Diễn đàn Lê Quý Đôn
Cấm đăng tin quảng cáo các lớp học, khoá học, hội thảo, tìm học sinh... Các bài quảng cáo sẽ bị xoá.


Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 27 bài ] 

Đầu voi phất ngọn cờ vàng - Ngô Viết Trọng

 
Có bài mới 29.08.2018, 16:17
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới [Xuất bản - Dã sử] Đầu voi phất ngọn cờ vàng - Ngô Viết Trọng - Điểm: 10
ĐẦU VOI PHẤT NGỌN CỜ VÀNG

images

Triệu Thị Trinh
Nữ Danh Tướng Kiệt Xuất Của Sự Nghiệp Đánh Đuổi Quân Ngô

Tác giả: Ngô Viết Trọng
Tiểu thuyết dã sử
Nguồn text: Missfly82
Ebook: TVE
Nơi xuất bản: Nhà in Thực nghiệp- Hà Nội, 1934


Đầu Voi Phất Ngọn Cờ Vàng là tác phẩm thứ 12 của nhà văn Ngô Viết Trọng. Đầu Voi Phất Ngọn Cờ Vàng là một quyển tiểu thuyết lịch sử với bối cảnh xã hội Việt Nam trong Thời kỳ Bắc thuộc lần Thứ Nhất. Sách viết về cuộc khởi nghĩa của vị anh thư Nước Việt Triệu Thị Trinh với một thành tích chiến đấu dũng cảm can trường. Triệu Thị Trinh còn có tên là Nhụy Kiều Tướng Quân, một tên gọi dân chúng yêu mến phong cho vị nữ tướng trẻ đẹp tuổi mới ngoài 20. Triệu Thị Trinh còn được gọi là Bà Triệu, tiếng gọi kính ngưỡng đối với vị thủ lãnh trẻ, giỏi võ nghệ đã can đảm cầm quân khởi nghĩa năm 248 TL, chống lại ách thống trị, sự bóc lột và chính sách hà khắc nhà Đông Ngô đã đè nặng lên cuộc đời và sự sống của người dân Việt thời đó.

Bà Triệu (chữ Hán: 趙婆), còn được gọi là Triệu Ẩu (趙嫗), Triệu Trinh Nương (趙貞娘), Triệu Thị Trinh (趙氏貞), Triệu Quốc Trinh (225–248), là một trong những vị anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam.

Sử gia Ngô Sĩ Liên ở thế kỷ 15 viết:

Triệu Ẩu (tức Bà Triệu) là người con gái ở quận Cửu Chân, họp quân trong núi, đánh phá thành ấp, các bộ đều theo như bóng theo hình, dễ hơn trở bàn tay. Tuy chưa chiếm giữ được đất Lĩnh Biểu như việc cũ của Trưng Vương, nhưng cũng là bậc hùng tài trong nữ giới.

Bà Triệu sinh năm Bính Ngọ (226)[3] tại miền núi Quân Yên (hay Quan Yên), quận Cửu Chân, nay thuộc làng Quan Yên (hay còn gọi là Yên Thôn), xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Theo Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược, bà chống đỡ với quân Đông Ngô được năm sáu tháng thì thua. Bà Triệu đã tuẫn tiết trên núi Tùng (xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa) vào năm Mậu Thìn (248), lúc mới 23 tuổi.



Đã sửa bởi Nminhngoc1012 lúc 06.09.2018, 13:27.

Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 30.08.2018, 09:01
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Dã sử] Đầu voi phất ngọn cờ vàng - Ngô Viết Trọng - Điểm: 10
LỜI TỰA


Đầu Voi Phất Ngọn Cờ Vàng là tác phẩm thứ 12 của nhà văn Ngô Viết Trọng, là tiểu thuyết lịch sử thứ 6, sau Lý Trần Tình Hận (2002), Công Nữ Ngọc Vạn (2004), Dương Vân Nga: Non Cao Vực Thẳm (2005), Trần Khắc Chung (2009), Chế Bồng Nga, Anh hùng Chiêm quốc (2011), trong đó, Lý Trần Tình Hận đã được tái bản vào năm 2005. Điều này chứng tỏ tiểu thuyết lịch sử của tác giả họ Ngô đã được độc giả hải ngoại tìm đọc với hảo cảm.

Đầu Voi Phất Ngọn Cờ Vàng là truyện dài viết về cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu vào năm 248, chống lại sự thống trị bóc lột, hà khắc của nhà Đông Ngô thời Tam Quốc.

Sau khi chào độc giả bằng tác phẩm đầu tay Vết Hằn Mùa Xuân, một tuyển tập truyện ngắn dễ thương, dành được nhiều cảm tình của người đọc, Ngô Viết Trọng bỗng rẽ sang một nẻo đường mới – mà rất ít người cầm bút muốn dấn thân, nhất là giới cầm bút hải ngoại – là tiểu thuyết lịch sử.

Nhớ lại thời niên thiếu đã có lần mê mẩn đọc Tiêu Sơn Tráng Sĩ của Khái Hưng, Bà Chúa Chè của Nguyễn Triệu Luật, rồi Gia Long Tẩu Quốc, Gia Long Phục Quốc, v.v, chưa kể những Đông Chu Liệt Quốc, Hán Sở Tranh Hùng, Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa… , nên tôi không thể bỏ qua tác phẩm đầu tay về tiểu thuyết lịch sử của anh và nhận ra rằng đây là một sự chuyển hướng hợp tình lý, có thể tạo cho tác giả một chiếu riêng trong sinh hoạt văn học hải ngoại..

Đa số các tác giả thể loại này khi chọn một đề tài nào đó trong lịch sử là muốn vẽ lại lịch sử dưới một hình thức thân thiện, gần gũi, dễ hiểu để độc giả dễ tiếp thu nhưng cũng không thiếu tác giả muốn dựng lại một thời đại, một sự kiện hay một nhân vật nào đó theo cái nhìn của riêng họ để lý giải điều gì đó. Tương tự, trong lãnh vực điện ảnh, khi Trương Nghệ Mưu dựng phim Hero với bao ngoại cảnh vĩ đại tốn kém cũng chỉ với mục đích vẽ ra Tần Thủy Hoàng dưới một cái nhìn khác.

Trong một tác phẩm văn học hay nghệ thuật, tác giả ít nhiều đóng vai một thượng đế nho nhỏ, nghĩa là có thể sáng tạo tùy thích. Tuy nhiên, trong khi viết tiểu thuyết lịch sử thì cái quyền này của tiểu thượng đế bị hạn chế nhiều lắm do quá khứ lịch sử đã thành nếp nên khó mà phóng tay bay bổng. Có lẽ đấy cũng là lý do khiến nhiều nhà văn cảm thấy ngòi bút không được thoải mái nên không ham đi vào lãnh vực này. Đó là chưa kể người viết phải mất công tìm đọc sử liệu thuộc giai đoạn làm bối cảnh câu chuyện, tìm hiểu nhân vật, sinh hoạt của xã hội đương thời, phong tục, tập quán, ngôn ngữ… nghĩa là càng biết nhiều càng nắm vững càng tốt vì sẽ có thêm nhiều chất liệu để tái tạo quá khứ một cách sinh động hơn.

Khi nhà văn Ngô Viết Trọng dấn thân vào lãnh vực này, anh cũng không làm khác hơn. Và lần này, khi chọn đề tài Bà Triệu, anh đã di vào một con đường gập ghềnh hơn vì thiếu sử liệu.

Sau ba phen Bắc thuộc kéo dài cả ngàn năm, Ngô Quyền đã mở đầu thời kỳ tự chủ của nước ta với chiến thắng Bạch Đằng (939), lập ra Nhà Ngô, tồn tại trong 6 năm (939-965). Tiếp đến là Nhà Đinh (968-980), Nhà Tiền Lê (980-1009), Nhà Lý (1010-1225). Trong suốt bốn triều đại này nước ta chưa có một bộ sử nào tuy rằng khoa thi đầu tiên – khoa Tam trường – đã được mở ra vào năm 1075, triều vua Lý Nhân Tông (1072-1127) để tuyển người có văn học ra làm quan. Trong các triều đại vừa kể, Nhà Lý tồn tại lâu hơn cả nên có một tổ chức chánh quyền hoàn bị hơn các triều đại trước. Tuy nhiên, mãi đến năm 1272, nghĩa là bước vào thế kỷ XIII, Bảng nhãn Lê Văn Hưu mới là người đầu tiên cho ra đời bộ sử đầu tiên của nước ta, một nước vốn tự hào có trên 4,000 năm lịch sử. Ấy là bộ Đại Việt Sử ký, chép từ Triệu Vũ đế (207 tr.TL) đến Lý Chiêu Hoàng (1225), gồm 30 quyển, được vua Trần Thánh Tông ban khen.

Qua đó, ta có thể hiểu rằng trước thời kỳ tự chủ (939), để chép sử nước ta, các nhà làm sử đều phải mượn sử liệu từ những ghi chép của Trung Hoa. Với mặc cảm tự tôn “thiên triều” của kẻ đi đô hộ, dĩ nhiên những ghi chép của họ sơ sài và đầy thiên kiến.

Nói đến Bà Triệu, họ gọi là Triệu Ẩu và thêm chi tiết là người cao lớn, thô tháp, hung dữ (giết chị dâu). Những bộ sử đầu tiên của Việt Nam cũng lặp lại những điều này. Ẩu 媼,nghĩa là bà già. Bà Triệu qua đời lúc mới 23 tuổi, chưa chồng, sao gọi là bà già? Như vậy, chỉ có thể hiểu người Hoa muốn gọi xách mé Bà Triệu là con mụ họ Triệu. Có lẽ vì cảm nhận được điều này nên trong kỳ tái bản bộ Việt Nam Sử Lược tại Pháp (Nxb Institut de l’Asie du Sud-Est, 1987), thấy sử gia Trần Trọng Kim đã thay cái tên Triệu Ẩu bằng BÀ TRIỆU (TRIỆU THỊ CHINH) với chú thích ” Bà Triệu, các kỳ xuất bản trước để là Triệu Ẩu, nay xét ra nên để là Triệu Thị Chinh” (Sđd, Quyển I, tr.44). Vua Tự Đức (1848-1883) khi đọc Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục do Quốc Sử Quán biên soạn, tới đoạn Bà Triệu vú dài 3 thước, đã châu phê “ Nhưng nói là vú dài ba thước thì cũng quái gở, đáng cười “.

Tôi dẫn dài dòng như thế để chỉ nói lên một điều: để xây dựng nên Đầu Voi Phất Ngọn Cờ Vàng, Ngô Viết Trọng , ngoài việc dựa vào Đại Nam Nhất Thống Chí (tỉnh Thanh Hóa, mục Liệt Nữ Phụ, Tập Hạ, bản dịch của Trần Tuấn Khải, Nha Văn Hóa, Saigon, 1960) còn phải tham khảo nhiều sách sử khác, sàng lọc các chi tiết, rồi mới dám cấu tứ và xuống bút làm thành tác phẩm. Chỉ với sử liệu dài hơn một trang sách, bằng óc sáng tạo, nhà văn họ Ngô đã có thể cống hiến cho độc giả 200 trang sách đầy cuốn hút với một văn phong giản dị như chính con người của anh. Nếu viết một truyện dài tình cảm trong đời thường, có lẽ người cầm bút không phải khổ công như thế. Sự khổ công đó, ngoài lòng tự trọng và sự tôn trọng độc giả, không muốn muốn cung cấp cho người đọc một món hàng mạo hóa, mà còn được thúc đẩy bởi một động cơ tình cảm khác, âm thầm và mãnh liệt hơn.

Trước cảnh Biển Đông dậy sóng với đủ trò diễu võ dương oai của Tàu cộng, nào xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, tuyên bố lãnh hải lưỡi bò, bức hiếp ngư dân Việt Nam, v.v. mà nhà cầm quyền CSVN vẫn chịu lép một bề, người dân đã đứng lên, đã lên tiếng, và đã bị đàn áp tù đày nhưng vẫn hiên ngang đối mặt,trong đó không thiếu những anh thư của thời đại mới, như Nguyễn Phương Uyên, Đỗ Thị Minh Hạnh, Lê Thị Công Nhân, Huỳnh Thục Vy, Tạ Phong Tần, v.v. khiến ngòi bút của Ngô Viết Trọng không thể nằm yên. Như nhà thơ Trần Trung Đạo đã viết những dòng này cho Đỗ Thị Minh Hạnh:



Đất nước mình không có hôm nay

Nếu hai ngàn năm trước không có bà Trưng, bà Triệu

Và sẽ tiếp tục sống trong độc tài nô lệ

Nếu không có những người con gái như em

Dòng sông dài và phiến đá chông chênh

Nhưng nếu tất cả đều co ro, sợ hãi

Nếu tất cả đều đứng nhìn, e ngại

Dân tộc này rồi sẽ ra sao?



Cũng thế, Ngô Viết Trọng đem tâm tình viết Đầu Voi Phất Ngọn Cờ Vàng không phải để chỉ vinh danh một Bà Triệu mà còn để vinh danh tinh thần Trưng Triệu, khơi dậy ngọn lửa yêu nước đang âm ỉ trong tâm mọi người, ca ngợi và tiếp sức cho các anh thư nước Việt của thời nay.

Sử sách chỉ có tác dụng đối với giới học giả, trí thức bởi nó thuộc loại khoa giáo. Với quảng đại quần chúng, tiểu thuyết lịch sử, và trong thời hiện đại, là phim ảnh, dễ thâm nhập lòng người hơn. Đông Chu Liệt Quốc, Tam Quốc Chí không phải sách sử nhưng hầu như ai cũng thích đọc nó và nhớ rất kỹ những chuyện trong đó. Cũng thế, người ta thấy rõ với sự xâm nhập hàng ngày của phim ảnh lịch sử Trung Quốc qua màn ảnh nhỏ trong xã hội Việt Nam hiện nay đã làm cho thị dân Việt Nam thuộc lịch sử Tàu hơn lịch sử Việt.

Nhiều thức giả quan niệm hiện tượng trên là một mối đe dọa văn hóa nguy hiểm đối với dân tộc Việt. Sự xâm nhập văn hóa ấy có thể coi là một mặt trận trong chính sách xâm lược trường kỳ của người Hán đối với các lân bang.

Dân tộc Việt đã từng trải qua một quá trình vùng dậy trong suốt một ngàn năm Bắc thuộc! Dân tộc Việt cũng đã từng lập được những chiến công oanh liệt nào đánh Tống, nào phá Nguyên, nào đuổi Minh, nào trục Thanh để giành quyền tự chủ! Dân tộc Việt cũng có nhiều danh nhân đã để lại những câu nói bất hủ như “Trẫm yêu dân cũng như yêu con trẫm vậy” (Lý Thánh Tông), “Đừng để ai lấy một phân núi, một tấc đất của cha ông để lại” (Lê Thánh Tông), “Ta thà làm quỉ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc” (Trần Bình Trọng), “Khi nào nước Nam hết cỏ người Việt mới hết người chống Tây” (Nguyễn Trung Trực), v.v…

Đó là một kho tài nguyên phong phú nội tại để các nhà văn, nhà thơ, các nhà dựng phim ảnh, kịch nghệ có thể khai thác mà khỏi cần mượn đến những danh nhân, cảnh trí mang tính giả tạo của Trung Hoa xa lắc xa lơ. Làm được công việc này cũng là một cách để phát triển văn hóa nước nhà đồng thời ngăn chận bớt phần nào mối đe dọa của sự xâm nhập văn hóa nói trên!

Ước mong nhà văn Ngô Viết Trọng tiếp tục con đường tiểu thuyết lịch sử đã đi và ước mong các nhà văn khác chung tay khai thác thế mạnh này của văn học trong khí thế “văn dĩ tải đạo” như người xưa từng nói. Bởi đó, tôi xin trân trọng mời độc giả đọc tiểu thuyết lịch sử Đầu Voi Phất Ngọn Cờ Vàng của Ngô Viết Trọng.

* * *

San Jose, California, tháng Giêng, 2014

VÕ HƯƠNG-AN


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 30.08.2018, 09:02
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Dã sử] Đầu voi phất ngọn cờ vàng - Ngô Viết Trọng - Điểm: 10
UYÊN HẠNH
Đọc Và Giới Thiệu


Đầu Voi Phất Ngọn Cờ Vàng là một quyển tiểu thuyết lịch sử với bối cảnh xã hội Việt Nam trong Thời kỳ Bắc thuộc lần Thứ Nhất. Sách viết về cuộc khởi nghĩa của vị anh thư Nước Việt Triệu Thị Trinh với một thành tích chiến đấu dũng cảm can trường. Triệu Thị Trinh còn có tên là Nhụy Kiều Tướng Quân, một tên gọi dân chúng yêu mến phong cho vị nữ tướng trẻ đẹp tuổi mới ngoài 20. Triệu Thị Trinh còn được gọi là Bà Triệu, tiếng gọi kính ngưỡng đối với vị thủ lãnh trẻ, giỏi võ nghệ đã can đảm cầm quân khởi nghĩa năm 248 TL, chống lại ách thống trị, sự bóc lột và chính sách hà khắc nhà Đông Ngô đã đè nặng lên cuộc đời và sự sống của người dân Việt thời đó.

Trong suốt một ngàn năm bị Tàu đô hộ hà hiếp, một cuộc khởi nghĩa chống Tàu đầu tiên của dân Việt (năm 40 TL) do hai vị nữ lưu lãnh đạo là Hai Bà Trưng và hai trăm năm sau một cuộc khởi nghĩa chống Tàu khác lại diễn ra (năm 248 TL), do vị anh thư Triệu Thị Trinh khởi xướng. Những gương sáng dũng cảm của các vị nữ anh hùng đã được người dân Việt ghi nhớ, và ghi lại trong sử sách. Vấn đề là lịch sử Việt trước tiên do người Tàu viết và có nhiều điểm bị bóp méo sự thật.

Nhìn lại giòng lịch sử nước Việt, chúng ta thấy rằng suốt ba phen Bắc thuộc kéo dài một ngàn năm và từ khi Ngô Quyền mở đầu thời kỳ tự chủ của nước ta (939), tiếp đến là Nhà Đinh (968-980) rồi đến Nhà Tiền Lê (980-1009) và Nhà Lý (1010-1225) và trong suốt bốn triều đại này nước ta chưa có một bộ sử. Mãi đến năm 1272, Bảng nhãn Lê Văn Hưu là người đầu tiên cho ra đời bộ sử đầu tiên của nước ta, bộ Đại Việt Sử ký. Kể từ đó đến nay đã có nhiều bộ sử được viết với những sử gia tên tuổi. Một số đã dày công tra cứu và biên soạn, nhưng vẫn còn có những điểm sai, ví dụ như do cách dùng từ ngữ của Người Tàu với ý đồ miệt thị dân tộc ta, họ đã gọi Bà Triệu là Triệu Ẩu. Chữ Ẩu có nghĩa là Bà già hoặc Con Mụ, và trong sách sử của họ một nữ tướng trẻ đẹp như Triệu Thị Trinh lại được nói đến bằng hình ảnh một người đàn bà hình dáng thô bạo với cặp vú dài ba thước, ác độc giết người. Nhiều sử gia Việt phải mượn sử liệu từ những ghi chép của Trung Hoa và những điểm sai trong sử sách không được thay đổi.

Đi vào lãnh vực viết tiểu thuyết lịch sử, nhà văn Ngô Viết Trọng đã cố tâm làm công việc chỉnh sửa những khuyết điểm nói trên. Đầu năm nay, 2014, ông cho hoàn tất quyển tiểu thuyết lịch sử thứ sáu, Đầu Voi Phất Ngọn Cờ Vàng. Sách dày trên 200 trang, viết về vị nữ anh hùng đã chiêu mộ binh lính đứng lên đánh lại quân Tàu, giành độc lập cho đất nước. Khởi đầu bằng một bối cảnh gia đình của những thường dân là Triệu Thành và Phạm Thị. Từ khởi điểm nầy ông đưa chúng ta đi vào một bối cảnh xã hội mang tính lịch sử với những cảnh huống người dân bị ức hiếp bởi những quan lại Tàu, và những tên tham quan ô lại Việt là tay sai của giặc Tàu tại các huyện, phường, làng, xã. Để rồi sau đó, chúng ta biết đến Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh.

