Diễn đàn Lê Quý Đôn
Cấm đăng tin quảng cáo các lớp học, khoá học, hội thảo, tìm học sinh... Các bài quảng cáo sẽ bị xoá.


Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 41 bài ] 

Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải

 
Có bài mới 21.09.2018, 11:04
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5390 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
VII

Hương Thiên Phúc họp bàn để xây lại chùa. Vì có ngôi chùa cổ ở phía núi sau làng, từ khi thượng toạ viên tịch không có sư về trụ, bỏ hoang phế đã gần chục năm nay. Tuy các ngày tuần tiết dân trong hương ấp vẫn vào lễ bái nhưng không có người trông nom nên phong cảnh tiêu sơ, chùa cũ nát lại gặp trận bão mấy năm trước làm tốc mái. Nắng mưa làm cho tượng cũng hoen sơn, mục gỗ. Hai pho hộ pháp nước mưa xối vào hết ngày này qua năm khác, nay đã thành hai đống đất, cỏ mọc xanh um.

Bữa nọ có người trong làng mơ thấy vị thổ thần báo mộng: “Chùa làng ông sắp được dựng lại. Sẽ có vị cao tăng về đây trụ trì. Làng sẽ hưng thịnh, giàu của nhiều người, liệu mà chăm lo việc Phật. Ông là người có duyên phước, vậy ta báo trước cho ông hay”. Ông lão giật mình tỉnh dậy mới hay mình vừa nằm mơ. Ông định đem chuyện ấy nói với xã trưởng. Nhưng lại nghĩ, chỉ là một giấc mơ vô căn cớ, không có gì đáng nói. Ngày tháng qua đi, ông vẫn giữ kín giấc mơ ở trong lòng; ngay cả vợ con, ông cũng không muốn kể lại làm gì.

Tuy không nói với ai, nhưng hàng ngày ông vẫn lên chùa dọn cỏ, phát các cây gai mọc chen lấp đường đi lối lại, và hương đăng tuần tiết ông thường lui tới chăm sóc.

Bữa nay Ban hội đồng hương ấp cho mời ông cùng các bậc lão niên, các cư sĩ, các nhà phú hào đến để bàn việc dựng lại nếp chùa cổ của làng. Không có chỗ hội họp, làng phải ngồi nhờ tại ngôi bái đường của Đạo quán. Khi mọi người tề tựu đông đủ, hương án bày đặt trang trọng, xã trưởng mới từ cửa giữa bước vào. Ông đi cùng sứ giả của triều đình. Xã trưởng là một người đứng tuổi. Ông xã trưởng đã biết đọc, biết viết, được dân làng trọng nể. Bữa nay ông mặc áo thụng xanh, đội khăn đóng màu đen, nom ông có vẻ sáng sủa, chững chạc hơn ngày thường. Xã trưởng vừa thắp xong tuần hương, thì viên xuất nạp quan trịnh trọng đặt tờ “chiếu” của vua lên chiếc mâm thau chân quỳ trên hương án.

Xã trưởng quỳ lạy bức chiếu thư bốn lạy. Những người có mặt đều hướng lên án thư lạy “chiếu”.

Xong đâu đó, xã trưởng bóc chiếu thư ra đọc có sự chứng kiến của xuất nạp quan[47].

Đọc xong, xã trưởng nhắc lại một lần nữa về các chính lệnh vua ban:

- Triều đình tha các loại tô, thuế cho mọi người dân trong nước ba năm liền, để cư dân có cơ hồi phục kinh tế, bắt đầu từ năm Canh Tuất (1010) đến hết năm Nhâm Tý (1012).

- Triều đình cho phép trong dân ai có sức khai phá đất hoang, bãi bồi làm đất cấy trồng, sẽ cho làm chủ đất ấy, và được miễn thuế từ năm đến mười năm tuỳ theo công sức bỏ ra.

- Những người già yếu, mồ côi, goá chồng, thiếu thuế từ lâu, nay đều tha cho cả.

- Các làng, xã nơi nào có chùa, quán đổ nát đều phải tu bổ lại cho khang trang. Nơi nào chùa đổ nát nặng nề phải dựng lại tốn kém gần bằng làm chùa mới, thì làm sớ tâu lên, triều đình cấp cho số tiền bạc bằng một phần mười số tiền tu bổ.

- Làng, xã nào nay mới bắt đầu dựng chùa, tạc tượng, đúc chuông tốn kém hết bao nhiêu, làm sớ tâu lên, triều đình cũng cho bằng đúng một phần mười số tốn kém đó. Tuy nhiên, việc dựng chùa tranh tre hay gỗ gạch là tuỳ sức dân sở tại, nghiêm cấm khiên cưỡng hoặc bức bách dân đóng góp gây tổn hại sức dân.

- Các làng, xã, phường phố trong dân, ai có nguyện vọng xuất gia tu hành, xã trưởng làm sớ khải về, triều đình sẽ cấp cho độ điệp…

Nghe được tin này, các cụ không còn tin ở tai mình nữa. Đúng là nước nhà vừa xuất hiện bậc thánh đế, lập tức trăm họ được cậy nhờ.

Cụ Mốc xóm Cửa Rừng nghe còn lõm bõm, hỏi lại:

- Các ông nói cái gì thuế má đây. Lại tăng thuế hả? Khổ thế đây. Triều đại nào cũng chỉ nhằm vào đầu người dân mà đánh thuế.

Mọi người cười ồ lên, rồi hét vào tai cụ những điều vua ban trong “chiếu”. Gương mặt cụ sáng dần lên, những nếp nhăn như dãn ra. Cụ cười trơ cả hai hàng lợi. Nom cụ hồn nhiên như một đứa trẻ. Cụ lấy tay dụi vào hai mắt. Dường như cặp mắt cụ cay sè chỉ muốn khóc. Cụ nói:

- Ta đã sống trên chín mươi tuổi trời cho rồi. Từ thượng cổ chưa từng thấy có đức vua nào lại xá thuế tới ba năm liền. Mà chỉ thấy liền ba năm tăng tang thuế, tăng các sắc thuế. Người dân thời nào cũng cứ phải cần mẫn, tần tảo như con ong mật, chắt chiu từng giọt để cho vua quan xơi cả bọng. Hoạ may thời nay dân mới mở mặt được chăng? Hết đói hết khổ chăng? Nói xong cụ già lại vuốt râu cười ngất. – Hãy cứ để sau ba năm xem sự thể thế nào mới biết được.

Xuất nạp quan nghe được lời này, ông nghĩ: “Lòng dân còn ngờ vực”. Hỏi lại cặn kẽ mọi người, ghi những điều cần ghi và cả những điều tai nghe mắt thấy xong đâu đó, xuất nạp quan nói thêm:

- Khi làng cất dựng xong chùa, có sư tăng về trụ, trẻ em trong làng sẽ được đến chùa học. Nhà chùa sẽ trông nom việc học hành cho trẻ nhỏ. Để có sư tăng thì trong dân ai là người có nhân cách, có duyên nghiệp muốn xuất gia, xả tục, làng xã ghi tên tuổi khải về triều. Triều đình sẽ cấp cho độ điệp. Có độ điệp lại phải vào học trong các đạo tràng vài ba năm mới được cử về các chùa lẻ. Vừa rồi ở Thăng Long đã có hơn một ngàn người được cấp độ điệp. Lại cho dựng các chùa trong nội ngoại kinh như chùa Hưng Thiên ngự, chùa Vạn Tuế, chùa Thánh Thọ, chùa Thắng Nghiêm, chùa Cẩm Y… Vua còn cho mở cửa kho phát hơn một ngàn lạng vàng, bạc đúc chuông cho các chùa Đại Giáo, chùa Hưng Thiên, chùa Thắng Nghiêm và lầu Ngũ Phượng tinh. Vua cũng cho mở đạo tràng, lập giới trường ở nhiều nơi cho các tăng đồ thụ giới.

Nghe xuất nạp quan nói xong, dân làng lấy làm mãn nguyện và hết lòng tin tưởng ở tân quân. Vì nhà vua không những lo cho dân về đường làm ăn, sinh sống, lại còn lo cả phần học hành khai trí, cả phần tôn giáo, tâm linh nữa. Chỉ có các bậc thánh đế, minh quân mới lo cho dân như cha mẹ lo cho con cái vậy. Đúng là một đức Bồ tát tại thế.

Xã trưởng hỏi dân làng:

- Lấy tiền đâu ra mà dựng chùa? Chia bổ theo đầu người hoặc bổ theo đầu mẫu, xin các bậc cao niên chỉ giáo.

Chưa ai trả lời được câu hỏi này. Người nằm mộng được thổ thần báo cho biết trước, tức là nhà hào phú Lý Đức Minh xin nói:

- Việc Phật là việc thiện, không nên chia bổ. Vì chia bổ nghĩa là ép buộc. Có người có hảo tâm muốn đóng góp nhưng vì nhà nghèo không lấy gì để đóng góp. Lại có nhà giàu, nhưng chưa phát tâm Bồ đề thì sao. Cho nên cứ để tuỳ tâm, ai mở lòng hiếu Phật đến đâu thì góp đến đấy. Sức có đến đâu góp đến đấy.

Mọi người đều cho lời nhà hào phú Lý Đức Minh là thuận tai.

Xã trưởng liền hỏi:

- Nếu làng không có cao kiến gì khác thì xin cho lập phả khuyến. Ông lại nói tiếp: – Và xin các vị tự tay ghi phần đóng góp của mình vào phả. Ai không ghi được thời đọc cho người khác ghi giúp. Ai vì còn phải bàn bạc cho thuận vợ thuận chồng, ghi sau cũng được. Nhưng xin thưa các cụ, bằng cách nào làng ta cũng phải dựng lại ngôi chùa cho đẹp đẽ, vững chãi, bởi đây là chiếu chỉ vua ban, không làm không được.

Ông xã trưởng vì lòng kính trọng đưa tờ phả khuyến cho cụ Mốc xóm Cửa Rừng ghi trước. Cụ đẩy tờ giấy về phía xã trưởng nói:

- Ông xã trưởng ghi giùm, tôi góp một quan tiền, hai thúng gạo tẻ.

Xã trưởng ghi xong phần cụ Mốc, đem đặt tờ phả khuyến trước nhà hào phú Lý Đức Minh.

Ông Minh nhìn vào tờ giấy rồi nắn nót viết từng chữ cho thật rõ ràng từng nét: “Tôi là Lý Đức Minh hoan hỉ góp vào việc phục hưng chính đạo số tài sản như sau:

Một ngôi nhà ngói năm gian thuần bằng gỗ lim là nhà thờ tổ phụ tôi mới làm cách đây năm năm. Một trăm thúng thóc nếp. Một trăm thúng thóc tẻ. Một trăm quan tiền. Hai chục con trâu bò. Hai mươi tám mẫu ruộng gồm tám mẫu nhất đẳng điền, mười mẫu nhị đẳng điền, mười mẫu tam đẳng điền”.

Loáng chốc phả khuyến đã ghi kín đặc năm tờ giấy. Số tiền bạc, tài sản cúng dường đủ đảm bảo cho việc hưng công sớm sủa. Vả lại đây mới chỉ là một số gia đình chưa được một phần ba làng, chắc sẽ còn nhiều người phát tâm Bồ đề.

Làng lại bàn đến việc cử người trông nom việc xây dựng, người quản lý tiền bạc chi tiêu; cả việc huy động trai tráng vào rừng đốn gỗ, việc nào việc ấy cắt đặt thật là chi tiết. Việc trù liệu gỗ gạch phải hoàn tất trong hai tháng.

Thấm thoắt đã đến ngày phạt mộc, nhà hào phú Lý Đức Minh cho hẳn cô con gái út tuổi chừng mười ba, nhan sắc chim sa cá lặn nhưng có lòng mộ đạo ra chùa nấu nước phục dịch các hiệp thợ làm việc. Có điều lạ, cô bé nhan sắc này không bao giờ để ý đến dung nhan mình, mà chỉ chăm lo phần đạo hạnh. Cha cô là một người hiếu đạo, nên thường răn các con về việc thiện ác ở đời. Gặp những năm mất mùa đói kém, cô thường theo cha đi phát chẩn cho người cơ nhỡ. Hoặc vào các tiết Vu lan[48], Thượng nguyên[49] cô lại theo mẹ đem lễ lạt vào chùa cúng dường, để nhà chùa làm lễ bố thí cho các cô hồn, và chẩn phát cho những người đói rách, nhếch nhác với tấm lòng yêu thương, trân trọng chứ không có chút gì cách biệt, ngượng ngùng. Hồi cô mới được một tuổi, có nhà sư đi khuyến giáo qua đây đã nói: “Cô bé này có tướng lạ. Lớn lên ắt sẽ xuất gia. Nếu gặp được các bậc thiền giả cao minh dẫn dắt, chắc sẽ thành đạo quả”.

Ngày tháng qua mau, cô bé hay ăn, chóng lớn không có bệnh tật gì, cha mẹ rất yên lòng. Càng lớn, nhan sắc càng lộ rõ. Cô đẹp một cách duyên dáng, thuỳ mị. Đi đứng đoan trang, nói năng bặt thiệp, học một biết mười. Lại hay lam hay làm, không nề hà việc lớn việc nhỏ. Kẻ ăn người ở trong nhà được cô đối xử ngang hàng, không phân biệt chủ tớ, khiến ai cũng đem lòng trọng nể.

Nhưng đúng như vị sư già đã nói, từ năm bảy tuổi cô đã đem lòng sùng kính Phật. Hằng ngày cô thường trốn nhà lên ngôi chùa hoang quét dọn, hương khói. Lúc đầu, cha mẹ vẫn tưởng trẻ con tò mò đi kiếm chỗ chơi. Nhưng sau thấy con làm việc Phật với vẻ thành kính, ông bà họ Lý không ngăn cấm. Bởi cả hai ông bà đều cho đây là duyên nghiệp, như lời nhà sư đã tiên đoán năm nào. Trong làng đã có mấy nhà đánh tiếng, một hai xin cô về làm dâu. Mỗi lần cha mẹ hỏi han, cô đều khéo léo chối từ. Có lúc cô thủ thỉ nói với mẹ ý nguyện xuất gia. Bà mẹ buồn và thương con lắm, không ép con phải thành gia thất, cũng không ngăn con xuất gia. Chuyện còn đang dùng dằng thì xảy đến việc tu sửa chùa làng. Cô xin với cha mẹ:

- Phận con là gái, con không dám dự bàn việc chia hưởng gia sản do cha mẹ dành cho. Nhưng nếu quả cha mẹ thương mà cho con được phần nào, con xin hiến tất cả cho việc dựng lại chùa làng.

Cũng vì nhẽ đó, cha cô đã xẻ gần một phần ba sản nghiệp cung hiến vào việc xây chùa. Cô vui lắm, xin cha được đi phục dịch nước non cho thợ.

Trong khi hương Thiên Phúc dựng chùa thì ở Thăng Long và hầu khắp đất nước cũng xây dựng và tu bổ hàng trăm, ngàn ngôi chùa. Khắp nước, chỗ nào cũng tô tượng, đúc chuông. Đâu đâu người dân cũng hào hứng, cũng nô nức góp của, góp công cho việc hoằng dương Phật pháp.

Mấy năm liền được mùa, vừa rồi ở chùa Vạn Tuế trời mưa xuống gạo trắng đầy một sân. Hoá ra không phải việc xây cất chùa chiền tốn kém, dân chúng sẽ bị đói khổ như nhiều người lo. Rõ ràng là nhà nhà đã có cơm ăn, áo mặc. Ấy là bởi lớp dân cùng khốn cứ nương theo bóng Phật mà đi. Phật không làm giúp ai, không cho ai cái gì. Phật chỉ khuyên tự cày cấy lấy lúa gạo mà ăn. Làm dư dật ra để đề phòng các năm mất mùa và cứu giúp người cơ nhỡ. Gắng làm điều thiện, tránh điều ác. Chỉ bấy nhiêu lời khuyên thôi, lại được đức vua tạo duyên phước cho toàn dân, thế là của cải cứ nở ra, điều thiện cứ nở ra khiến cho cái đói, cái ác phải lặng lẽ ra đi. Trộm cướp cũng thưa vãn dần.

Nhờ quần thần và trăm họ hết lòng giúp rập, Lý Công Uẩn lên ngôi trong hào quang chói sáng. Ông biết, muôn dân đã đem lại vinh quang tột đỉnh cho ông, do vậy ông hết lòng đem lại ấm no, hạnh phúc cho họ.

Triều đại mới đã yên vị được năm năm. Trăm họ bớt đói khổ, tiếng rên la sầu oán đã vợi dần, vua Thuận Thiên cảm như vơi nhẹ được phần nào nỗi lo canh cánh, song ngài giận mình còn làm được ít việc quá.

Nhà vua có nhiều con: mười ba nàng công chúa và gần chục hoàng tử. Hoàng đích trưởng tử Lý Đức Chính đã vào tuổi mười lăm. Nghĩ đến việc Đại hành hoàng đế vừa băng, các con đã giết nhau để tranh đoạt ngôi tôn, khiến đất nước lâm vào rối loạn; quan tướng công Trần Cảo dâng sớ xin nhà vua sớm lập ngôi Đông cung[50] thái tử, để chính danh vị, định danh phận. Và chọn bậc sư phó nào vừa có đức độ, lại có tài tế thế kinh bang để phò giúp thái tử.

Vua y cho. Nhưng trước khi lập, vua cho gọi các hoàng tử và các vị sư phó vào cung răn dạy:

- Ta có nhiều con, nhưng ngôi Đông cung chỉ có một. Đức Chính là trưởng tử lại tỏ rõ cái tâm thiện. Ta nhớ có lần thiền sư Vạn Hạnh ghé thăm, hồi ấy Đức Chính chưa được một tuổi. Xem tướng mạo Đức Chính, ngài dạy: “Đứa bé này lớn lên ắt đứng đầu trăm họ. Sẽ là người có công hoằng dương Phật pháp. Y sẽ là người tải đạo đi khắp thiên hạ tựa như một con ngựa của nhà Phật vậy. Nên chăng đặt cho cháu cái tên là Lý Phật Mã được chứ?”. Ngày ấy ta đang còn làm một chức quan nhỏ trong triều hoàng đế Lê Hoàn, nghe lời nói diệt tộc ấy ta xiết bao kinh hãi. Ta đã phải xin thiền sư giữ kín cho, nếu không sẽ là đại hoạ. Thiền sư cười hồn hậu bảo: “Ta là thầy ông, há không biết điều đó sao!’’. Đến đây mọi việc quả như lời Thiền sư. Vậy ta đặt cho con tên ấy, chẳng hay ý con thế nào?

Nghe đến tên Phật Mã, những người em của thái tử cười ồ lên. Nhưng Phật Mã lại quỳ lậy vua cha và nói:

- Con đội ơn vua cha đã ban cho con cái tên mang tầm sứ mạng đó. Con nguyện suốt đời sẽ là một con ngựa trung thành của Phật tổ, để tải đạo của ngài đi bốn phương, như lời thiền sư Vạn Hạnh tiên đoán.

- Phật Mã, ta rất hài lòng về con. Nhà vua lại tiếp: – Ngôi thái tử ta cho Phật Mã là chính danh vị. Vì rằng Phật Mã là đích trưởng tử, là bậc đàn anh của các con. Phật Mã lại siêng năng học hành, có lòng thương kẻ khó. Không ỷ mình là con vua mà xa rời đám dân lao khổ. Ta biết, các con đều giỏi giang cả, nhưng danh phận đã rạch ròi, không ai được nhòm ngó ngôi đông cung nữa. Ta cũng nhắc các ông sư phó của các hoàng tử, phải giảng cho các con ta thấu hiểu đạo lý ở đời. Tiện đây ta có nhời răn, các con phải để dạ. Chính ta, người đang nắm giữ vận mệnh của thiên hạ, cũng xuất thân từ đám nông phu lam lũ. Sáu tuổi, ta được theo hầu đức Vạn Hạnh để làm một chú tiểu tăng. Thầy thương ta dạy bảo đủ điều, học đủ các kinh sách. Nhưng vì là một sa môn ở trong sa đoàn, ta cũng phải làm việc quần quật như mọi người. Dù mới chỉ sáu tuổi, nhưng luật lệ sơn môn đã rõ ràng: “Bất tác bất thực” – không làm thì không được ăn, ai ai cũng phải tuân thủ. Ta thấy điều đó là đúng. Ngay với các con bây giờ, ta nghĩ cũng nên như vậy. Nhà vua nhìn các con một lượt, không hiểu có điều gì làm ngài băn khoăn, nên dáng vẻ hơi ngập ngừng. Một thoáng qua đi, vua lại nói:

- Vậy nên ta ước định, từ nay trở đi, các con cứ vào tuổi mười lăm, ta cho mở phủ riêng, để các con có cơ tự lập nghiệp. Nhưng ba năm đầu, các con phải sống ở các miền quê, chỉ đến tuổi mười tám mới được về kinh. Gọi là mở phủ nơi thôn dã, nhưng chính là các con phải tự làm lấy nhà mà ở, cày cấy lấy lúa gạo mà ăn. Làm ăn phải theo lệ tục nơi hương ấp, phải học hỏi cách làm lụng của giới nông phu. Ta sẽ cấp ruộng đất cho các con. Các con cũng phải chịu mọi sắc thuế như tất cả mọi người dân khác. Không, không thể có một ngoại lệ nào đâu các ông sư phó ạ. Các ông cũng phải theo học trò của mình đi mở phủ. Thầy trò tự làm lấy mà sinh sống, số bổng của các ông, ta sẽ cho lĩnh mỗi năm một lần để gửi về quê quán phụng dưỡng cha mẹ già, đỡ đần vợ con. Ta cấm ngặt thầy trò không được ỷ thế cậy quyền, làm các điều xằng bậy nơi thôn ấp. Ta sẽ cho xuất nạp quan, kiểm pháp quan về tận hương ấp của các con để kiểm xét. Bỗng nhà vua đổi sang nét mặt nghiêm trang: – Các ông sư phó cùng các con hãy nghe kỹ lời ta. Nếu các chính lệnh của triều đình có gì hà khắc, có gì làm phiền phức đến người dân, ta cho phép tâu về để kịp tu chỉnh hoặc bãi bỏ. Nhưng nếu chỉ theo ý riêng mình mà mạo tâu bậy bạ, thì tội nặng khó tha.

Ta nhắc lại, việc các hoàng tử đến tuổi mười lăm phải về các miền quê mở phủ để gần dân, từ nay là phép nước, các đời sau không được tự ý sửa đổi.

Ông sư phó của hoàng tử Bồ bước ra tâu:

- Bệ hạ có cho phép các hoàng tử được về bái yết theo hạn định nào không?

- Sao lại không. Ta cũng là cha mẹ chứ có phải loài vô tri vô giác đâu mà không nhớ thương con. Nhưng việc các con ta ở phủ riêng, phải được xem là cuộc du học dài ngày, bổ ích. Các hoàng tử sẽ được về cung vào các ngày tết, giỗ, hội hè. Lại khi có việc cần tâu bày thì không phải lệ thuộc điều gì hết. Nhưng ta cấm không được mượn cớ bỏ phủ về kinh để thoả mãn du hý, hưởng lạc. Nếu thế thì tội càng nặng. Một khi các hoàng tử mắc tội, thì các ông sư phó cũng phải liên luỵ.

Nhìn khắp một lượt sắc diện các hoàng tử, mắt nhà vua như có một thoáng buồn lo. Đoạn vua nói:

- Nhân Phật Mã được lập làm Đông cung thái tử, do phủ tướng công và các đài, viện có sớ tâu trình, ta cũng y cho Phật Mã làm Khai Thiên vương. Nhưng nội trong tháng này phải đi mở phủ. Ta cho viên ngoại lang Lý Nhân Nghĩa và vũ vệ tướng quân Lê Phụng Hiểu làm tả hữu theo hầu. Ta cũng cho bọn Dương Bình, Quách Thịnh, Lý Huyền Sư, Ngô An Ngữ đi theo giúp rập.

Các hoàng tử không ai dám xin với phụ vương điều gì. Nhưng nom mặt mấy người xấp xỉ với tuổi Phật Mã không giấu nổi nét buồn. Ngay cả điều đó, cũng không qua được mắt nhà vua.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 21.09.2018, 11:06
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5390 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
VIII

Từ ngày vua vi hành đến, dân trong hương ấp Xuân Phương như được đổi đời. Viên xã trưởng tàn ác bị đày đi viễn châu. Nghe đâu phải sáu bảy năm mới được về.

Dân được quyền chọn lựa xã trưởng. Ông Lương Thanh Khiết nhà vào cỡ bậc trung, nhưng là người có học lại có hạnh, nên dân làng cố ý lựa ông. Nhà ông, bố mất sớm, mẹ phải tần tảo nuôi ba anh em ông. Ông là con cả, bà mẹ gắng cho ông theo học thầy đồ đến thông văn tự, để biết đường giữ lấy gia phả, giữ lấy hương hoả tổ tông. Lớn lên, ông thờ mẹ hết lòng. Gặp năm mất mùa đói kém, ông ăn củ chuối cầm hơi, nhường cơm nuôi mẹ. Đã trên năm mươi tuổi, việc gì mẹ không bằng lòng gọi vào mắng chửi, ông khoanh tay nghe, không dám cãi nửa lời, và lập tức làm theo ý mẹ. Dù biết rằng làm theo ý mẹ có khi không thu được thành tựu. Nhưng ông không mong cầu lợi lộc, chỉ cốt mẹ vui lòng để tuổi già được thanh thản. Trong làng, ai cũng khen ông là người con chí hiếu.

Ấy vậy, nhiều kẻ vẫn chê ông là dở hơi. Ông biết, nhưng không để dạ. Suy ra mỗi người có một cách xử thế, họ cần tiền bạc, ông cần hiếu đễ. Ông không thể đem đổi hiếu lấy bạc tiền, cũng như kẻ kia không thể đem bạc tiền mua được hiếu đễ.

Dân làng mời ông ra làm xã trưởng. Ông một mực chối từ, lấy cớ còn phải thờ mẹ cho tròn đạo hiếu.

Biết được điều ấy, bà mẹ cho gọi ông vào hỏi sự thể. Ông cứ thực tâm trình mẹ về sở ý của mình.

Mẹ ông dạy:

- Con là người có học lại có hạnh, nên dân làng mới tin cậy nơi con. Con đã ở tuổi “tri thiên mệnh”[51] mà con còn cố chấp. Nay nhờ Trời, Phật cho tuổi thọ, mẹ đã ngoài bảy mươi rồi, dẫu sớm tối quy Phật lúc nào mẹ cũng không có gì phải ân hận. Không làm được việc lớn cho thiên hạ, sao con không gánh vác việc nhỏ nơi thôn ấp. Mẹ biết quyền hành một xã trưởng chẳng bõ bèn gì đối với con. Nhưng nếu để việc ấy rơi vào tay bọn xấu, bọn ác thì lớn bé già trẻ cả làng khổ vì nó. Con không thấy viên xã trưởng vừa rồi có khác gì loài hổ lang rắn rết. Nay nhờ chính lệnh của triều đình trừ được kẻ ác kia, dân tin cậy con, tức là dân trao sinh mệnh vào tay con; nếu con khước từ, lỡ công việc lại lọt vào tay kẻ ác nữa, thì chính con là kẻ về hùa với cái ác để giết dân. Con cố chấp để khư khư giữ lấy điều hiếu nhỏ mà bỏ việc đại nghĩa, thế là con chấp kinh mà không biết tòng quyền. Thế là con vị kỷ chứ không vị nhân. Đấy là chỗ mẹ không ngờ ở nhân cách của con. Bà nén giấu một tiếng thở dài, nhưng lại để rơi một giọt nước mắt.

Nghe mẹ dạy, ông Thanh Khiết chợt tỉnh ngộ; ông quỳ xuống lạy mẹ mà rằng:

- Nếu không có mẹ dạy bảo, thì con trở thành người bất nghĩa với dân làng. Con xin tuân lời mẹ.

Từ ngày ông Thanh Khiết làm xã trưởng, dân trong hương ấp coi nhau như người trong một nhà. Trước hết ông tuân thánh chỉ, lo cho dân được an cư lạc nghiệp. Những người già cả không nơi nương tựa, những trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ, đều được làng cắt cho phần đất để cày cấy lấy lúa gạo mà ăn. Ai đứng ra chăm nuôi người già yếu, trẻ mồ côi không những được lĩnh phần ruộng đất ấy, mà còn được cấp thêm phân nửa số đất cấp cho người già và trẻ nhỏ. Vậy là trong làng đua nhau nuôi già, chăm trẻ, không ai còn phải sống cô đơn nữa. Những người như bà cháu bà cụ Giá sống sát nhà xã trưởng trước kia không còn sợ bị chèn ép, bức bách nữa.

Đào Thị Phúc goá phụ bị xã trưởng ép buộc tư thông, nay đã sinh đứa con trai bụ bẫm. Gia đình ba mẹ con ấy được xã trưởng bồi nộp hai trăm quan, đã dựng được nếp nhà khang trang. Xã trưởng phải lưu đày viễn châu, nhưng vợ con ở nhà tháng tháng vẫn phải chu cấp cho thằng bé ba thùng thóc đến năm nó mười lăm tuổi. Tới lúc đó, làng sẽ xét định sau.

Bà cụ Giá nuôi thằng cháu mồ côi nay đã hai mươi mốt tuổi. Có người mai mối thằng bé với con gái út nhà ông xã trưởng. Bà cụ sợ quá, giãy nảy lên nói với bà mối:

- Giã ơn bà thương đến bà cháu tôi. Chúng tôi phận đũa mốc đâu dám chòi mâm son. Xin bà giữ kín chuyện này đừng nói với ai, nhỡ đến tai ông xã trưởng thì bà cháu tôi khốn đốn to, lại bán xới thôi.

Bà mối đưa hai ngón tay ra tém vành môi, nhả miếng bã trầu cầm tay, bà nói:

- Cụ ơi, cụ lẫn rồi. Cụ không biết ông xã trưởng làng mình bây giờ tốt lắm, chứ không như lão xã trưởng mắc dịch ngày trước, vua bắt lưu đày đâu.

Bà cụ phỉ thui tới ba lần rồi mới nói:

- Bà Luyến ơi, vẫn biết rằng bà xe duyên vậy là bà thương thằng cu Sắn nhà tôi, thương tôi lắm. Nhưng tốt cũng là xã trưởng, bà ạ. Đây bà xem, nhà tôi mới chỉ chung giậu với nhà ông xã trưởng này, vừa nói cụ vừa dẩu môi sang phía nhà xã trưởng cũ, thế mà ông ấy đã ghét, đã đuổi đi cho khuất mắt. Nếu không có cuộc vi hành của nhà vua, thì bà cháu tôi đứng đường đứng chợ rồi, sao còn được ở đây. Nói thật với bà, tôi vẫn chưa hoàn hồn đâu.

Bà mối cười ngất, bắn cả nước quết trầu vào mặt bà cụ Giá. Nắm lấy bàn tay dăn deo của cụ Giá, bà Luyến nói:

- Cụ ơi, tôi thề có cây cau trước nhà cụ kia, tôi mà dối trá điêu ngoa thì Trời đánh nó chết đứng ngay tắp lự.

Thấy bà Luyến thề độc, bà cụ Giá không biết sự thể thế nào, chỉ nói lời khuyên can:

- Bà ơi, đừng thề độc, ngộ nhỡ nó vận vào mình thì làm thế nào. Thôi được, tôi nghe bà đây, có điều gì dạy bảo, bà cứ nói thẳng tuột ra. Bà cứ vòng vo thì đến cây cau nhà tôi nó cũng không hiểu được. Đối đáp được một câu, bà cụ Giá thích lắm, cười hổn hển.

- Cụ ơi, tôi thề với cụ, cứ hễ trong làng còn đứa nào lớn lên mà không như đũa có đôi thì tôi ăn không ngon, ngủ không yên. Thằng Cò[52] nhà cụ, tôi đã để mắt tới mấy năm nay rồi. Nó lam làm mà có hiếu có nhân.

- Các ông ấy bảo cháu làm khoẻ nhất làng đấy. – Bà cụ Giá nói xen vào.

- Biết là của quý, tôi mới nhắm cái cô Hĩm nhà ông xã trưởng cho nó. Cô bé ấy đẹp người đẹp nết đáo để cụ ạ. Tôi cứ đứng hàng buổi nom nó hái dâu, hai bàn tay nó thoăn thoắt như người múa. Nó ươm tơ mới khéo làm sao, sợi mảnh mà đều tăm tắp như sợi tóc, chẳng có mấu gút nào. Lụa nó dệt ra, mặt cứ mịn như nhung, sờ mát rợi cả tay. Ai chả biết nhà cụ làm sao môn đăng hộ đối với nhà ông xã trưởng được. Bởi thế, tôi đã phải nói lót với cụ thân sinh ra ông ấy rồi. Bà cụ phúc hậu lắm, nhận lời ngay. Cụ mà đã nhận lời, tôi đố ông xã trưởng dám thoái thác. Ông ấy ăn ở có hiếu nhất làng đấy.

