Diễn đàn Lê Quý Đôn
Cấm đăng tin quảng cáo các lớp học, khoá học, hội thảo, tìm học sinh... Các bài quảng cáo sẽ bị xoá.


Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 24 bài ] 

Chim ưng và chàng đan sọt - Bùi Việt Sỹ

 
Có bài mới 28.08.2018, 11:33
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Chim ưng và chàng đan sọt - Bùi Việt Sỹ - Điểm: 10
9

Lại nói mặc dù đã có sự chuẩn bị trước, nhưng vua tôi nhà Trần không thể ngờ được quân Nguyên Mông lại tiến nhanh đến vậy. Chưa đầy một ngày hơn mười vạn quân tiên phong của Nguyên soái Ô Mã Nhi đã từ ải Nội Bàng tràn xuống đến Gia Lâm, đóng trại và dựng một lá cờ lớn. Hai mươi vạn quân của Thái tử Thoát Hoan tiến theo đóng ở vùng Yên Viên. Mười lăm vạn quân còn lại động ở Quế Sơn gần cửa Lục Đầu giang, để đón hàng tiếp tế thủy bộ đều rất tiện.

Tình hình vô cùng nguy cấp. Chập tối vua Trần Nhân Tông muốn sai người sang trại giặc để dò tin tức mà chưa biết chọn ai. Chi hậu cục thủ là Đỗ Khắc Chung bước ra tâu:

- Thần là kẻ ti tiện không có tài gì xin đi!

Vua mừng lắm nói:

- Biết đâu trong đám ngựa kéo xe muối lại có ngựa kỳ ngựa ký.

Rồi bèn sai Đỗ Khắc Chung đem thư đến trại Ô Mã Nhi xin giảng hòa. Ô Mã Nhi hỏi như trách mắng:

- Vua nước ngươi vô lễ, sai người thích chữ “SÁT THÁT”, khinh nhờn quân thiên triều, lỗi ấy to lắm. Lại sai tên nhà quê Phạm Ngũ Lão đón đánh quân ta ở ải Chi Lăng. Cái thằng nhà quê ấy đã bắn rách tai ngựa quý của ta. Cái tội ấy là to lắm.

Đỗ Khắc Chung lựa lời mềm dẻo nhưng cứng cỏi đáp:

- Chó trong nhà cắn người lạ vì không phải là chủ nó. Do lòng trung thành tức giận họ tự thích chữ SÁT THÁT. Quốc vương tôi có biết đâu. Tôi là người hầu gần, sao việc ấy lại không có! - Rồi giơ cánh tay vạch áo cho Ô Mã Nhi xem.

Ô Mã Nhi giận dữ nói:

- Đại quân ta ở xa đến đây, nước ngươi sao không trở ngược giáo, đến ra mắt, mà lại dàn quân chống cự lại. Càng con bọ ngựa chống lại bánh xe, rồi sẽ ra sao?

Đỗ Khắc Chung bình tĩnh đáp:

- Hiền tướng không theo kế sách của Hàn Tín bình nước Triệu ngày xưa, đóng quân ở đầu địa giới, đưa thư đến trước, nếu không chịu hòa hiếu mới là có lỗi. Nay đem quân bức nhau, tức như người ta nói: “Muông thú cùng phải đánh lại, chim cùng phải mổ lại” huống chi là người.

Ô Mã Nhi vờ dịu giọng:

- Đại quân nước ta mượn đường nước ngươi để đánh Chiêm Thành, giống như khi xưa ta và Nguyên soái Toa Đô mượn đường nước Tiểu Nga-la-tư (tức Ukraina bây giờ) để đánh Bảo-gia-lợi (tức Bungagi) và Hung-gia-lợi (tức Hunggari ngày nay). Song vua tôi xứ Tiểu Nga cũng đem binh chống lại. Kết cục là kinh đô Kiev tráng lệ với các mái nhà thờ dát vàng, cung điện dát ngọc bích đều biến thành gạch vụn cả. Bản thân từ vua đến các vương công quý tộc đều biến thành nô lệ. Đây, người hãy xem bức tranh này thì rõ. - Nói tới đây, Ô Mã Nhi sai lính hầu đưa ra mấy bức tranh vẽ trên thảm và trải rộng trước mặt Đỗ Khắc Chung. Đó là một bức tranh mầu khá đẹp - Đấy ngươi thấy chưa, từ vua đến các quý tộc đều phải lấy đầu để quân ta kê ván lên làm sàn nhảy. Còn phía trên là quân thiên triều đang khiêu vũ với các thiếu nữ Tiểu Nga khỏa thân, da trắng, mắt xanh, tóc vàng, đẹp không kém gì tiên nữ. Ngươi có muốn chiêm ngưỡng không? - Rồi không đợi Đỗ Khắc Chung có đồng ý hay không, Ô Mã Nhi vỗ tay mấy cái lập tức có bốn năm thiếu nữ vận váy ngắn đến bẹn, để lộ ra những cặp đùi trắng nõn nà, trông ngon như khúc giò lụa: - Theo ta thì sống, chống ta thì chết. Nếu vua ngươi quả thật muốn hòa thì sang đây gặp nhau thì trong nước yên ổn, không xâm phạm mảy may. Còn nếu cứ chấp nê thì trong khoảng giây phút núi sông sẽ hóa đất bằng, vua tôi sẽ thành cỏ mục. Cũng như thằng Ngũ Lão ấy ta muốn mời hắn ra nói chuyện, hắn đã thẳng cánh giương cung bắn vào tay vịn xe đẩy của ta. Thật là vô lễ. Nhưng nếu hai bên hòa hiếu, nếu hắn nhận làm tiên phong, trước đánh Chiêm Thành, sau tràn xuống Lục Chân Lạp rồi Thủy Chân Lạp rồi ngược lên nước Ai-lao, và vượt sông Mê Kông sang Xiêm La và xuống Mã Lai… Và tiến xa hơn nữa. Nói cho nó biết, nếu được như thế, một tước vương cho hắn, vua nước ta chẳng hẹp hòi gì mà không ban… Ngoài kia, gió đông bắc, mưa phùn rét lắm. Trong lều trại bằng lông cừu của ta, ngươi có thấy ấm không? - Đột ngột Ô Mã Nhi hỏi Khắc Chung, rồi lại tự trả lời - Nhưng nếu ngay phút này, Thái tử ra lệnh ta sẽ cất quân vượt sông Cái (tức sông Hồng) tiến vào Hoàng thành Thăng Long ngay!

Đỗ Khắc Chung đáp:

- Tôi sẽ xin về tâu lại với vua tôi.

Khi Đỗ Khắc Chung đi rồi, Ô Mã Nhi nói với thủ hạ:

- Người ấy đương lúc bị uy lực áp chế mà sắc mặt vẫn tự nhiên. Thậm chí còn thích thú, ngắm đùi mấy cô đầm Tiểu Nga-la-tư. Không hạ chủ nó là chính, không nịnh hót ta là Nghiêu, về văn như thế cũng coi là giỏi. Về võ có Phạm Ngũ Lão. Đại Việt có những người như thế chưa dễ lấy được - Rồi sai người đuổi theo nhưng Đỗ Khắc Cung đã biến vào bóng đêm.

Trở lại Kinh thành, Đỗ Khắc Chung nói lại tất cả mọi chuyện với hai vua Trần. Giữa lúc bấn loạn thì thấy công chúa An Tư bước ra:

- Hưng Đạo vương có lần nói với ta “Mỹ nhân tự cổ như danh tướng”. Bây giờ chưa có danh tướng nào chặn được giặc. Ta xin sang trại Thoát Hoan làm “thư giãn loạn nước” vậy.

Hai vua Trần ưng thuận sai kẻ cận thần là Đào Kiên cùng hai thị nữ đưa An Tư sang trại Thoát Hoan.

Lính hầu vào bẩm với Trấn Nam vương Thoát Hoan. Vốn đã quen với việc được dâng mỹ nữ nên Thái tử Thoát Hoan truyền cho vào. Bước vào căn lều cao rộng, đèn đuốc sáng trưng, quân thị vệ gươm tuốt sáng lòa, nhưng công chúa An Tư vẫn ngẩng cao đầu, bước những bước kiêu sa đến trước mặt Thoát Hoan và nói:

- Thái tử đã biết cả ngàn con gái Mông, Hoa, Kim, Hạ, Liêu… Hôm nay Thái tử thử xem mùi vị con gái Đại Việt thế nào?

Nói rồi nàng cởi chiếc áo choàng bằng da thú trắng vứt xuống sàn và ra hiệu cho Đào Kiên và hai thị nữ quay về. Thoát Hoan có phần ngây ngất trước vẻ đẹp kiêu sa mà rắn rỏi của An Tư. Hắn tiến đến định đưa đôi tay dài ôm lấy thân thể tròn lẳn với cặp tuyết lê căng tròn thì An Tư lùi lại và nói, giọng kiên quyết:

- Xin Thái tử dừng cho một phút. - Tiếp theo, nàng làm một động tác nhanh đến bất ngờ là rút phăng con dao cong chuỗi ngọc áp sát vào bầu vú trái của mình.

- Thái tử hãy nghe ta nói một lời. Bây giờ Thái tử đã là Phò mã của Đại Việt. Bởi thế ta nói với Phò mã hãy ra lệnh cho tướng sĩ rằng: “Thăng Long phi chiến địa. Bởi thế ngày mai vào thành, ta cấm tướng sĩ không được cướp phá, hãm hiếp đàn bà, con gái. Ai trái lệnh ta chém”. Nếu Thái tử không ra lệnh ấy An Tư xin chết ngay trước mặt Thái tử.

Nhìn lưỡi dao sắc lẹm đặt ngay dưới bầu vú căng tròn đã khiến Thoát Hoan động lòng “thương hoa - tiếc ngọc”.

Thoát Hoan thét lớn:

- Quân bay đâu! Truyền khắp các trại lệnh của ta. Ngày mai vào Thăng Long tướng sĩ không ai được cướp bóc, đốt phá, hãm hiếp đàn bà, con gái. Ai trái lệnh. Chém!

Được lời như cởi tấm lòng. An Tư vội vứt con dao găm chuôi ngọc xuống đất rồi ngả người đổ vào vòng tay đang chờ sẵn của Thoát Hoan.

Mặc dù chưa có tí kinh nghiệm nào, nhưng đêm ấy An Tư hầu hạ Thoát Hoan hết lòng. Trời đã sáng rõ, nhưng An Tư vẫn nũng nịu kéo Thoát Hoan nằm xuống tấm nệm da cừu ấm áp:

- Còn sớm mà! Thái tử đã vội gì! Hai Thánh thượng đang chờ Thái tử - Phò mã trưa nay sang dự yến tiệc ở điện Kính Thiên trong Hoàng Thành…

Quá giờ Ngọ đại quân của Thoát Hoan mới tiến vào Hoàng Thành. Nhưng tất cả đã vườn không nhà trống.

Không thấy hai vua Trần ra đón như lời của An Tư đêm qua. Nhưng Thoát Hoan cũng không tỏ ra giận dữ gì. Ô Mã Nhi thì nói:

- Hai vua Trần có chạy tới đâu thì ta cũng sẽ đuổi theo tới đó.

An Tư đã dùng tấm thân ngà ngọc, trong trắng của mình để hoàn thành kế “giãn binh”. Nhưng tiếc thay hai vua Trần không tận dụng đêm dài vàng ngọc đó để lên thuyền chạy xuống Thiên Trường, ra biển vượt vào châu Ái mà lại nghe lời Đỗ Khắc Chung dùng thuyền Ngự ra vùng Ngọc Sơn Móng Cái để đánh lạc hướng. Còn thuyền nhỏ chạy ra vùng Tam Trì thuộc Ba Chẽ - lộ Hải Đông (tức tỉnh Quảng Ninh bây giờ).

Tên Hán gian tham quân kiêm hướng đạo, ranh ma tâu với Thoát Hoan:

- Ngộ biết rồi! Thuyền rồng ra Móng Cái để đánh lừa thôi. Thuyền nhỏ ra Tam Trì… mới là thuyền chở hai vua Trần chạy trốn.

Thoát Hoan nghe theo, liền cử tướng A Bát Xích đem năm ngàn quân kỵ, phóng như bay ra hướng Ba Chẽ.

Trở lại chuyện Hưng Đạo vương vừa ổn định được số binh sĩ do bốn con trai đem đến thì nhận được tin cấp báo của thám mã như thế, như thế. Quốc công Tiết chế tái mặt cả sợ. Vỗ tay xuống án thư quát lớn:

- Đứa nào hiến kế để hai vua Trần chạy trốn ra Ba Chẽ nên đem chém. Kế cũ là theo dòng sông Cái, rồi vượt biển vào Ái châu cơ mà!

Rồi lập tức sai Phạm Ngũ Lão điểm ba ngàn quân kỵ tinh nhuệ nhất đi cứu giá hai vua Trần. Đồng thời sai Trần Quốc Tảng đem ba vạn quân ra chẹn đường về Thăng Long của A Bát Xích và đón đánh quân tiếp viện nếu có. Phạm Ngũ Lão thúc con Tía dẫn đầu đoàn kỵ binh nhằm hướng Hải Đông phóng tới. Phóng suốt từ gần trưa ngày hôm trước tới giờ Sửu ngày hôm sau thì thấy phía trước mặt đèn đuốc sáng trưng, tiếng quân hò reo vang động cả một góc trời. Thì ra năm ngàn kỵ binh của A Bát Xích đang vây bắt hai vua Trần trên một ngọn đồi thuộc vùng Ba Chẽ. Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng sai giám binh Đỗ Hành giữ gìn bảo vệ hai vua. Còn mình đích thân chỉ huy tám trăm quân Thánh dực giao chiến với năm ngàn quân Mông Cổ. Trận đánh đã diễn ra hơn một canh giờ. Thế của quân Trần đã có phần nao núng. Bỗng thấy hậu quân của A Bát Xích rối loạn. Rồi thấy một tướng cao lớn, múa đao cắt đôi đội hình quân Mông Cổ đánh thốc lên đồi. Tướng ấy xông xáo tới đâu quân Mông Cổ rẽ ra đến đấy, như phi ngựa vào chốn không người. Theo sau là đội quân kỵ vô cùng dũng mãnh.

- Có viện binh rồi. - Trần Bình Trọng reo lên và thúc ngựa múa thương đánh thốc xuống.

- Có Phạm Ngũ Lão đến đây! Xin hai thánh thượng chớ lo. - Ngũ Lão cũng thét lớn.

A Bát Xích là tướng Mông Cổ vô cùng thiện chiến, cũng đã từng theo Ô Mã Nhi và Toa Đô chinh phục tại châu Âu. Nhưng A Bát Xích cũng đã biết võ nghệ và sức khỏe phi thường của Phạm Ngũ Lão ở ải Chi Lăng mấy ngày trước nên lui quân tháo chạy. Phạm Ngũ Lão thúc quân đuổi riết hơn hai mươi dặm, giết gần năm trăm quân địch, bắt được vô số ngựa không còn chủ, rồi mới quay lên đồi.

- Tội Ngũ Lão đến cứu giá muộn, đáng muôn chết! - Ngũ Lão dập đầu cúi lạy hai vua Trần.

- Ôi! Ngũ Lão có mặt ở đây là trẫm an tâm rồi! - Vua Trần Nhân Tông vỗ về - rồi người hỏi tiếp - Có gì ăn được không?

- Dạ! Bẩm… - Ngũ Lão nói rồi móc từ ngực ra một vắt cơm nắm trộn muối vừng, bẻ đôi rồi quỳ hai chân xuống đất, mỗi tay dâng một nửa nắm cơm cho Thái thượng hoàng và vua Trần Nhân Tông.

Cơm khô và cứng nhưng vua Trần lại khen:

- Cơm dẻo và muối vừng thơm quá! Có nước uống không?

- Dạ! Bẩm!… - Nói rồi Ngũ Lão ra chỗ con Tía tháo từ cổ ngựa ra một túi da dê. Lắc thấy còn được một nửa vội dâng cho Thái thượng hoàng trước, rồi đến vua Trần sau.

- Không có Ngũ Lão đến kịp thời thì hai Thánh thượng nguy mất! Không biết kẻ nào tiết lộ hướng chạy của hai Thánh thượng nhỉ? - Trần Bình Trọng đứng bên nói.

- Quốc công Tiết chế nghe thám mã phi ngựa về báo đã thét lớn: “Kẻ nào đưa ra hạ sách này, nên chém đi!” - Ngũ Lão nói.

Đỗ Khắc Chung vừa đói, vừa khát, vừa sợ, nghe thấy Ngũ Lão nói thế thì mặt cắt không còn hạt máu. Song không thấy hai vua Trần nói gì thì có phần vững dạ. Nhưng từ đó đem tâm thù Phạm Ngũ Lão và thì thầm trong bụng: “Rồi có ngày ta sẽ cho thằng đan sọt này biết tay”.

Phạm Ngũ Lão bàn với Trần Bình Trọng:

- Bảo Nghĩa vương có chơi với Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư. Từ đây đến Vân Đồn khoảng gần một trăm dặm. Việc bảo vệ hai thánh thượng xin cứ giao cho giám quân Đỗ Hành và Ngũ Lão. Bảo Nghĩa vương hãy đem hơn trăm quân kỵ khỏe nhất phóng ra Vân Đồn. Nói với Nhân Huệ vương điều cho hai nhăm thuyền chiến lớn và khoảng năm trăm thủy thủ thạo nghề đi biển, tập kết ở vùng vịnh Hải Đông, rồi đưa hai Thánh thượng vượt biển vào Ái Châu sớm lúc nào hay lúc ấy.

- Cũng không còn cách nào khác! Ta tin vào thanh đao của ngươi đó!… Nhưng quân địch cho thêm tiếp viện quay trở lại thì làm thế nào? - Trần Bình Trọng đáp.

- Quốc công Tiết chế đã sai Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng đem ba vạn quân chặn quân tiếp viện và đón đánh bại quân của A Bát Xích, không để chúng trở về Thăng Long báo tin cho Thoát Hoan…

- Như vậy thì ta yên tâm được rồi! - Nói xong Trần Bình Trọng sụp lạy hai vua Trần, dẫn theo một trăm quân kỵ nhằm hướng Vân Đồn phi như gió lốc.

Phạm Ngũ Lão sai lính vơ cỏ khô trên đồi, trải thành đệm để hai vua Trần nằm, rồi sai lính vào thôn xóm lân cận tìm mua gạo và thức ăn nấu nướng cho hai thánh thượng ăn. Riêng mình và ba ngàn binh lính Ngũ Lão sai giết các con ngựa bị thương của giặc, mổ lấy thịt nướng ăn, số còn lại phân phát cho mỗi người một hai cân làm lương khô. Giám quân Đỗ Hành người cao lớn. Vốn cùng quê Thiên Trường Nam Định nên mới được xung vào đội quân Thánh dực. Đỗ Hành vốn rất mến mộ Ngũ Lão nên nói:

- Tướng quân còn trẻ mà sao việc gì cũng tháo vát vậy.

- À, vốn là một năm nay được ở gần Quốc công Tiết chế nên được người dạy dỗ, chỉ bảo cho nhiều. - Ngũ Lão thật thà đáp.

Làng mạc ở cách đây khá xa. Quân lính không tài nào tìm mua được gạo. Có một bác nông dân già, hay tin đem đến một niêu cơm, dâng lên hai vua Trần. Cơm thổi vội nên hơi khô, tuy nhiên vua Trần vẫn khen:

- Cơm sao mà dẻo và thơm thế!

Sau khi hai Thánh thượng “dùng bữa” xong. Ngũ Lão quỳ bên cạnh thưa:

- Dạ! Khởi bẩm hai Thánh thượng. Tình hình ở Vạn Kiếp bây giờ đã rất vững… Vững như bàn thạch rồi ạ! Bốn vị vương con của Quốc công Tiết chế đã đem hai chục vạn quân về. Cộng với số quân còn lại là khoảng hai nhăm hai sáu vạn. Số quân của Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật là năm vạn. Số quân của đô tướng Nguyễn Khoái cũng là năm. Đều là quân tinh nhuệ cả… Như vậy là ta có ba nhăm, ba bảy vạn đủ để Quốc công Tiết chế địch với năm mươi vạn của giặc Hồ (chỉ quân Nguyên Mông) Quốc công Tiết chế có bẩm với hai Thánh thượng là… Sau kiếp nạn này… chỉ đến mùa hè sang năm là… Quốc công Tiết chế sẽ rước hai Thánh thượng trở lại kinh thành Thăng Long… thôi ạ!

Hai vua Trần nghe Phạm Ngũ Lão trình bày. Nhưng trong lòng thì còn đang ngổn ngang hàng trăm nỗi lo, nên gần như chỉ “Ờ! Ờ! Ờ…” cho qua chuyện. Trời mùa đông, nắng hanh, ngày ngắn nhưng hai vua cảm thấy dài như vô tận. Đến giờ Dậu thì Trần Bình Trọng cùng một trăm quân kỵ thở hồng hộc quay ngựa trở về.

Phạm Ngũ Lão nhanh nhảu chạy xuống đón và hỏi:

- Mọi việc thế nào?

- Có hai nhăm thuyền lớn và năm trăm thủy thủ khỏe mạnh. Hơn một canh giờ nữa… hẹn nhau ở vùng vịnh Hải Đông. - Trần Bình Trọng vừa thở dốc vừa đáp.

- Như vậy là tốt quá rồi! Phải đưa hai Thánh thượng đi ngay thôi! - Ngũ Lão đáp rồi cắm cổ bước gấp lên đồi, hô quân lính tập hợp đội ngũ.

Trần Bình Trọng bẩm với hai vua Trần:

- Dạ! Bẩm thưa hai Thánh thượng! Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư tâu: “Mong hai Thánh thượng tha cho tội chết. Bởi Khánh Dư không thể bỏ quan ải trọng yếu do Quốc công Tiết chế sai trấn giữ để đi theo hộ giá hai Thánh thượng được, nhất là nay giặc Hổ (chỉ quân Nguyên đã đánh sang). Thuyền, lương thực, nước uống và lính tinh nhuệ thần đã bàn giao cho Bảo Nghĩa vương đầy đủ như chỉ dụ của hai Thánh thượng”

- Thôi được thế là tốt quá rồi - Vua Trần Nhân Tông đáp. Thực ra khi nghe tin hai vua Trần có mặt ở Tam Tri Trần Khánh Dư đã rụng rời hết vía. Chuyện bỏ quan ải đi phò giá hai vua là việc trọng, không ai có thể trách cứ được. Nhưng liệu vài chục, thậm chí vài trăm chiến thuyền của Đại Việt thì so bì thế nào được với những thuyền lớn của rợ Hồ. Rủi gặp nhau ở vùng biển lạ thì chỉ có mà… Trời thì rét căm căm, ở đây chăn ấm nệm êm. Rượu ngon, gái đẹp… Sơn hào, hải vị, không thiếu gì. Không có vua này thì lập vua khác. Sau khi đã cân nhắc đủ mọi nhẽ, Khánh Dư mới “tạ sự” ra như thế để thoái thác trọng việc.

Mùa đông, tháng Mười, dưới ánh trăng đầu tuần lạnh lẽo đoàn quân do Trần Bình Trọng và Phạm Ngũ Lão ngựa tháo nhạc, người ngậm tăm hộ giá hai vua Trần ra vịnh.

Hai nhăm chiến thuyền đã quay đuôi vào bờ nghênh đón. Phạm Ngũ Lão cõng Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông xuống thuyền trước. Khi quay lại đã thấy Đỗ Khắc Chung đang lập cập dò từng bước một dưới các bậc đá gập ghềnh, trên lưng cũng đang cõng vua Trần Nhân Tông. Thấy vậy Ngũ Lão nói với nhà vua:

- Xin Thánh thượng cứ ngự trên lưng Đỗ Khắc Chung. Thần tuy bất tài cũng xin cõng cả hai xuống thuyền.

Miệng nói tay làm, Ngũ Lão quay lưng lại bốc cả hai người bước đi phăm phăm. Đến đầu thanh ván bắc xuống thuyền bập bềnh. Ngũ Lão co chân nhảy vọt xuống, nhẹ như cánh chim.

Vua Trần Nhân Tông có ý muốn giữ Ngũ Lão ở lại dưới thuyền cùng Trần Bình Trọng hộ giá vào Ái châu nhưng Đỗ Khắc Chung đã bấm vào vế nhà vua. Vua biết Khắc Chung có ý can ngăn, nên phân vân không biết thế nào, đành nín lặng. Lúc thuyền đã rời bến Khắc Chung nói nhỏ: “Phạm Ngũ Lão bây giờ đã là con rể của Quốc công Tiết chế. Nhỡ Quốc công Tiết chế có lòng đổi thay, thì ngay cả đến Trần Bình Trọng cũng không phải là đối thủ của hắn”.

Trước lúc chia tay, Phạm Ngũ Lão nói với Trần Bình Trọng:

- Sự an nguy của hai Thánh thượng nhờ tất cả vào ngọn thương vô địch của Bão Nghĩa vương đó!

Trần Bình Trọng khảng khái đáp:

- Nhờ ngươi về báo với Quốc công Tiết chế rằng Bình Trọng này có thịt nát, xương tan, gan óc lầy đất cũng không để giặc Hồ đụng được đến một sợi lông chân của hai Thánh thượng.

Vua Trần Nhân Tông nghe Trần Bình Trọng nói thế thì cảm khái thành thơ:

Cối Kê chuyện cũ người nên nhớ,

Hoan Diễn còn kia chục vạn quân.

Nghe xong Phạm Ngũ Lão vỗ tay khiến quân sĩ cũng vỗ theo, rồi cùng reo reo ầm cả lên:

- Hai Thánh thượng vạn tuế! Vạn vạn tuế… Mong hai Thánh thượng bảo trọng! Kính chúc hai Thánh thượng thượng lộ bình an!

Hai mươi lăm chiến thuyền chở theo một ngàn ba trăm binh lính và hơn một trăm ngựa chiến. Giám quân Đỗ Hành đi trước. Trần Bình Trọng cùng hai vua Trần đi ở thuyền giữa. Buồm căng gió đông bắc gối sóng, lướt như ngựa phi trên biển cả. Tới tang tảng sáng thì tới cửa sông Cái, dẫn vào phủ Thiên Trường. Trần Bình Trọng cho đoàn thuyền quây lại và hỏi:

- Ai dám ở lại chặn giặc cùng ta.

Tám trăm quân Thánh dực đều hô to “Sát Thát”.

Trần Bình Trọng giữ lại năm trăm người cùng tám chiến thuyền, số còn lại giao cho giám quân Đỗ Hành hộ giá hai vua chạy vào châu Ái. Vua Trần Nhân Tông cầm tay Trần Bình Trọng, nước mắt lưng tròng nói:

- Ngươi không khác gì Kỷ Tín cứu chúa Lưu Bang khi xưa!

Tám chiến thuyền cùng năm trăm quân ngược lên Thiên Trường. Đến bãi Mạn Trù, Bình Trọng cho ghé thuyền lên, sai quân lính dựng lều trại. Có cắm cờ long, phụng như có hai vua đang nghỉ chân ở đó.

Trở lại chuyện A Bát Xích bị Phạm Ngũ Lão đánh tan, là viên tướng rất từng trải, khôn ngoan nên biết quay lại đường cũ ắt có quân chặn nên nhằm hướng Quế Sơn, cắt đường phi ngựa tới. Về tới nơi A Bát Xích sai thám mã phi ngựa cấp tốc về Thăng Long báo cho Thoát Hoan việc hai vua Trần có thể vượt biển trốn vào Ái châu. Thoát Hoan muốn sai Ô Mã Nhi đem chiến thuyền lớn đuổi theo, thì Lý Hằng, Lý Quán bước ra thưa.

- Giết gà việc gì phải dùng đến dao mổ trâu. Hai mạt tướng xin đi! Quyết bắt được hai vua Trần mới nghe.

Hơn một trăm chiến thuyền với năm ngàn quân xuôi theo sông Cái (tức sông Hồng). Đến cuối giờ Thìn (khoảng 9 giờ sáng) thì Lý Hằng, Lý Quán phát hiện thấy cờ long, phụng cắm trên bãi Mạn Trù bèn cho thuyền dừng lại. Tham quân kiêm hướng đạo Phạm Nhan nheo mắt quan sát rồi nói:

- Trong đám quân kia không có hai vua Trần!

Lý Hằng bảo:

- Bọn chúng chỉ có một dúm! Ta cứ lên chỉ loáng một cái là tóm sống tất cả. Có hai vua Trần thì tốt. Không có đuổi sau cũng không muộn.

Rồi hô năm ngàn quân nhất tề xông lên. Năm trăm quân Thánh dực xếp thành năm khối vuông. Ở giữa là trại có cắm cờ long, phụng. Trần Bình Trọng thúc ngựa ra tận mép nước thách Lý Hằng, Lý Quán cùng vào giao chiến. Hai tướng giặc không nói không rằng cùng thúc ngựa, múa đao xông vào. Ngọn thương của Trần Bình Trọng lúc hăng hái, lúc ngập ngừng lui dần vào trong. Khi Lý Hằng, Lý Quán vào đến giữa trận thì năm khối vuông quây chặt lấy chúng. Một nửa quay mặt ra ngoài chống với năm ngàn quân giặc. Lúc này ngọn thương của Trần Bình Trọng mới thể hiện là đệ nhất Đại Việt. Lúc đâm vào giữa ngực Lý Hằng, lại trổ sang phải nhằm vào mặt Lý Quán như một mãng xà mổ tới. Hai tướng bị quây chặt vào các đường thương của Trần Bình Trọng và hàng trăm quân vây quanh biết là bị mắc kế “điệu hổ ly sơn” muốn thoát ra, để hô quân lính xuống thuyền đuổi theo hai vua Trần, nhưng không tài nào thoát ra nổi. Trần Bình Trọng càng đánh càng hăng, mặc cho số quân cứ mỗi lúc một vơi dần. Nhưng giờ Tỵ, giờ Ngọ đã qua mà các khối vuông có ngót đi, nhưng ngọn thương và số quân của Trần Bình Trọng vẫn cứ bám riết lấy cả hai tướng giặc, không tài nào bứt thoát ra được. Hăng tiết Lý Hằng, Lý Quán quyết “ăn thua” với Trần Bình Trọng mà không nghĩ đến việc đuổi theo hai vua Trần nữa. Mà thực tế cũng không tài nào thoát ra để xuống thuyền được.

