Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 12 bài ] 

Người đàn ông Mỹ cuối cùng - Elizabeth Gilbert

 
Có bài mới 16.03.2018, 14:36
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35423
Được thanks: 5254 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tâm lý XH] Người đàn ông Mỹ cuối cùng - Elizabeth Gilbert - Điểm: 10
Chương Chín


Chúng ta vĩ đại, và - tôi sắp nói ra trong nỗi sợ hãi - phát triển vũ bão!

- John Caldwell Calhoun[1], 1817

[1] John Caldwell Calhoun (1782-1850): một chính khách Mỹ nổi tiếng. Ông giữ chức Phó tổng thống Mỹ từ 1825-1832

Thỉnh thoảng tôi xỉn vi Eustace Conway. Đó là một trong những điều tôi thích làm với anh. Ừ thì đó là một trong những điều tôi thích làm với hầu hết mọi người, nhưng tôi đặc biệt ưa làm thế với Eustace. Bởi vì có một mức độ thanh thản nào đó mà rượu mang đến cho anh - những đặc tính xoa dịu của rượu phát huy tác dụng, tôi nghĩ thế - để vùi đi những ngọn lửa nội tâm. Cơn say giúp dập tắt những bếp lò rừng rực trong anh trong một lát, điều này giúp ta đứng được gần anh mà không bị cháy sém vì những ngọn lửa tham vọng của anh và không bị bỏng rộp dưới sức nóng lan tỏa của những nỗi lo âu và niềm tin và động lực của cá nhân anh. Với một chút whiskey trong cơ thể, Eustace Conway dịu nguội đi, trở nên vui vẻ hơn, nhẹ nhàng hơn, giống... Judson Conway hơn.

Với một chút whiskey, ta có thể yêu cầu Eustace kể những câu chuyện hay nhất của anh, và anh sẽ hò reo trong vui sướng khi nhớ lại những câu chuyện ấy. Anh sẽ nhại bất cứ chất giọng nào và kể những câu chuyện kỳ lạ nhất.

Anh sẽ cười ầm lên với những câu đùa ngớ ngẩn nhất của tôi. Khi Eustace Conway uống rượu, rất có thể anh sẽ khoe khoang bản thân bằng cách chêm vào lời nói những từ ngữ hiện đại phi-Eustace mà anh đã thu lượm được qua nhiều năm, kiểu như “blah blah blah,” hay “Cô tuyệt bỏ xừ!” hay “Ngon cả đôi đường,” hay - tôi thích nhất - khi được khen, “Thế thiên hạ mới trả tôi cả xấp Benjamin[2] chứ!”

[2] Tiếng lóng của Mỹ hiện đại dùng để chỉ tờ 100 đô, vì trên tờ tiền này có in hình Tổng thống Benjamin Franklin (1706-1790)

“Thế đấy, một hè nọ tôi đang đi bộ vòng quanh Công viên Quốc gia Glacier,” anh nói, chẳng bao lâu sau khi chai rượu được khui, và tôi sẽ mỉm cười ngả người ra trước sẵn sàng lắng nghe. “Tôi đang ở cao hơn vành đai cây nhiều, đang băng qua vành đai tuyết. Chẳng ai biết tôi ở đâu, mà tôi thậm chí cũng không đi trên đường mòn; ngút tầm mắt chỉ là một rặng núi phủ đầy băng tuyết, cả hai bên là sườn dốc thẳng đứng. Tất nhiên, tôi không có bất cứ một trang bị tử tế nào; tôi lên đó chơi cho vui thôi. Thế là tôi cứ đi, rồi đột nhiên tôi trượt chân. Chỗ đó dốc kinh lên được, khiến tôi bị trượt ngay xuống sườn núi, nằm ngửa mặt lên trời lao nhanh trên lớp băng mỏng. Hầu hết những người đi bộ lên đây đều mang theo một cái rìu phá băng, nhưng tôi không có cái nào nên không thể níu mình lại được. Tất cả những gì tôi có thể cố làm là ghì người hết sức xuống cái ba lô để giữ mình trượt chậm lại, nhưng chẳng ích gì. Tôi cắm gót giày vào băng, nhưng cũng chẳng ích gì nốt! Thế rồi tuyết và băng biến thành sỏi và đá lở, và tôi đang lao bình bịch bình bịch bình bịch qua những phiến đá nhẵn với vận tốc tối đa. Tôi cứ thế trượt đi trượt đi, và tôi nghĩ, Lần này thì mình chết chắc! và rồi - THỊCH. Tôi va đánh rầm rồi dừng khựng lại. Cái khỉ gì thế nhỉ? Tôi nhấc đầu lên và nhận ra mình vừa mới đâm vào một con la chết. Thề có Chúa! Đây là một la chết toi chết giẫm! Đây là xác ướp đông lạnh của một con la, và nó lại là thứ đã chặn cú trượt của tôi. Chầm chậm tôi đứng dậy nhìn qua con la và thấy, ở ngay đó, bên kia tấm thân nó là một vách đá dựng đứng đâm thẳng xuống khoảng sáu trăm mét vào giữa lòng Công viên Quốc gia Glacier. Tôi cất tiếng cười vang, cười mãi, gần như ôm ghì con la. Trời ơi, con la chết này là người anh hùng của tôi. Nếu tôi rơi xuống đó, thậm chí sẽ chẳng có ai tìm thấy xác tôi! Nghìn năm nữa cũng không tìm thấy, cho đến khi những người đi bộ nào đó tình cờ thấy và rồi viết một bài ra trò về tôi cho tờ National Geographic!”

