Diễn đàn Lê Quý Đôn
Cấm đăng tin quảng cáo các lớp học, khoá học, hội thảo, tìm học sinh... Các bài quảng cáo sẽ bị xoá.


Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 41 bài ] 

Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải

 
Có bài mới 25.09.2018, 13:01
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XVII

Cứ nghĩ đến việc ngày mai được đi mở phủ hoàng thái tử Lý Đức Chính lòng càng chộn rộn, hết đứng lại ngồi. Chàng nhớ, ba hôm trước, vua cha vời vào điện Long Thuỵ căn dặn lại một lần nữa trước khi lên đường. Vua cha vỗ về: “Ta cho con đi mở phủ riêng, không phải là đày con vào nơi khổ ải. Mà ta muốn con có cơ may được sống chung lẫn với người dân. Bởi mai đây con sẽ thay ta trị vì thiên hạ. Trị vì thiên hạ không phải là đem quyền uy ra bắt toàn dân phải khuôn theo ý mình. Trị vì thiên hạ không có nghĩa rằng chỉ lo đến việc thoả lòng dục của riêng mình rồi đẩy dân chúng vào vòng lầm than. Nếu thế thì đã có tấm gương hoen ố mà Lê Long Đĩnh treo suốt bốn năm ròng để rồi thân, danh đều vùi chôn trong nhơ nhuốc.

Vì vậy người đứng đầu muôn dân không thể không biết dân muốn gì. Nếu muốn biết lòng dân thì phải sống chung lẫn với họ. Đôi khi con còn phải chung lo với họ những công việc nhỏ nhoi, mà kẻ giàu sang cho là hạ tiện. Ấy là miếng cơm manh áo hằng ngày hoặc khi ốm khi đau. Những thứ bé mọn ấy nhiều khi nó làm chìm nghỉm cả một kiếp người. Con nên nhớ, người đứng đầu muôn dân phải có cái hạnh Bồ tát. Vì vậy con không được từ nan bất cứ điều gì mà dân chúng đang cần đến con. Con nên nhớ cha con bây giờ đứng đầu trăm họ, nhưng đã từng là một chú tiểu tăng, bách na chi nô, không thiếu một việc gì ta không làm. Ta nhớ, có những năm trời làm mất mùa, phải vào rừng đào củ mài, lấy bột báng biết bao là gian nan. Hoá nên bây giờ ta biết thương người nghèo đói.

Chẳng nói đâu xa, ngay như đức Lê Hoàn, khi đã được nước rồi, đã phá Tống bình Chiêm, thế nước vững như bàn thạch, uy danh trùm thiên hạ, thế mà mùa cày, mùa gặt ngài vẫn đóng khố đi cày, đi gặt lam lũ với đám nông phu. Chỉ tiếc rằng cha thì thế mà con thì thế. Ấy cũng bởi cái đức của họ Lê mỏng quá. Tưởng con nên lấy để làm gương…”

Vua cha cứ rủ rỉ nói với ta như là một sự khuyên nhủ đối với đứa con yêu, hoặc như với người bạn vong niên mà ông quý; lại như một sự bộc bạch có pha phần lo lắng cho vương nghiệp các đời sau của dòng họ Lý.

Ôi lời cha răn dạy, ắt ta phải ghi sâu vào đáy dạ. Nhưng cứ nghĩ đến cái ngày mai ta được về hương Tam Sơn, được gặp lại Mạnh Minh, người bạn mà ta hằng quý mến thì vui biết mấy. Nhưng ta cũng phải thừa nhận rằng, ta không thể nào xoá được hình ảnh cô gái quẩy hai giỏ lá dâu nặng trĩu ở hai đầu đòn gánh, bước đi nhún nhảy như người chạy gằn, có gương mặt tròn sáng như mặt trăng rằm với đôi mắt bồ câu đen lay láy. Chợt thấy ta, nàng ngơ ngác như một con nai tơ vừa bước ra khỏi nơi rừng rậm, lại có dáng e ấp ngỡ ngàng như một nàng tiên vừa lạc bước xuống trần.

Cái con nai tơ này, cái nàng tiên này đích thị là em gái của Mạnh Minh rồi, nhưng sao bữa ấy ta lại chưa kịp hỏi tên nàng. Anh nàng họ Mai, thôi thì ta cứ tạm cho nàng một cái tên là Mai thị vậy. Ước gì ta đến tuổi nạp phi, ta sẽ xin với phụ vương cho ta đưa nàng về cung. Trong giấc ngủ chập chờn, hoàng tử mơ về Mai thị và chàng cảm như có ai phủ lên thân thể chàng một tấm chăn mỏng nhẹ như khói, mà sao nó dịu êm đến thế. Chàng cảm như tấm chăn kia nâng bổng chàng lên, và cứ thế chàng bay, bay miết vào bầu trời thăm thẳm với triệu triệu ánh sao xanh.

Sớm mùa thu, những tia nắng trong trẻo luồn qua các song cửa vào nhảy nhót trên vầng trán, và đùa giỡn trên cặp má đậm lông tơ, khiến hoàng tử cảm thấy buồn buồn, như có ai mơn man vào da thịt mình. Chàng mở bừng mắt, ngồi nhỏm dậy, tấm chăn lông chim tuột hẳn xuống chân giường, vừa lúc nhũ mẫu bước vào đón lấy. Bà vừa gấp chăn vừa nhìn chàng âu yếm. Nhưng trên gương mặt già nua kia thoáng hiện một nét buồn. Bà biết sớm nay hoàng thái tử cùng những phụ tá của chàng sẽ rời kinh thành đi mở phủ.

Nhũ mẫu tự biết thân phận mình chỉ là một người hầu, nhưng bà vẫn không kìm nén được tâm trạng của người mẹ, sắp phải xa đứa con ngoan mà mình biết bao công sức chăm bẵm nó, từ khi mới lọt lòng. Bà nhớ khi vào hầu trong nhà thân vệ tướng quân điện tiền chỉ huy sứ, ông còn đang coi sóc cấm quân ở Hoa Lư, phu nhân mới mang thai hoàng tử Đức Chính bây giờ được ba tháng. Nhũ mẫu đã từng đẻ tới chín lần, đậu được ba đứa một trai, hai gái. Đứa bé nhất mới tròn một tuổi thì phải để con lại cho chồng, đi nuôi con của thân vệ. Chẳng có ai bức bách cả, nhưng nhà nghèo quá, lại có người mách được vào hầu hạ nhà quan. Vừa có công cao, lại được nương nhờ cửa quyền uy, gia đình, họ mạc nơi hương thôn không còn sợ đám xã quan đè nén nữa. Thế là bà vào nhà thân vệ ẵm bế, tắm rửa và cả cho công tử ấp vú từ khi mới chào đời. Nhớ từ khi được lọt vào cửa quyền quý, nhũ mẫu được ăn uống đủ thứ của ngon vật lạ trên đời, mà khi ở nhà chưa từng được nhìn thấy, nói gì được ăn. Thực tình như cái thứ bà, một con nạ dòng quê mùa ai người ta hơi đâu mà nuôi vỗ cho béo múp đầu đuôi như một con nhộng. Chẳng qua mình cũng chỉ là kiếp con bò sữa mà thôi. Nhưng ngờ đâu từ ngày nuôi ẵm công tử, bù trì bú mớm, dõi theo từng hơi thở, từng bước đi của công tử, tự nhiên trong lòng nhũ mẫu nảy sinh tình cảm của người mẹ. Ấy là tự mình nghĩ thế thôi, chứ vía nhũ mẫu cũng không dám hé môi thổ lộ cùng ai. Nhất khi công tử đã trở thành hoàng thái tử, người kế vị vua cha trị vì thiên hạ. Nhũ mẫu thường phỉ thui, mỗi khi trong lòng chợt nảy cái ý nghĩ về tình mẫu tử đối với chàng hoàng tử này. Cho tới nay, khi sắp phải nhìn thấy hoàng thái tử ruổi ngựa lên đường, thì cái ý nghĩ diệt tộc kia, tức là cái lòng nhớ nhung thương cảm của người mẹ, chợt bùng lên từ đáy lòng bà. Nước mắt bà tự nhiên cứ ứa ra, tấm chăn lông chim tuột khỏi tay rơi xuống đất lúc nào bà cũng không hay nữa.

Thái tử đọc được tình cảm của bà, chàng đứng dậy ôm choàng lấy cổ nhũ mẫu như ngày nào chàng còn năm, sáu tuổi. Chàng nói:

- Nhũ mẫu đừng khóc nữa. Tôi đi mấy ngày lại về với nhũ mẫu thôi mà.

Bà lấy đầu dải thắt lưng chấm nước mắt, hai tay ôm lấy thái tử vỗ về, giọng rưng rưng cảm động:

- Già này chỉ lo mấy ả a hoàn, mấy gã nội nhân không biết cách hầu hạ thái tử. Ước chi thái tử cho già được theo hầu, chăm sóc thái tử từ miếng ăn miếng uống thì già mới thật yên tâm.

Thái tử buông tay khỏi cổ nhũ mẫu, lắc hai bờ vai và nhìn thẳng vào gương mặt dăn deo u buồn của bà, chàng bật cười khanh khách: – Nhũ mẫu cứ coi tôi như trẻ nít mãi ư. Nhũ mẫu chẳng thấy tôi đã từng theo các tướng đi đánh giặc sao. Chàng lại rung rung hai cánh tay bà, tựa như đứa bé làm nũng mẹ. Chợt chàng buông hai tay lùi xa mấy bước, mặt hơi nghiêm, bắt chước giọng người lớn, chàng nói nửa như nũng nịu nửa như răn dọa: – Nhũ mẫu chưa biết phụ vương tôi thường phán bảo mọi người rằng: “Ta sẽ trị tội kẻ nào làm các con ta trở nên yếu đuối”.

Nhũ mẫu sợ quá, vội cúi xuống ôm gọn tấm chăn đi giật lùi ra cửa ngách.

Thái tử cười phá lên, gọi với:

- Nhũ mẫu! Nhũ mẫu, tôi nói đùa đấy, chớ sợ!

Sớm ra, một đoàn các người tuỳ tùng đã tề tựu trước sân điện để rước thái tử đi mở phủ.

Khác với lệ thường, bữa nay hoàng thái tử vận giản dị như một nho sinh nghèo. Áo dài thanh cát, đầu quấn khăn lượt chữ nhân, chân đi hài vải. Các người hầu cũng theo đó mà phục sức kín đáo chứ không tiền hô hậu ủng làm kinh động đến khách qua đường.

Thái tử cỡi con ngựa sắc tía nòi Hồ, to cao có dáng dấp như một con thần mã. Con ngựa này có xoáy lông đen ngay giữa trán, và bốn khoáy nằm cân đối ở hai u vai và hai bên mông. Nó là con ngựa hay nhưng thuần tính. Theo sát thái tử là hai gã thiếu niên hộ vệ ở hai bên tả hữu cỡi hai con ngựa sắc huyền dáng hùng dũng. Đây chính là đám ngựa thu được của giặc man Tống do Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí cùng hai chục vạn binh kéo sang năm trước, bị quân ta tiêu diệt sạch sành sanh. Hai gã hộ vệ này còn trẻ măng, tuổi chừng mười sáu, mười bảy, tinh thông võ nghệ do bên cấm quân gửi theo hầu thái tử đã được gần một năm. Hai chàng đều vận áo quần thợ săn màu chàm. Mỗi chàng đeo một thanh đoản đao bên sườn, một cây cung bắt chéo ngang ngực, và giỏ tên lấp ló phía sau vai.

Dẫn đầu đoàn quân là tướng Lê Phụng Hiểu, một tướng nổi danh khắp toàn cõi từ trước khi hoàng thượng cho vời về kinh sư. Nghe nói Phụng Hiểu là người hương Băng Sơn, châu Ái, có sức khoẻ hơn đời. Khi dân hai làng Băng Sơn[74] và Đàm Xá đánh nhau vì tranh chấp đất ruộng, ông can ngăn không được bèn vươn mình nhổ tre trong bụi làm gậy vung đánh, nhiều người chạy không kịp nên bị thương. Người làng Đàm Xá sợ bỏ chạy. Nay hoàng thượng cho ông theo hầu hoàng thái tử, với mong muốn thái tử hấp thu được tính hùng dũng, tài thao lược của Phụng Hiểu. Lê Phụng Hiểu bữa nay vận quần áo chẽn, may bằng vải thanh cát, đội mũ bình đính bằng da. Ông sử cây đại đao. Phụng Hiểu được hoàng thượng ban cho cái đặc ân là tự chọn trong lũ ngựa hàng vạn con thu được của đám giặc nhà man Tống để lấy một con vừa ý. Tướng quân đã lựa con Nê Thông có màu lông như màu bùn. Nom sắc lông không bắt mắt, nhưng đích thị nó là con ngựa chiến. Dạn lửa, bơi trong nước như đi trên bộ, chạy một mạch thông trăm dặm mà không cần nghỉ ngơi, ăn uống, không toát mồ hôi.

Sau Lê Phụng Hiểu là Lý Nhân Nghĩa, một Chi hậu cục đã hầu hạ hoàng thượng lâu năm. Ông là một người trung hậu, có học thức cao. Lý Nhân Nghĩa là tay chân thân tín của hoàng thượng; được cắt cử theo hầu hoàng thái tử với mong muốn, ngoài việc gần gũi chăm sóc, còn là để giáo hoá hoàng thái tử về mọi mặt kể cả việc giám sát, không cho thái tử làm những điều trái đạo lý, trái pháp luật.

Bữa nay Lý Nhân Nghĩa mặc áo quần theo kiểu nho sinh, ông có dáng người dong dỏng, khuôn mặt thanh tú, vầng trán rộng, đôi mắt sáng, ưa nhìn thẳng. Ông cỡi con ngựa bạch nòi ngựa ré Nước Hai, nhỏ như một con la. Ông ngồi trên lưng ngựa, phía trước phía sau yên cương chất đầy sách.

Đi sau Lý Nhân Nghĩa là Ngô An Ngữ. Ngô An Ngữ, thuộc tướng của quan Điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn dưới triều Lê Long Đĩnh. Ông có gương mặt vuông vức, bước đi mạnh mẽ, oai nghiêm. Có người nói ông còn có tên là Ngô Ích Vệ, là con trai Ngô Xương Xí, một trong mười hai sứ quân đóng tại Bình Kiều ở Châu Ái. Ngô Xương Xí lại là con của Ngô Xương Ngập tức Thiên Sách vương lên nối ngôi cha là Ngô vương Quyền, tức Ngô tiên chúa.

Nếu đúng như vậy thì Ngô An Ngữ là cháu bốn đời của Ngô Quyền, người đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, giết chết tướng giặc là thái tử Lưu Hoằng Tháo, mở ra thời kỳ độc lập, tự chủ của nước nhà sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc.

Trong cuộc tôn lập Lý Công Uẩn lên ngôi, Ngô An Ngữ cũng là người có công lớn. Ông là đô tướng nắm giữ các đô quân hổ bôn canh giữ bốn cổng thành, nghiêm ngặt đến nỗi một cánh chim cũng không lọt ra ngoài được. Vì thế, có nhiều kẻ âm mưu bạo loạn cũng không có cách nào mà trở tay được. Ngô An Ngữ là tướng tâm phúc cũng như các tướng tâm phúc khác của nhà vua, nay cho theo phò hoàng thái tử, đủ biết nhà vua coi trọng người kế nghiệp biết dường nào.

Thái tử dẫn đầu cả đoàn người sang nhà học đường đón quan sư phó. Sư phó chính là thầy đồ Trương Tuấn Minh, một người hay chữ và đức hạnh nổi tiếng khắp cả vùng Luy Lâu, mà hoàng thượng triệu vào cung nhằm giáo huấn cho hoàng thái tử nên người.

Thái tử thân vào trong nhà mời thầy. Hai chàng hộ vệ của thái tử bê hành lý và sách bút của thầy đem ra chất lên chiếc xe song mã, đang chờ thầy trước cửa dinh.

Quan sư phó mặc áo thụng xanh, đội mũ ô sa, vừa bước ra khỏi thềm nhà đã cúi đầu xá mọi người.

Thái tử đi sau thầy học của mình chừng một bước chân, dìu thầy lên xe rồi chàng mới leo lên mình ngựa.

Thái tử cùng với thầy học và tướng quân Lê Phụng Hiểu, nội nhân Lý Nhân Nghĩa qua sông trước. Đoàn tuỳ tùng cùng xe ngựa sang đò sau.

Đang lúc đứng chờ, mọi người cùng quay nhìn về phía kinh thành. Mặt trời đã lên gần tới ngọn cây, đang rắc cơ man những lớp bụi kim nhũ xuống không trung. Bầu trời kinh thành mới lộng lẫy làm sao.

Thái tử chợt nhìn xuống dòng sông. Sông cái mùa này nước cạn, để lộ ra hai bên bờ những ngấn đất phù sa đỏ au. Và dòng nước lúc nào cũng ngầu đục chất chứa mỡ màu. Hai bên bờ sông, rừng cây rậm rạp chạy xô tới cả mép nước. Nhìn dòng sông hẹp, thái tử mơ ước có một cây cầu bắc qua, nhưng chợt nhớ mùa nước nổi, dòng sông mênh mang đuối tầm mắt, nước chảy vun vút như mũi tên lao chẳng cầu nào chịu nổi. Xa kia, phía hạ lưu thấp thoáng mấy lá buồm cánh dơi, đang chậm chạp bơi trong làn sương mờ ảo. Những con thuyền khẳm mạn, chuyên chở sản vật từ mọi miền đất nước về bồi trúc cho Thăng Long.

Thái tử cố kiễng chân để tìm nơi lầu Ngũ Phượng tinh, là lầu cao nhất kinh thành, nhưng nó đã bị chìm khuất trong màu xanh cây lá. Chàng lại đảo mắt về phía hồ Dâm Đàm, nơi quanh năm sương khói cứ ùn ùn bốc lên. Có khi sương mù như quánh đặc lại, đến chim chóc cũng không dám bay qua.

Khi chuyến đò cuối cùng đưa hết người sang sông, cũng là lúc mặt trời đã lên tới đỉnh ngọn tre. Thầy trò, chúa tôi đi mãi tới non chiều mới đến đất Tam Sơn. Thái tử chỉ ngôi chùa nằm chênh vênh bên sườn núi, ẩn hiện dưới bóng đại ngàn, chàng nói với mọi người:

- Để ta lên chùa chào thầy ta, và xin người cho ở đỡ ít ngày trong khi chờ chặt hạ cây que làm nhà mới.

Thái tử sải được vài chục bước chân ngựa thì có mấy người quần áo tề chỉnh, đã chực sẵn ở lối rẽ lên chùa bước ra giữa đường vái:

- Tâu thái tử, chúng thần là hương chức cùng một số bậc cao niên thay mặt cho dân chúng trong hương ấp, nghe tin thái tử về bản hương mở phủ, chúng thần ra đầu ấp cung nghinh, xin thái tử đại xá!

Xã trưởng vừa dứt lời thì có bốn hoàng nam khiêng một án thư trên bày trầu, nước, cùng oản chuối dâng mời.

Thái tử xuống ngựa, đỡ các bô lão và nói với chức dịch:

- Cảm ơn các vị bô lão cùng xã quan, Đức Chính tôi được phụ hoàng cho về hương ấp ta mở phủ, triều đình đã có chỉ dụ không được làm điều gì phiền nhiễu đến chức dịch và dân chúng sở tại, cớ sao chư vị không giúp tôi giữ nghiêm phép nước.

Một bô lão râu tóc bạc phơ vái dài thái tử một vái rồi nói:

- Tâu thái tử, đây là lòng dân. Dân kính đức lớn của quốc vương mà mến yêu thái tử, chứ thực như thời Lê Ngọa triều, quả dân chúng khiếp sợ người của triều đình như một bầy cọp dữ, nghe tiếng binh mã từ xa đã tìm đường lánh ẩn, chớ đâu dám cận kề chiêm bái như bây giờ. Xin thái tử chớ nghiêm quá mà bỏ mất cái tình của dân.

Nghe lời bô lão nói chí tình, tấm lòng trong trắng của thái tử hốt nhiên xúc động, chàng vội nắm lấy tay cụ già vừa lắc lắc vừa nói:

- Đa tạ! Đa tạ!

Trong lúc thái tử còn đang bối rối, chưa biết hành xử thế nào thì Lý Nhân Nghĩa và Ngô An Ngữ đã tới. Nhân Nghĩa bèn đỡ lời:

- Các lão trượng cùng dân trong hương ấp đã có lòng như vậy, xin thái tử đừng khách khí.

Thái tử bèn vẫy mọi người lại uống nước, ăn oản chuối.

Chờ mọi người ăn uống xong, xã trưởng lại đứng ra thưa:

- Xin thái tử tha tội, nghe thái tử về ở với dân, nên dân chúng đã phát quang mấy sào đất, dựng tạm một nếp nhà tranh làm chỗ cho thái tử cùng các vị tuỳ giá nghỉ tạm. Cả đất và nhà chỉ là tạm thời ạ, còn thái tử muốn cắm đất ở đâu, làm nhà như thế nào, xin thái tử chỉ dụ, dân chúng trong vùng hết lòng cung đốn.

Nét mặt thái tử chợt buồn, chàng quay nói với mọi người:

- Phụ hoàng cho ta về đây mở phủ, cốt là để cho ta cảm thông với nỗi vất vả của người nông phu. Nếu như các việc từ phát cây rẫy cỏ, dựng lán dựng nhà, cuốc đất cấy trồng, các vị trưởng lão cùng dân chúng không cho ta làm, thì có nghĩa là ta đã trái mệnh triều đình, và cũng chẳng bao giờ có cơ hội gần dân nữa.

Các vị bô lão cùng xã quan sợ quá, cúi đầu sụp lạy:

- Chúng thần không dám trái mệnh, xin thái tử tha tội.

- Thôi được, các vị trưởng lão cùng bách tính đã có lòng, ta xin mượn căn nhà đó để nghỉ tạm trước khi cất được nhà mới. Nay thì ta xin kiếu để lên chùa chào thầy ta đã. Nói rồi thái tử xăm xăm leo dốc lên đồi.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 25.09.2018, 13:01
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XVIII

Qua một đêm ngủ nơi nhà tạm giữa lô đất rừng mới hạ cây cối, tre lá còn chưa kịp héo, nên mùi đất, mùi lá cây tươi cùng với sương rừng khí núi làm cho lạnh ngắt khiến thái tử trở nên khó ngủ. Chàng cựa mình rồi vùng dậy tới hai ba lần. Thái tử đã thử vận nội công, điều khí đi khắp cơ thể, nhưng cũng chỉ được một lúc rồi khí lạnh lại ngấm dần vào toàn thân.

Chàng tìm ra chỗ đống lửa. Lửa tắt. Than tro tàn nguội. Đã toan gọi mấy đứa tả hữu hộ vệ dậy đốt lửa, nhưng thấy chúng ngủ ngon quá, chàng không nỡ đánh thức.

Trở về chỗ ngủ. Lắng nghe nhịp thở đều đều của mọi người, thái tử để ý thấy mỗi người thở theo một nhịp khác nhau. Thế mà trước đây ta cứ tưởng ai cũng thở như ai. Này nhé, tiếng thở của tướng quân Lê Phụng Hiểu thì trầm, sâu và to như tiếng ngáy; hơi thở của hai đứa dũng nhi thì ngắn mà phập phồng; hơi thở của quan sư phó thì nhẹ và chìm… Có nhẽ tính nết con người cũng biểu hiện ra trong hơi thở chăng.

Chợt đâu đó tiếng gà rừng gáy vang. Một con, hai con, ba, bốn con gáy, rồi tiếng gáy cứ lan toả mãi, khiến rừng cây trở nên xao động. Lát sau tiếng gà im bặt, thái tử có cảm giác như rừng cây đã nuốt hết bầy gà. Nhưng ở đâu đó lại nổi lên tiếng ri rỉ như tiếng trùng ngân nga. Cái âm thanh mảnh nhẹ như sợi tơ trời kia cứ vuốt dài mãi ra, nghe sao da diết như nó sắp cứa vào da thịt, đến là khó chịu. Rồi bỗng tiếng mang tác, tiếng mấy con hoẵng kêu khiến cho tiếng trùng rền rĩ kia mất hẳn. Chợt tiếng hổ gầm, rồi tiếng chân các loài thú chạy rậm rịch, cây lá rung ào ào, thái tử có cảm giác như là động rừng. Động rừng, như nhũ mẫu thường kể, thì sợ lắm, chàng đã toan gọi tướng quân Lê Phụng Hiểu. Nhưng rồi các thứ tiếng gầm gào, rung động kia bỗng im bặt. Không gian lại tĩnh lặng y hệt lúc thái tử mới vào giấc ngủ. Lúc này chàng không cảm thấy cái giá lạnh của rừng đêm quấy rầy nữa. Chàng nghĩ đến công việc của ngày mai. Ôi chao, cứ nghĩ đến việc phải tự mình đi đốn cây dựng nhà, phá rừng lấy đất cấy trồng như những người nông phu lam lũ kia, là cả một chặng đường dài cực nhọc. Mới chỉ có một đêm ngủ ngoài cung điện thôi, nhưng vẫn có kẻ hầu người hạ, vẫn có giường chiếu, chăn đệm thế mà ta đã thấy thấm mệt. Vậy mà người nông phu cha truyền con nối, hết đời này sang đời khác sống trong bần hàn, nhưng lại bị không biết bao nhiêu tầng áp bức từ hương xã đến châu quận, phủ lộ và cả triều đình nữa. Thân phận họ như vậy, nhưng không biết dựa vào ai, không có một ai bênh, che cho họ. Có nhẽ cảm thông từ nỗi niềm bất hạnh đó, vua cha mới cho ta về cái miền quê khuất lấp này mở phủ, cốt là để ta sống gần dân, hiểu được nỗi thống khổ ngàn đời của họ, hoạ may đem lại cho họ được phần nào an vui chăng? Ôi tấm lòng Bồ tát của phụ vương, con quyết không phụ sự kỳ vọng đó của cha. Cứ triền miên trong suy tưởng, thái tử lại chìm sâu vào giấc ngủ muộn. Lúc thái tử thức dậy, mặt trời đã lên cao, mọi người đang hăm hở phát cây. Mấy ả a hoàn, kẻ bê nước nóng, người đem khăn lại cho thái tử rửa mặt, rồi sắp bữa ăn sáng. Họ bê vào một liễn cháo nấu bằng thủ lợn rừng, và một bát nầm sữa hầm củ sen dâng lên thái tử. Mấy a hoàn cứ sợ sệt vì bữa ăn đạm bạc. Thái tử vẫy gọi:

- Bích Hoan, lại đây!

Cô ả có tên Bích Hoan tuổi chừng mười sáu mười bảy tóc búi sau gáy, gương mặt trái xoan, da trắng mịn, môi đỏ mọng như vừa mới tô son, thoăn thoắt chạy vào.

- Tâu, thái tử gọi con ạ.

Thái tử nhìn gương mặt ả hầu gái tươi rói, nhanh nhẹn, khác với khi ở trong cung dưới sự giám sát nghiêm ngặt của các trung quan, ả nào ả ấy mặt mũi lúc nào cũng trang nghiêm buồn tẻ. Cứ như việc chúng vào cung là bị ép buộc, là cực khổ lắm. Chàng thấy điều này hơi lạ, muốn hỏi lại cho rõ ngọn ngành xem có phải chúng bị ép vào cung không. Thế là chàng quên khuấy việc gọi ả đến làm gì.

Bích Hoan cứ đứng chờ thái tử sai khiến, còn thái tử lại cứ nhìn Bích Hoan với vẻ chăm chú, và ngạc nhiên nữa.

Một lát, Bích Hoan cảm thấy ngượng, mặt hơi đỏ, cúi xuống nói nhỏ:

- Thái tử có việc gì sai bảo con ạ?

Chợt nhớ, thái tử liền chỉ vào âu cháo và bát thịt hỏi:

- Các người cho ta ăn cái gì lạ thế này?

- Dạ tâu thái tử, đêm qua lợn rừng về phá nương khoai, dân trong hương ấp bẫy được một con, sớm nay họ khiêng đến, nói rằng để biếu thái tử.

Nội thị sai chúng con đem chiếc thủ cấp của con lợn rừng này nấu cháo dâng thái tử, còn chiếc nầm sữa thì hầm ngó sen. Người bảo thái tử ăn những thứ này bổ lắm.

Thái tử cười vui. Bích Hoan lấy bát múc cháo từ âu ra đưa mời thái tử. Chàng ăn ngon lành cả hai món đồ ăn, mà ở trong cung chưa bao giờ được thấy. Chàng bèn hỏi:

- Này a hoàn, sao ở trong cung, ta không được ăn những thứ này?

- Tâu, nội hoả thực cho những thứ này là thức ăn hạ tiện, nên không cho vào thực đơn.

- Vậy thời nghe ta nói đây: – Từ nay cứ cho ta ăn các loại thức ăn của người hạ tiện.

Ăn xong, thái tử vươn vai đứng dậy rồi lao ra khỏi nhà. Chàng thấy cây cối mới bị chặt hạ nằm ngổn ngang. Chắc là chúng mới bị đốn từ sáng, bởi chiều tối qua tới đây, rừng cây còn ở sát căn nhà. Thấy một cây lớn vừa đổ, cành gãy răng rắc, chàng nhìn về phía đó thấy tướng quân Lê Phụng Hiểu vừa băng lên, giơ dao chém phập vào một thân cây khác. Loáng cái, chàng chưa kịp đếm xem Phụng Hiểu chặt được mấy nhát thì cây đã lại đổ. Cứ thế, Phụng Hiểu cứ phăng phăng như một con voi chiến đi mở đường, cây lớn cây nhỏ ào ào đổ dưới chân ông.

Góc rừng phía xa, Ngô An Ngữ và đám lính hộ vệ cũng đang ra sức chặt hạ cây cối. Mấy ả a hoàn xăng xái lúc thì đem nước uống cho mấy người ở chỗ này, lúc đem khoai luộc, thuốc lào cho đám người ở chỗ kia.

Thái tử sau một hồi đi lại và nhòm ngó mọi người làm việc, chàng cũng cầm lấy một cây dao trường, xăm xăm nhảy vào rừng phát, chặt. Hạ được chừng ba cây thân to bằng bắp đùi thì thái tử toát hết mồ hôi. Lúc đầu chàng bỏ áo choàng gấm, được một lát lại cởi áo đoạn chần bông. Lúc này chàng chỉ còn vận độc chiếc áo cánh lụa mỡ gà hai cánh tay xắn cao tới nách, và chiếc quần dài xắn móng lợn. Mồ hôi ra ướt đầm áo, hằn lên hai bắp thịt nơi bờ vai và tấm lưng trắng phau. Mồ hôi làm bết cả lọn tóc mai, lấm tấm trên vầng trán cao và chảy dài hai bên má. Thái tử mê mải làm việc như một tay thợ sơn tràng. Chàng có biết đâu, dân làng đang lấp ló đứng xem chàng hoàng tử của mình đi mở phủ như thế nào. Chàng có chăm chỉ làm việc không, hay chỉ ngó qua, rồi lại mất hút vào trong rừng với một nàng công chúa nào đấy. Còn công việc thì dồn trút cho một bầy hổ, báo dưới sự sai bảo của một bà tiên trong những chuyện cổ tích xa xưa.

Nhưng không, hoàng tử của dân làng là một người lam làm. Cứ xem cung cách chàng vung tay dao chém phập vào thân cây rất mạnh, nhưng lại không nhấc được lưỡi dao ra ngay, đủ biết chàng làm các việc này chưa quen. Nhưng kìa, bộ quần áo lụa của chàng đã sũng mồ hôi, ướt đầm như người đi dưới mưa. Cơ thể chàng đã hiện rõ, tròn lẳn, trắng phau. Chàng đưa cánh tay lên quệt mồ hôi đang chảy ròng ròng xuống mắt.

- Thái tử! Thái tử để đấy dân làng làm cho! Bỗng ai đó nói to lên như vậy. Rồi từ bốn phía, dân làng ùa vào vây quanh thái tử.

Chàng ngừng tay dao, ngẩng nhìn mọi người. Đôi mắt chàng lấp lánh toả sáng trên gương mặt đẹp như một tiên đồng. Cặp môi chàng đỏ mọng như môi con gái. Chợt nhìn bộ áo quần ướt đầm đìa, chàng tỏ vẻ lúng túng vì ngượng. Trong đám đông dân làng tay dao tay búa tới giúp chàng đốn cây, hoàng tử chợt nhận ra anh em Mạnh Minh. Chàng vội bỏ cây dao chạy ra nắm lấy tay bạn và luôn nói: “Quý hữu! Quý hữu!”. Đoạn thái tử quay ra nói với mọi người:

- Thưa các trưởng lão! Thưa dân làng, xin các trưởng lão cùng dân làng coi tôi như một người dân mới nhập cư. Sự giúp đỡ của dân làng với chúng tôi như thế là đủ rồi. Các trưởng lão và bà con cứ về, nhà nào làm việc nhà ấy. Công việc khẩn đất của chúng tôi không thể làm ngày một ngày hai mà xong được.

Một vị trưởng lão bước ra, chắp tay vái hoàng thái tử hai vái rồi nói:

- Thưa thái tử, tục dân chúng tôi ở đây, là hễ một nhà trong làng có việc, thì cả làng tới giúp. Từ việc hiếu, việc hỷ đến việc làm nhà, khẩn đất, không sót một việc gì là chúng tôi không giúp nhau. Nó là sự đồng lần thôi thưa thái tử. Ông già vuốt chòm râu bạc cười khà khà, lại tiếp: – Vả lại, thái tử đã coi mình như một người mới nhập cư, thì dân làng cũng coi thái tử như người thân hữu trong làng xóm, trong họ mạc. Vậy thì cái tình tắt lửa tối đèn có nhau, phải giúp nhau cũng là cái nghĩa lân bang nữa thái tử ạ. Nay mai trong làng, nhà nào có việc, thái tử lại đến giúp, lo gì.

Thái tử Đức Chính thấy nhen lên trong lòng một niềm vui khó tả. Chàng tự nghĩ: Vua cha bảo ta về thôn ấp để có lòng cảm thông và yêu thương họ – những người nông phu lam lũ. Trong khi ta chưa kịp yêu thương họ, thì họ đã chân thành giúp đỡ ta. Có đúng là họ chân thành hay họ định cầu cạnh gì nơi ta. Không, họ không nhờ vả gì ta đâu. Nghĩ về họ như vậy, thì thật là xấu hổ. Rõ ràng ta thấy họ coi ta y hệt con em họ, chứ chẳng có gì là trục lợi, là cầu cạnh. Họ không giống chút nào những bộ mặt các quan lớn quan bé ở trong triều. Cấp dưới đối với cấp trên thì xun xoe, khúm núm. Nhờ cậy ai việc gì thì quà cáp, biếu xén. Nói năng thì xu nịnh, bợ đỡ. Cứ nhìn cách họ cư xử với nhau, đủ biết họ đã giả dối một cách thành thật đến mức nào. Trái lại, khi người dân có việc đến công đường thì họ hống hách, quát nạt. Còn ở cái hương ấp này, từ người trẻ đến người già, ta đều thấy họ đôn hậu, chất phác, nghĩ sao nói vậy.

Được, để xem nhận xét của ta về họ có đúng không. Bởi ta còn phải ở đây chí ít cũng một vài năm. Mà như nhũ mẫu thường nói với ta:

Thức lâu mới biết đêm dài

Ở lâu mới biết rằng người có nhân.

Thái tử không làm sao từ chối được lòng tốt của dân làng. Và thế là mọi người vui vẻ cùng nhau làm việc.

Thái tử chưa bao giờ thấy cuộc sống lại đáng yêu như lúc này. Mọi người sống chan hoà. Sáng sớm đã lao vào rừng đốn hạ cây cối. Trưa, quây quần bên mấy nồi cơm to như những chiếc thúng. Thức ăn do mấy người thiện xạ vào rừng sâu săn bắn từ buổi đêm, còn ban ngày lại có một lũ người xuống suối bắt cá, mò cua. Được gì ăn nấy. Có hôm được con nai, con hoẵng, có hôm chẳng được con gì lại trở về với canh măng, rau ngót.

Vài bữa đầu, mấy a hoàn, mấy viên nội hầu còn ép thái tử phải ăn riêng, thức ăn do họ tự đi mua về chế biến. Nhưng cái không khí hợp quần với cộng đồng như một thứ men say quyến rũ khiến thái tử cảm như mình bị lạc lõng, mỗi khi chui vào lều lán, nhấm nháp một thứ thức ăn riêng với vài người hầu hạ quen thuộc. Trong khi đó, ở ngoài kia, hàng mấy chục người vừa ăn uống vừa trò chuyện vui đùa thật là thoải mái.

