Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 15 bài ] 

Vinh quang và quyền năng - Graham Greene

 
Có bài mới 23.03.2018, 16:43
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35469
Được thanks: 5258 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Kinh điển] Vinh quang và quyền năng - Graham Greene - Điểm: 10
XI


  “Xong chưa?” một giọng cất lên.

Linh mục đứng dậy tỏ dấu chỉ sự sợ hãi và tán đồng. Ngài nhớ lại viên sĩ quan cảnh sát đã cho ngài tiền lúc ở nhà tù. Bóng anh ta sậm, ăn mặc chững chạc đứng ở khung cửa ra vào và ánh sáng từ bên ngoài loé sáng trên giày. Một tay đặt trên cò súng, anh ta nhíu mày giận dữ nhìn tên cướp nằm chết.

“Ông không nghĩ là sẽ gặp tôi chứ?”

“Ồ, có chứ,” linh mục trả lời, “tôi còn muốn cảm ơn ông…”

“Cảm ơn tôi? Vì việc gì?”

“Vì đã để tôi một mình với anh ta.”

“Tôi không phải là người mọi rợ,” sĩ quan nói. “Bây giờ xin ông bước ra. Chạy trốn cũng vô ích. Nhìn đây.”

Linh mục rời căn chòi và thấy chừng mười hai người có vũ khí đang vây quanh.

“Tôi chán làm người chạy trốn rồi,” ngài nói.

Tên tạp chủng biến đâu mất: những đám mây nặng nề gom lại trên trời và làm cho những ngọn núi phía dưới như biến thành những đồ chơi.

Linh mục thở ra, cười: “Tôi đã khó nhọc biết bao mới vượt được dải núi, và bây giờ… tôi ở đây…”

“Tôi không nghĩ là ông sẽ trở lại.”

“Không, ông trung uý, anh biết mà. Ngay cả một thằng hèn cũng có thể có tinh thần trách nhiệm…”

Một ngọn gió mát và trong lành thổi qua ngay trước khi cơn mưa ập đến. Ngài nói thêm vẻ bất cần nhưng vụng về:

“Ông bắn tôi ngay chứ?”

Viên trung uý gằn giọng: “Tôi không phải là người mọi rợ. Ông sẽ được xét xử… theo đúng luật.”

“Tội gì?”

“Phản bội.”

“Tôi có cần thiết phải đi lại quãng đường quá xa này không?”

“Có. Nếu ông không cố gắng tẩu thoát.”

Tay trung uý vẫn còn để trên cò súng như để cảnh giác với vị linh mục.

“Tôi thề là… nhưng ở đâu?” Ông ta nói.

“Vâng, đúng.” Linh mục giải thích, “ông đã gặp tôi hai lần. Một lần khi ông chọn bắt con tin trong làng của tôi: ông đã hỏi con tôi: ‘Ông này là ai?’ Nó đã trả lời: ‘Cha tôi’ và ông tha cho tôi đi.”

Đột nhiên, mấy ngọn núi biến mất: có thể nói người ta đang dội nước vào mặt.

“Nhanh lên, vào trong chòi.”

Ông ta gọi một người lính:

“Đem lại đây vài cái thùng cho chúng tôi ngồi.”

Họ cùng trở lại trong chòi ở đó có xác chết, bên ngoài mưa xối xả. Một người lính ướt loi ngoi mang đến hai thùng gỗ.

“Cho một cây nến,” trung uý ra lệnh rồi ngồi xuống, tay cầm súng. “Ông ngồi xuống đi,” ông ta nói với linh mục, “ngồi xa cửa ra, nơi nào tôi có thể thấy ông.”

Tên lính thắp đèn, cắm ngay trên nền đất cứng, linh mục ngồi gần xác người Mỹ: co quắp trong tư thế rút dao, tên này xem như đang hướng về phía bạn mình để nói vài lời tâm sự… Họ cùng giòng giống: cả hai đều dơ bẩn, râu không cạo. Viên trung uý thuộc nòi giống khác. Ông ta hỏi vẻ khinh khỉnh:

“Như vậy ông có con sao?”

“Vâng,” linh mục đáp.

“Nhưng ông là linh mục!…”

“Ông đừng tưởng rằng mọi linh mục đều như tôi cả đâu, có những linh mục tốt, có linh mục xấu,” ngài nói thêm mắt nhìn ánh đèn lung linh trên nút áo viên trung uý. “Tôi đơn giản chỉ là một linh mục xấu.”

“Như thế thì tôi làm lợi cho giáo hội của ông…”

“Có thể.”

Trung uý nhìn ngài nghi ngờ như là ngài đang chơi xỏ ông.

“Ông đã nói hai lần,” trung uý nói, “ông nói tôi đã gặp ông hai lần sao?”

“Đúng thế, tôi bị bắt vào tù. Ông đã cho tôi tiền.”

“Tôi nhớ rồi.” Giận dữ, ông ta nói thêm: “Tôi hết sức lố bịch! Chúng tôi đã bắt được ông nhưng lại để cho ông ra đi. Chưa tính là tôi đã mất hai người vì truy nã ông. Nếu không bây giờ họ còn sống…” Ngọn đèn kêu xèo vì nước giọt qua mái. “Tên người Mỹ này không đáng để tôi hy sinh hai mạng người. Thật ra nó chưa làm gì đáng chê trách.”

Mưa rơi xối xả, không dứt. Họ chờ đợi trong im lặng. Đột nhiên viên trung uý la lên:

“Rút tay ra khỏi túi!”

“Tôi tìm bộ bài tây, chỉ vậy thôi. Tôi nghĩ là để giết thời gian…”

“Tôi không chơi bài,” trung uý nói giọng chắc nịch.

“Không, không. Không phải để đánh bài. Tôi muốn cho ông xem một vài trò ảo thuật. Ông cho phép không?”

“Làm đi, nếu ông thích.”

Cô Lehr đã tặng cho ngài một bộ bài cũ.

“Ông xem đây, đây là ba quân bài. Con Xì, con Già và con Bồi. Rồi..” ngài trải bài ra đất, “ông nói xem bây giờ con Xì ở đâu.”

“Đương nhiên là ở đây rồi,” trung uý trả lời vẻ hững hờ.

“Ông nhầm rồi,” linh mục nói và lật con bài, “con Bồi…”

“Trò gian lận… hay là trò trẻ con,” trung uý nói giọng khinh bạc.

“Đây là một trò khác,” linh mục nói. “Trò này tên là con Bồi đi trốn. Tôi chia bộ bài ra ba cọc. Như thế này nhé. Tôi đặt con Bồi bích ở cọc giữa. Như thế này. Bây giờ tôi đập tay vào ba cọc bài.”

Mắt ngài ánh lên khi ngài nói; quá lâu rồi ngài không đụng đến bộ bài: ngài quên trời mưa, quên xác chết với cái khuôn mặt hiếu chiến đối diện với ngài: “Tôi nói: Trốn đi, Bồi,” ngài giở cọc bài bên trái lên và con Bồi ở đó, “Đây nè.”

“Dĩ nhiên là có hai con Bồi.”

“Ông có thể tự mình kiểm tra.”

Bất đắc dĩ, trung uý cúi xuống kiểm tra cọc bài ở giữa.

“Tôi nghĩ là ông làm trò này với người da đỏ và bảo họ đây là phép lạ của Chúa.”

“Không,” linh mục cười trả lời. “Chính một người da đỏ đã dạy cho tôi trò này. Anh ta là người giàu nhất làng. Anh ngạc nhiên chưa! Với đôi tay điêu luyện như thế. Không, không. Đó là những trò ngày xưa tôi thường hay chơi trong các ngày lễ ở giáo xứ, cho các Hội đoàn, ông hiểu ý tôi muốn nói gì rồi chứ?”

Vẻ chán ghét trên mặt viên trung uý.

“Tôi còn nhớ các hội đoàn này,” ông nói.

“Hồi ông còn bé?”

“Tôi đã đủ lớn để thấy…”

“Cái gì?”

“Sự lừa đảo.”

Ông ta đột nhiên nổi giận, tay nắm chặt súng, làm như ông muốn từ bỏ dứt khoát và mãi mãi cái loài sâu bọ đó.

“Thật là xảo trá! Hài hước. Bán tài sản của mình để cho người nghèo, phải không? và một quý bà nào đó, vợ ông dược sĩ, tuyên bố là gia đình nào đó không đáng được giúp đỡ, rồi cô này, bà kia nói: nếu những người đó chết đói hết, thì chỉ là tại họ thôi; vì họ thuộc phe xã hội… Còn linh mục - các ông linh mục - ghi sổ các gia đình đã dự lễ Phục Sinh và đóng góp cho nhà thờ.” Ông ta lên giọng.

Một cảnh sát rụt rè thò đầu qua cửa để xem chuyện gì đang xảy ra rồi lui ra dưới cơn mưa như thác đổ.

“Giáo hội nghèo, linh mục nghèo do đó người ta phải bán của cải để dâng cúng cho giáo hội.”

“Ông có lý,” linh mục nói, rồi ngài còn nói thêm: “Và chính ông, ông cũng lầm.”

“Ý ông nói gì?” trung uý hỏi. “Ông không thể tự biện hộ được…”

“Tôi cảm nhận lòng tốt của ông khi ông cho tôi tiền khi ra tù.”

“Tôi không tin ông. Ông thua rồi. Ông không còn chút hy vọng nào. Ông có nói gì đi nữa cũng không thay đổi được gì.”

“Dĩ nhiên rồi.”

Ngài hoàn toàn không có ý làm ông trung uý nổi giận, nhưng trong suốt tám năm nay, ngài chỉ được nói chuyện với nông dân hay người da đỏ. Một cái gì đó trong giọng nói của ngài làm trung uý khó chịu.

“Các người như ông là một tai hoạ,” trung uý la lên. “Do đó tại sao chúng tôi phải tiêu diệt các ông. Ông hiểu cho là về phương diện con người, tôi không có gì chống đối ông cả.”

“Dĩ nhiên rồi. Ông chỉ chống lại Chúa trời. Tôi thuộc về loại người mà ông bắt giam hàng ngày, rồi ông cho tiền.”

“Không, tôi không mất công chống lại một chuyện hoang đường.”

“Nhưng tôi không đáng để các ông chiến đấu chống lại tôi! Chính ông đã nói: dối trá, nghiện ngập… Người này xứng đáng lãnh nhận những viên đạn của ông hơn tôi.”

“Vấn đề là những tư tưởng của ông.”

Trung uý đổ mồ hôi trong cái không khí nóng và ẩm này.

“Các ông rất quỷ quyệt,” ông ta nói tiếp. “Nhưng ông nói đi: các ông đã làm gì cho đất nước Mexico này? Đã có khi nào ông khuyên tên địa chủ không nên đánh nông dân của nó không? Ồ vâng, có lẽ các ông nói với họ trong toà giải tội và bổn phận của các ông là quên ngay lập tức. Ông ra khỏi nhà thờ, ông ăn nhậu với tên địa chủ đó và trách nhiệm của ông là quên đi việc tên kia đã tàn hại nông dân. Ông đã bỏ quyên câu chuyện đó lại trong toà giải tội, trong nhà thờ.”

“Ông nói tiếp đi,” linh mục nói.