Trời nắng hanh, tiết trời tuyệt đẹp của những ngày đầu đông, khi năm trăm quân lính đã gục cả xuống, bản thân Trần Bình Trọng đã bị mấy vết thương ở sườn, ở đùi nhưng ngọn thương vẫn tung hoành giữa đám giặc dữ. Bọn chúng không thể hiểu nổi một chàng trai có dáng dấp thư sinh hơn là một võ tướng mà gân sức lại dẻo dai đến lạ kỳ như vậy. Cuối cùng bị một mũi tên bắn vào hạ sườn. Trần Bình Trọng mới gục xuống. Bọn giặc định phóng giáo để giết chàng thì Lý Hằng giơ tay ngăn lại. Hằng sai lấy bàn ghế từ dưới thuyền lên, rồi đích thân dìu chàng lên ghế. Hằng bưng nước mời Trần Bình Trọng uống. Bình Trọng lấy tay gạt phăng âu nước trong tay Lý Hằng. Nhưng Hằng vẫn kiên trì nhỏ nhẹ khuyên chàng:

- Ngươi còn trẻ tuổi, tài cao, trí dũng song toàn. Nếu theo về với nhà Nguyên thì vinh hoa, phú quý không thể kể xiết. Thậm chí còn hơn cả ta bây giờ…

Trần Bình Trọng đã khảng khái quát vào mặt giặc:

- Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc.

Rồi cố thu hết sức còn lại, đứng bật dậy nắm lấy ngọn giáo của tên lính đang chĩa vào mình, đâm xuyên qua bụng.

Trần Bình Trọng ngã ngửa ra. Hé mắt thấy mặt trời mùa đông đã gác về phía tây. Miệng chàng khẽ mỉm cười. Chàng đoán lúc này chắc chắn hai vua Trần đã vượt biển vào đến Ái châu, nơi Chiêu Minh vương Thái sư Trần Quang Khải đang nắm giữ mười vạn quân tinh nhuệ.

Trần Bình Trọng chết lúc mới hai mươi sáu tuổi. Để lại công chúa Thụy Bảo góa bụa lần thứ hai…

Trần Bình Trọng vốn dòng dõi vua Lê Đại Hành. Thời đầu nhà Trần ông cha có công lớn trong việc gây dựng triều chính và chống Nguyên Mông lần thứ nhất nên được đổi quốc tính, mang họ vua…

Lý Hằng, Lý Quán quay thuyền về báo lại sự tình với Thoát Hoan. Thoát Hoan chưa kịp trách cứ thì Ô Mã Nhi đã nói thêm một lần nữa:

- Được rồi! Hai vua Trần chạy trốn tới đâu, ta sẽ đuổi theo tới đó!



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 28.08.2018, 11:36
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Chim ưng và chàng đan sọt - Bùi Việt Sỹ - Điểm: 10
10

Năm mươi vạn quân Nguyên đóng trại suốt từ Quế Sơn qua Từ Sơn (Bắc Ninh) xuống Yên Viên, Gia Lâm và Thăng Long. Hưng Đạo vương để Minh Hiếu vương Trần Quốc Uẩn và Hưng Trí vương Trần Quốc Hiện cùng mười vạn quân ở lại đại bản doanh Vạn Kiếp chống với mười lăm vạn quân của A Bát Xích, Tích Lệ Cơ Ngọc và Phàn Tiếp ở Quế Sơn. Gần hai mươi vạn quân còn lại Người rút về mạn bắc sông Cái, đối diện với Thăng Long cùng năm vạn quân của Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật và năm vạn quân của Đô tướng Nguyễn Khoái chống với ba lăm vạn quân của Thoát Hoan ở kinh thành Thăng Long và vùng phụ cận.

Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi, Trương Hiển, A Lạt, A Lý Hải Nha cùng bọn Lý Hằng, Lý Quán dùng thuyền lớn ghép lại thành cầu phao vượt sông Cái sang đánh nhau với quân Trần. Nhiều trận chiến ác liệt đã diễn ra. Mùa đông nước sông Cái cạn, quân Nguyên bắn tên xuống nước. Chỗ nào tên không nổi lên thì biết là chỗ ấy cạn thúc ngựa vượt qua. Phạm Ngũ Lão, Trần Quốc Tảng, Trần Quốc Nghiễn phải căng sức ra chống đỡ với quân giặc.

Có lần Ô Mã Nhi đã ghép thuyền gần vượt được sông thì Nguyễn Khoái từ phía bắc thả thuyền xuôi xuống. Hai bên đánh nhau hết sức dữ dội. Ô Mã Nhi đấu với Nguyễn Khoái hơn năm mươi hiệp mà không đánh đổ được gã mặt đen, râu quai nón, mắt nhỏ, cằm bạnh, người tròn to như một gốc lim cổ thụ. Ô Mã Nhi vừa đánh vừa nghĩ thầm: “Tưởng là Đại Việt chỉ có một tên Phạm Ngũ Lão, giờ lại nẩy nòi ra thằng này. càng thêm khó gặm…”. Vừa nghĩ tới đó thì có tiếng Phạm Ngũ Lão gọi to:

- Hiền huynh Nguyễn Khoái! Có Ngũ Lão đến trợ chiến đây!

Ô Mã Nhi cả sợ nếu bị hai tướng Đại Việt giáp công hai mặt nên vội rút về. Nguyễn Khoái đánh cắt đôi đoàn thuyền của Ô Mã Nhi, quân Nguyên phần bị giết phần bị ngã xuống sông lạnh, chết đuối vô kể.

Sau trận ấy hai bên gần như cắm binh cầm cự.

Nhưng những ngày đông rét mướt tưởng dài như vô tận. Ngựa không có thóc đã đành, cỏ khô cũng thiếu. Còn khẩu phần cho lính cũng rút đi một nửa. Nhiều đêm đi tuần Ngũ Lão thấy lính đốt lửa sưởi, lại ngửi thấy mùi khét. Hóa ra đói quá, binh lính phải lấy lại da ngựa, da trâu đã thuộc khô nướng ăn. Ngũ Lão cũng sà xuống. Hơ đôi bàn tay lạnh cứng trên bếp lửa. Binh lính cắt cho chàng một miếng da bằng bàn tay. Ngũ Lão đưa lên miệng thấy chan chát và dai ngoách vô cùng. Nhưng nhai kỹ cũng thấy đường được. Hai hàm răng phải cố nghiền cho miếng da khô mềm ra rồi mới dám nuốt xuống dạ dày trống không. Hai gò má nhô cao khiến cho hai má hóp lại. Chỉ có đôi mắt to dưới đôi lông mày lưỡi mác của chàng là vẫn bừng lên ánh sáng kiên nghị. Đói, rét… khổ sở trăm bề, nhưng Ngũ Lão luôn giữ tác phong nghiêm chỉnh, lúc nào cũng ăn vận võ phục gọn gàng. Lính dưới quyền Ngũ Lão cũng một mực giữ quy củ như thế. Bất kể sáng, trưa, chiều tối hay đêm khuya, chỗ nào giặc đánh sang mà quân Đại Việt có phần núng là Ngũ Lão cùng đoàn quân của chàng có mặt. Thấy bóng chàng là bọn giặc hò nhau rút chạy.

Trong khi đó thì ba ngàn hàng binh Tống vẫn án binh bất động, chỉ luyện tập ở trong trại. Xuất ăn vẫn như bình thường. Quân phục sạch sẽ tinh tươm, sắc mặt rất “trơn lông, đỏ da”. Tướng Triệu Trung thì sốt ruột vô cùng, luôn vào bẩm với Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật cho xuất trận.

Lần nào Vương cũng quát:

- Quốc công Tiết chế dặn rồi: “Nuôi lính ba năm dụng một giờ” hãy về mà sơn sửa thuyền bè cho bóng đẹp. May cờ hiệu nước Tống cho tinh tươm. Hễ còn đòi ra đánh nữa là… chém!

Tống tướng Triệu Trung ôm đầu lủi thủi ra về, không hiểu cơ sự ra làm sao?

Ô Mã Nhi bàn với Thoát Hoan:

- Không ngờ quân Đại Việt mạnh mẽ và ngoan cường thế! Thế trận cứ giằng co mãi thế này… rất bất lợi cho quân ta. Bởi đường vận lương luôn bị cướp phá. Tuyến từ Lạng Sơn xuống cũng rất khó khăn. Mười phần chỉ còn được hai ba. Đi đường biển cũng bị chặn cướp rất rát. Mười thuyền cũng chỉ trót lọt như vậy. Quân lính đói đã bắt đầu giết ngựa để ăn thịt rồi!

Thoát Hoan bảo:

- Ta cũng đã tính nát nước rồi… mà chưa có cách nào phá được quân Đại Việt. Thôi thì đành đợi sang hè. Ta đã hẹn trước với Toa Đô rồi… Hè Toa Đô sẽ đánh từ Chiêm Thành ra. Trước tiên chiếm châu Ái, châu Hoan… Rồi ngược sông Cái ra… Hội quân ở Thăng Long. Đến lúc ấy mới đủ sức đánh bại quân Đại Việt.

Ô Mã Nhi dạ, lui ra. Quay về lều vui đùa, hú hí với lũ “đầm non” Tiểu Nga-la-tư (tức Ukraina bây giờ), Ô Mã Nhi không thích ở trong cung điện. Chỉ thích ở trong lều trại bằng da dê. Phía dưới trải lông cừu. Vừa ấm áp, vừa khô ráo tránh được cái lạnh và nhất là sự ẩm ướt rất khó chịu của cảnh mưa dầm, gió Bấc. Nhiều tối Ô Mã Nhi đem đám “đầm non” lên Hồ Tây. Vào quán gió, uống rượu chân sâm cầm, ăn món cá chép om dưa hoặc ba ba nấu với thịt ba chỉ, chuối xanh và đậu phụ. Mấy cô đầm Tiểu Nga thì thích món bún ốc với nước chấm vừa cay, vừa chua lại vừa ngòn ngọt. Ăn uống no say, Ô Mã Nhi chỉ đánh một chiếc khố nằm lăn ra sàn, xung quanh là các cô đầm mặc váy ngắn đến bẹn, như lũ lợn bột rúc vào nách chú “lợn sề” bụng to đùng, trắng ởn của Ô Mã Nhi. Chưa hết, có lúc hứng lên, Ô Mã Nhi còn ôm cây đàn hình tam giác, chuôi khá dài, gần giống với chiếc đàn đáy của Đại Việt - theo tiếng Nga-la-tư gốc là đàn Balalaica, tấu lên một vài bản nhạc dân gian rất rộn rã. Những lúc đó, những cô gái Tiểu Nga, như các tiên nữ giáng trần, hai má đỏ như hai trái táo Tây chín. Mắt xanh, da trắng, tóc vàng với cặp đùi dài, non tơ hấp dẫn như một cây giò lụa cùng vỗ tay nhẩy múa những điệu rất vui nhộn. Không bao giờ Ô Mã Nhi ngủ ngoài lều. Khoảng canh hai, khi đã “ăn no, rượu say” Ô Mã Nhi đem lũ “đầm non” trở về lều căng bằng da dê, dưới có trải lông cừu bắt đầu hành lạc cho đến tận gần giờ Ngọ hôm sau…

Cả quân Nguyên Mông lẫn tướng sĩ nhà Trần đều đỏ mắt trông cho mùa đông chóng qua, mùa hè chóng tới. Còn thời gian thì dù ai đó có mong hay ai đó không đợi thì nó vẫn cứ trôi. Và tháng tư những tia nắng hoe vàng đầu tiên đã hé rạng. Rồi tháng năm trời nóng như đổ lửa đã ập xuống. Như lời hẹn trước lúc xuất mười lăm vạn quân với một ngàn chiến thuyền vượt biển vào đánh Chiêm Thành năm 1282, ba năm sau dù chiếm được Chiêm hay không thì Toa Đô cũng sẽ đem binh ngược ra Bắc, hội với Thoát Hoan ở kinh thành Thăng Long thành hai gọng kìm nguy hiểm kẹp quân Trần vào giữa mà Trần Hưng Đạo gọi là hai chiếc càng của con cua khổng lồ đã thành tinh. Và thời khắc đó đã đến.

Cuối tháng tư, đầu tháng Năm năm 1285, đại quân của Toa Đô đánh vào Ái châu. Chương Hiến hầu Trần Kiện là con của Tĩnh Quốc vương Trần Quốc Khang, một phần biết sức yếu, thế cô không thể chống lại được, phần nữa bất mãn với chính sách chống Nguyên của nhà Trần nên đã đem ba vạn quân hàng giặc. Rồi dẫn đường cho Toa Đô đánh Trần Quang Khải. Toa Đô cùng hàm nguyên soái với Ô Mã Nhi, nhưng tính cách thì khác hẳn. Toa Đô tính tình điềm tĩnh, ít nói mà thay vào đó là hành động. Lúc lâm trận, đầu đội mũ sư tử, giáp trụ đàng hoàng (chứ không ăn mặc tuềnh toàng và lắm lời như Ô Mã Nhi), tay phải cầm một quả trùy gai lớn, có dây xích sắt nối vào cổ tay. Với sức khỏe kinh hồn và võ nghệ vào loại thượng thặng không kém gì Ô Mã Nhi, mỗi khi quả trùy tung vào đâu là ở đó có người vỡ sọ, dập thây. Hai vua Trần cùng Trần Quang Khải, đem mười vạn quân, dàn trận đón đánh Toa Đô ở ngoại thành Ái Châu. Nhưng với sức Toa Đô quá mạnh, cộng với sự dẫn đường của Trần Kiện, hai vua Trần cùng Trần Quang Khải bị thua, phải lui binh để bảo toàn lực lượng. Trong vòng nửa tháng chiếm luôn được cả thành Hoan Châu, tạo thành thanh thế rất lớn. Nhưng mục đích của Toa Đô không phải là chiếm vùng Hoan Ái mà cái chính là ra hội quân với Thoát Hoan.

Mười lăm vạn quân Nguyên Mông cùng một ngàn chiến thuyền lớn vượt biển kéo vào cửa Đại Hoàng (cửa sông Hồng) nhằm hướng kinh đô thẳng tiến. Thoát Hoan hay tin cử Ô Mã Nhi đem theo thuyền nhẹ cùng tham quân kiêm hướng đạo Phạm Nhan đi đón Toa Đô. Do hành tung bí mật, bất ngờ của Ô Mã Nhi dễ dàng chọc thủng phòng tuyến của quân Trần, gặp được Toa Đô ở cửa sông Cái.

Lúc này theo kế sách đã được định trước hai vua Trần cùng Trần Quang Khải đánh tập hậu vào đoàn chiến thuyền của Toa Đô gây cho giặc khá nhiều tổn thất. Toa Đô nhờ Ô Mã Nhi đánh chặn hậu, còn mình tự lĩnh ấn tiên phong tiến lên phía trước. Đến cửa Hàm Tử đại quân Trần bắt đầu xuất trận. Đầu tiên là Đô tướng Thủy quân Nguyễn Khoái, đem năm vạn quân chặn đánh quyết liệt. Tiếp đến là quân của Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật. Đêm đêm các thổ hào ở hai bên bờ sông cũng liên tiếp tập kích. Đặc biệt Yết Kiêu với đội “người nhái” cảm tử, mỗi ngày đánh đắm từ bốn mươi đến năm mươi chiến thuyền, khiến cho quân giặc vô cùng khiếp hãi. Cách đánh của Yết Kiêu hết sức độc đáo là khoét lỗ dưới đáy thuyền rồi bịt giẻ có nối với một sợi dây. Khi khoét mỗi thuyền được khoảng chín mười lỗ thì giật dây. Nước từ các lỗ ào vào, chỉ trong khoảnh khắc, thuyền bị đánh chìm. Đòn hiểm này đánh vào các thuyền chở lương thảo hoặc chở ngựa khiến cả Toa Đô lẫn Ô Mã Nhi đều vô cùng tức giận và sợ hãi. Một lần chúng dùng lưới đánh cá bắt được Yết Kiêu. Đưa lên thuyền Ô Mã Nhi hỏi:

- Chúng bay có bao nhiêu người tài giỏi như ngươi.

- Độ ba bốn chục - Yết Kiêu đáp. - Song họ đều là người nhà của tôi. Nếu nguyên soái muốn chiêu dụ chỉ cần cấp cho mỗi người vài cân vàng là dụ được.

Ô Mã Nhi đang gật gù tính toán, nhân lúc có sơ hở, Yết Kiêu tung mình như một chú cá quẫy (mặc dù chân tay đang bị trói) lặn xuống sông mất tăm. Ô Mã Nhi sai cung thủ bắn tên xuống, nhưng như “tăm cá” Yết Kiêu đã mất dạng. Và đêm đó bốn chục chiến thuyền lại bị đánh chìm.

Hoang mang về tinh thần, thiệt hại về vật chất (chiến thuyền) nhưng cuối cùng đoàn quân của Toa Đô cũng đã tiến tới được bến Chương Dương, trước kinh thành Thăng Long, xuôi về phía nam chừng năm dặm. Tại đây kế hoạch chặt đứt “càng cua” khổng lồ Toa Đô của Hưng Đạo vương đã diễn ra bằng một trận ác chiến phối hợp nhịp nhàng giữa thủy quân và lục quân.

Đầu tiên là đoàn chiến thuyền với năm vạn quân của Trần Nhật Duật. Ở phía bên trái có ba ngàn binh Tống do Triệu Trung, tay cầm trùy lớn, dựng cờ Tống lớn dẫn đầu. Các binh sĩ Tống người nào cũng tề chỉnh trong bộ quân phục Tống mới tinh, cờ xí Tống bay phần phật. Người người đều béo tốt, “trơn lông, đỏ da” một tay cầm gươm hoặc cầm giáo, tay kia thì cầm loa.

Và cuộc chiến của các chiến binh Tống bắt đầu bằng các tiếng loa đĩnh đạc, đàng hoàng:

- Hỡi các binh sĩ người Hoa, người Liêu, người Hạ, người Mãn, người Kim… Đất nước Trung Quốc đã được giải phóng… Triều Tống đã được lập lại… Vua Tống sai Triệu Trung và chúng tôi đến đón anh em đây! Hỡi anh em. Hãy quay gươm, giáo lại! Đừng làm tôi tớ cho bọn giặc Hồ hung ác… Hãy cùng sát cánh với quân nhà Trần tìm diệt lũ sài lang Nguyên Mông.

Trong hàng ngũ quân Toa Đô có sự xôn xao. Trong số mười lăm vạn quân thì có tới năm vạn là hàng binh Tống. Họ theo Toa Đô chinh chiến đã ba năm. Không hay biết gì về tình hình của nước nhà. Nay trước những tiếng loa kêu gọi thống thiết như vậy, từ lúc đầu còn hoài nghi… cuối cùng họ tin là thật.

Toa Đô tức giận sai quân tập trung cung bắn vào đoàn chiến thuyền quân Tống. Hàng vạn mũi tên bay sang như châu chấu. Nhưng những tấm mộc đã được dựng lên ở trước cả các mái thuyền. Và tiếng loa vẫn cứ phát ra mỗi lúc một thống thiết…

Mặc cho đội thuyền đang có sự lộn xộn, Toa Đô vẫn thúc “súy thuyền” tiến lên. Trần Nhật Duật nói với Triệu Trung:

- Người ra đấu với Toa Đô vài chục hiệp xem sao?

Triệu Trung vâng lệnh thúc thuyền tiến lên. Rồi từ mũi thuyền quân Tống, Triệu Trung nhảy vọt sang “súy thuyền” của Toa Đô. Hai quả chùy, một gai, một trơn được tung ra. Nhưng những đòn đánh của Toa Đô thật là chát chúa. Triệu Trung chỉ lo chống đỡ đã toát mồ hôi, chứ không đánh trả được đòn nào. Mới được hơn mười hiệp đã loạng choạng ngã xuống thuyền mình để “lính Tống” chèo lui.

Giữa lúc đó có một đoàn thuyền xông đến. Chiếc đi đầu cắm một cây cờ lớn thêu sáu chữ vàng “Phá cường địch báo hoàng ân” Trần Nhật Duật nhận ra tướng trẻ tuổi chừng mười sáu, mười bẩy chính là Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản, cậu thiếu niên đã bóp nát quả cam ở Hội nghị Bình Than năm nào. Do bực tức không được hai vua Trần mời vào dự họp. Trần Quốc Toản đã về nhà, bán hết gia sản, tập trung các thiếu niên cùng trang lứa được hơn một ngàn người, nhờ thầy huấn luyện cung, thương, đao, kiếm. Chính đoàn quân thiếu niên do Trần Quốc Toản cầm đầu cũng đã tham chiến, đeo bám và đón đánh đoàn chiến thuyền của Toa Đô suốt từ của Hàm Tử (phía trên Thiên Trường, dưới huyện Khoái Châu, Hưng Yên hiện nay) về đến đây.

Hai thuyền chạm nhau, Trần Quốc Toản vung kiếm nhằm thẳng đầu Toa Đô bổ tới. Đang mải thúc quân sĩ, Toa Đô quay lại, vung cây chùy gai lên đỡ. Thanh gươm của Trần Quốc Toản cong lại. Còn tấm thân của cậu thiếu niên chưa đến tuổi trưởng thành văng ra một trượng. Toa Đô tung xích, cây chùy gai nhằm thẳng vào Trần Quốc Toản đập xuống. Nhanh như cắt người bõ già, cũng là thầy dạy võ của Trần Quốc Toản vội lao xuống, đưa tấm lưng hứng lấy quả chùy của Toa Đô. Tấm lưng của người nát vụn ra. Tranh thủ Trần Quốc Toản xoay mấy vòng rơi xuống thuyền của mình. Nhưng chàng thiếu niên vẫn không chịu bỏ cuộc. Chàng hô các “dũng sĩ” trẻ bỏ gươm, giáo lấy cung nhất tề nhằm vào Toa Đô nhả tên. Nhưng đối với viên hổ tướng từng “Nam chinh Bắc chiến” thì những mũi tên đó chỉ là “lũ châu chấu đá voi”. Chiếc chùy gai trong tay hắn huơ lên, tên rơi lả tả xuống mặt thuyền. Một vài dũng sĩ của Đại Việt xông lên, cùng lúc vung gươm, đao, lăn xả vào hắn chém tới tấp. Song chỉ loáng một cái, tất cả đã tan thây dưới cây chùy “quỷ sứ” của hắn. Và chiếc “súy thuyền” của hắn vẫn phăm phăm đè sóng, đè lên các thuyền nhỏ của Đại Việt tiến lên. Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật thấy thế thì vô cùng sốt ruột. Người hô lớn:

- Nguyễn Khoái đâu! Để ta đốc chiến cho. Ngươi hãy nhảy lên kiềm chế bớt sự hung tợn của Toa Đô lại.

Nguyễn Khoái vâng lời, nhẩy từ chiến thuyền Đại Việt này sang chiến thuyền Đại Việt khác, rồi nhảy phắt lên “súy thuyền” của Toa Đô. Vốn sải tay đã dài, lại nối thêm một đoạn xích nên cây chùy của Toa Đô lúc đầu khiến Nguyễn Khoái khá lúng túng. Lừa lúc cây chùy vừa quăng vụt ra xa, Nguyễn Khoái sấn lại gần, lia đao nhằm ngang người Toa Đô phạt tới. Nhanh nhẹn đến không ngờ, Toa Đô đã thu xích lại, tung quả chùy ra đón đỡ. Thế là hai bên xoắn lấy nhau. Tiếng chùy tiếng đao vang lên chan chát, nhiều lúc tóe lửa. Đánh được gần năm chục hiệp mà không bên nào hạ được bên nào. Nguyễn Khoái càng đánh càng hăng khiến Toa Đô vô cùng sốt ruột.

Lợi dụng thời cơ đó các chiến thuyền quân Tống hòa vào các chiến thuyền Nguyên Mông. Tiếng gọi người thân, tiếng gọi đồng hương vang dậy cả một khúc sông. Năm vạn lính Hoa nằm trong đội quân mười lăm vạn của Toa Đô dường như đã buông gươm, quăng giáo. Một số đã quay lại kịch chiến với lính Mông Cổ.

Còn Trần Nhật Duật thì cũng nhân thời cơ đó đốc chiến rất hiệu quả. Các chiến thuyền của Đại Việt như đã hòa vào đoàn chiến thuyền khổng lồ của Nguyên Mông.

Trấn Nam vương Thoát Hoan mỏi mắt trông chờ đoàn thuyền của Toa Đô thì bây giờ, đứng trên tòa địch lâu của kinh thành Thăng Long, thấy trong quân đã có biến, và cả đoàn thuyền khổng lồ mỗi lúc một bị chia cắt nhỏ ra bèn tung quân ra ứng cứu. Năm vạn kỵ binh Mông Cổ mở tung cửa thành phía nam ào ạt tiến ra. Đoàn kỵ binh như một cơn lốc cuốn tiếp cận được các chiến thuyền của Toa Đô, chắc chắn sẽ thổi bay các chiến thuyển nhỏ bé của Đại Việt. Nhưng tất cả đã nằm trong sự tính toán chính xác đến từng ly, từng tí của Hưng Đạo vương. Khi năm vạn kỵ binh Mông Cổ vừa ra khỏi thành thì phía đông năm vạn quân của Trần Quốc Nghiễn từ trận địa mai phục phía ngoài đê áp vào. Phía nam năm vạn quân của Trần Quốc Tảng cũng áp tới. Mười vạn quân của hai vị vương không công thành mà chỉ tạo một chiếc nút, nút chặt hai cổng Đông và Nam để Thoát Hoan có muốn phái quân ra tăng viện cũng không có đường… Trong khi đó, năm vạn quân của Phạm Ngũ Lão đào hào chờ sẵn. Khi năm vạn kỵ binh Mông Cổ đang ào ạt xông ra, lọt vào trận địa đã được bí mật từ các chiến hào và hố cá nhân thò lên, những chiếc câu liêm sắc lẹm giật đứt chân các vó ngựa Mông Cổ. Hàng ngàn rồi hàng vạn kỵ sĩ bị ngã ngựa, lộn cổ xuống đất. Nhiều tên bị xác ngựa đè lên không thể rút chân đứng lên được. Tiếng ngựa hí vang động cả một góc trời. Khi các kỵ sĩ Mông Cổ đã đồng loạt ngã ngựa thì năm vạn đại quân Việt như ở dưới đất độn thổ lên. Lúc này những thanh câu liêm thương dài đã được thay bằng đoản đao và kiếm. Các kỵ sĩ Mông Cổ khi còn trên lưng ngựa thì quả thực là các chiến binh vô địch trong thời đại đó. Chả thế mà họ tiến từ Á sang Âu, xuống cả vùng Trung Cận Đông và lại lộn trở về Á. Đến đâu cũng như là tiến vào chỗ không người. Nhưng khi họ đã bị quật xuống mặt đất thì lại hoàn toàn ngược lại. Các chiến binh Mông Cổ to béo trở thành những “bị thịt” dưới mũi kiếm, nhát đao của các chiến binh Đại Việt.

Tiếng ngựa hí đau đớn, tiếng hô “Sát Thát” vang động cả một góc trời. Trấn Nam vương Thoát Hoan cay đắng chứng kiến tận mắt đoàn quân con cưng của mình bị “xả thây” mà đành bất lực. Còn Toa Đô mặc dù đang bị Nguyễn Khoái xoắn lấy đánh, không dời ra nửa bước, nhưng là viên tướng dày dạn trận mạc mấy chục năm, thì nghe tiếng hô, tiếng kêu và đảo mắt nhìn vào phía bờ sông là đã hiểu ra tất cả. Toa Đô không dám ham đánh nữa. Hắn vung bậy một chùy rồi nhảy vào trong thuyền. Sai lính dắt ra con ngựa “hoàng long câu” phi dưới nước như phi trên đất bằng. Bỏ mặc hơn chục vạn quân, nhảy lên lưng ngựa, tung chùy ra tứ phía mở đường phi sang bờ sông bên kia, dự tính tìm đường về Quế Sơn.

Lúc này năm vạn quân của Phạm Ngũ Lão, sau khi đã diệt gọn năm vạn kỵ binh Mông Cổ thì thét vang hai tiếng “Sát Thát” ùa cả lên thuyền. Nguyễn Khoái chặn Phạm Ngũ Lão lại và nói lớn:

- Toa Đô chạy rồi! Để ta hỗ trợ cho đệ, để đệ vững tâm bắn Toa Đô! Đừng để hắn chạy thoát.

Nguyễn Khoái vừa chỉ tay cho Phạm Ngũ Lão hướng Toa Đô đang chạy, rồi vung đao tạo thành vòng tròn an toàn cho Phạm Ngũ Lão, để Ngũ Lão “chỉ việc chú tâm” vào việc tiêu diệt Toa Đô. Ngũ Lão tháo cung ở bên sườn, thò tay rút tên ở trên lưng, kéo hết dây. Con ngựa chở Toa Đô trên lưng lúc chồi lên, lúc sụp xuống. Ngũ Lão vẫn kiên trì đứng choãi chân, căng hết cung mà chưa buông dây. Hàng trăm con mắt đổ dồn vào đường tên của Ngũ Lão. Thân hình cao lớn của Toa Đô vẫn nhịp nhàng chồi lên, sụp xuống. Khoảng cách đã xa tới gần ba trăm bước chân. Ngũ Lão vẫn tập trung tinh lực, chờ tới lúc vó ngựa của Toa Đô đặt bước đầu tiến lên bờ sông. Toàn bộ cái gáy của hắn lồ lộ hiện ra gần như bất động. Ngũ Lão thả dây cung. Mũi tên xé gió lao đi vun vút. Chưa đến một chớp mắt thì đã cắm xuyên qua gáy tên tướng giặc hung hãn vào loại bậc nhất thời bấy giờ. Mọi người đều tưởng hắn đã bật ngửa trở lại, ngã tòm xuống sông. Nhưng không! Hắn vẫn thúc ngựa phi lên mặt đê, đem theo cả mũi tên cắm xuyên qua gáy và mất hút dần sau chân đê.

Trần Nhật Duật kinh hoàng trước sức chịu đựng phi thường của hắn. Người bèn sai hơn chục tên lính bên cạnh lấy ngựa khỏe, dắt lên bờ phi đuổi theo. Toa Đô đeo cả mũi tên xuyên qua gáy phi ngựa, cách bến Chương Dương hơn ba chục dặm mới ngã lăn ra chết. Lính Đại Việt theo vết chân ngựa đuổi theo, bèn chặt lấy đầu Toa Đô đem về. Còn con ngựa quý của hắn thì không tài nào bắt nổi phải phóng giáo giết chết.