- Giời ơi, quý hoá quá, bà cụ Giá vội ngắt lời bà mối – Nhưng bà xem, gia cảnh nhà tôi thế này lấy gì lo cho cháu được. Cụ Giá vừa nói vừa chỉ tay vào căn buồng còn một lá thóc quây nia. Chừng ấy chỉ đủ cho hai bà cháu ăn đến vụ lúa mới thôi.

Bà mối nuốt nước trầu đánh ực một cái, hai ngón tay bà lại đưa lên tém vành môi rồi chùi vào vạt áo, bà nói giọng hồ hởi tự tin:

- Ai khiến cụ lo. Tôi cũng đã nói chuyện với ông xã trưởng rồi. Ông ấy bảo để hỏi ý kiến cụ già. Nếu cụ ưng ý thì ông ấy sẵn sàng ngay. Tôi lại ướm hỏi: – Nếu cụ nhà cho phép thì bà cháu bà cụ Giá lấy gì mà lo hỏi, lo cưới được. Thấy tôi thở dài, thương cho cảnh ngộ của bà cháu cụ, ông ấy bảo:

- Bà khỏi lo chuyện đó. Tôi còn lạ gì gia cảnh bà cháu cụ Giá. Nếu cụ ấy có lòng thương đến con Hĩm nhà tôi, vợ chồng tôi khắc lo.

- Không làm thế được đâu ông xã trưởng ơi, tôi làm ra vẻ hệ trọng, – nhà ông là chỗ cành vàng lá ngọc, dân làng sẽ dị nghị ông cưới chồng cho con.

Ông ấy cười hì hì bảo tôi:

- Thương con, ngon chuyện bà ạ. Mấy lại người ta có cười cũng chỉ cười ba tháng, chứ ai cười được ba năm. Ai cười, nhăn mười cái răng, bà cứ nói cụ Giá sang chơi tôi, hai nhà bàn bạc, khó mấy cũng xong. Chỉ sợ cụ ấy chê con Hĩm nhà tôi vụng dại.

- Thật thế như bà? Cụ Giá nửa tin nửa ngờ hỏi lại bà mối. Thời buổi này mà vẫn còn người tốt như ông xã trưởng. Thôi thì phúc đức tại mẫu, trăm sự tôi nhờ bà. Thằng Cò nhà tôi cũng như con như cháu bà. Nó sống côi cút, xin bà thương cháu, tôi dù có chết, xin làm kiếp chó để giữ nhà cho bà, giữ nhà cho ông xã trưởng, để đền cái ơn trời bể này.

- Giời đất ơi, sao cụ lại nói năng thế làm tôi đến tổn thọ mất thôi. Bà mối giãy nảy lên rồi chắp tay vái bà cụ Giá hai vái – Cụ ơi, bây giờ đổi đời rồi. Mọi người thương nhau lắm. Hôm rồi cụ chẳng lên chùa mà nghe hoà thượng thuyết pháp. Hoà thượng nói hay lắm, tôi không nhớ được gì cả. Nhưng đại loại là Phật dạy: “Mọi người phải thương nhau, phải siêng làm điều thiện, tránh điều ác. Phải khai khẩn đất đai, vun trồng cấy hái, sao cho không còn ai bị đói, bị rét nữa…”. Thế thì việc nhà cháu giúp cụ đây, việc ông xã trưởng thương thằng cu Sắn nhà cụ với con Lan nhà ông ấy, rồi lại đứng ra lo liệu cho các cháu thành gia thất, thì cũng là làm theo nhời Phật dạy thôi, có gì mà cụ cứ phải băn khoăn. Cụ nói cái gì đến chó với má, ơn với trả, đã thế còn gì là việc thiện nữa.

- Mà này, bà Luyến xuống giọng thì thào, khiến bà cụ Giá tưởng lại có một việc gì quan thiết lắm đây. – Thằng Sắn nhà cụ vỡ được mấy sào ở khu bãi sậy rồi?

Bà cụ Giá thở phào. – Chẳng giấu gì bà, thằng cháu Sắn nhờ giời đang sung sức. Trước kia không dám làm. Đất hoang hoá đấy, mình công khó công nhọc bỏ sức ra khai phá. Cấy được năm trước, năm sau xã trưởng đã bắt nộp thuế, nộp tô. Ba năm sau, đất ấy lại sung vào đất công. Hồi trước, nhà cháu vỡ được một mảnh hai sào, xã trưởng thu lại, cháu không vỡ nữa, chỉ đi làm thuê làm mướn như thể một con trâu con bò thôi. Bây giờ thì phúc hạnh cho mọi nhà rồi. Trên thì nhà vua có “chiếu” ban ra, dưới thì ông xã trưởng khuyến thưởng cho ai khai phá được nhiều. Vị chi, nhà cháu đã khai được mẫu hai bà Luyến ạ, nói để bà mừng cho. Cháu còn định vỡ thêm tám sào nữa cho tròn hai mẫu. Hai mẫu đất cho hai bà cháu thì ung dung quá. Nếu ông xã trưởng thương tình cho cô Lan nữa thì nhà cháu dư sức làm. Vụ mùa này nhà cháu thu hoạch được bốn sào. Nhưng lúa xấu lắm. Đất mới vỡ còn hăng, phải vài ba vụ, đất thuần lúa mới tốt.

- Sướng thật đấy cụ nhỉ. Cứ như là chỉ qua một giấc ngủ, lúc thức dậy đã thấy mình có ruộng đất, có tài sản. Trước kia, ai dám nghĩ đến chuyện này. Đến tính mệnh còn lo nơm nớp, bởi từ làng xã đến châu quận, cấp nào cũng mặc sức hà hiếp dân, cướp của dân, tham lam, ác độc như sói, như hùm. Mà lạ thật, mấy năm nay cái đám hành khất ở các nơi hàng quán, chợ búa đi đâu mất tiêu. Dân làng cũng chẳng còn nhà nào phải đói khổ nữa. Nhà nào nhà nấy thóc ninh ních đầy bồ, ăn vụ nọ lưu vụ kia. Đến như mẹ con nhà cô Mai thân goá bụa, trước kia đói khổ là thế, mà bây giờ cũng còn dư dật đem cúng vào chùa cả trăm thăng[53] thóc. Khi con người đã dư ăn, thì gà, lợn sinh sôi cũng mau đáo để. Nhà nào cũng lợn chật chuồng, gà đầy sân. Cả cái đám trộm đạo, cắp qué cũng mất hết. Cửa ngõ mở toang chẳng mất cái gì.

- Chả bù mấy năm trước bà Luyến nhỉ. Cứ sểnh ra một tí là mất, từ con cá, lá rau, đến con gà, bát gạo. Lắm lúc tôi cứ nghĩ, mình đang sống với một lũ quỷ, chứ không phải người sống với người nữa. Bà cụ Giá cười trơ cả hai hàng lợi móm.

- Cụ ơi thế còn chuyện lương duyên các cháu thế nào? – bà Luyến nhắc lại.

- Để tôi nhờ ông nho Quế xem ngày, rồi nhờ bà dẫn tôi sang thưa chuyện với cụ nhà ông xã trưởng, có được không bà mối. Nói xong, cụ Giá lại cười, nét mặt cụ hồn hậu như trẻ lại.

- Có thế chứ. Cụ cứ đưa cái lá số tử vi của thằng cu Sắn đây, tôi đi so tuổi hai đứa trước, rồi xem ngày chạm ngõ sau.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 21.09.2018, 11:08
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5390 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
IX

Nhà họ Mai làng Tam Sơn là một nhà có phúc, con cái hiếu thảo, tiền của dư thừa. Mai Trọng Hựu là người có học. Ông hiểu thông tam giáo, nhưng ưu trọng hơn cả là về Phật. Trong nhà, ông lập ban thờ Phật, lại nữa hay giao du với các bậc thiền sư và các cao tăng trong vùng. Phàm các chùa tu bổ hoặc hưng công xây dựng, ông đều có cúng dường đầy đủ. Vào những năm mất mùa đói kém, ông thường bắt con cái và gia nhân bớt bữa, để thêm vào việc chẩn cấp cho người thiếu đói. Bản thân ông lúc nào cũng ung dung tự tại, đi khắp đó đây. Không một danh lam thắng tích nào của đất nước ông không lui tới. Không một bậc đạo cao đức trọng nào trong vùng, mà ông không tìm đến học hỏi, lại hay kết giao với các bậc thiện trí thức, các bậc cư sĩ. Ông không phải người xuất gia tu hành, nhưng cái đức của ông thật đáng cho cả hương ấp nhắm vào đó mà noi theo. Ông bà Mai Trọng Hựu sinh hạ được bảy người con, hai trai đầu và năm người con gái. Con cả là Mai Mạnh Minh, con thứ là Mai Trọng Mẫn. Các người con gái của ông đều nết na lam làm. Quanh năm chỉ có cày cấy, gặt hái, trồng dâu, chăn tằm, dệt cửi.

Nhà ông dư dật, nhưng vẫn lấy sự kiệm cần làm đầu. Bà Mai là một người mẹ hiền thục đảm đang. Bà không cho con gái học nhiều chữ, mà chỉ rèn con về đường công, dung, ngôn, hạnh, nhưng lại hết lòng chăm sóc đến việc học cho hai người trai đầu. Điều đó khiến ông quý trọng bà.

Ông Mai dạy hai cậu con trai học hết Tam tự kinh[54], rồi ông gửi các con vào chùa, nhờ nhà chùa giáo hoá.

Thuở ấy chùa Tam Sơn có thiền sư Cứu Chỉ là bậc cao tăng trong thiền giới. Ngài vốn là đệ tử của Định Hương trưởng lão thiền sư. Pháp danh của ngài do Định Hương trưởng lão đặt cho.

Nghe nói buổi sơ ngộ, ngài đến xin thụ giới Cụ túc[55], trưởng lão hỏi:

- Thầy có hiểu nghĩa của hai chữ “cứu cánh” là thế nào không?

Ngài sững sờ hồi lâu rồi mới đáp:

- Bạch, chưa ạ!

Định Hương trưởng lão mỉm cười nói:

- Thế là Tôi và Thầy, cả hai ta cùng hiểu hai chữ “cứu cánh” rồi đó!

Ngài lấy làm ngạc nhiên, đầy vẻ suy tư.

Định Hương trưởng lão quay lại hỏi:

- Vậy là thầy hiểu rồi chứ?

Ngài Cứu Chỉ nghe đến đây chợt thấy tâm thức rung động và bừng tỉnh, vội sụp lạy chứ không đáp lời.

Nhân vậy, Định Hương trưởng lão mới đặt cho pháp danh là Cứu Chỉ, có nghĩa là tỏ ngộ ý chỉ cứu cánh của đạo thiền.

Lại nói về Mai Mạnh Minh và Mai Trọng Mẫn được cha cho theo học thiền sư Cứu Chỉ tại chùa Tam Sơn. Chùa này vốn nổi tiếng việc giáo hoá nghiêm ngặt, con cái các nhà trong vùng gửi vào đây học đông không kể xiết, có khi lên tới hàng trăm trẻ. Bởi thuở ấy chưa có trường học, chưa có thầy giáo.

Thật ra, số trẻ học thì đông, song số thành đạt không đáng kể. Mạnh Minh được cha cho theo học với thiền sư đến năm mười lăm tuổi thì bắt về nhà làm ruộng, tập cai quản gia đình vì Minh là trưởng nam. Mười năm đèn sách, Minh được thiền sư dạy cho thông cả Nho, Phật, có tham bác ít nhiều đến Lão học. Học Nho chỉ là cái cầu nối để thiền sư dẫn dắt đám tiểu sinh vào học Phật.

Mạnh Minh không trở thành sa môn, không trở thành nhà thiền học, vì cha cậu không cho cậu đi đến rốt ráo của sự học. Nhà cư sĩ này chỉ muốn cho con mình trở thành một người làm ruộng có chút ít học thức. Biết đường hiếu nghĩa. Biết biện biệt thiện ác. Biết cách làm ăn sao cho khỏi đói nghèo. Lại biết cách cư xử với họ mạc, xóm làng sao cho có đạo nghĩa, cùng là biết cách dạy con trở thành người lương thiện.

Thuở ấy Mạnh Minh cùng học với Lý Đức Chính được ba năm. Chính có dáng tuấn tú, tướng mạo đàng hoàng, học hành thông tuệ. Các yếu chỉ của kinh bổn nghe thầy giảng qua một lần Chính đã hiểu và có thể truyền giảng lại cho các bạn đồng môn một cách trôi chảy. Thiền sư Cứu Chỉ thường khen: “Cậu bé này lớn lên ắt có sự nghiệp khác thường. Sẽ là người hoằng dương Phật pháp chẳng kém các bậc cao tăng”.

Đúng như thuở Đức Chính mới ra đời, thiền sư Vạn Hạnh bất chợt nhìn đã tiên đoán: “Người này lớn lên sẽ trở thành con ngựa của nhà Phật để tải đạo đi hoằng dương”. Và vì thế Đức Chính còn có tên là Phật Mã.

Sau ba năm học, Phật Mã theo cha về Hoa Lư, ngày ấy cha chàng còn là tả điện tiền chỉ huy phó sứ. Thấm thoắt xa nhau đã tới gần năm năm.

Dạo trước, Lý Công Uẩn lên ngôi thiên tử, Lý Phật Mã được phong làm hoàng thái tử, Mạnh Minh sực nhớ đến người bạn học thuở thơ ấu. Mai Mạnh Minh cố hình dung lại xem Lý Phật Mã có gì khác đời không mà được sinh vào cửa cực quyền ấy. Mạnh Minh không thấy Phật Mã có gì khác thường cả. Thậm chí anh ấy còn là người bình thường như mọi người khác, đều phải tuân theo chế độ “Thấp lao tạp dịch” và “bất tác bất thực” của nhà chùa. Khác chăng là ở nơi tư chất của Lý Phật Mã sống giản dị, hoà nhập với mọi người, khiến ai nấy đều cảm mến vì dễ gần. Bỗng nhiên Mạnh Minh thấy nhớ bạn. Biết rằng giữa mình với hoàng thái tử lúc này là một trời cách biệt. Nhưng thực tình Mạnh Minh chỉ nhớ người bạn học có tên là Lý Phật Mã từ thời thơ ấu chứ Mạnh Minh có nhớ về một chàng hoàng tử nào đâu.

Chiều xuống, Mạnh Minh thấy bồn chồn, anh cứ chạy ra chạy vào vẩn vẩn vơ vơ, đảo mắt thấy phía ngoài rừng sương chiều đã giăng mờ trên các ngọn cây đỉnh núi. Và từ đâu đó vẳng lại tiếng vó ngựa đổ dồn, rồi một đoàn người, ngựa hiện ra trước cổng nhà.

Khách lạ, nom lại có vẻ hào hoa phong nhã, Mạnh Minh ngỡ là khách của cha mình. Nhưng sao nom các gương mặt khách còn non trẻ quá, chàng tưởng khách lạc đường đang loay hoay tìm lối; Mạnh Minh vội sửa lại chéo áo và nếp khăn đội đầu thì khách đã xuống ngựa. Trong toán đã có hai người bước tới đầu sân.

Mạnh Minh chắp tay chào khách. Khách đáp lễ rồi nhẹ hỏi:

- Thưa tôn huynh, chẳng hay đây có phải là hương Tam Sơn?

- Dạ bẩm tôn huynh đúng đấy ạ. Đây chính là hương Tam Sơn. Mạnh Minh lễ phép đáp lời và nhìn qua gương mặt khách, chàng thấy có nét vừa lạ vừa quen.

Khách lại lên tiếng:

- Xin tôn huynh cho hỏi, đây có phải là gia đình của Mạnh Minh công tử không ạ?

Mạnh Minh cảm như có gì quen lắm nơi khoé miệng chàng công tử kia. Anh nghi công tử này chính là hoàng thái tử Lý Phật Mã cùng học với anh thời thơ ấu. Nhưng sao chàng có thể biết tung tích ta? Tuy vậy, Mạnh Minh cũng phải xác nhận:

- Dạ phải. Vậy chớ tôn huynh có điều chi dạy bảo?

Khách tươi cười nắm lấy bờ vai Mạnh Minh mà lắc:

- Vậy chớ huynh cố tình không nhận ra ta sao? Ta là Lý Đức Chính mà thiền sư Cứu Chỉ – thầy chúng ta thường gọi ta là “con ngựa nhà Phật”, nào huynh đã nhận ra chưa?

Mạnh Minh lùi lại hai bước chắp tay vái hai vái:

- Đại xá! Đại xá! Xin hoàng thái tử tha tội cho kẻ có mắt cũng như đui. Bây giờ thì Mạnh Minh này nhận ra thái tử rồi. Xin mời thái tử và các tôn huynh vào nhà.

Nghe nói có thái tử đến, ông Mai Trọng Hựu ở nhà trong vội sửa soạn khăn áo.

Chưa kịp phân ngôi chủ khách thì người nhà đã dâng trà. Và ông Trọng Hựu bước ra chào thái tử:

- Thái tử vân du tới tệ xá mà không cho hay trước, để gia chủ chúng tôi sửa soạn cung nghinh, nên việc tiếp rước sơ sài quá, xin thái tử tha tội.

Thái tử biết chắc chủ nhân là cha của Mạnh Minh, chàng cúi đầu vái ông rồi nói:

- Đường đột tới nhà, làm phiền lão bá, kẻ tiểu sinh này vô cùng đắc tội, xin lão bá tha thứ.

Ông Mai Trọng Hựu nói đôi lời với thái tử cho phải đạo, rồi ông cáo lui vào nhà trong. Bởi ông biết sự có mặt của ông sẽ làm cho đám trẻ thêm lúng túng.

Thái tử ngồi, vẫn có hai chàng trai tuổi chừng đôi mươi đứng hầu không rời nửa bước. Mạnh Minh đoán là các võ sĩ cận vệ của thái tử. Đã hai ba lần chàng mời ngồi, hai người đều lễ phép chối từ.

Thái tử như hiểu ý bèn nói:

- Đây là hai dũng sĩ trong cấm quân, được quan thân vệ cho đi cùng ta. Các người hãy lui ra ngoài cho bọn ta nói chuyện. Thái tử vừa nói vừa chỉ tay ra sân, hai chàng võ sĩ cúi đầu bước ra.

- Tiểu sinh rất lấy làm lạ thưa thái tử. – Mạnh Minh nói – rằng sao thời gian cách biệt như thế mà thái tử vẫn còn nhớ đến tiểu sinh. Kỳ lạ nữa, tại sao thái tử lại biết được cả gia hương của tiểu sinh?

Lý Phật Mã cười ngất, tiếng cười của chàng mới đáng yêu làm sao. Gương mặt chàng trong sáng như một thiên thần, khi chàng cười thì từ khoé miệng, hàm răng và đôi mắt kia đều toả ra một thứ ánh sáng ấm áp khiến kẻ trò chuyện với chàng đều mất hết cảm giác e dè, và lập tức đem lòng yêu quý chàng ngay. Chính tư chất chàng có sức hấp cảm như vậy nên dù trong thời gian học, hai người không thân thiết với nhau lắm, nhưng Mạnh Minh không thể không nhớ đến chàng.

Vừa dứt tiếng cười, thái tử đáp lời:

- Tình bằng hữu lại cả tình đồng môn nữa, làm sao có thể quên nhau được. Sở dĩ ta biết được gia hương của quý hữu, là ta có ghé qua chùa thăm thầy. Tới đây mới được trưởng lão hoà thượng cho biết thày Cứu Chỉ đã rời chùa từ lâu.

- Dạ bẩm thái tử, dạo thái tử về Trường Yên được vài tháng thì thầy Cứu Chỉ cũng biệt Tam Sơn về trụ tại chùa Diên Linh núi Long Đội. Mạnh Minh và các bạn được trưởng lão thương dạy tiếp cho mấy năm nữa.

- Chắc quý hữu muốn biết vì sao ta tìm gặp chàng phải không? – thái tử hỏi.

Mạnh Minh gật đầu xác nhận.

- Có gì đâu, trước hết là nhớ bạn. Trong hàng trăm bạn đồng môn, chọn lấy người mình yêu quý, tin cậy chưa chắc đã được một hai. Cha ta và cả thầy chúng ta luôn luôn răn dạy: “Lựa bạn phải hết sức kỹ càng. Lầm kết thân với bạn xấu, tư cách mình giảm đi, sự nghiệp cả cuộc đời có khi cũng tiêu vong. Trái lại, kết hảo được với bạn tốt, khác nào như tre ấm bụi, như lúa tháng ba gặp mưa rào đầu hạ, mọi thứ sẽ hanh thông”. Ta về đây với quý hữu nhằm kết hảo bạn bè, vậy chớ ý quý hữu thế nào? Lý Phật Mã nói với tất cả sự chân thực, và niềm vui lộ rõ trên gương mặt rạng rỡ của chàng.

Nghe bạn nói, Mạnh Minh không tin vào tai mình nữa. Chàng tự hỏi, ở Thăng Long có biết bao nhiêu con nhà quyền quý; với bao nhiêu con cái các nhà trong hoàng thân, quốc thích, sao thái tử không kết bằng hữu lại tìm đến ta, con nhà thứ dân. Nghĩ vậy, chàng bèn đáp:

- Đa tạ thái tử đã nhớ đến tình đồng môn, Mạnh Minh tôi xin kết cỏ ngậm vành thờ thái tử trọn đời. Song có điều tôi băn khoăn, không hiểu hoàng thượng có cho phép thái tử kết thân với đám dân hạ tiện như tôi không.

- Sao quý hữu ăn nói hồ đồ vậy. Trước khi làm chức quan thân vệ rồi quan điện tiền, và cả trước khi được triều thần phò tá lên ngôi hoàng đế, cha con ta cũng là những kẻ lam lũ lăn lóc nơi ruộng đồng, như cha con quý hữu thôi chứ có hơn gì.

- Vậy chớ thái tử đã xin ý chỉ của hoàng thượng chưa?

- Chưa, ta chưa ngỏ xin điều gì với cha ta từ ngày ông đăng quang. Việc ta với quý hữu cũng chưa thể ngỏ với cha ta được; vì rằng ta chưa dám chắc Mạnh Minh đã nhận lời với ta.

Thái tử nói lời trung hậu và tỏ ra trân trọng, Mạnh Minh cảm kích vái hai vái để tạ ân thái tử.

Lý Phật Mã đáp lễ, và thái tử nói thẳng ra điều chàng muốn nói:

- Ta chẳng giấu gì Mạnh Minh, khi cha ta lập ta là hoàng thái tử, cả thiên hạ đều biết ta đã được chọn lập. Bởi vậy ta cần phải có bạn bè cố kết. Không phải đây là sự lập bè lập đảng, mà là tai mắt triều đình phải có ở khắp nơi, để nghe ngóng được tiếng nói thiết tha từ trong đám lê dân, xem họ yêu cái gì, ghét cái gì. Nếu không thì đám cận thần và lũ trung quan, vào hùa với bọn tham bẩn mà quyền hành chất ngất ở trong tay, chúng sẽ che tai bịt mắt từ hoàng thượng trở đi, để tha hồ mà thao túng bộ máy quốc gia, tha hồ mà vơ vét, bóc lột, hành hạ người dân. Những điều ta nói với quý hữu, chính là điều mà cha ta thường răn dạy. Hoá nên ta phải lo liệu từ khi cờ còn chửa đến tay. Vả lại, vua cha đã cho ta mở phủ riêng, nhưng người bắt phải ra khỏi kinh thành, sống chung lẫn với dân thì mới dò biết được ý sâu nông của họ. Ta có ý định về mở phủ tại vùng này, vừa có bạn bè, vừa gần gũi quê hương, chắc ta sẽ có dịp gần dân hơn.

- Thái tử chưa lên ngôi mà đã lo cho thân phận của người dân, thế là điều đại hạnh cho nước. Được thái tử sai khiến vào các việc thiện đức, thời dù gan nát, óc lầy, Mạnh Minh này cũng không dám từ nan.

- Ta hỏi thật quý hữu, nếu như ta cắm đất hương Tam Sơn này mở phủ, thì có phiền gì cho bạn không? – Thái tử hỏi Mạnh Minh một cách thành thật.

Mạnh Minh tròn xoe mắt nhìn thái tử với tấm lòng biết ơn, chàng đáp:

- Nếu được thái tử xem như tình bằng hữu mà đem lòng ái mộ nơi hương ấp quê tôi, lại về đây mở phủ cầu sự gần dân, tích thiện cho nghiệp lớn mai sau, thì Mạnh Minh này sẵn sàng cắp giáo theo hầu chờ sai khiến.

Phật Mã nắm chặt tay Mạnh Minh cảm tạ:

- Ơn tri ngộ này ta biết lấy chi đền đáp. Việc ta về mở phủ chắc chỉ nay mai. Ta về thưa lại với phụ vương, nếu người ưng thuận, ta sẽ khai triển cấp thời.

Nói rồi thái tử từ tạ. Hai người quyến luyến chẳng muốn chia tay. Mạnh Minh theo tiễn thái tử tới đầu thôn thì gặp người em gái đi hái dâu về.

Thấy anh mình đi với một công tử phong lưu, Mai Thị Minh Nguyệt cúi chào rồi đi thẳng. Hai giỏ dâu trĩu nặng hai đầu đòn gánh, khiến Minh Nguyệt phải rảo bước, làm bước đi của nàng uyển chuyển duyên dáng như người múa.

Mạnh Minh vội thưa: – Xin thái tử đại xá, cô gái đó là tiểu muội của thần. Nhà có mấy bát tằm đang kỳ ăn rỗi, nên suốt ngày em nó phải tất bật.

Thái tử đang nhìn theo bóng hình người con gái, mà chỉ mới thoáng qua chàng đã xốn xang lòng dạ. Chao ôi khuôn mặt nàng mới đầy đặn phúc hậu làm sao. Gương mặt trong sáng như mặt trăng rằm cùng cặp mắt trong trẻo thơ ngây, khiến nàng có vẻ đẹp như mơ. Thái tử đang thả lòng mình theo nhịp chân nàng nhún nhảy thì nghe thấy tiếng Mạnh Minh. Chàng hơi đỏ mặt đáp lời:

- Chẳng hay tiểu muội của quý hữu đã có nơi chốn nào chưa?

- Dạ, nhà nghèo nên chưa có ai để mắt tới.

Thái tử mỉm cười từ biệt. Lòng chàng như đang chấp chới bay lên cùng vó ngựa.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 21.09.2018, 11:09
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5390 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
X

Vua Thuận Thiên vừa đi tuần thú phương nam về tới Thăng Long, chưa kịp mở tiệc tẩy trần thì quan thái uý Lý Trưng Hiền đã vào tâu về các sự việc đang xảy ra tại vùng ải bắc.

Dẹp nỗi nhọc mệt sang một bên, vua tươi cười hỏi:

- Thái uý đi kinh dinh vùng ải bắc có gì lạ nói ta nghe. Liệu Tống Chân tông có đi theo vết xe đổ của Tống Thái tông hồi năm Tân tỵ[56] không?

- Muôn tâu bệ hạ, thần không bao giờ dám lơi mắt trên vùng ải bắc. Bởi người láng giềng vĩ đại của ta, lúc nào cũng nom dòm đất đai của bệ hạ, hau háu như lũ cú dòm nhà có người bệnh vậy.

Hiện nay Tống Chân tông không ra mặt, nhưng xúi bẩy lũ người man bên đó sang quấy nhiễu dân ta. Vừa rồi quân viễn thám của ta, bắt được năm đứa côn đồ sang gây sự cướp của, bắt trâu của dân ta, định đem về đất Tống thì bị bắt lại. Chúng đều khai là quân của Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí.

- Đứng sau hai tên tướng người man này là kẻ nào? An Phủ sứ Quảng Tây hay viên tổng binh thành Ung Châu, hay là Tống Chân tông? – Lý Công Uẩn vội cắt ngang lời viên thái uý bằng một câu hỏi.

- Tâu hoàng thượng, thần đã tra xét kỹ đám tù binh, chúng đều khai không phải chúng đi trộm trâu, lấy lúa gạo, mà cái chính là dò biết tình hình bố trí binh lực của quân ta. Bên chúng binh lương cùng võ khí không thiếu, chính viên tổng binh thành Ung Châu cấp cho chúng các loại máy bắn đá, hoả pháo, đao, kiếm, cung tên cùng hơn hai vạn con ngựa tốt. Còn lương thực thì lấy ở kho của lộ Quảng Tây.

Tâu bệ hạ, từ non một tháng nay, ngày nào quân man bên kia cũng tràn sang. Cứ mỗi ngày số lần và số toán mỗi tăng. Gần đây có ngày chúng dấy sang tới cả chục toán. Toán ít nhất là năm, bảy tên, nhiều nhất có tới cả trăm đứa. Chúng xâm phạm trên một dải dài tới vài chục dặm thuộc vùng đất Quảng Nguyên[57], nhưng chủ yếu là đất châu Bình Lâm[58]. Quân chúng đi sâu vào nội địa nước ta có chỗ tới hơn chục dặm.

- Khanh nói ta nghe cách đi đứng của chúng nó?

- Tâu bệ hạ, bọn này thường bỏ đường chính, đi theo đường tắt. Chúng đi lại, leo trèo, nói năng tỏ ra rất thông thạo không kém gì dân man nước ta.

- Thái uý có biết vì sao như vậy không? – Vua hỏi.

- Tâu bệ hạ, thần có nghĩ đến việc người man bên ta làm nội gián, dẫn đường chỉ lối cho đám quân man bên phía Tống.

- Phải, khanh nói hợp ý ta lắm. Khá khen Tống Chân tông làm việc này khôn ngoan, nhưng sao che nổi mắt ta. Hiện nay người Tống đang bị các nước Liêu, Hạ xâm lăng rất dữ. Quân Tống đã nhiều phen đại bại. Vua Tống phải xử nhũn, giảng hoà, cắt đất và hằng năm phải cống nạp cho các nước Liêu, Hạ rất hậu. Nhưng việc đó chỉ là tạm thời rồi Liêu, Hạ lại nhất tề xâu xé Trung nguyên. Nội bộ nhà Tống cũng đang chia rẽ trầm trọng. Tống Chân tông rất muốn có một cuộc chiến tranh nhỏ, mang lại chiến thắng để ông ta dẹp yên nội tình. Tiến lên phía bắc bị Liêu, Hạ chặn lại. Tiến xuống phía nam thì trận xâm lăng năm Tân Tỵ bị hoàng đế Lê Hoàn đánh cho thất điên bát đảo, vua tôi vẫn chưa hoàn hồn, nên không dám ra mặt thị oai mà núp sau đám tướng man là Đoàn Kính Chí, Dương Trường Huệ. Nay mai ắt có cuộc tiến binh lớn của người man Tống vào đất ta. Nếu trận này ta sơ hở, giặc thắng một vài nơi, gây được thanh thế thì sớm muộn quân Tống cũng lộ mặt là kẻ xâm lược, đại binh Tống sẽ tràn sang ta. Nhược bằng lũ kia đại bại, thì triều Tống coi như là một việc riêng của đám dân man nước họ, cũng như đám dân man khó trị của nước ta. Cùng lắm thì họ có chiếu thư vỗ về ta, rồi làm một vài việc giả vờ như là trách phạt người man nước họ.

- Bệ hạ anh minh, xét đoán công việc xa rộng, chúng thần không thể nghĩ hiểu tới chỗ rốt ráo như vậy. Nhưng thưa bệ hạ, thần còn nghĩ tới việc người man Nùng ở cả bên ta và bên Tống nhiều vùng còn có chung huyết thống, nên người Tống ra sức lợi dụng chỗ đó. Vậy tại sao ta không làm như họ. Ta cũng dùng người của họ vào mục đích của ta.

Vua Thuận Thiên chỉ tay vào bình rượu quý bảo Thái úy:

- Khanh quả là vị tướng có tài dụng gián. Ta ban cho khanh một chung, tự tay rót lấy mà uống. Nhưng không phải ta làm như họ, mà phải làm hơn họ. Khanh có nhớ vì sao năm trước châu Vị Long[59] hùa với dân man làm phản, ta phải tự tay đánh dẹp không?

- Bệ hạ ra oai để kẻ kia khiếp phục.

