Diễn đàn Lê Quý Đôn
Cấm đăng tin quảng cáo các lớp học, khoá học, hội thảo, tìm học sinh... Các bài quảng cáo sẽ bị xoá.


Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 27 bài ] 

Đầu voi phất ngọn cờ vàng - Ngô Viết Trọng

 
Có bài mới 06.09.2018, 13:08
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Dã sử] Đầu voi phất ngọn cờ vàng - Ngô Viết Trọng - Điểm: 10
CHƯƠNG 17


Triệu Tráng phải vất vả mấy ngày mới lên đến ngàn Nưa. Thấy Triệu Tráng lại lên núi đột ngột, Trinh Nương vừa mừng vừa lo:

-Chắc ở nhà có việc quan trọng cậu mới trở lại đây sớm thế?

Triệu Tráng thưa:

-Đúng thế! Em lên đây để báo cho chị biết huynh trưởng đã quyết định khởi nghĩa!

Trinh Nương tươi nét mặt, Bà hỏi:

-Phải vậy mới được chứ! Cậu thuyết phục được huynh trưởng hả? Thế là phúc cho nhà ta rồi!

Triệu Tráng lắc đầu nói:

-Không phải em thuyết phục được huynh trưởng đâu! Chính tình thế nguy hiểm cấp bách đã khiến huynh trưởng phải quyết định như vậy.

Trinh Nương ngạc nhiên hỏi nhanh:

-Nguy hiểm cấp bách thế nào?

Triệu Tráng liền thuật hết mọi việc đã xảy ra tại Hương Vân cho Trinh Nương nghe. Nghe xong, Trinh Nương kêu lên:

-Trời ơi! Thế này thì huynh trưởng nguy mất rồi! Đúng là nước đến chân mới nhảy! Hương Vân xa quá bây giờ ta làm sao đưa quân về giải cứu kịp?

Tướng Trần Vân bàn:

-Tình thế đã cấp bách như vậy ta chỉ còn cách đưa quân xuống quấy phá các nơi gần đây khiến giặc phải báo động, chỗ nào chúng phải lo phòng giữ chỗ ấy, không dám tập trung lại để hướng mũi dùi vào Hương Vân may ra giảm được phần nào áp lực đối với Triệu tướng quân!

Bà Vương nói:

-Trần huynh nói phải lắm. Nhưng đây cũng chỉ là một việc làm cầu may, chưa chắc thành công! Cậu Tráng nên trở về Hương Vân gấp để xem tình hình ra sao rồi trở lại cho ta biết sớm. Phải hết sức cẩn thận mới được!

Nói xong Trinh Nương ra lệnh cho các tướng chuẩn bị hành quân gấp. Bà chỉ định ba tướng Trần Vân, Ngô Quân và Lý Huấn mỗi người đem một đội quân nhỏ chia làm ba hướng xuống núi quấy phá các nơi. Riêng Trinh Nương cùng hai nữ tướng Hướng Dương và Hải Đường kéo đội quân chủ lực nhắm lỵ sở huyện Triệu Sơn thẳng tiến.

Khi ra trận, Trinh Nương mặc áo giáp vàng, chít khăn vàng, đi hia gót ngà, một tay cầm cờ vàng một tay cầm kiếm ngồi trên đầu voi oai phong lẫm liệt như một thiên thần. Trinh Nương đã huấn luyện được một đội quân luôn đi sát bên mình voi, nương sức voi mà chiến đấu. Hai nữ tướng Hướng Dương và Hải Đường luôn cỡi ngựa đi sát bên cạnh chủ tướng. Sự phối hợp đặc biệt này đã làm cho nghĩa quân càng lên tinh thần.

Ngàn Nưa không xa cách huyện lỵ Triệu Sơn bao nhiêu. Trước kia khu vực núi Nưa vẫn là nơi tàn quân của phản tướng Sĩ Huy ẩn náu. Lực lượng này hay kéo về khuấy phá, uy hiếp các huyện xã ở quanh khu vực. Vì thế, chính quyền địa phương đã cho xây dựng gần huyện lỵ Triệu Sơn một căn cứ quân sự lớn để tiện việc bảo vệ cho huyện lỵ và các làng xã gần đó. Người ta vẫn quen gọi căn cứ ấy là đồn Trấn Sơn. Đồn Trấn Sơn có một hệ thống phòng thủ vững chắc gồm một đội quân khoảng 500 người dưới quyền chỉ huy của một viên đốc binh. Mới đây, viên huyện lệnh Mã Quyên nhận được chỉ thị của Thái thú Tiết Kính Hàn cảnh giác phải triệt để đề phòng dân bản xứ nổi loạn. Mã Quyên lo sợ bèn đến gặp viên đốc binh đồn Trấn Sơn là Đào Thành Lạc để hỏi thăm tình hình. Mã Quyên hỏi Đào Thành Lạc:

-Quan đốc binh nhận được chỉ thị của quan Thái thú chưa?

Đốc binh Đào Thành Lạc cười khinh bạc:

-Nhận được rồi. Quan huyện cứ an tâm. Một Triệu Ẩu ấy làm nên trò trống gì mà ngại? Quan huyện cứ việc thẳng cẳng mà ngủ, nay mai ta sẽ bắt sống Triệu Ẩu đem về cho quan huyện xem.

Huyện lệnh Mã Quyên vẫn chưa yên lòng:

-Ta nghe nói Triệu Ẩu này võ nghệ cao cường lại nhiều mưu trí. Quan đốc binh không nên khinh thường quá đôi khi lại hư việc đó. Binh pháp dạy “tiên hạ thủ vi cường”, sao quan đốc binh không thử đem quân lên núi Nưa diệt chúng tận gốc để trừ hậu hoạn?

Đào Thành Lạc cười, vẫn giọng ngạo mạn:

-Dẫu cho mười Sĩ Huy còn sống ta cũng xem như cỏ rác huống gì một Triệu Ẩu! Ta đâu cần nhọc công leo núi phá rừng làm gì? Cứ ngồi đây chờ giặc đến quật cho chúng một trận là xong! Đó là kế dĩ dật đãi lao (lấy khỏe đợi mệt) vậy! Quan huyện cứ yên chí!

Mã Quyên thấy Đào Thành Lạc nói cứng như vậy cũng hơi yên tâm. Thế nhưng khi ra về Mã Quyên vẫn khuyên Đào Thành Lạc:

-Cẩn tắc vô ưu, dù sao cẩn thận vẫn hơn!

Thật ra Đào Thành Lạc đã truyền cho tất cả quân sĩ phải kiểm soát lại khôi giáp, khí giới và túc trực sẵn để đợi lệnh. Hôm sau quân do thám đưa tin hỏa tốc cho biết nghĩa quân núi Nưa đang tiến về huyện Triệu Sơn. Đào Thành Lạc nghe báo cười ha hả nói:

-Phen này ta quyết bắt sống Triệu Ẩu làm quà cho quan huyện Mã Quyên lác mắt chơi!

Đợi đến khi nghĩa quân tiến gần đồn Trấn Sơn đốc binh Đào Thành Lạc mới điểm bốn trăm quân xuất trận. Khi quân hai bên đối mặt Đào Thành Lạc mới đâm hoảng. Triệu Trinh Nương cỡi trên đầu con voi đi trước, một tay cầm kiếm một tay phất cờ trông rất lẫm liệt. Tả hữu Trinh Nương là hai nữ tướng cỡi ngựa trông cũng rất oai phong. Con voi bỗng rống lên một tiếng làm những con ngựa chiến của Đào Thành Lạc đều khựng lại. Trinh Nương chỉ lưỡi kiếm về phía Đào Thành Lạc nói lớn:

-Triệu Bà Vương đã đến đây, các ngươi muốn sống hãy xuống ngựa đầu hàng đi!

Đào Thành Lạc đã nao núng trong lòng nhưng vẫn làm cứng ra lệnh:

-Cung thủ hãy tập trung bắn vào con voi!

Nhưng lệnh truyền chưa dứt con voi đã gầm lên một tiếng rồi lướt tới dùng ngà đâm chết tươi một tên lính Tàu Ngô, đồng thời dùng vòi quấn một tên khác quăng vào đám loạn quân đang hoảng sợ lo chạy trốn. Những con ngựa chiến của quân Tàu Ngô thấy con voi hung tợn quá đều hoảng hồn quay đầu chạy dẫm đạp nhau hỗn loạn. Nghĩa quân thừa thắng đuổi theo chém giết rất nhiều. Đốc binh Đào Thành Lạc quá kinh hãi vội rút tàn quân về cố thủ trong đồn Trấn Sơn. Bà Vương thừa thắng chia quân làm hai cánh, một mặt bao vây đồn Trấn Sơn, một mặt tiến đánh lỵ sở huyện Triệu Sơn. Viên huyện lệnh Mã Quyên ở huyện Triệu Sơn không ngờ Đào Thành Lạc thua nhanh đến thế nên không kịp tính đường rút chạy. Khi nghĩa quân tràn vào lỵ sở thì viên huyện lệnh này đã bị loạn dân giết mất rồi.

Nghe được tin lỵ sở huyện Triệu Sơn đã mất, đốc binh Đào Thành Lạc càng khiếp sợ. Quân sĩ trong đồn cũng vô cùng hoảng hốt, hoang mang. Trong số quân sĩ ấy người bản xứ cũng nhiều nên Đào Thành Lạc rất lo sợ những người này sẽ trở cờ. Vì vậy Đào Thành Lạc bí mật lựa một số thuộc hạ thân tín, lợi dụng đêm tối, mở một đường máu chạy thoát vào rừng biệt tích.

Nghĩa quân hạ được căn cứ Trấn Sơn, chiếm được huyện Triệu Sơn quá dễ dàng đã khiến uy tín của Triệu Bà Vương nổi như cồn. Quân Tàu Ngô các nơi nghe tin đều khiếp vía. Trong khi đó trai tráng các nơi theo về giúp Bà Vương càng đông. Khí thế nghĩa quân càng lên cao. Bà Vương đã nhân thế chẻ tre, tiến chiếm thêm nhiều đồn lũy lân cận. Nghĩa quân tiến đến đâu quân Tàu Ngô tan rã đến đó.

Trong khi Bà Vương đang bàn với các tướng sẽ tiếp tục đánh chiếm những mục tiêu nào thì Triệu Tráng lại tìm đến. Bà Vương thấy mặt Triệu Tráng thì thất sắc hỏi:

-Huynh trưởng ta ra sao rồi?

Triệu Tráng khóc mà thưa:

-Huynh trưởng đã ra người thiên cổ rồi chị ơi!

Bà Vương nghe nói lặng người giây lát rồi bảo Triệu Tráng thuật lại những gì anh ta đã biết được. Nghe xong Bà Vương khóc nức nở:

-Ta đã biết trước chuyện đó sẽ phải xảy đến! Nhưng chính ta cũng có lỗi lớn trong việc gây nên cái chết oan nghiệt của huynh trưởng ta! Huynh trưởng ơi, công lao huynh trưởng nuôi nấng bao nhiêu năm em chưa đền đáp được một phân. Từ nay anh em xa cách mãi, khổ lòng em lắm huynh trưởng ơi. Em thề quyết sẽ trả mối thù này.

Rồi sực nhớ ra một chuyện, Bà Vương vụt hỏi:

-Thế hai đứa cháu ta bây giờ ra sao cậu có biết không?

Triệu Tráng thưa:

-Dạ, huynh trưởng đã bảo Triệu Hùng cùng bốn gia nhân đưa hai cháu lên trại Lâm An trước đó. Bây giờ hai cháu ra sao em cũng chẳng rõ. Chắc không đến nỗi nguy hiểm.

Bà Vương thở dài:

-Khổ thân hai cháu từ nay chịu cảnh mồ côi cả cha lẫn mẹ!

Triệu Tráng gạt nước mắt mà thưa:

-Xin hiền tỉ giảm bớt sầu bi, kéo quân về đánh huyện Nông Cống bắt viên huyện lệnh này giết đi để trả thù cho huynh trưởng!

Tướng quân Trần Vân nghe Triệu Tráng nói vậy liền lên tiếng can:

-Không nên! Tên huyện lệnh Nông Cống chỉ là kẻ thừa hành lệnh của tên Thái thú quận Cửu Chân thôi. Vả lại từ đây đến huyện Nông Cống khá xa, trong khi đó căn cứ Tư Phố gần hơn. Quân ta vừa thắng lớn, khí thế đang lên cao. Phải lợi dụng lúc toàn quân đang hăng hái tiến đánh Tư Phố ngay kẻo lỡ cơ hội! Chiếm được căn cứ Tư Phố, chiếm được trị sở quận Cửu Chân thì huyện Nông Cống coi như nằm trong tay ta rồi chẳng tiện hơn sao?

Mọi người đều khen phải. Bà Vương nói:

-Trần Tướng quân nói rất hợp ý ta. Căn cứ Tư Phố dù lớn và vững chắc hơn đồn Trấn Sơn nhưng với khí thế của quân ta hiện nay ta tin chắc sẽ hạ nó dễ dàng. Hạ xong cắn cứ Tư Phố thì huyện Nông Cống nằm trong tay ta rồi!

Ngừng một lát Triệu Bà Vương lại hỏi:

-Ai chỉ huy căn cứ Tư Phố?

Tướng quân Trần Vân thưa:

-Viên Đô úy Lỗ Huỳnh!

Như sực nhớ ra, Bà Vương hỏi:

-Có phải Lỗ Huỳnh là viên Đô úy nổi tiếng nhiều vợ mà chỉ sinh toàn con gái đó không?

Tướng quân Trần Vân đáp:

-Đúng vậy.

Triệu Bà Vương quay lại nói với hai nữ tướng:

-Gặp oan gia đây rồi! Trước đây lão này từng muốn gặp ta khiến chị dâu ta đã gây nên chuyện xáo trộn trong nhà. Bây giờ trời cho hắn thỏa mãn đấy! Hắn đã hại không biết bao nhiêu đời con gái Lạc Việt để truyền cái giống bóc lột ăn bám lên đất nước khốn khổ này! Chuyến này hai em phải giúp ta làm cho hắn biết mặt nữ kiệt nước Nam!

Hải Đường và Hướng Dương cùng nói:

-Chúng em nguyện ra sức với Bà Vương diệt trừ tên dâm tặc!

Thế là hôm sau Bà Vương tập trung quân kéo về căn cứ Tư Phố.

*

Tư Phố là một căn cứ lớn đóng trên tả ngạn sông Mã để bảo vệ quận trị Cửu Chân và yểm trợ các vùng lân cận. Căn cứ được đặt dưới quyền chỉ huy của viên Đô úy Lỗ Huỳnh. Viên võ quan này tuổi đã gần năm mươi và nổi tiếng hoang dâm vô độ. Thiên hạ đồn khi qua tuổi bốn mươi mà thấy vợ chỉ sinh toàn con gái, lão mượn cớ kiếm con trai để cưới thêm cả hàng chục nàng hầu. Đặc biệt là các nàng hầu này ai sống với lão được một năm mà chưa có thai lão lại cho về nhà để thay một nàng khác. Vì thế dân quanh vùng luôn bị quấy nhiễu bởi nạn tìm gái của lão. Tới giờ thiên hạ vẫn chưa biết lão đã có bao nhiêu con và đã có con trai chưa. Lão cũng đã có lần nhờ người hỏi cưới Triệu Trinh Nương nhưng không thành. Khi Thái thú Tiết Kính Hàn báo cho lão biết tin Bà Vương đang rục rịch khởi nghĩa ở ngàn Nưa, lão chỉ cười khảy:

-Mụ đàn bà đái không qua ngọn cỏ việc gì quan Thái thú phải ngại? Tôi đoan chắc với quan Thái thú trong vòng một tháng nữa tôi sẽ bắt tên nữ yêu này về làm tì thiếp cho quan Thái thú coi.

Tiết Kính Hàn cười:

-Tướng quân giỏi việc đó ai mà không biết!

Lỗ Huỳnh cũng cười đắc ý. Tuy đã hứa vậy nhưng Lỗ Huỳnh còn chần chờ chưa ra quân. Tới khi nghe tin đồn Trấn Sơn đã bị phá vỡ lão mới rối lên:

-Không ngờ mụ đàn bà này dữ thật! Ta phải ra tay ngay mới được!

Rồi Lỗ Huỳnh cho huy động quân sĩ chuẩn bị đi cứu huyện Triệu Sơn. Nhưng lão chưa kịp ra quân thì Triệu Bà Vương đã đến tìm lão. Nghe tin báo nghĩa quân đang tiến về căn cứ Tư Phố, lão tức giận nói:

-Phen này chúng bây tự tìm chỗ chết chứ không phải tại ta đâu nhé!

Thế rồi Lỗ Huỳnh kéo ngay năm trăm quân ra khỏi căn cứ dàn trận chờ đợi. Lúc quân của Bà Vương đã đến gần Lỗ Huỳnh vẫn còn dể ngươi thản nhiên ngồi trên ngựa để quan sát. Khi thấy viên nữ tướng mặc giáp vàng ngồi trên đầu con voi trắng đi trước, một tay cầm kiếm, một tay phất ngọn cờ vàng trông oai hùng quá, lão hơi chột dạ:

-Tất cả cung thủ hãy sẵn sàng!

Nhìn kỹ hơn Lỗ Huỳnh lại thấy hai nữ tướng khác cỡi ngựa đi hai bên nữ tướng cỡi voi trông cũng rất oai phong. Thấy là lạ, lão nghết mắt nhìn đợi cho họ đến gần hơn. Viên tướng đứng cạnh lão thấy vậy nhắc lão:

-Sao Đô úy chưa cho lệnh bắn?

Lỗ Huỳnh đáp:

-Từ từ. Lũ chúng bất quá chỉ là một đội quân ô hợp chưa được luyện tập kỹ càng đáng gì mà phải ngại? Quân ta sẽ tiêu diệt chúng trong chớp mắt!

-Đô úy nói phải. Nhưng thuộc hạ ngại con voi của chúng lắm. Quân ta chưa quen đánh nhau với voi bao giờ, cũng nên đề phòng mới được!

-Được rồi, có gì cứ việc bắn vãi tên vào con voi là xong!

Lỗ Huỳnh chưa kịp cất tiếng chào hỏi đối phương đã thấy viên nữ tướng cỡi đầu voi phất cao cây cờ vàng một cái rồi tiếng tù và đồng loạt trỗi lên. Lỗ Huỳnh cũng phất cờ lệnh thúc quân. Quân hai bên lăn xả vào nhau giao chiến dữ dội. Lúc đó Lỗ Huỳnh mới biết lão đã đánh giá lầm đối phương. Nghĩa quân của Triệu Bà Vương cũng chiến đấu dũng mãnh chẳng chút nhường bước trước đội quân thiện chiến của lão! Con voi trắng một ngà của Triệu Bà Vương càng lúc càng hăng đã lần lượt triệt hạ hết những tên lính Tàu Ngô năng nổ nhất khiến thế thắng nghiêng hẳn về phía nghĩa quân. Đô úy Lỗ Huỳnh liệu thế chống không nổi bèn kéo quân chạy về căn cứ đóng cửa lại cố thủ. Thái thú Tiết Kính Hàn vẫn theo dõi trận chiến từ đầu. Tới khi thấy đội quân của Lỗ Huỳnh tan vỡ, Tiết Kính Hàn sợ quá liền cùng vài thuộc hạ thân tín bỏ cả gia đình mà chạy trốn. Triệu Bà Vương thừa thắng kéo quân vây kín căn cứ Tư Phố. Hai ngày sau thì trong căn cứ sinh biến, có người mở cửa cho nghĩa quân tràn vào. Đô úy Lỗ Huỳnh lâm thế cùng phải tự sát.

Thấy nghĩa quân đã hạ được căn cứ Tư Phố, Thái thú quận Cửu Chân đã bỏ chạy, đồng bào quanh vùng đều vui mừng khôn xiết. Họ đã kéo nhau dắt bò gánh heo đến xin gặp Bà Vương để bái tạ và xin được khao quân. Số trâu heo dân chúng mang đến khao quân quá nhiều khiến các tướng sĩ đâm ra lúng túng. Quá cảm động trước thịnh tình của đồng bào, Triệu Bà Vương thân hành ra gặp họ để khích lệ và ngỏ lời cám ơn họ. Bà nói với dân chúng nghĩa quân chỉ xin nhận một phần nhỏ vừa đủ dùng còn bao nhiêu xin gởi lại đồng bào. Mấy vị phụ lão đại diện dân chúng thưa:

-Đây là một niềm vinh quang quá lớn! Ngót hai trăm năm sau thời Trưng Nữ Vương nay chúng tôi mới được thấy lại uy nghi nước cũ, chúng tôi vô cùng xúc động. Niềm vinh quang này có được là nhờ ơn Bà Vương, nhờ ơn các tướng và tất cả nghĩa quân. Vì vậy nên toàn dân chúng tôi nguyện xin đóng góp một chút gì để đền ơn Bà Vương cùng các chiến sĩ. Chúng tôi thiết tưởng một trận thắng quá vẻ vang, quá lớn lao mà các chiến sĩ chưa được tưởng thưởng cũng là một điều đáng tiếc. Chúng tôi thỉnh cầu Bà Vương cho mở tiệc khải hoàn để quân dân cùng vui một lần cho thỏa tình cá nước. Tất cả mọi phí tổn toàn dân chúng tôi xin gánh vác. Cúi xin Bà Vương chấp thuận cho.

Trước sự thỉnh cầu tha thiết của đại diện dân chúng, Triệu Bà Vương rớm lệ đáp lại với giọng xúc động:

-Thật tình ta đã có ý định tổ chức tiệc khải hoàn để khích lệ tinh thần nghĩa quân sau khi chiến thắng. Thế nhưng việc quân không thể dễ dãi, ta ngại tổ chức liên hoan sớm có thể khiến nghĩa quân quá ham vui mà ngủ quên trên chiến thắng. Giặc Tàu Ngô có thể lợi dụng cơ hội này để quật lại ta. Giờ đây việc phòng thủ đã vững, lại có sự thỉnh cầu của dân chúng, chư tướng được phép mở tiệc khải hoàn để quân dân cùng vui mừng chiến thắng.

Nghe Bà Vương nói xong quân dân đều hô lớn:

-Đa tạ Bà Vương! Đa tạ Bà Vương!

Một bô lão cao hứng quá đề nghị luôn:

-Nữ chủ tướng của chúng ta uy nghi diễm lệ chẳng kém gì thiên thần, chúng ta nên tôn Bà Vương thêm một mỹ danh thật xứng đáng: Nhụy Kiều Tướng Quân. Thưa quí vị tướng lãnh, quí nghĩa quân và đồng bào có đồng ý như vậy không?

Mọi người lại đồng loạt hô vang:

-Hoan nghênh Nhụy Kiều Tướng Quân! Hoan nghênh Nhụy Kiều Tướng Quân!

Đêm đó nghĩa quân lẫn dân chúng quanh vùng phủ quận Cửu Chân đã thể hiện tình quân dân cá nước một cách tuyệt vời. Ai nấy đều trọn vui!

Từ đó nghĩa quân lẫn dân chúng còn dùng mỹ danh Nhụy Kiều Tướng Quân để gọi vị nữ chủ tướng của mình.

Sau buổi tiệc mừng chiến thắng ở quận lỵ Cửu Chân, Bà Vương kéo quân tiếp tục bình định nốt những xã huyện nằm phía đồng bằng ở hữu ngạn sông Mã. Quá khiếp hãi trước khí thế của nghĩa quân nên quân Tàu Ngô mất hết cả ý chí chiến đấu. Quân của Bà Vương đến đâu quân Tàu Ngô tan rã đến đó. Con voi trắng một ngà Bà Vương cỡi được coi như biểu tượng của thần chết đối với quân Tàu Ngô. Hễ gặp mặt Bà Vương là chúng hết mong đường sống. Vì vậy ngoài danh xưng Triệu Ẩu, quân Tàu Ngô còn đặt thêm cho bà một danh xưng khác chứng tỏ sự khiếp hãi tột cùng của chúng: “Lệ Hại Bà Vương” (Vua Bà Hung Dữ). Chúng cũng nhắc nhở nhau phải lo tránh mặt khi gặp Bà bằng hai câu thơ của một thi sĩ nào đó sáng tác:

“Nhập sơn cầm hổ dị,

Đối diện Bà Vương nan!”

(Vào núi bắt cọp dễ,

Đối mặt Bà Vương khó.)

Chỉ trong vòng bốn tháng, toàn vùng đất thuộc quận Cửu Chân ở hữu ngạn sông Mã đều lọt cả vào tay nghĩa quân.

Triệu Bà Vương bèn chọn làng Bồ Điền để lập một căn cứ lớn, coi đây là tổng hành dinh tạm thời của nghĩa quân. Thiên hạ vẫn quen gọi căn cứ này là căn cứ Bồ Điền. 



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 06.09.2018, 13:10
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Dã sử] Đầu voi phất ngọn cờ vàng - Ngô Viết Trọng - Điểm: 10
CHƯƠNG 18


Khi quân của Triệu Bà Vương bình định khu vực hữu ngạn sông Mã, một số quân Tàu Ngô thất trận đã trốn thoát được qua phía tả ngạn. Tin tức về những trận đánh sấm sét của nghĩa quân cứ được đồn thổi lên mãi. Không bao lâu toàn cõi Giao Châu đều rúng động. Nhất là cái tin chỉ trong vài ngày nghĩa quân đã tiêu diệt được nhiều căn cứ quân sự, trong đó có căn cứ lớn Tư Phố cùng với sự mất tích của viên Thái thú quận Cửu Chân là Tiết Kính Hàn đã làm quân Tàu Ngô càng khiếp đảm. Dân bản địa lâu nay đã bị quân Tàu Ngô áp bức, bóc lột đến tận xương tủy, họ phải cố nén nỗi uất hận mà sống, nay nghe được tin này, ở đâu cũng ngóng cổ chờ dịp hưởng ứng cuộc nổi dậy của Bà Vương.

Viên Thái thú quận Giao Chỉ là Lưu Ngang sợ quá, một mặt cho người hỏa tốc về Kiến Nghiệp cáo cấp xin viện binh, một mặt ra lệnh cho quân đội sở tại lo phòng thủ thật kỹ thành Long Biên. Viên Đô úy chỉ huy quân sự quận Giao Chỉ là Cao Liệt bàn với Thái thú Lưu Ngang:

-Chuyện Triệu Ẩu nổi dậy đánh úp căn cứ Tư Phố thật ra chỉ mới là tin đồn chứ chưa rõ hư thực thế nào. Ở Giao Chỉ lại nghe dân bản địa nhiều nơi rắp ranh nổi loạn. Tôi nghĩ dù sao chúng cũng chỉ là bọn quân ô hợp chưa mạnh lắm đâu. Thái thú nên để tôi cầm một đạo quân đi trừ diệt chúng tận gốc còn hơn là đợi chúng mạnh lên kéo về vây đánh trị sở Giao Chỉ lúc đó mình khó xoay xở lắm.