Trở lại bến Chương Dương lúc này, năm vạn binh Tống trong đội quân Toa Đô đã bó giáo quy hàng. Còn lại mười vạn tên đang bị chia cắt thành từng nhóm, trước vòng vây ngày một thít chặt của quân Đại Việt, Ô Mã Nhi ở đoạn hậu thấy tình thế nguy cấp, liền nhảy lên một chiếc thuyền của Đại Việt. Hắn lia đao một vòng, hai chục lính Đại Việt đều chết lăn trên thuyền hoặc rơi tòm xuống sông. Rồi vớ lấy mái chèo hai cánh tay vâm váp như hai cột đình, khua mái chèo xuôi dòng sông Cái, hướng ra biển. Khi Phạm ngũ Lão và Nguyễn Khoái xuống tới nơi, thì thấy chiếc thuyền chở hắn chỉ nhỏ bằng quả bưởi. Nguyễn Khoái nói:

- Có đuổi theo cũng không kịp. Thôi để hắn làm mồi cho cá biển cũng được.

Phạm Ngũ Lão dè dặt hơn:

- Cái thằng quỷ này chưa biết thế nào? Trên đường trốn chạy, hắn sẽ cướp thuyền buôn, hoặc thuyền đánh cá, để lấy lương thực, nước uống chèo thuyền về Ung Châu hoặc Liên Châu…

Lời tiên đoán của Phạm Ngũ Lão quả nhiên là đúng. Một mình trên con thuyền nhỏ nhoi không lương thực không nước uống. Ấy vậy mà qua ba ngày, ba đêm liên tục hắn đã cho thuyền cặp bến ở thành Ung Châu. Bỏ mái chèo, bước lên bờ, vươn vai cười sảng khoái, trước sự kinh hoàng của binh lính Nguyên Mông, như ma như quỷ hiện hình về…

Thoát Hoan cay đắng nhìn đoàn chiến thuyền hùng hậu với mười lăm vạn quân cùng hai hổ tướng bị quân Đại Việt đánh tan ngay trước mặt. Toa Đô thì bị bắn chết. Còn Ô Mã Nhi thì chưa biết thế nào? Mười vạn quân của Trần Quốc Nghiễn và Trần Quốc Tảng ở hai cửa Đông và Nam vẫn chỉ vây chặt, chứ không công thành.

Ruột gan rối bời, cái điều mà hắn chờ đợi và hy vọng gần suốt một mùa đông dài, cuối cùng lại có kết cục thê thảm ngay trước mặt. Từ tòa địch lâu, Thoát Hoan bước vào hoàng cung ra lệnh cho bọn A Lý, A Lạt Hải Nha, Lý Hằng, Lý Quán… chuẩn bị mở cửa Bắc, vượt sông chạy về Từ Sơn (Bắc Ninh). Đóng trại liên hoàn với Quế Sơn chờ viện binh từ phương Bắc xuống.

Yết Kiêu bắt sống được tên Hán gian Phạm Nhan, giải tới trước mặt Hưng Đạo vương. Hắn hoa chân múa tay nói:

- Ngộ có ba đầu. Chém đầu này mọc đầu khác.

Hưng Đạo vương quát lôi ra chém. Một lát sau quân lính xách ba chiếc đầu như đầu búp bê vào. Hưng Đạo vương và Phạm Ngũ Lão thấy lạ cùng bước ra. Ngũ Lão cười bảo:

- Chẳng qua là người học được phép “độn đầu” chứ làm quái gì có phép nào! Để ta chẻ đôi người ngươi ra, xem ngươi có thoát chết được không?

Ngũ Lão vừa tuốt gươm thì Phạm Nhan đã van xin rối rít.

- Ngộ biết ngộ vạn lần đáng chết! Nhưng sau khi ngộ chết rồi, xin Quốc công Tiết chế sai lính thắp cho ngộ một nén hương và chút lễ vật gì để xuống âm phủ không phải làm ma đói.

Hưng Đạo vương vốn căm ghét tên Hán gian này cực độ. Người phóng giầy đá thẳng vào ngực hắn và quát lớn:

- Cúng! Cúng cho ngươi váy máu… đàn bà…

Cùng lúc lưỡi gươm của Phạm Ngũ Lão chém xuống, xả thân hình cổ quái ra làm hai mảnh.

Về sau trong lúc vui vẻ, cao hứng, Phạm Ngũ Lão đã bộc bạch với Hưng Đạo vương:

- Sao lúc ấy cha… chua ngoa thế!

Hưng Đạo Vương cười ha hả mà rằng:

- Mọi người tin ta là Thánh. Đức Thánh Trần. Nhưng thực ra ta cũng chỉ là một con người bình thường thôi.

Hưng Đạo vương rước hai vua Trần trở lại Thăng Long, đúng như lời hứa vào giữa mùa hè 1285. Vua Trần Nhân Tông thiết triều. Bọn hữu ti (lính hầu bên cạnh nhà vua) khênh ra một hòm gỗ. Nhiều vị quan tái mặt. Vua Trần Nhân Tông phán:

- Những lũ phản quốc đã bị trị tội và sẽ bị trị tội. Còn trong chiếc hòm này có nhiều biểu xin hàng của các quan trong lúc nước nhà nguy nan. Thật có, giả có. Để mọi người an tâm phụng sự Đại Việt, Trẫm sai đốt ngay tại sân rồng.

Hữu ti lại đem thủ cấp của Toa Đô dâng lên Vua Trần Nhân Tông, vua rơm rớm nước mắt, cởi áo ngự đang mặc bọc lấy đầu Toa Đô mà nói rằng:

- Kẻ làm tôi phải như thế này.

Ý nói tới sự tận tụy phục vụ Hốt Tất Liệt của Toa Đô để các quan lấy thế mà noi theo. Rồi sai người đem chôn tại phía nam kinh thành.

- Ai là người đã bắn chết Toa Đô? - Vua hỏi.

Phó đô tướng Đỗ Hành quyền chỉ huy quân Thánh dực tâu:

- Khởi bẩm Thánh thượng! Người đó là Phạm Ngũ Lão.

Phạm Ngũ Lão vội quỳ lạy trước sập rồng tâu:

- Muôn tâu hai Thánh thượng! Công đầu phải thuộc về Quốc công Tiết chế, người đã đem tất cả tâm lực bầy binh bố trận, dẫn Toa Đô vào cửa tử. Người thứ hai là Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật. Người thứ ba là Đô tướng Thủy quân Nguyễn Khoái. Còn thần chỉ là người cuối cùng buông dây cung thôi ạ!

Vua Trần Nhân Tông rất lấy làm ưng ý, phán:

- Bây giờ chưa phải lúc “tranh công, đổ tội”. Nhưng trẫm đều biết cả. Gần năm mươi vạn quân Nguyên Mông còn đang ở phía Bắc. Để làm nức lòng tướng sĩ trẫm tạm phong thưởng riêng cho Phạm Ngũ Lão và Nguyễn Khoái chức Hổ oai tướng quân, tước hầu. Gọi tắt là Hổ hầu.

Tất cả các quan có mặt đều nhất tề hô:

- Thánh thượng thật anh minh.

Hưng Đạo vương bước ra tâu:

- Muôn tâu hai Thánh thượng! Con cua đã thành tinh Thoát Hoan đã bị chặt gẫy một càng là đạo quân của Toa Đô. Nay còn một càng nữa là Quế Sơn đã đến lúc phải chặt nốt. Lúc đó chỉ còn chiếc mai và tám cẳng xem Thoát Hoan chạy đi đâu?

- Việc này từ đầu trẫm đã giao cho Quốc công Tiết chế toàn quyền khu xử - Vua Trần Nhân Tông đáp.

- Vậy thì nay lệnh cho quân sĩ nghỉ ngơi ba ngày để lấy lại sức và chỉnh đốn quân mã.

Sai Hổ hầu Phạm Ngũ Lão đem năm vạn quân, đánh vào trại giữa do tướng Mông Cổ A Bát Xích trấn giữ. Sai Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn đem năm vạn quân đánh trại bên tả do tướng Mông Cổ Tích Lệ Cơ Ngọc trấn giữ. Sai Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng đem năm vạn quân đánh trại bên hữu do tướng Mông Cổ Phàn Tiếp trấn giữ. Sai Hổ hầu Nguyễn Khoái đem năm vạn thủy quân từ Lục Đầu giang đổ bộ lên, đánh tập hậu vào ba trại trên để tạo thế gọng kìm và gây thanh thế cho ba đạo quân phía trước.

Tất cả các tướng sĩ còn lại chuẩn bị, sau khi chiếc càng cua Quế Sơn bị chặt đứt thì tổng công kích truy đuổi quân Thoát Hoan đến cùng. Giết hoặc bắt sống được Thoát Hoan được thì càng tốt.

Tất cả các tướng có mặt đều dạ ran.

- Ta lấy thế nhân thay cường bạo. - Vua Trần Nhân Tông nói tiếp. Nay trẫm có chiếu rằng, tất cả kẻ địch khi đã bỏ giáo tháo chạy, thì không ai được truy đuổi, giết chóc hoặc bắt giữ.

- Thánh thượng thật là nhân từ. Từ cổ chí kim thật là hiếm có. - Tất cả các quan đều đồng thanh hô.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 28.08.2018, 11:46
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Chim ưng và chàng đan sọt - Bùi Việt Sỹ - Điểm: 10
11

Phạm Ngũ Lão đem năm vạn quân đánh trại A Bát Xích. A Bát Xích cố thủ không ra giao chiến mà sai quân bắn tên ra như mưa rào. Quân Trần không thể phá được cổng trại. Vây đánh từ sáng đến trưa thì thấy phía sau trại nổi lên những tiếng “Sát Thát”. Biết là Nguyễn Khoái đã đến trợ chiến, Phạm Ngũ Lão xuống ngựa giao cho giám mã, thân dẫn năm trăm tráng sĩ, một tay cầm mộc lớn đỡ tên, một tay cầm đại đao, áp sát cửa trại. Những nhát đao, nhát búa được vung lên. Cổng trại bửa ra một lỗ hổng lớn. Vừa lúc đó tên giám mã đã đem con tía đến. Phạm Ngũ Lão nhảy lên mình ngựa xông vào. Đi bên cạnh là Trần Quốc Toản với lá cờ thêu sáu chữ vàng. Phạm Ngũ Lão quát nhỏ:

- Quốc Toản, đệ đi lùi lại phía sau huynh.

Nhưng Quốc Toản cùng một toán thiếu niên đã hăng hái vọt lên. A Bát Xích giương cung bắn liền hai phát, một phát xuyên qua ngực Quốc Toản. Quốc Toản gục xuống trên mình ngựa. Ngũ Lão gầm lên một tiếng như xé phổi thúc ngựa lao thang tới A Bát Xích vung đao chém xuống. A Bát Xích vừa đánh vừa lùi, vẫy quân vây chặt lấy Ngũ Lão. Lòng căm thù dâng lên ngùn ngụt. Ngũ Lão vung đao lia tứ phía. Xác giặc đổ gục như chém chuối. A Bát Xích vung đao đối địch. Là một tướng có nhiều kinh nghiệm trận mạc, chỉ kém Toa Đô và Ô Mã Nhi một hai bậc, nên trận chiến giữa hai người diễn ra ác liệt. Song Ngũ Lão đang đà hăng hái khiến A Bát Xích biết nếu càng đánh lâu thì bất lợi càng thuộc về hắn. Sau khi chém một đao chí mạng nhằm vào đầu Ngũ Lão, A Bát Xích quay ngựa bỏ chạy. Ngũ Lão quyết đuổi theo. Khi chỉ còn cách đầu ngựa A Bát Xích đúng nửa thân ngựa, thì bất ngờ A Bát Xích quay người, chém vật lại theo kế đà đao. Với tướng khác, nhát chém ấy chắc chắn sẽ xẻ đối phương ra làm hai đoạn. Nhưng đây là Phạm Ngũ Lão. Chàng đã đề phòng rất cẩn thận, nên khi cây đao của A Bát Xích vừa quặt lại thì đã gặp lưỡi đao của Ngũ Lão đánh chặn lại. Tiện tay, Ngũ Lão phớt lưỡi đao chếch lên. Cánh tay trái của A Bát Xích dính lưỡi đao bay khỏi cơ thể với cả một phần bả vai. A Bát Xích đau đớn nằm rạp xuống mình ngựa, thúc ngựa chạy trốn. Nhưng con tía đã sấn đến sau lưng, Ngũ Lão lia một nhát đao xả A Bát Xích làm hai đoạn.

A Bát Xích chết lăn dưới chân ngựa, nhưng đám quân Mông Cổ vẫn ngoan cường chống lại quyết liệt, gây thương vong cho quân Trần rất nhiều. Phạm Ngũ Lão quay ngựa lại. Nhằm những chỗ quân Nguyên co cụm phóng thẳng ngựa lao vào. Xác giặc dưới lưỡi đao của chàng đổ như ngả rạ. Vừa lúc đó quân của Nguyễn Khoái cũng phá toang cửa sau, ào ạt xông vào. Nguyễn Khoái không cưỡi ngựa, vung đao chém bên tả rồi bên hữu. Thấy Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái quát to:

- Hiền đệ! Tập trung quân truy đuổi Thoát Hoan đi. Bọn tàn quân này ngoan cố lắm, để Khoái mỗ giải quyết cho.

Được lời như cởi tấm lòng, Ngũ Lão tập hợp đội ngũ, tiến lên phía trước và quay đầu lại nói lớn:

- Cám ơn hiền huynh!

Thấy trại chính của A Bát Xích đã bị phá, hai trại bên của Tích Lệ Cơ Ngọc và Phàn Tiếp cũng mở cửa, tìm đường thoát thân. Ba đạo quân của Phạm Ngũ Lão, Trần Quốc Nghiễn và Trần Quốc Tảng thật sự là ba dòng thác lũ, chà sát quân Nguyên Mông chết hại không sao kể xiết. Nhiều kẻ đã hạ giáo quy hàng.

Hay tin Quế Sơn đã bị thất thủ. A Bát Xích đã bị Phạm Ngũ Lão giết chết, Thoát Hoan rụng rời, hết vía thúc quân tháo chạy toán loạn. Lúc này hai đạo quân của Trần Quốc Uẩn và Trần Quốc Hiện, từ Vạn Kiếp mới trổ ra đón đánh quyết liệt. Bọn Lý Hằng, Lý Quán, A Lạt, Trương Hiển trước sau kèm chặt Thoát Hoan, mở đường máu chạy trốn. Qua ải Chi Lăng, dân binh của Nguyễn Lĩnh và Nguyễn Địa Lô từ hai bên sườn núi bắn chéo cánh sẻ xuống. Quân Nguyên Mông chết rất nhiều. Lý Hằng, Lý Quán phải lấy đồ đồng quân dụng như nồi, chảo, chậu… để Thoát Hoan chui vào, rồi sai lính thiết kỵ kéo suốt hai chục dặm mới thoát ra được khỏi ải Chi Lăng. Hằng, Quán đều bị tên chết.

Phạm Ngũ Lão thúc quân đuổi riết, suốt ngày đêm. Đến ải Khả Ly (thuộc tỉnh Lạng Sơn bây giờ) thì gặp cánh quân của Trần Quốc Hiện đã tới trước. Trước cửa ải, thấy hàng ngàn người gồm đủ mọi thành phần: quân lính, dân thường, phụ nữ và trẻ em đều không có vũ khí bị quân của Hưng Trí vương giam giữ.

Phạm Ngũ Lão thúc ngựa vượt lên, ra lệnh cho bọn lính:

- Hãy thả tất cả họ ra!

Trần Quốc Hiện thúc ngựa ra chặn đường và quát lại:

- Ngũ Lão, ngươi đừng có vượt quyền!

- Ta không vượt quyền! Đây là chiếu chỉ của Thánh thượng không ai được làm trái. - Ngũ Lão cứng cỏi đáp.

- Binh pháp có câu: “Tướng ở ngoài có quyền không phải tuân theo lệnh vua”. - Trần Quốc Hiện đáp lại.

- Đó là những lệnh hồ đồ. Còn đây là cả lượng khoan dung trời biển của Thánh thượng! Ai dám trái lệnh ta chém! - Ngũ Lão giận dữ quát.

- Ta biết sức lực và võ nghệ ta không địch lại ngươi. Nhưng sở dĩ ngươi có được như ngày hôm nay là nhờ ai? Nhờ ai? Nếu cha ta không ưu ái, nâng đỡ cho ngươi từ một thằng nhà quê đan sọt trở thành Hổ hầu như bây giờ. Lại nữa, ngươi còn là em rể ta - Trần Quốc hiện quát lại.

- Quốc công Tiết chế đã dạy: “Quân pháp bất vi thân”. Ai không nghe lệnh vua ta chém tất. - Nói rồi Ngũ Lão giơ đao thúc ngựa xông vào đám quân của Quốc Hiện.

Biết không thể đánh lại, Quốc Hiện ra lệnh cho toán quân đó dãn ra. Đoàn người bị giam giữ ồ lên như thác lũ, vượt qua cửa ải Khả Ly. Trong đám đông đó có hơn chục cô gái da trắng, mắt xanh, tóc vàng, mặc váy ngắn đến gần bẹn, quay ngựa lại xổ ra một tràng tiếng như chim hót. Rồi họ đưa tay lên trán, xuống vùng bụng, rồi qua vai phải và vai trái. Sau đó là xì ra một loạt tiếng chim nữa. Phạm Ngũ Lão đứng ngây người không hiểu họ nói gì và các cử chỉ ấy có ý nghĩa gì. Thì bất ngờ có một thiếu phụ quay ngựa lại và cởi bỏ chàng mạng che mặt ra. Ngũ Lão bất ngờ, theo phản xạ, thốt lên:

- Công chúa An Tư!

- Phải! An Tư đây!

- Ôi! Công chúa quay trở lại Đại Việt là đúng lắm! - Ngũ Lão nói.

- Không! Tấm thân ô uế này còn mặt mũi nào nhìn thấy bàn dân Đại Việt nữa! - An Tư gần như nức nở.

- Không! Công chúa không phản bội theo giặc. Công chúa đã dám hy sinh cả tấm thân ngọc ngà của mình để làm kế dãn binh, cho hai hoàng thượng đi… lánh nạn. Công chúa có công lớn. Cả dân Đại Việt biết mà! - Ngũ Lão nói một thôi dài, như sợ An Tư trốn chạy mất.

- Không! Trong bụng của An Tư hiện giờ đã mang cốt nhục của Thoát Hoan bốn tháng rồi! Dù thế nào thì “thuyền cũng phải theo lái…”.

Ngũ Lão thở dài, lắc đầu.

- Ngũ Lão có biết vì sao An Tư quay lại không?

- Không! Làm sao mà biết được!

- Vì Ngũ Lão đó! An Tư muốn Ngũ Lão hứa với An Tư một điều.

- Một à? Mười điều Công chúa yêu cầu Ngũ Lão đều xin hứa!

- Nếu vậy thì tốt… An Tư ước rằng nếu có kiếp sau. Kiếp sau Ngũ Lão vẫn là anh nhà quê đan sọt. Còn An Tư chỉ là cô gái hái dâu. Vậy thì chàng đan sọt Ngũ Lão có chịu cưới cô gái hái dâu đó không?

- Nếu quả có kiếp sau! Và nếu quả như lời công chúa nói thì chàng đan sọt Ngũ Lão sẽ lấy cô gái hái dâu đó.

- Ngũ Lão đã hứa như vậy là An Tư yên lòng ra đi rồi! - Nàng mỉm cười mà nước mắt chứa chan.

- À này! Vừa rồi mấy cô gái người Tiểu Nga nói gì vậy. -  Ngũ Lão chuyển sang chuyện khác.

- À, các cô ấy bảo: “Gửi lời cám ơn lớn lao đến tướng quân”.

- Còn các động tác của họ có ý nghĩa gì?

- Họ cầu Chúa của họ ban phước lành cho Ngũ Lão đấy!

Nói rồi An Tư thúc ngựa đi. Nhưng mới được một đoạn, nàng đã quay đầu ngựa lại.

- Ngũ Lão này! Người Nguyên họ chưa cam chịu thất bại đâu! Rồi họ sẽ cất quân sang đánh báo thù. Mong Ngũ Lão hãy bảo trọng! - Nói xong An Tư lại quay đầu ngựa, thúc đi.

- An Tư! Nàng cũng phải bảo trọng. - Ngũ Lão gọi với theo.

An Tư dừng ngựa, quay lại nói:

- Cuối cùng thì Ngũ Lão đã chịu gọi ta là An Tư. Chứ không còn gọi là công chúa nữa rồi! Kiếp này như vậy là ta đã toại nguyện rồi… - Nói xong, nàng gạt nước mắt phóng ngựa đi thẳng.

Chính sử Việt Nam về sau không có chữ nào nói về số phận An Tư ở phương Bắc. Phải chăng đây cũng là sự vô tâm đáng trách của triều đình nhà Trần. Nhưng theo một nhánh gia phả của Trần Ích Tắc có ghi: “Công chúa An Tư đã sinh hạ cho Thái tử Thoát Hoan được hai người con trai”. Còn theo chính sử Nguyên Mông. Sau khi vua Hốt Tất Liệt băng, Thái tử Thoát Hoan không được lên ngôi. Lý do không phải Thoát Hoan bị Đại Việt đánh cho đại bại tới hai lần. Mà theo truyền thống Mông Cổ, Thái tử phải tự đi mở đất mới (nói chính xác là đi xâm lược nước khác) và lên làm vua ở đó…

Ngũ Lão vừa định thúc ngựa quay đi thì có ba bốn kỵ binh lại gần, đứng vây quanh chàng.

- Có chuyện gì thế? - Ngũ Lão hỏi.

- Dạ! Bẩm Tướng quân… Chúng tôi có chút quà mọn biếu Quận chúa. Nhờ tướng quân chuyển giúp. - Một tên nhanh nhảu đáp.

- Quà gì? - Ngũ Lão hơi sẵng giọng.

- Dạ! Không có gì! Chỉ có một chiếc áo lông cáo đỏ. Chắc của mấy cô tiểu Nga-la-tư vứt lại vì bây giờ đang là mùa hè. Mùa đông Quận chúa mặc vừa nhẹ, vừa ấm… lại chống được trời nồm.

- Quy định của ta về chiến lợi phẩm thu được thế nào?

Ngũ Lão cố ôn tồn hỏi lại.

- Dạ! Bẩm Tướng quân đã dạy. Tất cả phải tập trung rồi chia đều cho anh em. Nhớ không được quên các thương binh và gia đình tử sĩ. Cái gì to không chia được thì bán đấu giá… lấy tiền chia… Còn với Tướng quân đã có lương bổng của triều đình… không phải chia bất cứ thứ gì.

- Sao bây giờ các người lại không nghe lệnh ta?

- Dạ! Bẩm! Chỉ có chút quà nhỏ… nhờ Tướng quân chuyển giùm cho Quận chúa!

- Các người có biết trái tướng lệnh thì sẽ bị xử ra sao không?

- Dạ! Bẩm có ạ! Nặng thì chém đầu. Nhẹ thì đánh đòn!

- Đã biết thế sao còn vi phạm. Cút ngay! Lần này ta nể tình các người vừa vào sinh, ra tử mà tha cho. Không cút nhanh, ta dùng roi ngựa quật cho khắp lượt bây giờ! - Giọng Ngũ Lão đanh thép nhưng lại rất có tình.

Bọn lính cúi chào Ngũ Lão rồi “thở dài” thúc ngựa quay đi.

Chỉ trong một khoảnh khắc không dài mà Trần Quốc Hiện được chứng kiến hai sự việc xảy ra với Phạm Ngũ Lão. Quốc Hiện thúc ngựa đến sát bên Ngũ Lão đặt một bàn tay nặng chịch lên vai chàng. rồi chân thành nói:

- Bây giờ ta mới lý giải được vì sao cha ta và anh Quốc Tảng lại quý ngươi đến như vậy!…


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 28.08.2018, 11:47
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Chim ưng và chàng đan sọt - Bùi Việt Sỹ - Điểm: 10
12

Hưng Đạo vương biết chắc là thế nào quân Nguyên Mông sẽ còn kéo sang đánh báo thù. Người ra lệnh các đạo quân phải bổ sung quân lính bị thương tật hoặc đã hy sinh. Ngũ Lão hiến một kế với Quốc công Tiết chế:

- Trong thiên hạ vẫn không thiếu gì người tài! Cha nên mở hội thi võ ở Giảng võ đường. Biết đâu chả kiếm được hào kiệt.

Hưng Đạo vương lấy làm tâm đắc lắm. Mùa thu, tháng Tám năm 1285, Người mở hội thi võ trong ba ngày. Cũng kén được vài chục viên tướng vào hạng dụng được. Nhưng người kiệt xuất thì không thấy.

Đến sáng ngày thứ ba, ở cổng có loa báo vào:

- Có đề hạt ở phủ tri châu vùng Tây Bắc là Nguyễn Chế Nghĩa xin vào ứng thí!

Tiếng loa từ bên trong Giảng võ đường phát ra:

- Xin mời đề hạt Nguyễn Chế Nghĩa vào ứng thí.

Đó là chàng trai trẻ, dáng người mảnh khảnh, mặc quần áo chàm. Vai đeo túi thổ cẩm, thúc vào một chú ngựa miền núi không cao lớn lắm. Vừa lúc đó trên bầu trời, có đàn vịt trời bay qua, buông tiếng kêu. Chàng trai trẻ bèn lấy cung, với tên ở sau lưng bắn liền ba phát. Ba con vịt trời rơi bịch xuống. Con nào cũng bị tên xuyên qua cổ.

Quân lính vội lượm lên trình Quốc công Tiết chế. Người lấy làm hài lòng lắm, hỏi tiếp:

- Về thương pháp của ngươi thế nào?

- Dạ! Khởi bẩm Quốc công Tiết chế. Thảo dân cũng không biết nói thế nào? Có ai ra tỉ thí với thảo dân độ dăm bảy chục hiệp thì… Quốc công Tiết chế mới rõ được ạ!

Hưng Đạo Vương hỏi:

- Ai muốn ra thi võ với Nguyễn Chế Nghĩa?

Không ai trả lời. Người muốn trêu đùa Khánh Dư nên quay sang bảo.

- Tướng thủy quân thử ra so tài với Chế Nghĩa xem sao?

- Như ta đây là Nhân Huệ vương đô tướng trấn thủ ở một vùng quan ải trọng yếu nhất nước, lại đi so tài với một tên “Thổ mừ” sao?

- Sao ngươi khinh người quá đáng như vậy? - Hưng Đạo vương trách. - Trước đây ngươi cũng đã xúc phạm Ngũ Lão. Nay Ngũ Lão một bước lên tước hầu, chẳng phải là bài học nhỡn tiền đó sao?

- Ta có là kẻ đốt than đi chăng nữa cũng là quý tộc. Còn Ngũ Lão dù có là Hổ hầu hay gì gì đi nữa thì vẫn là tên nhà quê đan sọt mà thôi. - Khánh Dư cũng không vừa.

- Ngươi là người văn võ toàn tài. Nhưng không thấu hiểu câu ca dao:

“Con vua thì lại làm vua,

Con sãi nhà chùa đi quét lá đa.

Bao giờ trời nổi can qua,

Con vua thất thế lại ra quét chùa”

đó sao? Mới gần đây thôi cha ông chúng ta cũng chỉ là các ngư phủ tầm thường. Thời thế tạo anh hùng, ngươi mới trở thành quý tộc. Ngươi phải nên hiểu rằng “Chở thuyền cũng là dân. Mà lật thuyền cũng là dân” - Hưng Đạo vương giải thích một thôi một hồi.

- Vị vương gia kia không phải là coi thường thảo dân. - Nguyễn Chế Nghĩa cũng không vừa, chỉ lên võ đài nói - Mà sợ không địch nổi ngọn giáo này!

Trần Khánh Dư tức sùi bọt mép quát:

- Thằng “Thổ mừ oắt con” kia! Rồi có ngày ta xé xác ngươi ra cho quạ rỉa. - Nói rồi hầm hầm bỏ võ đài bước xuống, quát giám mã dắt con bạch mã ra. Hưng Đạo vương ngạc nhiên hỏi lại Chế Nghĩa:

- Ngươi đã giao đấu với Nhân Huệ vương hồi nào?

- Dạ! Bẩm, chưa lâu. Mới cách đây chừng nửa tháng. Vị vương đó vi phạm luật. Săn thú trong mùa sinh sản. Thảo dân theo trách nhiệm ra yêu cầu thì suýt bị vị vương đó chém mất đầu. May mà thảo dân có chút bản lĩnh mới giao đấu với vị vương đó năm bẩy chục hiệp, bất phân thắng bại ạ!

Hưng Đạo vương vô cùng ngạc nhiên hỏi lại:

- Ngươi không nhớ nhầm đấy chứ?

- Dạ! Bẩm vị vương đó chân dài có đường gươm tuyệt luân, thiên hạ ít người địch nổi ạ!

- Vậy bây giờ ngươi có dám so tài với Phạm Ngũ Lão vài chục hiệp chăng? - Hưng Đạo vương hỏi tiếp.

- Khởi bẩm Quốc công Tiết chế Ngũ Lão là Hổ hầu, e rằng thảo dân chỉ cự được dăm ba chục hiệp là cùng thôi.

- Được! Cứ thử cho bản vương xem bản lĩnh và thương pháp của người ra sao, để còn có cơ sở mà bổ nhiệm. Đao thương vô tình. Bởi thế trước lúc giao đấu mũi giáo của Chế Nghĩa đã được bịt gỗ lại. Còn Ngũ Lão chỉ được dùng sống đao.

- Tiền chủ hậu khách. Xin mời Hổ hầu hiền huynh ra đao trước. - Chế Nghĩa nói.

- Ta lại muốn nhường đệ trước ba thương. - Ngũ Lão đáp.

- Vậy thì đệ không khách khí nữa! - Vừa dứt lời Chế Nghĩa đã phóng thẳng mũi thương vào ngực Ngũ Lão. Ngũ Lão vừa né tránh thì mũi giáo lại như con mãng xà phóng thẳng vào yết hầu, nhanh như chớp. Ngũ Lão vẫn không đưa đao lên đỡ, mà né người qua một bên. Lập tức mũi thương lộn xuống, nhằm trúng bụng mà trổ tới. Đó đã là thương thứ ba rồi nên Ngũ Lão đưa đao ra gạt. Nhưng Chế Nghĩa đã thu thương lại rất nhanh, đâm ngược lên. Ngũ Lão biết là gặp phải tay không vừa nên bắt đầu trổ đến oai, vừa đón đỡ, vừa vung đao đánh trả. Chế Nghĩa không hề nao núng, ăn miếng trả miếng rất nhanh. Hưng Đạo vương trên võ đài vỗ tay cổ vũ cho Chế Nghĩa và hô lớn:

- Thương pháp của người này không kém gì thương pháp của Trần Bình Trọng năm xưa.

