Diễn đàn Lê Quý Đôn


Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 10 bài ] 

Ngư Tiều Y Thuất Vấn Đáp - Nguyễn Đình Chiểu

 
Có bài mới 13.04.2018, 15:15
Hình đại diện của thành viên
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
 
Ngày tham gia: 17.12.2016, 10:15
Tuổi: 24 Nữ
Bài viết: 5843
Được thanks: 632 lần
Điểm: 10.06
Có bài mới [Tổng hợp] Ngư Tiều Y Thuất Vấn Đáp - Nguyễn Đình Chiểu - Điểm: 7
Ngư Tiều y thuật vấn đáp
Tác giả: Nguyễn Đình Chiểu
Nhà xuất bản:  YBOOK


GIỚI THIỆU

Ngư Tiều y thuật vấn đáp (Ông Ngư, ông Tiều hỏi đáp về thuật chữa bệnh) là truyện thơ dài của Nguyễn Đình Chiểu kể về hai nhân vật chính Bào Tử Phược và Mộng Thê Triền. Vì gặp cảnh nước mất nhà tan mà cả hai ở ẩn làm ngư, làm tiều, sau đó gặp được Đạo Dẫn, Nhập Môn và Kì Nhân Sư truyền cho y thuật trị bệnh cứu đời.

Với 3644 câu, Ngư Tiều y thuật vấn đáp cốt để dạy cách làm thuốc chữa bệnh, tập trung vào các phần: mạch, chế dược, vận khí, thương hàn, sản phụ, nhi khoa,...

Qua tác phẩm, Nguyễn Đình Chiểu đã truyền thụ lại không chỉ những tri thức bốc thuốc chữa bệnh mà còn nêu cao tinh thần y đức của người thầy thuốc.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 13.04.2018, 15:17
Hình đại diện của thành viên
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
 
Ngày tham gia: 17.12.2016, 10:15
Tuổi: 24 Nữ
Bài viết: 5843
Được thanks: 632 lần
Điểm: 10.06
Có bài mới Re: [Tổng hợp] Ngư Tiều Y Thuất Vấn Đáp - Nguyễn Đình Chiểu - Điểm: 10
Tâm sự bạn đọc:

Truyện “Ngư Tiều vấn đáp y thuật” trước đây đã có cả thảy sáu bản in. Cuối năm 2006, Nhà xuất bản Thuận Hóa in lại tập sách này do Lương y Lê Quý Ngưu phiên âm và chú thích.

Lê Quý Ngưu tâm sự: “Tôi muốn bạn đọc hiểu một cách tường tận, từ đó quý mến, trân trọng sách của Nguyễn Đình Chiểu nên tôi cho in song ngữ chữ Nôm và chữ Quốc ngữ với những chú thích hết sức kỹ càng tường tận. Tôi đã bỏ công gần 10 năm trời để hoàn thành công việc này với mục đích giúp đỡ cho các thầy thuốc Đông y có tài liệu Đông y bằng chữ Nôm của chính người Việt Nam viết”.

Nguyễn Đình Chiểu viết nhiều tác phẩm: Lục Vân Tiên, Dương Từ Hà Mậu, Tứ thơ ngũ kinh gia huấn ca, Tam thập lục nạn, Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây… Suốt đời, ông đau nỗi tang thương nước mất nhà tan nên ngay cả trong “Ngư Tiều vấn đáp y thuật”, một cuốn sách chuyên nói về thuốc, vẫn thấy ông quặn thắt nỗi đau nhân tình:

“Đánh nhau thây bỏ đầy đồng

Máu trôi đọng vũng, non sông nhơ hình”

Chính từ nỗi thương tâm đó, Nguyễn Đình Chiểu đã nghiên cứu nghề thuốc rồi làm lương y để chữa bệnh cho dân và viết sách thuốc truyền tâm nguyện đến với mọi người.

“Ngư Tiều vấn đáp y thuật” kể chuyện Mộng Thê Triền và Bào Tử Phược không chịu sống dưới ách ngoại bang đã rời quê hương đi ở ẩn, thành Tiều và Ngư. Đời sống quá cực khổ, vợ con ốm đau.

Thương nỗi mình, cảm cảnh đồng bào, Ngư và Tiều tìm thầy học thuốc, rồi đi chữa bệnh cho cộng đồng. “Ngư Tiều vấn đáp y thuật” tập trung giới thiệu về y thuật, gồm các phần: Mạch, chế dược, vận khí, thương hàn, sản phụ, nhi khoa…

Tác giả rất khéo léo đề cập tới một căn nguyên bệnh là từ miệng ăn vào, từ lòng tham:

“Mũi thời tham vị hương vinh

Miệng thời tham béo, ngọt, thanh, rượu, trà

Vóc thời muốn bận sô, sa

Bụng thời muốn ở cửa nhà thếp son”

Các thầy thuốc Đông y xem bệnh, chữa bệnh qua mạch, qua kinh lạc, ngũ tạng, lục phủ…, đánh giá bệnh bằng sự cân bằng âm, dương, sự hài hòa ngũ hành. Những thầy thuốc giỏi khám bệnh qua sắc diện, hơi thở, chỉ cần đặt tay vào mạch là đọc bệnh cho bệnh nhân nghe, rồi từ đó tính toán chữa bệnh gì trước, bệnh gì sau.

Ngũ tạng trong cơ thể con người gồm tâm, can, tỳ, phế, thận, là những tạng khí có công năng tàng trữ và gạn lọc, chế tạo ra tinh khí. Một tạng bị bệnh ảnh hưởng ngay tới sự vận hành chung.

Trong “Ngư Tiều vấn đáp y thuật”, tác giả kể về tạng của can như sau:

“Tạng can thuộc mộc, cây vào mùa xuân

Sắc xanh con mắt là chừng

Hoa ra giáp mấy dây gân buộc ràng”

Qua những câu thơ lục bát, bạn đọc hiểu được sự nguy hiểm của căn bệnh này. “Ngư Tiều vấn đáp y thuật” có bàn tới những bài thuốc cụ thể:

“Như đau bụng thốn tử cung

Can khương, phụ tử chẳng dùng sao an?

Như đau máu chứa bàng quang

Phương nào khỏi hốt đại hoàng, đào nhân”

Nguyễn Đình Chiểu phê phán rất nghiêm khắc những người chỉ khoác áo lương y thôi”

“Học thầy nào dạy cho mày

Làm ngay không phép hại bầy sinh linh

Cả gan riêng lập phép hình

Khảo dân lấy của lung tình ăn chơi”

Với 3644 câu, “Ngư Tiều vấn đáp y thuật” cốt để dạy cách làm thuốc chữa bệnh. Nguyễn Đình Chiểu viết truyện bằng thơ để người đọc ngâm nga cho dễ nhớ. Đó là phong cách soạn sách của một thời ở miền Nam.

Có tâm huyết với dân với nước, Nguyễn Đình Chiểu đã đào sâu y thuật để cứu người.

Ông viết sách để truyền thụ cho dân gian kiến thức nghề thuốc và y đức của người thầy thuốc. “Ngư Tiều vấn đáp y thuật” mang tinh thần ấy cho nên được truyền tụng cho đến tận bây giờ và sẽ mãi còn giá trị.

NGUYỄN QUANG HÀ





Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 24.10.2018, 03:33
Hình đại diện của thành viên
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
 
Ngày tham gia: 11.06.2016, 16:50
Tuổi: 24 Nữ
Bài viết: 6271
Được thanks: 620 lần
Điểm: 10
Có bài mới Re: [Tổng hợp] Ngư Tiều Y Thuất Vấn Đáp - Nguyễn Đình Chiểu - Điểm: 10

Chương 1: Giới Thiệu - Ngư Tiều Y thuật Vấn Đáp
Thân nhân của tôi (sonvanNguyen) đem từ Việt-Nam qua,1998, hai quyển "Ngư tiều vấn đáp":

1/- Quyển 1 được xuất bản bởi Ty Văn hoá và Thông-tin Long-An 1982, để kỷ-niệm 160 năm sinh của Nguyễn-đình-Chiểu. Quyển này có lời giới-thiệu của giáo-sư Lê-trí-Viễn tại thành Hồ. Trong đoạn này ông Viễn đã có phân-tích về hai nghĩa quan trọng trong tác phẩm:

a/- Nguyên lý chủ đạo của ngành Y : "Lương y như từ mẫu"

b/- Thừa nhận cụ Nguyễn-đình-Chiểu là một người yêu nước.

Đây là điều tôi muốn nhấn mạnh về những việc làm sai trái cố tình lừa bịp người dân qua các khẩu hiệu như:

a/- Ái quốc trung quân (có lẽ được ra đời dưới triều đại nhà Nguyễn). Ái quốc là ái quốc không dính dáng gì đến trung quân hết. Trung với ông Lê-Lợi là trung với tổ-quốc Viêt-Nam; trung với Lê-chiêu-Thống là phản bội quê hương Việt-Nam.

b/- Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã-hội . Xin đừng bịp bợm nữa, mặt nạ lừa bịp đã bị lộ rồi. Trong suốt dòng lịch-sử dân tộc, đất nước đã có những giây phút huy-hoàng mà không hề biết tới cái quái thai Xã-hội chủ-nghĩa (Xuống Hố Cả Nút, Xếp Hàng Cả Ngày, Xạo Hết Chỗ Nói, Xoá hết chữ nghĩa...).

c/- Quân đội phải trung với đảng, hiếu với đân . Quân-đội Việt-Nam chỉ trung với đất nước Việt-Nam chớ không trung với triều đại nào, đoàn thể nào, hay cá nhân nào . Tôn chỉ của các Sĩ-quan của quân-lực Việt Nam Cộng-Hoà hay ít ra là của các sĩ-quan của trường võ bị quốc-gia Đà-Lạt là: "Tổ-Quốc, Danh-Dự, Trách-Nhiệm". Các chiến-sĩ của Việt-Nam Cộng-Hòa khi ra trận chỉ mang cờ của đất nước Việt-Nam, chớ không phải mang cờ của Mỹ, hình của tổng-thống Mỹ. Trong khi đó bộ-đội miền bắc ra trận với các chính-trị viên lôi theo cờ của Liên-xô, Trung-quốc, hình Stalin, Mao-trạch-Dông. Stalin có công là công với nước Nga; xin để cho người Nga họ vái. Mao-trạch-Đông thì để cho người Tàu họ thờ. Xin các "đỉnh cao của trí tuệ loài người (khỉ ?)" đừng tiếp-tục con đường nô-lệ về tư-tưởng và hành động nữa; và bắt con dân nước Việt phải đi theo một con đường mà quan thầy của quý-vị đã liệng vào thùng rác.