- Phải, chính vì thế mà ta cho sáu quân ào ạt tiến vào, thế như chẻ tre. Bọn thủ lĩnh Hà Trắc Ẩn cả sợ đem đồ đảng trốn nhủi vào rừng. Ta không cho quân bắn một mũi tên. Không đốt một nóc nhà. Không tàn phá hoa màu. Không xâm phạm của dân một cái tơ cái tóc nào. Đến đâu ta cũng phủ dụ bách tính. Kính già yêu trẻ, biếu lụa cho quà, khiến dân ơn ta. Dân ơn ta, càng oán Hà Trắc Ẩn cùng đồ đảng. Cứ để cho y lẩn trốn ít lâu, rồi ta sẽ chiêu phục, ban cho đặc ân, lại cho cai quản đất ấy, hẳn y sẽ phải tận trung với triều đình. Để rồi xem vua tôi Tống Chân tông có còn mua chuộc, còn sai khiến được người man của ta nữa không. Triều đình sẽ dùng người man làm phên dậu, để chống lại mưu đồ xúi biên dân của ta làm loạn, dễ bề đục nước béo cò cho họ lấn sang đất ta.

Dừng một lát, như để thẩm định lại những gì mình đã nói, đoạn nhà vua hỏi thái uý:

- Vậy chớ ý khanh thế nào?

- Tâu, bệ hạ hoạch định kế sách dài lâu, thần không tài nào theo kịp. Song thần là tướng võ, thần xin nói ngay vào các công việc cấp bách phải làm, kẻo khi quân giặc tràn sang, ta trở tay không kịp, lại lỡ mất đại cuộc của bệ hạ.

- Ta đã đọc kỹ biểu chương cáo cấp của châu mục châu Bình Lâm. Hoàng Ân Vinh đã hoạ cả đồ bản nơi nào giặc man tràn sang, nơi nào chúng đang hội quân. Các việc này hẳn thái uý đã biết?

- Tâu hoàng thượng, thần có được biết. Còn đây là hoạ đồ thần dự liệu các nơi chiến trận sẽ diễn ra cùng kế sách đánh dẹp của thần, xin bệ hạ ngự duyệt.

Lý Công Uẩn xem xét rất kỹ các nơi mà thái uý dự tính quân địch sẽ tràn vào, cả những nơi chốn mà thái uý nghi binh dụ địch. Đoạn vua hỏi:

- Khanh định dìm chết quân giặc tại bến Kim Hoa?

- Tâu bệ hạ, đó là nghiệp của chúng tới ngày phải trả quả chứ đâu tại thần.

- Theo ta, nên dụ địch vào sâu đất ta hơn nữa. Ta muốn nhân chuyện này làm cho Tống Chân tông bẽ mặt, phải kiềng nể nước ta, cũng nhân chuyện này gây cho đám man dân của Tống nỗi kinh hoàng để dạ, và còn là chuyện răn đe các thủ lĩnh người man ở nước ta nữa.

Nhà vua chỉ vào tấm họa đồ nói tiếp:

- Phải dụ cho đại quân của giặc vào quá bến Kim Hoa ít nhất là vài ba chục dặm. Quân ta phục sẵn từ bên bờ bắc Kim Hoa đánh dồn chúng sang đất ta, rồi cắt cầu phao chẹn đường về của giặc. Cùng lúc, các cánh quân của ta đã ém trước trong rừng: tiền hậu, tả hữu nhất tề xông vào đánh. Khi quân giặc đã vón lại thì mở vòng vây cánh bắc cho giặc chạy tháo xuống sông. Giặc vốn không quen nghề đánh thuỷ, lại không có thuyền bè, cầu phao, chắc sẽ chết chìm gần hết. Kẻ nào thoát chết sang bờ bắc thì đã có cánh quân ém trước của ta xông ra bắt sống. Vậy là ta vẫn không bỏ kế dìm chết giặc trong lòng sông Kim Hoa của thái uý, mà ta chỉ sửa đi đôi chút cho mẻ vó nặng hơn, chẳng hay có phương hại gì không thái uý?

- Bệ hạ điều binh như thần. Phen này quân giặc ắt hết đường sống. Tâu bệ hạ, mọi việc đều gấp lắm, xin bệ hạ sớm cho lệnh tiến binh.

- Khanh có còn cần gì nữa không? Nhẽ ra bình định đám nhà man Tống này, ta chỉ cần vài vạn quân biên trấn là dẹp xong. Nhưng ý ta không muốn cho một tên nào chạy thoát, nên phiền thái uý phải ra tay. Chuyến này ta cho Dực Thánh vương cùng đi với thái uý. Dực Thánh vương nhận binh phù là chỉ trên danh nghĩa. Thực chất việc điều hành, cắt đặt cùng toàn bộ kế sách tiến lui đều ở tay thái uý. Ngoài việc phải đánh thắng giặc, ta còn uỷ thác Thái úy kèm cặp con ta, để khi lớn, các hoàng tử phải là các tướng giỏi. Vậy trước khi đi, còn có điều gì khúc mắc, thái uý cứ nói.

- Tâu bệ hạ, ngoài số quân biên trấn, thần đã chuyển được hơn năm vạn quân lên ém kín nhẹm ở trên đó rồi. Xin bệ hạ cho thêm năm vạn quân nữa, lấy từ quân “tứ sương”, “tứ thánh”, “tứ thần”, “tả hữu kim ngô”, “tả hữu vũ vệ” điều thẳng lên áp sát vùng biên ải Lạng Châu, phòng bị quân Tống ở Ung Châu, nhân cơ hội tràn sang.

- Bao giờ thì khanh cần đến số quân này? – Vua hỏi.

- Tâu, càng sớm càng tốt.

- Bao giờ thì khanh lên đường?

- Tâu, sau khi giao ước với Dực Thánh vương cùng phó đô tướng quân, thần cùng hai ngàn quân bản bộ sẽ xuất phát vào đầu giờ mùi ngày Mậu Ngọ.

- Được, mọi sự ta sẽ y lời tâu của thái uý.

Trao ấn, kiếm cho thái uý Lý Trưng Hiền xong, vua cầm tay căn dặn:

- Trẫm với thái uý, tình là anh em, nghĩa là vua tôi. Trẫm trao quân mệnh vào tay thái uý, vậy thái uý cứ theo phép quân mà điều hành, nơi mặt trận không phải chờ hỏi mệnh trẫm, kẻo lỡ mất việc lớn.

Trẫm lưu tâm thái uý, phải bắt bằng được hai tên đầu sỏ Dương Trường Huệ và Đoàn Kính Chí về đây trị tội, và phải tiêu diệt gọn đội quân xâm lược này. Đây là tương kế tựu kế, ta vừa làm mất mặt Tống Chân tông, vừa đánh cho thui chột ý chí dòm dỏ đất ta của vua tôi nhà đại Tống.

Thái uý gắng sức hoàn thành sự nghiệp, ban sư trẫm sẽ vinh thăng, nhược bằng làm sai khác để nhụt chí quân ta, thời cứ chiểu quân pháp gia hình, quyết không nương tình huynh đệ.

Thái uý cúi rạp người nhận mệnh.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 25.09.2018, 12:58
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5390 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XI

Thái uý Lý Trưng Hiền dẫn hai ngàn quân bản bộ xuất chinh vào đầu giờ mùi. Để che tai bịt mắt đối phương, thái uý đóng giả làm quân tuần thú chứ không trương cờ lệnh, cờ suý.

Dực Thánh vương nhận mệnh cũng điểm năm ngàn quân chia làm hai mũi thuỷ, bộ cùng xuất phát vào đầu giờ tuất. Thái uý Lý Trưng Hiền giao cho phó đô tướng quân là Vũ Kim Thanh chỉ huy đạo quân này, và phải bảo trọng Dực Thánh vương. Tiếng rằng Dực Thánh vương được vua trao binh phù, nhưng việc điều hành toàn quân trong trận này lại thuộc quyền thái uý. Hoàng tử ra trận là để luyện rèn cho dạn dày chiến trận, để sau này dùng vào việc quốc gia chứ một cậu bé mười ba tuổi, hỉ mũi còn chưa sạch, biết gì đến việc binh nhung.

Để bảo mật quân cơ, đoàn quân bộ ra đi, người ngậm tăm, ngựa bỏ nhạc, cấm tất cả mọi đèn lửa ban đêm. Quân thủy giả trang làm thuyền buôn, nhất nhất không để sơ suất điều gì.

Vua Thuận Thiên cho triệu tướng công Trần Cảo, hoàng thúc Vũ Đạo vương, khu mật sứ Ngô Đinh, thái phó Đặng Văn Hiếu cùng hoàng thái tử Lý Phật Mã vào điện Long An bàn quốc sự.

Mọi người tề tựu, vua liền phán:

- Giặc man Tống hỗn hào sắp đem đại binh phạm cõi bờ ta. Việc này hẳn có bàn tay của triều đình Tống Chân tông. Ta quyết ra tay, để đám man Tống từ nay không dám hỗn hào mơ tưởng xâm phạm biên dân ta. Ta cũng quyết dạy cho Tống Chân tông bài học vỡ lòng, cùng với bài học nhớ đời của cha hắn là Tống Thái tông do hoàng đế Lê Hoàn răn bảo từ năm Tân Tỵ (981). Vậy việc lưu thủ kinh sư, ta giao cho hoàng thái tử Phật Mã và hoàng thúc Vũ Đạo vương đồng giám quốc.

Thái phó Đặng Văn Hiếu, khu mật sứ Ngô Đinh giám sát các cơ quan trong ngoài của ta cho chặt chẽ. Việc binh kín nhẹm, ta ra đi không báo trước, các khanh ở nhà gắng hoàn thành trách phận, thắng trận trở về ta sẽ chiểu công ban thưởng.

Lại nói về phía quân man Tống. Thủ lĩnh của họ được đầu lĩnh thành Ung Châu triệu đến thương nghị, nếu chịu sang đánh An Nam sẽ cấp cho khí giới, lương thảo, lừa ngựa. Tổng trấn Quảng Tây cũng hứa sẽ tâu xin với thiên tử cho người man lập quốc gia riêng, nếu như họ chiếm thêm được một số châu, quận của An Nam.

Đầu lĩnh của người man ở vùng Tả Giang, Hữu Giang từ lâu đã cát cứ không chịu nộp tô thuế, không đi lính đi xâu cho triều đình Tống. Thỉnh thoảng họ còn xua quân vào sâu nội địa cướp của giết người, khiến lương dân không được yên ổn làm ăn. Triều đình nhà Tống có biết việc này, nhưng cũng lờ đi. Họ sợ ra tay đánh dẹp, nhân cơ hội người An Nam lại tràn sang thì khó bề chống lại, trong khi mặt bắc quân Liêu, quân Hạ vẫn đang ráo riết đánh phá.

Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí thiển cận thấy lợi thì nhận lời liền. Vì vậy suốt ba tháng nay, y cho quân về Ung Châu chuyên chở khí giới, quân lương, lừa ngựa. Chúng cũng đem tiền đi khắp mọi nơi mua thêm hàng vạn ngựa tốt. Trong khi đó lại cho các tốp quân nhỏ hàng ngày trà trộn vào đất ta nghe ngóng, dò la.

Hiện thời chúng đã tập hợp được đội quân đông hơn mười vạn người, lại huy động hơn mười vạn dân binh dùng vào việc vận chuyển chiến cụ, lương thảo.

Trung quân của Dương Trường Huệ đã chuyển tới gần biên ải. Nhân dịp, Đoàn Kính Chí bàn cùng Huệ rằng:

- Quân ta tuy đông, nhưng chưa trải qua trận mạc, chưa bao giờ giao chiến với quân Nam. Theo thiển ý của tại hạ, hãy phái các đội khinh binh sang thăm dò. Đánh xong rút liền. Nhưng doanh trạm quân ta cứ nhích dần sang bên kia biên ải, mỗi ngày dăm ba dặm.

Dương Trường Huệ gật đầu đáp:

- Tướng quân nói rất hợp ý tôi. Cứ theo như ý quan tổng trấn Quảng Tây thì thiên tử chỉ cắt đất phong hầu cho ta, khi ta chiếm được vài châu quận của người Nam. Nhân việc này tôi đã có thư dụ hàng viên châu mục châu Bình Lâm là Hoàng Ân Vinh. Đã có gửi quà biếu hậu hĩnh, lại hứa cho y chức tước sau này. Chắc chỉ nay mai là có hồi âm. Cứ như ngu ý của tôi, – Dương Trường Huệ tự nhiên ngừng lời, ông ta đưa tay lên sờ nắn vành khăn, lại dùng năm ngón tay chải chải chòm râu cằm đen nhức. Cử chỉ ấy khiến Đoàn Kính Chí cho rằng Dương Trường Huệ sắp đưa ra một kế sách mới lạ đây. Vì vậy Đoàn Kính Chí ngồi nhích về phía Huệ, người ông ta như thu nhỏ lại. Giây lâu Dương Trường Huệ lại tiếp:

- Theo ngu ý của tại hạ thì ta cứ đưa hết hai mươi vạn tinh binh cùng dân binh, với năm mươi ngàn lừa ngựa sang hết đất An Nam. Đưa được số người, ngựa ấy vào đất Bình Lâm, mặc nhiên châu ấy thuộc về ta. Ngoài hai đường bộ xuyên rừng đi sang, ta còn có đường thuỷ xuất phát từ Tả Giang, Hữu Giang đi thẳng vào sông Bằng Giang của họ. Đại quân ta sẽ đóng ở Ngũ Hoa. Từ đó, ta đánh chiếm các châu quận lân cận, mở ra một vùng rộng lớn thông thương cả hai bên nam – bắc. Và đấy chính là quốc gia của chúng ta. Tới lúc đó, dù vua Tống không muốn phong vương cho chúng ta cũng không được.

Đoàn Kính Chí lấy làm tâm đắc, tiếp lời:

- Tướng quân mưu việc như thần. Nhưng theo thiển ý, ta cứ nán chờ vài bữa xem Hoàng Ân Vinh phúc đáp sâu nông thế nào.

Lại nói, Hoàng Ân Vinh đang lo liệu cắt đặt việc phòng thủ và chờ viện binh của triều đình, chợt quân vào bẩm:

- Xin Hoàng châu mục cho tra xét tên giặc này. Chúng tôi bắt được nó hồi đêm. Nó vượt sông bằng một chiếc thuyền mủng. Trước khi lên bờ nó còn kịp dìm thuyền.

Hoàng Ân Vinh nhìn tên giặc mặt còn non choẹt. Điệu bộ nó ngơ ngác như không hiểu vì sao người ta lại bắt nó. Nó nhìn Hoàng Ân Vinh một cách ý tứ rồi đưa mắt ra hiệu như thầm nói: “Tôi có chuyện cơ mật cần thưa với ông”.

Châu mục bèn hỏi đám lính:

- Vậy chớ các người khám xét nó chưa?

- Dạ bẩm, chúng tôi khám kỹ lắm rồi, trong người nó không có một tí gì cả. Tiền bạc, giấy tờ, võ khí đều không có. Hỏi nó chỉ lắc đầu rồi chỉ tay vào bụng, lại giơ chân giơ tay ra hiệu như đi cày đi cuốc. Chúng tôi đoán là nó không nói được tiếng người mình. Nó đói, sang ta để kiếm việc làm, kiếm ăn.

Hoàng Ân Vinh chợt loé ở trong đầu về một âm mưu gì của quân địch, cả cái nhìn tự tin của nó lại như ngầm nói một điều gì. Nghĩ vậy, ông cho những người lính lui.

- Các người về trại đi. Gắng canh phòng cẩn mật, để ta tự tra xét tên giặc này.

Châu mục Hoàng Ân Vinh tự tay cởi trói cho tên giặc, rồi chỉ cho y ngồi xuống chiếc ghế đối diện với ông. Rót cho y một ly rượu, ông đặt xuống kỷ rồi nói:

- Nhà ngươi uống đi cho ấm.

Tên giặc trẻ măng, độ hai mươi tuổi, không nói năng gì, đưa tay chộp lấy ly rượu, y cứ xoay mãi trên tay một lúc lâu rồi ngửa cổ uống cạn. Lại đặt chén vào chỗ cũ, vẻ như muốn xin được uống nữa. Hoàng Ân Vinh rót cho y tới chén thứ ba. Cử chỉ của hắn vừa có phần nho nhã, lại vừa có phần thô lậu, khó hiểu. Nhưng sau chén thứ ba thì hắn úp chén xuống khay, vái Hoàng Ân Vinh hai vái, và nói:

- Đa tạ quan châu cho uống rượu.

Hắn nói bằng tiếng Nùng, thứ ngôn ngữ của chính quan châu. Hoàng Ân Vinh không ngạc nhiên. Biên dân cả hai nước đều là người Nùng. Họ hàng bên này bên kia chằng chịt. Điều lạ là hai bên biên dân đều coi nhau như bà con chứ không bao giờ coi nhau là cừu thù. Tuy vậy nếu biên tướng bên kia có xua lính sang bên này cướp bóc, lấn đất thì lập tức dân bên này sẽ chống trả quyết liệt. Vì vậy, việc biên cương, việc quốc thổ trở nên rõ ràng, còn mọi mối quan hệ khác đều gác ra lề.

Châu mục Hoàng Ân Vinh nhìn tên giặc quát hỏi:

- Ai phái ngươi sang đây? Có điều gì cứ khai thực ra đừng để ta phải tra khảo.

- Bẩm Hoàng châu mục, Dương tướng quân sai tôi mang thư tâm phúc sang dâng ngài.

- Thư đâu? – Hoàng Ân Vinh hỏi.

- Xin quan châu cho phép tôi vào “nhà sau”.

Hoàng Ân Vinh chỉ cho hắn đi ra lối sau nhà. Hắn loay hoay lấy từ hậu môn ra một cuộn giấy nhỏ bọc vải tẩm sáp. Vứt vỏ ngoài đi, hắn trải tờ giấy bằng bàn tay chữ viết nhỏ li ti ra trước chiếc kỷ của quan châu.

Hoàng Ân Vinh đọc đến đâu, tai đỏ tía lên đến đấy. Ông tự nhủ: “Làm thế nào bây giờ. Giặc vừa dụ ta hàng vừa khuyên ta làm nội ứng. Rồi lại đe, nếu ta không ưng thuận thì “Đại quân kéo sang, vàng ngói khó phân”. Ta là người của triều đình, ăn lộc triều đình. Chỉ tiếc là ta đã có sớ cáo cấp về triều, mà chưa thấy có quân binh lên trợ chiến. Giả như binh giặc kéo sang, thì một nhúm quân biên trấn này, làm sao cản nổi. Không phải ta không biết tương kế tựu kế để dùng phản gián. Song không có thượng cấp ở đây mà ta tự tiện, triều đình lại nghĩ ta có bụng theo giặc thì nguy lắm…”

Hoàng Ân Vinh vừa đọc thư dụ hàng vừa vẽ ra biết bao điều lợi hại, phải quấy ở trong đầu. Ông chưa kịp hỏi thêm tên ngoại gián điều gì, thì có ngựa lưu tinh đem hoả bài về báo: “Quan thái uý sắp tới, châu mục châu Bình Lâm phải ra nghênh đón tại địa đầu châu giới”.

Hoàng Ân Vinh vội nhét lá thư vào túi, nói với tên ngoại gián vài câu nửa kín nửa hở:

- Ta có việc phải đi gấp. Tạm giam người rồi ta sẽ có thư phúc đáp sau.

Tên giặc từ nãy vẫn lo lắng, bỗng vui hẳn lên, y nói nhanh:

- Đại nhân phải cẩn trọng kẻo lộ ra cả đại nhân và tôi cùng chết đấy.

- Ngươi khỏi lo. Vậy chớ tên ngươi là gì?

- Dạ bẩm, Trương Minh Tú, tự là Tử Minh ạ.

Hoàng Ân Vinh vẫy tên Tú theo ông ra cửa. Gọi viên ngục lại tới gần, ông nói:

- Giam tên giặc này vào ngục, cho nó ăn uống đầy đủ, đợi ta về tra xét, cấm không được đánh đập tra khảo nó.

Nói rồi ông quất ngựa cùng đám tuỳ tùng ra đi.

Đón được Thái uý, Hoàng Ân Vinh mừng lắm. Nhằm lúc mọi người dãn ra, viên châu mục tiến sát lại gần Thái uý, nói nhanh:

- Châu mục tôi có điều cơ mật khẩn cấp mong được sớm trình quan Thái uý.

Nhìn vào tận đáy mắt Hoàng Ân Vinh cùng với gương mặt ông ta đầy vẻ âu lo, Thái uý chỉ vào một ngôi chùa trước mặt hạ lệnh:

- Cho ta ghé vãng cảnh chùa này.

Thế là cả đoàn người, ngựa rầm rập rẽ vào ngôi chùa cổ; nhưng ông bắt cả đám tuỳ tùng và lừa ngựa phải ở ngoài, chỉ có mình ông và châu mục Hoàng Ân Vinh vào trong chùa.

Đại lão hoà thượng chống cây thiền trượng, mặc áo cà sa vàng, đầu đội mũ nâu đang từ trong nhà bái đường bước ra. Hoà thượng có gương mặt phúc hậu, đôi tai to, dái tai chảy xệ xuống như tai Phật. Hai hàng lông mi bạc trắng rủ xuống, nom cụ có cốt cách của bậc tiên, Phật. Bước tới giữa sân thì gặp thái uý và châu mục, cụ dừng lại nói ngay:

- Bần tăng nghe như có sứ giả của triều đình ghé thăm chùa vì chuyện quốc sự, đã cho dọn sẵn một trai thất, xin mời chư vị cứ tuỳ tiện.

Nghe hoà thượng nói, Thái uý cảm như đứng trước mình là một bậc chân nhân đại giác. Ông cúi xuống xá hoà thượng và đáp lời:

- Để hoà thượng phải nhọc lòng, bản chức đây thật là đắc tội. Xin hoà thượng đại xá.

- Không nhiều lời! Không nhiều lời, hoà thượng nói và chỉ Thái uý lối vào trai phòng.

Thái uý và quan châu mục bước vào trà thất. Hương trầm thoang thoảng, bộ kỷ sạch bóng, màu gỗ gụ nâu ấm áp lại sẵn có bình trà ủ nóng. Cạnh kỷ là một giá bày đủ đồ văn phòng tứ bảo.

Một tiểu tăng ló vào chào:

- Bạch các quan, tiểu tôi xin được hầu trà. Vừa nói tiểu vừa rót trà mời hai quan khách. Mùi trà thơm như ẩn như hiện nơi thành chén.

Nhận chén nước còn bốc khói, Thái uý ra hiệu cho tiểu lui ra. Khi chỉ còn hai người, thái uý hỏi:

- Chẳng hay Hoàng châu mục có tin gì quan trọng, thử nói ta nghe.

- Dạ bẩm Thái uý, đêm qua biên quân đi tuần giang bắt được một tên lính của người man Tống, y có đưa bức thư dụ hàng. Tôi tự xét đây là một việc lớn mà mình chỉ là một biên quan, nên đem dâng Thái uý để ngài xem có dùng được vào việc gì.

Nói rồi, Hoàng Ân Vinh đặt lên mặt kỷ tờ giấy nhỏ bằng bàn tay. Ông cứ cố vuốt, xoa cho mặt giấy phẳng ra để thượng quan đọc được rõ.

Đỡ lấy tờ giấy, Thái uý đọc đi đọc lại tới ba lần. Mỗi lần đọc xong, gương mặt ông lại rạng rỡ hơn lên. Dường như ông tìm ra được điều gì tâm đắc đằng sau các nét chữ kia. Chợt ông hỏi:

- Hoàng châu mục đã có thư phúc đáp chưa?

- Dạ, hạ cấp chỉ là một chức quan nhỏ nên không dám tự tiện. Xin thái uý khu xử việc này.

- Vậy chớ tên lính người man Tống kia còn hay bộ hạ của ông đã giết rồi?

- Dạ bẩm Thái uý, châu mục tôi sai nhốt riêng, cho ăn uống tử tế, không đánh đập, tra khảo, chờ tôi về sẽ xét sau.

- Tốt lắm. Thái uý khen. Và ông hỏi thẳng: – Ta không nghi ngờ lòng trung của ông đối với triều đình, nhưng cho ta hỏi, có thế nào ông cứ nói thực ta nghe – Nếu như ông được toàn quyền thì việc này ông sẽ xử sự như thế nào?

- Bẩm Thái uý, khó quá, tôi nghĩ việc này có mưu sĩ người Tống đứng sau người man của họ. Chứ người man Tống làm gì có đầu óc xa rộng đến vậy. Từng phen giao tiếp với họ, tôi thấy họ còn trì độn hơn cả tôi kia. Còn như việc khu xử như thế nào, chắc Thái uý đã có diệu kế. Nhưng cứ như ngu ý của tôi thì ta nên tương kế tựu kế.

- Thế nào là tương kế tựu kế, ông nói thử ta nghe. – Thái uý hỏi.

- Dạ bẩm Thái uý, tôi từng nghe nói: nếu kẻ địch đã dùng nội gián, thì ta dùng kế phản gián.

- Hay lắm, châu mục nói trúng ý ta. Thái uý lật đi lật lại và đọc rất kỹ thư dụ hàng của Dương Trường Huệ. Rồi ông ghé tai nói nhỏ với châu mục Hoàng Ân Vinh. Lúc chia tay, thái uý lại nhắc: “Châu mục cứ yên tâm, ta sẽ cho người đến cùng ông lo liệu. Nhất nhất không có lệnh của ta, không được tự tiện”.

Thái uý không về châu lỵ mà ông về thẳng trung quân.

Lại nói Lý Công Uẩn sau khi đã trao việc lưu thủ kinh sư cho hoàng thái tử Lý Phật Mã, và sai tướng công Trần Cảo, hoàng thúc Vũ Đạo vương đồng giám quốc, nhà vua bèn lui vào hậu điện nghỉ ngơi.

Nhà vua đang nghĩ: “Lần này phải đánh cho giặc man Tống một đòn chí tử, để triệt bỏ tận gốc mưu đồ thôn tính nước Nam của Tống Chân tông”. Giữa lúc ấy ngoài tàu, con ngựa bạch nhà vua thường cưỡi cứ đập móng hí lên từng hồi dài. Viên giám mã tưởng nó bị đói, đem thóc, đem cỏ vào, nó không ăn, đem nước vào nó cũng không uống. Giám mã vừa bước ra khỏi chuồng, nó lại hí, lại đập móng ầm ầm.

Đây là một con ngựa quý nòi Hồ của một thương nhân nước ngoài, nhân chuyến ghé đội thương thuyền qua Nam Việt mua các thứ quế, hồi, hạt tiêu, trầm hương; khi vào yết kiến nhà vua, y đem dâng ngựa quý. Chẳng biết ngựa xích thố của Quan Vân Trường xưa đi mỗi ngày bao nhiêu dặm, chứ chú ngựa này chạy một mạch cả trăm dặm chưa cần nghỉ ngơi ăn uống gì. Từ khi được tặng ngựa quý, nhà vua hay đi tuần thú hoặc săn bắn. Ấy vậy mà bữa nay nó lại đốc chứng, cứ hí vang lên không ai dỗ dành được. “Hay nó có bệnh gì”. Viên giám mã nghĩ vậy rồi chạy vào nhà. Với vẻ hốt hoảng, hắn quỳ tâu:

- Muôn tâu thánh thượng, con tuấn mã thánh thượng thường cưỡi bỗng nhiên đốc chứng, cứ hí vang lên rồi gõ móng ầm ầm. Thần đã dỗ dành, nó vẫn không nghe. Xin bệ hạ cho vời thái y.

Vua Thuận Thiên đang nghĩ về việc đêm nay ngài sẽ đích thân lên biên thuỳ xem các tướng sĩ sắp vào trận đánh, mọi sự đã sẵn sàng chưa. Nghe viên giám mã tâu, nhà vua biết ngay con bạch mã này thuộc nòi linh mã, nên nó hiểu được cả ý nghĩ ta. Càng bước gần tới tàu ngựa, nhà vua càng nghe rõ tiếng ngựa hí, cả tiếng móng gõ xuống sàn “bịch bịch”.

Thấy nhà vua tới, nó không đập móng nữa, mà chỉ hí dài một hồi rồi im bặt. Vua lấy tay sờ vào mặt vào lưng nó. Con ngựa vừa lắc bờm vừa rên lên như là nó biết chủ muốn nói điều gì. Một lát, nhà vua ghé tai nó nói nhỏ: “Đêm nay ta sẽ cùng ngươi lên biên ải”.

Con ngựa hít tay nhà vua rồi lắc bờm, vẻ như nó hiểu điều nhà vua nói.

Lạ thay, từ lúc đó tới khi lên đường, nó không lồng lộn phá chuồng đòi ra, cũng không hí lên một tiếng nào nữa.

Nghiệm ra, không chỉ lần này mà còn nhiều lần khác, con bạch mã luôn báo trước cho nhà vua những điềm may rủi. Vì lẽ đó, nhà vua đặt cho nó cái tên: “Bạch long thần mã”.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 25.09.2018, 12:58
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5390 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XII

Trương Minh Tú nhận thư phúc đáp của Hoàng Ân Vinh, cũng gói ghém cẩn thận như khi y đem thư của Dương Trường Huệ sang vậy. Vào tới trung quân, Trương Minh Tú dâng thư và một bọc gói niêm phong kỹ càng.

Đọc thư, Dương Trường Huệ mừng lắm.

“Tướng quân biết đến gan ruột Hoàng Ân Vinh này. Ơn tri ngộ ấy biết lấy chi báo đáp. Tôi với tướng quân tuy không cùng quốc thổ, nhưng lại là người đồng tông. Bấy lâu nghe danh tướng quân, vẫn muốn sang đầu dưới trướng, ngặt vì chưa lập được chút công nào làm lễ ra mắt. Cơ may lại được tướng quân sai khiến, thật là trời giúp cho tôi được về với tướng quân. Nay xin gửi biếu tướng quân 100 nén vàng để làm lễ tương kiến, và xin gửi trước vợ con sang để làm tin. Tôi tuy thân sống bên An Nam mà từ lâu lòng đã để dưới trướng tướng quân. Xin tướng quân cứ vững lòng xuất chinh. Trận thắng này sẽ đưa tướng quân lên hàng vương bá. Tôi xin hẹn ám hiệu để quân ta tiến binh vào các nẻo đường không có quân phục.

Ban ngày cứ theo hiệu cờ đen, ban đêm theo ánh lửa. Nhưng chớ đi lầm vào các nơi có đốt lửa của quân triều đình. Lửa ám hiệu bao giờ cũng là ánh lửa đôi. Tức là hai ngọn lửa cách nhau khoảng một trăm bước chân.

Thư nói chẳng hết lời, chờ hội ngộ sau ngày đại thắng.

Châu mục châu Bình Lâm, Hoàng Ân Vinh cẩn bút”.




Dương Trường Huệ chợt ngửng đầu lên vẫn thấy Trương Minh Tú chắp tay đứng hầu.

Huệ đưa hai tay nhấc gói vàng nặng trĩu rồi xoa xoa vỗ vỗ, nửa muốn mở ra, nửa lại sợ đám cận thần nhìn thấy mà sinh lòng kia khác. Huệ nhét bức thư vào túi, cất gói vàng vào tráp rồi hỏi:

- Tử Minh, ngươi ra dẫn Hoàng phu nhân và các công tử vào đây cho ta hỏi chuyện.

- Bẩm chủ tướng, khi gần về tới đất ta, chẳng may chúng tôi bị lọt vào ổ phục kích. Chỉ có một mình tôi với người dẫn lộ, nên không dám mạo hiểm chống lại. Chắc Hoàng phu nhân và các công tử đã bỏ xác trong đám loạn quân, hoặc là bị bắt trở lại.

- Việc này ta ngờ lắm. Liệu đây có phải là kế phản gián của họ Hoàng?

- Bẩm chủ tướng, trước sau tôi vẫn thấy quan châu mục Hoàng Ân Vinh là người thực bụng, độ lượng. Còn việc vấp vào ổ phục kích thì làm sao mà tính hết được. Bởi ở vùng đất của Hoàng châu mục, ngoài quân biên trấn, còn có quân tuần thú vãng lai của triều đình. Hoàng Ân Vinh làm sao mà kiểm soát được quân triều đình. Nếu như Hoàng phu nhân cùng các công tử mà chết trong đám loạn quân chẳng nói làm gì. Điều đáng lo nhất là phu nhân và các công tử bị bắt, bị đòn tra phải khai ra thì Hoàng châu mục không tránh khỏi hoạ tru di.

- Ngươi nói có lý. Thương thay! Thương thay! Để ta cử người đi dò la. Nhưng ta cấm ngươi không được nói gì về việc có thư phúc đáp; mà phải nói chỉ được nhận thư miệng của Hoàng châu mục.

- Dạ, bẩm chủ tướng, tôi hiểu ý ngài.