Nghỉ trưa trong căn nhà tạm, nghe rõ tiếng nói, cười oang oang của tướng quân Lê Phụng Hiểu. Giọng nói của tướng quân trầm nặng và vang xa như tiếng cồng. Giọng của tướng quân An Ngữ lại rất đanh. Còn giọng của Mạnh Minh hơi khàn khàn chưa vỡ tiếng. Giọng của Mai thị, tiểu muội của Mạnh Minh thì dù thái tử có nín thở cũng không nghe thấy. Nàng rất kín đáo, nhỏ nhẹ. Nhớ bữa bất chợt gặp nàng đi hái dâu về, ta còn nom rõ cả khuôn mặt. Nhưng từ ngày ta về đây mở phủ, Mai thị theo anh trai và dân làng ra làm giúp, ta lại không nhìn rõ mặt nàng. Là bởi nàng chít chéo một vuông khăn che gần hết khuôn mặt, chỉ còn nom rõ hai đốm mắt và phía trên đôi lưỡng quyền.

Thái tử nhắm nghiền đôi mắt, nhưng đầu óc hoàn toàn tỉnh thức, yên lặng lắng nghe động tĩnh từ phía ngoài. Và chàng cố hình dung ra gương mặt, ánh mắt và nụ cười của Mai thị. Và nữa hai gã thiếu niên hộ vệ thái tử vẫn thay nhau đi quanh căn lán dùng làm nơi ở tạm của chàng. Nghe những bước chân của hai gã trai đi êm nhẹ như chân mèo bước trên một tấm thảm nhung. Họ đi ngược chiều nhau, thái tử hình dung rất rõ bước chân của mỗi người. Như anh chàng có tên là Cam, gương mặt tròn xoe, môi đỏ, tóc rậm mà cứng như rễ tre, mỗi khi gã ta nói hoặc cười đôi má lúm rõ hai đồng tiền, nom đến là duyên. Chân tay rắn chắc như cây gậy sắt, thường sử đoản đao. Mũi đao y phóng vào gỗ ngập sâu cả đốt ngón tay. Các tiêu điểm vạch sẵn, đứng xa từ mười lăm đến hai mươi bước chân, y phóng không sai một ly. Con người như thế mà tiếng nói lại nhỏ nhẹ, ăn uống từ tốn, khác hẳn với lúc y lăm lăm võ khí trong tay xông vào công kích đối phương, nom y dữ tợn như một con sư tử đang vồ mồi. Và bước chân y, êm nhẹ như lướt trên không khí, bởi không nghe thấy tiếng động mà chỉ nghe thấy tiếng gió hút. Ngược lại với Cam là anh chàng Bứa. Bứa người hơi thô. Chân tay mập, cơ bắp nổi cuộn lên, vai u. Mắt to, lông mày lưỡi mác hơi xếch, tóc dựng đứng. Bứa thường sử dụng một chiếc giáo và một cây cung. Mũi giáo được làm bằng một thứ thép tôi già, nước thép sáng xanh. Còn cây cung cánh gỗ cứng có sức căng đến hàng trăm cân. Bứa có tài bắn cung, khó ai bì kịp. Về mùa chim di trú, sâm cầm, thiên nga bay giăng từng đàn rợp trời. Chim bay cao gần đuối tầm mắt, Bứa giơ cung lên nói bắn con thứ mấy trong hàng, và tên bay đi một loáng thì y như rằng con chim đó rơi trước sự thán phục của mọi người. Về lai lịch hai gã thiếu niên hộ vệ: Cam họ Nguyễn, người hương Cổ Pháp, cha gã là đô trưởng đô tuỳ long, một tay võ nghệ cao cường, thường theo hộ giá nhà vua. Còn Bứa họ Đặng, người Man, lộ Đà Giang, cha y bắn ná thuộc loại “bách bộ xuyên dương”[75], hiện đang giữ chức tổng quản, coi việc quân trong lộ.

Hai gã thiếu niên này đều con nhà nòi, được cha chúng rèn rũa từ bốn, năm tuổi, tới mười tuổi được tuyển vào đội tiểu hoàng môn chuyên học các ban đao, thương, cung, ná, quyền, cước tức là thập bát ban võ nghệ, không thiếu một môn nào không được học tới mức tinh thông. Triều đình nuôi dạy đám thiếu niên này trở thành các cao thủ võ nghệ, sau ra làm tướng. Gã nào tỏ ra xuất chúng, lại có tư chất trung thành, mẫn cán thì giữ lại sung vào các đội hổ bôn để phò giá, số còn lại chia về cho các lộ, trấn, dần dần cất nhắc.

Được chọn vào hầu và hộ vệ thái tử, hai gã thiếu niên đã sớm tỏ lộ lòng trung thành, tận tuỵ. Không có gì để thái tử phải phàn nàn về công việc của Cam và Bứa. Chỉ đôi khi thái tử thấy khó chịu, ấy là những lúc chàng lại gần đám con gái, nhất là tới chỗ Mai thị, xem các nàng chặt cành, phát lá thì mấy đứa hộ vệ cứ cặp kè khiến các nàng vừa ngượng, vừa sợ sệt nữa.

Nghe như ngoài kia đã có tiếng rìu bổ phầm phập, tiếng cây đổ rào rào, mọi người lại đã làm việc rồi. Thái tử trở mình toan dậy, tấm chăn tuột khỏi bờ vai, hai a hoàn đang lấp ló ở đâu đó vội chạy vào kéo chăn. Thái tử vùng dậy, tấm chăn rơi xuống chân giường. Hai a hoàn tươi cười nói:

- Bẩm thái tử có ngủ nữa không ạ?

Lý Phật Mã mỉm cười đáp:

- Các người cứ để cho ta được tự nhiên, không phải canh gác vòng trong vòng ngoài như canh giữ một tên trọng phạm. Ta về đây là để làm nhà, vỡ đất, nếu ta không được làm lụng thì còn về đây làm gì. Nhìn thẳng vào mắt các a hoàn, thái tử nẹt:

- Nếu phụ hoàng ta biết các người đang biến ta thành một kẻ lười nhác, thì các người mất đầu đó.

Hai ả a hoàn vội rụt cổ lại cười rúc rích. Thái tử vội xỏ chân vào hia lao vút ra nơi người ta đang làm việc nhốn nháo. Hai vệ sĩ băng theo như hai mũi tên vừa bứt khỏi dây cung.

Thái tử chạy về phía các tướng Lê Phụng Hiểu, Ngô An Ngữ cùng đám quân tuỳ tòng đang đốn ngã cây cối ầm ầm khiến thái tử cảm thấy như có một đàn voi rừng đang tàn phá hết sức hung hãn. Máu nóng bốc lên mặt, thái tử giằng lấy cây rìu từ tay một viên đô tướng, chàng xông vào chặt một thân cây to tới hai người ôm không xuể. Những nhát rìu chàng bổ xuống chắc nịch, dăm gỗ bay ra tới tấp. Nhưng đó là phần rác gỗ, vào sâu tới một phần ba thân cây thì mỗi nhát rìu của thái tử bổ vào thân cây, phát ra những tiếng kêu bong bong nặng trịch, như lưỡi rìu đang chém vào đá. Thái tử không ngờ mình đang chặt phải một cây gỗ cứng như sắt. Lê Phụng Hiểu từ lâu đã liếc xéo thấy thái tử chặt rất hăng, nhưng sao mãi không hạ được cho cây đổ, ông bèn chạy lại, nắm lấy cổ tay thái tử và ra hiệu cho chàng dừng lại.

Lấy tay áo quệt những dòng mồ hôi đang từ trán chảy tràn xuống mắt, xuống mặt, thái tử nói:

- Gỗ rắn như đá. Sao lại có thứ gỗ chắc làm vậy tướng quân?

Lê Phụng Hiểu cười thân mật: – Đó là loại gỗ thuộc hàng tứ thiết, rắn như sắt, thái tử chưa biết sao?

- Chưa! Ta sao biết được. Tứ thiết là những loài nào, thái tử hỏi.

- Đó là bốn loài: đinh, lim, sến, táu. Cây thái tử đang chặt đó là cây lim già. Chúng thần đã chừa ra không chặt. Để dùng nó vào việc lấy bóng mát. Cây cao, tán rộng, vừa che được nắng dãi, vừa thoáng, không làm cho các loài cây trồng khác bị cớm. Tiếc quá, thái tử lại chặt hạ nó.

- Ta không chặt nữa, cứ để thế kia nó có sống được không?

Lê Phụng Hiểu bước qua xem xét rồi lắc đầu. – Không được, thái tử đã chặt đứt hết vỏ ở quanh thân cây rồi. Để thần cho nó nằm xuống. Vừa nói xong, Phụng Hiểu liền vung búa chém tiếp vào nơi thái tử đang chặt dở dang. Loáng cái, Phụng Hiểu đã hô mọi người tránh xa để ông cho cây đổ.

Thái tử lè lưỡi lắc đầu:

- Khiếp thật! Tướng quân dũng mãnh quá. Ta chặt mãi vẫn cứ như người gãi ghẻ; thế mà tướng quân ra tay, có nhẽ chỉ bằng thời gian hút xong một điếu thuốc lào, cây lim to thế kia đã đổ gục. Đúng là “nhất nhân địch vạn”.

Bỗng gương mặt thái tử rạng rỡ hẳn lên. Như vừa chợt nảy ra một ý gì ở trong đầu, chàng nói như reo: – Để ta tâu với phụ hoàng cho tướng quân về triều, làm việc gì chứ ở đây đi chặt cây chặt que thế này vừa phí tài, vừa phí sức.

Lê Phụng Hiểu thầm biết ơn, ông mỉm cười đáp:

- Thái tử tưởng thần đi thế này là đi chơi sao. Thần có trọng trách phải hộ vệ thái tử. Dăm bữa nửa tháng dựng xong nhà cửa vườn tược, thần còn phải lo việc hầu giảng thái tử về đường võ nghệ.

Rồi quan sư phó hầu giảng thái tử về đường văn bài. Lại nữa, gần Tam bảo đây có cao tăng, thái tử phải lui tới nghe giảng về Thiền học nữa chứ. Các việc ấy, hoàng thượng răn dặn thần kỹ lắm.

- Những điều đó, ta cũng được phụ hoàng răn dạy, đâu dám sao nhãng.

Thái tử không đủ sức theo mấy đô tướng kiệt xuất như Phụng Hiểu, An Ngữ, chàng liền nhập vào với đám trai làng. Nơi ấy có anh em nhà họ Mai.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 25.09.2018, 13:02
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XIX

Chùa Cảm Ứng hương Tam Sơn có thiền sư Định Hương trưởng lão trụ trì đã nổi tiếng từ lâu.

Định Hương vốn dòng họ Lã, hương Chu Minh, có căn tu, nên xuất gia từ nhỏ, theo học đạo với thiền sư Đa Bảo hơn hai mươi năm.

Đa Bảo là một cao tăng, nên tăng chúng xin đến thụ giới với sư nhiều vô kể. Nhưng không phải ai cũng được chấp nhận để thầy trao truyền tâm ấn. Thường là phải qua cuộc vấn đáp về các yếu chỉ của Thiền tông. Các cuộc vấn đáp này tuỳ thuộc vào cơ duyên, nghiệp quả của người học đạo. Có người ở tới cả chục năm, vẫn chưa được thầy Đa Bảo hỏi đến. Hẳn nhiên trong quá trình tu tập, ngài Đa Bảo thường quan sát trong đám thiền sinh, các mặt mạnh, yếu của họ đều được bộc lộ, qua đó xét ai là người xuất sắc mới được tuyển vào hàng đệ tử. Việc này đối với nhà Thiền là tối hệ trọng; bởi sự nghiệp kế tổ truyền đăng có được trường cửu hay không, thảy đều lệ thuộc vào đạo hạnh và trí huệ khai ngộ của thiền giả. Định Hương có hạnh Bồ tát từ khi còn là một thiền sinh. Cái học của ngài không phải ở chỗ trì tụng mê mải, cũng không phải học cho thuộc lòng nhiều kinh sách, hoặc giả giải đáp được nhiều các điển chương. Chính là thầy Định Hương mong dò tìm được sự nông sâu của nội điển, hiểu cho được cái rốt ráo của đạo Thiền. Và tìm cho đến cội nguồn của giải thoát của chân tâm. Và giải thoát để làm gì? Giải thoát cho riêng mình ư? Nếu vậy, sẽ là đạo của những kẻ tư kỷ, không có một chút Phật tính nào. Vì rằng, đạo Phật là đạo giúp người ta tự giải thoát, và giải thoát cho tất thảy chúng sinh. Cao hơn nữa là giải thoát cho cả muôn loài.

Đào sâu mãi vào giải thoát và chân tâm, một hôm Định Hương thấy thầy Đa Bảo đi qua, liền hỏi:

- Làm sao thấy được chân tâm?

Thiền sư Đa Bảo đáp liền:

- Chính ngươi phải tự tìm cho thấy nó ở trong ngươi.

Định Hương bừng tỉnh ngộ, liền nói:

- Tất cả đều như thế, đâu phải chỉ riêng đệ tử.

Đa Bảo lại hỏi:

- Ngươi đã hiểu chưa?

Đáp:

- Đệ tử hiểu rồi, nhưng cũng tựa như là chưa hiểu vậy.

Đa Bảo tiếp:

- Phải lấy tâm ấy mà bảo nhậm.

Định Hương bèn ôm tai đứng quay lại.

Đa Bảo liền quát:

- Đi đi!

Định Hương sụp xuống lạy tạ.

Đa Bảo lại nói:

- Về sau giao tiếp với người, ngươi phải làm như kẻ điếc.

Định Hương là đệ tử xuất sắc nhất của thiền sư Đa Bảo. Vì vậy đại lão hoà thượng Đa Bảo đã trao truyền tâm ấn cho.

Từ khi về mở phủ tại hương Tam Sơn, thái tử Lý Phật Mã cùng các tuỳ tòng đều năng lui tới chùa. Việc lui tới chùa cũng có nhiều nhẽ. Cái thứ nhất là sự ngưỡng mộ của thái tử đối với thiền sư Định Hương từ khi thái tử còn là một công tử, con quan điện tiền, học với thiền sư Cứu Chỉ cũng là đệ tử của thiền sư Đa Bảo. Tới nay, Định Hương đã là một cao tăng nổi tiếng khắp nước. Cái nhẽ thứ hai, ngài là đệ tử chân truyền của đại lão thiền sư Đa Bảo. Mà thiền sư Đa Bảo lại được vua Thuận Thiên sùng ngưỡng, tôn kính như bậc thầy của mình vậy. Nhẽ thứ ba là thái tử có lòng mộ Phật, nên thường rất siêng năng học tập, cũng như muốn bàn rộng ra tới chỗ rốt ráo của kinh điển. Dù thông minh đến mấy, thì với sức tri và sức hành của một chàng trai mười lăm tuổi, làm sao đủ lực leo tìm trong chốn rừng thiền đại ngàn kia. Chính vì lẽ đó mà thái tử năng lui tới chùa Tam Sơn để được tham vấn thiền sư.

Chùa Tam Sơn toạ lạc trên một ngọn đồi um tùm cây cối, được ba ngọn núi mọc như hình một cánh cung. Chùa tựa lưng vào ngọn núi ở chính giữa có đỉnh cao nhất, và nhô ra như một chiếc tán lá che cho ngôi chùa, hai ngọn núi vòng như hai cánh tay ngai ở hai bên tả hữu, rõ ra cái thế nâng đỡ, phù trợ. Chùa hướng nam, nhìn ra một dòng sông. Xa trông ngôi chùa tựa như một viên ngọc, được ngậm trong cái họng rồng khổng lồ, mà đầu rồng chính là dãy núi Tam Sơn kia.

Người xưa rất kỹ tính trong việc chọn thế đất, để tạo lập những công trình vĩnh cửu. Vả lại, với vẻ khiêm nhường của dòng giống Đại Việt, những công trình dù lớn đến đâu, cũng nằm ẩn giấu dưới các tán cây cổ thụ, khiến ta có cảm giác, con người và thiên nhiên ở đây sống trộn lẫn một cách hài hoà. Con người tựa vào thiên nhiên. Thiên nhiên nhờ có bàn tay con người điểm xuyết, trở nên một thứ thiên nhiên hữu tình.

Ngôi chùa kiến tạo theo hình chữ tam, tức là ba nếp nhà ngói song song. Ngoài cùng là nhà đại bái, ngôi thứ hai thờ các tượng Phật từ Giáo chủ Thích Ca Mâu Ni tới các đệ tử của ngài như An-nan, Ca-diếp, Văn Thù, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí… Ngôi trong cùng là thượng điện thờ A-di-đà tam tôn. Ba pho tượng thếp bằng vàng ròng nom uy nghi đường bệ, và như lúc nào cũng toả hào quang. Quý nhất trong ngôi chùa là tượng Cửu Long với đức Phật vừa đản sinh, có chín con rồng đang phun nước tắm cho ngài; đây là một kiệt tác về nghệ thuật đúc, nghệ thuật chạm, khắc vàng.

Nghe nói ngôi chùa này vừa xây cất xong, tới khi sắp khánh thành thì có khách từ kinh đô về thăm, họ thấy mấy hiệp thợ đang hối hả soi, chạm nhóm tượng Cửu Long bằng gỗ mít. Kể ra gỗ lõi mít lại được những tay thợ giỏi nghề tạo tác, rồi mạ thếp vàng son lên cũng đã là đẹp, là quý rồi. Thế nhưng mấy người khách không nghĩ thế, họ tìm đến viên quan bản hạt, xin được cung hiến mười cân vàng ròng để làm tượng Cửu Long. Làm việc Phật không ai nỡ từ chối, kể cả nhà cầm quyền. Thế là viên tri phủ sự phải phái về một đô quân để trông coi việc làm tượng. Và ngay lập tức, những người thợ đúc giỏi nhất làng Dương Bái được triệu về Tam Sơn. Tiếp đó là các thợ chạm vàng giỏi nhất kinh kỳ, cũng được mời về làm việc hối hả suốt ba tháng ròng.

Vì vậy chùa Tam Sơn phải lui ngày khánh thành lại tới gần bốn tháng.

Vậy những người khách hiến vàng kia là ai. Đó là nhà triệu phú Phương Kim, chuyên bán bạc nén, làm chủ cả một phường Hàng Bạc; nhà Lương Ích Đường vừa là thầy lang nổi tiếng đất kinh kỳ, vừa là nhà thuốc lớn nhất chợ Cầu Đông; đó còn là nhà Hưng Long, người Triều Châu, đất Mân bên Tàu, một nhà buôn đồ gốm sứ lớn nhất phố khách. Ba nhà này gom nhau công đức đủ mười cân vàng nén.

Thợ làm tượng vàng dưới sự giám sát vòng trong vòng ngoài của những người lính, lúc nào mắt cũng tỉnh như sáo.

Những người thợ không cho đấy là một sự phiền phức hay xúc phạm họ. Trái lại, họ yên tâm không sợ kẻ gian đến trộm cướp. Thật ra những việc làm thiêng liêng như thế này, không cần phải ai canh gác, bảo vệ. Vì rằng những người thợ đúc tượng Phật, chạm trổ hoa lá, móng vuốt rồng, chỉ cầu mong làm đẹp, tiền công còn chẳng dám lấy, ai nghĩ đến việc tắt mắt. Và họ thận trọng thu gom từng mảy bụi vàng, từ li ti phoi chạm để cho vào lò nấu đồng, đúc chuông.

Cũng có thể có kẻ gian rình mò trộm cắp, nhưng khi đã đúc thành tượng, đã có cao tăng yểm tâm rồi thì không một kẻ trộm nào dám động đến.

Thuở ấy, con người còn biết sợ thần linh, còn tin vào sự ân oán nhân quả. Bởi vậy, nhiều chùa có tượng vàng, tượng ngọc và các đồ thờ quý giá, cổng chùa mở suốt ngày đêm, kẻ trộm không bao giờ dám bén mảng, tơ hào.

Lại nữa, pháp luật cũng nghiêm lắm. Kẻ nào lấy trộm đồ thờ nơi chùa quán, miếu đền, bắt được quả tang, không những phải nộp lại vật đã lấy cắp, mà còn phải nộp một khoản tiền phạt gấp đôi giá trị món đồ, và lĩnh án tới mười năm lưu đày viễn châu, tức là phải tới nơi rừng thiêng, nước độc ở các tỉnh xa xôi miền biên viễn. Với kẻ lấy cắp tượng Phật, tượng thánh, tội rất nặng, ngang với tội cướp của, giết người. Ngoài kẻ trộm tượng bị lãnh án tử hình, thì cha mẹ, vợ con y cũng lãnh án đày vĩnh viễn đi các vùng biên tái ma thiêng, nước độc.

Ngoài ba ngôi điện thờ Phật, còn có nhà phương trượng, nhà tham vấn, mỗi ngôi năm gian quay về hướng tây; hai mươi bảy gian làm thành một dãy dài không có cửa, quay về hướng đông, dành làm nơi cho khách hành hương hoặc khách thập phương về dự hội chùa hằng năm cần nghỉ lại.

Sau dãy nhà hai mươi bảy gian còn có hai ngôi nhà, mỗi ngôi bảy gian, một ngôi dành cho sư tăng thường trụ, một ngôi dành cho thiền khách vãng lai.

Ngoài vườn tháp có bảy ngôi tháp đá, chôn cất xá lị của các vị thiền sư đã trụ và tịch diệt tại chùa này. Ngôi tháp ba tầng cao nhất kia là tháp tổ, chính là xá lị của thiền sư khai cơ.

Trước tháp dựng tấm bia, ghi bài kệ của thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng là tổ của dòng thiền Vô Ngôn Thông[76].

Nhất thiết chư pháp

Giai tòng tâm sinh

Tâm vô sở sinh

Pháp vô sở trụ

Nhược đạt tâm địa

Sở tác vô ngại

Phi ngộ thượng căn

Thận vật khinh hứa.[77]

Chùa không có hàng rào bao quanh mà lẩn dưới tán cây rừng và cây trồng lâu đời như lim, sến, giẻ, tùng, bách hoàng anh… Xung quanh chùa trồng đủ các loại cây cho hoa thơm như ngọc lan, hoàng lan… Đường thập đạo trước sân chùa trồng cau ở hai bên vệ đường. Đường rộng, kiệu bốn đòn khiêng đi lại, quay trở không va vướng. Khoảng cách giữa hai cây cau lại xen các giống cây đỗ quyên đỏ, đỗ quyên vàng, đỗ quyên trắng, rồi đến các loại hồng trà, bạch trà, hồng mai, hoàng mai, bạch mai, ngọc bút, ngâu, mộc, mẫu đơn đỏ, mẫu đơn trắng, mẫu đơn vàng. Bởi vậy, mùa nào trong vườn chùa cũng có hoa thơm. Đi về bất cứ hướng nẻo nào quanh ngọn đồi này cũng phảng phất mùi hương thơm. Đó là mùi thơm của các loài hoa, quyện với mùi mật của hàng trăm đõ ong kéo đến làm tổ khắp khu đồi chùa.

Đường từ chân đồi lên tới sân chùa phải leo ba đoạn dốc. Đoạn dài nhất có 360 bậc, đoạn thứ hai 270 bậc, đoạn thứ ba 90 bậc. Các bậc lên xuống đều được kè bằng đá, đi lại dễ dàng. Với người già chỉ cần một cây gậy nhỏ thì việc lên xuống không có gì khó khăn, cản trở.

Trước cửa chùa dựng một tam quan đồ sộ. Trên đỉnh tam quan treo một chiếc đại hồng chung, hai người lớn nối tay nhau ôm mới chỉ được hai phần ba thân chuông. Chuông này mỗi khi thỉnh, tiếng sâu lắng len lách đến tận lùm cây, vách núi, len lách đến tận tim óc mọi người, và vang xa tới cả chục dặm xung quanh. Giữa tam quan nổi lên ba chữ thật lớn: CẢM ỨNG TỰ. Nhưng dân trong vùng thường gọi là “Chùa Núi”.

Bữa nay thái tử lên chùa gặp thiền sư với một ý nghĩ đang ngổn ngang trong lòng. Chàng lén đi một mình. Mấy viên võ sĩ cận vệ đang mải mê tập luyện phía sau trại nên không biết. Các ả a hoàn đang tíu tít sửa soạn bữa cơm chiều. Quan sư phó đang say mê với cuốn Luận ngữ. Các tướng Lê Phụng Hiểu, Ngô An Ngữ đang coi sóc đám quân làm đất trồng trọt.

Thái tử ra đi chỉ con Huyền Đề biết. Đây là một trong năm con chó trong đàn chó săn, và cũng là chó canh nhà của thái tử. Huyền Đề là một con chó khôn lanh, tới mức thái tử không có lúc nào lừa nổi nó để đi một mình. Nó có cái mũi đánh hơi cùng đôi tai rất thính. Có lần thái tử giả vờ ngủ, cả năm con chó cùng chạy ra sân đùa giỡn, dần dần chúng kéo nhau ra mãi tới bìa rừng, thái tử mở cửa sau đi lối tắt vào làng. Vừa gặp một cụ già, chàng dừng lại chào, bỗng con Huyền Đề nhảy vào đứng giữa hai người. Và nó sủa, không cho cụ già đến gần thái tử. Chàng thật sự kinh ngạc, không biết nó đã theo chàng từ lúc nào. Vì vậy, bữa nay lên chùa, nó lẽo đẽo đi sau, thái tử chẳng có gì phải ngạc nhiên nữa.

Con chó có sắc lông vàng cháy, gần ngả sang màu nâu. Bốn chân trắng toát như bông, hai chân sau, mỗi chân có một vòng huyền đề. Hai mắt đều có viền lông trắng. Giữa trán lại có một đốm lông trắng xoáy tròn thành một cái khoáy, ức nở, có một vệt lông trắng dài, nom như hình một con thạch sùng. Dân gian gọi đó là “thạch sùng bám ức”. Lưng nó trường, mông nở, chân dài, lưỡi có chín khía. Mắt đen nhức màu hạt nhãn, hai tròng đen trắng phân minh.

Những người biết xem tướng chó, nói đây là con chó vượng chủ, cực quý, nó hội đủ các tướng tốt của loài chó: trung thành, khôn, nhanh, thính, tinh. Tức là những gì người ta cần ở loài chó, thì con Huyền Đề có đủ. Ví như tính trung thành với chủ. Tính khôn, không bị miếng ăn đánh lừa để mắc bẫy, mắc bả, hoặc bị bạn tình quyến đi mất; nhưng lại phải chạy nhanh thì mới chặn được con mồi, đuổi được trộm cắp. Có đủ các đức tính trên là tốt, nhưng lại phải thính mũi. Có thính mũi thì trong đêm tối mới phân biệt được người quen người lạ, có thính tai mới phát giác được con mồi hoặc kẻ trộm đạo từ xa. Ngoài ra chó còn cần một đôi mắt rất tinh, thì từ việc xác định con mồi đến vồ mồi mới được chính xác. Lại cũng cần một trí nhớ rất dai. Có con chó, chủ vắng nhà hơn mười năm, bề ngoài thay đổi gần như hoàn toàn, đến nỗi người nhà còn ngỡ ngàng chưa nhận ra, nhưng con chó chỉ khịt mũi ba lần ngửi tay, ngửi quần áo là đã vẫy đuôi mừng quấn quýt.

Huyền Đề là con chó quý của Hoàng Ân Vinh châu mục châu Bình Lâm, sau khi lập được chiến công lớn, cùng với quân triều đình tiêu diệt hai mươi vạn quân xâm lược người man Tống, được phụ hoàng ban thưởng công lao chức tước, lại gả quận chúa An Nhân cho. Cảm vì trọng ân, Hoàng Ân Vinh đã đem con “Huyền Đề” dâng phụ hoàng.

Phụ hoàng thương ta đi mở phủ giữa chốn suối rừng hoang vắng, e đêm hôm thú dữ bất thường, nên ban con Huyền Đề cho ta để ngày đêm cảnh giới. Kể cũng lạ, bữa Hoàng Ân Vinh trao nó cho phụ hoàng, y ghé vào tai nó nói cái gì ta nghe không rõ. Chỉ thấy nước mắt nó ứa ra, uể oải thè lưỡi liếm chậm chạp hai bàn tay Hoàng Ân Vinh, rồi chạy tới nằm phủ phục dưới chân phụ hoàng. Lúc Hoàng Ân Vinh vái lạy phụ hoàng đi trở lui ra khỏi điện, nó sủa ba tiếng rời rạc, buồn bã. Ai mục kích cảnh chia ly ấy cũng thấy cảm động và cũng cho là một sự lạ. Lại bữa phụ hoàng ban nó cho ta. Người vuốt vuốt vào đầu vào má nó rồi nói: “Từ nay ta cho mày về ở với hoàng thái tử. Phải canh chừng kẻ gian, không được rời thái tử nửa bước, nghe chưa?” Nói xong, phụ hoàng đẩy nó về phía ta, nó quay lại nhìn phụ hoàng với vẻ mặt hớn hở, vẫy đuôi ba lần, rồi chạy bổ lại ôm chân ta. Ôi con chó mà hiểu được tiếng người lại làm theo ý muốn của người như một con người thông minh, như một con người được huấn hỗ đầy đủ lễ giáo thì quả ta chưa nghe ai nói vậy. Ta xem đây cũng là một điều kỳ bí không lý giải được.

Thái tử xăm xăm bước vào nhà phương trượng. Thiền sư đang tĩnh toạ trên thiền sàng, lưng xoay ra phía cửa. Mắt ngài vẫn nhắm, tay vẫn lần chuỗi tràng hạt, sư nói:

- Thái tử đi đâu ghé tam bảo? Ta có lời mừng.

Lý Phật Mã giật mình. Chàng thật sự không hiểu trưởng lão nói mừng ta là mừng cái gì. Bởi ta đang định lên đây hỏi trưởng lão một đôi điều sáng nay quan sư phó vừa dạy nhưng ta chưa hiểu thông nghĩa lý. Chàng vội chắp tay, nói:

- Bạch đại lão hoà thượng. Con lên chùa vấn an. Con đang có điều phân vân định lên chùa tham vấn, mà Người lại bảo “có lời mừng”. Chẳng hay đó là điều gì, con xin trưởng lão mở lời chỉ giáo.

Định Hương trưởng lão ngồi xoay lại, mở bừng mắt. Toàn khuôn mặt thiền sư bừng sáng. Ngài mỉm cười:

- Thái tử an toạ, bần tăng sẽ hầu chuyện ngay đây mà. Ngài chỉ tay vào một góc thiền sàng rồi quay gọi chú tiểu pha trà.

Một lát, chú tiểu bê lên hai chén trà. Loại chén có nắp để giữ được hương trà và độ nóng. Chú đặt trước thiền sư chén lão mai trà, và đặt mời thái tử chén trà cúc.

Thiền sư nâng chén trà mời thái tử. Thái tử vội đỡ lấy và khẽ gạt nhẹ chiếc nắp để những giọt nước đọng trên nắp khỏi rơi xuống kỷ. Nước trà màu xanh sánh. Mùi hương kim cúc bay ngào ngạt. Một vị thơm hơi nồng. Ấy là mùi hương của cúc tươi. Thái tử khẽ nhấp một ngụm nhỏ lại đặt chén xuống kỷ và đậy nắp. Mùi hương cúc còn đọng nơi cổ họng, tạo một cảm giác âm ấm, khiến mắt như sáng ra, và hơi thở như dịu nhẹ hơn.

Cùng lúc, thiền sư mở nắp chén trà của mình. Một mùi thơm mơ hồ như mùi của sương giá, khiến trưởng lão thấy trong lòng nhẹ bỗng, một cảm giác thư thái, khoan hoà lan toả khắp huyết quản nhà sư. Trưởng lão cảm được mùi vị ấy nên có cảm giác ấy, còn thái tử không cảm thấy gì cả. Chàng chỉ nhìn thấy chén nước của hoà thượng có màu tía, trong suốt gợi cho chàng một cảm giác ấm áp. Không kìm nén được tính tò mò, thái tử buột miệng hỏi:

- Vậy, chớ trưởng lão uống thứ trà gì khác với trà của con?

- Đúng vậy! Trưởng lão đáp và nhẹ nhàng giảng giải. Ta mời thái tử uống trà cúc. Còn ta chỉ dùng loại thiền trà thôi.

- Vậy thưa trưởng lão, thiền trà chế từ hương thảo gì ạ?

Định Hương trưởng lão nở một nụ cười đôn hậu rồi thong thả tiếp lời: – Thiền trà của ta còn gọi là lão mai trà. Loại trà này chế từ thân cây mai già. Những cây to, gốc xù xì sống tới cả trăm năm. Cưa lấy thân nó, đem về chẻ nhỏ, phơi khô kiệt, bỏ trong các hộp kín, dùng dần. Mỗi ấm tích chỉ cho độ dăm thanh, chế nước sôi ủ trong ấm giỏ, dùng cả ngày. Nếu lại đào được cả rễ của loại lão mai này mà uống, thì cực tốt. Loại trà này thuần âm tính, lợi gan, ích mục, trí óc minh mẫn, hợp với nhà thiền.

Còn như trà cúc ta mời thái tử, dược tính của nó cũng gần giống như lão mai trà. Nhưng nó mang dương tính, hương hắc, vị thơm nồng nàn.

Trưởng lão chợt dừng lời ngắm nhìn thái tử, lại nhìn con chó đang ngồi ở góc cột chầu về phía hai thầy trò trưởng lão đang nói chuyện. Nó nhìn một cách chăm chú, tựa như nó nghe và hiểu được tiếng người. Và dường như nó cũng đang tham gia vào câu chuyện.

Thái tử tuy không trực tiếp theo học trưởng lão nhưng từ mấy năm trước, khi thiền sư Đa Bảo còn tại thế, có lần đại sư ghé vào triều thăm phụ vương. Vừa nhác thấy ta, đại sư nói luôn: “Thái tử sớm hiển lộ tướng quý của Phật. Chắc sau này có duyên làm việc Phật. Ta khuyên thái tử mai này nếu có gì vướng mắc trong kinh điển chưa lý hội được; kể cả những việc thế tục chưa minh định được, hãy tìm đến thầy Định Hương mà tham vấn”.

Chính vì lời khuyên đó, đã nhiều lần ta tìm đến tham vấn trưởng lão. Và thường được chỉ bảo đến rốt ráo. Thiền sư quả là một bậc minh sư. Trong tâm ta, luôn thờ trưởng lão làm thầy.

Đoạn Định Hương trưởng lão cất lời:

- Lát nữa, ta sẽ nói việc ta mừng thái tử. Bây giờ thái tử hãy nói điều thái tử cần hỏi ta đi.

Được lời như cởi tấm lòng, thái tử bèn thưa:

- Bữa trước quan sư phó dạy con về “Lễ”. Thầy giảng, theo như đời Xuân Thu bên Trung Hoa thì lễ bao trùm toàn xã hội. Quan hệ về lễ giữa vua với bầy tôi. Quan hệ về lễ giữa quan với dân. Quan hệ về lễ giữa người với thần linh. Quan hệ về lễ giữa người sống với người chết. Và nhiều mối quan hệ khác phải ứng xử bằng lễ. Con hỏi quan sư phó: “Vậy thời “lễ” về đời Xuân Thu tựa như một thứ luật chi phối toàn xã hội”. Quan sư phó gật đầu. Nhưng lại bảo: “Nó vừa giống lại vừa không giống”. Rồi quan sư phó hỏi con: “Hiểu chưa?”. Con đáp: “Chưa hiểu”.

Đoạn thầy lại giảng:

- Lễ thời Xuân Thu tựa như luật. Là bởi ai cũng phải theo, từ thiên tử đến thứ dân. Song nó không giống luật ở chỗ, luật chỉ hành xử trong dân thôi. Dân phạm tội thì đem luật ra xử để trị tội. Còn đại phu phạm tội thì không xử bằng luật mà phải xử bằng lễ.

Con bảo như thế thì “lễ” của đời Xuân Thu là đầu mối của sự bất công. Còn luật của đời ấy khuôn theo lễ, cũng tức là noi theo sự bất công của lễ mà hành xử. Lễ ấy, luật ấy tạo sự chia rẽ giữa con người với con người trong xã hội, vậy thời ta học để làm gì. Vả lại con người đại phu với con người thứ dân có gì khác nhau, mà cùng phạm một lỗi lầm như nhau, một bên thì đem lễ ra uốn nắn, còn bên kia thì đem luật ra trị tội.