Thêm vài ngụm rượu nữa, thế là Eustace sẽ kể chuyện Dorothy Hamilton, người phụ nữ da đen chạy từ trong một tiệm đồ ăn nhanh ở vùng nông thôn Georgia ra khi Kỵ sĩ Đường trường phi qua, vẫy tạp dề rồi hôn mấy anh em nhà Conway và đòi được nói vào nhật ký ghi âm của họ. Bà biết Kỵ sĩ Đường trường đang phi ngựa cả chặng đường tới California - bà đã xem họ trên ti vi - và bà có một thông điệp nhiệt liệt dành cho bờ Tây: “Xin chàoooo tất cả các bạn lướt sóng ngoài biển khơi California!” Eustace khào khào trong căn nhà gỗ của mình, dồn hết sức nhại giọng nói đầy vui sướng của người phụ nữ này. “Đây là lời chào hoành tráng từ người bạn của chúng ta, Dorothy Hamilton, cô gái trong tiệm GÀ!”

Một đêm tuyết rơi, Eustace và tôi đi bộ xuống thung lũng để thăm những người hàng xóm già Appalachia thân mến, Will và Betty Jo Hicks. Will và Eustace bắt đầu nói về khẩu súng săn “hai-lòng” nào đó mà Will vẫn hay sử dụng. Tôi cố lắng tai nghe, nhưng rồi cũng như bao lần khác đến nhà Hicks, tôi nhận ra rằng mình không thể hiểu lấy một phần mười số từ mà Will Hicks lè nhè nói. Ông luôn nói “hit” thay vì “it” và “far” thay vì “fire” và “vee-hickle” thay vì “car”, ngoài ra tôi không thể giải mã được nhiều hơn thế là bao. Giữa những chỗ răng sún và lối nói trại kiểu nông thôn và kiểu luyến láy của ông, cách nói của ông vẫn còn là một bí ẩn đối với tôi.

Quay trở lại gian nhà gỗ của Eustace tối hôm đó, vừa uống chai whiskey tôi vừa phàn nàn, “Tôi chẳng tài nào hiểu nổi giọng Appalachia quái quỷ ấy. Làm sao anh giao tiếp được với ông Will nhỉ? Tôi nghĩ chắc tôi cần học thứ ngôn ngữ-Appa đó cụ thể hơn một chút.”

Eustace la lên, “Nè cô! Cô chỉ cần nghe-Apipa kỹ hơn!”

“Tôi không biết nữa, Eustace. Tôi nghĩ chẳng mấy chốc tôi sẽ Appa-ngay thôi và sẽ hiểu được những người như Will Hicks.”

“Ôi, không! Ông già thôn quê đó chỉ đang cố dạy cô nghiên cứu-Appa!”

“Tôi nghĩ chúng ta có thể thảo luận Appa-ngày sau,” tôi nói, cười khúc khích.

“Không phải cô đang ngặt nghẽo cười-Appa ông cụ Will Hicks đấy chứ?” Eustace nói.

Tới đó thì cả hai chúng tôi cùng ngặt nghẽo cười-Appa đến rung cả cái đầu ngốc nghếch của mình. Eustace đã ngà ngà, nụ cười rộng mở của anh đang sáng bừng lên trong ánh lửa, và tôi thích nhìn thấy anh như thế. Tôi cầu trời mình có thêm mười chai rượu nữa và cũng chừng đó tiếng đồng hồ ngồi trong căn nhà gỗ ấm áp này để vui thú quan sát Eustace Conway dẹp chương trình khắc nghiệt của mình đi mà nghỉ ngơi-Appa thả phanh lấy một lần

Tôi nói, “Ở bên anh những lúc như thế này thấy vui vẻ hơn rất nhiều, Eustace ạ. Anh nên cho mọi người thấy mặt này trong con người mình thường xuyên hơn.”

“Tôi biết, tôi biết. Patience cũng thường nói với tôi như thế. Cô ấy bảo những người học việc sẽ không sợ tôi triền miên nếu tôi để cho họ thấy mặt thoải mái và vui vẻ trong tôi. Tôi thậm chí đã tính chuyện cố gắng nghĩ cách làm như thế. Có lẽ mỗi sáng trước khi chúng tôi bắt tay vào việc, tôi nên bắt đầu hình thành thói quen có năm phút tự do thoải mái vui vẻ.”

“Năm phút thoải mái vui vẻ ấy à Eustace? Chính xác năm phút sao? Không phải bốn? Không phải sáu?”

“Àaa...” Anh ôm đầu mình lắc qua lắc lại. “Tôi biết, tôi biết, tôi biết... thật điên rồ. Thấy chuyện này ra sao với tôi chưa? Thấy chuyện này thế nào trong não tôi chưa?”

