Diễn đàn Lê Quý Đôn
Cấm đăng tin quảng cáo các lớp học, khoá học, hội thảo, tìm học sinh... Các bài quảng cáo sẽ bị xoá.


Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 24 bài ] 

Chim ưng và chàng đan sọt - Bùi Việt Sỹ

 
Có bài mới 28.08.2018, 13:16
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Chim ưng và chàng đan sọt - Bùi Việt Sỹ - Điểm: 10
19

Năm 1300, mùa xuân tháng Hai, có người đàn bà ở Lộ Hồng (hiện không rõ ở đâu) sinh đứa con trai hai đầu.

Mùa hè, tháng 6, sao sa…

Hưng Đạo Đại vương ốm nặng. Vua Anh Tông thân đến điền trang Vạn Kiếp hỏi:

- Chẳng hay Đại vương chết, giặc phương bắc lại sang thì dùng kế sách gì để chống lại?

Hưng Đạo Đại vương trả lời:

- Ngày xưa Triệu Võ Đế dựng nước, vua Hán cho quân đánh thì nhân dân làm kế thanh dã (vườn không nhà trống), rồi đem đại quân từ Khâm Châu, Liên Châu đánh vào tỉnh Trường Sa, dùng đoàn binh úp đằng sau, đó là một thời. Đến thời Đinh Lê dùng được người hiền tài, đất phương Nam mới mạnh, mà phương bắc thì mỏi mệt, suy yếu. Trên dưới cùng lòng, lòng dân không chia, xây thành Bình Lỗ (khu vực Thái Nguyên bây giờ) phá được quân Tống, đó cũng là một thời. Nhà Lý mở nền, nhà Tống xâm chiếm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh thẳng vào Khâm Châu, Liên Châu là vì có thể đánh được. Mới rồi Toa Đô và Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây, vì vua tôi cùng lòng, anh em hòa mục, nước nhà góp sức. Giặc tự bị bắt, đó là trời xui nên vậy. Tóm lại, giặc cậy trận dài, ta cậy binh ngắn. Lấy ngắn chế dài là việc thường của binh pháp. Nếu thay quân giặc đến ồ ạt như lửa cháy, gió thổi thì dễ chế ngự. Nếu nó đi chậm như cách tằm ăn, không cần của dân, không cần được chúng thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời mà làm, có thu được binh lính một lòng như cha con thì mới dùng được vả lại KHOAN THƯ SỨC DÂN ĐỂ LÀM KẾ SÂU GỐC BỀN RỄ. ĐÓ LÀ THƯỢNG SÁCH ĐỂ GIỮ NƯỚC. MẤT LÒNG DÂN LÀ MẤT TẤT CẢ.

Mùa thu, tháng Tám, ngày 20 Hưng Đạo Đại vương mất tại nhà riêng ở Vạn Kiếp. Trước khi mất có gọi bốn con đẻ và ba con nuôi là Yết Kiêu, Dã Tượng và Phạm Ngũ Lão đến dặn rằng:

- Hãy xây lăng mộ giả cho cha. Còn thân thể thì bí mật hỏa táng. Tro cốt cho vào ống tròn, gắn kín hai đầu rồi đem chôn ở vườn An Lạc. Chôn xong nhớ trồng cây trồng cỏ lên như cũ để không ai có thể phát hiện ra. Phòng sau này giặc Tầu sang sẽ đào mồ, cuốc mả cha, làm tổn hại đến khí thiêng sông núi.

Vua bỏ thiết triều mười ngày và truy tặng tước Thượng phụ thượng Quốc công, Nhân Võ Hưng Đạo Đại vương. Còn dân chúng phong cho Ngài là Đức Thánh Trần và dựng đền thờ người ở Kiếp Bạc, Chí Linh Hải Dương cùng rất nhiều nơi khác không đếm xuể… Gần bẩy trăm năm sau, từ điển quân sự của Anh Quốc, đã xếp Hưng Đạo Đại vương và Đại tướng Võ Nguyên Giáp của Việt Nam nằm trong số mười tướng thiên tài của mọi thời đại.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 28.08.2018, 13:17
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Chim ưng và chàng đan sọt - Bùi Việt Sỹ - Điểm: 10
20

Năm 1301, Thượng hoàng Trần Nhân Tông qua chơi Chiêm Thành, được vua Chiêm là Chế Mân tiếp đãi hết sức ân cần. Người ở lại đất Chiêm gần sáu tháng. Trước khi về có hứa gả con gái út là công chúa Huyền Trân cho Chế Mân để lập làm hoàng hậu. Thay thế hoàng hậu cũ người Java. Chế Mân từng là đồng minh của Đại Việt trong cuộc chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ hai. Với bốn trăm chiến thuyền và hai vạn quân Đại Việt cộng với kế bỏ thành trống, Chế Mân đã làm phá sản kế hoạch xâm chiếm của mười lăm vạn quân Toa Đô cùng một ngàn chiến thuyền.

Khi Thượng hoàng về nước, đem việc đó ra hỏi ý kiến các quan. Mọi người đều phản đối vì khi đó Huyền Trân mới 15 tuổi. Năm 1305, sứ giả Chiêm lại đem rất nhiều cống phẩm cùng hai châu Ô và châu Rí (chứ không phải là châu Lý như nhiều sách báo đã viết, vì tiếng Chiêm không có từ Lý) làm lễ rước dâu. Vua Anh Tông xót em gái út phải gả chồng xa. Một số quan lại phản đối quyết liệt cho rằng việc gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân chẳng khác nào vua Hán bên Tầu phải gả Chiêu Quân cho Hung Nô. Riêng Trần Khắc Chung lúc ấy đã được phong tới chức Đại hành khiển thì lại ra sức ủng hộ Thượng hoàng. Năm 1306 công chúa Huyền Trân do vậy mới được gả cho Chế Mân làm hoàng hậu. Một năm sau, vào năm 1307, sau khi sinh được thái tử Đada thì Chế Mân đột ngột qua đời. Theo tục lệ nước Chiêm, hoàng hậu phải lên giàn thiêu để chết theo vua. Vua Anh Tông biết vậy, sợ em gái phải chết thảm bèn cử người đi cứu Huyền Trân và thái tử Đada về. Trước đây Khắc Chung đã hết lời khuyên gả Huyền Trân nên cực chẳng đã phải xung phong đem thuyền nhẹ đi cứu. Sau khi chuyển đồ lễ viếng gồm voi nan, ngựa giấy, vàng thỏi giấy, Khắc Chung nói thác ra rằng:

- Nếu hoàng hậu Huyền Trân hỏa táng thì việc làm chay không có người chủ trương chi bằng hãy ra bờ biển làm lễ chiêu hồn ở ven trời đón linh hồn vua cùng về rồi hãy vào giàn thiêu.

Người Chiêm nghe theo. Khắc Chung biết họ đã bị mắc bẫy, nên ra đến bờ biển bèn sai người cướp lấy công chúa đưa lên thuyền căng buồm chạy thẳng ra khơi. Người Chiêm trở tay không kịp.

Để đánh lạc hướng quân Chiêm, Khắc Chung cho thuyền ra tít khơi xa, rồi chạy ngoặt xuống phía nam, sau đó khi biết chắc đã đánh lạc hướng quân địch, Khắc Chung mới cho giong thuyền ngược lên phía bắc.

Vua Anh Tông thấy em gái trở về lành lặn. Sau gần một năm “lênh đênh” trên biển, biết là Khắc Chung đã làm gì, nhưng cũng chẳng biết xử thế nào.

Riêng Hưng Nhượng Đại vương Trần Quốc Tảng (vì gả con gái cả cho Anh Tông và làm quan rất thanh liêm, nên được tập tước của cha) thì ghét Khắc Chung lắm. Một lần gặp ở cửa triều, Quốc Tảng chỉ mặt Khắc Chung mà mắng rằng:

- Người này đối với nước là bất tướng, lại lấy họ là Trần Khắc Chung thì nhà Trần có lẽ hết vì mày chăng?

Rồi rút gươm ra toan chém, Khắc Chung vội lẩn vào toán các quan chuẩn bị vào chầu. Từ đấy mỗi lần gặp Quốc Tảng từ xa, Khắc Chung đã tìm cách “lủi” cho nhanh, cho khéo. Năm năm sau, vào năm 1313 Hưng Nhượng Đại vương Trần Quốc Tảng chết (thọ 61 tuổi) Khắc Chung mới hết lo.