Ngài ngồi trên thùng hàng rỗng, tay đặt trên đầu gối, đầu hơi cúi xuống: dù đã cố gắng, ngài cũng không tập trung suy nghĩ về những gì trung uý nói được. Ngài nghĩ thầm: “Bốn mươi tám giờ để đi về tỉnh lỵ. Hôm nay là Chúa nhật. Có lẽ mình sẽ chết vào thứ tư.” Ngài có mặc cảm như mình là tên phản bội khi thấy rằng ngài sợ cái đau đớn vì mấy viên đạn hơn là sợ cái gì sẽ xảy ra sau đó.

“Nhưng nếu dân chúng thích được đau khổ…”

“Một người đàn ông có thể thích hiếp dâm một phụ nữ. Chúng ta có nên cho phép hắn ta làm thế vì hắn thích không? Đau khổ là một bằng chứng.”

“Và anh cũng đau khổ luôn luôn,” linh mục nói thêm, mắt nhìn cái khuôn mặt cay đắng kia qua ánh sáng ngọn nến. “Toàn bộ chương trình của ông nghe thật hay! Xin cho tôi hỏi, ông cảnh sát trưởng có chia sẻ lý tưởng đó với ông không?”

“Chúng tôi cũng có những con chiên xấu.”

“Rồi sau đó thì sao? Ý tôi muốn nói là khi mọi người đã có đủ ăn và được đọc những cuốn sách hay, tốt… những cuốn sách mà các ông cho phép họ đọc?”

“Không gì cả. Cái chết là một thực tế. Chúng tôi không cố gắng thay đổi hiện thực.”

“Chúng ta hầu như đồng ý về rất nhiều điểm,” linh mục lưu ý, tay tiếp tục lơ đễnh chia bài. “Chúng tôi cũng vậy, chúng tôi không cố gắng thay đổi hiện thực: ví dụ như, thế giới này đầy tràn đau khổ, người giàu cũng như người nghèo, đau khổ, trừ các vị thánh, mà thánh thì hiếm lắm. Chịu đựng một chút đau khổ ở đời này, có sao đâu. Chí ít cũng có một điều mà chúng ta tin chắc, ông và tôi: là trong hai trăm năm nữa, chúng ta đều đã chết.”

Ngài vụng về xào xáo bộ bài rồi xóc vì tay ngài run.

“Nói thế nhưng lúc này ông cũng đang sợ một chút đau đớn thể xác,” trung uý vừa nói vừa canh chừng linh mục.

“Vâng, đúng rồi, tôi đâu phải là thánh,” ngài trả lời. “Tôi cũng không phải là người can đảm.”

Ngài nhìn lên với ánh mắt e ngại: ánh sáng đã trở lại, cây đèn cầy không còn cần thiết. Họ lại sắp có thể bắt đầu hành trình dài trở về. Ngài rất muốn tiếp tục nói chuyện với ông trung uý để kéo dài thời điểm khởi hành, cho dù là chỉ vài phút.

“Giữa chúng ta có một điểm khác biệt nữa,” ngài nói. “Thật vô ích nếu các anh hành động vì cái lý tưởng mà các anh theo đuổi, ít ra anh cũng phải thành thật với chính mình. Nhưng cái đảng của ông không phải lúc nào cũng chỉ có những người lương thiện và tốt. Rồi ông sẽ thấy cái đói ngày xưa trở lại, sự hung bạo, những tài sản sở đắc bằng bất cứ cách nào. Cho dù sự thật tôi là một thằng hèn… cái còn lại không quan trọng. Dù thế, tôi cũng có thể đưa Chúa đến với một tín hữu và tôi có thể mang cho họ ơn tha tội. Và cho dù tất cả các linh mục đều xấu giống như tôi, vấn đề cũng không có gì thay đổi.”

“Có một chuyện khác mà tôi không hiểu,” viên trung uý nói. “Tại sao tất cả các linh mục khác đều trốn đi còn ông thì ở lại?”

“Không phải tất cả đâu,” linh mục nói.

“Tại sao ông ở lại?”

“Tôi cũng tự hỏi mình như thế,” linh mục trả lời. “Sự thật là, một khi ta bị đột ngột phải đối diện với hai lựa chọn, một cái tốt và một cái xấu. Ta bị lôi kéo từ từ. Năm đầu tiên… Chúa ơi, tôi chưa thấy cần thiết phải trốn thoát. Đó không phải là lần đầu tiên trong lịch sử người ta đốt nhà thờ. Ông cũng biết là đã xảy ra nhiều lần như thế. Điều đó không quan hệ gì. Tôi nghĩ là tôi sẽ ở lại thêm một tháng xem tình hình có cải thiện không. Rồi thì… ông không biết thời gian qua nhanh thế nào đâu!”

Cơn mưa đã dứt, trời đã sáng lại hoàn toàn; phải sống thôi. Một viên cảnh sát đi ngang qua trước chòi ngạc nhiên nhìn hai người.

“Ông biết không,” linh mục nói tiếp, “đột nhiên tôi nhận ra rằng, trong vùng không còn linh mục nào! Luật ép buộc linh mục lấy vợ đã là phát súng ân huệ. Tất cả đã trốn đi và họ có lý. Đặc biệt có một linh mục không thích tôi lắm. Tôi không biết giữ mồm giữ miệng, ông biết không, tôi khó giữ bí mật. Ngài cho rằng tôi không có đủ kiên quyết và ngài có lý. Linh mục đó đã trốn. Tôi có cảm nghĩ giống như, chắc ông sắp cười phì, khi tôi còn đi học: có một ông thầy hung tợn đã hành hạ tôi trong nhiều năm, rồi ông ta về hưu vì quá tuổi. Và bây giờ, tôi không cần phải quan tâm đến ý kiến của ai khác. Người khác không làm phiền tôi nữa: họ yêu mến tôi…”

Ngài nhìn xéo qua và mỉm cười với cái xác của tên người Mỹ.

“Tiếp tục đi,” trung uý càu nhàu.

“Cứ đà này, anh sẽ biết hết mọi chuyện về tôi trước khi mình đến… nhà tù.”

“Tôi cần phải hiểu… kẻ thù của tôi, ý tôi muốn nói.”

“Linh mục kia có lý. Sau khi ngài ra đi thì tôi bắt đầu suy sụp. Mọi sự xấu đi dần dần. Tôi bắt đầu xao lãng các bổn phận. Tôi uống rượu. Tôi nghĩ là tôi nên trốn đi. Nhưng cái tính kiêu ngạo đã buộc tôi ở lại. Đó không phải là lòng mến Chúa.”

Ngài ngồi trên thùng hàng, lưng còng, cái thân hình nhỏ bé trong bộ đồ cũ ông Lehr cho.

“Kiêu ngạo là nguyên nhân sa ngã của các thiên thần. Kiêu ngạo là tội tồi tệ nhất. Tôi đã từng nghĩ mình là tay cừ khôi đã ở lại trong khi những người khác chạy trốn hết. Rồi tôi nghĩ tôi là trường hợp đặc biệt và tôi chỉ phải làm theo ý mình. Tôi chấm dứt ăn chay, tôi không làm lễ hàng ngày, tôi bỏ đọc kinh… rồi một ngày, đơn giản bởi vì say, tôi cảm thấy cô đơn… và anh biết cái gì đã xảy ra… tôi có con. Tất cả những cái đó, tôi đã làm vì kiêu ngạo. Kiêu hãnh vì đã ở lại. Tôi không còn ích gì, nhưng tôi đã ở lại. Hay ít nhất, tôi cũng không làm được nhiều việc. Rồi tôi không có được hơn một trăm người rước lễ mỗi tháng. Nếu tôi trốn đi, tôi sẽ mang về cho Chúa gấp mười hai lần số người như thế. Đó là một sai lầm người ta mắc phải… khi nghĩ rằng việc gì đó khó khăn hay nguy hiểm…”

Ngài khoát tay trong không khí.

Bằng một giọng tức giận, trung uý ngắt lời ngài:

“Như thế ông sắp được thành thánh tử đạo, ông hài lòng chứ.”

“Ôi không! Các thánh tử đạo đâu có giống như tôi. Họ không đắn đo đâu. Nếu tôi uống được chút rượu, tôi sẽ hết sợ như thế này.”

Đột nhiên, trung uý gọi một tên lính đang đi ngang qua cửa:

“Gì đó? Sao cứ quanh quẩn ở đây thế?”

“Mưa tạnh rồi, thưa trung uý. Chúng tôi đang đợi lệnh khởi hành.”

“Đi ngay bây giờ đây.” Trung uý đứng lên và đút súng vào bao.

“Thắng một con ngựa cho tù nhân,” ông ra lệnh. “Một vài người đào huyệt chôn tên tướng cướp này. Nhanh lên.”

Linh mục bỏ bài vào túi và đứng lên.

“Ông đã rất kiên nhẫn lắng nghe…” ngài nói.

“Những ý kiến của người khác không làm tôi sợ,” trung uý nói.

Bên ngoài, hơi ẩm từ đất xông lên, sau cơn mưa, một màn sương mù che đến đầu gối. Ngựa đã sẵn sàng. Linh mục lên yên, nhưng một giọng nói khiến ngài quay lại trước khi hàng quân di chuyển. Đó là tiếng kêu ngài đã nghe nhiều lần. Tên tạp chủng!

“Cha…”

“Anh đấy sao,” linh mục nói.

“Vâng, thưa cha, con biết cha nghĩ gì. Cha không có lòng bác ái công giáo chút nào. Cha luôn cho rằng con sắp phản bội cha.”

“Đi đi,” trung uý nói giọng khô khốc. “Mày đã làm xong việc của mày.”

“Trung uý cho tôi nói với nó một câu được không?”

“Thưa cha, cha là người tốt,” tên tạp chủng chen vào, “nhưng cha nghĩ xấu cho người ta quá. Con chỉ xin cha ban phép lành cho con, thế thôi.”

“Để làm gì? Anh đâu có bán được cái đó.”

“Vì mình sẽ không còn được gặp nhau nữa. và con không muốn cha ra đi mang trong lòng những ý nghĩ xấu về con.”

“Anh mê tín quá,” linh mục nói, “anh nghĩ rằng phép lành của tôi sẽ che được mắt Chúa sao. Tôi không cản Ngài thấy hết được mọi sự. Tốt hơn, anh nên về nhà và đọc kinh cầu nguyện. Rồi sau đó, nếu Chúa ban cho anh ơn sám hối, hãy chia tiền…”

“Tiền nào, thưa cha?” Tên tạp chủng vừa nói vừa lắc bàn đạp của linh mục. “Tiền gì? Cha lại…”

Linh mục thở dài. Thử thách làm ngài mệt nhoài. Cái sợ còn làm cho người ta mệt hơn là một hành trình đi ngựa dài.

“Tôi sẽ cầu nguyện cho anh,” ngài nói, rồi ngài thúc ngựa bước đi lên ngang hàng với viên trung uý.

“Con cũng sẽ cầu nguyện cho cha,” tên tạp chủng tự hào tuyên bố.

Linh mục chỉ quay lại duy nhất một lần lúc con ngựa lấy thăng bằng để tụt xuống một đoạn dốc. Ngài thấy tên tạp chủng đứng giữa đám nhà chòi, miệng mở rộng lòi hai cái răng nanh. Có thể nói nó bị chặn lại khi đang la lên cái gì đó: than vãn hay yêu sách… hay biết đâu nó đang la lên nó là người công giáo tốt. Một tay nó gãi nách. Linh mục đưa tay chào tạm biệt; ngài không có gì để ghét bỏ nó, vì ngài không mong đợi gì từ con người và ngài cũng có lý do để vui lòng: cái mặt vàng khè và quỷ quyệt đó sẽ không hiện diện trong ngày ngài bị đưa ra pháp trường.

