Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 58 bài ] 

Tội tình vì yêu - Liane Moriarty

 
Có bài mới 18.06.2018, 14:47
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35563
Được thanks: 5268 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới [Tâm lý XH] Tội tình vì yêu - Liane Moriarty - Điểm: 10
TỘI TÌNH VÌ YÊU

images

Nguyên tác: The Husband's Secret
Tác giả: Liane Moriarty
Dịch giả: Mai Hương
Công ty phát hành: IPM
Nhà Xuất Bản: Nhà xuất bản Hồng Đức
Năm xuất bản: 3/2016
Số trang: 548 trang
Nguồn: VCTVEGROUP
Pdf: inno14 -  Text: Mỹ Giang, V/C - Đóng gói: Gassie​


GIỚI THIỆU

Có một loại sâu sống kí sinh trong cơ thể con người, cách trừ khử duy nhất là tự bỏ đói bản thân, đặt một món ăn nóng sốt nơi miệng, đợi con sâu ngửi thấy mùi thức ăn, chậm rãi duỗi mình ra và tìm đường bò ngược lên.

Có một thứ bí mật đen tối ẩn sâu dưới những nếp gấp thời gian, cách trừ khử duy nhất là bỏ đói ký ức, đừng động tay vào nó, trông thấy cũng tảng lờ, và chối bỏ mọi lời cáo buộc liên quan đến bí mật ấy.

Nhưng sẽ ra sao nếu có người, vô tình hoặc cố ý, không muốn trừ khử? Sẽ ra sao nếu trên đời thật sự có nhân quả?

Con người có bản tính tò mò. Nhờ vậy, ta luôn khát khao chinh phục tự nhiên và khám phá những chân trời mới. Nhưng cũng chính bởi tò mò, Adam rủ Eva ăn trái cấm và bị đuổi khỏi vườn địa đàng, Pandora mở chiếc hộp thần khiến bệnh tật tràn lan, nhũng nhiễu thế gian đời đời kiếp kiếp. Và giờ đây, hậu quả của tò mò hiện hình trong một phiên bản mới, câu chuyện về Cecilia tội nghiệp với lá thư định mệnh.

Tội tình vì yêu, tiểu thuyết tâm lý xã hội của Liane Moriaty, là một hành trình cảm xúc, dẫn dắt người ta đi từ dằn vặt này tới giày vò khác, đầy khổ đau, tuyệt vọng xen những phút giây lặng lẽ, an nhiên; như mặt biển hiền hòa trước cơn cuồng phong, bão tố. Một bí mật nên được chôn vùi mãi mãi đã bị mở ra. Và quả báo xuất hiện, trò đùa số phận bắt đầu…



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
1 thành viên đã gởi lời cảm ơn Nminhngoc1012 về bài viết trên: Hoa Mùa Hạ
     

Có bài mới 19.06.2018, 10:26
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35563
Được thanks: 5268 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tâm lý XH] Tội tình vì yêu - Liane Moriarty - Điểm: 10
Chương 1


Tất cả cũng chỉ tại bức tường Berlin.

Nếu không phải vì bức tường đó thì Cecilia sẽ chẳng bao giờ tìm thấy bức thư, và giờ cô sẽ không phải ngồi đây nơi bàn bếp, lòng thầm ước mình chưa từng mở nó ra.

Chiếc phong bì màu xám đã phủ một lớp bụi mỏng. Chữ trên mặt trước được viết cẩu thả bằng mực bút bi xanh, nét chữ viết tay thân thuộc như chính cô viết vậy. Cô bóc ra. Chiếc bì thư được dán bằng mẩu băng dính màu vàng. Nó được viết ra từ bao giờ vậy nhỉ? Thư đã cũ, có vẻ như được viết từ nhiều năm trước, nhưng không làm sao biết chắc chắn được.

Cô không định mở nó ra. Rõ ràng cô không nên mở nó ra. Cô là người hết sức kiên quyết, một khi đã quyết định không mở lá thư ra thì cũng chẳng nên suy nghĩ về nó nữa.

Mà nói thực lòng, nếu cô mở ra thì có vấn đề gì nghiêm trọng cơ chứ? Bất cứ người đàn bà nào cũng sẽ làm như vậy mà chẳng cần nghĩ ngợi gì nhiều. Cô thầm hình dung trong đầu liệu những người bạn của cô sẽ phản ứng ra sao nếu ngay bây giờ cô gọi điện hỏi xem họ nghĩ gì.

Miriam Openheimer: Xời! Mở ra đi!

Erica Edgediff. Nàng đùa đấy à? Mở ngay đi chứ!

Laura Marks: A, cậu mở ra đi, rồi đọc lên cho tớ nghe với.

Sarah Sacks: Thật vô ích khi hỏi Sarah bởi cô nàng chẳng bao giờ quyết định được gì. Giả sử Cecilia có hỏi cô ấy muốn uống trà hay cà phê, cô nàng sẽ ngồi thừ ra cả phút, trán nhăn lại vô cùng khổ sở như thể đang suy nghĩ điều gì trọng đại lắm, và rồi thế nào cũng đáp: “Cà phê đi! Mà khoan, trà đi vậy!” một câu trả lời như thế chỉ khiến Cecilia lên cơn tai biến mạch máu não thôi.

Mahalia Ramachandran: Tớ nghĩ hoàn toàn không nên. Như vậy là thiếu tôn trọng chẳng cậu lắm đấy. Cậu đừng mở.

Đôi khi Mahalia tự tin thái quá về đôi mắt nâu to tròn nhuốm màu đạo đức của cô nàng thì phải?

Cecilia để lá thư lại trên bàn, bước ra đổ thêm nước vào ấm.

Chân Esther biết ai là người đề xuất ý tưởng về bức tường Berlin. Và hẳn con bé còn có thể cho cô hay ngày sinh tháng đẻ của kẻ đó nữa. Chắc chân đó là một gã đàn ông rồi. Chỉ có đàn ông mới nghĩ ra trò nhẫn tâm như thế: đủ ngu đần và thừa hung bạo.

Phải chăng đây là một dạng biểu hiện của thành kiến giới tính?

Cô xả nước đầy ấm, cấm điện rồi lấy khăn giấy lau những giọt nước vương trên bồn rửa, miết đi miết lại tới khi sạch bóng.

Tuần trước, ngay trước khi khai mạc đại hội phụ huynh học sinh ở trường, mẹ của ba cậu nhóc suýt soát tuổi ba cô con gái của Cecilia đã bảo rằng những lời nhận xét của Cecilia “phần nào mang xu hướng thành kiến giới tính”. Cecilia không thể nhớ chính xác chị ta đã nói nhưng gì, nhưng hẳn là chị ta chỉ đùa thôi. Hoặc có lẽ cô là người có xu hướng thành kiến giới tính thật.

Ấm nước reo. Cô xoay xoay túi trà lọc Earl Grey, ngắm những gợn màu đen lan tỏa trong nước. Có những thứ còn tồi tệ hơn cả thành kiến giới tính.

Cô nhìn ấm trà, thở dài. Những lúc thế này, một ly rượu sẽ được việc hơn nhiều. Nhưng vì Lent, cô đã bỏ các thứ đồ uống có cồn rồi. Chỉ mới sáu ngày trước thôi. Cô có một chai vang nho đen đắt tiền chờ bật nắp vào ngày lễ Phục sinh, khi ba mươi lăm khách người lớn cùng hai mươi ba cháu thiếu nhi tới ăn trưa. Dù rằng tất nhiên cô là một chuyên gia trong lĩnh vực tổ chức các bữa tiệc. Cô đã lo liệu các lễ Phục sinh, Ngày của Mẹ, Ngày của Cha, rồi Lễ Giáng sinh cho cả gia đình. John-Paul có năm em trai, tất cả đều đã lấy vợ, sinh con. Thế nên đại gia đình anh khá đông đúc. Bí quyết của cô là phải lập kế hoạch. Một bản kế hoạch thật tỉ mỉ.

Cô nhấc bình trà lên, mang sang bàn. Sao cô phải bỏ rượu vì Lent nhỉ? Polly nhạy cảm hơn nhiều. Cô đã phải kiêng cả mứt dâu nữa. Cecilia chưa từng thấy Polly có chút hứng thú nào với mứt dâu, mặc dù bây giờ, cô vẫn luôn bất gặp cảnh tượng con bé đứng trước cánh cửa tủ lạnh để ngỏ mời gọi, chằm chằm nhìn món đó đầy thèm muốn. “Esther!” Cô gọi to.

Esther đang ở phòng kế bên, cùng chị gái và em gái xem chương trình Kẻ thua cuộc thảm hại, vừa xem vừa nhấm nháp bịch khoai tây chiên tẩm dấm muối to đùng còn lại từ tiệc nướng nhân ngày quốc khánh Úc mấy tháng trước. Cecilia không hiểu nổi tại sao ba cô con gái mảnh khảnh của mình lại thích xem đám người thừa cân béo ị đổ mồ hôi, khóc lóc và đói ngấu ấy. Chương trình này chẳng có tí giáo dục thói quen ăn uống lành mạnh chút nào cả. Trừ khi cả ba đứa ăn hết suất cá hồi và bông cải xanh hấp trong bữa tối mà không lèo nhèo gì, bằng không, cô nên vào phòng và tịch thu gói khoai tây chiên đó. Dù sao cô cũng chẳng còn chút sức lực nào để tranh cãi với chúng nữa.

Cô nghe tiếng vang vang phát ra từ ti vi: “Lười biếng thì sẽ chẳng nhận được gì hết!”

Cũng là một quan điểm hay ho cho lũ trẻ đấy chứ. Không ai biết điều này rõ hơn Cecilia! Nhưng dẫu sao cô luôn thận trọng tránh đưa ra những nhận xét tiêu cực về ngoại hình trước mặt các con gái, mặc dù mấy cô bạn già của cô thì khác. Mới hôm nọ thôi, Miriam Openheimer còn nói oang oang trước mặt mấy đứa con gái đang trong thời kì nhạy cảm, tâm sinh lý dễ bị tác động rằng: “Ôi trời ơi, nhìn bụng tôi mà xem này!” Rồi giơ mấy ngón tay ra day day như thể bụng mình là thứ gì đó đáng ghê tởm lắm. Tuyệt lắm, Miriam, cứ như thế không có cô thì con gái chúng ta không nhận được hàng tá thông điệp lải nhải rằng nên ghét bỏ cơ thể mình mỗi ngày ấy.

Dù thực ra, bụng của Miriam đã hơi béo lên một chút thật.

“Esther!” Cô lại gọi to.

“Gì vậy mẹ?” Esther nói vọng ra với giọng điệu hết sức nhẫn nhịn. Cecilia ngờ rằng con bé bật chước mệnh một cách vô thức

“Ai là người đưa ra ý tưởng xây dựng bức tường Berlin?”

“Dạ, người ta tin chắc đó là Nikita Khrushchev!” Esther lập tức trả lời, cái tên ngoại quốc kia được phát âm bằng giọng điệu lôi cuốn cùng ngữ điệu của người Nga theo cách riêng của nó. “Hình như ông ấy là Thủ tướng Liên Xô, chưa kể ông ấy từng là Tổng bí thư. Nhưng cũng có thể…”

Hai đứa còn lại lập tức chen vào mấy lời lịch sự quen thuộc chẳng thể lẫn vào đâu được.

“Yên nào, Esther!”

“Chị Esther! Em chẳng nghe được ti vi nói gì cả!”

“Cảm ơn con yêu!” Cecilia nhấp ngụm trà, mơ màng tưởng tượng ra cảnh mình du hành ngược thời gian, tranh luận với Khrushchev ở văn phòng của ông ta.

Không, ngài Khrushchev, ngày không nên và không cần dựng bức tường đó lên làm gì. Nó không có tác dụng gì cho mục đích của ngày đâu. Nếu muốn bằng chứng, tôi sẽ cho ngày xem hóa đơn tín dụng tháng vừa rồi của tôi. Nhưng ngày thực sự cần phải suy nghĩ lại cho thấu đáo.

Nếu ông ta chịu nghe lời khuyên ấy, chắc hẳn năm chục năm sau, Cecilia sẽ chẳng phải tìm thấy lá thư khiến cô cảm thấy quá đỗi, quá đỗi… Nên dùng từ gì nhỉ?

À ha, thiếu tập trung. Chính là từ này.

Cô vốn rất tự hào về khả năng tập trung của bản thân. Cuộc sống thường nhật của cô được tạo nên từ hàng ngàn mảnh ghép tí hon giống như một trong những tấm tranh xếp hình khổng lồ mà Isabel thường dành hàng giờ đồng hồ liền để xếp Cecilia vốn chẳng kiên nhẫn với mấy trò chơi tốn thời gian đó, vậy mà cô biết chính xác mỗi mảnh ghép của đời mình nằm ở vị trí nào và giây phút tiếp theo nó cần được chuyển đến vị trí nào.