Thầy con nghiêm giọng phán rằng:

- Sao thái tử lại không thấy sự khác nhau giữa người quân tử với kẻ tiểu nhân? Sao thái tử lại không thấy sự khác nhau giữa bậc sĩ đại phu với kẻ thứ dân, kẻ thất phu?

- Thưa thầy, tiểu nhân, thứ dân, thất phu là những người không có học, vì vô tình mà phạm luật, vì dốt ngu mà phạm luật, nhẽ ra phải được khoan nới. Còn kẻ sĩ đại phu đã có học hành hiểu biết, là đấng bậc chăn dân mà phạm luật, tức là cố ý làm sai, nhẽ ra phải trị tội rất nặng thì mới đúng chứ. Lễ với luật như thế là trắng đen lẫn lộn, trái phải đảo điên, thưa thầy ta không nên học những điều vô minh ấy làm gì.

Con nói vậy, quan sư phó giận lắm. Ngài kìm nén hết sức, mới không sai nọc con ra đánh đòn. Ngài nói giọng run run:

- Thái tử ơi, lễ luật đó do các bậc thánh nhân đặt ra, sao thái tử dám ngạo mạn. Hầu giảng thái tử thế này tôi tổn thọ lắm.

Sợ quá, con phải vái thầy hai vái để tạ tội. – Bạch trưởng lão, nếu quan sư phó giảng điều đó là đúng. Mà sao không đúng, vì quan lấy từ kinh Lễ và sách Luận ngữ của Khổng Tử ra chứ có phải thầy bịa ra đâu. Vậy con xin trưởng lão chỉ cho cách hành xử của con có gì sai quấy. Và ta có nên theo lời Thánh dạy?

Định Hương trưởng lão xốc lại tấm áo cà sa, cuộn lại chuỗi hạt bồ đề đặt trên tráp kinh, ngồi lại ngay ngắn, hai bàn tay dăn deo xoa vào nhau rồi vuốt nhẹ lên hai bên má chằng chịt những nếp nhăn, đoạn nhà sư nói, giọng ngài ấm áp mà rành rẽ lạ thường:

- Những điều thái tử nói với quan sư phó là tự bản tâm buột ra hay thái tử đã nghe ai nói, hay thái tử đã đọc ở sách nào?

Dường như không cần phải đắn đo suy nghĩ, thái tử đáp luôn:

- Bạch trưởng lão, quả con chưa nghe ai nói, và cũng chưa có đọc ở sách nào.

- A-di-đà Phật! Vậy ta mừng cho thái tử có được cái trí vô sư bởi thái tử có cái tâm vô nhiễm. Đó là tâm Phật đấy, gắng mà nuôi dưỡng lấy nguồn tâm ấy.

Vậy ta hỏi thái tử, người thử ngẫm xem giữa bản thân mình với trang lứa bạn bè cùng tuổi có gì khác chăng? Cảm như thái tử chưa hiểu, thiền sư bèn dẫn dụ ý ta chỉ muốn nói về sự tạo hoá ban cho mỗi con người từ mặt mũi chân tay tới cả cửu khiếu, thái tử có thấy giữa người thuộc dòng dõi cao sang tột bậc như thái tử với người thường có gì khác nhau không? Ví như thái tử có cửu khiếu nhưng người dân thường thuộc đám tiểu nhân, hạ tiện họ có đủ các bộ phận không hay họ chỉ có thất, bát khiếu hoặc ít hơn. Lại nữa tay họ có ngắn hơn, mắt họ có nhỏ hơn, tai họ có bé hơn, mồm họ có méo, mũi họ có vẹo không chẳng hạn. Thái tử ráng nhớ lại xem, họ có gì khuyết, hãm không?

Thái tử đỏ mặt vì chợt nghĩ đến một ai đó lại chỉ có tứ, ngũ hoặc thất bát khiếu. Và rồi chàng không kìm nén được lại bật cười, vì ai đó lại thiếu đi một vài bộ phận, chỉ vì người đó không ở trong tầng lớp thượng lưu quý tộc.

Chợt nhớ chưa đáp lời thiền sư, và cảm như việc bật cười của mình là khiếm lễ, thái tử bèn chắp tay vái thiền sư và đáp lời:

- Xin trưởng lão đại xá. Con không thấy giữa con với đồng loại, dù ở tầng lớp nào, lại có sự khác nhau về hình hài như tạo hoá đã ban cho mỗi con người.

Định Hương trưởng lão cũng cười xoà. Ta hỏi thái tử thế, để tự thái tử thấy tạo hoá đã không phân biệt về hình hài, ắt không phân biệt về đối đãi. Nho giáo phân biệt tiểu nhân với quân tử, phân biệt giữa sĩ đại phu với hạ tiện để phân biệt đối đãi, là tự họ gieo mầm bất an trong thiên hạ.

Lễ khởi từ nhà Hạ, nhà Thương, rối rắm phiền toái nhất bắt đầu từ nhà Chu. Đầu nhà Chu, nền nếp còn giữ được, giữa và cuối nhà Chu đạo lý rối nát, thiên hạ trở nên đại loạn, sử gọi là đời Chiến quốc. Vì thế Lão Tử mới nói “Lễ là đầu mối của sự loạn. Vứt lễ, bỏ đức theo về với sự hồn nhiên của tạo vật xã hội tất bình yên”.

Tuy không chấp nhận sự phân biệt đối đãi quá đáng giữa các tầng lớp người như lễ với luật của Nho giáo, nhưng lại vứt bỏ đi tất cả thì lấy gì để chế trị xã hội như ý của Lão Tử mà trưởng lão vừa dẫn ra. Thái tử thấy trong lòng bứt rứt, nhưng chưa dám bày tỏ.

Như đọc được ý nghĩ của thái tử, trưởng lão mỉm cười nhân hậu và tiếp:

- Thái tử chưa hiểu được ý của Lão Tử đó thôi. Lão Tử chỉ muốn loài người hãy thuận theo tự nhiên để mà sống. Ví như nhìn vào một rừng cây, ta thấy có cây to, cây nhỏ, cây cao cây thấp, cây cứng cây mềm. Ngạo nghễ như cây tùng cây bách, sống trên đỉnh núi đá cheo leo, bất chấp nóng lạnh, tuyết sương, bão gió. Vươn thẳng lên trời cao chót vót như cây sến, cây chò. Cứng bền hơn cả sắt, đá như cây đinh, cây lim. Mềm mại lả lướt như cây sắn, cây bìm phải dựa vào thân cây khác leo lên để mà sống. Thấp bé tí teo như loài nấm, loài tảo. Tất thảy đều sống yên ổn, cây nào phận ấy. Cây to không nuốt cây nhỏ, cây cứng không diệt cây mềm. Tất cả đều nhận phần ăn trong đất, phần thở theo ánh sáng và khí trời.

Trật tự tạo hoá đã bày xếp như thế, nó an hoà biết bao. Nếu loài người thuận theo trật tự ấy mà sống thì xã hội ắt công bằng, ắt bình yên.

Chính Lão Tử đã nhận thức được chân lý ấy từ thiên nhiên, nên ông truyền đạt lại cho loài người; trước hết là cho dân tộc Trung Hoa của ông. Đáng tiếc các học giả Trung Hoa không hiểu được tính minh triết của Lão học, nên họ thuần làm ngược lại cao ý của Lão Tử.

Vậy chớ thái tử đã hiểu chưa?

- Dạ, con hiểu ạ. Ngập ngừng một lát, chàng lại thưa: – Trưởng lão, điều Lão Tử nói kỳ diệu như vậy, sao dân nước ông không theo?

- Ta cũng định giảng giải kỹ điều này cho thái tử. Tuy nhiên không phải trong lúc này. Thái tử phải đọc thêm các sách kinh của Phật, các sách của Lão Tử, của Khổng Tử. Thôi được, thái tử cứ ổn định công việc trong phủ, ta sẽ chọn sách rồi cho người đem lại hầu thái tử.

Thiền sư im lặng, nhìn ngắm thái tử giây lâu với vẻ hài lòng, sư nói:

- Bây giờ nói về điều ta mừng cho thái tử. Trước hết mừng vì cái tâm tuệ của thái tử đã được khai mở. Thứ hai ta mừng vì thái tử mới có một đệ tử rất mực trung thành. Vừa nói, trưởng lão vừa chỉ tay về phía con Huyền Đề. Như cảm được điều thiền sư nói, con chó lập tức vẫy đuôi mừng quýnh. – Nó, chính con khuyển này sẽ hầu hạ thái tử, hộ vệ thái tử như một kẻ hộ pháp đắc lực. Nên nhớ, đây là ý của chư thiên gia hộ cho công cuộc trị bình và hoằng dương chính pháp của thái tử sau này. Ta tiết lậu cho thái tử biết để gắng sửa mình mà hoà vào đạo.

Thái tử vái trưởng lão hai vái rồi lui về phủ. Lòng chàng vui phơi phới.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 25.09.2018, 13:02
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XX

Từ ngày xảy ra động đất trên các châu Bình Lâm, châu Đô Kim, lại tiếp đến Đào Cam Mộc không ốm mà chết, khiến vua Thuận Thiên cảm thấy hơi chột dạ.

Động đất không lớn, không gây chết người, hại của, nhưng đó chẳng phải là trời răn ta sao?

Đào Cam Mộc chẳng phải là ân nhân của ta sao? Đào Cam Mộc chẳng phải là chân tay thân tín của ta sao? Đào Cam Mộc chẳng phải là bạn đồng triều với ta dưới thời Lê Long Đĩnh sao? Đào Cam Mộc chẳng phải là phò mã của ta sao?

Trời hại Cam Mộc, hẳn có ý răn ta không được chinh chiến làm tổn hại sinh linh.

Quả thật năm trước, các quan tả hữu gián nghị đại phu Lương Tằng, Trịnh Văn Túc có dâng sớ can ta hãy ngưng ngay việc đánh dẹp. Lời lẽ thật là thống thiết, thật là quyết liệt.

Ta biết, việc Tằng, Túc can ta là trung, là chính. Nhưng sao ta vẫn cứ u mê không chịu tỉnh giác. Thật tình không phải ta ác ý, mà chủ ở thiện tâm. Ta dẹp nốt một vài nơi là cốt sao trong toàn cõi, mọi người dân đều được sống trong an lạc.

Tới nay, mọi việc đã như ta mong muốn. Nhưng Trời đã kịp lấy đi mạng sống của Đào Cam Mộc, tựa như chặt bớt chân tay, vây cánh của ta. Đến nỗi con gái ta đang phơi phới tuổi xuân, bỗng chốc trở thành goá bụa.

Nhà vua thật sự ân hận, thật sự hối hận. Vua sai lập đàn tràng, thân làm chủ tế, tế vọng các danh sơn. Truy phong Đào Cam Mộc chức Thái sư á vương, lại cho làm tang lễ trọng hậu. Nhân đó, vua xuống chiếu xá tô thuế cho thiên hạ thêm ba năm nữa.

Vua ăn chay trường tới cả tuần trăng, lại tự mình đi xem ngắm núi sông, thấy chỗ nào khuyết hãm, sạt lở thì sai quan chức các châu, quận phải kíp thời bồi trúc.

Khi tới bến đò Cổ Sở, nhìn dòng sông rộng, hai bên bờ bãi, ngô lúa xanh rờn; vua ngước nhìn bầu trời cao thẳm, lại thấy phương tây ánh lên một ráng hồng; ngọn Tản Viên sừng sững như dang tay ôm lấy vùng thắng địa Thăng Long. Một vùng núi sông cẩm tú mà vượng khí nghe như ngưng tụ đâu đây, tâm thần nhà vua hốt nhiên cảm động, bèn rót rượu xuống đất mà khấn rằng: “Trẫm xem nơi đây núi lạ, sông đẹp, nếu có nhân kiệt địa linh thì nhận lấy lễ này”.

Lạ thay, vừa dứt lời khấn liền có sự cảm ứng tức thì, vua thấy một luồng khí ấm nóng chạy từ đỉnh đầu xuống dọc sống lưng.

Đêm ấy, vua ngủ lại hương Cổ Sở, đêm mộng thấy một người tướng mạo, cốt cách khác thường, áo quần trang nghiêm, cúi đầu lạy vua hai lạy và nói: “Thần là người làng này, họ Lý, tên Phục Man, làm tướng giúp vua Lý Nam Đế. Vì thần là người trung dũng nên được vua giao cho coi sóc hai dải sông núi Đỗ Động và Đường Lâm, bọn giặc cướp không dám xâm phạm, dân chúng được an cư lạc nghiệp. Khi chết, Thượng đế khen là có công, nên lại cho giữ chức cũ. Khi thần chết, dân trong vùng sợ không có người che chở nên lập đền thờ. Vì vậy thần thường phảng phất trong cõi trời mây, lúc có giặc dã liền ra tay chống, đánh. Nay gặp bệ hạ tới, lại được mời rượu thật là cảm kích. Thật là cảm kích”. Nói xong liền ngâm mấy câu thơ:

Thiên hạ tao mông muội,

Trung thần nặc tính danh.

Trung thiên minh nhật nguyệt,

Tư khả hiện chân hình.

(Thiên hạ gặp lúc còn mờ tối,

Kẻ trung thần phải giấu họ tên.

Nay được mặt trời, mặt trăng sáng tỏ giữa trời,

Ấy là lúc có thể hiện chân tình).

Vua giật mình tỉnh giấc, nhẩm nhớ các điều thần đã nói trong mơ, cả gương mặt thần, ngài cũng còn hình dung rất rõ, duy có bài thơ vì sợ quên nên vua phải chép ngay vào giấy.

Sáng ra vua đem chuyện đó kể lại với quan ngự sử đại phu Lương Nhậm Văn, và trao cả bài thơ cho Văn đọc.

Ngẫm nghĩ một lúc, Lương Nhậm Văn nói:

- Tâu bệ hạ, cứ ý tứ trong bài thơ, nhất là câu ba, câu bốn thì thần mộng muốn bệ hạ tạc tượng cho thần đấy.

- Phải, ta cũng nghĩ như khanh.

Nhà vua bèn cho gọi chức dịch sở tại tìm mời thợ giỏi, để ngài mô tả hình dáng người trong mơ cho thợ nhớ lấy mà thể hiện. Lại sai tu bổ đền cho thật khang trang, và dựng bia ghi chép lại sự tích này.

Ngày khánh thành pho tượng, chức dịch hương Cổ Sở có sớ về triều xin vua cho rước tượng vào đền. Vua thân về dự lễ. Vừa nhác trông thấy pho tượng, vua Thuận Thiên bèn thốt lên:

- Giống quá! Giống quá! Đúng là người này ta đã gặp trong mơ ngày nọ. Vua liền cho dân rước tượng vào đền thờ làm phúc thần. Và phong cho thần mỹ hiệu là: “Trung liệt đại vương”.

Dân làng bốn mùa hương khói. Tới nay trải bao phen binh lửa tàn phá, trải bao gió táp mưa sa, đền cũng được trùng tu nhiều lần. Diện mạo ban đầu không còn nữa, duy có pho tượng và tấm bia đá ghi sự tích đền thì vẫn như xưa.

Nhân việc động đất, vua cho là Trời trách phạt nên ngài cứ ăn năn mãi. Ngoài việc tha tô, thuế, soát tù ngục, giảm hình án, vua lại thăng cho hữu gián nghị đại phu Trịnh Văn Túc làm thiếu sư. Vì năm trước Túc đã khẩn thiết khuyên vua giảm bớt việc binh. Cùng dâng sớ can với Túc còn có tả gián nghị đại phu Lương Tằng. Tằng hiện đi sứ chưa về. Chờ khi Tằng về, xét công việc đi sứ nữa ta sẽ thăng thưởng sau.

Tiếp đó vua cho dựng tại kinh thành thêm hai ngôi chùa Thiên Quang và Thiên Đức, đắp bốn pho tượng Thiên đế, cấp một ngàn độ điệp cho người ở kinh sư làm tăng, đạo. Lại xuất kho 800 lạng bạc để đúc hai quả chuông lớn treo ở chùa Thắng Nghiêm và lầu Ngũ Phượng tinh.

Đến đây vua tạm yên tâm mới quay về xem xét việc rèn trí và rèn đức của các hoàng tử.

Vua Thuận Thiên có nhiều con. Riêng con gái, ngài đã có tới mười ba nàng công chúa. Con trai cũng có tới cả chục hoàng tử. Nhưng đáng kể chỉ có mấy vị như: Khai Thiên vương, Khai Quốc vương, Đông Chinh vương, Dực Thánh vương, Vũ Đức vương.

Các công chúa và hoàng tử này tất không phải cùng một mẹ sinh ra. Bởi khi vừa được tôn vinh ngôi nước cuối năm Kỷ Dậu, ngài đã cùng lúc lập năm hoàng hậu; tới năm Bính Thìn (1016) ngài lại lập thêm ba hoàng hậu nữa.

Với năm chàng hoàng tử này mỗi người mỗi vẻ, mỗi tính mỗi nết. Duy có Khai Thiên vương, tư chất thông minh, đạo đức hướng thiện, vua thật sự yên tâm đã sách lập làm hoàng thái tử, sẽ là người kế vị sau này. Ngoài ra Khai Quốc vương cũng làm nhà vua hài lòng. Chàng sớm tỏ lộ một tài năng xuất chúng, văn võ kiêm thông. Vua đã đem lòng yêu và cho về trấn trị tại Trường Yên. Chỉ mỗi một băn khoăn, Khai Quốc vương sắc sảo quá, e khi quyền bính thực sự vào tay, sẽ có sự cạnh tranh khắc bạc.

Nhưng như thế cũng không có gì làm nhà vua lo bằng chàng hoàng tử bé: Vũ Đức vương. Vũ Đức vương tính tình ngỗ ngược, hiếu thắng, tướng mạo thì phá hãm: cái mũi thanh tú là thế mà đường sống lại gãy gồ lên, hầu cũng lộ. Ta hơi lo. Đây là tướng phản phúc. Chẳng nhẽ con ta lại phản phúc cả ta sao? Nhưng lo hơn cả là thằng bé rất yểu tướng. Băn khoăn, nhà vua bèn sang cung Tá quốc hoàng hậu, mẹ sinh của Vũ Đức vương để xem xét binh tình.

Thấy xa giá đến, bọn a hoàn chạy tớn tác vào cung bẩm báo:

- Trình hoàng hậu, hoàng thượng tới thăm cung.

Hoàng hậu rối rít không kịp trang điểm. Bọn a hoàn vội khoác cho hậu tấm áo gấm màu hoàng yến. Tóc rối chưa kịp chải, bà vội úp lên đầu chiếc mũ phốc là mũ hoàng tử thường đội khi đi tập võ hoặc đi săn. Không kịp cả thay hài, hậu phải đi đôi hài cũ, màu hơi bạc.

Bà vừa chạy vào dãy xuyên đường được vài bước thì một a hoàn chợt nhìn thấy chiếc mũ trên đầu hậu, thị hét lên:

- Hoàng hậu đội nhầm mũ của hoàng tử rồi.

Nhưng không kịp, vua Thuận Thiên đã bước tới.

Hậu quỳ sát đất bái lạy:

- Kính chào bệ hạ. Thần thiếp không biết bệ hạ tới, nên không kịp làm lễ cung nghinh, xin bệ hạ tha tội.

- Đứng lên đi, ta miễn lễ.

- Đội ơn bệ hạ.

Tá quốc hoàng hậu đứng dậy, khẽ nghiêng mình và nhoẻn cười: – Kính mời bệ hạ vào thăm cung của thần thiếp.

Vua Thuận Thiên đi trước vào trong cung. Đó là một ngôi nhà gỗ xoan đào không lớn lắm. Ngôi nhà năm gian lợp ngói mũi hài, men ngọc lưu ly. Hai gian đầu dùng làm buồng ngủ, một cho Tá quốc hoàng hậu, một cho đám a hoàn hầu hạ. Hai gian buồng được ngăn bằng hai bức thuận ghép thuần gỗ lõi xoan. Trong nhà sáng như gương mà ấm cúng lạ thường. Gian giữa kê một bàn trà lục lăng bằng gỗ gụ với sáu chiếc đôn lục lăng bằng gốm men ngọc, trên mặt đôn phủ một tấm đệm bông vỏ bọc lụa màu thiên thanh, để về mùa đông khách ngồi cho đỡ lạnh. Gian bên hữu, sát cạnh khuê phòng của hoàng hậu, kê một bộ kỷ gỗ vàng tâm. Gian bên tả, sát phòng của mấy a hoàn kê một bộ kỷ bằng tre ngà.

Trong nhà không trang hoàng hoành phi, câu đối, chỉ có bức đại tự sơn son thếp vàng treo ở gian giữa gồm hai chữ: ĐOAN CHÍNH. Và nơi các gót tầu bẩy đều treo một chùm khánh nhạc. Gió hơi phơ phất đã nghe tiếng nhạc rung. Lại nữa một đỉnh trầm đặt cạnh chân cột, nơi dưới bức đại tự luôn phảng phất bay ra một làn khói trắng thấm đẫm hương thơm.

Tá quốc hoàng hậu sau một vài cử chỉ lúng túng đã lấy lại được bình tâm, bà thét gọi đám a hoàn:

- Bay đâu!

- Dạ, – tiếng dạ ran của cả chục đứa hầu gái.

- Dâng trà!

Thị nữ bê khay trà ra, hoàng hậu đón lấy và tự tay dâng lên hoàng thượng.

- Thần thiếp mời bệ hạ thưởng trà.

Vua Thuận Thiên đỡ lấy chén trà, mắt nhà vua vẫn nhìn chiếc mũ của hoàng tử Vũ Đức vương mà Tá quốc hoàng hậu đang đội trên đầu. Nhà vua mỉm cười hỏi:

- Sao hậu lại đội mũ của hoàng tử?

- Trình bệ hạ, hoàng tử từ ngày được bệ hạ cho đi mở phủ, lòng lúc nào cũng nhớ đến phụ hoàng và mẫu hậu. Trước khi đi, hoàng tử có để chiếc mũ lại và dặn: “Mũ tượng trưng cho lễ. Con không ở lại cung hầu hạ phụ hoàng và mẫu hậu được, con xin để chiếc mũ lại nhà, để mỗi khi phụ hoàng và mẫu hậu nhìn thấy mũ của con, coi như con đang có mặt hầu hạ phụ hoàng và mẫu hậu”. Thần thiếp đội mũ của hoàng tử ra cung nghinh hoàng thượng coi như hai mẹ con thần thiếp cùng được diện kiến long nhan.

Nghe hoàng hậu nói, nhà vua hơi biến sắc mặt. Ngài tự nhủ, rõ ràng ta đến bất chợt, nên nàng không kịp cả điểm trang. Xiêm y xộc xệch, đôi hài cũ vẫn mang dưới chân, cuống quýt vơ cả mũ của con trai chụp lên đầu. Lúc nàng chạy ra đón ta, lũ hầu gái đã thét gọi: “Hoàng hậu đội nhầm mũ rồi!” Nhưng lỡ vì ta đã trông thấy, nàng không thể quay lại thay mũ nữa. Thế mà nàng lại khéo biến báo. Chao ôi, chung sống với nhau ngót hai chục năm trời, ta vẫn ngỡ nàng là người trung hậu, tuy hơi có chút vụng về; bởi nàng sinh ra và lớn lên trong chốn quê mùa, thiếu học. Được trời phú cho chút nhan sắc, nên ta cũng rủ lòng thương. Ai dè, tâm địa nàng lại trở nên trí trá.

Ngẫm nghĩ giây lát, nhà vua lại tự vấn hoặc là ta đã làm hư nàng. Bởi trong cung cấm này lắm quyền, nhiều lợi. Hậu nào, phi nào cũng mong được ta sủng ái. Nàng nào cũng muốn con mình được lập, nên đua nhau đút lót cho bọn trung quan để chúng bày cho hết mưu này kế nọ. Sống dưới thời Ngọa triều, ta còn lạ gì các ngón nghề của lũ trung quan cùng bọn phi tần. Ta quyết không để cho bọn trung quan cùng đám đàn bà này làm loạn chốn thâm cung.

Thấy nhà vua cầm chén trà nơi tay hơi lâu, và nhà vua như đang mải nghĩ suy một điều gì, Tá quốc hoàng hậu bèn lên tiếng:

- Thần thiếp có điều gì đáng trách phạt, khiến bệ hạ phải bận tâm. Thiếp xin được nghe bệ hạ răn dạy.

Nhà vua ngửng đầu nở nụ cười gượng, ngài cầm lấy chiếc mũ trên đầu hậu và nói:

- Nàng đi vào trang điểm đi.

- Tạ ơn bệ hạ. Tá quốc hoàng hậu vái nhà vua rồi đi thẳng vào phòng điểm trang.

Một lát hoàng hậu trở ra, nom bà lộng lẫy trong mớ xiêm y đắt giá: áo dài vóc màu thiên thanh, thêu những bông hoa kim tuyến ánh vàng. Váy nhiễu tím. Gấu váy thêu hoa cúc dây màu ánh bạc. Cổ đeo chuỗi hạt trai màu trắng đục. Trên đầu hậu mang chiếc mũ có viên hồng ngọc to bằng đầu ngón tay đính nơi vành mũ ngay trước trán. Ánh ngọc toả khiến gương mặt hậu rực lên như một đoá hồng.

Nhà vua nhìn hậu một cách ngỡ ngàng. Ngài không tin ở mắt mình nữa. Bởi mới vừa đây, trước vua là một mụ nạ dòng váy yếm xộc xệch, da dẻ nhợt nhạt, đầu bù tóc rối, mũ áo nhố nhăng. Vậy mà trước ta lúc này có đúng là nàng không? Có đúng là Tá quốc hoàng hậu mi thanh mục tú, trâm gài ngọc dắt, mỗi bước đi của nàng như toả sáng hào quang.

Vua định thần nhìn vào tận sâu đáy mắt hậu, và tự nhủ: thực ra thì cũng chẳng có gì là khác lạ. Vẫn cái thân giả hợp kia, được khoác lên bởi bộ đồ giả trang hào nhoáng thôi, có gì đâu. Người đời nói quả không sai: “Hơn nhau tấm áo manh quần, thả ra mình trần ai cũng như ai”.

Hoàng hậu tươi cười nhún mình quỳ lạy.

- Thần thiếp kính chào bệ hạ. – Hậu vừa cúi vừa liếc xéo ánh mắt như dò hỏi: “Thiếp xinh lắm phải không?”

Ôi, có là tượng đá thì trước ánh mắt và nụ cười duyên của người đẹp, cũng không thể không nhúc nhích.

Vua Thuận Thiên giơ tay đỡ bàn tay hậu và nói lời dịu ngọt:

- Nàng đa lễ quá.

Vua dìu hậu ngồi vào kỷ.

Tì nữ lại dâng trà.

Uống xong tuần trà thứ hai, nhà vua liền đứng dậy, toan đi.

Hậu cảm như tủi thân, tự nhiên nước mắt ứa ra.

- Sao nàng khóc? – Vua hỏi.

Hậu không ghìm được nữa, bật khóc to, nước mắt cứ trào ra.

Vua đưa tay nhẹ nâng cằm hậu, gương mặt nàng như vừa rửa bằng nước mắt, tựa như một đoá hoa thấm đẫm sương khuya, nom nàng rực rỡ hẳn lên, khiến nhà vua hơi động lòng. Lại hỏi:

- Vậy chớ vì sao nàng khóc?

Hậu sụp lạy:

- Bệ hạ! Bệ hạ! Thiếp có tội gì mà cứ phải ngày đêm vò võ chốn khuê phòng?

- Ta tưởng ta mới đến với nàng cách đây…

- Dạ, cách đây hơn một năm rồi bệ hạ. Bệ hạ có cả chục hoàng hậu, cả trăm cung nữ…

- Trời, ta cứ tưởng ta mới ở với nàng… Thôi được, đêm nay ta ở lại cung Quỳnh Hoa.

- Đội ơn bệ hạ đã đoái thương đến thần thiếp. Lũ thần thiếp sao dám dối bệ hạ. Vì rằng, ngày tháng năm nào, bệ hạ vào cung nào từ giờ nào đến giờ nào, bọn trung quan ghi chép cẩn thận lắm. Có nhẽ họ còn biên chép rõ ràng hơn cả bên Quốc sử viện.

- Thôi, thôi nàng nói nhiều quá. Hãy để cho ta một chút yên tĩnh.

Hoàng hậu ngồi thu vào một góc kỷ, không dám nói gì nữa.

Nhà vua lại cầm lấy chiếc mũ của hoàng tử, đưa cho hậu, vua nói:

- Nàng cất cái mũ này đi cho con, nó bỏ quên ở nhà từ bao giờ đấy?

Cảm về lời nói âu yếm của nhà vua, hoàng hậu buột miệng trả lời:

- Hoàng thượng, tuần trước con nó về, lúc đi vội quá để quên cả mũ.

Vua lặng thinh.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 27.09.2018, 16:51
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XXI

Cầm chén trà trong lòng tay phảng phất mùi thơm, vua Thuận Thiên khẽ nhấp. Nước trà nóng, mùi hương mộc cùng lúc ùa vào khiến nhà vua có cảm giác nhẹ nhàng thanh khiết. Uống thêm một ngụm nữa, vị trà đọng nơi cổ họng và cứ tan dần mùi hương vào tận sâu các huyết mạch, khiến nhà vua thấy đầu óc thông sáng hẳn ra.

Đâu đó tiếng gà gáy dồn, tiếng vít chè đánh thức trẻ dậy học bài, lại vẳng đâu đó tiếng chim cu gáy sớm. Nhà vua nhớ lại cảnh hồi nhỏ, có nhẽ còn sớm hơn giờ này, ta đã phải dậy thay nước, thắp đèn nhang rồi vào khoá lễ. Ngoài trời sương giăng mờ, chỉ loáng thoáng thấy nóc các ngôi điện Càn Nguyên, điện Tập Hiền… Còn cây cối chỉ là những lùm sâm sẫm đùng đục màu sương.

Đâu đó tiếng chuông, tiếng mõ và cả tiếng cầu kinh đều đều của khoá lễ sớm. Để ý nghe kỹ, nhà vua biết Tá quốc hoàng hậu đang niệm kinh trong điện thờ Phật phía tây cung Quỳnh Hoa.

Nghe tiếng mõ và tiếng chuông điểm, vua biết hậu đang niệm chú “Thủ Lăng Nghiêm”. Chuông mõ đã thành thạo, niệm kinh ắt trôi chảy. Nhưng liệu hậu có hiểu được lời kinh dạy. Và quan trọng là có làm được những điều mà Phật đã giáo hoá trong kinh văn.

Tiếng chuông mõ ngừng bặt. Một lát sau hậu đã kịp trang điểm và ra hầu trà nhà vua.

Hậu sai đám nô tì đi súc lại ấm chén, rồi mang hẳn bếp lò than lại gần kỷ để hậu tự tay chế trà hầu nhà vua.

Nom hậu tráng ấm chén bằng nước sôi, và nâng lên đặt xuống những chiếc chén quý cứ thoăn thoắt như người múa, và chính xác như người thợ mộc lấy mực thước khi đóng đồ vậy. Vua khen:

- Nàng quả là khéo tay.

- Đội ơn bệ hạ khen.

Hai tay hậu dâng khay trà mời vua.

- Nàng cứ đặt khay xuống. Ta ban cho nàng một chung, uống đi. Vua bê lấy chung trà và trỏ vào chung kia mời hậu.

Thấy nhà vua vui vẻ, hậu bèn nâng lấy chung trà, khép nép ngồi bên mép ghế, và nói:

- Tạ ơn bệ hạ. Thần thiếp kính mời bệ hạ thưởng trà.

Vua Thuận Thiên vừa mở nắp chung trà, mùi hương mộc, lại vẫn là mùi hương mộc, toả theo làn khói nước mảnh mai. Một mùi thơm quen thuộc dường như đã ngấm sâu vào cả tâm, can, tì, phế của nhà vua từ thuở niên thiếu, theo học thầy Vạn Hạnh nơi chùa Lục Tổ. Nhà vua nhớ, quanh chùa, nơi các cửa vào ra lên xuống, thường trồng ngâu, trồng mộc. Ngoài vườn thầy còn cho trồng cả hoa sói nữa. Đây là những loài hoa có hương thơm tĩnh lặng. Nhưng mỗi thứ mỗi vẻ. Hoa ngâu hương trầm sâu. Hoa sói, hương lại hơi gắt. Hoa mộc, mùi thơm dịu ngọt, thi thoảng như chợt có chợt không. Cả ba loài hoa này, thầy ta đều dùng được. Song người ưa nhất vẫn là hương hoa mộc. Vì vậy, thầy cho trồng tới cả chục cây mộc quanh chùa. Khi hoa mộc nở, đi khắp vườn chùa, chỗ nào cũng sực nức hương thơm. Nhất những ngày oi nồng, đi làm đồng về nóng bức, vừa bước chân vào cổng chùa, đã có ngay cảm giác mát lạnh bởi mùi thơm hương mộc.

Cũng lạ, các loài hoa khác như sen, như lài ướp trà, khi uống chỉ thấy mùi thơm nồng nàn của lài, của sen mà mất hẳn mùi trà. Trái lại ngâu, sói, mộc mà ướp trà, khi uống vẫn phân biệt được hương của hoa và vị của trà. Chúng tựa như những bậc phong lưu tao nhã, giao du kết bạn với ai, vẫn giữ một khoảng cách phân biệt chủ khách rạch ròi chứ không bao giờ chơi trò khách lấn chủ. Bởi vậy thầy ta gọi các loài sói, mộc, ngâu là thiền tự chi hoa.

Nhà vua đã uống xong chung trà, chiếc chén vẫn nằm gọn trong lòng tay, nhưng tâm trí ngài để mãi đâu đâu.

- Xin bệ hạ cho thần thiếp rót hầu bệ hạ một chung trà nữa.

Vua Thuận Thiên chợt ngửng lên đưa chiếc chén cho hậu rót nước.

Nhận lại chén nước, vua nói:

- Sớm nay có nhẽ sau buổi thiết triều ta phải sang cung Vũ Đức vương.

Mắt hậu vụt sáng, nàng quỳ trước nhà vua.

- Tạ ơn hoàng thượng đã lưu tâm đến mẹ con thần thiếp.

- Đứng dậy đi. Đã là vợ chồng mà nàng cứ thủ lễ một cách thái quá. Ta thấy nó cứ thế nào ấy.

- Đội ơn bệ hạ, thần thiếp được các ông trung quan răn dạy kỹ lắm về lễ nghi, phép tắc. “Ngay cả khi được hoàng thượng sủng ái, kể cả trong chốn buồng the, vẫn phải giữ lễ vua tôi chứ không được sàm sỡ mà phạm vào trọng tội”. Các quan thường răn dạy thiếp như vậy, sao thiếp dám lơ là.

- Ai dạy nàng? Lão móm hay thằng Phùng.

- Dạ, cả hai người ấy, một già một trẻ đều nói giống nhau.

- Phải. Phép tắc là thế. Nhưng khi chỉ có ta với nàng, ta châm chước, không bắt bẻ. Nàng phải nhớ, sự chung chạ là ở nơi mức độ chứ không phải nơi lễ độ.

- Dạ, thiếp xin lĩnh ý bệ hạ.

Nhà vua đã toan đứng dậy, lại ngồi xuống âu yếm vỗ vai hậu, và hỏi:

- Từ ngày nàng vào cung tới nay thoắt đã gần hai chục năm, ta chưa thấy nàng xin ta một điều gì. Vậy chớ trong chỗ họ hàng, bà con, không có ai cậy nhờ gì nàng sao?

- Đội ơn bệ hạ đoái đến thần thiếp. Ngay cả điều ấy, thiếp cũng được các quan răn dạy: “Triều đình đã có chính sách với người thân như cha mẹ, anh em của các hậu, các phi, tần. Lộc vua đã ban khắp, từ ruộng đất đến tước trật cũng như việc tha tô, thuế, tha phu phen, tạp dịch. Ngoài ra ai có tài tâu lên, làm được việc gì, xứng chức nào, cho giữ chức đó”.

Dạ, mọi chính lệnh của bệ hạ đã rõ ràng, thiếp không có điều gì khúc mắc cả.

- Riêng phần nàng và Vũ Đức vương, nàng có điều gì muốn nói?

- Tâu bệ hạ, thần thiếp được như thế này cũng là nhờ trọng ân của bệ hạ, thần thiếp không dám cầu mong điều gì hơn nữa. Chỉ xin bệ hạ rủ lòng thương đến Vũ Đức vương. Hoàng tử tính tình bồng bột, xốc nổi lại ham việc cung kiếm hơn là việc thi thư. Thiếp chỉ lo khi con lớn lên đầu óc sẽ thiên lệch.

- Muốn con không thiên lệch thì mẹ phải trung chính. Muốn con thiện thì mẹ phải nhân.