Được ngoài ba mươi hiệp Ngũ Lão trổ thần oai, Chế Nghĩa khôn ngoan không đưa thương ra đón đỡ, mà luôn né tránh rồi nhằm các khe hở ở nách, ở bụng phóng giáo tới. Tuy nhiên cũng chỉ được hai chục hiệp nữa, Chế Nghĩa bắt đầu thở gấp, Hưng Đạo vương ra lệnh khua chiêng dừng trận đấu.

- Thương pháp của đệ lạ lắm! - Phạm Ngũ Lão khen.

- Thần oai của huynh quả thật đệ không trụ nổi. - Chế Nghĩa thật thà đáp lại.

- Nhưng tài thần tiễn của đệ thì thiên hạ vô địch!

- Cũng không thể so với gân sức của huynh được. Một nửa ba trăm bước thì tên của đệ đã không bắn với tới được. Ấy vậy mà ba trăm bước, huynh vẫn bắn xuyên qua gáy Toa Đô thì chẳng khác nào Hậu Nghệ bắn mặt trời khi xưa.

Tất cả đều cười vang. Hưng Đạo vương phán:

- Nguyễn Chế Nghĩa! Ta phong cho ngươi chức Đô úy, người có nhận không?

- Dạ! Khởi bẩm Quốc công Tiết chế! Chế Nghĩa tham gia giết giặc Nguyên Mông đâu có vì chức tước, lợi lộc.

- Được nếu vậy thì ba ngày nữa, ngươi theo Phạm Ngũ Lão về Vạn Kiếp, để Ngũ Lão truyền bảo quân phong, quân kỷ cho ngươi. Còn các tướng - Hưng Đạo vương nói tiếp - Sau ba ngày dạo chơi ở kinh thành, ai về vị trí đó, thao luyện binh sĩ, chuẩn bị đón đánh quân Nguyên Mông sang báo thù.

Tất cả tướng sĩ dạ ran…

Phạm Ngũ Lão rủ Nguyễn Khoái cùng Nguyễn Chế Nghĩa dạo chơi khắp kinh thành. Ngũ Lão và Nguyễn Khoái đánh quần nâu áo vải của người thợ cầy, còn Chế Nghĩa thì vận áo chàm, vai đeo túi thổ cẩm. Cả ba la cà khắp phố xá kinh kỳ. Lúc cuốc bộ, lúc lên thuyền dạo khắp ngõ ngách của phố phường. Gần xẩm tối, Nguyễn Khoái nói:

- Đi đã hoa mắt! Rạc cẳng rồi! Phải vào quán nào kiếm ly rượu, không khát khô cả họng đây này!

Ngũ Lão cười lớn nói với Chế Nghĩa:

- Hiền huynh không thích gì ngoài rượu đâu! Thôi bây giờ ta thuê thuyền lên thẳng Hồ Tây. Trên đó có quán bán nguyệt có món rượu ngâm chân sâm cầm và cá chép vây vàng, khắp nước không đâu sánh bằng.

Trời vừa sập tối thì ba vị khách ngồ ngộ bước vào quán. Quán có hai tầng. Tầng một là hầm để rượu. Tầng hai hình bán nguyệt vươn hẳn ra mặt nước. Chủ quán là một người đàn ông đã đứng tuổi vẻ thờ ơ hỏi:

- Các vị cần gì?

- Chúng ta muốn thuê cả quán tối nay - Ngũ Lão nói.

- Giá cao lắm! - Các vị có chịu nổi không?

- Cao là bao nhiêu? - Ngũ Lão hỏi - Tính bằng tiền hay bằng ngân lượng?

- Tiền hay ngân lượng đều được cả. Nhưng rất đắt.

- Một túi vàng cốm này có được chăng? - Chế Nghĩa lôi từ túi thổ cẩm ra một túi cát mầu vàng, nặng chừng một cân.

Chủ quán vốc ra xem, thấy các hạt kim loại sáng ánh thì bán tín, bán nghi bảo:

- Nếu các vị có tiền thì tốt.

- Được. Có ngay! Năm mươi quan có đủ không? - Ngũ Lão nói.

- Xin quý vị đặt trước.

Ngũ Lão móc trong túi áo nâu ra năm mươi quan tiền mới cứng đặt vào tay chủ quán, không quên nói thêm:

- Chúng ta thuê cả quán tối nay đấy nhé! Thiếu bao nhiêu, chúng ta bù thêm.

- Dạ! Cũng tạm đủ ạ! Có thiếu thì cũng in ít thôi. Khoảng một hai chục nữa là cùng.

Ba người đặt đít xuống thẳng sàn gỗ cẩm lai sặc sỡ sắc mầu như tranh vẽ. Nguyễn Khoái đã quát chủ quán đem rượu ra:

- Mang ra vài vò trước! Các món ăn tính sau. Uống đến hết đêm cơ mà.

- Dạ, vâng! Có ngay! Có ngay!

Một đứa trẻ chừng mười bốn, mười lăm bưng ra một vò sành, to gần bằng thùng gánh nước và ba chiếc bát sứ. Nguyễn Khoái tranh lấy rót ra và hít hà khen rượu ngon và nặng, cắm tăm được.

- Mời hai hiền huynh - Chế Nghĩa bưng bát rượu lên ngang mặt nói.

- Mời mọc mẹ gì! Cứ uống đi! - Nguyễn Khoái vừa nói vừa uống hết veo bát thứ nhất, rồi lại tự rót ngay tắp lự cho mình bát thứ hai.

Phạm Ngũ Lão vừa nâng bát lên miệng thì phía cửa ngoài có tiếng ồn ào. Rồi chủ quán mặt tái mét bước vào, lắp bắp thưa:

- Dạ! Dạ! Xin ba vị thứ lỗi cho, đi quán khác. Có cháu Nhân Huệ vương và đồng bọn đòi vào… Chúng nói các vị không đi thì chúng đốt quán. Dạ! Chúng không dọa suông đâu! Chúng nói là làm đấy!

- Cái gì cũng phải có tôn ti trật tự. Ai đến trước thì thuê trước. Ngoài ra còn có vương pháp nữa chứ? Đốt là đốt thế nào? - Ngũ Lão vặc lại.

- Dạ! Bọn này cậy quyền. Cậy tiền, cậy thế không gì là chúng không dám làm đâu ạ! Quán mới mở lại. Mấy tháng trước đây, thi thoảng Ô Mã Nhi có đưa mấy cô đầm nhí Tiểu Nga-la-tư đến ăn uống phè phỡn. Có ghi sổ đến cả chục lần mà đã thanh toán được đồng nào đâu? Nay bọn này mà đốt quán thì gia đình tôi chết đói hết.

- Có chúng ta ở đây, ông không phải lo. Nếu chúng dám đốt thật thì ta đền cho ông cái sừng tê giác đen này. - Nguyễn Chế Nghĩa vừa nói vừa rút ra từ trong túi thổ cẩm một chiếc sừng cong, đen bóng đặt xuống sàn. - Nó không chỉ giá vài ngàn lượng vàng mà có thể đổi được một tước quan đấy! Đây là của gia bảo của ông cha ta để lại.

Ở ngoài tiếng ồn ào càng nổi lên dữ dội. Đã có vài ba khuôn mặt non choẹt nhưng trông dữ dằn và ngông ngạo thò vào. Một tên quát lớn:

- Bọn mi cút ra khỏi quán ngay! Chúng mày đừng làm bẩn chỗ ăn chơi của các ông chúng mày đây!

Nguyễn Khoái vừa tợp xong bát rượu thứ ba thì đùng đùng nổi giận, gầm lên một tiếng và đứng bật dậy. Ngũ Lão biết nếu để Nguyễn Khoái lao ra ắt phải có vài ba án mạng.

- Hiền huynh cứ ngồi xuống và uống tiếp đi! Đệ để ta khu xử với bọn chúng - Ngũ Lão nói.

Vừa thấy cái bóng to lớn xù xì trong bộ quần áo nâu của thợ cầy thì tất cả nhao nhao lên:

- Thằng nhà quê cút đi! Trả quán cho các bố mày!

Ngũ Lão vẫn điềm tĩnh đáp:

- Quán này chúng ta đã trả tiền thuê trọn tối nay rồi! Nếu cần các em đi quán khác.

- Đồ nhà quê! Ai là em của chúng mày hả? - Sau câu “hả” là một trận mưa gậy đập xuống đầu, xuống vai Ngũ Lão. Ngũ Lão gồng người cho chúng đập chán tay, gãy gậy mới thủng thẳng đáp:

- Thế nào? Đã đủ hả giận chưa? Bây giờ đi tìm chỗ khác được rồi chứ?

Thấy người Ngũ Lão như tượng đồng thau, cũng đã có tên thấy chờn chờn. Nhưng tên cầm đầu, đứng ở phía xa, chênh chếch với Ngũ Lão đôi chút thì tỏ ra chưa chịu, quyết muốn “ăn thua” một chuyến. Nghĩ rồi, hắn lặng lẽ lấy cung, rút tên nhằm vào giữa bộ ngực vâm váp của Ngũ Lão bắn thẳng vào một phát. Nghe tiếng tên ra đánh “tách”, Ngũ Lão vội né người, thuận tay bắn được mũi tên. Rồi không nén nổi giận, Ngũ Lão nhằm về hướng đứa vừa bắn, nhằm vào vai trái phóng mũi tên đến.

Thằng khốn: “Ối!” lên một tiếng ôm lấy vai chạy bổ ra đường, kêu ầm ĩ:

- Ôi có kẻ giết người! Có bọn cướp giết người!

Bọn đàn em cũng chạy xuống theo và cùng đồng thanh la. Có ánh đuốc lớn tiến đến cùng đội quân Thánh dực do phó tướng Đỗ Hành đi tuần thấy chuyện huyên náo thì vội chạy đến. Thấy mũi tên còn cắm trên vai đứa cháu gọi Nhân Huệ vương là cậu ruột thì Đỗ Hành vội lao lên quán. Nhưng rồi Đỗ Hành không ngờ thốt lên:

- Hai vị Hổ hầu và tân Đô úy! Sao lại ngồi đây và ăn vận thế này!

- Chả lẽ chúng ta không có quyền ngồi đây và ăn vận thế này sao? - Ngũ Lão vặc lại.

- Hổ hầu hiểu lầm ý tôi rồi! Ý tôi muốn nói là các vị ăn mặc như thế khiến bọn con cháu nhà quý tộc hiểu lầm nên tỏ ra hỗn láo. Để tôi ra bảo và đuổi chúng nó đi!

Nói rồi Đỗ Hành phăm phăm chạy xuống. Một tay đặt ở đốc đao, tay kia chỉ vào mặt mấy thằng mất dạy:

- Chúng mày có biết là đang vuốt râu hùm không? Ba vị trên kia đâu phải là hai thằng nhà quê. Đó là Hổ hầu Nguyễn Khoái, Hổ hầu Phạm Ngũ Lão và tân Đô úy Nguyễn Chế Nghĩa đó. Cút ngay, không tao cho lính bắt giam chúng mày lại bây giờ.

- À, ông nhớ lấy nhé! Để rồi tôi sẽ báo với cậu tôi. Ông dám dùng quân Thánh dực vào hùa với bọn nhà quê để bắt nạt con em quý tộc! Ông đừng có mà hối, mà chối đấy!

Mặc dù vai còn đau nhức nhưng thằng mất dạy vẫn già họng đe dọa. Sau khi ra vẻ cứng, chúng vội vàng kéo nhau chạy về phủ Nhân Huệ vương.

Lúc này Trần Khánh Dư đang “chén tạc, chén thù” với Đỗ Khắc Chung cùng các “chiến hữu” trong phe cánh và một lũ người đẹp đến mê hồn. Thằng cháu ôm cánh tay chạy vào, khóc rống lên:

- Cậu ơi! Hãy báo thù cho cháu!

- Đứa nào dám bắn tên vào vai mày thế này! Để tao lột xác hắn ra. - Trần Khánh Dư gầm lên.

- Dạ! Thưa cậu thằng đan sọt và thằng nhà quê Nguyễn Khoái, cùng thằng Thổ mừ Nguyễn Chế Nghĩa. Chúng nó chiếm quán gió bên hồ Tây của chúng cháu. Chúng cháu đòi lại thì bị chúng hành hung ạ!

Đang nổi giận phừng, tưởng có thể xông ra xé xác kẻ đã dám “mạo phạm” tới cháu mình, đột nhiên, rất đột nhiên Trần Khánh Dư đổi giọng, rít qua kẽ răng:

- Mày là đồ ngu! Mày có biết bây giờ là thời thế nào không? Là thời thế phải chống giặc Hồ. Bởi thế phải cần đến cái “cổ cày, vai bừa” cái “vai u, thịt bắp” của bọn nhà quê. Mày hiểu chưa? Chỉ một mình giới quý tộc chúng ta thì làm sao chống được giặc. Hãy đợi đấy! Vài năm nữa yên hàn trở lại, lúc đó bọn nhà quê kia hết thời, mới đè đầu cưỡi cổ, trừng trị chúng nó được… May mà nó chỉ phóng tên vào vai mày! Chứ có phóng xuyên qua cổ họng mày thì lúc này cậu chỉ có mà “biết khóc đưa mày ra đồng” chôn thôi!…

Trở lại chuyện Đỗ Hành trở vào quán, hỉ hả nói với ba người:

- Tôi đuổi chúng nó đi rồi!

Rồi gọi chủ quán đến giới thiệu các vị thực khách, rồi không quên nói thêm:

- Hôm nay ông có mang hết cả mấy vò rượu chân sâm cầm cùng các món ăn ngon nhất ra đây, đãi ba vị này, không lấy tiền cũng là phúc lớn được gặp một lần trong đời đó.

Người chủ quán: “Dạ! Dạ!” liên hồi.

Ngũ Lão mời Đỗ Hành cùng ngồi uống cho vui. Nhưng vừa bưng bát rượu lên, Đỗ Hành đã hắt ra sau và quát lớn:

- Không bê hết các vò chân sâm cầm ra đây, ta cho lính phá quán bây giờ.

Mới uống được một tuần, Đỗ Hành đã cáo từ:

- Xin mời hai vị Hổ hầu và tân Đô úy cứ ăn uống suốt đêm. Tôi còn phải thúc quân đi tuần. Kinh thành mới giải phóng, cũng có nhiều chuyện cần giải quyết lắm.

Đứng lên Đỗ Hành gọi chủ quán ra một góc, dúi vào túi áo ông ta một trăm đồng và nói nhỏ:

- Nhớ hầu hạ ba vị thượng khách cho chu đáo. Sáng mai, tôi quay lại, thừa thiếu thế nào sẽ thanh toán sau.

Đỗ Hành đi rồi, thái độ của chủ quán tỏ ra kính cẩn hơn hẳn. Ngoài mấy vò rượu chân sâm cầm, ông ta giới thiệu một loạt đặc sản của hồ Tây và bảo:

- Nếu chưa vào quán gió, chưa ăn các món này với rượu sâm cầm thì coi như chưa tới kinh thành Thăng Long.

Rồi ông ta bắt đầu kể về những ngày được tiếp (và phải tiếp) Ô Mã Nhi như thế nào.

- Lần đầu tiên trông thấy hắn tôi đã giật nẩy mình tưởng là quái vật bước vào quán, với chiếc áo lông cừu to trùm từ đầu đến chân. Chả là lúc đó vào giữa mùa đông mà. Khi “chiếc chăn” lông cừu được vứt xuống sàn, chiếc bụng trắng hếu to như chiếc trống cái hiện ra, rồi mới đến hai cặp vú chảy sệ như vú bò sữa. Khuôn mặt tròn trĩnh với cặp mắt sắc, cái miệng với hai hàm răng khỏe lúc nào cũng cười cười. Theo sát hắn là một lũ “hồ li tinh” mắt xanh, mũi lõ, da trắng, tóc vàng vận áo bành tô bằng lông cáo đỏ, nhẹ và ấm. Khi những chiếc áo bành tô được trút ra, chao ôi là nhưng cặp đùi trắng ngần, dài đến sát bẹn làm lóa cả mắt. Cái món mà Ô Mã Nhi thích nhất là kiếm cho hắn một con ba ba to bằng cái mâm đồng lớn. Cắt ra chừng hai lít tiết hòa vào rượu để hắn uống. Lũ con gái tiểu Nga-la-tư thì chỉ nốc rượu trắng, chứ rất sợ món tiết ba ba. Rượu vào. Ô Mã Nhi ôm lấy cây đàn Balalaica, gần giống như chiếc đàn đáy của ta, dạo mấy nốt, rồi bất ngờ chơi một bản nhạc rất bốc. Thi thoảng lại vỗ tay vào hộp đàn. Lũ tiểu yêu vây quanh múa như điên, như cuồng, những chiếc váy xoay tròn ra, để lộ rõ những chiếc quần lót bé tẹo, mỏng dính màu trắng muốt. Cả tôi và lũ hầu bếp cứ trố mắt ra nhìn Ô Mã Nhi với đôi chân vòng kiềng do đi ngựa từ nhỏ to như hai cột đình, ấy vậy mà nhảy rất khéo và dẻo mới lạ chứ. Mấy lần sau đã hơi quen quen Ô Mã Nhi còn bắt nhảy cùng. Chúng tôi xéo vào chân lũ Tiểu Nga-la-tư kêu đau oai oái.

Sau chầu rượu là tới bữa ăn. Ô Mã Nhi khoái khẩu nhất là món ba ba nấu ốc, đậu phụ, thịt ba chỉ và chuối xanh. Còn lũ con gái Tiểu Nga-la-tư thì thích món cá chép vẩy vàng om dưa, chấm với bún. Khi đã no say rồi Ô Mã Nhi nằm ườn ra sàn, lũ con gái Tiểu Nga chèo lên người lão, đùa nhau chí chóe, lúc trồi lên lúc tụt xuống như đàn lợn bột, tranh nhau bú tí con lợn nái. Không bao giờ chúng ân ái với nhau ở trong quán. Hình như hắn chờ đến lúc trở về lều. Thoát Hoan thì ngủ trong cung điện. Còn Ô Mã Nhi và lũ con gái Tiểu Nga thì chỉ ngủ ngoài lều da dê, dưới lót đệm lông cừu. Hắn vào quán hơn mười lần, mà chưa thanh toán được lần nào. Sau mỗi lần hắn bảo đưa quyển sổ nợ ra, vẽ vào đó một con ó lớn, ngồi trên lưng một con ngựa nhỏ. Nghe nói sau trận Chương Dương hắn một mình một thuyền trốn ra biển và làm mồi cho cá mập rồi thì phải. Thôi thế cũng là thoát một cái nợ.

- Hắn chưa chết đâu! - Nguyễn Khoái lè nhè đáp - Nghe thám mã từ Liễn Châu báo về, hắn vẫn còn sống nhăn răng và thề sẽ sang đánh báo thù.

- Ôi! Thế thì quán tôi lại đến sập tiệm với hắn.

- Ông khỏi lo! - Phạm Ngũ Lão vừa cười vừa trỏ vào Nguyễn Khoái - ông cứ đãi ông này một chầu say túy lúy vào, ông ta sẽ đuổi Ô Mã Nhi không cho vào kinh thành.

- Đúng! Lần này hắn có sang, chắc chắn là ta và đệ sẽ phải “làm lông” hắn. - Nguyễn Khoái cười đáp.

- Nếu quả đúng như thế thì tối nay, tôi sẽ không lấy tiền các vị.

- Việc đuổi hắn, thậm chí là “làm lông” hắn như hiền huynh ta nói là việc của triều đình giao cho chúng ta. Còn việc chúng ăn uống ở đây thì phải trả tiền sòng phẳng.

- À, vừa rồi vị khách - lão chủ quán định gọi Nguyễn Chế Nghĩa là “Thổ mừ”, may chữa lại thành -… trẻ tuổi có khoe chiếc sừng tê giác gia truyền. Bây giờ có thể cho tôi ngó qua một tí được chăng?

- Được chứ! - Nói rồi Nguyễn Chế Nghĩa thò tay lấy ở chiếc túi thổ cẩm vẫn đeo trên nách trái ra một chiếc sừng gốc to như gốc măng, nhưng không mọc thẳng, mà đến nửa chừng thì bẻ cong cong xuống, rồi chàng giải thích. - Đây là sừng con tê giác già đến bẩy mươi năm. Thường loài tê giác chỉ sống được khoảng trên dưới sáu chục năm. Sừng tê tốt phải là sừng của con bốn chục tuổi trở lên.

- Công dụng thế nào mà các vị vua chúa “tôn sùng” nó thế?

Viên chủ quán hiếu kỳ hỏi.

- À, thực ra công dụng của nó cũng thường thôi! Chủ yếu là do đồn thổi mà nên. Tuy nhiên đầu tiên, công dụng của nó là sát độc. Trước khi con tê giác uống nước nó thường lấy sừng thả xuống, ngoáy một lúc cho nước tiêu các tạp chất bẩn hoặc các loại lá độc như lá han, lá lim, rồi mới uống. Công dụng thứ hai chữa mụn nhọt sốt cao. Chỉ cần mài ra một chút nước trắng như nước vo gạo, trẻ con mụn nhọt hoặc sốt cao uống vào là khỏi liền… Còn các vua chúa thì đồn rằng, mài sừng tê ra uống hàng ngày có thể ân ái với cả chục mỹ nhân một đêm mà không hề mệt mỏi. Bởi thế các triều đình phong kiến phương Bắc thường bắt ta phải cống sừng tê cho bọn họ.

- À, ra thế! Hèn nào mà Ô Mã Nhi có cả một tá cô đầm non Tiểu Nga, mà vẫn khỏe như vâm…

- Ấy là chuyện đồn thổi thôi! - Nguyễn Chế Nghĩa giải thích tiếp.

- Đệ chỉ cần dâng chiếc sừng tê này cho hai Thánh thượng là lập tức được phong quan tước liền - Phạm Ngũ Lão nhắc lại lời nói khi mới vào quán.

- Thánh thượng dùng làm gì? - Nguyễn Chế Nghĩa hỏi lại.

- À, một là để dùng… Hai là để làm cống phẩm. Dù thế nào thì… dù ta có thắng Nguyên Mông cả chục lần đi nữa thì muốn “quốc thái dân an” hàng năm vẫn phải triều cống cho họ. Mà Hốt Tất Liệt trông thấy chiếc sừng tê này của đệ, chắc là mắt phải sáng lên. Nghe nói thời Mã Viện sang đàn áp khởi nghĩa Hai Bà Trưng, mang về bao nhiêu là đồ quý hiếm. Ấy vậy mà vua Hán Quang Vũ đem vứt hết cho thủ hạ chỉ giữ lại độc chiếc sừng tê mà thôi… Bởi vậy, đệ phải giữ cho khéo, không dễ bị mất trộm lắm đấy, nhất là đất kinh kỳ này…

- Thôi để ngày mai, đệ nộp cho Quốc công Tiết chế!

- Phải! Đúng đấy! Để Quốc công Tiết chế sung vào kho báu vật quốc gia.

- Nhưng đệ không nhận quan tước đâu nhé! Làm trai phải lập công danh ở nơi chiến trường, chứ dựa vào cái sừng tê thì… hèn quá.

- Đúng! Đệ nghĩ như vậy là phải. - Ngũ Lão nói.

- Nghĩ gì? Phải gì? Uống đi! uống đi lúc này mới là phải - Nguyễn Khoái lè nhè đế vào.

Phạm Ngũ Lão ra hiệu cho Nguyễn Chế Nghĩa đừng để ý gì đến lời nói của Nguyễn Khoái, rồi tỉ tê hỏi:

- Thế đệ kể lại trận tao ngộ với Trần Khánh Dư nửa tháng trước đây xem thế nào?

- Vâng! Đấy là trận đấu sinh tử lần đầu đệ giáp mặt. Nếu bản lĩnh kém một ly, một lai thì bữa nay đã không được hầu rượu hai huynh rồi!

Bưng bát rượu chân sâm cầm lên tợp một ngụm, và gắp một cái chân ba ba, định đút vào miệng, nghĩ thế nào, Nguyễn Chế Nghĩa lại đặt vào lòng bát, và trầm ngâm nhớ lại. - Khi đó đệ đi tuần rừng theo lệnh của quan tri châu. Vì mùa thu là mùa sinh sản của thú rừng, cấm săn bắn. Ấy vậy mà ở góc rừng đó, tiếng chó săn sủa, cùng nhiều tiếng huyên náo suốt từ sáng sớm. Khi đệ vào đến cửa rừng cũng là lúc đoàn người đi săn đi ra. Đi đầu là một vị cưỡi ngựa trắng, đội mũ có cắm lông công, trên vai nghễu nghện một con chim ưng lông đỏ, mỏ quặp to hơn con ngỗng lớn. “Ai cho các người vào săn vào mùa này?” - Đệ hỏi. Đáp lại không phải là tiếng trả lời, mà nhanh như chớp một nhát trường kiếm ngang người đệ. Như người khác chắc chắn là mất mạng rồi. Đệ phải nằm ngửa hết cỡ, lưng sát xuống lưng ngựa, nhưng vẫn cảm thấy hơi lạnh của đường gươm lướt qua mặt. Theo phản xạ, đệ thò tay rút cây thương gài dọc theo thân ngựa. Vừa nhô người lên thì nhận ngay đường gươm chém vật lại. Đệ đưa thương lên gạt. Đường gươm quá mạnh khiến người đệ chúi xuống. Biết là gặp phải cao thủ, đệ giật ngựa lùi lại và trổ thần oai ra đánh trả. Đường thương của đệ khi lên, khi xuống lấp lánh như ánh hoa lê bay trước mặt đối phương. Lúc vờ lộn ra sau, nhưng ngay tức thì xỉa thẳng vào mặt. Có lúc đệ xỉa ngọn thương vào hai bên nách khiến đối phương phải giật ngựa tránh liên hồi… Nhưng đường gươm của đối phương cũng thật uyển chuyển và dũng mãnh. Khi vừa nhằm vào cổ chém xuống, đệ vừa tránh được lập tức lật cánh chém ngược bên mang tai. Đệ càng đánh càng hăng vì lâu lắm không được gặp đối thủ ngang tầm, ngang sức. Quần nhau chừng ngoài năm chục hiệp đối thủ có phần hơi núng, bèn giật ngựa lùi lại và bảo:

- Ngươi là ai mà thương pháp không kém gì Trần Bình Trọng năm xưa?

- Ta là đề hạt ở vùng này! Được lệnh của tri châu đi bắt những kẻ săn trộm như ngươi!

- Không được vô lễ! Đến tri châu của người trông thấy ta ở đây, cũng phải quỳ mọp dưới chân con bạch mã này!

- Vậy thì ngươi là ai?

- Là ai thì ngươi sẽ biết sau! Ta chỉ có một yêu cầu thế này: nếu ngươi về làm thuộc hạ cho ta thì rượu ngon, gái đẹp… Sơn hào hải vị… Tiền, vàng… Sẽ không thiếu thứ gì!

- Về làm thuộc hạ cho ngươi ư? Không bao giờ. Mà ngươi có nằm mơ chuyện đó cũng không xẩy ra… Nhưng sắp tới ta sẽ về kinh, ứng thí làm lính cho Quốc công Tiết chế để phá giặc Nguyên Mông.

- Được! Không uống rượu mời thì… phải uống rượu phạt! Bay đâu. - Hắn ta chỉ huy bọn lâu la chừng dăm chục đứa. - Hãy cùng ta bắt sống thằng này lại! Không bắt được thì giết! Không tha!

Đệ liếc mắt nhìn lên cây dẻ gai ở bìa rừng, trên đó lũ sóc đang chuyền từ cành này sang cành kia, nhằn quả. Thương thay cho chúng nó phải làm vật hy sinh. Đệ bèn lấy cung, lắp một lúc ba mũi tên nhằm về hướng cây dẻ gai. Dây cung nhả ra, ba con sóc đều bị tên xuyên qua đầu rơi xuống. Và ngay lập tức đệ lại lắp ba tên khác, chĩa cung vào ngực quan thầy của bọn chúng quát lớn:

- Đứa nào xông lên! Tính mạng của chủ chúng mày cũng sẽ như các con sóc này!

Tất cả đều thất kinh, im như thóc. Đệ giật ngựa bước lùi mấy bước, rồi rẽ vào đường mòn, phóng mất hút vào rừng… Đến hôm ra thi võ đệ mới rõ người cưỡi ngựa trắng đó chính là Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư. Vị quý tộc ăn chơi khét tiếng ở kinh thành, mà ngay ở chốn “rừng xanh, núi đỏ” cũng nghe danh.

Phạm Ngũ Lão thở dài mà rằng:

- Quý tộc cũng có dăm bẩy loại… Thân phận chúng ta chỉ biết xả thân vì Đại Việt… Sau này yên hàn rồi thì ai về nhà nấy, sống cuộc sống như ngày xưa.

- Anh em nhà các ngươi cứ đa sự mãi! Ăn chả chịu ăn. Uống chả chịu uống. Để mình ta thế này… buồn chết. - Nguyễn Khoái cắt ngang câu chuyện của hai người.

Ba người cùng bưng bát rượu lên, làm động tác như vái nhau rồi đưa bát lên môi.

- Rượu chân sâm cầm thật là tuyệt. Sau này, đại phá xong Nguyên Mông, thi thoảng chúng ta cùng ra đây, nhâm nhi một tối cũng thấy được lắm! - Nguyễn Khoái nói tiếp.

- Nhất định rồi! Đệ sẽ xin mỗi năm mời hiền huynh và đệ ra đây một lần. - Ngũ Lão nói.

- Thế thì quá ít. - Nguyễn Khoái chê. - Phải mỗi tháng một lần. Hoặc ít ra là xuân, hạ, thu, đông… mỗi mùa một lần mới đúng chứ!

- Hiền huynh muốn sao, đệ đây cũng xin chiều đủ. Duy chỉ mỗi ngày một lần thì đệ xin chịu. - Ngũ Lão đáp cả ba cùng khoái chí cười phá lên.

Rạng sáng. No nhưng không ai say. Cả ba cùng đứng lên. Ngũ Lão gọi chủ quán ra thanh toán tiền. Vị đó ở dưới tầng hầm lật đật chạy lên, xoa xoa tay vào nhau nói:

- Tướng quân Đỗ Hành đã đặt cho quán một trăm đồng rồi! vẫn còn thừa ba chục. Khi nào ngài ấy qua. Chúng tôi sẽ đưa lại. Còn năm chục tiền đặt tôi xin được trả lại Hổ hầu.