Tốt thôi, có thuộc đời mà Cecilia đang sống chẳng có gì ấn tượng hay đặc sắc. Cô là một bà mẹ với công việc tư vấn nửa ngày ở Tupperware, không phải một diễn viên danh giá, một chuyên gia tính toán bảo hiểm kiếm được bộn tiền hay một… nhà thơ sống ở Vermont. (Gần đây Cecilia mới được biết Liz Brogan, bạn cũ thời cấp ba của cô giờ là nhà thơ sống ở Vermont vừa giành được giải thưởng danh giá. Cô nàng hay ăn phô mai với bánh mỳ kẹp phết xốt vegemite, lại thường làm mất thẻ đi xe buýt ấy. Nếu có ai đó cần sống một cuộc đời bình thường thì hẳn đó phải là Liz Brogan. Cecilia phải vận hết sức lực để khỏi cảm thấy bực mình. Không phải là cô không muốn làm thơ nữa. Chỉ là tạm ngừng thôi). Tất nhiên, Cecilia chưa từng mong muốn điều gì hơn cái nhịp bình thường ấy. Chính tôi đây, một bà mẹ bình thường điển hình. Có đôi lần cô bắt gặp mình đang vẩn vơ tự bào chữa vậy, như thể đã có ai đó buộc tội cô sống khác biệt và vượt trội quá thể.

Những bà mẹ khác thường than vãn vì cảm thấy bị lấn át, khó tập trung vào một việc nào đó, và bọn họ cứ luôn miệng thắc mắc: “Cô làm thế nào mà xoay xở được hết vậy, Cecilia?” Cô cũng không biết phải đáp ra làm sao. Thực sự, cô cũng không hiểu họ thấy khó khăn ở đâu nữa.

Vậy mà giờ, chỉ vì lý do vớ vẩn nào đó, cô lại có cảm giác mọi thứ đều ở mức đáng báo động. Thực chẳng logic tí nào.

Có thể lá thư chẳng liên quan gì ở đây. Có thể chỉ do hốc môn mà thôi. Chẳng phải bác sĩ McArthur từng nói, cô “có lẽ đang ở thời kỳ tiền mãn kinh” còn gì.

Có lẽ đây là kiểu lo âu mơ hồ mà nhiều phụ nữ từng trải nghiệm. Những người phụ nữ khác. Cô vẫn cho rằng những người hay lo âu đều rất đáng yêu. Những người hơi tí là nhặng xị lên như Sarah Sacks ấy. Cô luôn muốn ở bên, vỗ về để họ thấy dễ chịu hơn.

Nếu mở lá thư ra, thấy nó chẳng viết gì, liệu cô có lấy lại được sự tập trung vốn có không nhỉ? Cả tá công việc đang đợi cô hoàn thành. Hai giỏ quần áo đã giặt cần gấp gọn. Ba cuộc điện thoại khẩn cần gọi. Còn cả việc xắt bánh mỳ không chứa gluten[1] để nướng riêng cho các thành viên có phản ứng phụ với gluten thuộc nhóm dự án xây dựng web của trường (còn gọi là Janine Davidson) trong cuộc gặp ngày mai.

Ngoài lá thư này, còn có vô vàn thứ khác có thể khiến cô thấy lo âu, phiền não.

Như chuyện chăn gối chẳng hạn. Vấn đề này luôn nằm khuất trong tận cùng trí óc cô.

Cô cau mày, vuốt tay dọc xuống hai bên eo. Theo giáo viên dạy Pilates[2] của cô, đó là động tác “cơ xiên”. Ôi, xem nào, chuyện chăn gối đóng vai trò gì ở đây chứ. Nó không tồn tại trong trí óc cô. Cô không để nó tồn tại trong đó. Chuyện đó chẳng thành vấn đề.

Hẳn là từ một buổi sáng năm ngoái, cô mới nhận ra sự sống mong manh đến nhường nào. Cuộc đời ai đó có thể bị tước đi bất cứ lúc nào, dù là một thợ giặt ủi hay một chuyên gia tính toán bảo hiểm cũng vậy thôi. Một ngày nào đó, biết đâu bạn cũng sẽ rơi vào hoàn cảnh người đàn bà ấy, chân ngã khuỵu xuống, mặt ngửa lên trời gào khóc, một vài phụ nữ chạy tới giúp còn những người khác thì quay mặt đi, miệng không ngừng cầu nguyện chuyện đó đừng xảy tới với mình.

Cecilia đã thấy cảnh đó lướt qua tâm trí cả ngàn lần: Người nhện nhí bị hất tung lên. Cô là một trong những người chạy tới bên mẹ cậu bé, chính là người phụ nữ đó. Phải, cô đã xô bật cửa xe ra, dù biết rằng mình chẳng thể giúp gì được. Cô cũng chẳng có bất cứ mối liên hệ gì với họ. Chỉ là cô tình cờ dừng chờ đèn đỏ ở phía bên kia ngã tư khi sự việc xảy ra. Một cậu bé chừng năm tuổi, mặc bộ đồ người nhện màu đỏ và xanh dương đang đứng đợi bên lề đường, tay nắm lấy tay mẹ. Đó là Tuần lễ Sách nên đứa bé mới ăn mặc như vậy. Cecilia ngắm đứa bé, trong đầu thầm nghĩ, Hừm, thực ra người nhện có phải là nhân vật trong truyện đâu nhỉ, rồi chẳng hiểu sao, đứa bé bỗng giằng khỏi tay mẹ, từ lề đường lao vào dòng xe cộ chật kín. Cecilia hét lên. Về sau cô nhớ lại, lúc ấy theo bản năng cô cũng đập mạnh lên còi xe như bao người khác.

Nếu lái chậm hơn một chút, có lẽ cô đã không phải chứng kiến tai nạn đó. Mười phút sau chẳng hạn, cái chết của đứa bé sẽ chẳng còn gì khác ngoài một lượt vòng xe tránh tắc đường.

Giờ thì chuyện đó đã thành một ký ức, mà vì vậy, một ngày nào đó, có lẽ cháu của cô sẽ phải nhắc rằng: “Bà ơi, đừng cầm tay cháu chặt quá thế!”

Thật lạ lùng. Rõ ràng không có mối liên kết nào giữa người nhện nhí đó với bức thư này.

Cecilia búng nhẹ đầu ngón tay lên lá thư trên bàn, rồi cầm cuốn sách Esther mượn từ thư viện: Sự hình thành và sụp đổ của bức tường Berlin.

Vậy đấy, bức tường Berlin. Tuyệt thế chứ!

Lần đầu tiên cô biết rằng bức tường Berlin sẽ trở thành một phần quan trọng trong cuộc đời mình là vào bữa sáng hôm nay.

Mới chỉ có Cecilia và Esther ngồi bên bàn ăn trong bếp. John-Paul đang ở nước ngoài, tận Chicago mãi tới thứ Sáu, còn Isabel với Polly vẫn đang ngủ.

Cecilia không hay ngồi vào bàn ăn. Cô thường đứng ăn sáng ngay tại quầy bếp trong khi nấu bữa trưa, kiểm tra các đơn hàng của Tupperware trên ipad, mở máy rửa bát đĩa ra, gửi thư cho các khách hàng về buổi tiệc của họ hoặc làm bất cứ việc gì. Rất hiếm khi cô có cơ hội được ngồi riêng với đứa con gái thứ hai lạ lùng mà cô rất yêu thương. Vậy là cô bê bát yến mạch trộn hoa quả ngồi xuống, chờ đợi trong khi Esther lấy cho mình một bát bỏng gạo. Nhờ các cô con gái, cô mới ngộ ra điều ấy. Tốt nhất đừng nói gì cả. Cũng đừng hỏi han hay tỏ vẻ quan tâm. Hãy cho bọn trẻ thời gian, rốt cuộc chúng cũng kể cho bạn nghe những gì chúng đang nghĩ trong đầu. Cũng giống như việc đi câu. Phải thật yên lặng và kiên nhẫn. (Có ai đó đã nói với cô thế, nhưng cô thấy thà vò đầu bứt tai còn hơn phải đi câu.)

Cecilia chẳng thể giữ yên lặng được. Vì cô vốn là người thích chuyện trò. “Hỏi nghiêm túc nhé, có bao giờ cái miệng em chịu ngơi nghỉ một lúc không vậy?” Có Lần người yêu cũ đã hỏi cô thế. Mỗi khi lo âu, cô lại nói liên hồi. Hẳn gã người yêu đó đã khiến cô thấy bất an. Mặc dù vậy, cô vẫn hay nói không ngừng mỗi lúc vui vẻ.

Nhưng sáng đó, cô hoàn toàn im lặng. Chỉ ngồi ăn, và chờ đợi. Lẽ dĩ nhiên, Esther bắt đầu tỉ tê.

“Mẹ ơi,” con bé lên tiếng, giọng khàn khàn dè dặt pha chút ngọng nghịu. “Mẹ có biết người ta từng đào thoát khỏi bức tường Berlin trên chiếc khinh khí cầu tự chế không?”

“Mẹ không biết đấy,” Cecilia đáp, dù cô thừa biết điều này.

Tạm biệt Titanic, và chào mừng bức tường Berlin, cô nghĩ thầm.

Thực lòng, cô muốn nghe Esther kể cho mình biết tâm trạng con bé lúc bấy giờ hơn, rồi những lo lắng của nó về trường lớp, bạn bè, hay những thắc mắc về tình dục chẳng hạn, nhưng không, con bé tuyệt nhiên chỉ muốn kể về bức tường Berlin.

Ngay từ khi mới ba tuổi, Esther đã có xu hướng bộc lộ những sở thích kì quái, nói chính xác hơn là đam mê kì quái. Đầu tiên phải kể đến khủng long. Tất nhiên đa phần bọn con nít đều ưa khủng long, nhưng niềm yêu thích của Esther thì phải nói là cực đoan, thành thực mà nói có phần hơi lập dị. Ngoài khủng long, con bé chẳng thích thứ gì khác. Nó vẽ khủng long, chơi với khủng long, thậm chí ăn mặc như khủng long nốt. “Con không phải là Esther,” con bé nói. “Con là khủng long bạo chúa T-REX.” Trước giờ đi ngủ, con bé đòi nghe bằng được chuyện về khủng long. Cả ngày nó chỉ nói những chuyện liên quan đến khủng long. Cecilia phát chán chủ đề đó chỉ sau năm phút. (Khủng long tuyệt chủng cả rồi, còn gì đáng để nói nữa chứ!) Nhưng thật may vì John-Paul thấy thích thú. Vài dịp đặc biệt, anh đưa Esther đến bảo tàng. Anh còn mang sách về cho con bé. Rồi hai bố con ngồi với nhau hàng giờ liền cùng trò chuyện về các loài động vật ăn cỏ và động vật ăn thịt.

Từ đó đến nay, “sở thích” của Esther đã đầy lên rất nhiều, từ tàu lượn siêu tốc cho tới loài cóc lớn Nam Mỹ. Gần đây nhất là con tàu Titanic. Giờ đã lên mười, con bé đã có thể tự tra cứu ở thư viện và trên mạng. Lượng thông tin con bé thu thập được khiến Cecilia phải ngạc nhiên. Có đứa con nít nào mới mười tuổi đã nằm trên giường đọc những cuốn sách lịch sử to đùng mà bản thân nó cũng không cầm được lên cơ chứ?

“Chị hãy cứ khuyến khích em ấy,” cũng có vài giáo viên đã khuyên Cecilia như vậy nhưng đôi lúc cô vẫn thấy lo ngay ngáy. Có thể Esther chớm tự kỷ, hoặc chí ít con bé cũng có biểu hiện ban đầu của căn bệnh này. Mẹ Cecilia đã bật cười khi cô bày tỏ nỗi lo âu của mình. “Nhưng Esther giống hệt con ngày bé đấy!” Mẹ cô nói. (Giống là giống thế nào! Tại sao mẹ cô có thể đánh đồng việc sắp xếp bộ sưu tập búp bê Barbie theo một trật tự hoàn hảo với việc làm của Esther được.)

“Mẹ có một mẩu đá của bức tường Berlin đấy,” Cecilia đã kể cho Esther khi bất chợt nhớ ra, thật phấn khởi khi thấy đôi mắt Esther sáng rực lên thích thú.

“Mẹ đã ở Đức sau khi bức tường sụp đổ.”

“Con xem được không ạ?” Esther hỏi.

“Mẹ tặng con luôn đấy, con yêu.” Đồ trang sức và áo quần cho Isabel và Polly. Còn đồ lưu niệm về bức tường Berlin dành cho Esther.