Triệu Thị Trinh là con thứ của Triệu Thăng và Phạm Thị. Cô là em gái của Triệu Quốc Đạt. Nhờ khí chất thông minh và gặp duyên may, cô đã được một bậc trung niên thuộc dòng dõi Tể Tướng Lữ Gia truyền hết võ nghệ và binh pháp ngay từ khi cô còn bé. Lớn lên trong một nền tảng đạo lý vững chãi qua sự giáo dục của cha mẹ và vị thầy gia phong, cô đã từng chứng kiến những bất công hà hiếp ở đời trong cuộc sống đầy bất hạnh của người dân lương thiện. Một tình yêu quê hương dân tộc nẩy sinh và lớn mạnh trong lòng cô. Uất hận vì cảnh tượng người dân bị trù dập và oằn người trong nghiệt ngã dưới sự tàn độc của giặc Tàu, Triệu Thị Trinh đã chiêu binh mãi mã và với sự giúp sức của anh trai Triệu Quốc Đạt, cô đánh bật được lũ giặc Tàu tham ô. Nhưng vì sức yếu thế cô, cô đã không cầm cự được lâu và cuối cùng phải thua về tay Lục Dận. Sa cơ thất thế, cô đã chọn cái chết để khỏi bị nhơ thân vì lũ man rợ Tàu phù, bởi vì từ ngày còn nhỏ, cô đã chứng kiến cảnh bị ức hiếp và hãm hiếp mà người dân Việt phải chịu dưới sự lạm dụng quyền uy của giặc Tàu và những tên tham quan ô lại người Việt “duồng gió bẻ măng” đã làm cho đời sống người dân càng khốn khổ cay đắng hơn.

Đọc Đầu Voi Phất Ngọn Cờ Vàng của nhà văn Ngô Viết Trọng chúng ta không khỏi liên tưởng và kết nối thảm cảnh của người dân trong Thời kỳ Bắc Thuộc với tình hình đất nước hiện nay dưới sự cai trị tàn độc của một thể chế bất nhân tại Việt Nam. Ngoài việc ức hiếp dân lành, cướp đất giết người, đảng CSVN còn cắt đất dâng biển cho Tàu cộng. Là con cháu Bà Trưng Bà Triệu, là con cháu của những anh hùng hào kiệt đã dày công dựng nước và giữ nước, chúng ta và con cháu chúng ta không thể làm ngơ trước những hành động hại dân bán nước của một bè lũ mua danh hám lợi đang cầm vận mạng đất nước Việt Nam trong tay. Tinh thần Trưng Triệu không cho phép chúng ta nhắm mắt bỏ mặc.

Đầu Voi Phất Ngọn Cờ Vàng là một đề tựa dễ làm giao động và rung động lòng người ngay trong thời điểm nầy. Nhà văn Ngô Viết Trọng đã chọn cho tác phẩm thứ mười hai của mình một cái tên rất đơn giản nhưng giàu hình ảnh của những hoài bão to lớn, ý chí bất khuất, sự can trường và lòng yêu nước cao độ, được tôi luyện bằng nỗi khổ cùng cực của con người, tạo nên sức mạnh vô biên giúp người dân hiền vùng lên quật khởi dưới ngọn cờ chỉ huy của vị nữ tướng Triệu Thị Trinh, cưỡi trên lưng con bạch tượng một ngà đánh ngã ách thống trị bạo tàn của người Tàu. Bà Triệu là một hình ảnh quật cường, làm sống dậy niềm tin và lòng yêu nước của chúng ta.

Nhà văn Ngô Viết Trọng viết đơn giản không dùng câu văn trau chuốt với chữ nghĩa mượt mà. Đôi lúc đọc văn ông, chúng ta thấy đơn giản đến độ không sống động, và ta vội vàng kết luận rằng ông viết “khô” quá. Ví dụ một đoạn trong sách kể lại câu chuyện Triệu Thị Trinh ngày còn bé đã phải chứng kiến cảnh quan lại Tàu hãm hiếp một cô gái trẻ đẹp. Câu chuyện chỉ được ông kể lại bằng 2 dòng. Nếu là một nhà văn khác, viết tiểu thuyết để tiểu thuyết hóa cuộc đời, chắc hẳn cảnh tượng đó sẽ được “linh động và màu mè hóa” và được trải dài trên nhiều trang sách với những tình tiết éo le mục đích làm người đọc thích thú và gây căm phẫn bằng lối diễn tả chú trọng việc làm sống dậy trò bỉ ổi nầy một cách cặn kẻ để lôi kéo người đọc. Với ông, hình như ông không màng về khía cạnh nầy, thế nên lời văn có vẻ “khô khan”. Tiểu thuyết lịch sử của ông ngoài mục đích viết lại những trang sử trung thực, còn cho thấy ông muốn làm công việc bảo tồn văn hóa bằng cách viết đúng câu văn, đúng chữ, dùng đúng văn phạm và giữ trọn vẹn ý nghĩa đạo đức luân lý dù trong bối cảnh nào vẫn với lối hành văn đứng đắn. Với lối viết văn nầy, ông đã đáp ứng phần nào những khắc khoải của các nhà thức giả đang quan tâm rất nhiều về ngôn ngữ hằng ngày cũng như lối hành văn không đúng văn phạm, cách dùng chữ sai đến thảm hại hiện nay trong sách vở và tại trường học ở Việt Nam.

Một người đã viết liên tiếp nhiều tác phẩm tiểu thuyết lịch sử như ông, chắc hẳn đã chiếm được một chỗ đứng vững chãi trong lòng mọi người. Và giới độc giả nầy không ai khác hơn là những người đọc để thẩm định rằng, loại tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Ngô Viết Trọng đáng được đưa vào tủ sách gia đình, tủ sách nhà trường, tủ sách của các trường dạy Việt Ngữ cho lớp trẻ hải ngoại. Sách ông là chất xúc tác nối tư tưởng và nổi khát khao đang cuồn cuộn trong lòng mọi người dân Việt hiện nay. Đầu Voi Phất Ngọn Cờ Vàng ghi lại thành quả của một tấm lòng quật cường cùng sự hy sinh cho lý tưởng bảo vệ lãnh thổ và tranh đấu cho sự sống của người dân của nữ anh hùng Triệu Thị Trinh. Từ ngàn xưa cho đến thực tại hôm nay những đày đọa áp bức thời đó và bây giờ sẽ làm sống mạnh những gì chúng ta đang ấp ủ: “lật đổ một thể chế tàn độc vô nhân” của hiện tại, như nữ tướng Triệu Thị Trinh đã khởi xướng và thực hiện trong giai đoạn bị người Tàu đô hộ.

Thường khi viết sách nhà văn nhắm vào giới tiêu thụ. Họ viết cho người đọc, và cầu mong có nhiều người đọc để sách họ bán được số lớn. Viết tiểu thuyết là mở rộng lối đón người tiêu thụ, bởi vì tiểu thuyết thường được viết theo nhu cầu của người đọc. Ngược lại viết lịch sử là tự mình giới hạn số độc giả và người tiêu thụ sách mình. Chỉ những người ôm ấp một hoài bão xây dựng đất nước trên khía cạnh xã hội, văn học, lịch sử mới không đặt nặng vấn đề bán sách.

Con đường viết sử hay viết tiểu thuyết lịch sử đều không dễ dàng, bởi vì muốn có một quyển sách trung thực, nhà văn phải bỏ công tìm tòi nghiên cứu rất nhiều tài liệu. Chọn thể loại tiểu thuyết lịch sử, ông đã khéo léo dùng tiểu thuyết, loại văn sáng tạo làm nền, để đưa chân sử đi vào cuộc đời của chúng ta và con cháu chúng ta, để có thể thay thế những loại sách sử sai sự thật. Ông viết gọn gàng, giản dị và đó là điểm đặc biệt của sách ông. Hình như mục tiêu chính của ông là giới trẻ hải ngoại. Những trang sử trung thực được viết dễ hiểu sẽ tạo cơ hội sách được xử dụng trong lãnh vực giáo dục giới trẻ ngày nay.

Tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Ngô Viết Trọng có giá trị lịch sử, giáo dục, văn học và văn hóa. Sách ông có thể đáp ứng mọi tầng lớp trong mọi lãnh vực và xứng đáng được xử dụng trong chương trình giáo dục tại các Trường Việt Ngữ Hải ngoại. Giá trị tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Ngô Viết Trọng phải được thấy rõ và đáng được trân trọng đón nhận.

UYÊN HẠNH

28/4.2014


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 30.08.2018, 09:04
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Dã sử] Đầu voi phất ngọn cờ vàng - Ngô Viết Trọng - Điểm: 10
LỜI MỞ ĐẦU


Nước Tàu là một đại đế quốc đã có mặt trên trái đất từ thời cổ đại và tiếp tục bành trướng to lớn mãi cho đến ngày nay. Hàng ngàn nước nhỏ chung quanh nước Tàu đã lần lượt bị người Tàu xâm chiếm và đồng hóa. Nước nào đã bị nước Tàu cai trị một lần dù thời gian cai trị ngắn hay dài, nếu chưa bị “mất tích” cũng bị người Tàu coi là “đất cũ”, là “một phần lãnh thổ của Trung Quốc”.

Trong chính sách đồng hóa của người Tàu, ngoài việc sử dụng trình độ văn hóa cao để chinh phục đối tượng, họ còn sử dụng luôn cả chính sách xuyên tạc những hình tượng tốt đẹp trong quá khứ của các nước bị họ cai trị. Qua sách vở của người Tàu, những hình tượng tốt đẹp này đã biến thành quỉ quái, lố bịch, dã man, mọi rợ… Mục đích của việc làm này là đầu độc trí óc lớp hậu duệ: Với dân Tàu, đó là cách nuôi dưỡng tinh thần chủ nhân, tinh thần đại hán. Với dân bị trị, đó là cách gieo rắc tinh thần tự ti, chán nản để họ chối bỏ cội nguồn mà hướng về văn hóa Tàu.

Mỗi lần chiếm được một nước, ngoài việc vơ vét những tài vật quí giá của nước này đem về Tàu, người Tàu còn tích cực làm các việc như sau:

-Lùng kiếm nhân tài: học giả, nhà sáng chế, thầy địa lý, thầy thuốc, kiến trúc sư, thợ khéo, chiêm tinh gia, lực sĩ v.v… Tất cả những kẻ có danh trong các hạng này đều bị đem về phục vụ ở kinh đô nước Tàu và coi đó như là những tinh hoa của Tàu.

-Lùng soát vơ vét các loại sách vở do người bản xứ trước tác. Những sách giá trị cao họ đem về Tàu giữ làm tài liệu để rồi biến chế lại thành của họ. Những sách thấy không cần thiết họ đem đốt sạch khiến dân bản xứ không còn cái gốc để tra cứu.

Tất nhiên về sau, khi muốn tìm hiểu về cội nguồn lịch sử, văn hóa của mình, dân bản xứ chỉ còn biết dựa vào… sách Tàu!

Những viên tướng giỏi của nước Cao Ly (Triều Tiên) từng đánh cho nước Tàu bao phen liểng xiểng như Cáp Tô Văn, Ô Tất Khải, qua sách vở của Tàu, họ đều bị biến thành những tên quỉ sứ mặt xanh nanh vàng vô nhân tính. Hai Bà Trưng của Việt Nam người Tàu cũng biến thành những nữ tặc mặt đen như lọ chảo.

Nhờ chính sách thâm độc này mà nước Tàu đã lần lượt nuốt sạch cả khối “Bách Việt”, chỉ còn sót vỏn vẹn một nước Việt Nam!

Chuyện dân tộc Việt đã nổi lên giành lại được nền độc lập sau ngót một ngàn năm bị người Tàu đô hộ là một chuyện quá phi thường! Không những đã giành lại được độc lập, dân tộc Việt còn ngang nhiên phát triển lớn mạnh ngay bên cạnh nước Tàu tham lam ấy! Nếu không phải là điều đã thật sự xảy ra mà cả thế giới đều thấy thì nói ra khó ai tin được. Đó là một điều mà mọi người Việt chúng ta đều có quyền tự hào!

Nhờ đâu mà dân tộc Việt đủ khả năng gìn giữ và nuôi dưỡng tinh thần độc lập, ý chí tự chủ sắt đá ấy qua suốt cả ngàn năm tối tăm dưới sức đồng hóa mãnh liệt của Hán tộc?

Đó không phải chỉ do công lao của những vị anh hùng danh tiếng như hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn, Triệu Quang Phục, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, Dương Đình Nghệ v.v… mà còn do sự góp sức của toàn dân đấu tranh dưới mọi hình thức, khi công khai, khi âm ỉ nhưng liên tục không lúc nào ngưng.

Đây là một dẫn chứng về tinh thần đấu tranh liên tục của toàn dân Việt:

Sau khi Phục Ba Tướng quân Mã Viện nhà Đông Hán đã đánh bại Hai Bà Trưng để tái lập cuộc đô hộ của người Tàu trên đất Việt, y đã cho dựng một cột đồng trụ để ghi công. Trên cột đồng này Mã Viện cho khắc sáu chữ lớn: Đồng Trụ Chiết – Giao Chỉ Diệt, nghĩa là cột đồng gẫy thì người Giao Chỉ mất nòi. Sáu chữ này người Việt đương thời cho là có ý nghĩa như một lời nguyền.

Vì sợ cột đồng gẫy thì nòi giống mình sẽ mất nên dân Việt phải tìm mọi cách để giữ cho cột đồng nói trên khỏi gẫy. Dân Việt đã vận động ngầm với nhau, ai đi ngang qua cột đồng ấy cũng lượm một viên sỏi ném vào chân cột. Trải qua nhiều thế hệ dân Việt vẫn tiếp tục làm công việc ấy. Kết quả là bao lớp sỏi đá đã lấp kín cột đồng lúc nào không hay. Thậm chí người ta không còn biết nơi dựng cột đồng ở đâu nữa. Đến đời Đường viên tướng phù thủy Cao Biền cho tìm lại cột đồng ấy để làm gì đó không biết nhưng tìm không ra.

Một điểm đặc biệt nữa là cuộc khởi nghĩa chống Tàu đầu tiên (năm 40 TL) của dân Việt lại do hai người đàn bà lãnh đạo: Hai Bà Trưng. Hai trăm năm sau một cuộc khởi nghĩa chống Tàu khác lại diễn ra (năm 248 TL), cũng do một người đàn bà lãnh đạo: Bà Triệu Thị Trinh.

Như vậy là trong bước đầu khi đất nước bị giặc Tàu đô hộ, người phụ nữ Việt Nam đã tỏ ra năng động, can đảm vùng dậy giành độc lập trước cả các đấng trượng phu!

Đó là những vụ nổi dậy quá lớn làm rúng động cả triều đình nước Tàu khiến họ phải ghi vào chính sử của họ! Chắc hẳn còn nhiều vụ nổi dậy do giới phụ nữ Việt Nam lãnh đạo khác nữa nhưng ở tầm cỡ nhỏ hơn nên người Tàu không chép lại mà thôi. Đây không phải sự phỏng đoán liều, vì thực tế, trong công cuộc đấu tranh giải trừ hiểm họa Bắc thuộc hiện nay chúng ta thấy giới phụ nữ đã tham gia không ít!

Đáng tiếc là những sách sử do người Việt chép trước kia đã bị người Tàu tịch thu đem đốt hết. Vụ đốt sách của người Việt lớn nhất đã xảy ra vào đầu thế kỷ 15 do viên Tổng binh Trương Phụ thực hiện sau khi y đã diệt xong nhà Hồ (1407).

Chính sách thủ tiêu chứng tích để dễ bề xuyên tạc nguồn gốc và tinh thần đấu tranh của dân Việt mà người Tàu đã thực hiện gây rất nhiều khó khăn cho những sử gia của ta. Một số sự kiện lịch sử quá mơ hồ không có tài liệu để sưu khảo, họ chỉ còn biết cách chép theo sử của người Tàu! Ngay cả bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư là một bộ sử được viết bởi những sử gia danh tiếng qua nhiều đời, được coi là bộ sử có giá trị đáng tin cậy nhất của nước ta mà nay đọc lại chúng ta cũng gặp những đoạn đáng buồn:

“Nhâm Tuất, 722, (Đường Huyền Tôn, Long Cơ, Khai Nguyên năm thứ 10). Tướng giặc là Mai Thúc Loan chiếm giữ châu, xưng là Hắc Đế, bên ngoài liên kết với người Lâm Ấp, Chân Lạp, số quân nói là 30 vạn. Vua Đường sai nội thị tả giám môn vệ tướng quân là Dương Tư Húc và Đô hộ là Nguyên Sở Khách đánh dẹp yên được”.

Mai Thúc Loan chỉ là “giặc” đối với chính quyền đô hộ Tàu chứ đâu phải là giặc của dân Việt? Người Việt viết sử Việt mà rinh nguyên chữ “Tướng giặc là Mai Thúc Loan…” từ Đường thư về theo là một sự thiếu cẩn thận!

Rất nhiều trường hợp các sử gia Tàu vì mục đích phục vụ lợi ích của triều đại họ, hoặc một số văn nhân Tàu nặng lòng kỳ thị các dân tộc khác đã cố tình bóp méo, xuyên tạc hình tượng những nhân vật mà các dân tộc này tôn thờ, yêu chuộng.

Vị anh thư Triệu Thị Trinh của dân tộc Việt là một nạn nhân điển hình của chính sách xuyên tạc bôi bác ấy! Người Tàu – nhất là chính quyền đô hộ Tàu – rất thù ghét người đàn bà đã dám nổi dậy chống lại họ, đã làm họ điêu đứng một thời gian khiến vua Đông Ngô là Tôn Quyền phải cử danh tướng Lục Dận sang đàn áp. Viên tướng này đã phải vất vả lắm mới thành công được!

Về tên gọi, người Tàu gán cho Bà Triệu một cái tên mang tính mỉa mai, khinh miệt: Triệu Ẩu. Âm Ẩu theo chữ Hán có nghiã là đánh lộn, mửa, bà già, mụ. Chữ Triệu Ẩu người Tàu dùng trong sách vở có thể dịch ra là “Mụ Triệu”. Thế nhưng hầu hết sách sử nước ta đã bắt chước theo người Tàu, cứ dùng cái tên không đẹp đó cho vị anh thư của dân tộc mình. Mãi đến giữa thế kỷ 20 mới có một số sử gia, trong đó có sử gia Trần Trọng Kim, đã cảnh tỉnh, đã phân tích cái dụng ý của người Tàu, không dùng tên Triệu Ẩu nữa mà gọi lại cái tên thật của Bà là Triệu Thị Trinh.

Về bản thân Bà Triệu, người Tàu vẽ nên một hình ảnh rất khó coi: vú dài ba thước! Sách Giao Chỉ Chí của Tàu chép:

“Trong núi ở quận Cửu Chân có người con gái họ Triệu, vú dài ba thước, không lấy chồng, họp đảng cướp bóc các quận, huyện, thường mặc áo ngắn màu vàng, chân đi giày mũi cong, ngồi đầu voi mà chiến đấu, sau chết làm thần”.

Sách “Thái Bình Hoàn Vũ Ký” của Nhạc Sử đời Tống cũng chép sự tích Bà Triệu tương tự như thế.

Thế là các sử gia và một số thi văn gia của ta cứ tin, cứ sơn vẽ lại cái hình ảnh dị hợm “vú dài ba thước” đó qua tác phẩm của mình. Trong số lầm lẫn này có cả các bậc vua chúa, công hầu nữa mới đáng buồn!

Chúng ta không thể trách sự tin lầm của các bậc tiền nhân vì thời bấy giờ ảnh hưởng văn hóa của người Tàu đối với nước ta còn quá đậm, nó đã quay như một guồng máy, các bậc tiền nhân ta thật khó tách ra ngoài được! Thế nhưng bây giờ đã nhận chân được điều vô lý đó rồi tại sao chúng ta không sửa đổi?

Để trả lại hình ảnh thật hơn của một bậc anh thư đã hi sinh cả cuộc đời cho lẽ sống của dân tộc, quyết đưa dân tộc Lạc Việt thoát khỏi ách nô lệ của người Tàu vào thế kỷ thứ 3, tôi đã sưu tầm một số truyền thuyết dân gian nói về bậc anh thư ấy, xây dựng thành một thiên tiểu thuyết lịch sử. Xin mượn câu thơ “ĐẦU VOI PHẤT NGỌN CỜ VÀNG” ở đoạn viết về Bà Triệu trong tập sử thi Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca của hai ông Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái để làm tựa đề.

Rất mong thiên tiểu thuyết lịch sử ĐẦU VOI PHẤT NGỌN CỜ VÀNG này sẽ đóng góp được phần nào trong việc hóa giải những hình ảnh sai lầm về bậc anh thư dân tộc Triệu Thị Trinh do người Tàu cố ý vẽ ra! Đồng thời cũng để nêu cao tinh thần tranh đấu quật cường của người phụ nữ Việt Nam trước nạn nước như hiện nay.