2/- Quyển 2 được xuất bản năm 1983 bởi nhà xuất bản Y-học tại Hà-Nội. Do Lê-trần-Đức biên soạn, mỏng hơn có kèm theo một số sơ đồ. Sau khi tra cứu tôi có thể sẽ bổ túc vào quyển một là tác phẩm chính tôi đem vào mạng lưới điện-toán.

Cả hai không còn những chú-thích bằng chữ Hán như sách của nhà xuất-bản tư nhân Tân-Việt. Một cơ-sở tư-nhân còn có khả-năng hơn các cơ-sở của cái gọi là nhà nước xã-hội chủ-nghĩa!!!

Lời dẫn (trích từ quyển 1)

Để phục vụ việc nghiên cứu toàn diện về Nguyễn Đình Chiểu, quyển Ngư Tiều y thuật vấn đáp xuất bản lần này được biên soạn trên nguyên tắc đảm bảo tính chất về mặt văn bản và có cơ sở khoa học về mặt chú thích. Công tác hiệu đính văn bản tác phẩm này được tiến hành trên cơ sở ba tài liệu sau:

1- Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca , bản chữ Nôm chép tay của Nam trung cư sĩ Khánh Vân năm Tân hợi (1911), gồm 3632 câu thơ lục bát và một số bài thơ, phú ...chữ Nôm và Hán chép xen kẽ, ngoài ra còn có hai bài:

a/- Sưu tinh dụng dược tâm pháp tự truyện , và

b/- Trích yếu âm dương biện luận chữ Hán ở đầu sách (ký hiệu là bản V).



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 24.10.2018, 03:33
Hình đại diện của thành viên
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
 
Ngày tham gia: 11.06.2016, 16:50
Tuổi: 24 Nữ
Bài viết: 6271
Được thanks: 620 lần
Điểm: 10
Có bài mới Re: [Tổng hợp] Ngư Tiều Y Thuất Vấn Đáp - Nguyễn Đình Chiểu - Điểm: 10
2- Ngư tiều vấn đáp y thuật do Phan Văn Hùm hiệu đính và chú thích, Nhượng Tống tăng bình và bổ chú, Nxb. Tân Việt, Sài Gòn,1952, đánh số đến 3644 câu thơ lục bát, tuy nhiên bị sót mất hai câu 1787 và 1788, ngoài ra còn chép nhập bốn chữ đầu của câu 1475 với bốn chữ sau của câu 1476 thành một câu tám chữ sau câu 1474. Bản này cũng có một số bài thơ, phú...chữ Nôm và Hán chép xen kẽ cũng như hai bài:

a/- Sưu tinh dụng dược tâm pháp tự truyện , và

b/- Trích yếu âm dương biện luận chữ Hán ở đầu sách (ký hiệu là H).

3- Ngư Tiều vấn đáp y thuật diễn khúc ca , bản chữ Nôm chép tay của Nguyễn Thịnh Đức năm Tân mão (1951) chỉ có phần đầu gồm 1034 câu thơ lục bát và những bài thơ chữ Nôm và Hán xen kẽ ở phần này (ký hiệu là bản Đ). Chúng tôi dùng bản V làm bản trục và hiệu đính trên trên cơ sở hai bản kia. trường hợp những câu, chữ trong bản trục thấy cần được thay đổi cho hợp lý, chúng tôi chỉ lấy những câu, chữ trong phạm vi hai bản kia, tuyệt đối không thêm bớt hay đặt ra những chữ mới. Về chính tả, các âm được thống nhất theo cách phát âm phổ thông. Đối với các từ Hán Việt, trừ những trường hợp vì phải bảo đảm vần điệu câu thơ như nho = nhu, cương = cang...chúng tôi giữ nguyên cách đọc địa phương, còn ngoài ra đều theo âm phổ thông. Các trường hợp này, chúng tôi không đưa vào phần khảo dị. Có những chữ ở bản H xét ra do lỗi chính tả như giằn (dằn), mặt (mặc) chúng tôi cũng không đưa vào phần khảo dị, trừ các chữ đó có thể đưa đến cách hiểu khác về câu thơ.

Bên cạnh phần nguyên tác của Nguyễn đình Chiểu, Ngư tiều y thuật vấn đáp còn trích dẫn, sao chép rất nhiều các bài thơ, phú...chữ Hán từ các sách y học (Đông y) Trung Quốc cũ. Đối với các bài này, chúng tôi không làm công việc khảo dị văn bản, mà chỉ sử dụng nguyên văn các bài đó trong các sách thuốc Đông y, mà chủ yếu là trong y học nhập môn, Lý diên biên chú, Việt Đông Hán văn đường tàng bản, Quang tự Mậu tuất niên (bản khắc gỗ). Tuy nhiên trong điều kiện in ấn hiện tại, chúng tôi chỉ có thể giới thiệu bản dịch nghĩa của các bài này mà thôi.

Phần khảo dị văn bản được xếp riêng ở sau cùng quyển sách.

Về mặt chú thích, chúng tôi chủ yếu chú thích các điển tích, tên người, các chữ và câu khó hiểu đối với người đọc bình thường. Mặt khác, chúng tôi cũng lưu ý chú thích ở một mức độ nhất định các thuật ngữ, các vấn đề chuyên môn của Đông y, trên nguyên tắc ngắn gọn nhưng bảo đảm tính chính xác.

Mỗi chú thích được đánh dấu bằng số câu, được xếp ngay ở phần mỗi trang sách. Trường hợp trùng lặp, chúng tôi không chú thích mà chỉ ghi "Xem..." hoặc cần phải tham khảo thêm thì ghi "Xem thêm.." để người đọc tiện tra cứu.

Nhóm biên soạn

Hoàn cảnh xã-hội và mục đích biên soạn Ngư tiều vấn đáp Y thuật (trích từ quyển 2)

Nguyễn Đình Chiểu sinh trưởng giữa lúc thực dân Pháp đang tiến hành xâm lược nước ta. Năm 1858, chúng đánh phá hải cảng Đà Nẵng. Năm 1859, chúng đánh Gia Định. Hồi ấy Nguyễn Đình Chiểu đang dạy học ở Gia Định, phải chạy về quê vợ ở Cần Giuộc (gần Chợ Lớn) lánh nạn và tiếp tục dạy học ở đấy. Năm 1861, Cần Giuộc cũng bị quân Pháp chiếm, ông lại phải chạy về Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Năm 1862, triều đình nhà Nguyễn đầu hàng, Tự Đức cắt ba tỉnh miền đông nhường cho Pháp. Tuy vậy Pháp vẫn tiếp tục mưu đồ xâm lược. Năm 1867, chúng chiếm luôn cả ba tỉnh miền tây Nam Bộ. Thế là cả sáu tỉnh Nam Bộ bị Pháp đô hộ.

Nguyễn Đình Chiểu cũng như nhân dân miền Nam lúc bấy giờ vô cùng căm phẫn. Ông rất đau xót về tình cảnh đất nước bị chia cắt, nhân dân khổ cực nhiều bề : nào bị giặc tàn sát, đàn áp, bức hiếp, nào đói rét, bệnh tật, chết chóc. Nguyễn Đình Chiểu vì bị mù, không có điều kiện cầm vũ khí giết giặc, nên đã dùng bút thay gươm, viết văn làm thơ để nói lên lòng yêu nước thương dân và nỗi căm thù sâu sắc của mình đối với quân cướp nước và bè lũ vua quan nhà Nguyễn bán nước hại dân.

Ngư Tiều vấn đáp y thuật ra đời vào khoảng thời gian sau khi Nam bộ đã bị Pháp xâm chiếm. Trong tác phẩm này, Nguyễn Đình Chiểu đã mượn bối cảnh của đất nước U Yên ở Trung Quốc đời xưa bị giặc nước ngoài xâm chiếm, dựng lên câu chuyện mấy người dân xứ này đi lánh nạn và cũng tìm thầy học thuốc, để dưới hình thức nói chuyện về y học, thổ lộ lòng căm phẫn của mình đối với thời cuộc, nhằn động viên tinh thần đấu tranh chống xâm lăng của nhân dân; đồng thời để nói lên sự quan tâm của mình đối với tính mạng của bệnh nhân trước tình cảnh các dung y vụ lợi, nhằm bổ cứu tình hình y học đương thời.