Bấy giờ Cecilia mới hai mươi tuổi, đang cùng cô bạn Sarah Sacks du ngoạn châu Âu trong chuyến đi kéo dài sáu tuần lễ vào năm 1990, chỉ vài tháng sau bản thông cáo về việc bức tường sẽ bi kéo sập. (Tính do dự có tiếng của Sarah cùng sự kiên quyết của Cecilia giúp họ trở thành những người bạn đồng hành hoàn hảo, không bao giờ có bất đồng.)

Tới Berlin, cả hai thấy khách du lịch xếp một hàng dài dọc bức tường, họ đang cố dùng chìa khóa, những viên đá hay bất cứ thứ gì có thể tìm được để cạy lấy những mảng tường làm vật lưu niệm. Bức tường trông như xác một con rồng khổng lồ từng đe dọa cả thành phố, còn đám khách du lịch giống hệt một bầy quạ xấu xí xâu xé phần thi thể còn lại của nó.

Không có đồ nghề thì chẳng thể nào cạy được mảnh tường ưng ý, vậy nên Cecilia và Sarah quyết định (phải, tất nhiên là Cecilia quyết định) mua lại từ những người dân địa phương đang bày đồ trên thảm, bán đại hạ giá đủ thứ trên đời. Bạn có thể mua bất cứ thứ gì, từ những mảnh đá màu xám bằng viên bi cho tới những mảng tường to trên có khắc hình graffiti.

Cecilia không thể nhớ nổi mình đã trả bao nhiêu tiền để mua mảnh đá xám bé tí trông như mới được lấy lên từ khu vườn nào đó. “Có thể thế thật,” Sarah nói vậy khi đón chuyến tàu rời Berlin, rồi cả hai cùng cười xòa trước tính cả tin của mình, nhưng ít ra họ đều cảm thấy hài lòng vì mình được chứng kiến tận mắt một giai đoạn lịch sử. Cecilia đã cho mẩu đá đó vào một chiếc túa giấy, viết mấy chữ DẤU TÍCH BỨC TƯỜNG BERLIN CỦA TÔI lên mặt trước, khi trở lại Úc, cô đã nhét nó vào trong một chiếc hộp cùng với những món đồ lưu niệm khác: mấy tấm lót cốc, vé tàu hỏa, thực đơn, tiền nước ngoài, chìa khóa khách sạn.

Cecilia ước gì lúc ấy cô để tâm đến bức tường đó hơn, chụp thêm ảnh, hoặc nghe thêm vài giai thoại để giờ có cái mà kể cho Esther. Thực ra điều cô nhớ nhất trong suốt chuyến du lịch là nụ hôn với một anh chàng Đức đẹp trai tóc nâu ở hộp đêm. Anh ta cứ lấy mấy viên đá từ cốc nước của mình, rồi di di dọc xương đòn của cô. Lúc ấy cô thấy hành động đó gợi tình kinh khủng, nhưng giờ nghĩ lại, chẳng còn gì ngoài cảm giác nhớp nhúa, ghê tởm.

Giá mà cô được như những cô gái khác, tò mò, quan tâm chuyện chính trị, cố tình khơi gợi cho dân chúng trong vùng kể về cuộc sống đằng sau bức tường thì mọi chuyện đã khác. Thay vào đó, tất cả những gì cô có để kể cho Esther nghe chỉ là những nụ hôn cùng mấy viên đá lạnh vớ vẩn. Tất nhiên, Isabel và Polly sẽ rất thích nghe chuyện về những nụ hôn cùng những viên đá lạnh đó. Hoặc là Polly, có thể cả Isabel nữa đã đến tuổi thấy hứng thú với chuyện mẹ hôn một người đàn ông khác, không phải cha mình.

Cecilia xếp việc “Tìm mẩu đá bức tường Berlin” vào danh sách ưu tiên trong số những việc cần làm ngày hôm ấy (có tới hai mươi lăm việc mà cô đã dùng iphone để lên danh sách). Khoảng hai giờ chiều, cô lên tầng gác mái đề tìm.

Tầng gác mái có lẽ là cách gọi quá sức hoa mỹ dành cho khu vực chứa đồ trên mái nhà. Mỗi lần muốn lên đó, cô đều phải kéo một chiếc thang từ cửa sập trên trần xuống.

Rồi khi tới nơi, nếu không muốn đầu cụng trần, cô phải khom người xuống. Chẳng thế mà John-Paul thẳng thừng tuyên bố sẽ không bao giờ lên đó. Anh mắc hội chứng sợ không gian hẹp và phải cuốc bộ sáu tầng lầu mỗi ngày ở chỗ làm để khỏi phải vào thang máy. Anh chàng tội nghiệp đêm nào cũng gặp ác mộng bị giam trong một căn phòng với bốn bức tường ngày càng co hẹp. “Mấy bức tường này!” Anh ấy thường la to trước khi tỉnh giấc, người đầm đìa mồ hôi, đôi mắt dại hẳn đi. “Anh có nghĩ lúc bé anh bị nhốt trong tủ không?” Cecilia có Lần hỏi chồng mình (cô không muốn hỏi mẹ chồng), nhưng anh đáp khá chắc chắn là không. “Thực ra, John-Paul không bao giờ gặp ác mộng khi còn nhỏ,” mẹ chồng bảo với Cecilia khi cô hỏi. “Thằng bé ngủ ngoan lắm. Có lẽ con cho nó ăn đồ bổ dưỡng quá khuya chăng?” Và giờ thì Cecilia đã quá quen với những cơn ác mộng đó rồi.

Tầng gác mái nhỏ chứa đủ thứ đồ trên đời, nhưng tất nhiên rất gọn gàng và ngăn nắp. Tất cả là bởi vì, mấy năm trở lại đây, “ngăn nắp” dường như trở thành nét tính cách đặc thù nhất của cô. Có đợt, gia đình rồi bạn bè cứ bàn ra tán vào rồi trêu chọc cô vì chuyện này. Nét tính cách ấy dường như trở nên cố hữu, khiến cho cuộc sống hiện tại của cô đâu ra đấy một cách lạ thường, cứ như thể làm mẹ là một môn thể thao và cô là vận động viên hàng đầu đầy kinh nghiệm. Đôi lúc, cô cũng tự hỏi, Cứ như thế này rồi sẽ ra sao? Mình biết điều chỉnh cuộc sống ra sao nếu một ngày bản thân mất kiểm soát?

Đấy chính là lý do mà trong khi nhà kho của những người khác, như cô em gái Bridget của cô chẳng hạn, các phòng đầy những thứ đồ ám bụi thì ở tầng gác mái của Cecilia, các thùng chứa đồ bằng nhựa trắng đều được dán nhãn và sắp xếp gọn ghẽ. Nơi duy nhất trông chẳng giống “phong cách của Cecilia” chút nào chính là những hộp giày chất thành núi trong góc. Đều của John-Paul cả. Anh ấy thích lưu giữ các hóa đơn tài chính từng năm vào từng hộp giày. Việc làm này đã kéo dài từ nhiều năm nay, trước cả khi gặp Cecilia. Anh rất hãnh diện về những hộp giày của mình, bởi thế cô phải cố kiềm lắm mới không nhắc chồng rằng sử dụng tủ đựng tài liệu sẽ tiết kiệm diện tích hữu hiệu hơn nhiều.

Nhờ những chiếc thùng chứa đồ được dán nhãn, cô tìm thấy viên đá kỷ niệm bức tường Berlin gần như ngay lập tức. Cô mở nắp chiếc thùng đánh dấu “Cecilia: Du lịch/Lưu niệm 1985-1990”, và thứ đập vào mắt đầu tiên là chiếc túi giấy màu nâu đã bạc màu. Viên đá lịch sử nhỏ bé của cô. Cô lấy viên đá (hay viên xi măng?) ra, giữ trong lòng bàn tay. Thậm chí nó còn bé hơn so với trí nhớ của cô. Trông chẳng có gì ấn tượng, nhưng hy vọng nó sẽ đổi lại một nụ cười dù là nhếch mép của Esther. Kiếm được một nụ cười của con bé thật khó khăn biết chừng nào.

Rồi Cecilia cho phép mình phân tâm đôi chút (phải, dẫu rằng mỗi ngày cô làm được rất nhiều việc, nhưng cô không phải một cái máy, cô vẫn được phép lãng phí chút ít thời giờ chứ), mắt lướt qua thùng, và bật cười trước bức ảnh chụp chung của mình với anh chàng người Đức thích di đá viên ngày nào. Anh chàng ấy, cũng giống như mẫu đá từ bức tường Berlin, chẳng được ấn tượng như trong trí nhớ của cô. Bỗng điện thoại nhà đổ chuông, đột ngột kéo cô khỏi quá khứ, cô đứng bật dậy khiến đầu cụng trần đau điếng. Mấy bức tường này, máy bức tường này! Cô buột miệng chửi thề, lảo đảo người, khuỷu tay va phải đống hộp giày của John-Paul.

Ít nhất ba hộp bật tung nắp khiến đám giấy tờ bên trong bay lả tả. Đây chính xác là lý do tại sao trưng dụng đám hộp giày không phải là ý tưởng hay cho lắm.

Cecilia lại chửi thề, vò cái đầu đang đau điếng lên được. Cô ngao ngán nhét đống hóa đơn tài chính từ những năm 1980 vào một chiếc hộp, bất chợt bắt gặp tên của mình trên một chiếc phong bì màu trắng.

Cô nhặt lên, là chữ viết tay của John-Paul.

Trên đó viết:

Gửi tới vợ tôi, Cecilia Fitzpatrick



Chỉ được mở khi tôi đã chết

Cô bật cười to rồi đột nhiên im lắng, như thể cô đang dự một buổi tiệc, đang cười váng lên sau khi ai đó nói gì đó, rồi nhận ra đấy không phải lời nói đùa mà là chuyện thực sự nghiêm túc.

Cô đọc lại lần nữa - Gửi tới vợ tôi, Cecilia Fitzpatrick - kỳ quặc thật, trong thoáng chốc, cô có cảm giác hai má mình nóng bừng lên. Vì anh ấy hay vì chính cô nhi? Cô không biết chắc. Như thể cô bắt gặp thứ gì đó đáng xấu hổ lắm, nhìn thấy anh ấy thủ dâm dưới vòi sen chẳng hạn. (Có lần Miriam Openheimer bắt được Doug thủ dâm dưới vòi sen. Thật kinh khủng nếu chuyện này lộ ra ngoài, nhưng Miriam đã buột mồm tuôn ra bí mật này trong một lần lỡ uống tới ly vang thứ hai, và tất nhiên một khi người ta đã biết thì chẳng cách nào che đậy lại được cả.)

Lá thư viết gì nhỉ? Cô đã định mở nó ra ngay lập tức trước khi có thời gian để suy nghĩ, như cái cách thỉnh thoảng (không thường xuyên lắm) cô vẫn nhấn nhá cái bánh quy hay miếng sô cô la cuối cùng trong miệng, trước khi lương tâm bắt kịp thói háu ăn của cô.

Chuông điện thoại lại reo. Không đeo đồng hồ, đột nhiên cô có cảm giác mình mất hết ý niệm về thời gian.

Cô quẳng đại mớ giấy tờ còn lại vào một hộp giày, mang viên đá kỷ niệm bức tường Berlin cùng lá thư xuống nhà.

Ngay khi rời khỏi tầng gác mái, cô lập tức bị cuốn vào guồng quay thường nhật. Một đơn hàng lớn của Tupperware cần giao, phải đón ba cô con gái từ trường về, phải mua cá nấu bữa tối (bốn mẹ con ăn rất nhiều cá khi John-Paul vắng nhà vì anh ấy ghét món này), phải gọi điện thoại nữa. Cha Joe đã gọi tới nhắc cô ngày mai cử hành lễ tang xơ Ursula. Dù còn chút bận tâm về mấy con số nhưng tất nhiên cô sẽ đi. Cô để lá thư của John-Paul trên tủ lạnh, đưa cho Esther viên đá bức tường Berlin ngay trước khi ngồi vào bàn ăn tối.

“Cảm ơn mẹ!” Esther sờ viên đá nhỏ với vẻ thành kính xúc động. “Chính xác thì nó thuộc về phần nào của bức tường ạ?”

“Ừm, mẹ nghĩ là khá gần ranh giới Charlie[3],” Cecilia đáp tự tin, vui vẻ. Thực ra cô đâu có biết.

Nhưng mẹ có thể kể cho con hay anh chàng thích di đá viên mặc chiếc áo phông màu đỏ, quần jean trắng đã nắm nhẹ đuôi tóc mẹ, giữ giữa mấy ngón tay rồi nói: “Tuyệt đẹp!”

“Liệu nó có đáng xu nào không nhỉ?” Polly hỏi.