Sacramento, ngày 1 tháng 1 năm 2014

Ngô Viết Trọng


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 04.09.2018, 13:42
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Dã sử] Đầu voi phất ngọn cờ vàng - Ngô Viết Trọng - Điểm: 10
CHƯƠNG 1


Nhà họ Triệu lập nghiệp ở quận Cửu Chân [1] đã nhiều đời. Cuộc sống con cháu giòng họ này trải qua bao nhiêu năm vẫn trầm trầm với nghề ruộng rẫy hoặc săn bắn. Đến đời Triệu Thành, một cơ duyên tình cờ đã đưa đẩy họ này phất lên một cách bất thường.

Cha mẹ mất sớm, thuở nhỏ Triệu Thành từng phải sống dựa vào chú bác họ hàng. Nhờ trời phú cho một thân thể cường tráng, tính tình trung hậu, lại siêng năng, cần cù nên ai cũng thương mến. Nhà họ Phạm thấy Triệu Thành được người được nết nên gọi gả con gái cho. Phạm thị vốn thông minh, khéo léo, có sức khỏe bền bỉ, lại quen tính cần kiệm từ thuở nhỏ nên vợ chồng sống với nhau rất hợp.

Từ khi ra ở riêng, vợ chồng Triệu Thành càng siêng năng làm ăn khiến gia đình mỗi ngày mỗi khá. Nhà họ Phạm vốn sống bằng nghề nuôi tằm ươm tơ, nhưng chỉ làm trong phạm vi gia đình. Nhờ vậy Phạm thị cũng khá thạo nghề. Lúc bấy giờ việc nuôi tằm ươm tơ ở xứ này chưa được phát triển, còn xa lạ với dân địa phương.

Biết rõ nghề tằm tơ ít vất vả mà lại đem đến nhiều lợi nhuận nên Phạm thị rất muốn chồng mình chuyển sang nghề này cho dễ sống. Những lúc nông nhàn Phạm thị lại kéo chồng về giúp việc tằm tơ ở nhà cha mẹ để học nghề luôn thể. Nhưng Triệu Thành vốn đã quen nghề ruộng rẫy, không muốn cuộc sống xáo trộn, chỉ học cầm chừng cho vừa ý vợ chứ trong dạ vẫn còn thờ ơ, không muốn xa nghề cũ.

Lúc bấy giờ có một ông nhà giàu tên là Phùng Của ở Long Biên, phủ trị quận Giao Chỉ [2], muốn đến quận Cửu Chân lập nghiệp. Sau khi thăm dò thổ nhưỡng và nhân sự kỹ càng, ông Phùng quyết định bỏ vốn ra kinh doanh nghề trồng dâu nuôi tằm ở đây. Một mặt ông ta mua một vùng đất mới khai khẩn ở làng Hương Vân thuộc huyện Nông Cống để trồng dâu, một mặt ông cho xây dựng một khu nhà nuôi tằm. Khu nhà này nằm luôn trong khu vực trồng dâu nên về sau, khi đã khoanh vùng đàng hoàng, người ta vẫn gọi gộp toàn bộ là trang trại Hương Vân. Muốn được thuận tiện, ông Phùng mướn rặt dân tại địa phương làm công cho mình. Phạm thị nhân dịp này đã thúc giục chồng xin làm công. Ban đầu Triệu Thành không bằng lòng nhưng rồi Phạm thị cứ thúc giục mãi, cuối cùng Triệu Thành đành phải nghe theo.

Không ngờ khi bước vào nghề, Triệu Thành đã nhanh chóng thích nghi với nghề nghiệp mới. Vốn là người lanh lợi, có óc nhận xét bén nhạy, lại được Phạm thị trực tiếp truyền thụ kiến thức, không bao lâu Triệu Thành đã vượt xa các đồng bạn làm công. Nhiều lần Triệu Thành đã mạnh dạn góp ý với ông Phùng trong công việc khiến ông Phùng phải ngạc nhiên và rất hài lòng. Khi được ông Phùng giao phó công việc gì, vợ chồng Triệu Thành đều làm tới nơi tới chốn. Vì thế ông Phùng càng ngày càng nể trọng Triệu Thành thêm. Để tâm nhận xét, ông Phùng thấy đôi vợ chồng này không những làm việc giỏi giang, tận tụy mà còn có lòng dạ minh chính, không tham lam, không tìm cách mưu lợi riêng tư. Từ đó, ông Phùng có ý định chọn Triệu Thành làm người quản lý cho cơ sở làm ăn của ông trong tương lai.

Công việc của ông Phùng đã được tiến hành rất đều đặn, vững chắc, đầy hứa hẹn. Nhưng ông Phùng chưa kịp thấy được kết quả cụ thể về công việc của mình thì có người từ Long Biên vào báo cho ông một cái tin chẳng lành: thân phụ ông qua đời. Việc xảy ra bất ngờ làm ông Phùng vừa đau buồn vừa bối rối. Cái cơ sở và khu ruộng dâu mới mẻ của ông bỗng trở thành cái nút thắt rối rắm mà ông cần phải tháo gỡ. Ông không thể không trở về Long Biên để lo tang sự cho thân phụ ông. Nhưng theo niềm tin trong nghề nuôi tằm thời đó, nếu người có tang chế xuất hiện ở chỗ nuôi tằm thì tất cả số tằm ở đó sẽ mắc bệnh mà chết hết. Ngặt nỗi những người đi theo ông lại chẳng có ai thạo nghề, đủ khả năng có thể tạm thay ông để điều hành công việc. Sau khi đắn đo suy nghĩ, ông Phùng mời vợ chồng Triệu Thành đến gặp riêng. Ông hỏi:

-Qua một thời gian chúng ta làm việc chung, tôi rất quí mến và rất tin tưởng anh ả [3]. Anh ả đã luôn tỏ ra cần mẫn, tận tụy với công việc. Có phải anh ả đã từng biết qua về nghề trồng dâu nuôi tằm này rồi không?

Triệu Thành thành thật nói:

-Thưa ông chủ, gia đình vợ tôi cũng đã từng làm nghề này nên chúng tôi cũng có biết qua ít nhiều.

Ông Phùng lộ vẻ mừng:

-Gia đình của ả cũng đã từng trồng dâu nuôi tằm? Tôi đoán quả không sai. Hôm nay tôi mời anh ả đến đây để nhờ anh ả một việc. Tôi nghĩ việc này đối với anh ả không khó. Không biết anh ả chịu giúp tôi không?

Triệu Thành nói:

-Xin ông chủ cứ nói. Nếu có thể giúp ông chủ được chúng tôi sẽ không từ nan.

Ông Phùng nói:

-Vậy thì tốt lắm. Không giấu chi anh ả, tôi vừa nhận được tin thân phụ tôi mới qua đời. Vì vậy tôi mới làm phiền đến anh ả.

Triệu Thành sốt sắng lên tiếng:

-Vậy thì trước hết vợ chồng tôi xin thành thật chia buồn cùng ông chủ. Trong trường hợp này ông chủ cần giúp việc gì chúng tôi cũng xin làm hết lòng. Chỉ ngại công việc ấy nằm ngoài khả năng của chúng tôi thôi.

Ông Phùng tươi nét mặt:

-Anh ả đã chịu giúp thì tôi yên tâm lắm. Tôi là con trưởng trong gia đình, đương nhiên tôi phải về quê để chịu tang. Tôi muốn nhờ anh ả coi sóc công việc ở đây trong thời gian tôi về quê. Anh ả đồng ý chứ?

Triệu Thành đang ngẫm nghĩ thì Phạm thị hỏi:

-Ông chủ về quê khoảng chừng bao lâu?

-Cũng tùy. Nếu anh ả điều hành công việc suôn sẻ, tôi có thể nán lại ở quê chừng một năm. Nếu có sự trắc trở, buộc lòng tôi sẽ phải xếp đặt lại. Nhưng tôi tin chắc anh ả dư sức giúp tôi việc này.

Phạm thị lại nói tiếp:

-Ông chủ đã tin cậy giao cho chúng tôi coi sóc, điều hành công việc ở đây trong thời gian ông chủ vắng mặt, lẽ nào chúng tôi lại từ chối. Tuy thế, chúng tôi cũng muốn biết rõ ông chủ sẽ tính liệu thế nào về lương bổng của kẻ ăn người làm.

Ông Phùng thong thả đáp:

-Điều ả hỏi tôi đã tính liệu kỹ. Việc trên đầu trên cổ, việc quận việc huyện anh ả khỏi cần lo gì cả. Riêng ở đây, tôi sẽ trả công cho tất cả những người làm tính tới hôm nay và trả trước cho họ một tháng công kế tiếp. Sau tháng đó, nhờ anh thay mặt tôi trả công cho họ như thường lệ. Tôi cũng sẽ ứng trước cho anh một số tiền đủ để anh yên tâm mà lo công việc. Hi vọng dưới sự điều hành của anh ả mọi việc vẫn chạy đều…

Triệu Thành nghe vợ mình đối đáp với ông Phùng như vậy thì lộ vẻ hoảng hốt vội xua tay cản lại:

-Nhà tôi nói ẩu như vậy chứ chúng tôi tài nghệ gì mà dám nhận cái việc ông chủ giao phó! Xin ông chủ tìm người khác.

Phạm thị nhìn chồng rồi nói giọng quả quyết:

-Chàng quên rằng cả nhà thiếp đã từng sống bằng nghề trồng dâu nuôi tằm rồi sao? Ông chủ cứ tin tôi đi! Tôi không dám nhận bừa đâu!

Để tỏ ra mình đã nắm vững tiến trình của công việc, Phạm thị tiếp:

-Như vậy là chắc chắn chúng tôi được hân hạnh thay mặt ông chủ thu hoạch những lứa kén tằm đầu tiên? Ông chủ không ngại chúng tôi làm việc hồ đồ chứ?

Ông Phùng tỏ vẻ an tâm:

-Đương nhiên anh ả sẽ thay tôi thu hoạch những lứa kén tằm đầu tiên! Được những người có tư cách như anh ả giúp tôi đâu ngại gì nữa! Tôi dự tính sau khi trở lại, tôi có thể nhờ anh ả giữ việc quản lý cơ sở đấy!

Phạm thị hỏi tiếp:

-Vậy thì thưa ông trong trường hợp ông chủ chưa về kịp mà ở đây có việc cần phải thay đổi hay thêm bớt người, chúng tôi có thể tự tiện xếp đặt không?

-Dĩ nhiên anh ả có thể. Cứ tùy cơ ứng biến miễn sao chạy việc thì thôi! Tôi tin tưởng ở tấm lòng và khả năng của anh ả mà! Nhưng được rồi, để mọi chuyện được rõ ràng, minh bạch, chúng ta cũng nên làm một tờ giao ước mỗi bên giữ một bản làm bằng rồi căn cứ vào đó mà thực hành cho tiện.

Thế rồi hai bên hợp nhau soạn một tờ giao ước. Tiếp đó, ông Phùng triệu tập mọi người lại để thông báo việc ủy quyền cho Triệu Thành điều hành cơ sở sản xuất tơ tằm của ông trong thời gian ông đi vắng. Mọi khoản tiền nong, lương bổng lớn nhỏ đều được thông báo rành mạch. Nghe ông Phùng thông báo mọi việc xong ai nấy đều vui vẻ, hài lòng. Thế là hai hôm sau ông Phùng cùng đám đệ tử khăn gói trở về Long Biên.

*

Tiễn chân ông Phùng xong, thấy Triệu Thành vẫn luôn lộ vẻ lo nghĩ, Phạm thị nói:

-Sao chàng nhát gan đến thế? Thiếp nghĩ đây là cơ hội tốt nhất để mình thử sức xem có thể làm giàu với cái nghề tằm tơ này không đấy!

Triệu Thành cười nửa miệng lo lắng:

-Nàng định thử sức đó ư? Thấy nàng tỏ vẻ hăng hái quá ta đâu dám cản, giờ đã lỡ gánh cái nợ này ta chẳng yên lòng chút nào. Những công việc sắp tới nàng có chắc rành rẽ hết chưa? Bố mẹ già cả rồi không biết có giúp đỡ gì cho mình không?

Phạm thị nhìn chồng mà cười:

-Mình đòi hỏi bố mẹ làm gì nặng nề đâu mà sợ già chứ! Ông bà truyền kinh nghiệm cùng coi sóc công việc giúp mình là tốt rồi. Chàng cứ yên chí!

Thế rồi vợ chồng Triệu Thành lăn xả công việc chẳng quản ngày đêm. Để cầm chắc công việc thành công, họ còn ráo riết vận động những người thân ra giúp sức nữa.

*

Trời đã không phụ người có lòng, kết quả năm đó các vụ thu hoạch kén tằm của Triệu Thành đều trúng lớn. Sau khi tính khoản tiền công của thợ cùng khoản tiền trả lại cho chủ theo giao ước, Triệu Thành đã hưởng được một số lợi tức vượt xa sự dự tính. Triệu Thành mừng rỡ nói với vợ:

-Không ngờ cái nghề tằm tơ này lại dễ ăn đến thế. Khá khen cho nàng khéo tính toán điều hành mới tạo được cái kết quả này! Đáng tiếc là không bao lâu nữa mình sẽ phải trở lại với vai làm công! Nếu mình thành chủ thật của cơ sở này, chẳng những gia đình mình sẽ dễ phất lên mà cả dòng họ mình cũng sẽ có công ăn việc làm hết!

Phạm thị cười chế nhạo chồng:

-Trước chàng cứ sợ không dám nhận, bây giờ thì phát ham rồi chứ?

Triệu Thành cười chống chế:

-Bởi trước ta chưa biết tài nghệ của vợ. Bây giờ công việc thành công thế này đố ai chẳng phát ham?

Phạm thị ra vẻ tự tin nói:

-Chàng cứ yên chí, thế nào mình cũng sẽ có ngày trở thành chủ nhân. Chúng ta làm với ông Phùng một thời gian rồi sẽ tự lập cũng không muộn! Đây là cơ hội để mình học thêm kinh nghiệm mà! Thiếp biết mình hợp với nghề này lắm. Nếu như bố mẹ chịu nghe lời thiếp, có lẽ giờ này ông bà cũng đã có một cơ sở đáng kể rồi!

*

Nhờ vợ chồng Triệu Thành điều hành công việc suôn sẻ nên gần một năm sau ông Phùng mới trở lại quận Cửu Chân. Lần này ông chỉ đem theo một người đệ tử. Vợ chồng Triệu Thành thấy ông chủ đã trở lại thì mừng lắm. Họ đã chuẩn bị sẵn số tiền hoa lợi cao hơn con số hai bên thỏa thuận để trao lại cho ông chủ. Tới lúc hai bên gặp nhau, khi Triệu Thành sắp tường trình công việc trong thời gian qua thì ông Phùng khoát tay ngăn lại. Như một người khách đến thăm cơ sở chăn tằm hơn là một ông chủ đi xa trở về, ông Phùng nói:

-Việc đó cứ từ từ. Tôi chưa về tới nơi đã biết được tin anh ả điều khiển công việc tốt đẹp lắm. Xin có lời khen và chúc mừng anh ả. Anh ả nên tiếp tục giữ lấy cơ sở này để làm ăn chứ giao cho người khác uổng lắm.

Nghe ông Phùng nói vợ chồng Triệu Thành đều lộ vẻ ngạc nhiên, Triệu Thành hỏi:

-Như vậy là ông chủ vẫn tiếp tục giao cho chúng tôi điều khiển công việc này sao?

-Vâng, nếu anh ả muốn. Trường hợp anh ả không nhận thì tôi cũng phải sang nhượng cho người khác thôi. Lần này trở lại đây tôi chỉ cốt thu xếp việc đó. Nhưng tôi có lời khuyên, anh ả là những người chịu khó làm ăn, không nên bỏ lỡ dịp tốt này!

Triệu Thành thành thật hỏi:

-Tôi thấy cái cơ sở làm ăn này đang phát triển tốt đẹp lắm. Vì lẽ gì ông chủ phải sang nhượng nó?

Ông Phùng nói chậm rãi với giọng tiếc rẻ:

-Lẽ gì ư? Tôi vẫn biết đây là chỗ làm ăn dễ thành công! Thật tình tôi rất muốn lập nghiệp ở quận Cửu Chân này. Tiếc rằng thân phụ tôi qua đời quá bất ngờ, người đã để lại cho gia đình một cơ sở làm ăn khá lớn ở quê nhà nhưng thiếu người coi sóc. Thân mẫu tôi lại muốn chính tôi phải gánh vác việc đó. Vì thế, tôi không thể giữ lại cơ sở tằm tơ này. Nếu anh ả thích, tôi xin nhượng cho anh ả luôn thể! Giá cả phải chăng thôi. Tôi đã hiểu rõ tấm lòng và năng lực của anh ả, nếu chưa đủ vốn để hoàn lại cho tôi anh ả cứ từ từ trả sau cũng được. Một lần nữa tôi khuyên anh ả không nên bỏ lỡ cơ hội này.

Vợ chồng Triệu Thành hết sức bất ngờ trước lời đề nghị của ông Phùng. Quả thật đây là một cơ hội hiếm có. Tất nhiên cả hai vợ chồng đều vui mừng đồng ý ngay. Tuy vậy Triệu Thành vẫn áy náy hỏi lại:

-Hay là ông chủ vẫn giữ cơ sở này và vợ chồng tôi sẽ quản lý giúp ông?

Ông Phùng cười với vẻ thành thật:

-Thật tình tôi rất quí tấm bụng của anh ả nên cũng muốn giúp anh ả làm ăn. Giúp được một người tốt bụng thì không có gì để phải ân hận cả. Hơn nữa, hai cơ sở của tôi lại xa cách nhau quá, việc đi lại cũng bất tiện. Anh ả lấy đi! Cứ cố gắng lên tôi nghĩ anh ả thế nào cũng thành công.

Triệu Thành nói:

-Vậy thì chúng tôi xin nhận. Đa tạ ông chủ.

Vẻ mặt rạng rỡ của vợ chồng Triệu Thành đã làm ông Phùng cũng vui sướng lây. Ông tươi cười nói:

-Anh ả đã chịu sang lại cái cơ sở này tôi rất mừng. Tôi thiết tưởng cũng nên nói thêm vài điều khá quan trọng với anh ả. Chắc anh ả cũng đã rõ, ở đời khó lắm. Bình thường thì chẳng sao nhưng khi anh ả đã làm nên chắc chắn anh ả không thể nào thoát khỏi sự dòm ngó của thiên hạ. Quan lại cũng dòm ngó, kẻ ganh tị cũng dòm ngó, kẻ trộm cướp tham lam cũng dòm ngó. Đó là điều có thể làm cho anh ả phải khổ sở, đôi khi đi đến chỗ điêu đứng không chừng. Muốn yên ổn làm ăn anh ả phải quan tâm đến việc giao thiệp bên ngoài, phải hết sức tế nhị mới được. Nói thực tế là mình muốn ăn bát cơm phải chia sớt cho kẻ khác chút cháo mới yên!

Vợ chồng Triệu Thành nghe ông Phùng nói nhìn nhau có vẻ lo lắng. Ngưng một lát ông Phùng lại tiếp:

-Nhưng đối với anh ả tôi nghĩ chắc không đến nỗi nào. Vì anh ả đều có đức, đều siêng năng cần cù, không huênh hoang, không tham lam bừa bãi. Quan Thái thú [4] quận Cửu Chân cũng như quan huyện Nông Cống tôi đều có quen biết, nếu thuận tiện tôi sẽ giới thiệu vợ chồng anh ả với họ một tiếng. Bây giờ chưa có gì rắc rối đáng ngại đâu! Nhưng việc về lâu về dài thì tự nhiên anh ả sẽ hiểu lần và tự lo liệu lấy! Những lời tôi có thể khó nghe nhưng chắc chắn sẽ giúp ích cho anh ả. Anh ả nên ghi nhớ lấy nhé!

Phạm thị nhanh nhảu trả lời:

-Tôi đã hiểu những lời của ông chủ nói. Chúng tôi rất cám ơn những lời chỉ bảo thành thật của ông chủ. Nhờ ông chủ nói với những vị quan mà ông chủ quen biết đó giúp chúng tôi một tiếng. Chúng tôi sẽ làm theo lời ông chủ dạy bảo.

Triệu Thành thì lộ vẻ ngạc nhiên:

-Thì ra ông chủ quen biết rộng rãi như thế mà tôi đâu có biết. Vậy chắc ông không phải người gốc bản xứ? Hèn gì…

-Đúng, tôi cũng là người Tàu. Nhưng tổ tiên tôi đã sang lánh nạn ở Giao Châu từ hồi Vương Mãng dấy loạn nên bây giờ tôi cũng gần giống như người Việt rồi. Nếu không quen biết các quan lớn tôi làm sao có thể từ Long Biên vào quận Cửu Chân lập nghiệp dễ dàng thế này? Ngày mai chúng ta sẽ cùng nhau lập khế ước sang nhượng được chưa?