Nội dung chuyện Ngư tiều vấn đáp Y thuật (trích từ quyển 2) Vào khoảng năm 936, đất U Yên ở Trung Quốc, do Thạch Kính Đường là quan đô hộ sứ của nhà Đường, cai trị. Thạch Kính Đường thông mưu với quân Khiết Đan nước Liêu, cắt đất nhượng cho Khiết Đan, để được Khiết Đan phong cho làm vua xứ này. Dân U, Yên rơi vào tình cảnh lầm than dưới ách đô hộ của nước ngoài và dưới sự áp bức của bè lũ gian nịnh bù nhìn trong nước. Những người có tâm huyết không khuất phục chế độ ấy. Một số xiêu bạt đi nơi khác để sinh sống và tìm cách cứu nước, cứu dân. Trong số người này, có những nhân vật đã đi tìm con đường y học và cùng gặp nhau trên đường đi tìm thầy học thuốc :

- Mộng Thê Triền tức là Tiều , làm nghề đốn củi (tiều phu),

- Bảo Tử Phược tức là Ngư , làm nghề chài lưới (ngư ông),

- Đạo Dẫn và Nhập Môn là những người đã biết thuốc, cùng đi chạy loạn và tìm thầy học thêm,

- Nhân Sư là người thầy thuốc nổi tiếng ở U Yên đi lánh, không muốn hợp tác với giặc.

Truyện :

Vì tình cảnh đất U Yên bị chia cắt và đặt dưới sự đô hộ của nước ngoài, cho nên Mộng Thê Triền cũng như Bảo Tử Phược đi đánh cá. Chẳng may vợ con bị ốm đau nhiều và chết chóc, nên cả hai người đều muốn đi tìm thầy học thuốc. Họ đều có ý định đi tìm Nhân Sư là một thầy thuốc rất giỏi và cũng là người U Yên đi ẩn cư. Mộng Thê Triền và Bảo Tử Phược là hai người bạn cũ, bị hoàn cảnh loạn ly mà xa cách nhau từ lâu, gặp lại nhau trên đường đi tìm Nhân Sư . Dọc đường họ gặp thêm hai bạn cũ có cùng mục đích là Đạo Dẫn và Nhập Môn . Cả mấy người cùng dắt nhau đi tìm Nhân Sư . Đạo Dẫn và Nhập Môn là những người đã biết chỗ ở của Nhân Sư . Vì họ đã đều biết thuốc, nên trên đường đi, Ngư Tiều hỏi chuyện về y học rất nhiều. Đạo Dẫn và Nhập Môn đã lần lượt trả lời những câu hỏi của Ngư,Tiều, và giải thích một cách rõ ràng nhiều điểm về lý luận y học cơ bản, kèm theo ca, phú mà phần chính lấy ở Y học nhập môn ra.

Giữa đường, Đạo Dẫn tìm đường đi luyện đan (tu tiên), còn Ngư, Tiều thì theo Nhập Môn tiếp tục đi đến Đan Kỳ để tìm Nhân Sư, Nhưng khi đến nơi thì Nhân Sư đang bị bệnh và lánh ở Thiên Thai; song họ được gặp lại Đạo Dẫn ở đấy. Hỏi ra mới biết là Nhân Sư không phải là bị bệnh thật mà là vì vua Liêu nghe tiếng cho sứ đến mời Nhân Sư vào làm ngự y, nhưng Nhân Sư không muốn làm tôi kẻ thù nên đã xông hai mắt cho mù, rồi lánh về ở Thiên Thai và lưu học trò là Đạo Dẫn ở lại Đạo Kỳ để từ chối với sứ Tây Liêu.

Ngư, Tiều không được gặp Nhân Sư và cũng không ở lại để đợi Nhân Sư trở về. Nhưng Nhân Sư đã để lại hai bài dạy phép dùng thuốc (một bài luận về tiêu bản, một bài nói về phép chữa tạp bệnh). Ngư, Tiều lãnh hai bài đó rồi trở về. Sau khi từ biệt Đạo Dẫn và nhập Môn, Ngư, Tiều dự định sẽ bỏ nghề cũ để đi làm nghề y. Đêm đi lạc đường trong rừng, vào ngủ ở một cái miếu trong hang, nằm mê thấy mộng xử án các thầy thuốc, thầy châm cứu chữa xằng, và thầy phép, thầy chùa gieo mê tín dị đoan.

Tỉnh ra, Ngư, Tiều mới biết đó là những lời răn, nên khi về nhà, cả hai người đều ra công học thuốc cho thật giỏi, thấu đáo, rồi chuyên mỗi ngườimột khoa. Ngư chữa bệnh nhi khoa, Tiều chữa bệnh phụ khoa. Họ đều trở nên những thầy thuốc lành nghề và chân chính.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 24.10.2018, 03:34
Hình đại diện của thành viên
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
 
Ngày tham gia: 11.06.2016, 16:50
Tuổi: 24 Nữ
Bài viết: 6271
Được thanks: 620 lần
Điểm: 10
Có bài mới Re: [Tổng hợp] Ngư Tiều Y Thuất Vấn Đáp - Nguyễn Đình Chiểu - Điểm: 10

Chương 2: Trang 1 - Ngư Tiều Y thuật Vấn Đáp
Sưu tinh dụng dược tâm pháp tự truyện

(Tìm tòi tinh tuý về tâm pháp dùng thuốc)

Dịch nghĩa:

Xưa nay sách thuốc rất nhiều, nên những người làm nghề thuốc không khỏi thở than về nỗi quá nhiều sách. Nếu học không có căn bản, thì khi chữa bệnh sẽ ngơ ngác như dựa vào khoảng không, cưỡi trên ngọn gió, không biết đâu là chỗ dừng nữa.

Nói chung, bệnh có biến hóa hư thực rất nhiều, nên phương có cách chữa chính, chữa tòng, chữa gốc , chữa ngọn, nên công, nên trước, nên sau, phải dùng cho phù hợp. Xét trị chỉ sai một chút thì sống chết khác nhau ngay, há chăng nên cẩn thận sao ? Cho nên nghề làm thuốc chỉ cốt tuỳ cơ ứng biến mà thôi.

Bậc hiền triết thuở trước thường nói : "Tâm của người thầy thuốc giỏi giống như viên tướng có tài, mà phép dùng thuốc cứu người cũng tựa phép dùng binh đánh giặc" . Ra binh có khi đánh thẳng, có khi dùng mưu; dùng thuốc có lúc chữa bệnh chính, có lúc chữa biến chứng. Vốn không học phép dùng binh thì không thể đánh trận, vốn không hiểu cách dùng thuốc thì không thể chữa bệnh.

Dịch Công nói : "Con người ta bẩm thụ khí trung hoà của trời đất mà sinh ra, nhưng do ăn uống, làm lụng không biết tự giữ cho điều độ, nên những phần độc hại của âm dương mới nhân những chỗ sơ hở ấy trở thành quân giặc làm hại " . Nghề thuốc tức là thuật chống giặc của thánh nhân vậy. Chống giặc không chống ở ngoài bờ cõi mà chống trong sân, trước cổng, ấy là lối trăm phần trăm thua; chữa bệnh không chữa đến tận gốc rễ mà chữa trên ngọn, ngoài da, ấy là phép trăm phần trăm chết.

Lôi Công nói :"Phương pháp linh hoạt của người làm thuốc cốt ở chỗ lựa nhiều biến đổi" . Ví dụ như khí hậu nam bắc có phân biệt, thời trời nóng lạnh có đổi thay, thể chất có kẻ mỏng người dày, mắc bệnh có kẻ lâu người mới...; những yếu tố ấy không thể không xét cho rõ ràng vậy. Cũng như bệnh có khi nên bổ mà lại bổ bằng phép tả, có khi nên tả mà lại tả bằng phép bổ; có khi cần dùng thuốc lạnh mà lấy thuốc nóng dẫn đường, có khi cần dùng thuốc nóng mà lấy thuốc lạnh nương trị; hoặc bệnh ở trên mà chữa ở dưới, hoặc bệnh ở dưới mà chữa trên; bệnh như nhau mà dùng thuốc khác nhau, bệnh khác nhau mà dùng thuốc như nhau...; nghĩa ấy thật rất sâu xa, người học cần xét cho thật rõ. Tóm lại, bệnh là do khí huyết sinh ra, bệnh khí thuộc về dương, bệnh huyết thuộc về âm.

Việc âm dương hơn thua qua lại là then chốt, trăm bệnh theo đó mà thay đổi. Vì thế mà chữa bệnh nam giới khác chữa bệnh nữ giới, chữa bệnh người trẻ khác chữa bệnh người già.

Xét trong y thuật vốn có bốn khoa : nhìn sắc, nghe tiếng, hỏi chứng và bắt mạch, tuy chia thành môn loại trận thế, nào là bát yếu, nào là tam pháp...; nhưng tìm đến ý nghĩa, rốt lại chỉ trong mấy chữ biểu, lý, hư, thực, hàn, nhiệt mà thôi. Nếu trong vòng sáu chữ ấy mà xét nhận được rõ ràng, thì đó là hiểu biết được chỗ cốt yếu rồi vậy. Đó tức là câu người ta vẫn nói là "Biết được chỗ cốt yếu thì chỉ một lời là hết, không biết được chỗ cốt yếu thì mênh mông không cùng "

Than ôi, đạo lớn là của chung, xin cùng các bậc danh nho tài tử thông minh trong thiên hạ đem tinh thần để lĩnh hội, trên thì để thờ vua và cha mẹ giữa thì giữ gìn cho mình, dưới thì để cứu giúp mọi người đã ghi chép hết ra ở sách này. Xin chớ vì là sách quốc âm nôm na, quê kệch mà xem thường xem khinh.