Nàng có biết vì sao ta cho treo ở đây hai chữ “ĐOAN CHÍNH” không? Vừa nói vua vừa chỉ vào bức đại tự. Đoan là đoan trang, ấy là cái nết mà người đàn bà phải theo. Chính là trung chính, là ngay thẳng, thật thà.

Mẹ con nàng theo được hai chữ này ắt là có phận. Còn trong điện Phật, ngay trước chỗ ngồi niệm kinh, ta đã cho treo một chữ TÂM. Bởi tu Phật cốt ở tu tâm. Tâm là cái thần minh cao cả của con người, nhờ nó ta mới cảm ứng được với vạn vật, nó cũng là cái gốc của cõi thiện, cái gốc của lòng từ ái. Người thường nếu tu được tới chỗ định tâm, lo gì không có phúc. Ấy thế mà nàng lại cứ hay lơ là, vọng động.

Ta không cần biết nàng vọng động cái gì, chỉ nghe tiếng chuông, tiếng mõ của nàng cũng biết trong lòng nàng đang có điều gì bấn rối. Lại nữa hôm qua, ta tới bất chợt, nàng vội vã ra đón, đội nhầm mũ của con, rồi nàng lại biến báo, làm cứ như Vũ Đức vương là đứa con chí hiếu. Vua dừng lại ngắm nhìn hậu, rồi nói tiếp: – Vậy những điều ta nói có đúng, hay là ta lấy quyền uy mà áp đặt cho nàng. Nghe vua nói, gương mặt hậu cứ tái xanh tái mét. Đoạn nàng quỳ lạy:

- Xin đại vương tha tội! Xin đại vương tha tội, thần thiếp vì ngu muội mà trót dại.

- Đứng dậy đi, nàng không có tội, chỉ một chút lỗi nhỏ thôi. Chịu khó đổi lỗi, chịu khó dưỡng tâm, nàng vẫn là người tốt. Nàng nên biết, con người ta ở đời đâu phải là các bậc thánh. Cho nên sai điều này, phạm điều kia, thật khó tránh. Vậy cái quan yếu nhất là phải thành tâm đổi lỗi, để rồi không mắc vào các lỗi lầm đã mắc, để lại phải ân hận. Ta không trách người có lỗi. Ta chỉ trách người không chịu sửa lỗi. Và nếu như kẻ nào hai ba lần phạm cùng một lỗi thì đó chính là kẻ xảo trá, kẻ đê tiện, đáng ghê tởm, phải trị tội nặng gấp hai ba lần.

Ngừng một lát, vua lại nói:

- Thôi ta phải vào triều, nàng nhớ các điều ta dặn chưa?

- Tâu bệ hạ, thần thiếp nguyện ghi nhớ nằm lòng. Đội ơn bệ hạ đã gia ân.

Ra khỏi cung Quỳnh Hoa, vua Thuận Thiên không vào thiết triều nữa mà sai kiệu đi thẳng ra ngoài thành để vào phủ của Vũ Đức vương.

Thấy kiệu nhà vua tới, mấy đứa quân hầu phủ phục lạy. Có đứa nhanh chân, chạy vào trong phủ bẩm với quan sư phó:

- Trình quan, bệ hạ giá lâm.

Quan sư phó cùng mấy viên thư lại đang ngồi uống trà, bình văn, vội bỏ tất cả chạy ra sân đón vua.

Vua Thuận Thiên xuống kiệu chào đáp lễ quan sư phó, rồi cùng vào trong nhà học của hoàng tử.

Quan sư phó vòng tay vái vua rồi thưa:

- Tâu bệ hạ, bữa nay hoàng tử ra bãi tập.

- Tập gì vậy? – Vua hỏi.

- Tâu bệ hạ, hoàng tử tập phi ngựa bắn cung. Tập đánh phục kích và đánh phản phục kích. Hoàng tử rất siêng năng rèn tập. Nếu nhìn thấy hoàng tử nơi bãi tập, hẳn bệ hạ phải đẹp lòng lắm.

- Vậy thì đi xem con ta tập tành. – Vua Thuận Thiên làm một cái khoát tay. Mọi người theo vua ra bãi tập.

Một chàng thiếu niên mảnh dẻ, gọn gàng trong bộ võ phục màu tía, đầu đội mũ đâu mâu bằng da dê, đuôi mũ phủ trùm gáy, chân đi đôi hia màu đen cao tới nửa bắp chân, ống quần tém gọn trong hia. Chàng cỡi con ngựa tía, lưng đeo một cây cung và một giỏ tên, đang phóng như bay quanh trường bắn. Vó ngựa cứ soải dài, hai chân trước vừa chạm đất, hai vó sau đã hất bổng lên không. Thiếu niên cúi rạp mình trên lưng ngựa, nhưng luôn đánh mặt về phía tấm bia. Biển bia màu trắng, vẽ mười vòng tròn đen. Vòng nhỏ nhất ở trong cùng, điểm màu son đỏ rực như màu máu. Thiếu niên cứ vừa phi ngựa vừa ước lượng khoảng cách và hồng tâm, bỗng tới cái vạch thứ nhất của vòng quy ước, chàng buông cương, một tay với qua vai, rút được một mũi tên từ trong giỏ cùng lúc chàng hẩy nhẹ vai phải, chiếc cung đã nằm gọn trong bàn tay trái. Và bằng một cử chỉ rất nhẹ, chàng lắp tên, ta chỉ nghe tách một cái, đã thấy mũi tên cắm phập vào mặt bia. Vừa lúc con ngựa đã dừng phắt lại trước vạch trắng thứ hai. Đó là khoảng cách đúng một trăm năm mươi bước chân. Một tấm biển nhỏ từ dưới hố gần xế cột bia giương cao chữ “thất”. Điều đó có nghĩa là cung thủ vừa bắn trúng vòng thứ bảy. Cũng tức là được bảy điểm.

Chàng lại tiếp tục nắm lấy cương ngựa và làm y hệt lần trước. Kết quả là mũi tên lần thứ hai cũng xuyên trúng vòng số bảy nhưng ở phía đối xứng với mũi tên bắn lần trước. Thiếu niên lại nắm lấy dây cương, chàng cúi rạp mình trên lưng ngựa, lấy tay vỗ nhẹ vào cổ nó và nói điều gì, chắc chỉ có con ngựa tía kia mới hiểu được. Bỗng con ngựa dựng đứng hai chân sau rồi nó lao vào con đường vòng, khiến mọi người loá mắt, không còn ai nhìn rõ người và ngựa nữa, chỉ thấy một vật vút dài như cái đuôi sao chổi. Kết thúc vòng thứ ba, con ngựa dừng tắp lự trước vạch cự ly, cùng lúc mũi tên đã cắm phập vào hồng tâm. Mấy đô quân cùng các tướng đang ngồi xem như bị thôi miên, bỗng oà lên một tiếng reo vang: “Thần tiễn!”, “Thần tiễn!”. Và rồi họ reo hò chúc mừng chàng hoàng tử, nghe ầm ầm như muốn sập cả quân trường.

Tới lúc này, Vũ Đức vương vẫn chưa biết có vua cha ghé thăm. Chàng thả lỏng tay cương đi về phía các võ sư đã dạy chàng. Vũ Đức vương xuống ngựa, cúi đầu sát đất, chào các bậc sư phụ.

Chợt có người rẽ đám đông cúi chào chàng và nói hối hả:

- Trình vương, có hoàng thượng tới thăm, ngài đang đứng phía cửa đông.

Vũ Đức vương cùng các vị sư phó và cả đám quan quân chạy nháo nhác về phía nhà vua, quỳ lạy.

Vua Thuận Thiên tươi cười nói:

- Ta miễn lễ! Đứng dậy cả đi.

Nhà vua đích thân nắm tay Vũ Đức vương kéo chàng đứng dậy. – Khá khen, con đã trở thành một cung thủ thiện xạ. Chẳng hay thầy của con là ai vậy?

Vũ Đức vương chỉ vào hai vị võ sư:

- Trình phụ hoàng, thầy võ này là Nguyễn Nguyên Thủ, vốn là đô trưởng đô Tuỳ long.

Nhà vua gật đầu, vỗ nhẹ vào vai vị võ sư nói: – Ta biết khanh từ cuộc thi tài cung thủ từ hồi còn ở đất Trường Yên. Có phải tên cũ của khanh là Nguyễn Đạt Tài?

- Tâu bệ hạ đúng ạ. Trong lòng vị võ sư vừa mừng vừa lo. Mừng vì vua còn nhớ rành rõ mình từ thuở còn là một tên tiểu tốt vô danh. Chỉ vì trong cuộc thi tuyển ba kỳ lấy cung thủ thiện xạ sung vào đội quân Tuỳ long để hộ giá, ta đều đỗ đầu. Vua liền hỏi tên họ quê quán. Nghe xong, vua phán: “Vậy là ngươi đã “đạt tài” rồi. Nay ta cho ngươi cái tên khác để chứng tỏ tài thần tiễn của ngươi; thay vì Nguyễn Đạt Tài, từ nay tên ngươi là: Nguyễn Nguyên Thủ”.

Còn lo là bởi hoàng tử ham mải kiếm cung thái quá, nên có phần xao nhãng học hành chữ nghĩa. Việc này, nếu các ông sư phó hặc tâu, ắt ta mang trọng tội. Hơn nữa, sức hoàng tử quả có hơi mảnh. Nhưng ý chí lại rất cương cường.

- Tốt lắm! Gắng hầu hạ hoàng tử cho nghiêm cẩn, ta sẽ có thưởng. – Thế còn vị này, vua Thuận Thiên chỉ tay vào người đứng sau võ sư Nguyễn Nguyên Thủ.

Mặt ông ta ngây ra như không hiểu hoàng thượng hỏi gì.

Vua sinh nghi, hỏi hoàng tử:

- Vũ Đức, người này ở đâu tới dạy con?

Vua Thuận Thiên lim dim mắt, tay vỗ vỗ nơi vầng trán rộng như cố nhớ lại một điều gì. Chợt ngài ngửng phắt đầu lên, với vẻ quả quyết, ngài hỏi:

- Có phải người này là bộ tướng của Dương Trường Huệ người man Tống, bị ta bắt cầm tù từ năm Giáp Dần (1014). Sao y lại ở đây dạy con?

Hoàng tử mặt biến sắc, quỳ tâu:

- Lạy phụ hoàng tha tội. Chỉ vì con nghe lời phụ hoàng răn dạy: – Phải thông hiểu kinh sách. Lại phải giỏi việc quân. Mưu lược không chưa đủ, phải giỏi cả đường cung kiếm. Về cung, con đã có vị đô trưởng đây rèn dạy. Còn về kiếm, quả chưa có bậc cao thủ nào chỉ dẫn. Một bữa con ghé thăm trại tù binh, thấy người này cầm thanh củi múa trước các bạn tù. Nom các đường kiếm của ông ta uyển chuyển, mềm mại như hoa rơi tuyết rụng. Con ngỏ ý với viên giám ngục mượn người này một thời gian. Thoạt đầu y bảo nguy hiểm lắm. Nếu họ trở mặt thì sinh mệnh hoàng tử, tôi không thể lấy đầu ra bảo đảm được. Một lát sau, ngẫm nghĩ thế nào, viên giám ngục ghé tai căn dặn người này điều gì rồi y bảo con: thôi được, thần cho hoàng tử mượn y sáu tháng. Thần sẽ cho người giám sát y.

Nhà vua có vẻ đăm chiêu suy ngẫm, hết nhìn vẻ sợ hãi của hoàng tử lại nhìn gương mặt người tù binh. “Tam đình, ngũ nhạc nở nang, cân đối, mắt sáng, tai to… Nếu ta thu dụng, người này có thể trở thành tướng tâm phúc”.

Nghĩ vậy, vua Thuận Thiên quay lại hỏi con:

- Vậy chớ đường kiếm thuật, con hấp thu được đến đâu rồi? – Ông ta có thực tâm truyền dạy cho con ta không? Nhà vua chợt hỏi Nguyễn Nguyên Thủ.

- Tâu bệ hạ, hoàng tử… Nguyễn Nguyên Thủ nói ấp úng – quả thật thần không biết nói thế nào cả. Chính bệ hạ đã thấy tài thần tiễn của hoàng tử rồi. Còn về đường kiếm thuật, cũng chỉ mới học được vài bữa; nhưng hoàng tử đã sớm tỏ lộ một tay kiếm bạt quần. Thần chỉ tiếc, sức hoàng tử hơi mảnh.

- Thôi được, ta hỏi ngươi nếu ta dùng người này làm tướng dưới trướng của con ta có được không, có sợ y manh tâm phản phúc không? Ngươi có giám sát được y không?

- Tâu bệ hạ, để chắc chắn, bệ hạ nên sai bên khu mật viện và ty phản gián tra xét lai lịch y cho rõ ràng, rồi sau đó bệ hạ giao y cho thần quản lãnh, chắc là được. Tâu bệ hạ, có một điều thần rất băn khoăn, nhưng không thể không trình lên bệ hạ xem xét. Dạ, thần băn khoăn chỉ vì y là một tay kiếm siêu việt, nếu bệ hạ không thu phục y, thì nên giết đi, chớ không nên thả y về lại đất Tống.

Vua Thuận Thiên cho những lời tâu của Nguyễn Nguyên Thủ là chuẩn xác. Nhà vua cho gọi người tù binh tới, ngài bảo viên thông ngôn:

- Ngươi hỏi xem ông ta có phải người Hán không?

Được vua hỏi, viên hàng tướng quỳ lạy, và nói:

- Tâu bệ hạ, thần là Lưu Hoằng Định, tự Đích Nhân gốc người Hán, quê Sơn Đông, xưa là nước Lỗ. Nhà thần nhiều đời làm tướng. Cha thần từng giữ chức đô thống, coi thiết đột quân tước Dĩnh xuyên hầu.

Dạ, muôn tâu, thần được người cha là bậc trí huệ, nên cho con cái học hành khá chu đáo. Thần được đi học từ thuở sáu, bảy tuổi, thi vào tới tam trường thì vua xuống chiếu: “Cấm con cái các nhà xuất thân nghiệp võ không được vào thi hội”. Thần phải trở về học tại giảng võ điện. Và đã đậu tạo sĩ khoa thi năm Kỷ Dậu, liệt ưu hạng.

Nghe viên hàng tướng kể trôi chảy một cách đáng ngờ, nhà vua muốn tự mình thẩm định nhân cách và tài năng của y, trước khi y được phép dạy hoàng tử. Nghĩ vậy, vua liền bảo Nguyễn Nguyên Thủ:

- Khanh dẫn y về phủ Vũ Đức vương để ta hỏi chuyện.

Phân ngôi chủ khách xong, vua cho gọi cả hoàng tử và mấy ông sư phó cùng vào nghe. Nhà vua hỏi:

- Sau khi thi đỗ, ngươi có được bổ dụng ngay không?

- Tâu bệ hạ, vì thần là con nhà dòng dõi, nên sau khi thi đỗ, thần được gọi vào cấm quân, phiên chế trong vệ Kim ngô, chức tả vũ vệ.

- Đang giữ chức tả vũ vệ trong cấm binh, gần cận thiên tử, cơ may thăng tiến hơn người, cớ sao ngươi lại về dưới trướng Dương Trường Huệ?

- Muôn tâu bệ hạ, đầu đuôi câu chuyện hơi dài dòng, bệ hạ có cho phép thần mới dám tường trình lại.

- Được, ngươi cứ nói những gì mà ngươi biết.

- Tâu bệ hạ, nước Tống từ lâu khốn đốn với các rợ Khiết Đan, rợ Liêu và Hạ. Triều đình phải tuế cống cho họ mỗi năm hàng triệu lạng bạc, hàng mấy trăm ngàn súc vải. Nhưng họ vẫn thường xâm lấn biên cương, vào sâu trong cõi bắt gia súc, gái đẹp cùng ngựa chiến. Đang lo mặt bắc chưa yên thì mặt nam, hai viên đầu lĩnh người Thái, người Nùng là Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí nổi lên. Dân theo về chúng như nước vỡ bờ, thế của chúng như chẻ tre, chỉ trong mấy tháng đánh đuổi hết các châu mục, chiếm lĩnh vùng tả hữu giang, làm chấn động cả triều đình.

Thiên tử đang định phái tướng đi đánh dẹp, thì được tin hai nhà Dương – Đoàn liên thủ với nhau, thanh thế lớn lắm. Tể tướng Vương Khâm Nhược bàn rằng: “Nếu đánh hai nhà Dương – Đoàn lỡ không thắng mà nhân cơ hội An Nam lại tiến quân vào cõi, rồi mặt bắc đám Liêu, Hạ lại nhất tề xua quân vào sâu nội địa thì nam bắc lưỡng đầu thọ địch, Trung nguyên nguy mất”.

Dạ, tâu bệ hạ, trong lúc tình thế thật là khó xử, tiến thoái lưỡng nan thì hai nhà Dương – Đoàn dâng sớ xin cắt đất phong vương. Tể tướng Vương Khâm Nhược xin nhà vua nhân cơ hội dụ bảo hai nhà Dương – Đoàn tiến đánh An Nam, chiếm thêm mấy châu, lộ nữa, triều đình sẽ gộp đất hai vùng tả hữu giang cắt cho hai tướng và phong vương luôn thể. Vì hám lợi, hai tướng nhận liền, nhưng xin triều đình cấp thêm cho năm vạn ngựa chiến, một vạn binh cùng ba mươi vạn hộc lương. Cực chẳng đã, Tống Chân tông không còn cách nào thoái thác.

Thần được phong làm phó đô nguyên suý cùng với đô nguyên suý Lỗ Nguyên, dẫn quân triều đình về vùng tả hữu giang phối hợp với hai tướng man để đánh An Nam. Nếu sau khi hai nhà Dương – Đoàn toàn thắng, chúng thần phải tìm cách trừ khử để tránh hậu hoạ cho đại Tống. Nhưng thưa bệ hạ, bọn người man này tinh ranh như cáo. Lũ chúng thần vừa chân ướt chân ráo hạ trại, thì hai tướng mở đại tiệc tẩy trần, mời tất cả đám tướng soái của triều đình tới dự. Tiệc chưa tàn thì giáp binh của chúng xông ra trói chặt lũ thần lại bắt giải về dinh. Một vạn quân triều đình được chúng chia nhỏ ra để nhập với binh man. Còn lũ chúng thần được đưa về dưới trướng giam lỏng.

Viên hàng tướng thở dài như vừa trút được gánh nặng, đoạn y nói tiếp: – Tâu bệ hạ, thật là may mắn cho thần, chính bệ hạ đã cứu sinh mệnh thần.

Vua Thuận Thiên mỉm cười hỏi lại:

- Sao vậy?

- Tâu, nếu như lũ tướng man Dương – Đoàn kia mà thắng, thì chắc chắn là chúng sẽ giết bọn thần trước khi chúng được Tống Chân tông phong vương. Và rồi chúng cũng sẽ giết nhau.

- Nhằm vào bằng cớ nào mà ngươi nói vậy? – Vua hỏi.

- Tâu bệ hạ, khi thần bị giam lỏng dưới trướng Dương Trường Huệ, vẫn thấy Đoàn Kính Chí lui tới viếng thăm nhau. Đôi lần họ đã bàn đến chuyện chinh phục xong An Nam, Tống Chân tông phong vương thì ai làm vương, ai giữ ấn. Hai tướng đều không có ý nhường nhau. Cứ lần nào bàn đến chuyện này họ cũng đều to tiếng. Thần ngờ rằng họ có âm mưu hạ sát nhau. Và vì vậy, bọn thần tuy là tướng của triều đình, nhưng nếu ở với bên này, ắt là kẻ thù của bên kia. Vì thế, hai bên sẽ cùng ra sức lôi kéo. Lôi kéo không được, ắt sẽ trừ khử. Bởi thế được thua trận, lại được làm tù binh của bệ hạ, thần cho là đại hạnh.

Vua Thuận Thiên nghe người tù binh nói có lý, trong lòng đã bớt nghi hoặc tới tám chín phần. Nhưng lại nghe y xu nịnh “được thua trận, được bắt làm tù binh là một đại hạnh”, thì nhà vua thấy nó nghịch cái lỗ tai quá; ngài cảm thấy khinh ghét nhân cách viên hàng tướng nhà đại Tống này tới mức không còn muốn hỏi chuyện y nữa.

Phút im lặng nặng nề khiến người tù binh cảm nhận như có điều gì nguy hiểm đang đến với y.

Chợt vua Thuận Thiên cao giọng hỏi:

- Nếu ta tha mạng sống cho ngươi, lại cho ngươi về đất Tống thì sao?

Y vòng tay vái nhà vua rồi quỳ xuống lạy hai lạy. Y nói giọng ấp úng như là một sự bẽ bàng:

- Tâu bệ hạ, thần biết bệ hạ không chỉ khinh bỉ thần mà còn khinh bỉ cả Tống Chân tông. Vì rằng vua nào thì tôi ấy. Tống Chân tông hèn yếu tới mức bất cứ một kẻ nào đe doạ xâm lăng là ông ta đã run lên rồi. Triều quan nước Tống của thần phần đông là lũ sâu mọt, chỉ đủ tài đục khoét và ức hiếp dân lành, nhưng lại sẵn lòng hợp tác hoặc đầu hàng kẻ thù. Ngay mấy thủ lĩnh người man như Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí vốn là những thổ hào quy tụ đám dân đói khát, ô hợp vài chục vạn người mà quan quân bản hạt cũng sợ rúm người lại không dám đánh dẹp. Còn triều đình thì chúng vừa yêu sách đã phải lập tức thoả mãn. Như thế có khác nào khuyến khích bọn chúng làm loạn.

Tâu bệ hạ, nước Tống của thần hiện nay quan lại phần nhiều là bọn lưu manh, giặc cướp cả. Chẳng thế mà trong dân gian đang lưu hành câu ngạn ngữ: “Dục đắc quan, sát nhân phóng hoả thọ chiêu an”[78]. Vì rằng những kẻ được chiêu an lại thường được phong quan chức.

Viên hàng tướng dường như không nén giấu nổi xúc động đành để rơi mấy giọt lệ. Ông ta đưa cánh tay áo quệt nước mắt rồi nói tiếp: – Tâu, bệ hạ có thể khinh bỉ thần. Song quả thực sống trong một đất nước mà những người đứng đầu nhu nhược, hèn yếu như vậy thì người dân khó có khả năng gìn giữ được nhân cách. Dạ đúng như thế đấy ạ, đạo quân tử là xuất phát từ thời Xuân Thu. Nhưng nước Trung Hoa của thần ngày nay hầu như chỉ có lũ tiểu nhân ngự trị.

Tâu hoàng thượng, thần cũng chỉ là một con tốt đen trong đám tiểu nhân ấy thôi. Thần là một đứa nhu nhược đã hai lần bại trận. Đến nỗi mấy tên đầu mục người man chúng cũng lừa bắt gọn bọn thần rồi cướp không cả một vạn quân triều đình. Bệ hạ còn hỏi thần vì sao ư? Muôn tâu, ấy là từ quan đến lính không một ai còn muốn đánh nhau nữa. Mà đánh nhau cho ai, chết vì cái gì chứ. Nước của thần hiện giờ không khác gì một hũ tương thối. Chính vì vậy thần muốn nói được thua trận lại được làm tù binh của bệ hạ là đại hạnh. Và chính bệ hạ đã cứu thần. Thần nói đó là nghĩ suy thành thật tự đáy lòng, nhưng cũng vì thế mà bệ hạ khinh bỉ thần là một kẻ giá áo túi cơm. Thần là kẻ cùng đường mạt vận lại xô vào nghịch cảnh, bệ hạ thương tha cho, ơn ấy mong có ngày báo đáp. Song le, nếu bệ hạ bắt thần phải về đất Tống, thì thần xin bệ hạ cho được chết trên đất của bệ hạ.

Nghe những lời trần tình chân thực như được nhỏ ra từ máu và nước mắt của viên hàng tướng nhà đại Tống, vua Thuận Thiên không những thương cho thân phận của y mà nhà vua còn thầm biết ơn vì chính y, đã vô tình cảnh tỉnh cho ta bài học cay đắng của vua tôi nhà Tống. Đó là sự ngu tối của kẻ cầm đầu bộ máy quốc gia, khiến cho cả triều đình lâm vào trì bế, kéo theo cả một triều đại suy yếu. Sự hèn kém của triều đình khiến cả một đất nước vĩ đại dường ấy, mà phải sống chui nhủi như một lũ chuột.

Vua lại tự nghĩ, cứ gì nhà Tống, ngay trên đất nước này hơn chục năm về trước, Ngọa triều Lê Long Đĩnh trị vì, y chẳng đã biến cả đất nước thành một nhà tù vĩ đại, biến cả đất nước thành một pháp trường đó sao. Dân chúng thì đói khổ, sợ sệt, ly tán không ai còn muốn sống nữa. Ngay ta là một quan lớn, chức tới điện tiền chỉ huy phó sứ trông coi cấm binh, mà tính mệnh lúc nào cũng như cá nằm sẵn trên thớt. Chỉ cần vua phật ý, là bị bỏ nấu trong vạc dầu như chơi. Nhiều lúc ta tự hỏi: không hiểu mình đang sống trong thời đại nào đây. Ngoài vua ra, sinh mệnh mọi người không có gì bảo đảm. Thật là man rợ, khi con người ta sống trong một xã hội không có luật pháp. Dù có vài quy ước gọi là luật pháp thì cũng không bao giờ được tôn trọng, thử hỏi có khác gì xã hội của loài cầm thú. Ôi chao, cái thời mạt kiếp đó mà còn tồn tại tới ngày nay, dân tộc ta chắc đã bị diệt chủng.

Chợt nhớ đang nói chuyện với Lưu Hoằng Định, một viên hàng tướng với biết bao nỗi niềm cay đắng và mang một bầu tâm sự đầy bi phẫn, nhà vua cảm thấy nể trọng y và thực tâm muốn cứu y. Vua bèn khẩu dụ:

- Lưu Hoằng Định tướng quân, ngươi có bằng lòng làm quan tại nước Nam không? Ta cho ngươi giữ chức cũ, lại cho ngươi rèn dạy con ta thành tài, ý ngươi thế nào?

Lưu Hoằng Định quỳ lạy nhà vua ba lạy:

- Bệ hạ chính là người đã sinh ra thần lần thứ hai, thần nguyện đem hết tâm lực ra phụng sự bệ hạ.

- Thôi được, vua Thuận Thiên nói. – Tạm thời khanh cứ ở lại cung của Vũ Đức vương, ta sẽ sai Trung thư sảnh sắp xếp sau.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 27.09.2018, 16:51
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XXII

Thái tử Lý Phật Mã đi mở phủ, thoắt đã được gần ba năm. Thầy trò khai phá được một khoảnh đất chừng năm mẫu. Mấy vụ đầu đám ruộng cao gieo lúa nương, còn khoảnh trũng cấy lúa nước, nhưng từ khi lúa trổ bông tới lúc vào mẩy, hết chuột đến gà rừng, công, trĩ cùng lợn rừng phá hết. Gặt về chỉ được nắm rơm còn đeo bám mấy hạt lúa lép.

Vụ thứ hai chuyển sang trồng khoai, trồng lạc cũng bị nhím và lợn rừng moi móc hết củ, chỉ còn trơ lại đám dây héo.

Thái tử than vãn với mấy cụ lão nông trong hương ấp đến chơi:

- Cứ cái đà này, hết hạn đi mở phủ, lũ chúng tôi lấy gì mà nộp thuế cho quan.

Cụ Thảo, người trong xóm hay lân la ra ngoài trang ấp của thái tử thăm viếng, lúc con cá khi lá rau, nhà có gì thường hay đem biếu. Gọi là hàng xóm, tắt lửa tối đèn có nhau. Nghe thái tử nói, cụ vuốt râu mỉm cười:

- Thái tử cứ lo xa, quan quân nào dám tới đây thu thuế của ngài.

Ông xã trưởng vẻ khúm núm:

- Thái tử cả nghĩ, từ ngày khai phá mảnh đất này, ngài đã thu hoạch được chút hoa lợi nào đâu mà lo tới chuyện thuế với tô, vả lại triều đình đã có mệnh, đất mới khai vỡ được miễn tô, thuế từ năm đến mười năm kia mà.

Lý Phật Mã nhìn mọi người với vẻ biết ơn vì lòng cảm thông của họ, thái tử nói:

- Từ ngày chúng tôi về đây, may mắn được bà con đùm bọc. Các vị chức dịch cũng coi chúng tôi như dân trong hương ấp, tình cảm thật là ấm áp. Ngặt vì chúng tôi vụng quá, có làm mà chẳng có ăn. Đó là tại chúng tôi không giữ được, để thú rừng nó tranh ăn mất chứ có phải thiên tai địch hoạ gì mà đòi ân giảm tô, thuế. Thái tử có vẻ lo lắng: – Nếu không có cách nào canh giữ được chim, thú thì chúng tôi vẫn cứ phải đóng thuế cho quan trên.

Cụ Thảo thở dài, vẻ cảm thông, cụ nói:

- Bẩm thái tử, hay là thế này, thái tử thử tính lại xem, nếu ta trồng dâu, chăn tằm thì sao. Chân đất này ưa dâu lắm. Dâu bốn mươi ngày một lứa hái, tằm cũng bốn mươi ngày là chín. Có dâu là có kén, có kén là có tơ, có lụa. Tơ lụa đổi lấy lúa gạo, lo gì.

Lý Phật Mã vỗ tay đánh đét một cái, chàng reo lên, cái giọng đang vỡ, nghe nửa ấm, nửa khàn:

- Ôi trời, có thế mà không nghĩ ra. Chàng nhìn cụ Thảo với vẻ biết ơn. Lúc này thái tử nhìn cụ bằng cả tấm lòng của mình, nên thấy được các nét sâu kín qua các đường nhăn ngang dọc hằn trên gương mặt già nua của cụ. Đúng là ông cụ lo lắng cho ta, như cha mẹ ta lo cho ta vậy. Khẽ nắm bàn tay chai thô nháp của cụ Thảo, thái tử nói với vẻ xúc động:

- Phật Mã tôi vô cùng biết ơn tấm lòng bao dong của các cố lão. Xin các cố lão chỉ dẫn cho. Tôi sẽ bắt tay ngay vào việc trồng dâu. Chắc là không có con vật nào ăn lá dâu nữa mà sợ mất mùa.

Cụ Thảo phủ cái nhìn lên người thái tử như toả một tình thương ấm áp lên cái thơ ngây của tuổi trẻ. Với giọng cười xởi lởi, cụ đáp:

- Trồng dâu là chắc ăn, nhưng vẫn phải canh giữ đấy thái tử ạ.

- Sao vậy, thưa cụ?

- Loại thú ăn củ, ăn quả thì nó không ăn lá, cụ Thảo thủng thẳng nói: – Nhưng loại thú ăn cỏ như hươu nai thì nó lại ăn lá thưa thái tử.

Vẻ thất vọng, thái tử hỏi: – Vậy làm thế nào mà giữ được, thưa cụ?

- Thái tử khỏi lo. Loại thú này dễ giữ lắm. Chỉ cần đóng cọc vây quanh nương dâu, rồi lấy dây chăng lưa thưa quanh cọc. Trông thấy vậy, là chúng đã bỏ đi rồi, chứ không tìm cách phá rào như lũ lợn rừng.

Sáu tháng sau, nương dâu tốt xanh mơn mởn. Bốn lá tằm chăn thử lứa đầu trông đã bắt mắt. Tuy chưa đến kỳ ăn rỗi, nhưng da tằm sáng đẹp, đều con. Dân trong làng ai cũng khen “thái tử mát tay”.

Để khi tằm chín có kén, phải có người biết ươm tơ, nếu không cũng chỉ là công dã tràng; thái tử bèn vào trong hương ấp nơi nhà người bạn Mai Mạnh Minh học cách ươm tơ. Chẳng là thái tử thường qua lại nhà bạn, thấy người em gái Mạnh Minh ươm tơ giỏi lắm!

Bữa nay thái tử đến đột ngột. Dường như chỉ có một mình chàng với con Huyền Đề lẽo đẽo theo sau. Có khi nó chạy vượt lên trước, khịt khịt cái mũi đánh hơi, rồi nó dẫn chàng đến đúng cổng nhà họ Mai.

Con Huyền Đề sủa ba tiếng dõng dạc, tựa như nó gọi chủ nhà. Bên trong cổng, đàn chó thấy động kéo cả bầy sủa ầm ĩ. Người nhà ra xua chó vào cũi, và người mở cổng lại chính là cô Mai Minh Nguyệt. Nguyệt cúi chào thái tử, nàng bẽn lẽn mời thái tử vào ngôi tiền đường, nơi cha và anh nàng thường tiếp khách.

Minh Nguyệt xin phép xuống nhà. Lát sau nàng đã thay một tấm áo dài lụa màu thanh cát, tay bê khay trầu, và người lực điền bê theo sau chiếc ấm giỏ. Con Huyền Đề nhảy chồm lên ngăn không cho người lực điền bước qua ngưỡng cửa. Bị con chó dữ chồm bất ngờ, người lực điền buông tay, chống đỡ. Chiếc ấm giỏ đầy nước nóng rơi xuống vỡ tan. Nước bắn tung toé, chân anh lực điền bị bỏng nhẹ. Con chó nhảy lùi lại phía sau ngoạm vào gấu quần anh lực điền không cho anh nhúc nhích.

Thái tử vội chạy ra mắng con Huyền Đề:

- Mày hỗn! Vào nhà ngay!

Con chó nhảy vọt qua ngưỡng cửa vào nhà. Mắt nó vẫn không rời khỏi anh lực điền.

- Nằm vào góc kia! Thái tử vừa nói vừa chỉ vào góc nhà. Con chó chạy vào nằm gọn, đầu cúi xuống như thể biết rằng nó có lỗi.

Mọi việc xảy ra nhanh quá, lúc này thái tử mới nhìn thấy Minh Nguyệt đứng nép vào cạnh cửa, mặt tái xanh, tay vẫn ôm khư khư khay trầu.

Với vẻ lúng túng, thái tử phân bua:

- Chỉ tại con chó của ta làm nàng hoảng sợ, xin nàng thứ lỗi.

Gương mặt thiếu nữ từ tái xanh chuyển sang hồng hào. Nàng nói như người mắc cỡ:

- Xin thái tử tha tội, song thân và cả huynh trưởng thiếp sớm nay về thăm quê ngoại, thiếp phận gái vụng về, quê kệch.

- Ồ không! Không sao cả. Lỗi tại ta. Ta đến thăm đường đột quá khiến nàng khó xử. Mong nàng thứ lỗi cho.

Trong khi cả thái tử và Minh Nguyệt đều khó xử, vì không một người đàn ông nào có nhà, thì Mai Trọng Mẫn, người anh kế của Minh Nguyệt đi săn cũng vừa về. Vai chàng mắc một cây cung, giỏ tên trễ phía sau hông. Tay xách trĩu tới cả chục con gà gô và chim trĩ. Hai con chó săn mình thon, chân cao như chân sếu chạy quanh quẩn bên chân chàng.

Trọng Mẫn vừa bước vào sân, thái tử đã nhận ngay ra người em của bạn mình, chàng ló ra cửa vừa trông thấy Trọng Mẫn trong dáng vẻ người lính vừa thắng trận trở về. Chàng khen:

- Ta nom công tử oai phong như một vị tướng.

Nhận ra thái tử, Trọng Mẫn mừng rỡ reo lên:

- Kính chào thái tử có lòng hạ cố. Xin thái tử tha tội, bữa nay song thân và huynh trưởng của thần về vấn an bên quê ngoại, thành thử không biết có thái tử ghé thăm để làm lễ cung nghinh.

- Ồ không! Ồ không! Thái tử xua tay đáp lời. Hãy coi ta như một người bạn của anh em công tử. Hôm nay ta đến đây có việc phải phiền đến lão bá và hai công tử.

Vừa lúc người lực điền bị con Huyền Đề làm phiền ban nãy chạy lên nhà chào cậu chủ, và nhân tiện báo với cô chủ:

- Thưa cô, nồi kén ươm sôi già lắm rồi, cô xuống nhà ngay kẻo hỏng mẻ kén.

Minh Nguyệt bẽn lẽn vái thái tử rồi xin phép xuống nhà. Cô chạy nhanh vào ngôi nhà ngang. Tại đây một nong kén đầy đã phơi khô, màu kén vàng ươm thơm mùi tơ và cả mùi nắng. Nồi nước kéo kén sôi liu riu, nhưng mẻ kén đang kéo dở thì có khách, lúc này thấm nước, mọng sẫm.