“Này, Eustace Conway,” tôi nói, “cuộc đời chẳng thật dễ dàng phải không?”

Anh mỉm cười quyến rũ và nốc thêm một hơi rượu dài. “Tôi chưa bao giờ thấy dễ.”

***

Vẫn tồn tại tham vọng trong con người Eustace. Anh vẫn chưa xong. Thời còn thật sự trẻ trung, thời lần đầu đi bộ quanh Đảo Rùa với cô bạn gái Valarie, anh đã chỉ ra, như thể đang đọc từ một bản thiết kế, những gì anh sẽ làm cho lãnh thổ của mình. Nhà ở đây, cầu ở kia, một cái bếp, một đồng cỏ, một bãi thả gia súc. Và anh đã kiến tạo nơi này như thế. Giờ đây trên khắp mảnh đất của anh, đứng sừng sững đó, rành rành có thật, là bằng chứng cho những gì Eustace đã thấy trong tâm trí ngay từ phút đầu. Nhà, cầu, bếp - đâu ra đấy.

Tôi nhớ đã đứng cùng Eustace nhìn ra một bãi đất gần như trơ trụi lần đầu tôi tới Đảo Rùa. Nó chỉ là một cánh đồng đầy bùn lầy và gộc cây, nhưng Eustace nói, “Lần tới cô đến đây, sẽ có một khu chuồng trại thật lớn ở giữa bãi đất đó. Cô không thấy được sao? Cô không thể hình dung ra cỏ đang mọc xanh mơn mởn và đàn ngựa đứng nhởn nha vô cùng đẹp xung quanh đây à?” Lần sau đó khi tôi lên Đảo Rùa, thật như thể có phép màu, ngay chính giữa bãi đất ấy mọc lên một khu chuồng trại to lớn tuyệt vời, cỏ mọc xanh mơn mởn, và đàn ngựa đang đứng nhởn nha vô cùng đẹp mắt xung quanh. Eustace đưa tôi lên một ngọn đồi để cho tôi một cái nhìn bao quát hơn về nơi này, rồi anh nhìn quanh và nói, “Một ngày nào đó sẽ có một vườn cây ăn quả ở ngay đây.”

Và tôi biết người đàn ông ấy đủ rõ để chắc chắn rằng sẽ đúng là như thế.

Thế nên, không, anh chưa xong với Đảo Rùa. Anh muốn xây một thư viện, và anh đang tìm mua một cái máy cưa lớn để tự sản xuất gỗ xẻ. Và rồi còn có ngôi nhà mơ ước, ngôi nhà nơi anh sẽ sống. Bởi vì sau tất cả ngần ấy thời gian - sau hơn hai mươi năm trong rừng thẳm, sau khi vắt kiệt sức mình để giành được một nghìn mẫu đất, sau khi đã xây dựng mười mấy công trình trên lãnh thổ của mình - Eustace vẫn chưa có một mái nhà cho riêng anh. Trong suốt mười bảy năm, anh sống trong lều vải. Rồi anh sống hai năm trong gác xép của một kho dụng cụ. Và gần đây anh bắt đầu sống trong một ngôi nhà gỗ đơn sơ nhỏ bé mà anh gọi là Nhà Khách - một chốn công cộng hoàn toàn, ở đó vào mùa đông khi nhà bếp ngoài trời đóng cửa thì tất cả những người học việc và khách khứa đều tới tụ tập mỗi ngày hai lần để ăn uống. Với một người luôn tuyên bố khao khát sự riêng biệt hơn bất cứ thứ gì, Eustace chưa bao giờ cho bản thân mình một nơi riêng tư thật sự ở Đảo Rùa. Tất cả những cái khác, từ đàn lợn cho tới người học việc cho tới dụng cụ cho tới sách vở, phải có nhà có cửa cho chúng trước.

Nhưng có một mái nhà anh đã thiết kế trong đầu suốt mấy chục năm. Và bởi vậy ta có thể tin chắc rằng một ngày nào đó nó sẽ ra đời. Anh đã thiết kế những bản vẽ đầu tiên về căn nhà đó khi anh ở Alaska, bị mắc lại trên một hòn đảo trong hai ngày trời, chờ cho biển động lắng dịu xuống đủ để có thể an toàn chèo xuồng kayak trở lại đất liền. Và một chiều nọ khi tôi hỏi xem liệu anh có thể miêu tả chi tiết ngôi nhà đó cho tôi, anh bảo, “Ồ, được chứ.”

“Triết lý nền tảng của ngôi nhà mơ ước của tôi,” anh bắt đầu, “rất giống với cảm nhận của tôi về ngựa của mình - ta vượt lên trên cảm giác cần thiết bởi vì ta có một tình yêu cái đẹp. Ngôi nhà này hơi phô trương, nhưng tôi sẽ không đánh đổi chất lượng lấy bất cứ thứ gì. Nếu tôi muốn đá phiến lợp mái, tôi sẽ có đá phiến lợp mái. Cũng như thế với kính mài cạnh, đồ trang trí bằng đồng, đồ sắt rèn thủ công - bất cứ thứ gì tôi muốn. Ngôi nhà sẽ được xây với những tấm gỗ xẻ rộng, và tôi đã chọn sẵn một ố tấm như thế từ các khu rừng quanh đây. Những khúc gỗ thật lớn và rất nhiều đá, mọi thứ phải chắc và bền.