Lưu Ngang lo lắng lắc đầu:

-Không được đâu, quân nổi loạn uyển chuyển di động chứ có ở một chỗ nhất định đâu để ông có thể tìm tới mà đánh! Ông đem quân đi khỏi lỡ chúng nó tấn công Long Biên thì còn ai chống đỡ nổi? Long Biên mà mất mình sẽ mắc tội lớn thêm. Tôi đã cho người về Kiến Nghiệp xin triều đình cấp viện binh rồi. Trước sau viện binh cũng sẽ đến thôi, khi ấy ông đi dẹp chúng cũng không muộn!

Cao Liệt nài nỉ xin xuất quân mấy lần nữa nhưng Lưu Ngang vẫn nhất định không chịu. Vì vậy Cao Liệt bất mãn lắm. Nắm được cái tẩy của Lưu Ngang là vừa dốt nát vừa nhát gan nên Cao Liệt đã ngầm phóng đại những cái tin bất lợi cho Lưu Ngang nghe. Lưu Ngang cứ nghe toàn tin xấu hoảng sợ quá nên phát bệnh nằm liệt giường rồi qua đời.

*

Nói về Ngô chủ Tôn Quyền khi nhận được biểu cáo cấp của Thái thú Giao Chỉ liền cho họp triều thần để bàn việc đối phó. Tôn Quyền nói:

-Theo biểu cáo cấp của Thái thú quận Giao Chỉ là Lưu Ngang cho biết quận Cửu Chân đã bị Triệu Ẩu chiếm, Thái thú Tiết Kính Hàn đã bị mất tích, toàn cõi Giao Châu đều rúng động. Chư khanh có kế hoạch nào để dẹp đám giặc này không?

Lão tướng Đinh Phụng tâu:

-Giao Chỉ chỉ là một rẻo đất nhỏ nhoi, quân giặc lại chỉ là một bọn ô hợp do một người đàn bà cầm đầu thì đâu có gì đáng sợ? Thần nghĩ chẳng qua Tiết Kính Hàn vì chủ quan sơ suất mới gây nên nỗi thất bại như vậy. Bệ hạ chỉ cần hạ chiếu cho một viên tướng hạng trung đem một đạo quân nhỏ đến thay Tiết Kính Hàn để bình định một thời gian ngắn là xong. Nếu cần bệ hạ xuống chiếu cho Thái thú quận Giao Chỉ và Thái thú quận Nhật Nam làm ngoại viện tạo thanh thế cho y cũng đủ.

Thái phó Gia Cát Khác phản bác:

-Không dễ như thế đâu! Triệu Ẩu là một kẻ dị tướng dị hình, những kẻ này thường hành động cũng khác thường. Chỉ trong mấy ngày mà Triệu Ẩu đã giết được Mã Quyên, Đào Thành Lạc, Tiết Kính Hàn thì cái tài của Triệu Ẩu không phải vừa! Đưa một tướng tầm thường đi dẹp Triệu Ẩu không thể nào thành công được! Đừng khinh lỗ nhỏ, lỗ nhỏ cũng làm đắm thuyền. Quận Cửu Chân tuy nhỏ nhưng liên hệ đến toàn bộ Giao Châu. Khi mụt nhọt này làm độc thì cái họa của Đông Ngô không phải nhỏ. Tây Thục là đồng minh của Đông Ngô ta hiện đang bị viên hoạn quan Hoàng Hạo thao túng, Khương Duy ở ngoài bối rối không làm gì được. Từ nay ta khó trông cậy gì ở Tây Thục. Cái ung nhọt Cửu Chân không lo dứt sớm lỡ mai mốt đây Bắc Ngụy bất ngờ đánh Đông Ngô mà phía nam lại không được yên thì rắc rối lắm. Xin bệ hạ phải cử một tướng giỏi đi bình định Giao Châu ngay đừng để dây dưa nữa.

Ngô chủ Tôn Quyền nói:

-Quan Thái phó nói đúng ý trẫm lắm. Ta nghĩ trong trường hợp này Thái thú hai quận Nhật Nam và Giao Chỉ lo giữ mình cũng đã khó rồi làm sao có thể cứu quận Cửu Chân? Theo khanh ta nên chọn ai đi bình định Giao Châu?

Gia Cát Khác tâu:

-Đốc quân đô úy Lục Dận có thể gánh vác việc này!

Lúc bấy giờ Ngô chủ Tôn Quyền đã sáu mươi bảy tuổi, luôn nay đau mai ốm, trí óc không còn được sáng suốt như trước. Tôn Quyền lại đang gặp nhiều khó khăn về nội bộ gia đình. Trước kia ông đã từng lập con trưởng Tôn Đăng làm Thái tử nhưng rồi Đăng không may mất sớm, ông lại lập người con kế là Tôn Hòa. Tôn Hòa đã được nhiều trọng thần ủng hộ, trong đó có Lục Tốn, người đã đánh bại Thục chủ Lưu Bị để giải nguy cho nước Ngô hơn hai mươi năm trước. Bất ngờ con gái trưởng của Tôn Quyền là Kim công chúa xảy chuyện xích mích nặng với mẹ con Thái tử Tôn Hòa, công chúa bèn nhỏ to với cha nói xấu Tôn Hòa. Em của Tôn Hòa là Tôn Bá cũng nhân dịp muốn đoạt ngôi Thái tử của anh nên cũng toa rập với Kim công chúa công kích Tôn Hòa. Tôn Quyền tin lời muốn truất ngôi Tôn Hòa nhưng lại còn ngại mất lòng Lục Tốn đang giữ chức Thừa tướng kiêm lãnh Kinh Châu mục đóng quân ở Vũ Xương. Mới đây Lục Tốn bỗng lâm bệnh mà mất khiến Thái tử Tôn Hòa mất bớt một thế lực hậu thuẫn. Tuy vậy, Lục Tốn vẫn còn có người cháu là Lục Dận, cũng là một tướng văn võ kiêm toàn đang phò Thái tử Tôn Hòa. Thái tử Tôn Hòa và Lục Dận lại rất thân thiết với nhau. Tôn Quyền vẫn muốn đuổi Lục Dận ra ngoài để triệt thêm vây cánh của Tôn Hòa nhưng chưa tìm ra cớ. Nay nghe Gia Cát Khác tâu như vậy Tôn Quyền rất vừa lòng, ông nói:

-Khanh tính như vậy thật hợp ý trẫm.

Thế rồi Tôn Quyền triệu Lục Dận vào phán:

-Nay ở Giao Châu có một nữ dị nhân tên Triệu Ẩu vú dài ba thước, sức khỏe phi thường nổi lên chống lại triều đình. Hiện nay Triệu Ẩu đã chiếm quận Cửu Chân, các tướng bên đó không ai dẹp nổi. Trẫm nghĩ trong triều nay chỉ có khanh là đủ sức gánh vác trách nhiệm to lớn ấy. Khanh hãy vì trẫm mà ra sức một phen nữa! Nay trẫm phong cho khanh chức Thứ sử Giao Châu kiêm hiệu úy và sẽ cấp cho khanh tám ngàn sĩ tốt thiện chiến. Khanh hãy chuẩn bị lên đường càng sớm càng tốt, chớ phụ lòng trông đợi của trẫm!

Lục Dận quì xuống lạy tạ:

-Đa tạ bệ hạ đã tin tưởng mà giao phó cho hạ thần trọng trách đó. Hạ thần sẽ hết lòng lo bình định Giao Châu thật sớm để đền ơn bệ hạ.

Thế là Lục Dận lo chuẩn bị lên đường. Dận đem theo ba thuộc hạ thân tín là Đặng Tựu, Vệ Doãn và Kim Biên để giúp việc. Trên đường đi, Kim Biên hỏi Lục Dận:

-Tướng quân có thấy gì lạ trong việc hoàng thượng cử tướng quân đi Giao Châu lần này không? Giao Châu làm gì có giặc lớn đến nỗi phải cử một đại tướng với tám ngàn tinh binh đi đánh dẹp?

Lục Dận cười mà nói:

-Ta cũng nghĩ chẳng có gì trầm trọng đâu! Chẳng qua là Thái phó Gia Cát Khác muốn đẩy ta ra ngoài cõi thôi. Hoàng thượng cũng vậy. Người muốn truất ngôi Thái tử Tôn Hòa đã lâu nhưng vì có ta bên cạnh Thái tử nên người còn ngại. Nay phải đi Giao Châu ta rất lo cho số phận của Thái tử!

Khi vào địa giới Giao Châu, đi đến đâu Lục Dận cũng cho người kêu dân địa phương để thăm hỏi sự tình đến đó. Sau đó Dận cho đóng đại bản doanh gần thành Long Biên là thủ phủ quận Giao Chỉ. Lục Dận cho đại quân tạm nghỉ vài ngày để xem xét tình hình trước khi ra tay đánh dẹp Triệu Bà Vương.

Viên Đô úy Cao Liệt, tướng chỉ huy quân sự quận Giao Chỉ liền dẫn mấy viên quan văn võ sở tại đến bái yết Lục Dận. Dận hỏi:

-Lưu Thái thú ở đâu không đến?

Cao Liệt thưa:

-Bẩm Tướng quân, quan Thái thú lâm bệnh nặng nên đã qua đời. Hiện thi thể của quan Thái thú vẫn còn quàn tại quận phủ.

Lục Dận tỏ vẻ bực mình:

-Bệnh gì? Bệnh khiếp sợ quân khởi loạn của Triệu Ẩu phải không? Ta biết quá đi chứ! Còn ngươi, ngươi là tướng chỉ huy quân sự trong quận sao giặc đánh quận láng giềng lại không đem quân tiếp cứu? Đến nay giặc lại xâm phạm quận nhà ngươi lại không chịu đem quân đi đánh dẹp? Nhà nước phong chức tước, ban bổng lộc cho ngươi và nuôi quân để làm gì?

Cao Liệt bị Lục Dận quở trách sợ hãi thưa:

-Bẩm Tướng quân, quân sĩ ở đây không được nhiều nên Lưu Thái thú muốn giữ lại để bảo vệ thủ phủ Long Biên. Ông ta ngại nếu hạ quan xuất quân đánh đám giặc này thì các đám giặc khác có thể thừa dịp đánh úp thủ phủ. Hạ quan chỉ là cấp dưới đâu dám trái lệnh.

Lục Dận nghiêm giọng:

-Ngươi biết như thế nào về tình hình hiện tại hãy báo cáo trung thực cho ta nghe!

-Bẩm Tướng quân, hiện nay quân phản loạn đang hoành hành trên toàn cõi Cửu Chân. Thanh thế của Triệu Ẩu mỗi ngày một lừng lẫy và đang lan rộng sang quận Giao Chỉ. Dân bản quận nghe tin này cũng hưởng ứng lời kêu gọi của Triệu Ẩu, nổi lên khắp nơi. Cũng may tới nay chưa thấy đám nào gây dựng được lực lượng đáng kể. Hạ quan đã nhiều lần xin với Lưu Thái thú xuất quân tiêu diệt chúng trước khi chúng trở nên quá mạnh nhưng Lưu Thái thú cứ sợ mắc mưu điệu hổ ly sơn nên cứ cản trở mãi. Sau đó Lưu Thái thú lại lâm bệnh đột tử. Nay Tướng quân đến đây thật đúng lúc. Nếu Tướng quân cho phép, hạ quan xin tình nguyện xuất quân dẹp các mối loạn này!

Lục Dận bĩu môi:

-Được rồi, ngươi cứ túc trực đợi lệnh! Ta cũng biết Thái thú Lưu Ngang vốn là kẻ bất tài vô tướng chỉ nhờ biết nịnh hót mà nên danh phận. May cho nó chết rồi chứ nếu nó còn sống ta cũng trị tội thôi!

Lời phỉ báng của Lục Dận đối với Lưu Ngang kể ra cũng không quá đáng. Ngang vốn là kẻ ít học, trước kia cha Ngang là Lưu Ngạn nhờ Thứ sử Chu Phù là người cùng quê nâng đỡ cho ra làm quan. Sau này Lưu Ngạn lại đem cô em gái tuyệt đẹp của mình dâng cho viên Thứ sử Lữ Đại làm thiếp, vì vậy Lữ Đại vẫn coi Lưu Ngạn như người thân. Tới khi được lệnh triệu về Ngô, Lữ Đại đã cử Lưu Ngạn làm Thái thú quận Giao Chỉ. Khi Lưu Ngạn mất thì Lưu Ngang lên thay chức cha. Lưu Ngang là kẻ tham lam, tàn ác, chỉ biết vơ vét, bóc lột đến tận cùng nên dân chúng hết sức oán hận. Chính Lưu Ngang cũng biết điều ấy nên khi được tin Triệu Bà Vương khởi nghĩa đánh bại Tiết Kính Hàn y hoàn toàn mất tinh thần. Nỗi lo sợ bị dân bản xứ trả thù đã ám ảnh, dày vò Lưu Ngang không dứt. Vì thế không bao lâu Lưu Ngang đã phát bệnh mà qua đời.

Tuy chẳng quen biết hay oán thù gì với Lưu Ngang nhưng Lục Dận cũng rất bực bội về y. Chính tờ biểu tâu về tình hình Giao Chỉ của y đã khiến Ngô chủ Tôn Quyền có cớ để đẩy Lục Dận đến xứ sở xa xôi này và làm cho cái ngôi Thái tử của Tôn Hòa trở nên bấp bênh. Nhưng chuyện đâu còn đó, đã nhận lệnh đến đây dẹp giặc thì cứ lo dẹp giặc đã. Lục Dận nghĩ lực lượng của Triệu Ẩu bất quá chỉ là một đội quân ô hợp, bao giờ nó cũng hăng hái lúc đầu rồi sẽ xẹp xuống ngay! Tiết Kính Hàn bị thua chẳng qua vì y quá bất tài mà lại chủ quan thôi. Một quân đội mà thiếu huấn luyện, thiếu kỷ luật thì thật khó tồn tại lâu dài. Quân của ông từ xa mới tới còn đang mệt mỏi phải cho nghỉ ngơi, phải nắm vững tình hình giặc, phải rà soát kỹ địa hình địa vực trước khi ra trận mới cầm chắc thắng lợi!

Lục Dận đang nghiên cứu tình hình bỗng nhận được tin từ trung ương đưa sang: Ngô chủ Tôn Quyền đã truất ngôi Thái tử của Tôn Hòa và đày ra Trường Sa. Ngô chủ cũng giết luôn hoàng tử Tôn Bá và lập người con út là Tôn Lượng làm Thái tử. Thế là cái mộng làm phụ chính đại thần của Lục Dận bấy lâu bỗng tan thành mây khói!

Trong lúc Lục Dận đang buồn bực quân do thám lại về báo cho biết quân của Triệu Bà Vương đang tiến đến Thiên Quan. Lục Dận liền cho gọi Cao Liệt đến truyền lệnh:

-Ngươi nói trước đây ngươi muốn đi đánh dẹp Triệu Ẩu nhưng Lưu Ngang nhất định không cho phải không? Nay nghe Triệu Ẩu đã vượt sông Mã đang kéo quân đến Thiên Quan, ta cho ngươi đi đánh dẹp để lập công đấy.

Cao Liệt hăng hái thưa:

-Mạt tướng xin tuân lệnh.

Lục Dận lại hỏi:

-Ngươi cần ta cho bao nhiêu quân? Cần ta cho ai làm phó tướng không?

Cao Liệt tỏ ra rất tự tin:

-Mạt tướng sẽ đi cùng viên phó tướng của mình và chỉ xin sử dụng một ngàn rưỡi quân bản bộ cũng đủ.

Lục Dận hỏi:

-Với bấy nhiêu quân sĩ ngươi có tin chắc sẽ thắng trận không?

Cao Liệt trả lời không ngập ngừng:

-Nếu thất bại, mạt tướng xin dâng đầu tạ tội!

Lục Dận lại nói:

-Trong quân không đùa đâu! Ngươi có cần ta cho một cánh quân khác trợ lực không?

Cao Liệt một phần do lòng tự tin, một phần bực bội vì Lục Dận đã tỏ ra coi thường y nên trả lời giọng cương quyết:

-Thưa Thứ sử, khỏi cần!

-Được lắm! Ngươi về chuẩn bị để ra quân sớm. Chúc ngươi may mắn, ta chờ tin báo tiệp đây!

Thái độ tự tin của Cao Liệt làm Lục Dận tạm an tâm. Nhưng nghĩ đến tình hình chính trị ở trung ương, Lục Dận không sao khỏi lo lắng, buồn bực. Nếu Ngô chủ Tôn Quyền qua đời Thái tử Tôn Lượng đương nhiên sẽ nối ngôi, Gia Cát Khác đương nhiên trở thành phụ chính đại thần. Khi ấy Gia Cát Khác sẽ đối xử với ông ra sao? Câu hỏi đó đã làm Lục Dận ăn ngủ không yên.

Trong khi Lục Dận đang buồn phiền lo lắng về biến cố xảy ra ở trung ương thì Cao Liệt dẫn bại binh chạy về. Cao Liệt tự trói mình xin vào yết kiến Lục Dận xin chịu tội. Nỗi bực bội của Lục Dận đã gặp cơ hội để bộc phát, Lục Dận giận dữ hỏi:

-Ta đã hỏi ngươi liệu có chắc thắng được Triệu Ẩu không thì ngươi trả lời cương quyết lắm mà! Bây giờ ngươi thất trận làm mất hết nhuệ khí của quân ta, ta cứ theo quân luật mà xử thôi! Ngươi có điều gì cần nói nữa không?

Cao Liệt thưa:

-Bẩm Thứ sử, mạt tướng đã lầm lỡ để thua trận làm mất uy tín của triều đình. Tội ấy đã rõ đành xin chịu chết thôi. Nhưng mạt tướng xin báo để quan Thứ sử cùng các tướng biết Triệu Ẩu có một con voi trắng rất lợi hại. Nếu không trừ được con voi ấy thật khó mà thắng được Triệu Ẩu.

Lục Dận không thèm để ý đến lời Cao Liệt, quát bảo quân đao phủ dẫn y ra chém đầu ngay. Chém Cao Liệt xong Lục Dận nói:

-Bây giờ ta phải thân ra trận mới được!

Hai tướng Đặng Tựu và Vệ Doãn đồng thưa:

-Giết gà cần gì phải dùng đến đao mổ trâu? Sá gì một mụ đàn bà man di mà quan Thứ sử phải nhọc sức? Xin để chúng tôi đi bắt mụ ấy về cho!

Lục Dận nói:

-Hai ông đã muốn vậy ta cũng chiều ý. Ta sẽ cấp cho hai ông mỗi người một ngàn quân. Nhưng phải nhớ mụ đàn bà man di này không phải tầm thường đâu, hai ông phải cẩn thận lắm mới được!

-Chúng tôi xin tuân mạng.

Hôm sau hai tướng Đặng Tựu và Vệ Doãn hăng hái kéo quân ra đi. Không ngờ chỉ mười ngày sau Vệ Doãn cũng chỉ dẫn được một số bại binh trở về yết kiến Lục Dận xin chịu tội. Lục Dận kinh ngạc hỏi:

-Hai tướng cũng thua nữa à? Vậy thì Đặng Tựu đâu rồi?

Vệ Doãn thưa:

-Thưa, Đặng tướng quân đã mất tích trong đám loạn quân. Mụ đàn bà đó cỡi trên đầu con voi để chỉ huy. Quân giặc mạnh mẽ dữ tợn quá mạt tướng không đánh nổi. Bên cạnh Triệu Ẩu lại có hai viên nữ tướng trẻ cũng chiến đấu dữ như những cọp cái. Vì vậy mạt tướng xin về đây để chịu chết!

Lục Dận không bắt tội mà lại ân cần hỏi han về trận chiến đã xảy ra như thế nào rồi than:

-Triệu Ẩu đánh trận dữ như vậy các ngươi thua cũng phải. Đáng tiếc là trong lúc quá bực bội trong lòng ta đã giết oan Cao Liệt! Thôi, ngươi cứ về trại nghỉ ngơi đợi lập công chuộc tội!

Nghĩa quân đã thắng trận liên tiếp nên Triệu Bà Vương càng hăng hái mở rộng vùng hoạt động. Trước khí thế của nghĩa quân, Lục Dận đành ra lệnh chia quân phòng thủ các nơi hiểm yếu cốt bảo toàn lực lượng để chờ thời cơ.

Thấy tình hình mỗi ngày mỗi nguy cấp hơn, Lục Dận lo sợ vô cùng. Ông chỉ còn chút hi vọng mong manh ở hoạt động gián điệp của viên mạc tân Kim Biên.

*

Từ khi mới đến Giao Châu Lục Dận đã cử viên mạc tân Kim Biên bí mật thành lập một đội quân đặc biệt hoạt động trong bóng tối. Đội quân này được huấn luyện nghiệp vụ cấp tốc rồi cho bủa ra khắp nơi, nhất là các vùng nghĩa quân đã chiếm được để dò xét tình hình, móc nối mua chuộc các thổ hào, các tay chỉ huy quân sự để lủng đoạn nội bộ hầu làm suy giảm ý chí chiến đấu của nghĩa quân. Kim Biên đã rất khổ công và đã chi phí quá nhiều trong công tác này. Chỉ vì dân bản xứ sau một thời gian quá lâu bị áp bức tàn tệ, lòng thù hận quân xâm lăng quá đậm, tinh thần độc lập tự chủ trỗi dậy quá cao nên Kim Biên rất khó hoạt động. Thành quả Kim Biên thu đạt được quá khiêm tốn đã khiến Lục Dận thất vọng lắm.

Trong khi Lục Dận đang lo bấn ruột thì Ngô chủ Tôn Quyền lại cử người cháu là Tôn Lâm sang Giao Châu xem xét tình hình. Lục Dận vô cùng bối rối vì chưa tạo được chiến công nào để báo cáo cả. Tôn Lâm lại ỡm ờ cho Lục Dận biết ý của Ngô chủ nếu thấy khả năng Lục Dận không dẹp nổi giặc Cửu Chân sẽ cho lão tướng Đinh Phụng sang thay. Tin này đã làm Lục Dận càng lo sợ thêm. Lục Dận biết Thái phó Gia Cát Khác là một tay rất độc hiểm, tàn nhẫn. Nếu thất bại trong việc dẹp loạn mà phải triệu về kinh ông làm sao sống yên ổn dưới tay Gia Cát Khác được? Vì vậy Lục Dận đã tìm mọi cách để mua chuộc Tôn Lâm. Khi Tôn Lâm sắp hồi triều, Lục Dận đã nghĩ ra một kế để tạo lòng tin với triều đình, ông nói với Tôn Lâm:

-Xin ông trình bày rõ với hoàng thượng: Các Thái thú hai quận trước đây đều quá bất tài nên để giặc phát triển lớn mạnh và lộng hành quá. Chúng vừa chiến thắng liên tiếp nên khí thế còn quá hăng. Tôi đã đánh thử vài trận, kết quả tuy bất lợi nhưng tôi đã cho người xâm nhập được vào nội bộ của giặc để sẵn sàng làm nội ứng. Bây giờ ta cứ tạm cố thủ để bảo toàn lực lượng đã. Chỉ nay mai tôi sẽ đánh một trận là giặc tan ngay!

Tôn Lâm nói:

-Vâng, tôi sẽ báo lại với Ngô chủ như lời Thứ sử đã nói.

Tuy Lục Dận đã lo quà cáp hậu hỉ cho sứ giả và chính sứ giả cũng hứa sẽ nói tốt về Lục Dận trước mặt Ngô chủ Tôn Quyền nhưng khi sứ giả đi rồi trong lòng Lục Dận lúc nào cũng nóng như lửa đốt.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 06.09.2018, 13:16
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Dã sử] Đầu voi phất ngọn cờ vàng - Ngô Viết Trọng - Điểm: 10
CHƯƠNG 19


Sau khi tiễn sứ giả Tôn Tuấn về triều xong, Lục Dận lập tức triệu tập những thuộc hạ thân tín lại để bàn luận kế hoạch đánh dẹp Triệu Bà Vương. Tướng Vệ Doãn thưa:

-Mạt tướng đánh giặc đã lâu ngày chưa gặp đám giặc nào khó trị như đám giặc này. Vừa rồi nghe Thứ sử nói với sứ giả đã có kế hoạch cho người xâm nhập nội bộ quân giặc để sẵn sàng làm nội ứng, chỉ cần đánh một trận là giặc sẽ tan, mạt tướng mừng lắm. Mạt tướng đang nôn nóng đợi ngày lập công để chuộc tội. Xin Thứ sử cho biết khi nào ta có thể ra quân?

Lục Dận lộ vẻ âu lo, thành thật nói:

-Ta nói với sứ giả như vậy chẳng qua chỉ là một cách trì hoãn áp lực của triều đình thôi. Thật tình tới giờ này ta vẫn chưa có một kế hoạch chính thức nào để trị đám giặc ấy. Chúng phát triển quá nhanh lại chiến đấu quá dũng cảm làm quân ta thua liên tiếp, nhụt hết cả nhuệ khí. Theo lời báo của các tướng, đáng ngại nhất là con voi trắng một ngà Triệu Ẩu cỡi. Nó tiến nhanh như chớp và lại rất hung dữ. Da nó dày và cứng như sắt giáo đâm không thủng tên bắn không xuyên được. Vì thế quân ta coi con voi ấy như thần chết, cứ thấy mặt nó là mất hết tinh thần. Mỗi lần ra quân Triệu Ẩu lại thường cỡi đầu voi đi trước, quân sĩ lại nương theo voi mà tiến. Tả hữu Triệu Ẩu lại có hai viên nữ tướng cũng chiến đấu dũng mãnh như hai con cọp cái. Vì vậy quân ta thật khó chiến đấu trực diện với chúng. Các ông có cách gì để trừ khử con voi ấy không?

Vệ Doãn thưa:

-Muốn diệt con voi ấy khó lắm. Chính tôi đã cho bắn cả tên tẩm thuốc độc và đã thấy rõ hai mũi tên găm vào má nó rồi, nhưng hình như trong quân của chúng có thầy thuốc giỏi nên ngay hôm sau vẫn thấy con voi ấy ra trận như thường. Phải đào hầm sập để dụ cho nó sa vào hầm rồi dùng phục binh để diệt may ra thành công!

Lục Dận trầm ngâm giây lát rồi nói:

-Chính Triệu Ẩu cỡi con voi ấy, dễ gì dụ nó sập hầm? Vả lại, muốn thực hiện kế ấy phải mất nhiều công phu lắm! Trong khi đó việc ta lại quá gấp, khó trì hoãn thêm nữa!