Nguyệt ngồi ngay vào ghế, tay cầm lấy đôi đũa khuấy khuấy vào những chiếc kén thấm nước nửa nổi nửa chìm, để tìm ra một đầu mối. Khuấy mãi mới lấy được mối, nhưng không kéo thành sợi được, mà chỉ thành những đoạn tơ ngắn, gút xù xì. Mọi cố gắng đều không thành, cô đành vứt mẻ kén ra một chiếc bát múc canh. Mẻ kén hỏng là bởi ngâm trong nước sôi quá lâu. Chờ cho nước sôi bùng lên, cô bốc một nắm kén bỏ vào nồi, rút bớt củi cho lửa cháy lom rom. Nguyệt vừa khuấy đầu đũa vào đã lôi ra được một đầu sợi; cô ghìm đũa giữa đám kén liu riu, và tay kia cô kéo một sợi tơ dài tưởng như vô tận. Những sợi tơ xếp chồng lên nhau trên một chiếc sàng thưa nom như đám dây tơ hồng phủ trên giậu cúc tần nơi đầu ngõ.

Lúc ở trên nhà, sau khi nghe thái tử nói có việc phải nhờ, Trọng Mẫn ngạc nhiên hỏi lại:

- Thưa thái tử, chẳng hay thái tử có điều gì cần sai khiến?

- Không có điều gì quan yếu lắm đâu công tử. Chẳng là các cụ trong hương ấp bày cho ta cách trồng dâu, chăn tằm. Nay dâu đã tốt, tằm thì đang ở lứa đầu, vài ngày nữa sẽ đến kỳ ăn rỗi. Chẳng mấy mà tằm vào kén. Ở chỗ ta không có ai biết ươm tơ cả. Bữa trước ta thấy tiểu muội của công tử ươm tơ thạo lắm, định vào đây thưa với lão bá cùng hai công tử để nhờ nàng dạy cho biết ươm tơ.

Nghe xong, Trọng Mẫn cả cười:

- Bẩm thái tử, đó là công việc của đám con gái, đàn bà, thái tử học làm gì. Khi nào tằm của thái tử chín, thần sẽ sai tiểu muội vào kéo tơ hầu thái tử.

- Sao công tử lại nói thế? – Thái tử hơi nghiêm nét mặt. – Phụ vương cho ta đi mở phủ, cốt là để gần dân. Gần dân mà không biết dân làm ăn sinh sống như thế nào, sao thấu hiểu được lòng dân. Cứ lấy việc bọn ta sức vóc như thế này, mấy chục con người khai phá bấy nhiêu lâu mới được năm mẫu ruộng, cấy trồng vật lộn suốt ba năm liền, không thu hoạch được cái gì có thể nuôi sống nhau lấy một ngày. Bọn ta còn được triều đình chu cấp, chớ người dân thì họ sống sao nổi. Nỗi khó nhọc cay đắng của người dân nếu không thấm vào ta, sao ta dám xin phụ vương tha tô thuế cho người nông phu vào những năm bão lụt hoặc sâu bệnh làm cho mất mùa. Công tử à, thái tử hạ thấp giọng, vẻ thân tình – Chính vì lẽ đó, mà ta muốn biết và muốn học cách làm như thế nào để người nông phu có thể sống được. Vậy công tử có bằng lòng giúp ta không?

Trọng Mẫn nghe những lời bộc bạch chân thành và cả việc làm của thái tử, tới lúc này chàng mới nhận ra chính sách thân dân của vị vua mở nghiệp đương triều. Đúng là trước đây chàng cho việc thái tử Lý Phật Mã về quê chàng mở phủ là việc làm chơi bời vờ vịt của mấy ông hoàng, nhằm che mắt thế gian. Không dè, đó lại là chính sách lớn, mang tính lâu dài, phát khởi từ lòng yêu dân, kính dân và thương dân của một đệ tử Phật, một lòng một dạ nhập thế để cứu thế của vua Thuận Thiên. Và vì thế từ đáy lòng mình, Trọng Mẫn cảm phục cả đức vua và thái tử. Vì rằng chính sách này được ban ra từ tấm lòng từ mẫn, chứ không phải là sự canh cải đầu lưỡi của lũ ma vương xảo trá. Nghĩ vậy, công tử bèn đáp:

- Thái tử với lòng cầu thị, Trọng Mẫn tôi vốn thô lậu nên chậm hiểu, mong thái tử tha tội. Chỉ hiềm nơi nhà ngang chật chội, sợ bất tiện cho thái tử.

- Không sao. Không sao. Miễn là ta biết kéo tơ.

Trọng Mẫn mời thái tử xuống nhà ngang. Minh Nguyệt đang ươm tơ, thấy anh mình dẫn thái tử vào thì hốt hoảng đứng dậy. Nàng rất ngượng vì ăn vận sơ sài mộc mạc quá, lại nơi nhà ngang đang bề bộn.

Thái tử như hiểu tất cả, chàng đưa tay ra hiệu cho mọi người việc nào cứ việc ấy.

Trọng Mẫn nói ý định học ươm tơ của thái tử. Chàng bảo em gái:

- Em ráng giúp cho thái tử những gì mà người cần.

Minh Nguyệt không những ngạc nhiên mà còn nghi ngờ việc chàng hoàng tử này đường đột vào nhà, nhân lúc cha mẹ nàng vắng mặt. Nay lại muốn nàng kèm cặp học cách ươm tơ. Chẳng hiểu thâm ý của chàng là gì đây. Nghĩ vậy, Minh Nguyệt tự nhủ: “Nhất định ta phải canh chừng chàng”.

Nhẹ nhàng, Minh Nguyệt nói:

- Tâu, nếu thực lòng muốn học ươm tơ, chắc không có gì khó khăn lắm đối với người sáng dạ như thái tử, song trước hết xin thái tử hãy cứ ngồi xem thiếp làm đã, rồi sau đó người sẽ làm được ngay thôi.

Được lời như cởi tấm lòng. Người nhà đưa ra hai chiếc đòn ngồi, chẻ đôi từ một ống tre bương, thái tử và cả Trọng Mẫn cùng ngồi xem Minh Nguyệt ươm tơ.

Thái tử nhìn như dán mắt vào đôi bàn tay nhỏ nhắn của Minh Nguyệt, chàng không bỏ sót một cử chỉ nào. Thoạt tiên, nàng cho chiếc muôi dừa có đục lỗ vớt những con nhộng đã kéo hết kén đổ ra một chiếc rá. Lại đậy vung nồi ươm, khơi to ngọn lửa cho nước sôi cuộn lên. Hạ bớt lửa, nàng lấy tay nhẹ dúm một nắm kén bỏ vào nồi. Tay kia cầm đôi đũa khuấy một vòng dìm kén ngụp xuống nước, rồi nàng lấy đầu đũa dấp dứ vào búi kén, kéo ra một sợi tơ mảnh. Tay phải dùng đũa dìm hờ búi kén trong nước sôi liu riu, tay trái cứ kéo mãi, kéo mãi sợi tơ cho đến khi trong nồi chỉ còn trơ lại những con nhộng. Mớ tơ đó chuyển ngay sang gian bên cho một người guồng vào quạng. Loáng một cái đã thành “con tơ” và người ta móc nó vào một cây sào tre đem hong nắng ngoài sân.

Thấy Minh Nguyệt làm thoăn thoắt, đôi đũa trong tay nàng tựa như đôi đũa thần, nàng khiến nó một cách ngon lành như người ta gắp thức ăn ở trong bát mình vậy.

Sau khi để thái tử xem mình kéo xong hai mớ tơ, Minh Nguyệt quay ra hỏi:

- Thưa, bây giờ thái tử thử một chút xem sao? Nàng chìa đôi đũa về phía chàng. Đôi má bắt lửa hồng như một trái đào chín, mấy sợi tóc vương trên vầng trán rịn mồ hôi, nom nàng có vẻ đẹp hồn nhiên như một bông hoa tầm xuân nở trước giậu cúc tần. Đón đôi đũa từ tay nàng trao, ngồi lên chiếc ghế còn ấm hơi nàng, tự nhiên chàng trai đang vào tuổi dậy thì thấy lòng mình xốn xang.

Thái tử lặp lại công việc hệt Minh Nguyệt vừa làm; cũng tăng lửa, giảm lửa; cũng thả kén vào nồi rồi khuấy đũa. Nhưng oái oăm thay, chàng không lôi ra được một sợi tơ nào, mà chỉ bùng nhùng một búi kén quyện vào nhau như mớ chỉ rối.

Cả chục con mắt hồi hộp dõi theo đôi đũa trong tay thái tử, bỗng một ai đó bật ra tiếng cười, rồi oà vỡ những tiếng cười vui làm chật thêm căn nhà nồng hơi lửa và thơm phức mùi tơ ướt, mùi nhộng chín ngầy ngậy.

Chính thái tử cũng bật cười, đôi đũa trong tay trở nên luống cuống, chàng khuấy đại một vòng rồi nhấc lên. Nó là một mớ bòng bong. Chàng chìa đôi đũa về phía Minh Nguyệt nói như phân bua:

- Ta cũng làm y hệt nàng vừa làm, tại sao lại không được, nàng nói thử ta nghe.

Minh Nguyệt đỡ lấy đôi đũa từ tay thái tử, nàng nói:

- Xin thái tử cứ ngồi đó, xem thiếp làm lại một lần nữa. Nói xong, nàng lấy đũa ghìm búi kén xuống nước, lại dấp dứ và lấy ra một sợi tơ mảnh, rồi nàng cứ thế kéo dài, dài mãi.

Bất chợt, nàng trao đôi đũa vào tay thái tử:

- Bây giờ điện hạ làm đi. Lần này chắc là được.

Không hiểu sao cầm đôi đũa trong tay, thái tử trở nên lúng túng, không biết bắt đầu từ đâu. Như quên hết tất cả những gì mà chàng nhìn thấy Minh Nguyệt vừa làm.

Nom thái tử lóng ngóng một cách tức cười, Minh Nguyệt bèn nắm trùm lên bàn tay cầm đũa của thái tử, rồi nàng trực tiếp dạy cho chàng cách lấy ra sợi tơ đầu tiên.

Lạ thay, thái tử như “ngộ” ra, và sợi tơ nơi tay trái chàng vẫn kéo dài thun thút. Có điều rằng, tơ Minh Nguyệt kéo, sợi đều tăm tắp. Còn thái tử kéo lại được loại sợi thô, có nhiều gút như sợi đũi.

Mọi người khen thái tử sáng dạ, khéo tay. Và chiều ấy, chàng kéo mải miết cho đến tối mịt thì được hai con tơ. Mồ hôi rịn ra ướt cả mấy lần áo quần, mặt đỏ gay, nhưng chưa bao giờ thái tử thấy trong lòng mình vui sướng, rảnh rang đến thế.

Đúng lúc ấy Lê Phụng Hiểu, Lý Nhân Nghĩa, Ngô An Ngữ cùng đoàn tuỳ tùng đi tìm thái tử cũng vừa tới cổng. Lát sau cả Mai Mạnh Minh cùng song thân chàng cũng vừa về tới trang ấp.

Khi mọi người vỡ lẽ về cuộc vi hành của thái tử, đều cho rằng sau này thái tử sẽ trở thành vị vua gần dân nhất, thương dân nhất.

Thái tử nhún mình khiêm tốn:

- Lão bá cùng chư vị quá khen, khéo làm Phật Mã tôi tổn thọ mất.

Trong khi mọi người đang quây quần trò chuyện, thì bà Mai Trọng Hựu đã sai gia nhân mổ dê, làm cơm mời khách.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 27.09.2018, 16:52
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XXIII

Mùa đông, tiết trời hanh heo, lạnh giá, cây cối trong vườn ngự lá đã ngả hết sang màu vàng úa. Vua Thuận Thiên thấy người hơi khó ở. Chân tay không đau mà mỏi. Trong các khớp chân, khớp tay cứ buồn buồn như có kiến bò, thật là khó chịu.

Thái y viện đã cử đến bốn năm ngự y giỏi vào thăm bệnh, kê đơn, bốc thuốc, nhưng vẫn không trị được.

Trong người đã buồn bực khó chịu, lại liên tiếp nhận được biểu của biên quan, biên tướng nam thuỳ tâu về, khiến nhà vua càng thêm bực mình.

Rằng nước Chiêm Thành cứ liên tiếp cho quân sang cướp phá, khiến biên dân của ta hãi sợ, không dám ở yên. Nhiều làng dân bỏ đi gần hết. Lúa má, ruộng đồng, cây trái bỏ mặc không người chăm sóc.

Người Chiêm Thành không đánh lớn, không ra mặt xâm lăng. Nhưng cứ nay đổ lên chỗ này một đô quân, mai mốt lại đổ lên chỗ kia vài đô quân, cướp sạch trơn của nả, trâu bò cày kéo của dân. Gặp ai chống cự là họ bắt trói đem theo xuống thuyền. Khi trở về họ quăng xuống biển.

Kể ra quân thám của họ cũng giỏi. Cứ chỗ nào có quân ta mai phục, họ đều biết và tránh được hết. Bởi họ chỉ quấy nhiễu bằng thuyền nhỏ, quân thì núp kín trong thuyền, lẫn vào với những thuyền đánh cá, khiến khó bị phát lộ khi họ chuyển quân.

Cũng phải kể đến việc họ rất thông thạo nghề biển và đường biển. Từ việc tránh đá ngầm, lạch ngòi cạn, nổi, thuyền có thể vào ra lúc nào theo con nước, dường như họ thông thạo hơn cả người mình đã từng sinh sống trong vùng.

Suốt một dải biên thuỳ thuỷ bộ dài hàng trăm dặm, họ vào đất ta xuất quỷ nhập thần, như ma. Họ quấy phá khiến dân ta không thể nào mà an cư lạc nghiệp được.

Xem xét kỹ lưỡng các biểu dâng của biên quan, biên tướng, vua Thuận Thiên đã toan ngự giá thân chinh thảo phạt.

Triều quan ra sức can ngăn vua mới tạm nguôi ngoai, chờ cho sức khoẻ bình phục. Nhưng đắn đo cân nhắc thế nào, vua lại cho triệu Khai Thiên vương, nội thị Lý Nhân Nghĩa, tướng quân Lê Phụng Hiểu, đô tướng Ngô An Ngữ gấp về triều.

Nhận chỉ tuyên triệu của vua cha, hoàng thái tử Lý Phật Mã đốc thúc các tướng phải thu xếp lên đường ngay. Hoàng tử chỉ đem theo vệ sĩ Nguyễn Văn Sắn. Con Huyền Đề đã định để lại, nhưng nó tìm mọi cách để được theo chủ. Cuối cùng hoàng tử phải cho nó đi cùng.

Công việc nông trại, hoàng tử nhờ thầy sư phó Trương Tuấn Minh ở nhà sai bảo mấy đứa hầu coi sóc.

Hoàng thái tử vừa về đến kinh, thay đổi y phục xong lập tức đến vấn an hoàng hậu, vấn an nhũ mẫu rồi chàng vào thẳng điện Long An để vấn an vua cha.

Thấy sắc diện và cả tiếng nói của vua cha khác thường, thái tử lấy làm lo lắng hỏi:

- Con cảm thấy phụ hoàng không được khoẻ. Chẳng hay người đã cho ngự y thăm bệnh chưa ạ?

- Đúng là ta hơi khó chịu. Chắc là do tuổi già thôi.

- Con không được hầu hạ phụ hoàng… Thái tử lấy làm buồn.

- Thôi con. Việc đau yếu là chuyện thường như thời tiết khi nắng khi mưa, con không phải lo cho ta. Riêng có việc này, ta muốn trao cho con.

- Nếu phụ hoàng uỷ thác, dù xông vào nước, lửa con cũng không dám từ nan.

- Vậy thì con chuẩn bị thay ta đi dẹp nạn hải tặc Chiêm Thành.

- Thưa phụ hoàng, Chiêm Thành lại gây hấn?

- Ta rất đau lòng chuyện nam thuỳ. Thật ra ta muốn sống hoà hiếu, nhưng người Chiêm cứ cho quân sang cướp bóc, gây rối, khiến biên dân của ta không được an cư lạc nghiệp.

- Phụ hoàng đã tin cẩn trao cho con trọng trách, xin phụ hoàng cho con phương lược. Con đánh thẳng vào kinh đô nước họ, bắt vua họ, hay chỉ đánh vào mấy châu, quận biên thuỳ thôi ạ.

Vua Thuận Thiên đỡ vầng trán hơi lấm tấm mồ hôi. Với vẻ cân nhắc thận trọng, ngài nói:

- Gây hấn với nước láng giềng là điều ta không muốn. Song Champa coi thường ta quá. Dù rằng ta đã có nhời cảnh báo với vua nước họ rằng, chớ phạm đến biên dân của ta mà tự chuốc lấy tai hoạ.

Vua Thuận Thiên đặt tay lên vai hoàng thái tử Phật Mã, nhà vua nói chậm rãi vừa như cha con bộc bạch tâm tình, vừa như giao trọng trách cho con. Nếu như ta không bị đau, hẳn ta phải đạp đổ kinh thành nước họ, bắt vua họ về trị tội. Nhưng thôi, còn nhiều cơ hội. Ta chắc rằng họ sẽ còn khiêu khích ta, còn cướp bóc dân ta, còn mưu đồ gặm nhấm giang san của ta; cho tới khi nào họ bị tiêu diệt hoàn toàn. Ta cũng không hiểu vì sao những kẻ giữ trọng trách chăn dân của nước này lại thờ ơ với thân phận người dân nước họ đến thế. Một khi họ đã không muốn cho dân nước láng giềng được sống yên ổn; thử hỏi nước láng giềng có để cho dân họ được sống an cư không?

Ấy là chưa kể nước họ yếu hơn nước ta. Dân họ ít hơn dân ta.

Thái tử chăm chú lắng nghe những lời than phiền mang nỗi bực bội của vua cha đối với người Chiêm.

- Con à! Nhà vua lại nhìn thái tử với vẻ trìu mến và tiếp: – Con chưa đủ sức đánh vào kinh thành nước họ, hỏi tội vua họ đâu. Việc ấy, chắc sẽ phải xảy ra, nếu như Chiêm Thành vẫn mang lòng hiếu chiến. Bây giờ, ta chỉ cần con đem binh đánh nát trại Bố Chính cho ta. Con phải đánh triệt hạ tận sào huyệt chúng nó, nhưng chớ có tàn sát người dân vô tội, chớ có cướp phá đồ ăn thức đựng cùng là các dụng cụ cày kéo của họ.

- Lần xuất chinh này, ta muốn tập dượt cho con, để mai đây, khi ở ngôi, con biết phương lược điều hành đất nước. Biết đối sách với lân bang trong thế cương, nhu tùy sức, tùy thời.

Thái tử nghe vua cha răn dạy, tự thấy lo lắng nhiều hơn về con đường mai hậu. Chàng nhẹ nhàng nói:

- Bẩm phụ vương, chẳng hay con được đem bao nhiêu quân, có những tướng nào trợ giúp, và bao giờ thì con được phép xuất quân?

- Được! Ta đang định nói với con về các điều đó. Trước hết, con được mang theo tất cả tì tướng của con mà ta đã cho theo con từ mấy năm nay. Con nên nhớ, đó là những danh tướng của triều ta, mà cha ưu ái dành cho con.

Suy nghĩ giây lâu, nhà vua lại nói:

- Ta sẽ cho thái bảo Đào Thạc Phụ đi cùng con. Người này tuổi tuy cao, nhưng đầu óc lúc nào cũng thông sáng, mưu lược táo bạo, bất ngờ. Có tài lừa địch, dụ địch, biết tránh chỗ mạnh và biết đánh vào chỗ địch yếu. Con, lần đầu tiên viễn chinh, nên ta phải dùng Thái bảo để mưu việc cùng con. Bởi con chưa quen thạo chiến trận, nhất là đối với kẻ địch mưu mô như ma, ẩn hiện như quỷ, nên con phải biết nghe lời khuyên của các bậc lão thần, của những tướng lĩnh đã quen thông trận mạc.

- Bẩm phụ vương, con được phụ vương bày xếp cho chu đáo đến từng việc, con quyết không dám phụ lòng. Thế còn việc xuất quân, con chưa nghe phụ vương dạy bảo?

- Con khỏi lo, để mai ta triệu Thái bảo cùng các tướng mật bàn. Việc này phải kín nhẹm như bưng, người trong nước không ai được biết, thì mới lừa được bọn ngoại gián vẫn lởn vởn ở Thăng Long.

Sáng sớm, Thái bảo Đào Thạc Phụ đã có mặt tại điện Long An. Một lát sau các tướng Lê Phụng Hiểu, Ngô An Ngữ, Lý Huyền Sư cùng nội thị Lý Nhân Nghĩa và cả hoàng thái tử Lý Phật Mã đã tề tựu đông đủ tại nhà đại bái.

Vua Thuận Thiên từ trong hậu điện bước ra. Các tướng lạy chào.

- Miễn lễ! Miễn lễ! Nhà vua nói. – Các khanh an toạ, ta bàn việc luôn.

Trà nô dâng vừa xong một tuần nước. Vua lại sai ban cho mỗi người một chung ngự tửu.

Đoạn vua hỏi:

- Vậy chớ các khanh có biết ta triệu các khanh về đây có việc gì không? Nhà vua nhìn khắp lượt, rồi dừng mắt ở thái bảo Đào Thạc Phụ.

Đào Thạc Phụ mỉm cười, tựa như ông đã biết hết các việc mà vua sắp bàn. Chậm rãi, thái bảo nói:

- Muôn tâu, bệ hạ gọi chúng thần về để ban cho ngự tửu. Thái bảo ngập ngừng… Rồi sau đó, bệ hạ cho chúng thần đi chinh phạt phương nam ạ.

Vua Thuận Thiên cười lớn:

- Khanh quả thật là tri kỷ của ta. Thôi được, ta nói vào việc ngay. Chiêm Thành không để cho dân ta sống yên. Vì vậy phải trừng phạt để răn đe. Nhưng đánh thế nào, để dân Chàm phải oán vua nước họ, thì việc xuất chinh của ta mới thu được thành tựu cao.

- Phụ hoàng dạy thế, có nghĩa chúng thần phải đem binh đánh vào lòng người? Hoàng thái tử Phật Mã hỏi vua cha.

- Đúng vậy! Nhà vua đáp. – Nếu các khanh chỉ chú trọng tàn sát người và của của dân Chiêm Thành, tức là các khanh đã phá kế hiếu hoà của ta, và giúp đắc lực cho sách lược hiếu chiến của triều đình Chiêm đạt thành tựu mỹ mãn.

- Con xin lĩnh ý phụ hoàng.

- Vậy thời, vua Thuận Thiên nói: – Ta cho các khanh xuất năm vạn binh. Thái tử Phật Mã giữ ấn nam chinh, giữ quyền thượng tướng.

Thái bảo Đào Thạc Phụ, Phó Đô nguyên suý chinh thảo thượng tướng quân, giúp rập mọi việc cho hoàng thái tử.

Ta cho Lý Nhân Nghĩa, Lý Huyền Sư làm tả hữu cho Phật Mã, Lê Phụng Hiểu làm tướng tiên phong.

Ngoài ra cất nhắc tướng nào vào việc nào, hành binh thế nào, tiến đánh thế nào, tuỳ các khanh sắp đặt. Ta chỉ khuyên các khanh một điều phải nhớ kỹ: Không được coi thường địch. Không ham đuổi địch vào sâu đất nó mà mắc mưu. Chinh phạt xong, mau chóng rút về, không được ở lâu trên đất địch. Đến, đi đều phải thoắt ẩn, thoắt hiện, kín nhẹm như bưng. Nếu không sẽ là đại bại.

Thái bảo Đào Thạc Phụ lại hỏi:

- Bệ hạ, bao giờ thì chúng thần phải lên đường?

- Nhanh nhất là mười ngày, chậm nhất là ba mươi ngày, các ngươi phải xuất quân.

Đào Thạc Phụ quay sang nói với thái tử:

- Xin thái tử nhận với hoàng thượng hạn kỳ nhanh nhất đi. Thần đã có kế đây rồi.

Thái tử bèn xin với vua cha:

- Chúng thần xin được xuất binh sau mười ngày nữa.

- Được! Nhưng phải chu đáo mọi mặt, không vì hạn kỳ nhanh mà để sơ khoáng trong việc chuẩn bị khí giới, lương thảo, thuốc men.

Ngay ngày hôm sau, thái bảo Đào Thạc Phụ đã trình thái tử phương sách chuẩn bị gấp gáp cho việc xuất quân.

Để quân đi được kín nhẹm, sẽ không điều về Thăng Long. Ngược lại quân tại Thăng Long chỉ điều một vạn xuống thuyền đi ngay. Ngày ẩn náu trong khe lạch, đêm thuận gió giong buồm.

Ba vạn quân khác lấy tại hai lộ Sơn Nam thượng, hạ. Một vạn quân xuống thuyền đi tại cửa Đại Ác. Hai vạn xuống thuyền đi tại cửa Thần Phù.

Một vạn quân lấy tại Ái Châu, xuống thuyền đi tại Cửa Biện. Tất cả các đoàn, đội đều ngày nghỉ, đêm đi. Sao cho nửa tuần trăng thì về hội đủ tại Cửa Hội.

Từ Cửa Biện trở vào nam phải ém quân kín như bưng. Bởi vùng này gần biển Chiêm Thành quân Chàm thường dùng hải đội đi lùng sục, cướp bóc các thương thuyền qua lại. Nếu để lộ, họ biết mà phòng bị kỹ càng, quân ta sẽ hao tốn máu xương không kể xiết.

Mười ngày sau kể từ lúc rời Thăng Long, thái tử và đoàn tuỳ tùng đã dừng thuyền neo đậu tại Vũng Biện Sơn, cũng gọi là Cửa Biện.

Thấy núi sông hùng vĩ, biển trời bao la, hoàng thái tử cảm nhận như có khí thiêng ngưng tụ, hẳn có thần linh ngự trị. Bèn sai thiết lập hương án, sắp bày trà nước cùng hoa trái để thái tử tự mình cáo với trời đất và thần linh.

Lễ vật sắp đặt xong, trời vừa sẩm tối. Phút chốc màn đen phủ kín bầu trời, khiến không phân biệt được đất liền với trời biển nữa.

Thái tử thắp một bó nhang, vái trời, vái đất, vái bốn phương tám hướng rồi khấn rằng:

“Thần là một thiếu niên mới lớn, chưa hiểu thấu đạo trời, lẽ người. Nhân vì nước Chiêm Thành vô cớ cho quân xâm hại đất nước của thần, giết hại lương dân khiến thần, người đều giận.

Nay vâng mệnh vua cha đem binh đánh dẹp kẻ ác. Thần lần đầu tiên cầm quân viễn chinh vào đất địch. Tuổi còn niên thiếu, chưa trải chiến chinh trận mạc, chỉ biết đem lòng chí thiện trừ quân gian ác, xin trời, thần phù hộ cho sự nghiệp trừ ác được viên thành”.

Khấn xong, thái tử cắm hương vào bình rồi rót một ly rượu, một nửa vẩy lên trời, một nửa đổ úp xuống đất.

Lạ thay, từ dưới đất bốc lên một làn khói trắng xông thẳng lên trời. Trời tự nhiên quang đãng trở lại. Sao hiện ra chi chít.

Đêm ấy thái tử ngủ tại trung quân. Nửa đêm mơ thấy một vị thần mắt sáng như sao, da mặt ánh lên một màu vàng rực. Cất giọng cười vang vang như tiếng chuông. Vị thần đó nhìn thái tử với vẻ trìu mến, rồi nói:

“Ta là thần ĐỒNG CỔ Ở NÚI ĐAN NÊ. Nhân buổi tối nghe thái tử đem lòng nhân đi dẹp giặc, có cầu kiến thần phù hộ.

Vậy nghe ta nói đây. Nếu thái tử vào đất giặc đem cái tâm thiện trừ kẻ ác, giữ sự an lành cho dân, thời ta sẽ phù trợ cho được thắng trận trở về”. Nói xong, thần giơ bàn tay huơ lên mặt thái tử rồi vụt biến.

Tỉnh dậy, thái tử lấy làm mừng lắm. Muốn để chiêm nghiệm xem việc đó thực hư thế nào, nên thái tử không kể lại với ai, mà chỉ hỏi quan sở tại xem trong vùng có đền nào thờ thần “Đồng Cổ”, có địa danh nào tên gọi “Đan Nê” không. Chức dịch cho biết, ngôi đền thờ thần Trống Đồng ấy thế truyền có từ thời Hùng Vương nhưng không biết vào đời nào thuộc chi Hùng nào. Chỉ biết thần rất thiêng như hạn hán mà cầu đảo ắt được mưa. Dịch bệnh mà lập đàn cúng lễ, tai ương cũng qua. Đan Nê cách Cửa Biện chừng vài chục dặm.

Nghe nói vậy, thái tử lấy làm mừng rỡ, và tự hẹn, nếu thắng trận trở về thế nào cũng đến tạ.

Quân đã về hội đủ tại Cửa Biện, thay vì vào Cửa Hội. Vì Cửa Hội rất gần với hải phận của người Chiêm. Thái tử cho nghỉ ba ngày rồi lại tiếp tục hải trình vào đất giặc.

Chừng giờ mùi, hải binh xuất phát. Thuận gió, thuyền đi như bay. Tới giờ tí, các thuyền được lệnh phải cho quân ăn uống no nê, và mỗi người mang theo một vắt cơm nắm để dành cho bữa sau. Phòng khi vừa cập bến đã gặp địch, phải giao chiến ngay.

Đầu giờ dần, khi trời còn chưa sáng rõ, toàn thể năm vạn quân đã đổ bộ lên bờ, lập xong doanh trại, bố phòng sau trước ứng cứu liên hoàn, phòng quân Chiêm bất ngờ tập kích.

Tới giờ thìn, vẫn không thấy phía người Chiêm cho quân đến khiêu chiến, thái tử Lý Phật Mã bèn phái Hữu đô tướng quân Lê Phụng Hiểu lĩnh năm trăm quân đi vòng phía nam vào thành Bố Chính.

Tả đô tướng quân Ngô An Ngữ lĩnh năm trăm quân đi vòng về phía tây thành Bố Chính.

Các trung đô tướng quân Lý Nhân Nghĩa, Lý Huyền Sư mỗi người lĩnh năm trăm quân đi vào các cửa phía bắc và phía đông thành Bố Chính.

Nhiệm vụ của các tướng là đi thám sát, nếu gặp địch phục kích thì vừa đánh vừa lui, bốn cánh quân phải yểm trợ cho nhau không được để xảy ra điều gì sơ suất, làm nhụt nhuệ khí quân ta.

Các tướng vừa lĩnh quân ra khỏi trại, Thái bảo Đào Thạc Phụ xướng xuất với thái tử, cử quân đi bắt vài người dân địa phương đến hỏi han đường sá dò xét binh tình.

Thái tử vừa toan cho gọi đô lực sĩ Nguyễn Văn Sắn, thường gọi là đô Sắn trao cho việc này.

Vừa lúc đó, Sắn từ ngoài trại vào dẫn theo ba người đàn ông Chiêm, mặt mày phờ phạc dáng đi xiêu vẹo như người say.

Thái tử và Thái bảo trông thấy liền chạy ra hỏi xem có điều gì xảy ra.

Đô Sắn bèn thưa:

- Bẩm thái tử, thần đi tuần cảnh giới quanh trại quân, thấy động sột soạt trong bụi cây ven rừng. Vừa lo hổ báo, vừa nghi có quân phục, thần bèn núp xuống vệ đường. Một lúc sau thấy từ trong lùm cây có tiếng nói thì thầm. Thần nghĩ, chắc là quân mai phục rồi. Đang chưa biết tính sao thì ba tên này từ trong lùm cây nhảy ra giữa đường. Chúng đứng ngay gần phía trên đầu thần bàn bạc cái gì đó. Có nhẽ chúng không trông thấy thần ẩn ngay dưới chân chúng. Thế là thần nhảy vọt lên dùng thất trảo pháp đánh cho ba đứa ngã lăn. Trong khi chúng bị bất ngờ đang hãi sợ thì thần điểm huyệt rồi lôi chúng về đây.

Nói xong, đô Sắn lần lượt giải khai huyệt đạo cho từng đứa rồi dẫn chúng vào trung quân.

Trong quân có người biết tiếng Chiêm liền tách riêng chúng ra để tra hỏi. Chúng khai:

“Quan tổng trấn thành Bố Chính nửa đêm qua mới biết có quân Việt đang tiến vào cõi. Gấp quá không kịp cầu kiến về Trà Bàn. Hải đội nhỏ không dám ở lại đối đầu, đã rút về ẩn dưới chân đèo “Mây Bạc”. Quân trong thành đã rút ra mai phục ở ngoài, chờ quân Việt vào thành sẽ đánh, để khoá chặt bốn cửa thành. Sau đó quân trên núi đổ xuống, quân thuỷ từ Trà Bàn đánh ra bắt quân Việt phải đầu hàng…”

Tạm giữ mấy người Chiêm để còn xét hư thực về những điều họ nói. Trong chiến trận, ai đã dám tin vào những cái lưỡi của kẻ thù.

Thái tử phân vân hỏi Đào Thạc Phụ:

- Thái bảo nghĩ thế nào về những điều mấy người lính kia khai?

- Vậy chớ cảm nhận của thái tử thế nào về các điều ấy, nhất là lần đầu tiên thái tử viễn chinh? Thái bảo Đào Thạc Phụ hỏi lại, là ông muốn đo lường sức tinh nhạy của một ông hoàng trẻ làm tướng viễn chinh, xem đã đủ lực cầm quân chưa.

- Ta cứ nói mà không sợ hồ đồ. Bởi nếu sai đã có ông. Phụ vương cử ông đi, cốt là để giám sát ta mọi việc cho thận trọng. Theo ta, những người lính Chiêm đã nói thật.

Vì sao à? Ta đã nhìn kỹ nơi mắt họ. Mỗi người đều nói ra với vẻ tự nhiên, nhưng khớp lại đều giống nhau. Ta cũng biết binh pháp có câu: “Hư hư thực thực, lấy hư giả thực, lấy thực giả hư”. Như những người lính Chiêm đây, nếu như họ đều đã được huấn hỗ để nói ra cùng một sự việc, thì họ sẽ có cái giả dối thành thật. Và như vậy thì chủ của họ đang dùng kế lấy thực giả hư để quân ta phân tâm không biết tiến lui thế nào. Nếu ta không mau tiến binh đuổi gấp, chắc họ sẽ sớm trở lại đánh ta.

Chẳng biết ý Thái bảo thế nào.

Đào Thạc Phụ mỉm cười sung sướng. Trong lòng ông rất khâm phục sức bén nhạy của thái tử. Và những kiến giải của thái tử cũng đúng như ông suy nghĩ. Đoạn ông quay ra nói với thái tử:

- Những xét đoán của thái tử điện hạ sẽ sớm được nhìn nhận là có lý, là đúng với sự thật.

Vừa lúc đó Lê Phụng Hiểu, Ngô An Ngữ, Lý Huyền Sư, Lý Nhân Nghĩa đều lần lượt về xin gấp rút truy đánh quân Chiêm.

Lê Phụng Hiểu còn nói:

- Nếu thái tử điện hạ cùng Thái bảo còn nghi hoặc không tiến binh, thì xin lập tức dàn bày thế trận để nghênh địch. Thần đoán chắc rằng, quân Chiêm sẽ quay lại sớm tối ngày hôm nay.

Các tướng thảy đều xin xuất binh truy đuổi quân Chiêm.

Lập tức lệnh được ban ra. Quân chia làm bốn đội: tả, hữu, tiền, hậu cả thảy bốn vạn. Còn một vạn ở lại giữ trại và giữ thuyền.

Thái tử trước lúc lên ngựa còn dặn Lý Nhân Nghĩa:

- Việc ông ở lại là rất mực trọng yếu, không kém việc truy đuổi giặc. Bởi phải lo giữ trại, giữ căn cứ hải đội không để cho giặc đột nhập. Nếu vạn nhất mà sơ hở để giặc cướp mất trại, đốt hết thuyền bè thì quân ta không có đường về.

Thoắt thái tử đã nhảy lên mình ngựa có đô Sắn cưỡi con Nê Thông đi sau hộ vệ.

Như không yên tâm, thái tử lại gọi Lý Nhân Nghĩa ra nhận mệnh:

- Tướng quân phải nghiêm cấm không cho bất cứ một tên quân nào được tự ý ra khỏi trại. Không được phép vào nhà dân sục sạo, bắt bớ, hãm hiếp, cướp của, đốt nhà, giết người. – Thái tử nhấn mạnh: – Nếu vô cớ giết người vô tội thời phải thường mạng. Nếu làm đúng lời ta dặn, thì từ nay dân Chiêm không còn theo binh lính của họ sang hôi của cải của dân ta nữa.