Triệu Thành hoan hỉ đáp:

-Bây giờ vợ chồng tôi xin mời ông chủ dùng cơm đã, còn việc lập khế ước ông chủ muốn khi nào chúng tôi cũng sẵn sàng.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 04.09.2018, 13:43
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Dã sử] Đầu voi phất ngọn cờ vàng - Ngô Viết Trọng - Điểm: 10
CHƯƠNG 2


Sau ngày chính thức trở thành chủ nhân trang trại sản xuất tơ tằm ở Hương Vân thuộc huyện Nông Cống, quận Cửu Chân, cuộc sống vợ chồng Triệu Thành biến đổi dồn dập. Trước kia dù luôn làm việc chân tay vất vả nhưng họ còn giữ được những vui thú riêng tư, muốn ăn muốn ngủ lúc nào tùy ý, chẳng có ai đếm xỉa đến. Giờ gia đình đã có tiền của, không phải làm việc nặng nhưng tự công việc nó lại bắt họ lúc nào cũng quay như cái vụ. Họ phải luôn thức khuya dậy sớm và đôi khi không có thì giờ để ngồi ăn được một bữa cơm trọn ngon.

Nhưng mất cái này thì được cái khác. Họ đã tạo được công ăn việc làm cho rất nhiều người chung quanh. Nhờ siêng sắng chăm lo công việc, biết điều hành khéo léo, nhất là cách đối xử với kẻ ăn người làm đầy tình nghĩa của vợ chồng này đã khiến mọi người phải mến phục, yêu chuộng. Dần dần những người làm công đều coi công việc của họ Triệu như công việc nhà. Do vậy mà cơ sở sản xuất kén tằm của họ Triệu cứ mỗi ngày mỗi được nới rộng.

Để tránh những phiền phức có thể xảy ra từ phía quan quyền, Triệu Thành luôn lo đầy đủ việc thuế má. Tuy vậy, những phiền toái từ bên ngoài vẫn dần len lỏi tìm đến với ông và càng ngày càng gia tăng.

Một buổi chiều vào cuối tháng tư, vợ chồng Triệu Thành làm việc vừa nghỉ tay chưa kịp ăn cơm tối thì cụ lý trưởng Hương Vân ghé thăm. Vừa bước vào nhà, cụ lý đã nức nở khen:

-Chú Thành thật là một người hiểu biết phép nước. Làng vừa thông báo việc nộp thuế là chú sốt sắng đóng trước ai hết! Nếu cả làng ai cũng được như chú thì bọn tôi cũng đỡ vất vả nhiều. Tôi thành thật khen chú.

-Dạ đó là bổn phận của con dân, có gì đâu mà cụ lý quá khen.

Triệu Thành vừa khiêm tốn trả lời vừa lấy rượu ra rót mời cụ lý. Cụ lý vừa nhắp rượu vừa nói chuyện bâng quơ một hồi. Lát sau cụ lại đi vào vấn đề khác:

-Mình ăn nên làm ra thật cũng nhờ ơn trên phù hộ. Gần gũi nhất với chúng ta là ngài Thành Hoàng. Ngài giúp dân được mưa thuận gió hòa, ngài ngăn chận côn trùng phá hoại mùa màng. Cào cào châu chấu thứ gì mà nó chừa! Thế mà nó không đụng đến khu ruộng dâu của chú cũng nhờ ngài che chở đó. Vả lại dân chúng có được mùa, đời sống có sung túc người ta mới mua tơ lụa, kén tằm của chú mới được tiêu thụ mau hơn. Có đúng thế không chú Thành? Nay sắp tới ngày húy của ngài rồi, tôi là lý trưởng cũng có nhiệm vụ nhắc nhở để chú biết rồi tùy sức mà đóng góp với làng xóm.

Triệu Thành nhỏ nhẹ đáp:

-Cám ơn cụ lý, thật sự lâu nay chẳng năm nào cháu dám lơ là chuyện đó.

Cụ lý cười:

-Đồng ý là không năm nào chú lơ chuyện đó. Nhưng trước đây chú chỉ là một người dân mạt hạng còn bây giờ chú đã là người có máu mặt ra vào rủng rỉnh thì sự đóng góp phải khác chứ! Lo gì chú, “xởi lởi thì trời gởi cho” mà!

Triệu Thành chưa kịp trả lời ông lý lại tiếp:

-Chút nữa mà tôi quên, có việc này gấp hơn việc đó, tôi nói với chú luôn thể. Mấy ngày nữa là tới tết đoan dương. Mấy ông hào trưởng và lý trưởng làng bên có nhã ý rủ tôi cùng họ đi tết quan huyện. Kẻ dưới đi tết người trên vẫn là truyền thống tốt đẹp xưa nay. Tôi thấy cơ hội này chú cũng nên đi chung với tôi một chuyến cho nở mày nở mặt với thiên hạ và cũng để biết mặt quan huyện luôn thể, chú nghĩ thế nào?

Triệu Thành từ chối:

-Thưa cụ lý, việc gì chứ việc đó xin cụ miễn cho. Cháu vốn quê mùa vô danh mà đòi chúc tết quan huyện cháu biết ăn nói làm sao?

Cụ lý ngắt lời:

-Chú đừng lo, đi từng bước cho quen vậy mà. Sau này có việc gì cần nhờ đến quan mình cũng đỡ ngỡ ngàng. Chỉ cần lễ vật cho khá khá là được chứ ăn nói chỉ là chuyện phụ, người khác sẽ lo cho.

Triệu Thành bất đắc dĩ nói:

-Cháu bận công việc quá sợ không đi được. Vậy cháu xin đóng góp chút đỉnh để phụ với cụ sắm lễ vật đi tết quan huyện được không?

Cụ lý lộ vẻ hớn hở hỏi:

-Chú định đóng góp bao nhiêu đây?

Triệu Thành cười:

-Dạ, cháu xin góp một lượng bạc.

Cụ lý hơi xịu mặt:

-Chú làm ăn khá giả mà chỉ góp một lượng người ta chê là keo kiệt đó. Gắng bỏ ra năm lượng đi!

Triệu Thành cười bẽn lẽn:

-Xin cụ lý thông cảm cho. Cháu làm ăn tuy có tiền vô thật đó nhưng cháu cũng phải chi ra bao nhiêu thứ. Thôi thì cháu xin góp hai lượng vậy.

Triệu Thành vừa nói vừa trao hai lượng bạc. Cụ lý Hương Vân vói tay cầm lấy xong lại nhấc chén uống nốt phần rượu còn lại rồi đứng dậy cáo từ:

-Thôi, tôi về. Chú nhớ là làng sắp kỵ ngài Thành Hoàng đó nhé!

Cụ lý vừa đi khỏi Phạm thị liền cằn nhằn:

-Đi tết quan huyện là việc của ông ấy. Mình làm ăn đã đóng thuế cho nhà nước đàng hoàng rồi, mắc gì chàng lại góp hai lượng bạc cho ông ấy như thế? Không biết quan trên chọn người sao mà hay đến vậy? Thấy ai cất đầu lên một chút là dòm như “cú dòm nhà bệnh”!

*

Chừng ba tháng sau thì quan huyện phái một toán lính lệ về các làng xã để yểm trợ việc thu thuế. Trong dịp này cụ lý Hương Vân cũng dắt mấy thầy lính lệ ghé thăm trang trại trồng dâu nuôi tằm cho biết. Khi họ đến trang trại, Triệu Thành đã dẫn họ đi thăm viếng quanh một vòng tượng trưng rồi mời về tư thất đãi cơm nước. Trong lúc ăn uống, mấy thầy lính lệ đã ân cần hỏi thăm Triệu Thành về công việc làm ăn, hỏi thăm luôn cả chuyện kẻ ăn người ở trong trang trại. Triệu Thành cứ thành thật có sao nói vậy. Nghe xong một thầy khuyên:

-Số đàn ông phục vụ ở trang trại của ông như thế kể cũng hơi nhiều. Ông nên mướn đàn bà và những đàn ông tuổi trên bốn mươi lăm thì tiện hơn. Đàn ông từ bốn lăm trở xuống rất dễ bị tuyển đi lính hoặc mộ đi dân phu. Lỡ gặp những đợt tuyển mộ như thế công việc của ông có thể bị trở ngại đó.

Triệu Thành thưa:

-Cám ơn thầy lệ đã dạy bảo. Chúng tôi sẽ giảm bớt số nhân công đàn ông làm việc trong trang trại.

Sau khi cụ lý và toán lính lệ đã ra về Triệu Thành bèn thuật lại lời thầy lệ cho vợ nghe. Phạm thị nói:

-Đàn ông dễ mướn chứ đàn bà bận việc nhà hết bao nhiêu người chịu đi làm? Thôi, cứ để như vậy tới đâu hay đó. Thầy lệ nói cho có chuyện vậy hơi đâu mà lo cho mệt.

Triệu Thành nghe vợ nói cũng dần quên chuyện đó. Nhưng không lâu sau đó cụ lý Hương Vân lại ghé nhà Triệu Thành một lần nữa. Cụ nói:

-Trên huyện vừa chỉ thị làng ta phải lo lập lại sổ sách dân đinh để huyện duyệt chọn một số dân phu. Trong trang trại của chú cũng có nhiều dân đinh, chú định làm thế nào?

Triệu Thành hỏi lại:

-Theo ý cụ lý cháu nên làm như thế nào?

Cụ lý Hương Vân làm ra vẻ vô tư, nói:

-Việc đó cũng tùy chú thôi. Hoặc đưa danh sách cho người ta tuyển chọn, hoặc thử liên lạc với người ta tình nguyện ủng hộ một ít tiền bạc để chi dụng trong việc tuyển mộ đôi khi người ta cũng miễn cho. Nên tính sớm sớm đi, đừng để nước tới chân mới nhảy đôi khi lại không kịp.

Triệu Thành nghĩ trong thời gian công việc ở trang trại đang phát triển đều đặn mà bị giảm bớt một số nhân công thì việc có thể bê trễ nên hỏi lại:

-Xin cụ cho biết cháu có thể liên lạc với ai?

Cụ lý chỉ vào ngực mình:

-Nếu cần tôi có thể làm trung gian giúp chú. Giúp cho chú cũng là cách giúp đỡ một số dân đinh trong làng, tôi không nề hà gì đâu!

Triệu Thành biết ý cụ lý muốn gì rồi nhưng vẫn hỏi:

-Theo cụ mình tốn khoảng bao nhiêu?

Cụ lý thong thả đáp:

-Sơ sơ thôi, nhưng cũng đừng keo lắm làm họ không vừa lòng đôi khi họ làm khó sinh ra kẹt. Để tôi dọ hỏi rồi sẽ cho chú biết…

Chuyện cứ như thế hết việc này đến việc khác. Một con đường làng bị sạt lở cần đắp lại, một cái cầu hư cần sửa, một cái giếng công cộng cạn cần đào thêm…, mặc dù đã có khoản tiền do dân làng đóng góp theo qui định, bao giờ các viên chức trong làng cũng kêu gọi Triệu Thành ủng hộ thêm.

Những vụ sách nhiễu với mục đích moi tiền của các viên chức làng xã ngày càng làm cho vợ chồng Triệu Thành chán ngấy. Hai người chỉ còn biết an ủi nhau mình nhờ trời có được đồng ra đồng vô thôi cứ nhẫn nhịn đóng góp thêm cho họ một chút cho xong.

Tình cờ một hôm ông Phùng nhân đi công việc đã ghé lại thăm trang trại cũ. Thấy vợ chồng Triệu Thành đã phát triển trang trại rộng hơn trước nhiều ông Phùng rất khen ngợi. Trong khi hàn huyên, Triệu Thành đem chuyện các viên chức làng xã hay tìm cách moi tiền mình ra kể, ông Phùng nói:

-Đó chỉ là thói thường, mình không thể cự tuyệt nó được. Tuy nhiên, mình có thể giới hạn nó lại. Ngày mai tôi đi thăm quan huyện đây, ông nên đi cùng tôi cho vui, tôi sẽ giới thiệu với quan huyện về ông một lần. Ông có thể nhờ dịp này để quen biết thêm một số viên chức khác ở huyện như quan đội lệ chẳng hạn. Khi ông quen biết mấy vị này rồi thì bọn tép riu ở làng thôn tự khắc sẽ bớt quấy nhiễu ông.

-Nhưng bớt chi cho mấy ông nhỏ mình lại phải chi cho mấy quan lớn thì đâu có khác chi nhau?

Ông Phùng giải thích:

-Ông chưa gặp chưa biết thôi chứ quen biết các quan lớn chắc chắn họ sẽ giúp ông được nhiều việc hơn. Việc mối lái, việc đi đây đi đó ông đều có thể nhờ tay họ giúp. Nghĩa là có qua có lại chứ không phải một chiều. Còn với bọn trong làng trong thôn bất quá họ chỉ biết ăn hại ông chứ thật khó giúp ông được gì.

Triệu Thành ngẫm nghĩ giây lát rồi nói:

-Vậy thì ngày mai ông cho tôi cùng đi với. Nhưng tính tôi rụt rè, không được bặt thiệp, có gì thiếu sót xin ông đỡ đần cho.

Ông Phùng khuyến khích:

-Ông đừng ngại gì cả. Họ vốn nể trọng tôi, ông đi với tôi tất nhiên họ chẳng dám coi thường ông đâu!

Hôm sau Triệu Thành theo ông Phùng lên huyện Nông Cống. Đi đến đâu ông Phùng cũng giới thiệu Triệu Thành với họ như một người thân tín của mình. Nhờ dịp này Triệu Thành đã có cơ hội để tiếp xúc, làm quen với một số viên chức có vai vế ở huyện. Từ đó, thỉnh thoảng Triệu Thành cũng có đi lại với những người này.

Quả đúng như lời ông Phùng đã nói, cũng từ đó Triệu Thành bớt bị các viên chức làng thôn quấy nhiễu.

*

Công việc làm ăn của vợ chồng Triệu Thành cứ đều đều tiến tới. Một hôm Phạm thị vui vẻ báo với chồng:

-Hình như thiếp đã có thai. Đã hơn một tháng này thiếp không thấy gì cả!

Triệu Thành mừng rỡ ôm vợ vào lòng:

-Thật vậy ư? Thế là phước lớn đã vào nhà mình rồi! Nếu trời cho chúng ta một đứa con trai đầu lòng thì tốt biết mấy! Tôi sẽ đặt tên cho nó là Đạt, Quốc Đạt. Cha Thành con Đạt còn chi hơn thế nữa, nàng đồng ý không?

-Hay lắm! Chàng chọn cái tên Quốc Đạt thật tuyệt. Thiếp tin chắc đứa con đầu lòng của mình sẽ là con trai!

Vợ chồng Triệu Thành càng hăng hái phát triển cơ sở làm ăn. Triệu Quốc Đạt đã ra đời trong giai đoạn ấy. Cậu bé được trời phú thể chất khỏe mạnh, ít ốm đau, trí óc thông minh, thích tò mò tìm hiểu. Cậu lại luôn biết vâng lời cha mẹ, biết nhường nhịn bạn bè nên ai cũng yêu thương.

Nhận thấy con trai mình đã đến tuổi lớn khôn, một hôm Phạm thị bàn với chồng:

-Quốc Đạt bây giờ đã khá lớn, mình làm sao gây dựng cho nó trở thành một người hữu dụng cho xã hội mới được. Sao chàng chưa lo tính việc đó?

Triệu Thành nói:

-Ta cũng đang tính việc đó đấy chứ. Nhà ta trải bao đời nay chữ nghĩa không bao lăm, nay phải làm sao cho Quốc Đạt trở thành một người văn hay chữ tốt mới được. Ta sẽ tìm một ông thầy nho giỏi về dạy cho Quốc Đạt.

Phạm thị lại nói:

-Thiếp rất đồng ý việc phải mời một thầy nho về dạy cho Quốc Đạt nên người. Nhưng thiết nghĩ nhà mình còn đơn chiếc mà lúc này cũng có chút của ăn của để, mình cũng nên ráng kiếm luôn một ông thầy võ đến nhà, trước dạy võ cho Quốc Đạt, sau để bọn bất lương nó e ngại không dám dòm ngó. Biết đâu Quốc Đạt lại chẳng trở thành một kẻ văn võ toàn tài nhà ta càng vinh dự biết mấy!

Nghe vợ nói Triệu Thành bỗng hào hứng cười to:

-Nàng nói cũng có lý đấy. Hiện nay thiên hạ đang loạn lạc, bên Tàu cũng đang chia năm xẻ bảy, học được võ nghệ để giữ mình cũng hay lắm chứ! Thời loạn là thời của võ tướng mà! Nếu Quốc Đạt học võ được tới nơi tới chốn biết đâu thời thế chẳng đưa đẩy nó trở nên quan nọ quan kia.

Phạm thị cũng hào hứng lây:

-Ừ nhỉ! “Ông bà ấy là thân phụ thân mẫu của quan huyện đấy”! Nghe vậy cũng đã tai đấy chứ!

Triệu Thành nghe càng cười lớn, nhưng liền đó ông bỗng tư lự nói:

-Ngặt nỗi quan Tàu đâu có cho phép dân bản xứ học võ hoặc dạy võ tại tư gia. Họ coi việc dân bản xứ học võ là chuyện đại kỵ. Họ sợ mầm loạn có thể khởi lên từ đó! Đố có ông thầy nào ăn gan trời dám đến dạy võ cho con mình!

Phạm thị cũng cụt hứng:

-Người Tàu cấm dân mình học võ thật ư? Việc ấy thiếp đâu có biết. Nhưng nhà ta đã quen biết quan huyện Nông Cống chàng lo gì chuyện nhỏ ấy. Há chàng lại không biết cách xử trí sao?

Triệu Thành hạ giọng:

-Dưới mắt nàng thì chuyện chi cũng dễ cả! Ta chỉ mới gặp ông ấy vài lần giờ mở miệng nhờ cậy ngay coi sao được? Nhưng nàng đã muốn ta cũng gắng lo thử xem sao. Mình phải tìm cho có ông thầy nào đã rồi tính chuyện đó sau cũng không muộn!

Từ đó Triệu Thành âm thầm nhờ người dò tìm cho được một vị thầy võ giỏi để mời về rèn luyện cho Quốc Đạt.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 04.09.2018, 13:45
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Dã sử] Đầu voi phất ngọn cờ vàng - Ngô Viết Trọng - Điểm: 10
CHƯƠNG 3

Gia đình Triệu Thành lúc bấy giờ đã nổi tiếng giàu có ở quận Cửu Chân. Vì công việc làm ăn, Triệu Thành càng ngày càng quen nhiều biết rộng. Trong số quen biết ấy có cả quan huyện Nông Cống và một số quan chức có thế lực ở địa phương. Đối với quần chúng, uy tín Triệu Thành cũng ngày càng tăng để rồi trở thành một vị hào trưởng có tiếng trong vùng dù bản thân ông không ham, không cầu.

Thiết tưởng cũng nên nói sơ vài dòng về cái danh xưng hào trưởng đương thời. Hào trưởng nguyên thủy được coi như là một người khôn ngoan, có uy tín nhất trong một khu vực, đủ khả năng để dàn xếp những vụ rắc rối trong khu vực ấy. Khu vực có thể là một xóm, một làng, đôi khi lan rộng ra cả vài ba làng. Những vị này thường là những phú ông, những thương gia có tính hào hiệp, có lòng nhân ái, hay giúp đỡ người nghèo kẻ khó về cả vật chất lẫn tinh thần. Tuy không phải là một chức vụ, một hàm tước, không hưởng lương bổng và cũng không có trách nhiệm pháp lý nào đối với chính quyền trong việc trị dân nhưng hào trưởng lại có uy tín đặc biệt rất ảnh hưởng đối với cả chính quyền lẫn dân chúng. Hào trưởng có thể dùng tình cảm để hòa giải những mối tranh chấp giữa dân chúng với nhau một cách ổn thỏa. Hào trưởng cũng có thể đệ đạt nguyện vọng của dân chúng lên giới cầm quyền. Ngược lại giới cầm quyền cũng có thể nhờ hào trưởng dùng uy tín của mình để đả thông những khúc mắc đối với dân chúng. Nói chung, hào trưởng là một hư chức không tốn lương nhà nước nhưng lại rất hữu ích cho xã hội. Đáng tiếc là về sau cái danh vị này đã bị lạm dụng và biến chất dần…

Cậu bé Quốc Đạt càng khôn lớn càng tỏ ra thông minh, hiếu hạnh. Vì vùng đất này còn hoang sơ, dân cư thưa thớt nên Triệu Thành chưa tìm kiếm một vị thầy nho như ý để dạy dỗ cho cậu. Ông đành phải tự mình dạy cho Quốc Đạt học được chữ nào hay chữ đó. Việc tìm một ông thầy võ càng khó khăn hơn vì người Tàu cấm dân bản xứ không được dạy võ và học võ. Một hôm Triệu Thành than với vợ:

-Nghĩ mà thương Quốc Đạt quá. Ta sợ khi lớn lên nó cũng sẽ trơ trọi chẳng khác chi mình! Lỡ bị người hiếp đáp cũng không có ai bênh vực. Giấc mơ kiếm một ông thầy võ về nhà dạy cho Quốc Đạt bao giờ mới thực hiện được đây?