Rồi Lục Dận quay sang viên mạc tân Kim Biên:

-Công việc tôi giao cho ông chưa thấy kết quả gì mà triều đình đã rấp ranh cử người sang thay tôi rồi đó. Nay ông đã thu thập được tin tức gì quan trọng có thể khai thác lập mưu kế để đánh bại chúng chưa? Nếu không, công lao của chúng ta thành công cốc mất!

Kim Biên thưa:

-Việc mua chuộc, lôi kéo các thủ lãnh của giặc chưa có kết quả nào đáng kể. Thanh thế của Triệu Ẩu lớn quá nên chúng còn ngần ngại không dám phản. Tuy vậy, mới đây thuộc hạ có thu lượm được vài tin tức nghe hơi lạ tai nhưng xét kỹ thấy cũng có lý, xin trình để minh công xét định. Nếu những tin tức này là đúng, ta có thể khai thác để đánh bại Triệu Ẩu!

Ánh mắt Lục Dận ngời lên một chút:

-Có tin tức lạ ra sao hãy nói ngay ta nghe!

Kim Biên nói:

-Tôi nghe mỗi lần ra trận Triệu Ẩu lại luôn cỡi voi đi đầu. Hai viên tướng tả hữu của Triệu Ẩu là Hướng Dương và Hải Đường đều là hạng nữ lưu anh kiệt. Những người này chiến đấu quá dũng cảm nên chư tướng và quân sĩ của họ cũng trở nên dũng cảm cả. Đó là cái ưu thế của giặc mà chúng ta rất khó chế ngự. Tuy nhiên, tôi cũng nghe Triệu Ẩu là người đầy thánh tính, tinh khiết, rất úy kỵ sự ô trọc, uế tạp. Chứng này tục gọi là “ái khiết úy ô”. Đây là điểm cao quí của con người nhưng lại là một nhược điểm khi rơi vào cõi thô tục bợn nhơ. Minh công nên thử tuyển lựa vài trăm quân cảm tử khỏe mạnh, ban thưởng cho chúng thật hậu để mua lòng rồi sai chúng ra trận đánh nhau với quân Triệu Ẩu. Điều quan trọng là đội quân này khi ra trận phải lột hết quần áo, trần truồng như nhộng, một tay cầm mã tấu để chém giết, một tay cầm mộc để ngăn đỡ khí giới giặc. Triệu Ẩu ra trận thường đi đầu, nếu gặp phải đội quân kỳ quái này tất phải sượng sùng rúng động cả tâm can còn ý chí đâu mà chiến đấu? Chắc chắn cả hai viên nữ tướng Hướng Dương và Hải Đường cũng chẳng khác hơn được! Triệu Ẩu mà rút lui tất nhiên hàng ngũ giặc phải rối loạn ngay! Khi đó ta chỉ việc thúc quân đánh dồn thế nào cũng thắng lớn! Minh công nghĩ có nên thực hiện kế này không?

Lục Dận nghe Kim Biên nói xong sắc mặt bỗng vui hẳn giây lát rồi lại xìu xuống như cũ, ông ta hỏi:

-Triệu Ẩu là người kiên cường sắt đá, lỡ mụ ta không bị dị ứng bởi sự uế tạp thô tục ấy thì sao?

Kim Biên thản nhiên đáp:

-Gặp trường hợp đó bất quá ta hi sinh đám quân sĩ ấy rồi lo toan kế khác vậy! Minh công muốn việc mình nên thì tiếc chi mấy trăm tên lính? Cứ thử đi rồi mới biết đúng hay không chứ!

Lục Dận trầm ngâm:

-Cái mưu kế ấy thấy nó kỳ quái lắm. Tin tức thu được có vẻ mơ hồ quá mà mình vội thực hiện, lỡ việc không nên lại trở thành trò cười cho thiên hạ. Khi ấy danh tiếng của ta sẽ tan nát mất! Không chừng còn bị triều đình buộc tội thí quân vô ích nữa.

Kim Biên cố thuyết phục Lục Dận:

-Trong giờ phút tử sinh này sao minh công còn dè dặt đến thế? Người đưa tin tức này hiện còn ở nhà thuộc hạ, minh công có muốn gọi y vào để hỏi cho chính xác không?

Lục Dận nói:

-Được. Cứ gọi nó vào đây ta hỏi thử!

Một lát sau người đưa tin được dẫn vào yết kiến Lục Dận. Kim Biên dặn y:

-Ngươi hãy trình bày tin tức ngươi đã thu lượm được thật rõ ràng cho quan Thứ sử nghe đi.

Lục Dận nhỏ nhẹ hỏi người đưa tin:

-Có phải chính ngươi dò biết được tin Triệu Ẩu là người “ái khiết úy ô” không?

Tên đưa tin thưa:

-Bẩm quan lớn, chính con dò biết được tin ấy.

Lục Dận lại hỏi:

-Ngươi dò biết tin ấy từ đâu? Nguồn tin ấy có được phổ biến rộng không? Có gì để làm chứng cớ Triệu Ẩu là người ái khiết úy ô không?

Tên đưa tin thưa:

-Bẩm quan lớn, con đã về tận làng Hương Vân và dò hỏi chính người dân làng ấy. Theo họ kể thì thuở nhỏ Triệu Ẩu đã mấy lần bị ngất xỉu khi thấy đàn ông lõa thể.

Lục Dận sáng mắt lên hỏi lại:

-Chính tai ngươi nghe bọn chúng kể như vậy sao?

Tên đưa tin quả quyết:

-Bẩm, con đâu dám nói dối với quan lớn!

Lục Dận vui mừng thưởng cho người đưa tin rất hậu rồi cho lui. Sau đó ông quay sang Kim Biên nói:

-Bởi trước đây ông nói chưa rõ ràng nên ta chưa dám quyết định. Bây giờ thì ta quyết dùng kế của ông.

Kim Biên vui mừng thưa:

-Muốn chắc ăn, trước khi thi hành mưu kế này phải tuyệt đối giữ bí mật. Nếu cơ mưu tiết lộ để chúng đề phòng là hỏng việc mất.Điều khó khăn là phải giấu nhẹm đội quân lõa thể cảm tử này thật kỹ. Tới khi nào biết chắc sẽ gặp mặt Triệu Ẩu mới được tung ra.

Lục Dận cười ha hả:

-Việc giữ bí mật không khó đâu. Thật là một kỳ mưu!

Thế rồi Lục Dận cho tuyển hơn ba trăm quân sĩ tình nguyện để thực hiện mưu kế của Kim Biên. Tuyển xong, Lục Dận cho gọi Vệ Doãn đến bảo:

-Tình thế đã quá gấp rút. Ngô chủ có thể cách chức ta bất cứ lúc nào. Tương lai thầy trò ta vinh hay nhục đều do một mưu kế này. Vậy ông nên vì ta huấn luyện gấp đội quân này thật thuần thục. Ông phải tập cho chúng thế này …, thế này… Ta đã ban phát ân huệ cho chúng rất hậu, ông khỏi lo về mặt đó. Thực hiện kế này mà thành không những lỗi trước của ông được xóa bỏ mà còn được thăng chức tước nữa! Mọi sự thành bại của ta phần lớn trông cậy vào ông cảđấy nhé!

Vệ Doãn cũng lộ vẻ hân hoan nói:

-Mạt tướng xin hết lòng thi hành phận sự.

Từ hôm đó Vệ Doãn ngày đêm đều chuyên chú vào việc huấn luyện cho đội quân cảm tử đặc biệt để chờ ngày ra trận.

*

Mặc dù Thứ sử Lục Dận đã ra lệnh cho các căn cứ quân sự địa phương phải gắng cố thủ để chờ quân thiên triều phản công, nhưng trước khí thế dũng mãnh của nghĩa quân, nhiều nơi quan quân quá khiếp sợ đã phải đầu hàng. Tình thế biến chuyển tưởng chừng như không bao lâu nữa toàn cõi Giao Châu sẽ trở thành một xứ độc lập.

Tại các vùng Hoa Lư, Cổ Lộng, nghĩa quân tiến đến đâu quân Tàu Ngô rút chạy đến đó. Các đám bại binh hầu hết đổ về cố thủ căn cứ Long Hưng, một căn cứ được coi như cửa ngõ để vào thủ phủ Long Biên. Nếu nghĩa quân chiếm được Long Hưng coi như Long Biên đã nằm trong tầm vói. Với lòng tin nghĩa quân đang trên đà thắng thế và quân Tàu Ngô đang mất tinh thần, Triệu Bà Vương quyết định phải dứt điểm căn cứ này.

Không ngờ Lục Dận đã dàn dựng sẵn một cái bẫy sập nơi đây để chờ đợi Triệu Bà Vương.

Khi nghĩa quân tiến đến căn cứ Long Hưng, quân Tàu Ngô ở đó không co cụm vào căn cứ để cố thủ hay bỏ chạy như những nơi khác mà lại tiến ra khá xa căn cứ dàn trận để chống lại.

Hôm ấy, cũng như những lần ra trận khác, thấy quân Tàu Ngô ra mặt đối kháng, Triệu Bà Vương thúc con voi đang cỡi hăng hái xông vào trận trước. Hai vị nữ tướng tả hữu Triệu Bà Vương là Hướng Dương và Hải Đường cũng cỡi ngựa dẫn đầu hai cánh quân thiện chiến tiến sát bên voi. Khi quân đôi bên giáp mặt chưa kịp giao chiến thì đội tiền quân của Lục Dận bất ngờ dạt nhanh ra hai bên nhường chỗ cho đội quân lõa thể tiến lên. Sự xuất hiện đột ngột của đội quân lõa lồ quái đản này đã làm cho nghĩa quân ngơ ngác, sững sờ. Nhiều người hô lên:

-Yêu thuật! Coi chừng yêu thuật!

Nhiều người khác lại kêu lên:

-Quỉ hiện hình! Quỉ hiện hình!

Trong lúc quá bất ngờ phải chạm mặt với đội quân lõa lồ, Triệu Bà Vương hổ thẹn quá hét lên một tiếng rồi vội bưng mặt lại. Tâm thần Bà Vương bỗng rối loạn cả lên. Bao nhiêu tính tự chủ trong Bà Vương đột nhiên biến mất. Bà Vương quay voi lại bỏ chạy. Cả hai nữ tướng Hướng Dương và Hải Đường cũng hổ thẹn quay ngựa bỏ chạy theo Bà Vương. Ba vị tướng quân Trần Vân, Ngô Quân và Lý Huấn không đủ sức trấn an đám nghĩa quân đang hoang mang, bối rối khi thấy Triệu Bà Vương rút chạy. Quân Tàu Ngô đắc thế đuổi tràn tha hồ chém giết. Nghĩa quân thua chạy tan tác. Thứ sử Lục Dận đã ở sẵn trong căn cứ Long Hưng không bỏ lỡ thời cơ tung quân ra nhiều hướng ráo riết đuổi đánh.

Quân Tàu Ngô thừa thắng tiến như vũ bão. Chỉ trong mấy ngày quân Tàu Ngô đã lấy lại hết phần đất thuộc quận Giao Chỉ mà nghĩa quân đã chiếm được trước đó. Số nghĩa quân của Triệu Bà Vương thoát được một phần lẫn trốn vào dân chúng, phần lớn cố chạy về căn cứ Bồ Điền để cố thủ.

Riêng Triệu Bà Vương sau khi truyền lệnh rút quân, Bà hoàn toàn không còn tự chủ được mình nữa. Trông Bà Vương như một kẻ vô hồn. Bà chỉ kịp trở lại ngồi ở bành voi chính rồi chìm vào im lặng. Tên nài Xuân Lộc thưa mấy lần để hỏi lệnh nhưng Bà vẫn không trả lời khiến Xuân Lộc lúng túng không biết sẽ cho voi đi hướng nào. Con voi trắng một ngà dường như cũng linh cảm được điều bất tường nên vẫn cứ một mực chạy tránh xa chốn giao tranh. Hai nữ tướng Hướng Dương và Hải Đường vẫn phóng ngựa theo sát chủ tướng đểđưa Bà ra khỏi nơi nguy hiểm.

Khi biết được mình đã thật sự ở nơi chốn an toàn Hướng Dương và Hải Đường mới hò voi lại rồi cùng kêu lớn:

-Bà Vương! Bà Vương! Chúng ta đã ra khỏi vòng nguy hiểm rồi, xin Bà Vương dừng lại tạm nghỉ đã!

Tới lúc đó Triệu Bà Vương mới như chợt tỉnh. Bà thẫn thờ hỏi:

-Lũ quỉ đã biến mất rồi ư? Ta cứ tưởng ta đã sa xuống chốn địa ngục! Không ngờ ta phải chịu một hình phạt nhục nhã cay đắng đến thế này!

Hướng Dương và Hải Đường đến đỡ Bà Vương xuống voi rồi cùng ngồi dưới một bóng cây tạm nghỉ. Tên nài Xuân Lộc lấy một mớ thức ăn nước uống mang theo trên voi cho ba người dùng nhưng cả ba cũng chỉ uống nước chứ chẳng ăn gì được. Tên nài Xuân Lộc bèn cho con voi cùng hai con ngựa gặm cỏ gần đó. Bà Vương buồn rầu hỏi Hải Đường và Hướng Dương:

-Hai em có rõ quân ta thiệt hại nhiều ít thế nào không?

Hải Đường nói đỡ:

-Dạ, quân ta tuy thất thế nhưng vẫn đang ra sức giao tranh. Chúng em cố theo bảo vệ Bà Vương nên cũng chưa rõ trận chiến đã ngã ngũ như thế nào.

Bà Vương than thở:

-Ta biết chắc trận này quân ta thiệt hại rất lớn. Không ngờ chính ta lại đưa đội quân từng chiến thắng lừng lẫy đến chỗ thảm bại thế này! Coi như trời đã chấm số ta rồi!

Hải Đường an ủi:

-Xin Bà Vương đừng bi lụy nữa. Lũ chó Tàu Ngô nó bày mưu đê tiện để hại ta nhưng bây giờ ta đã biết mưu ấy, chúng không còn giở trò ấy lại được nữa đâu. Chúng ta sẽ phục thù!

Hướng Dương cũng nói:

-Vì sự sống còn của dân tộc, xin Bà Vương trấn tĩnh tinh thần, giữ vững sức khỏe để lãnh đạo ba quân tiếp tục công cuộc cứu nước.

Bà Vương lắc đầu kêu lớn:

-Trời ơi! Trời hại ta rồi! Ta biết từ nay ta không thể nào ra trận được nữa! Công cuộc cứu nước của ta đành bỏ dở thôi! Đáng hận thay cái bọn Tàu Ngô tham tàn! Ta biết ta lắm, ta đã thành kẻ bất lực! Trời hại ta rồi!

Nói được mấy tiếng đó rồi Bà Vương ngất đi. Hải Đường và Hướng Dương cố gắng thoa đắp thuốc men cho Bà Vương. Một hồi sau Bà Vương mới tỉnh lại, nói:

-Ta sắp đi theo anh Quốc Đạt của ta rồi.

Nói xong Bà Vương lại nhắm mắt thiêm thiếp. Hướng Dương nhìn Bà Vương rơi nước mắt than thở:

-Không ngờ một người ý khí can cường, võ nghệ cao siêu như chủ tướng lại có thể trở nên thế này! Ngón đòn của bọn Tàu Ngô độc ác thật! Quả là một nhát đâm xuyên suốt tâm khảm Bà Vương!

Hải Đường nói:

-Bây giờ tốt nhất chúng ta hãy phò chủ tướng về Bồ Điền để Bà tĩnh dưỡng cho qua cơn bệnh đã rồi chuyện gì tính sau!

Thế rồi hai nữ tướng Hải Đường và Hướng Dương đỡ Bà Vương lên bành voi để tiếp tục cuộc hành trình trở về căn cứ Bồ Điền. Vì Triệu Bà Vương đang bệnh, hai nữ tướng phải thay nhau ngồi voi gần Bà để chăm sóc. Trong suốt quãng đường từ đó về tới Bồ Điền, Bà Vương luôn ở trong trạng thái mê man đã làm hai nữ tướng hết sức lo ngại.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 06.09.2018, 13:17
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Dã sử] Đầu voi phất ngọn cờ vàng - Ngô Viết Trọng - Điểm: 10
CHƯƠNG 20


Khi được hai nữ tướng phò về đến căn cứ Bồ Điền, Triệu Bà Vương vẫn còn ở trong trạng thái hôn mê. Mấy vị thầy thuốc quanh vùng liền được mời đến để lo việc chạy chữa. Bệnh Bà Vương có giảm nhưng rất chậm. Trong cơn mê Bà Vương cứ luôn miệng mắng chửi bọn Tàu Ngô gian ác bẩn thỉu. Hai nữ tướng Hải Đường và Hướng Dương phải thay nhau săn sóc cho Bà. Một vị thầy thuốc bảo:

-Uất khí trong người bệnh xông lên quá mạnh, nhất thời khó mà chế ngự được. Phải chữa từ từ, phải có người biết dùng lời dịu ngọt để vuốt ve, an ủi làm cho bệnh nhân cảm thấy an bình, thoải mái bệnh mới dễ thuyên giảm. Kỵ nhất là đừng gợi đến những chuyện không vui làm người bệnh có thể bị khích động.

Khi bốc thuốc và dặn dò hai nữ tướng về cách thức sử dụng, vị thầy thuốc này xúc động nói:

-Triệu Bà Vương là bậc anh thư siêu phàm, tôi vô cùng khâm phục. Nhị vị cô nương cũng là bậc nữ lưu anh kiệt hiếm hoi trên đời. Tôi có đứa con gái tên An Nhi mười lăm tuổi cũng quen việc thuốc thang, tôi muốn đưa nó vào đây trước giúp hai cô nương về việc thuốc thang, sau để nó học hỏi hai cô nương, nhị vị có ưng thuận không?

Hướng Dương đáp:

-Chúng tôi xin cám ơn thầy, nhưng việc này phải thỉnh ý Bà Vương chứ chúng tôi không thể tự quyết định.

Sau đó không thấy ai nhắc lại lời đề nghị của vị thầy thuốc nữa. Hải Đường và Hướng Dương tuân theo lời thầy thuốc, vừa chăm sóc thuốc thang vừa tìm cách khuyên nhủ, an ủi làm cho Bà Vương khuây khỏa. Họ giấu biệt chuyện nghĩa quân đã thua trận khắp nơi và đang co cụm về cố giữ lấy căn cứ Bồ Điền.

Sau khi dùng mưu kế của Kim Biên thắng lớn ở trận Long Hưng, Lục Dận đã triệt để khai thác cái thế đánh chẻ tre, dốc toàn quân đánh như vũ bão vào các đồn lũy của nghĩa quân. Để làm cho Triệu Bà Vương và hai nữ tướng Hải Đường, Hướng Dương không dám xuất trận, Lục Dận đã cho phép quân lính Tàu Ngô tự do lõa lồ khi lâm chiến. Bọn lính Tàu Ngô được thể bắt chước nhau cứ trần truồng mà ra trận ngày càng đông.

Nghĩa quân của Triệu Bà Vương sau trận thua ở căn cứ Long Hưng đã xuống tinh thần rất nhiều. Một số thủ lãnh nghĩa quân từng bị Kim Biên dùng tiền bạc, chức tước để dụ dỗ, mua chuộc trước còn dùng dằng chưa dứt khoát, nay thấy Triệu Bà Vương đã thất thế, liền trở mặt quay về hợp tác với Lục Dận, dắt đường cho quân Tàu Ngô đánh lại nghĩa quân. Những đơn vị nghĩa quân trung thành hoàn toàn bị đẩy vào thế bị động, tan rã lần.

Chẳng bao lâu sau Lục Dận đã tập trung trên năm ngàn quân về bao vây căn cứ Bồ Điền. Biết Triệu Bà Vương rất được lòng nghĩa quân, bên cạnh Bà lại còn nhiều dũng tướng sẵn sàng liều chết chống giữ nên Lục Dận không muốn thí quân. Ông ta chủ trương cứ bao vây căn cứ thật kỹ cho đến khi trong căn cứ cạn lương chắc chắn nghĩa quân sẽ tự rối loạn. Ông ta biết lúc đó không cần đánh ông ta cũng sẽ thắng dễ dàng.

Thấy vòng vây quân Tàu Ngô ngày càng xiết chặt, các tướng trong căn cứ nhiều lần bất ngờ đem quân đánh ra nhưng không lần nào thành công. Quân Tàu Ngô thấy thế càng dể ngươi nên hàng ngày chúng hay rủ nhau lõa thể nằm lăn lóc chung quanh căn cứ để khiêu khích. Tướng sĩ cũng như quân lính bên trong thấy vậy đều uất giận thấu xương nhưng đành phải nhịn nhục.

Tình thế nghĩa quân đã nguy ngập đến vậy mà Triệu Bà Vương vẫn không hề hay biết. Buổi sáng ấy Triệu Bà Vương bỗng tỉnh táo hỏi hai nữ tướng Hải Đường và Hướng Dương:

-Sau khi thua trận ở căn cứ Long Hưng chắc hẳn quân ta phải rút về quận Cửu Chân?

Nữ tướng Hải Đường đáp:

-Thưa đúng. Quân ta phải rút về giữ quận Cửu Chân!

Bà Vương lại hỏi:

-Bọn Tàu Ngô không đánh Cửu Chân sao?

Hải Đường mau miệng:

-Thưa có đánh, nhưng quân ta đã cầm chân được chúng!

Bà Vương có vẻ mừng, hỏi lại:

-Chúng còn dùng cái trò đê tiện như trước đây không?

-Thưa không!

-Thế bây giờ ta đang ở đâu đây?

-Thưa, ở căn cứ Bồ Điền!

-Ở Bồ Điền thì yên tâm đấy. Nhưng bên ngoài chắc các tướng vất vả lắm. Các vị ấy tuy là đàn ông nhưng võ nghệ không thể so bì với hai em được. Ta nhớ ông thầy thuốc có nói muốn cho đứa con gái An Nhi vào đây để săn sóc ta phải không? Nay bệnh ta đã khá rồi, hãy cho An Nhi vào đây săn sóc ta đi! Hai em nên ra ngoài giúp các tướng một tay!

Hai nữ tướng đều bối rối không biết trả lời ra sao. May lúc đó vị thầy thuốc cũng vừa đến nên cả hai vội lảng ra để thầy thăm bệnh. Có lẽ lần này Bà Vương nói chuyện hơi lâu nên mệt người. Khi thầy thuốc khám mạch cho Bà xong thì Bà cũng rơi trở lại giấc ngủ mê man. Vị thầy thuốc nói với hai nữ tướng:

-Uất khí trong người Bà Vương vẫn còn xung quá. Bệnh có thuyên giảm nhưng vẫn chưa thoát ra khỏi tình trạng nguy hiểm. Nhớ phải tuyệt đối giữ gìn đừng để Bà Vương phải lo sợ, buồn bực hay nổi giận.

Vị thầy thuốc vừa đi khỏi, Hải Đường rớm nước mắt nói với Hướng Dương:

-Tội nghiệp Bà Vương! Vì Bà Vương quá tinh khiết, đầy thánh tính, không chịu nổi sự bợn nhơ nên mới ra nông nỗi này! Mình vẫn mong Bà Vương chóng bình phục để cứu vãn tình thế, nhưng bây giờ bệnh Bà Vương vẫn chưa giảm mà vòng vây căn cứ Bồ Điền ngày càng xiết chặt thật nguy quá. Cứ theo đà này trước sau chúng ta cũng chết hết vì bọn Tàu Ngô thôi! Khổ nỗi bọn Tàu Ngô vẫn tiếp tục áp dụng cái trò đê tiện bỉ ổi đó giữa mặt trận khiến dù Bà Vương có lành bệnh chắc cũng phải bó tay. Tôi thấy cần phải chấm dứt cảnh đó mới được! Hôm nay tôi quyết liều mình để trừ những tên dâm ô bẩn thỉu ấy một lần cho chúng chừa. Chị gắng ở lại bảo vệ Bà Vương nhé!

Hướng Dương xúc động nói:

-Chị đã quyết hi sinh như vậy lẽ nào tôi lại không? Để tôi giúp chị một tay! Hai ta phải hợp sức với nhau liều chết trừ tiệt một lần không cho một tên Tàu Ngô nào còn dám giở cái trò bỉ ổi ấy ra nữa! Mình phải nhờ An Nhi vào đây săn sóc Bà Vương thay chúng ta mới được!

Hải Đường khẩn khoản giải thích:

-Không nên, chị có việc khác! Bà Vương rất cần một người bảo vệ trong những giờ phút nghiêm trọng này. Ngoài chị ra không ai có thể giúp Bà Vương được đâu! Chị không thể khinh xuất để Bà Vương chịu nhục thêm một lần nữa! Tôi đi đây!

Không để Hướng Dương kịp nói thêm, Hải Đường mặc áo giáp nhảy lên ngựa phóng ra ngoài đi tìm tướng Ngô Quân. Hướng Dương chỉ còn biết nói vói theo:

-Hải Đường, chị đã quyết định vậy thì chị cứ đi! Tôi sẽ bảo vệ Bà Vương tới cùng! Chúc chị thành công!

Thấy Hải Đường cỡi ngựa mặc giáp đến tìm mình, Ngô Quân ngạc nhiên hỏi:

-Hiền muội định ra trận hay làm gì đấy?

Hải Đường buồn rầu nói:

-Em đến đây để từ giã anh. Bà Vương với em tình nghĩa thầy trò rất nặng. Nay thấy Bà Vương dở chết dở sống chỉ vì cái đòn nham hiểm bẩn thỉu của bọn Tàu Ngô, em không còn chịu được nữa! Em quyết liều thân để trừng trị những tên dâm tặc bẩn thỉu này. Nếu còn gặp lại thân mẫu của em, anh hãy xin người tha thứ cho em cái tội bất hiếu!

Nghe Hải Đường nói vậy Ngô Quân khen:

-Việc em định làm thật chính đáng, thật nghĩa khí! Anh hoàn toàn hoan nghênh. Nhưng hãy từ từ, anh sẽ giúp em một tay! Anh cũng rất đội ơn Bà Vương đã biến cải đời anh từ một tướng cướp núi trở thành một thủ lãnh nghĩa quân yêu nước! Anh cũng rất căm hận bọn Tàu Ngô đã dùng một đòn quá bẩn thỉu để hạ Bà Vương. Chúng ta phải hợp sức rửa nhục cho Bà Vương! Phải tàn sát cho hết những tên Tàu Ngô lõa lồ bẩn thỉu để chúng chừa hẳn cái thói khốn nạn ấy! Uất hận quá rồi, đằng nào cũng chết là cùng! Chúng ta phải hi sinh trước người khác mới bắt chước hi sinh theo.