Nói xong, thái tử quất ngựa ra roi. Nó lao ngay về phía trước như một mũi tên vừa bựt khỏi dây cung.

Đại quân rầm rộ kéo đi, đến đầu giờ thân thì gặp quân Chiêm đang thổi nấu ăn trong một thung lũng khá rộng. Quân phân chia thành từng đội chừng một trăm người. Đội nọ cách đội kia độ mười trượng. Tất cả đều không có lều trại. Chứng tỏ họ chỉ vừa dừng lại và cũng sắp ra đi. Thái tử bèn cho mấy người tù binh đem thư thách đánh của quân Việt. Lại sai các tướng đem kỳ binh mai phục các đường đèo, những nơi quân địch có thể liều chết phá vây.

Lại sai quân cung nỏ mai phục để đón đánh quân Chiêm rút chạy.

Khi những người lính Chiêm được thả về, đem thư dâng lên chủ soái.

Lập tức một hiệu kèn Saranay thổi vang thung lũng. Tiếng kèn len lỏi vào rừng cây, vách núi rồi đọng lại rên rỉ như ma quái, như núi rừng lên tiếng khóc than.

Đô thống chế của quân Chiêm là Bố Linh xem chiến thư xong cười khẩy. Đoạn y phê vào góc chiến thư hàng chữ sau đây:

“Đô thống chế thành Bố Chính nước Champa hùng cường là Bố Linh, dụ cho các chiến binh nước Việt rằng: – Các ngươi muốn toàn tính mệnh, hãy chém đầu thái tử Lý Phật Mã; chém đầu Thái bảo Đào Thạc Phụ đem nộp dưới trướng.

Nhược bằng ngoan cố chống lại mệnh này thì từ người, ngựa, thuyền bè, khí giới không một thứ gì có thể ra khỏi đất Champa”.

Đọc mấy dòng thách thức đầy ngạo mạn của tướng giặc, thái tử Lý Phật Mã mỉm cười. Đoạn thái tử cho triệu các tướng đến thương nghị.

Sau một hồi bàn bạc, Lê Phụng Hiểu nói:

- Quân ta đến bất ngờ. Chiêm Thành không biết thực hư thế nào nên bỏ thành chạy, chứ không phải họ dùng “kế không thành”[79]. Chúng tụ quân tại thung lũng mà không chiếm giữ các điểm cao làm thế nương tựa, tức là đối phương hoang mang chạy trốn chứ không phải là kế “dụ địch”. Nay quân ta đã khép kín vòng vây; tướng giặc lại còn huênh hoang đe doạ. Đó chỉ là một sự lẻo mép, thần xin lĩnh một ngàn quân đao cung, đánh thẳng vào phía đông, tướng Ngô An Ngữ cùng một ngàn quân đánh phía tây, tướng Lý Huyền Sư cho quân hò reo ở phía bắc, thái tử đem một vạn quân phục ở phía nam đón bắt tướng giặc.

Thái tử bèn hỏi lại:

- Tại sao các tướng chỉ lĩnh có một ngàn quân mà ông cho ta những một vạn quân. Tại sao phía bắc chỉ reo hò thanh viện chứ không đánh?

- Tâu, giặc cậy đông người lại trên đất chúng nên chủ quan, coi thường quân ta. Kíp đến khi bị đánh bất ngờ chúng hoang mang không kịp chống đỡ mà chỉ có tháo chạy. Tại sao phía bắc không cần đánh? – thưa thái tử là vì đại lực lượng quân ta đang án ngữ, mà theo thói quen chúng sẽ chạy về phía nam, bởi nơi đó là cả nước Chiêm đứng đằng sau họ.

Nghe Lê Phụng Hiểu nói hợp ý mình, thái tử gật gật đầu tới hai ba lần. Lúc này chàng mới kịp ngắm nhìn vị tướng của mình. Lê Phụng Hiểu có thân hình cao to lẫm liệt, dáng đi đứng oai vệ như một con hổ. Phụng Hiểu mặc nhung phục lại đeo giáp hộ tâm, đội mũ đâu mâu che kín cả trán và gáy, bên sườn đeo trễ một thanh gươm. Mưu kế ấy cùng với tướng tinh ấy khiến thái tử an tâm tin tưởng. Chàng quay hỏi Đào Thạc Phụ và Lý Nhân Nghĩa:

- Kế sách của tướng quân Lê Phụng Hiểu là vậy, liệu có thực thi được chăng, xin Thái uý cùng thị lang cho biết?

Đào Thạc Phụ vốn nổi tiếng trong triều là một người thận trọng. Ông nở một nụ cười làm tươi thêm gương mặt có nước da hồng hào, điểm những chấm đồi mồi khiến ta có cảm giác ông là một ông già đôn hậu hơn là một vị tướng từng trải. Đoạn ông nói:

- Bẩm thái tử, thần mừng Lê Phụng Hiểu là một tướng trẻ mà đã sớm tinh thông binh pháp, nên lâm trận không rối. Mưu kế vững vàng. Tuy nhiên, ở hai hướng đông, tây mỗi hướng phải cử thêm năm ngàn quân trợ lực. Hướng bắc tuy không đánh, vì giặc sẽ không chạy theo hướng này, đúng như Lê Phụng Hiểu dự liệu. Nhưng trong lúc rối loạn, lính không phân biệt được hướng nào là hướng nam, nên cứ thấy hướng nào không bị chặn đánh là chúng chạy lao vào mong thoát chết. Vì vậy, lực lượng ở đây phải sẵn sàng: giặc nhiều thì tiêu diệt, giặc ít thì bắt sống, về mặt nam, xin thái tử cho quân phục xa vài ba dặm để tản quân giặc ra mà đánh. Thái tử nên chú ý, ở phía tây nam thung lũng này còn có con đường hẻm lên núi Long Tỵ. Trong núi có hang lớn có thể chứa vài ngàn người. Vượt sang bên kia núi lại có đường ra biển. Tại đấy thường có một hải đoàn quân Chiêm túc trực. Nếu để đại quân của Chiêm thoát được sang bên kia núi, thế nào ta cũng phải đối phó với một trận tập kích hoặc một trận hải chiến lớn.

Kế hoạch vừa ban bố xong, các tướng nhận mệnh lên đường ngay lập tức.

Lúc này quân Chiêm cũng vừa ăn uống xong. Một phát pháo hiệu nổ chói tai rồi như thác lũ quân ta ào xuống thung lũng, trong khi đó ở trên cao, máy bắn đá dội xuống trung quân của Chiêm khiến họ trở tay không kịp.

Tướng Lê Phụng Hiểu xung trận như mãnh hổ quần giữa bầy dê. Tướng quân đi đến đâu là quân Chiêm quang vợi hẳn. Phút chốc ông đã đánh thông từ đông sang tây gặp tướng Ngô An Ngữ. Hai tướng hợp lực đánh nhão quân Chiêm trong thung lũng, lại đuổi áp sát toán quân tháo chạy về hướng nam. Đô Sắn chặn mặt nam khá vững, quân Chiêm liều chết không vượt nổi.

Tướng Chiêm là Bố Linh bèn sai các đô tướng Inva và Darung tiến lên đánh mở đường. Hai dũng tướng vượt ra khỏi đoàn quân đang hỗn chiến với quân Việt, xông thẳng đánh sáp với đô Sắn.

Sắn chống nhau với hai tướng Chiêm tới hai trăm hiệp mà chưa hề sơ hở. Quân Chiêm vẫn ùn ùn sau lưng hai tướng Inva và Darung. Quân hai bên đều lăm lăm cung nỏ nhưng đều không dám bắn, bởi chỉ sợ bắn vào tướng nhà.

Sắn đánh mãi vẫn không hạ được đối phương vì Sắn dùng kiếm, phải địch với hai tay đao nổi tiếng của Chiêm.

Đường kiếm của Sắn tuy lợi hại, sức của Sắn tuy siêu phàm, nhưng kiếm vừa ngắn lại vừa nhẹ, chỉ lợi đường thủ mà khó đường công. Nghĩ vậy, đô Sắn bèn hét lên một tiếng làm rung chuyển cả cây cối. Hai viên tướng Chiêm khựng tay đao, đô Sắn bèn nhảy về phía đầu hàng của quân ta, giật ngay lấy chiếc thiết lĩnh trong tay một vị phó đô tướng quân. Chàng nhảy vào đánh tiếp với hai dũng tướng của Chiêm. Nhanh như một tia chớp, đô Sắn tung thiết lĩnh lên chụp trúng hai cây đại đao đang cùng một lúc bổ xuống đầu chàng làm toé lửa. Chàng xoay người giật mạnh hai cây đao của Inva và Darung. Hai vị hổ tướng ngã văng xuống đất. Quân ta nhanh như hổ bắt gọn hai viên đô tướng. Quân Chiêm hỗn loạn tháo chạy. Thống tướng Bố Linh biết không thể vượt được trùng vây mà chạy về phía nam để thoát qua núi Long Tỵ. Lúc này chỉ còn vài bộ tướng cùng mấy chục tên quân đã bị đánh tơi tả suốt từ giờ Dậu đến giờ Sửu.

Chạy được chừng non chục dặm không thấy có quân Việt đuổi theo ở phía sau, cũng chẳng vấp phải quân phục ở phía trước, tướng Bố Linh bèn bảo các thủ hạ:

- Ta mệt lắm rồi, nghỉ lại đây lấy sức đã. Quân Việt có tài như thần Shiva hồ dễ đã biết nẻo đường này.

Các bộ tướng của Bố Linh bèn can:

- Chủ tướng nên đi gấp, không thể nán lại đây được. Ta sắp phải vượt khe “Hung thần”. Một bên vách núi dựng đứng. Một bên vực sâu thăm thẳm. Chỉ cần vài tên quân cung nỏ phục tại đó, ta cũng phải nộp mạng cho chúng rồi.

Bố Linh bực bội quát:

- Ta há lại không biết con đường này sao các ngươi phải dạy khôn. Nói xong bèn cởi gươm, tháo giáp làm vật gối đầu lăn ra ngủ. Một lúc sau không thấy có động tĩnh gì, mọi người đều ngủ cả. Duy có một người lính thấy ruột nóng như có một lò lửa đang bùng cháy. Không nằm ngồi được, anh ta bèn xách cây giáo dài đi đi lại lại canh phòng cho các bậc bề trên yên giấc.

Lại nói về thái tử Lý Phật Mã cùng năm trăm quân mai phục trên con đường hẻm tới núi Long Tỵ, chờ gần qua đêm vẫn chưa thấy quân Chiêm chạy qua.

Linh tính như báo cho chàng có điều gì hệ trọng sắp xảy ra, thái tử truyền mệnh lệnh từ đầu đến cuối đám quân mai phục: “Phải chỉnh bị sẵn sàng chờ giặc đến”.

Lệnh vừa ban ra thì nghe văng vẳng tiếng quân reo vang dậy đất. Rồi ầm ầm kẻ chạy, người rượt đuổi. Chẳng mấy chốc đám quân Chiêm ô hợp lọt vào vòng vây của thái tử. Một tiếng hô vang, trăm người bật dậy ào ra đánh vỗ mặt quân Chiêm. Mấy viên đô tướng Chiêm Thành đánh không lại được với bộ tướng của thái tử. Đứng ngoài xem xét thái tử thấy mấy viên đô tướng kia vừa đánh vừa đỡ, vừa che chắn cho một viên tướng già đang ở giữa vòng vây. Thái tử bèn hét lên một tiếng khiến lũ người kia kinh hoàng phải dừng tay. Ngay lập tức, thái tử nhảy theo thế đại bàng vồ mồi chém sã vai viên tướng già. Lũ người kia, kẻ quỳ mọp xin hàng, kẻ chạy thục mạng. Viên tướng già cùng một bên vai bị chém sã cũng vùng lên chạy. Nhưng thái tử chỉ nhún ba bước chân đã đuổi kịp, chàng nhẹ hớt lưỡi đao, chiếc cổ của y lập tức rời khỏi đầu. Quân ta xô vào lượm thủ cấp.

Vừa lúc ấy đô Sắn cùng đoàn quân truy đuổi xộc tới. Thì ra Sắn chặn mặt nam, lúc quân Chiêm tán loạn không biết chủ tướng họ chạy đi đâu. Mãi sau tra hỏi những tù binh, họ bèn khai có một con đường nhỏ chạy về núi Long Tỵ. Thế là đô Sắn cho quân truy đuổi, mãi gần sáng mới bắt kịp. Và khi họ chạy vọt lên, lại đúng nơi thái tử đã đón lõng từ lâu.

Thủ cấp viên tướng Chiêm đem về quân doanh, thái tử sai mời một số người dân đứng tuổi đến để nhận dạng.

Lạ thay, khi hòm gỗ vừa mở nắp mấy người dân Chiêm còn đứng xa ngó lại, thì gương mặt của chiếc đầu lâu như tượng bán thân kia nhăn lại và đôi mắt chợt hé mở.

Những người dân Chiêm không sợ hãi. Họ còn cho đó là hồn ma trở về nhận đồng bào.

Khi hỏi người bị giết đó là ai, họ đều quay mặt đi, không nói năng gì và oà khóc thật là thảm thiết. Mặc dù họ chẳng mảy may thương tiếc ông. Bởi khi sống, ông là hiện thân của cái ác đối với dân lành. Tuy nhiên, họ khóc đây là khóc cho lòng tự trọng dân tộc bị tổn thương. Khóc cho nước Champa có những người con ngạo mạn đã làm đất nước ngày một suy yếu.

Sau gặng hỏi mãi mới biết đó chính là Bố Linh, quan tổng trấn thành Bố Chính.

Thái tử sai đem trả chiếc thủ cấp đó cho người Chiêm để họ tự chôn cất theo phong tục Champa.

Sau ba ngày ổn định cho dân chúng trong thành được an cư; quân ta cũng được nghỉ ngơi, sức đã lại, thái tử cho chấn chỉnh trong quân rồi rút về nước.

Trước khi rút quân về, thái tử cho dán tờ cáo thị khắp mọi nơi. Nói rõ việc người Việt cực chẳng đã, buộc phải đưa quân vào đất Champa, là bởi người Champa luôn cho quân sang cướp phá gây không biết bao nhiêu đau thương tang tóc cho dân lành nước Việt. Nay nếu người Champa không quấy phá biên cương nước Việt nữa, lập tức mọi sự sẽ trở nên tốt đẹp.

Quân trở về xuôi nước xuôi gió, thuyền đi như lướt trên mặt biển. Khi qua Vũng Biện Sơn thái tử cho neo đậu thuyền lại một đêm để lập đàn tạ ơn trời đất, thần núi thần biển đã hộ trì quân Việt toàn thắng trở về.

Xong thái tử cùng một số cận thần như Lê Phụng Hiểu, Lý Nhân Nghĩa, Lý Huyền Sư, Đào Thạc Phụ, đô Sắn tướng quân, đều kéo về đền Đồng Cổ trên núi Đan Nê cách Vũng Biện chừng ba chục dặm đường làm lễ tạ thần.

Thái tử khấn rằng: “Đúng như lời thần báo mộng, Lý Phật Mã tôi đã đánh thắng trận, lại chém được tướng giặc, khiến người Champa từ nay phải nể sợ. Cũng theo lời thần, chúng tôi không làm hại dân lành.

Công ấy thuộc về thần Đồng Cổ; tôi xin cảm tạ và hứa khi nào lên ngôi sẽ lập đền, bốn mùa thờ phụng, hương khói”.

Đêm ấy thái tử lại mơ thấy thần Đồng Cổ hiện về, ngài chỉ nói có một câu: “Ta không thể tiết lậu thiên cơ, nhưng hứa sẽ khuông phò thái tử vào những lúc hoạ biến”. Thái tử giấu nhẹm điều thần báo mộng để chiêm nghiệm.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 27.09.2018, 16:52
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XXIV

Mùa xuân. Tiết trời lạnh mát. Gió xuân hây hẩy, mưa bụi như rắc phấn khiến cây cối đâm chồi nảy lộc. Hoa chanh, hoa bưởi từ các vườn nhà toả mùi thơm nồng nàn khắp xóm thôn.

Đi về bất cứ nẻo nào trên đường quê cũng thấy không khí như được ướp tẩm bởi một thứ hương thơm đồng nội. Từng bầy, từng bầy ong bướm dập dìu với cả ngàn cánh vỗ rì rầm như lời tỏ tình của chúa xuân.

Làng Xuân Phương vừa rã hội, ai nấy như còn đang nuối tiếc những ngày vui thì xã trưởng mời bà con dân làng ra chùa bàn việc nước.

Đang vụ nông nhàn, nhà nhà rỗi việc, nên già trẻ, lớn bé nô nức kéo nhau ra chùa. Vừa là ghé cửa Tam bảo thăm chùa, cầu phúc, vừa nhân thể hội họp. Ai nấy mặt mày rạng rỡ.

Sư cụ thu xếp cho làng họp ngay trong nhà Tổ. Ngôi nhà năm gian, chỉ kê một ban thờ với bài vị của các vị tổ của chùa nối tiếp từ ngày khởi dựng tới nay. Trước ban thờ Tổ, kê một bộ tràng kỷ bằng tre hóp, lâu ngày đen bóng như sừng. Một ấm giỏ ủ nước hãm nụ vối. Đó là nơi dành cho các bậc cao tuổi và mấy vị chức sắc của làng. Hai bên tả hữu đều nhất loạt trải chiếu. Được cái chùa nhiều chiếu lễ. Mấy chú tiểu xăng xái lo việc trầu nước. Cứ mỗi chiếc chiếu bày một cơi trầu sáu miếng, một ấm nước vối, và một đĩa sáu chiếc chén sành. Góc hiên phía ngoài cửa bức bàn đặt ba chiếc điếu cày; nhà chùa chỉ có một chiếc điếu bát đã đặt trong kỷ, nơi dành tiếp các bậc lão niên và chức dịch của làng, ba hộp thuốc lào hình tròn làm bằng vỏ cam, một ống đóm tre ngâm tước mỏng trắng phau và một chiếc nùn rơm đang ngún khói.

Các bà vừa nhai trầu vừa nói chuyện râm ran. Mấy cụ già răng rụng đang hí hoáy giã trầu trong chiếc cối đồng nhỏ như một khẩu mía. Giã giã, đảo đảo một lúc, trầu, cau, vỏ nhuyễn ra và có màu đỏ tươi, cụ nào cụ ấy ngửa cổ lấy chiếc chày nhỏ xíu vuôn miếng trầu vào miệng nhai bỏm bẻm. Cánh đàn ông ngồi quanh mấy chiếc điếu cày, mỗi người vê một mồi thuốc trên đầu ngón tay. Thuốc vo tròn như một viên bi. Một người cầm chiếc nùn rơm giơ lên thổi lửa. Tàn tro bay tứ tung phả cả lên đầu tóc và vai áo mấy người ngồi chờ đến lượt hút.

Đóm tre ngâm cháy xanh ngọn lửa. Tiếng rít thuốc kêu sòng sọc. Và cùng một lượt ba bốn cái miệng, phả khói lên trời, nom tựa ba cái vòi rồng cuốn nước trong các cơn dông. Khói toả xanh mờ cả một góc nhà. Chừng hơn hai chục đứa trẻ theo ông bà hoặc cha mẹ ra chùa, chúng đang tha thẩn chơi ngoài sân, ngoài vườn chùa. Mấy bé gái chơi trò chồng nụ, chồng hoa, đánh chắt, đánh chuyền nơi góc vườn. Mấy bé trai đi tìm cây mạ lấy nõn làm “cần câu” câu công cống. Những con công cống cứ thập thò trên miệng lỗ, hễ thấy động là chúng chui tọt xuống lỗ sâu, tha hồ cho các tay câu thả mồi chúng cũng không động đậy. Mấy bé nhỏ liền hát đồng dao gọi: “Công cống mày lên ăn mạ, kẻo quạ ăn hết”. Kỳ lạ, trẻ hát vài lần, lại thấy công cống thập thò bên cửa lỗ. Và kia nữa mấy bé trai khác lại say sưa đánh cờ chân chó. Chúng hí húi, lặng lẽ chơi chứ không reo hò khuấy đảo làm người lớn phải bận tâm.

Mọi người an toạ đâu vào đây, ông xã trưởng Lương Thanh Khiết liền nói:

- Bữa nay, tôi mời các cụ và bà con ra đây, cốt là để bàn việc nước. Ông xã trưởng nói chưa dứt thì mấy bà đã nhao nhao cướp lời:

- Ông xã trưởng ơi, ông có lòng thì chị em tôi xin giã ơn lòng, chứ việc vua việc nước chị em tôi chẳng đèo bòng được đâu.

Mọi người lại ồ lên cười. Không khí thật là vui vẻ. Nhìn trước nhìn sau không thấy sư cụ, ông xã trưởng đích thân lên chùa mời và dẫn nhà sư vào ngồi trong kỷ với các bậc cao niên.

Ông xã trưởng mặt mày rạng rỡ nói:

- Thưa các cụ, thưa bà con, từ khi vua Thuận Thiên ở ngôi, trên thuận mệnh trời, dưới hợp lòng người. Nhờ ơn mưa móc nên được quốc thái dân an. Mới có hơn chục năm trị vì, vua đã tha tô thuế cho dân ta tới sáu năm. Đó là việc mà từ thượng cổ tới nay chưa từng thấy. Sử sách các đời cũng không thấy có ghi việc này; bên ta cũng thế mà bên Tàu cũng vậy. Sử Tàu nói đời Nghiêu – Thuấn được như vậy. Nhưng đó là đời hồng hoang, các nước đều còn man mọi bán khai cả, ai chứng được điều ấy, lấy gì làm bằng cớ. Cho nên để tri ân, tôi nghĩ nhân tiết Thiên thành tức lễ mừng thọ nhà vua năm nay, bà con ta nên có chút vật phẩm gì đem dâng tặng, để tỏ tấm lòng của dân đối với người đứng đầu trăm họ.

Không ai nối lời ông xã trưởng cả. Nhưng mọi người quay ra bàn tán với nhau:

- Từ ngày vua Thuận Thiên lên là mất biến cảnh sưu cao thuế nặng, cảnh chức dịch tróc nã thuế khoá đến từng nhà.

- Vua Thuận Thiên lên, hết cảnh bắt bớ, giam cầm vô cớ.

- Vua Thuận Thiên lên, ai cũng có ruộng cấy, có cơm ăn, không còn bị đói nữa.

- Từ ngày vua Thuận Thiên lên, làng nào cũng có chùa thờ Phật, có sư chỉ bảo nhẽ thiệt hơn, trẻ con đều được nhà chùa dạy chữ, rèn đức, ốm đau thì nhà sư lại thuốc men chữa trị cho.

- Vua Thuận Thiên… Nói bao nhiêu cho xuể, cái hay, cái đẹp của triều Thuận Thiên. Nhưng mọi người đều ngớ ra: “Làng mình thì có sản vật gì quý để dâng vua?”.

Sau một hồi băn khoăn, ông xã trưởng lại lên tiếng:

- Xin các cụ cho biết, làng ta nên dâng sản vật gì vào tiết Thiên thành của nhà vua?

Cụ Ngật xóm Tây bèn lên tiếng:

- Ông xã trưởng mở tâm như thế là chí phải. Đây đúng là chuyện “Hà ẩm tư nguyên”, tức là uống nước nhớ nguồn như các cụ ta xưa đã dạy.

Dân ta được như ngày nay là nhờ có triều đại của vua Thuận Thiên. Ôi lắm lúc nghĩ về cái thời của ông Lê Ngọa triều là tôi cứ lạnh buốt cả sống lưng, tóc gáy dựng đứng cả lên. Mà lạ thật, bà con có thấy không, cũng đất đai ấy, cũng người dân ấy chứ có phải vua Thuận Thiên lên là đổi dân khác, đổi đất khác đâu. Thoắt một cái, vua mới lên, thế là người dân đổi đời ngay. Thú thật, ngày trước tôi chán sống lắm. Bởi con người như bị cầm tù cả từ trong suy tư, trong tâm tưởng. Vua thì khinh dân, coi mạng sống của dân không bằng con tôm con tép, con sâu con bọ, dân thì coi vua như sói lang, hổ báo. Lão Ngật vừa vuốt chòm râu bạc vừa nuốt hơi đánh ực một cái. Lão tuy đã ngoài bảy chục tuổi, nhưng là người có học, nghe nói đâu thuở trai trẻ ông lão đã từng theo học thiền sư Sùng Phạm là bậc cao tăng đương thời.

Nhìn khắp mọi người một lượt rồi lão Ngật cười khà khà. Giọng cười của một người tỏ ra vừa vui tính vừa tự tin. Đoạn lão tiếp: – Quả thật khi mà người đứng đầu muôn dân quý cái dân yêu, căm cái dân ghét thì dân cũng quý kính như bậc cha bậc mẹ, thậm chí còn tôn kính như thánh như thần. Ấy thế mà có kẻ đứng trên thiên hạ lại coi thiên hạ như cỏ rác, và chỉ thuần yêu cái dân ghét mà ghét cái dân yêu thì sự nghiệp làm sao mà trường cửu, mệnh số làm sao mà dài lâu được. Róc mía trên đầu sư, làm cả điều ô uế nơi thiền môn. Khinh sư, nhạo Phật tránh sao khỏi bị đoạ. Vì thế mới có hăm ba tuổi[80] đã phải chết trong đau đớn, tanh hôi… Cứ mỗi lần nói đến vị hôn quân này, cụ Ngật thường trào ra một niềm khinh bỉ sâu sắc. Như sực nhớ ra mình đã đi quá xa điều mà ông xã trưởng đưa ra bàn bạc, cụ liền quay ngoắt về điểm khởi đầu. – Phải, đúng thế, làng mình phải có cái gì thật quý để dâng đức Thuận Thiên trong tiết Thiên thành sắp tới. Tức là làng ta phải có chút quà lễ gì đáng giá. Nhưng quà gì nhỉ: gạo tẻ, gạo nếp, gà, lợn, trâu, bò, đậu, lạc, ngô, khoai, sắn là sản vật quý đây. Nhưng chỉ quý đối với bà con ta thôi. Tôi chưa nghe ai nói, và cũng chưa bao giờ thấy ai dám tiến vua các loại sản vật như thế bao giờ.

Ngừng một lát, nhìn khắp lượt rồi cụ dừng lại nơi mấy người trong phường săn, cụ Ngật hất hàm: – Hay là mấy bác giúp cho một phen? – Ta phải kiếm một con hổ sống để dâng nhà vua.

Mọi người cười rộ lên. Cụ Ngật cũng xoa tay cười ngất rồi ngồi xuống.

Ông xã trưởng vẫy tay cho mọi người im lặng. Xoa hai bàn tay vào nhau, nhìn khắp dân làng, với vẻ nhăn nhó, ông chậm rãi: – Khó thật đấy. Đúng như cụ Ngật nói, làng ta chẳng có sản vật gì đáng giá để dâng hoàng thượng. Nhưng chẳng nhẽ làng ta không có một thứ gì để tri ân nhà vua sao?

Ông xã trưởng nhìn đăm đăm về phía nhà sư như tìm nơi cụ một phép mầu.

Đáp lại, sư cụ nhẹ nhàng nói:

- Kính bạch chư vị. Làng ta có vật quý có thể tiến vua được.

Mọi người nhao nhao như sắp nhảy dựng cả lên. Ai nấy vừa mừng vừa tò mò, muốn biết vật quý sư cụ nói là cái gì, mà cả làng không biết. Nhiều giọng tranh nhau nói:

- Bạch cụ xin cụ cho làng biết vật ấy là cái gì ạ?

- Bạch cụ.

- Bạch cụ… Bạch… Bạch…

Sư cụ vẫy tay cho mọi người im lặng.

- Vật quý làng ta, tôi chắc cả nước cũng không có được. Các vị cứ hay ngưỡng vọng những gì xa ngái mà quên mất quý vật mình đang có. Tôi nghĩ, làng ta nên cung tiến nhà vua giọng hát của mẹ con bà Đào. Chỉ một canh hát của mẹ con bà Đào thôi cũng đủ làm nhà vua tăng thêm tuổi thọ.

Mọi người lại rộ lên:

- Đúng! Đúng! Bạch cụ đúng là giọng bà Đào thì đến chuông đồng cũng không sánh được.

- Bạch cụ, bà Đào hát thì đệ nhất thế gian rồi. Nhưng sao cả làng không ai nghĩ ra nhỉ?

Trong khi mọi người đang rào rào tán thán cái sáng ý của nhà chùa, thì nơi góc cột kia, bà Đào trở nên lúng túng. Đôi má bà hồng ửng lên. Đầu hơi cúi, làm đôi chiếc dải yếm buộc sau gáy khẽ lúc lắc. Trong lòng bà Đào trộn lẫn cả niềm vui và nỗi buồn. Vui vì dân làng không có phân biệt đối đãi với bà. Vui vì mọi người thừa nhận bà có chút tài mọn, ấy là giọng hát. Còn buồn vì nhẽ, cũng chính giọng hát đã làm hại bà. Nhớ những năm sống goá bụa, chồng chết, đứa con gái còn ẵm ngửa. Lặm lụi thờ chồng, nuôi con. Khi con bà mới năm tuổi thì lão Thằng chạy ngược chạy xuôi được chân xã trưởng. Từ ngày lão làm xã trưởng, lão hay qua lại căn nhà nhỏ bé tuềnh toàng của mẹ con bà khuất lấp nơi góc làng. Và đêm đêm, lão bắt bà phải hát hầu lão. Lúc đầu còn có vài người tuần đinh theo lão. Sau, lão chỉ đến một mình. Nghe hát xong buông lời hoa nguyệt sàm sỡ. Rồi lão bức bách bà phải cho lão làm cái việc chó ngựa. Cho tới khi bà có chửa, khi cái bụng đã chềnh ềnh không che giấu nổi nữa. Cả làng đều biết lão là thủ phạm. Nhưng lão lại cho người đến bắt khoán bà về tội chửa hoang. Nhà nghèo không có gì nộp khoán, bà phải khai thật với dân làng kẻ nào là thủ phạm.

Lão xã Thằng tức giận vì bẽ mặt, liền sai bắt giam bà tại nhà tù ngoài miếu về tội “đổ vấy” rồi đánh đòn tra khảo cho tới khi vua Thuận Thiên vi hành… Và bây giờ đã hơn mười năm. Đứa bé đã lớn. Và lão cũng mãn hạn tù được năm năm. Ba mẹ con đang sống yên ổn. Con gái lớn của bà đang hơ hớ tuổi xuân. Nay sư cụ nói đem giọng hát của ta tiến vua. Chẳng biết điềm lành hay điềm gở đây. Bất hạnh cho con bà, nó cũng có giọng hát hay chẳng kém gì bà. Lại còn nhan sắc của nó nữa chứ. Ôi chao, nếu kỳ này dân làng bắt mẹ con bà phải đem giọng hát, hát tiến vua thì chẳng biết thân phận mẹ con bà sẽ ra sao. Và nữa chuyện thằng cu Cún. Bà đặt cho nó cái tên đó không phải vì yêu, mà là để bõ lòng căm ghét cái lão Thằng đã hiếp đáp bà. Cún là chó con. Chó con là con của thằng chó bố. Vậy nhưng bây giờ thằng bé lớn lên ngoan ngoãn, đẹp người đẹp nết, cả làng ai cũng thương nó; tự nhiên bà lại thấy hối vì đã đặt cho con cái tên xấu xí. Lão Thằng từ khi mãn án tù năm năm trở về, cứ nem nép như rắn mồng năm, không dám bén mảng đến nhà bà. Lão ta đã mấy lần bắn tiếng sẽ đến thăm hai mẹ con. Bà đe, nếu vác mặt đến, bà sẽ đi trình quan. Không được đến thăm con, nhận con, nhưng tháng tháng vẫn cứ phải cho gia nhân đem thóc đến nộp để nuôi thằng Cún, đến năm nó mười lăm tuổi như án luật đã định. Tuy vậy, ba mẹ con bà ít năm nay đã khấm khá, nên khi thằng Cún tròn mười tuổi, bà không khiến nhà kia đóng góp vào việc nuôi nó nữa. Bà làm như vậy là để cố quên đi cái bộ mặt vênh vênh cậy quyền, cái bộ mặt hống hách, tàn ác trước đây của cha nó. Bà muốn quên cái chuyện buồn ấy đi để cố yêu thương nó.

Bỗng có giọng nói run run cất lên. Mọi người nhìn xem ai. Thì ra là bà cụ Giá. Cụ Giá có anh cháu nội lấy cô Lan con gái ông xã trưởng Lương Thanh Khiết. Anh con trai khoẻ nhất làng ấy có tên là Sắn. Từ ngày làm rể ông xã trưởng, ông đón thầy đồ về dạy chữ. Sắn học chăm chỉ lắm. Một năm sau ông cho vào chùa làng học sư cụ. Rồi hai năm sau lại cho theo học thiền sư Định Hương – bên chùa Tam Sơn. Hoàng thái tử Phật Mã qua lại chùa thường gặp Sắn chăm chỉ học hành, lại thường hay xốc vác các công việc nặng nhọc, trong lòng đã có đôi phần cảm mến. Nhưng phải chờ đến một hôm, hoàng thái tử bất chợt gặp Sắn đang luyện công ở một góc rừng, nơi đoạn đường dốc lên chùa. Nhìn tấm thân trần đóng khố, nước da nâu rám, chân tay cơ bắp rắn chắc như những thỏi sắt, nhất là gương mặt Sắn vuông chữ điền, vừa bình thản vừa phúc hậu khiến thái tử muốn thu dụng tới tám chín phần.

Sau thái tử ngỏ lời với thiền sư:

- Con muốn thâu người này làm thủ túc, có nên chăng xin thầy chỉ giáo?

Thiền sư cười độ lượng:

- Bần tăng đang định rèn dạy đệ tử này tới khi tinh thông văn võ, sẽ tiến cử y với thái tử điện hạ.

Ít lâu sau Nguyễn Văn Sắn đã ở trong đội cận vệ của thái tử Phật Mã.

Cháu dâu là con gái ông xã trưởng giàu có nhất làng, lại có cháu trai đi hầu cận hoàng thái tử nên trong làng ai cũng trọng nể cụ Giá. Mặc dù cụ đã gần tám chục tuổi rồi, nhưng do lam làm nên cụ còn mạnh chân khoẻ tay, đầu óc tỉnh táo. Cụ nói:

- Kính bạch nhà chùa, kính thưa ông xã trưởng, tôi già lão nói năng luống cuống, có điều gì không phải xin nhà chùa, xin ông xã trưởng cùng các cụ và bà con dân làng đại xá cho. Cụ Giá lúng túng đưa tay lần chiếc đầu dải thắt lưng chấm chấm dử mắt. Cụ lại lấy hai đầu ngón tay tém vành môi, nhả miếng bã trầu ra cầm tay, và nói tiếp: – Cách đây mười mấy năm, chắc làng ta ai cũng tỏ cảnh ngộ của mẹ con bà Đào. Trần gian là khổ. Mấy năm nay nhờ ơn vua, mẹ con bà Đào đã mát mặt. Phỉ thui, tôi cứ nghĩ, nếu mẹ con bà ấy phải tiến kinh, không biết lành dữ thế nào. Nói dại chứ, nếu hai mẹ con bà Đào bị giữ lại hầu vua, thì thằng cu Cún ở nhà biết nương tựa nơi đâu? Hay là… Bà cụ Giá ngập ngừng, hay là xin với sư cụ, xin với ông xã trưởng cùng dân làng tha cho mẹ con bà Đào có được không. Dứt lời, cụ ngồi xuống, hai hàng nước mắt nhểu ra. Cụ thương mẹ con bà Đào đến se thắt cả lòng dạ.

Mọi người đều biết bà cụ Giá thật lòng, nhưng đều bật cười vì cụ cổ quá. Bởi vua Thuận Thiên chứ có phải vua Ngọa triều đâu mà lo.

Sư cụ giảng giải, ông xã trưởng giảng giải về mọi đường sáng, tối cách biệt như ngày với đêm giữa vua Thuận Thiên với hôn quân Ngọa triều. Dân làng thảy đều an tâm, và nhất đán tưởng thưởng việc đem giọng hát của bà Đào tiến vua.

Mọi việc tưởng thế đã là xong, bỗng sư cụ buông một câu hỏi:

- Đây mới là ý của làng. Thiết tưởng làng cũng phải hỏi bà Đào xem, bà có đồng lòng với dân làng không. Vì rằng giọng hát là giọng hát của bà Đào, chứ có phải giọng hát của làng đâu mà làng tự tiện. Tôi nói thật, nếu bà Đào không tự mình ngộ ra điều này, mà chỉ là sự bắt buộc thôi, thì lời ca của bà cất lên sẽ đượm màu bi ai, sầu thảm, là lời điếu chứ chẳng phải niềm vui chúc tụng nhân ngày sinh của hoàng đế bệ hạ đâu.