“Khi tôi mở cửa trước, cái đầu tiên tôi sẽ thấy là một đài nước bằng đá cao hơn mười mét, với một bể nước bằng đá dưới đáy. Đài nước hoạt động nhờ điện mặt trời, nhưng đồng thời cũng được đun nóng nên góp phần sưởi ấm ngôi nhà. Sàn nhà sẽ bằng đá phiến hoặc đá lát, loại nào đó tạo cảm giác dễ chịu cho mắt và chân. Phòng khách nhìn thẳng lên trần nhà kiểu thánh đường cao mười hai mét. Sâu trong gian phòng đó sẽ có một lò sưởi tròn bằng đá thụt sâu hơn sàn, với những chiếc ghế đá dài xây hẳn vào trong đó. Tôi sẽ nhóm lửa trong đó, rồi những đêm đông bạn bè tôi có thể đến sưởi mình sưởi lưng sưởi mông trên những phiến đá ấm áp đó. Bên trái gian phòng rộng lớn ấy là cánh cửa dẫn đến gian xưởng của tôi, rộng tầm bốn chục mét vuông. Tường ngoài thật ra chỉ là hai cánh cửa khổng lồ lắp vào những cái bản lề bằng sắt dài một mét rưỡi có thể mở toang ra ngoài trời, như thế để khi làm việc trong xưởng vào mùa hè tôi sẽ có không khí, ánh nắng và tiếng chim hót.

“Bên cạnh phòng lớn là hai phòng bằng kính. Một phòng là nhà kính, nhờ nó tôi sẽ có vô số rau xanh tươi quanh năm. Phòng còn lại là phòng ăn, đơn giản và hoàn hảo. Có một nơi dành cho mọi thứ, y như trên một con tàu. Một bàn gỗ rộng, nhiều ghế dài và một chiếc ghế quây tròn. Và cửa sổ ở khắp mọi nơi để tôi có thể nhìn xuống thung lũng, ở đó tôi sẽ thấy chuồng trại, bãi chăn thả và vườn tược. Phía sau lối vào phòng ăn là cánh cửa dẫn tới nhà bếp. Quầy bếp bằng đá cẩm thạch, tủ bếp làm thủ công với móc cửa làm bằng gạc nai, giá mở, bếp lò đun củi - nhưng cũng có cả bếp ga. Những cái bồn rửa với cả nước nóng và nước lạnh, hoàn toàn dùng năng lượng mặt trời, rồi tất cả những thứ làm thủ công này, những thứ tự rèn lấy nọ và bộ đồ bếp bằng gang. Và còn có một cánh cửa khác dẫn tới khu bếp ngoài trời, ở đó tôi có thể nấu nướng ăn uống vào mùa hè, với thềm có mái che, một bộ bàn ghế, nhiều bồn rửa ngoài trời có vòi nước, giá để đồ và bếp lò, nhờ thế tôi không phải liên tục vào nhà lấy thứ nọ thứ kia. Khu thềm nhìn ra một con dốc tuyệt đẹp trong hẻm núi, và có lẽ sẽ có hệ thống đèn thắp bằng khí prôpan chiếu sáng ngoài đó.

“Trên gác là hai phòng ngủ nhỏ áp mái và - cái này có thể nhìn thấy từ phòng lớn - một ban công mở ra từ phòng ngủ chính. Phòng ngủ chính bằng kích thước của gian xưởng phía dưới, nhưng nó sẽ không hoàn toàn đóng khung. Chỉ là một không gian mở, sạch và đẹp. Cuối sảnh từ phòng ngủ chính là một nhà vệ sinh tự hoại, một phòng tắm hơi và các phòng ngủ áp mái. Còn có cả một hàng hiên để ngủ ngoài trời với một cá ở đó, nhưng nếu tôi phải ngủ trong nhà thì sẽ có một chiếc giường thật lớn với ô cửa sổ áp trần phía trên để đêm nào tôi cũng có thể ngắm sao trời. Và, tất nhiên, sẽ có những phòng đựng áo quần khổng lồ.

“Khắp nơi trong nhà tôi sẽ là các tác phẩm nghệ thuật. Trên các ban công sẽ treo những tấm thảm của người Navajo. Nó sẽ hơi giống với phong cách Santa Fe mà ngày nay mọi người rất ưa chuộng, nhưng đầy ắp giá trị nghệ thuật đích thực - không phải thứ nghệ-thuật-rởm mà người ta sưu tầm về chỉ vì người ta không biết gì hơn. Ngôi nhà này sẽ có rất nhiều tác phẩm nghệ thuật, rất nhiều ánh sáng rất nhiều không gian, thanh bình, an toàn, kín đáo, khắp cả ba mặt, tiện dụng và tuyệt đẹp. Để tôi bảo cô, tờ Architectural Digest chắc chắn sẽ thích đặt tay vào nơi này. Và tôi biết tôi có thể tự mình xây dựng nó, nhưng tôi thậm chí sẽ không động thổ chừng nào chưa có vợ, bởi vì sẽ thật ngu xuẩn nếu tôi xây ngôi nhà này mà không có người phụ nữ phù hợp bên cạnh.”