- Ờ, cái tay Đỗ Hành này cũng được đấy nhỉ! Nếu không có hắn tối qua, không khéo ta ra đấm chết vài thằng oắt con mất dạy đó.

- Hiền huynh chỉ được cái “khẩu xà” thôi! Đệ đã thấy huynh bạt tai đá đít ai bao giờ đâu. - Ngũ Lão nói.

- Ừ, nhưng tối qua ta tiếc quá! Chúng dám bảo chúng ta là gì ấy nhỉ?… À, là lũ muzich… tiếng Nga-la-tư là đồ nhà quê. Mẹ chúng nó chứ! Không có nhà quê… thì lấy đâu ra kinh thành. Không có dân nhà quê bán mặt cho đất, bán lưng cho trời… thì lũ chúng nó cứt cũng chẳng có để mà đổ vào miệng…

Lần đầu tiên Phạm Ngũ Lão thấy Nguyễn Khoái xổ ra một tràng, mà lời lẽ cũng sắc sảo ra trò, bèn đùa:

- Đúng là rượu vào lời ra!

- À, mày lại… muốn bênh chúng nó hả?

- Đệ đùa đấy! Vui nên muốn trêu huynh một chút! Bây giờ huynh thuê thuyền về thủy trại chứ?

- Ừ, còn các đệ?

- Hai đệ thuê xe ngựa về phủ Quốc công Tiết chế! Đang phải ở rể. Đất của cái chức Hổ hầu thì đã dược triều đình cấp rồi. Nhưng chưa có thời gian và tiền bạc để cất dinh thự riêng.

Nguyễn Khoái:

- Huynh cũng được cấp một miếng như đệ nhưng huynh không lấy. Huynh chỉ muốn về quê, có mấy mẫu ruộng, một căn nhà ba gian hai trái. Thích nhất là có cái lò nấu rượu. Còn thanh đao thì treo trên tường. Có giặc đến, triều đình cho gọi là xách đao đi…

- Ôi! Đúng là “bách nhân, bách tính” các cụ nói chẳng có gì sai bao giờ. - Nguyễn Chế Nghĩa nói xen vào.

Ba người chia tay.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 28.08.2018, 13:06
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Chim ưng và chàng đan sọt - Bùi Việt Sỹ - Điểm: 10
13

Phạm Ngũ Lão và Nguyễn Chế Nghĩa gọi một chiếc xe ngựa. Người đánh xe chỉ có một tay. Ngắm bộ dạng một ông nhà quê, một ông “Thổ mừ” lại đòi về phủ Quốc công Tiết chế thì “bán tín bán nghi” bảo:

- Giá năm hào. Có tiền thì hãy lên xe!

Xe chạy được một đoạn Phạm Ngũ Lão hỏi:

- Một tay bị mất ở đâu?

- Ở Quế Sơn!

- Đánh trại nào?

- Trại nào thì cũng là lính Mông Cổ cả. Chúng chiến lại rất hăng.

- Đây cũng đánh ở Quế Sơn về.

- Trại nào?

- Trại giữa.

- Ô! Trại ấy thì chúng nó còn dữ dằn nữa.

Cách phủ Quốc công Tiết chế nửa dặm, Ngũ Lão bảo dừng xe.

Người đánh xe nói:

- Tôi biết ngay là các người nói về phủ Quốc công Tiết chế cho sang… Nếu cũng đánh ở Quế Sơn thì đây không lấy tiền đâu!

Ngũ Lão móc trong ngực ra đồng bạc năm đồng mới coong.

- Mới sáng ra đã đưa tiền to thế này, định đánh đố nhau à? Làm gì có đủ tiền mà trả lại. Thôi, khi khác…

- Cứ cầm cả đi! Cùng lính tráng với nhau cả.

- Không! Tôi không dám cầm đâu! Ai lại đi bắt chẹt khách thế này!

- Anh không thấy chúng tôi vừa ở “quán gió” ra à? Người ta đã đưa thì anh cứ cầm cho người ta vui lòng. - Chế Nghĩa nói xen vào.

- Thôi cũng được! Lần sau gặp lại. Các anh cứ bảo tôi chở đi khắp kinh thành, tôi cũng không lấy thêm tiền đâu!…

Suốt cả năm 1286 và nửa đầu năm 1287, thám mã liên tục báo về triều đình Đại Việt vô vàn các tin tức khác nhau. Lúc thì năm mươi vạn quân gồm các xứ Lưỡng Quảng cùng Tứ Xuyên cùng với quân Nguyên Mông sẽ đánh xuống. Lúc thì là quân Hồ Nam, Hồ Bắc, Tứ Xuyên cộng Sơn Đông… Không khí chiến tranh lúc nào cũng căng như dây đàn. Triều đình Đại Việt quyết định thả năm vạn hàng binh Tống về làm nhiều đợt theo từng vùng quê, vì biết rằng nhà Nguyên sẽ không tái sử dụng lại số lính này.

Biết là chiến tranh lần nữa là không tránh khỏi. Vua Trần Nhân Tông cho vời Hưng Đạo vương vào triều và hỏi:

- Giặc Nguyên Mông lại sang lần nữa thì làm thế nào?

- Lần trước quân ta chưa quen chiến trận, nên lúc đầu có bị bất lợi. Lần này thì dễ hơn trước nhiều. Quân giặc đã thua đau chí của chúng cũng đã nhụt cả rồi. Còn quân ta, đã qua chiến trận, lương thảo cũng dồi dào hơn. Xin bệ hạ cứ yên tâm.

Năm 1287, đầu mùa đông, tháng 10 quân Nguyên Mông lại tràn sang đem theo Trần Di Ái với cái tước vị bù nhìn An Nam Quốc Vương. Rút kinh nghiệm lần trước, kỳ này Hốt Tất Liệt chủ yếu là dùng quân Mông Cổ. Cụ thể là ba mươi vạn quân chuẩn bị đi đánh nước Phù Tang (tức Nhật Bản bây giờ) giao cho Thoát Hoan và Ô Mã Nhi cùng một loạt các bại tướng lần trước thống lĩnh. Tiêu diệt xong Đại Việt sẽ bổ sung thêm một ít quân nữa, rồi đánh Phù Tang sau.

Quân Nguyên Mông vẫn tiến xuống bằng hai hướng. Hơn hai chục vạn do Thoát Hoan và Ô Mã Nhi chỉ huy đi theo đường Lạng Sơn. Còn gần chục vạn do Tích Lệ Cơ Ngọc cầm đầu cùng sáu trăm chiếc thuyền lớn vượt biển thì theo đường vịnh Hải Đông để tiến vào cửa Bạch Đằng.

Nguyễn Khoái xin cho căng xích, dựng cọc lên để đánh. Hưng Đạo vương lệnh hãy khoan. Người họp các tướng lại và phân như sau:

- Nhờ Thái sư Thượng tướng quân Chiêu Minh vương Trần Quang Khải lĩnh quân Thánh dực hộ giá hai thánh thượng ở Thăng Long. Phụ tá là Phó đô tướng Đỗ Hành.

Sai Phạm Ngũ Lão đem năm vạn quân trấn thủ kinh thành.

Sai Nguyễn Chế Nghĩa đem ba vạn quân đóng ở phía tây kinh thành, vùng Đông Ngạc, Cổ Nhuế.

Sai Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đem năm vạn thủy quân, đóng ở sông Cái, sát với kinh thành.

Ba đạo quân này hỗ trợ cho nhau để bảo vệ Thăng Long lần này quyết không cho giặc vào được kinh đô.

Hổ hầu Nguyễn Khoái đem năm vạn thủy binh ém tại vùng cửa sông Bạch Đằng chờ lệnh.

Vùng Vân Đồn vẫn giao cho Đô tướng Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư đảm trách như cũ.

Sai Trần Quốc Uẩn và Trần Quốc Hiện, mỗi người lĩnh năm vạn quân giữ vùng Vạn Kiếp.

Riêng Hưng Đạo vương dẫn theo mười vạn tinh binh cùng các tướng Trần Quốc Nghiễn, Trần Quốc Tảng, Dã Tượng và Yết Kiêu lên ải Nội Bàng chặn giặc. Nguyễn Chế Nghĩa xin làm tiên phong, rồi sau đó trở về cố thủ phía tây kinh thành sau được Hưng Đạo vương đồng ý.

Ô Mã Nhi đem theo A Sáng, A Lý cùng mười vạn quân làm tiên phong, ồ ạt tiến xuống Nội Bàng.

Hưng Đạo Vương cũng dàn mười vạn quân ra đối địch. A Sáng cưỡi ngựa ra trước trận, thách tướng Đại Việt ra giao đấu. Nguyễn Chế Nghĩa xin ra. Hưng Đạo vương đồng ý. Nghĩa đánh với Sáng ngoài năm chục hiệp, thấy Sáng có vẻ hơi núng, A Lý vỗ ngựa xông vào trợ chiến. Chế Nghĩa hăng hái địch với hai tướng, càng đánh càng hăng, tỏ ra không thua kém một ly, một lai nào. Quân hai phía hò reo vang trời. Ô Mã Nhi thấy nhiều tiếng hò reo, sốt ruột phóng ngựa từ trong trại ra. Vẫn con ngựa ô bị Phạm Ngũ Lão bắn rách tai năm xưa. Nó vừa khôn ngoan, vừa nhanh chân theo chân Thoát Hoan chạy thoát được về Trung Quốc lần vừa rồi. Vừa trông thấy Ô Mã Nhi chỉ phong phanh một miếng giáp che ngực, Nguyễn Chế Nghĩa bèn bỏ cả Sáng lẫn Lý, phóng ngựa chạy chếch về bên phải trận quân Trần. Rồi khéo léo và hết sức nhanh nhẹn, lấy cung lắp tên, quay người nhằm tay tả Ô Mã Nhi bắn tới. Ô Mã Nhi bị bất ngờ, nhưng cũng vẫn theo phản xạ, hơi né người về một bên, cánh tay trái không cầm đao đưa ra bắt mũi tên. Song tên của Nguyễn Chế Nghĩa vốn nhỏ và ngắn, nên Ô Mã Nhi bắt trượt. Mũi tên cắm vào vai phải, xuyên qua lớp thịt nục nạc vào sát tận xương khiến hắn suýt ngã ngựa. Hưng Đạo vương thấy thế liền thúc quân đánh tràn sang. Nhưng các đội kỵ binh Mông Cổ đã được tung ra đánh chặn lại. Hai bên kịch chiến được một phần tư khắc giờ thì quân Đại Việt không thể địch nổi kỵ binh Mông Cổ quây tròn từ bốn hướng. Nhưng rút kinh nghiệm lần trước, Hưng Đạo vương khua chiêng thu quân từ từ vào trong ải. Bốn tướng Nguyễn Chế Nghĩa, Trần Quốc Nghiễn, Trần Quốc Tảng và Yết Kiêu ở lại đánh chặn. Dã Tượng hộ vệ Hưng Đạo vương chạy vào quan ải.

- Nguyễn Chế nghĩa lần đầu tiên xuất trận, địch nổi cả Sáng lẫn Lý phải nói là rất tài, thương pháp còn có phần hơn cả Trần Bình Trọng năm xưa. - Hưng Đạo vương khen. Ngoài ra còn lập được công lớn là bắn bị thương Ô Mã Nhi, làm nhụt nhuệ khí quân giặc, đáng được thăng lên Đô tướng. Nhưng mà… kỵ binh của Mông Cổ quả là… Vô địch thiên hạ thời nay.

Nói rồi, Người cho rút quân để Nguyễn Chế Nghĩa về trấn tây bắc Thăng Long. Còn mình với các tướng lui về tả ngạn Sông Hồng, mạn Hồng lộ (tức Hải Dương, Hưng Yên hiện nay) như lần trước. Mũi tên của Nguyễn Chế Nghĩa không tẩm thuốc độc, không tính mạng Ô Mã Nhi đã lâm nguy, về trại hắn tự lấy dao găm rạch bả vai rút tên ra, rồi mới sai người băng bó. Hôm sau, hắn ra lệnh tấn công Nội Bàng, nhưng quan ải đã rỗng…


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 28.08.2018, 13:08
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Chim ưng và chàng đan sọt - Bùi Việt Sỹ - Điểm: 10
14

Quân Mông Cổ và Đại Việt quần nhau suốt cả mùa đông năm 1287. Nhiều lần Ô Mã Nhi theo lệnh Thoát Hoan đem bọn A Lý, A Sáng đánh vào Thăng Long, nhưng bị Phạm Ngũ Lão đánh trả quyết liệt. Hai bên tả hữu quân của Nguyễn Chế Nghĩa và Trần Nhật Duật đánh kẹp vào khiến quân Nguyên Mông không tiến lên được, còn bị chết khá nhiều. Địa hình đa phần là sông, ngòi, hồ, ao khiến kỵ binh không thể thi thố. Vấn đề lương thảo vẫn luôn là chuyện nan giải cho Thoát Hoan. Các đoàn vận lương từ phía Bắc xuống, từ vịnh Bắc Bộ vào luôn bị chặn đánh, đốt, cướp, phá… mười phần chỉ còn một hai. Trong khi đó lương thảo của quân Đại Việt đã khá hơn mấy năm trước rất nhiều. Cả vùng Hoan - Ái rộng lớn và trù phú đã cấp cho gần bốn chục vạn quân vượt qua mùa đông khắc nghiệt.

Thoát Hoan gửi thư về. Hốt Tất Liệt quyết định tung toàn bộ lương thảo chuẩn bị cho việc chinh phục Phù Tang xuống phía nam. Và khi quân đội đã có “thực túc” rồi thì tung quân đánh quyết liệt trên mọi vùng miền, mặt trận, quyết tiêu diệt Đại Việt trong năm 1288. Cuối mùa xuân, tháng ba, Trương Văn Hổ vận lương từ lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây) qua vịnh Hải Đông để vào Quế Sơn. Đoàn thuyền rồng rắn, dài đến bẩy tám dặm.

Trương Văn Hổ sợ có “sơ suất” gì chăng, cho thuyền nhỏ lẻn vào trước báo cho Thoát Hoan cho quân ra tiếp ứng. Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi đem chiến thuyền cùng một vạn quân tinh nhuệ đi đón Trương Văn Hổ.

Thám mã của Đại Việt báo tin về kinh thành. Vua Trần Nhân Tông cũng như Hưng Đạo vương tức tốc cho người cầm lệnh ra chỗ Trần Khánh Dư “bằng mọi giá phải đánh tan được đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ”. Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng bẩm với Hưng Đạo vương:

- Thưa cha, chắc chắn người Nguyên đã có đề phòng cẩn thận. Lại thêm có Ô Mã Nhi dẫn quân ra tiếp ứng. Con nghĩ cha cũng phải tăng cường cho Khánh Dư. Cụ thể cha cho con và Yết Kiêu ra trợ giúp cho hắn. Nếu đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ vào Đại Việt trót lọt thì chiến trận sẽ còn kéo dài và ác liệt. Sẽ biết bao sinh mạng binh sĩ ta sẽ phải bỏ ra. Lúc này việc thù hận nhau phải bỏ qua một bên. Tất cả phải vì chiến thắng của Đại Việt.

- Khá khen cho ý tốt của con. Hưng Đạo vương nói - Nhưng binh pháp có câu: “Bỏ vào đất chết mới tìm ra chỗ sống. Bỏ vào chỗ mất mới tìm ra chỗ còn”. Cứ để Trần Khánh Dư tự xoay xở một mình mới thành công được. Nuôi lính ba năm dụng một giờ mà. Nếu ta đưa quân ra tiếp viện cho hắn chẳng khác gì “vẽ rắn thêm chân”. Cha nói thế không phải là bỏ mặc cho Khánh Dư mà thực chất là cha vô cùng tin vào tài năng xoay chuyển tình thế, biến nguy thành an của hắn. Nói “bỏ vào chỗ chết mới tìm ra chỗ sống” là nói với các tướng tài. Khi xưa khi quân Hán đánh Triệu, Hàn Tín đã lập trại tựa lưng vào bờ sông, các tướng đều lấy làm kinh hãi, nhưng sợ Tín không dám nói ra. Đến khi bị quân Triệu dồn đánh. Đến bờ sông Hàn Tín mới hô to lên rằng “Các tướng không liều chết quay lại đánh để bị dìm xuống sông chết đuối cả ư?”. Nghe thấy thế bọn Phàn Khoái, Chu Bột vội tỉnh ngộ, quay lại cùng ba quân liều chết xông vào đánh giặc. Nhờ thế mà chỉ trong một buổi sáng đã phá được hai mươi vạn quân Triệu. Còn thời Tam quốc, lão tướng Hoàng Trung đóng quân trên núi mà chém được Hạ Hầu Uyên, tướng yêu và là họ hàng của Tào Tháo, về sau Mã Tốc cũng bắt chước cách ấy. Nhưng Tốc bất tài khi Tốc hô quân đánh xuống thì quân lính sợ Tư Mã Ý rúm cả lại. Đến khi Tư Mã vơ cỏ đốt phía dưới thì quân Tốc hoảng loạn, bỏ chạy tán loạn cả. Nhiều lần trước đây cha đã từng nói Trần Khánh Dư là tướng tài, tướng văn võ song toàn. Lần này chúng ta sẽ xem Khánh Dư lập nên kỳ công, đi vào lịch sử chống Nguyên Mông của Đại Việt ta.

Nghe Hưng Đạo vương giảng giải một hồi Trần Quốc Tảng đuối lý không cãi lại được. Nhưng trong lòng vẫn áy náy không yên. Không phải là không tin cha, mà là không tin được rằng Tran Khánh Dư lại có được tài như Hàn Tín.

Trở lại phía Nguyên Mông, Ô Mã Nhi hăm hở dẫn đoàn chiến thuyền đi đón Trương Văn Hổ. Trong thư kín gửi riêng cho Ô Mã Nhi, Trương Văn Hổ cho hay, ngoài lương thảo, ngự tửu của vua ban còn có năm nàng “tiên nữ” Tiểu Nga-la-tư. Ô Mã Nhi gặp Trương Văn Hổ ở phía ngoài vịnh Hải Đông. Hổ mang rượu ra đãi. Ô Mã Nhi uống suốt đêm, đến sáng thì giục Trương Văn Hổ thúc thuyền tiến lên. Ô Mã Nhi trà trộn vào đám quân coi lương ở giữa đoàn thuyền vận tải. Còn lá cờ có con ó lớn cưỡi trên mình chú ngựa nhỏ thì phấp phới bay ở đoàn chiến thuyền đi trước. Trần Khánh Dư sau khi cho lính quan sát động tĩnh “vô cùng chắc chắn” mới thân dẫn đoàn chiến thuyền hai vạn quân, đánh thẳng vào giữa đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ. Khánh Dư hăng hái đi trước, lao thuyền vào định cắt đôi đoàn thuyền lương ra. Bất ngờ Ô Mã Nhi xuất hiện, lừng lững chui ra từ một thuyền chở rượu. Tuy bị bất ngờ, nhưng Trần Khánh Dư vẫn giữ được bình tĩnh, vung kiếm lăn xả vào đánh. Ô Mã Nhi vung đao đón đỡ. Đường đao của Ô Mã Nhi quá mạnh khiến người Khánh Dư lạng đi. Song Trần Khánh Dư vẫn lấy hết can đảm vung gươm lên đối địch. Đánh được ngoài hai mươi hiệp, biết đánh tiếp có thể mất mạng nên co cặp chân dài nhảy phắt trở lại chiến thuyền của mình. Quân của Ô Mã Nhi và quân áp tải lương của Trương Văn Hổ thừa thế đánh cho quân của Trần Khánh Dư bỏ chạy tán loạn. Trong lúc nguy nan trong đầu Trần Khánh Dư vẫn vang lên lời tựa của chính mình viết cho cuốn “Vạn Kiếp bí truyền tông” của Trần Hưng Đạo rằng “Tướng khéo thua thì không chết…” Khánh Dư tả xung hữu đột mở được đường máu thoát ra, đồng thời lệnh cho quân sĩ phất cờ lệnh “mạnh ai hãy cố sức mà bỏ chạy thoát thân”. Nhờ thế mà tung ra hai vạn quân và bốn trăm chiến truyền mới bị tổn thất một nửa. Tin Trần Khánh Dư đại bại truyền về kinh đô. Vua Trần Nhân Tông nổi giận sai người tức tốc phi ngựa ra Vân Đồn xích Trần Khánh Dư giải về theo điều sáu của quân luật là “Quân thua chém tướng”. Khánh Dư nói với viên quan ra bắt mình rằng:

- Ngươi hãy về tâu với hai Thánh thượng và Quốc công Tiết chế rằng, hãy để cho đầu của Khánh Dư nằm trên cổ hắn thêm ba ngày. Rồi Khánh Dư sẽ đem đầu về chịu chém!

Hưng Đạo vương nghe tin đoàn chiến thuyền của Khánh Dư bị đánh tan thì lại vô cùng mừng rỡ. Người lập tức tập hợp lũ thám mã lại ra các lệnh:

- Ra cửa sông Bạch Đằng nói với Nguyễn Khoái đóng thêm cọc lim và chuẩn bị căng dây xích để đón đánh sáu trăm thuyền chiến khổng lồ của Nguyên Mông chắc chắn sẽ phải rút chạy qua đó.

Cử Trần Nhật Duật vào thay Phạm Ngũ Lão. Còn Ngũ Lão thì tuyển năm ngàn kỵ binh tinh nhuệ nhất, chờ có lệnh ra cửa sông Bạch Đằng tiếp ứng cho Nguyễn Khoái.

Lệnh cho tất cả các đạo quân, chuẩn bị tổng công kích đuổi giặc ra khỏi bờ cõi.

Các tướng đều ngạc nhiên, ngơ ngác nhìn nhau không hiểu thế này là thế nào kể cả Trần Quốc Tảng. Nhưng không ai đám hé răng hỏi nửa lời. Tất cả đều tuân lệnh răm rắp.

Lại nói chuyện Trần Khánh Dư thoát chết chạy về được Vân Đồn bèn tụ họp đám tàn binh lại vẫn còn được một vạn, cộng một vạn quân giữ nhà là hai. Số thuyền bè cũng còn trên bốn trăm. Khánh Dư cho tập hợp toàn bộ quân lính và thuyền bè lại nói rằng:

- Nếu chúng ta không liều chết tiêu hủy đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ thì tất cả đều bị triều đình xử chém. Vậy chỉ có đánh mới còn con đường sống. Vậy các ngươi nghĩ thế nào?

Hai vạn quân đều đồng loạt hô to: “Sát Thát”. Khánh Dư lấy làm mừng lắm, trèo lên cột buồm cao nhất của một chiến thuyền, phóng tầm mắt “chim ưng” về vùng biển Hải Đông. Lúc này đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ sau khi nghi binh để Ô Mã Nhi đánh tan quân của Trần Khánh Dư, mới kềnh càng, nặng nề tiến vào vịnh. Trong đoàn thuyền dài tưởng như vô tận ấy Khánh Dư thấy có hình con ó lớn cưỡi trên lưng con ngựa nhỏ của Ô Mã Nhi cắm ở đầu, ở giữa và cả ở cuối thì cười thầm trong bụng mà đoán rằng chắc chắn không có Ô Mã Nhi trong đoàn thuyền vận lương này. Phải nói thật rằng Trần Khánh Dư quả là thần toán. Ngay lúc đánh tan đoàn chiến thuyền của quân Trần, Ô Mã Nhi đã dương dương tự đắc nói với Trương Văn Hổ rằng:

- Quân Đại Việt đã sợ đến mất mật rồi! Có cho kẹo chúng cũng không dám bén mảng tới gần đoàn thuyền lương. Rồi gã chọn lấy hai “tiên nữ” tiểu Nga-la-tư đang độ tuổi trăng rằm, cùng mấy thung ngự tửu và vài chục tảng thịt cừu muối vứt lên một chiến thuyền nhẹ, căng buồm lướt sóng, phóng về Quế Sơn trước.

- Ô Mã Nhi chắc chắn không còn ở đây! - Vừa tụt từ cột buồm xuống Trần Khánh Dư đã nói như đinh đóng cột. - Mà kể cả hắn còn ở đây thì ta thà chết dưới tay hắn, chứ không chịu chết dưới đao phủ của triều đình vì là một tên bại tướng.

Nói rồi Trần Khánh Dư chia hơn bốn trăm chiến thuyền ra làm hai trăm cặp. Cứ một chiến thuyền chở binh lính đi kèm với một chiến thuyền chở đồ hỏa khí. Tất cả cung tên đều phải mang theo thùng chở dầu. Trần Khánh Dư tự dẫn một hỏa thuyền đâm thẳng vào giữa đội hình của đoàn thuyền vận lương của Trương Văn Hổ. Còn các đội hỏa thuyền khác, cứ cách một thuyền thì tấn công đốt một thuyền. Chạng vạng tối bốn trăm chiến thuyền của Trần Khánh Dư xuất phát. Biển động nhẹ, gió heo may khô. Còn cách đoàn thuyền vận lương của Trương Văn Hổ chừng năm chục bước chân, Trần Khánh Dư cho đốt các đồ dẫn hỏa trên chính thuyền của mình rồi lao thẳng vào giữa đoàn thuyền giặc. Các thuyền khác thấy vậy cũng đồng loạt hành động theo. Trương Văn Hổ chợt thấy những “con rồng lửa” nhất tề lao vào đoàn thuyền lương của mình thì vô cùng kinh hãi. Đang đi ở gần đầu đoàn, Trương Văn Hổ cho thuyền quay lại. Vừa hay gặp chiến thuyền của Trần Khánh Dư. Dư nhảy phắt sang thuyền của Hổ. Thanh kiếm trong tay múa tít. Chỉ loáng một cái đã chém gần chục thủy quân Nguyên Mông gục xuống biển hoặc rơi vào lòng thuyền. Trương Văn Hổ vác đại đao lại đối địch. Trần Khánh Dư miệng thét lớn: “Sát Thát”, rồi phóng thẳng mũi kiếm vào ngực Hổ. Cũng là chiến tướng có tài và nhiều kinh nghiệm, Hổ vung đao đánh lại hết sức dữ dội. Nếu đằng thẳng ra thì chưa biết “mèo nào cắn mỉu nào”. Nhưng tâm trí của Hổ lúc này đang phải để vào đoàn thuyền lương. Thấy ba bề bốn bên lửa đã bắt đầu cháy rừng rực thì không còn tâm trí đâu mà giao đấu với Khánh Dư nữa. Thừa cơ Khánh Dư vung kiếm chém tới tấp, một nhát xả vào vai phải khiến cây đại đao rơi xuống lòng thuyền. Thấy chủ tướng bị nguy, mấy chục tên quân thân tín vung đao, kiếm vào cứu chủ. Trần Khánh Dư cũng không ham đánh, lùi ra mũi thuyền rồi nhảy phắt về thuyền mình đang ở thế áp mạn. Khánh Dư ra lệnh cho thủy thủ đưa thuyền cho mình đi đốc chiến. Lúc này lửa đã cháy khắp nơi. Các thuyền chở cỏ khô cháy dữ dội nhất, rồi đến các thuyền chở gạo và cả thuyền chở rượu, ngọn lửa bốc lên xanh lè!

Cùng với tiếng lửa reo phần phật là tiếng hô: “Sát Thát” vang động cả vùng vịnh vốn lặng im.

Trương Văn Hổ biết không thể cứu vãn được, kể cả có Ô Mã Nhi ở lại thì cũng đành bó tay nên ra lệnh cho lính quay mũi thuyền chạy về Quảng Đông. Còn viên giám quân, cũng vô cùng kinh khiếp, thần hồn nát thần tính, cho thuyền giong buôm chạy mãi vào tận… Chiêm Thành. Trong đám lửa cháy, quân reo, Trần Khánh Dư chợt nghe thấy những tiếng kêu thất thanh, nhưng giọng lại rất lạ, phát ra từ một thuyền chở rượu. Khánh Dư cho thuyền ghé vào thì vừa ngạc nhiên, vừa mừng rỡ thấy ba thiếu nữ mặc váy, đang ôm nhau kêu khóc. Thuyền chưa cặp mạn, Khánh Dư đã nhảy vọt sang, hai tay cắp hai “nàng tiên” tiểu Nga-la-tư quăng sang thuyền của mình. Lửa đã cháy vào chiếc váy liền áo của cô thứ ba. Khánh Dư lại nhảy sang tiếp, mặc cho lửa rát bỏng bủa vây xung quanh, cắp ngang người cô gái cùng nhảy ùm xuống biển. Vùng vẫy một lúc cho lửa tắt Khánh Dư mới cắp cô gái bám vào mạn thuyền chèo lên. Mới mấy canh giờ trước Trần Khánh Dư còn là kẻ tội đồ, chờ xích lại đưa về triều đình xử trảm. Thì bây giờ đã trở thành người anh hùng dân tộc, lập được kỳ công có một không hai trong trận chiến chống Nguyên Mông của quân dân Đại Việt.

Phần thưởng cho Trần Khánh Dư còn có cả ba “tiên nữ” Tiểu Nga-la-tư, da trắng, mắt xanh, tóc vàng mà dù có nằm mơ cũng không thay được.

Nửa đêm trở về bản doanh Khánh Dư viết thư về cho hai vua Trần và Quốc công Tiết chế, chỉ có đúng hai chữ: Thắng rồi! Và sai đích thân mấy kẻ mang xích ra bắt mình phi ngựa ngay trong đêm về triều bẩm báo.

Nhận được thư của Khánh Dư các tướng đều quỳ xuống vái lạy Trần Hưng Đạo. Theo thói quen, Người vừa vuốt chòm râu còn đen nhánh, vừa nói:

- Đã đến lúc ta đánh cho Nguyên Mông một trận để đời. Chỉ cần nghĩ tới Đại Việt là toát mồ hôi hột ra!

Rồi người sai Phạm Ngũ Lão đem năm ngàn quân kỵ, tức tốc đến cửa sông Bạch Đằng ứng giúp cho Nguyễn Khoái. Và hẹn đại quân do đích thân Người sẽ đến sau.

Trở lại chuyện Trần Khánh Dư đã khôn ngoan thả cho một vài chiến thuyền của Nguyên Mông trốn được về Quế Sơn báo tin. Thoát Hoan rụng rời hết vía, lưng toát mồ hôi. Riêng Ô Mã Nhi vẫn nói cứng:

- Ta tạm rút binh về. Chờ biện lương đầy đủ đã, lại kéo sang lần nữa. Vội gì!…

Không còn cách nào khác Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi cùng Tích Lệ Cơ Ngọc thống lĩnh sáu vạn quân cùng sáu trăm chiến thuyền “khủng” rút theo đường Bạch Đằng. Sai Phàn Tiếp đem năm ngàn quân kỵ đi theo đường bộ hộ tống ra tới biển. Còn đích thân Thoát Hoan dẫn bọn A Sáng, A Lý và các tướng khác tháo chạy theo đường Chi Lăng - Lạng Sơn.