Phạm thị trách chồng:

-Sao chàng không liều bỏ ra một ít nhờ quan huyện châm chước giúp đỡ? Mình không chịu nói ra người ta làm sao biết được mình cần gì mà giúp!

Triệu Thành suy nghĩ một hồi rồi nói:

-Mình thương con mà tính như vậy cũng phải. Đối với quan huyện ta nghĩ chắc không khó lắm. Nhưng ta còn ngại một điều: vị quan huyện này có bền vững không? Lỡ mai mốt vì một lẽ gì lại thay ông khác mình sẽ gặp chuyện rắc rối ai đỡ đòn cho mình? Việc này phải cẩn thận mới xong.

Im lặng giây lát Triệu Thành lại tiếp:

-Hay thế này, mình sẽ mời một võ sư nào đó về ở nhà mình với tư cách là một người làm công rồi thuyết phục võ sư ấy bí mật dạy võ cho con mình? Không biết người ta có chịu không?

Phạm thị gật đầu:

-Thế cũng được. Chàng cứ lo tìm kiếm thầy võ đi!

Tuy nói thế nhưng ngày qua tháng lại đã lâu mà Triệu Thành vẫn chưa tìm ra được một vị võ sư nào.

Rồi một nhân duyên bỗng đến bất ngờ. Ngày kia Phạm thị nhận được tin thân phụ lâm bệnh nặng. Bà ngỏ ý với chồng muốn về thăm ông cụ cùng gia đình vài ngày. Gặp lúc công việc hơi rảnh, Triệu Thành cùng vợ dắt Quốc Đạt về thăm bên ngoại luôn thể. Khi Triệu Thành về tới nhà nhạc phụ cũng vừa gặp lúc một ông thầy thuốc đang chẩn mạch cho ông cụ. Nhìn dáng tiên phong đạo cốt của vị thầy thuốc, Triệu Thành bỗng sinh lòng ngưỡng mộ. Thấy Triệu Thành có vẻ quan tâm đến vị thầy thuốc, cậu em trai của Phạm thị nói nhỏ:

-Anh biết không? Thấy ông thầy bộ tướng nho nhã yếu đuối vậy mà lại là một tay võ nghệ siêu đẳng lắm đó!

Triệu Thành ngạc nhiên hỏi lại:

-Thật hả? Sao em biết ông ta giỏi võ?

Cậu em Phạm thị nói:

-Thật chứ anh! Hồi năm ngoái ông cậu của em cũng lâm bệnh nặng, người nhà phải mời ông ta đến chữa. Vì bệnh khá trầm trọng nên người nhà phải năn nỉ ông ta ở lại nhà vài đêm để tiện bề theo dõi bệnh tình của ông cậu em. Không ngờ đêm đó lại có một bọn cướp bốn đứa võ trang đao gậy xông vào nhà ông cậu em để ăn cướp. Thấy ông cậu em nằm liệt giường, ông thầy thuốc thì mảnh mai ốm yếu, những kẻ còn lại đều là đàn bà con nít nên bọn cướp sinh dể ngươi. Chúng dồn mọi người lại một góc nhà rồi giao cho một tên cầm đao lớn đứng kềm chế. Ba tên kia thì nghênh ngang đi lục soát của cải. Bất ngờ ông thầy thuốc phóng cước hạ gục tên đang kềm chế ông và cướp được ngọn đao của hắn đồng thời nhảy theo chém ngã một tên khác. Hai tên còn lại biết đã gặp thứ dữ kinh hãi phóng thân chạy mất…

Nghe cậu em vợ thuật chuyện nét mặt của Triệu Thành hân hoan hẳn lên. Đợi ông thầy bốc thuốc cho nhạc phụ xong, Triệu Thành liền lại gần ân cần thăm hỏi. Khi được biết ông thầy này quen thú phiêu bạt sông hồ, lấy việc bốc thuốc cứu thiên hạ làm vui thì Triệu Thành càng ngưỡng phục hơn. Sau một hồi chuyện vãn, Triệu Thành lễ phép mời:

-Thưa thầy, khu vực trồng dâu ở Hương Vân của chúng tôi tiếp giáp với vùng rừng núi. Vùng này có vô số loại cây cỏ, chắc hẳn cây thuốc cũng không ít. Nếu thầy chưa có ý định đi đâu xa vợ chồng tôi xin mời thầy ghé lại nhà chơi một thời gian, nhân thể thầy đi tìm cây thuốc cũng rất tiện. Biết đâu thầy lại chẳng tìm ra được cả kho thuốc ở đó! Nhà cửa chúng tôi cũng rộng rãi khang trang, thầy có thể nghỉ ngơi thoải mái. Mong thầy nhận lời, gia đình chúng tôi rất hân hạnh được tiếp đón thầy.

Ông thầy thuốc thấy thái độ quá ân cần của Triệu Thành vui vẻ nói:

-Thật là hân hạnh cho tôi. Gia chủ đã có lòng như thế tôi đâu dám từ chối. Tuy thế, phải đợi năm ba ngày nữa bệnh ông cụ dứt hẳn tôi mới ghé nhà ông chơi được.

Triệu Thành tươi hẳn nét mặt:

-Vâng, được thầy hứa như vậy là chúng tôi vui lắm rồi. Kính mong thầy đến chơi càng sớm càng hay.

Năm ngày sau thì ông thầy thuốc đến Hương Vân tìm nhà Triệu Thành. Ông đã được cặp vợ chồng này đón tiếp, chiêu đãi hết sức nồng hậu. Bữa ăn nào cũng đầy đủ rượu thịt. Triệu Thành lại thân hành dẫn ông đi chơi nhiều nơi trong khu vực. Khi đi chơi Triệu Thành dẫn mấy đứa nhỏ mang cả thức ăn và đồ giải khát theo để thầy dùng. Thấy gia chủ đối đãi với mình ân cần, trân trọng quá ông thầy thuốc rất cảm động và cũng nẩy sinh một chút hoài nghi: có thể gia chủ cần mình điều gì. Trong một bữa cơm tối, khi có đủ mặt vợ chồng Triệu Thành ông thầy thuốc nói:

-Không biết nhờ phước đức từ đâu mà tôi lại được ông bà trọng đãi đến thế này? Ơn nghĩa này tôi làm sao trả nổi? Ông bà có thân nhân nào gặp khó khăn về bệnh hoạn gì xin cứ cho biết tôi sẽ tận tình chữa giúp quyết không dám từ nan.

Triệu Thành ấp úng không dám trả lời. Ông thầy thuốc lại tiếp:

-Tôi nói thật lòng đó. Tôi chỉ biết chữa bệnh thôi chứ chẳng thể giúp được ông bà điều gì nữa.

Thấy lời ông thầy thuốc có vẻ chân tình, Phạm thị như dồn hết can đảm nói nhanh:

-Thưa thầy, vợ chồng tôi thật tình từ lâu đã ôm ấp một ước vọng mà chưa thực hiện được. Nay thầy đã rộng lòng đoái tưởng tôi cũng xin thưa thật với thầy. Số là chúng tôi chỉ có một đứa con trai tên là Quốc Đạt như thầy đã biết đó. Chồng tôi vẫn mong cho nó được thêm một vài đứa em để sau này trong cuộc sống chúng có thể nương tựa nhau nhưng chúng tôi chờ mỏi mắt vẫn chưa thấy gì…

Ông thầy thuốc hơi mỉm cười hỏi ngang:

-Nghĩa là ông bà muốn kiếm một toa thuốc để được mắn con phải không?

Phạm thị e thẹn cười đáp:

-Dạ thưa không phải vậy. Vì thấy Quốc Đạt không anh em lẻ loi quá nên vợ chồng tôi ước vọng tìm kiếm một vị thầy võ để dạy cho nó vài đường hầu sau này ra đời nó có thể tự vệ khi cần thiết!

Ông thầy thuốc bỗng bật cười lớn:

-Hóa ra là vậy! Nhưng ông bà làm sao biết được tôi có thể dạy cậu bé? Và chắc ông bà cũng biết rõ luật lệ của quan trên cấm ngặt việc dạy võ và học võ?

Lúc đó Triệu Thành mới dám mở miệng:

-Thưa thầy, chúng tôi biết rõ luật cấm của quan trên. Nhưng thầy vẫn có thể truyền dạy bí mật được chứ? Ngày ngày thầy cứ lo việc hái thuốc chữa bệnh như thường. Khi nào thật thuận tiện thì thầy dạy cho cháu vậy!

Ông thầy thuốc cười:

-Ông bà thương con, lo cho con đến vậy là hết lòng rồi. Bất chấp cả sự vi phạm phép nước, có thể nguy hiểm đến cả mạng sống! Thôi thì tôi cũng liều mà giúp ông bà.

Được ông thầy thuốc nhận lời vợ chồng Triệu Thành vui mừng khôn xiết. Từ đó trong nhà Triệu Thành có thêm một ông thầy thuốc.

Nhưng trớ trêu thay, Quốc Đạt tuy thể chất mạnh khỏe và được vị võ sư dưới cái lốt ông thầy thuốc tận tình dạy dỗ nhưng cậu lại chỉ ham những thú vui khác như bắt chim, đá cá mà chẳng mặn nồng gì với nghề võ cả. Điều này đã làm ông thầy thuốc lẫn vợ chồng Triệu Thành thất vọng lắm. Một hôm ông thầy thuốc nói với Triệu Thành:

-Cháu đã không chịu học tức là cháu không có duyên với võ nghiệp rồi. Dẫu có ép lắm cũng vô ích thôi. Tôi ở đây đã lâu mà không giúp ích được chi cho ông bà tôi cũng áy náy lắm. Vậy xin phép ông bà vui lòng cho tôi đi chốn khác làm thuốc cứu thiên hạ như trước.

Triệu Thành khẩn khoản nói:

-Thưa thầy, chúng tôi biết cháu nó làm cho thầy chán nản lắm, nhưng thú thật vợ chồng tôi rất quí trọng thầy. Chúng tôi không muốn thầy rời bỏ ngôi nhà này chút nào cả. Nếu thầy không được thanh thản trong lòng, thầy cứ đi chơi giải khuây đâu đó vài ba tháng rồi trở lại với chúng tôi cũng được. Chúng tôi sẽ cố sức khuyên nhủ cháu. Chúng tôi tin chắc ít lâu nữa cháu nó sẽ thay đổi sở thích thôi.

Thấy ông thầy thuốc có vẻ dùng dằng Triệu Thành lại tiếp:

-Thầy biết, chúng tôi tôn trọng thầy đến nỗi thầy ở lại đây đã khá lâu mà chúng tôi chưa hề dám hỏi đến danh tánh của thầy. Mong thầy thương chúng tôi mà đừng bỏ cháu. Chúng tôi tin tưởng thế nào rồi đây cháu cũng sẽ chịu học thôi.

-Ông bà đối với tôi quả thật chí tình. Thế này thì tôi cũng không còn giấu giếm gì ông bà nữa. Tôi họ Lữ tên Phương, là hậu duệ của quan Tể tướng Lữ Gia [5] đời nhà Triệu [6]. Sau khi Tể tướng Lữ Gia bị tướng Hán Lỗ Bác Đức giết, con cháu của ngài tuy phải tản mát nhiều nơi để giữ mạng sống nhưng vẫn luôn khắc đậm mối thù với giặc Hán trong lòng. Ai cũng mong một ngày nào đó lại có dịp ra giúp nước để giành lại nền tự chủ. Đời này qua đời khác giòng họ tôi vẫn cố truyền cho nhau nghề võ của tổ tiên mình. Nay vì cảm ơn tri ngộ của ông bà tôi quyết định truyền nghề sang cho cháu nhưng duyên nghiệp chưa đến với cháu chắc cũng là ý trời. Nhưng ông bà đừng lo, tôi sẽ không bỏ cháu đâu. Cứ để tôi đi ngao du vài ba năm nữa tôi sẽ trở lại. Hi vọng lúc ấy cháu đã đổi khác.

Nghe xong Phạm thị cảm thán nói:

-Trời ơi, hóa ra núi Thái Sơn đứng sừng sững trước mắt mà chúng tôi nào hay! Thầy ra đi mây ngàn chim rừng biết bao giờ chúng tôi gặp lại? Thôi, thầy cứ ở lại với chúng tôi đi. Chúng tôi rất hân hạnh được gần gũi một nhân vật thuộc dòng dõi thế gia có truyền thống yêu nước. Từ nay chúng tôi nguyện xin cung phụng thầy như cung phụng cha mẹ vậy. Thầy thuộc dòng dõi Lữ Tể tướng tất nhiên thầy phải là một bậc văn võ kiêm toàn. Bây giờ cháu nó chưa thích học võ thầy có thể dạy cho cháu học văn, học thuốc cũng được! Xin thầy thương tình giúp cháu!

Ông thầy thuốc thở dài:

-Thôi, được rồi. Gia chủ đã cạn lời như thế tôi cũng xin hết lòng để đáp tấm ơn tri ngộ vậy! Gia chủ cứ yên tâm. Tôi đi chơi vòng vòng chừng vài tháng rồi sẽ trở lại!

Vợ chồng Triệu Thành được lời hứa của ông thầy thuốc mừng quá đồng loạt thưa:

-Cám ơn thầy đã hứa. Bây giờ thầy đi chơi đâu cứ đi nhưng xin sớm trở về để chúng tôi đỡ nóng lòng!


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 04.09.2018, 13:46
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Dã sử] Đầu voi phất ngọn cờ vàng - Ngô Viết Trọng - Điểm: 10
CHƯƠNG 4


Năm Ất Tỵ (225), Phạm thị sinh hạ thêm được một bé gái. Triệu Thành vui mừng khôn xiết, đặt tên cô bé là Triệu Thị Trinh. Khi ấy Quốc Đạt đã lên mười một tuổi.

Bé Trinh rất chóng lớn, càng lớn càng xinh đẹp. Năm mới lên bốn, một lần ra sân sau chơi, tình cờ bé Trinh thấy thầy Lữ đang dạy võ cho Quốc Đạt. Đứng nhìn qua chốc lát, bé Trinh liền bắt chước làm theo những động tác của anh mình. Thấy cô bé múa men uyển chuyển dễ thương quá thầy Lữ bèn gọi bé lại chỉ cho bé tập thử vài đường. Bé thích quá, làm theo lời thầy Lữ không một chút ngập ngừng. Sự tiếp thu có vẻ bén nhạy của bé đã làm thầy Lữ vừa ngạc nhiên vừa thích thú.

Buổi tối thầy Lữ đem việc này kể lại với vợ chồng Triệu Thành. Nghe xong cả hai đều tròn mắt lên thích chí lắm. Nhưng rồi Triệu Thành thở dài:

-Giá mà Quốc Đạt được vậy thì hay biết mấy! Cháu Trinh lớn lên bất quá chỉ lo việc nội trợ bếp núc đâu cần học võ để làm gì?

Thầy Lữ cười mà nói:

-Ông nói vậy chứ có tài năng cháu cũng có thể làm nên việc lớn thua kém gì đàn ông? Trước đây hai trăm năm nước ta đã từng có hai Bà Trưng khởi nghĩa chống Tàu đuổi được tên Thái thú Tô Định giành lại độc lập cho nước ta được mấy năm, đàn bà như thế cánh đàn ông mình mấy ai bì nổi? Sau đó nhà Hán đã phải cử danh tướng bậc nhất của họ là Mã Viện kéo mấy vạn tinh binh sang đánh dẹp mới xong. Nếu không có tên Mã Viện này biết đâu sự nghiệp của hai Bà lại chẳng tồn tại đến bây giờ?

Phạm thị nghe thầy Lữ nói cười dòn:

-Chàng thấy chưa? Cần gì phải phân biệt con trai con gái? Cứ nhờ thầy dạy cho bé Trinh học võ đi! Con trai học không nên thì cho con gái học cũng được chứ mất gì?

Triệu Thành lại thở dài:

-Đáng tiếc là Quốc Đạt dở quá! Thôi thì nhờ thầy dạy luôn cho cháu Trinh xem sao!

Thầy Lữ vui vẻ nói:

-Vâng. Với cái năng khiếu đã hiển hiện ở cháu, tôi tin chắc cháu Trinh sẽ thành công về nghiệp võ.

Sáng hôm sau, khi thầy Lữ đang ngồi uống trà với Triệu Thành thì Phạm thị dắt bé Trinh ra đứng chắp tay trước mặt hai người và thưa:

-Thưa thầy, hôm nay vợ chồng con chính thức xin gởi gắm bé Trinh nhờ thầy dạy dỗ cho cháu như thầy đã hứa. Con thấy tuổi hạc thầy cũng xấp xỉ tuổi ông ngoại của bé nên con xin thầy cho phép bé Trinh được coi thầy như ông ngoại, như vậy thầy thấy có gì bất tiện không?

Thầy Lữ tươi cười nói:

-Nếu ông bà đã định vậy thì thật vinh hạnh cho tôi! Tôi xin nguyện sẽ hết lòng dạy dỗ chăm sóc cho cháu nên người!

Phạm thị vui mừng bảo bé Trinh:

-Con hãy quì xuống lạy thầy hai lạy và thưa: “Cháu là Triệu Thị Trinh kính xin ra mắt ông ngoại”!

Bé Trinh quì xuống lạy và thưa như lời Phạm thị dạy. Thầy Lữ cười vui vẻ khoát tay mà nói:

-Thôi, ông ngoại cho phép cháu đứng dậy đi chơi! Từ nay cháu cứ ngoan ngoãn nghe lời ông ngoại dạy bảo là đủ rồi!

Từ đó thầy Lữ bắt đầu ra công dạy võ cho bé Trinh. Trước kia thầy Lữ thất vọng vì cậu bé Quốc Đạt bao nhiêu thì nay thầy lại vui mừng tin tưởng vào bé Trinh bấy nhiêu. Thấy thể chất bé Trinh có vẻ khác thường, có năng khiếu tiếp thu đặc biệt, thầy Lữ thương quí bé lắm. Thầy đã thật sự đóng vai ông ngoại để săn sóc và ráo riết truyền nghề cho cháu. Được thầy Lữ gần gũi dạy dỗ hằng ngày, bé dần đâm ra quyến luyến thầy Lữ còn hơn cả quyến luyến bố mẹ. Triệu Thành vì bận rộn công việc, rất ít khi để ý đến việc luyện tập của bé. Ngược lại, Phạm thị lại luôn gần gũi khuyến khích, cổ động bé Trinh trong việc luyện tập. Những khi rảnh rỗi Phạm thị hay khiến bé múa để xem. Mỗi lần xem bé Trinh múa võ xong Phạm thị lại ôm lấy bé hôn hít say sưa mà nói:

-Mẹ vô cùng hạnh phúc khi thấy con của mẹ ngoan ngoãn như thế này! Mẹ rất mừng vì con đã cố gắng luyện tập rất đều đặn! Con chắc chắn sẽ trở thành người giỏi. Người càng giỏi lớn lên càng hữu ích cho đời!

Một hôm Phạm thị nói với chồng:

-Ngày mốt đây là ngày giỗ mẹ thiếp rồi. Chàng có định về ngoại dự như năm ngoái không?

Triệu Thành nói:

-Lẽ ra mình cũng nên đi cả nhà cho vui. Nhưng năm nay công việc còn bề bộn quá, ta đi thật chẳng tiện chút nào. Cả thằng Quốc Đạt nữa, cũng cần ở nhà giúp ta một tay. Thôi, hai mẹ con nàng và bé Trinh đi đại diện cũng được. Nhớ cáo lỗi với phụ thân giùm ta nhé.

Phạm thị vui vẻ nói:

-Chàng yên chí. Phụ thân cũng biết chàng bận công việc, người không trách đâu!