Vậy là Dương Trường Huệ không còn điều gì nghi hoặc về Hoàng Ân Vinh nữa. Cho Trương Minh Tú lui. Ông ta đem cất giấu gói vàng nơi kín đáo nhưng trước khi giấu, ông ta còn mở ra kiểm đếm. Xong xuôi mọi việc, ông ta cho thỉnh Đoàn Kính Chí tới thương nghị. Được tin, Đoàn Kính Chí mừng lắm, vội vã lên kiệu đi liền.

Dương Trường Huệ ra tận cửa nghênh đón.

Mới đầu xuân, tiết trời còn rét ngọt, chủ nhân cho đốt lò sưởi, lại sai bày tiệc rượu. Rượu trong quân tự cất lấy, sai hâm nóng rót ra thơm lừng. Mấy ả hầu rượu non tơ dâng chuốc hai vị đầu lĩnh.

Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí là hai kẻ vô danh trong hàng hào phú, mới nổi chừng dăm bảy năm nay. Hai người ở hai bên Tả Giang và Hữu Giang, Huệ thuộc tộc Nùng, Chí thuộc tộc Thái. Hai bộ tộc man này đều là man Tống.

Mấy năm liền mất mùa, dân chúng đói khổ, triều đình chẳng thương tình tha giảm tô thuế lại còn tăng mức thu cao, rồi bắt lính, bắt xâu hết đợt này đến đợt khác.

Giữa lúc ấy Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí phất cao cờ nghĩa, chiêu tập nhân đinh, mua sắm lừa ngựa, khí giới lập thành quân cơ chống lại triều đình: không nộp tô thuế, không đi lính, đi xâu. Chúng dân sẵn lòng hờn oán, khác nào củi nỏ chỉ cần bén một tàn than. Thế là dân về tụ dưới cờ hai họ Dương, Đoàn đông như kiến.

Mấy viên huyện lệnh lúc đầu coi thường, tới khi đám dân man thế lực hùng hậu nổi lên cướp luôn cả mấy châu quận. Quan hiệp trấn Quảng Tây có đưa đại binh về, nhưng giặc lớn không dẹp được, bèn tâu về triều.

Triều đình bàn tính mãi, người nói phải dẹp ngay, chớ để nuôi mầm loạn. Người lại nói tình thế chưa dẹp được nên chiêu vỗ.

Tống Chân tông không biết nên quyết thế nào cho phải. Lòng ông đang rối bời. Phía bắc thì quân Khiết Đan đang làm mưa làm gió. Chúng đã đoạt mất thành U Châu, Kế Châu. Triều đình cử hai hùng tướng là Tào Bân, Phạm Mỹ đi giải cứu cho hai thành U – Kế. Ngờ đâu hai tướng bị Khiết Đan hãm vào đánh cho đại bại ở cửa ải Kỳ Cấu. Nay lại đến chuyện bọn Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí làm phản ở phía nam. Cử tướng đi thì dễ, nhưng liệu có tránh được cái hoạ Kỳ Cấu không.

Chân tông thật sự lo lắng, nhà vua gạn hỏi quan tri khu mật viện:

- Vương Đán có kế gì nói thử ta nghe.

Thấy vua hỏi, Vương Đán biết phận mình là đại thần mà phải để vua lo, tức là mình chưa làm tròn trách phận kẻ làm tôi. Song Vương Đán còn biết nhà vua nhu nhược, có dâng kế nọ sách kia thì ngài cũng chẳng nghe.

Vương Đán nhớ cách đây không lâu, quan Tư không môn hạ thị lang, đồng bình chương sự Vương Khâm Nhược nói là có sách trời (Thiên thư) xuất hiện, phải làm lễ tế trời ở núi Thái Sơn. Vương Đán can vua không nên nghe theo lời nói nhảm mà khuyến khích cái tệ dị đoan.

Vua sợ Vương Đán cản trở việc này nên gọi vào cung cho ăn tiệc, lại ban cho hũ rượu bổ. Đán về nhà mở ra xem thì thấy toàn ngọc quý. Đán biết vua muốn tế trời để nhận Thiên thư như nhời thiên hạ đồn thổi, nên không dám can nữa.

Bây giờ vua hỏi, biết nói điều gì đây. Mà nói thì chắc gì vua đã nghe. Nhà vua chỉ thích sự yên ổn, và mọi lề thói cứ theo như đời xưa các tiên đế đã làm mà toa rập làm theo. Tuy vậy lại không thể không nói. Vương Đán liền bước ra khỏi ban, tâu:

- Thiên tử thế thiên hành đạo. Kẻ nào xâm phạm kỷ cương, lễ luật là có ý làm đảo lộn cương thường, phải đánh dẹp ngay để giữ nghiêm phép nước. Theo thiển ý của thần, nhà vua nên gửi thêm quân cho quan hiệp trấn Quảng Tây, rồi mở một trận đánh khốc liệt, bắt kẻ kia về trị tội, làm gương cho những kẻ nào manh tâm tạo phản.

Quả là nghe đến chuyện “đánh dẹp” nhà vua đã thấy nản. Bởi mọi cuộc đánh dẹp của triều đình đều thủ bại.

Lòng vẫn phân vân, vua Chân tông bèn trỏ vào tể tướng Vương Khâm Nhược, hỏi:

- Khanh có kế gì giúp trẫm yên được mặt nam?

Vương Khâm Nhược xốc lại cổ áo, nắn lại chiếc mũ đội đầu, chải vuốt chòm râu rồi bước ra khỏi ban, tâu:

- Để thánh thượng phải lo toan thái quá, lỗi ở chúng thần. Nay xin có một kế mọn dâng, mong thiên tử cứu xét – Trước hết phải nói đám man dân này chưa được nhuần thấm ơn mưa móc. Nay chúng khởi binh làm loạn, chẳng qua cũng như lũ giặc cỏ đi cướp bóc kiếm ăn. Triều đình dẹp lúc nào xong lúc đó. Nhưng thần thiển nghĩ không nên đánh dẹp, mà hãy khích lệ chúng đánh chiếm An Nam. Được đất An Nam, triều đình sẽ cắt thêm đất phong cho. Tức là cho lập quốc và ban ấp phong hầu.

Đám dân man này ham quyền chức, ham tiền bạc, chúng sẽ lao vào quấy nhiễu An Nam. Nếu như nó gặm nhấm được đất ấy, thì triều đình cứ cắt đất phong hầu cho nó. Mặc nhiên người An Nam phải lo đối phó với nó, không thể nhòm ngó đất ta. Thiên tử rảnh tay, trừng trị giặc Khiết Đan trên mạn bắc. Chẳng hay ý bệ hạ thế nào?

Vương Khâm Nhược có vẻ hài lòng về kế sách của mình lắm. Ông ta tự tưởng thưởng bằng một nụ cười mỉm, rồi nói tiếp – Bệ hạ dùng kế này, là bắn một mũi tên trúng ba đích như thần đã nói, chứ không phải hai đích như xưa nay dân gian vẫn ao ước.

Chân tông dùng kế của tể tướng Vương Khâm Nhược, liền sai sứ đến vỗ về cho hai nhà Dương – Đoàn, lại cấp thêm lương thảo, khí giới, lừa ngựa qua hiệp trấn Quảng Tây và Tổng quản thành Ung Châu.

Rượu được một tuần, Dương Trường Huệ mở lời:

- Túc hạ có biết tôi mời túc hạ đến thương nghị về việc gì không?

- Ta chắc ông có thư phúc đáp của Hoàng Ân Vinh.

- Đúng vậy, ta mời túc hạ chính vì việc đó. Hoàng Ân Vinh rất mong được về dưới trướng của ta và túc hạ. Nhất là ông ta đã nhận làm nội ứng dẫn đường cho quân ta đánh chiếm đất đai, tiêu diệt quân triều đình An Nam.

- Việc ấy có gì làm bằng cớ?

Dương Trường Huệ bèn cất tiếng gọi:

- Tử Minh! Quân bay truyền lệnh ta đòi Tử Minh vào hầu.

Một lát, Trương Minh Tú đã có mặt.

- Bẩm chủ tướng, Tử Minh tôi đang chờ ngài sai khiến.

- Nhân có Đoàn tướng quân qua đây bàn đại sự, ngươi đã đến gặp châu mục Hoàng Ân Vinh, có thế nào thuật lại cho tướng quân cùng nghe. Đây là việc hệ trọng có quan hệ đến sự mất còn, ta cấm ngươi không được tự ý thêm bớt.

Đã được chủ tướng căn dặn cần phải nói những điều gì, vì thế Tử Minh nói rất trôi chảy. Chỗ nào ngờ ngợ Đoàn Kính Chí hỏi lại, đôi khi cả Dương Trường Huệ cũng đặt câu hỏi xen vào nhằm gỡ bí cho Tử Minh, khiến Tử Minh ứng đối thật là lưu loát.

Khi chỉ còn lại hai người, Dương Trường Huệ gạn hỏi:

- Vậy chớ theo túc hạ, quân ta đã tiến binh được chưa?

Đoàn Kính Chí trầm ngâm giây lâu, đáp:

- Tôi có cảm nhận như công việc của chúng ta đang làm, được trời giúp.

- Sao lại nói trời giúp, chúng ta nằm gai nếm mật, lại bỏ gần hết sản nghiệp ra gây dựng, nên anh hùng hào kiệt mới quy dưới trướng. Nay thanh thế lừng lẫy, lại đổ cho trời. Sao trời không giúp kẻ khác?

- Tướng quân cứ ngẫm lại mà xem, từ khi ta cất quân tới giờ, nhất hô bá ứng, trăm họ theo về, thế như chẻ tre. Bọn quan quân triều đình từ châu, quận đến trấn, lộ đều kiêng nể. Nay lại được triều đình hậu thuẫn việc Nam chinh, sắp xuất binh thì có người nội ứng. Rõ ràng là THIÊN-ĐỊA-NHÂN ứng hợp. Cả thần, người đều giúp. Như vậy chẳng phải là trời giúp, chẳng phải là mệnh trời sao?

Nghe lời nói lọt tai, Dương Trường Huệ gật gù đắc ý:

- Đoàn tướng quân quả là sáng suốt. Nếu tướng quân không chỉ ra chỗ vi diệu đó, hẳn là tôi không nhận rõ được mệnh trời. Vậy tới bao giờ ta mới tiến quân để tuân phục thiên mệnh.

- Trước khi tiến binh, ta nên bàn sau này nên thế nào. Ấy là tôi muốn nói việc tôi với tướng quân chiếm cứ hai vùng Tả Giang, Hữu Giang nay mai lại thôn tính thêm các châu quận của An Nam, thì việc lập quốc nên như thế nào. Ai sẽ lĩnh ấn phong hầu của thiên tử? Tôi hay tướng quân?

Nghe Đoàn Kính Chí hỏi, Dương Trường Huệ cảm thấy nóng nóng phía vành tai. Huệ tự nghĩ: “Trước khi chiếm đất, đoạt thành, y đã có lòng kia khác. Nếu y không nể mặt ta thì cũng phải biết rằng, không có ta ứng hợp, một mình y sao đủ sức vẫy vùng. Thật ra ta mới xứng chức đại vương, còn y nhận chức giả vương cũng đã là quá lắm. Con sói tham lam này không trừ khử, ắt khó cho nghiệp lớn của ta. Ngặt vì bây giờ ta lại đang rất cần y. Đối với kẻ tham, không gì bằng lấy lợi ra để nhử”. Tự xem mình đã đi nước cờ cao, Dương Trường Huệ bèn lên tiếng:

- Tôi với túc hạ tình là lân bang, nghĩa là bầu bạn. Nhưng mọi việc phải công bằng. Tính ra đường đất từ ta sang đánh An Nam, túc hạ phải đi xa hơn tôi. Thế tất túc hạ vất vả hơn tôi. Vì vậy số của cải lấy được của An Nam, bất luận cái gì đều chia làm năm phần, túc hạ ba phần, tôi hai phần.

Đoàn Kính Chí gật gù, thầm nghĩ: “Phải, y nghĩ thế là phải, nhưng còn phải tính binh ta mạnh hơn binh hắn, quân ta đánh giỏi hơn quân hắn”.

- Còn như ấn phong hầu thuộc về ai, – Dương Trường Huệ nói tiếp. – Thuộc về cả hai chúng ta, tôi nghĩ vậy.

- Sao lại thế? – Đoàn Kính Chí vặn lại, ấn chỉ có một mà người có hai, phải bàn dứt khoát xem ai được giữ ấn.

Dương Trường Huệ tự thấy không thể nhường y, lại càng không thể tranh với y trong lúc này. Bởi sự thật thì đã có ấn tín gì đâu. Mà chủ tâm của ta trước sau phải trừ khử y, hai hổ không thể sống chung một chuồng. Nghĩ vậy, Huệ lại nói:

- Túc hạ nói chí phải. Chúng ta ngang tài, cân sức, không ai có thể ngồi trên ai được. Vì vậy, đánh dẹp xong ít châu quận miền biên viễn của An Nam, thế lực của chúng ta lớn lắm. Ta xin thiên tử phong hầu, ban ấn cho cả hai người. Nếu triều đình dùng dằng bức bách ta, thì chúng ta sẽ tiến binh vào trung nguyên, làm thế ỷ dốc cho Khiết Đan rồi cùng tiến đánh Biện Kinh. Sự thật, ta chỉ cần doạ như thế, thiên tử cũng đã phải nghe theo mà cắt đất, ban ấn, phong hầu cho chúng ta. Ta lại nói rõ cái nhẽ lợi hại có chúng ta làm phên giậu che chắn mặt nam, thiên tử càng yên bụng tin ta. Như thế ấn chẳng thuộc về cả hai chúng ta, còn thuộc về ai nữa. Vả lại, có ban cho chúng ta, thiên tử cũng chẳng mất gì. Nói xong, Huệ vỗ đùi cả cười.

Đoàn Kính Chí cũng lấy làm đẹp ý cười theo. Hai viên tướng lấy làm thoả mãn vì đã thoả thuận xong việc chia chiến quả cùng ngôi thứ. Hai người cùng cười ha hả mãi không thôi.

Rồi hai người hợp bàn kế tiến binh. Suốt một ngày tranh cãi, cuối cùng hai viên thủ lĩnh đều kết ngày Mậu Ngọ, giờ ngọ tháng dần năm Giáp Dần[60] cả hai đường thuỷ bộ đều tiến. Mỗi đầu lĩnh sẽ xuất năm vạn tinh binh, năm vạn dân binh, hai vạn năm ngàn lừa ngựa, thuyền bè, chiến cụ, lương thảo đầy đủ. Riêng lương thảo chỉ đem đủ dùng trong mười lăm ngày. Vậy là hai đầu lĩnh đều đã quyết tâm tử chiến với quân Nam.

Lại nói vua Thuận Thiên rời khỏi Thăng Long vào đầu giờ hợi. Nhà vua chỉ đem theo một đô tùy long cùng vài viên đại tướng. Con Bạch long thần mã vừa được dắt ra khỏi tàu ngựa, chưa kịp đóng yên cương, nó đã đứng dựng hai chân lên như muốn bay vào không trung, rồi hí một hồi dài vang dội. Vua không dùng nghi vệ đế vương mà đóng giả như lính tuần thám. Tức là đội mũ phiêu kỵ, mặc áo chẽn tay, giáp hộ tâm, gươm bên sườn, giáo cầm tay. Đoàn người ngựa đi xuyên rừng lội suối suốt hai ngày đêm thì tới trung quân của thái uý Lý Trưng Hiền. Thái uý lúng túng:

- Thần chưa kịp làm lễ cung nghinh, xin bệ hạ tha tội.

- Đây là chốn quân doanh chứ không phải nơi triều hội. Ta miễn lễ. Cứ tuỳ nghi làm việc, không được để lộ hình tích ta, kẻo kẻ địch dò biết được thì hỏng kế của ta. Vua nói, và ngài hỏi tiếp:

- Thái uý nói thử diệu kế phá giặc ta nghe.

Thái uý mở bản lược đồ hành binh và kế sách phá giặc ra trình vua.

Nghe Thái uý tâu trình, vua lấy làm đẹp lòng, lại hỏi:

- Có phải Thái uý định lùa gọn hai mươi vạn giặc vào khu vực này rồi dìm chết chúng ở bến Kim Hoa? Nhà vua vừa nói vừa lấy bút son khuyên vào các địa danh trên đồ bản.

- Trình bệ hạ, đúng như thế đấy ạ, Thái uý nói và cảm như nhà vua đã hiểu hết gan ruột mình.

- Thái uý cùng chư tướng nghe ta dặn mấy điều. Giặc tràn sang ta, binh đông như kiến. Chúng tiến cả hai đường thuỷ bộ. Cho nên mọi sự mọi việc phải hết sức cẩn trọng. Phải coi địch thủ của ta là mạnh và giảo quyệt. Nên nhớ rằng đằng sau hai viên tướng man kia, là cả triều đình nhà Tống giấu mặt. Thử hỏi, không có lương thảo, khí giới của thành Ung Châu phát ra, không có lừa ngựa cùng sự thanh viện của hiệp trấn Quảng Tây, quân kia sao dám xuất binh ra khỏi cõi? Bởi thế, trong quân doanh của man Tống không thiếu gì mưu sĩ Tống. Quân ta đánh giặc lần này, danh là quân man Tống, còn thực là quân Tống trá hình. Vì vậy các tướng phải cùng binh sĩ hết lòng giết giặc, quyết không cho một tên nào chạy thoát trở về. Ta phải đánh, sao cho từ binh sĩ, quan tướng, lừa ngựa cho đến cả tể tướng Vương Khâm Nhược cùng Tống Chân tông, mỗi khi nghĩ đến mảnh đất phương nam này đều rùng mình sởn gáy. Ta đích thân cùng tướng sĩ chia sẻ nỗi khó nhọc nguy nan trong chiến trận, dù da ngựa bọc thây cũng cam lòng. Kẻ nào chùn bước, thối chí chính là kẻ thù của ta, kẻ thù của đất nước. Ai có công thì từ sĩ tốt đến tướng lĩnh đều được ban khen xứng đáng, tên tuổi được ghi trong sử sách, lưu truyền con cháu muôn đời.

Trước giờ lâm trận, lời nhà vua nói thiêng liêng như lời non nước, các tướng đều khắc cốt ghi tâm để truyền lại cho binh sĩ dưới quyền.

Thái uý cúi đầu:

- Thần xin lĩnh mệnh.

Nhà vua bèn trao cho Thái uý một lá cờ tiết, một thanh gươm báu và dặn:

- Ta trao toàn quyền chỉ huy việc phá giặc cho Thái uý, trong lúc cấp bách cứ tự tiện điều hành không phải hỏi lại ta, kể cả việc giữ nghiêm quân mệnh, kẻ nào có tội cứ chém trước tâu sau.

Thái uý đỡ lấy cờ, kiếm rồi lạy nhà vua hai lạy.

Vua lui về biệt doanh, ở đây không có cờ quạt, tàn lọng, không có ca sang nhã nhạc.

Lý Công Uẩn bước đi đầu hơi cúi. Ông đi dưới ngàn sao trong đêm và nhớ lại cách đây năm năm, ngày mới lên ngôi, một bữa trở lại gia hương làm lễ bái tạ tổ tông và thần, Phật trong làng rồi đêm đến ông đã đi như kẻ mộng du tới chùa Tiêu Sơn để gặp thiền sư Vạn Hạnh. Cái chính là để nghe thầy răn dạy. “Đạo làm vua phải lấy nước làm trọng. Nước phải lấy dân làm trọng. Vì không có dân chẳng những không có nước còn kể gì đến vua”. Điều thầy dạy ta không bao giờ dám nguôi quên. Ta được quần thần và trăm họ tin cẩn, trong năm năm qua chưa bao giờ ta dám ngủ trọn đêm, chưa bao giờ dám nghĩ đến sự thụ hưởng phú quý mà phải lo trả cái ơn tri ngộ cho muôn dân. Lê Ngọa triều để lại cho ta một đất nước nghèo xác với cả triệu dân đói khát lang thang. Quan lại thì tham nhũng và ác độc như hùm sói. Dân chúng điêu linh. Ta đã ráng sức mà mười phần công việc chưa chắc đã được một hai.

Giận vì không làm được nhiều hơn nữa cho nước, cho dân. Ta đã cấp ruộng, đã khuyến nông, lại tha tô thuế ba năm liền, và xoá hết các khoản tô thuế mà dân còn nợ đọng, để người dân có thể ngóc đầu lên được. May, lại mấy năm liền trời cho được mùa, dân đã có bát ăn bát để, trong đất nước ta hiện không có một người nào chết vì đói cơm khát cháo. Các chùa chiền được tu bổ hoặc mới tạo dựng trong hương ấp ngày một nhiều.

Thấy ta cho dựng chùa, đúc chuông, tạc tượng, cấp độ điệp cho dân chúng xuất gia, nhiều kẻ đã bài xích ta làm hao tổn của kho, dung túng cho những đứa lười nhác việc nông, trốn tránh sưu dịch. Đành rằng đã bày vẽ ra làm bất cứ việc gì cũng đều phải tốn kém. Nhưng cả một hương ấp, mấy trăm con người, lại không dựng nổi một ngôi chùa tranh, vách đất ư? Bất quá mỗi nhà chỉ góp một vài cây tre với vài ba ngày làm công quả, là có nơi để tâm linh đi về trú ngụ. Có nơi để dân làng bàn bạc việc công.

Họ đâu biết ta làm như vậy, là nhằm dựng xây sự trường cửu cho quốc gia, dân tộc. Bởi chùa không chỉ là nơi dìu dắt đạo lý, tâm linh cho bách tính, mà còn là trường học, là nơi khai trí, rèn đức cho trẻ nhỏ; biết đâu nhân tài chẳng từ cửa đó mà ra. Cứ suy như ta, nếu không có cửa Phật cùng các bậc thiền sư lỗi lạc dìu dắt, thì lúc bé chỉ là một đứa trẻ chăn trâu, lớn lên bất quá trở thành một tên điền tốt chứ biết gì đến việc đời, việc nước.

Các người bài xích ta đâu có biết dân chúng đang mê muội tin theo bọn đồng cốt. Họ đâu có biết bọn phù thuỷ lừa mị dân chúng, mù quáng thờ phụng bất cứ một cái gì mà chúng bảo là thần linh. Thôi thì đủ thứ từ gốc đa, gốc gạo đến viên đá bên đường; từ dâm thần, tà thần, đến ác thần… thứ gì chúng cũng đem ra hù doạ người dân thất học ngu ngơ.

Một đằng cứ để cho bọn phù thủy, bọn đồng cốt quàng xiên ấy dắt dẫn dân chúng đi vào đường quanh ngõ cụt, tốn của hại người, một đằng theo về giáo lý Phật, tu tâm dưỡng tính, khai mở trí tuệ, thiện hoá bách tính, đằng nào lợi hơn cho dân, cho nước?

Nếu đương thời vì mù quáng không hiểu ta, hậu thế vì cố chấp không hiểu ta, do đấy lịch sử coi ta như một kẻ mê muội cuồng si Phật pháp, thì kệ thây cái thứ lịch sử mù loà ấy. Điều ta cần thấy nhỡn tiền là phải làm cho dân sinh được no ấm, dân trí được khai mở, dân tâm được yên định, xã hội được thái bình, cái thiện được ở ngôi. Ôi, nếu làm được điều đó, thì ta dẫu chết cũng không có gì phải ân hận.

Còn như kẻ lười nhác trốn tránh việc nhà, việc đời thì thời nào chẳng có. Hãy xem dưới thời Lê Long Đĩnh, triều đình không cấp độ điệp cho những người có chí hướng xuất gia, cũng không khuyến khích việc tạo dựng chùa chiền, thế nhưng người lười nhác, người lang thang cơ nhỡ vẫn đầy đường chật quán. Mà tháng ba, tháng tám người chết đói nhan nhản khắp chợ, cùng quê. Bất hạnh thay, người lười nhác nhất nước, tàn bạo nhất nước, phá hoại nhất nước lại chính là đức vua – đó là Ngọa triều Lê Long Đĩnh. Sao ngày đó, ta không thấy ai kêu ca gì hết. Hay nó đã là một đại hoạ tràn lan khắp nước rồi, nó nhiều quá rồi, người ta không còn kêu vào đâu được. Còn ngày nay, vì nó ít quá, nên ai cũng nhìn thấy, bởi thế họ mới kêu ca.

Nhà vua đang triền miên suy tưởng, bỗng nghe thấy ầm ào như tiếng thác reo từ xa vọng lại. Đêm tịch mịch, tiếng động mỗi lúc một rõ hơn, mạnh hơn, gần hơn. Vua đang căng tai nghe động tĩnh, chợt có ngựa lưu tinh đem tín bài về dâng. Đọc xong mấy chữ “TẶC ĐÁO BIÊN THUỲ”[61] trên tín bài, nhà vua “hừm” một tiếng, gương mặt ngài trở nên rạng rỡ. Đoạn ngài nói như một tiếng reo vui:

- Ôi Tống Chân tông!


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 25.09.2018, 12:59
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5390 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XIII

Sau khi cho quân đi do thám biết vợ con Hoàng Ân Vinh nhân đêm tối đã trốn thoát, việc không bại lộ, Dương Trường Huệ bèn gửi mật thư cho Ân Vinh hẹn ngày giờ tiến binh. Ân Vinh phúc đáp:

“Tôi đã nhận được thư hẹn ngày tiến binh của tướng quân. Các ám hiệu xin cứ theo như cũ. Tôi nóng lòng chờ đợi tướng quân cùng đại binh để sớm thoát khỏi cảnh cá nằm trên thớt này”.

Đúng như hai viên đầu lĩnh đã hoạch định, giờ Ngọ, ngày Mậu Ngọ, tại trung quân làm lễ tế cờ rồi hai đường thuỷ bộ cùng nhằm hướng nam thẳng tiến. Hai mươi vạn quân đi ào ào như bão ngàn thác đổ. Quân đi tới đâu cây cỏ nát tươm, trơ trụi.

Khi vào tới đất An Nam, tướng tiên phong Quách Thịnh, Hoàng Bào dẫn ba trăm kỵ binh, nỏ cứng, giáo dài đi trước thăm dò, cứ theo đường có ám hiệu khói lửa như đã hẹn, quả nhiên không có quân phục.

Các tướng Chu Thiên Tước, Đinh Nhược Thảo dẫn một đội khinh thuyền đi trước thăm dò. Suốt một dải dài mấy chục dặm ven bờ, cờ đen cắm thưa thoáng, tinh ý lắm mới nhận ra. Cũng như tín hiệu lửa, tín hiệu cờ dẫn đại quân vào đường không có quân An Nam phục. Thế là năm ngày sau, hai mươi vạn quân binh, dân binh cùng hơn năm vạn lừa ngựa, hàng ngàn cỗ xe, hàng ngàn chiến thuyền, hàng chục vạn hộc lương cứ ùn ùn kéo vào đất Bình Lâm, Quảng Nguyên. Cờ xí rợp trời, ngựa xe chật đất. Quân tới bến Vạn Hoa thì dừng lại lập doanh trại với bốn đạo quân án ngữ bốn hướng đông, tây, nam, bắc cùng với đại trại ở trung quân là năm trại, nên gọi “Trại Ngũ hoa”. Quân đi như đi vào chỗ không người, lòng quân sinh kiêu. Suốt ngày đêm ca hát, tiệc tùng.

Tại đại trại lập hai trướng hổ cho Dương Trường Huệ và Đoàn Kính Chí. Không ra mặt, nhưng ngày ngày Hoàng Ân Vinh đều cho người lén đem các đồ sơn hào hải vị, cùng châu báu vàng bạc đến dâng tại trại giặc kèm những lời tâng bốc hai viên đầu lĩnh, như là hai bậc đệ nhất anh hùng của cả vương triều Tống.

Dương Trường Huệ cứ đọc đi đọc lại mãi cái đoạn Hoàng Ân Vinh viết: “… Ngọn cờ của nhị vị tướng quân trỏ về phương Nam, phương Nam tan tác. Quân triều đình chạy một mạch về đến Thăng Long, chắc chửa hoàn hồn. Hai tướng quân không việc gì phải nhọc lòng đánh dẹp làm gì. Thiết nghĩ, nhị vị cứ kê gối cao nằm khểnh hưởng cho thoả thuê của ngon vật lạ và khí hậu ấm áp phương Nam. Tôi chắc rằng chỉ nửa tuần trăng, Lý Công Uẩn phải tự trói mình đến nộp mạng và dâng nước cho nhị vị. Khi An Nam đã lọt vào tay nhị vị rồi, thì nhị vị đòi gì thiên tử chẳng nghe theo. Tôi được biết, hiện nay mặt bắc, quân Khiết Đan đang thắng lớn…

Thư nói chẳng hết nhời. Hẹn ngày hội ngộ tại Thăng Long.”

Thư và quà biếu tặng hàng ngày của Hoàng Ân Vinh, khiến hai tướng man Tống có cảm giác như họ đang dẫn đại binh tới một miền đất trù phú để tĩnh dưỡng.

Vì thế trong quân suốt ngày chè chén phè phỡn. Lính uống say rồi lùng sục vào các thôn bản lục soát của cải, tìm kiếm con gái, đàn bà. Trung quân thì hết đại tiệc này đến đại tiệc khác, hầu non, gái đẹp vây bủa từng đàn. Suốt ngày đêm, nơi trướng hổ vang lên lời ca tiếng nhạc. Suốt ngày đêm, các đầu lĩnh say sưa hành lạc.

Thấy các chủ tướng không nghĩ gì đến việc đánh dẹp, các bộ tướng liền can: – Ta đem đại quân vào đất giặc, cốt đánh tan quân nó, bắt sống vua nó, chiếm đất đoạt thành, cớ sao chủ tướng đóng quân lâu vậy, sợ trong quân sinh lòng trễ nải.

Dương Trường Huệ đã ngà ngà say lại đang ôm một mĩ nữ ở trong lòng, thấy có kẻ muốn phá cuộc chơi, bực lắm, Huệ quát:

- Mày là thằng nào mà dám lên mặt dạy tao?

- Bẩm tướng quân, tôi là Quách Thịnh, xin chủ tướng lấy việc quân làm trọng.

- Kẻ kia không phải dạy ta. Ta đem đại binh qua đây, lũ chuột nhắt An Nam run sợ vỡ mật ra chết cả rồi. Quân ta không mất một mũi tên mà thâu gọn mấy châu quận. Nay mai vua nó sẽ trói mình đến hàng dưới trướng. Cớ sao ngươi lại xui ta làm nhọc sức quân, phá vỡ cuộc vui của ta?

Thấy chủ tướng khinh địch, Chu Thiên Tước vội can:

- Sao chủ tướng không nghĩ đây là một “kế không thành” mà bên địch đang lừa ta. Binh pháp đã dạy: “Lấy hư làm thực, lấy thực làm hư, hư hư thực thực khiến kẻ địch không biết đâu là thực là hư”. Thần nghĩ rằng ta đang ở giữa vòng vây, xin chủ tướng nghĩ lại.

Dương Trường Huệ được ăn uống các đồ kích dục, lại có hầu non cặp kè, lòng dục bốc lên che lấp cả sự sáng suốt nên rút gươm quát:

- Ta cấm các ông không được nói việc tiến binh, khi không có lệnh ta không được tự tiện vào trướng hổ. Đi ngay!

Các tướng quay ra.

Tại trướng của Đoàn Kính Chí sự việc diễn ra cũng không hơn gì. Các tướng can mãi không được cũng nản lòng, mặc cho quân lính trốn đi tìm rượu, tìm gái xa quân doanh hàng chục dặm.

Thấm thoắt quân nằm tại trại đã quá mười ngày, kho lương kho cỏ cứ vợi dần mà không có nguồn tiếp tế, viên quan quản xuất quân lương vào bẩm hai chủ tướng:

- Lương, cỏ trong kho chỉ còn được non bốn ngày nữa, xin chủ tướng liệu định.

Đúng lúc ấy lại có thư của châu mục Hoàng Ân Vinh đưa đến:

“… Hoàng Ân Vinh tôi cúi đầu bái lạy, và xin cấp báo lên nhị vị tướng quân một tin vui. Nội trong năm ngày nữa, quốc chủ tôi sẽ có đủ lương, cỏ đưa tiến tận doanh trạm của đại nhân, xin đại nhân cử người tiếp nhận. Và đúng 10 ngày nữa kể từ hôm nay, quốc chủ tôi xin nộp ấn kiếm và xin rước nhị vị vào Thăng Long…”

Đọc xong, Dương Trường Huệ cả cười rồi ném tờ thư vào mặt tướng coi lương:

- Các ngươi chỉ là đám võ phu. Ta cất quân nhân nghĩa không cần dẹp, kẻ địch khắc tan. Nay mai ta vào Thăng Long nữa, thì đến thiên tử cũng phải sợ oai ta. Lũ các người thật có mắt mà như đui.