Còn về Huyền Trân, trở lại Thăng Long, công chúa xuất gia đi tu vào năm 1309 lấy pháp danh là Hương Tràng, và mất tại chùa Nộm Sơn tức Quảng Nghiêm Tự tại huyện Thiện Bản Nam Định vào ngày mồng 9 tháng Giêng năm Canh Thìn 1340. Dân chúng biết ơn bà và tôn là Thần Mẫu. Với Chiêm Thành việc giải cứu Huyền Trân được coi là hành vi bất tín của Đại Việt khiến dân Chiêm nổi giận, đòi lại hai châu Ô, châu Rí. Và nhiều lần vượt biển ra đánh phá Đại Việt…

Trở lại chuyện Trần Khánh Dư có bảo với Khắc Chung rằng:

- Ngươi là quan Đại hành khiển, lúc nào cũng được túc trực quanh vua. Vậy hãy tìm cơ hội tâu cho ta lên chức Đại vương thì ta sẽ cho người một ngàn lượng vàng.

Khắc Chung thấy thế thì mừng lắm, nhận lời ngay. Nhân một hôm vua Anh Tông gọi vào bàn việc cơ mật, đã tranh thủ tâu rằng:

- Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư có công lớn trong cả ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông. Được xếp thứ tư sau Hưng Đạo Đại vương, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão và Nguyễn Khoái lại là Thiên tử nghĩa nam của Thái hoàng Trần Thái Tông. Thế mà cứ ở mãi tước vương thì e là quá thiệt thòi. Trong khi Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng, công lao không được bằng Nhân Huệ vương mà lại được phong Đại vương.

Vua Anh Tông vốn anh minh nên đáp lại rằng:

- Hưng Nhượng vương là Quốc Trượng (cha vợ của vua), làm quan cần cù liêm chính. Cha là Hưng Đạo Đại vương đã mất thì việc con được tập tước của cha là lẽ đương nhiên, không ai dèm pha gì được. Còn Nhân Huệ vương, đành rằng có công lớn, nhưng tính tình kiêu ngạo, ăn chơi sa đọa, bị dân các nơi kiện, đã không biết sửa mình còn nói “quan lại quý tộc là chim ưng, lính dân là vịt, thì việc đem vịt nuôi chim ưng là lẽ tự nhiên”. Mới rồi lại gây ra thảm án chết người ở làng Phù Ủng, may mà gia chủ không kiện, nên triều đình mới bỏ qua… Một người như vậy phong Đại vương thế nào được?

Khắc Chung năn nỉ thêm vài lần khác, viện cả việc Khánh Dư đã có công xây dựng thương cảng Vân Đồn, nhưng vua Anh Tông đều gạt đi.

Biết Trần Khắc Chung đã bị thất sủng sau vụ công chúa Huyền Trân, Nhân Huệ vương nghĩ không còn lợi dụng được gì nên từ đó không chu cấp tiền cho Khắc Chung đánh bạc nữa.

Vua Chiêm là Chế Chí vốn tính gian manh, nhiều lần đồng ý hòa hiếu với Đại Việt, rồi lại tráo trở, lật lọng đem quân ra quấy rối ở vùng Hoan - Ái. Nhiều lần gây cho Đại Việt tổn thất đáng kể.

Năm 1312, mùa xuân, tháng ba, vua Anh Tông quyết định đem Huệ Võ vương Trần Quốc Chẩn đi đường núi. Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư lĩnh Thủy quân đi đường biển. Vua Anh Tông thân chinh đi đường bộ, có Điện súy Phạm Ngũ Lão đem quân Thánh dực đi hộ giá. Đoàn Nhữ Hài tâu với vua:

- Quân ta rầm rộ tiến theo ba đường thế này tất là bắt được Chế Chí. Nhưng để khỏi bị tổn thất, dù ít, dù nhiều xin Thánh thượng cho thần đến lấy lẽ thiệt hơn dụ hàng Chế Chí là thượng sách.

Vua Anh Tông ưng thuận. Đoàn Nhữ Hài đến đại bản doanh của Chế Chí, quân lính cho vào. Đoàn Nhữ Hài bảo:

- Đại binh của Đại Việt chia ba đường cùng tiến. Chiêm thành lấy gì chống đỡ đây!

Chế Chí cười đáp:

- Xưa quân Toa Đô với cả ngàn chiến thuyền lớn cùng mười lăm vạn quân tinh nhuệ mà gần ba năm trời không làm gì được nước Chiêm. Thử hỏi Đại Việt bằng được mấy phần Toa Đô.

- Người Chiêm vẫn tự hào vua của họ Chế Chí có tài thao lược tính đâu ra đó. Nay nghe nói vậy mới biết dân nước Chiêm bị nhầm to rồi. - Đoàn Nhữ Hài ung dung nói.

- Ngươi nói thế là sao? - Chế Chí vặn lại.

- Nhân Huệ vương là tướng đánh thuỷ giỏi nhất thời nay. Huệ Võ vương cũng là tướng tài hiếm có. Riêng Điện súy Phạm Ngũ Lão chẳng phải ngài đã nghe chính là người đã bắn chết Toa Đô ở bên Chương Dương đó sao? Lần này Điện súy hộ giá vua Trần đến đây, thử hỏi người Chiêm có ai là đối thủ.

- Ta nghe nói Điện súy Ngũ Lão cách ba trăm bước, bắn tách đôi ngọn tre, chuyện đó có không?

- Trăm nghe không bằng một thấy. Nếu Ngài muốn Điện súy sẽ bắn thử cho Ngài coi.

- Ừ, thì cứ coi chuyện đó là thật thì ngươi định khuyên ta thế nào?

- Tôi cất công sang đây chỉ để nói cho Ngài một điều thôi. Một điều song lại tốt cho cả Chiêm Thành lẫn Đại Việt. Ấy là Ngài hãy sớm hàng đi!

Chế Chí ngẫm nghĩ hồi lâu rồi đồng ý.

Trần Khánh Dư thấy mình đem binh vượt biển vất vả mà không lập được công gì, vả lại vừa rồi cậy nhờ Trần Khắc Chung để xin vua phong lên Đại vương không được thì đành “một liều ba bẩy cũng liều”. Biết Chế Chí đem quan và quân đi đường biển lại hàng vua Anh Tông, Khánh Dư giương buồm, thúc quân đuổi theo, hòng bắt Chế Chí, cướp công của cả vua Anh Tông và Đoàn Nhữ Hài. Nhữ Hài thấy vậy thì sợ hãi vội tức tốc phi ngựa về báo với vua rằng:

- Khánh Dư khinh nhờn phép nước. Muốn tranh công cả với Thánh thượng!

Vua Anh Tông cho thuyền cấp tốc ra chặn quân của Khánh Dư lại, rồi gọi giám quân của Nhân Huệ vương đến. “Giận cá chém thớt”. Vua Anh Tông sai lôi Nguyễn Ngỗi ra ngoài chặt hai chân, từ ống chân trở xuống.

Trần Khánh Dư lúc ấy mới cả sợ vội vàng tâu với vua:

- Tôi sợ Chế Chí vốn phản trắc nên đi sau để đề phòng đó thôi! Chứ không có ý gì!

Vua Anh Tông nghe Khánh Dư chống chế như thế thì cũng bớt giận không nói thêm gì nữa. Riêng Điện súy Ngũ Lão thì nghĩ rằng: “Triều Trần sau Anh Tông đã có dấu hiệu suy. Việc sư phụ dặn đã đến lúc phải thực hiện rồi”.

Trần Khánh Dư trở lại thuyền, Nguyễn Ngỗi đau đớn than:

- Tôi chết mất Nhân Huệ vương ơi!

Khánh Dư bảo:

- Ngươi chết! Vợ con để đấy ta lo, không phải vương vấn nỗi gì!

Lần ấy bình Chiêm, nhờ uy của Phạm Ngũ Lão và nhờ tài khéo ăn nói của Đoàn Nhữ Hài mà Đại Việt không tốn một mũi tên đã thành công. Chỉ riêng Nguyễn Ngỗi là phải chịu thiệt thòi…


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 28.08.2018, 13:18
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Chim ưng và chàng đan sọt - Bùi Việt Sỹ - Điểm: 10
21

Nhân việc vua Anh Tông đang vui, Phạm Ngũ Lão vào triều tâu:

- Muôn tâu Thánh thượng! Hiện giờ nhà Nguyên ở phía Bắc đã suy. Chiêm Thành ở phía Nam đã quy phục. Ai Lao ở phía tây cũng không dám quấy rối gì. Thần giờ đã ở tuổi 60, chinh chiến nhiều năm nên muốn về nghỉ ngơi an hưởng tuổi già. Mong được Thánh thượng chuẩn tấu.