“Chị nghi ngờ lắm. Làm sao chứng minh được nó thực sự được lấy từ bức tường ấy?” Isabel đáp lại. “Trông nó chẳng khác gì một viên đá bình thường.”

“Phải thử DMA,” Polly nó.

Xem ra con bé nhiễm ti vi nặng quá rồi.

“Là DNA, không phải DMA, mà DNA phải lấy của con người kia,” Esther nói.

“Em biết thừa rồi ấy chết,” Polly giận dữ khi nhận ra các chị gái mình biết điều này trước.

“Thế thì sao mà…”

“Các con đoán ai sẽ được bình chọn nhiều nhất chương trình Kẻ thua cuộc thảm hại tối nay?” Cecilia ngắt lời chúng, nghĩ thầm, Có sao đâu mà, phải, cho dù có ai đang quan sát cuộc đời mình chăng nữa, mình cũng phải chuyển chủ đề từ một giai đoạn lịch sử hiện đại thú vị có thể dạy cho mấy đứa con mình biết thứ gì đó sang một chương trình truyền hình rác rưởi chẳng có tí tẹo tính giáo dục nào nhưng lại giữ chúng yên lặng, không làm đầu mình ong lên. Nếu John-Paul ở nhà, hẳn cô sẽ không phải chuyển chủ đề. Khi có người quan sát thì cô đảm nhiệm vai trò làm mẹ cừ hơn nhiều.

Suốt thời gian còn lại của bữa tối, ba bé gái chỉ chuyện trò về chương trình Kẻ thua cuộc thảm hại, Cecilia vờ tỏ ra thích thú, trong khi tâm trí cô chỉ chăm chăm nghĩ về lá thư trên nóc tủ lạnh. Sau khi bàn ăn được dọn dẹp xong, lũ trẻ đều đi xem ti vi, cô mới lấy lá thư xuống, ngồi nhìn nó chằm chằm.

Giờ thì cô đặt tách trà xuống, soi chiếc phong bì trước đèn, mỉa mai chính mình. Lá thư như thể được viết tay trên nền giấy tập nhàu nát, nên cô chẳng thể luận ra một từ nào.

Lẽ nào John-Paul xem được trên ti vi cách mấy tay lính Afghanistan viết thư cho gia đình, để khi họ tử trận, thư sẽ được gửi đi như những bức thông điệp từ mộ chí, và anh ấy nghĩ sẽ rất thú vị nếu bắt chước?

Cô chẳng thể hình dung nổi cảnh anh ấy ngồi làm một việc như thế. Thế thì ủy mị quá!

Dầu vậy hành động này cũng rất đáng yêu. Dù chết đi, anh vẫn muốn mấy mẹ con biết anh yêu họ biết chừng nào… khi tôi đã chết. Sao anh ấy lại nghĩ tới cái chết nhỉ?

Anh ấy ốm ư? Nhưng có vẻ bức thư đã được viết từ lâu lắm rồi, mà anh ấy vẫn còn sống sờ sờ ra đấy. Hơn nữa, mới vài tuần trước, khi kiểm tra tổng thể, bác sĩ Kluger còn kết luận anh ấy “khỏe như ngựa nòi” còn gì. Rồi vài ngày sau đó, anh ấy còn chúi đầu xuống, miệng hí hí như ngựa, phi quanh nhà trong khi Polly cưỡi trên lưng, vung vẩy chiếc khăn uống trà quanh đầu như đang quất roi.

Những kí ức đó khiến Cecilia mỉm cười, nỗi lo âu bỗng chốc tan biến. Vậy là vài năm trước John-Paul bất thần nổi cơn ủy mị, viết ra bức thư này. Chẳng nên khơi chuyện này ra làm gì, và cô cũng chẳng nên mở lá thư chỉ vì tính tò mò thuần túy.

Cô nhìn đồng hồ. Gần tám giờ tối. Chắc anh ấy sẽ gọi điện về ngay thôi. Những lúc vắng nhà, mỗi tối John-Paul thường gọi điện về vào tầm này.

Cô chẳng có ý định nhắc tới lá thư đó với anh. Nó sẽ khiến anh xấu hổ, hơn nữa nói chuyện này qua điện thoại cũng không thích hợp chút nào.

Chỉ có điều, nãy giờ cô vẫn luôn thắc mắc: chính xác thì làm sao cô tìm được bức thư này nếu như anh ấy đã chết? Có thể suốt đời cô sẽ chẳng tìm ra. Sao anh không trao nó cho luật sư của gia đình - Dong Openheimer, chồng của Miriam? Mỗi lần nhắc tới cái tên này, thật khó để không nghĩ tới cảnh anh ta thủ dâm dưới vòi sen. Tất nhiên, điều này chẳng liên quan gì tới năng lực chuyên môn của anh ấy, có lẽ nó phản ánh khả năng giường chiếu của Miriam nhiều hơn. (Cecilia có phần ganh tỵ với Miriam.)

Thôi đi. Đừng có nghĩ tới chuyện giường chiếu chứ!

John-Paul ngốc nghếch. Anh ấy nên biết rằng nếu anh ấy chết, có thể trong cơn bộc phát, cô sẽ quẳng toàn bộ đống hộp giày đó đi mà chẳng buồn xem chúng chứa những gì. Nếu anh muốn cô tìm thấy bức thư thì thật điên rồ khi lại nhét nó vào cái hộp đựng giày vớ vẩn.

Tại sao không đặt vào chỗ giấy tờ có bản sao di chúc, bảo hiểm cùng những thứ tương tư?

Dù sao thì John-Paul thuộc số những người thông minh nhất mà cô biết, ngoại trừ phương diện logic trong đời sống.

“Chị thực sự chẳng hiểu nổi tại sao bọn đàn ông lại thống trị thế giới,” mới sáng nay thôi cô còn than vãn với Bridget sau khi kể cho cô em gái nghe lý do John-Paul làm mất chìa khóa chiếc xe thuê ở Chicago. Cecilia muốn nổi điên khi nhận được tin nhắn của chồng. Nhưng cô chẳng thể làm gì cả! Chồng cô chỉ cần cô giữ bình tĩnh mà thôi!

Những việc tương tự vẫn thường xảy đến với John-Paul. Anh cứ đánh mất đồ liên tục. Có dạo ra nước ngoài, anh ấy bỏ quên laptop trên xe taxi. Ví tiền, điện thoại, chìa khóa, cả nhẫn cưới nữa cứ thế rời bỏ anh ấy mà đi.

“Bọn họ rất giỏi xây dựng,” em gái cô đã đáp thế. “Xây cầu làm đường. Ý em là, liệu chị có dựng nổi một túp lều không? Loại lều căn bản trát bùn ấy?”

“Chị tự dựng lều được,” Cecilia đáp.

“Có lẽ chị làm được thật,” Bridget lầm bầm như thừa nhận thất bại. “Dù sao thì đàn ông cũng đâu có thống trị toàn bộ thế giới. Nước ta có nữ thủ tướng mà. Chị cũng đang làm chủ thế giới của chính mình. Chị làm chủ gia đình Fitzpatrick. Chị đứng đầu hội phụ huynh ở trường St Angela’s. Chị tự chủ ở Tupperware.”

Cecilia là Chủ tịch hội cha mẹ học sinh ở trường tiểu học St Angela’s. Cô là nhà tư vấn xếp thứ mười một của Tupperware trên toàn nước Úc. Thật lạ là em gái cô coi cả hai chức danh này đều tức cười và vô nghĩa.

“Chị đâu có làm chủ gia đình Fitzpatrick,” Cecilia phản đối.

“Ừ, thì không,” Bridget cười lớn.

Thực ra nếu Cecilia chết, gia đình Fitzpatrick sẽ chỉ, ừm, thật không chịu nổi khi ngồi nghĩ xem chuyện gì sẽ xảy ra. John-Paul sẽ cần đến không chỉ một lá thư của cô. Anh ấy sẽ cần cẩm nang gia đình toàn tập, kể cả sơ đồ sàn nhà với vị trí chỗ giặt cùng tủ đựng đồ may từ vải lanh.

Điện thoại đổ chuông. Cô vồ lấy ống nghe.

“Để anh đoán nhé. Các con gái của chúng mình đang xem mấy người béo, phải không?” John-Paul lên tiếng. Lúc nào cô cũng yêu giọng nói của anh qua điện thoại: trầm, ấm và dễ chịu. Có thể chồng cô kém năng lực, hay làm mất đồ, chậm chạp, nhưng anh ấy luôn quan tâm tới vợ con theo cách riêng, đầy trách nhiệm, kiểu tôi là đàn ông, đây là việc tôi cần làm. Bridget nói đúng, Cecilia làm chủ thế giới của chính cô, nhưng cô vẫn biết rằng nếu có bất cứ chuyện gì tồi tệ xảy ra - một gã cầm súng điên khùng, một trận lũ, một trận hỏa hoạn - thì John-Paul sẽ là người duy nhất tới cứu mấy mẹ con. Anh ấy sẽ lao ra chắn làn đạn, làm bè gỗ chờ cả nhà an toàn vượt qua địa ngục dữ dội, rồi khi xong xuôi, anh ấy lại trao quyền kiểm soát cho Cecilia, vỗ vỗ túi mình rồi nói, “Có ai thấy ví của bố đâu không?”

Sau khi chứng kiến cảnh người nhện nhí chết, việc đầu tiên cô làm là gọi cho John-Paul, mấy ngón tay cô run lẩy bẩy trong khi nhấn phím.

“Em tìm được lá thư này,” Cecilia nói. Cô miết đầu ngón tay lên dòng chữ anh viết ờ mặt trước phong bì. Vừa mới nghe thấy giọng chồng, gần như ngay lập tức, cô biết mình sẽ đề cập đến chuyện đó. Bọn họ lấy nhau được mười lăm năm nay rồi. Chưa bao giờ giấu nhau điều gì.

“Thư nào?”

“Thư của anh viết,” Cecilia nói. Cô cố giữ giọng bông đùa nhẹ nhàng để không khí được tự nhiên, để dù trong thư viết gì đi nữa, mọi thứ vẫn bình thường và nguyên vẹn như bây giờ. “Gửi cho em, chỉ được mở khi anh đã chết.” Thật khó nói ra mấy từ “khi anh đã chết” với chồng mà không lạc giọng.

Đầu bên kia im lặng. Trong thoáng chốc cô cứ ngỡ đã cúp máy, có điều cô nghe thấy tiếng xì xào nho nhỏ vọng lại. Hình như anh gọi về từ một nhà hàng nào đó.

Dạ dày cô thắt lại.

“John-Paul?”


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 19.06.2018, 10:28
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35563
Được thanks: 5268 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tâm lý XH] Tội tình vì yêu - Liane Moriarty - Điểm: 10
Chương 2


“Nếu đây là một trò đùa thì chẳng vui vẻ tí nào,” Tess nói. Bàn tay Will nắm lấy cánh tay cô. Felicity cũng đặt tay trên tay cô.

“Bọn tớ rất, rất tiếc,” Felicity nói.

“Rất tiếc,” Will lặp lại, như thể cả hai đang hát cặp với nhau.

Bọn họ đang ngồi bên chiếc bàn gỗ mặt tròn lớn thỉnh thoảng vẫn dùng để tiếp khách hàng, nhưng đa phần là để ăn pizza. Mặt Will trắng bệch. Tess có thể nhìn thấy những sợi râu tí xíu lún phún nhú lên theo đường cạo sắc lém, hệt như những cây giống tí hon mọc lên trên nền da trắng ngỡ ngàng của anh ấy.

Felicity có ba vết đỏ trên cổ.

Trong thoáng chốc, Tess sững người trước ba vết đỏ đó, như thể chúng nằm giữ lời đáp. Chúng hệt như những dấu vân tay mới trên chiếc cổ thanh mảnh là lạ của Felicity. Cuối cùng, Tess ngước mặt lên nhìn vào cặp mắt của Felicity - đôi mắt màu xanh lá hình quả hạnh đẹp có tiếng giờ đỏ ngầu và giàn giụa nước.

“Vậy ra là thật,” Tess nói. “Thật sự là hai người…” Cô ngừng lại. Nghẹn đắng.

“Bọn tớ muốn cậu biết là thực ra chẳng có việc gì xảy ra cả,” Felicity ngắt lời cô.

“Bọn anh vẫn chưa… Em biết đấy,” Will nói.

“Các người chưa ngủ với nhau.” Tess thấy rõ ràng cả hai đều tự hào vì điều này, bọn họ muốn cô phải ngưỡng mộ vì khả năng kiềm chế.

“Hoàn toàn chưa,” Will đáp.

“Nhưng các người muốn thế,” Tess chua chát. Cô suýt nữa bật cười trước ngầm ý ngớ ngẩn của bọn họ. “Các người muốn nói với tôi điều đó, phải không? Các người muốn ngủ với nhau.”