Triệu Thành dặn:

-Lấy con ngựa hồng mà đi, biểu Quốc Đạt thay cái yên ngựa mới mà cỡi. Xong việc nàng cứ ở lại vài ba hôm để bé Trinh chơi với lũ con của mấy cậu nó lâu lâu cho thoải mái. Cả năm nay nó cứ chuyên vào việc học võ cũng tội nghiệp. Sang bên đó nó múa võ cho ông ngoại và các cậu nó coi chắc mọi người thích lắm!

Bé Trinh nghe bố dặn vậy sung sướng vỗ tay:

-Vậy là về nhà ngoại con tha hồ chơi với mấy em. Con sẽ múa võ cho ông ngoại và mấy cậu xem. Nhưng đường về nhà ông ngoại cũng xa mẹ nhỉ?

Phạm thị âu yếm:

-Đi bộ thì mất hơn một ngày nhưng mình đi ngựa lo gì con!

Hôm sau Phạm thị cỡi con ngựa hồng cùng bé Trinh lên đường. Con đường đi về nhà thân phụ của bà là một lối mòn không rộng lắm, năm nào bà cũng đi lại một hai lần. Nhưng những lần trước Phạm thị vẫn đi với chồng, lần này chỉ đi một mình với bé Trinh nên bà cũng thấy hơi ngờ ngợ. Được gần nửa đường, ngựa Phạm thị đang chạy bon bon bỗng một tên lính bảo hộ cầm mã tấu xuất hiện đón đầu. Phạm thị hoảng sợ, bối rối vì từ trước tới nay bà chưa hề gặp tình trạng này. Bà vừa định quay ngựa trở lại thì một tên lính bảo hộ khác đã chận đằng sau. Hai tên lính bảo hộ buộc hai mẹ con Phạm thị phải xuống ngựa và hỏi:

-Đi đâu đây? Không biết chỗ này quan lớn đang cho tiễu trừ bọn giặc cướp hay sao?

Phạm thị run run đáp:

-Thưa các ông, mẹ con tôi ở Hương Vân, về giỗ thân phụ tôi ở làng Kế An. Xin các ông cho mẹ con tôi đi kẻo trễ.

Một tên lính nói:

-Không được. Hôm nay quan lớn có lệnh phải lùng soát khu vực này để bắt cho được mấy tên phiến loạn. Không ai được quyền qua lại trên đường cả. Mẹ con bà phải vào đây ở tạm đợi lúc nào quan lớn có lệnh mới được đi!

Thế rồi một tên kéo hai mẹ con vào một ngôi nhà lá, một tên dắt con ngựa đi chỗ khác. Phạm thị hoảng hốt kêu lên:

-Dắt ngựa của tôi đi đâu vậy? Nếu không cho đi thì cho mẹ con tôi trở về nhà chứ?

Một tên lính quát:

-Không đi đâu nữa cả. Lệnh quan lớn nội bất xuất, ngoại bất nhập!

Tên lính đẩy mẹ con Phạm thị vào ngôi nhà lá. Ngôi nhà chỉ mở một cánh cửa bên. Trời đang buổi trưa nên bên trong cũng khá sáng sủa. Khi bước vào Phạm thị thấy bốn phụ nữ và hai đứa trẻ đang ngồi dồn lại ở một góc. Một trong bốn phụ nữ là một cô gái trẻ rất đẹp. Trông mặt người nào cũng đầy vẻ lo lắng, sợ hãi. Phạm thị ngồi lại gần những người này để hỏi thăm mới biết họ cũng đều vừa bị lùa vào đó chưa bao lâu.

Một lát sau thì một viên quan Tàu Ngô [7] cùng hai tên lính bước vào nhà. Tên lính đem một chiếc chiếu trải ngay xuống đất ở căn giữa. Viên quan Tàu Ngô đứng nhìn đám đàn bà một lát rồi chỉ cô gái trẻ nói:

-Cô bước ra đó! – Y chỉ tay về chiếc chiếu.

Cô gái run sợ bối rối nhìn quanh. Một tên lính quát:

-Bộ muốn chết sao quan biểu mà còn chần chờ?

Tiếng quát làm đám đàn bà con nít đều run sợ. Cô gái tái mặt đứng dậy bước tới chiếc chiếu. Viên quan Tàu Ngô bảo hai tên lính:

-Chúng bay ra ngoài canh cửa. Có gì tao gọi.

Hai tên lính vừa ra ngoài thì viên quan Tàu Ngô tự cởi tuốt hết quần áo quăng một đống rồi tồng ngồng tiến lại phía cô gái. Cô gái hoảng sợ hét lên “cứu tôi với!”. Cùng lúc đó trong đám người bị giữ cũng vang lên một tiếng hét hãi hùng của trẻ con. Đó chính là tiếng hét của bé Trinh. Mọi người nhìn lại thấy bé Trinh đã ngất xỉu. Mọi người hoảng hốt xúm lại lo cấp cứu bé. Phạm thị ôm bé Trinh khóc ầm lên:

-Con tôi chết rồi trời ơi! Con tôi chết rồi trời ơi!

Cảnh tượng này đã làm viên quan Tàu Ngô lúng túng, khó chịu. Y vẫn giữ chặt cô gái nhưng ra lệnh:

-Hãy thả bọn kia ra hết đi!

Một tên lính hỏi lại:

-Bẩm quan, còn con ngựa hồng?

-Phải giữ con ngựa lại. Trả về để nó đem ủng hộ bọn phản loạn sao?

Hai tên lính bèn ra hiệu cho đám người kia ra khỏi cửa. Nhưng đám người kia vẫn còn xúm quanh bé Trinh. Một tên lính giục:

-Quan lớn đã có lệnh cho các ngươi về nhà. Đi mau lên nếu không quan lớn đổi ý thì mệt đó!

Thấy đám người kia còn dùng đằng trước cảnh cô gái đang bị hiếp và Phạm thị đang ôm con khóc lóc, bọn lính quát:

-Các ngươi không chịu về phải không? Muốn ở lại cho ở lại!

Nghe tên lính dọa giữ lại, mọi người sợ quá đành tuôn ra ngoài. May lúc đó bé Trinh cũng vừa tỉnh lại. Phạm thị mừng rỡ ôm thân bé đang run bần bật mà hú hồn hú vía cho bé và bước ra khỏi ngôi nhà sau cùng.

Phạm thị phân vân: Đương nhiên bà không còn bụng dạ nào để đi tiếp được nữa. Nhưng trở về nhà bà lại phải cõng bé Trinh lội bộ vì bọn lính không chịu trả con ngựa. Chúng cũng giữ luôn những thứ bà mang theo. Nhưng nếu mở miệng đòi lại bà lại sợ chúng đổi ý giữ bà lại. May bà còn giữ được một gói xôi để phòng ăn dọc đường và một ống nước. Cuối cùng bà tự nhủ: thôi, chừng ấy cũng tạm đủ. Thế là Phạm thị quyết định phải xa rời chốn hang hùm. Bà bế xóc bé Trinh trên vai mà đi. Đi được một đỗi Phạm thị đã thấm mệt và thấy đói. Bà bèn ngừng lại bên đường cùng bé Trinh ăn uống. Thấy bé Trinh có phần tỉnh táo trở lại Phạm thị rất mừng. Ăn uống xong bà định bế bé Trinh lên để đi tiếp thì bé nói:

-Thôi, mẹ để con đi bộ như mẹ cũng được.

Nỗi lo ngại trong Phạm thị đã giảm nhiều, bà đáp:

-Ừ, cũng được. Khi nào con mệt thì nói để mẹ cõng.

Từ lúc đó, nhờ thể chất khỏe mạnh, bé Trinh đã tự đi bộ về tới tận nhà không cần mẹ cõng nữa. Khi hai mẹ con bước vào nhà khi trời đã tối mịt. Triệu Thành thấy hai mẹ con về đột ngột quá ngạc nhiên hỏi:

-Sao về làm gì gấp vậy?

Phạm thị bèn kể lại hết sự việc đã xảy ra cho mọi người nghe. Ai nghe cũng lo lắng, thương hại cho cô gái kia không biết số phận cô rồi sẽ ra sao.

Mọi chuyện tưởng đã qua đi, không ngờ đêm ấy giữa giấc ngủ bé Trinh đã la hét bất thần đến ba lần. Mấy hôm kế tiếp bé Trinh vẫn tiếp tục la hét một hoặc hai lần giữa giấc ngủ như vậy. Triệu Thành lo sợ kể chuyện đó với thầy Lữ. Thầy lo lắng nói:

-Khổ lắm, cái ấn tượng nhơ nhớp kinh tởm đó rất khó phai mờ trong đầu óc của cháu. Nhất là hạng người có tính “ái khiết úy ô” ấn tượng trên sẽ gây cho họ nhiều rắc rối về sau. Nó có thể di hại đến cả việc hôn nhân của cháu sau này. Muốn cho cháu chóng xóa nhòa ấn tượng này phải tuyệt đối đừng bao giờ nhắc lại những gì liên can tới chuyện đó nữa. Mặt khác, phải tìm cách để hướng sự chú ý của cháu về một việc khác hấp dẫn hơn mới hi vọng cháu có thể quên chuyện cũ!

Từ đó Phạm thị hay ôm ấp bé hơn và thường khuyên nhủ bé chuyên tâm về việc học văn và học võ nghệ. Qua một thời gian, khi thấy những vụ la hét trong giấc ngủ của bé Trinh thưa dần rồi dứt hẳn ai nấy đều mừng.

Nhưng chẳng bao lâu lại có một nỗi bất hạnh khác to lớn hơn nhiều giáng xuống gia đình họ Triệu: Phạm thị qua đời sau một trận dịch tả. Lúc ấy bé Trinh mới bảy tuổi. Bé Trinh đã đau xót bỏ ăn bỏ ngủ khóc thương mẹ suốt mấy ngày.

Cũng may gặp thầy Lữ đã khéo an ủi, biết cổ động tinh thần đam mê võ nghệ của bé, luyện tập cho bé nhiều hơn để bé luôn bận rộn mà giảm bớt nỗi đau lòng. Nhờ vậy nỗi buồn mất mẹ của bé Trinh cũng dần dần phôi pha.

Triệu Thành vì công việc quá nhiều, rất ít khi gần gũi săn sóc con. Mọi sinh hoạt hằng ngày của bé Trinh chỉ trông cậy ở tay ông ngoại Lữ sắp xếp. Lòng thương yêu của một người già cuối đời thiếu vắng con cháu ruột thịt đã được dồn cho đứa cháu nuôi thiếu mẹ khiến bé Trinh vẫn tiếp tục lớn nhanh như có phù phép.

Bé Trinh càng lớn càng say sưa luyện tập võ nghệ làm thầy Lữ rất thỏa lòng. Triệu Thành cũng vui mừng không kém. Một hôm khi hai người cùng chứng kiến bé Trinh múa võ, thầy Lữ nói với Triệu Thành:

-Cháu Trinh thể chất kỳ diệu rất hiếm có, các thế võ khó khăn đến đâu cháu cũng thích nghi được cả. Tôi sẽ cố gắng truyền những ngón võ đặc biệt quan trọng cho cháu trước khi tôi về chầu ông bà. Cháu sẽ trở thành nữ võ sĩ vô địch trong thiên hạ.

Triệu Thành nghe thầy Lữ nói vậy vui mừng khôn xiết. Khi bé Trinh nghỉ múa, ông gọi bé Trinh mà khen:

-Con của bố giỏi quá, sau này con có thể lập được sự nghiệp như hai bà Trưng, làm vẻ vang cho gia đình họ Triệu ta đó!

Bé Trinh ngạc nhiên hỏi lại bố:

-Hai bà Trưng đã làm sao hở bố?

Triệu Thành nói:

-Hai bà Trưng nhờ giỏi võ nên đã đánh đuổi được giặc mà làm vua. Con hãy hỏi ông ngoại Lữ đi! Ông ngoại Lữ sẽ nói cho con nghe.

Bé Trinh nói với thầy Lữ:

-Ông ngoại kể cho cháu nghe chuyện Hai Bà Trưng đi!

Thầy Lữ bật cười:

-Cháu cũng muốn làm vua hở? Chuyện này nói với cháu bây giờ cũng hơi sớm, nhưng cháu đang thích nghe nên ông ngoại cũng kể luôn. Hồi đó nước ta đang bị giặc Tàu đô hộ cũng giống như bây giờ vậy. Tên Thái thú quận Giao Chỉ là Tô Định đã đối xử rất độc ác với dân bản xứ. Giặc Tàu tha hồ bóc lột dân ta, bóc lột đến tận xương tận tủy. Thấy ai có hành động gì đáng nghi ngờ là chúng tìm cách tiêu diệt ngay. Chúng muốn giết ai thì giết, giết không gớm tay. Tô Định đã giết người con trai của viên lạc tướng đất Chu Diên là Thi Sách vì nghi ông này rục rịch nổi dậy. Vợ Thi Sách là Trưng Trắc quá tức giận nên đã cùng em là Trưng Nhị dựng cờ khởi nghĩa đánh lại Tô Định. Dân ta vốn đã quá phẫn uất vì chính sách cai trị tàn ngược của giặc Tàu nên đã nhiệt liệt ủng hộ Hai Bà. Vì thế chẳng bao lâu Hai Bà đã chiếm được 65 thành, Tô Định phải chạy trốn về quận Nam Hải. Bà Trưng Trắc bèn tự lập làm vua tức Trưng Nữ Vương. Nhưng Bà Trưng mới làm vua được ba năm thì nhà Hán cử viên tướng giỏi nhất của họ là Phục ba tướng quân Mã Viện đem hai vạn kỵ binh sang đánh dẹp. Hai Bà thua trận nên đều nhảy xuống sông Hát mà chết…

Nghe đến đây bé Trinh khóc nức nở:

-Tội nghiệp Hai Bà Trưng quá! Mã Viện chắc giỏi võ hơn Hai Bà phải không ông ngoại Lữ?

Thầy Lữ vuốt tóc bé tù tốn giải thích:

-Chuyện này cháu chưa hiểu đâu! Võ nghệ thật ra chỉ dùng để giữ mình chứ không phải chuyện gì cũng đem võ nghệ ra để giải quyết được! Võ giỏi cách mấy đi nữa mà ít người cũng khó địch nổi số đông. Võ giỏi cách mấy mà thất thế cũng thua kẻ đắc thế! Giữa chốn chiến trường mưu chước càng già dặn càng dễ chiếm ưu thế! Mã Viện là một viên tướng nhà nghề, làu thông binh thư, nhiều kinh nghiệm chiến trường. Quân sĩ của Mã Viện lại được tuyển lựa toàn thứ đã quen xông pha chiến trường. Mã Viện đã từng đánh bại nhiều danh tướng của Vương Mãng là kẻ thù của vua Hán. Trong khi đó Hai Bà Trưng chưa có mấy kinh nghiệm về chiến trường. Quân của Hai Bà lại chỉ là một quân đội ô hợp, chưa được luyện tập kỹ càng. Như vậy việc Hai Bà Trưng không chống nổi Mã Viện chỉ là lẽ tất nhiên!

Nãy giờ Triệu Thành vẫn ngồi nghe, đột nhiên ông cao hứng nói vào:

-Chuyện này trước đây tôi chỉ biết mập mờ, nay nghe thầy giải thích tôi mới rõ tại sao Mã Viện thắng Hai Bà nhanh đến vậy! Tiện đây xin thầy cho nghe luôn tại sao trước đó cũng chỉ là quân đội ô hợp ấy mà Hai Bà Trưng lại thắng Tô Định quá nhanh đến vậy?

Thấy Triệu Thành cũng thích nghe, thầy Lữ hứng chí lên giọng:

-Việc thành bại trong thiên hạ xưa nay vẫn do ba yếu tố quan trọng chi phối: thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Mã Viện thắng Hai Bà là nhờ yếu tố thiên thời, lúc đó nhà Hán vừa diệt được Vương Mãng khí thế đang lên quá. Còn tại sao Hai Bà thắng Tô Định quá dễ dàng lại là chuyện khác. Tô Định chỉ là một tên quan tham tàn mù quáng dốt nát nên đã làm mất lòng người quá đáng. Ngay cả những người dưới quyền Tô Định cũng chán ghét cái lòng tham vô đáy của Tô Định nữa. Chúng không muốn chiến đấu để bảo vệ quyền lợi của một tên tham tàn. Toàn dân Giao Châu thì không ai khỏi căm phẫn Tô Định. Hai Bà đã kết hợp thù nhà với nợ nước, khai thác được tối đa lòng phẫn hận của toàn dân đối với giặc Tàu để vùng dậy. Sức mạnh đó đã giúp Hai Bà thắng Tô Định dễ dàng. Đó là nhờ yếu tố nhân hòa vậy. Đáng tiếc là sau khi thành công, nước ta không có đủ nhân tài để giúp Hai Bà trong việc tổ chức trị an và huấn luyện quân đội. Sự yếu kém đó đã đưa đến thất bại sau này…

Triệu Thành thở dài:

-Nếu lúc đó có một số người như thầy ra giúp Hai Bà thì chắc nước ta đỡ hơn!

-Cũng có đó chứ sao không. Nhưng đối với nước ta lúc bấy giờ con số đó quá ít không đủ để đáp ứng những đòi hỏi của tình thế. Cũng bởi chính sách nhận chìm nhân tài người Tàu đã áp dụng ở nước ta mà ra cả. Vì quá lo ngại nhân tài nước ta phát triển nên họ đã cấm hẳn dân ta dạy võ và học võ.

Triệu Thành rầu rầu nói:

-Nếu chính quyền đô hộ cứ giữ mãi chính sách này chắc nghề võ nước mình sẽ hao mòn dần cho đến ngày biến mất. Đáng buồn quá phải không thầy?

Thầy Lữ lắc đầu mà cười:

-Đáng buồn thật, nhưng không phải là tuyệt vọng. Chính sách của triều đình Tàu Ngô là vậy nhưng bọn thống trị làm sao kiểm soát toàn bộ dân bản xứ được? Gặp cái khó tự nhiên ló cái khôn. Như việc dạy võ nhà mình đây người ngoài làm sao biết? Tôi tin chắc còn rất nhiều nhà khác trong thiên hạ cũng đang âm thầm làm cái việc như chúng ta đang làm vậy. Nhất định sẽ có một ngày nào đó dân ta lại vùng lên.

Triệu Thành lộ vẻ mừng:

-Phải vậy mới được chứ! Nghề võ nước mình không bị diệt thì nước mình cũng còn hi vọng có ngày vùng lên!

-Thật ra võ nghệ không phải là yếu tố quyết định thắng bại trong chiến tranh đâu. Như xưa kia Hạng Vũ là người vũ dũng vô địch, dưới tay Hạng Vũ cũng có các tướng vũ dũng phi thường như Bành Việt, Anh Bố, Long Thư… Trong khi đó Lưu Bang võ nghệ thua kém Hạng Vũ rất xa nhưng nhờ được lòng dân hướng về, nhờ mưu hay kế giỏi nên cuối cùng Lưu Bang đã đánh bại Hạng Vũ. Một kẻ chỉ giỏi võ mà không biết mưu kế vẫn thường bị người đời chế nhạo là “hữu dũng vô mưu”. Những kẻ đó chỉ có thể làm tiểu tướng mà thôi. Muốn trở thành đại tướng phải giỏi binh thư, phải có văn hóa, phải có bộ óc phải đầy mưu lắm kế, biết tổ chức, biết quyền biến mới được. Xét về cháu Trinh nhà mình, tôi thấy cháu không những có năng khiếu đặc biệt về võ nghệ mà còn có chí khí, có mưu trí, đó là một triển vọng đáng mừng. Từ nay tôi sẽ dạy lần cho cháu về binh thư…

Triệu Thành vui mừng nói:

-Thôi thì trăm sự chúng tôi trông cậy vào thầy cả. Tài năng của cháu Trinh là do thầy Lữ un đúc, đào tạo, công lao của thầy rất lớn. Sau này nếu cháu Trinh làm nên được công nghiệp gì hẳn thầy Lữ cũng được tiếng thơm lây.

-Ông Triệu cứ yên chí. Tôi một đời lưu lạc khắp thiên hạ đã mệt mỏi mà ước vọng vẫn chưa thành. May mắn cuối đời lại gặp được vợ chồng ông và trở thành tri kỷ, tôi thỏa dạ lắm. Chúng ta đã tin tưởng nhau mà trao đổi, ký thác những ước vọng cho nhau tôi còn ngại gì mà không đem hết mình lo cho tương lai của cháu Trinh? Nhất định cháu Trinh sẽ nên người!

*

Ngoài việc dạy võ, dạy văn, dạy binh thư, thầy Lữ còn có ý dạy cả y thuật cho bé Trinh nữa. Những lần lên núi hái thuốc, thầy thường dắt bé Trinh đi theo để chỉ dẫn cho bé quen dần với các loại cây thuốc.