Hải Đường tươi nét mặt:

-Cám ơn anh. Vậy là em không đến nỗi cô đơn!

Ngô Quân nói với đám nghĩa quân dưới quyền:

-Hôm nay cô nương Hải Đường đã quyết lòng liều chết giết bọn Tàu Ngô để đền ơn Triệu Bà Vương, để đáp nghĩa với non sông, dân tộc! Việc làm này đầy nghĩa khí, rất chính đáng nên ta cũng tình nguyện theo giúp cô nương một tay. Có ai chịu đi theo chúng ta không?

Ngô Quân hỏi đi hỏi lai ba lần. Ban đầu có hơn hai mươi nghĩa quân tình nguyện cùng ra trận. Sau đó con số dần tăng tới hai mươi chín người. Khi thấy không còn ai tình nguyện nữa Ngô Quân liền tập họp nhóm này lại, sai đầu bếp dọn cho họ bữa cơm cuối cùng. Nhân dịp này Hải Đường xin phép Ngô Quân nói với họ đôi lời:

-Thưa các anh em, con người ở đời ai cũng phải qua một lần chết. Hơn thua nhau là ý nghĩa của mỗi cái chết. Hiện nay vòng đai của bọn Tàu Ngô quanh căn cứ Bồ Điền này mỗi ngày mỗi xiết chặt hơn. Vì lương thực trong căn cứ có hạn, nếu cứ cố thủ mãi, dù chúng ta không chết vì gươm đao của giặc thì cũng sẽ chết vì đói. Vậy tại sao chúng ta không chọn một cái chết có ý nghĩa? Triệu Bà Vương là người thầy, người ơn đã dẫn dắt chúng ta từ chỗ tối tăm đến chỗ sáng sủa, đã vạch rõ cho chúng ta thấy lý tưởng của cuộc sống như thế nào. Nay Bà Vương vì việc nước mà mắc phải nạn lớn chúng ta đâu có thể làm ngơ? Chúng ta phải đền đáp tấm ân tình lớn lao của Bà Vương. Hôm nay chúng ta là những chiến sĩ quyết tử, phải diệt trừ cho được bọn lính Tàu Ngô dâm đãng bẩn thỉu. Với những tên giặc khác ta có thể bỏ qua nhưng những tên cố tình đưa hình hài lõa lồ ra trận ta phải giết kỳ hết! Có như vậy bọn chúng mới khiếp sợ mà chừa hẳn cái thói dơ bẩn đó. Hôm nay chúng ta ra trận chỉ có mục đích diệt quân Tàu Ngô để đáp ơn Bà Vương! Các anh em có đồng ý như vậy không?

Đám nghĩa quân cảm tử đồng loạt hô lớn:

-Diệt quân Tàu Ngô, đáp ơn Bà Vương!

-Diệt quân Tàu Ngô, đáp ơn Bà Vương!

-Diệt quân Tàu Ngô, đáp ơn Bà Vương!

Tiếp đó Ngô Quân sai mở kho chiến cụ cho những chiến sĩ này lựa những chiếc áo giáp vừa ý nhất và những vũ khí sắc bén vừa tay để ra trận. Chuẩn bị xong Ngô Quân nói với người coi cửa thành:

-Chúng ta đi đây dù thắng hay bại cũng không có ai trở lại nữa. Ông mở cửa thành cho chúng ta ra xong phải lập tức đóng lại ngay đừng để bọn Tàu Ngô thừa thế lọt vào! Hãy truyền lệnh ta bảo quân sĩ phải gắng giữ thành lũy.

Thế rồi Ngô Quân cùng Hải Đường phóng ngựa đi trước, hai mươi chín chiến sĩ nối bước theo sau. Vì cuộc xuất phát của nghĩa quân quá bất ngờ, một số lính Tàu Ngô đang nằm chơi rải rác chưa kịp ngồi dậy đã bị Ngô Quân và Hải Đường giết tại chỗ. Hai người lại tiếp tục phóng ngựa như bay cứ tìm những tên thân thể trần truồng mà giết. Trong chốc lát mấy chục tên Tàu Ngô lõa thể đã đền tội. Mặc cho hàng trăm tên lính Tàu Ngô khác tỏa ra chống cự nhưng đám nghĩa quân cảm tử vẫn bất chấp, một mực tiếp tục truy diệt những tên lính lõa thể nào họ thấy được. Cuối cùng thì đội quân của tướng Ngô Quân bị vây gọn và bị tiêu diệt sau khi họ đã đổi được hơn hai trăm mạng lính Tàu Ngô trong đó hầu hết là lính lõa thể.

*

Trong căn cứ Bồ Điền dù mất hết hai thủ lãnh quan trọng và một số nghĩa quân nhưng cũng chẳng ai dám để tang công khai vì sợ Triệu Bà Vương biết. Khó ăn nói nhất là Hướng Dương mỗi khi Bà Vương hỏi đến Hải Đường.

Tình thế nghĩa quân ngày càng rối ren thêm. Lương thực trong căn cứ mỗi ngày mỗi cạn, quân sĩ phải giảm khẩu phần rất nhiều. Một số nghĩa quân chịu gian khổ không nổi sinh ra bệnh hoạn, một số khác lại tìm cách bỏ trốn ra ngoài.

Trong khi đó bệnh Triệu Bà Vương vẫn tiếp tục kéo dài. Một hôm hai tướng Trần Vân và Lý Huấn bí mật cho mời Hương Dương đến để bàn việc. Trần Vân nói:

-Sức khỏe của Bà Vương hiện giờ thế nào?

Hướng Dương đáp:

-Chưa được khá. Hằng ngày Bà Vương chỉ ngồi dậy được vài chập.

Trần Vân nói với giọng lo lắng:

-Tình thế trong căn cứ đã đến lúc bi quan nhất. Chúng ta có thể liều chết để đánh một trận sống chết với chúng nhưng còn Bà Vương đó biết làm sao? Hai chúng tôi đã bàn nhau không thể để Bà Vương bị nhục thêm một lần nữa. Cô nương cũng đồng ý điều đó chứ?

Hướng Dương rớm lệ gật đầu:

-Hai vị bàn như vậy là rất phải. Chúng ta không thể để Bà Vương bị nhục thêm một lần nữa. Nhưng vòng vây quân giặc dày đặc như vậy chúng ta làm sao đưa Bà Vương đi đâu được?

Trần Vân nói:

-Chúng tôi đã nghĩ ra cách. Chỉ cần cô nương đã đồng ý là có thể thực hiện được!

Hướng Dương như chợt nhớ ra điều gì, hỏi lại:

-Lúc này bọn chúng còn giở cái trò bẩn thỉu ấy ra nữa không?

Trần Vân nói:

-Không, từ khi xảy ra trận đánh cảm tử của Ngô Quân và cô nương Hải Đường không còn một tên nào dám bày cái trò bỉ ổi đó ra nữa!

-Thế cũng đỡ lo cho Bà Vương phần nào. Xin hai ông cho biết chúng ta sẽ phải hành động ra sao?

Lý Huấn giải thích:

-Tình thế đã bắt buộc chúng ta phải làm gấp việc này không thể diên trì. Cô nương phải giả vờ hẹn với Bà Vương một buổi đi chơi rừng. Khi Bà Vương đồng ý xong cô nương phải báo cho hai chúng tôi biết ngay để hành động. Chúng tôi sẽ chia quân hai đường đánh mạnh vào quân Tàu Ngô. Đương nhiên chúng phải dồn quân về để tiêu diệt chúng tôi. Như vậy là lực lượng của chúng trấn giữ mặt hướng ra núi Tùng sẽ thưa bớt. Đó là cơ hội để cô nương hộ tống Bà Vương thoát ra ngả này!

Hướng Dương rơi nước mắt, giọng uất nghẹn:

-Vậy là hai ông đành hi sinh trước?

Lý Huấn nói:

-Đừng lo cho chúng tôi. Miễn sao cho Bà Vương thoát khỏi tay chúng là chúng tôi mừng rồi! Cô nương gắng thuyết phục được Bà Vương sớm chừng nào tốt chừng nấy.

Hướng Dương thưa:

-Thưa vâng, tôi sẽ cố gắng.

*

Buổi chiều, sau khi cho Bà Vương uống thuốc xong Hướng Dương khen:

-Hôm nay trông Bà Vương có vẻ khỏe.

-Cũng khá hơn mấy hôm trước.

Hướng Dương làm ra vẻ tươi cười:

-Lâu nay không cỡi voi ra trận Bà Vương có buồn không?

-Làm sao không buồn được em? Ta rất mong được chóng khỏe để ra trận lắm chứ!

-Chắc con voi của Bà Vương nghỉ lâu ngày nó cũng buồn. Ngày mai Bà Vương ngự voi ra rừng chơi một vòng cho đỡ chán nhé!

Triệu Bà Vương lộ vẻ mừng nói:

-Ừ, cũng gắng đi thử một vòng xem sao!

Hướng Dương hớn hở nói:

-Vậy thì em chuẩn bị nhé. Ngày mai sau khi Bà Vương uống thuốc buổi sáng xong mình sẽ đi!

Triệu Bà Vương nói:

-Nếu có Hải Đường về cùng đi chắc vui hơn. Mấy ngày rồi không thấy mặt Hải Đường ta cũng nhớ nhớ.

Hướng Dương nói không ngập ngừng:

-Dạ, Hải Đường đang trấn giữ một vị trí khá quan trọng. Chị ấy không thể rời chỗ đó lâu được!

Khi đã định được ngày giờ hộ tống Bà Vương lên núi Tùng, Hướng Dương liền sai người báo cho hai tướng Trần Vân và Lý Huấn biết để phối hợp hành động.

Sáng hôm sau Hướng Dương đã chuẩn bị sẵn mọi thứ cho cuộc xuất hành. Khi được đỡ lên lưng voi, Bà Vương nhìn quanh rồi ngạc nhiên hỏi Hướng Dương đang cỡi ngựa đứng gần đó:

-Đi dạo một vòng cho vui thôi sao em chuẩn bị quân lính đội ngũ chỉnh tề như sắp ra trận vậy?

Hướng Dương cố giấu vẻ xúc động:

-Cũng cho ra vẻ một tí chứ thưa Bà Vương!

Giữa lúc ấy bỗng tiếng reo hò ở đâu vang lên, Bà Vương hỏi:

-Em nghe tiếng reo hò không? Hình như có chuyện gì?

Hướng Dương bình tĩnh đáp:

-Chắc là các tướng đang cho quân sĩ tập dượt đó!

Nói xong, Hướng Dương vung kiếm lên hô lớn:

-Xuất phát!

Tên nài Xuân Lộc nghe lệnh liền thúc voi bước tới. Hướng Dương cũng cho ngựa bước song song bên cạnh. Đội quân khoảng một trăm gươm giáo rỡ ràng vội rẽ làm hai hàng hộ tống hai bên. Đi được một quãng mọi người bỗng thấy một toán lính Tàu Ngô kéo ra chận đường. Hướng Dương quay lại đám quân nhà thét lớn:

-Để ta thanh toán bọn Tàu Ngô này cho! Anh em gắng đưa Bà Vương về núi Tùng!

Thế rồi Hướng Dương múa kiếm xông vào đám lính Tàu Ngô điên cuồng đâm chém. Con voi Bà Vương cỡi hình như cũng ngứa nghề rống lên một tiếng. Bọn giặc hoảng sợ tránh ra đổ dồn lại vây Hướng Dương. Thế là đoàn người kia cứ tiếp tục tiến về phía trước. Bà Vương thấy vậy ngạc nhiên kêu:

-Dừng lại! Sao không phụ với Hướng Dương giết giặc mà định bỏ đi đâu đây?

Khi đó tên nài Xuân Lộc mới lên tiếng:

-Việc gấp rồi, xin Bà Vương cứ đi rồi con sẽ thưa chuyện sau!

Bà Vương quắc mắt hỏi Xuân Lộc:

-Em định phản ta sao? Thế này là thế nào? Nếu em muốn giết ta thì cứ giết tại đây đi. Ta sẽ không đi đâu nữa!

Xuân Lộc bỗng khóc oà:

-Xin Bà Vương bình tĩnh, con không đời nào dám phản Bà Vương đâu! Nhưng chúng ta không còn đường về! Giờ này chắc quân Tàu Ngô đã chiếm căn cứ Bồ Điền rồi. Chính hai tướng Trần Vân và Lý Huấn đã cố đánh một trận sống chết nhằm thu hút quân giặc tập trung lại đó để rảnh đường cho chúng ta thoát thân đấy!

Nghe Xuân Lộc nói xong, Bà Vương hiểu ngay, Bà rơi nước mắt nói:

-Và bây giờ thì Hướng Dương cũng liều chết cản giặc cho chúng ta đi?

Xuân Lộc nói:

-Thưa Bà Vương, đúng vậy. Hướng Dương cô nương đã dặn trước mọi người phải đưa cho được Bà Vương lên núi Tùng!

-Vậy sao? Ta không ngờ lại lâm vào tình trạng này! Thế em có biết tướng Ngô Quân và Hải Đường giờ ở đâu không?

-Thưa, cả hai người đều đã tử trận!

Bà Vương kêu lên:

-Quả thật trời hại ta rồi!

Thế rồi Bà Vương lịm đi trên bành voi. Vì sợ quân Tàu Ngô đuổi theo, đoàn người không dám ngừng nghỉ để săn sóc Bà Vương. Xuân Lộc ngồi ở đầu voi chỉ biết thỉnh thoảng quay lại trông chừng. Khi đoàn người lên tới núi Tùng thì Bà Vương cũng vừa tỉnh lại. Đám nghĩa quân dựng tạm một cái chòi lợp lá cho Bà Vương nghỉ.

Đêm ấy Bà Vương không chợp mắt được. Bà cứ nằm thao thức đợi Hướng Dương nhưng mãi tới sáng vẫn không thấy bóng Hương Dương đâu…

Khi mặt trời đã lên cao, nài Xuân Lộc mang cháo và thuốc đến nhưng Bà Vương không uống. Bà nói muốn dạo quanh núi một chốc cho khuây khỏa. Xuân Lộc cùng mấy nghĩa quân chiều ý dẫn Bà đi quanh một vòng. Khi đến một bờ dốc, Bà Vương ngắm dòng nước chảy quanh những mỏm đá ở phía dưới một lúc rồi khen:

-Phong cảnh ở đây sao đẹp quá thế này!

Rồi bất ngờ Bà quay lại khoát tay nói:

-Thôi, xin vĩnh biệt tất cả!

Mọi người hoảng hốt toan cản Bà lại thì thân thể Bà Vương đã gieo xuống hố thẳm.

Trong lúc mọi người chưa biết làm gì thì con voi của Bà Vương ré lên một tràng dài rồi lao thẳng vào rừng sâu… Một số nghĩa quân đã cố gắng leo xuống hố mang thi thể của Bà Vương lên để chôn cất. Sau đó, một số đã bỏ đi, một số khác ở lại coi sóc mộ Bà Vương vài ngày rồi rủ nhau gieo mình xuống hố mà chết cả.

Lúc bấy giờ Triệu Bà Vương chỉ mới hai mươi ba tuổi!

Cảm kích tinh thần hi sinh vì nước vì dân của Bà Vương, nhiều nơi dân chúng đã tự động đóng góp tiền của để lập đền thờ Bà.

*

Theo truyền thuyết dân gian, sau khi đã phá được căn cứ Bồ Điền, Thứ sử Lục Dận thông báo sẽ thưởng lớn cho ai bắt sống hoặc giết được Triệu Bà Vương. Khi biết được Triệu Bà Vương đã chạy lên núi Tùng, Lục Dận liền thân hành đem quân đuổi theo. Lục Dận quyết lòng phải bắt sống hoặc chém cho được thủ cấp của Triệu Bà Vương để dâng về Kiến Nghiệp. Thế nhưng khi Lục Dận vừa lên núi Tùng thì trời đất bỗng u ám rồi một cơn gió ào ào lạnh buốt thổi đến làm y rùng mình. Đám quân sĩ đi theo Lục Dận bỗng hoảng hốt kêu la xô đẩy nhau tháo chạy. Lục Dận nổi giận toan mở miệng quở trách bỗng y thấy một nữ tướng mặc giáp vàng oai phong như thiên thần cỡi trên đầu một con voi trắng khổng lồ, hai bên có hai nữ tướng cỡi ngựa, từ trên mây đang sà xuống… Kinh hãi quá, Lục Dận vội nhảy xuống ngựa quì lạy lia lịa:

-Kính lạy Bà Vương và chư thần, bản quan chỉ là kẻ vâng mệnh sai khiến của thiên tử mà đến đây chứ không có lòng dám xúc phạm đến Bà Vương và chư thần. Cúi xin Bà Vương và chư thần bớt cơn thịnh nộ!

Lục Dận khấn xong thì gió bỗng lặng và bầu trời cũng trong sáng trở lại. Lục Dận mừng quá vội lên ngựa sãi xuống chân núi họp quân sĩ lại rồi truyền lệnh:

-Triệu Bà Vương đã thành thần rồi, chúng ta rút lui thôi!

*

Gần 300 năm sau, năm Giáp Tý (544), khi vua Lý Nam Đế đã giành lại được nước, ngài khen Bà là bậc anh thư kiệt xuất, cho sửa lại miếu thờ và sắc phong cho Bà làm “Bật Chính Anh Liệt Hùng Tài Trinh Nhất Phu Nhân”.

- HẾT -


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 06.09.2018, 13:23
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Dã sử] Đầu voi phất ngọn cờ vàng - Ngô Viết Trọng - Điểm: 10
PHỤ LỤC


Triệu Thị Trinh - nữ danh tướng kiệt xuất của sự nghiệp đánh đuổi quân Ngô

"Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp ngọn sóng dữ, chém cá tràng kình ở ngoài biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, cởi ách nô lệ cho nhân dân chứ quyết không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta" - Truyền thuyết về Bà Triệu ở vùng Thanh Hoá và Đại Nam nhất thống chí (Thanh Hoá tỉnh - tập hạ)

1.NHỮNG TRANG BI THƯƠNG MỚI CỦA LỊCH SỬ

Sau thất bại của Trưng Nữ Vương, một cuộc trả thù đẫm máu chưa từng thấy đã diễn ra trên khắp cõi, đặc biệt là ở khu vực quận Giao Chỉ. Hàng vạn người bị giết hoặc bị bỏ đi đày viễn xứ. Chính sử của Trung Quốc cũng đã công khai thừa nhận tội ác này:

- Chỉ tính riêng ở quận Cửu Chân, nơi cách khá xa trung tâm của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Mã Viện đã giết đến hơn 5.000 người.

- Hơn 300 tuỳ tướng của Hai Bà Trưng bị Mã Viện bắt đi đày sang tận Linh Lăng (Phạm Việp (Trung Quốc). Hậu Hán Thư. Súc Ấn Bách Nạp Bản. Thương Vụ Ấn Thư Quán).

Việc trả thù tàn bạo còn kéo dài trong nhiều năm sau đó. Không khí nghi kỵ và chết chóc bao trùm lên khắp mọi miền đất nước. Bấy giờ, nhà Hậu Hán quyết tâm xoá sạch dư âm quyền lực của đội ngũ quý tộc bộ lạc cũ bằng cách đưa người Trung Quốc sang nắm giữ chính quyền đến tận cấp huyện và bãi bỏ hoàn toàn những quy định cũ về việc dùng Lạc tướng trông coi các huyện. Chế độ trực trị hà khắc của quan lại nhà Hậu Hán đã nhanh chóng được thiết lập. Trong điều kiện khó khăn chồng chất như vậy, phong trào đấu tranh của nhân dân các địa phương thuộc quận Giao Chỉ cũ buộc phải tạm thời lắng xuống, nhưng, thay vào đó là sự trỗi dậy rất mạnh mẽ của những phong trào ở khu vực phía Nam mà đặc biệt là tại quận Nhật Nam. Theo ghi chép của chính sử Trung Quốc (Phạm Việp (Trung Quốc). Hậu Hán Thư. Súc Ấn Bách Nạp Bản. Thương Vụ Ấn Thư Quán) thì chỉ tính riêng trong thế kỷ II, vùng Nhật Nam đã liên tiếp bị chấn động dữ dội bởi những cuộc vùng dậy có quy mô rất lớn sau đây:

- Năm 100: trên 2.000 dân Tượng Lâm (cực Nam của quận Nhật Nam) đã đồng lòng khởi nghĩa. Chính quyền đô hộ nhà Hậu Hán phải huy động đông đảo quân sĩ ở các quận huyện khác tới đàn áp khá lâu mới dập tắt được.

- Năm 136: dân Tượng Lâm mà đông đảo nhất là người Chăm đã lại nhất tề nổi dậy, đánh cho bọn quan lại đô hộ của nhà Hậu Hán một phen thất điên bát đảo.

- Năm 137: Một cuộc bạo động rất lớn của nhân dân quận Nhật Nam đã nổ ra. Nhiều quan lại đô hộ của nhà Hậu Hán bị giết chết, Thứ Sử Phàn Diễn phải huy động đến hơn 10.000 quân đi đàn áp liên tiếp trong hơn một năm trời. Cuộc bạo động này đã khiến cho cả triều đình Hán Thuận đế phải hốt hoảng (Hán Thuận đế (125-144) là hoàng đế thứ 7 của nhà Hậu Hán. Theo ghi chép của Phạm Việp (Trung Quốc) trong Hậu Hán Thư thì bấy giờ, Hán Thuận đế đã phải triệu tất cả công, khanh cùng trăm quan về họp để bàn kế sách ứng phó. Nhiều người đề nghị phải huy động ít nhất là 40.000 quân tinh nhuệ đi đàn áp mới mong bình định được, nhưng đại tướng Lý Cố đã đưa ra 7 lý do không nên đem đại quân đi, bởi vì theo Lý Cố thì "Nay ở Nhật Nam quân ít, lương cạn, giữ chẳng được mà đánh cũng chẳng xong", cho nên, tốt nhất là phải dùng kể kết hợp giữa dụ dỗ, mua chuộc với ly gián. “Phải chiêu mộ dân Man đi làm lính để chúng tự đánh lẫn nhau. Ta nên chở vàng lụa tới cấp cho chúng. Kẻ nào làm được kế phản gián, lấy được đầu giặc thì nên phong cho hắn tước hầu rồi cắt đất mà thưởng cho". Rốt cuộc, Hán Thuận đế đã nghe theo kế hoạch hiểm độc của Lý Cố).

- Năm 144: được sự ủng hộ của nhân dân quận Cửu Chân, nhân dân quận Nhật Nam lại nổi lên, tấn công vào tất cả trị sở của bọn đô hộ. Một lần nữa, nhà Hậu Hán phải dùng nhiều thủ đoạn xảo quyệt khác nhau mới đè bẹp được.

- Năm 190: Dưới sự lãnh đạo của Khu Liên (Trong các thư tịch cổ, Khu Liên có khi còn được chép là Khu Quỳ, Khu Đạt hay Khu Vương. Có lẽ cũng tương tự như Hùng Vương trong lịch sử người Việt. Khu Liên không phải là tên người mà rất có thể là phiên âm Hán-Việt của từ kurung (trong một số ngôn ngữ có ở vùng Đông Nam Á, kurung có nghĩa là tộc trưởng hay người đứng đầu). Về tên gọi của vương quốc do Khu Liên lập nên, thư tịch cổ của Trung Quốc chép là Lâm Ấp. Lịch Đạo Nguyên (Trung Quốc) trong Thủy Kinh Chú giải thích rằng, Lâm Ấp chính là Tượng Lâm, sau bỏ chữ Tượng đi mà gọi là Lâm Ấp. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, hai chữ Lâm Ấp có thể là do phiên âm của tên tộc người, đó là tộc Krom hay Prum - tộc người chủ yếu của bộ lạc Dừa), dân vùng Tượng Lâm của quận Nhật Nam (mà chủ yếu là người Chăm) đã tổ chức một cuộc khởi nghĩa rất lớn. Họ đã giết được Thứ sử của nhà Hậu Hán là Chu Phù và bọn quan lại của nhà Hậu Hán ở các huyện. Năm 192, Khu Liên lên làm vua, vương quốc của người Chăm (Trong cộng đồng 54 các dân lộc anh em của Việt Nam, có dân tộc Chăm với 4 nhóm chính là Chăm Bà-la-môn, Chăm Ba-ni, Chăm Islam và Chăm Hơ-roi, mà địa bàn cư trú chủ yếu hiện nay là vùng Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh, Tây Ninh và An Giang) được dựng lên kể từ đó.

Như trên đã nói, từ giữa thế kỷ II, tức là kể từ thời trị vì của Hán Hoàn đế (146-167) trở đi, chính sự của nhà Hậu Hán ngày càng rối ren. Sang thời Hán Linh đế (168-189), nguy cơ sụp đổ hoàn toàn của nhà Hậu Hán đã thể hiện ngày một rõ. Bọn hoạn quan rồi kế đến là bọn quyền thần (mà đứng đầu là Đống Trác) mặc sức hoành hành. Tháng 10 năm 220, Hán Hiến đế bị giết, nhà Hậu Hán đến đó là cáo chung và Trung Quốc lâm vào một thời kỳ hỗn chiến loạn lạc rất nghiêm trọng, sử gọi đó là thời Tam Quốc. Đây là thời tranh hùng quyết liệt giữa 3 tập đoàn lớn:

1.Ngô tứcĐông Ngô (222-280): do Tôn Quyền (tức Ngô Đại đế) dựng lên. Nước Ngô của họ Tôn tồn tại trước sau tổng cộng 58 năm, truyền nối được 4 đời. Lãnh thổ của nước Ngô ở phía Đông Nam của Trung Quốc. Kinh đô ban đầu của nước Ngô ở Vĩnh Xương, sau chuyển về Kiến Nghiệp (nay là Nam Kinh của Trung Quốc).

2.Thục (221-263): do Lưu Bị (tức Thục Chiêu Liệt đế) dựng lên với lãnh thổ chủ yếu là vùng Tứ Xuyên của Trung Quốc ngày nay. Kinh đô của nước Thục là Thành Đô (ở phía Bắc của Tứ Xuyên). Nước Thục của họ Lưu tồn tại trước sau tổng cộng 42 năm, truyền nối được 2 đời.

3.Ngụy (220-265): do Tào Phi (tức Ngụy Văn đế) dựng lên. Lãnh thổ của nước Ngụy là toàn bộ khu vực rộng lớn ở phía Bắc Trung Quốc. Kinh đô của nước Ngụy là Lạc Dương. Nước Ngụy của họ Tào tồn tại trước sau tổng cộng 45 năm, truyền nối được 5 đời.