* * *

“Anh đã được học hành đàng hoàng,” trung uý nói.

Ông ta nằm trên cửa ra vào của căn lều, đầu gối trên áo khoác, súng để bên cạnh. Đêm. Nhưng cả hai người đều không ngủ được. Mỗi khi cử động, linh mục thấy hơi khó khăn một chút, tứ chi cứng đờ vì chuột rút. Trung uý muốn về nhà sớm, do đó họ đã cỡi ngựa đến khuya. Họ đã qua khỏi rặng núi và bây giờ đang ở trong vùng đồng bằng ngập nước. Sắp tới đây, cả tỉnh sẽ bị chia cắt bởi những vùng trũng. Mưa đã nhiều hơn.

“Không,” linh mục trả lời. “Cha tôi chỉ là chủ một cửa hàng nhỏ.”

“Ý tôi muốn nói là ông đã được học ở ngoại quốc. Ông nói tiếng Anh như người Mỹ. Ông là người có học.”

“Vâng.”

“Tôi, tôi phải tự học lấy mọi điều. Nhưng có nhiều điều không cần đi học cũng biết: ví dụ như có người nghèo và người giàu.”

Ông hạ giọng nói thêm:

“Vì ông, tôi đã bắn ba con tin. Tội nghiệp. Chính vì họ mà tôi ghét ông.”

“Vậy à,” linh mục biểu đồng tình và cố gắng đưa cái chân phải bị chuột rút lên.

Đột nhiên, trung uý chồm dậy, súng cầm tay.

“Ông làm gì vậy?”

“Có gì đâu. Tôi bị chuột rút, thế thôi.”

Trung uý đặt mình nằm xuống.

“Những người bị tôi bắn,” trung uý lại nói, “họ là đồng bào tôi. Tôi muốn hiến dâng cho họ cả vũ trụ này.”

“Thế sao? Có thể đó là việc ông đã làm.”

Đột nhiên trung uý nhổ một bãi đờm như thể có cái gì đó dơ bẩn trong miệng ông.

“Ông luôn có những câu trả lời vô nghĩa.”

“Sách vở không dạy cho tôi gì nhiều,” linh mục nói. “Tôi không nhớ gì hết. Nhưng hạng người như ông có cái gì đó luôn làm cho tôi thắc mắc. Ông nói đi: ông ghét người giàu và thương người nghèo, đúng không?”

“Chính xác.”

“Vậy thì, nếu tôi ghét ông, tôi sẽ không dạy con tôi theo hình mẫu của ông. Cái đó không ích gì.”

“Lúc này, ông né tránh…”

“Có thể. Tôi không bao giờ biết ông nghĩ gì. Chúng tôi thường cao rao rằng người nghèo được chúc phúc, còn người giàu thì khó mà vào được nước thiên đàng. Tại sai chúng tôi phải làm khó cho người nghèo? Tôi biết là người ta dạy chúng tôi phải bố thí cho người nghèo để họ khỏi đói… cái đói có thể đẩy con người phạm bất cứ tội gì vì tiền… Nhưng tại sao phải cho người nghèo quyền lực? Tốt hơn, nên để cho họ chết trong bùn đen và sống lại trên thiên đàng… nếu không chúng ta lại nhấn họ xuống bùn sâu hơn.”

“Tôi ghét cách lập luận của anh quá,” trung uý nói. “Tôi thì tôi không cần. Khi thấy ai đó đau khổ, những người như ông lý luận dài dòng. Các ông nói: ‘Có lẽ đau khổ tốt cho họ, có lẽ một ngày kia họ sẽ được sung sướng hơn?’ Còn tôi, tôi theo tiếng gọi của tim tôi.”

“Trên đầu nòng súng.”

“Đúng, trên đầu súng.”

“Vậy thì khi anh đã bằng tuổi tôi, anh sẽ thấy con tim là một con thú mà ta phải dè chừng. Trí khôn lại là việc khác, trí khôn không đề cập đến tình yêu. Tình yêu ư! Một cô gái đâm đầu xuống sông, hay một đứa trẻ bị bóp chết, và con tim chỉ biết nói: yêu, yêu…”

Cả hai cùng im lặng một lúc, không có tiếng động gì trong lều. Linh mục tưởng viên trung uý đã ngủ cho đến lúc anh ta lên tiếng:

“Ông có hai cái lưỡi. Với tôi thì ông nói thế này, nhưng khi dạy dỗ người khác thì: Chúa là tình yêu. Ông thừa biết là với tôi, bài ca đó cũ quá. Ông chỉ nói với tôi những gì mà tôi phải chấp nhận.”

“Không phải vậy đâu. Thiên Chúa thực sự là tình yêu. Tôi tin rằng con tim con người chỉ mang một phần tình yêu đó. Nhưng phần nào đây! Một giọt tình yêu trong một thau nước bùn. Ông sẽ không bao giờ nhận diện được cái tình yêu đó, tình yêu của Chúa đó mà. Mắt ông có thể nhầm đó là sự thù hận. Tình yêu đó làm ta kinh hoàng. Tình yêu của Chúa! Tình yêu đã thiêu đốt bụi gai trong sa mạc, đúng không? Tình yêu đã mở toang nấm mồ và nhờ sức mạnh của nó mà người chết đứng lên và đi lại trong bóng tối. Ôi! một con người như tôi sẽ chạy xa hàng dặm để trốn cái tình yêu đó, nếu tôi cảm thấy tình yêu đó ở quanh đâu đây.”

“Tôi thấy hình như anh không tin vào Chúa của anh lắm. Theo tôi, Chúa của anh xem ra vô ơn lắm. Nếu một người lính của tôi phục vụ tôi cũng tận tình như anh phục vụ Chúa của anh, tôi sẽ đề nghị cho anh ta thăng cấp và lãnh lương cao hơn… và nếu anh ta bị ung thư, tôi sẽ cho anh ta một phát vào đầu.”

“Anh nghe đây,” linh mục sôi nổi nói, ngài ngồi cúi xuống trong bóng đêm, tay bóp cái chân bị chuột rút, “tôi không giả dối như anh tưởng đâu. Theo anh, tại sao từ trên tòa giảng, tôi nói với giáo dân rằng nếu họ bị chết bất ngờ, họ có nguy cơ bị luận phạt? Tôi không kể cho họ những câu chuyện cổ tích mà chính tôi cũng không tin đâu. Tôi không hiểu lòng thương xót Chúa là gì. Tôi không biết con tim con người, trước mặt Chúa, xấu xa thế nào. Nhưng tôi tin chắc một điều: nếu trong xứ này có một người đáng phải bị luận phạt thì tôi chính là người đó…”

Ngài chậm rãi nói thêm: “Tôi không mong muốn gì khác hơn. Tôi chỉ yêu cầu công bằng, không hơn không kém.”

“Chúng ta sẽ đến trước khi đêm xuống,” trung uý nói.

* * *

Sáu người cỡi ngựa mở đường, sáu người khác đoạn hậu. Đôi khi, những dải rừng bị những nhánh sông chèn ép, đoàn người buộc phải đi thành hàng một. Trung uý thì ít nói và khi hai người lính bắt đầu hát bài “Ông chủ quán to béo dị dạng và con chim cút,” thì ông bảo họ im ngay. Đây không phải là đoàn quân chiến thắng trở về, linh mục tiến tới, nụ cười héo hắt trên môi. Có thể xem đó như một cái mặt nạ ngài đã đeo lên để có thể tự do suy tư mà không ai nhận ra. Nỗi lo về cái đau đớn phần xác choán hầu hết tâm trí ngài.

“Tôi nghĩ là ông đang chờ đợi phép lạ,” trung uý quay qua nói với tù nhân.

“Xin lỗi, ông nói gì?”

“Tôi nói là ông đang chờ phép lạ.”

“Không.”

“Nhưng anh tin vào phép lạ mà.”

“Vâng, đúng thế. Nhưng không phải cho trường hợp của tôi. Tôi không còn ích gì cho ai nữa cả, vậy thì tại sao Chúa lại phải để cho tôi sống?”

“Tôi không hiểu được một người như ông lại còn có thể tin vào những điều đó. Người da đỏ, được. Lần đầu tiên thấy bóng đèn điện, họ cho đó là phép lạ.”

“Và tôi tin rằng khi lần đầu tiên ông thấy một người chết sống lại, ông cũng nghĩ như thế.”

Ngài cười nhạt sau cái mặt nạ tươi cười.

“Vâng, vâng, thú vị thật, phải không?” Ngài nói tiếp. “Không phải vì không bao giờ có phép lạ, nhưng là vì người ta gọi nó bằng một tên khác. Đây, một nhóm bác sĩ vây quanh một giường bệnh… Bệnh nhân đã ngưng thở, mạch không còn, tim ngừng đập: ông ta chết rồi. Rồi ai đó đã cho người kia sống lại và các bác sĩ… họ dùng từ gì nhỉ?… các bác sĩ “dè dặt” trong nhận định. Họ từ chối nói đến phép lạ vì đó là cái từ họ không thích. Rồi, sự việc như thế lập lại nhiều lần - có lẽ vì Chúa đã đến viếng thăm trái đất - thì họ lại nói: phép lạ không hiện hữu, nhưng chúng tôi đã mở rộng quan niệm về sự sống. Từ nay, con người vẫn còn sống sau khi đã hết thở, mạch ngưng, tim ngừng đập. Và họ sáng chế ra một từ mới để chỉ dạng sự sống này rồi tuyên bố dứt khoát rằng khoa học đã mang lại một giải thích hợp lý cho phép lạ.” Ngài lại cười. “Không thể thuyết phục họ được.”

Họ đã vượt qua chặng đường mòn trong rừng và bây giờ họ đi trên đường đất. Trung uý thúc ngựa chạy lên và mọi người phi nước đại. Họ đã về gần tới. Bất đắc dĩ, trung uý nói:

“Ông không phải là người xấu. Nếu tôi có thể làm được gì cho ông…”

“Ông có thể cho phép tôi xưng tội được không?”

Họ đã đến gần khu nhà đầu tiên: đó là những căn nhà nhỏ bằng đất đang hư dần, cột hiên làm bằng đất phủ thạch cao. Một em bé chơi đùa giữa đống rác.

“Nhưng đâu còn linh mục,” trung uý nói.

“Cha Jôsê đó.”

“Ồ cha Jôsê,” trung uý nói vẻ khinh bỉ, “ông ta mà được việc gì!”

“Với tôi, có ông ta là tốt rồi. Tôi không mơ gặp được một vị thánh trong vùng này, phải không?”

Trong một lúc, trung uý vẫn tiến lên trong im lặng; họ đến khu nghĩa trang đầy dẫy những mảnh vụn các tượng thiên thần rồi vượt qua cánh cổng có đề chữ: Im lặng.

“Được, anh sẽ được gặp cha Jôsê.”