Dương Trường Huệ lập cập chạy sang trướng của Đoàn Kính Chí báo tin vui.

Đoàn Kính Chí tỏ vẻ nghi ngờ:

- Túc hạ ạ, sao mãi không thấy Hoàng Ân Vinh ra mắt khiến tại hạ đâm ngờ. Có thể bọn ta mắc vào quỷ kế thì sao. Vài ngày nữa lương thảo hết, lòng quân chắc sinh biến. Tại hạ đã cho quân đi thám thính suốt ba chục dặm quanh vùng, tịnh không kiếm nổi một đấu lương thực. Nhà cửa của dân man thì trơ trụi, súc vật không còn gì. Dân không có một mống nào. Tại hạ nghi An Nam dùng kế thanh dã[62]. Xin túc hạ sớm liệu đi kẻo nguy đến nơi rồi.

Đúng lúc hai tướng đang lo bị trúng kế, lo về quân lương thì Hoàng Ân Vinh cho chở lương đến ùn ùn tới cả trăm xe. Lại dâng các đồ sơn hào hải vị cùng vàng bạc châu báu nhiều vô kể. Thư Hoàng Ân Vinh còn nói rõ: “Quốc chủ tôi sợ đại quân đi lâu ngày, lương thảo có hạn nên đưa đến sớm hơn thư hẹn. Chiều nay tạm giao hai trăm xe. Thuyền lương đang gấp rút chở từ Thăng Long lên, cặp bến lúc nào, chúng tôi sai vận chuyển tới ngay lúc đó. Nếu thuận gió, đêm nay sẽ nộp thêm một ngàn xe lương, xin hai vị tướng quân cho dọn kho để thu nạp. Ngày mai vào đầu giờ tý, tôi xin được diện kiến để xin thể thức đầu hàng cho quốc chủ tôi”.

Thấy vậy, cả hai vị đầu lĩnh đều giải toả được mối lo. Vì vậy các cuộc vui không gì ngăn cản được.

Lại nói về phía quân Nam. Vua Thuận Thiên hằng ngày theo sát mọi diễn biến bên trại giặc và việc bài binh bố trận của thái uý Lý Trưng Hiền cùng chư tướng.

Về phía giặc, có ba điều thủ bại khiến nhà vua yên tâm:

Một là tướng giặc tuy có nghi nhưng vẫn tin vào kế trá hàng của Hoàng Ân Vinh.

Hai là lương thảo của giặc sắp cạn kiệt mà không có nguồn tiếp tế cùng quân tiếp viện.

Ba là giặc chờ quân ta đến hàng chứ không triển khai thế trận.

Về phía quân ta cũng có ba điều khiến nhà vua tin là chắc thắng.

Một là binh sĩ, vua tôi một lòng thề quét sạch giặc ngoại xâm.

Hai là quân tinh, tướng dũng đồng cam cộng khổ.

Ba là thế trận đã bày xong mà quân thù không hay biết một tí gì.

Đêm ấy, đứng giờ tý, Hoàng Ân Vinh cho ngựa lưu tinh đem hoả bài cấp báo đến trướng hổ của Dương Trường Huệ, xin nộp kho một ngàn xe lương.

Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí bước ra khỏi trướng nhìn bầu trời phía đông rực sáng, tiếng người tiếng ngựa ầm ào liền hỏi kẻ báo tin:

- Quân kia nói ta nghe, sao nộp lương lại đốt lửa sáng rực trời, ta còn thấy cả tiếng ngựa, tiếng quân là cớ làm sao?

Người cầm hoả bài quỳ xuống tâu:

- Bẩm đại vương, hàng ngàn xe lương đi trong đêm mà không có đèn đuốc thì đi làm sao được. Vả lại không đốt đèn, đốt đuốc binh tướng của đại vương đi tuần, ngờ là quân gian xông vào đánh giết thì làm thế nào. Còn có tiếng ngựa, là ngựa kéo xe lương. Hàng nghìn xe lương phải có hàng vạn quân tải lương, sao ngăn nổi tiếng ồn. Nếu đại vương không cho nhập, tôi sẽ về bẩm chủ tướng cho xe lương quay lại.

Được tôn vinh làm đại vương, lại nghe biện bác có lý có tình, hai vị đầu lĩnh hài lòng lắm. Đoàn Kính Chí liền phán:

- Cho ngươi lui. Nói chủ ngươi chở gấp lương thực nộp kho đại vương đêm nay, không được chậm trễ nghe!

Xong, Kính Chí quay nói với Trường Huệ:

- Có nhẽ khi xe lương đến cứ một xe đổ kho của túc hạ, một xe đổ kho của tại hạ.

Dương Trường Huệ cả cười:

- Túc hạ phân minh quá, tại hạ xin chấp thuận.

Lại quay ra nói với người của Hoàng Ân Vinh.

- Tướng kia về nói với chủ ngươi, xe lương vào đến ngã ba bến Kim Hoa thì rẽ làm hai. Cứ một xe sang tả, một xe sang hữu đi thẳng vào kho mà đổ lương, không được làm kinh động đến núi rừng và giấc ngủ của quân ta. Nghe chưa?

Tướng Nam giật mình tỏ vẻ sợ hãi, cúi đầu vái lạy:

- Bẩm đại vương cho lui để tôi về trình chủ tướng.

Nói xong viên tướng trẻ nhảy lên mình ngựa ra roi. Hai vị đầu lĩnh chia tay chui vào trướng hổ ngủ vùi. Đầu giờ tý, quân Nam đẩy một ngàn xe cỏ khô lèn chặt, chạy như bay vào hai kho lương của hai vị đầu lĩnh người man Tống. Cùng một lúc phóng hoả đốt cháy rụi hai kho lương lớn nằm giữa khu vực hai mươi vạn quân; kéo theo một đội kỵ binh tinh nhuệ tay cầm đoản đao, tay cầm đuốc, lưng đeo cung tên và khiên ào ào đốt trại giặc, xông thẳng vào hai trướng hổ định bắt sống hai viên đầu lĩnh. Thấy bốn bề lửa cháy cùng tiếng quân reo như vỡ trời, Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí vội nhỏm dậy quơ lấy binh khí nhảy lên mình ngựa cắm đầu chạy. Bộ tướng của hai đầu lĩnh chạy theo hộ vệ nhưng không thoát được vòng vây. Bốn bề tiếng reo như vỡ trời đêm. “Kho lương cháy hết rồi!”, “Dương Đoàn hai tướng tử trận rồi!”, “Chạy mau, anh em ơi!”. Đấy là quân ta đóng giả quân man Tống hò reo, khiến quân giặc càng hốt hoảng tìm đường tháo chạy. Quân man Tống vòng ngoài là dân binh, vòng trong là quân binh, giữa là kho quân lương. Họ qua nước Nam chưa gặp phải sự kháng cự nào, chỉ ăn chơi suốt ngày đêm, nên tinh thần lỏng lẻo. Kíp đến khi bị đánh bất ngờ từ trong đánh ra, phần nhiều trong số họ không kịp lấy binh khí mà quáng quàng tìm đường chạy. Họ tự giày xéo lên nhau mà chết, hoặc hàng vạn con ngựa sổng tàu chạy ra hỗn loạn, giày đạp lên đám quân kia chết vô số kể. Rồi những người lính An Nam thiện chiến, gươm sắc, giáo dài, sức lực dẻo dai họ chém tới mỏi tay mà quân giặc vẫn cứ ùn ùn hỗn loạn.

Tất cả các nẻo đường chạy sang đất Tống, quân ta đều bịt kín. Mờ sáng, quân giặc lần qua các dòng suối cạn khô, định men ngược lên vùng biên ải, bỗng đâu ầm một tiếng, rồi nước từ trên cao ập xuống cùng đá lăn từ hai bên sườn núi, phút chốc dòng suối đã trở thành chiếc quan tài nước, vùi chôn không biết bao nhiêu xác giặc.

Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí cùng bộ tướng không biết chạy đường nào, đành ngồi vào một góc núi tử thủ. Quân theo chừng vài chục đứa, bộ tướng dăm tên. Tất cả đều đã bị thương, không một kẻ nào còn nổi chiếc khăn, chiếc mũ che đầu. Trường Huệ, Kính Chí đều bị cháy trụi râu, mặt bị bỏng đen nhẻm, áo quần rách rưới tả tơi như một lũ ăn mày. Đánh đến khoảng đầu giờ thìn, quân ta đã chém trên năm vạn thủ cấp giặc, bắt sống chừng năm vạn tên với khoảng ba vạn ngựa chiến cùng binh khí thu không biết bao nhiêu mà kể.

Hoàng Ân Vinh mặt hồng như lửa, mình mặc áo giáp, tay khiên tay giáo dẫn đầu đoàn quân đi lùng bắt tướng giặc, bỗng nghe tiếng gọi thất thanh:

- Hoàng châu mục! Hoàng châu mục! Tôi ở đây cơ mà. Nghe tiếng gọi quen quen Hoàng Ân Vinh đang dõi mắt tìm xem người gọi ở đâu, thì người ấy đã tới trước đầu ngựa, khóc mà rằng:

- Quân ta đại bại rồi! Có phải Hoàng châu mục đi tìm Dương tướng quân, Đoàn tướng quân không?

- Đúng rồi, ta tìm hai vị ấy, nhưng ngươi là ai?

Tên lính cười phô hai hàm răng trắng giữa cái mặt nhọ nhem bẩn thỉu:

- Hoàng châu mục không nhận ra tôi thật ư? Tôi là Trương Minh Tú tự Tử Minh đem thư dụ hàng đến tiên sinh chứ ai.

Hoàng Ân Vinh “à” lên một tiếng rồi quát:

- Vậy ngươi phải mau mau dẫn ta đi cứu nhị vị tướng quân.

Thế là Tử Minh dẫn đường cho quân ta đi bắt hai tên đầu sỏ giặc. Sự thật, y vẫn tưởng châu mục Hoàng Ân Vinh thực bụng hàng. Tới khi quân ta trói gô đám quân tướng giặc giải đi, Tử Minh mới biết châu mục trá hàng. Cũng chính lúc này Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí mới vỡ tỉnh rằng tướng An Nam dùng châu mục Hoàng Ân Vinh vào kế phản gián, mà ngay từ lúc nhận bức thư đầu cùng một trăm nén vàng Huệ đã nghĩ tới, nhưng không ngờ tới.

Khi giải hai tên đầu lĩnh giặc tới trước trung quân, Hoàng Ân Vinh liền nói: – Như hôm qua ta đưa thư hẹn với nhị vị tướng quân, rằng giờ tỵ ngày hôm nay ta sẽ có mặt dưới trướng. Thế mà các vị chẳng chịu chờ ta.

Lúc này Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí mới biết mặt Hoàng Ân Vinh. Hai người tức quá hộc máu ra phun phì phì, họ nhìn Hoàng Ân Vinh với lòng căm giận đến nỗi bốn mắt bật ra ngoài, con ngươi nổ tung. Họ chết mà chưa kịp hiểu rằng mình ngu dại.

Vua Thuận Thiên sai Trung thư lệnh soạn biểu văn thắng trận dâng lên thiên tử nhà đại Tống. Lại ghi chú rằng:

“Đoàn cống sứ đem theo chiến lợi phẩm dâng thiên tử nhà đại Tống, nay mai sẽ lên đường sang thượng quốc”.

Vua sai quân chạy ngựa đến nộp ngay cho trạm tiếp sứ của nhà Tống trên địa đầu ải bắc.

Quân biên trấn Quảng Tây nghe nói hai mươi vạn quân man Tống cùng biết bao tay anh hùng hảo hán dưới trướng Đoàn Kính Chí, Dương Trường Huệ bị tiêu diệt sạch sành sanh, chỉ trong một trận đánh kéo dài từ giờ tý đến giờ thìn thì xiết bao kinh hãi. Vì vậy họ đã sai ngựa lưu tinh chạy suốt ngày đêm đem biểu văn của quốc vương An Nam về triều cho thiên tử trù liệu.

Vài ngày sau, những con ngựa, những tên lính man Tống còn sống sót bị quân ta bắt được giải đi. Dọc đường, cứ hễ trông thấy màu đen của cờ xí, màu đỏ của lửa ám hiệu là người ngựa lại hốt hoảng giày xéo lên nhau mà chạy. Và chúng lại chết thêm, chết thêm vì các thứ sắc màu kia ám ảnh.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 25.09.2018, 12:59
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5390 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XIV

Vua Thuận Thiên đích thân giám sát cuộc hành binh của quân triều đình, nhằm đánh bại đám quân man Tống, từ lâu vẫn mưu toan nhòm ngó mảnh đất biên thuỳ của nước ta. Song điều quan yếu nhất lại ở chỗ, đánh vào các mưu toan xâm lăng của triều đình nhà Tống.

Trận đại thắng này các tướng lĩnh, sĩ tốt hết thảy đều được thăng thưởng. Riêng châu mục châu Bình Lâm Hoàng Ân Vinh được nhà vua cho triệu về Thăng Long vỗ về.

Lần đầu tiên được đặt chân lên đất kinh thành hoa lệ, châu mục Bình Lâm không khỏi bỡ ngỡ, xao xuyến. Thâm tâm chàng vừa mừng, vừa lo.

Ở Thăng Long cái gì cũng có, cái gì cũng đẹp, nhưng cái gì cũng đắt. Điều làm cho Hoàng Ân Vinh ngạc nhiên nữa là con trai con gái Thăng Long sao mà đẹp thế. Họ ăn vận nom cứ như các tiên đồng, tiên nữ mà nói năng mới dịu dàng lịch thiệp làm sao.

Hoàng Ân Vinh được dẫn đi xem các cung điện trong hoàng thành, xem vườn ngự uyển, được vua ban yến, lại được đi dạo chơi phố phường ba ngày. Chàng tưởng như mình đang sống trong cõi thiên tiên.

Sau vua cho gọi vào cung, ngài dạy:

- Trong trận thắng giặc vừa qua, công của ngươi lớn lắm. Vậy ngươi có muốn ta ban thưởng cho cái gì, cứ thực nói ra.

Hoàng Ân Vinh lúng túng chẳng biết nói năng hoặc xin nhận cái gì. Mãi lâu sau chàng mới nói lúng búng trong mồm:

- Xin nhà vua cho về lại đất Bình Lâm.

Vua cười khoan hoà:

- Được! Được, rồi ta sẽ cho xe ngựa đưa khanh về đến tận nhà. Khanh nhớ rừng nhớ suối lắm sao?

Hoàng Ân Vinh gật đầu. – Nhớ cả con nai con hoẵng nữa chứ!

Thấy Hoàng Ân Vinh chân tình mộc mạc, lại chưa thông lễ nghĩa, nhà vua đem lòng cảm mến. Vua tự nghĩ, nếu như trên biên cương phía bắc của ta được dăm bảy người tài cán, đức độ và trung dũng như Hoàng Ân Vinh, thì ta đỡ lo biết mấy. Chính những người như thế này mới thực là phên giậu, là tai mắt của ta. Chợt vua phán:

- Hoàng Ân Vinh, ta sẽ gả quận chúa, cháu gái ta cho ngươi.

Hoàng Ân Vinh đỏ mặt lúng búng đáp:

- Bệ hạ! Bệ hạ! Thần có vợ con rồi cơ mà.

Vua cười ngất. Và càng thương con người chân tình, mộc mạc ấy:

- Ta biết ngươi có vợ rồi. Nhưng ta cho ngươi thêm một vợ nữa, là cháu ta. Từ nay ngươi sẽ là quận mã, ngươi và con cháu ngươi nối đời được ăn lộc triều đình.

Sau khi ngươi đã làm lễ kết tóc cùng quận chúa, ta ban cho ngươi chức Thiên hộ, tức ăn lộc một nghìn nhà.

- Bệ hạ bảo quận mã ăn một nghìn cái nhà, ai mà ăn được nhiều thế?

Vua cười vui về câu nói ngây ngô của chàng quận mã.

- Ta nói ăn lộc một nghìn nhà, tức là một nghìn nhà dân phải đóng thuế, nộp tô cho ngươi. Ngươi dùng số tô, thuế thu được ấy mà chi dụng, biết chưa.

- Dạ, thần biết rồi ạ. Bệ hạ, như thế có nhiều quá không?

- Không nhiều đâu. Đấy là chế độ do triều đình quy định, ai ở hàng nào, chức nào được hưởng lộc đến mức nào đều rõ ràng cả. Cho hưởng vậy, để biết ơn trên mà gắng hoàn thành trách phận của kẻ chăn dân. Nhưng nhà ngươi có mấy việc lớn phải làm:

- Một là lo cho dân yên ổn, không để xảy ra trộm cắp quấy nhiễu. Không để cho bọn hào trưởng, xã trưởng nơi làng bản ức hiếp dân.

- Hai là, phải lo cho dân có đất cấy trồng, khuyến giúp người dân khai phá đất đai hoang hóa, cho giữ đất ấy làm tư điền. Lại miễn tô thuế cho họ năm năm. Nơi nào khai phá khó nhọc, tốn nhiều công sức, đất lại bạc màu thì tha tô thuế cho họ từ mười đến mười lăm năm. Ngươi phải gắng gỏi, sao trong châu hạt của ngươi không có người bị đói, khuyến dân giúp đỡ các người già không nơi nương tựa. Các con côi, goá phụ cũng phải lưu tâm đỡ đần họ.

- Ba là, phải rèn luyện binh bị cho tinh, tuần cảnh nghiêm ngặt ngày đêm không cho kẻ gian, người lạ từ bên kia biên ải đột nhập vào đất ta dò xét. Muốn làm được việc ấy ngoài số quân, phải lấy dân làm tai mắt. Ai có công thì phải thưởng khen ngay, chớ có dây dưa lần lữa mà người dân nản lòng. Công lớn tâu về triều, ta sẽ khen tặng. Kẻ có lỗi thì khoan thứ, có tội phải nghiêm trị.

- Bốn là, ngươi phải cho người sang đất họ buôn bán, làm ăn để dò la xem họ có mưu mô xâm lấn, cướp phá hoặc đặt nội gián trên đất ta không; hoặc có kẻ nào mưu mô tạo phản, ngươi cũng phải biết từ lúc mới manh nha.

- Năm là, các trạm đổi ngựa nhằm thông đạt tin tức từ triều đình tới các miền biên viễn đặt trên đất ngươi, phải coi sóc cho chu đáo; lúc nào cũng phải có ngựa khoẻ, có quân túc trực. Các trạm đốt lửa làm hiệu suốt ngày đêm không bao giờ được tắt. Vì rằng ban ngày phải thấy khói bay lên, ban đêm phải thấy ánh lửa hồng. Cứ thế trạm nọ tiếp trạm kia, để cùng lúc ở kinh thành, ta có thể biết khắp bốn phương tám hướng trên đất ta, đang an bình, hoặc ở nơi nào đó có hoạ loạn.

- Sáu là, ngươi phải săn sóc, phải đối xử tử tế với quận chúa. Cháu ta lá ngọc cành vàng, ngươi không được phàm phu thô lậu. Vợ chồng phải tương thân như tương kính. Nếu ngươi vì lỗ mãng mà xử tệ với quận chúa, sẽ mang trọng tội.

Nghe nhà vua nói, Hoàng Ân Vinh cảm thấy lo hơn mừng. Thật ra các việc vua nói, từ trước chàng đã có làm, nhưng mới chỉ là loáng thoáng. Nay phải làm đầy đủ; phạm vào bất cứ điều gì cũng có tội. Chàng nhẩm tính: “Vậy là ta có năm điều phải làm mà điều nào cũng hệ trọng. Ngay cả điều thứ sáu là điều ta được ban, nhưng lại không hoàn toàn thuộc về ta, như vợ ta ở nhà. Khó quá, chàng nghĩ: ước gì ta không phải làm quận mã”.

- Các điều ta nói, ngươi đã nhớ chưa? – Vua hỏi.

- Bệ hạ, thần nhớ cả rồi.

- Từ nay ngươi là con cháu của ta, là người tâm phúc của ta, mỗi việc làm của ngươi đều phải cẩn trọng, không được ỷ thế làm bậy. Không được khắc bạc với dân, với lính. Từ việc dân, việc binh, nhất nhất phải làm theo luật pháp ta đã ban. Nếu cố tình phạm tội, ta sẽ trị nặng gấp đôi người thường. Ngươi còn chưa thông lễ nghĩa, việc ấy quận chúa sẽ dạy cho.

Vua nhìn Hoàng Ân Vinh với tấm lòng trìu mến và cả sự trọng nể nữa. Nhà vua tự nghĩ: – Biên cương phải có phên giậu, phải có thân vương trấn trị.

Lại nói về nhà Tống, khi nhận được biểu chương của quan hiệp trấn Quảng Tây nói về đạo binh hai mươi vạn của Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí bị An Nam quét sạch trong thoáng chốc thì xiết đỗi kinh hoàng. Tống Chân tông nghe viên hàn lâm thị độc đọc xong lời biểu, ông như rã rời hết cả tay chân. Quần thần im lắng buồn thiu, như có quốc tang.

Lát sau, viên hàn lâm thị độc nhắc khẽ:

- Tâu hoàng thượng, còn biểu của An Nam quốc vương có đọc không ạ?

- Đọc! Chân tông buông một tiếng cộc lốc.

“Thần là mỗ quốc vương An Nam kính lạy thiên tử nhà Đại Tống.

Vừa rồi, đám giặc cỏ đứng đầu là hai tên Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí đã dại dột nghe lời xúi bẩy của kẻ xấu, dám vô lễ đem binh xâm phạm nước của thần.

Vâng mệnh thiên tủ, phải giữ cho nước phên giậu của thiên triều được an lạc, thần đã sai tướng đánh dẹp, giết không còn một mống nào.

Chiến lợi phẩm thu được, đủ dùng cho binh của thần trong năm năm. Thần sẽ sai sứ đem chiến quả dâng lên thiên tử, chỉ nay mai là tới biên thuỳ.

Xin thiên tử gia ân cho thông sứ lộ.

Kính chúc thiên tử muôn năm trường trị”.

Lời biểu của quốc vương An Nam đọc lên làm cả triều đình kính phục.

Vương Khâm Nhược lo sợ vì đã xui Chân tông ngầm giúp đám tướng man binh khí, lương thảo, mưu lược để đánh An Nam. Cái hoạ này có kẻ nào cáo giác ra, hẳn ta sẽ mất đầu như chơi. Lại vừa rồi ta đi thương nghị với Khiết Đan, mang thất bại trở về. Nếu nhà vua gộp hai tội làm một, ta còn biết biện bác sao đây. Càng nghĩ càng thấy hối tiếc, tể tướng cúi đầu thu gọn người lại. Ông cứ tưởng làm như thế các bạn đồng liêu sẽ không nhìn thấy mình mà cáo giác. Trong khi đó, tri khu mật viện Vương Đán lại nghĩ khác. Ông cho rằng nước Nam đang cường thịnh. Không chỉ riêng việc họ vừa diệt xong hai mươi vạn quân man, có cả triều đình nhà Đại Tống đứng ở phía sau, mà còn bởi lời lẽ của Lý Công Uẩn rất là khí phách, vẫn giữ lễ với thiên tử, nhưng cũng là một việc làm bẽ mặt thiên tử. Cái giỏi của vị quốc vương này là lời lẽ ôn nhu không bắt bẻ vào đâu được, nhưng lại tỏ ra một đấng anh hùng, ngầm kiêu hãnh. Sự thật, muốn biết nước họ mạnh hay yếu, thịnh hay suy, cứ xem lời lẽ trong biểu của họ thì đủ biết.

Cả triều hội nghe xong hai biểu chương vẫn im phăng phắc. Tống Chân tông ngao ngán không biết sẽ khu xử việc này ra sao. Nhà vua lên tiếng:

- Các khanh thử nói ta nghe, có đúng là quân An Nam mạnh tới mức ấy không, hay chỉ là lời đồn?

Rốt cuộc chẳng có ai chịu khai khẩu, vua bèn chỉ vào Vương Khâm Nhược:

- Tể tướng nói thử ta nghe, sao trước kia khanh xui ta ngầm giúp đám man tướng này, là bắn một mũi tên trúng những ba đích kia mà.

Không phải ai mà chính nhà vua cáo giác, Vương Khâm Nhược mặt tái xanh, lom khom đứng dậy:

- Muôn tâu thánh thượng, quân An Nam quả là hiếu chiến, hung hãn. Nhưng chưa hẳn họ đã diệt được hết đám quân man kia; biết đâu họ chẳng khoác lác để doạ nạt thiên triều.

Vương Khâm Nhược nói, các quan đều thấy khó nghe, đây chỉ là lời lẽ nhằm che đậy lỗi lầm.

Binh bộ thị lang Trần Bình Niên có tiếng là người hiểu rộng, tính tình bộc trực liền xuất ban xin nói:

- Tâu bệ hạ, tể tướng là bậc quan chấp chính đầu triều. Có tài thì giúp vua nên việc. Bất tài thì làm hỏng việc của vua, của nước. Thần xin cáo hạch tể tướng Vương Khâm Nhược mấy điều:

- Một là dưới thời tiên đế, ông đã gièm pha bậc tể thần có tài kinh bang tế thế là khu mật viện trực học sĩ đồng trung thư môn hạ bình chương quân quốc trọng sự Khấu Chuẩn, đến nỗi ông này bị truất và phải đi đày, rồi chết ở Lôi Châu.

- Hai là được vua uỷ thác cho việc thương nghị với Khiết Đan, thì ông đem cái nhục về cho nước. Từ nay mỗi năm nhà Đại Tống phải nộp cho rợ Khiết mười vạn lạng bạc cùng hai mươi vạn tấm lụa. Thật là ông có tài rút cạn của kho nhà nước đem dâng cho giặc.

- Ba là ông xui vua ngầm giúp hai viên đầu lĩnh người man xâm lăng An Nam, để đem về cho vua ba mối hoạ:

- Mối hoạ thứ nhất là người man oán bệ hạ đẩy họ vào chỗ chết.

- Mối hoạ thứ hai là người An Nam oán bệ hạ, đã giúp người man xâm lấn nước họ. Vì vậy nếu có cơ hội nhất định họ sẽ quấy nhiễu Trung nguyên, để trả mối hận cừu này.

- Mối hoạ thứ ba là người Khiết Đan biết chuyện thất trận lớn lao này, sẽ càng tác quái trên mạn bắc thuỳ, vốn đã khốn đốn của chúng ta.

Rõ ràng là tể tướng thuộc loại “Nhất ngôn táng bang”[63], xin bệ hạ trị tội.

Càng nghe binh bộ thị lang nói, Vương Khâm Nhược càng run sợ, mặt tái mét. Các quan thì hả lòng hả dạ, vì từ trước vẫn ghét thói gian nịnh của tể tướng mà chưa có cơ hội cáo giác. Tống Chân tông lòng đã rối, càng rối hơn. Triều hội ào ào đòi trị tội Vương Khâm Nhược.

Chân tông nói:

- Thôi được, trước hết ta truất ngôi tể tướng của Vương Khâm Nhược, giao cho bên kiểm pháp quan nghị tội. Nhưng còn việc “An Nam xin thông sứ lộ” thì làm thế nào. Lộ tiếp sứ đã có, đường đi lối lại từ trước tới nay đã có gì thay đổi đâu mà “xin thông sứ lộ”. Các khanh bàn kỹ việc này xem sao.

Tri khu mật viện Vương Đán bước ra khỏi ban:

- Tâu hoàng thượng, Binh bộ thị lang nói về tể tướng thế là rõ ràng, đầy đủ, thần chỉ nói đến việc An Nam “xin thông sứ lộ”.

Vì sao họ lại xin việc này. Thần chắc chắn là đoàn cống sứ sắp tới sẽ đông đúc như cả một đội quân, sợ rằng thiên triều có sự hiểu lầm gây khó dễ. Nên phải xin thiên tử ban lệnh xuống các trấn lộ biết mà giúp đỡ.

Lại vì sao sứ An Nam sang đông như vậy. Là bởi họ vừa chiến thắng một đạo quân lớn, chiến lợi phẩm ắt nhiều không kể xiết. Họ sẽ đem sang cống thiên tử thuần chiến lợi phẩm gồm các đồ quân dụng, binh khí, lừa ngựa của nhà Tống giúp quân man; có thể còn có tù binh hoặc đầu các viên tướng bị chém nơi chiến trận.

Họ sang đông thế là còn có ý muốn khuếch trương chiến thắng của họ. Suốt mấy ngàn dặm từ biên ải về tới Biện Kinh, dân chúng hoặc bất kỳ ai nhìn thấy họ đi ngoài đường, sẽ đem lòng sợ hãi để đời. Rồi một đồn trăm, trăm đồn ức vạn, khiến ai không được trông thấy, mà chỉ nghe thấy cũng đủ sợ oai binh sĩ An Nam. Việc đó sẽ gây dấu ấn kinh hoàng trong binh sĩ của ta, nếu như lại có một cuộc Nam chinh. Thế nhưng lại không thể không cho họ sang. Vì rằng các biểu hiện bên ngoài của họ, vẫn một lòng thờ thiên tử, nạp cống thiên triều. Nếu lần này ta khước từ, thì An Nam sẽ vin vào đấy không bao giờ triều cống nữa. Vả lại nước họ đang cường thịnh, không nên làm mếch lòng họ. Hãy xem bài học Khiết Đan, chỉ vì ta vụng đường khu xử, nên càng ngày họ càng lấn ta. Xin thiên tử lượng định.

Tống Chân tông nghe lời Vương Đán, xuống chiếu cho các quan sở tại có sứ giả An Nam đi qua, các đệ trạm phải tiếp sứ long trọng, cung đốn đầy đủ, nhất nhất không để xảy ra điều gì sơ khoáng.

Trong khi đó triều đình An Nam lại nghị bàn việc đi sứ Tống nên như thế nào.

Khai mở, vua Thuận Thiên nói:

- Ta đã có biểu tâu thắng trận, xin thông sứ lộ lên Tống Chân tông. Vậy cống phẩm của ta lần này ra sao, các khanh thử bàn cho đến chỗ rốt ráo.

Quan tả kim ngô Phí Xa Lỗi xin được nói:

- Tâu bệ hạ, theo thiển ý của thần, sứ đoàn Nam Việt cùng các cống phẩm sang Tống triều lần này phải khác. Đây không phải là tuế cống mà là biệt cống, tức là nhân việc ta vừa thắng trận lẫy lừng, nay đem chiến công ấy dâng lên thiên tử nhà Đại Tống. Quan tả kim ngô lấy làm đắc ý về lời lẽ của mình, ông giả bộ sửa lại chiếc đai mũ, vén cánh tay áo thụng rồi tiếp: – Xin bệ hạ cử hai vị chánh phó sứ văn tài lỗi lạc, biện bác thông tuệ, rồi đóng hai chiếc hòm gỗ thơm, tạc hai cái đầu người giống hình Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí để dâng cho thiên triều.

Việc này có ba cái lợi:

- Một là làm bẽ mặt Tống Chân tông và cả triều đình của ông ta, vì đã xúi giục hai tên đầu lĩnh này, và cấp binh khí, lương thảo cho chúng xâm phạm cõi bờ ta.

- Hai là “gây nỗi kinh hoàng để dạ cho vua tôi nhà Tống” như nhời bệ hạ thường nói.

- Ba là nhân cơ hội ta sẽ ép nhà Tống phải nới lỏng một số điều, hoặc tôn trọng một số điều mà hai bên đã quy ước. Ví như việc đi sứ, việc tiến cống không nên bắt buộc theo chế độ một năm tiểu cống, ba năm đại cống, mà xin cho tuỳ tiện có điều gì cần tâu, có vật gì cần biếu thì đưa sang không kể hạn kỳ. Lại việc binh, việc dân ở biên thuỳ hai nước, phải tôn trọng, cấm ngặt các biên quan, biên tướng Tống cứ đẩy người sang ta làm lắm điều càn rỡ, hoặc gây rắc rối cho biên dân ta. Ví như việc họ cho dân sang xâm canh ở các vùng đất hẻo lánh của ta. Rồi đưa người sang xâm cư và cả xâm táng. Ít lâu sau họ nhận bừa đất ấy là đất của Trung Hoa.

Tả kim ngô vừa dứt lời thì thái phó Đặng Văn Hiếu bước ra khỏi ban:

- Tâu hoàng thượng, nước Nam ta vốn trọng nhân nghĩa và khiêm hoà, theo thần không nên làm điều gì gây tổn thương đến quan hệ bang giao giữa hai nước. Vả lại, nhà Tống hiện là một nước yếu, nhưng yếu là so với chính họ, so với các triều đại Hán, Đường thôi chứ không phải họ yếu so với ta. Đừng có dại gì mà chọc giận con hổ bị thương, con sư tử đang ngủ.