Trích yếu âm dương biện luận

(Trích phần chủ yếu trong bài Biện luận về âm dương)

Dịch nghĩa:

Phàm chỗ then chốt của sinh khí mà con người bẩm thụ đều gốc ở hai khí âm dương. Nhưng nếu đem khí huyết, tạng phủ, hàn nhiệt mà bàn, thì đó chỉ là nói riêng về khí âm dương hữu hình thuộc về hậu thiên mà thôi. Còn như khí âm dương vô hình thuộc về tiên thiên thì dương gọi là nguyên dương, âm gọi là nguyên âm. Dương tức là nguyên dương, âm gọi là nguyên âm. Nguyên dương tức là cái hỏa vô hình, việc sinh hóa thần cơ là ở đó, tính mạng quan hệ ở nó. Nguyên âm tức là cái thủy vô hình, việc tạo dựng thiên quý là ở đó, mạnh yếu quan hệ ở nó. Cho nên kinh Dịch gọi là nguyên tính, nguyên khí. Nguyên tính, nguyên khí tức là nguyên thần sinh ra tinh, hoá ra khí. Sinh khí của con người sở dĩ ứng hợp với tự nhiên, chỉ do nhờ ở nó mà thôi. Kinh nói rằng: " Được thần thì tốt, mất thần thì chết", chính là nói về điều đó vậy.

Vậy hai chữ âm dương, nên xét cho rõ ràng. Dương thì nóng nảy, âm thì lặng lẽ điềm đạm. Dương giữ việc sinh ra, âm giữ việc nuôi lớn. Dương thái quá thì hại, đưa đến tiêu khô; âm thái quá thì hại, xui nên bế tắc. Dương động mà tan, cho nên hoá ra khí; âm tĩnh mà động, cho nên thành ra hình. Người dương suy thì sợ lạnh, người âm suy thì phát nóng, bởi âm thắng thì dương bị bệnh, dương thắng thì âm bị bệnh, cho nên như vậy. Dương vô hình mà sinh ra hơi, âm có chất mà thành ra mùi, cho nên hơi trong của dương ra nơi các khiếu phía trên, vị đục của âm ra nơi các khiếu phía dưới. Dương rời rạc không tụ về thì bay vượt lên trên mà hơi thở khò khè như ngáy, âm tan tác không bền chặt thì dồn hãm xuống dưới mà mồ hôi nhờn quánh tựa dầu.

Tóm lại âm thì tính tĩnh, ở trong để gìn giữ cho dương; dương thì tính động, ở ngoài để phụng sự cho âm. Bệnh dương hư thì buổi chiều trằn trọc, bệnh âm hư thì buổi sáng nhẹ nhàng; bệnh về dương thì buổi mai tĩnh, bệnh về âm thì buổi đêm yên; dương tà thịnh thì chiều nhẹ, sáng nặng, âm tà thịnh thì chiều nặng sáng nhẹ; bệnh về dương phần nhiều thích mát ham lạnh, bệnh về âm phần nhiều sợ lạnh muốn ấm.

Âm dương đã phân rõ, Vinh Vệ phải chia rành. Vinh là huyết, thuộc âm, cái để nuôi tốt bên trong; Vệ là khí, thuộc dương, cái để đi giữ bên ngoài. Cho nên huyết để nuôi nấng thì đi trong mạch, khí để gìn giữ thì đi ngoài mạch. Khí là cái để hành huyết, huyết là cái để chở khí. Khí huyết vốn không rời nhau, cho nên âm hư dương ắt chạy , dương hư âm ắt thoát. Người giỏi chữa bệnh thì khí hư nên giúp huyết, huyết hư nên giữ khí. Tóm lại huyết là cái hữu hình, không thể sinh nhanh; khí là cái rất nhỏ, cần giữ cho chắc.

Than ôi, lẽ âm dương biến hoá thì không cùng, không thể kể hết, vả lại dương nắm cả âm, huyết theo với khí, nên người xưa chữa huyết ắt trị khí trước; đó là khéo hiểu được nghĩa "Kiền nắm trời, khôn theo Kiền" của kinh Dịch vậy. Thánh nhân giúp đỡ công việc của trời đất, thường ngụ ý nâng dương mà nén âm, cho nên Thần Nông nếm thuốc, cũng căn cứ vào âm dương để phân chia ra các vị hàn nhiệt ôn lương, cay ngọt chua đắng mặn khác nhau. Phàm cay ngọt thuộc dương, ôn nhiệt thuộc dương, hàn lương thuộc âm, chua đắng thuộc âm. Dương chủ việc sinh, âm chủ việc sát, nên người thầy thuốc muốn cho người ta xa nơi chết, tới chỗ sống thường dùng các vị ngọt, ôn, cay, nhiệt mà ít dùng các phương chua đắng hàn lương bởi hiểu lẽ ấy.

Như ngày Đông chí thì khí nhất dương sinh, ngày Hạ chí thì khí nhất âm sinh, hai ngày chí ấy vô cùng quan trọng. Chí nghĩa là cực, âm cực thì dương sinh, từ không mà thành khó, dương cực thì âm sinh, từ có mà thành không; đó là chỗ không giống nhau trong việc biến hóa của âm dương vậy. Kinh nói rằng "Bên dưới tướng hỏa, khí thủy tiếp nối; bên dưới ngôi thuỷ, khí thổ tiếp nối; bên dưới ngôi thổ, khí phong (mộc) tiếp nối ; bên dưới ngôi phong, khí kim tiếp nối; bên dưới ngôi kim, khí hoả tiếp nối; bên dưới quân hoả, âm tính tiếp nối. Găng thì hại, cái tiếp nối sẽ chế trị nó" . Như ngày Đông chí thì âm thịnh đến cùng cực, sinh ra khí dương tiếp nối sẽ chế trị. Ngày Hạ chí thì dương thịnh đến cùng cực, sinh ra khí âm tiếp nối, đó gọi là dương thịnh găng thì hại, âm tiếp nối sẽ chế trị.

Có người hỏi "Ngày Đông chí khí nhất dương sinh, đáng lẽ khí trời dần chuyển sang ấm áp, thế tại sao tháng chạp lại rét lớn, băng tuyết quá nhiều ? Ngày Hạ chí khí nhất âm sinh, đáng lẽ khí trời dần chuyển thành mát mẻ, thế tại sao tam phục lại nắng gắt, nóng nực càng tăng ? Có cách nào giải thích chăng ? Triêu Quán nói "Đó là chuyện cái sẽ đến thì tiến, cái thành rồi thì lui. Trong chỗ tinh tuý và kín đáo, chưa dễ xét rõ được. Đại khái có lẽ là dương phục ở dưới bức âm ở trên, nước giếng tỏa hơi mà kỳ băng đóng cứng, âm thịnh ở dưới bức dương ở trên, nước giếng lạnh đi mà tới lúc sấm chớp tụ họp lại. Nay những người bệnh mặt đỏ miệng khô, trong người bứt rứt ho, suyễn, ai bảo không là hỏa thịnh đến cùng cực, nào biết cái hỏa đó là do khí âm hàn trong thận bức bách. Đem thuốc hàn lương cho uống mà kẻ chết đã nhiều, oan uổng lắm thay ! Vả dương thì một mà đặc, âm thì hai mà rỗng, tóm lại cái hại của âm là từ cái một của dương mà chia ra, cho nên mặt trời giữ được hình dáng ban đầu, còn mặt trăng khi tròn khi khuyết. Người ta lúc mới sinh ra thì chỉ thuần dương mà không có âm, nhờ mẹ cho bú sữa của vú thuộc Quyết âm mà âm bắt đầu sinh. Vì thế mà con trai đến mười sáu tuổi thì tinh mới thông, sau bốn mươi thì tinh kiệt; con gái đến mười bốn tuổi thì có kinh, bốn mươi chín thì kinh dứt. khí âm trong thân người chỉ đủ để dùng trong khoảng ba mươi sáu năm".

Chữ âm ấy là nói đến âm tinh, tức là chỉ âm huyết vậy.

Huống chi âm dương làm gốc lẫn cho nhau, bàn chuyên bổ âm phải lấy dương làm chủ, tóm lại nếu không có dương thì âm cũng chẳng thấy gì để sinh. Cho nên con trai thì trái thuôc hỏa làm khí, phải thuộc thuỷ làm huyết; con gái thì trái thuộc thủy mà phải thuộc hỏa. Sự huyền diệu của gốc âm và gốc dương, nếu không xét đến cùng, thì có phải tắt vậy.

Kẻ bàn đến âm dương thường cho rằng đó là khí huyết, nào ai biết hỏa là gốc của âm huyết, nhưng âm dương thủy hỏa lại đều cùng ra từ một gốc. Bởi cùng ra từ một gốc mà không tách rời nhau, nên âm dương lại làm gốc lẫn cho nhau. Gốc của dương là ở âm, gốc của âm là ở dương, không có dương thì âm không lấy gì để sinh, không có âm thì dương không lấy gì mà hoá. theo âm mà dẫn dương, theo dương mà dẫn âm, đều tìm cái âm dương phụ thuộc mà xét tới cùng gốc của âm dương vậy. Người nay nhận lầm tâm, thận là chân hỏa, chân thủy, đó là vì không rõ đạo ấy. Đại khái trời sinh con người có cái tướng hỏa vô hình đi trong hai mươi lăm độ dương, chân thủy vô hình đi trong hai mươi lăm độ âm mà gốc của chúng thì vốn là cái chân thuộc về Thái cực, đó mới gọi là chân. Một khi thuộc về hữu hình tức là hậu thiên mà không phải là chân nữa.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 24.10.2018, 03:34
Hình đại diện của thành viên
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
 
Ngày tham gia: 11.06.2016, 16:50
Tuổi: 24 Nữ
Bài viết: 6271
Được thanks: 620 lần
Điểm: 10
Có bài mới Re: [Tổng hợp] Ngư Tiều Y Thuất Vấn Đáp - Nguyễn Đình Chiểu - Điểm: 10

Chương 3: Trang 2 - Ngư Tiều Y thuật Vấn Đáp
1- Ngày nhàn xem truyện "Tam công",

Thương người hiền sĩ sinh không gặp đời.