Lại nói Phạm Ngũ Lão đem năm ngàn quân kỵ cắt đường từ Thăng Long ra cửa sông Bạch Đằng. Quân phóng suốt đêm không nghỉ, đến quá giờ Ngọ thì gặp toán quân của Phàn Tiếp. Không nói nửa lời, Ngũ Lão vỗ ngựa lao vào vung đao chém tới tấp. Phàn Tiếp biết Ngũ Lão là hổ oai tướng quân của Đại Việt nên vẫy quân vây chặt lấy Ngũ Lão vào giữa. Toàn là kỵ binh Mông Cổ nên chúng rất thiện chiến. Những luỡi gươm cong sắc bén vung lên bổ xuống thật nhịp nhàng, thiện nghệ. Nhưng lúc này thời gian là vàng ngọc, không thể để Nguyễn Khoái phải đơn độc chống với Ô Mã Nhi và Tích Lệ Cơ Ngọc cùng sáu vạn quân và sáu trăm chiến thuyền “khủng”. Ngũ Lão gầm lên một tiếng thị uy rồi lia đao ra tứ phía. Những chiến binh Mông Cổ gục xuống như chuối bị chém. Phàn Tiếp cả sợ không dám giao phong. Hô quân rút chạy về phía Quế Sơn.

Khi Phạm Ngũ Lão cùng năm nghìn kỵ binh đến cửa sông Bạch Đằng thì đúng vào lúc thủy triều đang lên. Quân của Nguyễn Khoái đang gồng mình chặn đánh đoàn thuyền rút chạy của Ô Mã Nhi. Những xích sắt căng lên đã cản không cho chiến thuyền của giặc trôi ra. Sau một hồi lúng túng, đứng trên súy thuyền Ô Mã Nhi đã phát hiện ra. Hắn sai lính mang búa khai sơn xuống chặt xích chắn. Cuộc chiến ác liệt và đẫm máu diễn ra quanh và trên các sợi xích giữa quân Nguyên Mông và quân Đại Việt.

- Hiền huynh Nguyễn Khoái! Có Ngũ Lão đến trợ chiến với huynh đây! - Ngũ Lão giao ngựa cho giám mã, vác đao chạy lên mặt đê và quát lớn.

Nguyễn Khoái đang ở một chiến thuyền ở giữa sông đốc thúc quân lính tác chiến thấy vậy trả lời.

- Ngũ Lão! Hãy đánh thẳng vào súy thuyền. Chui vào trong chém hết các tay chèo. Rồi bẻ lái cho thuyền quay ngang ra!

- Tuân lệnh! - Nói rồi Ngũ Lão cắp đao nhảy phắt từ bờ đê lên một chiến thuyền gần bờ của giặc. Vừa đánh giết, vừa tìm đường đến súy thuyền của Ô Mã Nhi. Thấy Ngũ Lão dũng mãnh quá, bọn giặc dạt hết cả ra.

Chui được vào khoang súy thuyền, Ngũ Lão vung đao chém hết bên phải lại bên trái. Xác giặc đổ xuống như ngả rạ. Rồi túm gáy một tên bắt hắn bẻ bánh lái cho thuyền quặt ngang ra. Tên lính vừa yếu vừa sợ, run lẩy bẩy khiến Ngũ Lão phải quẳng hắn sang một bên rồi bẻ ngang bánh lái. Nước bắt đầu chảy xiết chứng tỏ thủy triều đang xuống, Ngũ Lão phải vận hết công lực mới làm được cho con thuyền khổng lồ quay ngang ra, chặn hẳn đoạn giữa của lòng sông, khiến cả đoàn thuyền tắc lại.

Hưng Đạo vương khởi mười vạn quân tiếp ứng. Nhưng trên đường hành quân, con voi chiến của Người bị sa lầy, Hưng Đạo vương đành gạt nước mắt xuống ngựa để kịp đưa quân ra tiếp ứng cho Nguyễn Khoái.

Hai vua Trần cũng chỉ để Thái sư Trần Quang Khải giữ kinh đô, thân chinh dẫn đội quân Thánh dực ra Bạch Đằng trợ chiến.

Chưa bao giờ Ô Mã Nhi lại hung tợn như lúc này, nhất là từ lúc chiếc súy thuyền bị quay ngang ra. Và thủy triều xuống. Các cọc lim được cắm từ trước bắt đầu đâm thủng các chiến thuyền. Nhưng vừa hay đại quân của Hưng Đạo vương đã đến kịp thời. Tất cả nhất loạt xông lên, cận chiến với giặc ngay trên các chiến thuyền khủng của chúng. Tuy nhiên lính Đại Việt không thể đến gần Ô Mã Nhi được. Cây đao của hắn là cây “ma đao” nhuốm máu hàng trăm tướng sĩ nhà Trần.

- Nguyễn Khoái đâu! Hãy nhảy lên chặn bàn tay hung thần của Ô Mã Nhi lại! - Hưng Đạo vương đứng chỉ huy trên bờ đê quát xuống.

Nguyễn Khoái vâng mệnh, nhảy phắt lên. Ô Mã Nhi vẫn gầm gừ như con hổ dữ bị dồn vào con đường cùng vung đao chém hết sức mãnh liệt. Cũng đã từng giao đấu vài lần với Ô Mã Nhi nhưng chưa lần nào Nguyễn Khoái thấy hắn dũng mãnh lợi hại như lúc này. Phó đô tướng Đỗ Hành xin phép hai vua Trần cũng xông lên thuyền trợ chiến. Hành nhảy đến bên Nguyễn Khoái vung đao chém. Ô Mã Nhi đỡ quật lại, khiến cây đao của Đỗ Hành văng xuống nước. Còn bản thân bị bắn ra mấy bước. Nguyễn Khoái phải lăn xả vào đánh để cứu Đỗ Hành. Vừa lúc đó trên nóc súy thuyền tiếng Phạm Ngũ Lão vọng xuống:

- Hiền huynh có Ngũ Lão ở trên này!

Hiểu ý Nguyễn Khoái vung đao nhằm cẳng chân Ô Mã Nhi lia tới, buộc Ô Mã Nhi phải ghìm đao đón đỡ. Chỉ trong một tia tích tắc thôi, Phạm Ngũ Lão biết rất rõ điều này, nếu không hạ được Ô Mã Nhi, để hắn chém ngược đao lên thì Nguyễn Khoái rất khó toàn mạng. Phóng đao xuống tấm lưng to như cánh phản của hắn thì vô cùng dễ. Nhưng việc phải bắt sống được hắn mới làm uy danh của Đại Việt tăng lên bội phần. Thế là Phạm Ngũ lão bèn dùng hai chân nhảy xuống đạp vào đúng hai thùy phổi sau lưng của hắn, đôi chân đã từng tập cả chục năm, đạp bằng cả một ngọn đồi sỏi đá đã khiến toàn thân Ô Mã Nhi đổ sập xuống. Nguyễn Khoái kề đao vào gáy. Còn Đỗ Hành kiếm đâu được một đoạn xích, xích tay hắn lại. Nhưng vừa đứng lên, bỗng hắn gầm lên một tiếng, giằng hai tay một cái đoạn xích bị bật tung ra. Ngũ Lão đứng phía sau điểm huyệt rất nhanh vào hai bên bả vai hắn. Rồi bẻ quặt hai tay hắn ra sau lưng, rút từ thắt lưng ra một sợi dây cước câu cá. Bẻ hai ngón tay cái Ô Mã Nhi lại, Ngũ Lão lấy đoạn cước trói chặt lại rồi giải huyệt. Ô Mã Nhi cố giằng ra, nhưng càng giằng sợi dây cước càng thít hai ngón cái của hắn lại, đau buốt đến tận óc. Ngũ Lão đẩy cái thân xác “quái vật” của Ô Mã Nhi về phía Đỗ Hành và vui vẻ bảo:

- Huynh hãy giải hắn về nộp cho Hoàng thượng mà lĩnh thưởng! Nhưng nhớ xích chân, tay hắn lại cho Hoàng thượng đỡ sợ!… Đây là món quà trả nghĩa bữa tiệc của huynh với chúng tôi ở quán gió Hồ Tây năm rồi!…

Đỗ Hành đứng ngẩn người ra một lúc mới hiểu… Trần Quốc Tảng bắt sống Tích Lệ Cơ Ngọc. Trận chiến vừa kết thúc Hưng Đạo vương lại sai Phạm Ngũ Lão, Trần Quốc Nghiễn, Trần Quốc Tảng đem mười vạn quân phối hợp với Nguyễn Chế Nghĩa, Trần Quốc Uẩn và Trần Quốc Hiện đem theo mười lăm vạn quân từ Thăng Long và Vạn Kiếp đuổi đánh hơn hai mươi vạn quân của Thoát Hoan.

Sáu trăm chiến thuyền “khủng” cộng với gần sáu vạn xác chết của lính Nguyên Mông đã làm tắc nghẹn hoàn toàn đoạn sông Bạch Đằng ấy. Sông phải đổi hướng chảy về hướng khác. (Rồi khúc sông ấy trở thành bãi bồi, để gần bẩy trăm năm sau, tình cờ làm thủy lợi, người dân ở tỉnh Quảng Ninh đã phát hiện ra bãi cọc. Một vài chiếc đã được đưa về Bảo tàng lịch sử Việt Nam ở Hà Nội. Một số khác được đưa về Bảo tàng Quảng Ninh.)

Trần Quốc Uẩn khiến tướng Trương Hiển phải đầu hàng. Bọn A Sáng, Lý Hằng cố sống cố chết bảo vệ Thoát Hoan. Nguyễn Chế Nghĩa bắn chết A Sáng. Trần Quốc Nghiễn bắn chết A Lý. Phàn Tiếp lẩn vào đám tàn quân hòng chạy trốn, bị Phạm Ngũ Lão phát hiện bắn xuyên qua lưng. Một ngàn quân thiết kỵ bảo vệ Thoát Hoan chạy được về thị trấn Tư Minh bên Trung Quốc (cách Lạng Sơn chừng hai mươi dặm). Thế là ba chục vạn quân Nguyên Mông tinh nhuệ đã bị Đại Việt tiêu diệt vào cuối mùa xuân 1288[4].

Mùa hạ, tháng Tư, bàn xét công dẹp giặc Nguyên, hai vua Trần đã tiến phong Hưng Đạo vương làm Đại vương (tức Hưng Đạo Đại vương) Hưng Vũ vương được phong Khai quốc công. Hưng Nhượng vương làm Tiết độ sứ. Những người có công được ban quốc tính, trong đó có Đỗ Khắc Chung được trở thành Trần Khắc Chung lại cho làm Đại hành khiển. Đỗ Hành chỉ được phong quan nội hầu (lẽ ra là Liệt hầu tước hầu cao nhất) vì khi bắt được Ô Mã Nhi không dâng lên vua mà lại dâng lên thượng hoàng, như vậy là báo công vượt cấp. Hưng Trí vương Trần Quốc Hiện không được thăng trật, vì đã có chiếu cho người Nguyên về nước, các tướng không được cản trở mà lại đón đánh và bắt giữ. Cho Man trưởng ở Lạng Giang là Lương Uất làm trại chủ Quy Hóa. Hà Tất Năng làm quan Phục tuần vì có công đem người Man ra đánh giặc.

Gia phong cho Nguyễn Khoái làm Liệt hầu, vì không nhận đất ở kinh đô, cho một quận làm ấp thang mộc gọi là Khoái Lộ (nay là huyện Khoái Châu, Hưng Yên). Truy phong cho Trần Quốc Toản từ tước hầu lên tước vương.

Phạm Ngũ Lão được giao cho cai quản quân Thánh dực với chức Hữu Kim Ngô Đại tướng quân tước quan nội hầu. Đến thời vua Anh Tông. Phạm Ngũ Lão được phong đến chức Điện súy Thượng tướng quân.

Trần Khánh Dư được trả lại chức Phiêu kỵ tướng quân. Chức chỉ được phong cho hoàng tử.

Về phạt bọn tướng làm phản như Trần Kiện, Trần Lộng đã chết hoặc trốn sang Tầu không được mang họ Trần mà đổi thành họ Mai. Riêng Trần Ích Tắc được gọi là Á Trần, có ý khinh bỉ coi như đàn bà…

Ngày khải hoàn vua Trần Nhân Tông có hai câu thơ vừa như tổng kết cuộc kháng chiến, vừa như di chúc cho hậu thế về trách nhiệm giữ nước:

Đất nước hai phen bon ngựa đá,

Non sông ngàn thủa vững âu vàng.

Phạm Ngũ Lão cũng xin được đọc bài thơ “Ngỏ Lòng”. Vua đồng ý. Bài thơ có bốn câu:

Vung giáo non sông trải mấy thu,

Ba quân tựa cọp nuốt trôi trâu.

Trai chưa trả nợ công danh được,

Luống hổ tai nghe chuyện Vũ Hầu.

Các quan đều vỗ tay tán thưởng. Duy có Nguyễn Khoái bước ra tâu:

- Muôn tâu hai Thánh thượng, thần không rõ Vũ Hầu là ai mà Ngũ Lão “Huống hổ tai nghe”… Bởi vậy thần xin phép đổi thành: “Luống hổ tai nghe Hịch tướng sĩ của Quốc công Tiết chế” ạ!

Tất cả mọi người cười ầm cả lên, vui vẻ. Vua Trần Nhân Tông cười mà rằng:

- Nguyễn Khoái thế mà hóm hỉnh, thưởng cho một bát rượu lớn.

Uống xong, Nguyễn Khoái lại quỳ xuống tâu:

- Muôn tâu hai Thánh thượng, có thằng giặc Ô Mã Nhi đã từng nói: “Hai Thánh thượng đi tới đâu hắn “sẽ đuổi theo tới đó”. Giữ lời hứa nên hôm nay hắn đã có mặt ở dưới chân điện Kính Thiên này. Chỉ có điều hai chân bị xích vào cột đá. Vậy có nên thưởng ngự tửu cho hắn không ạ?

Vua Trần Nhân Tông lại cười lớn và bảo:

- Nguyễn Khoái ơi là Nguyễn Khoái! Ngươi đáng được thưởng một bình ngự tửu… Còn thằng giặc Ô Mã Nhi đang bị xích dưới kia… cũng nên cho hắn “chung vui” với ta. Quân đâu! Đem cho hắn một vò rượu và một đùi bê thui.

Ô Mã Nhi hai chân bị xiềng vào nhau và xích vào một cột đá. Còn hai tay được tự do. Khi rượu và đùi bê thui được mang đến, hắn vồ lấy nốc luôn nửa bình. Rồi loáng một cái đã ngoạm xong đùi bê thui. Tu nốt nửa bình rượu, hắn dùng hai tay quệt mép tỏ vẻ vẫn thòm thèm. Nguyễn Khoái hỏi:

- Ngự tửu của Đại Việt có ngon không?

- Ngon! Ngon hơn… nước đái ngựa của Mông Cổ một chút.

Nguyễn Khoái nổi giận giật lấy ngọn giáo của một tên lính đứng bên. Chĩa vào chiếc bụng như chiếc trống cái của hắn, rít răng mà nói rằng:

- Ngươi thật không biết điều! Để ta chọc bình rượu trong bụng ra vậy!

Vừa lúc đó Hưng Đạo Đại vương bước tới. Người đặt bàn tay rắn chắc lên vai Nguyễn Khoái chậm rãi giải thích.

- Chớ có động vào hắn. Hòa ước giữa Đại Việt và Nguyên Mông đã được ký rồi. Trong đó có điều khoản phải thả Ô Mã Nhi và Tích Lệ Cơ Ngọc về.

Nguyễn Khoái nín lặng bước lên triều. Hưng Đạo vương cũng lên sau, đến chỗ Yết Kiêu đang đứng trong đám tùy tùng, gọi riêng ra, rỉ tai: Cứ như thế! Như thế!

Yết Kiêu vâng lệnh, ra lấy ngựa phi như bay về hướng Vân Đồn.

Hôm sau Ô Mã Nhi và Tích Lệ Cơ Ngọc được trao trả cho sứ giả nhà Nguyên. Cả hai được đưa xuống một chiếc thuyền rất gọn nhẹ nhưng chắc chắn. Gần như mới đóng. Rượu, thịt, thức ăn, nước uống được chất lên ê hề. Sử giả chứng kiến và ký vào biên bản.

Thuyền rời bến, Ô Mã Nhi nhoẻn miệng cười, hẹn gặp lại Thăng Long.

Ba ngày sau, một chuyến xe bốn ngựa hộc tốc phóng từ vùng biển Vân Đồn về. Trên xe chở xác Ô Mã Nhi và Tích Lệ Cơ Ngọc.

Theo lời giải thích của viên giám mã đánh xe:

- Ô Mã Nhi say rượu, đòi vớt trăng dưới đáy vịnh! Rồi vật nhau với Tích Lệ Cơ Ngọc khiến thuyền bị lật và cả hai cùng chết đuối. May mà quân lính ở Vân Đồn phát hiện kịp thời nên còn vớt được xác.

Sứ giả nhà Nguyên cạy đắng nhìn xác hai danh tướng lừng lẫy một thời từ Á sang Âu, rồi lại từ Âu về Á. Biết bị chơi khăm, nhưng không có tang chứng đành “ngậm bồ hòn” làm ngọt.

Hưng Đạo Đại vương sai lính làm hai cỗ áo quan bằng gỗ trầm hương, đặt hai cái xác được tẩm nước thơm cẩn thận. Chỉ đậy sơ nắp quan tài rồi giao cho sứ Nguyên, chở bằng xe ngựa theo đường bộ Chi Lăng - Lạng Sơn…


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 28.08.2018, 13:10
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Chim ưng và chàng đan sọt - Bùi Việt Sỹ - Điểm: 10
15

Xét công đánh Nguyên Mông. Phạm Ngũ Lão được xếp thứ ba (cùng với Nguyễn Khoái) chỉ sau Hưng Đạo Đại vương và Chiêu văn vương Trần Nhật Duật. Trần Khánh Dư xếp thứ tư. Vì vậy Ngũ Lão được vua phong cho hai nhăm mẫu đất ở phía tây thành Thăng Long để xây phủ đệ. Khác với các vương tôn công tử xây phủ to, gỗ quý và lớn cùng đá đẹp, Ngũ Lão chỉ xây ngôi nhà năm gian hai trái, phía mái giữa trổ lên hai căn gác để làm phòng thờ và gian đọc sách. Nhà xây bằng gỗ xoan đào và tre ngâm nên trăm năm cũng không bị mối mọt. Một chiếc chuồng ngựa thoáng đãng cho con Tía. Còn lại bao nhiêu đất, Ngũ Lão cho trồng cau nên gọi là phủ đệ vườn cau.

Năm 1290 đói. Nắng tháng 6 đến tháng 10. Trời trong xanh và khô như rang. Qua năm 1291 lại mất mùa to vì nắng hạn, sâu bệnh hoành hành. Một thăng gạo (khoảng ba bơ sữa bò bây giờ) giá một quan tiền. Dân chúng rất nhiều vùng phải bán ruộng đất, con cái (cả trai lẫn gái) giá đồng hạng một quan tiền để làm nô tì cho các nhà giàu và các gia đình quý tộc. Thành thử nhiều quý tộc mua nam thanh niên khỏe mạnh về làm gia binh, con gái đẹp về làm tì thiếp. Tích tụ ruộng đất đến cả ngàn mẫu. Mùa thu, tháng tám con Tía trở bệnh, mới đầu không chịu ăn, chỉ uống nước. Buổi sáng Ngũ Lão ra thăm thấy nằm bụng sát xuống đất biết là hỏng rồi. Vì ngựa chỉ chuyên ngủ đứng chứ không như các loài vật khác như trâu bò ngủ nằm. Con Tía lúc mới sinh to quá cỡ. Vừa lọt lòng thì mẹ băng huyết chết. Ngũ Lão lúc đó mới mười tuổi, sống trong chùa, hàng ngày ra ruộng tuốt lúa nếp non về nấu cháo thành sữa mớm cho nó. Rồi nó cũng lớn lên. Đến khi được ba tuổi trổ mã, cao to khác thường, toàn lông một mầu đỏ tía. Không có một sợi lông tạp nào. Sư cụ biết là ngựa quý bèn huấn luyện thành ngựa chiến rồi giao cho Ngũ Lão. Trong chiến công lẫy lừng chống Nguyên Mông của Ngũ Lão có một phần đóng góp không nhỏ của nó. Là ngựa đực, nó cũng có nhu cầu tìm bạn gái. Nhưng vì trận mạc mà nó đã phải kìm nén. Có đêm Ngũ Lão lấy thêm thóc ra cho nó ăn. Thấy cái của quý của nó thòi ra như một cái chày giã gạo Ngũ Lão nựng nó, khi nào yên hàn rồi ta sẽ lấy vợ cho mi. Bởi ngựa chiến cũng như ngựa thồ ở miền núi cao, chỉ nhảy một lần là mất rất nhiều sức, khó có thể chiến đấu và thồ hàng như trước được nữa. Dường như biết ý chủ, con Tía đành “cố nhịn”. Đến ngày ca khúc khải hoàn thì nó đã mất khả năng của con đực. Ngũ Lão tính chuyện đưa nó về quê chôn. Chàng thuê một chiếc xe hai ngựa kéo đưa nó về. Nằm trên xe nó chỉ còn thở thoi thóp. Ngũ Lão tự tay đào một chiếc hố dài, rộng và rất sâu ở mảnh ruộng ở trước nhà. Lấy vải trắng liệm cho nó cẩn thận rồi cặp tấm thân dài và nặng của nó bằng hai tay nhẹ nhàng đặt xuống huyệt.

Chập tối Ngũ Lão đang thắp hương cho gia tiên và cha mẹ trong nhà thì thấy phía ngoài có tiếng động. Lúc đầu còn khẽ, sau là tiếng cãi nhau như chợ vỡ.

Ngũ Lão chạy ra thì thấy khoảng hơn hai chục người nam, phụ, lão ấu đủ cả đã moi và khênh xác con Tía đưa lên mặt ruộng. Thấy Ngũ Lão ra, tất cả sụp xuống lạy như tế sao.

- Mong hổ hầu tha cho chúng tôi! Đói quá!

- Con tôi ốm, ba ngày nay chưa có gì bỏ bụng! Tội lắm tướng quân ơi!

- Hổ hầu làm phúc! Mẹ già tôi hấp hối muốn có cái gì bỏ vào bụng để chết đi khỏi biến thành ma đói.

Bao nhiêu người là bấy nhiêu lời cầu xin thảm thiết. Tất cả chung quy chỉ vì cái đói. Ngũ Lão ứa nước mắt nói với bà con:

- Được rồi! Mọi người yên lặng! Tôi đã có cách giải quyết rồi!… Trong làng có tay đồ tể nào không?

- Dạ! Bẩm có ạ! Có một tay chuyên mổ trâu, bò.

- Thế thì gọi hắn ra đây! Tôi sẽ thuê tiền hắn, lột da, lóc thịt chia cho bà con… Còn xương thì phải để tôi cho vào cái chum nước… Chôn cho nó. Dù sao cũng là nghĩa thầy trò. Cùng vào sinh ra tử với nhau.

Viên đồ tể được mời đến, hắn trạc bốn mươi. Ngũ Lão yêu cầu như thế và thuê hắn hai đồng. Hắn nâng nâng bộ cà của con Tía nói một câu xanh rờn:

- Tôi không lấy tiền… Chỉ xin bộ cà này về ngâm rượu.

- Còn bộ da ngươi đi thuộc cho ta. Hết bao nhiêu tiền, ta trả.

- Dạ vâng! Tôi xin nghe theo lệnh tướng quân.

Ngũ Lão vào nhà lấy ra mấy tấm cót, cho gã đồ tể trải ra cho khỏi bẩn. Mọi việc đến gần nửa đêm mới xong.

Ngũ Lão vét túi còn tổng cộng hai mươi quan tiền. Đem chia cho mỗi người một ít. Tùy người nhiều thì một đồng. Người ít nhất cũng được năm bảy hào…

Hôm sau Ngũ Lão sang lạy sư phụ. Tạ tội với người vì về quê mà không sang với thầy ngay. Sư cụ Hồng Quang đã ngót nghét trăm tuổi, tuy vóc hạc, nhưng vẫn còn rất tinh anh, người nói:

- Sư phụ đã biết hết cả rồi! Con làm như thế là vừa hết tình hết nghĩa với con Tía. Lại giúp được tí nào hay tí ấy với bà con chòm xóm lúc hoạn nạn, cơ hàn…

- Tấm da đó con định khi nào sang tiểu, thì bảo các con chúng nó gói nắm xương của con… gọi là “thầy trò sống chết có nhau”… Sự phụ thấy có được không ạ!

- Cái tâm của con có trời biết, phật biết con ạ!

- Sư phụ ơi! - Ngũ Lão nói giọng buồn rầu như mếu - Cảnh quan trường… chán nản lắm. Đến như Quốc công Tiết chế cũng ở lì hẳn điền trang Vạn Kiếp rồi, không buồn tham gia vào chính sự nữa… Con cũng định bắt chước hiền huynh Nguyễn Khoái… từ quan về… đi tu. Sư phụ dạy con thế nào?

- Không phải ai cũng có căn tu. Người không có căn tu như con thì có tu tại chùa, tại chợ, hay tại gia… thì cũng chẳng có kết quả gì… Có khi còn mệt mỏi rồi sinh bệnh ra… Số của con là phải còn chinh chiến. Giặc phương Bắc thì đã tạm lui. Nhưng phía tây còn Lão Qua (tức Ai Lao). Phía nam còn Chiêm Thành, Chân Lạp, xa hơn tí nữa là Xiêm La… Họ còn quấy nhiễu, xâm lấn không để chúng ta yên đâu… Xa hơn nữa, thế nào giặc phương bắc cũng quay lại. Nhà Nguyên Mông thì trước sau sẽ đổ. Triều đại mới của Trung Hoa chắc chắn sẽ không để Đại Việt yên đâu. Số mệnh của sư phụ đã hoàn thành được tâm niệm của thầy sư phụ. Rèn dạy được ra con. Còn sứ mệnh của con, sư phụ muốn con phải làm được nhiều hơn sư phụ. Không chỉ đánh giặc cứu nước, cứu dân mà còn phải giữ được, truyền lại được ngọn lửa thượng võ ngàn năm của dân tộc. Không có truyền thống thượng võ đó thì không thể giữ nước được… Con có hiểu ý của sư phụ không?

- Thưa sư phụ! Con hiểu ạ! Nhưng ngặt một nỗi hiện giờ con vô cùng bận rộn việc triều đình, ngay đến cả con trai Phạm Ngộ, con cũng chỉ có thể cho nó học chữ chứ không thể luyện võ cho nó được.

- Sư phụ hiểu! Nhưng sư phụ có thúc giục con phải làm việc đó ngay bây giờ. Ngay lúc này đâu? Nhưng thời gian tới có điều kiện, con có thể bứt ra được thì hãy nhớ lời sư phụ căn dặn hôm nay. Người nối nghiệp không phải là con đẻ của con, là cháu nội, cháu ngoại của con. Mà là bất kỳ người dân Đại Việt nào, miễn là người đó có thiên bẩm, có lòng yêu nước, thương dân… như con.. Cây đao và cây cung con đang dùng, nhất thiết không phải vĩnh viễn để ở nhà con. Mà có thể trao cho “thiên hạ”. Để rồi nó sẽ tự tìm được chủ nhân xứng đáng phục vụ cho việc giữ nước sau này.

- Con xin ghi tâm, khắc cốt lời dạy của sư phụ.

Phạm Ngũ Lão có ngờ đâu, đây là lần cuối cùng được nghe lới chỉ giáo của sư phụ. Bởi hai năm sau, trong lúc Ngũ Lão dẫn quân đi dẹp loạn Ai Lao quấy nhiễu ở miền tây châu Ái, thì ở nhà sư phụ đã về với Phật. Trở về quê Ngũ Lão đã khóc thầy đến chảy cả máu mắt. Nỗi đau xé lòng, ngang với lần nghe tin người mẹ vô vàn kính yêu bị kẻ xấu sát hại năm nào.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 28.08.2018, 13:11
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Chim ưng và chàng đan sọt - Bùi Việt Sỹ - Điểm: 10
16

Ở trên đời thực quả có quá nhiều bất công, người tử tế, dù có may mắn thành đạt vẫn không tránh khỏi những nỗi niềm những bi kịch đau xót.

Sau chiến tranh một số cung điện, đền đài, dinh thự… của vua quan và các vương tôn công tử bị phá hoại hoàn toàn hoặc một phần. Việc xây dựng, sửa sang lại tốn rất nhiều sức dân. Nhân nạn đói 1290 - 1291, một số quan lại quý tộc như “bắt được vàng” với việc mua một “nhân mạng” chỉ mất có một đồng bạc. Do vậy có người một lúc đã mua được cả ngàn người, vừa bóc lột được sức lao động, vừa tăng đáng kể đội quân “gia binh” của mình. Riêng Trần Khánh Dư vốn có tiềm lực từ khi còn ở Vân Đồn thì làm bằng “cả hai tay”. Một tay tăng cường đội gia binh lên tới bốn ngàn người đông vào loại bậc nhất các vương thời bấy giờ. Tay thứ hai là tích tụ ruộng đất. Biết vùng nào đói to, Khánh Dư móc nối với các quan lại địa phương nhờ họ làm “cai thầu” mua “cả lố” liền bờ, liền thửa cả trăm mẫu một. Ruộng của Nhân Huệ vương thẳng cánh cò bay, có tới cả ba ngàn mẫu, hơn cả Hưng Đạo vương khi xưa chỉ có hai ngàn.

