. Vua uống một ngụm rồi truyền cho tất cả các quan. Uống xong, viên quan chủ tế đọc to lời thề: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần minh giết chết!”[89]. Mọi người hô theo: “Giết chết!” “Giết chết!” “Giết chết!” Lời thề được đọc ba lần. Lời đế vang lên chín lần.

Tiếng “giết chết” lanh lảnh, vang xa. Ai nấy nghe được đều khiếp sợ đến dựng cả tóc gáy.

Lễ uống máu đọc lời thề thiêng trước thần Đồng Cổ, trở thành cuộc lễ hằng năm của triều đình. Những năm sau đó, dân chúng kinh kỳ thấy hay hay, bèn táp vào đó một số trò diễn như tích Mục Liên – Thanh Đề, tích bà Chúa Ba tức Phật Bà, tích Tiểu Kính Tâm cùng một số trò chơi dân dã, nên lễ thề thần Đồng Cổ đã biến thành Hội thề Đồng Cổ, mà phần lễ của triều đình, phần hội là của dân chúng. Có điều tháng ba là tháng có Quốc kỵ, tức là giỗ Lý Thái tổ, nên Hội thề Đồng Cổ chuyển sang ngày mùng bốn tháng tư. Các quan ai vắng mặt trong hội thề phải chịu hình phạt đánh trượng trước sân đền. Ai tái phạm thì cách quan, đuổi về làm thứ dân.

Suốt triều đại nhà Lý kéo dài hai trăm mười lăm năm, tiếp nhà Trần một trăm bảy mươi nhăm năm nữa, hội thề Đồng Cổ vẫn nghiêm giữ, nhưng kẻ làm con bất hiếu, kẻ làm tôi bất trung sao cứ mỗi ngày mỗi nhiều thêm?

Ít bữa nữa tới kỳ bách nhật, triều đình làm lễ an táng Lý Thái tổ, thế là triều Thuận Thiên khép lại, triều Thiên Thành mở ra. Vận hội nước nhà thịnh suy, thăng giáng hãy xem sự điều hành chính sự của vua mới.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 41 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:



Đề tài nổi bật 
1 • [Hiện đại] Chọc nhầm sếp lớn - Phù Sinh Y Thủy

1 ... 11, 12, 13

2 • [Cổ đại] Thịnh sủng - Cống Trà

1 ... 15, 16, 17

3 • [Hiện đại] Ông xã xấu xa anh đừng hư quá - Phong Phiêu Tuyết

1 ... 14, 15, 16

4 • [Hiện đại] Nhân gian hoan hỉ - Tùy Hầu Châu

1 ... 8, 9, 10

5 • [Xuyên không - Dị giới] Tà phượng nghịch thiên - Băng Y Khả Khả

1 ... 43, 44, 45

6 • [Cổ đại] Sổ tay tiến hóa thành yêu hậu - Ninh Dung Huyên

1 ... 7, 8, 9

7 • [Cổ đại - Trùng sinh] Thề không làm thiếp - Lục Quang

1, 2, 3, 4, 5

8 • [Cổ đại - Trùng sinh] Thừa tướng yêu nghiệt sủng thê - Sương Nhiễm Tuyết Y

1 ... 29, 30, 31

9 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 59, 60, 61

10 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 72, 73, 74

11 • [Xuyên không] Cuộc sống điền viên của Tình Nhi - Ngàn Năm Thư Nhất Đồng

1 ... 53, 54, 55

12 • [Xuyên không] Trời sinh một đôi - Đông Thanh Liễu Diệp

1 ... 47, 48, 49

13 • [Xuyên không] Đại thiếu gia ế vợ - Đông Phương Ngọc Như Ý

1 ... 10, 11, 12

14 • [Hiện đại] Đã từng rất yêu anh - Đọc Miễn Phí

1, 2, 3, 4, 5

15 • [Hiện đại - Quân nhân] Hợp đồng quân hôn - Yên Mang

1 ... 37, 38, 39

16 • [Xuyên không - Dị thế] Thiên tài cuồng phi - Băng Y Khả Khả

1 ... 25, 26, 27

17 • [Hiện đại - Trùng sinh] Đêm trước ly hôn - Thiên Sơn Hồng Diệp

1 ... 8, 9, 10

18 • [Hiện đại] Hôn nhân bất ngờ Đoạt được cô vợ nghịch ngợm - Luật Nhi

1 ... 57, 58, 59

19 • [Xuyên không Điền văn] Trọng Sinh Tiểu Địa Chủ - Nhược Nhan (Phần 1)

1 ... 49, 50, 51

20 • [Hiện đại] Chọc vào hào môn Cha đừng động vào mẹ con - Cận Niên

1 ... 37, 38, 39



Shop - Đấu giá: TranGemy vừa đặt giá 305 điểm để mua Bà chúa tuyết
Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 289 điểm để mua Bà chúa tuyết
Shop - Đấu giá: TranGemy vừa đặt giá 374 điểm để mua Bướm Xanh
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 500 điểm để mua Bông tai đá Amethyst
Shop - Đấu giá: V.O vừa đặt giá 474 điểm để mua Bông tai đá Amethyst
Shop - Đấu giá: đêmcôđơn vừa đặt giá 250 điểm để mua Gấu trắng mặc đầm
Shop - Đấu giá: đêmcôđơn vừa đặt giá 265 điểm để mua Hộp thư tình
Shop - Đấu giá: TranGemy vừa đặt giá 594 điểm để mua Nhẫn đá Topaz xanh London 1
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 450 điểm để mua Bông tai đá Amethyst
LogOut Bomb: thuyvu115257 -> ú nu ú nù
Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 340 điểm để mua Garu và Pucca che dù
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 250 điểm để mua Bé trăng
LogOut Bomb: thuyvu115257 -> HauLeHuyenCa
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 342 điểm để mua Harris Spin
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 796 điểm để mua Ngọc đỏ 2
Shop - Đấu giá: salemsmall vừa đặt giá 312 điểm để mua Kẹo mút 4
Shop - Đấu giá: salemsmall vừa đặt giá 339 điểm để mua YoYo khóc nhè
Shop - Đấu giá: salemsmall vừa đặt giá 248 điểm để mua Couple Bear
Shop - Đấu giá: salemsmall vừa đặt giá 244 điểm để mua Nàng tiên cá 2
Shop - Đấu giá: salemsmall vừa đặt giá 236 điểm để mua Giỏ gấu tim
Shop - Đấu giá: salemsmall vừa đặt giá 259 điểm để mua Kẹo trái tim
Shop - Đấu giá: salemsmall vừa đặt giá 226 điểm để mua Kem dâu
Shop - Đấu giá: salemsmall vừa đặt giá 364 điểm để mua Xe buýt tình yêu
Shop - Đấu giá: salemsmall vừa đặt giá 328 điểm để mua Mashimaro học yêu
Shop - Đấu giá: TranGemy vừa đặt giá 278 điểm để mua Cung Song Tử
Shop - Đấu giá: TranGemy vừa đặt giá 316 điểm để mua Sunflower Bed
Shop - Đấu giá: đêmcôđơn vừa đặt giá 300 điểm để mua Sunflower Bed
Shop - Đấu giá: TranGemy vừa đặt giá 433 điểm để mua Lá may mắn
Shop - Đấu giá: TranGemy vừa đặt giá 468 điểm để mua Tách trà xanh
Shop - Đấu giá: TranGemy vừa đặt giá 246 điểm để mua Sunflower Bed

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.