Vua Anh Tông đáp:

- Nước Triệu thời chiến quốc chỉ bé bằng cái kẹo mà có Liêm Pha tuổi đã 80 mươi mà ngày vẫn ăn hết ba bốn cân thịt[6], uống hết mấy vò rượu. Tay vẫn giương nổi cung hai tạ khiến cho nước Tần ở phía Tây bắc phải e dè. Nước Tề, nước Ngụy phải khiếp sợ. Điện súy nay mới bước vào tuổi lục tuần sao đã gọi là già được.

- Muôn tâu Thánh thượng, Liêm Pha không phải như thần. Thường xuyên được ở nhà. Chỉ khi nào nhà nước có việc, vua Triệu mới cho người đến gọi. Còn thần phải túc trực suốt ngày đêm nên cảm thấy rất mệt mỏi. Nếu được như Liêm Pha khi nào có giặc giã, Thánh thượng cho gọi, thần xin sẵn sàng đến ngay. - Phạm Ngũ Lão tâu tiếp.

- Thôi được rồi! - Vua Anh Tông tỏ ra dễ dãi. - Chức Điện súy Thượng tướng quân với con triện có đầu hổ, tướng quân cứ giữ. Lúc nào trẫm có việc sẽ cho người vời tướng quân vào. Lúc đó chỉ mong tướng quân đừng “kêu mệt”!

- Đa tạ ân sủng của Thánh thượng! - Phạm Ngũ Lão đáp - Thần từ thuở tiên đế, có từ nan việc gì đâu!

Về nhà nói với vợ là quận chúa An Nguyên và con là Phạm Ngộ, lúc này đã làm quan văn trong triều, rồi chuẩn bị hành trang lên đường. Với chiếc tay nải vắt vai, bên trong có mấy bộ quần áo nâu thay đổi, một chai rượu mạnh, một đống bạc trắng và mấy củ gừng già (ba thứ này dự phòng làm thuốc đánh gió cho những người đi giang hồ có kinh nghiệm). Phạm Ngũ Lão đóng vai người “mãi võ” bán “thuốc cao đan hoàn tán”. Ông cuốc bộ vào phía nam, về vùng Hoan - Ái. Ngày đi, đêm nghỉ. Tới các thị trấn có đông người thì ghé lại dăm ba hôm. Chỗ nào có tổ chức thi đấu võ thuật thì ở lại lâu hơn. Hy vọng tìm được “truyền nhân” như lời sư phụ trăng trối lại. Ông đã đi được vài ba tháng, dừng lại ở rất nhiều nơi, cũng gặp không ít phiền toái, cảnh bất công “trướng tai gai mắt” như ở một thị trấn miền tây Ái châu. Tại đây có một tên bá hộ, người to như trâu lăn, lập “lôi đài” thách mọi người thi đấu. Nghe nói hắn thường cậy có sức khỏe và tiền của để ức hiếp dân lành, đến quan huyện cũng phải kiềng mặt hắn. Ngũ Lão nghĩ: “phải dạy cho hắn một bài học”. Hai chân vừa xuống tấn thì không hiểu là ván võ đài dùng lâu nên ải hay là sức của Ngũ Lão còn quá mạnh mà chân phải thụt xuống. Dăm gỗ làm tướp hết cả bắp chân, máu me túa ra. Lẽ ra tên bá hộ theo lẽ “thượng võ” phải dừng lại, thì nhân cơ hội đó, lại phóng thẳng một cú “song phi”, hai bàn chân nhằm thẳng vào giữa ngực Ngũ Lão. Như người khác, chắc chắn là dính đòn đến tàn phế: ngực dập, chân mắc dưới sàn gãy. Nhưng chỉ đứng có một chân, Ngũ Lão vẫn nhẹ nhàng thu hai bàn tay lại, chờ hai bàn chân hộ pháp phóng tới thì đẩy mạnh ra. Người gã bá hộ tung lên, lưng đập xuống võ đài đánh rầm một tiếng. Miệng thổ ra huyết.

Ngũ Lão rút bắp chân tướp máu lên, tiến lại nắm lấy tóc hắn mà đe:

- Tao tạm tha cái mạng chó cho mày! Nếu còn ức hiếp dân lành, lần sau quay lại, đừng trách ta không báo trước!

Rồi một buổi chiều, Phạm Ngũ Lão tới bên bờ sông Lam, ngồi trên bờ đê hóng mát, nhìn xuống phía bãi bồi thấy nương dâu xanh mát mắt. Biết là ở đây là vùng trù phú, dân cư làm ăn chăm chỉ và có quy củ, nề nếp. Lấp ló trong đám dâu Ngũ Lão thấy một người đàn ông trạc tuôi ngũ tuần đang cầm roi đồng chạy đuổi, đùa nghịch với một đứa trẻ mới độ mười một, người hai. Qua thân các cây dâu nhưng vẫn nhận ra cặp chân dài khỏe mạnh, nhanh nhẹn của đứa bé. Ngũ Lão thấy hay hay, liền lấy một hòn đất ném xuống, để làm quen với cả hai người. Ai dè, gã đàn ông nổi xung, chạy tới, chẳng nói chẳng rằng, vung cây roi đồng vụt thẳng vào vai Ngũ Lão. Ngũ Lão nhẹ nhàng đưa tay bắt lấy. Gã vội tung chân đá vào ngực ông. Ngũ Lão lại cười, nắm lấy chân hắn, rồi giơ cả người hắn lên trời như nắm một con nhái. Đứa trẻ thấy thế thì chạy vào vườn dâu gọi mẹ:

- Mẹ! Mẹ ơi! Có ông Thiên lôi đang bắt nạt cậu Hai!

Người đàn bà tuổi đã lục tuần, nhưng tóc còn đen, người hơi đẫy nhưng gọn vội chạy tới. Lúc đó Ngũ Lão đã đặt người đàn ông mà thằng bé gọi là cậu hai xuống. Bốn mắt nhìn nhau. Cả hai cùng định “Há” miệng ra, rồi lại cùng đưa tay lên miệng, làm ám hiệu “im lặng”.

- Chị Cả, không ngờ chị lại ở đây! - Ngũ Lão lên tiếng trước.

- Chú! À… ông chú. Ông có việc gì mà đi đến nơi này.

- Ơ, mẹ quen ông ta à? - Đứa bé nhanh nhẹn hỏi.

- Không phải là quen!… Mà là họ hàng! Con phải gọi là ông đấy!

- Ông trẻ hơn mẹ, mà sao con phải gọi thế?

- Ông còn ít tuổi hơn mẹ… Nhưng ông thuộc chi trên. Mẹ thuộc chi dưới. Mẹ phải gọi ông là chú. Còn con phải gọi ông là ông chú. Nghe chưa!

Chị có một cơ ngơi thật rộng, với ba dãy nhà gỗ lim, cột lim, tường thưng gỗ lim dày, mái lợp ngói âm dương. Ở giữa là một sân gạch rộng mênh mông. Sàn nhà lát đá xẻ mầu hồng. Cậu Hai thấy chị Cả đón tiếp vị khách lạ hết sức cung kính thì cũng có vẻ sờ sợ, và không hiểu ra sao?

Buổi tối, sau bữa cơm rượu thịnh soạn, Ngũ Lão nói:

- Chị Cả à! Em… (chị vội đưa mắt) Ngũ lão chữa lại - ông chú thấy thằng cháu trán rộng, mắt sáng, mũi cao, miệng rộng, hàm vuông… Chân tay dài, nhanh nhẹn và cứng cáp… Có thể luyện võ được.

- Thế ông không thấy… cháu ông đang tập đánh roi đấy à?