Số ruộng đất tích tụ được Trần Khánh Dư dùng vào việc canh tác một phần. Một phần lớn cải tạo thành các sân đua ngựa, như sân đua ở Thượng Hồng. Theo tính toán khá nhạy bén của Vương thì Thượng Hồng tưởng xa mà lại hóa gần. Chỉ cần qua đò Sông Cái, đi ngựa một thôi đường ngắn là tới nơi. Cái lợi của việc đua ngựa không chỉ nằm ở việc “bán vé” mà nguồn chính là các tổ chức “cá độ” cho các vương giả, cùng các con cháu “lắm của nhiều tiền” lại sẵn máu me ăn thua cờ bạc. Tuy nhiên công trình này của Nhân Huệ vương mất tới sáu bảy năm vẫn không thực hiện được vì vướng một số thửa ruộng nằm trong diện “xôi đỗ” mà chủ nhân của nó là những phú hộ có máu mặt ở địa phương, lại đã từng có đóng góp “sức của” vào ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông nên các quan từ cấp phủ, cấp huyện đến cấp hương cũng phải kiềng…

Thời điểm sau chiến tranh, đất đai bỏ hoang hóa cũng nhiều. Nhất là các vùng ven biển, ven đồi, ven rừng hay xa các thị trấn… Triều đình lại có chính sách cho khai khẩn các vùng hoang hóa, không phải nộp thuế trong vòng mười năm, kể từ khi bắt đầu canh tác được. Trần Khánh Dư là một con người lạ kỳ. Việc gì cũng làm tận sức. Phải nói là đánh giặc cũng tận lòng, được xếp vào loại “tứ trụ” có công. Việc làm ăn cũng say sưa không kém. Cái thú ăn chơi, gái gú cũng nức tiếng thời bấy giờ. Vương hơn hẳn các tay ăn chơi khác là có hẳn ba cô Tiểu Nga-la-tư. Chiến lợi phẩm “bắt được” từ chiến thắng Vân Đồn lẫy lừng. Cùng với giá một đồng bạc một gái đồng trinh thủa đói kém, nhà Nhân Huệ vương có tới dăm bảy trăm người, ở Phủ đệ tại Thăng Long và các tòa dinh thự tại các đảo lớn nhỏ tại Vân Đồn.

Áp dụng phương châm “đi buôn có bạn - đi bán có phường” Nhân Huệ vương liên kết với một số quan lại trong triều cùng có sở thích như vương. Người có tiền thì rủ cùng hùn hạp làm ăn. Người có vị trí thì đóng góp “cổ phần” bằng tiếng nói của mình để “tranh thủ ý kiến “ủng hộ” hoặc “cho qua” của Thượng hoàng hoặc vua.

Một trong số bạn “thâm giao” nhất của Trần Khánh Dư thời bấy giờ là Đỗ Khắc Chung, người đã dám “to gan” vác cái xác của “ngựa kéo xe muối” đến trại Ô Mã Nhi những ngày đầu quân Nguyên Mông ồ ạt tiến sát Thăng Long để dò xét và xin “giảng hòa”, nhờ thế mà được vua Trần Nhân Tôn thẳng một bước xếp vào loại “ngựa kỳ”. Rồi đến lần xa giá phải trốn chạy ra Tam Trí, Khắc Chung cũng bắt chước Phạm Ngũ Lão, đưa tấm lưng mảnh mai ra cõng vua Trần xuống thuyền chạy trốn vào Ái châu. Những ngày gian khổ đó, Khắc Chung luôn có mặt bên cạnh hai Thánh thượng, chịu khó “bưng bô, đổ vịt” mà lập nên công trạng lớn, được mang quốc tính từ họ Đỗ sang Trần thành Trần Khắc Chung và được phong làm Nhập nội hành khiển, được ở bên vua để giải quyết các việc “văn phòng” và tranh thủ tâu hót những việc hai Thánh thượng còn phân vân. Và cuối đời được phong chức Đại hành khiển, tước quan Nội hầu. Khắc Chung cũng dìu em là Đỗ Thiên Hứ vào triều. Được cử đi sứ sang nhà Nguyên. Khắc Chung còn liên kết với một số quan lại khác, sau này vu vạ cho Thượng tể Quốc Chẩn làm phản bị giết cả nhà hơn một trăm người.

Trần Khắc Chung có tài xiểm nịnh, uốn lưỡi từ trái sang phải hoặc từ phải sang trái hết sức tài tình. Dưới đây là một thí dụ nhỏ. Năm 1290, vua Trần Nhân Tông đích thân đem quân đi đánh Ai Lao. Khắc Chung can:

- Giặc Nguyên mới lui, vết thương chưa khỏi, sao có thể nổi binh?

Vua hơi giận vặn lại:

- Chỉ có lúc này mới đáng ra quân mà thôi. Vì là sau khi quân giặc lui rồi, thì ba cõi (chỉ Ai Lao, Chiêm Thành và Chân Lạp) tất cho là quân và ngựa của ta chết hại, thế không thể tránh khỏi được, sợ có sự khinh nhờn đối với ta. Cho nên cần đem đại quân đi đánh để thị uy.

Trần Khắc Chung thấy thế bèn đỡ lời.

- Nhà vua há chẳng biết làm khó nhọc dân là việc đáng lo, nhưng còn việc đáng lo hơn thế nữa. Đó là Thánh nhân lo xa bọn thần không thể nghĩ tới được.

Trở lại việc Trần Khánh Dư khai khẩn đất hoang ở Ý Yên (Nam Định), Trường Yên (Ninh Bình), Lý Nhân (Hà Nam)… Nguyên đất ở đây là vùng đầm lầy. Nhưng với nhãn quan làm ăn từ thời còn ở Vân Đồn, Khánh Dư biết nên cải tạo thành các hồ nuôi tôm thì rất đắc địa. Thời đó thương nhân Trung Quốc sang Đại Việt “ăn tôm” tươi, bằng cách chở cả thuyền lớn tôm cùng với nước, đem về bán lãi một gấp mười, số tôm ở Vân Đồn không đủ cung cấp cho thương lái Tầu. Bởi thế Khánh Dư mới tập hợp dân lưu tán lại, ứng cho ba đồng để khai khẩn một vuông tôm (rộng bằng một mẫu Bắc Bộ 360m2). Hẹn canh tác sau mười năm thì trả lại ao cho vương. Ba bốn năm khó nhọc ăn đói, mặc rét, thau chua, rửa mặn, nạo vét hút bùn các vuông tôm mới được hình thành. Nhưng Nhân Huệ vương đã nuốt lời hứa mới sau ba năm canh tác đã đến thu hồi, tước đoạt.

Dân hỏi tại sao lại có sự lật lọng thế, Vương đáp:

- Đất đai là quốc gia công thổ, vua ra lệnh thu hồi.

- Lệnh của vua đâu? - Dân hỏi lại.

- Ta là vương, ta là được thay mặt vua rồi, việc gì phải hỏi nữa.

Một số hộ dân quá uất ức, bị tước mất miếng cơm, manh áo, đẩy gia đình họ vào chỗ bần cùng đã vũ trang chống lại. Nhân Huệ vương cho gia binh đến đàn áp, nhưng ra lệnh “chỉ được đánh què, chứ không đánh chết”. Rồi dỡ nhà cửa, phá vườn tược của họ ở trên bờ, đuổi đi chỗ khác, đưa gia nhân của mình đến canh tác. Tiếng kêu dậy đất, đơn gửi đến quan huyện, quan phủ đều không có hồi âm vì phần sợ uy thế của vương, phần khác, mỗi vuông “giải tỏa” được, các quan đều được chia một đồng bạc. Dân tụ họp vài trăm người kéo lên kinh thành. Vua sai Trần Khắc Chung ra nhận đơn khiếu kiện. Sau vài ngày “thụ lí” Chung vào tâu với vua:

- Việc làm ăn chỉ có thỏa thuận miệng. Không có khế ước nên không biết “Ai đúng, ai sai. Ai phải, ai trái” thì làm sao khu xử được.

Vua sai Trần Thì Kiến, một môn hạ của Hưng Đạo Đại vương, lúc đó mới được bổ làm quan Kiểm pháp, nhậm chức Đại an phủ kinh sư. Thì Kiến tính người cương trực. Khi được Hưng Đạo vương tiến cử làm An phủ sứ Thiên Trường. Có người đem biếu mâm cỗ. Thì Kiến hỏi vì cớ gì mà biếu, người ấy nói:

- Vì ở gần trụ sở cho nên đem biếu. Chứ không có kêu xin gì cả.

Mấy ngày sau thì đến kêu xin việc tranh tụng ruộng đất. Thì Kiến móc họng mửa ra, rồi sai lính đuổi về. Rồi được thăng làm quan Kiểm pháp. Mỗi khi có việc kiện, lấy lý mà bẻ, việc đến thì dùng phép đối phó. Mọi người đều coi là người giỏi xử đoán kiện tụng.

Trần Thì Kiến nhận đơn của dân ở các phủ Lý Nhân, Trường Yên và Ý Yên. Thân đến tận nơi xem xét cặn kẽ sự việc. Không chỉ đi một lần, mà đi tới ba, bốn lần. Sau khi nắm rõ vụ việc, Trần Thì Kiến thấy dân kiện là đúng nên khi khai triều, đem sự việc tâu lên vua. Lúc đó Khánh Dư mới ở bãi Tám (có lẽ là vùng ven biển Hải Phòng bây giờ) về kinh thành. Vua hỏi Khánh Dư: “Vì sao lại có chuyện tiền hậu bất nhất như thế, để dân kiện là đúng hay sai?”.

Khánh Dư thản nhiên bước ra tâu rằng:

- Quan lại, quý tộc là chim ưng. Quân dân là con vịt. Bởi thế đem vịt mà nuôi chim ưng là lẽ tự nhiên. Có gì mà lạ!

Vua giận lắm, định mắng lại thì Trần Khắc Chung đã đưa mắt cho Khánh Dư. Dư viện cớ đau bụng ra ngoài.

Đó là năm 1296, lúc đó Phạm Ngũ Lão đã là Điện súy, chỉ huy quân Thánh dực. Là người duy nhất ở hàng quan võ lên triều không phải cởi gươm. Thấy Khánh Dư nói như vậy thì lửa giận bốc lên đùng đùng. Bao nhiêu sự hy sinh xương máu của dân chúng qua các cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, cùng với sự đói khổ lầm than đến cùng cực vì nạn tham quan ô lại, lẫn thời tiết khắc nghiệt gây mất mùa; ấy vậy mà Khánh Dư lại “tuyên bố” đến ghê sợ như vậy đã khiến Ngũ Lão không kìm nổi, đuổi theo Khánh Dư, tuốt gươm ra định chém. Nguyễn Chế Nghĩa lúc đó cũng đang là Đô tướng, Phó chỉ huy quân Thánh dực thấy vậy vội đuổi theo, ôm chặt người Ngũ Lão lại và van vỉ:

- Hiền huynh, đừng xúc động quá! Việc này không thể nóng giận mà giải quyết được.

Phạm Ngũ Lão ấn mạnh gươm vào vỏ rồi nói:

- Đệ chịu đựng được thì ở lại! Huynh phải từ quan thôi!

Vua Trần Anh Tông (lên ngôi năm 1293) vốn là vị vua thông minh. Biết tất cả việc làm sai trái của Trần Khánh Dư. Nhưng vì Khánh Dư là đại công thần trong cả ba lần chống Nguyên Mông nên không thể tùy tiện trị tội được. Anh Tông bèn bàn với các triều thần là Trần Thì Kiến, Đoàn Nhữ Hài và Trần Khắc Chung. Để xoa dịu dư luận cũng như kiềm chế bớt sự tác oai, tác quái của một số quan lại biến chất nên đã đề ra sắc luật mới là CHO NHỮNG NGƯỜI ĐÃ BÁN THÂN HOẶC BÁN RUỘNG TRONG VÒNG NĂM NĂM CÓ THỂ CHUỘC ĐƯỢC THÂN VÀ ĐƯỢC RUỘNG. Quá năm năm thì thôi. Riêng các vùng nuôi tôm của Trần Khánh Dư có chỉ dụ riêng, cho dân khai phá thuê được phép sử dụng thêm hai năm nữa.

Trần Khánh Dư sau lần ấy, sợ vua quở trách nên rất ít khi vào triều. Nếu có vào cũng dự không quá bốn ngày. Mọi tình hình Khánh Dư đều nắm qua Trần Khắc Chung, tất nhiên là có dùng tiền bạc để “hối lộ” nhân vật này. Trần Khánh Dư và Trần Khắc Chung trở thành cặp bài trùng trong các vụ việc làm ăn, chạy chức, chạy quyền, chạy tiền, chạy tội. Bằng cách đó Khắc Chung đã đưa được em là Đô Thiên Hứ vào làm Hành khiển trong cung, trở thành bàn tay nối dài nữa cho Trần Khánh Dư.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 28.08.2018, 13:12
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Chim ưng và chàng đan sọt - Bùi Việt Sỹ - Điểm: 10
17

Năm 1297, mùa hạ, tháng năm quân Ai Lao với một đàn voi dữ xâm vào vùng thượng nguồn sông Mã của Ái Châu. Chúng quấy phá vườn tược, hoa mầu, giết hại dân chúng rất nhiều. Nơi là thánh địa của hai vua Trần giai đoạn chống Nguyên Mông lần hai bị đe dọa nghiêm trọng. Quan trấn thủ Ái Châu không địch nổi sự hung hãn của giặc, dâng biểu cầu cứu về triều. Anh Tông họp bàn với các quần thần. Trần Khắc Chung bàn riêng với vua:

- Giặc Ai Lao kỳ này rất nguy hiểm. Chỉ có cử Phạm Ngũ Lão đi đánh dẹp mới khuất phục bọn chúng được. Năm 1294 chính Ngũ Lão đánh chúng phải chạy tan tác ở Hoan Châu, bắt được voi ngựa rất nhiều… Ngũ Lão là quan võ. Ngồi lâu trong triều chân tay bứt rứt, ngứa ngáy. Đợt vừa rồi không có Nguyễn Chế Nghĩa can ngăn kịp thời thì không biết chuyện gì đã xảy ra với Nhân Huệ vương. Ý đồ của Khắc Chung và Khánh Dư là muốn đẩy Ngũ Lão vào chốn hiểm nguy, nếu thắng được Ai Lao cũng chỉ là việc nhỏ. Mà lỡ thua, tử trận thì bằng “nhổ được cái gai trong mắt”. Kế đó được Khánh Dư cười (tất nhiên có kèm theo một bọc tiền) và gọi là kế MƯỢN DAO GIẾT NGƯỜI.

- Việc này để trẫm bàn với Ngũ Lão đã - Vua Anh Tông nói - Dù sao chức Điện súy là rất quan trọng.

Trần Thì Kiến biết Phạm Ngũ Lão buồn bèn đến nhà chơi.

Thì Kiến ngạc nhiên thấy phủ đệ của Ngũ Lão quá sơ sài. Tiếp khách thì trải chiếu ngồi dưới nền gạch bát. Chỉ có hai phòng gác trổ ra để một làm phòng thờ và một làm phòng đọc sách gọi là tương đối tươm tất.

Triều chính hiện giờ rất còn thịnh. Ấy là nhờ vào Đức vua anh minh. Các tướng tài thời chống Nguyên Mông vẫn còn là trụ cột. Tuy nhiên các loại “sâu mọt” đang liên kết lại với nhau để đục khoét, kiếm chác. - Thì Kiến nói - Đệ đi các nơi đều nghe nói: thứ nhất quan hệ (chỉ sự kết bè, kết cánh với nhau; thứ nhì tiền tệ (ý nói việc gì cũng có thể dùng tiền để mua bán được); thứ ba là hậu duệ (chỉ con cháu, họ hàng của lớp vương hầu, quý tộc bấy giờ). Đây thực sự là quốc nạn, một thứ NỘI XÂM gặm mòn đất nước.

- Thế ngươi đã báo với Quốc công Tiết chế chưa? - Ngũ Lão hỏi lại.

- Báo rồi! Đệ với Đoàn Nhữ Hài, Trương Hán Siêu lên gặp Đại vương ở Vạn Kiếp…

- Đại vương bảo sao - Ngũ Lão sốt ruột hỏi lại.

- Đại vương chỉ thở dài, không nói gì.

- Huynh thấy chán nản lắm! Cũng định lên thăm Đại vương một ngày gần đây. - Ngũ Lão đáp.

Trần Thì Kiến vừa về thì có trát của vua mời vào gặp riêng.

- Trẫm định cử Điện súy đi dẹp loạn Ai Lao ở bắc Ái châu - Mở đầu Anh Tông nói - song muốn xem ý của Điện súy thế nào? Vì việc quản quân cấm vệ cũng là điều tối hệ trọng. Nếu Điện súy không đi, trẫm sẽ cử tướng khác.

- Quân Ai Lao nhiều lần khinh nhờn vì cậy có nhiều voi dữ. Kỳ này nếu Thánh thượng cử mạt tướng đi - Ngũ Lão đáp. - Xin cho quan coi quân khí chế cho thật nhiều pháo đùng và cấp cho thật nhiều cung tên. Còn việc ai quản quân cấm vệ đã có Hầu gia Đỗ Hành và Đô tướng Nguyễn Chế Nghĩa đều là những người tài giỏi cẩn trọng, nên không có gì phải lưu tâm cả… Mạt tướng có một việc không biết có nên bẩm với Thánh thượng hay không?

- Điện súy có gì cứ nói! Thượng hoàng Trần Nhân Tông cũng rất yêu quý Điện súy. Có lần Người đã than, nếu có Điện súy đi hộ giá lần ấy thì chưa chắc Trần Bình Trọng đã phải bỏ mình.

- Thượng hoàng quá khen thôi. “Chứ tài đức của mạt tướng cũng chẳng có gì đáng phải để ý… Còn chuyện mạt tướng muốn tâu với Thánh thượng hôm nay là… mạt tướng tuy chưa già nhưng đã cảm thấy mỏi mệt… không hẳn là muốn từ quan… Mà muốn Thánh thượng bố trí cho việc… có thời gian rảnh rỗi một chút… để còn thực hiện di nguyện của sư phụ.

- Được rồi! Trẫm ghi nhớ lời thỉnh này của Điện súy. Sau lần này về… trẫm sẽ tính với Điện súy sau.

Ngũ Lão từ tạ ra về. Phóng ngựa lên Vạn Kiếp gặp Hưng Đạo Đại vương.

Vừa gặp Người. Ngũ Lão đã quỳ xuống sụp lạy:

- Ngũ Lão ít lên thăm… Mong Đại vương xá tội cho.

Hưng Đạo Đại vương vuốt chòm râu đã lốm đốm bạc nói:

- Con giờ giữ trọng trách trong triều. Làm gì có dư giả thời giờ mà đi đây đi đó được… Nhưng mà cái việc con quá nóng nảy, toan chém Nhân Huệ vương, theo cha là nên kiềm chế… phải kiềm chế. Không phải giữ cho mình mà là giữ cho triều đình, tức là giữ cho nước.

- Cha đã dạy thế. Con xin tạ tội trước cha… Vì Ngũ Lão này trước sau vẫn chỉ là gã nhà quê đan sọt, không thể gạt bỏ bản tính lỗ mãng được…

- Con nói lại càng sai rồi… Vả lại sự việc nói cho cùng vẫn chưa xảy ra.

- Con nghĩ việc làm của Nhân Huệ vương đối với dân chúng, không phải việc này mà nhiều, rất nhiều việc khác nữa như mua gia nô, sắm ruộng đất nhân thiên tai, mất mùa… thực chất là một tội ác với dân chúng. Mà đã là tội ác… thì không thể làm ngơ mãi được!

- Con ơi! Con đã đọc muôn vàn cuốn sách. Hẳn có nghe nói “ném chuột còn phải giữ bình quý” sao? Nhân Huệ vương tuy là có tội với dân, nhưng trước đây đã có công với nước (tức là có công với dân)… Bởi thế không thể thẳng tay như các kẻ khác được. Vả lại nước ta, từ ngàn năm nay đến giờ… Vẫn vậy. Việc chống xâm lược phương bắc bao giờ cũng là việc hệ trọng nhất, việc được đặt lên hàng đầu. Rồi lịch sử sau này, người ta chỉ thấy nổi rõ việc Nhân Huệ vương đốt cháy tan tành bảy mươi vạn thạch lương của Nguyên Mông, mà thấy mờ nhạt chuyện bóc lột, ức hiếp dân chúng. Đó là nỗi đau của người dân Đại Việt mà có lần Quốc Tảng cũng đã nói với cha, nhưng cha không tài nào an ủi nó được.

Phạm Ngũ Lão buồn rầu đáp lại một tiếng “Vâng” - Rồi mãi một lúc sau mới đề đạt:

- Cha ạ! Con có việc này muốn lên nhờ cha giúp đây!

- Việc gì vậy, con cứ nói. Cha con với nhau có gì mà ngại!

- Chả là Thánh thượng sai con đi dẹp loạn Ai Lao ở bắc Ái châu! Con muốn xin cha cho Dã Tượng đi cùng.

- À, tưởng chuyện gì, chứ việc ấy cha bằng lòng ngay. Và chắc Dã Tượng cũng thích thú nữa. Vậy cha sẽ giao cho con Dã Tượng làm tùy tướng, để con sai bảo.

- Ấy chết! Nếu thế thì con không dám nhận đâu! Dã Tượng là anh em với con làm tùy tướng cho con sao tiện. Nếu cha đồng ý để Dã Tượng làm Phó tướng… con mới đồng ý.

- Điện súy vẫn nghĩ đến tình anh em xưa… quả rất quý. - Hưng Đạo Đại vương nói vui.

- Cha giễu con thế làm con tổn thọ mất!

Thế là hai cha con cùng cười phá lên…

Ngũ Lão kể cho Đại vương việc sư phụ của mình trăng trối phải tìm được “truyền nhân” để giữ cho được ngọn lửa truyền thống thượng võ, nhằm chống lại sự xâm lược, bành trướng của giặc phương bắc sau này. Hưng Đạo Đại vương nói:

- Sư phụ của con thực sự là Đại anh hùng. Đại anh hùng giấu mặt. Người nghĩ xa như vậy là rất đúng. Cha cũng đã tính rồi nhà Nguyên giỏi lắm còn đứng được khoảng bốn chục năm nữa là cùng, bây giờ đã bắt đầu loạn rồi. Nhà nước mới nào lên cầm quyền ở phương Bắc cũng đều nghĩ tới việc xâm chiếm Đại Việt. Để làm bàn đạp đánh xuống Chiêm Thành, Chân Lạp. Phía tây thì chiếm Ai Lao rồi Xiêm La. Và còn đi xa hơn nữa. Nhà Nguyên cũng đã tính như vậy nên mới phong cho Thái tử Thoát Hoan làm Trấn Nam vương là với ý đồ đó. Nhưng bị Đại Việt ta chặn đứng được.

- Con thật là người có phúc lớn nên mới gặp được sư phụ con và cha. - Ngũ Lão nói.

- Con chỉ mới nói đúng một nửa thôi. Phải nói thêm là sư phụ con có cơ duyên lớn mới phát hiện ra con và truyền dạy võ thuật thượng đẳng cho con. Còn cha cũng có duyên để rèn giũa, dạy thêm cho con về binh pháp… Do đó việc sư phụ dặn con như con vừa nói là rất đúng. Đánh mấy sự quấy nhiễu của Ai Lao, Chiêm Thành chỉ là việc gãi mấy nốt ghẻ bên ngoài. Phải chuẩn bị cho lâu dài để chống giặc phương bắc mới là chuyện của gan một của Đại Việt. Cha nghĩ đất Hoan - Ái thời nào cũng là đất rường cột của quốc gia. Con có thể vào đó để tìm “truyền nhân”. Tìm được dăm bảy người thì càng tốt. Số này phải tiếp tục làm công việc ấy cho thế hệ sau, như là một cuộc chạy tiếp sức vậy.

- Con xin ghi nhớ lời cha. Sau khi dẹp Ai Lao xong, trở về con sẽ bắt tay ngay vào việc đó.

Phạm Ngũ Lão tâu với vua xin ba vạn quân và đề cử bổ nhiệm Dã Tượng làm Phó tướng.

- Sao không đốc xuất năm vạn cho chắc thắng - Vua Anh Tông quan tâm hỏi lại.

- Dạ, bẩm! Quân chỉ cốt tinh chứ không cốt đông.

- Thôi được tùy Điện súy! Ngoài ra có cần lấy ai làm tiên phong nữa không?

- Dạ, bẩm! Dã Tượng là Phó tướng kiêm tiên phong là đủ ạ!

Mùa thu, tháng Tám Phạm Ngũ Lão làm Chánh tướng. Dã tượng làm Phó kiêm tiên phong dẫn ba vạn quân vào miền tây Ái châu. Quân Ai Lao đang hoành hành dữ dội ở vùng thượng nguồn sông Mã nhờ vào đội tượng binh năm chục con, trong đó có một con voi trắng khổng lồ vô cùng hung hãn.

Biết Phạm Ngũ Lão đem quân đến, tướng Ai Lao sai rào giậu trại hết sức chắc chắn rồi dẫn đội tượng binh ra nghênh chiến. Ngũ Lão sai quân cung nỏ bắn chặn quyết liệt khiến chúng không dám xông thẳng vào quân ta, mà chỉ ở phía quân Ai Lao, múa vòi và đú[5] lên các tiếng ghê rợn. Ngũ Lão ghé vào tai Dã Tượng:

- Đệ ra bắt sống con voi trắng về đây.

Dã Tượng vâng lệnh cưỡi ngựa xông lên, bên lưng giắt hai búa gỗ lim lớn. Tay cầm một sợi dây mây rất dẻo và vót nhọn đầu. Không chờ lệnh tướng Ai Lao, con voi trắng hung hãn xông ra. Ngựa và voi tiếp giáp nhau. Dã Tượng tung người nhảy lên cổ voi, thả cho ngựa chạy về bên trận Đại Việt. Con voi tung vòi lên, định cuốn Dã Tượng quật xuống đất rồi dùng chân di chết. Chỉ chờ có thế, Dã Tượng đã trong chớp mắt luồn sợi dây mây qua lỗ mũi rồi quấn luôn mấy vòng quanh cổ voi. Con voi bị “trói” vòi, chạy lồng lên để quật Dã Tượng xuống. Dã Tượng quắp chặt hai chân vào cổ voi, hai tay rút hai búa gỗ lim bên sườn nện tới tấp vào hai bên mang tai con quái vật. Tướng Ai Lao thúc năm chục con voi ra trợ chiến. Phạm Ngũ Lão cho nổ pháo đùng đinh tai nhức óc, lửa xanh, lửa đỏ bắn tóe ra xung quanh khiến lũ voi khiếp sợ co vòi lùi lại.

Sau một hồi đập đã tay, con voi trắng thực sự bị choáng. Đến lúc đó Dã Tượng mới giắt hai chiếc búa gỗ vào sườn, vừa xoa hai bàn tay vào vùng mang tai vừa cúi xuống thủ thỉ mấy câu gì, con voi trắng có vẻ ưng thuận. Dã Tượng quát một câu gì đó, con voi trắng vội quỳ hai chân trước xuống, xin hàng.

Ngũ Lão thúc trống liên hồi thúc kỵ binh Đại Việt tràn sang. Quân Ai Lao lui về, đóng chặt cửa trại cố thủ, không dám ra dánh.

Dã Tượng dong con voi trắng về, tháo sợi dây mây luồn qua lỗ mũi ở vòi nó ra. Rồi sai lính lôi ra hai vác mía cho nó ăn. Lúc đầu nó còn đưa mắt nhìn Dã Tượng như muốn hỏi xem Dã Tượng có đồng ý không. Dã Tượng gật đầu. Con voi trắng từ tốn dùng vòi quấn từng cây mía rất bụ, đã đến thời cho nước ngọt đút lên miệng, ăn ngon lành. Mọi người kể cả quân Ai Lao đều kinh sợ trước tài thuần dưỡng voi dữ của Dã Tượng.

Hôm sau Ngũ Lão cho vây ba cửa đông, nam, bắc của giặc. Riêng cửa tây thì bỏ ngỏ. Pháo đùng nổ ròn rã, đinh tai, nhức óc. Quân lính dùng búa bổ bứt tung các cửa trại. Rồi kỵ binh và bộ binh xông vào. Tướng Ai Lao biết không địch nổi, bèn dẫn quân tháo chạy ra cửa tây. Chạy chừng mười dặm, bỗng thấy một loạt pháo nổ vang. Khói pháo vừa tan đã thấy Dã Tượng cầm đao lớn, hiên ngang ngồi trên cổ voi trắng, phía sau là năm ngàn quân kỵ, cung tên, giáo mác, đao kiếm sát khí đằng đằng. Tướng Ai Lao quay đầu dẫn quân chạy lộn lại, vừa mới được hai dặm đã thấy Ngũ Lão oai phong lẫm liệt trên mình con ngựa ô đen bóng. Quân lính phía sau cũng đằng đằng sát khí, luống cuống chưa biết xử trí thế nào thì thấy Ngũ Lão hỏi:

- Tướng Ai Lao, không xuống voi hàng đi! Còn chờ đến lúc nào nữa. Hàng thì sống! Chống thì chết.

Quân Đại Việt cũng hô lớn: “Hàng thì sống! Chống thì chết!” Biết không có đường nào khác tướng Ai Lao xuống voi, giơ đao lên trời xin hàng.

Một toán quân Đại Việt đã lọt vào chiếm trại từ lúc nào. Phạm Ngũ Lão oai vệ ngồi trên chiếc ghế bành lớn. Phía sau Dã Tượng cầm đao “đứng hầu”. Quân lính áp giải tướng Ai Lao vào. Ngũ Lão trông thấy vội đứng bật dậy, rút con dao găm bên sườn ra, cắt dây trói cho tướng Ai Lao ra. Rồi sai lính đem ghế và bầy rượu cùng ngồi uống và hàn huyên.

Ngũ Lão hỏi:

- Quân Ai Lao có mạnh bằng quân Nguyên Mông không?

- Dạ làm sao mà so với binh mã Thiên triều ạ!

- Ấy thế mà rợ Hồ đã bại trận ba lần trước Đại Việt. Vậy cớ gì mà Ai Lao lại cứ sang quấy rối Đại Việt vậy?

Tướng Ai Lao ấp úng. Ngũ Lão phải gặng hỏi mãi mới đáp:

- Dạ! Là do Xiêm La xui ạ!

- Xui thế nào?

- Sứ giả Xiêm La sang bảo Đại Việt có rất nhiều công chúa đẹp hỏi chắc là họ không gả đâu! Mà Ai Lao lại có đội tượng binh hùng mạnh thì cứ đem sang mà quấy nhiễu. Muốn được yên ổn thì phải gả công chúa cho.

- Thế ngươi có biết thâm ý của người Xiêm La là thế nào không?

- Dạ, mạt tướng chỉ nghe theo lệnh vua sai, làm sao mà biết được!