Vậy sứ đoàn của ta số người cũng nên vừa phải, lễ dâng tiến Tống Chân tông gồm vài thứ kỳ trân bảo vật cho nhẹ nhàng, cốt ở cái tâm hơn là cái vật. Nước họ toả khắp bốn bể, thiếu gì của ngon vật lạ. Ngoài ra, thêm một vài vật thu được trong trận thắng vừa qua, cùng với tờ biểu của bệ hạ, lời lẽ ôn nhu thế là được.

Thái phó vừa ngồi xuống thì thái uý Lý Trưng Hiền đã vội đứng lên xin nói:

- Thần trộm nghĩ, với nhà Tống, ta vẫn giữ lễ hiếu hoà, nhưng không thể không tỏ cho họ biết sức mạnh của ta. Thật ra họ không thương gì dân ta, không quý gì vua ta. Chẳng qua cái thế không nuốt được, họ phải chịu. Nói đúng ra thì Tống Thái tông đã thử nuốt hồi năm Tân tỵ (981), nhưng Lê Hoàn làm cho họ hóc cứng họng không nuốt trôi được. Xem ra các triều đại của Trung Hoa từ xưa tới nay, không một triều nào không có ít nhất từ một đến hai cuộc xâm lăng nước ta. Xưa đã thế, nay vẫn thế, còn mai sau chắc cũng lại như thế. Vậy thời tại sao thỏ lại cứ phải thương cáo. Đó là chuyện ngược đời xưa nay.

Thái uý ngừng lời, ngửng nhìn nhà vua cùng các bạn đồng liệt, ông nói tiếp: – Tâu bệ hạ, lễ cống lần này theo thiển ý của thần, chỉ nên dâng có một thứ thôi. Thái uý không nói nữa mà ngừng lại dò xem ý tứ vua và các quan.

Bỗng vua giục:

- Khanh nói lễ cống chỉ có một thứ, chẳng hay thứ gì đó, nói mau!

- Tâu, xin bệ hạ cho chọn lấy năm trăm con ngựa quý trong đám năm vạn con vừa thu được của quân man Tống, cùng hơn ba trăm người đi theo đồ lễ đó. Xin bệ hạ lưu tâm, chỉ cần cái đoàn quân cống sứ ấy đi từ biên cương đến Biện Kinh, cũng đủ làm rã rời ý chí những kẻ có manh tâm xâm lăng Nam Việt.

Vua cười ha hả:

- Khanh quả thật là thâm thuý, nhưng như thế có nhiều quá không. Năm trăm ngựa Hồ là cả một đạo kỵ binh hùng mạnh của ta đấy. Quay về phía Trần Cảo vua hỏi: – Tướng công là quan đầu triều, thử nói ta nghe cao ý của ông.

- Tâu bệ hạ, ý của quan thái uý thật là thâm viễn, bệ hạ nên y chuẩn. Xưa nay việc cống nạp với biểu chương của ta đưa sang nhà Tống, cùng việc ban ấn, phong thần, phong vương của nhà Tống đối với ta, nói cho cùng hai bên đều chẳng có bên nào thật lòng yêu kính bên nào. Thế thì nhân việc đánh bại một đội quân xâm lược lớn, đánh bại mưu đồ của triều đình Tống Chân tông, tại sao không nhân việc đó mà ra uy với thiên hạ. Theo thiển ý của thần, nên cho họ số ngựa vừa đủ để ra uy, chứ không nên cho năm trăm con ngựa chiến quý, biết đâu họ chẳng dùng ngựa ấy trở lại đất ta. Năm trăm ngựa chiến quý là cả một đạo kỵ binh đáng giá.

Thần cứ nghĩ, độ hai trăm con ngựa nòi với hàng trăm kỵ mã, rầm rập kéo qua đường cái quan, đi suốt từ biên ải tới Biện Kinh, lại trương cờ sứ nước Nam nữa thì sự răn đe là lớn lắm. Xin bệ hạ lưu tâm.

- Thôi được, ý các khanh tuy mỗi người mỗi khác, nhưng chỉ khác về tiểu dị, còn đại đồng đều giống nhau cả, đều hợp ý trẫm. Riêng việc Phí Xa Lỗi nói là dâng hai đầu tướng giặc. Ta biết rồi, dù chỉ bằng gỗ, như thế bỉ mặt cả triều đình người ta, thật không nên. Không nên vì tức khí để gieo hận cho cả nước người ta. Nhân việc này, ta cử hai vị viên ngoại lang là Phùng Chân, Lý Thạc làm chánh phó sứ, cầm đầu sứ đoàn sang tiến đem sự khâm phục, sự trọng nể của triều đại Tống Chân tông về cho nước nhà. Các khanh phải dạy bảo sĩ tốt, không được phép làm điều gì hại đến quốc thể.

Đúng như dự đoán của các quan từ trong nước, khi đoàn cống sứ do chánh sứ viên ngoại lang Phùng Chân dẫn đại đội binh mã nhập đất Tống, thì viên quan trấn thủ biên thành cả kinh mà rằng:

- Từ xưa chưa có lệ cống sứ An Nam đem theo binh mã như vầy.

- Thì ông cứ xem biểu văn của vua nước tôi gửi thiên tử đây thì rõ.

Viên trấn thủ biên thành lắc đầu.

- Tôi đâu dám bóc niêm phong để mất đầu à?

- Vậy chứ ông không nhận được cáo văn của thiên tử nhà Đại Tống, rằng đoàn cống sứ của An Nam sẽ qua ải này sao?

- Có. Có nhận được lệnh chỉ của triều đình, chúng tôi còn phải tiếp rước các vị thật long trọng qua các đệ trạm về tới Biện Kinh kia.

- Vậy các ông còn vướng bận gì không mở cổng thành tiếp sứ.

- Bởi tại các ông đi đông quá, nom người ngựa hùng dũng cứ như các ngài Bắc chinh, khiến tôi lo ngại.

- Ồ, không có gì đáng ngại đâu. Đây là chiến lợi phẩm thu được do chúng tôi tiêu diệt hai chục vạn quân man, đã có biểu tâu về, thiên tử nói phải cho ngài nhìn tận mắt mới tin. Ông làm tướng giữ thành sao không xét kỹ, nếu là quân xâm lấn sao chỉ có một nhúm người, ngựa mà không có binh khí gì.

- Thôi được! Thôi được để tôi mở cửa các ông qua ải, phái bộ tiếp sứ đang chờ các vị ở trong đó.

Cho người, ngựa của sứ bộ qua ải, viên tướng giữ biên thành cứ lắc đầu khiếp phục – Trời! Trời! Họ đánh chác thế nào mà diệt gọn hai chục vạn quân, thu thuần ngựa quý. Ta chỉ mơ trạm dịch biên thuỳ của ta có được một hai con ngựa thiên lý. Ấy thế mà họ có cả trăm con đem cống thiên tử. An Nam giàu hể! An Nam mạnh hể!

Đoàn sứ bộ An Nam cứ ngày đi đêm nghỉ, tới các đệ trạm tiếp sứ đều được cung nghinh long trọng. Chỉ tiếc trạm nào cũng chật chội, bởi chưa bao giờ các trạm tiếp sứ phải cùng lúc đón hàng mấy trăm người, ngựa, với xe kiệu nghênh ngang như thế này.

Suốt dọc đường từ biên ải tới Biện Kinh, đoàn cống sứ An Nam đã là nỗi kinh hoàng cho binh sĩ nước Tống, và là nỗi đau đầu cho vua tôi nhà Đại Tống.

Khi sứ bộ An Nam đến Biện Kinh nghỉ ngơi được ba ngày, thì Tống Chân tông vời gặp tại điện Sùng Đức.

Phùng Chân, Lý Thạc đệ trình biểu văn của quốc vương nước ta cùng danh mục các đồ tiến cống.

Tống Chân tông đọc biểu văn xong, có đôi lời yên ủi sứ đoàn. Nhà vua không đả động gì đến việc An Nam phá tan đạo quân hai chục vạn tên của Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí.

Không để cho Chân tông lẩn trốn việc này, Phùng Chân bèn nói:

- Muôn tâu thiên tử, quốc vương thần sai chọn một trăm con ngựa nòi Hồ tốt nhất trong năm vạn ngựa thiên lý mới thu được của bọn Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí để kính dâng, của một đồng, công một nén, xin thiên tử không chê nước thần nghèo sai người thâu nhận ngay đồ cống.

- Phải, phải các khanh cứ yên tâm, ta sẽ sai người thâu nhận ngay. Ta cốt cái bụng của chúa tôi các khanh, lúc nào cũng giữ đạo thần tử thế đã là quý. Ta nhận đây là vị cái tình thôi, chớ nòi ngựa này thiên triều có tới hàng muôn ức vạn con.

Nghe thiên tử nói có vẻ nghịch tai, Lý Thạc bèn tâu:

- Thiên tử quả là anh minh, ngựa này chính là của thượng quốc do các đại quan ở Quảng Tây, Quảng Đông bán hoặc trợ giúp cho bọn giặc man chứ lũ người man ấy do hai đầu lĩnh Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí làm sao có được. Chúng đem sang xâm lấn nước của thần tới năm vạn con. Chúng thần bắt không để con nào chạy thoát, cùng với hai chục vạn tên xâm lược bị chôn vùi.

- Thiên tử, nước chúng thần đánh lũ người man ấy vô cùng khó nhọc, cốt để giữ yên đất phên giậu cho thiên triều, sao không thấy thiên tử ban khen?

Tống Chân tông nghe sứ nói đau tới quặn lòng, nhưng vẫn cố gượng cười:

- Các khanh mới chân ướt chân ráo tới thiên triều. Bữa nay ta ban yến cũng là một sự khen. Mai đây các khanh về, ta còn ban nhiều vật quý, chỉ sợ không có sức mang đi. Tuy nhiên, Chân tông cố lờ đi chuyện Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí, cứ như là triều đình Tống không có dính líu gì vào vụ này.

Ba tháng sau, sứ giả An Nam xin về, Tống Chân tông y cho. Ngài còn ban cho mỗi người trong sứ đoàn theo thứ bậc khác nhau các loại mũ, áo, đai, lụa, vóc. Lại sắc phong cho Lý Công Uẩn làm An Nam quận vương.

Sứ ta lạy tạ, nhưng tỏ vẻ không hài lòng với chức An Nam quận vương, mà Chân tông đã hào phóng ban cho vua Thuận Thiên.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 25.09.2018, 13:00
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5390 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XV

Cu Sắn sắp cưới con gái nhà xã trưởng! Tin đồn dậy khắp hương ấp. Đầu làng xó ngõ không chỗ nào là không bàn tán về cuộc hôn nhân không đăng đối này.

Sắn đi làm đồng, cánh con trai các nhà có máu mặt, bữa nay cũng kéo nhau ra đồng, họ xúm vào hỏi Sắn cho ra nhẽ:

- Nghe nói mày sắp cưới con gái ông xã trưởng phải không?

Sắn ngượng đỏ mặt, mặc dù trong lòng cu cậu rất sung sướng và cả hãnh diện nữa.

Không thấy Sắn trả lời, một chàng trai khác lại hỏi, giọng miệt thị:

- Mày không biết phận mày thế nào à Sắn? Đến bọn tao đây còn chẳng dám hỏi con gái ông xã trưởng, thế mà mày, đũa mốc lại dám chòi mâm son?

Một chàng khác, giọng gây gổ:

- Sắn, mày khinh bọn tao hả? Liệu hồn mày. Đừng tưởng sắp làm rể nhà xã trưởng mà vênh váo là ăn đòn đấy.

Bị xúc phạm, Sắn thấy nóng nóng phía vành tai, chàng bổ mạnh lưỡi cuốc cắm phập vào đất, cán ngỏng lên, rồi buông cuốc hai tay thắt lại chiếc vành khố, Sắn nói:

- Các anh chẳng biết gì, lại cứ nói lấy được. Ai bảo các anh, tôi lấy con gái ông xã trưởng.

Đám thanh niên giọng hồ hởi, không giấu nổi niềm vui, họ chạy lại nắm tay Sắn hỏi gặng:

- Thật thế à Sắn. Đúng là không phải mày sắp cưới cô Lan con gái út ông xã trưởng chứ?

Sắn không ngờ mình được ông xã trưởng thương tình gả cho người con gái út, lại là việc xúc phạm đến đám trai làng. Bây giờ Sắn mới nghiệm ra rằng, cái nghèo là bạn cố hữu của cái hèn. Giả dụ nhà Sắn mà giàu xem. Dân làng ắt phải nể trọng. Quan xã, quan phủ bênh che, thử hỏi đám trai làng kia có dám mở lời sàm sỡ, hỗn hào thế không.

Sắn nhìn lại tấm thân khoẻ mạnh, cường tráng của mình. Da săn chắc màu đồng hun, bắp chân, bắp tay nổi cuộn. Làm việc gì cũng băng băng như trâu mộng, không ai theo kịp. Vậy chứ mình kém gì họ để họ khinh. Suy ra chỉ tại cái nghèo, Sắn thở dài, giọng uể oải đáp lời đám trai làng.

- Các anh biết cho, tôi phận côi cút, nhà nghèo đâu dám đũa mốc mà chòi mâm son. Thế nhưng…

Sắn đang ngập ngừng thì một chàng trai khác đã cướp lời:

- Lại còn “nhưng” gì nữa.

- Thế nhưng, Sắn mạnh dạn nói tiếp: – Nhưng đích thân ông xã trưởng gọi tôi đến, và ông bảo tôi rằng, mọi việc cưới cheo, ông lo liệu tất tận cho bà cháu tôi.

Sắn làm ra vẻ đau khổ với giọng nói ngùi ngùi: – Nếu ở vào cảnh ngộ của tôi, liệu các anh có dám cưỡng lời ông xã trưởng không, xin các anh chỉ bảo giùm cho.

Thấy Sắn không tỏ vẻ ngông nghênh, lại còn lễ độ xin lời chỉ bảo, khiến đám trai xoan tự nhiên dịu lại. Và nghĩ đến quyền uy ông xã trưởng, anh nào cũng ngài ngại.

Chàng trai lớn tuổi, con nhà hào phú đóng chiếc khố điều, bữa nay đi cùng bọn đàn em ra đây định gây sự, nếu Sắn lên mặt ta đây thì bọn họ sẽ nện cho một trận tơi bời. Thế nhưng Sắn lại rất nhã nhặn khiêm nhường, chẳng có cớ gì để đánh nhau cả. Hơn nữa, Sắn là một chàng trai lực sĩ, nhất là lúc các cậu nom thấy Sắn thắt lại dải khố nâu, quả các chàng công tử khố điều cũng thấy gờm gờm. – Để tỏ mình là kẻ cả, chàng khố điều người cao dỏng nói giọng đầy quyền uy:

- Thôi được, bọn tao mừng cho mày. Mày quả là tốt số vớ được vợ đẹp, con nhà giàu, lại có thần có thế. Nhìn ngược nhìn xuôi rồi chàng lên giọng răn dạy: – Mày phải biết ông xã trưởng họ Lương được cả làng kính trọng, quan trên cũng phải nể ông, nếu mày ăn ở với cô Lan có điều gì không phải để ông phàn nàn, là bọn tao lột da mày bưng trống đấy!

- Vâng ạ! Em cảm ơn các anh dạy bảo. Sắn lễ phép nhận lời cho qua chuyện.

- Thế bao giờ cưới vợ, mày có mời bọn tao không?

- Dạ, em chỉ sợ các anh chê nhà em nghèo không đến thôi ạ.

Năm chàng khố điều tuổi choai choai từ mười bảy đến hai mươi cùng cười đắc thắng, dắt tay nhau vừa đi vừa nghêu ngao hát. Họ đi xa rồi, Sắn vẫn còn nghe vẳng lại một giai điệu vui vui:

… Tình bằng có cái trống cơm

Khen ai khéo vỗ

Chọn được ngày lành để đôi trẻ hợp duyên, ông xã trưởng bèn đến thăm bà cháu bà cụ Giá. Khách đến nhà, bà cụ cứ cuống lên chẳng biết nói thế nào, chẳng biết làm việc gì. Đến nỗi cụ quên cả mời khách ngồi. Người cụ cứ run bần bật, miệng cứng ra.

Còn Sắn thì đứng dựa cột nhìn nhạc phụ loay hoay.

Ông xã trưởng phải mở lời trước, ông vừa cười vừa nói, giọng thân tình:

- Chả là tôi xem được ngày lành cho cháu về đằng nhà cụ rồi. Tôi sang báo để hai nhà cùng lo liệu.

Nghe giọng ông xã trưởng gần gũi ấm áp, cụ Giá đã bớt sợ. Cụ sợ là bởi từ hồi còn thơ ấu tới nay, đã ngót tám chục tuổi rồi, có bao giờ cụ được tiếp xúc với các bậc quan chức thế này đâu. Xúc động quá, nước mắt bà cụ cứ chảy trào ra khắp hai bờ mi.

Ông xã trưởng nắm tay bà cụ và ấn vai cụ ngồi xuống mép giường. Ông nhìn thằng cu Sắn, thằng con rể ông mới vạm vỡ làm sao. Thằng bé có đôi mắt to, sáng, lông mày nét mác thật rậm mà hơi xếch, vầng trán vuông vức, mũi thẳng, cằm bạnh. Từ trước ông chỉ thoáng thấy nó đi lẫn với đám trai làng, và dân làng ai cũng khen nó nết na hiếu thảo. Ông cho như thế là đủ rồi. Con gái ông chỉ cần một tấm chồng như vậy thôi. Ai ngờ thằng bé có quý tướng, tam đình ngũ nhạc phân minh đắc cách. Nó sẽ là một con người đàng hoàng. Hiềm một nỗi nó không được học hành. Ông lấy làm tiếc, nếu biết nó trở thành con cái ông, thì ông cho nó vào chùa, theo học các vị thiền sư, chắc là thằng bé nên người. Tuy nhiên… phần này sẽ lo sau.

Ngoái nhìn khắp ba gian nhà bà cháu cụ Giá, ông không thấy một thứ đồ đạc nào, ngoài chiếc chõng thờ bằng tre đặt nơi gian giữa, và hai gian bên kê hai chiếc giường cầu tre của hai bà cháu. Ông cũng không ngờ, bà cháu bà cụ lại nghèo đến thế. Thôi được, ông tặc lưỡi, cũng là dịp để con gái ông tỏ sự đảm đang.

Suy nghĩ giây lâu, ông gọi Sắn vào ngồi cạnh bà cụ Giá và nói:

- Tôi biết bên này cụ và cháu đều neo người neo của. Cụ không phải lo sắm gì hết, để tiện tôi lo lễ lạt cỗ bàn cho cả hai nhà.

- Ấy chết ai lại làm thế ông xã trưởng, – bà cụ Giá giãy nảy lên.

- Hà tất cụ phải băn khoăn, thì đằng nào nó chẳng là con cái chúng tôi. Ông xã trưởng vừa nói vừa cười thoải mái. Rồi ông tiếp: – Sắp đến ngày cưới, tôi sẽ cho gia nhân sang dựng rạp giúp cụ.

Ông xã trưởng cáo lui. Ra đến đầu ngõ, như chợt nhớ ra điều gì, ông liền quay lại gọi Sắn ra dặn bảo: “Chiều mai, con xin phép bà sang bên thầy, có chút việc thầy nhờ con”.

Sắn đỏ mặt lên vì sung sướng. Từ nhỏ, Sắn đã quen chỉ có bà, và quên không biết nói cả hai tiếng “thầy, bu”. Nay bỗng nhiên có cha có mẹ, dù là cha mẹ vợ cũng khiến Sắn sung sướng đến rối dạ.

Ông xã trưởng cho gia nhân đón Sắn ngay từ đầu xóm. Bữa nay sang nhà nhạc phụ, Sắn không đóng khố như khi đi làm đồng hoặc lúc ở nhà với bà. Sắn mặc chiếc áo cánh thụng may bằng vải thanh cát màu chàm, quần vải mộc màu trắng, đầu vấn khăn chữ nhân, nom chững chạc hẳn ra.

Từ nhỏ, Sắn chỉ biết nhà ông phú hộ Lương Thanh Khiết qua bức tường thành, vây quanh khu đất rộng đuối tầm mắt và cao gần gấp đôi đầu người. Nhà ông chỉ để lộ ra bởi hai chiếc cổng lúc nào cũng đóng im ỉm. Cổng hướng nam để đón khách. Cổng hướng bắc để kẻ ăn người ở đi làm đồng. Nghe nói trong nhà ông có đàn chó đông tới cả trăm con. Ban ngày nhốt vào một khu nhà với chiếc sân rộng có tường cao bao bốn mặt, chỉ để mươi con loáng thoáng nơi góc vườn, cổng, ngõ. Ban đêm, khi mọi người đã đi ngủ, gia nhân mới thả chó ra. Động tĩnh từ ngoài xa, một con đánh hơi, là cả bầy cùng xô lại một góc như đàn chó ngao sủa nghe đến rợn người.

Ông xã trưởng đích thân dẫn Sắn đi chào nhạc mẫu, rồi cả hai ông bà cùng đưa Sắn vào chào bà nội vợ. Cụ già, mắt kém nhìn không rõ mặt Sắn, nhưng nghe giọng nói, cụ biết nó là một đứa trẻ đàng hoàng. Cụ là người sống nhân hậu, nên khi biết gia cảnh bà cháu Sắn, cụ thương lắm.

- Nhích lại gần đây với bà, giọng cụ thân mật, khiến Sắn đã bớt run. Thực tình khi mới bước vào tới đầu sân nhà ông xã trưởng, nom thấy toà ngang dãy dọc, vườn rộng mênh mông, nhất là hai cây rơm như hai trái núi đứng sừng sững ngoài vườn, Sắn đủ hình dung ra số lúa gạo và kẻ ăn người ở trong nhà phải tấp nập đến nhường nào.

Bà cụ lấy tay rờ rờ lên đầu, lên mặt Sắn. Cụ sờ rất kỹ đôi mắt, vầng trán và hai lưỡng quyền cùng chiếc cằm. Tay cụ cứ vuốt vuốt hoài cái đầu có mái tóc dày, đen nhức mà cứng như rễ tre.

Cụ nhoẻn cười, lẩm bẩm như người nói chuyện với chính mình: – Tông môn nó, tóc này là bướng lắm đây, sai con lắm đây. Bàn tay cụ lại rờ rờ vào cái cổ, cái gáy thằng cu Sắn. – Gáy đầy xun xun thế này là thảo lắm. Có cái gì hàng xóm chưa hỏi, đã vác đi cho. Bàn tay già dăn deo những da cùng xương ấy lại vòng về phía miệng. Cụ bỏ qua những sợi ria lún phún cứng quơ, đặt ngón tay trỏ vào giữa nhân trung rồi dùng cả hai bàn tay vuốt nhẹ khuôn mặt Sắn và dừng nơi chiếc cằm nở nang của chàng trai vạm vỡ, chỉ còn vài tuần trăng nữa sẽ chính thức là cháu rể cụ. Gương mặt cụ rạng rỡ, phản chiếu sự hài lòng.

Ông xã trưởng lại dẫn Sắn lên nhà trên, nơi có bộ kỷ gụ kê làm phòng khách. Gia nhân cũng vừa đi đón được ông phó may về. Uống nước xong, ông cho đầy tớ đi mời cô Lan tới để ông sai.

Một lát, cô con gái út của ông bẽn lẽn bước vào.

- Thưa thày cho gọi con. Giọng cô dịu dàng, ấm áp. Cô có cặp mắt đẹp như mắt bồ câu, nước da trắng hồng. Khi nói, gương mặt cô bừng sáng. Cô không thuộc loại người đẹp sắc sảo, mà chỉ là một thôn nữ có duyên thầm, một người đôn hậu. Ở cô toát ra một tâm hồn trong lặng lạ kỳ. Và nếu như có ai đó nhìn cô mà thấy gợn vẩn gì, hẳn là chính trong lòng người đó đang tàng ẩn một âm mưu bất tường.

Bữa nay cô vận chiếc áo cánh lụa thâm, cổ tròn lá sen trùm kín vai, lớp vải viền cổ bằng là, màu trắng ngà, tay áo thụng, rộng ước đến gần chín tấc, cỡ hơn một gang rưỡi tay; ngang lưng thắt dải lụa màu chàm, múi buông bên trái, mặc váy lụa thâm, hoa chìm.

Ông xã trưởng trao cho người con gái chùm chìa khoá và dặn:

- Con vào mở chiếc hòm cái, còn mấy súc vải bê hết ra đây cho thày.

Lan thoăn thoắt bước về phía gian đầu hồi, nơi kê chiếc hòm cái chiếm gần nửa gian nhà. Cô bê ra năm súc vải cả thảy, và đặt vào góc kỷ, đã toan lui thì cha cô gọi giật lại.

- Này con, ở lại đây cha bảo. Sự thật, ông xã trưởng chỉ muốn bữa nay cho hai trẻ tường mặt nhau, nên ông mượn cớ mời bác phó may tới nhà, để may quần áo cưới cho chúng.

Chỉ vào tấm vải thanh cát, ông xã trưởng bảo ông phó may:

- Chú may cho cháu Sắn đây một cặp áo dài. Trong đó một chiếc mặc thường ngày, còn một chiếc mặc vào ngày cưới. Chiếc áo cưới của cháu, ông nhớ phải may đúng kích thước triều đình đã ban, kẻo ngày vui của các cháu lại có người bắt bẻ thì xui lắm. Còn mấy tấm lụa hoa kia, chú may áo dài cho cháu gái, tấm lụa đen mỏng này may váy cho cháu.

Ông phó may lấy thước ra đo. Ông cầm thỏi son non vạch các đường chéo, ngang, dọc trên tấm vải. Và số đo cũng ghi luôn lên mặt vải.

Ống tay rộng 9 tấc.

Nách rộng 8 tấc 2 phân.

Vừa ghi số đo, ông phó may vừa nói, chẳng ra cằn nhằn, cũng chẳng phải là khen.

- Cậu này nom người có vẻ mảnh thế mà lại hoá cỡ đại.

- Nó lẳn mình trắm, ông xã trưởng đáp lời ông phó may. – À mà ông để chiều dài áo cưới của thằng cháu Sắn là bao nhiêu đấy?

- Dạ thưa ông xã trưởng, cứ theo quy ước triều đình ban thì áo của các quan, chiều dài cách mặt đất là hai tấc, còn dân phải ngắn hơn từ hai đến ba tấc nữa ạ. Dạ thưa ông, chúng tôi làm thợ mà không rành về thể thức, chuẩn mực thì lấy vải đâu, lấy tiền đâu mà đền cho khách; không những thế còn đắc tội nữa chứ ạ.

Đo đạc xong, ông xã trưởng cho Sắn về, còn ông phó may được giữ lại may quần áo cưới cho vợ chồng Lan đến khi nào xong. Hằng ngày ông được phục dịch ba bữa cơm. Bữa tối được nhà chủ mời thêm hai ly rượu. Nếu phải thức khâu khuya, thì được ăn thêm bữa cháo đêm. Ông phó may không phải ngồi ăn với đám thợ cày thợ cấy, nhưng cũng không được ngồi ăn với ông bà xã trưởng. Nghĩa là ông phó may ăn cơm uống rượu một mình. Dường như ông cũng đã quen lắm với cảnh này rồi.

Làm thợ may gần trọn đời, may áo quần cho đủ loại người từ quan lại đến dân thường. Nhưng sao ông vẫn băn khoăn một điều rằng: có bao nhiêu màu đẹp, vải đẹp, dễ chế tác thì vua, quan giành phần hết.

Này nhé, màu đại hồng là của đấng chí tôn. Kẻ nào lạm dùng chỉ có mất đầu.

Màu tía là sắc phục của các quan nhất, nhị phẩm. Màu đào hồng là sắc phục của hàng tam phẩm. Ngũ, lục, thất phẩm là các phẩm hàm gần cuối bậc, độc chiếm màu biếc.

Bát, cửu phẩm là thuộc hàng quan lại cuối cấp phải dùng màu xanh, tức màu thanh cát, gần với màu chàm dành cho thứ dân.

Trong đầu óc bác phó may thì có bao nhiêu màu chánh sắc tươi tắn thì vua, quan chiếm hết. Dân chúng chỉ được dùng màu xanh chàm, màu nâu và vải mộc trắng.

Vì vậy, áo cưới của các cô cậu này từ màu sắc đến vải vóc cũng đều là đơn sơ, mộc mạc.

Bác phó may lim dim đôi mắt mơ màng, ước sao có một xã hội mà ai, nước da hợp với màu nào thì may màu ấy. Ai có đủ tiền mua loại vải nào thì may loại vải ấy. Còn như bây giờ ôi thôi, mặc sai màu sắc, sai vải vóc đã kê cứu theo thứ bậc, thì cứ gọi là mất nhà mất cửa, thậm chí mất mạng như chơi. Nếu không, thì ông xã trưởng đây, hẹp gì không may cho cậu tế tử một cặp áo cưới bằng gấm lam Tàu. Và cả cô con gái ông nữa, hàng vóc, nhiễu thiếu chi thứ làm đẹp thêm nhan sắc của cô trong ngày cưới.

Đã qua lâu rồi các lễ chạm ngõ, lễ hỏi, nay đến kỳ lễ cưới, bà mẹ ông xã trưởng gọi con vào hỏi:

- Con Lan là đứa cháu gái cấn cơm cấn sữa, mẹ thương nó. Nó lấy chồng nhà nghèo, nhưng mẹ xem thằng bé ấy rồi sẽ nên người. Con nên lo liệu chu đáo kẻo cháu nó tủi thân. Ngày xưa, mẹ lấy thày con, cũng chỉ có hai bàn tay trắng, bốn bàn tay không mà nên cơ nên nghiệp. Vậy chứ con định thế nào, nói mẹ nghe.

- Thưa mẹ, ông xã trưởng vừa nói vừa nhích gần lại chỗ bà cụ, vì ông sợ mẹ nặng tai nghe không rõ. – Thưa mẹ, phần nhà mình thì chẳng có gì đáng ngại, trâu, bò, lợn, gà đầy nhà, mời khách đến đâu, giết thịt tới đó. Còn quần áo cưới của các cháu, con đón phó may về may tại nhà rồi. Lễ nghĩa tiền bạc bên nhà mình thách bao nhiêu để thiên hạ không nghĩ rằng cho không con gái, mẹ để con tính toán. Vâng thưa mẹ thách là để lấy cái tiếng thôi, con sẽ giúp bên nhà trai đủ. Cả việc chi phí ăn uống bên nhà trai, con cũng lo hết.

- Con nhớ nhá, con lo cả hai bên cũng là lo cho con mình thôi, không được viết văn tự bắt bà cụ Giá ký nợ đó nghe con. Ăn ở cốt là như cái đức. Còn của cải là ở hai bàn tay con ạ.

- Vâng thưa mẹ, con sẽ làm theo ý mẹ.

Ông xã trưởng cho dọn hẳn ba gian nhà ngang để bày biện của hồi môn cho con gái ông sắp về nhà chồng.

Ngay gian giữa, vật đầu tiên đập vào mắt ta là chiếc giành nhỏ trong lót vuông vải trắng, đựng một cục đất to bằng quả bưởi. Cục đất xắn ở góc vườn nơi gần cây mít năm thân to bè, gần bằng cây đa trước cửa đình làng. Cục đất màu phù sa đỏ đậm, khiến ta nghĩ tới những mùa màng bội thu.

Đó là nắm đất hồi môn mà bất cứ người con gái nào về nhà chồng cũng được cha mẹ đẻ chia cho. Ngay cả các cô quận chúa, công chúa đem theo mình hàng đấu ngọc, vàng, đồ trang sức về nhà chồng, cũng không thể thiếu được nắm đất hồi môn.

Vì sao vậy? Ấy là bởi con người ta mới sinh ra đã được đất nâng đỡ, trong suốt cuộc đời được đất nuôi dưỡng, tới khi chết lại về với đất. Đất chính là vật thiêng mà tạo hoá ban cho con người. Bởi vậy con người không bao giờ lìa bỏ đất.

Sau giành đất là hai chiếc vai cày gỗ nhãn đỏ au. Mỗi chiếc vai cày sẽ được kèm theo một con trâu. Sau hai chiếc vai cày là năm chum đựng đầy thóc kê sát tường. Những chiếc chum màu da lươn dày dặn, mỗi chiếc chứa tới cả trăm đấu thóc giống kia, là những giống lúa tốt để cho vợ chồng cô dâu chú rể lập nghiệp.