Ngài quay mặt đi khi đi ngang qua bức tường nghĩa trang, nơi hành quyết các tử tội. Con đường đổ xuống phía bờ sông; bên phải, nơi xưa kia là nhà thờ chánh toà, những cột xích đu bằng sắt sừng sững trong trời chiều. Đâu đâu, khung cảnh thật thê lương, còn hơn cả trên núi vì cái ký ức về những gì đã rất sinh động ở đây. Không mạch, không hơi thở, không tiếng tim đập nhưng vẫn là sự sống, trung uý trầm tư… chỉ phải tìm cho nó một cái tên khác. Một thằng bé nhìn họ đi qua và la lên với trung uý: “Trung uý, ông bắt được rồi à?” và trung uý mơ hồ nhớ lại khuôn mặt này, một ngày nọ, trên quảng trường, cái chai bể; ông cố gắng trả lời cậu bé bằng một nụ cười, nhưng nụ cười chỉ giống như một cái nhăn mặt cay đắng ở đó không có vinh quang cũng như hy vọng. Phải bắt đầu lại từ đầu.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 23.03.2018, 16:43
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35469
Được thanks: 5258 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Kinh điển] Vinh quang và quyền năng - Graham Greene - Điểm: 10
XII


  Trung uý phải đợi đến đêm để tự mình thực hiện nhiệm vụ; giao việc này cho người khác thì nguy hiểm quá: tiếng đồn sẽ lan nhanh rằng cha Jôsê được ban bí tích trong nhà giam. Khôn ngoan hơn, cũng không nên báo cho ông cảnh sát trưởng biết. Không nên tin tưởng vào cấp trên khi mình đã đạt được thành công hơn họ. Trung uý biết là ông cảnh sát trưởng không hài lòng khi anh ta bắt linh mục về, theo ý ông ta, nên để cho linh mục trốn thoát.

Trong sân trong, trung uý cảm thấy có hàng chục đôi mắt đang kín đáo canh chừng mình: trẻ con tụ tập thành nhóm, sẵn sàng reo lên những câu chọc ghẹo cha Jôsê khi ngài xuất hiện. Viên sĩ quan hối tiếc vì mình đã hứa với linh mục việc này, nhưng anh ta sẽ giữ lời… vì đó sẽ là một chiến thắng trên cái thế giới xưa kia, cái thế giới dưới ách Thiên Chúa bằng cách có thể tỏ ra sự ưu việt, lòng can đảm, sự trung thành, sự công minh…

Ông gõ cửa, nhưng không ai trả lời: ông đợi trong bóng tối. như người ăn xin. Rồi ông lại gõ cửa và có giọng nói: “Đến đây, đến đây.”

Cha Jôsê, mặt dán vào cửa sổ, hỏi:

“Ai đó?”

Hình như ngài đang lục lọi cái gì trên nền nhà.

“Trung uý cảnh sát.”

“Ồ,” cha Jôsê la lên lạc giọng, “xin lỗi. Cái quần của tôi đâu. Tối quá…”

Ngài làm như đang nâng một gì nặng lắm rồi nghe tiếng bựt như thể giây nịt hay giây treo bị đứt. Bên kia sân, mấy đứa trẻ bắt đầu la: “Cha Jôsê! cha Jôsê!”

Nhưng khi cha Jôsê ra mở cửa, cha làm như không thấy chúng và chỉ ầm ừ.

“Đồ quỉ sứ.”

“Tôi muốn ông đi lên đồn cảnh sát với tôi,” trung uý nói.

“Nhưng tôi có làm gì đâu. Không làm gì hết. Không ai cẩn thận như tôi.”

“Cha Jôsê...” lũ trẻ con léo nhéo.

Ngài nói tiếp giọng van nài:

“Nếu ai đó báo cáo cho ông về một vụ đưa tang, họ đã báo sai. Tôi đã không đọc kinh.”

“Cha Jôsê! cha Jôsê!…”

Trung uý quay người và đi băng qua sân. Ông la tụi trẻ con: “Im đi. Về ngủ đi. Ngay lập tức. Nghe không?

Từng đứa một, lũ trẻ biến mất, nhưng khi trung uý quay lưng lại, chúng lại quay lại chỗ cũ.

“Không ai làm gì được với lũ trẻ con này.”

“Anh ở đâu, Jôsê.” Có giọng đàn bà.

“Anh đây em. Cảnh sát.”

Một bóng đàn bà khổng lồ mặc áo ngủ tiến về phía họ như một con sóng biển. Chỉ mới hơn bảy giờ tối. Trung uý nghĩ thầm: “Có lẽ bà này chỉ suốt đời mặc đồ ngủ và nằm trên giường.”

“Chồng bà,” trung uý dằn từng tiếng, “chồng bà phải lên trình diện đồn cảnh sát.”

“Ai bảo?”

“Tôi.”

“Ông ta không làm gì sai.”

“Anh đã giải thích với ông sĩ quan, em…”

“Anh im đi, để em nói.”

“Thôi, cả hai ông bà thôi ca cẩm đi,” trung uý nói. “Chúng tôi cần ông gặp một người… một linh mục. Ông ta muốn xưng tội.”

“Với tôi?”

“Vâng, chỉ với ông thôi.”

“Tội nghiệp,” cha Jôsê nói, hai con mắt đỏ quạch đảo quanh khu nhà. “Tội nghiệp.” Ông hỷ mũi rồi ngước nhìn nhanh lên các vì sao.

“Anh không được đi,” người đàn bà nói.

“Như thế là phạm luật,” cha Jôsê nói.

“Ông không cần bận tâm.”

“Không, chúng tôi phải quan tâm chứ,” bà nói. “Tôi biết ông đang âm mưu gì trong đầu. Ông không muốn để chồng tôi yên. Ông cài bẫy để bắt lỗi chồng tôi. Tôi biết mưu mô của các ông mà. Ông cho người đến xin chồng tôi đọc kinh… vì anh ấy tốt bụng. Nhưng xin ông nhớ cho: chúng tôi được nhà nước trợ cấp.”

Trung uý chậm rãi nói:

“Linh mục này… đã nhiều năm nay bí mật hoạt động cho giáo hội của các người. Chúng tôi đã bắt ông ta và dĩ nhiên ngày mai ông ta sẽ bị bắn. Ông ấy không phải là người xấu. Tôi đã cho phép ông ta gặp ông vì hình như việc này tốt cho ông ấy.”

“Tôi biết ông ấy,” người đàn bà ngắt lời. “Ông ta là một thằng say, không gì khác hơn.”

“Tội nghiệp,” cha Jôsê nói. “Có lần, ông ta đã muốn trốn ở đây…”

“Tôi hứa với ông bà là sẽ không có ai biết việc này,” trung uý nói.

“Không ai biết ư?” người đàn bà chanh chua. “Ngày mai cả thành phố sẽ biết. Nhìn đám trẻ kia kìa. Chúng không bao giờ để ông Jôsê yên. Không bao giờ ngừng, mọi người sẽ muốn xưng tội rồi ông tỉnh trưởng sẽ biết, người ta sẽ ngưng trợ cấp.”

“Nhưng dù sao, bà ơi, đó là bổn phận của tôi,” vị linh mục nói.

“Anh đâu còn là linh mục nữa, anh là chồng em,” bà ta nói. Và bà dùng một từ thô tục. “Đó, bây giờ bổn phận của anh là như thế.”

Trung uý nghe họ tranh luận với sự hài lòng cay đắng. Như thể ông ta khám phá ra một niềm tin cũ.

“Tôi không có thời gian chờ hai vị cãi vã cho xong,” ông nói. “Ông có đi theo tôi không, có hay không?”

“Ông không có quyền ép anh ấy,” người đàn bà nói.

“Bà ơi, dù sao… dù sao tôi cũng là linh mục.”

“Linh mục!” người đàn bà la lên. “Ông? Linh mục?”

Bà ta nổi lên cười và lũ trẻ sau cửa sổ hùa theo. Cha Jôsê lấy tay che mặt, ngài rất đau khổ.

“Bà ơi…” ngài nói, nhưng tràng cười vẫn tiếp tục.

“Ông có đi không?”

Cha Jôsê phác một cử chỉ tuyệt vọng, như thể muốn nói rằng thêm hay bớt một thất bại nữa cũng không có ý nghĩa gì với cuộc sống của ngài.

“Tôi nghĩ là không được,” ngài nói.

“Tốt thôi,” trung uý trả lời rồi đột ngột quay gót.

Ông đã mất khá nhiều thời gian để làm việc nhân đạo. Ông nghe sau lưng tiếng cha Jôsê nói với theo:

“Xin nói với ông ấy là tôi sẽ cầu nguyện cho ông ta.”

Tụi trẻ con táo tợn hơn. Một đứa cất lên giọng the thé:

“Jôsê, đi ngủ thôi!”

Câu nói làm trung uý phì cười. Nụ cười của ông, ít thuyết phục, làm cho tràng cười chung quanh cha Jôsê càng to hơn và bay lên tận các chòm sao mà ngày xưa ngài biết tên đang di chuyển theo trật tự.

* * *

Trung uý mở cửa phòng giam: bên trong rất tối. Ông khoá cửa cẩn thận, tay đặt lên báng súng lục.

“Ông ta không muốn đến,” trung uý nói.

Trong bóng tối, một hình người ngồi co ro: đó là linh mục, ngồi chồm hỗm trên nền nhà như một đứa trẻ đang chơi.

“Ông muốn nói là tối nay?”

“Ý tôi là ông ta sẽ không bao giờ đến.”

Một chút im lặng nếu ta gọi đó là im lặng vì tiếng muỗi vo ve không dứt, tiếng những con mối đụng vào tường. Sau cùng linh mục lên tiếng:

“Tôi đoán là ông ta sợ.”

“Vợ ông ta không muốn cho ông ta đi.”

“Tội nghiệp ông ta!”

Ngài cố cười, nhưng không có âm thanh nào não nuột hơn cái giọng cười gượng gạo. Đầu ngài lại gục xuống đầu gối Ngài có vẻ như buông xuôi và hoàn toàn bỏ cuộc.

“Như ông đã biết rõ mọi việc,” trung uý nói, “ông đã bị kết án.”

“Tôi không thể tham dự phiên tòa xử tôi sao?”

“Có thay đổi được gì đâu?”

“Đúng thế.”

Ngài im lặng, Nghĩ xem mình nên phải có thái độ như thế nào. Sau cùng ngài hỏi với giọng hững hờ:

“Ông có thể cho tôi biết … lúc nào không?”

“Ngày mai.”

Câu trả lời nhanh, gọn chấm dứt những suy tư của ngài. Đầu gục xuống. Nhìn dáng ngài ta có thể nghĩ là ngài đang cắn móng tay.

“Thật không hay khi phải trải qua đêm cuối cùng một mình. Nếu ông muốn, tôi chuyển qua phòng chung với những người khác.”

“Không, không. Tôi muốn ở một mình. Tôi có nhiều việc phải làm.” Giọng ngài đứt quảng và ồm ồm như thể ngài bị cúm. “Tôi phải suy nghĩ đến nhiều việc.”

“Tôi muốn giúp ông một việc,” trung uý nói. “Ông muốn tôi mang cho ông một ít rượu không?”

“Bất chấp luật lệ à?”

“Vâng.”

“Anh tử tế quá.” Ngài cầm bình rượu nhỏ. “Tôi rất sợ đau.”

“Ai đều cũng phải chết cả,” trung uý nói. “Ngày giờ nào, đối với tôi không quan trọng.”

“Anh thật nhân đức: anh không phải sợ gì cả.”