Trong số 3 nước tranh hùng của thời Tam Quốc, nhà Ngô đã thay thế nhà Hậu Hán đô hộ nước ta. Để có đủ sức người và sức của cung đốn cho cuộc hỗn chiến tàn khốc này, nhà Ngô đã tiến hành bóc lột nhân dân ta thậm tệ chưa từng thấy.Trong hơn 1000 năm mất nước, không triều đại phong kiến Trung Quốc nào để lại dấu ấn đô hộ tàn bạo đến mức khủng khiếp như nhà Ngô nên trong tâm khảm bất diệt của tất cả các thế hệ nhân dân ta, hễ nói đến giặc phương Bắc thì hầu như bất cứ ai cũng đều căm giận mà gọi đó là giặc Ngô, dẫu khi hung hãn tràn sang xâm lược nước ta, quốc hiệu của chúng là gì.

Đối với đất Giao Châu, đánh giá chung của chính quyền nhà Ngô là "đất rộng, người đông, hình thế hiểm trở và độc hại, dân xứ ấy thường hay làm loạn, rất khó cai trị", cho nên, chính sách bao trùm của nhà Ngô là phải “dùng binh uy để ức hiếp". Bởi chính sách bao trùm này, nhà Ngô đã bắt hàng ngàn đinh tráng của nước ta, đem xích lại rồi dẫn sang đất Ngô để bắt làm lính chiến. Chính sử của Trung Quốc cũng phải thừa nhận rằng: "Giặc Ngô chính hình bạo ngược, các thứ phủ liễm thu không biết thế nào cho cùng" (Trần Thọ (Trung Quốc). Tam Quốc Chí. Súc Ấn Bách Nạp Bản. Thương Vụ Ấn Thư Quán)

Thời bị nhà Ngô thống trị là thời bi thương của cả dân tộc ta, thời nhân dân ta bị thống trị khắc nghiệt và bị vơ vét tham tàn, thời kẻ thù thắng tay đàn áp một cách đẫm máu, thời nặng nề không khí chết chóc và điêu linh. Nhưng nhìn ở một góc độ khác hơn, thời thuộc Ngô cũng chính là thời các tầng lớp nhân dân ta anh dũng vùng lên, thời ngân vang của những khúc tráng ca đánh giặc cứu nước.

Trong lịch sử đấu tranh chống ách đô hộ và giành độc lập cho nước nhà, nếu đỉnh cao của thế kỷ I là khu vực Giao Chỉ và đỉnh cao của thế kỷ II là vùng Nhật Nam, thì đỉnh cao của thế kỷ III lại là quận Cửu Chân. Thực ra, ngay từ cuối thế kỷ II, nhân dân Cửu Chân cũng đã từng phối hợp chặt chẽ với nhân dân Nhật Nam trong cuộc đấu tranh chống ách thống tri của nhà Hậu Hán. Chính họ đã góp phần không nhỏ vào quá trình tạo lập nên vương quốc của người Chăm (năm 192). Tuy nhiên, chói lọi nhất thế kỷ III vẫn là cuộc khởi nghĩa ở trung tâm quận Cửu Chân do Triệu Thị Trinh phát động và lãnh đạo.

2.HUYỀN THOẠI VỀ TUỔI TRẺ CỦA TRIỆU THỊ TRINH

Khác với Hai Bà Trưng, Triệu Thị Trinh thuộc thế hệ những người đã có họ - họ Triệu. Triệu Thị Trinh (còn có những tên gọi khác như Triệu Trinh Nương, Nàng Trinh hoặc là Bà Triệu) sinh trưởng tại làng Cẩm Trướng, huyện Quân Yên (cũng tức là huyện Quan Yên), quận Cửu Chân. Vào thời nhà Nguyễn, làng Cẩm Trướng thuộc xã Cẩm Trướng (còn có tên khác là xã Cẩm Cầu) huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá. Ngày nay, làng này thuộc xã Định Công, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá. Theo truyền thuyết, Bà sinh ngày 2 tháng 10 năm 226. Quê hương của Bà Triệu cũng chính là quê hương của hai anh em Khương Công Phụ và Khương Công Phục , những người đã có công khai mạch đại khoa nho học cho Thanh Hoá nói riêng và cả nước nói chung (Khương Công Phụ và Khương Công Phục đều đỗ Tiến sĩ dưới thời Đường Đức Tông (779-805). Hai anh em đã cùng nhau sang Trung Quốc, dốc chí học tập rồi thi đỗ Tiến sĩ. Đây là hai người Việt đỗ Tiến sĩ đầu tiên, đỗ ngay khi nền giáo dục và thi cử nho học ở nước ta chưa khai sinh). Bà Triệu mất năm 248, khi mới 22 tuổi. Triệu Thị Trinh là em gái của Huyện lệnh Triệu Quốc Đạt, vì cha mẹ chẳng may qua đời sớm nên Triệu Thị Trinh ở với anh trai. Trước khi dựng cờ khởi nghĩa. Bà Triệu có đến 3 sự nổi tiếng.

• Một là, nổi tiếng xinh đẹp, một vẻ đẹp rất kiêu sa nhưng cũng rất thánh thiện.Đương thời vì ai ai cũng đều thấy Triệu Trinh Nương quá xinh đẹp, bèn nói rằng: "Đẹp như thế thì có thể làm vợ các quan để trở thành bà này bà nọ, ấm thân một đời được chứ". Nhưng Triệu Trinh Nương chẳng những không thèm làm vợ các quan mà còn khảng khái để lại cho đời câu nói đầy khẩu khí anh hùng: "Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp ngọn sóng dữ, chém cá tràng kình ở ngoài biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, cởi ách nô lệ cho nhân dân chứ quyết không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta" (Truyền thuyết về Bà Triệu ở vùng Thanh Hoá. Đại Nam nhất thống chí) (Thanh Hoá tỉnh - tập hạ cũng chép tương tự). Tuy nhiên, trong thư tịch cổ của Trung Quốc (và một số thư tịch cổ của ta đã sao chép lại mà không cân nhắc) dung nhan Bà Triệu được mô tả có phần khác hơn. Điều này chúng tôi xin được bàn đến ở phần sau.

•Hai là, nổi tiếng can đảm và mưu trí hơn người.Truyền thuyết dân gian kể rằng, vùng Cẩm Trướng hồi đó có con voi trắng một ngà và rất hung dữ, thỉnh thoảng lại về phá hoại mùa màng, ai ai cũng phải sợ. Để trừ mối hại cho dân, Bà Triệu đã rủ chúng bạn đi vây bắt con voi trắng một ngà ấy. Bà lùa voi xuống vùng đầm lầy rồi dũng cảm nhảy lên đầu voi, sau đó kiên nhẫn tìm cách khuất phục. Con voi trắng một ngà khét tiếng hung dữ rốt cuộc cũng đã phải ngoan ngoãn vâng theo lời Bà và về sau đã trở thành người bạn chiến đấu rất thân cận và trung thành của Bà.

•Ba là, nổi tiếng thẳng thắn và không bao giờ dung tha kẻ xấu.Truyền thuyết dân gian về Bà Triệu ở vùng Thanh Hoá kể rằng, chị dâu của Bà Triệu (vợ Triệu Quốc Đạt) là một người phụ nữ rất lăng loàn (Cũng có truyền thuyết nói rằng, chính chị dâu của Bà Triệu là kẻ phản bội đầu tiên mật báo cho quân Ngô biết kế hoạch chuẩn bị khởi nghĩa của hai anh em Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh. Triệu Quốc Đạt bị giết, nhưng Triệu Thị Trinh thì thoát được. Trước khi đến Phú Điền, Triệu Thị Trinh đã giết chết chị dâu để cảnh cáo tất cả những kẻ nào nuôi lòng phản trắc), bởi vậy, Bà Triệu mới tức giận, giết chết chị dâu rồi ra ở riêng tại rừng Bồ Điền, khu rừng này về sau đổi là rừng Phú Điền (nay thuộc làng Phú Điền, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá) (Bởi lẽ này nhiều người lầm tưởng đây là sinh quán của Bà Triệu. Đó là chưa nói rằng, ở huyện Ninh Hoá (cũng tức là Yên Hoá) nay là huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình do cũng có đền thờ Bà Triệu nên thư tịch cổ cũng có lúc nhầm tưởng đây là quê hương của Bà Triệu). Đây cũng chính là nơi Bà Triệu đã tụ họp nghĩa quân và phát động cuộc chiến đấu một mất một còn với chính quyền đô hộ nhà Ngô.

Khi Bà Triệu bước vào tuổi thanh xuân thì cuộc hỗn chiến Tam Quốc (Ngô, Thục và Ngụy) cũng đang hồi quyết liệt nhất. Để giữ vững tương quan về thế và lực với 2 nước còn lại, đặc biệt là để có thể tạo ra cơ may làm thay đổi cục diện theo hướng ngày càng có lợi cho mình, nhà Ngô đã tìm đủ mọi cách để vơ vét sức người và sức của trên mọi vùng đất mà chúng đang nắm quyền cai trị. Mâu thuẫn xã hội giữa một bên là toàn thể nhân dân Âu Lạc bị mất nước và bị thống trị tàn bạo với một bên là chính quyền đô hộ của nhà Ngô ngày càng trở nên gay gắt. Nhân lòng căm phẫn của nhân dân và cũng nhân cơ hội trung tâm của phong trào đấu tranh chống nhà Hán đang chuyển dịch dần ra Cửu Chân, từ đất quê hương của mình, Bà Triệu đã phát động và lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa rất lớn.

3.VUNG GƯƠM RA TRẬN

Truyền thuyết dân gian vùng huyện Hậu Lộc (tỉnh Thanh Hoá) có chuyện Núi đá biết nói khá độc đáo, theo đó thì vào một đêm thanh vắng nọ, trên triền đá của núi Tùng ở Phú Điền bỗng có tiếng dõng dạc cất lên rằng:

Có Bà Triệu tướng,
Vâng mệnh trời ta.
Trị voi một ngà,
Dựng cờ mở nước.
Lệnh truyền sau trước,
Theo gót Bà Vương.

Người người nghe lời ấy, ai cũng tin chắc rằng đá trên núi Tùng biết nói. Lời của đá núi được coi là lời sấm ngôn, lời thiêng liêng chuyển tải mệnh trời rằng, Bà Triệu là Thiên tướng giáng trần, là người sẽ ra tay chỉ huy trăm họ vùng dậy cứu nước và cứu dân. Bởi niềm tin sâu sắc ấy, nhân dân khắp nơi đã nườm nượp kéo nhau theo về với Bà Triệu. Núi Tùng từ đó trở thành nơi tụ nghĩa và mãi đến sau này thiên hạ mới vỡ lẽ ra rằng, trước khi chính thức phát động khởi nghĩa, Bà Triệu đã bí mật sai người thân tín leo lên núi Tùng, khoét đá thành hang rồi nhân đêm tối, nấp kín trong hang đá mà đọc thật to mấy câu sấm ngôn nói trên (Truyền thuyết này có lẽ là do người đời sau hư cấu nên, cốt để cắt nghĩa vì sao nhân dân khắp nơi lại nô nức tụ họp với với Bà Triệu nhanh và đông như vậy. Thực tế là Bà Vương hay Lệ Hải Bà Vương là tước hiệu mà nhà Ngô đã dùng để mua chuộc Bà Triệu sau nhiều lên đàn áp bất thành chứ không phải là đã có ngay trong thời kỳ khi Bà Triệu còn chuẩn bị khởi nghĩa). Đặt trong bối cảnh chung của thời cổ và trung đại, việc lợi dụng mê tín của xã hội để rồi khôn khéo tạo ra những sự kiện đầy vẻ huyền bí nhằm tập hợp và cố kết lực lượng cũng là điều thường thấy. Cách làm của Bà Triệu cũng chỉ là một trong những thông lệ thường thấy ấy thôi. Tất nhiên, cơ mưu tạo ra các sự kiện đầy vẻ huyền bí, dù hoàn hảo và đầy sức thuyết phục đến đâu cũng không thể thay thế cho quá trình xây dựng uy tín tự thân và hoàn toàn có thật của Bà Triệu. Nhân dân khắp cõi đương thời đến với Bà Triệu trước hết và chủ yếu cũng bởi uy tín tự thân và hoàn toàn có thật này của Bà.

Phần lớn thư tịch cổ đều nói rằng, toàn bộ công lao chuẩn bị cũng như phát động và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ của nhà Ngô vào năm 248 là của Bà Triệu, nhưng, cũng có vài truyền thuyết dân gian và một số ít thư tịch cổ lại nói rằng Bà Triệu thực ra chỉ là người kế tục sự nghiệp còn dở dang của anh trai Bà - Huyện lệnh Triệu Quốc Đạt. Tài liệu thư tịch, ghi chép điều này rõ hơn cả có lẽ là của Quốc Sử Quán triều Nguyễn. Theo đó thì: "Khi ta nội thuộc nhà Ngô, các quan Thú mục phần nhiều chỉ lo bóc lột, dân không sao chịu nổi, cho nên (Triệu) Quốc Đạt liền nổi binh chống lại. Được ít lâu, ông mất, dân chúng thấy Bà là người có tướng tài, bèn tôn Bà làm Chúa để cầm cự với quân Ngô" (Đại Nam nhất thống chí, Thanh Hoá tỉnh, tập hạ. Tác giả Nguyễn Khắc Thuần xin chú thích thêm rằng, quan thú mục tức là quan lại đứng đầu các địa phương ở dưới cấp quận). Song cứ như lời kể của hầu hết truyền thuyết dân gian thì rất có thể Triệu Quốc Đạt không phải là người khởi xướng, nhưng ít nhất ông cũng là người ủng hộ một cách đắc lực và đầy hiệu quả cả về tinh thần lẫn vật chất cho em gái mình trong cuộc chiến đấu chống quân Ngô. Và ông đã qua đời trước khi cuộc khởi nghĩa phát triển đến đỉnh cao.

Năm 248, từ chân núi Tùng ở khu vực Phú Điền (nay thuộc xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá), Bà Triệu đã hạ lệnh xuất quân, nhất loạt tấn công quyết liệt vào các lỵ sở của quân Ngô tại quận Cửu Chân. Đời truyền rằng: "Bà Triệu ra trận, chân đi guốc ngà, đầu đội nón ngà, lưng thắt dải lụa, ngực che yếm vàng, mình cưỡi bành voi, dáng mạo thật oai phong lẫm liệt" (Truyền thuyết dân gian về Bà Triệu ở vùng Thanh Hoá). Bà Triệu được nghĩa sĩ của mình đồng lòng tôn làm Nhụy Kiều Tướng quân (Cũng có tài liệu nói rằng tên gọi Nhuỵ Kiều Tướng quân (vị nữ tướng quân có vẻ đẹp rất yêu kiều) là do quân Ngô đặt cho Bà Triệu, nhưng, số tài liệu này chỉ chiếm một tỷ lệ rất ít). Và thề sẽ cùng Bà chiến đấu đến cùng với quân Ngô.

Nghe tin Bà Triệu dựng cờ xướng nghĩa. đông đảo nhân dân ở khắp các địa phương mà trước hết là quận Cửu Chân đã nô nức xin theo. Đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ... sức lực và tài nghệ tuy có cao thấp khác nhau nhưng tất cả đều quyết một lòng đánh giặc cứu nước. Lực lượng nghĩa quân của Bà Triệu vì thế mà phát triển rất nhanh. Ca dao Thanh Hoá có câu rằng:

Ru con, con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành con voi.
Muôn coi lên núi mà coi,
Coi Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng.
Túi gấm cho lẫn túi hồng,
Têm trầu cánh kiến cho chồng ra quân.

Khu vực núi Tùng nhanh chóng trở thành đại bản doanh của nghĩa quân Bà Triệu. Dưới chân núi Tùng là một thung lũng nhỏ, được bao bọc bởi dải núi đá vôi thấp. Đây là cửa ngõ phía Bắc của đồng bằng Thanh Hoá, lại nằm gần biển nên có vị trí rất thuận tiện cho cả khi phòng thủ lẫn lúc tổ chức phản công. Hiện trong thung lũng nhỏ ớ dưới chân núi Tùng vẫn còn có những địa danh như:

- Đồng Vườn Hoa (đại bản doanh của Bà Triệu).

- Đồng Xoắn Ốc (một trong những bức thành kiên cố của bộ chỉ huy nghĩa quân).

- Đồng Lăng Chúa (nơi có mộ của Bà Triệu).

Sát bên núi Tùng là núi Chung Chinh, tuy hiện nay dấu tích còn lại nơi đây chỉ rất mờ nhạt nhưng người ta vẫn còn có thể sơ bộ hình dung được vị trí của 7 đồn luỹ cổ mà nhân dân địa phương cho là do lực lượng nghĩa quân Bà Triệu xây dựng nên. Tại 7 đồn luỹ cổ này, đời truyền rằng, Bà Triệu đã từng trực tiếp chỉ huy hơn 30 trận ác chiến với giặc Ngô. Đây cũng chính là một trong những địa phương còn truyền tụng rất nhiều truyền thuyết về Bà Triệu. Trước khi Bà Triệu phát lệnh khởi nghĩa, kẻ đứng đầu chính quyền đô hộ của nhà Ngô ở nước ta là Thứ sử Lữ Đại - viên quan được chính triều đình Ngô Đại đế coi là "cẩn thận, chu đáo và giàu phương lược, mưu kế vỗ về", được tin cậy và đánh giá rất cao, nên mới phong cho Lữ Đại làm Trấn Nam Tướng quân, tước Phiên Ngung hầu (Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ, quyển 4, tờ 3-b). Nhưng, guồng máy thống trị do Lữ Đại cầm dầu cũng chẳng làm dược gì ngoài sự tàn ác. Lữ Đại trở thành kẻ thù không đội trời chung của các tầng lớp nhân dân ta, thành đối tượng tiêu diệt đầu tiên của Bà Triệu.

Thực sự lo sợ, giặc đã tung toàn bộ lực lượng ồ ạt đánh mạnh vào quận Cửu Chân với hy vọng có thể nhanh chóng đè bẹp được nghĩa quân của Bà Triệu, nhưng dù đã cố hết sức mình, chúng cũng không thể nào thực hiện dược điều này. Để chia rẽ nghĩa quân, giặc đã xảo quyệt phong cho Bà Triệu đến chức Lệ Hải Bà Vương (nữ vương xinh đẹp của vùng ven biển), song Bà không một chút xao động. Để mua chuộc Bà Triệu, giặc bí mật sai tay chân thân tín tới gặp và hứa sẽ cung cấp cho Bà thật nhiều tiền bạc, song, Bà cũng chẳng chút tơ hào. Sau hơn nửa năm trời trực tiếp đối địch và cũng là hơn nửa năm trời liên tiếp chịu nhiều thất bại đau đớn, hễ nghe tới việc phải đi đàn áp Bà Triệu là binh lính giặc lại lo lắng đến bạt vía kinh hồn. Bởi vậy, đương thời mới có thơ rằng:

Hoành qua đương hổ dị,
Đối diện Bà Vương nan.

Nghĩa là:

Vung gươm đánh cọp xem còn dễ,
Đối mặt Bà Vương mới khó sao.

Bùng lên trước hết và chủ yếu là ở khu vực quận Cửu Chân nhưng ảnh hưởng mạnh mẽ và rất to lớn của cuộc khởi nghĩa Bà Triệu lại nhanh chóng lan rộng khắp cả Giao Châu, đúng như chính sử của Trung Quốc đã thừa nhận là: "Cả Giao Châu đều chấn động" (Trần Thọ (Trung Quốc). Tam Quốc Chí (Ngô chí).). Bấy giờ, cả triều đình Ngô Đại đế lấy việc mất Giao Châu làm mối lo hàng đầu. Một kế hoạch đàn áp có quy mô lớn, một quyết tâm bình định Giao Châu đã gấp rút được xây dựng. Thử thách của nghĩa quân Bà Triệu vì thế mà trở nên cực kỳ cam go.

4. NGÀN NĂM, THANH KIẾM DÀI CÙNG MẶT TRỜI SÁNG MÃI

Xin được mượn lời dịch của câu thơ chữ Hán Thiên thu trường kiếm dữ nhật quang (Nguyễn Khắc Thuần. Vịnh sử. Nguyên tác Hán văn) làm tiêu đề cho đoạn kết của phần viết về Bà Triệu - người phụ nữ đã lập nên huân nghiệp đối với lịch sử nước nhà. Mặt Trời và Mặt Trăng mãi còn, giang sơn và dân tộc này mãi còn thì tên tuổi bất khuất và thanh gươm đúc bằng chí đại định của Bà Triệu cũng sẽ mãi còn toả sáng.

Nhưng trước khi bàn về đoạn kết của cuộc đời Bà Triệu, có lẽ chúng ta cần trở lại với thực trạng của nhà Ngô và của cuộc chiến đấu ở khu vực núi Tùng giữa thế kỷ III. Bấy giờ, nguy cơ sụp đổ hoàn toàn của chính quyền đô hộ đã xuất hiện ngày một rõ và nếu điều này xảy ra, nhà Ngô thật khó có thể tồn tại trước những cuộc tấn công của hai kẻ thù là Thục và Ngụy. Xuất phát từ nhận thức đó Ngô Đại đế buộc phải điều viên tướng thuộc hàng lừng danh nhất của mình là Lục Dận đi đàn áp Bà Triệu:

Binh qua trải bấy nhiêu ngày,

Mới sai Lục Dân sang thay phiên thần(*)

(Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái.Đại Nam Quốc sử diễn ca)

(*)Thay phiên thần: thay quan đô hộ, chỉ việc Ngô Đại đế cách chức Thứ sử Giao Châu của Lữ Đại mà trao chức này cho Lục Dận - NKT)

Lục Dận là cháu của tướng Lục Tốn - viên lão tướng rất được Ngô Đại đế tin cậy. Trước khi lên đường, Lục Dận dược Ngô Đại đế phong làm Thứ sử Giao Châu, hàm An Nam Hiệu úy. Nhà Ngô giao cho Lục Dận 8000 quân và nhiều tuỳ tướng từng trải thử thách trong nhiều lần xuất trận khác nhau. Đó là cố gắng cuối cùng, cũng là cố gắng cao nhất của chúng. Đến Giao Châu, Lục Dận còn được quyền thống lãnh tất cả lực lượng quân Ngô đã có mặt từ trước và đang tham gia những cuộc đàn áp nghĩa quân của Bà Triệu. Đến Giao Châu, Lục Dận đã có 2 quyết định hệ trọng.

1.Một là tiếp tục thực hiện mưu đồ mua chuộc, nhưng đối tượng chính không phải là Bà Triệu mà là đội ngũ tỳ tướng, những người chỉ huy các đơn vị nhỏ trong lực lượng của Bà Triệu. Lục Dận đã lập luận rất đúng rằng, làm sao chúng có thể mua chuộc được một con người tài cao đức trọng như Bà Triệu. Nhưng Bà Triệu sở dĩ trở nên hùng mạnh vì chung quanh Bà và dưới quyền của Bà còn có biết bao nhiêu con người khác mà nhìn chung là khả năng nhận thức chưa thể sánh với Bà. Mua chuộc được những con người này cũng chính là đã chặt đứt dần vây cánh của Bà Triệu và đẩy Bà Triệu vào thế cô, đến đó, Bà Triệu sẽ không còn là đối thủ đáng sợ nữa. Đời truyền rằng, bởi thủ đoạn rất xảo quyệt này, Lục Dận đã khuất phục được hàng trăm tỳ tướng của Bà Triệu và ngót 5 vạn dân.

2.Hai là bình tĩnh và bí mật cho quân đi do thám để điều tra cho bằng được mặt mạnh và mặt yếu của Bà Triệu, tức là theo đúng tinh thần lời dạy của binh pháp Trung Quốc cổ: "Tri bỉ, tri kỉ, bách chiến bách thắng" (biết người, biết ta, trăm trận trăm thắng) (Tôn Tử (Trung Quốc). Tôn Tử binh pháp). Và trên cơ sở những tin tức mà chúng đã cất công thu lượm được, kết luận cuối cùng của Lục Dận về Bà Triệu là "ái khiết, uý ô" (thích sự sạch sẽ, lịch lãm và nhã nhặn, ghét sự bẩn thỉu, vô lễ và khiếm nhã). Từ kết luận cuối cùng này, Lục Dận đã tổ chức đàn áp theo kiểu nham nhở chưa từng thấy. Sử cũ chép: "Lục Dận dò biết đặc tính Bà Triệu rất ưa sự sạch sẽ và rất ghét sự bẩn thỉu, bèn nghĩ ra một kế rồi mới cho hạ lệnh xuất quân. Khi Bà Triệu cưỡi voi vung gươm ra trận thì thấy tất cả quân Ngô đều trần truồng mà cầm giáo xông thẳng về phía Bà, chẳng khác gì một lũ điên cuồng rồ dại. Bà Triệu thẹn chín cả người, dẫu rất căm tức nhưng Bà cũng đành phải lui quân về một ngọn núi khác ở khu vực Bồ Điền. Sau, Bà hoá ở đây. Năm ấy Bà 23 tuổi" (Đại Nam nhất thống chí, Thanh Hoá tỉnh, tập hạ).

Nói khác hơn, theo lời ghi chép trên thì Bà Triệu tuy là thua trận nhưng vẫn giữ được cái duyên đằm thắm, hiền thục và nết na của một người con gái, giặc Ngô tuy thắng nhưng tiếng xấu về sự nham nhở thì còn mãi với muôn đời. Tiếng xấu ấy càng trở nên nặng nề hơn bởi sau đó, để thoả lòng căm giận, giặc đã không ngừng tìm cách bôi nhọ Bà Triệu. Chúng gọi Bà Triệu là Triệu Ẩu. Trong tiếng Việt cổ, nếu Dạ là từ dùng để chỉ người phụ nữ lớn tuổi mà được kính trọng, thì ngược lại, Ẩu là từ dùng để chỉ người con gái trẻ tuổi mà bị coi thường.

Trong nhiều thư tịch cổ của Trung Quốc (và sau đó đã được một vài thư tịch cổ của ta sao chép lại), thì Bà Triệu có một chân dung rất khác thường: "Tiếng nói nghe như tiếng chuông lớn, thân cao 9 thước, vú dài 3 thước, lưng rộng 10 ôm, mỗi ngày đi nhanh có thể được 500 dặm" (Đại Nam nhất thống chí, Thanh Hoá tỉnh, tập hạ). Thực ra, tổng số huyền thoại về những người phụ nữ có năng lực và hành trạng khác thường trong kho tàng văn học dân gian không phải là ít, nhưng truy cho đến tận cùng căn nguyên thì tất cả những huyền thoại đó đều góp phần chứng tỏ sự bất lực hoàn toàn của giai cấp thống trị tàn bạo trước sức mạnh phản kháng quyết liệt của xã hội do chính những người phụ nữ cầm đầu. Huyền thoại ly kỳ về Bà Triệu có lẽ cũng nằm trong xu hướng phản ánh tận cùng căn nguyên rất rõ ràng này.