Anh ngừng lời. Ngồi dựa ra và mỉm cười.

Bản thân tôi chẳng biết phải nói gì.

Chẳng phải là tôi đang băn khoăn không biết Eustace có đã bao giờ nhặt lấy một tờ Architectural Digest chưa. Chẳng phải tôi kinh ngạc vì Eustace, người hàng mấy chục năm nay vẫn rao giảng rằng để sống hạnh phúc chúng ta chẳng cần nhiều môi trường vật chất bao quanh, vừa mới miêu tả mơ ước xây dựng một dinh thự miền quê với những tiêu chuẩn thẩm mỹ của một triệu phú dầu mỏ nghỉ hưu. Không phải tôi đang suy ngẫm rằng đột nhiên với tôi Eustace nói nghe mới giống Thomas Jefferson làm sao - một nhà mộng tưởng rất quan tâm đến lợi ích cộng đồng nhưng cũng rất cô độc, trong phút chốc rũ bỏ mọi bổn phận đối với nền Cộng hòa để chìm đắm vào sự mơ màng hoang tưởng về ngôi biệt thự được thiết kế mỹ mãn hoàn toàn rời xa xã hội. Thậm chí cũng chẳng phải tôi đang băn khoăn không biết mười ba đứa trẻ mà Eustace vẫn dự định sinh ra rồi đây sẽ ngủ ở đâu trong ngôi nhà chỉ có hai phòng ngủ còn trống đó. Tôi có thể xử lý được tất cả thắc mắc này. Chẳng làm tôi lúng túng chút nào.

Nỗi kinh ngạc của tôi căn bản hơn nhiều.

Đơn giản là, bất chấp tất cả những bước ngoặt tính cách lạ lùng mà rốt cuộc tôi đã đâm quen suốt nhiều năm qua ở kẻ sơn nhân hiện đại và phức tạp nhất trong mọi sơn nhân này, tôi vẫn không tài nào tin nổi mình vừa nghe Eustace Conway thốt ra cái cụm từ “những phòng đựng áo quần khổng lồ”.

***

Đây là Eustace Conway, nhìn xuống lòng khẩu súng săn đã bốn mươi năm tuổi. Nếu những biểu đồ thống kê của ngành kinh doanh bảo hiểm là đáng tin, anh đã sống hết nửa đời rồi. Anh đã đạt được nhiều thành tựu. Anh đã tận mục sở thị nhiều thứ trên thế giới này hơn những gì hầu hết chúng ta từng đọc được. Anh đã, khoảng bảy mươi lăm lần mỗi năm, hoàn thành những việc mà người ta bảo anh là không thể làm được. Anh đã giành và bảo vệ được mảnh đất mà anh luôn khao khát. Anh đã để tâm đến những luật lệ của tự nhiên, và sự chú ý đó đã tưởng thưởng anh bằng sự thành thạo đáng kinh ngạc trong hàng loạt công việc. Anh đã xây dựng một tổ chức giáo dục và truyền dạy dựa theo đúng hình tượng của anh. Anh đã trở thành một nhân vật tiếng tăm của công chúng. Anh được sùng bái và anh được kính sợ. Anh đang ở trên đỉnh cao sự nghiệp của mình. Anh thậm chí tự gọi mình là Sơn Nhân Hạng Nhất, và quả thực anh đã trở thành một Người Mang Sứ Mệnh đang hành động, Ẩn Sĩ Nổi Tiếng Nhất Thế Giới, Tổng Giám Đốc Của Rừng Xanh.

Nhưng cũng tồn tại những kẻ nứt. Và anh có thể cảm nhận gió lùa qua đó. Cũng như hồi ba mươi tuổi, anh dường như không thể làm cho mối quan hệ với người khác diễn ra tốt đẹp như mong muốn. Những người mà anh làm việc cùng ở Đảo Rùa luôn giận anh hoặc hiểu lầm anh. Hầu hết những người học việc tôi gặp ở Đảo Rùa rốt cuộc đều rời bỏ Eustace rất lâu trước khi thời gian học tập của họ chính thức kết thúc, và thường là trong nước mắt. Ngay cả Candice, cô gái đã nhất quyết không trở thành một cựu thành viên bất mãn của Đảo Rùa nữa, cũng đã đột ngột bỏ núi mà đi như một DETI, thất vọng não nề vì Eustace từ chối trao cho cô thêm quyền trông coi khu vườn.

Và Eustace vẫn không gần gũi hơn với gia đình. Đứng hàng đầu trong mọi suy nghĩ của anh tất nhiên vẫn là người cha lúc nào cũng đầy khinh miệt - chế ngự từng hơi thở của anh, chỉ trích và kinh tởm và tức giận. Một câu chuyện diễn đi diễn lại bất tận trong cuộc đời Eustace Conway là mỗi khi anh tìm kiếm tình yêu và sự công nhận từ cha mình, anh luôn gần như chói mắt trước sự trống lốc anh thấy ở đó.