“Những ý nghĩ của ông thật kỳ lạ!” trung uý nói. “Nhiều khi tôi nghĩ những gì ông nói đều là để thuyết phục tôi.”

“Thuyết phục anh cái gì đây?”

“Ồ, tôi không biết… để trả tự do cho ông, hay là tin vào lời dạy của hội thánh Công giáo thánh thiện của ông… rồi gì nữa…?”

“Sự tha tội…”

“Ông cũng không tin điều đó mà, đúng không.”

“Không, tôi tin chớ,” linh mục nói.

“Như vậy thì ông sợ cái gì.”

“Tôi không ngu. Tôi luôn biết tôi đã làm gì. Và tôi không thể tự mình tha tội cho mình được.”

“Nếu cha Jôsê đến đây, có khác gì không?”

Trung uý chờ đợi khá lâu câu trả lời, nhưng khi nghe trả lời thì ông không hiểu.

“Một người khác… dễ hơn…”

“Có gì tôi có thể làm cho ông nữa không?”

“Không, không còn gì.”

Trung uý mở cửa, tay vô tình đặt trên cò súng. Ông ta buồn vì vị linh mục cuối cùng đã bị giam, không còn gì làm ông bận tâm nữa. Những động lực trong công việc hình như đã bị bẻ gãy. Ông ta nhớ đến những ngày rượt đuổi như là một khoảng thời gian hạnh phúc vừa chấm hết và không bao giờ trở lại. Ông thấy mình mất phương hướng, như thể sự sống đã lùi xa khỏi vũ trụ của ông. Ông ta nói với linh mục giọng ân cần chua chát (ông không thể ghét được con người nhỏ bé này): “Ông cố gắng ngủ đi.”

Lúc ông đóng cửa, một giọng nói run rẩy làm ông dừng bước:

“Trung uý?”

“Vâng”

“Ông đã bắn nhiều người. Những người như tôi đó mà.”

“Vâng.”

“Cái đau có kéo dài lắm không?”

“Không, chỉ một giây thôi.” Ông trả lời.

Ông đóng cửa và băng qua sân mà không nhìn thấy những bức tường vôi trắng. Hình vị linh mục và tên cướp còn ghim trên tường; ông giật xuống, chúng đã nên vô dụng. Rồi ông ngồi vào bàn, tay ôm đầu, ngủ thiếp đi vì mệt, ông không nhớ mình đã mơ thấy gì, một cái cười, cái cười bất tận và một hành lang dài mà ông không tìm được lối ra.

Linh mục ngồi trên nền đất, bầu rượu cầm trong hai tay. Không chần chừ, ngài mở nút chai và đưa lên miệng. Rượu không có tác dụng gì: như thể ngài đang uống nước. Ngài đặt bầu rượu xuống và bắt đầu một cách xưng tội. Ngài thì thầm với chính mình: “Con đã phạm tội dâm dục.” Câu công thức có sẵn không có ý nghĩa gì cả: nó giống như một câu viết trên báo: không thể sám hối bằng cách kể tội như thế được. Ngài lại bắt đầu: “Con đã ngủ với một người đàn bà,” và tưởng tượng vị linh mục kia đang hỏi: “Mấy lần? Bà ta có chồng không? Không.” Không nghĩ tới việc đang làm, ngài uống một ngụm rượu.

Lúc chất lỏng đó chạm lưỡi ngài, ngài nhớ lại con ngài, đang đi vào lều, bao phủ bởi một quầng ánh sáng, khuôn mặt buồn, cam chịu, tối sầm vì khôn trước tuổi.

“Chúa ơi, xin Chúa gìn giữ nó,” ngài cầu khẩn. “Xin phạt tội con, con đáng bị luận phạt, nhưng xin ban cho nó sự sống đời đời.”

Cái tình yêu này là tình yêu ngài cảm nhận cho con người nói chung: tất cả những ưu tư, tất cả những khát vọng để giúp cho các linh hồn được giải thoát hội tụ lại nơi đứa bé này. Ngài bắt đầu khóc: như thể ngài bị buộc phải đứng lại trên bờ nhìn con mình chìm xuống từ từ, nhưng ngài quên không biết làm sao để bơi. “Đó là cái tình cảm,” ngài nghĩ, “mà tôi phải dành cho tất cả mọi người trong mọi lúc,” và ngài cố gắng thôi không suy nghĩ đến con bé nữa để nghĩ đến tên tạp chủng, viên trung uý, con bé trong trại chuối và cả ông nha sĩ mà ngài đã ghé nhà trong một lúc; ngài đã gợi lên một loạt những khuôn mặt đang cố gắng tuyệt vọng lôi kéo sự chú ý của ngài, bất kham như một cánh cửa mà ta không thể lay chuyển. Vì tất cả những người kia cũng đang gặp nguy hiểm. Ngài cầu xin: xin Chúa giúp đỡ họ, nhưng đang lúc cầu nguyện, hình ảnh con gái ngài bên đống rác lại ngự trị trong tâm trí ngài, và ngài biết rằng, ngài vẫn cầu nguyện cho con bé. Thêm một thất bại.

Một lúc sau, ngài lại trở lại xưng tội: “Con đã say rượu… con không nhớ mấy lần. Không có bổn phận nào mà con không lơ là. Con có tội kiêu ngạo… thiếu bác ái…” Các câu nói trở thành sáo mòn, trống rỗng… Ngài cần một cha giải tội để giúp ngài soát xét lại lương tâm, chuyển từ công thức sang hành động.

Ngài uống thêm ngụm rượu và đứng dậy cách khó khăn vì tê chân. Ngài đi đến tận cửa ra vào và qua song sắt ngài nhìn khoảng sân vuông bên ngoài, nóng ấm, chan hoà ánh trăng. Ngài thấy những binh lính ngủ trên võng và một người trong bọn họ không ngủ được đang chầm chậm đưa võng qua lại, qua lại. Im lặng khó tả bao trùm khắp nơi, ngay cả trong các phòng giam. Có thể nói thế giới, con người đã quay mặt đi để tránh chứng kiến cái chết của ngài. Lần mò quay lại, ngài ngồi trong góc xa nhất, vò rượu kẹp giữa hai đầu gối. “Nếu mình không vô dụng đến thế, đến thế,” ngài nghĩ… “Tám năm gian khổ và tuyệt vọng chỉ như là bức tranh hài hước về chức vụ linh mục: một vài người rước lễ, một vài người xưng tội, một gương xấu thường trực.” Ngài nghĩ: “Phải chi mình có được một linh hồn để dâng cho Chúa, để có thể nói với ngài rằng: Đây, đây là kết quả công việc của con…” Nhiều người đã chết vì ngài. Họ xứng đáng là những vị thánh; một chút cay đắng dâng lên trong tim ngài, vì họ và vì Chúa đã không gởi đến cho họ một linh mục xứng đáng hơn. “Cha Jôsê và mình,” ngài nghĩ, “cha Jôsê và mình…” Ngài uống thêm một ngụm rượu, nhớ đến khuôn mặt lạnh lùng của các thánh sắp xua đuổi ngài.

Đêm trôi qua chậm hơn so với lần ở tù trước vì hôm nay ngài có một mình. Không phải do rượu, ngài uống giọt cuối cùng lúc hai giờ sáng và rượu làm ngài chợp mắt được một lúc. Cái sợ làm ngài thấy buồn nôn, ngài đau trong dạ dày và rượu làm miệng ngài khô khốc. Ngài tự nói lớn tiếng với mình vì đột nhiên ngài thấy sự im lặng không thể chịu đựng được. Ngài tự than vãn: “Những cái đó rất tốt… cho các thánh,” và một lúc sau: “Tại sao ông ta biết là chỉ một giây? Một giây là bao lâu?” Rồi ngài khóc và đập nhẹ đầu vào tường. Họ đã cho cha Jôsê một cơ hội, nhưng không cho ngài. Chắc là vì họ không hiểu gì cả, chỉ nội một việc, trong một thời gian quá lâu, ngài đã thoát được. Có thể họ thành thật nghĩ rằng ngài sẽ từ chối những điều kiện mà cha Jôsê đã chấp thuận, rằng ngài không muốn lấy vợ, ngài tỏ ra kiêu hãnh. Có lẽ, nếu chính ngài đề nghị, có còn đủ thời gian không. Hy vọng làm ngài dịu lại một lúc và ngài ngủ, đầu tựa vào tường.

Ngài mơ một giấc mơ kỳ dị. Ngài thấy ngài đang ngồi trước một bàn uống cà phê, trước bàn thờ chính của nhà thờ chính toà. Sáu bảy dĩa thức ăn bày ra trước mặt ngài, và ngài ăn ngon lành. Mùi hương trầm phảng phất trong một không khí tưng bừng. Những dĩa thức ăn - như mọi thức ăn trong mơ - không có mùi vị gì, nhưng ngài có cảm tưởng khi ngài ăn xong, người ta sẽ dọn cho ngài những món ngon hơn. Một linh mục đang dâng lễ đi qua đi lại trước bàn thờ, nhưng ngài không lưu tâm: lễ lạy không hấp dẫn ngài. Rồi sáu dĩa thức ăn cũng cạn, một người vô hình nào đó rung chuông khi hát Thánh, Thánh, Thánh, và người dâng lễ quì xuống nâng Mình Thánh Chúa lên. Nhưng ngài vẫn ngồi, không nhúc nhích, không để ý đến Chúa trên bàn thờ, như thể Chúa này dành cho những người khác, không phải cho ngài. Rồi cái ly đặt cạnh cái dĩa của ngài tự đầy rượu và, mắt ngước lên, ngài thấy cô bé trại chuối đang phục vụ ngài.

“Em đã lấy trong phòng của ba,” cô bé nói.

“Em không ăn cắp chứ?”

“Không hẳn,” cô bé trả lời giọng nghiêm túc.

“Ông bố thật tốt,” ngài nói. “Tôi quên mật mã… cô gọi là gì nhỉ?”

“Morse.”

“Đúng thế. Morse. Ba tiếng dài, một ngắn.”

Và đột nhiên, những tiếng động vang lên: linh mục trên bàn thờ, một đoàn lũ những người vô hình trong nhà thờ, gõ ba tiếng dài và một tiếng ngắn… tóc, tóc, tóc… tóc.

“Cái đó nghĩa là gì?” Ngài hỏi.

“Một thông điệp,” cô bé trả lời vừa quan sát ngài cách nghiêm khắc: tràn đầy lòng thương hại và trách nhiệm.