Trái với ghi chép của thư tịch cổ, chân dung Bà Triệu trong tình cảm nồng hậu của các thế hệ nhân dân ta thể hiện qua truyền thuyết dân gian, có một vẻ đẹp rất thánh thiện mà cũng thật đoan trang, rất thuỳ mị với mọi người nhưng cũng rất dũng mãnh với kẻ thù. thật xứng đáng với vinh hiệu Nhụy Kiều Tướng quân. Lúc bấy giờ, dù xuất phát điểm của quân Ngô có chứa chất sự lừa mị và xảo quyệt đến mức độ như thế nào đi chăng nữa thì chúng cũng đã hoàn toàn đúng khi định sử dụng mỹ hiệu Lệ Hải đặt trước tước vị Bà Vương để phong cho Bà.

Xét cụ thể từng chi tiết, tất nhiên là có những chỗ hậu thế thật khó mà đồng tình, nhưng xét về tổng thể thì rõ ràng là Quốc Sử Quán triều Nguyễn đã hoàn toàn có lý khi hạ bút viết Lời phê rằng: "Con gái nước ta có nhiều người hùng dũng lạ thường. Bà Triệu Ẩu thật xứng là người sánh vai được với Hai Bà Trưng. Xem thế thì há có phải chỉ Trung Quốc mới có đàn bà danh tiếng như chuyện Thành phu nhân và Nương tử quân mà Bắc sử đã chép đâu. Nhưng nếu nói là vú dài 3 thước thì thật là quái gở và đáng buồn cười lắm" (Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Tiền biên, quyển 3, tờ 9). Tác giả Nguyễn Khắc Thuấn chú thích thêm: Theo Từ Hải từ điển (Trung Quốc) thì Thành phu nhân là vinh hiệu do dân ở khu vực thành Tương Dương đặt cho bà Hàn thị là thân mẫu của tướng quân Chu Tự, người Trung Quốc đời Tấn (265-420). Bà đã tự mình vạch kế hoạch và trực tiếp chỉ huy thực hiện việc tu bổ thành, giúp con đánh lui dược tướng giặc là Phù Phi, giữ vững thành Tương Dương. Nương tử quân là vinh hiệu của Công chúa Bình Dương, con gái Đường Cao Tổ (618-626). Lúc Đường Cao Tổ mới khởi binh chống lại nhà Tuỳ, Bình Dương Công chúa đã cùng với chồng là Sài Thiệu, chiêu mộ và trực tiếp cầm quân giúp cha đánh đổ nhà Tuỳ. Riêng bà là thủ lĩnh của 7 vạn tinh binh. Vì lẽ này, Bình Dương Công chúa được sử sách Trung Quốc tặng cho vinh hiệu là Nương tử quân)

Ở khu vực núi Tùng, mộ của Bà Triệu vẫn được đời nối đời trân trọng gìn giữ, đền thờ Bà Triệu đã gần 20 thế kỷ qua vẫn nghi ngút khói hương. Tên tuổi và sự nghiệp của Bà Triệu đã trở nên bất diệt với vạn cổ thử giang sơn (muôn đời sông núi này) (Chữ của Trần Quang Khải trong bài cảm khái ông viết sau trận đại thắng quân Mông Nguyên xâm lược nước ta lần thứ hai (1285) và mãi mãi toả sáng trong sử sách cũng như trong ký ức của các thế hệ nhân dân yêu nước:

Tùng sơn nắng quyện mây trời,
Dấu chân Bà Triệu rạng ngời sử xanh.

Nguồn:Danh tướng Việt Nam - Tập 4 / Nguyễn Khắc Thuần.-H.: Giáo dục, 2005.

Bà Triệu .Bách Việt trùng cửu .

Sau khởi nghĩa của Trưng Vương: “Quý Mão, (Trưng Vương, năm thứ 4), Mùa xuân, tháng giêng, Trưng Nữ Vương cùng em gái là Nhị chống cự lại với quân nhà Hán, thế cô, đều thua chết. Mã Viện đuổi theo đánh quân còn sót là bọn Đô Dương. Đến huyện Cư Phong thì (bọn Đô Dương) đầu hàng, (Viện) bèn dựng cột đồng làm giới hạn cuối cùng của nhà Hán.”

Chỉ một thời gian ngắn sau cũng tại Cư Phong – Cửu Chân nổ ra khởi nghĩa của Chu Đạt chống lại chính quyền Đông Hán. Chu Đạt chiêu mộ dân binh vây giết chết huyện lệnh, giải phóng toàn bộ quận Cửu Chân rồi tấn công quận trị Tư Phố giết chết thái thú Nghê Thức nhà Đông Hán. Cuộc khởi nghĩa tập hợp lực lượng có tới 5.000 người, quản trị Cửu Chân được 4 năm.

Điều lạ là cuộc khởi nghĩa Chu Đạt chỉ được sử Trung Quốc ghi lại mà sử Việt không hề nói tới. Ở Cửu Chân, sử Việt chỉ nói tới khởi nghĩa của … Triệu Quốc Đạt, anh của Bà Triệu.

- Chu hay Châu = Chúa

- Triệu = Chúa.

Chu Đạt chỉ là tên khác của Triệu Quốc Đạt. Đạt hay Đoạt là quẻ Đoài chỉ hướng Tây. Cư Phong là Cả Phong, cũng là vua hướng Tây.

Vua Đông Hán cử đô úy Ngụy Lãng đem quân đàn áp, buộc Chu Đạt phải lui vào Nhật Nam. Tại đây thanh thế nghĩa quân mạnh lên, lực lượng lên tới hàng vạn người.

Như vậy Chu Đạt hay Chúa Đạt cũng chính là Đạt Vương của người Choang ở Quảng Tây (Nhật Nam).

Việc xác định Chu Đạt là Triệu Quốc Đạt cho thấy khởi nghĩa của Bà Triệu chống lại giặc Ngô là giặc phương Bắc - Đông Hán chứ không phải nước Đông Ngô của Tôn Quyền. Với sự rút lui của Đô Dương về Cư Phong – Cửu Chân thì có thể thấy khởi nghĩa Chu Đạt – Triệu Quốc Đạt là phần nối tiếp khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Bà Triệu cưỡi voi trắng ra trận là nối tiếp ngai vàng của nước Tượng – Đinh – Tây của Trưng Vương chống lại giặc Ngô – Hán.

Theo truyền thuyết Việt thì Bà Triệu hy sinh ở núi Tùng (Tượng), Phú Điền - Hậu Lộc – Thanh Hóa. Tại đây có lăng và đền thờ Bà Triệu. Thần tích còn chép Lý Nam Đế khi hành quân qua đây đi dẹp giặc Lâm Ấp được Bà Triệu hiển linh phù trợ. Điều này khá kỳ lạ vì theo sử Việt Lý Nam Đế không hề thân chinh xuống phương Nam mà sai Lý Phục Man / Phạm Tu đi dẹp giặc. Vậy mối liên hệ giữa Bà Triệu và Lý Nam Đế là gì?

Phấn tích đương niên, chính khí phôi thai Tiền Lý Đế
Triệu nhân tư thổ, thần cao đối trĩ Nhị Trưng Vương.

Dịch:

Hùng tích năm nào, chính khí dẫn sinh triều Lý Đế
Kính chúa đất nọ, linh thần tương sánh vị Trưng Vương.

Theo sử hiện tại thì khởi nghĩa của Lý Bí nổ ra sau khởi nghĩa Bà Triệu hơn 300 năm, ở Giao Chỉ. Vậy mà khởi nghĩa Bà Triệu ở Cửu Chân lại là “phôi thai Tiền Lý Đế”. Câu đối này cho thấy khởi nghĩa của Bà Triệu đã dẫn đến cuộc khởi nghĩa tiếp theo của Lý Bí - Lý Phật Tử.

Ở đền Bà Triệu tại Thanh Hóa còn nhắc đến “ba anh em họ Lý” người Bồ Điền, quê ngoại của Bà Triệu (mẹ Bà Triệu họ Lý). Ba anh em Lý Hoằng (Lý Hoàng?), Lý Mỹ, Lý Thành là những người đã tham gia khởi nghĩa với Bà Triệu từ ngày đầu, giúp Bà Triệu lập bảy đồn lũy ở Bồ Điền, chiến đấu cho tới phút cuối cùng. Ba anh em họ Lý được thờ cùng Bà Triệu tại đền ở Hậu Lộc.

Câu đối:

Nhất thốc sùng từ, Na Lĩnh căn cơ kim Tượng Lĩnh
Thiên thu thắng tích, Phú Điền phong cảnh cổ Bồ Điền.

Dịch:

Một nóc đền cao, nền Na Lĩnh nay là Tượng Lĩnh
Nghìn thu dấu tích, cảnh Phú Điền xưa chính Bồ Điền.

Ba anh em họ Lý như vậy là những tướng lĩnh quan trọng trong cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu. Có thế đây chính là anh em Lý Thiên Bảo – Lý Phật Tử, những người làm nên nhà Thục sau này.

Vào thời gian cuối nhà Đông Hán, sử Việt còn nói đến một cuộc khởi nghĩa khá lớn của Lương Long (178-181). Lương Long “lãnh đạo nhân dân các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố chống lại chính quyền đô hộ Đông Hán. Lực lượng nghĩa quân lên tới hàng vạn người, liên kết với người Ô Hử (tổ tiên người Tày) ở biên giới Việt-Trung, người Choang ở Quảng Tây, thái thú quận Nam Hải là Khổng Chi nên thanh thế rất mạnh, nổi dậy đánh chiếm được các quận huyện và nhiều vùng đất từ Giao Chỉ đến Hợp Phố và từ Cửu Chân đến Nhật Nam. Thứ sử Giao Châu là Chu Ngung phải đóng cổng thành cố thủ và xin viện binh. Mùa hè năm 181 Đông Hán vương cử huyện lệnh Lan Lăng là Chu Tuấn mang 5000 quân sang đánh dẹp, cuộc khởi nghĩa bị dập tắt.”

Lương Long có lẽ là Lang Lương, tức là vua của người Tày – Nùng (Ô Hử - Choang) ở phía Đông.

Khởi nghĩa Lương Long nổ ra trên một địa bàn rất rộng từ Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, Quảng Tây, Nam Hải, không kém gì khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Khởi nghĩa làm chủ đất nước cũng 4 năm. Khởi nghĩa lớn như vậy mà nhà Hán chỉ cử “huyện lệnh Lan Lăng” Chu Tuấn mang có 5000 nghìn quân thì đánh dẹp làm sao được? Phải chăng Chu Tuấn đây chính “Hữu trung lang tướng Chu Tuấn”, người được cử đi đánh dẹp khởi nghĩa Khăn Vàng? Khởi nghĩa Lương Long là một phần của khởi nghĩa Khăn Vàng?

Phải chăng Lương Long là Dương Đình Nghệ trong sử Việt, người theo sử chép có hàng nghìn con nuôi. Một trong số con nuôi đó là Ngô Quyền. Dương là chỉ phương Đông. Đình Nghệ hay Diên Nghệ có lẽ là một danh hiệu tôn xưng. Dương Diên Nghệ và Lương Long rất cận nghĩa.

Nếu khởi nghĩa của Chu Đạt – Bà Triệu mở đầu cho nhà Thục của Lưu Bị - Lý Phật Tử ở phía Tây thì khởi nghĩa Lương Long ở phía Đông có thể là nguồn gốc nhà Đông Ngô của Tôn Quyền.

Văn Nhân góp ý .

Cuộc khởi nghĩa Khăn vàng do bà Trưng bà Triệu lãnh đạo không hề chết Yểu mà ngược lại phải nói là Thành công rực rỡ , Sử Tàu có bẻ cong bẻ quẹo cắt đoạn thế nào chăng nữa người ngày nay vẫn thấy ....chí ít thì dòng Bách Việt cũng làm chủ được phương nam (ngày nay) với 2 quốc gia Tây Thục và Đông Ngô , cái gọi là Thời Tam quốc thực ra chỉ là tập 2 ...của cuộc khởi nghĩa Trưng vương mà thôi . Than ôi ! oanh liệt 1 thời nhưng tiếc thay ...cơ trời vận nước nên ...anh hùng đành ôm hận nghìn thu mà thác xuống tuyền đài. ...mãi đến 300 năm sau thì Vũ văn Giác vua nhà Bắc Châu mới lại ....học theo Hán - Trung hoa (? Nguyên văn của sách sử Tàu) mà chế triều nghi ???.

Tuổi trẻ huyền thoại của Bà Triệu, nghìn năm hậu thế còn ngưỡng phục

Sau cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng chống ách đô hộ nhà Hán, hơn hai trăm năm sau, vào thế kỷ thứ II, có một người phụ nữ không chịu cam tâm cúi đầu làm nô lệ phương Bắc mà chỉ huy nghĩa quân đánh đuổi giặc Ngô. Người phụ nữ anh hùng đó là Triệu Thị Trinh.

Nữ tướng yêu kiều như nhuỵ hoa

Triệu Thị Trinh (còn có những tên gọi khác như Triệu Trinh Nương, Nàng Trinh hoặc là Bà Triệu) sinh ngày 2 tháng 10 nǎm 226 (Bính Ngọ) tại vùng núi Nưa thuộc đất Trung Sơn, quận Cửu Chân (nay thuộc huyện Triệu Sơn tỉnh Thanh Hóa), trong một gia đình hào trưởng.

Quê hương của Bà Triệu cũng chính là quê hương của hai anh em Khương Công Phụ và Khương Công Phục, những người đã có công khai mạch đại khoa nho học cho Thanh Hoá nói riêng và cả nước nói chung (Họ đã dốc chí học tập rồi thi đỗ tiến sĩ dưới thời Đường Đức Tông (779-805). Bà Triệu mất năm 248, lúc mới 22 tuổi.

Đến nay chuyện Bà Triệu từ thế kỷ thứ II vẫn còn hằn đậm trong tâm thức mỗi người Việt Nam với lòng ngưỡng mộ và tự hào. Bà được bao phong là Bột Chính Anh Liệt Hùng Tài Trinh Nhất Phu nhân qua nhiều thời đại. Đền thờ Bà hiện nằm trên đỉnh núi Tùng thuộc thôn Phú Điền, nay là xã Triệu Lộc huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa, là di tích lịch sử quan trọng của quốc gia như một bằng chứng về niềm tự hào và tôn vinh người phụ nữ liệt oanh của dân tộc Việt Nam.

Triệu Thị Trinh (còn có những tên gọi khác như Triệu Trinh Nương, Nàng Trinh hoặc là Bà Triệu) sinh ngày 2 tháng 10 nǎm 226 (Bính Ngọ) tại vùng núi Nưa thuộc đất Trung Sơn, quận Cửu Chân. (Ảnh: youtube.com)

Bấy giờ nước ta nội thuộc nhà Ngô. Khi Bà Triệu bước vào tuổi thanh xuân thì cuộc hỗn chiến Tam Quốc (Ngô, Thục và Ngụy) cũng đang hồi quyết liệt nhất. Lúc ấy nhà Ngô đang tìm mọi cách vơ vét sức người và sức của, khiến mâu thuẫn xã hội càng trở nên gay gắt, lòng dân càng thêm căm phẫn, trung tâm phong trào đấu tranh chống nhà Hán cũng chuyển dịch dần ra Cửu Chân.

Từ đất quê hương của mình, năm 248, Triệu Quốc Đạt – anh trai Triệu Thị Trinh – đã đứng lên tập hợp lực lượng khởi nghĩa. Triệu quốc Đạt không muốn em gái mới 19 tuổi của mình tham gia, bèn khuyên em ở nhà lấy chồng. Bà Triệu cứng cỏi đáp: “Em muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp ngọn sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông chứ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người”. Câu trả lời ấy đã thể hiện một khí phách anh hùng, một nhân cách ngạo nghễ hiếm có ở một người con gái.

Triệu Thị Trinh đã cùng anh tập hợp nghĩa quân trên núi Nưa rồi kéo quân đánh hãm thành ấp khiến châu quận rối động. Quan quân đô hộ nhiều lần tìm cách đánh dẹp nhưng không dẹp nổi. Đúng lúc nghĩa quân đang hừng hực khí thế thì Triệu Quốc Đạt bất ngờ qua đời.

Không để quân sĩ mất tinh thần, Triệu Thị Trinh thay anh tiếp tục ngồi trên đầu voi chỉ huy nghĩa quân. Từ đó Bà được quân sĩ tôn gọi là Vua Bà. Hình ảnh Vua Bà – Bà Triệu là Nhuỵ Kiều tướng quân (vị tướng yêu kiều như nhuỵ hoa), mặc áo ngắn giáp vàng, chít khǎn vàng, đi giày mũi cong, dũng mãnh cưỡi voi một ngà phất cờ vàng chỉ huy quân sĩ chiến đấu đã trở thành nỗi kinh hoàng của giặc.

Quân Bà đi đến đâu cũng được dân chúng hưởng ứng, khiến quân thù khiếp sợ. Phụ nữ quanh vùng thúc giục chồng con ra quân theo Bà Vương đánh giặc. Để chia rẽ nghĩa quân, giặc đã xảo quyệt phong cho Bà Triệu đến chức Lệ Hải Bà Vương (nữ vương xinh đẹp của vùng ven biển), song Bà không một chút xao động. Để mua chuộc Bà Triệu, giặc bí mật sai tay chân thân tín tới gặp và hứa sẽ cung cấp cho Bà thật nhiều tiền bạc, song, Bà cũng chẳng chút tơ hào.

Sau hơn nửa năm trời trực tiếp đối địch và cũng là hơn nửa năm trời liên tiếp chịu nhiều thất bại đau đớn, hễ nghe tới việc phải đi đàn áp Bà Triệu là binh lính giặc lại lo lắng đến bạt vía kinh hồn. Bởi vậy, đương thời mới có thơ rằng:

Hoành qua đương hổ dị,
Đối diện Bà Vương nan.

Nghĩa là:

Vung gươm đánh cọp xem còn dễ,
Đối mặt Bà Vương mới khó sao.

Sống làm tướng, chết làm Thần

Vùng huyện Hậu Lộc (tỉnh Thanh Hoá) lưu lại truyền thuyết dân gian về núi đá biết nói khá độc đáo. Theo đó thì vào một đêm thanh vắng nọ, trên triền đá của núi Tùng ở Phú Điền bỗng có tiếng dõng dạc cất lên rằng:

Có Bà Triệu tướng,
Vâng mệnh trời ta.
Trị voi một ngà,
Dựng cờ mở nước.
Lệnh truyền sau trước,
Theo gót Bà Vương.

Người người nghe lời ấy, ai cũng tin chắc rằng đá trên núi Tùng biết nói. Lời của đá núi được coi là lời sấm ngôn, lời thiêng liêng chuyển tải mệnh trời rằng: Bà Triệu là Thiên tướng giáng trần, là người sẽ ra tay chỉ huy trăm họ vùng dậy cứu nước cứu dân. Bởi niềm tin sâu sắc ấy, nhân dân khắp nơi đã nườm nượp kéo nhau theo về với Bà Triệu.

Lực lượng nghĩa quân của Bà Triệu vì thế mà phát triển rất nhanh chóng, núi Tùng từ đó trở thành nơi tụ nghĩa. Mãi đến sau này thiên hạ mới vỡ lẽ ra rằng, trước khi chính thức phát động khởi nghĩa, Bà Triệu đã bí mật sai người thân tín leo lên núi Tùng, khoét đá thành hang rồi nhân đêm tối, nấp kín trong hang đá mà đọc thật to mấy câu sấm ngôn nói trên.

Tất nhiên, cơ mưu tạo ra các sự kiện đầy vẻ huyền bí, dù hoàn hảo và đầy sức thuyết phục đến đâu cũng không thể thay thế cho quá trình xây dựng uy tín tự thân và hoàn toàn có thật của Bà Triệu. Nhân dân khắp cõi đương thời đến với Bà Triệu trước hết và chủ yếu cũng bởi uy tín tự thân và hoàn toàn có thật này của Bà. Ca dao Thanh Hoá có câu rằng:

Ru con, con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành con voi.
Muốn coi lên núi mà coi,
Coi Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng.
Túi gấm cho lẫn túi hồng,
Têm trầu cánh kiến cho chồng ra quân.

Tương truyền, trước khi qua đời, Bà từng quỳ xuống vái trời đất rằng: “Sinh vi tướng, tử vi thần” (Sống làm tướng, chết làm Thần). (Đại Nam nhất thống chí, Thanh Hoá tỉnh, tập hạ). Sau khi bà mất, dân vùng Bồ Điền, Phú Điền vẫn nghe trên không trung tiếng cồng thúc quân, voi gầm, ngựa hí. Bà còn phù hộ cho nhiều thủ lĩnh sau này đánh tan quân xâm lược đất nước. Có người sau này lên làm ngôi vua, như Lý Bôn, đã xây đền, lǎng mộ để ghi nhớ công ơn của Bà.

Huyền thoại về tuổi trẻ của Triệu nữ vương có ba điểm nổi bật:

1. Về dung nhan của bà:

Trong nhiều thư tịch cổ của Trung Quốc (và sau đó đã được một vài thư tịch cổ của ta sao chép lại), thì Bà Triệu có một chân dung rất khác thường: “Tiếng nói nghe như tiếng chuông lớn, thân cao 9 thước, vú dài 3 thước, lưng rộng 10 ôm, mỗi ngày đi nhanh có thể được 500 dặm” (Đại Nam nhất thống chí, Thanh Hoá tỉnh, tập hạ). Huyền thoại ly kỳ về Bà Triệu có lẽ cũng nằm trong xu hướng phản ánh tận cùng căn nguyên chứng tỏ sự bất lực hoàn toàn của chính quyền phương Bắc trước sức mạnh phản kháng quyết liệt của những người phụ nữ cầm đầu.

Trái với ghi chép của thư tịch cổ, chân dung Bà Triệu trong tình cảm nồng hậu của các thế hệ nhân dân ta thể hiện qua truyền thuyết dân gian. Theo đó, Bà có một vẻ đẹp rất thánh thiện mà cũng thật đoan trang, rất thuỳ mị với mọi người nhưng cũng rất dũng mãnh với kẻ thù. Hình ảnh đó thật xứng đáng với vinh hiệu Nhụy Kiều Tướng quân do quân Ngô phong.

Ở thế kỷ XIV, sách Việt điện u linh chép về Bà với nhiều chi tiết linh dị của một nữ thần. Sách Thiên Nam minh giám, một bộ sử bằng văn vần ở thế kỷ XVII cũng kể về Bà với hình ảnh lẫm liệt: “Đầu voi phất ngọn cờ vàng / Giang sơn mấy cõi chiến trường xông pha”.

Thậm chí sử sách văn thơ Trung Quốc cũng ghi lại câu chuyện và hình ảnh ngồi trên đầu voi rất đẹp của người con gái đất Việt. Sách Giao Chỉ chí chép: “Trong núi ở quận Cửu Chân có người con gái họ Triệu vú dài ba thước, không lấy chồng, họp đảng đánh chiếm các quận huyện, thường mặc áo ngắn màu vàng, chân đi giày mũi cong, ngồi đầu voi mà chiến đấu, sau chết làm Thần”. Thơ Đường có câu: “Tượng đầu Man nữ mấn triền thân” (Cô gái Man ngồi trên đầu voi váy quấn quanh thân). (Đại Việt sử ký toàn thư. Việt Điện u linh. A.1919. Các nữ thần VNNxb Phụ Nữ).

2. Nổi tiếng can đảm và mưu trí hơn người:

Truyền thuyết dân gian kể rằng, vùng Cẩm Trướng hồi đó có con voi trắng một ngà rất hung dữ, thỉnh thoảng lại về phá hoại mùa màng, ai ai cũng phải sợ. Để trừ mối hại cho dân, Bà Triệu đã rủ chúng bạn đi vây bắt con voi trắng một ngà ấy. Bà lùa voi xuống vùng đầm lầy rồi dũng cảm nhảy lên đầu voi, sau đó kiên nhẫn tìm cách khuất phục. Con voi trắng một ngà khét tiếng hung dữ rốt cuộc cũng đã phải ngoan ngoãn vâng lời, về sau đã trở thành người bạn chiến đấu rất thân cận và trung thành của Bà.

3. Nổi tiếng thẳng thắn và không bao giờ dung tha kẻ xấu:

Truyền thuyết dân gian về Bà Triệu ở vùng Thanh Hoá kể rằng, chị dâu của Bà Triệu (vợ Triệu Quốc Đạt) là một người phụ nữ rất lăng loàn. (Cũng có truyền thuyết nói rằng, chính chị dâu của Bà Triệu là kẻ phản bội đầu tiên đã mật báo cho quân Ngô biết kế hoạch chuẩn bị khởi nghĩa của hai anh em Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh. Triệu Quốc Đạt bị giết, còn Triệu Thị Trinh thì thoát được.

Trước khi đến Phú Điền, Triệu Thị Trinh đã giết chết chị dâu để cảnh cáo tất cả những kẻ nào nuôi lòng phản trắc rồi ra ở riêng tại rừng Bồ Điền, khu rừng này về sau đổi là rừng Phú Điền nay thuộc làng Phú Điền, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá). Bởi lẽ này, nhiều người lầm tưởng đây là sinh quán của Bà Triệu.

Đó là chưa nói rằng, ở huyện Ninh Hoá (tức Yên Hoá) nay là huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình do có đền thờ Bà Triệu nên thư tịch cổ cũng có lúc nhầm tưởng đây là quê hương của Bà. Đây cũng chính là nơi Bà Triệu đã tụ họp nghĩa quân và phát động cuộc chiến đấu một mất một còn với chính quyền đô hộ nhà Ngô.

Tên tuổi và sự nghiệp của Bà Triệu đã trở nên bất diệt với “vạn cổ thử giang sơn” (muôn đời sông núi này) (Chữ của Trần Quang Khải trong bài cảm khái ông viết sau trận đại thắng quân Mông Nguyên xâm lược nước ta lần thứ hai (1285) và mãi mãi toả sáng trong sử sách cũng như trong ký ức của các thế hệ nhân dân yêu nước:

Tùng sơn nắng quyện mây trời,
Dấu chân Bà Triệu rạng ngời sử xanh.


Bà Triệu


Bà Triệu (chữ Hán: 趙婆), còn được gọi là Triệu Ẩu (趙嫗), Triệu Trinh Nương (趙貞娘), Triệu Thị Trinh (趙氏貞), Triệu Quốc Trinh (225–248), là một trong những vị anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam.