Tuy nhiên có một điều lạ thực sự thay đổi vào năm nay gọi cho tôi hôm sinh nhật thứ ba mươi chín của anh. Chúng tôi trò chuyện bình thường, nói chuyện khoảng một giờ đồng hồ về công việc ở Đảo Rùa và tán gẫu. Anh kể cho tôi nghe về những người học việc mới, về công việc ở chuồng trại và sự chào đời của một con ngựa non tên là Luna.

Và rồi anh nói, với một giọng rất lạ. “À, còn một chuyện nữa. Tuần này tôi nhận được một tấm thiệp chúc mừng sinh nhật.”

“Ồ, thế à?” tôi hỏi. “Từ ai vậy?”

“Từ bố tôi.”

Có một khoảng lặng dài. Tôi đặt cốc trà đang uống dở xuống và tìm cho mình một cái ghế.

“Kể tôi nghe,” tôi nói. “Kể tôi nghe mọi chuyện đi.”

“Tôi đang cầm tấm thiệp ngay trên tay đây này.”

“Đọc cho tôi nghe đi, Eustace.”

“Nó thú vị lắm, cô biết không? Bố tôi... ừm... ông ấy tự tay vẽ tấm thiệp. Nó là một bức vẽ ba quả bóng bay nhỏ trôi lên bầu trời. Ông ấy vẽ những quả bóng bay bằng bút đỏ và vẽ một cái nơ buộc quanh mấy sợi dây bằng bút xanh lục. Ông dùng bút xanh dương để viết lời nhắn.”

“Lời nhắn thế nào?”

Eustace Conway hắng giọng rồi đọc: “Thật khó tin được rằng ba mươi chín năm đã trôi qua kể từ khi con sinh ra và hình thành gia đình chúng ta. Cảm ơn bao nhiêu hạnh phúc con đã mang cho cả nhà qua chừng đó thập kỷ. Cả nhà ta mong thật nhiều hơn nữa. Yêu con. Bố.”

Lại thêm một khoảng im lặng dài.

“Đọc lại lần nữa đi,” tôi nói, và Eustace đọc

Chẳng ai trong hai chúng tôi nói gì trong một lúc lâu. Rồi Eustace nói với tôi rằng anh nhận được tấm thiệp này hai ngày trước. “Tôi đọc nó một lần rồi gấp lại bỏ vào phong bì. Nó khiến tôi buồn xa xót, tay tôi run rẩy. Đó là những lời tử tế đầu tiên bố từng nói với tôi. Tôi không nghĩ có ai hiểu nổi điều đó khiến tôi cảm thấy thế nào. Mãi đến giờ tôi mới nhìn lại tấm thiệp. Phải mất hai ngày tôi mới có đủ can đảm để mở nó ra lần nữa và đọc lại. Tôi thậm chí sợ chạm vào nó, cô hiểu không. Tôi không chắc nó có thật không. Tôi nghĩ biết đâu mình mơ thấy nó.”

“Anh ổn chứ?” tôi hỏi.

“Tôi không biết nữa. Ôi Chúa ơi, tôi không biết làm cách nào mở trái tim đầy sợ hãi của mình ra để dù chỉ để nghĩ về nó. Sao chứ, thứ này là có ý gì vậy? Thứ này có nghĩa gì hả bố? Bố đang làm cái quái quỷ gì vậy?”

“Có thể ông không có ý đồ gì đâu, Eustace.”

“Tôi nghĩ tôi sẽ giấu tấm thiệp này đi một thời gian.”

“Làm vậy đi,” tôi nói. “Có lẽ ngày mai anh có thể đọc lại.”

“Có lẽ tôi sẽ làm thế,” Eustace nói, rồi anh gác máy.

Chút băng tan tuy nhỏ xíu nhưng chấn động này trong mối quan hệ giữa hai Eustace làm tôi nghĩ đến một từ khó hiểu tôi vừa mới học được. Một hôm khi đang lật giở cuốn từ điển thì tôi tình cờ khám phá ra nó, khi cố tìm tên Eustace, để xem có biết được xuất xứ của nó không. Không có từ Eustace nào trong từ điển của tôi, nhưng tôi lại khám phá ra từ Eustasy, nó là một danh từ. Và đây là nghĩa của từ Eustasy: “sự thay đổi mực nước biển trên phạm vi toàn thế giới, xảy ra qua nhiều thiên niên kỷ do tác động của sự dâng lên hoặc hạ xuống của các sông băng.”