Cuộc cờ thúc quý đua bơi,

Mấy thu vật đổi sao dời, than ôi !

5- Kể từ Thạch Tấn ở ngôi,

U Yên mấy quận cắt bồi Khiết Đan,

Sinh dân nào xiết bùn than,

U Yên trọn cũng giao bàn về Liêu.

Theo trong người kiệt rất nhiều,

10- Ôm tài giấu tiếng làm tiều, làm ngư.

Nước non theo thói ẩn cư,

Thờ trên nuôi dưới, nên hư mặc trời.

Lại thêm Phật, Lão đua lời,

Nghĩ lòng người với đạo đời thêm thương.

15- Nhà năm ba gánh cương thường,

Phận ai nấy giữ, trọn giường thời thôi.

Đời vương đời đế xa rồi,

Nay Di mai Hạ biết hồi nào an.

Năm trăm vận ở sông vàng,

20- Nước còn đương cáu, khôn màng thánh nhân,

Đã cam hai chữ "tỵ Tần",

Nguồn Đào tìm dấu, non xuân ruỗi miền.

Có tên rằng Mộng Thê Triền,

Tuổi vừa bốn chục, nhân duyên năm lần,

25- Nhà nghèo ở núi Bạch Vân,

Dẹp văn theo võ, tách thân làm tiều.

Ngày ngày đốn củi rừng Nghiêu,

Hái rau non Thuấn, phận nhiều lao đao.

Đông Xuyên lại có người hào,

30- Tên rằng Tử Phược, họ Bào, làm ngư.

Trong (thông ?) minh ba chục tuổi dư,

Sinh con mười đứa bé thơ thêm nghèo.

Ngược xuôi trên nước một chèo,

Nay doi mai vịnh, nghề theo lưới chài,

35- Họ Bào họ Mộng hòa hai,

Trước theo nghề học đều tài bậc trung.

Chẳng may gặp buổi đạo cùng,

Treo kinh dẹp sử, lánh vòng loạn ly.

Người nam kẻ bắc phân đi,

40- Nước non rẽ bạn cố tri bấy chầy.

Cách nhau mười mấy năm nay,

Tình cờ lại đặng một ngày gặp đây.

Ngư, Tiều mở tiệc vui vầy,

Ngâm thơ, uống rượu, đều bày chí xưa.

I- Tiều ngâm thơ rằng :

Non xanh mấy cụm đội trời thu,

Sưu thuế Tây Liêu chẳng đến đầu.

Tên đã gác ngoài sân thúc quý,

Minh liền dầm giữa suối Sào, Du.

Vui lòng bạn cũ thơ vài cuốn,

Rảnh việc ngày nay rượu một bầu.

Chút phận riêng nương hơi núi rạng,

Trăm năm ra sức dọn rừng nhu (nho).

II- Ngư ngâm thơ rằng :

Nghênh ngang trên nước một thuyền câu,

Chèo sóng buồm giong,trải mấy thu.

Ngày xế tấm mui che gió Tấn,

Đêm chầy bếp lửa chói trời U

Mặc tình sở ngộ đời trong đực,

Vui thú phù sinh bến cạn sâu.

Trăm tuổi trọn nhờ duyên cá nước,

Dù lòng ngao ngán giữa dòng nhu (nho).

45- Tiều rằng : Sinh chẳng gặp thời,

Thân đà đến ấy, nghe thơ thêm phiền.

Lênh chênh chữ phận, chữ duyên,

Lỡ Tiên, lỡ Phật, lỡ nguyền nho phong.

Nhớ câu "quân tử cố cùng",

50- Đèn trăng, gió quạt, non sông phận đành.

Ngư rằng : Hai chữ công danh,

Hoàng lương nửa gối, đã đành phôi pha.

Thương câu "thế đạo đồi ba",

Ngày nay chưa biết mai ra lẽ nào !

Uống thêm vài ly rượu giao,

Ngâm thơ hoài cổ, để rao tiếng đời.

III- Ngư, tiều hoài cổ ngâm ngụ ưu đạo ý

(thử xướng, bỉ họa)

Từ thuở Đông Chu xuống đến nay,

Đạo đời rậm rạp mấy ai hay

Hạ Thương đường cũ gai bò lấp,

Văn Vũ nền xưa lúa trổ đầy.

Năm bá mượn vay, nhân nghĩa mọn .

Bảy hùng giành xé, lợi danh bay,

Kinh Lân mong dẹp tôi con loạn,

Sử Mã khôn ngăn mọi rợ bầy.

Dùi mõ Mặc, Dương thêm chộn rộn,

Tiếng chuông Phật, Lão rất vang ngầy.

Lửa Tần, tro Hạng vừa nguôi dấu,

Am Hán, chùa Lương lại réo dầy,

Trong đám cửu lưu đều nói tổ,

Bên đường tam giáo cũng xưng thầy.

Khe Đào, động Lý nhiều đoàn trốn,

Rừng Trúc, đình Lan lắm bạn say.

Phép báu Thi, Thư dòng mực nát,

Màu xuê Lễ, Nhạc nhiễm sương bay,

Mấy dòng biển nghiệt chia nguồn nước,

Trăm cụm rừng hoang bít cội cây.

Hơi chính ngàn năm về cụm núi,

Thói tà bốn biển động vàng mây.

Ngày nào trời đất an ngôi cũ,

Mừng thấy non sông bặt gió tây.

Thơ rồi Ngư mới hỏi Tiều :

Việc nhà con vợ ít nhiều đặng hay ?

Tiều rằng : Triền rất chẳng may,



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 24.10.2018, 03:35
Hình đại diện của thành viên
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
 
Ngày tham gia: 11.06.2016, 16:50
Tuổi: 24 Nữ
Bài viết: 6271
Được thanks: 620 lần
Điểm: 10
Có bài mới Re: [Tổng hợp] Ngư Tiều Y Thuất Vấn Đáp - Nguyễn Đình Chiểu - Điểm: 10
60- Năm lần cưới vợ, còn nay một người.

Nằm hoài biếng nói, biếng cười,

Rề rề đau máu, da tươi bàu nhàu.

Bốn người trước thác theo nhau,

Người đau sản hậu, người đau thai tiền,

65- Khiến thêm nghèo khổ cho Triền,

Bán bao nhiêu củi về tiền thuốc thang,

Thầy hay thời ở xa đường,

Tin theo thầy tục, giúp phương hại người.

Ngư rằng : Phược cũng như người,

70- Hôm mai lận đận về mười đứa con.

Chí lăm nuôi đặng vuông tròn,

Chung tư trập trập, nhà còn phúc ghi.

Nào hay tạo hóa tiểu nhi,

Rủ bầy con nít đều đi bỏ mình.

75- Đứa thời đau chứng cấp kinh,

Đứa thời cam tích, bụng bình rĩnh ra,

Đứa thời hai mắt quáng gà,

Đứa thời túm miệng, khóc la rốn lồi,

Đứa thời đau bụng lãi chòi,

80- Đứa thời iả kiết, rặn lòi trôn trê,

Đứa thời sài ghẻ, nóng mê,

Đứa thời hoa trái, độc về hông, vai.

Rủ nhau thỉnh thoảng chết hoài,

Đứa đôi ba tháng, đứa vài ba năm.

85- Trời đà hao tốn tiền trăm,

Thương con chạy bậy, lầm nhằm thuốc nhăng.

Đến nay còn sót hai thằng,

Nhờ trời khoẻ mạnh, đặng ăn chơi thường.

Cảm ơn kẻ sĩ du phương,

90- Dắt ta, điềm chỉ vào đường Y lâm.

Thê Triền nghe nói mừng thầm,

Hỏi rằng : Thầy ở Y lâm tên gì ?

Ngư rằng: Chưa biết tên chi,

Nghe người nói đó là kỳ Nhân Sư.

95- Tiều rằng : Chữ gọi Nhân Sư,

Tiên hay là Phật, bậc gì công phu ?

Ngư rằng : Vốn thật thầy nhu (nho),

Lòng cưu gấm nhiễu, lại giàu lược thao.

Nói ra vàng đá chẳng xao,

100- Văn ra dấy phụng, rời giao tưng bừng.

Trong mình đủ chước kinh luân,

Thêm trau đạo đức, mười phân rõ ràng,

Chẳng may gặp thuở nước loàn,

Thương câu "dân mạc" về đàng Y lâm.

105- Ẩn mình chôn ngọc, vùi câm (kim),

Người con mắt tục coi lầm biết đâu.

Ta nhân bệnh trẻ đi cầu,

Có nghe du sĩ đọc câu thơ rằng :

IV- Du sĩ độc nhân sư thi:

Xe ngựa lao xao giữa cõi trần,

Biết ai thiện tử, biết ai thần?

Nhạc thiều tiếng dứt khôn trông phụng,

Sử Lỗ biên rồi khó thấy lân !

Khỏe mắt Hi Di trời ngũ quý,

Mỏi lòng Gia Cát đất tam phân

Công danh chi nữa, ăn rồi ngủ,

Mặc lượng cao dày xử với dân

Tiều rằng : Mừng gặp hiền nhân,

110- Nghe bài thơ ấy, thật trân bảo đời !

Bấy lâu những tưởng không người,

Nào hay hang trống còn dời tiếng rân.

Thi danh trước có Đường thần.

Tài như Lý, Đỗ muôn phần khá thương.

115- Thấy nay cũng nhóm văn chương,

Vóc dê, da cọp khôn lường thực hư,

Tiếc thay đời có Nhân Sư,

Lại theo bốn chữ "vô như chi hà".