Ngày kia, hai ông cháu đến hái thuốc ở ven một dòng suối. Thầy Lữ đi trước, bé Trinh đi sau. Thình lình bé Trinh bỗng hét lên một tiếng kinh khiếp quá. Thầy Lữ giật mình nhìn lại thấy bé Trinh đã nằm sóng soải bên bờ cỏ. Thầy Lữ hoảng hốt nghĩ ngay tới một loại rắn cực độc! Nhưng rồi thầy định thần lại ngay. Kinh nghiệm cho thầy biết một con rắn độc bình thường không thể nào cắn gục được một người trong chớp nhoáng như thế. Với bé Trinh lại càng khó gục hơn vì thể chất của bé rất mạnh mẽ. Hơn nữa, một người bị độc vật cắn thường phải giãy giụa chứ đâu dễ nằm im ngay như thế. Thầy Lữ đến chỗ bé Trinh nằm quan sát kỹ nhưng không thấy một dấu hiệu nào khả nghi và cũng chưa kịp tìm ra vết thương nào trên thân thể của bé bỗng nghe tiếng hỏi lớn:

-Cô bé bị chuyện gì mà hét dữ như thế?

Thầy Lữ ngạc nhiên nhìn về phía tiếng hỏi. Thấy bốn năm người đàn ông vừa tắm suối lên đang mặc lại quần áo, thầy Lữ trả lời:

-Tôi cũng chưa biết tại sao cháu nó hét dữ như vậy nữa! Mấy ông coi thử giúp tôi với, cháu đang bị bất tỉnh nhân sự.

Hai người đã mặc lại áo quần xong vội vã chạy sang. Thấy thầy Lữ đang bắt mạch cho cô bé, một người hỏi:

-Không phải bị con gì cắn chứ? Cụ biết bắt mạch ư? Liệu cháu có sao không?

Thầy Lữ đáp:

-Vâng, tôi là thầy thuốc. Không có con gì cắn cả. Mạch cháu không sao, một lát cháu sẽ tỉnh lại thôi. Điều khó hiểu là không biết nguyên cớ nào làm cho cháu xúc động đến thế?

Người kia lại hỏi tiếp:

-Hay là cháu bị động kinh? Lâu nay cháu đã bị như vậy lần nào chưa? Hai đứa tôi vừa tắm xong mới bước lên chưa đứa nào kịp mặc quần bỗng nghe tiếng hét kinh quá!

Câu nói của người đàn ông đã làm thầy Lữ hiểu ra ngay nguyên nhân đã làm bé Trinh ngất xỉu. Thầy vừa bắt mạch cho bé và trả lời:

-Không sao. Trước đây cháu đã bị ngất như vậy một lần rồi. Ban đầu tôi hoảng quá vì sợ cháu bị rắn cắn nhưng bây giờ thì yên chí không phải. Cám ơn hai ông, một chốc nữa cháu sẽ tỉnh lại thôi.

Khi hai người đàn ông đi khỏi thì thầy Lữ bắt đầu bấm huyệt cho bé Trinh. Lát sau bé Trinh tỉnh lại. Thầy Lữ hỏi:

-Cháu thấy trong người có khó chịu không?

Bé Trinh im lặng quay mặt không trả lời. Thầy Lữ hiểu ý nói:

-Thôi, hôm nay ông cháu hái như vậy là đủ rồi. Mình ngồi nghỉ một lát rồi về.

Rồi thầy Lữ đem cơm bới theo ra hai ông cháu cùng ăn. Vừa ăn thầy Lữ vừa nói chuyện vui cho bé Trinh nghe. Ăn xong thì hai ông cháu ra về.

Buổi tối ấy thầy Lữ kể lại chuyện đã xảy ra cho Triệu Thành nghe. Triệu Thành lo lắng than thở:

-Tội nghiệp con gái tôi quá! Chuyện xảy ra đã mấy năm rồi không ngờ trong đầu óc cháu vẫn còn lưu lại cái ấn tượng khốn nạn đó. Liệu sau này lấy chồng cháu có bị có trở ngại gì không?

Thầy Lữ trầm ngâm giây lát rồi nói:

-Ấn tượng này có lẽ cũng thuộc về chứng “ái khiết úy ô”. Từ nay chúng ta phải làm sao gắng giữ gìn đừng để cháu gặp lại chuyện tương tự như thế một lần nữa. Hi vọng khi cháu trưởng thành cái ấn tượng đó sẽ lạt phai!


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 04.09.2018, 13:48
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Dã sử] Đầu voi phất ngọn cờ vàng - Ngô Viết Trọng - Điểm: 10
CHƯƠNG 5


Sau khi đã mãn tang của Phạm thị, Triệu Thành bắt đầu lo việc vợ con cho Quốc Đạt. Ông kết sui gia với một vị hào trưởng khác, người họ Đỗ. Ông Đỗ cũng là nhà giàu có trong vùng. Đỗ thị vợ Quốc Đạt vì được gia đình nuông chiều từ thuở nhỏ nên đã bị lậm phải một số thói quen không tốt. Khi về nhà chồng Đỗ thị vẫn giữ thói hống hách kiêu mạn của mình. Cô luôn tỏ ra hỗn láo, xấc xược với mọi người nên kẻ ăn người ở trong nhà không ai phục. Cha con Triệu Thành cũng khó chịu vì chuyện đó nhưng không khuyên răn gì được.

Lúc bấy giờ thầy Lữ đã ngoài bảy mươi. Sức khỏe của thầy ngày càng sa sút. Một hôm thầy gọi bé Trinh đến, trao cho bé mấy cuốn sách và dặn:

-Hôm nay ông ngoại Lữ muốn nói với cháu một chuyện rất quan trọng. Trước đây ông ngoại Lữ vẫn mong tìm được vài người có tâm huyết với dân tộc để truyền sở học về nghiệp võ của mình cho họ. Ông ngoại Lữ nghĩ nếu may mắn gặp thời cơ, những người này có thể đứng lên giành lại quyền tự chủ cho đất nước. Thế nhưng vì người Tàu không cho người Việt dạy võ và học võ riêng, họ kiềm chế quá kỹ, nên ông ngoại Lữ phải bó tay. Tưởng đã tuyệt vọng, không ngờ cuối đời ông ngoại Lữ lại gặp được cháu. Như thế là ông ngoại Lữ đã được thỏa nguyện. Với chí khí và tài nghệ của cháu, ông ngoại Lữ hi vọng cháu có thể nối chí Hai Bà Trưng làm nên nghiệp lớn. Dù công nghiệp của Hai Bà không truyền được dài lâu nhưng sự việc đó cũng biểu hiệu được tinh thần bất khuất của dân tộc Việt. Đó là một sự cảnh tỉnh, một sự nhắc nhở lòng dân rất cần thiết. Điều gì Hai Bà đã làm được thì con cháu của Hai Bà cũng sẽ làm được. Nay ông ngoại Lữ đã ở tuổi gần đất xa trời, mưa nắng bất thường, sợ không kịp dạy dỗ cháu tới nơi tới chốn. Bình thường ông ngoại Lữ có sưu tập được vài cuốn sách ghi chép về những thế võ đặc biệt. Ông ngoại cũng sưu tầm được một cuốn binh thư mà ông ngoại Lữ đã dạy cháu được một phần nhỏ rồi. Nay ông ngoại Lữ giao hết những cuốn sách này cho cháu để lỡ nửa chừng ông ngoại Lữ có bề nào thì cháu còn phương tiện để tiếp tục học hỏi. Ông ngoại Lữ tin tưởng cháu sẽ nối được chí của người xưa.

Bé Trinh quì xuống bái nhận và thưa:

-Cháu cám ơn ông ngoại Lữ đã hết lòng dạy dỗ cháu và giờ đây lại trao tặng cháu những quyển sách quí giá này. Cháu xin nguyện sẽ cố gắng hết mình để thực hiện những ước vọng của ông ngoại Lữ.

Thầy Lữ vui mừng nói:

-Ông ngoại Lữ rất vui được nghe cháu hứa những lời ấy và ông ngoại Lữ tin tưởng cháu sẽ thực hiện được những ước vọng đó. Cám ơn cháu!

Hôm ấy thầy Lữ kêu mệt, không dạy bé Trinh. Hôm kế tiếp thầy cũng cho bé Trinh nghỉ. Bé Trinh lo lắng luôn ra vào chăm sóc cho thầy nhưng thầy chỉ bảo hơi mệt một tí, cứ để cho thầy tịnh dưỡng. Điều không ai ngờ được chỉ qua hai hôm thầy Lữ qua đời.

Từ khi Phạm thị mất, đối với bé Trinh, thầy Lữ đã kiêm luôn hai vai trò: vừa là vị thầy đáng kính vừa là mẹ hiền. Bé Trinh vô cùng kính trọng, tin yêu thầy Lữ. Vì thế, cái chết của thầy Lữ là một sự mất mát quá lớn đối với bé Trinh. Bé Trinh đã bỏ ăn bỏ ngủ, vật vã thân xác khóc thương liên miên đến độ người nhà đều lo ngại…

Triệu Thành đã nhờ thầy địa lý chọn chỗ đất tốt để an táng và tổ chức lễ tang cho thầy Lữ rất trọng thể. Bé Trinh được bố cho phép để tang cho thầy Lữ một thời gian 5 tháng theo lệ cháu để tang ông bà ngoại thời bấy giờ.

Sau khi đã nguôi ngoai bớt nỗi đau buồn, bé Trinh lần lượt đem những cuốn sách thầy Lữ trao lại ra nghiền ngẫm. Bé Trinh bắt đầu ghiền đọc sách. Say mê đến nỗi ngoại trừ việc ôn luyện võ nghệ hằng ngày, bé Trinh như quên hết mọi trò vui chơi khác để tập trung trí óc vào sách. Triệu Thành thấy con gái ham đọc sách và chuyên rèn luyện võ nghệ thì càng mừng, không cấm cản.

Rồi hai năm sau Triệu Thành lại lâm bệnh qua đời. Bé Trinh lại trải qua một chuỗi ngày đau xót. Triệu Quốc Đạt trở thành hào trưởng. Lúc này bé Trinh đã bắt đầu được coi như người lớn, người chung quanh dần đổi cách xưng gọi từ bé Trinh thành ả Trinh. Một hôm Đỗ thị than phiền với chồng:

-Hồi bố còn sống công việc trong nhà bố lo gần hết. Nay bố mất rồi, công việc búi như tơ làm không xuể, sao chàng lại cứ để ả Trinh ngày nào cũng hết tập luyện lại đọc sách như thế chứ? Không làm nhiều cũng phải làm ít mới có cái ăn chứ không ai làm cho mà ăn mãi? Lớn ngồng ngồng rồi chứ còn nhỏ nhoi chi nữa mà đợi người ta nhắc?

Tuy vợ nói thế nhưng ban đầu Quốc Đạt phần vì thương em, phần cũng muốn em học thành tài nên cứ làm ngơ. Đỗ thị thấy thế nổi giận nên cứ tìm cách gây sự với chồng.

Cuối cùng Quốc Đạt bắt buộc phải khuyên ả Trinh nên giảm bớt việc luyện tập để tập sự làm ăn. Biết tính chị dâu khó chịu, ả Trinh bắt đầu phải giới hạn sở thích riêng để phụ lo công việc trong nhà. Lúc bấy giờ ả mới mười bốn tuổi nhưng lại lớn xồ như các cô gái mười sáu mười bảy. Ả bắt đầu tham gia vào nhiều công việc trong nhà. Và ả cũng bắt đầu gặp phải những vụ đụng chạm trực tiếp với bà chị dâu.

Càng lớn ả Trinh càng lộ rõ đầu óc thông minh, lanh lợi, tánh tình càng lộ rõ vẻ cứng cỏi, ngang tàng. Nhờ tính thẳng thắn, ghét sự gian dối, bênh vực lẽ phải nên ả rất được kẻ ăn người ở trong nhà mến chuộng. Một tính đặc biệt nữa là ả Trinh rất thích nghe tiếng sáo. Trong nhà lại có một người làm công già tên Đinh Huấn thổi sáo rất hay. Ả Trinh thích lắm nên cứ đòi lão Huấn dạy cho ả học. Lão Huấn nể tình cô chủ nhỏ nên những khi ít việc lão cũng dành năm ba phút để chỉ dạy cho cô. Nhưng vợ Quốc Đạt thấy vậy không hài lòng, một hôm Đỗ thị nổi giận nói với lão Huấn:

-Nhà tôi mướn ông tới đây để làm việc chứ mời ông tới đây để chơi âm nhạc sao? Ông về nhà mở trường dạy âm nhạc đi!

Mắng lão Huấn xong Đỗ thị lại quay sang nói với ả Trinh:

-Còn cô, con gái lớn rồi phải lo tập tành công việc làm ăn chứ hay ho chi cái thứ âm nhạc lãng mạn đó mà học? Con gái mà lãng mạn có mấy ai được nên thân đâu? Nếu cô không nghe tôi sẽ mách với anh cô đó!

Ả Trinh bực mình lắm nhưng phải nín nhịn. Cũng từ đó lão Huấn không còn dám dạy ả Trinh thổi sáo nữa. Có lần ả Trinh mon men lại gần lão Huấn, lão chỉ biết cười mỉm mà lắc đầu. Thấy Đỗ thị không có mặt, một người làm công nói:

-Tội nghiệp ả Trinh thích học thổi sáo quá mà bà chủ không cho. Chắc là ả buồn lắm. Cũng tại có người ưa sáo, mê thổi sáo đến quên cả công ăn việc làm bà chủ mới ghét chuyện thổi sáo như vậy phải không bác Huấn? Tôi đã từng thấy một ông kia đang làm rẫy mà cứ làm một hồi lại bỏ cuốc cầm sáo lên thổi, vì thế việc người khác làm một ngày thì xong nhưng ông ta làm tới ba ngày chưa xong…

Lão Huấn tức cười mà nói:

-Đúng, có nhiều người mê sáo lắm chứ. Mê sáo đến bỏ cả công ăn việc làm thỉnh thoảng cũng có. Không phải chỉ con người mình mê sáo thôi đâu, các giống vật như rắn, lợn, voi, khỉ, đười ươi chi cũng đều thích nghe sáo hết.

Nghĩ là lão Huấn nói đùa, người kia hỏi lại:

-Bác nói chơi đấy chứ! Các giống vật biết gì mà thích nghe sáo?

Lão Huấn cười:

-Anh không tin ư? Có dịp tôi sẽ kể cho anh nghe!

Ả Trinh đứng nghe chuyện có vẻ thích thú lắm nhưng lão Huấn ái ngại nói:

-Bà chủ đã không thích bác tập cho cháu thổi sáo cháu cũng nên hiểu cho bác. Đừng buồn bác nhé. Bác hứa lúc nào thuận tiện bác sẽ dạy cho cháu thổi những bài sáo thật hay.

Ả Trinh hiểu ý lặng lẽ bỏ đi nơi khác.

Từ khi thân phụ qua đời, Quốc Đạt luôn bận rộn điều hành công việc bên ngoài. Mọi việc trong nhà đều do một tay Đỗ thị coi sóc. Đỗ thị được thể càng lên nước, đôi khi bà sai khiến ả Trinh chẳng khác chi sai kẻ ăn người ở trong nhà vậy. Do đó khoảng cách tình cảm giữa chị dâu và em chồng mỗi ngày mỗi rộng thêm.

Năm mười sáu tuổi ả Trinh đã thành một thiếu nữ xinh đẹp và cao lớn khác thường. Ả cao hơn ông anh Quốc Đạt đến cả một cái đầu. Trước đây Đỗ thị vẫn quen dùng uy lực của một người chị dâu thay mặt ông anh để khống chế, dạy dỗ cô em chồng. Nay ả Trinh đã cao lớn ngồn ngộn làm Đỗ thị phải e dè không còn dám thẳng tay hiếp đáp nữa. Tuy vậy, tình cảm giữa hai chị em vẫn không thể nào hàn gắn được.

*

Để khỏi gặp mặt chị dâu hàng ngày, ả Trinh đã tự ý bỏ đi hái dâu như một người làm mướn. Ngay cả việc ăn uống, ả Trinh cũng tự túc lo lấy. Triệu Quốc Đạt phần nể vợ, phần sợ hai chị em gần nhau quá có thể sinh chuyện xung đột đành chiều ý em gái, không ngăn cản. Từ đó hàng ngày ả Trinh cùng bốn năm người bạn làm chung một toán.

Trong số bạn làm chung với ả Trinh có ả Nuôi là một người xa xứ mới đến xin việc. Ả Nuôi siêng năng làm việc và rất ít chuyện trò với ai. Một hôm khi đi làm ả dắt theo một cô bé khoảng mười một mười hai. Cô bé mặt mũi khá đẹp nhưng buồn rười rượi, không cười, không nói gì cả. Ả Trinh thấy vậy hỏi:

-Em ả Nuôi đấy phải không? Tên gì?

Ả Nuôi đáp:

-Em út tôi đó, nó tên Hướng Dương.

Nhìn vẻ mặt buồn chảy của cô bé, ả Trinh hỏi:

-Sao em trông buồn dữ vậy?

Ả Nuôi trả lời thay em:

-Nó nhớ làng xóm cũ và nhớ ông anh cả của chúng tôi đó. Chị em tôi đến đây mới hơn ba tháng chứ mấy. Tội nghiệp nó còn con nít. Thấy nó buồn quá nên mẹ tôi bảo tôi dẫn lên đây chơi cho nó khuây bớt.

Ả Trinh hỏi:

-Ông anh cả của ả Nuôi lại đi đâu mà Hướng Dương nhớ?

Ả Nuôi bỗng xịu mặt buồn bã:

-Anh ấy bị bắt đi phu rồi vì không chịu nổi cảnh khổ nhọc nên đã chết dọc đường. Nghe người khác thấy được báo cho biết vậy chứ gia đình chúng tôi vẫn chưa tìm được xác anh ấy để đem về quê.

Ả Trinh thở dài tỏ dấu thông cảm với bạn rồi nói lảng sang chuyện khác. Lát sau ả gọi Hướng Dương lại cho mấy chiếc bánh và nói chuyện bâng quơ với cô bé một hồi. Ả tỏ vẻ thích bé Hướng Dương lắm.

Từ đó thỉnh thoảng ả Nuôi lại dẫn bé Hướng Dương theo ra nương dâu chơi. Lần nào ả Trinh cũng cho Hướng Dương quà và nói chuyện vui vẻ. Một lần ả Trinh hỏi Hướng Dương:

-Hướng Dương có thích chị Trinh không?

Hướng Dương cười mà trả lời:

-Sao lại không thích được? Bé thương chị Trinh nhất. Thương như thương chị Nuôi vậy.

Ả Trinh cười mà hỏi lại:

-Hướng Dương thương ả Trinh nhất sao? Thế thì Hướng Dương ghét ai nhất?

Hướng Dương chợt trở giọng phẫn nộ:

-Bé thù ghét nhất là bọn giặc Tàu Ngô!

Ả Trinh có vẻ khoái trá hỏi lại:

-Vì sao bé lại ghét bọn giặc Tàu Ngô?

Hướng Dương nghiến răng nói:

-Bởi vì bọn giặc Tàu Ngô bắt anh cả của bé đi phu, bắt làm việc nhiều mà lại không cho ăn uống nên anh của bé bị đói khát đến kiệt sức mà chết!

Ả Trinh giả vờ ngạc nhiên hỏi lại:

-Tại sao Hướng Dương lại biết rõ như vậy? Bọn chúng ác như thế Hướng Dương có định làm gì bọn chúng không?

Hướng Dương chưa kịp trả lời thì ả Nuôi khoát tay ra hiệu ngăn em lại không cho nói nữa. Ả Trinh cười mà trách ả Nuôi:

-Ả Nuôi sao nhát gan dữ vậy? Ở đây có ai nữa đâu mà ngại? Để xem bé Hướng Dương nói ra sao chứ sợ cái gì?

Ả Nuôi cười mà đáp:

-Tai vách mạch rừng không sợ sao được? Để nó nói quen miệng rồi bạ đâu nói đó có khi rước họa vô cho gia đình mình chứ chơi sao?

Ả Trinh nhìn Hướng Dương rồi nói với ả Nuôi:

-Con bé dễ thương thật! Tánh nó khảng khái gan dạ như vậy mình chịu lắm. Ước gì mình có được một đứa em như thế nhỉ. Hay cho nó làm đệ tử mình đi! Mình sẽ dạy võ nghệ cho nó để khi lớn lên nó đánh bọn Tàu Ngô mà trả thù cho anh cả.