Sử gia Ngô Sĩ Liên ở thế kỷ 15 viết:

Triệu Ẩu (tức Bà Triệu) là người con gái ở quận Cửu Chân, họp quân trong núi, đánh phá thành ấp, các bộ đều theo như bóng theo hình, dễ hơn trở bàn tay. Tuy chưa chiếm giữ được đất Lĩnh Biểu như việc cũ của Trưng Vương, nhưng cũng là bậc hùng tài trong nữ giới.[1]

Sử nhà Nguyễn ở thế kỷ 19 cũng đã chép:

Con gái nước ta có nhiều người hùng dũng lạ thường. Bà Triệu Ẩu thật xứng đáng là người sánh vai được với Hai Bà Trưng. Xem thế thì há có phải chỉ Trung Quốc mới có đàn bà danh tiếng như chuyện Thành Phu Nhân và Nương Tử Quân mà Bắc sử đã chép đâu.[2]

Bối cảnh

Năm 226, Sĩ Nhiếp mất, vua Đông Ngô là Tôn Quyền bèn chia đất từ Hợp Phố về bắc thuộc Quảng Châu dùng Lữ Đại làm thứ sử; từ Hợp Phố về nam là Giao Châu, sai Đại Lương làm thái thú; và sai Trần Thì làm thái thú quận Giao Chỉ. Lúc bấy giờ, con của Sĩ Nhiếp là Sĩ Huy tự nối ngôi và xưng là thái thú, liền đem binh chống lại.

Thứ sử Lữ Đại bèn xua quân sang đánh dẹp. Do nghe lời chiêu dụ, Sỹ Huy cùng năm anh em ra hàng. Lữ Đại giết chết Huy, còn mấy anh em thì đem về đất Ngô làm tội. Dư đảng của Sỹ Huy tiếp tục chống lại, khiến Lữ Đại mang quân vào Cửu Chân giết hại một lúc hàng vạn người

Cuộc đời và sự nghiệp

Kháng chiến của Việt Nam

Chống Tần (218-208 TCN) • Chống Triệu (179 TCN) • Chống Tây Hán (111 TCN) • Chống Đông Hán (40-43) • Chống Đông Ngô (248) • Chống Lưu Tống (468) • Chống Lương (542-550) • Chống Đường lần 1 (687) • Chống Đường lần 2 (722) • Chống Đường lần 3 (791) • Chống Nam Hán lần 1 (930-931) • Chống Nam Hán lần 2 (938) • Chống Tống lần 1 (981) • Chống Tống lần 2 (1077) • Chống Nguyên-Mông lần 1 (1258) • Chống Nguyên-Mông lần 2 (1285) • Chống Nguyên-Mông lần 3 (1287-1288) • Chống Minh lần 1 (1406-1407) • Chống Minh lần 2 (1407-1413) • Chống Minh lần 3 (1418-1427) • Chống quân Xiêm (1785) • Chống Thanh (1788-1789) • Chống Pháp lần 1 (1858-1884) • Chống Nhật (1940-1945) • Chống Pháp lần 2 (1945-1954) • Chống Mỹ (1954-1975)


Bà Triệu sinh năm Bính Ngọ (226)[3] tại miền núi Quân Yên (hay Quan Yên), quận Cửu Chân, nay thuộc làng Quan Yên (hay còn gọi là Yên Thôn), xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

Thuở nhỏ cha mẹ đều mất sớm, Bà Triệu đến ở với anh là Triệu Quốc Đạt, một hào trưởng[4] ở Quan Yên.

Lớn lên, bà là người có sức mạnh, giỏi võ nghệ, lại có chí lớn. Đến độ 20 tuổi gặp phải người chị dâu (vợ ông Đạt) ác nghiệt [5], bà giết chị dâu rồi vào ở trong núi Nưa (nay thuộc các xã Tân Ninh huyện Triệu Sơn, Mậu Lâm huyện Như Thanh, Trung Thành huyện Nông Cống, Thanh Hoá), chiêu mộ được hơn ngàn tráng sĩ.

Năm Mậu Thìn (248), thấy quan lại nhà Đông Ngô (Trung Quốc) tàn ác, dân khổ sở, Bà Triệu bèn bàn với anh việc khởi binh chống lại. Lúc đầu, anh bà không tán thành nhưng sau chịu nghe theo ý kiến của em.

Từ hai căn cứ núi vùng Nưa và Yên Định, hai anh em bà dẫn quân đánh chiếm quận lỵ Tư Phố[6] nằm ở vị trí hữu ngạn sông Mã. Đây là căn cứ quân sự lớn của quan quân nhà Đông Ngô trên đất Cửu Chân, đứng đầu là Tiết Kính Hàn. Thừa thắng, lực lượng nghĩa quân chuyển hướng xuống hoạt động ở vùng đồng bằng con sông này.

Đang lúc ấy, Triệu Quốc Đạt lâm bệnh qua đời.[7] Các nghĩa binh thấy bà làm tướng có can đảm, bèn tôn lên làm chủ. Khi ra trận, Bà Triệu mặc áo giáp vàng, đi guốc ngà, cài trâm vàng, cưỡi voi[8] và được tôn là Nhụy Kiều tướng quân.

Được tin cuộc khởi nghĩa lan nhanh[9], vua Ngô là Tôn Quyền liền phái tướng Lục Dận (cháu của Lục Tốn), sang làm thứ sử Giao Châu, An Nam hiệu uý, đem theo 8.000 quân sang đàn áp cuộc khởi nghĩa. Đến nơi, tướng Lục Dận liền dùng của cải mua chuộc một số lãnh tụ địa phương để làm suy yếu và chia rẽ lực lượng nghĩa quân.

Những trận đánh ác liệt đã diễn ra tại căn cứ Bồ Điền[10]. Song do chênh lệch về lực lượng và không có sự hỗ trợ của các phong trào đấu tranh khác nên căn cứ Bồ Điền bị bao vây cô lập, và chỉ đứng vững được trong hơn hai tháng.

Theo Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược, bà chống đỡ với quân Đông Ngô được năm sáu tháng thì thua. Bà Triệu đã tuẫn tiết trên núi Tùng (xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa) vào năm Mậu Thìn (248), lúc mới 23 tuổi. Có giai thoại nói rằng tướng giặc lợi dụng việc phận nữ nhi đã truất bỏ y phục trên người khiến Bà Triệu từ đó xấu hổ mà dẫn đến tự tử.

Nước Việt lại bị nhà Đông Ngô đô hộ cho đến 265.[11]

Câu nói

Năm 19 tuổi, đáp lời người hỏi bà về việc chồng con, Bà Triệu nói:

“Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người![12]”

Tưởng nhớ

Về sau vua Lý Nam Đế (tức Lý Bí) khen Bà Triệu là người trung dũng sai lập miếu thờ, phong là: "Bậc chính anh liệt hùng tài trinh nhất phu nhân".

Hiện nay, nơi núi Tùng (xã Triệu Lộc), vẫn còn di tích lăng mộ của bà. Cách nơi bà mất không xa, trên núi Gai ngay sát quốc lộ 1A (đoạn đi qua thôn Phú Điền, xã Triệu Lộc, cách thành phố Thanh Hóa 18 km về phía Bắc) là đền thờ bà. Hằng năm, vào ngày 21 tháng 2 (âm lịch), người dân trong vùng vẫn tổ chức tế giỗ bà. Tại nhiều tỉnh thành trong nước Việt Nam, tên bà cũng đã được dùng để đặt tên cho nhiều trường học và đường phố; riêng tại Hà Nội, có một con đường mang tên phố Bà Triệu.

Thơ ca, câu đối

Trong Đại Nam quốc sử diễn ca, có đoạn Bà Triệu Ẩu đánh Ngô, khái quát rất sinh động:

Binh qua trải bấy nhiêu ngày.
Mới sai Lục Dận sang thay phiên thần.
Anh hùng chán mặt phong trần,
Nữ nhi lại cũng có lần cung đao.
Cửu chân có ả Triệu kiều,
Vú dài ba thước tài cao muôn người.
Gặp cơn thảo muội cơ trời,
Đem thân bồ liễu theo loài bồng tang.
Đầu voi phất ngọn cờ vàng,
Sơn thôn mấy cõi chiến trường xông pha.
Chông gai một cuộc quan hà,
Dù khi chiến tử còn là hiển linh.

Tương truyền quân Ngô khiếp uy dũng của Bà Triệu nên có câu:

Hoành qua đương hổ dị,
Đối diện Bà vương nan.

Dịch:

Múa giáo đánh cọp dễ,
Đối mặt Vua Bà thì thực khó.

Trong dân gian hiện cũng còn truyền tụng nhiều câu thơ ca và câu đối liên quan đến bà như sau:

•Ru con con ngủ cho lành,
Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi.
Muốn coi, lên núi mà coi,
Có bà Triệu tướng cưỡi voi, đánh cồng.
Túi gấm cho lẫn túi hồng
Têm trầu cánh kiếm cho chồng ra quân.

•Tùng Sơn nắng quyện mây trời,
Dấu chân Bà Triệu rạng ngời sử xanh.

•Cửu Chân trăm trận gan hơn sắt,
Lục Dận Nhiều phen mắt đã vàng.

•Trông bành voi, Ngô cũng lắc đầu, sợ uy Lệ Hải Bà Vương, những muốn bon chân về Bắc quốc;
Ngồi yên ngựa khách đi hoài cổ, tưởng sự Lạc Hồng nữ tướng, có chăng thẹn mặt đấng nam nhi."
(Khuyết danh)

•Một đầu voi chống chọi với quân thù, sau Trưng nữ rạng danh bà Lệ Hải;
Ba thước vú tử sinh cùng đất nước, cho Ngô hoàng biết mặt gái Giao Châu.
Chí sĩ Dương Bá Trạc

Ngoài ra, trong Hồng Đức quốc âm thi tập, và trong các tập thơ của các danh sĩ như Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Đôn Dự...đều có thơ khen ngợi Bà Triệu.

Vấn đề liên quan

Đoạn cuối cuộc khởi nghĩa

Lâu nay sử sách đều biên chép cuộc khởi nghĩa Bà Triệu thất bại, và bà đã tự vẫn năm 248. Tuy nhiên, GS. Lê Mạnh Thát đã dẫn Thiên Nam ngữ lục và Ngụy chí để kết luận rằng Bà Triệu đã không thua bởi tay Lục Dận, trái lại đã đánh bại viên tướng này. Lục Dận chỉ chiếm được vùng đất nay thuộc Quảng Tây. Và Bà Triệu đã giữ được độc lập cho đất nước đến khi Đặng Tuân được Tôn Hựu sai sang đánh Giao Chỉ vào năm 257.[13] Tuy nhiên, ý kiến mới mẻ này còn phải được sự đồng thuận của nhiều người trong giới.

Tên gọi

Những bộ sử cổ chỉ gọi bà là Triệu nữ (cô gái Triệu), Triệu Ẩu. Những tên gọi Triệu Trinh Nương, Triệu Thị Trinh, Triệu Quốc Trinh... theo Văn Lang thì rõ ràng là mới đặt gần đây. Tác giả cho biết vấn đề tên gọi này (cũng như tên gọi của Bà Trưng) thuộc phạm trù ngôn ngữ Việt cổ và cách đặt tên người ở thời gian đầu Công nguyên, còn đang được nghiên cứu (tr. 33).

Ngoài ra, Bà Triệu còn được người đời tôn là Nhụy Kiều tướng quân (vị tướng yêu kiều) và Lệ Hải bà vương (vua bà ở vùng biển mỹ lệ).[14]

Riêng cái tên Triệu Ẩu (趙嫗), thấy xuất hiện lần đầu trong Nam Việt chí, Giao Châu ký (thế kỷ 4, 5) rồi đến Thái bình hoàn vũ (thế kỷ 10) chua dưới mục Quân Ninh (tức Quân yên cũ).[15]

Trước đây, Hồng Đức quốc âm thi tập, Đại Việt sử ký toàn thư, Thanh Hóa kỉ thắng, Khâm định Việt sử Thông giám cương mục... đều gọi bà là Triệu Ẩu. Sau, sử gia Trần Trọng Kim khi cho tái bản Việt Nam sử lược đã không giải thích mà chỉ ghi chú rằng: Bà Triệu, các kỳ xuất bản trước để là Triệu Ẩu. Nay xét ra nên để là Triệu Thị Chinh (tr. 52).

Kể từ đó có nhiều lý giải khác nhau, như:

•Sử gia Phạm Văn Sơn: Vì người Tàu căm giận nên đặt tên là Triệu Ẩu (Ẩu có nghĩa là mụ) để tỏ ý khinh mạn (tr. 205).

•Nhóm tác giả sách Lịch sử Việt Nam (trước thế kỷ 10, quyển 1, tập 1): Sách sử Trung Quốc gọi bà là Triệu Ẩu với nghĩa xấu (người vú em) (tr. 109).

•Một số người lại giải thích "ẩu" nghĩa là con mụ họ Triệu, là bà già, hoặc là "nữ tù trưởng Triệu".

Hình tượng vú dài

Sách Giao Chỉ chí chép:

Trong núi ở quận Cửu Chân có người con gái họ Triệu, vú dài ba thước, không lấy chồng, họp đảng cướp bóc các quận, huyện, thường mặc áo ngắn màu vàng, chân đi giày mũi cong, ngồi đầu voi mà chiến đấu, sau chết làm thần.[16]

Sách Những trang sử vẻ vang... giải thích: Phụ nữ khổng lồ, vú dài… là huyền thoại về bà Mẹ-Đất (terre-Mère, Déesse-Mère). Sau hình tượng đó được khoát cho bất kỳ một phụ nữ hiệt kiệt nào (tr. 129). Các tác giả sách Lịch sử Việt Nam (tập I) cũng đều cho rằng huyền thoại về một người phụ nữ có "vú dài ba thước" vốn rất phổ biến ở phương Nam, từ Hợp Phố đến Cửu Chân. Như truyện "Tẩy thị phu nhân", "Tiểu quốc phu nhân" đều nói họ là những phụ nữ cao to và có vú dài đôi ba thước... Có thể, vì bà Triệu cũng là một người phụ nữ kiệt xuất, nên dân gian đã dùng hình tượng này khoác lên cho bà (tr. 345).

Chú thích

[1]Đại Việt sử ký toàn thư (tập 1), tr. 101.

[2] Khâm định Việt sử Thông giám cương mục (Tiền biên, quyển 3, tờ 9). Đoạn sách trên có thêm câu nữa, đó là:  Nhưng nếu nói vú dài ba thước thì thật là quái gở và đáng cười lắm.

[3] “Cổng Thông tin Điện Tử Tỉnh Hậu Giang Trang chủ”. Truy cập 5 tháng 10 năm 2015.

[4] Truyền thuyết và thần tích cho rằng Triệu Quốc Đạt làm huyện lệnh. (Lịch sử Việt Nam, Tập I, tr. 345).

[5] Ghi theo Việt Nam sử lược (tr. 52). Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (tr. 905) và Lịch sử Việt Nam (trước thế kỷ 10, tr. 108) đều chép rằng: Biết sự chuẩn bị khởi nghĩa của Bà Triệu, người chị dâu toan đi tố cáo với quân Ngô nên bị bà giết chết. Truyền thuyết và thần tích thì cho rằng bà này phạm tội lăng loàn (Lịch sử Việt Nam, trước thế kỷ 10, tr. 108).

[6] Tư Phố nằm ở vị trí hữu ngạn sông Mã, gần nơi hợp lưu của sông Chu vào sông Mã, là đầu mối giao thông quan trọng ngày nay là đất thuộc làng Giàng, Xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá.

[7] Chép theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (tr. 905). Sách Giai thoại về phụ nữ VN (tr 10) và Danh nhân đất Việt (tr. 46) đều ghi ông Đạt tử trận.

[8] Hình ảnh này của Bà Triệu đã được sử phong kiến Trung Quốc là Nam Việt chí và Giao Châu chí ghi lại (Theo Danh nhân đất Việt, tập 1, tr. 47).

[9] Sách Ngô Thư chép: Toàn thể Giao Châu đều chấn động. Dẫn lại theo Danh nhân đất Việt (tập 1), tr. 50.

[10] Những trận đánh ác liệt diễn ra tại căn cứ Bồ Điền đã để lại những dấu tích trong lòng đất nơi đây. Năm 1965, nhân dân đào mương làm thuỷ lợi đã phát hiện nhiều loại binh khí bằng đồng như giáo, mác, mảnh giáp đồng và cả xương người và xương ngựa.

[11] Theo Lịch sử Việt Nam Tập 1

[12] Chép theo Đại cương lịch sử Việt Nam (Tập 1, tr. 89). Câu nói này thấy chép đầu tiên trong sách Thanh Hoá kỷ thắng của Vương Duy Trinh, sống vào thế kỷ 19, từng làm tổng đốc Thanh Hoá. Có bản chép khác một vài chữ. Thí dụ như trong sách Việt Nam sử lược: "Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, đâu chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!" (tr. 50).

[13] Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Tập 1, trang 385-386) hoặc xem chi tiết ở Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động.

[14] Lục Dận một mặt dùng tiền của đút lót mua chuộc những kẻ dao động, một mặt dụ dỗ Bà Triệu ra hàng, hứa sẽ phong làm Lệ Hải bà vương (theo Lịch sử Việt Nam (trước thế kỷ 10, quyển 1, tập 1, tr. 109)

[15] Theo 'Lịch sử Việt Nam (Tập 1), tr. 343.

[16] Ngoài ra sử xưa Trung Quốc còn cho rằng, khi quân Ngô lõa thân ra đánh, Bà Triệu sợ chạy lên núi tự tận. Nhóm tác giả sách Lịch sử Việt Nam (trước thế kỷ 10, quyển 1 tập 1) phê: Phong kiến Trung Quốc tìm mọi cách bôi nhọ bà, hòng xóa nhòa ý nghĩa lớn lao của cuộc khởi nghĩa (tr. 109).


Sách tham khảo

• Khuyết danh, Đại Việt sử lược (Nguyễn Gia Tường dịch. Nguyễn Khắc Thuần hiệu đính). Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh, 1993.

• Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư (Tập 1). Nhà xuất bản KHXH, Hà Nội, 1983.

• Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược. Nhà xuất bản Tân Việt, Sài Gòn, 1968.

• Phạm Văn Sơn, Việt sử tân biên (Quyển 1). Nhà xuất bản Khai Trí, Sài Gòn, lần tái bản năm 1968.

• Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, Lịch sử VN (tập I). Nhà xuất bản Đại học & THCN, 1983.

• Trương Hữu Quýnh-Phan Đại Đoàn-Nguyễn Cảnh Minh, Đại cương lịch sử Việt Nam (tập I). Nhà xuất bản Giáo dục, 2007.

• Nhiều người soạn, Lịch sử Việt Nam (trước thế kỷ 10), quyển 1 tập 1. Nhà xuất bản Giáo dục, 1977.

• Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản KHXH, Hà Nội, 1992.

• Văn Lang-Quỳnh Cư-Nguyễn Anh, Danh nhân đất Việt (Tập 1). Nhà xuất bản Thanh niên, 1995.

• Hồng Nam-Hồng Lĩnh, Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiến Trung Quốc xâm lược. Nhà xuất bản KHXH, Hà Nội, 1984.

• Hoàng Khôi-Hoàng Đình Thi, Giai thoại về phụ nữ Việt Nam. Nhà xuất bản Phụ nữ, 1987.

• ĐỗThị Hảo- Mai Thị Ngọc Chúc, Các nữ thần Việt Nam. Nhà xuất bản Phụ nữ, 1984.

• Đặng Duy Phúc, Việt Nam anh kiệt. Nhà xuất bản Hà Nội, 2004.

• Nhiều người soạn, Hỏi đáp lịch sử (Quyển 1). Nhà xuất bản Trẻ, 2006.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 06.09.2018, 13:26
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Dã sử] Đầu voi phất ngọn cờ vàng - Ngô Viết Trọng - Điểm: 10
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc


Truyền thuyết Việt là “lịch sử” dân tộc Việt dưới góc nhìn của người Việt ở Giao Chỉ. Lịch sử được ghi chép trong các sách sử Trung Hoa là những chuyện kể của người Hoa về quá khứ của mình. Hoa sử và truyền thuyết Việt thực chất đều là về cùng một lịch sử. Những nét “đại đồng” với những “tiểu dị” trong các nhân vật và sự kiện có thể thấy rõ trong suốt chiều dài lịch sử từ thời thượng cổ cho tới khi nước Đại Việt xưng

Tác dụng

• Giúp bạn biết mỗi vị vua làm vua từ năm nào đến năm nào, có một hay nhiều niên hiệu, mỗi niên hiệu khởi đầu từ năm nào đến năm nào thì hết, để đối chiếu với Trung Quốc là niên hiệu và triều đại nào

Cách sử dụng

Năm dương lịch

Thí dụ: Lê Đại Hành lên ngôi năm 980 đến năm 1005 thì mất; ông có 3 niên hiệu. Niên hiệu đầu là Thiên Phúc, từ năm 980 đến 988, đối chiếu với Trung Quốc là niên hiệu Thái Bình hưng quốc năm thứ 5, triều Tống Thái Tông; niên hiệu thứ 2 là Hưng Thống, từ 989 đến năm 994, đối chiếu với Trung Quốc là niên hiệu Đoan Củng năm thứ 2, triều Tống Thái Tông.

Năm âm lịch

Thí dụ: Lê Đại Hành, niên hiệu đầu là Thiên Phúc từ (980-988), thì năm 980 là năm Canh Thìn, muốn tính năm 988 là năm nào của năm âm lịch ta tra theo mục này thì được âm lịch là năm Mậu Tý. Vậy kết quả ta biết được năm 988 là năm Mậu Tý, triều đại của vua Lê Đại Hành, niên hiệu Thiên Phúc năm thứ 9.

Đối chiếu với triều đại Trung Quốc

Thí dụ: Lê Đại Hành, niên hiệu đầu là Thiên Phúc từ (980-988), thì năm 980 là năm Canh Thìn. Vậy năm Canh Thìn (980) là triều đại Tống Thái Tông, niên hiệu Thái Bình hưng quốc thứ 5.

Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc

(xếp theo thời gian)

Triều đại Việt Nam Niên hiệu Việt Nam Năm Niên hiệu Trung Quốc Triều đại Trung Quốc

1 Kinh Dương Vương; Lạc Long Quân; Hùng Vương

_ 2879 TCN - 258TCN _ Phục Hi; Thần Nông; Hoàng Đế; Hạ; Thương; Chu

2 An Dương Vương

An Dương Vương

Giáp thìn; 257TCN-208TCN Năm thứ 58 (246-210TCN) Chu Noãn Vương; Tần Thủy Hoàng

3 Triệu Võ Vương

_ Giáp Ngọ(207-136TCN) Năm thứ 3 Tần Nhị Thế

4 Triệu Văn Vương

_ Ất Tỵ (136-124TCN) Kiến Nguyên 5

Hán Võ Đế

5 Triệu Minh Vương

_ Đinh Tỵ (124-112TCN) Nguyên Sóc 6

Hán Võ Đế

6 Triệu Ai Vương

_ Kỷ Tỵ (112TCN)

Nguyên Đỉnh 5 Hán Võ Đế

7 Vệ (Thuận) Dương Vương

_ Canh Ngọ (111TCN) Nguyên Đỉnh 6 Hán Võ Đế

8 Tây Hán

_ Canh Ngọ (111TCN-25) Nguyên Đỉnh 6 Hán Vũ Đế

9 Đông Hán

_ Ất Dậu (25-40)

Kiến Vũ 1 Hán Quang Vũ

10 Trưng Vương

Trưng Trắc

Canh Tý (40-43) Kiến Vũ 16 Hán Quang Vũ

11 Đông Hán

_ Quý Mão (43)

Kiến Vũ 19 Hán Quang Vũ

12 Đông Ngô

_ Giáp Tý (-244)

Diên Hy 7 Tam Quốc

13 Bà Triệu

_ Mậu Thìn(-248) Diên Hy 11 Tam Quốc

14 Ngô, Ngụy _ Giáp Thân (-264) Hàm Hy 1 Ngụy Nguyên Đế

15 Ngô, Tấn _ Ất Dậu (265-279) Thái Thủy 1 Tấn Vũ Đế

16 Nhà Tấn

_ Canh Tý (280-420) Thái Khang 1 Tấn Vũ Đế

17 Lưu Tống

_ Canh Thân (420-479) Vĩnh Sơ 1 Tống Vũ Đế

18 Nhà Tề

_ Kỷ Mùi (479-505) Kiến Nguyên 1 Tề Cao Đế

19 Nhà Lương

_ Ất Dậu (505-543) Thiên Giám 4 Lương Vũ Đế

20 Lý Nam Đế

Thiên Đức Giáp Tý (544-548) Đại Đồng 10 Lương Vũ Đế

21 Lý Đào Lang Vương

Thiên Bảo Kỷ Tỵ (549-555) Thái Thanh 3 Lương Vũ Đế

22 Triệu Việt Vương

Triệu Quang Phục Kỷ Tỵ (549-570) Thái Thanh 3 Lương Vũ Đế

23 Hậu Lý Nam Đế

Lý Phật Tử Tân Mão (571-603) Thái Kiến 3 Trần Tuyên Đế

24 Nhà Tùy

_ Quý Hợi (603-617) Nhâm Thọ 3 Tùy Văn Đế

25 Nhà Đường

_ Mậu Dần (618-721) Vũ Đức 1 Đường Cao Tổ

26 Mai Hắc Đế

Mai Thúc Loan Nhâm Tuất (722) Khai Nguyên 10 Đường Huyền Tông

27 Nhà Đường

_ Quý Hợi (723-790) Khai Nguyên 11 Đường Huyền Tông

28 Bố Cái Đại Vương

Phùng Hưng Tân Mùi(791)

Trinh Nguyên 7 Đường Đức Tông

29 Nhà Đường

_ Nhâm Thân (792-906) Trinh Nguyên 8 Đường Đức Tông

30 Nhà Hậu Lương

_ Đinh Mão (907-922) Khai Bình 1 Lương Thái Tổ

31 Nhà Hậu Đường

_ Quý Mùi (923-936) Đồng Quang 1 Đường Trang Tông

32 Nhà Hậu Tấn

_ Đinh Dậu (937 -938) Thiên Phúc 2 Hậu Tấn Cao Tổ

33 Ngô Vương

Ngô Quyền Kỷ Hợi (939-944) Thiên Phúc 4 Hậu Tấn Cao Tổ

34 Dương Bình Vương

Dương Tam Kha Ất Tỵ (945-950) Khai Vận 2 Hậu Tấn Cao Tổ

35 Ngô Nam Tấn Vương; Ngô Thiên Sách Vương

Xương Văn; Xương Ngập Tân Hợi (951-965) Quảng Thuận 1 Hậu Chu Thái Tổ

36 Thập nhị sứ quân

Thập nhị sứ quân Bính Dần (966-968) Càn Đức Tống Thái Tổ

37 Đinh Tiên Hoàng

Thái Bình Canh Ngọ (970-979) Khai Bảo 3 Tống Thái Tổ

38 Đinh Đế Toàn

Thái Bình Canh Thìn (980) Thái Bình Hưng Quốc 5 Tống Thái Tông

39 Lê Đại Hành

Thiên Phúc Canh Thìn (980-988) Thái Bình Hưng Quốc 5 Tống Thái Tông

40 __ Hưng Thống Kỷ Sửu (989-994) Đoan Củng 2 __

41 __ Ứng Thiên Giáp Ngọ (994-1005) Thuần Hóa 5 __

42 Lê Trung Tông

(làm vua 3 ngày) Ất Tỵ (1005)