Hẳn bọn họ đã hôn hít nhau chán chê rồi. Điều này còn tệ hơn cả việc họ lên giường với nhau kia. Ai mà chẳng biết những nụ hôn vụng trộm luôn là thứ lôi cuốn nhất trên đời kia chứ.

Những vết đỏ trên cổ Felicity bắt đầu lượn lờ ngay rìa hàm dưới cô ta. Trông như thể vừa mắc phải căn bệnh truyền nhiễm nào đó hiếm gặp lắm.

“Bọn anh rất tiếc,” Will nhắc lại. “Bọn anh đã cố gắng lắm - để ngăn sự việc này.”

“Thực sự cố gắng,” Felicity nói. “Cậu biết không, nhiều tháng nay, bọn tớ chỉ…”

“Nhiều tháng nay? Chuyện này đã kéo dài nhiều tháng nay?”

“Thực ra chẳng có chuyện gì xảy ra cả,” Will nói, giọng nghiêm trang như đang ở nhà thờ.

“À, chỉ là có chút gì đó thôi chứ gì,” Tess đáp. “Chút gì đó khá sâu sắc và ấn tượng.” Thật kì lạ là cô vẫn đủ bình tĩnh để tỏ ra cứng rắn như thế. Mỗi lời nghe nặng nề như cả khối bê tông.

“Xin lỗi,” Will nói. “Tất nhiên là anh chỉ có ý… Em biết rồi mà.”

Felicity đưa tay bấm bấm lên trán, bắt đầu thổn thức. “Ôi Tess ơi.”

Tess tự giơ tay ra vỗ về Felicity. Bọn họ còn thân thiết hơn chị em gái. Cô ta vẫn thường bảo với mọi người thế. Mẹ của Felicity và Tess là chị em sinh đôi, hai người đều là con một, chỉ sinh cách nhau sáu tháng. Cả hai đã cùng nhau làm mọi thứ.

Tess từng có lần đấm một thằng con trai - một cú đấm ra trò ngay bên hàm - bởi vì hắn ta dám gọi Felicity là voi con, dù đó chính xác là vẻ ngoài của Felicity suốt thời đi học. Lớn lên Felicity vẫn béo ú, “một cô nàng to béo có gương mặt xinh đẹp”. Cô ta uống Coke thay nước, chẳng có một chế độ ăn, chế độ tập luyện hay thứ gì tương tự có thể làm sụt cân nặng của cô ta. Và rồi, sáu tháng trước, Felicity tham gia hội những người sợ béo, bỏ uống Coke, đăng kí các lớp thể dục, giảm được bốn mươi cân và trở nên xinh đẹp. Vô cùng xinh đẹp. Đúng y chang hình mẫu mà người ta săn tìm cho chương trình “Kẻ thua cuộc thảm hại”: một phụ nữ lộng lẫy mắc kẹt trong lớp vỏ to béo.

Tess lấy làm mừng thay cô ta. “Cô ấy sẽ gặp được ai đó rất tuyệt,” cô bảo với Will. “Giờ cô ấy tự tin hơn nhiều.”

Và có vẻ như điều ấy đã trở thành sự thật. Will là người đàn ông tuyệt vời nhất Tess từng biết. Chắc phải tự tin lắm lắm Felicity mới làm được việc này: cướp chồng của người chị em thân thiết nhất với mình.

“Tớ xin lỗi, tớ muốn chết quách đi cho rồi,” Felicity thổn thức.

Tess rút tay lại. Felicity - Felicity hay càu nhàu, châm biếm, khôi hài, thông minh, to béo - giờ lại mở miệng hệt như một kẻ nịnh nọt người Mỹ.

Will vỗ nhẹ sau đầu, nghiến răng nhìn chằm chằm trần nhà cố không để mắt rơm rớm. Lần cuối cùng Tess thấy anh ta khóc là khi Liam ra đời.

Mạt Tess ráo hoảnh. Tim cô đập thình thịch như thể đang khiếp đảm chuyện gì kinh khủng lắm, hoặc cuộc đời cô đang gặp bất trắc, nguy nan. Điện thoại bỗng đổ chuông.

“Kệ đi,” Will nói. “Hết giờ làm rồi.”

Tess đứng dậy, tiến lại bàn mình nhấc máy lên.

“Công ty Quảng cáo TWF xin nghe,” cô nói.

“Tess yêu quý ơi, tôi biết điều này trễ quá, nhưng chúng tôi gặp phải một vấn đề nho nhỏ.”

Người gọi tới là Dirk Freeman, Giám đốc Marketing của Công ty Dược phẩm Petra, khách hàng quan trọng và mang lại nhiều lợi ích nhất cho công ty cô. Trên lý thuyết, việc của Tess là tâng Dirk lên mây, cam đoan với ông ta là dù đã năm mươi sáu tuổi, chưa từng leo lên đến chức vị nào cao hơn trên hàng quản lý nhưng ông ta vẫn là người được trọng vọng. Còn trên thực tế, Tess chẳng khác nào một người hầu, con ở, đứa phục vụ hèn kém của ông ta. Ông ta có thể bảo cô làm việc gì đó, kiểu ve vãn tán tỉnh, kiểu gắt gỏng cộc cằn, kiểu nghiêm khắc lạnh lùng, dù cô có phản đối thế nào, nhưng rốt cuộc, cô vẫn phải làm những gì ông ta yêu cầu.

“Màu của con rồng trê mẫu thuốc ho sai bét cả,” Dirk nói. “Màu tía quá đậm. Phải nói là quá đậm! Đã gửi cho nhà in chưa?”

Rồi, tất cả đã tới xưởng in. Năm mươi ngàn hộp các tông nhỏ đã được in trong ngày. Năm mươi ngàn chú rồng màu tía đẹp hoàn hảo, toét miệng khoe răng nanh.

Từ lúc công việc được triển khai, mọi việc đều xoay quanh lũ rồng này. Hết email đến gặp mặt bàn bạc. Và trong khi Tess đầu tắt mặt tối, túi bụi với lũ rồng thì hai con người kia lại có thời gian rảnh rỗi chim chuột nhau. Thật nực cười!

“Chưa đâu,” Tess đáp, mắt liếc nhìn chồng và người chị em thân thiết vẫn đang ngồi ở bàn tiếp khách chính giữa phòng, đầu bọn họ cúi xuống, nhìn trân trân mấy đâu ngón tay, hệt như mấy đứa học sinh bị phạt ở lại trường sau giờ học. “Hôm nay anh gặp may đấy anh Dirk.”

“Ôi, tôi những tưởng - ừm, tuyệt lắm!” Ông ta đáp lại, giọng nói chẳng giấu nổi sự thất vọng. ông ta muốn Tess lo đến nghẹt thở. ông ta muốn nghe giọng điệu hoảng hốt của cô đây mà.

Giọng ông ta trầm xuống, thô lỗ và hống hách. “Tôi muốn cô giữ nguyên mọi thứ với kiện hình ảnh thuốc ho, được chứ? Toàn bộ kiện. Cô hiểu chứ?”

“Tôi hiểu. Giữ nguyên thiết kế thuốc ho.”

“Tôi sẽ liên lạc với cô sau.”

Ông ta gác máy. Chẳng có gì bất ổn về màu sắc cả. Ngày mai ông ta sẽ gọi lại, nói rằng mẫu rất đẹp. Chẳng qua ông ta cần chút ít cảm giác quyền lực mà thôi. Hẳn là có tay quản lý trẻ tuổi nào đó đã khiến ông ta cảm thấy thua kém trong cuộc họp.

“Lô hộp thuốc ho hôm nay được đưa đi in rồi.” Felicity cựa quậy trên ghế, lo âu nhìn Tess.

“Không sao,” Tess đáp.

“Nhưng nếu ông ta muốn thay đổi…” Will nói.

“Tôi đã nói là không sao.”

Cô không giận dữ. Chắc chắn là vậy. Nhưng hơn ai hết, cô có thể cảm nhận rõ ràng một cơn giận khủng khiếp nhất từ trước đến nay, như một ngọn núi lửa sôi sục chỉ chực phun trào hủy diệt mọi thứ xung quanh.

Không ngồi trở lại chỗ cũ, thay vào đó Tess xoay người nhìn tấm bảng trắng ghi lại tiến trình làm việc.

Lô hộp thuốc ho! Quảng cáo trên Feathermart!! Website Bedstuff:)

Thật là bẽ bàng làm sao khi nhìn nét chữ viết tay tự tin, phóng khoáng, nguệch ngoạc của cô cùng mấy dấu chấm than suồng sã kia. Cả biểu tượng mặt cười đứng cạnh tên website Bedstuff nữa chứ. Bọn họ đã phải làm việc khổ sở lắm mới đánh bại những đối thủ lớn hơn và giành được hợp đồng đó! Phải, họ đã đạt được. Mới hôm qua thôi, cô còn hồn nhiên vẽ biểu tượng mặt cười đó mà chẳng hề hay biết đến bí mật Will và Felicity đang che giấu. Liệu sau lưng cô, bọn họ có sầu não nhìn nhau, lòng tự hỏi Mặt cô ấy hẳn sẽ chẳng cười nổi khi chúng ta tiết lộ bí mật nho nhỏ này, phải không?

Điện thoại lại đổ chuông.

Lần này Tess để cho máy trả lời tự động.

Công ty Quảng cáo TWF. Tên bọn họ ghép lại với nhau để làm nên giấc mơ nhỏ xinh này. Cuộc chuyện trò “nếu như… thì…” của bọn họ thực sự đã trở thành hiện thực.

Giáng sinh năm kia họ tới Sydney nghỉ lễ. Theo truyền thống cả ba sẽ đón Noel ở nhà bố mẹ Felicity - dì Mary và dượng Phil của Tess. Lúc ấy, Felicity vẫn đang béo, xinh tươi, hồng hào và toát mồ hôi hột trong bộ váy cỡ 22. Trong bữa tiệc nướng ngoài trời, cả nhà đã thưởng thức món xúc xích truyền thống, salad mỳ kem tươi truyền thống cùng bánh xốp phủ kem trái cây.

Cả Felicity lẫn Will đều phàn nàn về công việc của họ. Quản lý thiếu trình độ. Đồng nghiệp ngớ ngẩn. Văn phòng bị gió lùa. Còn đủ thứ linh tinh khác nữa.

“Xời, mấy đứa cháu đều đua nhau khổ sở hết cả đấy à,” dượng Phil nói, giờ đã nghỉ hưu, dượng chẳng còn việc gì để phàn nàn cả.

“Sao các con không cùng nhau mở công ty?” Mẹ Tess nói.

Đúng là cả ba đều làm trong cùng một lĩnh vực. Tess là nhà quản lý marketing truyền thông của một công ty xuất bản bảo thủ kiểu trước-giờ-chúng-tôi-toàn-làm-như-thế. Will là giám đốc sáng tạo của một hãng quảng cáo lớn có tiếng tăm, đặc-biệt-hài-lòng-về-chính-mình. (Tess là khách hàng của Will, chính vì thế mà họ gặp nhau.) Felicity là nhà thiết kế đồ họa làm việc cho một kẻ độc tài hống hách.

Khi họ bắt đầu bàn đến chủ đề này, ý tưởng được lên khuôn chóng vánh. Click, click, click! Đến lúc cả ba nhồm nhoàm chén những miếng bánh xốp cuối cùng, tất cả đã đâu vào đấy. Will sẽ là Giám đốc sáng tạo! Hiển nhiên rồi! Felicity sẽ là Giám đốc nghệ thuật! Chắc chắn thế! Còn Tess sẽ là Giám đốc kinh doanh! Vi trí này chưa hẳn là xác đáng. Thực ra, cô chưa từng nắm giữ vai trò tương tự. Cô luôn mang tư cách khách hàng, và tự coi bản thân mình có xu hướng hướng nội.

Mấy tuần trước, cô có làm bài trắc nghiệm “Bạn có khổ sở vì những mối lo âu xã hội?” trên tờ Reader’s Digest trong khi chờ tới lượt khám. Các câu trả lời của cô (tất cả đều là C) khẳng định cô thuộc nhóm trên, tức là khổ sở vì những mối lo âu xã hội và nên hỏi ý kiến chuyên gia hoặc “tham gia một nhóm trợ giúp”. Hẳn là ai làm bài trắc nghiệm đó cũng đều nhận được kết quả tương tự. Đương nhiên, nếu không nghi ngờ mình mắc chứng lo âu này thì đâu có ai rảnh rỗi đến mức đi làm bài trắc nghiệm này chứ, thà để thời gian đó chuyện trò với nhân viên lễ tân còn có ích hơn.