Quay sang Hướng Dương, ả Trinh tiếp:

-Chị Trinh nói vậy được không Hướng Dương?

Hướng Dương vui mừng reo lên:

-Chị Trinh cho em làm đệ tử đi! Em muốn học võ để giết bọn Tàu Ngô tàn ác mà trả thù cho anh cả.

Ả Nuôi nghe em nói đâm hoảng vội nạt:

-Câm ngay cái mồm! Quan trên đã có lệnh cấm mà nó cứ bô bô cái mồm như vậy có ngày chết cả đám chứ ngồi đó mà sư phụ với đệ tử!

Ả Trinh cười với ả Nuôi:

-Mình thích con bé này quá. Khi đi làm ả Nuôi cứ dắt nó đi làm phụ mình trả công cho. Con nít tính theo công con nít, đừng ngại!

Hướng Dương nghe ả Trinh nói lại mừng rơn lên:

-Chị Trinh nói thật chứ? Cho em đi làm với nghe.

Ả Trinh vui vẻ nói:

-Thật chứ! Hôm nay em tập việc đi. Ngày mai đi làm chị sẽ tính công cho em.

Ả Nuôi tỏ vẻ ái ngại:

-Ả Trinh thương Hướng Dương mà nói vậy nhưng biết bà chủ có bằng lòng không? Hơn nữa Hướng Dương không thể đi làm thường xuyên được đâu vì nó còn lo giúp công việc ở nhà nữa.

Ả Trinh nói giọng dứt khoát:

-Ả Nuôi khỏi lo chuyện đó. Ngày nào Hướng Dương đi làm mình cứ tính công ngày đó. Điều quan trọng là Hướng Dương phải nghe lời chị bảo. Hướng Dương có chịu vậy không?

Hướng Dương vui mừng nói lớn:

-Cám ơn chị Trinh, chị bảo gì em cũng chịu nghe cả.

Ả Trinh tươi cười xoa đầu Hướng Dương:

-Em nhớ giữ lời hứa nhé. Ngày mai em cứ theo chị Nuôi đi làm.

Tuy đã được ả Trinh chấp thuận nhưng ả Nuôi vẫn không chịu cho Hướng Dương đi làm. Lâu lâu ả mới chịu dắt Hướng Dương đi theo chơi một lần. Dù vậy, từ đó ả Trinh và Hướng Dương ngày càng gắn bó thân thiết với nhau chẳng khác gì tình chị em…


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 04.09.2018, 13:49
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Dã sử] Đầu voi phất ngọn cờ vàng - Ngô Viết Trọng - Điểm: 10
CHƯƠNG 6


Càng ngày Quốc Đạt càng khổ tâm vì sự xung khắc ngấm ngầm giữa bà vợ và cô em gái của mình. Hai chị em cứ như mặt trăng với mặt trời, rất ít khi chịu gần nhau. Quốc Đạt rất chiều vợ, nể vợ nhưng cũng rất thương em gái. Tánh tình Đỗ thị quá khắt khe, ích kỷ và cũng rất đa nghi. Có khi chỉ vì Quốc Đạt dặn dò ả Trinh vài điều cần thiết trong công việc mà kết quả cũng biến thành một vụ gây gổ lớn giữa hai vợ chồng. Cứ thấy Quốc Đạt và ả Trinh nói chuyện với nhau là Đỗ thị nghĩ ngay đến việc hai anh em tụ họp để nói xấu bà. Vì vậy mỗi khi trong nhà vì lẽ gì vắng bớt một trong hai người ấy Quốc Đạt mới thật sự có được chút thoải mái.

Lần ấy Đỗ thị xin chồng dắt con về thăm cha mẹ mấy ngày. Khi Đỗ thị trở về Quốc Đạt hỏi:

-Bố mẹ và các em vẫn khỏe cả chứ? Có chuyện gì lạ không?

Đỗ thị vui vẻ nói:

-Cám ơn chàng, bố mẹ thiếp và các em vẫn khỏe cả. Bố mẹ cũng gởi lời thăm ả Trinh và cũng có nói chuyện về ả Trinh.

Quốc Đạt ngạc nhiên hỏi:

-Bố mẹ nói chuyện gì về ả Trinh?

-Cũng chuyện thường tình thôi. Chuyện chồng con đó mà! Thiếp thấy bố mẹ thiếp có vẻ thích và muốn nâng đỡ ả Trinh lắm. Mình cũng nên mừng cho ả Trinh.

Quốc Đạt càng ngạc nhiên hơn:

-Chuyện chồng con? Ả Trinh đã có gì đâu mà bố mẹ lại đề cập tới? Bố mẹ nói sao?

Đỗ thị chậm rãi nói:

-Ả Trinh lúc này cũng lớn rồi, lấy chồng được rồi, chàng cũng nên lo việc đó đi cho tròn nhiệm vụ ông anh thế mặt cha. Bố mẹ muốn đứng ra làm mối dong cho ả Trinh đó. Mối này cũng vinh hoa phú quí đàng hoàng. Nhưng bố mẹ muốn hỏi ý chàng trước. Bây giờ bố mẹ mình không còn nữa, chàng đương nhiên có toàn quyền quyết định về việc hôn nhân của ả Trinh. “Quyền huynh thế phụ” đó mà. Nếu cuộc hôn nhân này mà thành tựu chàng có thể cầm chắc một chức huyện lệnh trong tay. Chàng nghĩ sao?

-Ta đã biết chuyện gì đâu mà hỏi ta nghĩ sao? Nàng hãy thuật hết lời bố mẹ nói ra sao cho ta nghe mới được chứ!

Đỗ thị tỏ vẻ khó chịu:

-Vậy thì chàng hãy lắng tai mà nghe: Nguyên quan Đô úy quận Cửu Chân là Lỗ Huỳnh nay đã ngoài bốn mươi mà chỉ sinh toàn con gái, người rất muốn kiếm một đứa con trai để nối dòng. Nghe ả Trinh tốt tướng lại xinh đẹp nên người muốn lập làm thứ thất. Nếu ả Trinh may mắn sinh cho người được một mụn con trai thì nhà mình cũng nhờ được lắm. Cái chức huyện lệnh đang chờ chàng đấy!

Triệu Quốc Đạt lắc đầu:

-Nàng cũng biết em ta tuy là phận gái nhưng tính nó lại ngang tàng chẳng thua sút bọn con trai. Nó vốn lại không thích người Tàu, nhất là hạng quan quyền. Nó vẫn có thành kiến là bọn này luôn hống hách, tàn độc, rất khinh thường dân bản xứ. Chắc nó chẳng chịu nghe đâu. Hơn nữa, bắt nó làm hầu làm mọn ta cũng không đành!

Đỗ thị phản bác ngay:

-Chàng nói sai rồi. Con nhà dân giả được chiếu cố như thế là may lắm còn đòi hỏi gì nữa? Còn bên kia người ta có hống hách tàn độc thì cũng do mình thôi. Nếu mình đừng tính chuyện chống lại người ta, họ bảo sao làm vậy thì họ lấy cớ gì để đối xử tàn độc với mình chứ? Nhà mình mà kết thân với quan Đô úy rồi thì chàng muốn gì mà chẳng được? Cái chức huyện lệnh sẽ đến tay chàng lúc nào không hay. Bộ chàng không muốn có quyền uy rực rỡ để ngẩng mặt với đời sao?

Quốc Đạt vẫn lắc đầu:

-Ta biết tính em gái ta khí khái lắm. Ta không muốn ép nó mà cũng không đủ sức để thuyết phục nó. Thôi thì ta nhường việc này cho nàng. Nếu nàng đã quyết lòng như vậy nàng cứ thử thuyết phục nó xem sao.

Đỗ thị nổi giận:

-Vậy thì quyền huynh thế phụ làm gì? Con gái lớn ngồng ngồng như vậy mà không chịu lo bán gả sau này xảy ra điều gì không đẹp chàng cũng mắc tội với bố mẹ chứ! Công danh phú quí đến tay mà còn làm bộ không muốn!

Quốc Đạt thấy vợ nổi giận bèn nhượng bộ:

-Thôi được. Tối nay lấy cớ đi thăm ngoại về, nàng hãy làm tiệc mời nó dự rồi vợ chồng ta cùng nói chuyện với nó vậy.

*

Chiều hôm ấy, khi ả Trinh về nhà, vừa thấy bóng Đỗ thị ả đã toan tránh qua lối khác. Nhưng Đỗ thị đã kịp đon đả chào hỏi:

-Ả Trinh hái dâu về đấy à? Chị và hai cháu cũng vừa đi thăm bên ngoại về đây. Cũng có vài chuyện hay hay. Chị mời ả tối nay ăn cơm cùng anh chị nhé. Mình sẽ nói chuyện với nhau cho vui.

Ả Trinh hết sức ngạc nhiên. Đã quá lâu tuy hai chị em ở chung một nhà nhưng họ khó mà tặng nhau được một nụ cười. Nay thấy bà chị dâu tỏ ra bả lả niềm nở với mình ả Trinh cũng thấy vui vui và cũng muốn tìm hiểu lý do vì sao nên sốt sắng nhận lời:

-Chị đã có hảo ý cho ăn lẽ nào tôi từ chối!

Đỗ thị vui mừng nói:

-Vậy thì quí hóa quá. Ả tắm rửa đi rồi lên ăn là vừa.

Cả ba người cùng ngồi vào bàn ăn. Quốc Đạt và Đỗ thị đều mở đầu bằng những chuyện vui nho nhỏ nên người nào cũng có nụ cười. Lần này Đỗ thị cứ ân cần gắp những miếng ngon bỏ vào chén ả Trinh và thúc giục ả ăn. Quốc Đạt cũng ưu ái rót rượu mời vợ rồi mời cô em gái. Không khí bữa ăn có vẻ đầm ấm, thân mật lắm. Đang ăn nửa chừng ả Trinh bỗng hỏi chị dâu:

-Hồi nãy chị nói chuyến về thăm bên ngoại cũng có nhiều chuyện hay hay bây giờ chị kể cho tôi nghe với được không?

Đỗ thị cười mà nói:

-Gấp gì. Mình ở trong nhà khi nào kể lại chẳng được? Ả Trinh này, lúc này trông ả trổ mã đẹp quá chừng. Sau này ả phải thành hạng phu nhân mệnh phụ mới xứng.

Ả Trinh lắc đầu mà cười:

-Chị chế diễu tôi thì thôi. Một ả hái dâu như tôi đâu dám mơ mộng cao xa đến thế. Chị tưởng ai muốn làm phu nhân mệnh phụ cũng được cả sao?

Đỗ thị cười bả lả:

-Ả Trinh tưởng chị nói đùa sao? Chị nghĩ chỉ cần ả ừ một tiếng là ngôi phu nhân mệnh phụ có thể đến với ả ngay!

Nghĩ là Đỗ thị nói chơi, ả Trinh đùa lại:

-Làm phu nhân mệnh phụ ai mà chẳng ham. Nhưng làm cách nào để chỉ ừ một tiếng mà được ngôi phu nhân mệnh phụ như chị nói chỉ cho tôi biết với!

Đỗ thị tươi cười giải thích:

-Thế ả Trinh chưa nghe câu ca dao “Đàn ông quan tắt thì chầy, Đàn bà quan tắt nửa ngày nên quan” sao? Trường hợp của ả có thể như vậy đó.

Ả Trinh lắc đầu:

-Chị nói sao tôi thật chẳng hiểu gì cả.

Đỗ thị vẫn giữ nụ cười:

-Rồi ả sẽ hiểu thôi. Chị hỏi thật, nếu bây giờ chị bày cho ả đi con đường tắt đó ả có chịu nghe không?

Ả Trinh cũng cười:

-Dại chi không nghe chị. Chị cứ nói tôi nghe thử!

Đỗ thị nghe ả Trinh nói vậy liền nghiêm nghị nói:

-Vậy thì ả Trinh nghe cho rõ này: Quan Đô úy quận Cửu Chân là Lỗ Huỳnh, năm nay người đã ngoài bốn mươi nhưng còn phong độ lắm. Vì chưa có con trai để thừa tự nên người đã quyết định lập ngôi thứ thất. Bố mẹ chị thấy ả Trinh vừa đẹp vừa hiền nên cũng muốn làm mai cho ông ta. Nếu ả may mắn sinh được cho ông ta một công tử thì suốt đời ả vinh hoa phú quí không ai bì nổi đâu. Đây là một cơ hội để ả trở thành phu nhân mệnh phụ đó. Không những ả được vinh sang rồi mà cả anh chị đây cũng được hưởng lây ơn phước của ả nữa!

Ả Trinh hơi nhíu mày. Suy nghĩ một lát ả từ tốn nói:

-Tôi chưa muốn lấy chồng đâu chị ơi!

Đỗ thị cũng hơi cau mày:

-Sao ả Trinh chóng thay đổi vậy? Vừa rồi ả bảo sẽ nghe theo lời tôi, giờ ả lại nói chưa muốn lấy chồng? Cơ hội này mà ả bỏ lỡ về sau hối hận không kịp đó.

Ả Trinh nhũn nhặn nói:

-Cũng chẳng có gì để phải hối hận cả. Từ từ tôi lấy một người dân giả cũng không chết chóc ai mà sợ.

Đỗ thị lộ vẻ bực mình hỏi gắt:

-Ả Trinh quả quyết như vậy rồi sao?

Ả Trinh trả lời giọng cương quyết:

-Vâng, tôi nhất quyết như vậy đó! Chị nên nói chuyện khác, đừng nói chuyện chồng con với tôi nữa!

Đỗ thị bỗng nổi giận đùng đùng:

-Ả ngon lành quá hả? Người ta là bậc quan quyền mà ả dám coi thường như thế hả? Rất tiếc tôi đã nghĩ lầm về ả rồi. Một đời lên xe xuống ngựa, mỗi bước có người đưa rước bẩm thưa ả không muốn vậy ả đòi hỏi cái gì nữa?

Ả Trinh bỏ đũa đứng dậy xẵng giọng:

-Nhưng tôi không muốn lấy cái ông quan Tàu Ngô ấy!

Đỗ thị cũng đứng dậy:

-Bộ ả da dát vàng thịt độn ngọc sao lại dám chê một vị quan chánh vắt vắt người Tàu như thế? Dân man ri mà không biết thủ phận lại dám chê người văn minh! Tôi hỏi tại sao ả không muốn lấy một ông quan Tàu hãy cho tôi biết? Ả muốn cái gì nữa đây?

Quốc Đạt thấy tình hình đôi bên đã căng thẳng cũng đứng dậy định can ngăn thì ả Trinh quay lại phía Quốc Đạt xá một xá mà nói:

-Xin huynh trưởng chớ phiền, em no rồi.

Rồi ả quay về phía Đỗ thị gằn từng tiếng:

-Tôi muốn gì hả? Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá tràng kình ngoài biển Đông, đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chứ không chịu cong lưng làm tì thiếp cho người ta!

Đỗ thị quay về phía Quốc Đạt gằn từng tiếng:

-Chàng nhớ làm chứng lời ả Trinh nói như thế đó! Làm chứng giùm tôi nhé! Ả muốn đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chứ không chịu cong lưng làm tì thiếp cho người!

Quốc Đạt hoảng hốt, lúng túng cố giảng hòa:

-Thôi, người nhịn đi một tí cho xong. Trong nhà đóng cửa dạy nhau chứ chuyện này lọt ra bên ngoài cũng chẳng hay ho gì.

Ả Trinh cúi mặt bước ra ngoài. Đỗ thị mặt hằm hằm nói với chồng:

-Nếu chàng có một cô em gái thuần nết như người ta thì cái chức huyện lệnh sẽ đến tay chàng như chơi! Đồ thứ con gái mất nết!

Quốc Đạt nói như van vỉ:

-Thôi, tôi xin nàng chớ nói nữa! Khổ lắm rồi!

Đỗ thị gằn từng tiếng:

-Gia đình này nuông chiều ả quá mới sinh hư hỏng như vậy! Nếu chàng không trừng trị được nó tôi sẽ nhờ quan trên trừng trị cho!


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 27 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Cổ đại - Trùng sinh] Thừa tướng yêu nghiệt sủng thê - Sương Nhiễm Tuyết Y

1 ... 28, 29, 30

2 • [Hiện đại - Trùng sinh] Đêm trước ly hôn - Thiên Sơn Hồng Diệp

1 ... 8, 9, 10

3 • [Hiện đại] Cá mực hầm mật - Mặc Bảo Phi Bảo

1 ... 4, 5, 6

4 • [Hiện đại] Sở Sở - 099

1 ... 4, 5, 6

5 • [Hiện đại] Không bằng duyên mỏng - Viên Nghệ

1 ... 6, 7, 8

[Cổ đại - Trùng sinh] Đích trưởng nữ - Hạ Nhật Phấn Mạt

1 ... 25, 26, 27

7 • [Hiện đại - Trùng sinh] Tôi bị ép buộc - Linh Lạc Thành Nê

1 ... 4, 5, 6

8 • [Xuyên không - Điền văn] Cuộc sống điền viên trên núi của nông phu - Quả Đống CC

1 ... 9, 10, 11

[Xuyên không] Khuynh thế tuyệt sủng tiểu hồ phi - Thanh Canh Điểu

1 ... 17, 18, 19

10 • [Hiện đại] Có hợp có tan - Lâu Vũ Tình

1, 2, 3, 4

[Hiện đại] Hào môn thịnh sủng bảo bối thật xin lỗi - Hạ San Hô

1 ... 14, 15, 16

12 • [Hiện đại] Ông xã cầm thú không đáng tin - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 21, 22, 23

13 • [Hiện đại - Trùng sinh] Sống lại sinh em bé - Sâm Trung Nhất Tiểu Yêu

1, 2, 3, 4, 5

14 • [Cổ đại] Trưởng thôn là đóa kiều hoa - Vương Vượng Vượng

1 ... 4, 5, 6

15 • [Hiện đại - Quân nhân] Hợp đồng quân hôn - Yên Mang

1 ... 37, 38, 39

[Xuyên không] Tỳ nữ vương phi - Lữ Nhan

1 ... 11, 12, 13

17 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 56, 57, 58

[Cổ đại - Trùng sinh] Trọng sinh cao môn đích nữ - Tần Giản

1 ... 40, 41, 42

19 • [Xuyên không Điền văn] Trọng Sinh Tiểu Địa Chủ - Nhược Nhan (Phần 1)

1 ... 49, 50, 51

20 • [Xuyên không] Bảo Bảo vô lương Bà mẹ mập là của ta - Ngũ Ngũ

1 ... 24, 25, 26



Hoàng Phong Linh: :<
Shop - Đấu giá: 18521434 vừa đặt giá 315 điểm để mua Bé Mascot xanh
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 417 điểm để mua Mèo ôm cuộn len
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 294 điểm để mua Hello
Shop - Đấu giá: tiểu an nhi vừa đặt giá 250 điểm để mua Gấu trắng mơ màng
Shop - Đấu giá: mymy0191 vừa đặt giá 390 điểm để mua Nữ thần công lý
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 279 điểm để mua Hello
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 291 điểm để mua Mèo núp sau đám mây
Shop - Đấu giá: tiểu an nhi vừa đặt giá 276 điểm để mua Mèo núp sau đám mây
Shop - Đấu giá: á bì vừa đặt giá 212 điểm để mua Bảng khen thưởng
Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 397 điểm để mua Siêu nhân nhí
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 285 điểm để mua Bé hồng 3
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 250 điểm để mua iPod Shuffle
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 301 điểm để mua Cà phê
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 236 điểm để mua Giường ca rô đen
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 601 điểm để mua Cự Giải Nữ
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 377 điểm để mua Princess 4
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 358 điểm để mua Trái tim cầu vồng 2
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 246 điểm để mua Bánh mì kẹp và ly coca
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 427 điểm để mua Hươu cao cổ
Shop - Đấu giá: ngocdung0 vừa đặt giá 377 điểm để mua Siêu nhân nhí
Shop - Đấu giá: tiểu an nhi vừa đặt giá 248 điểm để mua Ếch xanh 2
Shop - Đấu giá: Voicoi08 vừa đặt giá 248 điểm để mua Ca sĩ Két
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 4730 điểm để mua Mèo đen lau nhà
Zan_kun: Yo
Shop - Đấu giá: Voicoi08 vừa đặt giá 474 điểm để mua Mashimaro Thanks
Shop - Đấu giá: Voicoi08 vừa đặt giá 351 điểm để mua Cặp đôi cherry
Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 358 điểm để mua Siêu nhân nhí
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 3648 điểm để mua Mèo đen lau nhà
Shop - Đấu giá: Snow cầm thú HD vừa đặt giá 3473 điểm để mua Mèo đen lau nhà

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.