Nhớ xưa tiếng đại hiền ra,

120- " Rằng trời muốn trị, bỏ ta, ai dùng ?"

Thôi thôi ngươi hãy gắng công,

Đem ta tới chỗ, học cùng Nhân Sư.

Ngư rằng : Nhắm chốn Đan Kỳ,

Éo le khúc nẻo, đường đi chẳng gần.

125- Nhiều non, nhiều núi, nhiều rừng,

Nhiều đèo, nhiều ải, nhiều chừng động hang.

Chút công khó nhọc chẳng màng,

Phần lo hóc hiểm một đàng Nhân Khu.

Nhân Khu ải ấy ở đầu,

130- Nẻo lành, nẻo dữ, cạn sâu khôn lường.

Tiều rằng : Ta dốc tìm phương,

Xin phân cho rõ cái đường Nhân Khu.

Ngư rằng : Một ải Nhân Khu,

Lấy da bao thịt, làm bầu hồ lô.

135- Trở thông chín nẻo ra vào,

Mười hai kinh lạc chia đào dọc ngang.

Ngoài thời sáu phủ Dương Quan,

Trong thời năm tạng, xây bàn Âm Đô.

Hai bên tả hữu vách tô,

140- Có non nguyên khí, có hồ huyết quan.

Có nơi hồn phách ở an,

Có ngôi thần chủ, sửa sang việc mình.

Rước đưa có đám thất tình,

Có vườn ngũ vị nuôi hình tốt tươi.

145- Lại nghe du sĩ trao lời,

Rằng trong ải ấy lắm nơi hiểm nghèo,

Có làng Lục Tặc nhóm theo,

Chia phần đón ngách, giữ đèo Tam Thi.

Hôm mai rũ quến nhau đi,

150- Xui lòng nhân dục, nhiều khi lang loàn,

Hoặc theo bên động Bì nang,

Thắm trêu hoa mẫu mơ màng gió xuân.

Hoặc theo bên động Tôn Cân,

Nhem thèm cho sãi về dân, bỏ chùa,

155- Thêm bầy quỉ quái theo lùa,

Nhóm non Thập Ác, tranh đua khuấy đời,

Ngửa xem ngoài cửa sáng giăng,

190- Thấy trên biển ngạch chữ rằng "Tam Công".

Bước vô trong miếu lạnh lùng,

Thấy treo ba bức song song họa đồ.

Nhân Sư ngồi giữa xem đồ,

Thấy ta han hỏi, dở hồ linh đan.

195- Lấy ra thuốc đỏ hai hoàn,

Cho về cứu trẻ khỏi cơn tai nàn.

Ta nhân một thuở vội vàng,

Gặp thầy chưa kịp hỏi han việc gì.

Tiếc thay đã đến Đan Kỳ,

200- Mùi thơm chưa dính chút chi vào mình.

Tiều rằng : Xin hỏi nhân huynh,

Trước quen du sĩ, tính danh cũng tường ?

Ngư rằng : Kẻ sĩ du phương,

Tên Châu Đạo Dẫn, đem đường cho ta.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 24.10.2018, 03:35
Hình đại diện của thành viên
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
 
Ngày tham gia: 11.06.2016, 16:50
Tuổi: 24 Nữ
Bài viết: 6271
Được thanks: 620 lần
Điểm: 10
Có bài mới Re: [Tổng hợp] Ngư Tiều Y Thuất Vấn Đáp - Nguyễn Đình Chiểu - Điểm: 10
205- Đang khi bối rối việc nhà,

Nào rồi hỏi việc trải qua cùng chàng.

Chỉn nghe Đạo Dẫn thở than,

Rằng bầy Lục Tặc, biết toan lẽ nào !

Tiều rằng : Lục Tặc làm sao ?

210- Xin phân sáu ấy, âm hao cho rành,

Ngư rằng : Tai mắt nhiều tinh,

Tai tham tiếng nhạc, mắt giành sắc xinh.

Mũi thời tham vị hương hinh,

Miệng thời tham béo, ngọt, thanh, rượu, trà,

215- Vóc thời muốn bận sô sa,

Bụng thời muốn ở cửa nhà thếp son.

Cho hay Lục Tặc ấy còn,

Khiến con người tục lần mòn hư thân

Tiều rằng : Nghe tiếng ngọc phân,

220- Chạnh lòng muốn tách cõi trần chơi mây.

Phải chi gặp Đạo Dẫn đây,

Ta xin theo dấu, tìm thầy Nhân Sư.

Ngư rằng : Phược nguyện đem đi,

Anh về sắm sửa lễ nghi sẵn sàng.

225- Vả nay vừa tiết xuân quang,

Hẹn năm ngày nhóm hành trang cho rồi

Thê Triền từ tạ, chân lui,

Về nhà thấy vợ ngùi ngùi đau rên,

Nhờ ơn nhạc mẫu ở bên,

230- Dặn dò gửi vợ, lại lên họ Bào.

Thứ này hai họ nghĩa giao,

Sắm đồ hành lý những bao, những hồ.

Bao thời đựng cá tôm khô,

Hồ thời đựng rượu, trường đồ thẳng xông,

235- Trải qua bờ liễu, non tùng,

Trời hiu hiu thổi gió đông đưa mình,

Mặt nhìn trong tiết Thanh minh,

U Yên đất cũ, cảnh tình trêu ngươi,

Trăm hoa nửa khóc nửa cười,

240- Như tuồng xiêu lạc gặp người cố hương.

Cỏ cây gie nhánh đón đường,

Như tuồng níu hỏi Đông hoàng ở đâu ?

Bên non đá cụm cúi đầu,

Như tuồng oan khúc, lạy cầu cứu sinh.

245- Líu lo chim nói trên cành,

Như tuồng kể mách tình hình dân đau.

Gió tre hiu hắt theo sau,

Như tuồng xúi dục đi mau tìm thầy.

Dưới non suối chảy kêu ngầy,

250- Như tuồng nhắn hỏi sự này bởi ai ?

Hai người nhìn thấy than dài,

Cho hay non nước nhiều loài trông xuân,

Mưa sầu gió thảm biết chừng nào thanh !

255- Mảng xem cảnh cũ thương tình,

Nào hay lạc nẻo lộ trình ải xưa.

Cùng nhau ngơ ngẩn ngày trưa,

Lại may gặp bạn cỡi lừa ngâm thơ.

Hai người dừng gót đứng chờ,

260- Lắng nghe du sĩ lời thơ ngâm rằng :

V- Đạo Dẫn ngâm thơ

Trời đông sùi sụt gió mưa tây,

Đau ốm lòng dân cậy có thầy,

Phương cũ vua tôi gìn trước mắt,

Mạng nay già trẽ gửi trong tay.

Trận đồ tám quẻ còn non nước,

Binh pháp năm mùi sẵn cỏ cây.

Hỡi bạn Y lâm ai muốn hỏi,

Đò xưa bến cũ có ta đây.

Ngâm rồi thoạt thấy Tiều, Ngư,

Vội vàng Đạo Dẫn trụy lư cười ngầm.

Chào rằng : này kẻ tri âm !

Ngày nay lại đến Y lâm cầu gì ?

265- Ngư rằng : Đem bạn cố tri,

Đồng lòng tìm đến Nhân Sư học hành.

Dẫn rằng : Hai chữ "phù sinh"

Người non, kẻ nước, phận đành tiều, ngư.

Bấy lâu sao chẳng tầm sư,

270- Đến nay lại có công dư học nghề ?

Tiều rằng : Thời vận bất tề,

Thêm lầm thầy thuốc làm bê việc nhà.

Ngư rằng : Ta nghĩ giận ta,

Bởi thương con vợ mới ra hết tiền.

275- Dẫn rằng : Trong cõi trần duyên,

Hay người chưa trả rồi tiền nợ vay.

Người xưa ba chuyến gãy tay,

Tức mình học thuốc, mới hay làm thầy,

Tiều rằng : Mấy cụm rừng y,

Đều noi đường cái Hiên Kỳ trổ ra.

285- Một ngày suối chảy một xa

Rốt dòng lại có chính tà khác nhau.

Ngư rằng : Cách trở bấy lâu,

Đường đi ngày trước lạc đâu khôn tầm.

Dẫn rằng : Đây thật Y lâm,

290- Nhân khu ải khỏi, nào lầm chớ e !

Ngư rằng : Dặm cũ vắng hoe,

Mình tuy có thấy, không nghe biết gì.

Dẫn rằng : Đó chớ vội đi,

Ngày nay chưa gặp Tôn Sư ở nhà .

295- Đến am Bảo Dưỡng theo ta,

Nghỉ chơi vài bữa, rồi qua Đan Kỳ.

Ngư, Tiều theo Đạo Dẫn đi,

Ở am Bảo Dưỡng một khi vui vầy.

Ba người kết bạn đông tây,

300- Chuyện trò sách thuốc, lối này hỏi nhau.

Ngư rằng : Trước ải Nhân Khu,

Mười hai kinh lạc, cạn sâu chưa tường,

Dẫn rằng : Ba âm, ba dương,

Ba ba số bội, chia đường hai bên,

305- Tay chân tả hữu hai bên,

Âm dương đều sáu, dưới trên buộc ràng.