Khi ngài thức dậy, bình minh đã ló dạng. Ngài thức dậy tràn trề hy vọng nhưng rồi hy vọng biến mất lập tức khi ngài lại nhìn thấy sân nhà tù. Đó là buổi sáng ngày ngài phải chết. Ngồi xỗm trên nền đất, hủ rượu hết trong tay, ngài cố gắng ăn năn tội: “Lạy Chúa, con chán ghét tội con đã phạm, xin Chúa tha thứ… đóng đinh… và con đã đáng bị hình phạt lớn nhất.” Ngài lo ra: không phải lúc nào ta cũng cầu xin được chết lành sao? Ngài nhìn bóng mình trên tường nhà giam. Ngài có điên không khi cho rằng mình đủ sức để ở lại trong khi những người khác đều trốn thoát. “Tôi là thằng ngu, vô dụng. Tôi thật không đáng sống trên đời.” Cha mẹ ngài đã chết, rồi ngài cũng thế không để lại chút ký ức gì. Rồi, ngài có đáng xuống hoả ngục không? Nước mắt chảy trên mặt ngài; lúc đó ngài không sợ bị kết án, ngay cả cái sợ đau thể xác cũng lùi lại phía sau. Ngài chỉ thấy vô cùng thất vọng khi phải ra trình diện trước mặt Chúa hai bàn tay trắng, vì ngài đã không làm được gì cả. Lúc đó ngài cảm thấy trở thành thánh thật đơn giản. Chỉ cần một chút tự chủ, một chút can đảm. Ngài còn có cảm giác của một người đã để cho hạnh phúc vuột mất ở nơi nào đó vì đến trễ vài phút. Ngài biết lúc này chỉ có một điều duy nhất quan trọng: thành Thánh.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 23.03.2018, 16:44
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35469
Được thanks: 5258 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Kinh điển] Vinh quang và quyền năng - Graham Greene - Điểm: 10
XIII


  Bà Fellows nằm dài trên giường, trong phòng khách sạn ngột ngạt, bà nghe tiếng còi tàu rúc trên sông. Bà không thể thấy được gì vì mắt và trán bà bị một cái khăn tay tẩm nước hoa phủ kín. Bỗng chốc bà gọi: “Anh ơi!…”

Nhưng không ai trả lời. Hình như người ta đã chôn sống bà trong cái thùng bằng đồng của khu hầm mộ gia đình, một mình, tựa vào hai cái gối, dưới một khung màn.

“Anh ơi!” Bà lại kêu với cái giọng khô khan. Rồi bà đợi.

“Anh đây, gì vậy Trixy?”

Đó là đại uý Fellows. Ông nói thêm: “Anh ngủ thiếp đi, anh mơ…”

“Cho thêm chút dầu thơm vào khăn. Em nhức đầu quá.”

“Vâng, Trixy.”

Ông ta có vẻ già hẳn đi, mệt mỏi, một con người vô công rỗi nghề và bực bội. Ông lấy cái khăn tay, mang ra bàn rồi tẩm dầu thơm.

“Đừng tẩm nhiều quá, anh yêu. Sắp tới, không biết đến khi nào mình mới lại mua được dầu.”

Ông không trả lời, nhưng rồi bà nói với ông giọng cay đắng:

“Em nhớ anh dặn như thế nào chưa, em yêu.”

“Vâng.”

“Độ này, anh càng lúc càng ít nói. Anh không biết đau yếu và cô đơn là thế nào đâu.”

“Nhưng em phải hiểu rằng…” ông Fellows trả lời.

“Nhưng anh yêu, chúng ta đã thống nhất, phải không, là đừng nhắc đến chuyện đó nữa, không bao giờ. Phải tránh trở thành bệnh hoạn.”

“Vâng.”

“Chúng ta còn phải nghĩ đến cuộc sống của mình.”

“Vâng.”

Ông tiến lại gần giường và đặt cái khăn lên trán vợ. Rồi ngồi trên ghế, ông luồn tay xuống dưới mùng cầm lấy tay vợ. Họ giống như hai đứa trẻ lạc trong một thành phố xa lạ, không có người lớn đi kèm.

“Anh lấy vé chưa?” Bà hỏi.

“Có rồi.”

“Chút nữa, em sẽ dậy sắp xếp hành lý, nhưng em đau đầu quá. Anh đã nói người ta đến khuân mấy cái rương đi chưa?”

“Chưa, anh quên.”

“Anh phải cố gắng nhớ việc phải làm một chút,” bà nói giọng chán chường và buồn rầu. “Từ nay, ai làm thay cho anh được?”

Rồi cả hai cùng rơi vào im lặng, vì câu nói mà họ muốn tránh.

“Trong thành phố chộn rộn lắm, đột nhiên ông nói.”

“Một cuộc đảo chánh à?”

“Không, cảnh sát mới bắt được một linh mục và sáng nay họ xử tử, tội nghiệp. Tôi tự hỏi không biết có phải đó là người mà Coral…, tôi muốn nói người mà chúng ta che dấu.”

“Chắc không phải đâu.”

“Vâng.”

“Có nhiều linh mục lắm.”

Ông rời tay bà, đi đến cửa sổ nhìn ra ngoài. Một vài chiếc tàu trên cảng, một công viên nhỏ rải đá cuội trong đó có một vài pho tượng. Diều hâu bay khắp nơi.

“Được về nhà sung sướng biết mấy. Em thường nghĩ là mình sẽ chết mất xác ở cái xứ này.”

“Dĩ nhiên rồi, em yêu.”

“Nhưng cũng có thể.”

“Vâng, cũng có thể,” ông trả lời giọng buồn rầu.

“Thôi anh yêu,” bà Fellows nói, “anh đã hứa… Ôi đau đầu quá.”

“Em uống thuốc giảm đau không?” Ông hỏi.

“Em không biết em để thuốc ở đâu. Không hiểu tại sao, mọi thứ cứ rối tung lên.”

“Để anh đi ra phố mua cho em.”

“Không, anh yêu. Em không thích nằm một mình.” Bà nói thêm: “Em hy vọng là em sẽ khoẻ khi mình về tới nhà. Em sẽ đi khám một bác sĩ giỏi. Em nghĩ đây chỉ là cái bệnh nhẹ. Em có nói với anh là em mới nhận được thư của Norah chưa?”

“Chưa.”

“Đưa kính cho em. Em đọc cho anh nghe mấy đoạn liên quan đến chúng ta.”

“Kính trên giường kìa.”

“A, đây rồi.”

Một chiếc thuyền buồm nhổ neo rời bến hướng ra biển, trên con sông rộng lặng lờ. Bà Fellows sung sướng đọc.

“Trixy thân mến, chắc là em đau nhiều. Tên…” Bà đột ngột dừng lại: “Vâng, vâng rồi chị ấy viết tiếp thế này: “Dĩ nhiên, Charles và chị, các em sẽ ở lại nhà anh chị một thời gian chờ đến khi hai em kiếm được nhà. Nếu như hai em muốn có một căn nhà nhỏ…”

Đại uý Fellows nói giọng cứng rắn:

“Anh không về đâu.”

“Tiền thuê nhà chỉ có năm mươi sáu bảng một năm, bao gồm các loại phí, có một phòng tắm cho gia nhân…”

“Anh ở lại đây.”

“Bếp lò đa dụng! Anh nói gì thế, anh yêu?

“Anh không về.”

“Mình đã thảo luận chuyện này lâu rồi. Anh biết phải ở lại đây là em sẽ chết.”

“Em không cần phải ở lại.”

“Nhưng em không thể về một mình,” bà Fellows nói. “Chị Norah sẽ nghĩ gì? Rồi… phi lý quá.”

“Ở đây có công việc dành cho đàn ông.”

“Thu hoạch chuối…” bà Fellows nói với nụ cười lạnh tanh. “Và ngay cả việc đó, anh làm cũng không xong.”

Tức giận, ông quay lại phía giường:

“Cái đó không làm em băn khoăn à, tuyệt đối không à, chạy trốn và bỏ rơi nó, con bé…”

“Những gì xảy ra đâu phải lỗi tại em. Nếu có anh ở nhà…”

Bà bắt đầu khóc.

“Nếu anh ở nhà, anh cũng không sống được…”

Mệt mỏi, ông đến bên giường và lại cầm tay bà. Không có việc gì làm. Họ đau khổ vì bị bỏ rơi và phải nâng đỡ nhau.

“Anh không bỏ em một mình chứ, anh yêu? Căn phòng nồng nặc mùi dầu thơm.”

“Không đâu, em yêu.”

“Anh có thấy như thế là phi lý không?”

“Vâng.”

Họ cùng im lặng một lúc lâu. Bên ngoài mặt trời lên cao và trong phòng trở nên ngột ngạt.

Cuối cùng, bà Fellows lên tiếng:

“Anh nghĩ gì vậy?”

“Không nghĩ gì hết. Anh nhớ đến vị linh mục đó. Ông ta thật lạ kỳ. Ông ta nghiện rượu. Anh tự hỏi không biết có phải ông ta không.”

“Nếu là ông ta, thì cũng đáng mạng thôi.”

“Nhưng cái khó hiểu là cách con bé kể lại sau đó, như thể là ông linh mục đã cho nó thấy nhiều điều…”

“Anh yêu,” bà Fellows lặp lại giọng nhẹ nhàng trách cứ, “anh đã hứa…”

“Đúng thế. Xin lỗi. Anh cố gắng, nhưng nó cứ ám ảnh.”

“Còn em, còn anh…” và nghe có tiếng vò bức thư của Norah khi bà Fellows quay mặt tránh cái khăn tay và đối diện với ánh sáng chói chang bên ngoài.

* * *

Ông Tench đang cúi mình trên cái chậu sành tráng men để rửa tay với xà phòng. Ông ta nói bằng tiếng Tây Ban Nha tồi:

“Đừng sợ, khi nào đau thì nói nghe.”

Văn phòng cảnh sát trưởng đã được tạm thời biến thành phòng nha sĩ, đắt tiền, vì không phải chỉ chở ông Tench đến mà còn cái ghế, tủ kính đựng đồ nghề và nhiều thùng hàng đựng những thứ gì đó thật bí hiểm nhưng hình như chỉ đựng rơm và chắc chắn sẽ được chất đầy khi ra về.

“Tôi bị đau đã nhiều tháng nay,” ông cò nói. “Ông không thể tưởng tượng là tôi phải đau như thế nào đâu.”

“Ông điên thiệt, sao ông không cho tìm tôi sớm hơn. May là ông chưa bị mưng mủ.”

Ông ta rửa tay xong, đứng thẳng người, cái khăn cầm nơi tay, hình như đang miên man trong suy nghĩ.

“Ông sao vậy,” ông cò nói.

Ông Tench giật mình và đi lại phía tủ kính. Ông bắt đầu soạn ra nào là kim, khoan, một dải những thứ làm liên tưởng đến cái đau. Ông cò thán phục nhìn ông ta làm.

“Tay anh run quá,” ông cò nói. “Sáng nay anh có khoẻ không?”

“Tại cái bệnh dạ dày,” ông Tench đáp. “Nhiều lúc, tôi thấy những vệt đen nhảy múa trước mặt, nhiều đến nỗi giống như một cái màn.”

Ông cắm một cái kim vào máy khoan, hạ tay cầm.

“Mở miệng rộng ra.”

Ông ta bắt đầu nhét bông đầy miệng ông cò.

“Chưa ai bị sâu răng nặng như thế này… trừ một lần.”

Ông cò cố gắng để nói. Chỉ duy nhất ông nha sĩ là hiểu thâm ý của câu nói.

“Không, không phải bệnh nhân. Nhưng có lẽ người ta đã chữa cho anh ta. Trong xứ này, anh thì anh chữa cho một đống người bằng cách tặng cho họ một viên đạn, đúng không?”

Rồi khoan sâu xuống, ông ta vẫn cố gắng kể những câu chuyện không dứt: chuyện ở Southend.

“Tôi gặp một chuyện kỳ lạ, ông nói, ngay trước khi tôi rời cửa biển. Tôi nhận được thư của vợ tôi. Tôi không có tin tức bà ta từ… phải hai mươi năm. Rồi, đột nhiên…”

Ông cúi xuống, nhìn sâu vào và nạo; ông cò đập tay và rên.