Dưới chân những chum thóc sừng sững là những chiếc lọ gốm màu xanh ngọc, màu huyết dụ, màu ngà chỉ nhỏ bằng nắm tay, đựng đầy các hạt giống rau như rau cải, rau dền, mướp, bí, đậu ván, đậu đũa, mùi, thìa là, ớt…

Gian đầu bên kia là các thứ đồ đan như rổ, rá, giần, sàng, mẹt, nong, nia; gian đầu bên này treo thuần những áo váy, chăn gối của cô dâu. Kế vách kê chiếc hòm cái sáu chân, mới đóng bằng gỗ xoan đào thơm phức. Chiếc hòm ấy sẽ bỏ tất cả đồ dùng của cô dâu vào đó, rồi khiêng về nhà chồng cùng với lễ rước dâu. Trên mặt hòm cái, bày chiếc khay khảm xà cừ. Trong khay có chiếc hộp trầu bằng đồng đỏ, một quả đào bằng bạc để đựng vôi ăn trầu. Cạnh hộp trầu bạc có dây đeo chiếc vuốt hổ để kỵ nắng gió. Cạnh đó là đôi vòng đeo chân bằng bạc, mỗi chiếc vòng lại có thêm một chùm ba chiếc nhạc nhỏ bằng đầu ngón tay út. Đây là những chiếc vòng mà ông bà xã trưởng cho con gái đeo từ thuở nhỏ, nay được đem theo để rồi lại đến lượt con cô.

Mấy bữa nay người trong xóm, trong làng, kể cả người thiên hạ cứ lũ lượt kéo vào nhà ông xã trưởng để xem trưng bày của hồi môn, mà ông xã trưởng cho người con gái út được đem về nhà chồng. Thật ra đây không phải lần đầu tiên nhà ông xã trưởng trưng bày của hồi môn. Mà đây là lần thứ năm ông chia của cho con gái đi lấy chồng. Các lần trước con gái ông lấy chồng vào các nhà môn đăng hộ đối, nên người tới xem cũng vừa phải. Nhưng lần này, người đến xem đông nghịt. Bởi người ta tò mò, rằng chàng rể nhà ông xã trưởng lần này là một người nghèo vào loại nhất làng, xem ông đối xử ra sao. Mặc dù người vào xem đông, nhưng gia nhân đều chu tất; không ai là không được mời trầu, mời nước.

Làng xóm gần xa, ai tới xem của hồi môn của con gái ông xã trưởng, lúc ra về đều tấm tắc khen ông là một người nhân hậu, không phân biệt giàu nghèo.

Trước ngày cưới, bên nhà trai dẫn lễ. Mọi việc, bà cụ Giá lại phải nhờ đến bà Luyến. Bà Luyến là một bà mối biết công biết việc, biết ăn biết nói. Cả làng ai cũng gọi bà là “Bà Nguyệt”, tức là người thay tạo hoá xe duyên lành cho trai gái đến tuổi trưởng thành. Bà là người tính toán giỏi, thuyết phục giỏi. Bà đi về giữa nhà ông xã trưởng và nhà cụ Giá thoăn thoắt như một con thoi. Bàn bạc ngã ngũ lễ lạt với bên nhà gái, cần những gì những gì xong, bà tính ra thành tiền. Hết bao nhiêu, ông xã trưởng mở tráp đếm đưa tất cả cho bà, nhờ bà mua sắm hộ bà cháu bà cụ Giá. Bà Luyến là người đàng hoàng, bà giúp ai là giúp hết lòng, một mảy may bà cũng không thèm tơ hào.

Hôm dẫn lễ, bà mời ba ông bà cụ cao tuổi, nhà khấm khá, con cháu đầy đàn đi cùng với bà và cậu Sắn.

Dẫn đầu là bà mối mặc áo dài vải thanh cát, bê tráp quả trong đó đựng một cơi trầu, một chai rượu và một bao chè.

Mấy anh con trai trong xóm được mời làm phu khiêng lễ. Thoạt tiên là ba vò rượu nếp thơm, mỗi vò một đòn khiêng, tiếp đến ba thúng đầy gạo nếp cái hoa vàng thơm nức, mỗi thúng một đòn khiêng, sau rốt là một con lợn to, phải dùng tới hai đòn mới khiêng nổi.

Bên nhà trai cũng đã dọn nhà, dựng rạp, mượn bát đĩa chuẩn bị làm cỗ bàn nấu nướng.

Thoắt đã tới ngày đại cát. Tháng giêng trời rét ngọt. Lúa má vừa cấy xong trước tết. Cỏ lúa chưa đến kỳ. Nước lúa còn ăm ắp ruộng. Thảng có nhà lỡ có bát tằm ăn rỗi, hoặc đang dệt dở mấy lọn tơ thì hơi bận mải, còn phần đông mọi người đang rỗi việc.

Các làng đang đua nhau mở hội. Trống vật, trống chèo khua rộn xóm thôn suốt ngày đêm. Già trẻ, gái trai đi trảy hội từ làng này sang làng nọ nối nhau tấp nập.

Hội cũng vui mà cưới cũng vui. Dẫn đầu đám rước dâu của vợ chồng nhà Sắn là năm cặp trai gái với năm cặp “nõ” – “nường”. “Nõ” và “nường” đều đan cốt bằng tre hóp ngoài phết giấy điều. Nõ tượng trưng cho bộ phận sinh thực khí của người con trai, to và dài gấp đôi cái chày giã cua, khoảng bốn gang tay người lớn. Nường tượng trưng cho bộ phận sinh dục của người con gái to bằng chiếc nón đội đầu của mấy người lính thú. Các cặp trai gái mang nõ – nường đều vận áo dài lửng màu chàm, thắt lưng bó que màu đen, đeo mặt nạ mo nang. Họ nhảy theo nhịp ba, theo trịch của ba người vỗ ba chiếc trống cơm đeo trước ngực. Các cặp trai gái vừa nhảy vừa hô… “tinh-tinh-phoọc!”. Hai hàng nam nữ bước theo nhịp. Nhịp bước rơi đúng vào tiếng “tinh”. Hai bước tiếp theo tiếng “tinh”. Sang bước thứ ba thì hàng bên trái ngoảnh về bên phải, hàng bên phải ngoảnh về bên trái, nhịp chân rơi vào tiếng “phoọc”. Đúng lúc ấy thì hai vật nõ – nường tượng trưng kia xỏ khít vào nhau. Cứ lặp đi lặp lại giai điệu như thế suốt đoạn đường dài. Trẻ con và cả đám thanh niên nam nữ chạy theo những cặp nõ – nường và cùng bắt theo nhịp “tinh-tinh-phoọc!” thật là sôi động.

Tiếp đám rước nõ – nường là cụ già cao tuổi nhất làng. Dân làng thường gọi cụ là cụ Mốc. Cụ Mốc xóm Đông sức lực còn khang kiện, nhà khá giả, con cháu đầy đàn. Cụ có mái tóc bạc trắng búi gọn lại phía sau gáy. Cụ đội chiếc mũ bình đính bằng lụa màu đen. Cụ có chòm râu dài tới ngực, sợi nào sợi ấy sóng như cước. Nước da cụ hồng hào. Mình cụ khoác tấm áo thụng dài bằng gấm trổ hoa màu xanh, về cái màu xanh này chỉ các hàng quan lại thất, bát phẩm mới được mặc nhưng vì triều đình ưu trọng người già từ bậc đại lão trở lên thì được phép mặc.

Tay cụ chống hờ cây gậy trúc, hai bên tả hữu hai đứa chắt nội, một trai một gái tóc để trái đào, mặc áo dài thanh cát lon ton chạy theo cụ; trên trán mỗi đứa đều có điểm dấu bằng nước quết trầu đỏ chót.

Sau cụ Mốc là hàng mấy chục các bà các ông, thuộc hàng cô dì chú bác của cô dâu chú rể, vừa bỏm bẻm nhai trầu vừa nói chuyện râm ran. Tiếp đến là dâu rể cùng các bạn bè phù dâu phù rể, ăn vận rất đẹp. Chú rể Sắn, lần đầu tiên trong đời được mặc chiếc áo dài thụng vải thanh cát còn thơm mùi hồ, lại đội chiếc khăn lượt đen xếp hình chữ nhân để lộ ra khuôn mặt đôn hậu và phảng phất chất kiêu dũng của con nhà võ, ẩn sau cặp mắt xếch và đôi chiếc lông mày mũi mác kia.

Sắn vận chiếc quần vải trắng ống rộng, chân đi giày vải đen mũi cong, nom bảnh bao tươi tắn khiến các chàng trai phù rể cảm thấy hãnh diện vì anh.

Cô dâu Lương Thị Lan, vợ Sắn vốn là một cô gái có duyên, ưa nhìn. Bữa nay, cô vận bộ áo dài mớ ba càng làm tăng vẻ đài các của một cô gái con nhà giàu. Đó là bộ áo dài thụng, trong cùng là chiếc áo màu chàm, giữa là nếp áo thanh cát, lớp ngoài cùng là lụa đen, hoa cúc dây chìm. Cả ba chiếc áo dài đều có cổ lá sen trùm kín bờ vai, và đều viền nẹp cổ bằng lụa trắng ở phía trong; chiếc thắt lưng lụa màu mỡ gà thắt mũi ra ngoài lớp áo mớ ba, nom người cô thon thả bắt mắt. Lan đội chiếc khăn vuông trùm đầu bằng vải thanh cát ôm lấy khuôn mặt trái xoan đến là xinh, chân cô đi đôi hài mũi cong, váy thả chùng quét đất.

Sau Lan độ vài chục người là đoàn vận chuyển các đồ hồi môn. Đi đầu là chiếc giành trong đựng nắm đất đã gói bọc kỹ càng, đoạn hậu là hai con trâu tơ một con đực một con cái để kéo cày và chăn nái.

Năm cặp nõ – nường và ba chiếc trống cơm vẫn làm huyên náo giòn trò. Đôi lúc mỏi chân, mỏi mồm tạm nghỉ thì họ lại đốt pháo. Những tràng pháo tép nổ giòn, khói xanh thơm thơm bay theo vụn giấy đỏ bám phủ lên đầu lên áo mọi người, và rơi hồng cả mặt đất.

Chẳng mấy chốc đã tới cổng nhà trai. Năm cặp trai gái múa nõ – nường thu đồ nghề lùi lại phía cuối đoàn người, nhường chỗ cho cặp trai gái khiêng chiếc giành trong có cục đất hồi môn vào đặt giữa sân. Người nhà ra đón lấy nắm đất hồi môn và đón cả đám cưới vào nhà.

Lễ tế tơ hồng bắt đầu. Trống phách, đàn sáo nổi lên. Quan viên hai họ ngồi kín rạp. Họ uống nước, ăn trầu, họ chúc tụng đủ mọi điều tốt đẹp cho bà cháu bà cụ Giá, ở hiền gặp lành và ai cũng bảo: “Ông Trời có mắt!”.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 25.09.2018, 13:00
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5390 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
XVI

Đêm xuân tịch mịch. Khắp bốn mặt hoàng thành im phăng phắc. Thảng có đàn vạc ăn đêm thả vài tiếng vu vơ trên không trung, rồi sự yên tĩnh lại trả về cho đêm tối. Vua Thuận Thiên vẫn ngồi trước án, bên ngọn đèn dầu chín bấc để đọc sớ, tấu, biểu của các đài, sảnh, viện hoặc của các lộ gửi về.

Trong đám các giấy tờ đầy ắp ấy, thường nhà vua lựa những biểu chương từ các nơi biên trấn để đọc trước. Mặt bắc, mặt tây, mặt nam, mặt nào cũng phải cảnh giới. Bởi đâu chẳng là cương thổ của hoàng triều. Tuy nhiên, mặt bắc là trọng yếu nhất, vua thường nghĩ vậy.

Trái với lệ thường, bữa nay nhà vua lại lựa mấy bản tấu trình của các quan Tả, Hữu gián nghị đại phu để đọc trước.

Đọc xong bản tấu của quan Tả gián nghị Lương Tằng, mặt nhà vua bừng đỏ. Dằn lòng, vua cầm lấy bản tấu của quan Hữu gián nghị Trịnh Túc.

Thì ra hai người cùng can ta một việc.

“… Binh là việc hiểm thế mà nhà vua lại ham đánh dẹp.

Nhà vua vừa tức vị tháng 10 năm Canh Tuất (1010), thì tháng 2 năm Tân Hợi (1011) đã thân chinh đốc suất sáu quân, đi đánh giặc Cử Long[64] ở Ái Châu rồi.

Tiếp đến cuối năm Nhâm Tý (1012), lại thân dẫn đại quân đi chinh thảo Châu Diên, lúc về tính mạng suýt bị nguy ở Vũng Biện.

Kế đó, năm Quý Sửu (1013) lại tự mình cầm quân tiến đánh châu Vị Long. Sang năm Giáp Dần (1014) bình giặc man Tống trên châu Bình Lâm. Rồi mùa xuân năm Ất Mão (1015) lại dẹp các châu Đô Kim, Vị Long, Thường Tân, Bình Nguyên.

Đành rằng nước muốn thái bình phải dẹp yên bốn cõi. Nhưng năm lần ra quân ấy liệu có cần phải bệ hạ ra tay cả năm không? Thiết tưởng chỉ có lần hai mươi vạn giặc man Tống tràn sang lấn cõi năm Giáp Dần, bệ hạ đích thân thảo phạt, chúng thần không dám bàn cãi. Còn bốn lần kia, nơi thì đám giặc cỏ, nơi thì thủ lĩnh người man làm phản, triều đình thiếu gì tướng giỏi thừa sức đánh dẹp, há cần bệ hạ phải ra tay!

Bệ hạ là nhân chủ của một nước, phải biết giữ tấm thân muôn quý để dùng cho nước, thế mà lại ham chút công nhỏ của đám võ biền. Nơi trận mạc kẻ kia mai phục bắn lén, biết đâu mà lường. Còn như bệ hạ muốn tỏ uy vũ, thì trong nước ai mà chẳng nhớ võ công của bệ hạ tháng chạp năm Kỷ hợi (999), ngày ấy bệ hạ chỉ là một tiểu tướng quân mới hai mươi lăm tuổi mà giúp Lê Hoàn hoàng đế chuyển bại thành thắng trong trận Hà Động dẹp tan khê động Thạch Thành làm phản. Lại như năm Giáp dần (1014) mới đây, chỉ ra tay một trận bệ hạ đã quét sạch hai mươi vạn quân binh man Tống, chém đầu hai tên đầu lĩnh Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí, thu năm vạn ngựa Hồ cùng biết bao binh khí quân lương, khiến Tống Chân tông khiếp sợ.

Uy vũ bệ hạ như thế tưởng đã là đủ. Nếu bệ hạ cứ bao biện làm cả việc của người dưới, thử hỏi chư tướng muốn lập chút công nhỏ ngoài mặt trận, để dâng bệ hạ, thì họ biết làm thế nào.

Vì đại cuộc, bệ hạ nên để tâm vào việc an trị thần dân. An trị muôn dân không gì bằng nuôi vỗ dân. Nuôi vỗ dân không bằng lo cho dân có ruộng cấy trâu cày. Đó là phần dân sinh. Còn dân trí, dân tâm thì sao?

Bệ hạ có bao nhiêu việc lớn phải lo, phải làm. Xin bệ hạ sớm liệu định.

Còn một điều nữa, chúng thần không hiểu được, rằng các hoàng tử, tuổi đang niên thiếu, biết gì đến chiến chinh, trận mạc mà bệ hạ đã sớm cho lĩnh ấn, cầm quân, tập thói quen chém giết, phỏng có ích gì cho việc dưỡng tâm?

Bệ hạ là người đức độ khoan dung, thần kính cẩn dâng lời nghịch nhĩ (trái tai).

Xin bệ hạ lượng xét.

Hữu gián nghị đại phu

Thần: Trịnh Túc…”

Đọc xong hai bản can gián của Tả, Hữu gián nghị, vua Thuận Thiên toát mồ hôi hột.

Thì ra các quan cho việc ta làm là chăm chút võ công, là đem gươm mổ ruồi. Nếu chỉ nhìn vào biểu can này thì hậu thế sẽ cho ta là một ông vua hiếu chiến, đa sát. Bởi mới chỉ có sáu năm chấp chính thì năm năm liền xuất binh. Chao ôi, các quan không hiểu được lòng ta. Điều quan yếu là ta muốn ra uy trong bốn cõi, khiến những kẻ manh tâm bạo loạn phải ngừng tay, để cho ta bình ổn xã hội. Xã hội mà không bình ổn thì làm sao mà định được dân tâm. Dân tâm đã không định thì làm sao mà hành đạo được.

Ta đánh châu Vị Long năm trước, cốt để cho Hà Trắc Tuấn tỉnh ngộ. Vì thế ta mới mở đường cho y trốn chạy. Nhưng y chứng nào tật ấy, năm sau ta lại ra binh, bắt Hà Trắc Tuấn đem về kinh sư chém bêu đầu ở bến chợ Cầu Đông. Thế là các châu Vị Long, Đô Kim, Thường Tân, Bình Nguyên đi vào đại định.

Việc cho các hoàng tử theo ta đi đánh dẹp, thì quả là các người không hiểu được. Thâm ý của ta, là tất cả các con ta, đều phải trở thành các tướng giỏi. Cho chúng đi, là để ta rèn dạy. Ta thừa biết đây là việc làm bất đắc dĩ, nhưng binh quyền để lọt vào tay kẻ khác thống lĩnh, thì việc phế bỏ một triều đại, là việc làm dễ như trở bàn tay.

Vì sao Đinh Bộ Lĩnh dẹp được mười hai sứ quân, là bởi trong tay ông có đội binh mạnh nhất.

Vì sao Lê Hoàn hiếp được ấu chúa, lấy cơ nghiệp nhà Đinh như lấy đồ vật trong túi áo mình vậy. Ấy cũng bởi quan Thập đạo nắm trọn binh quyền.

Hậu thế khờ khạo, cứ tưởng việc ấy là do sự tự ý thức của Dương hậu trước thế nước lâm nguy. Đâu phải vậy, chẳng qua Dương thị đã có chút tư tình với quan Thập đạo. Và việc y thị làm là để bảo trọng ngôi hậu của bà, chớ đâu phải vì việc nước.

Trao áo, trao mũ cho quan Thập đạo và khuyên mời ông lên ngôi, chẳng qua chỉ là một tích trò để che mắt thế gian. Vả lại tình thế lúc ấy, Dương thị không thể làm khác được. Mọi sự, mọi việc đều ở một tay Lê Hoàn bày xếp cả.

Lại vì sao cơ nghiệp nhà Lê đưa về nhà Lý một cách êm xuôi như thế. Đành rằng có các bậc thiền sư dày công sắp đặt, nhưng nếu như Lý Công Uẩn này không thâu tóm được hết thẩy cấm quân, thì dễ gì triều đình đã quy về một mối.

Suy nghĩ giây lâu, vua Thuận Thiên thở phào nhẹ nhõm. – May thay, ta được các quan gián nghị có cái nhìn sắc sảo để giám sát ta. Nhưng trước hết họ có cái tâm thiện nên mới nhìn thấu nhẽ đục trong.

Bình tâm suy xét lại, nhà vua tự nhủ: “Quả thật việc ta thân chinh như vậy, cũng hơi nhiều”.

Đĩa đèn vừa lụi tắt, cũng là lúc gà gáy dồn, phương đông đã ưng ửng một ráng hồng. Nhà vua vươn vai đứng dậy, thuận tay rút cây kích trong giá binh khí, ngài chạy ra phía sân sau đi một vài đường cho tỉnh ngủ, rồi hôm nay còn phải đến chùa Thắng Nghiêm dự lễ khai mở đạo tràng.

Từ mấy bữa nay chùa Thắng Nghiêm trang hoàng rực rỡ, nào cờ nhà Phật, nào phướn dài, ở mỗi cuối đuôi nheo lại đeo một chùm nhạc, và ở mỗi gót kèo, gót tàu, bẩy đều có treo những chiếc khánh đồng gắn nhạc, gió hơi phơ phất đã nghe âm âm tiếng nhạc rung. Và những chiếc đèn lục lăng, đèn bát giác kết theo hình hoa sen hàm tiếu. Ở mỗi mặt đèn lại vẽ một cảnh thật là sinh động như cảnh đức Thích Ca Mâu Ni tu khổ hạnh; cảnh Phật ngồi nhập định dưới gốc cây bồ đề; cảnh Phật thuyết pháp; Phật thành đạo; Phật nhập niết bàn…

Xung quanh chùa, đại thụ mọc như rừng. Những cây đa, cây muỗm, cây bồ đề cành lá vươn dài. Sang xuân, lộc đa đâm tua tủa tựa hàng trăm ngàn ngọn bút lông thỏ phơn phớt hồng như muốn viết vào nền trời xanh. Hoa muỗm phơi phới đón khí xuân. Mấy cây gạo trước cửa chùa gân guốc cành, nhánh búp hoa chúm chím, chỉ chờ nắng lên là thắp lửa rực trời. Lầu chuông ba tầng cao vút lên như một cây đại thiền trượng, trong đó treo quả đại hồng chung, đúc từ số tiền vua ban là tám trăm lạng bạc cùng với cả đấu vàng do thập phương công đức.

Sớm nay, vua Thuận Thiên tới chùa Thắng Nghiêm không dùng nghi lễ đế vương, người chỉ đi một chiếc kiệu hai đòn khiêng. Nhà vua đội mũ bình đính, mặc áo vóc đại hồng, không thắt đai. Theo hầu vua có quan hữu nhai tăng thống và hai quan chép sử cùng với nửa đô quân tuỳ long do tướng quân Lê Phụng Hiểu cầm đầu.

Bữa nay nhà vua không cho đám trung quan[65] và quan nội hầu[66] đi theo.

Tới tam quan, vua sai dừng kiệu để ngài dẫn bộ vào chùa.

Thiền lão Hương Nghiêm là sư trụ trì vội ra nghênh đón nhà vua. Theo sau là cả sa môn đoàn.

Thiền lão mời nhà vua vào toà phương trượng. Chợt trông thấy thiền sư Vạn Hạnh đang ngồi đối ẩm với thiền sư Đa Bảo trên thiền sàng, nhà vua rảo bước tới trước hai vị, bỏ mũ cúi đầu, chắp tay vái:

- Nam mô A-di-đà Phật, Công Uẩn tôi xin kính chào nhị vị sư phụ.

- Nam mô A-di-đà Phật!

- Nam mô A-di-đà Phật!

- Xin đừng gọi như thế. Xin đừng gọi như thế. Bệ hạ đứng đầu trăm họ, chúng tăng chỉ là kẻ xuất gia, – thiền sư Vạn Hạnh đáp lời rồi hai vị cùng bước ra khỏi kỷ vái đáp lễ nhà vua, nhường chỗ, mời ngồi.

Sư trụ trì vừa bước vào bèn mời nhà vua ngồi lên kỷ còn sư đứng cạnh hai đại lão.

Vua Thuận Thiên cung kính nói:

- Các đại lão đều thuộc hàng tiền bối, đạo cao đức trọng, trẫm tuy được ở trên trăm họ, nhưng đây là nơi cửa Phật, không phân biệt đối đãi, xin các vị tôn trưởng có ngồi thì trẫm mới dám ngồi.

Kiếu từ hai ba lần không được, hai vị đại lão thiền sư mới cùng chịu ngồi chung với nhà vua. Quan theo hầu ngồi tản trên các đôn, kê rải rác khắp thiền phòng.

Nhà chùa dâng thiền trà. Đó là một thứ nước lấy từ thân cây mai già, chẻ nhỏ ra từng thanh, cho vào ấm giỏ hãm với nước sôi. Nước có màu hồng, vị thanh hơi ngọt. Dược điển nói, loại trà này nhuận gan, ích mục, thanh nhiệt.

Lý Công Uẩn đâu có lạ, mấy chục năm làm tiểu tăng theo hầu sư phụ Vạn Hạnh, ngày nào chẳng phải hãm một vài bình cho thầy. Đối với các nhà tu hành, đây là loại trà quý. Thuở nhỏ, Công Uẩn còn phải lấy lá vối hoặc nụ vối, chế biến thành trà vối, pha hãm uống cả ngày. Nhưng thích nhất vẫn là lúc khát, được uống vài ngụm nước mưa ngâu.

Vừa nhấp xong tuần trà, sư trụ trì liền mở lời:

- Tâu hoàng thượng, thưa hai vị đạo trưởng cùng các quan tuỳ giá, đạo tràng này được ra đời cũng là nhờ mưa móc ơn trên. Nay chùa được mở rộng khang trang, lại thêm cả chục dãy nhà làm đạo tràng nữa. Công quả nhà vua lớn lắm. Lớn lắm! Thiền lão Hương Nghiêm cảm động nhắc đi nhắc lại. – Còn về việc lựa tuyển thiền sinh, ngài Hương Nghiêm nói – Chính là nhờ có chiếu của triều đình đã ban về các lộ, cấp độ điệp cho những ai có chí hướng xuất gia. Vì thế ở Thăng Long cũng đã khởi cấp được hơn ba trăm người, trong số triều đình cho phép là một ngàn người. Bởi nhẽ đó, nên đạo tràng Thắng Nghiêm đã chiêu tập được đủ số thiền sinh từ khắp mọi vùng của đất nước về học. Cái khó nhất của đạo tràng là việc tuyển lựa.

Bữa nay là ngày khai giảng đạo tràng, bần tăng có thỉnh hai đại lão thiền sư đây (vừa nói thiền sư Hương Nghiêm vừa trỏ vào hai ngài Vạn Hạnh và Đa Bảo) làm giảng chủ. Bởi nhẽ đây là khoá đầu, vị Hữu nhai tăng thống cũng khuyến cáo bản tự nên mời các thiền lão đạo cao đức trọng cộng sự, để các vị chỉ giáo cho những điều cần thiết.

Nhà vua vừa nghe vị Giám viện tức thiền sư Hương Nghiêm nói, vừa xem đồ hình phân chia các lớp. Vậy là tất thảy có bốn chục lớp, mỗi lớp hai mươi lăm thiền sinh, vị chi khoá này có một ngàn người tu học.

Nhà vua xem rất kỹ về khoá nghi tức là nghi thức tụng niệm hằng ngày chia làm nhị thời công phu (hai thời vào buổi sáng và buổi chiều).

Thời khoá buổi sáng:

- Chú Thủ Lăng Nghiêm

- Chú Đại Bi Tâm Kinh

- Chú Như Ý Bảo Luân Vương

- Chú Dược Sư Quán Đỉnh

- Bát Nhã Tâm Kinh

- Niệm Phật Thích Ca…

Thời khoá buổi chiều:

- Kinh A Di Đà

- Chú Vãng Sinh Tịnh Độ

- Bát Nhã Tâm Kinh

- Niệm Phật A Di Đà

- Hồi hướng Cực Lạc…

Nhà vua thầm nghĩ: chương trình sắp xếp thật là hợp lý. Tri tụng thần chú nhằm gia trì định lực, còn niệm Phật là để nhất tâm bất loạn.

Vua Thuận Thiên tỏ vẻ hài lòng về sự ra đời của đạo tràng. Bởi nếu không có đạo tràng đào tạo các sư tăng thì khó có thể quảng bá được sự đạo.

Vẻ cởi mở nhưng thành kính, nhà vua quay sang nói với hai vị đại lão thiền sư:

- Xin hai vị tiền bối phát tâm dẫn dắt đám thiền sinh này vào đường Đạo, họ chính là những hạt giống của Giáo hội ta.

Từ lúc nhà vua bước vào nhà phương trượng hai vị thiền lão thôi không thiền đàm nữa, mà chăm chú lắng nghe xem nhà vua có phán bảo điều gì. Nhưng nhà vua lại chú mục vào việc sắp xếp trường lớp của đạo tràng cùng giới đạo của bản đạo quy. Hoá nên hai vị đại lão cứ nhàn toạ chờ ý chỉ. Nom cái vẻ ung dung tự tại của hai vị, cứ tưởng như các vị đang chập chờn nửa tỉnh nửa thiền. Kỳ thực trong lòng các vị đang chộn rộn niềm vui. Không vui sao được khi thấy việc vun trồng của mình, điều ước đoán của mình đã ngày một hiển lộ rành rành. Như với thiền sư Vạn Hạnh thì từ khi gặp Lý Công Uẩn mới được sáu tuổi, tại chùa Kiến Sơ do sư Khánh Văn trụ trì. Mới nhác trông Lý Công Uẩn, ông đã thấy cái thần minh anh tú, hiện ra từ đôi tròng mắt và toàn thể gương mặt thơ ngây của cậu bé. Không kìm nén được, Vạn Hạnh đã buột miệng nói ra: “Thằng bé này không phải là người thường, sau này lớn lên, tất có thể giải quyết được mọi việc khó khăn trong đời, trở thành đấng vua giỏi trong thiên hạ”.

Ngày ấy Lý Công Uẩn còn quá nhỏ, chưa ý thức được lời khen của thầy. Và từ ấy, Vạn Hạnh lo nuôi dạy cho Công Uẩn nên người. Thay vì rèn dạy cho Công Uẩn trở thành người xuất gia xả tục, một đạo đồ kế tự truyền đăng của dòng thiền, Vạn Hạnh trước hết trao cho Công Uẩn cái tâm thiện của nhà Phật. Tiếp đó ông dạy cho Công Uẩn nắm được các yếu ước của nhà Nho trong mối rường sắp đặt và bình trị thiên hạ. Cả binh thư, đồ trận, thái ất thần kinh, thiên văn, địa lý ngài đều chỉ bảo đến chỗ rốt ráo của kinh văn. Phải nói, Công Uẩn là người có chí lớn, nên tiếp thụ sự giáo huấn có dụng tâm của Vạn Hạnh rất hài hoà, thầy trò thật là tâm đắc. Nay Công Uẩn công thành danh toại, đó chẳng phải là cái nhân Vạn Hạnh gieo đã thành cái quả Thuận Thiên rồi đó ư?

Còn với ngài Đa Bảo thì sao. Thiền sư là người có con mắt xanh thấu thị. Ngay từ thời Lý Công Uẩn còn là cậu bé mười bốn mười lăm tuổi, theo hầu thầy Vạn Hạnh tới kiết hạ tại chùa Khai Quốc, sư Đa Bảo trông thấy liền nói:

- Cậu bé này cốt tướng chẳng phải tầm thường, ngày sau làm vua, ắt là người này đây.

Lý Công Uẩn nghe sư nói cả sợ, bèn thưa:

- Thánh đế đang trị vì toàn cõi, đất nước yên bình, sư nói thế không khéo gây hoạ tru di cho cả họ nhà tôi.

Sư đáp:

- Mệnh trời đã sắp đặt, dù muốn hay không cũng không được. Nếu quả đúng như nhời, mong đừng quên nhau.

Thiền sư Vạn Hạnh nghe thấy lời đó cũng giật mình, sợ để Công Uẩn theo hầu sẽ có người bàn tán dị nghị, thì tính mệnh Công Uẩn khó toàn, bèn đuổi Công Uẩn trở về chùa Lục Tổ, lại căn dặn rất kỹ càng: “Các sách binh thư, lý số, nhâm cầm độn toán, thiên văn địa lý phải cất giấu đi. Đọc quyển nào lấy ra quyển ấy, không được khinh suất cho người ngoài thấy được”. Từ đấy, Công Uẩn rất cẩn trọng trong việc xuất lộ và giao tiếp.

Nay mọi việc đều đúng như nhời các thiền sư tiên lượng, Lý Công Uẩn không biết lấy gì để trả cái ơn tri ngộ của các bậc tiền bối. Nhất là với thầy Vạn Hạnh, vừa giáo dưỡng, vừa dìu dắt, vừa bày xếp cho nhà vua từng bước, từng bước, cho đến ngày viên mãn. Có nhẽ điều tốt nhất để đền đáp công ơn nhà Phật là làm cho sự đạo được hưng thịnh.

Nghe lời thỉnh cầu của nhà vua, hai vị đại lão thiền sư rất lấy làm đẹp ý. Hai vị cứ đùn đẩy nhau không ai chịu mở lời trước. Một lát, thiền sư Đa Bảo nói:

- Tâu bệ hạ, tăng này là kẻ xuất gia, bốn bể đều là tâm Phật đất vua cả, nên lão tăng thường vân du khắp cõi, chứ có dừng lại ở đâu mà phụng sự bệ hạ. Nói xong thiền sư cười ha hả. Tiếng cười trong trẻo hồn nhiên của người không còn nhuốm một chút bụi trần nào, tựa như sư đã nuôi dưỡng được cái tâm vô lậu vậy.

Thiền sư Vạn Hạnh chợt mở bừng mắt, ngài nói:

- Gần hết cuộc đời, tăng này gắn kết giữa Đạo với Đời, nay tuổi đã xế tàn, còn ngày nào, chỉ nguyện hiến dâng cho sự đạo, mong bệ hạ thể tất cho. Vả lại, các bậc sư tượng bây giờ nhiều vị còn trẻ mà tài năng đức độ đã tới mức quán thông, sức lực lại sung mãn, xin bệ hạ vời những người đó, thì mới giúp bệ hạ lèo lái con thuyền quốc gia ra khỏi chỗ trì bế, mà các triều trước còn để lại gánh nặng cho bệ hạ.