- Ông họ đã xem rồi! Các bài roi của cậu Hai chỉ để bắt bọn trộm trâu, trộm chó được thôi! Chứ còn muốn có võ công để cứu được nước, giúp được dân thì phải tìm thầy khác… Tập theo cách khác. Bên cạnh luyện võ, còn phải học văn nữa…

- Úi trời ơi! Ở cái vùng bán sơn địa này thì lấy đâu ra thầy… thượng thặng để dạy cho nó… Hay là chú… À, ông chú… Chị định bảo “chú đưa nó về kinh đô”, nhưng đã vội chữa lại - tìm xem có ai… thì mời giúp. Có bán cả gia sản cho… cháu luyện văn, luyện võ thành tài… tôi cũng sẵn lòng.

- Thôi được rồi, bắt đầu từ ngày mai… ông chú họ sẽ thử tập cùng với cháu xem sao?

Rồi hai người chụm đầu thì thầm… ông chú họ là người “mãi võ bán thuốc cao”. Họ Mã tên Phu Hùng. Còn chị là chị Cả. Cậu em là cậu Hai. Cháu bé có tên tuổi rất kêu; Họ Lưu, tên Trọng Nhân. Rồi chị thì thầm kể cho Ngũ Lão, từ ngày bỏ làng ra đi, thấm thoắt đã được mười năm. Vào đây nhờ có dấn, có vốn lại biết căn cơ làm ăn nên chả mấy chốc chị trở thành giầu có nhất vùng. Ruộng có vài trăm mẫu. Đồi rừng, thì bạt ngàn. Trâu bò hàng trăm con. Người ăn, kẻ ở cũng có đến dăm bảy chục. Lại được cái Hoàng Lương trung thành, tận tụy hết mức…

Rồi chị hỏi về làng xóm thế nào? Ngũ Lão đáp vẫn như xưa.

- Nhiều lúc muốn đánh liều ra thăm một chuyến - Chị nói - Nhưng rồi lại sợ… lộ chuyện ra… Người ta vào bắt mất Trọng Nhân… nên lại thôi.

- Ông ta (chỉ Nhân Huệ vương) vẫn còn cường tráng lắm! - Của cải thì vào loại giầu nhất nước. Tính khí kiêu căng… có lúc dám coi vua… chả ra gì. Ngũ Lão thì thầm kể.

- Thôi! Tránh voi chẳng xấu mặt nào!… Bây giờ có… ông chú họ vào đây… thì cũng thấy ấm áp hơn rồi.

- Ông chú họ… một năm chỉ ghé qua đây vài lần. Mỗi lần khoảng trên dưới một tháng. Ông còn việc triều đình… Và các việc khác nữa… Về học chữ. Chị Cả ra phố huyện tìm thầy, mời về tận nhà mới được. Đất Hoan Châu là đất võ. Song cũng là đất văn, có nhiều thầy đồ rất giỏi.

Từ hôm sau, Trọng Nhân gọi “ông chú họ” là sư phụ và xưng con. Việc luyện tập thì cũng giống như ngày xưa sư cụ rèn Ngũ Lão. Đầu tiên là tập nội công. Một vườn chuối lớn được trồng. Đất đồi thì tha hồ chỗ nào cũng có để tập đá. Buổi sáng sư phụ bắt Trọng Nhân dậy từ cuối giờ dần (khoảng bốn giờ sáng), bắt xuống sông gánh năm chục gánh nước lên tưới cây. Một hôm trời mưa, đường trơn, Trọng Nhân bị trượt chân ngã lăn lông lốc từ sườn đồi xuống sát mép sông. Chị Cả xót con khóc sưng cả mắt và có ý trách sư phụ sao lại phải “hành xác” đệ tử cực nhọc đến như vậy. Sư phụ cho gọi Trọng Nhân vào, ba mặt một lời, Sư phụ hỏi:

- Con có muốn tập võ nữa hay không?

- Dạ, thưa sư phụ… Dù gian khổ thế nào con cũng xin cố ạ!

- Nhưng mẹ con thấy vất vả quá… Muốn con thôi. Nếu con nghe mẹ. Sư phụ thu xếp đi ngay!

- Thưa mẹ - Trọng Nhân quỳ dưới chân chị Cả nói - Nếu mẹ bắt con nghỉ… con sẽ bỏ nhà đi theo sư phụ!

- Thưa sư phụ. - Chị Cả hỏi Ngũ Lão - Không có cách nào “học tắt” được à?

- Võ thuật, nếu không học đến nơi đến chốn thì thà không học còn hơn - Sư phụ giảng giải - Biết theo kiểu… - Ngũ Lão định nói đến trường hợp của cha Trọng Nhân. - Nhưng sợ động vào nỗi đau của chị Cả nên kịp dừng lại… - mấy tay mãi võ ngoài đường, ngoài chợ… dễ chết oan lắm.

Trọng Nhân có tố chất của người học võ thuật, lại ham luyện tập nên tiến bộ rất nhanh. Chị cả mừng ra mặt. Một hôm nhờ người vào tận thành Hoan Châu mời thầy đồ họ Nguyễn, một họ có danh tiếng về chữ nghĩa về làm gia sư cho con. Ông thầy đồ vào phòng Ngũ Lão thấy sư phụ chỉ chuyên tâm đọc sách, ngâm thơ thì rất lấy làm lạ, bèn hỏi:

- Dạ! Tôi hỏi khí không phải. Sư phụ có phải dòng dõi Phục ba tướng quân Mã Viện không ạ!

- Họ Mã nhà Phục ba là họ trâu ngựa. Còn họ Mã nhà tôi là họ Mã thượng. Không có dây mơ rễ má gì…

Buổi sáng trời rét như cắt thịt, trò thì gánh nước từ dưới sông lên, còn sư phụ thì đi quyền để “giữ sức”. Vị gia sư thấy sư phụ tay đấm, chân đá cứ nhẹ như không mà tiếng gió toát ra thì lại mạnh mẽ vô cùng, biết là loại “cao thủ võ lâm”, sống mai danh ẩn tích.

Rồi thầy đồ mời sư phụ qua phòng mình uống trà. “Bình minh nhất trản trà” mà. Nói lòng vòng mấy chuyện, vị gia sư đặt thẳng vào việc:

- Tôi có đứa cháu ngoại, cũng ham mê võ nghệ lắm! Nhưng nhà nghèo… Vậy tôi đưa cháu sang đây! Tiền dạy học cho Trọng Nhân, xin gửi cho sư phụ. Không biết có được không?

Sư phụ cười sảng khoái nói:

- Thầy cứ cho cháu qua đây! Tôi chỉ nhìn qua và tập với cháu vài buổi là biết cháu có theo được nghiệp này hay không? Võ thuật… cũng là nghệ thuật. Không có năng khiếu, tài năng và lòng say mê thì cũng như văn chương… chả nên cơm nên cháo được đâu. Còn nếu cháu có thiên bẩm, thì dù nhà nghèo đến đâu, thầy không cần phải trả nửa xu, tôi cũng sẽ luyện cho cháu được… Vả lại ngoài giờ tập võ, học chữ… ở đây thiếu gì việc để các cháu nó làm… Tự kiếm cơm nuôi bản thân được.

Mấy ngày sau, cháu vị thầy đồ sang, tư chất không bằng Trọng Nhân. Nhưng nếu gặp thầy giỏi, chịu khó khổ luyện thì cũng có cơ thành tài được.

Năm sau lại có hai anh em nhà họ Lê, từ Ái Châu vào. Sư phụ thấy đây cũng là mầm non nhiều hứa hẹn, liền vui vẻ nhận ngay.

Qua năm 1314 vua Anh Tông nhường ngôi cho con là Minh Tông lên nối ngôi. Phạm Ngũ Lão nhờ thế mà càng có nhiều thời gian sống ở vùng Đô Lương - Hoan Châu hơn. Học trò nào mới đến Ngũ Lão cũng dạy bài phải khắc cốt, ghi tâm: “Học võ là để cứu nước, giúp dân”. Qua ba năm “lò võ” của sư phụ họ Mã đã có tới hơn hai chục võ sinh. Sư phụ chia ra từng nhóm vài ba người một. Lớp trước dạy lớp sau. Chỉ có các bài nâng cao thì sư phụ mới trực tiếp truyền thêm.

Sư phụ Mã bỏ tiền ra tậu ruộng, tậu đất đai, trâu bò. Các võ sinh tự canh tác nuôi thân, để mà luyện võ. Sư phụ còn nhờ Nguyễn tiên sinh mời ba thầy để đến dạy chữ cho các môn sinh. Tiền thù lao tất nhiên là thầy Mã chi trả tất. Không muốn “phô trương” nên sư phụ Mã cấm các học trò được tham gia các ngày hội võ thuật ở xung quanh, nhân dịp tết đến xuân về.