Dùng cách nói khác là, một sự tan chảy chầm chậm và hùng tráng. Tôi nghĩ đây sẽ là cách tạo ra dù chỉ một thay đổi nhỏ trong mực nước bi

***

Và rồi cũng phải xét đến những thành viên khác trong gia đình Conway. Các mối quan hệ của Eustace với họ cũng không ổn định. Anh yêu mẹ mình, nhưng anh khóc thương cho nỗi buồn cũng như cuộc sống hôn nhân khốn khổ của bà với một cảm xúc mãnh liệt tới độ bào mòn khả năng tìm kiếm hạnh phúc của chính bản thân anh. Anh quan tâm đến cậu em trai nhỏ Judson nhiều hơn quan tâm tới bất kỳ ai, nhưng ngay cả người quan sát tình cờ nhất cũng có thể thấy rõ mồn một rằng hai anh em không còn thân thiết như trước nữa. Không còn như vậy nữa kể từ hành trình Kỵ sĩ Đường trường. Giờ đây Judson sống gần Eustace, cư trú chỉ ngay bên kia thung lũng đối diện Đảo Rùa, trong một ngôi nhà gỗ nho nhỏ mà anh xây cho mình và giờ thì chia sẻ với cô vợ chưa cưới cực kỳ thú vị của mình (một cô gái tự chủ và bền bỉ, biết săn nai bằng cung tên, là thợ đốn gỗ, và có tên là - nghe nhé! - Eunice). Judson có thể dễ dàng phi ngựa lên thăm Eustace hằng ngày nếu anh thích thế, nhưng anh không thích. Hai anh em hiếm khi gặp nhau. Eustace muốn gần gũi với Judson hơn nhiều so với Judson đối với anh, nhưng Judson cẩn thận và lịch sự giữ khoảng cách không thân thiết giữa họ.

“Tôi thấy rõ điều đó khi chúng tôi cưỡi ngựa xuyên nước Mỹ,” Judson bảo tôi. “Eustace y hệt như bố tôi. Anh ấy dữ dội khủng khiếp và thật khó mà ở gần. Anh ấy và bố tôi đều hãnh diện tự cho mình là những người truyền đạt vĩ đại. Họ nghĩ họ hành xử ở trình độ trí tuệ và truyền đạt cao hơn bất kỳ ai khác. Eustace được một điều là anh thực sự cố gắng lắng nghe mọi người và đôi khi cũng hết sức nhẹ nhàng và công bằng, nhưng điểm căn bản thì chẳng khác gì nhau - anh ấy lúc nào cũng phải làm theo ý mình và không bao giờ bàn luận phải quấy gì hết. Này, tôi yêu anh mình, nhưng tôi không biết phải đối phó với chuyện này ra sao nữa. Đó là lý do tại sao tôi giữ khoảng cách. Tôi chẳng còn cách nào. Chuyện này khiến tôi thực sự buồn.”

Walton Conway, người em trai thứ, cũng sống gần đó, chưa đầy một giờ lái xe từ Đảo Rùa. Thông minh sáng láng, thông thạo nhiều ngôn ngữ và dè dặt, anh sống trong một ngôi nhà hiện đại thoải mái, giá sách của anh đầy ắp các tác phẩm của Nabokov và Dickens. Walton dạy Anh văn và viết thứ văn xuôi lặng lẽ. Anh điều hành một cơ sở kinh doanh ở ngoài nhà, nhập khẩu và bán hàng thủ công mỹ nghệ từ Nga. Vợ anh là một phụ nữ hoạt bát và phóng khoáng có hai con gái riêng từ cuộc hôn nhân trước, và hai vợ chồng họ vừa có thêm một cô con gái nữa. Cuộc sống của Walton hiện nay rất bình lặng, nhưng thời trẻ anh đã thực hiện nhiều cuộc hành trình gian khó. Hồi đó, anh thường xuyên viết thư về nhà c người anh cả Eustace, anh luôn ngưỡng mộ sâu sắc và rất mong mỏi có được sự xem trọng từ anh trai.

“Em chẳng thích nói thế này đâu,” Walton viết cho Eustace vào năm 1987, sau một thời gian dài sống trong một trang trại ở Đức noi anh đã tìm được công việc, “nhưng có thể anh sẽ tự hào về em. Khi em đang làm việc, hai bàn tay em sẽ trở nên rắn rỏi và đầy cáu ghét, và giờ đây em mới có vết chai sần ở những chỗ mà trước kia em chưa bao giờ thấy.”

Hoặc lá thư này từ Nga năm 1992: “Có một sự thay đổi lớn trong vận tốc đào thửa vườn dưa chuột ở ngoài thành phố cuối tuần vừa rồi. Làm việc với xẻng rất hiệu quả suốt cả ngày. Nghĩ về anh và Tolstoy và về cái mùa hè anh đi xây dựng ở dưới tiểu bang Alabama nóng hơn hỏa ngục. (Anh thấy đấy, em đã gián tiếp trải nghiệm mọi cuộc phiêu lưu của anh, thông qua những cái lỗ nhòm bé tí trên cánh cửa.) Tuy nhiên, nhìn chung thì có lẽ anh sẽ ghét ở Moscow này. Vây quanh em toàn cặn bã. Thật xót xa khi nhìn thành phố này, những gì con người đã làm với chính bản thân họ, những gì con người được bố thí khi lên được tới đầu dòng người xếp hàng chờ. Em không thể tưởng tượng anh có thể ở đây. Em mơ về Đảo Rùa.”