Tất nhiên cô chẳng hỏi ý kiến chuyên gia, cũng chẳng kể cho một ai nghe chuyện này. Không với Will. Cả Felicity cũng không. Nếu cô kể nghĩa là đã biến nó thành hiện thực. Hai người bọn họ sẽ tha hồ quan sát cô trong những ứng xử xã hội hoặc tỏ lòng thương cảm khi thấy chứng cứ bẽ mặt về việc cô xấu hồ, ngượng ngập. Tốt nhất nên giấu đi thì hơn. Khi cô còn bé xíu, có lần mẹ đã bảo với cô rằng xấu hổ là một dạng khác của tính ích kỷ. “Con thấy đấy, khi con cúi đầu như vậy, con yêu, mọi người sẽ nghĩ là con không ưa họ!” Những lời này Tess đã thuộc lòng. Cô lớn lên, học được cách chuyện trò đôi chút dù tim vẫn đập thình thịch. Cô ép bản thân mình phải mắt nhìn thẳng người đối diện, dù lúc ấy đầu óc đang gào thét điên cuồng quay đi chỗ khác, quay đi chỗ khác! “Cảm lạnh chút xíu ấy mà,” cô sẽ nói vậy để giải thích cho cổ họng khô khốc của mình. Cô học cách chấp nhận, giống như cách người ta sống chung với hội chứng không dung nạp đường sữa hoặc làn da quá nhạy cảm.

Dầu sao thì dịp Giáng sinh năm ấy, Tess cũng chẳng có chút lo âu. Tất cả mới chỉ là lời nói suông bột phát khi cả bọn nốc đầy rượu nhà dì Mary. Ba người bọn họ sẽ không thực sự cùng nhau mở công ty. Đồng nghĩa với việc cô sẽ thực sự không cần trở thành Giám đốc kinh doanh nữa.

Nhưng rồi, vào dịp năm mới, khi đã trở lại Melbourne, Will và Felicity cứ nhắc lại chuyện ấy mãi. Tầng trệt ngôi nhà của Will và Tess rất rộng rãi, người chủ trước hay dùng làm “chỗ tụ tập của đám thiếu niên”. Thậm chí, còn có lối vào riêng. Họ chẳng mất gì cả, vả lại, vốn đầu tư ban đầu cũng không đáng là bao. Will và Tess sẽ nộp thêm tiền vào khoản thế chấp. Felicity đang ở chung căn hộ với người khác. Nếu họ thất bại, họ vẫn có thể tìm công việc mới.

Tess đã bị lòng nhiệt huyết của bọn họ cuốn theo. Cô vui vẻ bỏ việc, nhưng lần đầu tiên ngồi bên ngoài văn phòng một khách hàng tiềm năng, cô đã phải nhét hai bàn tay giữa đầu gối để khỏi run rẩy. Cô thực sự cảm thấy đầu óc mình quay cuồng. Kể cả bây giờ, sau mười tám tháng đảm đương công việc, cô vẫn phải chịu đựng chứng suy nhược thần kinh mỗi khi gặp một khách hàng mới. Tuy nhiên cô lại thành công lạ thường với vai trò này. “Cô khác với những tay đại lý khác,” một khách hàng bảo với cô vào cuối buổi gặp mặt đầu tiên trong khi bắt tay để ký kết hợp đồng. “Cô thực sự lắng nghe hơn là nói.”

Thần kinh căng thẳng được cân bằng trở lại nhờ trạng thái phấn khích tuyệt vời mỗi khi cô rời khỏi cuộc hẹn. Như thể bước trên mây vậy. Thêm một lần thành công. Cô đánh bại tên quái vật, giành chiến thắng. Quan trọng hơn, chẳng một ai ngờ vực bí mật của cô. Cô mang về các hợp đồng. Việc làm ăn tấn tới. Thậm chí, buổi ra mắt sản phẩm họ tổ chức cho một công ty mỹ phẩm đã giành giải thưởng marketing.

Với vai trò của mình, Tess thường xuyên vắng mặt ở văn phòng, để Will và Felicity ở lại với nhau hàng giờ liền. Nếu có ai đó hỏi điều đó có làm cô lo lắng không, hẳn cô sẽ cười vang. “Đối với anh Will, Felicity chẳng khác nào một cô em gái vậy,” cô sẽ đáp thế.

Cô quay mặt khỏi tấm bảng trắng. Đôi chân yếu ớt không ngừng run rẩy. Cô bước trở lại bàn, chọn một chiếc ghế ở phía cách xa bọn họ. Cô cố gắng lấy lại phong thái của mình.

Bấy giờ là sáu giờ, một tối thứ Hai. Cô đang ở mốc chính giữa cuộc đời mình.

Có quá nhiều thứ khiến Tess phân tâm khi Will lên tầng nói rằng anh và Felicity cần nói với cô chuyện gì đó. Cô vừa mới kết thúc cuộc nói chuyện với mẹ sau khi bà gọi tới kể rằng vừa gãy mắt cá chân do chơi tennis. Bà sẽ phải mang nạng trong suốt tám tuần tới, bà rất tiếc, nhưng liệu năm nay cả nhà có thể đón mùa lễ Phục sinh ờ Sydney thay vì ở Melbourne được không?

Đây là lần đầu tiên sau mười lăm năm trời Tess và Felicity sống xa nhà mà Tess cảm thấy tệ hại vì không sống gần mẹ.

“Bọn con sẽ đáp chuyến bay thẳng sau giờ học ngày thứ Năm,” Tess đã nó thế. “Mẹ có thể xoay xở đến lúc đó không ạ?”

“Ồ, mẹ sẽ ổn thôi. Dì Mary sẽ giúp mẹ. Còn thêm cả hàng xóm láng giềng nữa.”

Nhưng dì Mary không lái được xe, Tess cũng chẳng thể mong dượng Phil tới chở mẹ hằng ngày. Hơn nữa, cả dì Mary lẫn dượng Phil có vẻ ngày càng già yếu. Hàng xóm của mẹ Tess đều là những cụ bà ốm yếu hoặc những gia đình trẻ bận rộn hầu như chẳng có thời gian chào hỏi khi lái xe ra khỏi nhà. Không có vẻ gì là họ sẽ mang thịt hầm sang cho mẹ cô cả.

Tess đã hao tâm khổ tứ suy nghĩ liệu có nên đặt vé bay về Sydney ngay ngày hôm sau rồi tìm một người giúp việc nhà cho mẹ không. Mẹ cô rất ghét việc có người lạ mặt ở trong nhà, nhưng làm sao bà tự tắm được? Làm sao bà nấu ăn được đây?

Thật nan giải. Còn bao nhiêu việc phải làm, cô cũng không muốn xa Liam. Thằng bé chưa được cứng cáp lắm. Ở lớp nó có một đứa bạn - Marcus - cứ luôn tìm cách chọc phá nó. Nếu hẳn là bắt nạt thì sẽ dễ dàng can thiệp, có thể áp theo quy định nghiêm khắc của nhà trường - “Trường sẽ không dung thứ những học sinh bắt nạt bạn bè”. Marcus tinh quái hơn thế nhiều. Nó là đứa bé thần kinh không ổn định nhưng lại giành được cảm tình của mọi người.

Ngày hôm đó ở trường, Marcus đã gây ra việc gì kinh khủng lầm, Tess dám chắc như thế. Cô đang chia bữa tối cho Liam trong khi Will và Felicity làm việc ở tầng dưới. Đa phần các buổi tối, cô cùng Will và Liam, thường cả Felicity nữa, đều cố gắng thu xếp thời gian ăn tối cùng nhau như một gia đình. Nhưng website Bedstuff sắp khai trương vào thứ Sáu tuần đó nên tất cả đều làm việc hàng giờ liền không ngừng nghỉ.

Trong khi ăn tối, Liam yên lặng hơn thường lệ. Thằng bé thuộc tuýp hay mơ mộng, hay suy nghĩ, chưa bao giờ thích huyên thuyên, nhưng nét buồn rầu, trường thành ở cách nó máy móc dùng nĩa xiên từng miếng xúc xích rồi nhúng vào nước xốt cà chua thật không bình thường chút nào cả.

“Hôm nay con có chơi cùng Marcus không?” Tess hỏi.

“Không ạ,” Liam đáp. “Hôm nay là thứ Hai.”

“Thứ Hai thì sao?”

Nhưng thằng bé không chịu mở lòng, không hé răng nửa lời. Tess cảm thấy cơn giận bốc lên trong tim. Cô phải nói chuyện với giáo viên của thằng bé lần nữa. Cô có cảm giác chắc chắn con trai mình đang mắc kẹt trong mối quan hệ bị lạm dụng mà không ai thấy được. Trường học chẳng khác nào chiến trường.

Khi Will hỏi Tess liệu cô có thể xuống lầu không thì tâm trí cô đang mải để tâm đến hai chuyện: chuyện mắt cá chân của mẹ cô và chuyện thằng nhóc Marcus.

Will và Felicity đang ngồi đợi cô ở bàn họp. Trước khi ngồi cùng bọn họ, Tess thu dọn hết cốc tách cà phê nằm rải rác khắp văn phòng. Felicity có thói quen luôn để thừa cà phê. Tess đặt mấy cái cốc thành hàng trên bàn họp rồi nói, “Kỷ lục mới đấy Felicity. Năm cốc còn một nửa.”

Felicity không nói gì, nhìn Tess vẻ là lạ, như thể chính cô ta cũng thực sự thấy không hài lòng về mấy tách cà phê. Tiếp đó, Will lên tiếng, lời lẽ có vẻ bất thường. “Tess, anh không biết phải nói ra làm sao, anh và Felicity yêu nhau”.

“Hài quá!” Tess gom mấy chiếc tách lại cạnh nhau, mỉm cười. “Vui thật đấy!”

Nhưng chẳng có vẻ gì là đùa cả.

Giờ thì cô đặt tay lên mặt bàn gỗ thông màu vàng mật ong, nhìn bọn họ chằm chằm. Đôi tay cô nhợt nhạt, lộ rõ từng khớp ngón, đầy gân xanh. Một anh chàng người yêu cũ mà cô chẳng thể nhớ nổi là ai, có lần thổ lộ rằng anh ta yêu cô cũng vì đôi bàn tay đó. Will cũng khốn đốn ra trò mới lồng được chiếc nhẫn qua khớp đốt ngón tay cô trong lễ cưới. Các khách mời đều bật cười vui vẻ. Will đã vờ trút một hơi dài nhẹ nhõm khi đã đeo được nhẫn cho cô, trong khi tay anh lén mơn trớn tay cô.

Tess nhìn lên, thấy Will và Felicity trộm nhìn nhau, ánh mắt lộ rõ vẻ lo âu.

“Vậy là tình yêu đích thực, phải không?” Tess nói. “Các người là tri kỷ của nhau, có phải không?”

Vẻ căng thẳng hiện lên trên mặt Will. Felicity bứt tóc bứt tai không dứt.

Phải. Cả hai bọn họ đều đang nghĩ thế. Phải, đó là tình yêu đích thực. Phải, bọn mình là tri kỷ của nhau.

“Chuyện này bắt đầu chính xác là từ khi nào?” Cô hỏi. “Từ khi nào ‘cảm xúc’ giữa hai người tiến triển đến mức này?”

“Khi nào thì có quan trọng gì đâu,” Will vội vã đáp.

“Quan trọng đối với tôi, được chưa?” Giọng Tess cao vống lên.

“Chừng sáu tháng trước. Tớ không chắc lắm.” Felicity ngập ngừng, mắt vẫn dán chặt cho bàn.

“Vậy là từ khi cậu bắt đầu giảm cân?” Tess nói.

Felicity nhún vai.

Tess quay sang Will, “Hay làm sao, khi cô ấy còn béo ú, anh còn chẳng bao giờ thèm liếc mắt đến lần thứ hai.”

Giọng điệu chua cay tàn độc chất đây miệng cô. Đã bao lâu rồi cô mới để mình thốt ra những lời độc địa như thế? Chưa bao giờ kể từ khi cô bước vào tuổi thiếu niên.

Cô chưa từng bảo Felicity béo. Cũng chưa bao giờ nói một lời nào chê bai cân nặng của cô ta.

“Tess, xin em…” Will lên tiếng, không một chút trách cứ, chỉ chất chứa sự dịu dàng, tuyệt vọng.

“Được mà,” Felicity nói. “Em đáng bị nói như thế. Chúng ta đáng bị như thế.” Cô ta ngẩng mặt nhìn Tess, không giấu vẻ nhún nhường.