Thời gian cứ thấm thoắt trôi. Mới ngày nào sư phụ Mã đến đây Trọng Nhân mới mười một mà nay đã 16. Chị Cả lập tức hỏi vợ cho nó. Ngũ Lão khuyên nên chờ thêm hai ba năm nữa. Nhưng riêng việc này thì chị kiên quyết cho sư phụ “ra rìa”. Mười tháng sau, một cặp song sinh ra đời. Đứa nào cũng “chân tay dài, rộng cả”. Chị Cả mừng đến rơi nước mắt, đặt đứa ra trước là Khánh Trung, đứa ra sau là Khánh Đức.

Một lần Phạm Ngũ Lão có việc phải về kinh sáu tháng. Khi quay lại thấy Trọng Nhân chững chạc hơn nhiều. Trọng Nhân khoe, mới tự luyện được ngón phóng lao, bách phát bách trúng. Sư phụ hỏi nhờ đâu mà con nghĩ ra được “chiêu” này? Trọng Nhân thưa:

- Một lần theo đoàn thợ săn. Họ bẫy được một con gấu ngựa cực lớn. Chân nó đã dính bẫy rồi. Nhưng đám thợ vác giáo vào đâm, đều bị nó dùng hai tay trước đoạt hết. Con cũng cầm giáo lao vào. Nó đoạt được ngay. Con bèn lùi lại. Vớ một ngọn giáo, nhằm ức có chùm lông trắng của nó phóng tới. Chỉ một phát trúng ngay tim. Con gấu ngựa nặng tới hơn hai tạ gục xuống liền, về nhà con nghĩ. Địch ở sát thì dùng đao, ở xa thì dùng cung tên. Còn ở lưng chừng thì phóng lao là thượng sách. Thế là con luyện “chiêu” này. Giờ cách xa hai chục bước, con phóng “bách phát, bách trúng”.

- Con hơn sư phụ là phúc lớn cho nước nhà rồi! - Ngũ Lão ôm chầm lấy Trọng Nhân, nghẹn ngào, mừng rỡ nói.

Mùa xuân năm 1318, vua Chiêm là Chế Năng lại làm phản. Đánh phá vùng giáp ranh với Đại Việt. Đưa yêu sách đòi lại hai châu Ô và châu Rí. Vua Minh Tông sai Huệ Võ vương Quốc Chẩn đem tám vạn quân vào đánh dẹp. Chế Năng vốn là người nhanh nhẹn, văn võ song toàn. Quân Trần từ Thăng Long vào mỏi mệt, muốn đánh nhanh, thắng nhanh. Chế Năng vờ thua. Quốc Chẩn thúc quân đuổi theo. Được ba mươi dặm, ba bề là núi, quân phục của Chiêm Thành đổ ra, từ trên đánh xuống, thế như chẻ tre, vây chặt quân Trần vào một thung lũng. Quốc Chẩn sai mười tráng sĩ đột phá vòng vây, chạy thoát được ra về Thăng Long xin cứu viện. Vua Minh Tông, nửa đêm cho gọi Phạm Ngộ vào cung, bảo Ngộ tìm bằng được Phạm Ngũ Lão về kinh sư ngay. Phạm Ngộ sai người đi ngựa trạm vào thẳng Đô Lương truyền lệnh của vua. Ngũ Lão ngay trong đêm, thu xếp đi thẳng tới thành Hoan Châu. Trọng Nhân xin đi theo. Mẹ Cả hai tay bế Khánh Trung và Khánh Đức ra, và hỏi:

- Các con có cho bố đi không?

Khánh Đức trả lời bằng cách dựng chim, đái vọt cần câu một bãi rất xa. Mẹ Cả cười lẫn nước mắt bảo:

- Nếu không có hai đứa bé này thì dẫu có kề gươm vào cổ tôi cũng không cho Trọng Nhân đi.

Thấy con lên ngựa, tay cầm đao, lưng gài năm ngọn lao, oai phong lẫm liệt, mặc dù mới qua tuổi mười bẩy được mấy ngày, mẹ Cả bảo:

- Vì nước, con hãy đi đi! Nhưng cả hai thầy trò nhớ bảo trọng.

Nửa đêm hai người đến thành Hoan Châu, đập cửa. Lính canh ra quát. Phạm Ngũ Lão đưa tên lính binh phù có đầu hổ bảo vào dựng quan tổng trấn dậy và đưa cái này ra. Viên quan tổng trấn đang ngủ với vợ bé nổi giận toan chém tên lính, nhưng khi trông thấy binh phù có đầu hổ thì vội vàng sai mở cửa thành mời hai người vào. Phạm ngũ Lão hỏi:

- Quân Triều đình đang bị quân Chiêm vây khốn ngươi có biết không?

- Dạ, bẩm Điện súy, bỉ chức làm sao mà biết được ạ!

- Vậy thì bây giờ ta báo! Ngươi hãy lập tức điều cho ta năm ngàn quân kỵ. Xuất phát ngay đêm nay.

- Dạ, chờ sáng mai… Thong thả bỉ chức sẽ điều binh cho Điện súy.

- Nếu còn chần chừ, ta lấy đầu ngươi bây giờ!

Ngay trong đêm Phạm Ngũ Lão dẫn năm ngàn quân kỵ thẳng tiến vào đất Chiêm. Ngũ Lão hỏi Trọng Nhân:

- Bây giờ con tính thế nào?

- Nhân lúc kẻ địch còn chưa biết có viện binh, ta cứ tung quân đánh thẳng vào. Trong đánh ra, ngoài đánh vào, chắc là giải vây cho Huệ Võ vương được!

- Kế đó mới là trung sách. Ta có cách này hay hơn. Đó là chịu khó, chịu khổ dẫn quân đi vòng qua đường núi. Rồi đánh tập hậu vào trại địch. Bị bất ngờ chắc chắn quân ta sẽ toàn thắng.

Nhưng Chế Năng là người có đảm lượng và cũng giỏi binh pháp nên khi thấy quân của Phạm Ngũ Lão bất ngờ đánh tập hậu đã đổi hậu quân thành tiền quân, sẵn sàng nghênh địch. Chế Năng cầm giáo dài thúc ngựa xông lên. Hai bên có bốn tướng cầm đinh ba và búa lớn kèm sát bảo vệ. Trọng Nhân thấy vậy rút cây lao ở sau lưng nhằm đúng giữa ngực tướng cầm búa lớn. Mũi lao xuyên thấu ngực khiến viên tướng này chết lăn dưới chân ngựa. Hăng máu Trọng Nhân rút mũi lao thứ hai. Ngũ Lão quát to:

- Đừng giết Chế Năng! Để ta bắt sống có lợi hơn.

Trọng Nhân phóng chết viên tướng cầm đinh ba.

Vừa lúc đó Ngũ Lão áp sát tới, vung đao chém, Chế Năng đưa giáo lên nghênh địch. Hai tướng còn lại vây đánh Trọng Nhân. Đánh được chừng hai chục hiệp, liếc thấy Trọng Nhân có phần núng giữa hai tướng giặc, Ngũ Lão bèn vờ lỡ đà để Chế Năng phóng giáo sang. Chỉ chờ có vậy, Ngũ Lão né qua một bên, thúc ngựa lên một nhịp, vươn tay cắp ngang người Chế Năng ném xuống đất. Lính Đại Việt kề đao vào cổ, rồi dùng dây chão trói chặt Chế Năng lại. Hai tướng đang vây Trọng Nhân thấy vậy, vội vàng bỏ chạy. Trọng Nhân phóng lao trúng vào lưng chết viên tướng thứ ba. Tên còn lại sợ hãi xuống ngựa xin hàng. Năm ngàn quân của Phạm Ngũ Lão đánh thốc vào giữa trại, chém giết tan hoang. Thấy kẻ địch rối loạn từ bên trong. Quốc Chẩn thúc quân đánh ra. Giặc bị giết vô kể. Hơn năm vạn quân bỏ giáo xin hàng. Thấy Ngũ Lão, Quốc Chẩn xuống ngựa, vái mà rằng:

- Điện súy là người trời hay sao mà sa được xuống giữa lòng trại địch.