“Súc miệng đi,” ông Tench nói vừa lo ráp cái dao cắt.

“Tôi nói gì với ông nhỉ? Đúng rồi, vợ tôi. Theo như bà ta viết, bà ta vừa mới bị ám bởi một giáo phái. Một nhóm tên… Oxford gì đó. Tôi tự hỏi không biết bà ta đi Oxford làm gì. Bà ta viết thư cho tôi để nói rằng bà ta tha thứ cho tôi và bà ta mong muốn hợp thức hoá tình trạng của chúng tôi: ly dị. Và chính bà ta là người tha lỗi cho tôi.”

Ông Tench, chìm đắm trong ý nghĩ của mình, lơ đãng nhìn quanh căn phòng xấu xí, tay vẫn cầm dụng cụ. Ông ợ hơi rồi áp cái tay rảnh lên dạ dày, bóp chỗ này chỗ kia, cố tìm xem chính xác cái nơi làm ông đau hoài. Ông cò kiệt sức ngã đầu ra, miệng mở to.

“Nó đến rồi lại đi,” ông Tench giải thích, “nhưng ông hoàn toàn quên không biết mình đang nói gì. Chắc chắn đó không phải là điều quan trọng. Viêm dạ dày mạn tính. Nhưng khó chịu lắm.”

Ông lơ đễnh nhìn vào sâu trong họng ông cò, qua những cái răng sâu, tiên đoán số mệnh như trong tấm gương. Rồi như thể thúc đẩy bởi một ý chí khủng khiếp nào đó, ông chồm tới, hạ tay cầm của máy và bắt đầu đạp. Grrz, zzz, grrr, zzz. Ông cò cứng người từ đầu đến chân, tau bấu chặt thành ghế còn ông Tench, chân khi lên khi xuống. Ông cò phát ra những tiếng kỳ dị, tay huơ huơ.

“Cố gắng chút,” ông Tench nói, “cố gắng. Còn một góc chút xíu thôi… Gần xong rồi… xong rồi. Rồi.” Đột nhiên, ông buông tay và la lên: “Chúa ơi, gì vậy?”

Ông ta bỏ ông cò đó chạy ra cửa sổ. Phía dưới họ, trong sân, một đội cảnh sát vừa nâng súng lên. Tay đặt trên bụng, ông Tench hỏi: “Một cuộc đảo chính mới à?”

Ông cò ngồi dậy và nhổ cục bông ra.

“Không phải đâu,” ông nói. “Họ sắp bắn một người.”

“Lý do?”

“Phản bội.”

“Nhưng thường khi các anh làm ở nghĩa địa mà.”

Một sức hút kỳ dị giữ ông lại nơi cửa sổ: sắp xảy ra một việc ông chưa từng thấy. Ông và mấy con diều hâu nhìn xuống cái sân có tường vôi trắng bao chung quanh.

“Lần này, nên từ bỏ. Chắc là sắp có biểu tình: dân chúng quá đần độn.”

Một người nhỏ thó bị dẫn ra khỏi cửa hông. Hai cảnh sát đỡ ông ta, nhưng rõ ràng là ông ta đã cố hết sức; có điều hai chân ông không tuân theo sự điều khiển của ông nữa. Người ta đưa ông ra, chân kéo lê cho đến chân tường đối diện: viên sĩ quan dùng khăn tay bịt mắt ông ta.

“Chúa ơi,” ông Tench nghĩ. “Nhưng mình biết người này! Phải làm cái gì chứ…”

Ông có cảm tưởng như người ta đang bắn ông hàng xóm thân thiết của mình.

“Ông chờ gì nữa?” Ông cò càu nhàu. “Không khí tràn vào răng tôi rồi.”

Dĩ nhiên, không thể làm gì được. Mọi sự diễn ra quá nhanh, như bài tập hàng ngày. Sĩ quan tiến lên, rút súng ra và người đàn ông hoa tay loạn xạ. Ông ta muốn nói cái gì đó: ông ta muốn nói gì lúc này nhỉ? Cố gắng này, hình như cũng là chuyện thường ngày, nhưng hình như ông ta chỉ nói được một từ: xin lỗi… Tiếng súng nổ lay động ông Tench: dội đến tận tim gan. Ông ta buồn nôn và phải nhắm mắt. Rồi nghe có tiếng nổ đơn độc và khi ông mở mắt ra, ông thấy viên sĩ quan đang đút súng vào bao. Người đàn ông nhỏ bé chỉ còn là một đống bất động dưới chân tường. Một phần của chuyện thường ngày, một vật không quan trọng, phải dọn dẹp đi thôi. Hai người tiến lại. Họ đang ở trong đấu trường, con bò đã chết, không còn gì để xem, chờ đợi cũng vô ích.

“Ôi, đau quá, đau quá,” ông cò rên rỉ. Ông nài nỉ ông Tench. “Xin ông nhanh lên.”

Nhưng ông Tench, đứng gần cửa sổ, đang đắm chìm trong suy tư. Một tay lần mò tìm chỗ đau bí hiểm trong bụng, ông nhớ lại con người nhỏ thó, chua chát, tuyệt vọng đã rời khỏi ghế ngồi để đi theo thằng bé trong buổi chiều nắng chói chang; ông nhớ cái bình tưới màu xanh, tấm ảnh mấy đứa nhóc, cái khuôn ông đang làm bằng cát.

“Trám đi…” Ông cò nài nỉ và mắt ông Tench nhìn qua cái khay đựng vàng. “Ngoại tệ… từ nay ông sẽ buộc họ trả bằng ngoại tệ; lần này, ông sẽ ra đi, dứt khoát ra đi.”

Ngoài sân, mọi sự đã trở lại bình thường: một người dùng xẻng trải cát như thể anh ta đang lấp mộ. Nhưng ông Tench cảm thấy rất cô độc, nó làm ông đau trong dạ dày phải gập đôi người lại. Người đàn ông đó đã nói tiếng Anh với ông và biết chút ít về các con ông. Ông có cảm giác như đang bị bỏ rơi một mình trong sa mạc.

* * *

“Và bây giờ,” giọng người đàn bà vang lên khải hoàn, hai cô con gái tròn xoe mắt, nín thở, “và bây giờ, ngày trọng đại đã đến.”

Ngay cả thằng con trai, đứng gần cửa sổ nhìn ra con đường tối tăm (lệnh giới nghiêm làm cho con đường vắng hoe) cũng tỏ ra quan tâm chút ít đến câu chuyện, vì đã đến đoạn cuối ở đó các biến cố trở nên dồn dập hơn. Có lẽ toàn bộ cuộc đời là thế… đều đều rồi kết thúc dồn dập.

“Khi ông cảnh sát trưởng vào trong xà lim của Juan, ông thấy anh đang quỳ gối cầu nguyện. Anh ta không ngủ, anh đã dành cả đêm để chuẩn bị tử vì đạo. Anh hoàn toàn bình an và hạnh phúc và mỉm cười với ông cảnh sát trưởng, anh ta hỏi ông đến để đưa anh đến bàn tiệc phải không. Con người độc ác này, người đã xử bắn rất nhiều người vô tội cũng cảm động.”

“Mong sao cho mau đến hồi hành quyết,” thằng con trai nghĩ: “lúc hành quyết lúc nào cũng sôi động và nó nóng lòng mong phát súng ân huệ.”

“Juan bị đưa ra sân nhà tù. Không cần cột chân tay anh vì anh đang bận lần hạt. Trong khoảng đường ngắn từ xà lim ra đến bức tường hành quyết, anh Juan có nhớ lại những năm tháng hạnh phúc anh đã sống không? Anh có nhớ những ngày ở chủng viện, sự ân cần của những anh lớn, kỷ luật đã tôi luyện anh không? Anh có nhớ những ngày anh đóng vai Nêron trước mặt Đức Giám mục già không?”

Giọng bà mẹ đã hơi khàn: bà đếm số trang còn lại: không cần ngưng ở đây; bà sẽ đọc nhanh hơn:

“Đến chân tường, Juan quay lại và bắt đầu cầu nguyện, không chỉ cho anh mà còn cho cả kẻ địch, cho đội lính da đỏ vô tội đang sắp hàng trước mặt anh, cho ông cảnh sát trưởng. Anh đưa Thánh Giá của tràng chuỗi lên và xin Chúa tha thứ cho họ, soi sáng cho họ và sau hết, đón tiếp họ như Saolê người bách hại đạo Chúa cũng đã được đón tiếp vào trong Vương Quốc vĩnh cữu.”

“Súng có nạp đạn không?”

“Con nói gì?”

“Sao họ không bắn liền cho anh ta câm miệng.”

“Vì Chúa có cách của ngài.”

Bà ho rồi đọc tiếp.

“Sĩ quan ra lệnh bồng súng. Lúc đó trên khuôn mặt Juan rạng ngời một nụ cười hạnh phúc và thánh thiện. Có thể nói, anh như đang thấy vòng tay Thiên Chúa mở ra đón anh. Anh đã từng nói với mẹ và các chị là anh sẽ lên thiên đàng trước họ. Với mẹ anh, bà nội trợ phúc hậu và kỷ tính, anh còn nói: ‘Con sẽ sắp đặt mọi thứ chờ mẹ đến.’ Và cái lúc quyết định đã đến, sĩ quan ra lệnh nổ súng và…”

Bà đọc quá nhanh vì đã quá giờ ngủ của các cô con gái, và bà bị ho.

“Bắn…” bà lập lại, “và…”

Ngồi bên cạnh nhau, hai cô gái yên lặng lắng nghe - có vẻ các em buồn ngủ - đó là đoạn các em ít thích nhất; các em phải nghe toàn bộ câu chuyện vì có các màn kịch, từ rước lễ lần đầu, cô chị vào nhà dòng sau buổi chia tay cảm động với gia đình ở chương III.

“Bắn,” bà mẹ lập lại, cố găng tiếp tục đọc, “và Juan, hai tay đưa lên đầu, la lớn: Vạn tuế Đức Kitô! … Một lát sau, anh ngã xuống, thân thể bị mười hai phát đạn xuyên qua và viên sĩ quan cúi xuống, kê súng lục vào tai anh và bóp cò.”

Một tiếng thở dài bên cửa sổ.

“Phát súng cuối cùng này vô dụng. Linh hồn anh đã rời cái nhà tạm ở trần thế và nụ cười hạnh phúc trên môi anh làm cho ngay những người không có đức tin này cũng biết bây giờ Juan đang ở đâu. Một người lính, quá xúc động vì thái độ của người tử đạo đã kín đáo nhúng khăn tay của mình vào máu tử đạo, và cái khăn này sau đó được cắt ra thành hàng trăm mảnh và có mặt trong những gia đình đạo đức.”

“Và bây giờ,” bà mẹ hấp tấp vỗ hai tay, “đi ngủ!”

“Và, cái ông người ta bắn hôm nay,” nó chậm rãi hỏi. “Ông ta có anh hùng không?”

“Đúng.”

“Ông cha có đến nhà mình một lần phải không?”

“Vâng. Ngài bây giờ là một vị thánh của Giáo hội.”

“Ngài có mùi kỳ dị,” một cô bé nói.

“Đừng bao giờ nói như thế,” bà mẹ la, “ngài bây giờ là một vị thánh.”

“Mình có cầu nguyện với ngài không?”

Bà mẹ do dự.