Lý Công Uẩn nhìn hai người thầy mình với tấm lòng kính ái, và quả nhiên sức các vị đã xuống lắm rồi. Với cái tuổi ngoài bảy mươi, các vị sống qua ba triều đại, phải chứng kiến biết bao biến thiên lịch sử, thì cái sự bãi bể nương dâu cũng là chuyện thường tình. Nhà vua rất mong có dịp để đền đáp công ơn các bậc tiền bối. Như thầy Vạn Hạnh đó, nếu không có thầy dạy dỗ và hướng đạo cho, thì thân này bất quá cũng chỉ là một thầy tăng bình thường thôi, chứ có hơn gì ai. Rồi từng bước nhập thế, đều có sự dìu dắt, và cả sự che chở kín đáo của thầy. Công ơn sâu nặng ấy, làm sao ta có thể trả được. Có nhẽ ngài là một vị Bồ tát, do đức Thế tôn phái xuống để tạo nghiệp quả cho đất nước này, mà ta chỉ là một cơ duyên trong then máy do các ngài bày xếp.

Nhà vua lại tự nghĩ: nhưng đền đáp sao đây. Các vị đã xuất gia xả tục, thì các việc như danh lợi các vị coi không bằng cọng cỏ. Khi đã buông xả tất cả, không chấp hữu, chẳng chấp vô, thì đừng nói tới chuyện đền đáp ơn nghĩa với các bậc đại giác này. Nhưng quả thật, nếu không nhắc tới, hoặc không làm một cái gì đó để đền đáp trọng ân của các vị, thì lương tâm ta lại bứt rứt.

Lý Công Uẩn thực sự loay hoay khi ông mở lời:

- Công Uẩn tôi được các sư phụ nuôi dạy thành người, được dân nước ái mộ, nên lạm ở trên trăm họ mà lòng lúc nào cũng run sợ, như người mặc áo cỏ khô ngồi trước lửa. Nhiều lúc lúng túng không biết phải làm gì để đáp lại tấm lòng của trăm họ. Vậy xin các bậc cao minh chỉ giáo cho, xem trong sáu năm chấp chính, những việc triều Thuận Thiên đã làm, cái gì được, cái gì sai hỏng. Và nữa những việc triều Thuận Thiên hành xử với đạo Phật cũng như các đạo Nho, Lão như vậy có được không; các bậc thức giả có dị ý gì không; xin các đại lão cho trẫm được tỏ tường.

Thiền lão Đa Bảo xua tay nói:

- Bệ hạ không phải nhiều lời. Sáu năm chấp chính tha liền tô thuế ba năm, thế là nhân. Bỏ hết các hình phạt tra tấn dã man như cùm kẹp, voi giày, ngựa xé, hổ báo rắn rết hành hình đối với mọi người thế là nghĩa.

Khởi nghiệp của một triều đại bắt đầu từ những việc nhân nghĩa; triều đại ấy nhất định sẽ trường cửu chứ không đoản nghiệp như các triều Đinh, Lê.

Nghe thiền sư nói những điều chân thực bằng vào các việc mà triều Thuận Thiên đã làm, Lý Công Uẩn lấy làm hài lòng.

Là người từng trải sự đời lại thấu hiểu lòng dân, cho nên nhà vua lúc nào cũng băn khoăn về những việc mình làm. Tuy thân ở ngôi cửu ngũ mà lòng lúc nào cũng canh cánh lo âu.

Việc giản đơn như người nông phu thì phải có ruộng đất, phải có trâu bò để cày kéo. Ngay việc ấy cũng không dễ gì làm được. Bởi ruộng đất, trâu bò hiện do các nhà quan, các nhà giàu chiếm hữu gần hết. Không những thế, chúng còn giết mổ trâu bò ăn uống phè phỡn vào các việc tế lễ, tang ma, cưới hỏi, trong khi đám nông phu cứ phải è cổ ra kéo cày thay trâu. Triều Thuận Thiên tuy có khoan nới tô thuế, tạp dịch; song quả thực thân phận người nông phu vẫn chưa hơn gì thân phận đám ngựa, trâu.

Thấy Đa Bảo thiền sư nói những việc có thật, nhưng lại hàm ý khen ngợi vẻ như tâng bốc nhà vua, thiền sư Vạn Hạnh nét mặt hơi nghiêm lại, sư nói:

- Triều Thuận Thiên tuy còn mới mẻ, nhưng đã làm được nhiều việc, thuần những việc nhân nghĩa như ngài Đa Bảo nói. Tuy vậy cũng còn ối việc nhà vua cần phải làm tiếp.

Mong muốn của nhà vua là xây đắp một quốc gia, dân thì giàu mà nước thì mạnh. Gốc của nước là dân. Nhà vua mong cho dân giàu cũng tức là mong cho người nông phu phải có ruộng cấy, trâu cày. Bởi làm ra của cải cho toàn xã hội là ở lớp người này. Thế nhưng phần đông trong số họ, hiện đang phải đọa đày trong kiếp nông nô tại các dinh phủ của quan lớn quan bé, và ở trong các nhà phú hộ. Số không phải là nông nô, thì lại không có ruộng, không có trâu. Thành thử mong muốn của bệ hạ vẫn cứ là mong muốn thôi. Còn bệ hạ tha tô thuế, cũng chỉ người giàu có lợi.

Ngừng lại giây lâu, tựa như còn để cân nhắc nông sâu, đoạn thiền sư Vạn Hạnh lại tiếp: – Bệ hạ băn khoăn hỏi đám thiền lão xem triều Thuận Thiên hành xử với các dòng đạo như thế, các bậc thiện trí thức, các giáo đoàn có dị ý gì không?

Vậy là bệ hạ đang quan hoài đến hai việc bao trùm toàn xã hội, tức là cả thế tục lẫn tâm linh, có đúng không nào? Nói xong, thiền sư ngửng nhìn nhà vua, đôi mắt ngài rọi sáng như hai luồng hào quang khiến gương mặt nhà vua như rạng rỡ thêm lên.

Vua Thuận Thiên gật đầu đáp:

- Đúng thế! Đúng thế. Đó là hai việc lớn quốc gia luôn luôn ám ảnh trẫm. Xin nhờ hai bậc quốc sư chỉ bảo cho trẫm những điều quan yếu nhất, mà triều Thuận Thiên cần phải tiếp nối canh cải.

- Vậy thời, Đa Bảo thiền sư hắng giọng, ngài với cây thiền trượng dựng bên mé thiền sàng gõ xuống nền đất ba cái, rồi chống gậy đứng lên đi loanh quanh. Thiền sư Đa Bảo có thói quen, mỗi khi nói việc gì hệ trọng là người phải nói trong thế hành, tựa như một cao tăng vừa hành thiền vừa thuyết pháp. – Vậy thời, sư nhắc lại, – Việc cấp kỳ là phải làm sao cho người nông phu có ruộng đất cấy trồng. Có ruộng đất thì mới nói đến chuyện người nghèo đủ ăn, đủ mặc được. Nhưng lấy đâu ra ruộng đất cho người nghèo? Vừa buông câu hỏi đột ngột, sư vừa dộng mạnh cây thiền trượng xuống nền gạch, và nhìn thẳng vào mắt nhà vua đang chú mục nhìn sư.

- Quả vậy, nhà vua xác nhận, – ruộng đất cho nông phu là điều khiến trẫm lúc nào cũng canh cánh khôn nguôi, xin quốc sư chỉ giáo.

Thiền sư Đa Bảo đi thêm mấy bước nữa, rồi người ngoắt quay lại phía nhà vua giọng chậm rãi:

- Không! Không thể lấy hết ruộng đất của người giàu để chia cho người nghèo được. Nhưng cũng không thể để cho các chủ đất chiếm hầu hết đất ruộng được. Điều đó không công bằng. Sinh thời đức Thế Tôn cũng không chấp nhận điều này. Vậy thời chỉ có khuyến cáo người không có ruộng đất đem sức ra khai phá đất rừng, đất hoang hoá, đất bãi bồi. Triều đình cấp cho họ gạo ăn làm cái vốn để khai phá đất đai hoang hoá. Nếu không, họ khai phá đến đâu, lại phải bán cho các chủ đất đến đấy. Thiển nghĩ, nếu có chiếu vua ban, ai vỡ được đến đâu cho làm chủ luôn đất ấy, lại tuỳ theo công sức bỏ ra mà tha tô thuế từ năm đến mười lăm hoặc hai mươi năm, ắt là người nghèo sẽ đổ xô đi tìm đất.

Thấy mắt nhà vua vẫn hau háu muốn nghe, thiền sư Đa Bảo lại hồ hởi nói tiếp. Tuy tuổi già nhưng thiền lão có giọng nói sâu trầm khoẻ khoắn, chứng tỏ nội lực ngài còn dư dả. – Nếu nhà vua lại xem xét thấu đáo dân tình mà ban hành một đạo chiếu trong đó hạn chế việc chiếm nô, chiếm điền nữa thì sư này dám chắc với bệ hạ rằng, bệ hạ không muốn cho dân giàu cũng không được. Một khi dân đã giàu thì nước ắt phải mạnh. Đó chính là cái đạo nước nổi thuyền nổi, mà từ cổ xưa các bậc minh quân đã từng làm, mong bệ hạ lưu tâm.

Nhà vua rất hài lòng về lời chỉ bảo nhân nghĩa, mà chính ra đây là cả một kế sách an dân; xuất phát từ cái tâm thiện của thiền sư. Nhà vua chợt nhớ, đã lâu lắm, từ khi ta còn là một chú tiểu tăng ở chùa Lục Tổ hầu thầy Vạn Hạnh, thấy thiên hạ lắm điều bất công. Người thì tiền dư thóc mục, người thì chết đói, chết rét nằm co quắp đầy đường sá, cầu quán.

Người mới sinh ra đã kẻ hầu người hạ cho đến già, đến chết; mưa không tới mặt, nắng chẳng tới đầu. Lại có người cha truyền con nối, đời đời kiếp kiếp làm thân nô lệ. Những điều mắt thấy tai nghe ấy, ta đem hỏi thầy. Thầy khen ta: “Có tấm lòng trắc ẩn trước bất hạnh của người khác, ấy là dấu hiệu của lương tri. Giải toả được những bất hạnh ấy, tức là đem lại sự công bằng cho con người, cho xã hội, ấy là công việc của các bậc thượng trí, thượng giác. Ta kỳ vọng lớn lên con sẽ làm được các việc đó”. Phải chăng bây giờ đã đến cái thời mà thầy ta kỳ vọng chăng?

Thiền sư Đa Bảo vừa dứt lời, ngài lại gõ gậy xuống sàn nhà ba lần rồi lui về tĩnh toạ trên thiền sàng. Vua Thuận Thiên đứng lên vái sư ba vái:

- Đa tạ! Đa tạ quốc sư chỉ bảo khiến cái tâm của trẫm đã bừng tỉnh.

Lúc này cả thiền sư Đa Bảo, cả nhà vua đều hướng về phía thiền sư Vạn Hạnh như chờ đón sự chỉ giáo của người. Nhưng thiền sư vẫn ngồi điềm tĩnh, đôi mắt nửa khép nửa mở, gương mặt bình yên như mặt nước hồ thu. Ở với thầy lâu năm, nhà vua biết trong trạng thái thế này là tâm thầy rất trong lặng, thầy đang tìm về với bản thể uyên nguyên. Và cứ sau giây phút như vầy, tuệ tâm của thầy lại phát sáng. Vì vậy nhà vua rất hoài vọng khi thầy bừng tỉnh là cầu kiến ngay.

Thiền sư Đa Bảo không để ý đến các sự việc thuộc về thiền hạnh của sư Vạn Hạnh, nhưng ngài lại biết rất rõ về thiền nghiệp của sư.

Đa Bảo nói nhỏ, nhưng thanh âm của ngài có độ rung mạnh mẽ, có nhẽ ngài chủ tâm kéo sư Vạn Hạnh vào cuộc tham vấn tròn đầy của nhà vua. Sư nói:

- Vân du khắp cõi, ham mải bạn bầu với thông ngàn hạc nội, với gió thổi mây bay, với lâm tuyền hoang dã, có nhẽ đại lão hoà thượng không bằng bần tăng. Nhưng xét suy sau trước, tính việc ngàn năm, sắp đặt then máy với con mắt tuệ của thiền gia, thì bần tăng không bén gót hoà thượng. Vậy kính xin thiền lão bố thí thiện tâm đáp lời cầu kiến của nhà vua.

- A-di-đà Phật! Sư Đa Bảo vừa dứt lời thì tiếng “A-di-đà” của sư Vạn Hạnh tiếp nối ngay. Và lời ngài nói cứ chảy ra như một dòng nước lưu thoát, như một thiền gia vừa đốn ngộ. – Việc thế tục, việc lợi lạc quần sinh, thiền sư Đa Bảo nói vậy, kể đã đủ đầy. Xin nhà vua lưu tâm hành hoá. Nay Vạn Hạnh ta nói về việc Đạo, việc tâm linh. Nhà vua nên nhớ, khi người ta đói, người ta nghĩ về ăn. Vậy cơm ăn chính là đạo của người đói. Tới khi người ta no rồi, người ta có ruộng đất, trâu bò lúa gạo dư dả rồi thì người ta nghĩ về trí, về tâm. Trí là để khai hoá xã hội, tâm là để khai mở cái thần minh cao cả của con người, ấy là tâm linh Phật. Bởi thế khi người ta no bụng rồi, thì trí và tâm là đạo của người no vậy. Thật ra không hẳn là như thế. Người ta có thể đói, nhưng người ta không thể sống trong ngu muội vì thiếu phần trí tuệ khai mở, người ta càng không thể thiếu phần tâm linh dắt dẫn. Hoá nên không thể nói phải chờ khi nào người dân no đủ rồi mới tính tới con đường khai trí, con đường khai tâm, cũng tức là đường Đạo. Mà phải hiểu rằng, con người dễ bị rơi vào lầm lạc của dục vọng, đam mê, tăm tối, chỉ vì con người thiếu trí tuệ và tâm linh soi sáng. Những việc này sống dưới thời Lê Long Đĩnh, chắc bệ hạ đã tường, ta không nhắc lại nữa. Nay nhân việc nhà vua cho mở đạo tràng, cũng tức như nhà vua mông ân đức Thế Tôn. Ta đã nói từ khi bệ hạ còn trong độ tuổi thiếu niên rằng, nếu để dân ngu muội thì dễ trị. Nhưng dân ngu thì vua hèn, nước nhược, cuối cùng rơi vào sự thống trị của ngoại bang. Nay nhân nhà vua vừa hỏi về sự ứng xử dung hoà giữa các nền đạo, thì tăng này cứ thực lòng bày tỏ, có điều gì sơ khoáng xin bệ hạ đại xá. Trước hết nói về đạo Phật. Đạo Phật là đạo của từ bi hỉ xả, yêu mình, yêu người, quần sinh lợi lạc, không phân biệt sang hèn, giàu nghèo, trên dưới. Đức của nó lớn như nước, đâu đâu cũng nhuần thấm được hết. Vì tính thiện, tính từ ái bao trùm, nên có người bảo nó thiếu phần tranh đấu để tiến hoá. Thật ra thì Đạo Phật lấy nội lực làm động cơ tiến hoá chứ không ỷ vào tha lực. Vì vậy nó hợp với một xã hội mà người người đạt tới phần trí năng thuần khiết. Song le xã hội của bệ hạ thì muôn phần bề bộn mà phần nào cũng còn sơ khoáng lắm. Cho nên bệ hạ phải dựa vào Nho để tải Phật. Đạo Nho là thứ đạo bình trị thiên hạ, nên nó sắp xếp mối rường chặt chẽ. Đạo Nho cũng dạy con người vị nhân, nhưng thực là nó vị kỷ. Ngoài ra nó còn là một trường thực nghiệm các tư tưởng của Bách gia chư tử. Mà tư tưởng nào cũng đầy rẫy sự ganh đua của dục vọng. Dục vọng đẩy tới thái quá thì thiên hạ đại loạn, tức là chiến tranh bùng nổ.

Còn đạo Lão thì sao? Thuyết của Lão Tử có điểm tương đồng với tư tưởng của đức Thế Tôn. Nghĩa là tôn trọng sự an bài của thượng đế. Lấy sự vô tranh làm căn cốt cho cuộc tiến hoá sinh tồn. Đạo ấy vời cao quá. Đạo ấy mông lung quá. Tựu trung người Trung Hoa không với tới được, không theo được. Vì thế nó đã đi trệch cái đích cao thượng mà Lão Tử khởi xuất. Tới nay nó là một thứ đạo của những kẻ mộng du, những kẻ ham sống, những kẻ dị đoan. Đạo này nhập vào ta từ đời Đông Hán. Nhưng mới rộ lên từ đầu đời Bắc Tống. Hiện nước ta nhan nhản những kẻ lánh đời ẩn dật, những kẻ luyện đan cầu tìm sự trường sinh bất lão, nhưng nguy hại hơn cả là bọn vu hích, tức bọn phù thuỷ, gieo rắc những trò dị đoan nhảm nhí, lừa mị dân lành, gây hao người tốn của.

Vạn Hạnh nói mà không cần biết nhà vua có còn muốn nghe. Tựa như ông coi những điều ông cần phải nói với nhà vua, là một bổn phận thiêng liêng vậy. Đột nhiên cặp mắt của thiền sư lim dim khép mở. Một lát sau, thiền sư lại tiếp lời: – Hiện trên đất của bệ hạ đang tồn tại ba nền đạo lớn. Mà đạo nào thì cũng từ ngoài đưa vào, chứ thực đạo của ta chưa có. Hoặc giả nó còn sơ khai lắm, nó chưa tiến hoá kịp với cuộc sống nhân quần.

Bởi thế ta phải mượn các nền đạo từ Tây Trúc, từ Trung Hoa để bù đắp cho cái mà ta thiếu hụt. Song bần tăng xin bệ hạ lưu tâm, cả ba dòng đạo đó, không một dòng nào viên mãn. Do vậy ta không nhất thiết phải trung thành với một dòng nào cả, cũng bởi không có một dòng nào thấu đạt được tâm linh hiền hoà nhưng sâu kín của dân ta. Từ xa xưa, các bậc tiền bối đã ứng hợp mà du nhập vào, thì nay ta phải nhiếp thống cái tinh tuý nhất của cả ba dòng đạo ấy lại, để có được một nền đạo thuần Việt mà không hề sai lạc cốt cách tinh tuý ban đầu của mỗi đạo.

Tựu trung Đạo của ta phải gồm đủ ba phần:

- Tâm linh Phật.

- Xã hội Nho.

- Thiên nhiên Đạo.

Nhưng phải lấy đạo Phật làm chủ thể. Vì đạo Phật ưu việt hơn tất thảy các nền đạo khác.

Như vậy là ta đã hoà đồng được các tông giáo. Nếu nhà vua lấy đạo Phật làm quốc đạo, thì cũng không vì thế mà ức Nho hoặc ức Lão. Nếu có sự phân biệt, ức chế ắt sẽ gây chia rẽ trong dân chúng, cũng tức là gây chia rẽ giữa các nền đạo, và nó sẽ là mối hiểm nguy tiềm tàng, dẫn tới các cuộc lưu huyết đau lòng.

Nhà vua chăm chú nghe như uống lấy từng lời từ người thầy mà theo ông, nếu thiếu ngài, chưa hẳn đã có cái triều đại nhà Lý ngày nay. Vua Thuận Thiên thầm reo lên ở trong lòng: “Cái ta cần tìm chính là cái thầy đã trao cho ta trọn vẹn! Ôi lòng ta sao sáng trong như người vừa đốn ngộ. Thật không có học thuyết nào cao hơn, hợp hơn cái học thuyết tam giáo hoà đồng của thầy ta. Phải, ta dại gì mà khư khư ôm lấy riêng một nền đạo, mà đạo nào cũng có một phần hoặc nhiều phần khiếm khuyết. Hơn nữa nó cũng chẳng phải là một thứ hương hoả của ông cha để lại mà phải khư khư giữ lấy làm gì. Tất cả các nền đạo đều chỉ là phương tiện cho sự sống của dân ta, tựa như đức Thế Tôn đã dạy: “Nó chỉ là cái bè, tức cái phương tiện giúp con người qua sông. Sang sông thì vứt bè lại đi bộ hoặc đi xe thì mới nhanh được. Khốn nạn cho những kẻ ngu khờ, cứ khư khư đội mãi cái bè trên đầu như đội một trái núi, khuất lấp hết cả tầm nhìn và cũng chẳng thể nào bước tiếp…””. Nhà vua vừa suy tư vừa lắng nghe bậc đại lão hoà thượng huấn hỗ.

Thiền sư Vạn Hạnh vẫn bền bỉ nói: – Nhân bữa nay khai mở đạo tràng, bần tăng lưu ý bệ hạ, phải giáo dưỡng lớp sư tăng này khi mãn khoá trở về tu chứng tại các chùa làng. Ngoài hướng hoá phần tâm linh cho nhân chúng, còn có bổn phận khai hoá cho con em họ. Tức mỗi ngôi chùa phải là một ngôi trường dạy chữ và truyền đạo, kế cả việc trị bệnh cứu người và hướng dẫn họ các việc về pháp luật nữa.

Làm được như vậy, dù bệ hạ có không muốn đất nước của bệ hạ phú cường, an lạc cũng không được.

- A-di-dà Phật! Thiền sư Vạn Hạnh đột ngột kêu hồng danh đức Phật. Và ngài đưa tay lên chuỗi tràng hạt đeo nơi cổ, vừa thầm niệm vừa lần hết 108 hạt Bồ đề[67]. Chẳng hiểu trong lòng thiền sư có gì xao động, mà người phải ngừng lời để thảy bỏ phiền não. Đoạn ngài lại tiếp nối câu chuyện: – Bệ hạ! Vì sao bần tăng lại nói nên lấy đạo Phật làm quốc đạo?

Bởi yếu chỉ của Phật giáo không phân biệt giàu nghèo, đẳng cấp, ai cũng có thể theo đạo và tu đạo được. Ai cũng có cơ may trở thành Phật. Vì rằng trong cõi thế gian, ai ai cũng có Phật tính. Do vậy đức Thế Tôn mới nói: “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành”. Ngài cũng từng dạy, ngay các loài vật, hễ đã tiến hoá tới cửu khiếu[68], đều có thể tu Phật.

Chính vì tính bác ái, đại đồng, chứ không kỳ thị chủng tộc như người Trung Hoa phân biệt giữa Hoa Hạ[69] với tứ Di[70]; không phân biệt đẳng cấp như quân tử với tiểu nhân của Nho học.

Lại cũng không quá mơ hồ, hư ảo như Lão học; hoá nên chọn đạo Phật làm nền đạo chính thống cho quốc gia Việt tộc là chân xác.

Vả lại đạo Phật vào nước ta từ rất sớm, từ trước và sau thời nhị nữ Trưng vương[71] đã có các nhà truyền giáo từ Tây Trúc sang ta như Ma-ha-kỳ-vực, Khâu-đà-la, Mâu Tử, Khương Tăng Hội. Trước tác LÝ HOẶC LUẬN và nhiều sách khác cùng các bản kinh Phật quý báu do các vị viết và chuyển dịch sang Hán tự từ đất Luy Lâu[72] vẫn còn truyền tới nay. Điều đó chứng tỏ, đạo Phật đã hòa nhập với tâm linh Việt tộc, cùng tiến hoá theo tư trào văn hoá Việt, mang cốt cách Việt và trở thành Việt Phật từ lâu rồi. Ngược dòng lịch sử ta thấy nền văn hóa Phật giáo vào nước ta từ thời Hùng Duệ Vương, tương ứng với thời đại Chiến quốc của Trung Hoa. Khi ấy nhà nước Văn Lang còn xa lạ với Nho học cũng như nhà Chu còn chưa biết đến đạo Phật.

So với ba nền đạo hiện tồn trên đất nước ta, thì chưa nền đạo nào đủ mạnh như đạo Phật. Đạo Phật có hàng trăm phái, hàng nghìn pháp môn, nhưng lại không có sự tranh chấp giữa các phái tới cố chấp, để trở thành xung đột, thành lưu huyết như các nền đạo khác. Dù nhiều pháp môn, nhưng đều tuân theo yếu chỉ: “Vạn Pháp quy không”[73].

Phải nói, chưa một nền đạo nào có được học thuyết hàm uẩn và siêu việt như đạo Phật. Hiện có tới hàng vạn bổn kinh khác nhau, kinh nào cũng hướng con người tới cõi thiện, hướng con người tới giải thoát.

Ngoài kinh bổn đã du nhập vào nước ta từ lâu đời, còn có nhiều cao tăng đang hành hoá khắp cõi, lại có các đạo tràng đào luyện và huấn hỗ sư tăng để hành đạo. Tín chúng theo về cũng ngày một đông đảo. Cứ ở đâu có hương ấp là có chùa tháp. Có chùa tháp là có tăng, ni chăm sóc phần tâm linh cho dân chúng.

Nói tới đây thiền sư Vạn Hạnh nhìn thẳng vào tròng mắt của nhà vua, như một lần nữa đo dò ý tứ. Và ngài thong thả tiếp – Vậy là bần tăng đã bộc bạch hết gan ruột để dâng lên bệ hạ, nếu bệ hạ xét suy sau trước dùng được điều nào thì dùng, không dùng được thì bỏ.

Thiền sư Vạn Hạnh vừa dứt lời, vua Thuận Thiên liền đứng dậy cúi đầu vòng tay vái thiền sư ba vái và từ tốn nói:

- Con xin lĩnh ý thầy.

Thiền sư Đa Bảo vụt đứng lên gõ cây thiền trượng xuống đất ba cái, ngài cười lớn, và nói:

- Nhời ta có sai đâu. Ta đã bảo đại lão Vạn Hạnh có con mắt tuệ nhìn thấu mọi nhẽ huyền vi của trời đất, ngài quả là bậc thánh tăng.

Đa Bảo thiền sư nheo mắt cười, ngài nói tiếp: – Nhân đại lão hoà thượng phát tâm Bồ đề với nhà vua, về các yếu chỉ dựng xây nền đạo cho Việt tộc, bần tăng xin nói thêm, không phải tới bây giờ, tới thời Thuận Thiên mà ngay từ các đời Đinh – Lê về trước, đạo Phật cũng giúp vào việc bình ổn xã hội nhiều lắm.

Nay triều Thuận Thiên mà khéo phối tạo được một nền Việt đạo, tức là Việt Phật, thì chính nền đạo đó là linh hồn của Việt tộc ta; nó sẽ bồi đắp cho sự tiến hoá không ngừng của non sông đất nước. Nó sẽ là mối dây gắn kết keo sơn giữa con người với con người trên toàn cõi. Nó chính là vật báu giữ nước. Vì vậy nó phải được truyền thừa. Mất nó, dân nước sẽ bơ vơ không nơi bấu víu, không có chỗ trú ngụ tâm linh. Mất nó cũng tức là mất nước.

Thiền sư Đa Bảo vừa dừng lời, cũng vừa lúc viên Hữu nhai tăng thống Thẩm Văn Uyển cùng đạo sư Hương Nghiêm đã làm xong các việc khai tràng, và giáo huấn thiền sinh. Ông trở vào nhà phương trượng thỉnh nhà vua và hai bậc đại lão hoà thượng ra lễ đài để các thiền sinh được chiêm bái.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 41 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:



Đề tài nổi bật 
1 • [Xuyên không - Dị giới] Tà phượng nghịch thiên - Băng Y Khả Khả

1 ... 43, 44, 45

2 • [Hiện đại] Nữ phụ xoay người tiến công chiếm đóng - Bánh Bao Tình Yêu Hấp

1 ... 7, 8, 9

3 • [Hiện đại] Đã từng rất yêu anh - Đọc Miễn Phí

1, 2, 3, 4, 5

4 • [Xuyên không] Đại thiếu gia ế vợ - Đông Phương Ngọc Như Ý

1 ... 10, 11, 12

5 • [Hiện đại] Tổng giám đốc hàng tỷ Cướp lại vợ trước đã sinh con - Minh Châu Hoàn

1 ... 43, 44, 45

6 • [Cổ đại - Trùng sinh] Thừa tướng yêu nghiệt sủng thê - Sương Nhiễm Tuyết Y

1 ... 29, 30, 31

7 • [Xuyên không] Cuộc sống điền viên của Tình Nhi - Ngàn Năm Thư Nhất Đồng

1 ... 53, 54, 55

[Hiện đại] Hôn nhân ngọt ngào - Đam Nhĩ Man Hoa

1 ... 5, 6, 7

9 • [Xuyên không Điền văn] Trọng Sinh Tiểu Địa Chủ - Nhược Nhan (Phần 1)

1 ... 49, 50, 51

10 • [Hiện đại] Hôn nhân bất ngờ Đoạt được cô vợ nghịch ngợm - Luật Nhi

1 ... 57, 58, 59

11 • [Hiện đại - Trùng sinh] Đêm trước ly hôn - Thiên Sơn Hồng Diệp

1 ... 8, 9, 10

12 • [Hiện đại - Quân nhân] Hợp đồng quân hôn - Yên Mang

1 ... 37, 38, 39

13 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 72, 73, 74

14 • [Xuyên không] Trời sinh một đôi - Đông Thanh Liễu Diệp

1 ... 47, 48, 49

15 • [Hiện đại] Nhân gian hoan hỉ - Tùy Hầu Châu

1 ... 8, 9, 10

16 • [Xuyên không - Dị giới] Phế sài muốn nghịch thiên Ma Đế cuồng phi - Tiêu Thất Gia - New C1153

1 ... 41, 42, 43

17 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 59, 60, 61

18 • [Hiện đại] Bảy năm vẫn ngoảnh về phương Bắc - Ân Tầm (Phần 1)

1 ... 49, 50, 51

19 • [Hiện đại - Quân nhân] Sếp dè dặt một chút! - Quả Đào Lạc Đường

1 ... 28, 29, 30

20 • [Hiện đại - Trùng sinh] Anh hai Boss đừng nghịch lửa - Cửu Trọng Điện

1 ... 13, 14, 15



Shop - Đấu giá: TranGemy vừa đặt giá 278 điểm để mua Cung Song Tử
Shop - Đấu giá: TranGemy vừa đặt giá 316 điểm để mua Sunflower Bed
Shop - Đấu giá: đêmcôđơn vừa đặt giá 300 điểm để mua Sunflower Bed
Shop - Đấu giá: TranGemy vừa đặt giá 433 điểm để mua Lá may mắn
Shop - Đấu giá: TranGemy vừa đặt giá 468 điểm để mua Tách trà xanh
Shop - Đấu giá: TranGemy vừa đặt giá 246 điểm để mua Sunflower Bed
Shop - Đấu giá: Sư Tử Cưỡi Gà vừa đặt giá 234 điểm để mua Giỏ đôi gấu trắng
Shop - Đấu giá: Sư Tử Cưỡi Gà vừa đặt giá 242 điểm để mua Cung Bảo Bình
Shop - Đấu giá: TranGemy vừa đặt giá 333 điểm để mua Tiên xanh
Shop - Đấu giá: đêmcôđơn vừa đặt giá 450 điểm để mua Bươm bướm tím 2
Shop - Đấu giá: ngocdung0 vừa đặt giá 417 điểm để mua Bươm bướm tím 2
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 396 điểm để mua Bươm bướm tím 2
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 364 điểm để mua Mề đay đá Citrine 3
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 444 điểm để mua Dây chuyền đá ruby
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 501 điểm để mua Mèo trắng gãi đầu
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 250 điểm để mua Chuột đu dây
Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 386 điểm để mua Thần lửa
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 250 điểm để mua Sao đổi màu
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 328 điểm để mua Cỏ ba lá
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 358 điểm để mua Bé cam
Shop - Đấu giá: heocon13 vừa đặt giá 244 điểm để mua Ma bí
Shop - Đấu giá: heocon13 vừa đặt giá 246 điểm để mua Gấu vàng có cánh
Shop - Đấu giá: heocon13 vừa đặt giá 200 điểm để mua Giày nơ xanh
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 969 điểm để mua Hồng ngọc 2
TranGemy: How are you today? Hôm nay tôi buồn, còn bạn thì sao?
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 245 điểm để mua Bé hồng 5
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 236 điểm để mua Kem biến hoá
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 385 điểm để mua Tình yêu trong sáng
LogOut Bomb: White Silk-Hazye -> Trần Thu Lệ
Lý do: Hi ss cọ cọ
Shop - Đấu giá: salemsmall vừa đặt giá 389 điểm để mua Heo vàng

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.