Ngũ Lão chỉ vào Trọng Nhân cười đáp:

- Tất cả là nhờ có tài phóng lao của tiểu tướng này!

Trọng Nhân chín đỏ cả mặt vì sung sướng và vì ngượng.

- Sư phụ con nói đùa đó! Người mới thật là dùng binh như thần - Trọng Nhân nghiêm trang đáp.

Quốc Chẩn, Ngũ Lão và Trọng Nhân giải Chế Năng về Thăng Long. Qua thành Hoan Châu, Ngũ Lão trao trả năm ngàn quân kỵ, rồi nói với Trọng Nhân:

- Con thích lên kinh sư hay về nhà với mẹ.

Không chần chừ, Trọng Nhân đáp:

- Con muốn về nhà với mẹ ngay bây giờ!…

Vua Minh Tông ra tận cửa nam thành Thăng Long đón tiếp Ngũ Lão và Quốc Chẩn. Quốc Chẩn xuống ngựa, quỳ dưới xa giá tâu:

- Muôn tâu Thánh thượng! Chế Năng gian trá và hoạt binh hơn cha là Chế Chí nhiều. Không có Điện súy và một tiểu tướng là Trọng Nhân ứng cứu kịp thời thì Quốc Chẩn này không còn được thấy mặt rồng nữa.

- Tiểu tướng Trọng Nhân đâu? - Vua Minh Tông hỏi.

- Dạ! Muôn tâu Thánh thượng! Tiểu tướng mới 17, nhớ mẹ quá nên đã nằng nặc xin về nhà rồi! - Ngũ Lão tâu.

Vua Minh Tông đáp:

- Tuổi trẻ tài cao, hẳn là đệ tử ruột của Điện súy.

Rồi sai viết chiếu khen ngợi và ban thưởng cho Trọng Nhân một ngàn lượng vàng. Sai quân đưa vào Đô Lương ngay ngày hôm đó.

Ba tháng sau Phạm Ngũ Lão mới quay trở lại Đô Lương. Hoàng Lương ốm nặng, đang hấp hối. Ngũ Lão đến thăm tận giường. Hoàng Lương thều thào nói:

- Tôi có lỗi với Mã sư phụ. Khi sư phụ chưa tới, một tay tôi “tự tung tự tác” trong trang trại. Từ khi sư phụ tới vị trí đó của tôi không còn. Nhưng càng về sau, tôi càng thấy là mình sai. Được nói với sư phụ trước lúc nhắm mắt, xuôi tay… tôi thấy… lòng được thanh thản… nhiều, nhiều lắm!

Phạm Ngũ Lão an ủi:

- Trang trại có được như ngày hôm nay là nhờ chị Cả tháo vát, quyết đoán. Nhưng sự đóng góp của ngươi là không nhỏ. Phải nói là mười phần thì công của ngươi là ba, bốn…

Chị Cả lo cho đám tang của cậu Hai rất to. Bắt tất cả gia nhân trong nhà phải để trở…

Phạm Ngũ Lão bàn với chị Cả và Trọng Nhân:

- Bây giờ cháu đã trưởng thành rồi. Việc làm ăn trong trại chị Cả vẫn phải gánh vác. Riêng chuyện “lò võ” thì giao cháu đảm nhiệm. Một ngàn lượng vàng vua ban, nên để Trọng Nhân mua sắm ngựa nghẽo, binh khí, mua thêm vườn đồi để các đệ tử có phương tiện luyện tập và đất đai làm ăn… theo cách “mỡ nó rán nó”.

Chị Cả nghe thấy Ngũ Lão nói thế thì hơi chột dạ, bảo:

- Thế ông chú thì làm gì?

- Phải, mẹ con nói đúng đấy! Sư phụ định về kinh luôn à?

- Sư phụ đã già rồi… Năm nay sư phụ chưa về, thì sang năm sư phụ về… Còn những bí quyết võ công và cách dùng binh thế nào cho thần diệu mà sư phụ đã học được ở Quốc công Tiết chế, sư phụ sẽ phải gấp gáp truyền hết lại cho con. Vả lại… Chỉ qua một trận đánh vừa rồi con đã lớn lên rất nhiều. Bằng ba năm luyện tập ở nhà. Bắt đầu từ hôm nay, con phải quản lý “võ đường”. Từ cách tuyển sinh, chế độ tập luyện cho các lứa tuổi… đến việc ăn ở, học chữ nghĩa của họ… một tay con phải làm tất.

Mùa đông năm đó Phạm Ngũ Lão về quê ăn Tết ba tháng. Mãi tới đầu tháng Ba năm sau, Ngũ Lão mới quay vào. Người vẫn tráng kiện, nhưng dáng dấp đã có phần chậm chạp. Một tối Ngũ Lão gọi riêng Trọng Nhân vào buồng, người nằm trên sập gỗ, cầm tay đệ tử dặn mấy lời tâm huyết:

- Võ công của sư phụ là do tiền nhân để lại. Không phải của riêng sư phụ, mà là bảo vật của cả Đại Việt. Nay con đã tiếp nhận được hầu hết rồi, sư phụ có về với tổ tông cũng không phải hối tiếc gì. Phần con khi chọn người vào nối nghiệp, cái chính là phải chọn cái TÂM, rồi mới tới cái TÀI. Ai có TÂM có TÀI truyền hết cả cho người ta. Đừng giữ làm của “gia truyền” chỉ dành cho con cháu mình. Như con thấy đấy! Con của sư phụ là Phạm Ngộ, có TÂM nhưng không có tài nên sư phụ đã không truyền dạy cho nó. Ngày mai sư phụ muốn về kinh. Sư phụ muốn con dùng xe ngựa có giường nằm đích thân đưa sư phụ về. Thanh đao và cây cung cũng không phải là của gia bảo của gia đình sư phụ. Con hãy giữ lấy. Sau này ai có TÂM có TÀI thì con trao lại cho họ.

Hôm sau, Phạm Ngũ Lão chào tạm biệt chị Cả. Chị ngã lăn ra khóc từ nhà trên xuống nhà dưới. Xe đã lăn bánh rồi chị còn chạy theo níu lại…


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 28.08.2018, 13:21
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Chim ưng và chàng đan sọt - Bùi Việt Sỹ - Điểm: 10
22

Những ngày trên giường bệnh Phạm Ngũ Lão được sống quây quần đầm ấm bên vợ con. Quận chúa An Nguyên cũng đã già yếu đi nhiều, nhưng sắc mặt lúc nào cũng vui vẻ bên chồng. Vừa uống một bát thuốc bổ xong, Phạm Ngũ Lão cầm tay vợ bảo:

- Lấy ta, nàng luôn phải chịu thiệt thòi. Gần như suốt cả đời “nam chinh - bắc chiến”. Hai lần chống Nguyên Mông, bốn lần bình định Ai Lao gây rối, hai lần dẹp Chiêm Thành. Việc triều chính cũng thật nặng nề bởi cái chức Điện súy, phải lo an nguy cho Thánh thượng… Có đêm “nửa đêm nửa hôm” Thánh thượng có chỉ truyền vào, dù mưa rét cũng phải đi. Để lại nàng trơ trọi một mình.