Thấy sư cụ nói có lý, mọi người đổ xô nhìn về phía bà Đào. Bà Đào ngồi cạnh cụ Giá, bà đang mở miếng trầu cánh phượng ra xem vôi têm đã vừa chưa. Bà nhón thêm một miếng vỏ, một miếng cau toan bỏ vào miệng thì thấy tiếng mọi người nhao nhao:

- Bà Đào cho làng biết ý của bà thế nào đi?

- Bà Đào có thích vào hát ở trong cung không?

- Bà Đào có lo sợ gì không?

- Bà Đào có đi không?

- Bà Đào nói đi!

- Bà Đào nói đi!…

Ông xã trưởng huơ tay cho mọi người im lặng. Đoạn ông chậm rãi hỏi:

- Sư cụ nói rất có lý. Hảo ý của làng là muốn tiến cử giọng hát của bà Đào lên nhà vua. Chẳng biết ý bà thế nào. Tôi xin nói để bà Đào yên tâm. Nếu bà thấy việc cả làng tiến cử không có gì khiên cưỡng, mà bà cũng thấy đó là sự vui vẻ, thì làng sẽ làm sớ tâu về triều. Chắc là triều đình còn phải cử người về tuyển. Bà mà đắc cử, thì cả làng sẽ đứng ra lo liệu. Nhược bằng bà không thuận, cũng xin bà nói cho một nhời, để làng quay tìm hướng khác. Tuyệt nhiên làng không có ý gò ép bà.

Bà Đào đã toan bỏ khẩu trầu vào miệng, lại đặt nó vào khay. Nở nụ cười rất tươi, bà nói:

- Bạch sư cụ, thưa ông xã trưởng, thưa các cụ cùng bà con dân làng. Mẹ con nhà Đào này sống được đến ngày nay là nhờ có sự đùm bọc của dân làng. Nhưng trước hết nếu không có sự dời đổi, hôn quân không chết, minh quân không ra đời, thì con mụ Đào tôi hẳn phải mục xương trong nhà tù của xã Thằng ở ngoài miễu. Thưa các cụ, mụ Đào tôi đang lo không biết làm thế nào để báo đáp ơn vua, trả nghĩa dân làng. May quá, đúng dịp lễ Thiên thành của nhà vua, các cụ lại có lòng cho mụ Đào tôi đem tiếng hát dâng hiến lên ngài. Dù có phải xả thân ra để đáp đền ơn trên, tôi cũng không ngại, huống chi chỉ có tiếng hát. Dám xin các bậc bề trên cứ dâng sớ về triều đi. Tôi quyết không phụ công ơn trời biển của dân làng đâu.

Nghe bà Đào nói, cả làng đều hỉ hả. Sư cụ chắp hai tay trước ngực niệm: “Nam mô A-di-đà… Cầu chúc cho xứ xứ đều thái bình, an lạc. Cầu chúc cho người người đều làm việc thiện, nhà nhà đều làm việc thiện”.

Mọi người rời chùa, lòng tràn ngập niềm vui.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 27.09.2018, 16:53
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XXV

Sắc thái làng Xuân Phương lại bừng lên rực rỡ. Như sắp đón một cái tết nữa. Như sắp mở lại hội làng. Mặc dù mới đầu tháng hai. Tết mới qua một tháng. Hội mới rã có nửa tuần trăng.

Nhà nhà đều quét dọn, sửa sang. Đường làng, ngõ xóm, chẳng ai bảo cũng cứ ào ra quét tước, tu sửa lại cho phẳng phiu. Cờ thần, phướn Phật lại treo rợp cửa chùa làng. Các ông, các bà ngày ngày áo quần tề chỉnh lũ lượt ra chùa lễ Phật, ra chùa làm công quả.

Đêm đêm trai gái lén đến cái xóm khuất nẻo cuối làng, nơi có ngôi nhà tranh bé tẹo của ba mẹ con bà Đào để nghe hát. Các chàng trai, các cô gái im lặng ngồi ngoài hàng giậu cúc tần nghe mẹ con bà Đào luyện giọng.

Trong nhà tối om, chỉ nghe vẳng qua khe liếp tiếng hát, tiếng đàn và tiếng trống khua lúc khoan lúc nhặt.

Đêm khuya tịch mịch, giọng bà Đào vang vọng như tiếng chuông ngân.

Trèo lên cây bưởi hái hoa

Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân…

Sắn, người vệ sĩ của hoàng thái tử Phật Mã bữa nay được phép về thăm bà, thăm vợ con cũng theo đám trai làng đi nghe lén bà Đào hát.

Vẫn những lời ca quen thuộc, không ai không nhớ nằm lòng. Nhưng sao khi nghe bà Đào hát, Sắn cảm nhận như đây là bài ca định mệnh của chính bà. Vẫn cái giọng trong muốt và mát lạnh, len lỏi khắp cơ thể người nghe, đôi lúc sởn cả gai ốc khi bà cất cao giọng hát. Nhưng khi giọng bà trầm xuống, nó mảnh nhẹ như rã tan ra thành từng mảnh vụn, li ti như những hạt cát lấp lánh bên bờ bãi sông Như Nguyệt, khi ánh chiều xiên ngả.

Vẫn cái giọng chuông vàng cùng lời ca thao thiết, bà Đào ngân nga:

… Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,

Em có chồng anh tiếc lắm thay

Ba đồng một mớ trầu cay,

Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không.

Một tình yêu đắm say mà ngang trái. Để rồi mỗi người ôm một nỗi đau dang dở, khiến tâm hồn bất định như một kẻ mộng du.

Sắn không có nỗi đau như nỗi đau của bà Đào, nhưng anh cảm nhận được hết nỗi niềm bi phẫn của mẹ con bà. Tức nỗi không làm thế nào để sẻ chia cùng bà.

Đám trai gái trong làng đêm nào cũng kéo đến lén nghe giọng hát của mẹ con bà Đào. Nhưng chủ yếu là bà Đào hát. Con gái bà, cái Cúc, giọng hát mượt mà đầy đặn, báo hiệu cuộc đời nó sẽ bớt gian truân hơn mẹ nó. Cúc năm nay vào tuổi mười bảy. Cái tuổi đẹp nhất trong cuộc đời thiếu nữ, tựa như một bông hồng hé nụ, chỉ cần một chút hương xuân là bừng nở.

Chiều, vừa về tới nhà đã nghe bà cùng vợ nói tới chuyện dân làng sẽ đem giọng hát của bà Đào tiến vua. Lại nghe nói, mẹ con bà đang luyện giọng, đêm đêm trai gái trong làng kéo nhau tới lén nghe. Thế là Sắn nhập vào với số bạn bè. Lúc đầu, Sắn cứ nghĩ, nghe bà Đào hát một vài bài rồi về với vợ, với con. Ai dè tiếng hát của bà như níu giữ hồn người, Sắn nhìn tận mặt từng người ngồi cạnh, thấy ai cũng như ngây dại. Và mãi tới khi mẹ con bà Đào thôi đàn, thôi trống, thôi hát, mọi người mới lục tục kéo nhau về. Khi ấy gà đã gáy dồn, đã sang canh hai.

Sắn chạy ập vào giường vợ, ôm chặt lấy Lan. Từ tối, Lan vẫn chập chờn chờ Sắn. Những tưởng chồng đi một loáng rồi về. Lan biết, chồng không bờm xơm, không dan díu với ai, nhưng sao đến giờ này mới về. Lan giả vờ ngủ, mặc cho chồng vuốt mắt, vuốt má, nắn, sờ… Mãi tới khi Sắn luồn tay qua đầu Lan, rồi ôm gọn cô vào trong lòng vỗ về, nựng nịu, lúc ấy Lan mới bật cười, gắt khẽ:

- Đi gì mà đi hết cả đêm! Đi nữa đi! Vừa nói, nàng vừa hất tay chồng ra.

Sắn như biết lỗi, khẽ thổi hơi nóng vào tai vợ, lại quệt cái cằm đầy râu lên má vợ. Và mơn trớn làm cái việc vợ anh đang khao khát thức chờ gần trọn đêm. Sắn vốn là một chàng trai khoẻ nhất làng. Nay lại được vào hầu hoàng thái tử. Được học hành có chữ nghĩa hẳn hoi, lại được luyện tập võ nghệ. Nên trong việc hành xử, Sắn đã biết cách đối đãi tế vi. Nhất là về sức lực thì ngay cả hồi còn ở cái tuổi mười bảy, mười tám cũng chưa thể sung mãn như bây giờ. Dù rằng bây giờ Sắn cũng mới có hai mươi bảy tuổi thôi. Ấy vậy mà vợ chồng đã ăn ở với nhau được bảy năm rồi. Đứa con lớn đã năm tuổi.

Lúc tối, thằng bé cứ thức mãi đợi bố về. Buồn ngủ quá, cu cậu lăn ra ngủ ngay trên chiếc phản ăn cơm ở giữa nhà. Cụ nội bắt bằng được Lan phải bế cháu vào ngủ trong buồng với cụ.

Hai vợ chồng trẻ, sức lực căng tràn, lại xa nhau tới cả tháng, nên mỗi lần về nhà, Sắn ân ái với vợ suốt đêm, cứ như ngày đầu mới cưới, khiến cho Lan mệt vì sung sướng.

Sức Sắn dẻo dai cường tráng, Lan không thể theo kịp chàng. Tuy mới hai mươi lăm tuổi, nhưng cặp má không còn hồng, đôi môi không còn thắm như hồi mới cưới bảy năm về trước nữa. Không phải Lan không yêu chồng thắm thiết, không phải Lan không khao khát bàn tay ve vuốt ấp ôm của chồng, mà bởi tình yêu ấy đã sẻ chia thành nghĩa vụ. Phần phụng dưỡng bà nội, phần nuôi dạy con. Phần phải trông nom cày cấy cả hai mẫu ruộng, sớm hôm vất vả. Cho nên sự nồng nàn trong ân ái không thể nói là không giảm sút.

Sắn từ khi được làm rể ông xã trưởng Lương Thanh Khiết, được ông thương quý như con đẻ. Ông cho Sắn theo học sư cụ trong chùa làng. Chữ nghĩa đã kha khá, ông lại gửi Sắn sang chùa Tam Sơn theo học với thiền sư Định Hương trưởng lão. Rồi từ đây lọt mắt hoàng thái tử. Chàng bèn thâu Sắn về làm vệ sĩ dưới trướng. Bởi thế, anh được nuôi vỗ để dốc toàn tâm toàn sức vào việc luyện rèn võ thuật. Cuộc đời Sắn cứ phơi phới đi lên.

Sắn ôm gọn Lan vào lòng, hai chiếc thân trần nóng hổi áp sát vào nhau. Lan thở hổn hển vì mệt nhưng vẫn gắng chiều chồng, Sắn dư thừa khí lực nên càng ân ái chàng càng khoái hoạt say mê. Chợt nghe tiếng gà vỗ cánh rồi tiếng cùng cục gọi con của gà mẹ, tiếng chiêm chiếp của gà con. Ngoài chuồng, tiếng lợn đòi ăn kêu ụt ịt. Tất cả những tiếng động quen thuộc ấy ập vào tai Lan, khiến cô vùng dậy. Nhưng cả một tấm thân đồ sộ của Sắn còn đang đè phủ trên người cô. Lan khẽ đẩy Sắn và nói: “Anh ơi, sáng rồi, em phải dậy nấu cơm, nấu cám lợn đây”.

Sắn đành nghiêng mình nằm xuống. Lan kéo chiếc chăn mỏng trùm lên tấm thân trần như nhộng của Sắn, rồi cô mở hé tấm liếp che cửa chạy ù xuống bếp nấu cơm.

Sắn vùi ngay vào giấc ngủ muộn, tiếng ngáy bỗng vang lên. Lúc đầu còn ri ri như tiếng sáo diều, loại sáo con. Sau to lên khòng khọc như tiếng sáo đẩu, rồi rền vang như tiếng sáo cồng. Dần dần tiếng ngáy chìm trong tiếng khua động buổi sớm của làng quê. Nào tiếng tháo dóng chuồng, dắt trâu ra đồng. Tiếng trâu bò gõ móng, tiếng gà cục tác nhảy ổ, tiếng mèo kêu, chó sủa, tiếng người gọi nhau í ới từ nhà nọ sang nhà kia, vang vang khắp nẻo đường làng.

Nấu cơm xong, Lan đi vợi cám cho lợn ăn, rồi vào sắp dọn mâm bát cho bữa sáng. Chiếc mâm tre, gọi là mâm chõng có bốn chân cao độ một gang tay làm bằng tre sào. Mặt ken những chiếc nan vót tròn bóng như những chiếc răng nơm. Dây ken bằng những sợi mây mảnh mai có màu trắng đục như màu ngà. Những ngọn rau muống luộc xanh như mực, gắp từ chiếc rổ be bé xinh xinh, vun thành một đống nhỏ trên mâm. Bên cạnh là bát nước mắm cáy đỏ như son. Một đĩa cá giếc kho khô, từng chiếc vảy cá thấm đẫm màu đỏ đậm của lá phèn đen và lá đỏ ngọn, cong lên như thể một con nhím xù lông.

Xong đâu đấy, Lan vào trong buồng mở cửa liếp mời bà dậy ăn cơm. Cô dắt con ra chân vại nước, múc vài gáo đổ vào chiếc chậu sành to bằng hai vốc tay, rồi lấy vuông khăn nâu xỉn rửa mặt cho con. Thằng bé mắt nhắm mắt mở sà ngay vào lòng cụ, quên cả chuyện chờ bố suốt buổi tối hôm qua.

Một vệt nắng xói qua khe liếp ập vào nhà, Sắn trở mình, hơi hé mắt, rồi lại nhắm nghiền. Anh mơ mơ màng màng cứ tưởng đó là ánh trăng. Cái vệt “trăng” nhạt ấy làm Sắn rùng mình, anh cảm như cả thế gian này đều ớn lạnh. Và giọng hát của bà Đào như vẫn còn văng vẳng bên tai:

Sáng giăng suông sáng cả vườn đào

Sáng sang vườn mận sáng vào vườn mơ.

Bà Đào đang hát theo điệu “cò lả” bỗng chuyển ngay sang điệu “sa lệch chênh”:

Ba bốn cô vác nạng chòi đào,

Có một quả chín rơi vào tay anh.

Hai tay anh vít hai cành

Quả chín thì trẩy quả xanh thì đừng.

Sắn hình dung rất rõ mấy cậu mấy cô đang ríu rít vác cây vác que, chòi quả, vin cành.

Thoắt cái giọng hát lại chuyển sang điệu “làn thảm”:

Mấy năm nay ăn ở trong rừng,

Chim kêu vượn hót nửa mừng nửa lo.

Sa chân lỡ bước xuống đò,

Văng mình xuống sạp những lo cùng phiền.

Sắn có cảm giác như mình đang chênh vênh, hụt hẫng bước chân.

Bỗng có tiếng bước mạnh và một giọng nói khá to:

- Dậy! Dậy anh! Con nó đang hỏi bố đấy. Rồi Lan giật tung chăn lên. Sắn co dúm người lại như để che giấu tấm thân trần. Anh vơ vội chiếc quần đùi mặc vào, tay xách chiếc côn sắt ra đầu sân đi mấy bài. Sắn múa cây côn sắt như người ta múa chiếc gậy tre rỗng. Những đường côn đi lấp loáng xoay tròn bốn mặt, che chắn trước sau, trên dưới mọi bộ vị thật là kín đáo, tới mức nếu có ai ném đá, ném sỏi vào anh, sẽ bị chiếc côn đang lượn múa kia làm bắn ra ngoài. Ngay cả trời mưa, chưa chắc anh đã bị ướt đầu.

Thằng Tuân vừa ăn xong bát cơm thứ ba, buông đũa bát chạy ra đầu hè. Nom thấy bố múa côn, nó thích quá réo gọi thật to:

- Bố! Bố giỏi quá! Bố dạy con múa gậy đi.

Sắn ngừng tay, đặt nằm cây côn sắt xuống sân rồi chạy ào ra bế xốc con lên. Anh đặt thằng bé ngồi lên cổ mình, giả vờ làm ngựa, Sắn bảo cu Tuân: “Con nắm lấy tóc bố kêu nhong nhong, giả vờ cỡi ngựa đi!”

Cu Tuân giật tung “bờm ngựa”, Sắn chạy gằn bước một như ngựa đi nước kiệu. Cu Tuân mê tít bố.

Bố con Sắn vào trong buồng bà nội. Răng bà rụng gần hết, nên suốt ngày bà ngồi trên góc giường giã trầu.

Nhìn thấy bố con Sắn, cụ gọi:

- Bố con thằng Sắn vào đây cụ bảo.

Sắn ngồi cạnh bà. Cu Tuân chạy vòng ra phía sau ôm lấy cổ cụ. Nó kéo cụ ngả người ra, cười như nắc nẻ. Và hỏi:

- Cụ ơi, suốt ngày cụ chỉ ăn trầu thôi à?

Cụ Giá đang vuôn cối trầu vào miệng, chưa kịp đáp. Thằng cháu lại nhắc lại câu hỏi:

- Cụ ơi…

- Đã bảo cụ biết rồi. Cụ Giá kéo thằng chắt nội vào lòng, cụ xoa đầu nó, cụ chửi yêu: “Cha cái cục cưng của cụ. Nhớ lớn lên chịu khó học lấy dăm ba chữ con nhá…”. Những điều cụ răn dạy ấy, nó đã thuộc lòng cả rồi. Nó không hiểu “chữ” là cái gì mà ai cũng bảo nó: “Thằng bé sáng dạ, nhớn chắc học giỏi”. Nó vẫn cứ ngước mắt nhìn cái miệng móm của cụ nội bỏm bẻm nhai trầu.

Cụ vừa xoa đầu cu Tuân vừa hỏi Sắn:

- Bà nghe ông xã trưởng nói, từ cuối năm ngoái con đã vào hầu thái tử có phải không?

- Vâng ạ! Thái tử thấy cháu theo học tại chùa Tam Sơn, ngài ưng ý nên cho gọi vào hầu.

- Con ơi, thế cái ông thái tử ấy làm chức gì, có to bằng ông xã trưởng làng mình không. Quý hoá, con được làm rể ông xã trưởng nhân từ, bà mừng quá con ơi. Nhà mình đại phúc đó con.

Nói thế nào cho bà hiểu đây. Sắn cứ loay hoay mãi về câu hỏi của bà. Đoạn anh thử cố gắng giảng giải:

- Bà à, hoàng tử tức là con vua ấy mà. Như nhà mình con cái đẻ ra, trai thì gọi là “cu” là “cò”, gái thì gọi là “hĩm”.

Cụ Giá gật gật cái đầu. Gương mặt cụ như là vô cảm, cụ lại hỏi:

- Thế cái ông hoàng tử mà con được hầu hạ đấy sau này có lên làm vua không?

- Con không biết. Nhưng mọi người bảo vị hoàng thái tử con đang theo hầu đã được lập rồi. Chắc sẽ lên làm vua thôi bà ạ.

Mặt cụ Giá bỗng tái đi. Cụ ngồi yên lặng như đang toan tính một điều gì nghiêm trọng lắm.

- Thôi được, để rồi bà phải gặp ông xã trưởng, xin ông đã thương thì thương cho trót.

- Bà bảo gặp nhạc phụ con xin cái gì kia?

- Bà định nhờ ông xin cho con về, đừng hầu hạ hoàng tử nữa. Mai đây ông ấy lại còn lên làm vua nữa, nguy lắm.

- Ấy thôi, con xin bà. Nhà mình đại phúc đấy bà ơi. Con cái các nhà đại quan, xin theo hầu thái tử còn chẳng được, sao bà lại bắt con về?

Cụ Giá vẫn ngồi thản nhiên, cụ giơ tay xoa đầu thằng chắt nội, nhưng nó đã chạy ra ngoài, Sắn đang ngồi thế chỗ con. Cái tay cụ giơ lên chỉ đến ngang tấm vai lồ lộ của thằng cháu nội mà mới ngày nào nó cũng chỉ bằng thằng con nó bây giờ.

- Gần lửa rát mặt. Cụ Giá nói thong thả từng tiếng như cụ đã lọc chắt ra từ máu thịt cuộc đời. Như việc chẳng may nhà cụ ở sát nhà ông xã Thằng, suýt nữa vừa mất vườn vừa mất nhà. Nay thằng cháu cụ lại hầu hạ con vua. Mai đây người ấy lại làm vua nữa thì nhà cụ gặp phúc hay gặp hoạ đây.

Bàn tay già nua của cụ Giá cứ rờ mãi cái cổ to, cái gáy đầy xun của thằng cháu nội. Hai bà cháu vẫn ngồi trong im lặng. Đôi mắt nhoèn dử của cụ nhìn vào một điểm mơ hồ, cụ lại nói, như với xa xăm:

- Con ơi hầu hạ vua như hầu hạ thú dữ, hùm, beo, rắn, rết; nó trở mặt là mình mất mạng. Hùm, beo, rắn, rết nó trở mặt, nó chỉ giết được một người. Nhưng vua trở mặt thì ba họ nhà người ta phải chết. Cụ Giá buông tiếng thở dài rồi nắm chặt bàn tay Sắn. – Con ơi, bà sẽ thưa với ông xã trưởng xin cho con về. No đói bà cháu nuôi nhau được mà.

Sắn bật cười. Anh đứng dậy ôm lấy vai bà nói nhỏ:

- Bà ơi, bà hiểu nhầm rồi. Vua bây giờ khác chứ không như vua thời bà đâu. Bà không thấy từ ngày vua Thuận Thiên lên, bà cháu mình không còn bị ai ức hiếp nữa. Không những không mất vườn mất nhà, lại còn được tha tô, thuế. Được chia ruộng đất. Khai khẩn được đến đâu thì làm chủ đất đai đến đấy. Vì thế nhà mình mới có được hai mẫu ruộng chứ bà. Đấy, bà thấy không. Con sẽ theo hầu các vị vua như thế. Bà vui lên đi.

Cụ Giá lấy hai bàn tay vuốt xuôi khuôn mặt già nua, rồi cụ lấy hai ngón tay tém lại vành môi cho gọn nước quết trầu. Nhả miếng bã trầu cầm tay, cụ lại nói:

- Vẫn biết những điều con nói là thật cả. Những điều ấy bà biết cả. Con người chứ có phải giống súc vật đâu, mà không biết ơn người đã đem lại no ấm cho mình. Nhưng con ơi vua thì cũng vẫn cứ là vua. Cũng như hổ báo là hổ báo. Nhân đức, thương người, may ra cũng chỉ được một đời thôi. Đời sau lại đổ đốn. Lại dối trá, lừa lọc. Bà sống qua mấy triều vua rồi. Vì thế bà mới khuyên con.

Sắn thấy bà buồn thật sự, lo lắng thật sự. Anh không ngờ cái đời ông hôn quân Ngọa triều lại ám ảnh bà nặng nề đến thế. Sắn nắm chặt hai bàn tay bà. Anh cứ để yên thế một lúc. Hai bà cháu không ai nói gì nữa. Nhưng Sắn thầm nói ở trong đầu: “Bà ơi, vận may nhà mình con mới được hầu hạ hoàng thái tử Phật Mã đấy. Ông ấy nhân đức lắm! Sau này nhất định sẽ là một ông vua giỏi. Vua biết thương dân. Y hệt ông vua bố! Bà nghe con đi. Bà đừng buồn nữa. Con sẽ lập công để rạng danh dòng họ nhà mình, cho bà được mát lòng hả dạ. Bà ơi…”

Lạ thay, cứ như là một thứ tâm truyền tâm. Cụ Giá dường như nghe được hết thảy những tiếng nói thầm thì từ trong tâm tưởng của Sắn. Cụ hiểu tấm lòng của thằng cháu nội. Vì thế cụ thấy đã hơi tin tin ở vị hoàng tử này.

Bỗng gương mặt cụ tươi hẳn lên, cụ cười trơ cả hai hàng lợi móm, nói giọng thều thào:

- Thôi được, bà tin con. Con cứ yên tâm theo hầu ngài. Hai bàn tay dăn deo của cụ lại đặt lên tấm vai đồ sộ của cháu, và buông lời chửi yêu: “Cha bố anh!”


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 27.09.2018, 16:53
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XXVI

Tiết Thiên thành năm nay Trung thư sảnh[81] dâng sớ xin vua cho Sáu bộ, Sáu khoa cùng các trấn lộ đến lạy mừng. Lại xin cho kinh thành Thăng Long được mở hội, theo ý nguyện của dân chúng muốn được bày tỏ lòng trung với triều Thuận Thiên.

Trung thư sảnh viện cớ rằng từ năm Đinh Tỵ tới năm Canh thân, nhà vua đã không cho triều đình và dân trong nước được vào cung chúc thọ. Các lễ đều đình hoãn. Nếu nói các năm trước, Trời có ý răn đe đã đành. Nhưng năm ngoái cả nước bội thu liền hai vụ lúa. Bão lụt không có. Hoàng thái tử Khai Thiên vương vâng mệnh vua lĩnh ấn nam chinh, đánh thắng người Chiêm Thành thường cho binh sang quấy nhiễu. Thái tử đã chém được tướng Chiêm là Bố Linh, lại tiêu diệt quá nửa số quân của trại Bố Chính. Cuối năm, kỳ lân lại xuất hiện ở Châu Hoan. Đó chẳng phải là điềm Trời hết giận, Trời thương rồi sao…

Đọc đi đọc lại bản tâu của Trung thư sảnh, vua Thuận Thiên lòng vẫn phân vân chưa quyết, bèn sai nội thư gia tìm các bản tấu của các ông tả, hữu gián nghị đại phu Lương Tằng và Trịnh Văn Túc vào các năm Đinh Tỵ, Mậu Ngọ ra đọc lại.

Bản tấu của hữu gián nghị đại phụ Trịnh Văn Túc viết: “Năm ngoái, cả nước được mùa to. Nhân đó bệ hạ lại xá tô thuế ba năm liền để hồi phục sức dân. Ấy là đức lớn không dễ gì triều đại nào cũng làm được. Nhưng sao gần cuối năm, trời không mưa gió mà sét đánh sạt một góc điện Càn Nguyên, khiến bệ hạ phải dời việc coi chầu sang điện bên Đông.

Từ khi được thiên hạ, bệ hạ đã làm không biết bao nhiêu việc to lớn ích quốc lợi dân. Ấy thế mà Trời vẫn chưa cho là được, nên mới có chuyện răn đe. Ắt là thời trước, hôn quân Lê Ngọa triều gây nhiều tội ác, bao nỗi oan khuất uất ức, thần, người đều chưa nguôi.

Xin bệ hạ cho soát lại án tù, ân giảm nhất loạt, bỏ án tử hình. Lễ, tiết nên giản đơn. Cái nào bỏ được thì bỏ. Việc đàn chay cúng kiếng cốt ở tâm thành chứ không phải nơi lễ trọng. Trong cung nên lấy sự kiệm ước để làm gương cho thiên hạ”.

Cầm bản tấu lật đi lật lại, đọc đi đọc lại, vua nghĩ, các điều Văn Túc nói đều phải cả. Các việc Văn Túc khuyên đều đúng cả. Ta cũng đã làm như Túc nói. Kể cả việc ta bãi bỏ lễ Thiên thành là ngày sinh của ta. Vậy mà năm nay Trung thư sảnh lại xin cho khôi phục tiết Thiên thành. Một lát, nhà vua lại cầm xem bản tấu của quan Tả gián nghị đại phu Lương Tằng. “… Từ ngày nắm giữ ngôi trời, không lúc nào bệ hạ không lo nghĩ về đời sống và sinh mệnh của người dân. Thời gian ở ngôi mới được mười năm, nhưng không giấy bút nào ghi xuể các việc làm đại nhân đại nghĩa của triều Thuận Thiên. Từ thượng cổ chưa triều đại nào mới chấp chính có mười năm, đã sáu năm tha tô thuế cho toàn dân. Nhưng thần cứ băn khoăn tự hỏi, vì sao giữa mùa đông, trời không có mưa gió sấm chớp gì, lại tự nhiên nổ ra một tiếng sét đánh sạt góc điện bên Đông, nơi bệ hạ coi chầu. Nay lại phải lấy điện bên Tây để vua coi chầu. Sét đánh điện Càn Nguyên và điện bên Đông giữa lúc trời quang mây tạnh, chẳng nhẽ đó không phải là điềm Trời răn sao? Răn thôi chớ không phạt. Vì cả hai lần sét đánh, đều không phải lúc vua coi chầu, đều không có người chết.

Thần trộm nghĩ, ắt trong thiên hạ còn nhiều người già cả cô đơn không nơi nương tựa mà chưa được chăm sóc. Nhiều trẻ mồ côi cù bơ cù bất đầu đường xó chợ còn chưa được đoái tới. Hoặc các nơi núi, chằm, bờ biển sạt lở không được bồi đắp. Hoặc còn nơi thâm sơn cùng cốc nào đấy mà ân, uy của bệ hạ chưa tới được. Hoặc nơi đền miếu nào đấy bị bỏ hoang phế, từ thời hôn quân Lê Ngọa triều còn chưa được tu bổ, hương khói.

Xin bệ hạ cho Sáu bộ, Sáu khoa nhất loạt kiểm xét trong cả nước và có chính sách tu chính cấp thời. Việc khoan nới sức dân cùng việc kiệm ước của triều đình, xin bệ hạ luôn coi trọng”.

Lương Tằng cũng giống như Văn Túc thường khuyên điều phải. Ta đã làm theo những lời khuyên tâm huyết của họ. Ta biết hai người này đều có nhân cách cao thượng. Nhớ những năm đầu, ta phải đánh dẹp nay đây mai đó; cũng hai người này đã dâng sớ can ta, nhời nhẽ thật là thống thiết, gay gắt. May mà ta kìm nén được.

Vua Thuận Thiên trầm ngâm sau khi đọc lại hai bản tâu của hai vị tả, hữu gián nghị đại phu cách nhau hai năm. Vua tự nhủ: – Họ không gay gắt, không đòi ta phải làm cái nọ bỏ cái kia, mà chỉ hướng ta vào các việc vì lợi ích quốc gia. Những người chăn dân, nếu thương dân thật lòng, sao có thể thoái thác. Vả lại, làm điều thiện là bản tính của ta. Ta lớn lên nơi cửa Phật. Các thầy ta đều là các bậc đạo cao đức trọng, các bậc thiện trí thức, đã không tiếc công tiếc sức giáo hoá ta trở thành người đứng đầu trăm họ. Vậy trách phận của ta là phải chuyển tải những ý tưởng thâm viễn của thầy vào cuộc sống thế gian.

Trong khi nhà vua còn đang miên viễn với ý tưởng cao đẹp, bỗng có tiếng nói vọng lên từ dưới bậc thềm.

- Thần bạo gan vào tham kiến bệ hạ, xin bệ hạ tha tội.

Vua Thuận Thiên vừa quay lại, đã thấy quan hữu gián nghị đại phu Trịnh Văn Túc quỳ trước thềm điện.

- Là khanh à! Ta đang nghĩ về khanh. Miễn lễ, vua Thuận Thiên vừa nói vừa dắt tay Trịnh Văn Túc vào nội điện.

Nội thị dâng trà xong, vua hỏi:

- Vậy chớ khanh vào nội điện tìm ta có việc gì can ngăn khẩn cấp đây? Hoặc khanh cáo giác đàn hặc ai đây? Ta miễn lễ, khanh cứ ngồi nói cho tự nhiên.

Trịnh Văn Túc nâng hai tay sửa lại vành mũ và dải mũ cho ngay ngắn, rồi vòng tay thưa:

- Tâu bệ hạ, nếu thần đàn hặc hoặc cáo giác ai mà vào nội điện, thì việc thần làm đâu còn minh bạch nữa. Các việc ấy, tâu bệ hạ, nếu xảy ra phải giữa chốn triều đình, giữa thanh thiên bạch nhật. Còn việc can ngăn khẩn cấp, chắc là không. Vì rằng, các việc bệ hạ hành hoá lâu nay, dường như đã đi vào đúng then máy của Đạo rồi, lũ thần sao còn dám mở mồm cản ngăn bệ ha.

Lý Công Uẩn vỗ tay cười lớn. Dứt tiếng cười nhà vua nói với giọng thân tình:

- Ta bắt quả tang quan Gián nghị đại phu bên Đài ngự sử nói lời nịnh vua. Nào khanh đã cứng họng chưa.

Trịnh Văn Túc cũng bật thành tiếng cười sảng khoái.

- Tâu bệ hạ, nếu thần có nịnh bệ hạ thì cũng như thần nịnh trời cao, có gì lạ đâu.

- Khanh láu lắm! Thôi có gì nói mau.

- Bệ hạ, lũ thần nghe bên Trung thư sảnh có bản tâu về tiết Thiên thành năm nay, chờ mãi không thấy bệ hạ hồi âm. Sợ cận ngày quá, lại trễ công việc.

- Chính ta đang xem xét việc đó thì khanh đến. Đây, cả bản tấu của khanh, tấu của Lương Tằng, tấu của Trung thư sảnh. Nhà vua giơ cả ba bản tấu cho Trịnh Văn Túc xem rồi tiếp: – Ta biết, nếu để cho triều đình làm lễ Thiên thành, vua tôi gặp nhau trong ngày vui cũng tăng phần thiện cảm. Nhưng ta vẫn chưa hết lo về hai vụ sét đánh giữa ban ngày, giữa lúc trời quang mây tạnh. Đánh vào điện Càn Nguyên, ta phải dịch việc coi chầu sang điện bên Đông. Lại đánh vào điện bên Đông, khiến ta lại phải dịch việc coi chầu sang điện bên Tây. Khanh và Lương Tằng khuyên ta thế là phải. Ta còn làm nhiều hơn các việc mà hai khanh xướng xuất. Ta không run sợ sao được, khi mà Trời răn quở. Chính vì thế mà mấy năm nay các việc chi tiêu xa phí như xây cất cung điện ta đều dẹp bỏ. Hoặc lương bổng cho tam cung lục viện, hoặc việc ăn việc mặc, việc đi lại du ngoạn, tất thảy ta đều phải để mắt tới, phải lấy sự kiệm ước làm đầu. Ta phải lấy việc phát triển dân sinh, mở mang dân trí, khai phóng dân tâm làm quốc sách lâu dài. Ngay cả việc lấy ngày sinh của ta làm tiết Thiên thành, mấy năm nay ta cũng cho bãi hết.

- Nhưng năm nay và các năm sau xin bệ hạ cho tiến hành bình thường, Trịnh Văn Túc chen ngang lời vua.

- Sao lại phải làm như vậy? – Vua hỏi.

- Tâu, mấy năm qua Trời có ý răn dạy, bệ hạ làm như vậy là tỏ lòng tuân phục, lòng kính cẩn, tưởng thế là đủ. Vả lại, đây là triều Thuận Thiên phải chấn chỉnh, phải sửa đổi những điều sai quấy, những tội ác mà hôn quân Ngọa triều gây ra. Vì lỗi không do triều Thuận Thiên, nên trời chỉ ra oai chứ có trách phạt gì bệ hạ đâu. Lại từ năm ngoái tới giờ, biết bao điềm lành xuất hiện như kỳ lân ở Châu Hoan, voi trắng ở Đà Giang, các động sách người Man phía bắc, phía tây đều một lòng quy phục triều đình. Hoàng thái tử Khai Thiên vương tự mình cầm quân đánh dẹp mặt nam, thu toàn thắng. Mưa ra gạo đầy sân chùa Tư Phúc. Tất cả những việc đó chẳng phải điềm lành do Trời làm ra ư? Cho nên bệ hạ không nên khư khư giữ lấy sự tiết giảm cho một ngày lễ sinh nhật là điều lợi nhỏ mà bỏ mất phép tắc của một nước có văn hiến là điều lợi lớn.

Tâu, đây mới là việc thần can bệ hạ.

- Thôi được, ngày mai thiết triều ta sẽ y tâu của Trung thư sảnh.

- Đội ơn bệ hạ. Thần vào cung chỉ có một việc đó. Nay xin bệ hạ trị tội thần đi.

Nhà vua ngạc nhiên hỏi:

- Vậy chớ khanh có tội gì?

- Thần dám đường đột vào điện Dưỡng Tâm làm kinh động đến bệ hạ. Nếu bệ hạ không trị tội thần thì luật pháp đâu còn nghiêm nữa. Vả lại tâu bệ hạ, người của Ngự sử đài mà phạm pháp, phải trị tội nặng gấp đôi. Nói rồi Trịnh Văn Túc quỳ trước thềm chờ vua phán xét.