Vậy là Tess cứ việc đấm đá, cào cấu bao nhiêu tùy thích. Bọn họ sẽ chỉ ngồi chịu trận, bao lâu cũng được, không chống đỡ, không giải thích. Về cơ bản cả Will và Felicity đều là người tốt. Cô biết. Vì thế nên bọn họ sẽ cư xử tử tế trước chuyện này, thấu hiểu và chấp nhận cơn giận của Tess, và rồi cuối cùng chính Tess mới là kẻ xấu xa, chứ không phải bọn họ. Bọn họ chưa thực sự ngủ chung, bọn họ không phản bội cô. Bọn họ yêu nhau! Không phải loại tình yêu dơ bẩn, đáng nguyền rủa mà người ta thường lên án. Là do định mệnh. Là số phận đưa họ đến với nhau. Không một ai có thể nghĩ xấu về họ.

Thật là một kế hoạch bài bản thiên tài.

“Sao anh không tự nói với tôi?” Tess cố gắng nhìn Will, chăm chú đến mức có thể kéo anh trở về dù anh đang lạc lối nơi đâu. Đôi mắt Will, đôi mắt màu nâu vàng nhạt lạ lùng cùng hàng mi đen dày, khác xa sắc xanh biển mơ màng tầm thường của Tess. Đôi mắt mà con trai cô được thừa hưởng và đôi lúc Tess từng nghĩ đã hoàn toàn thuộc về mình, một kiểu chiếm hữu đầy yêu thương mà cô thường đón nhận những lời khen ngợi - “Mắt con trai cô đẹp quá!” “Là bản sao của bố nó đấy. Không phải từ tôi đâu.” Nhưng mọi thứ đều là của cô. Của cô. Đôi mắt ấy là của cô. Đôi mắt màu vàng của Will khiến anh tự hào, anh luôn sẵn sàng cười nhạo cả thế giới, anh coi cuộc sống thường ngày khá khôi hài, đó là một trong số những điều khiến cô yêu anh hơn cả, nhưng ngay lúc này đây đôi mắt ấy nhìn cô với vẻ khẩn nài không che giấu, hệt như ánh mắt của Liam mỗi khi muốn thứ gì đó ở siêu thị.

Đi mẹ, con muốn món đồ nhiều đường với các chất bảo quản cùng giấy gói long lanh kia. Con biết là con đã hứa sẽ không xin gì thêm nhưng con muốn có nó.

Xin em, Tess, anh muốn được cùng Felicity. Anh biết mình đã thề trước Chúa sẽ luôn bên em dù sướng vui hay buồn khổ, dù khỏe mạnh hay ốm đau, nhưng… xin em.

Không. Anh sẽ không bao giờ có được cô ta. Tôi nói là không.

“Bọn anh không thể tìm được thời điểm hay địa điểm nào thích hợp hơn,” Will nó mà cả hai đứa anh đều muốn thú nhận với em. Bọn ai không thể… Rồi bọn anh nghĩ, chẳng thể nào tiếp tục giấu em nữa, vậy nên…” Hàm anh ta chuyển động liên hồi, hệt như con gà tây quay trong lò, tới rồi lui sang bên này rồi sang bên kia. “Bọn anh nghĩ giờ là lúc thích hợp nhất.”

Bọn anh. Hẳn là “bọn anh” cơ đấy. Vậy là họ đã bàn bạc với nhau trước rồi. Mà không có mặt cô. Phải, tất nhiên là khi không có mặt cô. Họ đã “yêu nhau” sau lưng cô mà cô không hề hay biết.

“Tớ nghĩ tớ cũng nên có mặt ở đây,” Felicity nói.

“Cậu cũng biết à?” Tess đáp. Cô không thể chịu nổi việc đưa mắt nhìn Felicity. “Vậy chắc cậu cũng biết tiếp theo nên làm gì chứ?”

Vừa dứt lời, cảm giác khó chịu buồn nôn bao trùm cả người cô. Chắc chắn là sẽ chẳng có việc gì tiếp theo cả. Felicity sẽ lao vào một lớp thể dục mới nào đó, Will sẽ lên lầu, chuyện trò với Liam để nắm bắt được cốt lõi vấn đề rắc rối của thằng bé với thằng nhóc Marcus, trong khi đó Tess sẽ xào đồ ăn cho bữa tối; cô đã có đủ nguyên liệu rồi. Thật kỳ quặc là vào thời điểm nhạy cảm này, cô lại nghĩ tới đĩa thịt gà bọc giấy bóng nằm yên trong tủ lạnh. Không có gì thay đổi, cô và Will vẫn sẽ cùng nhau uống một ly từ bình rượu đã vơi mất một nửa, bàn luận về những anh chàng tiềm năng của cô nàng Felicity xinh đẹp mới nổi. Cả hai đã vạch ra rất nhiều khả năng. Tay quản lý ngân hàng người Ý này. Anh chàng trầm lặng, chủ cửa hàng thức ăn trong vùng này. Vậy mà Will chưa một lần nào vỗ tay lên trán nói rằng: “Phải rồi! Sao anh lại có thể đãng trí thế nhỉ? Tìm ở đâu xa, anh đây này! Anh chính là người hoàn hảo dành cho cô ấy!”

Một trò đùa. Cô chẳng thế nào ngừng việc suy nghĩ toàn bộ chuyện này chỉ là một trò đùa không hơn không kém.

“Bọn anh biết không có cách nào khiến việc này dễ dàng, đúng đắn hay tốt đẹp hơn cả,” Will nó. “Nhưng bọn anh sẽ làm bất cứ chuyện gì em muốn, bất cứ chuyện gì em nghĩ sẽ công bằng với bản thân mình và Liam.”

“Đối với Liam,” Tess nhắc lại, điếng người.

Vì lý do gì đó, cô chưa từng nghĩ đến việc sẽ nói chuyện này với Liam, nó vô tội và không đáng để bị dính líu tới những sai lầm của người lớn. Thằng bé vẫn đang ở trên lầu, hẳn là nó đang nằm sấp, dán mắt lên ti vi, đầu óc sáu tuổi nhỏ bé ngập tràn những mối lo sợ to đùng mang dáng hình Marcus.

Không được, cô nghĩ. Không, không, không. Hoàn toàn không được.

Cảnh tượng mẹ cô xuất hiện ở cửa phòng ngủ và nói “Bố mẹ muốn nói với con chuyện này,” vụt qua trong tâm trí. Cô sẽ không để chuyện đó xảy đến với Liam. Trừ khi là họ bước qua xác cô trước đã. Đứa bé xinh xắn với gương mặt nghiêm nghị của cô sẽ không phải chịu đựng nỗi mất mát và rối loạn như mẹ nó vào mùa hè kinh khủng nhiều năm trước đó. Nó sẽ không phải nhét đồ ở lại qua đêm vào túi mỗi thứ Sáu. Nó sẽ không phải xem lịch dán trên tủ lạnh để biết tuần này sẽ ngủ ở nhà nào. Nó cũng sẽ không cần học cách suy nghĩ trước khi nói mỗi khi bố hoặc mẹ hỏi một câu vô thưởng vô phạt về đối phương.

Những suy nghĩ kéo đến dồn dập.

Tất cả những gì bây giờ cô quan tâm là Liam. Cảm xúc riêng của cô chẳng còn quan trọng. Làm sao cô có thể cứu vãn được đây? Làm sao cô ngăn lại chuyện này?

“Bọn anh không bao giờ muốn chuyện này xảy đến.”

Đôi mắt Will mở to thành thật. “Bọn anh muốn chuyện này trở nên đúng hướng. Làm sao để tốt nhất cho tất cả chúng ta. Bọn anh thậm chí còn tự hỏi…”

Tess thấy Felicity khẽ lắc đầu với Will.

“Các người thậm chí còn tự hỏi cái quái gì?” Tess nói. Lại thêm bằng chứng bọn họ đã bàn bạc trước với nhau. Cô có thể tưởng tượng không khí vui vẻ của những cuộc bàn bạc này. Những đôi mắt ngân ngấn nước kia chứng tỏ bọn họ cũng đã khổ sở lắm với ý nghĩ rằng mình làm tổn thương Tess, nhưng trước đam mê, tình yêu họ sẽ xử sự ra sao đây?

“Còn quá sớm để nói ra những điều bọn mình định làm.” Giọng Felicity bất thần quả quyết. Móng tay Tess cắm sâu vào lòng bàn tay cô. Sao cô ta dám? Sao cô ta dám nói với cô bằng cái giọng điệu hiển nhiên đó, như thể đây là một việc hoàn toàn bình thường, một tình thế hoàn toàn bình thường.

“Các người thậm chí còn tự hỏi cái quái gì?” Tess vẫn chăm chú nhìn Will.

Quên Felicity đi, cô tự nhủ. Mày chẳng có thời gian để mà giận dữ đâu. Suy nghĩ đi, Tess. Động não đi!

Mặt Will hết trắng bệch lại đỏ bừng. “Bọn anh còn ta hỏi liệu tất cả chúng ta có thể cùng nhau sống ở đây không. Vì Liam. Không giống như một vụ chia tay bình thường. Tất cả chúng ta là… một gia đình. Vì thế nên bọn anh mới nghĩ, ý anh là, có thể hơi điên khùng, nhưng chúng ta cứ nghĩ là có thể đi. Chỉ như thế thôi.”

Tess cười ha hả. Tiếng cười chói tai, hầu như chỉ bật ra từ họng. Bọn họ mất trí rồi chắc? “Ý anh là tôi chỉ cần ra khỏi giường của mình, nhường chỗ cho Felicity phải không? Vậy là chúng ta chỉ cần bảo với Liam, ‘Đừng lo, con yêu, từ giờ bố con sẽ ngủ với dì Felicity còn mẹ thì ngủ ở phòng còn lại?’”

Felicity có vẻ bẽ bàng. “Tất nhiên không phải thế.”

“Đấy là em nói thế…” Will ướm lời.

“Vậy còn cách nào khác để nói nữa à?”

Will thờ hắt ra. Anh ta rướn người bước tới. “Em nghe này,” anh ta nói. “Ngay lúc này chúng ta chẳng cần làm rạch ròi mọi chuyện làm gì.” Đôi khi Will vẫn dùng giọng điệu đậm chất đàn ông, chừng mực nhưng uy quyền khi muốn mọi việc được thực hiện theo một cách nhất định. Tess và Felicity vẫn chỉ trích anh ta về điều này. Giờ thì anh ta dùng đúng giọng điệu đó, như thể đã đến lúc mọi thứ phải nằm trong tầm kiểm soát.

Sao anh ta dám?

Tess nắm chặt tay đập mạnh lên bàn khiến nó rung lách cách. Cô chưa từng làm điều gì như vậy trước đó. Cảm giác trớ trêu, nực cười, và kỳ lạ. Cô muốn nhìn thấy cả Will lẫn Felicity lúng túng.

“Tôi sẽ nói cho các người biết chính xác tiếp theo nên làm gì,” cô nói, đột nhiên mọi thứ trở nên cực kỳ sáng rõ. Mọi chuyện không phải là không thể cứu vãn.

Đơn giản thôi.

Will và Felicity cần mối tình này được danh chính ngôn thuận. Càng sớm càng tốt. Thứ mà họ âm ỉ nung nấu bấy lâu cần được công khai rồi.

Tình yêu nào khi bắt đầu mà chẳng tươi mới, ngọt ngào, quyến rũ. Bọn họ là những tình nhân bất hạnh, Romeo và Juliet đắm đuối nhìn nhau qua con rồng tía trị ho. Rồi nó sẽ đổ mồ hôi, nhớp nháp, bẩn thỉu, cuối cùng nếu Chúa phù hộ, sẽ nhạt nhẽo, nhàm chán. Will yêu con trai anh ta, một khi cơn mê mị nhất thời qua đi, anh ta sẽ thấy mình đã phạm sai lầm khủng khiếp.

Toàn bộ chuyện này hoàn toàn có thể sửa chữa. Cách duy nhất là Tess phải ra đi. Ngay bây giờ.

“Tôi và Liam sẽ đi, mẹ con tôi tới Sydney,” cô nói.

“Sống với mẹ tôi. Mới phút trước bà gọi, nói rằng bị gãy mắt cá chân. Bà cần có người giúp.”

“Ôi không! Sao lại thế chứ? Dì có sao không?” Felicity hỏi với vẻ vồ vập.

Tess phớt lờ cô ta. Từ giờ Felicity sẽ chẳng còn là cô cháu gái chu đáo nữa. Cô ta là người đàn bà thứ ba. Còn Tess là người vợ ở bên kia chiến tuyến. Cô sẽ chiến đấu đến cùng. Vì Liam. Cô sẽ chiến đấu và sẽ giành chiến thắng.

“Tôi và Liam sẽ ở lại với mẹ tôi cho đến khi mắt cá chân bà đỡ hơn.”

“Nhưng Tess, em không thể đưa Liam tới sống ở Sydney.” Will nói, giọng điệu ông chủ hoàn toàn biến mất. Will người Melbourne. Hẳn là chưa bao giờ anh ta nghĩ rằng họ có thể sống ở bất kỳ nơi nào khác.