- Phu quân ơi! Xin chàng đừng nói gì nữa. Đời thiếp gặp được chàng là phúc lớn, tu được từ kiếp trước… Chàng có biết không, như trước đây thiếp đã từng nói, có biết bao nhiêu kẻ muốn lấy thiếp. Thiếp biết họ đâu có cần gì thiếp mà cái họ cần là cái chức của Nghĩa phụ thiếp. Đến khi Nghĩa phụ “hai năm mươi” thì họ sẵn sàng vứt thiếp vào sọt rác như quả chanh đã vắt nước. Nghĩa mẫu là hiểu thiếp. Bởi thế Phu nhân bảo chỉ đám nào An Nguyên gật thì Phu nhân mới gả. Hôm Nghĩa phụ đưa chàng về. Nghĩa mẫu nhìn thiếp thấy mặt thiếp đỏ xuống tận cổ thì Phu nhân biết là “cá đã cắn câu rồi”. Chúng ta có hai con. Trai có, gái có. Con gái Tĩnh Huệ được vua Anh Tông hỏi làm thứ phi, thiếp đã không lấy làm mừng, cả chàng cũng vậy. Tĩnh Huệ không có con đâu phải là nó không sinh được. Là đàn bà thiếp biết, các cuộc tranh giành nơi hậu cung không chỉ mất mạng bản thân mà nhiều khi còn mất mạng cả gia tộc, ba họ. Chàng thử nghĩ xem, chàng là Điện súy, quyền cao chức trọng, lại được vua rất sủng ái. Nếu Tĩnh Huệ có con trai nữa thì… Cái đó sẽ là cái gai trong mắt rất nhiều người. Vậy thì tốt nhất là cho nó… tịt ngòi. Chuyện này dễ hơn trở bàn tay. Chỉ một cánh thuốc nhỏ như hạt gạo, không mùi, không vị cho vào thức ăn, đồ uống là… êm ru thôi mà. May mà Tĩnh Huệ được trở về, đi tu. Ấy cũng là nhờ cái đức của chàng. Chứ hàng chục người khác, chết già, chết héo nơi thâm cung lạnh lẽo. Còn Phạm Ngộ làm quan được tiếng là thanh liêm. Tài không bằng Trương Hán Siêu. Nhưng đức độ chả kém ai. Hẳn chàng còn nhớ chuyện Hán Siêu nói chơi: “Phạm Ngộ và Lê Duy ăn hối lộ”. Vua nghe được liền phán: “Hán Siêu là hành khiển làm quan ở sảnh, Phạm Ngộ là thẩm hình làm quan ở viện, ta đều tin như nhau cả, sao lại để cho ta tin quan ở sảnh, mà ngờ quan ở viện”. Rồi bèn cho đối chất. Hán Siêu đuối lý phải phạt 300 quan tiền. Không bao lâu sau lấy Phạm Ngộ làm quan tri chính sự đồng trị, Thượng thư tả trị sự, chức ngang với Hán Siêu.

- Sau chuyện đó ta đã dặn nó. - Ngũ Lão mỉm cười nói - Làm quan mà chỉ cốt giữ cho thanh liêm là chỉ biết lo cho bản thân mình. Là vị quan tốt trước hết phải biết lo điều dân lo. Thấy dân bị oan sai, dù có phải mất chức cũng vì dân mà đòi cho được công bằng, lẽ phải. Nó nghe ra khiến ta rất mừng.

Phạm Ngũ Lão biết mình không thể qua khỏi mới dặn vợ con rằng:

- Sau khi ta mất thì chôn ở phủ Vườn Cau. Ba năm sau cải táng, lấy da con ngựa tía đã thuộc để trong phòng đọc sách của ta gói xương ta lại rồi cho vào tiểu, đưa về quê nhà. Không được xây lăng mộ to làm gì. Cứ đặt xương cốt của ta phía dưới phần mộ của ông bà nội là được.

Năm 1320, mùa đông tháng 11, Điện súy Phạm Ngũ Lão qua đời, thọ 66 tuổi. Vua Minh Tông thương tiếc vô cùng, nghỉ chầu năm ngày[7]. Đó là ân điển đặc biệt.

Ngay sau khi Phạm Ngũ Lão mất, dân làng Phù Ủng tự góp tiền xây đền thờ ông ở ngay tại nền đất ngôi nhà ông sinh ra. Hàng năm, dân làng còn tổ chức lễ hội từ 11 đến 14 tháng Giêng để tưởng niệm người anh hùng “đan sọt” có công cứu nước giúp đời. Không chỉ có dân làng Phù Ủng mà dân ở phủ Thượng Hồng và nhiều địa phương khác trên toàn quốc về dự hội… Phạm Ngũ Lão còn được phối thờ ở đền Kiếp Bạc bên cạnh Hưng Đạo Đại vương.

Sẽ là thiếu sót nếu không nhắc tới hai nhân vật chính nữa là Trần Khắc Chung và Trần Khánh Dư. Đại Việt sử ký toàn thư có nói về Trần Khắc Chung là kẻ giả dối để cầu tiếng khen, không chăm sóc sản nghiệp cửa nhà. Mỗi khi buổi sáng vào chầu thì nghỉ tạm ở cục Thượng Liễn cửa Vĩnh Xương, xem kỹ các bản tấu để dự bị bầy tâu. Khi tan chầu ra về thì đến Đông cung (Minh Tông khi ấy còn ở Đông cung) dạy học đều là miễn cưỡng kiềm sức mà làm. Thường cùng với học sĩ Nguyễn Sĩ Cố đánh bạc, có khi thâu đêm suốt sáng hai ba ngày đêm, thường ngồi ngay trên bàn mà xúc cháo ăn, không nghỉ lúc nào. Lại như các bạn bè gặp những ngày đầy tuổi con, mừng nhà mới có mời là đến. Thậm chí nhà quan, thầy thuốc có món ngon cũng đến ăn. Người thết đãi thì khen ngợi vợ, con họ. Trước Khắc Chung lấy nàng Bảo Hoàn thời giặc Nguyên xâm lấn, cha mẹ Bảo Hoàn hàng giặc, điền sản đều bị xung công. Đến khi vua mới lên ngôi, xuống chiếu trả lại cho, nhưng Khắc Chung cũng không đem điền sản ấy dùng vào việc thờ cúng. Bởi thế khi con trai là Công Xước lấy vợ, Khắc Chung không đồng ý mới mắng rằng: “Mày lấy con gái nhà ấy, sao không báo cho tao biết”. Con trai cãi lại: “Thì ông đối với mẹ và đằng ngoại nhà tôi có ra gì đâu mà phải hỏi”.

Đến việc giết Quốc phụ Thượng tế Quốc Chẩn cùng gia quyến hơn một trăm người, cũng có bàn tay của Trần Khắc Chung tham gia. Khi ấy vua Minh Tông đã ở ngôi được 15 năm, tuổi đã cao mà chưa lập Thế tử, cha sinh ra hoàng hậu là Quốc Chẩn có ý chủ trương nên đợi hoàng hậu sinh ra con đích tôn sẽ lập. Đông cung Văn Hiến hầu (không rõ tên) là cháu của Thái sư Trần Nhật Duật muốn đánh đổ hoàng hậu để lập hoàng tử Vượng, mới đem của đút cho gia nhân của Quốc Chẩn là Trần Phẫu 100 lượng vàng, và bảo Phẫu vu cáo cho Quốc Chẩn việc mưu phản. Vua tin là thực, giam Quốc Chẩn ở chùa Tư Phúc, rồi đem việc ấy hỏi Trần Khắc Chung. Khắc Chung vào hùa với Văn Hiến hầu vì cùng với mẹ sinh ra hoàng tử Vượng đều là người ở Giáp Sơn (quê Khắc Chung), lại từng dạy Vượng học, nên mới trả lời, rằng: “Bắt hổ thì dễ, thả hổ thì khó”. Vua mới cấm tiệt không cho Quốc Chẩn ăn uống, bắt phải tự tử. Hoàng Hậu lấy áo tẩm nước đưa vào cho Quốc Chẩn uống, uống xong thì chết. Bắt hơn 100 người xét hỏi, tất cả đều kêu oan. Vài năm sau, gặp khi vợ cả, vợ lẽ tên Phẫu ghen nhau, đem việc Văn Hiến hầu dúi vàng tâu lên vua. Vua giao xuống cho ngục quan xét. Lê Duy là người cương trực, xét hỏi ngay ngày hôm ấy. Tên Phẫu bị tội lăng trì. Văn Hiến được miễn tội chết, giáng xuống làm thứ dân, xóa tên trong sổ hoàng tộc. Việc nhẫn tâm đến như thế mà Khắc Chung còn vào hùa làm được thì việc gì hắn không dám làm. Chỉ có việc đi sứ gặp Ô Mã Nhi để cầu hòa và dò xét tình hình địch là khả quan thôi, cho nên được khen là người giỏi. Đưa về chôn ở Giáp Sơn. Gia nô của Huệ Võ vương Quốc Chẩn đào mồ lên, băm nát xác ra.

Về Trần Khánh Dư, theo Đại Việt Sử ký toàn thư ghi, năm 1340 Nhân Huệ vương chết không biết sử có ghi nhầm không, chứ ngay từ lần quân Mông Cổ xâm lược đầu tiên (năm 1258) Trần Khánh Dư lúc đó khoảng mười tám đôi mươi rồi. Nếu quả như thế thì Trần Khánh Dư sống trên dưới một trăm tuổi sao?