Cảnh Đức 2 Tống Chân Tông

43 Lê Long Đĩnh

Ứng Thiên Bính Ngọ (1006-1008) Cảnh Đức 3 __

44 __ Cảnh Thụy Mậu Thân (1008-1009) Đại Trung Tường Phù 1 __

45 Lý Thái Tổ

Thuận Thiên Canh Tuất (1010-1028) Đại Trung Tường Phù 3 __

46 Lý Thái Tông

Thiên Thành Mậu Thìn (1028-1033) Thiên Thánh 6 Tống Nhân Tông

47 __ Thống Thụy Giáp Tuất (1034-1038) Cảnh Hựu 1 __

48 Lý Thái Tông

Càn Phù Hữu Đạo Kỷ Mão (1039-1041) Bảo Nguyên 2 Tống Nhân Tông

49 __ Minh Đạo Nhâm Ngọ (1042-1043) Khánh Lịch 2 __

50 __ Thiên Cảm Thánh Võ Giáp Thân (1044-1048) Khánh Lịch 4 __

51 __ Sùng Hưng Đại Bảo Kỷ Sửu (1049-1054) Hoàng Hựu 1 __

52 Lý Thánh Tông

Long Thụy Thái Bình Giáp Ngọ (1054-1058) Chí Hòa 1 __

53 __ Chương Thánh Gia Khánh Kỷ Hợi (1059-1065) Gia Hựu 4 __

54 __ Long Chương Thiên Tự Bính Ngọ (1066-1067) Trị Bình 3 Tống Anh Tông

55 __ Thiên Huống Bảo Tượng Mậu Thân (1068) Hy Ninh 1 Tống Thần Tông

56 __ Thần Võ Kỷ Dậu (1069-1072) Hy Ninh 2 __

57 Lý Nhân Tông (Càn Đức) Thái Ninh Nhâm Tý (1072-1075) Hy Ninh 5 __

58 __ Anh Võ chiêu Thắng {{Bính Thìn]] (1076-1084) Hy Ninh 9 __

59 __ Quảng Hựu Ất Sửu (1085-1091) Nguyên Phong 8 __

60 __ Hội Phong Nhâm Thân (1092-1101) Nguyên Hựu 7 Tống Triết Tông

61 __ Long Phù Nguyên Hóa Tân Tỵ (1101-1109) Kiến Trung Tĩnh Quốc 1 Tống Huy Tông

62 __ Hội Tường Đại Khánh Canh Dần (1110-1119) Đại Quan 4 __

63 __ Thiên Phù Duệ Võ Canh Tý (1120-1126) Tuyên Hòa 2 __

64 __ Thiên Phù Khánh Thọ Đinh Mùi (1127) Kiến Viêm 1 Tống Cao Tông

65 Lý Thần Tông (Dương Hoán) Thiên Thuận Mậu Thân (1128-1132) Kiến Viêm 2 __

66 __ Thiên Chương Bảo Tự Quý Sửu (1138) Thiên Hựu 3 __

67 Lý Anh Tông (Thiên Tộ)

Thiệu Minh [[Mậu Ngọ (1138-1139) Thiệu Hưng 8 __

68 __ Đại Định Canh Thân (1140-1162) Thiệu Hưng 10 __

69 __ Chính Long Bảo Ứng Quý Mùi (1163-1173) Long Hưng 1 Tống Hiếu Tông

70 __ Thiên Cảm Chí Bảo Giáp Ngọ (1174-1175) Thuần Hy 1 __

71 Lý Cao Tông (Long Cán)

Trinh Phù Bính Thân (1176-1185) Thuần Hy 3 __

72 __ Thiên Tư Gia Thụy Bính Ngọ (1186-1201) Thuần Hy 13 __

73 __ Thiên Gia Bảo Hựu Nhâm Tuất (1202-1204) Gia Thái 2 Tống Ninh Tông

74 __ Trị Bình Long Ứng Ất Sửu (1205-1210) Khai Hy 1 __

75 Lý Huệ Tông (thái tử Sảm) Kiến Gia Tân Mùi (1211-1224) Gia Định 4 __

76 Lý Chiêu Hoàng (công chúa Chiêu Thánh) Thiên Chương Hữu Đạo Giáp Thân (1224-1225) Gia Định 17 __

77 Trần Thái Tông (Trần Cảnh) Kiến Trung Ất Dậu (1225-1231) Bảo Khánh 1 Tống Lý Tông

78 __ Thiên Ứng-Chính Bình Nhâm Thìn (1232-1250) Thiệu Định 5 __

79 __ Nguyên Phong Tân Hợi (1251-1258) Thuần Hựu 11 __

80 Trần Thánh Tông

Thiệu Long Mậu Ngọ (1258-1272) Bảo Hựu 6 __

81 __ Bảo Phù Quý Dậu (1273-1278) Hàm Thuần 9 Tống Độ Tông

82 Trần Nhân Tông

Thiệu Bảo Kỷ Mão (1279-1284) Tường Hựu 2 Tống đế Bính

83 __ Trùng Hưng Ất Dậu (1285-1293) Chí Nguyên 22 Nguyên Thế Tổ

84 Trần Anh Tông

Hưng Long Quý Tỵ (1293-1314) Chí Nguyên 30 __

85 Trần Minh Tông

Đại Khánh Giáp Dần (1314-1323) Diên Hựu 1 Nguyên Nhân Tông

86 __ Khai Thái Giáp Tý (1324-1329) Thái Định 1 Nguyên Thái Định Đế

87 Trần Hiến Tông

Khai Hựu Kỷ Tỵ (1329-1341) Thiên Lịch 2 Nguyên Minh Tông

88 Trần Dụ Tông

Thiệu Phong Tân Tỵ (1341-1357) Chí Chính 1 Nguyên Thuận Đế

89 __ Đại Trị Mậu Tuất (1358-1369) Chí Chính 18 __

90 Dương Nhật Lễ

Đại Định Kỷ Dậu (1369-1370) Hồng Võ 2 Minh Thái Tổ

91 Trần Nghệ Tông

Thiệu Khánh Canh Tuất (1370-1372) Hồng Võ 3 Minh Thái Tổ

92 Trần Duệ Tông

Long Khánh Quý Sửu (1373-1377) Hồng võ 6 __

93 Trần Phế Đế

Xương Phù Đinh Tỵ (1377-1388) Hồng Võ 10 __

94 Trần Thuận Tông

Quang Thái Mậu Thìn (1388-1398) Hồng Võ 21 __

95 Trần Thiếu Đế

Kiến Tân Mậu Dần (1398-1400) Hồng Võ 31 __

96 Hồ Quý Ly

Thái Nguyên Canh Thìn (1400-1401) Kiến Văn 2 Minh Huệ Đế

97 Hồ Hán Thương

Thiệu Thành Tân Tỵ (1401-1402) Kiến Vwn 3 __

98 __ Khai Đại Quý Mùi (1403-1407) Vĩnh Lạc 1 Minh Thành Tổ

99 Trần Giản Định

Hưng Khánh Đinh Hợi (1407-1409) Vĩnh Lạc 5 __

100 Trần Quý Khoáng

Trùng Quang Kỷ Sửu (1409-1413) Vĩnh Lạc 7 __

101 thuộc Minh thuộc Minh Giáp Ngọ (1414-1417) Vĩnh Lạc __

102 Bình Định Vương

Lê Lợi Mậu Tuất (1418-1427) Vĩnh Lạc 12 __

103 Lê Thái Tổ

Thuận Thiên Mậu Thân (1428-1433) Tuyên Đức 3 Minh Tuyên Tông

104 Lê Thái Tông

Thiệu Bình Giáp Dần (1434-1439) Tuyên Đức 9 __

105 __ Đại Bảo Canh Thân (1440-1442) Chính Thống 5 Minh Anh Tông

106 Lê Nhân Tông

Thái Hòa Quý Hợi (1443-1453) Chính Thống 8 __

107 __ Diên Ninh Giáp Tuất (1454-1459) Cảnh Thái 5 Minh Cảnh Đế

108 Lê Nghi Dân

Thiên Hưng Kỷ Mão (1459)

Thiên Thuận 3 Minh Anh Tông

109 Lê Thánh Tông

Quang Thuận Canh Thìn (1460-1469) Thiên thuận 4 __

110 __ Hồng Đức Canh Dần (1470-1497) Thành Hóa 6 Minh Hiến Tông

111 Lê Hiến Tông

Cảnh Thống Mậu Ngọ (1498-1504) Hoằng Trị 11 __

112 Lê Túc Tông

Thái Trinh Giáp Tý (1504)

Hoằng Trị 17 __

113 Lê Uy Mục Đế

Đoan Khánh Ất Sửu (1505-1509) Hoằng Trị 18 __

114 Lê Tương Dực

Hồng Thuận Kỷ Tỵ (1509-1516) Chinh Đức 4 Minh Võ Tông

115 Lê Chiêu Tông

Quang Thiệu Bính Tý (1516-1522)[1]

Chính Đức __

116 Lê Hoàng Đệ Xuân

Thống Nguyên Nhâm Ngọ (1522-1527) Gia Tĩnh 1 Minh Thế Tông

117 Mạc Đăng Dung (1527-1529) [2]

Minh Đức Đinh Hợi (1527-1529) Gia Tĩnh 6 __

118 Mạc Đăng Doanh (1530-1540) Đại Chính Canh Dần (1530-1540) Gia Tĩnh 9 __

119 Lê Trang Tông(1533-1548) Nguyên Hòa Quý Tỵ (1533-1548) Gia Tĩnh 12 __

120 Lê Trung Tông (1549-1556) Thuận Bình Kỷ Dậu (1549-1556) Gia Tĩnh 28 __

121 Lê Anh Tông (1557-1573) Thiên Hựu Đinh Tỵ (1557)

Gia Tĩnh 36 __

122 __ Chính Trị Mậu Ngọ (1558-1571) Gia Tĩnh 37 __

123 __ Hồng Phúc Nhâm Thân (1572-1573) Long Khánh 6 Minh Mục Tông

124 Lê Thế Tông (1573-1600) Gia Thái Quý Dậu (1573-1577) Vạn Lịch 1 Minh Thần Tông

125 __ Quang Hưng Mậu Dần (1578-1599) Vạn Lịch 6 __

126 Lê Kính Tông (1600-1619) Thận Đức Canh Tý (1600) Vạn Lịch 28 __

127 __ Hoàng Định Tân Sửu (1601-1619) Vạn Lịch 29 __

128 Lê Thần Tông (1619-1643) Vĩnh Tộ Kỷ Mùi (1619-1628) Vạn Lịch 47 __

129 __ Đức Long Kỷ Tỵ (1629-16334) Sùng Trinh 2 Minh Chiêu Liệt Đế

130 __ Dương Hòa Ất Hợi (1635-1643) Sùng Trinh 8 __

131 Lê Chân Tông (1643-1649) Phúc Thái Quý Mùi (1643-1649) Sùng Trinh 16 __

132 Lê Thần Tông (1649-1662) Khánh Đức Kỷ Sửu (1649-1652) Thuận Trị 6 Thanh Thế Tổ

133 __ Thịnh Đức Quý Tỵ (1653-1657) Thuận Trị !) __

134 __ Vĩnh Thọ Mậu Tuất (1658-1661) Thuận Trị 15 __

135 __ Vạn Khánh Nhâm Dần (1662) Khang Hy 1 Thanh Thánh Tổ

136 Lê Huyền Tông(1663-1671) Cảnh Trị Quý Mão (1663-1671) Khang Hy 2 __

137 Lê Gia Tông1672-1675)

Dương Đức Nhâm Tý (1672-1673) Khang Hy 11 __

138 __ Đức Nguyên Giáp Dần (1674-1675) Khang Hy 13 __

139 Lê Hy Tông (1676-1705)

Vĩnh Trị Bính Thìn (1676-1680) Khang Hy 15 __

140 __ Chí Hòa Canh Thân (1680-1705) Khang Hy 19 __

141 Lê Dụ Tông (1705-1729)

Vĩnh Thịnh Ất Dậu (1705-1719) Khang Hy 44 __

142 __ Bảo Thái Canh Tý (1720-1729) Khang Hy 59 __

143 Lê Đế Duy Phường (1729-1732) Vĩnh Khánh Kỷ Dậu (1729-1732) Ung Chính 7 Thanh Thế Tông

144 Lê Thuần Tông (1732-1735) Long Đức Nhâm Tý (1732-1735) Ung Chính 10 __

145 Lê Ý Tông (1735-1740)

Vĩnh Hựu Ất Mão (1735-1740) Ung Chính 13 __

146 Lê Hiển Tông (1740-1786) Cảnh Hưng Canh Thân (1740-1786) Càn Long 5 Thanh Cao Tông

147 Lê Mẫn Đế (1787-1788)

Chiêu Thống Đinh Mùi (1787-1788) Càn Long 52 __

148 Nguyễn Văn Nhạc (1778-1793) [3]

Thái Đức

Mậu Tuất (1778-1793) Càn Long 43 __

149 Nguyễn Văn Huệ (1788-1792) Quang Trung

Mậu Thân (1788-1792) Càn Long 53 __

150 Nguyễn Quang Toản (1793-1802) Cảnh Thịnh Quý Sửu (1793-1801) Càn Long 58 __

151 __ Bảo Hưng Tân Dậu (1801-1802) Gia Khánh 6 Thanh Nhân Tông

152 Nguyễn Thế Tổ (1802-1819)[4]

Gia Long

Nhâm Tuất (1802-1819) Gia Khánh 7 __

153 Nguyễn Thánh Tổ (1820-1844) Minh Mạng

Canh Thìn (1820-1844) Gia Khánh 25 __

154 Nguyễn Hiến Tổ (1841-1847) Thiệu Trị

Tân Sửu (1841-1847) Đạo Quang 21 Thanh Tuyên Tông

155 Nguyễn Dực Tông (1848-1883) Tự Đức Mậu Thân (1848-1883) Đạo Quang 28 __

156 Nguyễn Dục Đức

Dục Đức

Quý Mùi 1883 (ba ngày) Quang Tự 9 Thanh Đức Tông

157 Nguyễn Hiệp Hòa

Hiệp Hòa

Quý Mùi 1883 (bốn tháng) Quang Tự 9 __

158 Nguyễn Giản Tông (1883-1884) Kiến Phúc Giáp Thân (1883-1884) Quang Tự 10 __

159 Nguyễn Hàm Nghi

Hàm Nghi Ất Dậu 1885

Quang Tự 11 __

160 Nguyễn Cảnh Tông (1886-1888) Đồng Khánh

Bính Tuất (1886-1888) Quang Tự 12 __

161 Nguyễn Thành Thái (1889-1907) Thành Thái Kỷ Sửu (1889-1907) Quang Tự 15 __

162 Nguyễn Duy Tân (1907-1916) Duy Tân Đinh Mùi (1907-1916) Quang Tự 33 __

163 Nguyễn Hoàng Tông (1916-1925) Khải Định Bính Thìn (1916-1925) Trung Hoa dân quốc 5 Trung Hoa dân quốc

164 Nguyễn Bảo Đại (1926-1945) Bảo Đại Bính Dần (1926-1945) Trung Hoa dân quốc 15 __

165 Việt Nam dân chủ cộng hòa (1945-1976)

Dân chủ cộng hòa Ất Dậu (1945-1976) Trung Hoa dân quốc 34 __

166 Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1976-...)

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Bính Thìn (1976-...) Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 28 Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Giải thích

1. Niên hiệu Quang Thiệu còn kéo dài đến (1526) đồng thời với Niên hiệu Thống Nguyên

2. Nhà Mạc, 66 năm (1527-1595). Từ 1533 về sau xem như một ngụy triều, đến 1677 thì mất hẳn

3. Nhà Tây Sơn (1788-1802) 14 năm, kinh đô Phú Xuân

4. Nhà Nguyễn (1802-1945), 143 năm

Kháng chiến của Việt Nam

Chống Tần (218-208 TCN) • Chống Triệu (179 TCN) • Chống Tây Hán (111 TCN) • Chống Đông Hán (40-43) • Chống Đông Ngô (248) • Chống Lưu Tống (468) • Chống Lương (542-550) • Chống Đường lần 1 (687) • Chống Đường lần 2 (722) • Chống Đường lần 3 (791) • Chống Nam Hán lần 1 (930-931) • Chống Nam Hán lần 2 (938) • Chống Tống lần 1 (981) • Chống Tống lần 2 (1077) • Chống Nguyên-Mông lần 1 (1258) • Chống Nguyên-Mông lần 2 (1285) • Chống Nguyên-Mông lần 3 (1287-1288) • Chống Minh lần 1 (1406-1407) • Chống Minh lần 2 (1407-1413) • Chống Minh lần 3 (1418-1427) • Chống quân Xiêm (1785) • Chống Thanh (1788-1789) • Chống Pháp lần 1 (1858-1884) • Chống Nhật (1940-1945) • Chống Pháp lần 2 (1945-1954) • Chống Mỹ (1954-1975)


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 06.09.2018, 13:27
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Dã sử] Đầu voi phất ngọn cờ vàng - Ngô Viết Trọng - Điểm: 10
Chú thích


[1] Quận Cửu Chân: Tên một quận do triều đình nước Tàu đặt ra thời nước ta bị Tàu đô hộ gồm đất Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tịnh và một phần Ninh Bình.

[2] Quận Giao Chỉ: Gồm toàn bộ phần đất Bắc Việt của ta hiện nay. Khi đọc sử nước nhà qua thời Bắc thuộc, nhiều người vẫn dễ lẫn lộn về các tên gọi Giao Châu với Giao Chỉ, tác giả xin mạn phép nói thêm về điều này vài dòng:

Khi Triệu Đà chiếm xong nước Âu Lạc, ông ta sát nhập nước ta vào lãnh thổ Nam Việt và chia nước ta thành hai quận: Giao Chỉ và Cửu Chân. Khi nhà Hán chiếm xong đất của nhà Triệu, nhà Hán đặt ra Giao Chỉ bộ gồm 9 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (Nhật Nam là phần đất từ Quảng Bình đến Bình Định), Đạm Nhĩ, Châu Nhai (hai quận này thuộc đảo Hải Nam), Hợp Phố, Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô (bốn quận này thuộc Quảng Đông, Quảng Tây). Năm 203, nhà Đông Hán đổi Giao Chỉ bộ thành Giao Châu cũng gồm 9 quận trên. Năm 226, nhà Đông Ngô chia Giao Châu làm hai: 1. Quảng Châu gồm 3 quận Nam Hải, Uất Lâm và Thương Ngô, trị sở đặt ở Phiên Ngung. 2. Giao Châu gồm 4 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố, trị sở đặt ở Long Biên. (Không thấy nói đến hai quận Đạm Nhĩ và Châu Nhai thuộc đảo Hải Nam). Sau biến cố Sĩ Huy chống lại nhà Đông Ngô, Đông Ngô lại cho hợp nhất Quảng Châu và Giao Châu lại như cũ (227). Rồi các triều đại kế tiếp Tấn, Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường các quận này còn được xếp đặt lại nhiều lần nữa. Dân Việt thời bấy giờ là cốt lõi của hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Tuy thế, toàn thể các quận của Giao Châu đều là đất của các dân tộc khác mới bị người Tàu chiếm nên nếu Giao Chỉ, Cửu Chân có biến động, dân các quận này cũng sẵn sàng nương cơ hội để nổi dậy giành độc lập.

[3] Tiếng “ả” ngày xưa rất nhiều nghĩa: chị, cô, cô ấy, nàng ấy. Có nơi con cái còn gọi chính mẹ sinh ra mình bằng ả nữa.

[4] Thái thú: Chức quan cai trị một quận. 

[5]Lữ Gia người huyện Lôi Dương, quận Cửu Chân (tức huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa ngày nay), làm quan đời nhà Triệu, được thăng dần đến chức Thái phó Quốc công. Năm 111 trước Tây lịch, Lữ Gia với cương vị Tể tướng nhà Triệu, đã chỉ huy quân đội nước Nam Việt chống giặc Hán đến hơi thở cuối cùng.

Lữ Gia được coi như một tấm gương trung dũng, yêu nước của người Việt. Hiện nay cả Sài Gòn lẫn Hà Nội đều có đường Lữ Gia, ngoài ra ở Sài Gòn còn có một cư xá Lữ Gia nữa.

[6]Nhà Triệu: Do Triệu Đà gây dựng năm 207 trước TL, lãnh thổ của Triệu Đà là nước Nam Việt bao gồm 2 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và nước Âu Lạc cũ (của vua An Dương Vương). Các vua Triệu muốn kết cấu lòng dân nên không kỳ thị dân Âu Lạc, do đó những người Âu Lạc có tài đều có thể ra làm quan như trường hợp Nguyễn Danh Lang, Lữ Gia… Sau khi Lữ Gia tử tiết, nhà Triệu mất vào tay nhà Hán (111 trước TL). 

[7] Tàu Ngô: Chuyện này xảy ra vào thời Tam Quốc nên gọi là Tàu Ngô để phân biệt với Tàu Ngụy, Tàu Thục.

[8] Thứ sử: Chức quan cai trị một châu. Châu có thể là một quận hay bao gồm nhiều quận.

[9] Ngàn Nưa: Ngàn Nưa xưa là một khu rừng núi thuộc ba huyện Nông Cống, Triệu Sơn, Như Thanh của tỉnh Thanh Hóa ngày nay. Phần lớn khu ngàn này thuộc lãnh thổ Nông Cống, trong đó có núi Nưa (Na Sơn) là đỉnh cao nhất. 

HẾT.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 27 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Cổ đại - Trùng sinh] Thừa tướng yêu nghiệt sủng thê - Sương Nhiễm Tuyết Y

1 ... 29, 30, 31

2 • [Hiện đại - Trùng sinh] Đêm trước ly hôn - Thiên Sơn Hồng Diệp

1 ... 8, 9, 10

3 • [Hiện đại] Cá mực hầm mật - Mặc Bảo Phi Bảo

1 ... 4, 5, 6

4 • [Hiện đại] Sở Sở - 099

1 ... 4, 5, 6

5 • [Hiện đại] Không bằng duyên mỏng - Viên Nghệ

1 ... 6, 7, 8

6 • [Hiện đại - Trùng sinh] Tôi bị ép buộc - Linh Lạc Thành Nê

1 ... 4, 5, 6

[Cổ đại - Trùng sinh] Đích trưởng nữ - Hạ Nhật Phấn Mạt

1 ... 25, 26, 27

8 • [Xuyên không - Điền văn] Cuộc sống điền viên trên núi của nông phu - Quả Đống CC

1 ... 9, 10, 11

9 • [Hiện đại - Trùng sinh] Anh hai Boss đừng nghịch lửa - Cửu Trọng Điện

1 ... 13, 14, 15

[Xuyên không] Khuynh thế tuyệt sủng tiểu hồ phi - Thanh Canh Điểu

1 ... 17, 18, 19

11 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 56, 57, 58

12 • [Hiện đại] Chọc vào hào môn Cha đừng động vào mẹ con - Cận Niên

1 ... 36, 37, 38

13 • [Cổ đại] Trưởng thôn là đóa kiều hoa - Vương Vượng Vượng

1 ... 4, 5, 6

14 • [Xuyên không Điền văn] Trọng Sinh Tiểu Địa Chủ - Nhược Nhan (Phần 1)

1 ... 49, 50, 51

15 • [Hiện đại] Ông xã cầm thú không đáng tin - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 21, 22, 23

[Hiện đại] Hào môn thịnh sủng bảo bối thật xin lỗi - Hạ San Hô

1 ... 14, 15, 16

17 • [Xuyên không] Bảo Bảo vô lương Bà mẹ mập là của ta - Ngũ Ngũ

1 ... 24, 25, 26

18 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 72, 73, 74

19 • [Hiện đại - Quân nhân] Hợp đồng quân hôn - Yên Mang

1 ... 37, 38, 39

20 • [Hiện đại] Có hợp có tan - Lâu Vũ Tình

1, 2, 3, 4



Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 283 điểm để mua Vòng hoa giáng sinh
Shop - Đấu giá: tiểu an nhi vừa đặt giá 327 điểm để mua Tám điện thoại
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 285 điểm để mua Thỏ nháy nhót
hakuha: 2 năm trước mọi người rất hay xài cái này
sau 2 năm trở lại ngày càng im ắng haizzz
Shop - Đấu giá: hakuha vừa đặt giá 360 điểm để mua Tấm thảm trái tim
Shop - Đấu giá: hakuha vừa đặt giá 270 điểm để mua Thỏ nháy nhót
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 254 điểm để mua Thỏ nháy nhót
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 401 điểm để mua Bông tai hạt dẻ
Shop - Đấu giá: tiểu an nhi vừa đặt giá 306 điểm để mua Bé nấm
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 318 điểm để mua Hằng Nga
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 400 điểm để mua Cặp đôi hamster
Shop - Đấu giá: Tiểu Ly Ly vừa đặt giá 528 điểm để mua Mây
Shop - Đấu giá: Tiểu Ly Ly vừa đặt giá 406 điểm để mua Mashimaro IOU
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 548 điểm để mua Mashimaro chờ xe buýt
Hoàng Phong Linh: :<
Shop - Đấu giá: 18521434 vừa đặt giá 315 điểm để mua Bé Mascot xanh
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 417 điểm để mua Mèo ôm cuộn len
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 294 điểm để mua Hello
Shop - Đấu giá: tiểu an nhi vừa đặt giá 250 điểm để mua Gấu trắng mơ màng
Shop - Đấu giá: mymy0191 vừa đặt giá 390 điểm để mua Nữ thần công lý
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 279 điểm để mua Hello
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 291 điểm để mua Mèo núp sau đám mây
Shop - Đấu giá: tiểu an nhi vừa đặt giá 276 điểm để mua Mèo núp sau đám mây
Shop - Đấu giá: á bì vừa đặt giá 212 điểm để mua Bảng khen thưởng
Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 397 điểm để mua Siêu nhân nhí
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 285 điểm để mua Bé hồng 3
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 250 điểm để mua iPod Shuffle
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 301 điểm để mua Cà phê
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 236 điểm để mua Giường ca rô đen
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 601 điểm để mua Cự Giải Nữ

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.