- Chính vì thế mà ta mới “mời” tướng quân cùng ngồi ở đây uống rượu để giảng giải cho tướng quân nghe. Sau đó trở về tướng quân nói lại thiệt hơn cho vua Ai Lao nghe. Vốn là Xiêm La từ xưa đã rất thèm khát vùng vựa lúa phì nhiêu của Ai Lao ở phía Tây Bắc, bên bờ Mê Kông. Xiêm La xui Ai Lao chiến tranh với Đại Việt để Ai Lao hao người, tốn của. Sau yếu đi. Lúc đó Xiêm La mới có cơ hội làm được việc đó.

- Quả thật là vua tôi chúng tôi không biết gì về thâm ý này của Xiêm La ạ! Bây giờ Điện súy nói tôi mới rõ. Nếu Điện súy tha về, nhất định tôi sẽ trình bầy hơn thiệt ý của Điện súy với vua của tôi.

- Để tỏ sự đại lượng của Đại Việt, ta sẽ tha cho tướng quân cùng các quân sĩ được trở về Ai Lao. Không giữ lại một ai. Riêng đội tượng binh thì phải giữ lại. Không có vua Ai Lao lại dùng chúng để tiếp tục quấy nhiễu Đại Việt lần nữa.

- Nếu được như vậy thì bại tướng đây, xin quỳ lạy Điện súy ba lạy. - Nói rồi tướng Ai Lao đứng dậy. Nhưng Ngũ Lão đã đỡ lại và bảo:

- Tướng quân không phải làm vậy! Cái cốt yếu là phải giữ chữ tín với nhau là được.

- Tôi xin thề với Điện súy là lần sau vua có sai tôi sang quấy nhiễu Đại Việt, dù có bị chém đầu tôi cũng không đi.

- Tướng quân đã nói vậy là đủ rồi.

Phạm Ngũ Lão tha hết cho quân Ai Lao về, chỉ giữ lại đội tượng binh đem về kinh thành. Riêng con voi trắng khi ra gần đến cửa rừng già thì Dã Tượng bảo với nó:

- Ngươi nguyên là thú hoang dã. Vậy hãy trở về với đại ngàn đi.

Con voi trắng dùng dằng không nghe. Dã Tượng bảo:

- Dù có về Thăng Long, người cũng không được ở cùng ta đâu. Ngươi là “báu vật” thế này, sứ Nguyên biết thế nào cũng đòi Đại Việt phải đem cống. Sang đẩy tất sẽ bị xích chân vào cột đá trong vườn thú, cho mọi người chiêm ngưỡng, về với đại ngàn sống đời tự do có sướng hơn không?

Con voi trắng khổng lồ đú lên một tiếng lớn, rồi quỳ hai chân trước, phủ phục trước mặt Dã Tượng. Tự nhiên từ hai đôi mắt nhỏ của nó chảy ra hai dòng nước mắt.

Dã Tượng dặn thêm:

- Về với đại ngàn, ngươi chớ có cậy sức mạnh mà ăn hiếp đồng loại. Nhất là việc tranh giành voi cái nhé!

Nó lại đú lên một tiếng như đáp lại lời căn dặn chí tình, chí cốt ấy.

Đoàn quân đi khuất rồi, mà con voi trắng vẫn phủ phục nơi bìa rừng. Mãi một lúc lâu sau, Dã Tượng lại nghe thấy ba tiếng đú cực lớn của nó. Dã Tượng biết đó là lời chào từ biệt, và đến lúc đó nó mới trở vào rừng.

Vua Anh Tông thân ra cửa nam đón đoàn quân chiến thắng của Phạm Ngũ Lão và Dã Tượng trở về. Điện súy kể hết lại mọi chuyện đã nói với tướng Ai Lao cho Anh Tông nghe. Anh Tông cảm động lắm nói:

- Điện súy quả là rường cột của quốc gia. Vũ đã giỏi mà văn (ý nói là trí) cũng tài.

Và để tìm mọi cách phủ dụ Phạm Ngũ Lão, một năm rưỡi sau, khi con gái của Ngũ Lão là Phạm Thị tự là Tĩnh Huệ, vừa tròn mười sáu tuổi, vua Anh Tông đã sai người mai mối, cưới làm thứ phi.

Mười năm sau vào năm 1308 vì Phạm Thị không có con, nên xin với vua được ra ngoài để đi tu. Cũng vì nể trọng Phạm Ngũ Lão nên được vua Anh Tông đồng ý ngay. Chứ nhiều trường hợp khác đành sống lủi thủi một mình suốt đời trong cung cấm. Phạm Thị về làng Phù Ủng, một hôm lên chùa Bảo Sơn thấy chùa đổ nát, tiêu điều thì than: “Chùa này là nơi tiên quân ta (chỉ Phạm Ngũ Lão) từng luyện tập võ nghệ mà có được ngày hôm nay. Ta về đây tu sửa lại chùa, có thể thờ vua, lại có thể thờ gia tiên và sư phụ thay cho cha ta, trung hiếu vẹn cả đôi đường, đó cũng là sở nguyện của ta”. Bèn bán hết tư trang, dồn tiền sửa lại chùa, làm điện ở phía bên đông chùa, lại làm nhà riêng ở đằng sau để làm nơi thờ cúng tổ tiên. Khi làm xong Thượng hoàng ngự đến xem, ban cho biển ngạch để tỏ lòng ưng ý.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 28.08.2018, 13:14
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5387 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Chim ưng và chàng đan sọt - Bùi Việt Sỹ - Điểm: 10
18

Lại nói Trần Khánh Dư, sau vụ tuyên bố xanh rờn trong triều “quan lại, quý tộc là chim ưng, còn lính và dân là con vịt. Việc dùng vịt để nuôi chim ưng là lẽ tự nhiên, việc gì phải bàn cãi”; thấy vua giận lắm nên Trần Khắc Chung “xui” nên ít vào triều. Khánh Dư tập trung thì giờ vào vui chơi, săn bắn và quyết tâm hoàn thành sân đua ngựa ở bên Thượng Hồng. Tuy nhiên như trên đã nói công việc bị ngưng trệ vì có một số nhà phú ông kiên quyết không chịu bán ruộng, đặc biệt có nhà của chị Cả Lưu, cả trăm mẫu ruộng vào loại “thượng đẳng điền” nằm lọt ở giữa trường đua, kiên quyết không bán, dù trả giá rất cao khiến Khánh Dư rất buồn bực. Một hôm thấy một vị thầy Tầu đi ngang qua Phủ liền gọi vào bói một quẻ. Thầy Tầu gieo quẻ xong, cắp tráp đi ngay, không nói gì. Khánh Dư cho người đuổi theo bắt lại:

- Tại sao lại dám vô lễ bỏ đi như vậy? - Khánh Dư quát.

- Dạ! Bẩm tôi không dám nói.

- Ta đây từng vào sống ra chết lập được công to. Bĩ cực phải đi bán than bữa no, bữa đói đã từng trải qua. Có sự gì nữa cơ chứ mà ngươi không dám nói?

- Dạ! Bẩm quả thật tôi không dám ạ!

- Ta cho phép lành dữ thế nào ta cũng trả mười quan tiền.

- Thế thì tôi chỉ nói một câu thôi. Nhà sắp có đại tang.

Khánh Dư nổi giận nói:

- Cha mẹ ta khuất núi đã lâu. Vợ con không có. Ta thì còn lâu mới chết… Đúng là đồ “bói ra ma, quét nhà ra rác”. Rồi sai người nhà đuổi thầy bói đó, không trả đồng nào như đã hứa.

Trở lại việc làm trường đua ngựa, Trần Khắc Chung hiến kế:

- Ruộng của chúng nó ở giữa, đường mương dẫn nước vào, huynh cứ cho lính lấp kín lại. Đường ra vào cũng rào kín lại. Xem chúng nó có canh tác nổi không? Lúc đó phải bán vội giá rẻ là đằng khác.

Khánh Dư nghe theo, sai lính cứ như lời Khắc Chung mà làm.

Lại nói đứa con trai chị Cả Lưu, năm đó vừa tròn mười bẩy. “Nữ thập tam nam thập lục”, năm thằng bé mười sáu chị lấy cho nó cô vợ theo câu ca truyền thống “gái hơn hai, trai hơn một”. Con dâu chị mười tám, ngực nở, hông to, lưng ong thắt đáy, đúng là tướng mắn đẻ. Cưới được đúng “chín tháng, mười ngày” thì “tòi” ra một thằng cháu nội, giống bố như đúc. Đúng là giỏ nhà ai, quai nhà nấy. Chị tuyên bố:

- Con độc, cháu phải đàn. Con cứ đẻ cho bà chục đứa, bà nuôi được tất. Cô con dâu đỏ chín cả mặt.

Thời “ông ngoại” còn làm “quan huyện giả” có lần từ trên phủ về, giữa đường gặp một kẻ trần truồng như nhộng toàn thân máu me. Dương vật bị cắt đút vào miệng. Biết là lũ “giang hồ trả thù ân oán”, ông đã định bỏ mặc. Nhưng rồi lại nghĩ “cứu một mạng người, bằng xây bẩy tòa tháp” nên xuống kiệu đi bộ, sai người nhà khiêng hắn đến nhà quan đại phu (lương y). Chạy chữa suốt ba tháng trời, hết hơn trăm bạc, hắn mới khỏe lại. Ông gọi hắn vào buồng bảo:

- Bây giờ ngươi đã “trơn lông đỏ da” có thể ra ngoài vẫy vùng, báo ân, báo oán được rồi!

Hắn sụp lạy dưới chân ông ngoại, dùng răng cắn chặt lấy gấu quần ông, nước mắt chứa chan nói:

- Con sinh ra không biết cha mẹ là ai… Lớn lên sống đời giang hồ vất vưởng, gây ra tội ác cũng nhiều và ác báo cũng lắm. “Oan oan tương báo” biết đến bao giờ cho xong. Nay con được ông ra tay độ thế, cứu mạng. Con xin ở lại làm thân chó ngựa để đền đáp. Nếu ăn ở hai lòng thì trời tru, đất diệt. Chết không có chỗ chôn.

Thấy hắn thực lòng, ông đồng ý đặt tên cho hắn là “Hoàn Lương”. Sau thấy không tiện đổi thành Hoàng Lương. Hoàng Lương có chút ít võ nghệ, có tài sử dụng một thanh “quất đồng” (roi đồng) tương đối khá. Lúc đó con chị Cả Lưu cũng đã đủ mười lăm, mười sáu nên bảo Hoàng Lương:

- Cậu dạy cho cháu một vài miếng… để có lúc phải phòng thân.

Hoàng Lương vâng lời, dạy cho cậu cả quyền cước và bài roi mười tám đường. Với võ nghệ ấy, chưa thể làm được nên “cơm cháo gì”, nhưng cũng có thể đánh được vài ba tên lính. Bởi thế khi quân của Trần Khánh Dư đến lấp mương dẫn nước, nó đã dẫn gia nhân ra ngăn cản. Nó nói rất có lý:

- Ruộng là ruộng của Nhân Huệ vương thật. Nhưng mương nước là của chung, của hương của làng. Các anh không có quyền lấp.

Rồi nó sai gia nhân khai trở lại. Hai bên xô xát, nó rút thanh quất bằng đồng ở sau vai, vung mấy đường khiến ba tên lính bị thương, đứa vỡ đầu chảy máu, đứa gãy tay.

Trần Khánh Dư hay tin thì lửa giận bốc lên ngùn ngụt. Có lẽ chưa bao giờ Khánh Dư thấy “bức bối” như lúc này liền sai lính dắt con ngựa trắng ra, con chim ưng cũng đi theo, đậu trên vai.

Khánh Dư xuống ngựa quát:

- Đứa nào dám đánh lính của bản vương bị thương!

Lúc này chị Cả Lưu và Hoàng Lương có việc không có nhà. Cậu cả dẫn gia nhân ra quát lại:

- Chính là ta. Ông có bản lĩnh gì thì hãy giở ra đi!

Trần Khánh Dư điên tiết, rút thanh trường kiếm ra, cũng định chỉ “cảnh cáo” cho hắn một mũi vào vai, vào đùi, hay chỗ nào đó không thể mất mạng được. Nhưng chàng thanh niên quá hăng lại không lượng được sức mình, lăn xả vào vung quất đánh. Khánh Dư né qua mặt, đưa một đường kiếm thẳng. Cậu thanh niên không tránh được, vô tình lưỡi kiếm xuyên qua ngực, gục xuống chết liền. Khánh Dư cũng sợ hãi vội nhảy vọt lên con ngựa trắng phi về kinh thành.

Chiều chị Cả Lưu về, hay tin ngất lịm đi. Phải mất cả khắc giờ đổ thuốc và lay gọi chị mới hồi tỉnh. Khi được biết kẻ giết con mình chân dài, cưỡi ngựa trắng trên vai có con chim ưng đậu thì chị đã nấc lên:

- Trời quả báo! Trời quả báo đây!…

Chị nói mà cũng không hiểu được là nói ai quả báo ai. Mọi người tất nhiên là càng không hiểu. Chị vào buồng lấy ra một vuông vải, trên đó có vẻ hình một người chân dài, cưỡi ngựa trắng, đầu đội mũ có gắn lông công, và trên vai có một con chim ưng oai vệ đậu. Vốn là bức vẽ Khánh Dư bỏ quên trên thuyền khi bán cả than củi và thuyền cho chị gần hai mươi năm trước. Chị giữ lại bức vẽ dưới đáy rương (hòm) với ý định lúc trăng trối nếu thằng con có hỏi bố nó là ai, thì đưa bức tranh ra. Nhưng sự thể bây giờ lại hóa ra thế này.

Chị bèn tập hợp mấy chục gia nhân và thuê bà con lối xóm khiêng quan tài đứa con trai lên kinh thành. Phía trước quan tài có treo vuông vải có hình vẽ đó. Có người biết chỉ cho chị, người trong tranh chính là Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư. Đoàn người khiêng quan tài rầm rập kéo đến phủ Nhân Huệ vương. Đang buồn bực, thấy bên ngoài ồn ào, Khánh Dư vội bước ra xem có chuyện gì.

Trông thấy chị Cả Lưu dẫn đầu đoàn người Khánh Dư nói:

- Chúng ta đã có thỏa thuận là không bao giờ gặp lại nhau rồi cơ mà!

- Đồ giết người! Hổ dữ cũng không ăn thịt con… Còn ngươi hãy nhìn thằng bé đi… Cặp chân dài giống ai? Cái trán rộng. Đôi mắt to có hai hàng mi cong. Rồi cái mũi cao, nhọn với hai cánh mũi mỏng… giống ai?

Khánh Dư nhìn quan tài đặt trước cổng, nghe chị Cả Lưu nói, tai ù đi. Mắt hoa lên, nảy đom đóm. Nhưng trong đầu vẫn còn tự hỏi: “Chẳng lẽ… chuyện đó lại là thật!”.

Chị Cả Lưu gào lên:

- Giết người phải đền mạng!

Rồi rút từ cạp quần phía sau lưng ra một chiếc liềm cắt cỏ, nhằm cái thân cao lớn của Khánh Dư ném tới. Là võ tướng tài giỏi, giá như đó là lưỡi kiếm, lưỡi dao hay lưỡi búa… Khánh Dư dễ dàng tránh được. Thậm chí là giơ tay ra bắt nhẹ nhàng. Nhưng đây lại là chiếc liềm cong cong, nên đường đi của nó khá vòng vèo. Khánh Dư chưa kịp tránh thì nó đã liệng qua đầu rồi mũi nhọn cắm phập vào vai phải. Khánh Dư ôm vai ngã xuống. Lũ lính xông ra kề gươm vào cổ chị và Hoàng Lương. Khánh Dư cố gượng đau đứng lên. Nhìn người vừa làm mình bị thương, tự nhiên thấy lòng đau như dao cắt, Khánh Dư quát bọn lính.

- Thả họ ra! Thả tất cả ra!…

Chị Cả Lưu đưa xác con về, đưa lên chùa Bảo Sơn làm lễ hỏa thiêu. Rồi chị đem tro cốt trở lại bến Bình Than xưa trải dài xuống sông…

Qua một số người chị Cả Lưu biết Trần Khánh Dư có cháu đầy đàn. Song tuyệt nhiên không thấy có đứa con nào! Có thể ông ta đã “trải con” ra khắp thiên hạ, nhưng mà cuối cùng thì sự thể lại trớ trêu như vậy! Chị đâm chột dạ! Ông ta là người quyền thế, lại giàu có vào hạng nhất nước. Biết đâu ông ta chả cho người về đây dò la. Và biết còn có đứa cháu nội. Sẽ tìm cách bắt về thì chị “đâm trắng tay”. Nghĩ rồi làm liền. Chị gọi con dâu tới, đưa cho nó một trăm bạc và bảo:

- Con dùng số tiền này làm dấn, làm vốn. Rồi tái giá! Đừng ở vậy như mẹ đây. Khổ lắm! Mẹ phải đưa cháu đi… không người ta sẽ đến bắt mất.

Đứa con dâu của chị “lăn ra như con bống” bị mắc cạn. Khóc ngằn ngặt đòi đi theo. Chị dỗ:

- Mẹ chỉ đưa cháu đi vài năm thôi! Bao giờ yên hàn mẹ sẽ mang cháu về để “mẹ con gặp nhau”.

Nhà cửa, văn tự đất đai ruộng vườn chị giao tất cho bà con họ hàng trông giữ. Một buổi sáng sương mù còn giăng mù mịt, cách vài bước chân không nhận rõ mặt nhau. Chị địu sau lưng đứa bé. Phía trước bụng, trong lớp quần lót chị quấn một “ruột tượng” đựng tiền nong. Bên hông dắt một con dao găm cực sắc để phòng thân và sử dụng hàng ngày. Hoàng Lương cõng sau lưng một kiện hàng đồ dùng, quần áo, thức ăn cho trẻ. Phía trước bụng cũng là một “ruột tượng” tiền vàng lớn. Tay cầm roi đồng, sườn đeo đoản kiếm. Ba nhân mạng ra phía bờ đê sông Cái, xuống một chiếc thuyền vừa phải nhưng rất chắc chắn, đi về đâu không ai rõ.

Trần Khánh Dư sau mấy ngày điều trị khỏi vết thương ở vai. Sai người đi dò la tung tích nhà chị Cả Lưu. Khi hay tin chị đã đưa cháu nội đi biệt tích thì ngửa mặt lên trời mà than rằng:

- Ta đã đến chậm một bước rồi! Thật là thấp mưu thua trí đàn bà.

Rồi cho người đi tìm lại thầy Tầu để hỏi chuyện. Nhưng lão cũng bặt vô âm tín.

Mấy ngày sau con ngựa bạch cũng lăn ra chết vì đã đến cõi. Còn con chim ưng lông đỏ mỏ quặp cũng bay về rừng. Mọi việc rối bung lên, khiến Khánh Dư vô cùng bứt dứt. Ông ta ra lệnh bỏ “dự án” xây trường đua ngựa, mặc dù đã bỏ đến mấy ngàn đồng vào đó. Trần Khắc Chung đến chơi, an ủi:

- Huynh ạ! Ngựa tái ông họa phúc biết về đâu. Như đệ đây, hồi hàn vi, lấy vợ con nhà giầu. Nhưng khi giặc Nguyên Mông sang, ông bà nhạc hèn nhát theo giặc. Đến khi giặc thua, triều đình thu hết điền sản, thế là đâm ra trắng tay. Được thằng con trai, vừa rồi nó lấy con vợ chả ra gì. Đệ có mắng nó: “Sao cưới vợ không hỏi tao!” Nó bặm môi trợn mắt quát lại: “Ông có coi mẹ tôi và ông bà ngoại tôi ra gì đâu, mà bắt tôi việc đó phải hỏi ông?”

- Nói thật là ta quan hệ với cả ngàn đàn bà. Nhưng bây giờ ngẫm lại, thấy không có ai cho ta được sự “sung sướng tột đỉnh” như với chị ta mới lạ chứ! - Khánh Dư tâm sự.

- À, chuyện đó có gì là lạ đâu “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Lúc đó huynh thèm cơm, thèm rượu, thèm cả đàn bà. “Buồn ngủ bỗng gặp chiếu manh”, tự nhiên được “cơm no, bò cưỡi” sao không thấy sướng. Đến ngay cả con chim ưng lông đỏ, mỏ quặp cũng được xơi vịt thỏa thích, chứ không phải bắt chuột nữa là…

- Ngươi nói cũng có lý! Nhưng mà ai ngờ sự việc nó lại đến một cách lạ kỳ như vậy. Giá như ta không vội vàng đuổi tay thầy bói đi. Giữ hắn lại… biết đâu sự thể sẽ khác. Vả lại cái thằng bé… con ta ấy. Nó hung hăng quá. Không biết mình biết người. Tay ta đã dài, cây kiếm cũng dài, ta đưa ra cốt để dọa hắn, tưởng hắn cũng có võ nghệ, gạt hoặc tránh ra một bên, nào ngờ nó cứ nhảy bổ vào ta, vung quất quật thẳng vào đầu. Thế là lưỡi kiếm xuyên qua ngực nó. Ta rút tay lại thì đã… không kịp nữa rồi…

- Thôi huynh đừng buồn nữa! Còn bao nhiêu việc ở Vân Đồn đang chờ huynh… Với ba cô đầm Tiểu Nga-la-tư, da trắng, mắt xanh, tóc vàng, váy ngắn đến bẹn… chờ huynh.

Khánh Dư không đáp lại.

Trần Khắc Chung rụt rè hỏi tiếp:

- Có dịp ra Vân Đồn, huynh cho đệ thử… một lần cho biết được không?

- Chỉ sợ người không có sức! Ta cho ngươi thử cả ba. Không khéo bị “thượng mã phong” lại đổ tiếng ác cho ta.

- Huynh yên tâm, đệ là quan văn, nhưng cũng hiểu được binh pháp “biết mình, biết người. Trăm trận, trăm thắng”.

Trần Khắc Chung thường xuyên đến uống rượu, khiến Nhân Huệ vương cũng một phần nguôi ngoai được nỗi buồn. Khoảng gần mười ngày sau thì con chim ưng lông đỏ, mỏ quặp bay về. Trông nó nhẹ nhàng, tráng kiện hẳn ra. Đặc biệt nó còn tha về một con rắn chúa cái cực lớn. Có thể là vợ con rắn đực nó đã giết để cứu Nhân Huệ vương trong cuộc đi săn ngày nào. Nhân Huệ vương hứng chí bảo:

- Đúng là nhất điểu nhì ngư. Tam xà tứ tượng. Đến loài vật cũng biết “báo thù mười năm chưa muộn” Con rắn cái này chờ nó thay mỏ, thay móng để trả thù cho chồng nhưng mà con chim ưng này vẫn tỏ ra “quái kiệt” hơn.

- Bởi vì nó là vật nuôi của huynh mà! - Trần Khắc Chung nịnh khéo.

Nhân Huệ vương vốn là con người hành động. Chỉ một thời gian ngắn sau, ở Khánh Dư dường như chưa có biến cố gì xẩy ra. Việc kiếm một bạch mã khác dễ như trở bàn tay. Theo lời khuyên của Trần Khắc Chung, Trần Khánh Dư trở ra Vân Đồn chấn hưng việc làm ăn, buôn bán ở đó. Vương cho nạo vét mở rộng luồng lạch để thuyền lớn có thể ra vào dễ dàng được. Cái đầu mối nhập hàng từ Trung Quốc sang cũng được mở rộng, chắp nối lại, đi vào hoạt động quy củ, chặt chẽ và phát triển hơn. Khách (chỉ lái buôn Tầu) vào ăn hàng ngày cũng một đông. Họ bán chủ yếu là thuốc bắc, thôi thì đủ loại từ thuốc bổ, đến thuốc kích dục và đặc biệt cả… thuốc độc giết người từ từ đến chết ngay tắp lự. Ngoài ra còn có gấm Tứ Xuyên, đồ sứ Giang Tây, các loại rượu quý như Mao Đài… Còn họ ăn tạp từ “thượng vàng, đến hạ cám”. Các thứ quý hiếm thì gồm sừng tê, ngà voi, xương hổ, ngọc bích, ngọc đỏ… Loại trung thì cá ngựa đỏ, cá ngựa đen, thảo quả, gỗ hương, gỗ trắc, gỗ huỳnh đàn… Loại “hạ cám” gồm sắn khô thái lát, khoai lang tươi, khoai lang khô, thậm chí cả mùn cưa của các loại gỗ quý.

Khánh Dư phân chia ra từng khu vực. Khu nào chuyên buôn bán ngành hàng đó cho dễ quản lý. Những tay làm ăn trí trá, buôn bán hàng giả, Khánh Dư cho thích chữ vào mặt. cấm cho quay trở lại Đại Việt. Thi thoảng cũng có thuyền buôn lớn từ Phù Tang và Mã Lai vãng qua. Họ thích đồ gỗ và đồ gốm Bát Tràng của ta. Và bán tơ lụa rất đẹp, cùng các đồ thủy tinh cao cấp. Bấy giờ Vân Đồn trở thành thương cảng sầm uất nhẩt không chỉ của Đại Việt mà còn cả ở vùng phía nam Trung Quốc và nói rộng ra là của vùng Đông Nam Á.

Nhân Huệ vương cũng khéo biết tổ chức mạng lưới thu thuế rất hiệu nghiệm. Cả thuế nhập lẫn thuế xuất. Có những thứ thuế Khánh Dư đặt cao chót vót. Khách còn chịu đựng được thì còn để. Khi thấy có vẻ đã “già néo thì đứt dây” Vương mới cho nới ra. Tiền thuế thu được, cũng như tiền lãi, một nửa vương nộp về cho triều đình. Tự nhiên được một nguồn thu không nhỏ, từ Thượng hoàng đến vua đều khen Khánh Dư là người “buôn bán mát tay”. Thật tiếc là sau khi Nhân Huệ vương mất, thương cảng lụi dần và bây giờ tức là bẩy trăm năm sau, chúng ta mới lên kế hoạch xây dựng Vân Đồn thành “vùng kinh tế mở”.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 24 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Cổ đại - Trùng sinh] Thừa tướng yêu nghiệt sủng thê - Sương Nhiễm Tuyết Y

1 ... 29, 30, 31

2 • [Hiện đại - Trùng sinh] Đêm trước ly hôn - Thiên Sơn Hồng Diệp

1 ... 8, 9, 10

3 • [Hiện đại] Cá mực hầm mật - Mặc Bảo Phi Bảo

1 ... 4, 5, 6

4 • [Hiện đại] Sở Sở - 099

1 ... 4, 5, 6

5 • [Hiện đại] Không bằng duyên mỏng - Viên Nghệ

1 ... 6, 7, 8

6 • [Hiện đại - Trùng sinh] Tôi bị ép buộc - Linh Lạc Thành Nê

1 ... 4, 5, 6

[Cổ đại - Trùng sinh] Đích trưởng nữ - Hạ Nhật Phấn Mạt

1 ... 25, 26, 27

8 • [Xuyên không - Điền văn] Cuộc sống điền viên trên núi của nông phu - Quả Đống CC

1 ... 9, 10, 11

9 • [Hiện đại - Trùng sinh] Anh hai Boss đừng nghịch lửa - Cửu Trọng Điện

1 ... 13, 14, 15

[Xuyên không] Khuynh thế tuyệt sủng tiểu hồ phi - Thanh Canh Điểu

1 ... 17, 18, 19

11 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 56, 57, 58

12 • [Hiện đại] Chọc vào hào môn Cha đừng động vào mẹ con - Cận Niên

1 ... 36, 37, 38

13 • [Cổ đại] Trưởng thôn là đóa kiều hoa - Vương Vượng Vượng

1 ... 4, 5, 6

14 • [Xuyên không Điền văn] Trọng Sinh Tiểu Địa Chủ - Nhược Nhan (Phần 1)

1 ... 49, 50, 51

15 • [Hiện đại] Ông xã cầm thú không đáng tin - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 21, 22, 23

[Hiện đại] Hào môn thịnh sủng bảo bối thật xin lỗi - Hạ San Hô

1 ... 14, 15, 16

17 • [Xuyên không] Bảo Bảo vô lương Bà mẹ mập là của ta - Ngũ Ngũ

1 ... 24, 25, 26

18 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 72, 73, 74

19 • [Hiện đại - Quân nhân] Hợp đồng quân hôn - Yên Mang

1 ... 37, 38, 39

20 • [Hiện đại] Có hợp có tan - Lâu Vũ Tình

1, 2, 3, 4



Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 283 điểm để mua Vòng hoa giáng sinh
Shop - Đấu giá: tiểu an nhi vừa đặt giá 327 điểm để mua Tám điện thoại
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 285 điểm để mua Thỏ nháy nhót
hakuha: 2 năm trước mọi người rất hay xài cái này
sau 2 năm trở lại ngày càng im ắng haizzz
Shop - Đấu giá: hakuha vừa đặt giá 360 điểm để mua Tấm thảm trái tim
Shop - Đấu giá: hakuha vừa đặt giá 270 điểm để mua Thỏ nháy nhót
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 254 điểm để mua Thỏ nháy nhót
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 401 điểm để mua Bông tai hạt dẻ
Shop - Đấu giá: tiểu an nhi vừa đặt giá 306 điểm để mua Bé nấm
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 318 điểm để mua Hằng Nga
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 400 điểm để mua Cặp đôi hamster
Shop - Đấu giá: Tiểu Ly Ly vừa đặt giá 528 điểm để mua Mây
Shop - Đấu giá: Tiểu Ly Ly vừa đặt giá 406 điểm để mua Mashimaro IOU
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 548 điểm để mua Mashimaro chờ xe buýt
Hoàng Phong Linh: :<
Shop - Đấu giá: 18521434 vừa đặt giá 315 điểm để mua Bé Mascot xanh
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 417 điểm để mua Mèo ôm cuộn len
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 294 điểm để mua Hello
Shop - Đấu giá: tiểu an nhi vừa đặt giá 250 điểm để mua Gấu trắng mơ màng
Shop - Đấu giá: mymy0191 vừa đặt giá 390 điểm để mua Nữ thần công lý
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 279 điểm để mua Hello
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 291 điểm để mua Mèo núp sau đám mây
Shop - Đấu giá: tiểu an nhi vừa đặt giá 276 điểm để mua Mèo núp sau đám mây
Shop - Đấu giá: á bì vừa đặt giá 212 điểm để mua Bảng khen thưởng
Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 397 điểm để mua Siêu nhân nhí
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 285 điểm để mua Bé hồng 3
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 250 điểm để mua iPod Shuffle
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 301 điểm để mua Cà phê
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 236 điểm để mua Giường ca rô đen
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 601 điểm để mua Cự Giải Nữ

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.