“Cái này không sao. Dù sao, để cho chắc ngài là vị thánh, ngài còn phải làm phép lạ.”

“Ngài có hô: ‘Vạn tuế Chúa Kitô’ không?” cậu bé hỏi.

“Vâng, ngài là một vị anh hùng đức tin.”

“Còn cái khăn tay nhúng máu?” cậu con trai nói tiếp. “Ai đã làm việc đó?”

Bà mẹ trả lời giọng bí ẩn và quan trọng:

“Mẹ có lý do để tin rằng… Bà Jiminez đã hứa… Mẹ nghĩ nếu ba con cho mẹ một ít tiền, mẹ có thể mua được.”

“Phải tốn tiền sao?”

“Biết làm sao được? Đâu có đủ cho mọi người.”

“Phải rồi.”

Nó cúi đầu ra cửa sổ, mắt nhìn ra đường. Phía sau, nó nghe tiếng thì thầm của hai con bé trên giường. Những cái đó làm cho nó cảm thấy rất thật khi đã được đón tiếp một anh hùng trong nhà, cho dù chỉ trong hai mươi bốn giờ. Và đó là vị cuối cùng. Không còn linh mục, không còn anh hùng. Đây là vị cuối cùng. Nó giận dữ khi nghe tiếng giày đi tới trên đường. Cuộc sống thường ngày tiếp diễn chung quanh nó. Nó nhảy xuống khỏi thành cửa sổ và cầm đèn: Zapata, Villa, Madero và những người khác, tất cả đã chết, giết bởi đồng loại, những người giống như người đang đi đến. Nó cảm thấy như người ta đã lừa dối nó.

Trung uý đi trên lề đường. Trong dáng đi của ông, có cái gì linh động, cương quyết như thể ở mỗi bước chân ông nói: “Tôi đã làm việc phải làm.” Khi đi ngang qua, ông nhìn thằng bé đang cầm đèn mà khuôn mặt hình như quen quen. Ông tự nhủ: “Mình muốn làm nhiều hơn nữa cho họ, nhiều hơn nữa; cuộc đời các em sau này không được giống như cuộc đời mình trước đây,” nhưng tình yêu tha thiết này đã buộc ông phải bóp cò, tối hôm đó, tình yêu đó không còn chút sức lực, chút sức sống. Ông tự nhủ: niềm hăng say sẽ trở lại với mình. Giống như tình yêu dành cho một người phụ nữ, tình yêu này cũng tiến triển theo từng giai đoạn: sáng nay ông đã thỏa mãn và tối nay ông được toại nguyện. Ông gượng cười với cậu bé bên cửa sổ và chào: “Chào em.” Thằng bé nhìn bao súng và ông trung uý nhớ lại một ngày kia, trên quảng trường, ông đã để cho một thằng bé chạm vào súng của ông, có lẽ là thằng này. Nở một nụ cười, ông chạm tay vào báng súng để nhắc nó nhớ; khi đó, khuôn mặt thằng bé nhăn lại, nó nhổ một bãi nước miếng qua cửa sổ rất chính xác đến nổi một giọt nước miếng bay đến đụng báng súng sáu.

Thằng bé băng qua sân để đi ngủ. Nó ngủ trong căn phòng nhỏ với ba trên một cái giường sắt. Chỗ của nó ở sát tường; cha nó dành phía ngoài để có thể thức dậy mà không quấy rầy con. Nó cởi giày, lòng buồn nặng trĩu, thay áo quần dưới ánh đèn cầy. Nó nghe tiếng thầm thì đọc kinh trong phòng bên cạnh. Nó cảm thấy buồn bực và thất vọng, vì thiếu một cái gì đó. Nằm ngữa ra, trong cái nóng ngột ngạt, nó nhìn chăm chăm lên trần nhà và cảm thấy hình như thế giới trống không, chỉ còn kho hàng, những bài đọc lớn tiếng của mẹ và những trò chơi ngu xuẩn với bọn trẻ con trên quảng trường.

Nhưng nó nhanh chóng đi vào giấc ngủ. Nó mơ thấy ông linh mục người ta bắn sáng nay lại đến nhà nó, mặc áo quần ba nó cho, thân hình ngài cứng đơ nằm dài, sẵn sàng để đem chôn. Thằng bé ngồi ở đầu giường, mẹ nói đọc lớn tiếng một cuốn truyện dài kể rằng linh mục đã đóng vai Cesar trước mặt Đức Giám Mục: dưới chân bà có rổ cá đang chảy máu, bọc trong khăn tay. Trong hành lang, ai đó đóng đinh vào hòm. Đột nhiên, linh mục chết nháy mắt với nó… nó không thể nhầm, một cái nháy mắt, như thế.

Nó tỉnh giấc vì tiếng gõ cửa bên ngoài. Cha nó không có trên giường. Phòng bên cạnh im lìm. Thời gian trôi qua. Nó lắng nghe không động đậy. Nó sợ; vài phút sau, lại có tiếng gõ cửa, nhưng trong nhà không có ai thức dậy. Nó trỗi dậy… có lẽ cha nó quên chìa khoá. Nó đốt đèn lên, khoác cái mền rồi dừng lại lắng nghe một lúc. Có lẽ mẹ nó cũng đã nghe và đã dậy, nhưng nó biết đây là bổn phận của nó: nó là người đàn ông duy nhất trong nhà.

Nó nhẹ nhàng băng qua sân trong, tiến về phía cửa ra vào. Hay là viên trung uý trở lại trả thù vụ bãi nước miếng… Nó mở khoá và mở rộng cửa ra. Một người lạ xuất hiện trên bục cửa; người này cao, gầy, xanh xao. Ông ta mang một cái va li nhỏ. Ông xướng tên mẹ cậu bé và hỏi đây có đúng là nhà bà không. Vâng, cậu bé trả lời, nhưng bà ta ngủ. Nó cố khép cửa lại, nhưng một bàn chân đi giày chận lại.

“Tôi vừa mới xuống tàu,” người lạ nói. “Tôi ngược dòng sông đêm nay. Tôi nghĩ là… Tôi có thư giới thiệu đến bà, thư của một người bạn tốt của bà.”

“Mẹ tôi ngủ,” cậu bé trả lời.

“Xin em cho tôi vào,” người kia kiên quyết với nụ cười sợ sệt; và hạ thấp giọng ông ta nói với cậu bé: “Tôi là linh mục.”

“Ông a?” cậu bé la lên.

“Vâng,” người kia dịu dàng nói. “Tôi là linh mục…”

Nhưng cậu bé đã mở rộng cửa và đặt môi lên tay linh mục không để cho ông kịp xưng tên.

HẾT.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 15 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Hiện đại] Làm thế nào để ngừng nhớ anh - Mộng Tiêu Nhị

1 ... 35, 36, 37

2 • [Xuyên không] Khi vật hi sinh trở thành nữ chính - Tư Mã Duệ Nhi

1 ... 28, 29, 30

3 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 148, 149, 150

4 • [Cổ đại] Kiêu Tế - Quả Mộc Tử

1 ... 46, 47, 48

5 • [Xuyên không - Cổ xuyên hiện] Ảnh hậu đối mặt hàng ngày - Ngã Yêu Thành Tiên

1 ... 37, 38, 39

6 • [Xuyên không] Cuộc sống nông thôn nhàn rỗi - Kẹo Vitamin C

1 ... 108, 109, 110

7 • [Hiện đại] Cướp tình Tổng giám đốc ác ma rất dịu dàng - Nam Quan Yêu Yêu

1 ... 64, 65, 66

8 • [Xuyên không - Dị giới] Phế sài muốn nghịch thiên Ma Đế cuồng phi - Tiêu Thất Gia - New C888

1 ... 128, 129, 130

9 • [Hiện đại] Hôn nhân giá ngàn vàng - Cẩm Tố Lưu Niên (103/104]

1 ... 181, 182, 183

10 • [Cổ đại] Nô gia không hoàn lương - Cật Thanh Mai Tương Nha

1 ... 20, 21, 22

11 • [Xuyên không] Vương phi thần trộm Hưu phu lúc động phòng! - Thủy Mặc Thanh Yên

1 ... 82, 83, 84

12 • [Cổ đại - Trùng sinh] Đích nữ nhà nghèo Bán phở heo

1 ... 9, 10, 11

13 • [Hiện đại] Eo thon nhỏ - Khương Chi Ngư [NEW C65]

1 ... 23, 24, 25

14 • [Xuyên không] Trôi nổi trong lãnh cung Khuynh quốc khí hậu - Hoa Vô Tâm

1 ... 75, 76, 77

[Cổ đại - Trùng sinh] Trọng sinh cao môn đích nữ - Tần Giản

1 ... 137, 138, 139

16 • [Xuyên không] Hỉ doanh môn - Ý Thiên Trọng

1 ... 105, 106, 107

17 • [Hiện đại] Người cha nhặt được - Cát Tường Dạ

1 ... 26, 27, 28

18 • [Hiện đại] Xin chào Chu tiên sinh! Dạ Mạn

1 ... 27, 28, 29

19 • [Hiện đại] Cục cưng lật bàn Con là do mẹ trộm được? - Ninh Cẩn

1 ... 87, 88, 89

20 • [Hiện đại Thanh mai trúc mã] Đều Tại Vầng Trăng Gây Họa - 11 Giờ Phải Ngủ

1 ... 40, 41, 42


Thành viên nổi bật 
Eun
Eun
Aka
Aka
Nminhngoc1012
Nminhngoc1012
An Tĩnh Lạc
An Tĩnh Lạc
Puck
Puck
susublue
susublue

Tuyền Uri: Cho vay lãi suất thấp đây =))
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 575 điểm để mua Cổ vũ
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 986 điểm để mua Hộp quà Hamster
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 572 điểm để mua Hoa anh đào
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 1568 điểm để mua Hamster lêu lêu
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 543 điểm để mua Hoa anh đào
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 546 điểm để mua Cổ vũ
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 938 điểm để mua Hộp quà Hamster
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 1492 điểm để mua Hamster lêu lêu
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 516 điểm để mua Hoa anh đào
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 2819 điểm để mua Đá Peridot
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 490 điểm để mua Hoa anh đào
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 1420 điểm để mua Hamster lêu lêu
Shop - Đấu giá: Sam Sam vừa đặt giá 250 điểm để mua Kẹo mút 2
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 640 điểm để mua Mề đay đá Citrine 5
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 1351 điểm để mua Hamster lêu lêu
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 465 điểm để mua Hoa anh đào
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 2683 điểm để mua Đá Peridot
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 608 điểm để mua Mề đay đá Citrine 5
Nhân Gian Hoan Hỉ: chữ tạo đề tài chỗ nào vơqis các bạn...ko thấy chi luôn
Windwanderer: huhu có ai biết dùng PTS k tớ nhờ xíu
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 1285 điểm để mua Hamster lêu lêu
Công Tử Tuyết: Re: [Trắc Nghiệm] Bạn là ai trong truyện Đam mỹ ?
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 248 điểm để mua Chai nước biển
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 1222 điểm để mua Hamster lêu lêu
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 519 điểm để mua Cổ vũ
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 892 điểm để mua Hộp quà Hamster
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 1162 điểm để mua Hamster lêu lêu
Shop - Đấu giá: Sam Sam vừa đặt giá 250 điểm để mua Kẹo cầu vồng
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 441 điểm để mua Hoa anh đào

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.