VI- Thập nhị kinh lạc ca

(Bài ca về mười hai kinh lạc)

Dịch nghĩa :

Kinh Thủ Thái dương thông với ruột non,

Kinh Túc Thái dương thông với bọng đái,

Kinh Thủ Dương minh thông với ruột già,

Kinh Túc Dương minh thông với dạ dày,

Kinh Thủ Thiếu dương thông với tam tiêu,

Kinh Túc Thiếu dương thông với mật,

Kinh Thủ Thái âm thông với phổi,

Kinh Túc Thái âm thông với lá lách,

Kinh Thủ Thiếu âm thông với trái tim,

Kinh Túc Thiếu âm thông với thận,

Kinh Thủ Quyết âm thông với màng tim,

Kinh Túc Quyết âm thông với gan

VII- Hựu hữu ca

(Lại có bài ca rằng)

Dịch nghĩa :

Kinh Thái dương thuộc thủy, úng với Thìn,Tuất,

thông với ruột non, bọng đái,

Kinh Dương minh thuộc kim, ứng với Mão, Dậu,

thông với ruột già, dạ dày,

Kinh Thiếu dương thuộc hỏa, ứng với Dần, Thân,

thông với tam tiêu và mật,

Kinh Thái âm thuộc thổ, ứng với Sửu, Mùi,

thông với phổi và lá lách,

Kinh Thiếu âm thuộc hỏa, ứng với Tý, Ngọ,

thông với tim và thận,

Kinh Quyết âm thuộc mộc, ứng với Tỵ, Hợi,

thông với màng tim và gan.

Ngư rằng : Kinh lạc là tiêu,

Chỗ nào khí huyết ít nhiều biết đâu.

Dẫn rằng : Khí huyết nhân khu,

310- Ta từng coi sách, thấy câu ca rằng :

VIII.- Thập nhị kinh lạc khí huyết đa thiểu ca

(Bài ca về khí huyết nhiều ít của mười hai kinh lạc)

Dịch nghĩa :

Nhiều khí, nhiều huyết, anh nên nhớ :

Kinh Thủ Dương minh tức ruột già, và

Kinh Túc Dương minh tức dạ dày.

Ít huyết, nhiều khi, có sáu kinh :

Tam tiêu, mật, thận, tim, lá lách, và phổi.

Nhiều huyết, ít khí chia ra bốn kinh :

Bọng đái, ruột non, màng, tim và gan.

Ngư rằng : Kinh lạc nhiều đàng,

Người đau nhiều chứng, biết toan lẽ nào ?

Dẫn rằng : Chớ hỏi thầy cao,

bệnh nào thuốc nấy đem vào đường kinh.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 24.10.2018, 03:36
Hình đại diện của thành viên
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
 
Ngày tham gia: 11.06.2016, 16:50
Tuổi: 24 Nữ
Bài viết: 6271
Được thanks: 620 lần
Điểm: 10
Có bài mới Re: [Tổng hợp] Ngư Tiều Y Thuất Vấn Đáp - Nguyễn Đình Chiểu - Điểm: 10
315- Tiều rằng : Xin hỏi tiên sinh,

lệ trong năm tạng, ghi hình trạng sao ?

Dẫn rằng : Tổ có lời rao :

Tạng can thuộc mộc, cây rào mùa xuân.

Sắc xanh, con mắt là chừng,

320- Hoa ra giáp móng, dày gân buộc lèo.

Giấu hồn, đựng máu, tiếng kêu,

Vị toan, nước mắt, mạch nêu chữ Huyền.

Quyết âm kinh túc ấy truyền,

Hợp cùng phủ đảm, ngôi liền ngoài trong.

325- Tạng tâm thuộc hoả, mạch Hồng,

Mùa hè, sắc đỏ, chừng trong lưỡi này.

Giấu thần, nuôi máu, ở đây,

Đắng mùi, tiếng nói, nước vầy buồn hôi.

Thiếu âm kinh thủ phải rồi,

330- Hợp cùng ngoại phủ, rằng ngôi tiểu trường.

Tạng tỳ thuộc thổ sắc vàng,

Vượng theo tứ quý, đều tàng ý vui.

Miệng chừng, nước dãi, ngọt mùi,

Tiếng ca, mạch Hoãn, hay nuôi thịt hình.

335- Thái âm kinh túc đã đành,

Hợp cùng phủ vị, ngôi giành trung châu.

Tạng phế thuộc kim, mạch Phù,

Vị cay, sắc trắng, mùa thu, phách ròng.

Giấu hơi, nuôi khắp da, lông,

340- Mùi chừng, tiếng khóc, nước trong mũi thường.

Thái âm kinh thủ cho tường,

Hợp cùng ngoại phủ đại trường ấy thông .

Tạng thận thuộc thủy, mùa đông,

Sắc đen vị mặn, chi dùng nuôi xương,

345- Tiếng rên, nước nhỏ hôi ươn,

Hai tai chừng đó, giữ phương mạch Trầm.

Phần về kinh Túc Thiếu âm,

Hợp bàng quang phủ, gìn cầm hóa nguyên.

Tiều rằng : Nam tạng đã biên,

350- Kìa như sáu phủ, xin liền nói ra.

Dẫn rằng : Cái mật người ta,

Tượng theo xuân mộc, kinh là thiếu dương.

Đảm ngoài làm phủ cho can,

Tóm vào muôn mối, việc toan lo lường.

355- Mấy chiều ruột nhỏ tiểu trường,

Tượng theo hạ hỏa, thái dương kinh cầm.

Ở ngoài làm phủ cho tâm,

Nước trôi đem xuống đặng dầm nguồn sinh.

Vị là kinh Túc Dương minh,

360- Đựng theo đất chứa, việc mình uống ăn,

Bao nhiêu nước, xác chứa ngăn,

Phát ra các chỗ, chịu bằng quan ty.

Ở ngoài làm phủ cho tỳ,

Cái bao tử ấy thật ghi công dày.

365- Đại trường ruột lớn liền đây,

Dương minh kinh thủ, tượng vầy thu câm (kim).

Ngôi theo nhờ phế hơi cầm,

Vật ăn bã xác xuống hầm phẩn ra,

Bàng quang thật bọng đái ta,

370- Tượng theo đông thủy, kinh là thái dương.

Ngôi theo ngoài chốn thận hương,

Hóa hơi nước xuống, làm đường niệu tân.

Tam tiêu phủ ấy ba tầng,

Kiêm trên, giữa, dưới, gọi rằng tam tiêu.

375- Trên thâu ăn uống, nạp nhiều,

Giữa chia trong đục, dưới điều gạn ra.

Làm đường nước xác trải qua,

Nhờ ba hơi ấy tiêu hòa máu, hơi.

Trước sau bủa khắp ba hơi,

380- Thiếu dương kinh thủ thật nơi dinh người.

Tiều rằng : Kinh lạc mười hai,

Tạng phủ mười một biết hài thế sao ?

Dẫn rằng : Trước có lời rao :

Quyết âm kinh thủ, tâm bào lạc nêu.

385- Tâm bào cùng phủ tam tiêu,

Trong ngoài hai ấy chia đều âm, dương.

Muốn làm thầy đặng chữ "lương",

Bệnh trong tạng phủ phải lường thực hư.

Rồi đây hỏi lại Nhân Sư,

390- Xin phân chứng thực, chứng hư cho rành.

Ngư rằng : Kìa bến Ngũ Hành,

Chia ra nẻo khắc, nẻo sinh làm gì ?

Dẫn rằng : Trên, dưới hai nghi,

Có năm hành ấy, hoa ky (cơ) xây vần.

395- Mộc, kim, thủy, hỏa, thổ phân,

Sinh : phần ấy tốt, khắc : phần ấy hư.

Muốn cho rõ lẽ nên hư,

Coi lời sinh khắc tổ sư ca rằng :

IX - Ngũ hành tương sinh ca

(Bài ca về ngũ hành tương sinh)

Dịch nghĩa :

Mộc sinh hỏa chừ, hỏa sinh thổ,

Thổ sinh kim chừ, kim sinh thủy,

Thủy sinh mộc chừ, năm mối sinh,

Trong khoảng trời đất đều tốt lành.

X - Ngũ hành tương khắc ca

(bài ca về ngũ hành tương khắc)

Dịch nghĩa :

Mộc khắc thổ chừ, thổ khắc thủy,

Thủy khắc hỏa chừ,hỏa khắc kim,

Kim khắc mộc chừ, năm mối khắc,

Trong khoảng trời đất thảy tai ương.

Ai mà rõ lẽ ngũ hành,



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 24.10.2018, 03:36
Hình đại diện của thành viên
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
 
Ngày tham gia: 11.06.2016, 16:50
Tuổi: 24 Nữ
Bài viết: 6271
Được thanks: 620 lần
Điểm: 10
Có bài mới Re: [Tổng hợp] Ngư Tiều Y Thuất Vấn Đáp - Nguyễn Đình Chiểu - Điểm: 10
400- Việc trong trời đất dữ lành trước hay.

Trên thời mưa móc, gió mây,

Dưới thời non nước, cỏ cây muôn loài.

Giữa thời nhà cửa, đền đài,

Năm hành tóm việc ba tài nhỏ to.

405- Ví dù tạo hóa mấy lò,

Hóa công mấy thợ, một pho ngũ hành.

Muốn coi phép ấy cho tinh,

Đồ thư Hà Lạc, Dịch kinh rõ bàn.

Ngư rằng : Nơi ải Thiên Can,

410- Có non Ngũ Vận để toan việc gì ?

Chưa hay chủ vận là chi ?

Lại thêm khách vận, sách ghi rộn ràng ?

Dẫn rằng : Mười chữ thiên can,

Anh em thứ lớp, rõ ràng chẳng sai.

415- Anh em một gái, một trai,

Âm dương chia khác, lâu đài năm phương,

Giáp, Ất : mộc, ở đông phương,

Bính, Đinh : hỏa, ở nam phương tỏ tường.

Mậu, Kỷ : thổ, ở trung ương,

420- Canh, Tân : kim, ở tây phương ấy thường.

Nhâm, Qúy : thủy, ở bắc phương,

Đều rằng chủ vận, sử đương việc trời.