Anh ta nhìn Tess với vẻ bị tổn thương, như thể anh ta là Liam khi thằng bé bị bắt làm việc gì đó không công bằng. Rồi đôi lông mày anh ta giãn ra. “Còn chuyện học hành thì sao?” anh ta nói. “Thằng bé không thể bỏ học được.”

“Liam có thể theo học ở St Angela’s, ngôi trường ngày xưa tôi theo học trong một học kỳ. Thằng bé cần tránh xa thằng Marcus. Một môi trường mới với những người bạn mới sẽ tốt hơn cho nó…”

“Em sẽ không thể xin cho con vào đó,” Will tuyệt vọng nói. “Thằng bé đâu phải người Công giáo!”

“Ai bảo con tôi không phải người Công giáo?” Tess đáp. “Nó được đặt tên thánh ở nhà thờ Công giáo.”

Felicity há miệng định nói gì đó nhưng rồi ngậm lại ngay.

“Tôi sẽ xin cho nó vào đó,” Tess nói. Cô không hề biết sẽ khó khăn nhường nào để xin cho con vào học ở đó. “Mẹ tôi biết những người ở nhà thờ.”

Trong khi Tess nói, trong đầu cô hiện lên đầy ắp những hình ảnh về trường St Angela’s, ngôi trường Công giáo địa phương nhỏ bé mà cô và Felicity từng theo học. Trò chơi lò cò dưới bóng những ngọn tháp nhà thờ. Tiếng chuông nhà thờ. Mùi chuối chín nẫu bỏ quên tỏa thơm dịu từ đáy cặp sách. Ngôi trường nằm ở cuối một con ngõ có hai hàng cây, chỉ cách nhà mẹ Tess có năm phút đi bộ. Vào mùa hè, những tán cây che vòm trên đầu như thánh đường. Giờ đang là mùa thu, ở Sydney tiết trời ấm áp đến độ có thể đi bơi được. Lá cây nhựa thơm ngút sắc xanh và vàng. Liam sẽ cuốc bộ xuyên qua những đám cánh hoa hồng nhạt trên những nẻo đường gập ghềnh.

Một vài thầy cô giáo cũ của Tess vẫn đang dạy trường St Angela’s. Bạn bè của Tess và Felicity thời còn đi học đã trưởng thành, trở thành những ông bố, bà mẹ cho con cái theo học ở đó. Thỉnh thoảng, mẹ Tess vẫn nhắc tới tên bọn họ. Tess hầu như chẳng bao giờ tin nổi rằng họ vẫn tồn tại. Những anh chàng xinh trai nhà Fitzpatrick chẳng hạn. Sáu chàng trai tóc vàng, cằm vuông, giống hệt nhau như loại búp bê được sản xuất hàng loạt. Cả mấy anh em nhà đó đều đẹp trai điên đảo đến độ khiến cho Tess phải đỏ bừng mặt mỗi khi một trong sáu chàng đi ngang qua. Mỗi người trong bọn họ đều rời trường St Angela’s vào năm thứ 4, chuyển sang học trường Công giáo dành cho nam sinh ờ phía cảng. Tất cả đều giàu có, đẹp trai ngời ngời. Hình như anh cả nhà Fitzpatrick giờ có ba cô con gái đều theo học ở St Angela’s.

Tess tự hỏi mình có thể thực sự làm việc này không? Đưa Liam tới Sydney, xin cho thằng bé vào học ở trường cũ của cô? Cảm giác bất khả thi như thể cô đang cố gắng đưa nó ngước thời gian trở về thời thơ ấu của cô. Trong thoáng chốc, cô thấy hoa mắt chóng mặt. Việc này sẽ chàng xảy đến đâu. Tất nhiên cô sẽ không đưa Liam rời khỏi trường. Lịch đi xem sinh vật biển của thằng bé được ấn định vào thứ sáu. Thằng bé sẽ tham gia cuộc đua của Các vận động viên nhỏ tuổi vào thứ Bảy. Cô còn đống quần áo cần được phơi, cùng cuộc hẹn với một khách hàng tiềm năng vào sáng ngày mai.

Nhưng cô lại thấy Will và Feliclty đưa mắt nhìn nhau. Tim cô thắt lại. Cô nhìn đồng hồ. Đã sáu rưỡi tối. Cô có thể nghe tiếng nhạc nền của chương trình không thể tiêu hóa nổi đó, “Kẻ thua cuộc thảm hại” trên lầu. Hẳn Liam đã tắt đầu đọc DVD, chuyển qua kênh ti vi thông thường. Một phút nữa thôi, có lẽ thằng bé sẽ nhá hết kênh này đến kênh khác để tìm thứ gì đó mang mùi súng ống.

“Lười biếng thì sẽ chẳng nhận được gì!” Tiếng ai đó vang lên từ ti vi.

Tess rất ghét những cụm từ cổ động sáo rỗng trên chương trình đó.

“Tôi sẽ mua vé cho hai mẹ con bay tối nay,” cô nói.

“Tối nay?” Will nhắc lại. “Em không thể đưa Liam đi tối nay.”

“Tôi có thể chứ. Có chuyến bay lúc chín giờ tối. Điều đó sẽ khiến mọi chuyện dễ dàng hơn.”

“Tess,” Felicity nói. “Như thế này là quá lắm rồi. Cậu không cần phải…”

“Mẹ con tôi sẽ cút cho khuất mắt các người,” Tess nói. “Như vậy cô với Will có thể ngủ với nhau. Đã đến lúc hạ màn rồi. Giường tôi đấy, xin mời! Cô may nhé, tôi vừa mới thay chăn ga sáng nay thôi.”

Hằng trăm câu nói khác hiền hiện trong đâu cô. Có thá gì, cô còn có thể nói những lời cay độc hơn nữa kia.

Với Felicity: “Anh ta thích bạn tình nằm trên, thật may là cô đã vứt bỏ được ngần ấy cân nặng.”

Với Will: “Đừng soi quá kỹ những vết rạn trên da cô ta.”

Nhưng không, cô chẳng việc gì phải phí lời, chính bọn họ mới là kẻ phải mang cảm giác tội lỗi và ghê tởm như bước vào một nhà nghỉ bẩn thỉu dù đang ở trong ngôi nhà của mình. Cô đứng dậy, kéo thẳng nếp váy mặt trước.

“Vậy thôi. Hai người sẽ tự thu xếp công việc mà không có tôi. Hãy báo với khách hàng là gia đình tôi có chuyện khẩn cấp.”

Quả thật là gia đình cô có chuyện khẩn cấp.

Cô bước tới nhấc hàng cóc cà phê của Felicity lên, cố gắng ngoắc ngón tay vào càng nhiều quai cốc càng tốt. Bỗng cô đặt mấy các cốc xuống, mặc kệ Will và Felicity ngồi nhìn, cẩn thận chọn hai cốc đầy nhất, cầm lên trong lòng bàn tay mình, nhắm thật kỹ như một cầu thủ bóng rổ chuyên nghiệp rồi hắt thẳng thứ nước cà phê nguội ngắt vào hai gương mặt ngớ ngẩn, thành khẩn, hổ thẹn kia.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 58 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Xuyên không] Khi vật hi sinh trở thành nữ chính - Tư Mã Duệ Nhi

1 ... 28, 29, 30

2 • [Hiện đại] Làm thế nào để ngừng nhớ anh - Mộng Tiêu Nhị

1 ... 19, 20, 21

3 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 149, 150, 151

4 • [Cổ đại] Kiêu Tế - Quả Mộc Tử

1 ... 46, 47, 48

5 • [Xuyên không] Cuộc sống nông thôn nhàn rỗi - Kẹo Vitamin C

1 ... 108, 109, 110

6 • [Xuyên không Dị giới] Phượng nghịch thiên hạ - Lộ Phi (Phần 1)

1 ... 176, 177, 178

7 • [Cổ đại] Nô gia không hoàn lương - Cật Thanh Mai Tương Nha

1 ... 20, 21, 22

8 • [Xuyên không - Dị giới] Phế sài muốn nghịch thiên Ma Đế cuồng phi - Tiêu Thất Gia - New C897

1 ... 130, 131, 132

9 • [Hiện đại] Cướp tình Tổng giám đốc ác ma rất dịu dàng - Nam Quan Yêu Yêu

1 ... 64, 65, 66

10 • [Hiện đại] Hôn nhân giá ngàn vàng - Cẩm Tố Lưu Niên (103/104]

1 ... 181, 182, 183

11 • [Xuyên không - Cổ xuyên hiện] Ảnh hậu đối mặt hàng ngày - Ngã Yêu Thành Tiên

1 ... 37, 38, 39

12 • [Cổ Đại Huyền Huyễn] Chiêu Diêu - Cửu Lộ Phi Hương

1 ... 27, 28, 29

13 • [Hiện đại] Eo thon nhỏ - Khương Chi Ngư [NEW C66]

1 ... 24, 25, 26

14 • [Cổ đại - Trùng sinh] Đích nữ nhà nghèo Bán phở heo

1 ... 9, 10, 11

15 • [Hiện đại] Xin chào Chu tiên sinh! Dạ Mạn

1 ... 27, 28, 29

[Cổ đại - Trùng sinh] Trọng sinh cao môn đích nữ - Tần Giản

1 ... 137, 138, 139

17 • [Hiện đại - Quân nhân] Hợp đồng quân hôn - Yên Mang

1 ... 124, 125, 126

18 • [Xuyên không] Vương phi thần trộm Hưu phu lúc động phòng! - Thủy Mặc Thanh Yên

1 ... 82, 83, 84

19 • [Hiện đại] Cục cưng lật bàn Con là do mẹ trộm được? - Ninh Cẩn

1 ... 87, 88, 89

20 • [Xuyên không] Hỉ doanh môn - Ý Thiên Trọng

1 ... 105, 106, 107



Aka: Cần nâng giá hơm :">
Shop - Đấu giá: Tiểu Ly Ly vừa đặt giá 1071 điểm để mua Cặp nhẫn kim cương
Shop - Đấu giá: Thải Nhi vừa đặt giá 514 điểm để mua Cô gái phép thuật 2
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 594 điểm để mua Nhẫn đá Topaz xanh London 1
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 587 điểm để mua Nhẫn đá Topaz xanh London 2
Công Tử Tuyết: ssngoc ơi ss nhường em cái nhẫn xanh này đi, trong shop vẫn còn một cái xanh đấy ạ
Shop - Đấu giá: Nminhngoc1012 vừa đặt giá 558 điểm để mua Nhẫn đá Topaz xanh London 2
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 531 điểm để mua Nhẫn đá Topaz xanh London 2
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 1019 điểm để mua Cặp nhẫn kim cương
Shop - Đấu giá: Nminhngoc1012 vừa đặt giá 504 điểm để mua Nhẫn đá Topaz xanh London 2
TửNguyệtLiên: Đã có chương mới, mọi người ủng hộ với nha ^^ viewtopic.php?t=410922&p=3383693#p3383693
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 327 điểm để mua Ếch che nắng
Hạ Quân Hạc: =))
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 480 điểm để mua Nhẫn đá Topaz xanh London 2
Shop - Đấu giá: Nminhngoc1012 vừa đặt giá 456 điểm để mua Nhẫn đá Topaz xanh London 2
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 434 điểm để mua Nhẫn đá Topaz xanh London 2
Shop - Đấu giá: Vivi3010 vừa đặt giá 412 điểm để mua Nhẫn đá Topaz xanh London 2
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 391 điểm để mua Nhẫn đá Topaz xanh London 2
Shop - Đấu giá: Tiểu Ly Ly vừa đặt giá 956 điểm để mua Cặp nhẫn kim cương
Công Tử Tuyết: Re: [Trắc Nghiệm] Bạn là cô nàng nào trong "Tam sinh tam thế: Thập lý đào hoa"
Shop - Đấu giá: canutcanit vừa đặt giá 248 điểm để mua Áo sơ mi nam
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 909 điểm để mua Cặp nhẫn kim cương
Shop - Đấu giá: Sư Tử Cưỡi Gà vừa đặt giá 250 điểm để mua Quà sinh nhật
Lãnh Băng Hy: Hi
Shop - Đấu giá: thienbang ruby vừa đặt giá 248 điểm để mua Hoa cúc trắng
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 3433 điểm để mua Đá Peridot
Tuyền Uri: Thông báo: Các chị (bạn) đang edit/ sáng tác tại box Tiểu thuyết CHƯA HOÀN vui lòng cập nhật mục lục truyện. Thời gian từ 19/10/2018 đến 23/10/2018. Xin trân trọng cảm ơn :thanks:
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 702 điểm để mua Hoa anh đào
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 3268 điểm để mua Đá Peridot
Mía Lao: Ăn ở :v

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.