Tình thế dẫn nhà vua vào chỗ khó xử. Vua thầm nghĩ: Túc can ta là vì việc nước chứ không phải việc của nhà y. Nhưng Túc tự tiện vào điện Dưỡng Tâm, là nơi yên tĩnh, dành cho hoàng đế nghỉ ngơi.

Điện Dưỡng Tâm cũng là nơi thảo chiếu quan trọng mà nếu không được phép của ta, các đại thần kể cả hoàng thân quốc thích, đều không được vào. Nếu ta không trị tội Văn Túc thì luật không nghiêm. Nếu trị tội Văn Túc, thì lòng ta cũng không yên.

Hai tay chắp sau lưng, long bào quét thềm, vua Thuận Thiên cứ đi đi lại lại nghĩ suy xem có cách nào hoá giải được việc này. Mải nghĩ, nhà vua quên cả Văn Túc đang quỳ ngoài thềm chờ thánh chỉ.

“Phải rồi, nhà vua vỗ tay lên trán tới ba lần. – Muốn tha tội cho Văn Túc chỉ có cách là phải sửa luật”.

- Văn Túc! Văn Túc khanh đâu rồi! Ta đã có cách. Nhà vua gọi hối hả.

- Tâu bệ hạ thần đang ở đây.

Nhìn ra ngoài thềm, thấy Trịnh Văn Túc vẫn quỳ. Nắng chiều xói vào làm mồ hôi trán quan ngự sử hữu gián nghị đại phu chảy ròng ròng.

- Ôi ta vô tâm để khanh phải quỳ lâu quá. Đã bảo miễn lễ kia mà. Khanh vào kỷ ngồi đi. Ta sẽ nói diệu kế.

Vua cầm cây vồ nhỏ gõ vào cái chuông bé tạo ba tiếng, một viên quan thị mặt xám như chì, người loắt choắt khó đoán tuổi. Y mặc chiếc áo thụng xanh, dây lưng thắt ngang bụng, đầu đội mũ ô sa, khom lưng trước nhà vua, tai hơi nghiêng chú tâm lắng nghe lệnh truyền.

- Mỹ tửu!

Loáng cái viên quan thị[82], tức là trung quan bê một khay bạc trên đặt be rượu và hai chiếc chén ngọc. Vua thân rót rượu mời Văn Túc.

Quan hữu gián nghị đại phu hai ba lần cảm tạ rồi nâng chén uống.

Đoạn nhà vua phán:

- Ta trọng khanh là người có nhân cách cao thượng, thấy việc nghĩa xả thân làm, không mưu cầu danh, lợi. Khanh là người trung dũng, một kẻ sĩ như khanh không phải thời nào cũng có được. Song ta cũng phải nói thực lòng, nếu như ta không được các bậc đại lão thiền sư cải hoá cho được cái tâm thiện, và không có lòng bao dong chắc là vua tôi không có được ngày nay. Vì bọn khanh nhiều khi cứng quá.

- Tạ ơn bệ hạ. Bệ hạ có được cái tâm Đạo, ấy là điều phúc hạnh cho nước hơn là cho thần.

- Khanh thật đáng ghét. Khanh nói điều gì cũng đúng, cũng chí lý cả.

Ta định mai ra triều, sẽ cho bãi bỏ việc ngăn cấm các quan bên Ngự sử đài vào điện Dưỡng Tâm tâu báo khi có công việc khẩn cấp. Đương nhiên không còn ai dám nói gì đến khanh nữa. Nhân đây ta muốn đọc lại một câu cách ngôn mà thầy Vạn Hạnh dạy ta từ hồi còn là một chú tiểu để chia sẻ cùng khanh. Đó là: “Làm điều thiện như mang nặng leo núi, chí tuy vững nhưng sức còn sợ không leo nổi. Làm điều ác như cưỡi ngựa xuống dốc, roi tuy không đánh mà chân ngựa vẫn khó kìm”.

- Tạ ơn bệ hạ, thần sẽ coi câu cách ngôn đó chính là lời răn của bệ hạ để rèn đức và sửa mình.

Thăng Long vào hội! Hội mừng lễ Thiên thành tức lễ đản sinh nhà vua. Dân chúng hồ hởi. Bởi chưa có dịp nào người dân kinh thành được tỏ lòng tri ân nhà vua. Những năm trước, lễ Thiên thành chỉ làm hẹp trong phạm vi triều đình, năm nay mới bố cáo cho toàn thiên hạ biết. Và cũng chỉ có kinh thành Thăng Long được đặc ân mở hội.

Dân kinh thành nườm nượp đi sửa sang đường phố, chăng đèn kết hoa. Nhà nhà đều quét dọn gọn ghẽ, cổng ngõ ngóc ngách phố phường đều sạch sẽ tinh tươm. Mùa xuân, khí trời dịu mát, thỉnh thoảng có một vài đợt mưa phùn, rồi nắng ấm lại hoe lên. Cây cối đâm chồi, nảy lộc xanh um. Chanh bưởi từ các vườn nhà nở hoa thơm ngát. Đường Muỗm thuần những cây cổ thụ xanh um, hoa nở đầy xum xum như những mâm xôi khổng lồ, nhuỵ hoa li ti rụng phủ kín đường cái quan, khiến con đường như được trải tấm thảm nhung nâu, dài hun hút. Và kia là Đường Hoè, trước tết nom xơ xác đen thui, cả một dặm dài đứng lặng trong giấc ngủ đông. Thế mà mới sang xuân, Đường Hoè như bừng tỉnh, những mầm non lá nõn oà nở sáng cả cung đường. Thân cành đều căng mọng và như sắp rạn nứt ra, vì sức sống mùa xuân làm cho nhựa cây chuyển vần hối hả.

Đường phố và nhà dân đều sáng sủa, sạch đẹp. Nhưng rực rỡ thì phải nói đến khu vực hoàng thành và cấm thành. Bốn cửa hoàng thành như Đại Hưng ở phía nam, Diệu Đức ở phía bắc, Tường Phù ở phía đông, Quảng Phúc ở phía tây đều trang hoàng đèn lồng, đèn kéo quân cùng cờ thần, phướn Phật nối nhau giăng mắc. Nhất là hai cửa Đại Hưng và Tường Phù đèn hoa, cờ phướn kéo dài về hai bên tả hữu. Khi đêm xuống, cả vạn chiếc đèn thi nhau toả sáng, từ xa nom tựa dải Ngân hà sà xuống ôm lấy hoàng thành.

Trong cấm thành, các điện Càn Nguyên, điện Tập Hiền, quán Thái Thanh, chùa Vạn Tuế, điện Nhật Quang, điện Nguyệt Minh, lầu Ngũ Phượng tinh… vốn đã nguy nga tráng lệ, nay lại trang hoàng thêm, thật muôn phần lộng lẫy.

Ngoài cửa Quảng Phúc dựng hẳn một ngọn núi kết bằng tre xanh cao chất ngất có bốn chữ “VẠN THỌ NAM SƠN” xếp thuần bằng đèn kéo quân chạy đủ các tích trò. Trước cung Long Trì có một sân rộng mênh mông, các phường hát nổi tiếng của kinh thành và tứ trấn, được tin Thăng Long mở hội nhân tiết Thiên thành, cũng nô nức kéo nhau về công diễn. Họ đang căng màn, dựng rạp để chờ ngày khai diễn.

Đêm trước ngày đại lễ, các cao tăng đã tề tựu trong chùa Vạn Tuế, làm lễ cầu phúc cho nhà vua. Các bậc sư trưởng như Vạn Hạnh thiền sư, Định Hương trưởng lão, Ma Ha thiền sư, Hương Nghiêm thiền sư… thảy đều có mặt cầu phước cho nhà vua, cầu cho quốc thái dân an.

Bên quán Thái Thanh, các đạo sĩ Huyền Linh, đạo sĩ Viên Sơn… cũng lập đàn tràng cầu Ngọc hoàng thượng đế, cầu Thái thượng Lão quân ban phước cho nhà vua được trường thọ.

Sớm ngày mười hai tháng hai, vua ra ngự tại điện Càn Nguyên. Bữa nay nhà vua vận áo long bào bằng gấm đại hồng, đội mũ bình đính có chuỗi bạch ngọc rủ tua trước trán. Hàng trăm ngọn bạch lạp thắp sáng choang cả nội điện. Mấy đỉnh trầm xông hương thơm ngào ngạt.

Các quan thuộc sáu bộ, sáu khoa, các đô, đài, sảnh, viện lần lượt vào lạy mừng và dâng đồ lễ.

Tới lượt các thiền sư, các đạo sĩ vào mừng, vua thân xuống thềm điện nghênh đón.

Sau những lời chúc tụng và tung hô, vua Thuận Thiên xúc động, nói mấy lời cảm tạ. Sau lễ khánh chúc vua dụ mời các vị thiền sư, đạo sĩ và trăm quan về điện Tập Hiền thết yến.

Lại nói ông Lương Thanh Khiết, xã trưởng xã Xuân Phương được làng cử đem tiếng hát của mẹ con bà Đào lên kinh để dâng thánh thượng. Thực tên bà là Phúc, họ Đào; nhưng làng vẫn quen gọi là bà Đào. Người quyền thế thì gọi bà là Đào thị.

Hai anh trai làng tháp tùng ông xã trưởng cùng ba mẹ con bà Đào lên kinh.

Ông xã trưởng tuy nhà giàu có, nhưng ít giao du, nên bạn bè ở Thăng Long hầu như không có. Khi miền đất này còn là thành Đại La, ông được cụ thân sinh cho theo đi mua sắm ít đồ nấu như hải sâm, vây cá về để làm lễ đại thọ. Khi vua Thuận Thiên dời đô từ Hoa Lư về, đổi tên là Thăng Long. Nghe nói có rồng vàng hiện lên bên thuyền ngự, rồi lại bay vút về trời. Vài năm sau, ông có tới thăm Thăng Long, thì mọi vật đã đổi khác so với thành Đại La trước. Thực tình ông không nhận ra gương mặt cũ của Đại La.

Tớ thầy còn đang ngó nghiêng đi tìm nhà trọ. Trong khi trời đã xế chiều, mọi người đã mệt mỏi sau ba bốn ngày lội bộ. Nhất thằng Cún, con bà Đào, thằng bé chưa đầy mười một tuổi, lần đầu tiên đi xa như thế. Đôi chân nó bước đi một cách nặng nề. Được cái gan cóc tía, nó chưa bao giờ đòi nghỉ trước khi ông xã trưởng cho nghỉ; cũng như nó chưa bao giờ thốt ra nửa lời kêu ca.

Đang đi, bỗng có bốn năm con ngựa với từng ấy tay cương dừng lại trước mặt ngáng đường. Bốn người xuống ngựa, một người vẫn ngồi trên lưng con ngựa tía. Bỗng một chàng trai đến trước ông xã trưởng cúi đầu: “Con chào thày”. Nghe giọng nói quen quen, ông xã trưởng ngửng nhìn.

- Sắn! Sắn! Con đấy à. Ông xã trưởng mừng quýnh: – Sao con lại ở đây? Thày tưởng con vẫn theo hầu thái tử ở Tam Sơn.

- Dạ thưa thày, thái tử về triều để ngày mai mừng thọ hoàng thượng nhân tiết Thiên thành. Hoàng thái tử đang ngồi trên lưng ngựa, con mời thày lại chào ngài.

Thấy ông già đi lại phía mình, thái tử vội xuống ngựa. Hỏi ra mới biết ông là xã trưởng hương Xuân Phương, dẫn phường hát của xã lên hát mừng thọ vua cha. Hiện mọi người đang loay hoay tìm nhà trọ.

Thái tử cho người dẫn xã trưởng Lương Thanh Khiết đến giao cho Lương Minh Châu, phường trưởng phường Cửa Đông là dân sở tại, lo chu tất chốn ăn ở. Thái tử hứa thế nào cũng thu xếp cho phường hát xã Xuân Phương được ra mắt nhà vua.

Trên đường về cung, Sắn kể hết khúc nhôi về cuộc đời và gánh hát của ba mẹ con bà Đào Thị Phúc, nhất là giọng hát của bà thì thế gian khó kiếm. Thái tử vốn là người say mê âm nhạc, lại giàu lòng nhân ái, thấy cảnh ngộ bất hạnh của mẹ con bà, càng thôi thúc chàng ngày mai phải thu xếp cho bằng được với các viên thượng cấp môn sứ sắp đặt, để mẹ con Đào thị được phô diễn giọng hát hầu phụ vương. May ra mẹ con thị được thu nạp vào ty giáo phường, thì đây cũng là cái phúc đổi đời của mấy người bất hạnh.

Sân Long Trì diễn ra không biết bao nhiêu trò vui. Chỗ này diễn võ, chỗ kia đấu vật. Chỗ này vừa chạy vừa đốt lửa thổi cơm thi. Chỗ kia trống phách rập rình đang rước tới mấy chục cặp “nõ” – “nường” to như chiếc nón đội đầu và chiếc chày giã cua, lại sơn phết màu mè nom đến nực cười. Các chàng trai, các cô gái cầm nõ của nam và cầm nường của nữ được chọn thuần những người to khoẻ, đẹp gái, đẹp trai. Họ chỉ trong độ tuổi từ mười tám đến hai mươi. Con gái môi đỏ như tô son, má hồng như trái đào lên mã. Con trai má còn đậm lông tơ, tóc cứng mà đen nhức. Con trai đóng khố đỏ, con gái mặc váy màu nâu tươi, yếm lụa màu mỡ gà, cổ xẻ che kín ngực, hai cánh tay và bả vai để trần. Họ nhảy từng bước theo nhịp trống và miệng đọc lời thiêng “TINH! TINH PHOỌC!”. Trẻ con, người lớn chạy theo đám rước nõ – nường đông như kiến. Có nhẽ không có trò nào đông vui như trò này. Trẻ nhỏ thì chạy theo cái hiếu kỳ. Người lớn thì thích thú cảnh này trong những ngày hội chen, hoặc trong các tiệc rượu đêm, khi mọi người đã say khướt, tửu lệnh (chủ trò) ra lệnh tắt đèn đuốc. Và phút hỗn dâm bắt đầu. Có nhẽ cái tâm điểm của ngày hội là ở trò hấp dẫn này. Vì thế các tích cứ diễn đi diễn lại mà năm nào hội cũng vẫn đông.

Từ cổ xưa, sau cuộc rước NÕ – NƯỜNG là tiếp đến cuộc chen. Trai gái ùa vào chen vai thích cánh nhau cho đến lúc toát mồ hôi, áo, khố, yếm, váy bật tung, cũng là lúc đèn đuốc tắt phụt. Trống, chiêng ngừng bặt. Trời tối om. Ấy là lúc trai gái thoả sức tự do… Và may mắn cho cô nàng nào sau hội chen lại sinh ra được một mụn con, thì đứa nhỏ đó được cả làng nâng niu quý trọng. Bởi dân gian cho đó là con Thánh. Và đứa nhỏ đó suốt đời phải chịu cảnh không có bố. Cho dù mẹ nó có biết rõ bố đứa trẻ là ai cũng không dám nhận. Vì nếu nhận, lập tức sẽ bị làng ghép vào tội gian dâm.

Điện Tập Hiền có hành lang bốn mặt rộng, thoáng. Những hàng cột gỗ sơn son thếp vàng, cột nào cũng giăng mắc đèn, nến, nom cung điện rực rỡ như chốn thiên tiên.

Các phường nhạc vừa tấu xong khúc “Nguyên hoà”, các quan dâng rượu tiến vua.

Nhà vua tay cầm chén ngự tửu bước xuống bậc tam cấp. Ngửng nhìn khắp lượt các triều quan, vua bèn đặt chén rượu vào chiếc khay ngọc do một viên quan thị đang khom lưng bê chiếc khay không, đứng xế phía sau ngài. Vua nói:

- Bữa nay, vua tôi được sum vầy. Trăm họ no ấm. Khắp các nẻo biên thuỳ bắc, nam đều yên ổn. Các nước lân bang không dám ngó dòm, các khanh có biết vì sao không?

- Vì đức lớn của bệ hạ! Các quan đồng thanh đáp.

Lại hô:

- Hoàng thượng thiên tuế!

- Hoàng thượng vạn tuế!

Vua Thuận Thiên xua tay, lắc đầu. – Ta cảm tạ lời nói tốt đẹp của các khanh. Ta lưu ý các khanh, nước được như ngày nay là do lòng dân yên ổn. Chính là cái tâm của dân đã định được. Dân tâm an định, thế nước ắt vững như bàn thạch.

- Nước được như ngày nay, vua Thuận Thiên nhắc lại, – là nhờ phúc ấm tổ tiên, là nhờ Trời, Phật hộ trì. Vua ngưng lại nhìn khắp lượt quần thần rồi tiếp, – nhưng cái chính là nhờ vào trăm họ, nhờ dân chúng đấy.

Các khanh nên nhớ, phải hết sức chăm lo mọi mặt cho dân, cũng tức là tận tâm làm cho nước chóng được giàu mạnh. Tuy nhiên, ta không thể không nói lời cảm tạ chư khanh, đã vì ta mà bao năm nhọc sức. Ta biết, ta chăm lo cho các khanh chưa được là bao. Dẫu sao cái thời cam go của nước, vua tôi ta đã vượt thoát qua rồi. Nay ta có chén rượu vui nhân ngày đản của ta, mời các khanh cạn chén.

Các quan nhất loạt nâng chén rượu lên ngang mày, nói lời cảm tạ.

Các phường nhạc lập tức tấu khúc “Thái hoà”.

Nhạc tắt. Vua tôi vui vầy yến ẩm, chuyện nổ ran như pháo. Người ôn lại chuyện cũ thời Lê Ngọa triều. Người nói chuyện đánh dẹp quân man Tống, diệt gọn hai mươi vạn quân của Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí. Người lại nói chuyện đem một trăm con ngựa chiến nòi Hồ sang cống vua Chân tông nhà Tống. Chuyện cũ từ năm Giáp Dần, nhưng nhiều người vẫn còn muốn nghe lại. Người ta thường kể đi kể lại cho nhau nghe. Chuyện tam sao thất bản. Nay được nghe từ cửa miệng các quan chánh phó sứ, ai mà chẳng thích.

Sử quan Hoàng Công Bình đang ngồi ở bàn bên cạnh cũng nghiêng vành tai để nghe lại câu chuyện. Thật ra thì ông đã được nghe chính các quan chánh, phó sứ về tâu lại cặn kẽ trước hoàng thượng diễn tiến của sự việc. Và ông đã có ghi chép không bỏ sót một chi tiết nào vào cuốn biên niên sử. Tuy vậy, theo ông, vẫn cứ phải nghe đi nghe lại nhiều lần; vì rất có thể các lần trước các quan chánh phó sứ còn bỏ quên một vài việc chưa kể hết, nay bổ túc thêm vào. Hoặc giả, các sự, các việc mà các ông tô vẽ thêm vào, nay chắc sẽ không còn nhớ để mà kể. Phải, chỉ có nghe đi, nghe lại như thế để chắt lọc thì mới được một sự thật đáng cho đời sau tin cậy.

Bỗng quan ngự sử Phạm Khiêm Ích ngồi đối diện với viên ngoại lang Phùng Chân, nguyên là chánh sứ đoàn sang nước Tống năm Giáp Dần bèn lên tiếng:

- Có một số người đã được nghe quan chánh sứ kể chuyện vua ta cống ngựa vua Tống năm Giáp Dần, nhưng chuyện xảy ra tới gần chục năm rồi. Nhiều người chỉ được nghe thuật lại, chi bằng quan huynh một lần nữa kể vắn tắt để mọi người nghe cho nó sướng cái tai.

- Đúng đấy!

- Đúng đấy! Xin viên ngoại lang cho nghe chuyện đi sứ.

Kể nhiều lần nên Phùng Chân như đã thuộc nằm lòng. Và ông cũng không cho đó là việc phiền toái. Vả lại, mọi người, kể cả người dân trong nước cần phải biết đến cái sự quan hệ bang giao này. Nghĩ vậy, quan viên ngoại lang bèn vuốt râu cười ha hả:

- Đời tôi đã chứng kiến nhiều chuyện. Nhưng không có chuyện nào lại đắc ý như chuyện đi sứ nhà Tống năm Giáp Dần. Năm ấy, sau khi vua ta phá tan âm mưu của Tống Chân tông, định dùng sức mạnh người man Tống đè bẹp nước Nam ta. Chiến cuộc năm ấy, chắc các vị còn nhớ cả. Nhưng để cho vua tôi nhà Tống ôm hận và ngấm đòn, vua ta sai lũ chúng tôi đem một trăm con ngựa nòi Hồ sang Tống báo tiệp, và cũng là cống vật của nước ta. Lúc đầu, mọi người chưa hiểu thâm ý của vua ta, sau vỡ lẽ mới biết hoàng thượng thực là sáng suốt.

Dường như sau khi nước ta tiêu diệt sạch sành sanh hai mươi vạn quân (tất nhiên trong đó có nhiều quân ô hợp) của Dương Trường Huệ và Đoàn Kính Chí, thì vua tôi Tống Chân tông hết sức bối rối. Và chỉ sợ bên ta nhân chuyện này làm khó cho họ. Bởi vậy, để lấy lòng sứ giả, Chân tông xuống chiếu cho các quan sở tại, những nơi có sứ thần nước ta đi qua, phải đón tiếp long trọng, đệ trạm phải cung đốn cho đầy đủ. Nhất nhất không để xảy ra điều gì sơ khoáng, khiến sứ giả phải phàn nàn.

Vì vậy, khi sứ đoàn ta cùng với cả trăm con ngựa chiến, làm tung bụi mịt mù suốt mấy dặm đường trước cửa ải, thì viên quan biên trấn bạt vía kinh hồn. Họ tưởng bên ta đem quân trách phạt nhân vụ Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí. Tới khi sứ ta đệ trình quốc thư cùng các đồ tuế cống xin qua ải, họ mới hoàn hồn.

Viên đô tướng trấn Nam thuỳ cứ lắc đầu lia lịa: “Lạ quá! Đồ cống lẽ gì mà kỳ quặc, cứ như là quân thiết đột của Tây Hạ vậy”. Thời ấy, tây thuỳ nhà Tống bị quân Tây Hạ đánh cho tơi tả. Vì vậy nhìn thấy ngựa là họ sợ.

Các quan đều lấy làm thích thú, mọi người cười hể hả.

Bỗng quan trung thư thị lang hỏi:

- Quan huynh cho bọn đệ nghe cái đoạn các quan hàng tỉnh bên nước Tàu tiếp sứ đoàn ta như thế nào đi.

Viên ngoại lang Phùng Chân lấy làm đắc ý lắm, ông ve vuốt chòm râu bạc tới hai ba lần, rồi mới cất cái giọng trầm ấm lên nói tiếp:

- Thưa các quan, do ta đánh tan đội quân xâm lăng mấy chục vạn của Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí mà thực chất là quân binh nhà Tống. Vì vậy, thanh thế của sứ đoàn được coi trọng chưa từng thấy trong lịch sử bang giao với triều Tống. Nghĩa là đoàn sứ giả đi tới địa đầu tỉnh nào thì quan đầu tỉnh ra nghênh đón, và mở tiệc yến chiêu đãi. Không những sứ giả được trọng nể, mà lũ ngựa cũng được săn sóc chu đáo. Giám mã của ta kén rất kỹ các loại thức ăn như thóc khô, cỏ tươi, cả việc cho ngựa ăn trứng gà để chúng bóng da, mượt lông cũng đều có trong thực đơn của ngựa. Lại cả việc tắm táp, chuồng trại và cắt xén lông bờm, lông đuôi các đệ trạm của Tống đều không được sơ khoáng. Đám các quan đầu tỉnh rất sợ sứ đoàn đem các khiếm khuyết của họ tâu lên vua Tống. Bởi vậy, họ săn sóc chu đáo khi sứ đoàn lưu trú, và quà cáp rất hậu hỹ khi sứ đoàn lên đường.

Khi đoàn vào tới Biện Kinh, tể tướng Vương Khâm Nhược thân ra tiếp sứ, và ngay đêm đầu tiên đã sai bày yến chiêu đãi sứ thần, gọi là tiệc tẩy trần. Ngày hôm sau, Tống Chân tông đích thân tiếp sứ tại điện Sùng Đức. Chân tông không ngớt lời ca ngợi vua ta và ban thưởng nhiều đồ quý cho từng người trong sứ đoàn. Về Chân tông á. Thật tình ông ta là một người nhút nhát, không có chính kiến. Một điều lạ nữa là sứ đoàn của ta muốn đi đâu cũng được, muốn ở lại bao lâu cũng được, rồi muốn khi nào về nước cũng được. Chưa bao giờ, và cũng chưa có thời nào thiên triều lại dễ tính đến như vậy.

Câu chuyện đi sứ đang hồi hấp dẫn thì có tiếng giáo trò nổi lên rộn rã. Một cậu bé mặc áo cánh màu nâu đỏ thắt dải khăn đầu rìu, đeo một chiếc trống khẩu trước ngực bước ra giáo trò. Cậu bước đi khoan thai đĩnh đạc, vẻ mặt hơi trang nghiêm nhưng vẫn có nét ngộ nghĩnh. Cậu cúi đầu chào nhà vua, chào bốn phía rồi vừa múa vừa hát:

Trình làng trình chạ

Thượng hạ tây đông

Tư cảnh hoà trung

Nghe tôi giáo trống

Tới đây, cậu dừng lại vừa nhảy, múa vừa vỗ một hồi trên hai mặt trống, rồi nói tiếp:

Trướng không phong động

Cũng bởi trống tôi

Làng đã vào ngồi

Tôi xin diễn tích…

Nói xong, cậu bé lại cúi chào rồi lui về chỗ ngồi. Cậu bé đó chẳng phải ai xa lạ, chính là thằng cu Cún con bà Đào.

Bà Đào Thị Phúc xúng xính trong bộ áo dài màu cánh trả, yếm lụa màu mỡ gà, cổ xẻ cánh nhạn, thắt lưng màu hoa hiên, váy lụa sồi đen nhức, tay cầm chiếc quạt lụa che nửa mặt, bước đi với vẻ tự tin. Bà tiến gần tới chỗ đức vua ngồi, quạt giắt sau cổ áo, cúi đầu vái lạy nhà vua ba vái. Rồi bà quay ra diễn trò. Vừa xoay cây quạt trong tay, khi khoan khi nhặt, khi hát, khi múa mà chỉ trong vòng một chiếc chiếu, nhưng ta có cảm giác như bà đang đi trên một chiếc sân rộng.

Hai con bà, cô Cúc và cậu Cún một cây nhị và một chiếc trống con phụ hoạ, đôi khi làm náo loạn cả chiếu trò. Giọng hát bà Đào khi vang lảnh như tiếng chuông ngân, khi buốt lạnh như một mũi giáo nhọn sắc đâm thẳng vào lòng người. Bà không diễn điều gì xa lạ. Chỉ kể lại cuộc đời một người đàn bà goá, bị xã trưởng ức hiếp, gieo tai hoạ, bắt giam cầm, cho tới khi đức vua vi hành và giải thoát. Nó chính là câu chuyện cuộc đời bà. Nhưng bà khéo sắp xếp thành tích trò, lại biết đặt lời hát thật là lâm li.

Bà Đào vừa hát, vừa phô diễn tâm trạng làm cho người nghe phải nhiều phen rơi lệ.

Chính cái tích trò bà diễn, khiến đức Thuận Thiên dần nhớ lại cuộc vi hành đầu tiên về làng Xuân Phương, và bắt gặp xã trưởng đang đánh đập tù nhân, trong cái nhà tù của làng, ẩn trong một miễu tre rậm rạp. Nhờ tích diễn của mẹ con bà Đào đã giúp nhà vua nhớ lại tất cả. Và ngài tự nhủ: “Công việc cải hoá của ta mới chỉ bắt đầu”.

Tích diễn đã mãn. Người diễn trò đã cúi đầu vái lạy tới ba lần, nhà vua mới sực nhớ ra và gật đầu. Chợt vua hỏi:

- Chẳng hay nương tử kia tên là gì? Vua chỉ tay vào bà Phúc. Hoàng thái tử ngồi cạnh vua cha liền đáp:

- Tâu phụ vương, người ấy họ Đào.

- Cho mẹ con nương tử đó sáp vào ban nhạc cung đình.

Do vua gọi như vậy, nên từ đó người trong nước đều gọi những con hát là đào nương.

Yến lễ đã mãn, quan kinh sư đại doãn và các đại quan mời nhà vua ghé cửa Quảng Phúc để xem thêm một vài trò lạ do dân kinh thành trình diễn.

Vừa bước ra khỏi cổng phía tây kinh thành, một hình ảnh thật lạ mắt khiến mọi người kinh ngạc. Đó là một ngọn núi cao kết thuần bằng tre, do dân các phường Hàng Tre, Hàng Cót, Hàng Mành, Hàng Mã làm để chúc thọ nhà vua.

Vừa thấy hoàng thượng tới, người trưởng trò cho thắp sáng một dãy đèn kéo quân trên đỉnh núi kết thành bốn chữ “VẠN THỌ NAM SƠN”. Và khắp ngọn núi rải rác ánh đèn mờ tỏ, làm người xem có cảm giác trên núi còn có cả rừng cây. Rồi lấp loáng, chim bay, thú chạy rượt đuổi nhau loang loáng. Lại nữa cả những giọng bắt chước tiếng chim hót líu lo, tiếng thú dữ gầm gào, tiếng nước suối chảy ào ào cuốn hút người xem vào trong một thế giới vừa trần gian vừa huyễn mộng. Dân chúng reo hò mãi không ngớt.

Vua Thuận Thiên ngắm xem không chán mắt. Bỗng nhà vua thốt lên:

- Khéo quá! Tài quá!

Quay lại phía quan kinh sư đại doãn, vua nói:

- Ta cám ơn khanh cùng dân chúng kinh thành, đã không tiếc sức vì ngày vui của ta. Ta sẽ có sắc khen, có phần thưởng xứng đáng cho những người kỳ tài, đã dựng lên ngọn núi cùng các trò vui thuần bằng tre này. Nhưng nhân đây, ta cũng nói luôn: Từ nay thôi không làm núi giả nữa nhá, khó nhọc cho dân lắm đấy, tốn kém lắm đấy. Vẫn biết rằng dân mình vốn rất tài hoa.

Quan kinh sư đại doãn liền thưa:

- Tâu, nếu bệ hạ không cho làm thì các ngón nghề tinh xảo này sẽ mai một rồi thất truyền mất.

- Nếu dân thích làm trong ngày hội, ta không cấm. Nhưng tiết Thiên thành thì ta miễn.

Từ đó, trò làm núi giả này không xuất hiện trong lễ sinh nhật nhà vua nữa.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 41 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Cổ đại - Trùng sinh] Thừa tướng yêu nghiệt sủng thê - Sương Nhiễm Tuyết Y

1 ... 29, 30, 31

2 • [Hiện đại - Trùng sinh] Đêm trước ly hôn - Thiên Sơn Hồng Diệp

1 ... 8, 9, 10

3 • [Hiện đại] Sở Sở - 099

1 ... 4, 5, 6

4 • [Hiện đại] Cá mực hầm mật - Mặc Bảo Phi Bảo

1 ... 4, 5, 6

5 • [Hiện đại] Không bằng duyên mỏng - Viên Nghệ

1 ... 6, 7, 8

6 • [Xuyên không - Điền văn] Cuộc sống điền viên trên núi của nông phu - Quả Đống CC

1 ... 9, 10, 11

7 • [Hiện đại - Trùng sinh] Tôi bị ép buộc - Linh Lạc Thành Nê

1 ... 4, 5, 6

8 • [Hiện đại] Chọc vào hào môn Cha đừng động vào mẹ con - Cận Niên

1 ... 36, 37, 38

9 • [Hiện đại] Cookie ngọt ngào - Mặn Ngọt Bùi Đắng Cay (Ngoại truyện trang 18)

1 ... 4, 5, 6

10 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 56, 57, 58

11 • [Hiện đại - Trùng sinh] Anh hai Boss đừng nghịch lửa - Cửu Trọng Điện

1 ... 13, 14, 15

12 • [Hiện đại - Quân nhân] Hợp đồng quân hôn - Yên Mang

1 ... 37, 38, 39

13 • [Cổ đại] Trưởng thôn là đóa kiều hoa - Vương Vượng Vượng

1 ... 4, 5, 6

[Cổ đại - Trùng sinh] Đích trưởng nữ - Hạ Nhật Phấn Mạt

1 ... 25, 26, 27

[Xuyên không] Khuynh thế tuyệt sủng tiểu hồ phi - Thanh Canh Điểu

1 ... 17, 18, 19

16 • [Xuyên không Điền văn] Trọng Sinh Tiểu Địa Chủ - Nhược Nhan (Phần 1)

1 ... 49, 50, 51

17 • [Hiện đại] Mèo yêu - Hà Thư (hoàn)

1 ... 6, 7, 8

18 • [Hiện đại] Có hợp có tan - Lâu Vũ Tình

1, 2, 3, 4

[Hiện đại] Hào môn thịnh sủng bảo bối thật xin lỗi - Hạ San Hô

1 ... 14, 15, 16

20 • [Hiện đại - Trùng sinh] Sống lại sinh em bé - Sâm Trung Nhất Tiểu Yêu

1, 2, 3, 4, 5



Shop - Đấu giá: V.O vừa đặt giá 735 điểm để mua Đá garnet
Shop - Đấu giá: ngocquynh520 vừa đặt giá 701 điểm để mua Sư Tử Nữ
cửu sắc ưu tư: ai làm edit không :<< tui cần hỏi a
Công Tử Tuyết: hửm??
Shop - Đấu giá: cò lười vừa đặt giá 666 điểm để mua Sư Tử Nữ
cửu sắc ưu tư: mình cần hỏi chút
cửu sắc ưu tư: còn ai onl không
Hà Linh Sơn: Cũng muốn có một nhóm bạn để cùng nhau đi ăn, đi du lịch, tán gẫu.
Cảm giác cô độc giữa thành phố rộng lớn này
Shop - Đấu giá: ngocquynh520 vừa đặt giá 633 điểm để mua Sư Tử Nữ
songngu45: ai biết tên truyện đó chỉ dùm mình, lâu quá nên mình quên mất tên gì rồi, truyện hiện đại chỉ nhớ là mưu sinh hay là gì đó
songngu45: mình muốn tìm truyện có nội dung là mở đầu là nữ chính đang trốn tránh nam chính đi làm chui nhưng do có một giao dịch nên nữ chính đi kích hoạt lại thẻ ngân hàng thế là không đầy 24 tiếng sau nam chính đã tìm được cô qua thông tin thẻ ngân hàng cảu cô và bắt về, sau này nam chính đi tù để trả nợ việc làm chết cha của nữ chính trong quá khứ sau 7 năm trở về đoàn tụ với nữ chính đã có con trai lớn được 6 tuổi
songngu45: mọi ngioefi ơi cho mình hỏii
Shop - Đấu giá: tiểu an nhi vừa đặt giá 313 điểm để mua Bạch tuột
ngocquynh520: J
Shop - Đấu giá: cò lười vừa đặt giá 601 điểm để mua Sư Tử Nữ
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 500 điểm để mua Vòng tay đá quý
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 610 điểm để mua Ngọc tím 3
Shop - Đấu giá: Ngọc Sơn Bạc vừa đặt giá 500 điểm để mua Gấu Pooh dễ thương
Shop - Đấu giá: Windyphan vừa đặt giá 457 điểm để mua Gấu Pooh dễ thương
Shop - Đấu giá: tiểu an nhi vừa đặt giá 250 điểm để mua Kính mát ngôi sao
Shop - Đấu giá: Mèo Lười Cận Thị vừa đặt giá 350 điểm để mua Bé áo xanh
Shop - Đấu giá: Voicoi08 vừa đặt giá 434 điểm để mua Gấu Pooh dễ thương
Shop - Đấu giá: Voicoi08 vừa đặt giá 250 điểm để mua Cún và bong bóng
Shop - Đấu giá: Chimy Lữ vừa đặt giá 267 điểm để mua Giày hồng
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 345 điểm để mua Tám điện thoại
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 445 điểm để mua Ngọc xanh 4
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 283 điểm để mua Vòng hoa giáng sinh
Shop - Đấu giá: tiểu an nhi vừa đặt giá 327 điểm để mua Tám điện thoại
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 285 điểm để mua Thỏ nháy nhót
hakuha: 2 năm trước mọi người rất hay xài cái này
sau 2 năm trở lại ngày càng im ắng haizzz

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.