Năm ngôi chủ vận chẳng dời,

Ngôi nào theo nấy, có lời thơ xưa.

XI - Chủ vận thi

(Bài thơ về chủ vận)

Dịch nghĩa :

Mộc vận bắt đầu từ tiết Đại hàn ;

Hỏa vận bắt đầu từ ba ngày trước tiết Thanh minh;

Thổ vận bắt đầu từ ba ngày sau tiết Mang chủng;

Kim vận bắt đầu từ sáu ngày sau tiết Lập thu ;

Thủy vận bắt đầu từ chín ngày sau tiết Lập đông;

Hết vòng rồi trở lại từ đầu, muôn năm vẫn như vậy.

425- Năm nhà đều có túc duyên,

Vợ chồng phối hợp, tách miền theo nhau.

Anh Giáp, chị Kỷ cưới nhau,

Hóa ra vận thổ, trước sau chẳng lầm.

Ất, Canh hợp lại hóa câm,

430- Đinh, Nhâm hợp lại hóa trầm mộc cây.

Bính, Tân hòa thủy nước đầy,

Anh Mồ, chị Quý hóa vầy hỏa quang.

Muốn coi năm hóa tạo đoan.

Gọi rằng khách vận, này chàng nghe thơ.

XII - Khách vận thi

(Bài thơ về khách vận)

Dịch nghĩa :

Giáp Kỷ hóa ra thổ, Ất Canh hóa ra Kim,

Đinh Nhâm hóa ra mộc, tất cả thành rừng,

Bính tân hóa ra thủy, chảy đi cuồn cuộn,

Mậu Quý hóa ra hỏa, bốc lên thành ngọn lửa ở phương Nam.

435- Kể từ năm ấy hóa ra,

Làm năm vận khách xây mà theo niên.

Trọn mười hai tháng một niên,

Noi theo khách vận, thay phiên đi liền.

Giả như Giáp, Kỷ chi niên,

440- Hóa ra hành thổ, thật truyền vận sơ.

Thổ sinh kim ấy vận nhi,

Kim sinh thủy ấy, lại trì vận ba.

Thủy sinh mộc, vận thứ tư,

Mộc sinh hỏa vận, luận từ năm nay.

445- Mỗi vận bảy mươi hai ngày,

Lại dư năm khắc, cứ vầy tính qua.

Lấy năm Giáp, Kỷ suy ra,

Bao nhiêu năm nữa đều là như đây.

Lại xem vận khách đổi xây,

450- Thái quá bất cập, lẽ này cho minh.

Năm Giáp, Bính, Mậu, Nhâm, Canh,

Thật năm thái quá, đã đành dương phân.

Năm Đinh, Ất, Kỷ, Qúy, Tân,

Thật năm bất cập, về phần âm can,

455- Thái quá trước tiết Đại hàn,

Mười ba ngày chẵn, giao bàn tiên thiên.

Bất cập sau tiết Đại hàn,

Mười ba ngày chẵn giao bàn hậu thiên.

Cho hay trời có hậu, tiên,

460- Mười can trên dưới, liền liền xây đi.

Ngư rằng : Kìa ải Địa Chi,

Có non Lục Khí, đường đi lộn nhầu.

Chưa hay chủ khí ở đâu,

Lại thêm khách khí, để âu việc gì ?

465- Dẫn rằng : Trong ải Địa Chi,

Có mười hai chữ, thứ đi xây vần.

Dần, Mão thuộc mộc, mùa xuân,

Tỵ, Ngọ thuộc hỏa, ở chưng mùa hè.

Mùa thu Thân, Dậu, kim khoe,

470- Mùa đông Hợi, Tý, nước be dũng tuyền.

Thìn, Tuất, Sửu, Mùi : đất liền,

Vượng theo tứ quý, chở chuyên bốn mùa.

Vậy nên sáu khí ấn bùa,

Khí phong thứ nhất, thổi lùa gió xuân,

475- Thứ hai, khí hỏa lửa phừng,

Thứ ba, khí thử nóng hừng viêm oai,

Thứ tư, khí thấp ướt bày,

Thứ năm, khí táo ráo bay hơi nồng,

Thứ sáu là khí hàn chung,

480- Sắp ra thứ lớp, giữ trong bốn mùa.

Kêu rằng chủ khí bốn mùa,

Có bài thơ cổ, để tua thuộc lòng.

XIII. Chủ khí thi

(Bài thơ về chủ khí)

Dịch nghĩa :

Khí đầu tiên là khí Quyết âm (phong mộc) bắt đầu từ tiết Đại hàn.

Khí thứ hai là khí quân hỏa, bắt đầu từ tiết Xuân phân.

Khí thứ ba là là khí Thiếu dương (tướng hỏa), bắt đầu từ tiết Tiểu mãn.

Khí thứ tư là khí thái âm (thấp thổ), bắt đầu từ tiết Đại thử.

Khí thứ năm là khí Dương minh (táo kim), bắt đầu từ tiết Thu phân.

Khí thứ sáu là khí Thái dương (hàn thủy), bắt đầu từ tiết Tiểu tuyết.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 10 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:



Đề tài nổi bật 
1 • [Cổ đại] Thịnh sủng - Cống Trà

1 ... 15, 16, 17

2 • [Hiện đại] Nhân gian hoan hỉ - Tùy Hầu Châu

1 ... 8, 9, 10

3 • [Hiện đại] Ông xã xấu xa anh đừng hư quá - Phong Phiêu Tuyết

1 ... 14, 15, 16

4 • [Cổ đại] Sổ tay tiến hóa thành yêu hậu - Ninh Dung Huyên

1 ... 7, 8, 9

5 • [Hiện đại] Chọc nhầm sếp lớn - Phù Sinh Y Thủy

1 ... 11, 12, 13

6 • [Cổ đại - Trùng sinh] Thừa tướng yêu nghiệt sủng thê - Sương Nhiễm Tuyết Y

1 ... 29, 30, 31

7 • [Xuyên không - Dị giới] Tà phượng nghịch thiên - Băng Y Khả Khả

1 ... 43, 44, 45

8 • [Xuyên không] Trời sinh một đôi - Đông Thanh Liễu Diệp

1 ... 47, 48, 49

9 • [Cổ đại - Trùng sinh] Đích nữ vô song - Bạch Sắc Hồ Điệp

1 ... 34, 35, 36

10 • [Xuyên không] Cuộc sống điền viên của Tình Nhi - Ngàn Năm Thư Nhất Đồng

1 ... 53, 54, 55

11 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 72, 73, 74

12 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 60, 61, 62

13 • [Hiện đại] Hôn nhân bất ngờ Đoạt được cô vợ nghịch ngợm - Luật Nhi

1 ... 58, 59, 60

14 • [Cổ đại Trùng sinh] Thứ nữ hữu độc - Tần Giản

1 ... 35, 36, 37

15 • [Hiện đại - Quân nhân] Hợp đồng quân hôn - Yên Mang

1 ... 37, 38, 39

16 • [Hiện đại - Trùng sinh] Đêm trước ly hôn - Thiên Sơn Hồng Diệp

1 ... 8, 9, 10

17 • [Cổ đại - Trùng sinh] Thề không làm thiếp - Lục Quang

1, 2, 3, 4, 5

18 • [Hiện đại] Người tình trí mạng - Ân Tầm

1 ... 67, 68, 69

19 • [Hiện đại] Đã từng rất yêu anh - Đọc Miễn Phí

1, 2, 3, 4, 5

20 • [Xuyên không Điền văn] Trọng Sinh Tiểu Địa Chủ - Nhược Nhan (Phần 1)

1 ... 49, 50, 51



Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 248 điểm để mua Con ma dễ thương
Shop - Đấu giá: ngocdung0 vừa đặt giá 434 điểm để mua Hamster béo
LogOut Bomb: thuyvu115257 -> Tiểu Hầu
Shop - Đấu giá: salemsmall vừa đặt giá 321 điểm để mua Đôi bạn thân
Shop - Đấu giá: salemsmall vừa đặt giá 200 điểm để mua Cup Cake
Shop - Đấu giá: TranGemy vừa đặt giá 264 điểm để mua 3 sao xanh
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 250 điểm để mua 3 sao xanh
Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 238 điểm để mua Cân đĩa
Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 232 điểm để mua Bộ xương Dancing
Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 247 điểm để mua Korean Prince
Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 250 điểm để mua No 1
Shop - Đấu giá: Cơ Hoàng vừa đặt giá 232 điểm để mua Mắt kính hồng gọng vàng
Shop - Đấu giá: Cơ Hoàng vừa đặt giá 200 điểm để mua Giỏ xách xanh
Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 498 điểm để mua Thiên thần vàng
Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 248 điểm để mua Phù thủy dễ thương
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 482 điểm để mua Mề đay đá Citrine 6
Shop - Đấu giá: đêmcôđơn vừa đặt giá 250 điểm để mua Chuồn chuồn
Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 246 điểm để mua Hà mã tắm
Shop - Đấu giá: heocon13 vừa đặt giá 224 điểm để mua Gấu nâu
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 210 điểm để mua Kẹo cầu vồng
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 238 điểm để mua Kẹo 7 màu
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 406 điểm để mua Bông tai đá Citrine
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 428 điểm để mua Bông tai đá Peridot
Mika_san: xuất hiện đi nào
Mika_san: có ai hơm
Mika_san: looooo
Shop - Đấu giá: Mika_san vừa đặt giá 230 điểm để mua Couple 5
Shop - Đấu giá: Mika_san vừa đặt giá 220 điểm để mua Doggi bú bình
Mika_san: alo
Shop - Đấu giá: ngocdung0 vừa đặt giá 304 điểm để mua Khủng long Dino

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.