Người ta thường chúc nhau ba chữ Phúc - Lộc - Thọ. Khánh Dư không có chữ Phúc. Nên ứng với câu thiên hạ than “đa thọ - đa nhục”, cuối đời, con thì không thấy mà cháu cũng chết cả rồi. Chỉ còn lại con chim ưng lông đỏ, mỏ quặp làm bạn với Nhân Huệ vương lúc xế chiều. Tuy nhiên nó cũng đã “lụ khụ” lắm rồi, lông lá xù xì, không thể nhảy được nữa, huống chi là bay. Cũng không thể tự mổ bụng vịt ra ăn, mà phải nhờ đám gia nhân vứt cho ít thịt vụn. Nhiều lúc nó xoẹt cả ra sập của Trần Khánh Dư.

Nhân Huệ Vương chết được mấy hôm thì con chim ưng cũng bỏ ăn mà chết. Gia nhân không đem chôn mà vứt xác nó vào nhà tiêu.

Về người anh hùng có tài và cũng có nhiều tật (tội thì chính xác hơn) thì mãi hơn một trăm năm sau ngày mất, mới được ai đó dựng đền thờ ở mãi tận đảo Quan Lạn, cách thành phố Hạ Long bây giờ khoảng 40 km. Vào gần mười năm trở lại đây, dân đánh hàng “tiểu ngạch” qua Trung Quốc và ngược lại, cũng gom góp tiền xây đền thờ Trần Khánh Dư tại đảo Cái Bầu - thuộc Vịnh Hạ Long. Hơn bảy trăm năm sau ngày Đại phá quân Nguyên ở cửa sông Bạch Đằng, chính phủ đã có quyết định thành lập khu kinh tế mở tại cảng Vân Đồn, nơi Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư trấn thủ và lập nên chiến công, giống như khu kinh tế Thâm Quyến ở bên Tầu.

Có thể tới lúc đó, tại quảng trường chính của khu kinh tế người ta sẽ dựng tượng Trần Khánh Dư, ngồi trên mình ngựa trắng, đầu đội mũ có cắm lông công, trên vai có chú chim ưng lông đỏ mỏ quặp đậu. Bên sườn đeo kiếm dài, tay trái đặt vào đốc kiếm. Còn tay phải, bàn tay mở ra năm ngón chụm lại kiêu hãnh chĩa thẳng ra biển Đông…

Chú thích

[1] Chức Tiết chế thời Trần lớn hơn chức Tổng tham mưu trưởng quân đội bây giờ một chút.

[2] Chữ bại tướng Triệu Trung nói ra ở đây là ý đã bị bại trước quân Mông Cổ. Vừa hổ thẹn, vừa nhún nhường.

[3] Hồi đó Đại Việt chia làm mười hai lộ và một số châu như Hoan châu (gồm Nghệ An và Hà Tĩnh bây giờ) và Ái châu (là tỉnh Thanh Hóa bây giờ).

[4] Bình luận về sự kiện này, Thủ tướng Nhật Bản Shizo Abê, nhân bốn mươi năm quan hệ Việt Nam - Nhật Bản đã phát biểu trên Đài truyền hình Nhật Bản NHK vào cuối tháng 9 năm 2013, đại ý rằng vào thế kỷ 13, Việt Nam đã tiêu diệt đạo quân tinh nhuệ nhất của Mông Cố, khiến Nhật Bản tránh được cuộc chiến tranh ác liệt với kẻ địch hung bạo nhất thời đại bấy giờ.

[5] Ngạn ngữ: Voi đú lợn sề cũng hộc.

[6] Cân ta, một cân bằng 0,3kg.

[7] Tương đương với việc quốc tang bây giờ.

HẾT.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 24 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Cổ đại - Trùng sinh] Thừa tướng yêu nghiệt sủng thê - Sương Nhiễm Tuyết Y

1 ... 29, 30, 31

2 • [Hiện đại - Trùng sinh] Đêm trước ly hôn - Thiên Sơn Hồng Diệp

1 ... 8, 9, 10

3 • [Hiện đại] Sở Sở - 099

1 ... 4, 5, 6

4 • [Hiện đại] Cá mực hầm mật - Mặc Bảo Phi Bảo

1 ... 4, 5, 6

5 • [Hiện đại - Trùng sinh] Tôi bị ép buộc - Linh Lạc Thành Nê

1 ... 4, 5, 6

6 • [Hiện đại] Không bằng duyên mỏng - Viên Nghệ

1 ... 6, 7, 8

7 • [Xuyên không - Điền văn] Cuộc sống điền viên trên núi của nông phu - Quả Đống CC

1 ... 9, 10, 11

8 • [Hiện đại] Chọc vào hào môn Cha đừng động vào mẹ con - Cận Niên

1 ... 36, 37, 38

[Cổ đại - Trùng sinh] Đích trưởng nữ - Hạ Nhật Phấn Mạt

1 ... 25, 26, 27

10 • [Hiện đại - Trùng sinh] Anh hai Boss đừng nghịch lửa - Cửu Trọng Điện

1 ... 13, 14, 15

11 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 56, 57, 58

[Xuyên không] Khuynh thế tuyệt sủng tiểu hồ phi - Thanh Canh Điểu

1 ... 17, 18, 19

13 • [Cổ đại] Trưởng thôn là đóa kiều hoa - Vương Vượng Vượng

1 ... 4, 5, 6

14 • [Xuyên không Điền văn] Trọng Sinh Tiểu Địa Chủ - Nhược Nhan (Phần 1)

1 ... 49, 50, 51

15 • [Hiện đại - Quân nhân] Hợp đồng quân hôn - Yên Mang

1 ... 37, 38, 39

[Hiện đại] Hào môn thịnh sủng bảo bối thật xin lỗi - Hạ San Hô

1 ... 14, 15, 16

17 • [Hiện đại] Có hợp có tan - Lâu Vũ Tình

1, 2, 3, 4

18 • [Hiện đại] Mèo yêu - Hà Thư (hoàn)

1 ... 6, 7, 8

19 • [Xuyên không] Bảo Bảo vô lương Bà mẹ mập là của ta - Ngũ Ngũ

1 ... 24, 25, 26

20 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 72, 73, 74



Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 345 điểm để mua Tám điện thoại
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 445 điểm để mua Ngọc xanh 4
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 283 điểm để mua Vòng hoa giáng sinh
Shop - Đấu giá: tiểu an nhi vừa đặt giá 327 điểm để mua Tám điện thoại
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 285 điểm để mua Thỏ nháy nhót
hakuha: 2 năm trước mọi người rất hay xài cái này
sau 2 năm trở lại ngày càng im ắng haizzz
Shop - Đấu giá: hakuha vừa đặt giá 360 điểm để mua Tấm thảm trái tim
Shop - Đấu giá: hakuha vừa đặt giá 270 điểm để mua Thỏ nháy nhót
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 254 điểm để mua Thỏ nháy nhót
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 401 điểm để mua Bông tai hạt dẻ
Shop - Đấu giá: tiểu an nhi vừa đặt giá 306 điểm để mua Bé nấm
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 318 điểm để mua Hằng Nga
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 400 điểm để mua Cặp đôi hamster
Shop - Đấu giá: Tiểu Ly Ly vừa đặt giá 528 điểm để mua Mây
Shop - Đấu giá: Tiểu Ly Ly vừa đặt giá 406 điểm để mua Mashimaro IOU
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 548 điểm để mua Mashimaro chờ xe buýt
Hoàng Phong Linh: :<
Shop - Đấu giá: 18521434 vừa đặt giá 315 điểm để mua Bé Mascot xanh
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 417 điểm để mua Mèo ôm cuộn len
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 294 điểm để mua Hello
Shop - Đấu giá: tiểu an nhi vừa đặt giá 250 điểm để mua Gấu trắng mơ màng
Shop - Đấu giá: mymy0191 vừa đặt giá 390 điểm để mua Nữ thần công lý
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 279 điểm để mua Hello
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 291 điểm để mua Mèo núp sau đám mây
Shop - Đấu giá: tiểu an nhi vừa đặt giá 276 điểm để mua Mèo núp sau đám mây
Shop - Đấu giá: á bì vừa đặt giá 212 điểm để mua Bảng khen thưởng
Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 397 điểm để mua Siêu nhân nhí
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 285 điểm để mua Bé hồng 3
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 250 điểm để mua iPod Shuffle
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 301 điểm để mua Cà phê

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.