Nhưng giờ khi sống rất gần Đảo Rùa, Walton lại hiếm khi tới thăm anh trai. Điều này đánh gục Eustace, anh tha thiết muốn có thời gian bên Walton và cảm thấy tổn thương vì người em trai sẽ không đóng một vai trò quan trọng hơn trong cuộc đời anh.

“Là bởi bản ngã mà tôi phải tránh xa,” Walton giải thích. “Tôi không thể chịu đựng nổi. Có những buổi sáng thức giấc tôi chợt nghĩ, Chúa ơi, chẳng phải sẽ tuyệt vời lắm sao nếu có một người anh như Eustace với mọi kỹ năng và sự thú vị đó, nhưng đồng thời cũng khiêm tốn nữa? Tôi sẽ thích ở bên một ai đó như thế để được học hỏi. Tôi thích một ngày nào đó được đi bộ đường trường với Eustace và có một tương thông nhẹ nhàng, nhưng cái vấn đề bản ngã này thực sự khó mà tránh được. Tôi luôn muốn nói với anh ấy, 'Thử tưởng tượng có một ngày anh khởi hành một chuyến đi ngựa mà không phải nói với tất cả mọi người về điều đó xem? Mọi khoảnh khắc trong cuộc đời anh cứ phải luôn luôn là một trò công diễn thế à?'”

Còn với Martha cô em gái duy nhất của Eustace thì sao? À, tôi xem cô là nhân vật bí hiểm nhất trong cả gia đình Conway. Cô sống rất xa bên ngoài thế giới phiêu lưu và liều lĩnh của các anh em trai đến mức đôi khi thật dễ mà quên đi sự tồn tại của cô. Nhà Conway rất hay đùa rằng thần tiên đã bắt cóc đứa con thật của gia đình đi rồi để Martha thế chỗ nên chẳng có ai hiểu nổi tại sao cô “lại như thế”. Martha sống với chồng và hai con gái ở một khu ngoại ô mới khang trang, trong một ngôi nhà sạch sẽ vô trùng tới mức ta có thể sử dụng căn bếp của cô làm phòng mổ.

“Cô biết khi có con nhỏ thì hầu hết các ông bố bà mẹ phải giấu mọi thứ đồ dễ vỡ trong nhà đi để không có cái gì bị đổ bể như thế nào không?” Judson hỏi tôi, khi anh cố miêu tả về bà chị. “Ờ, trong nhà Martha thì mọi chuyện không giống vậy. Chị ấy bày những thứ đồ dễ vỡ ngay đó trên bàn uống nước rồi bảo hai cô con gái đừng có chạm vào. Và cô cứ việc tin chắc là chúng không chạm vào.”

Martha là một tín đồ Thiên Chúa giáo thuần thành, còn mộ đạo hơn nhiều so với cả bố lẫn mẹ cô. Cô cũng là một phụ nữ thông minh sắc sảo với tấm bằng thạc sĩ Đại học Duke. Tôi chắc chắn cô có thể điều hành hãng General Motors ngay lập tức nếu cô muốn, nhưng cô tập trung mọi khả năng nhạy bén và tài tổ chức vào làm một người nội trợ hoàn hảo, một bà mẹ nghiêm khắc và một thành viên quan trọng của nhà thờ nơi cô đi lễ. Tôi không biết nhiều về Martha; tôi chỉ ở bên cô có một buổi chiều. Nhưng tôi mến cô. Tôi thấy cô dịu dàng hơn tôi tưởng sau khi nghe các anh em trai cô kể về tính khắt khe nổi tiếng của cô. Tôi thật cảm động khi cô đón tôi vào nhà, bởi vì nơi đó vốn vô cùng thiêng liêng đối với cô. Tôi có thể thấy trong mắt cô rằng thật khó khăn biết bao cho cô khi để tôi vào nhà như thế. Tôi có thể thấy nỗi muộn phiền trong cô, nơi ý thức sâu sắc về lòng mến khách của người Thiên Chúa giáo đối chọi lại với ý thức về sự riêng tư mà cô vốn nâng niu.

Khi tôi đề nghị Martha kể về bản thân cô, cô nói, “Điều quan trọng nhất trong cuộc đời tôi là con đường đi bên Chúa Jesus. Điều đó phản ánh trong mọi việc tôi làm - cách tôi nuôi dạy các con, cách tôi tôn thờ lời cam kết với hôn nhân, cách tôi nỗ lực không đặt bản thân lên trước nhất, cách tôi kiểm soát các cảm xúc của mình và điều khiển giọng của mình. Mọi lựa chọn tôi đưa ra đều dựa trên đức tin của tôi. Tôi dạy các con ở nhà cũng bởi vì đức tin của tôi. Tôi không muốn các con học trường công. Tôi cảm thấy có rất nhiều điều xấu ở đó, kể từ khi người ta đưa cầu nguyện ra khỏi trường học. Tôi muốn các con tôi lớn lên với đức tin nghiêm cẩn, và chúng chỉ có thể nhận được điều đó ở đây bên tôi. Ở ngoài đời, mọi thứ đều dựa trên thuyết tương đối, và tôi không muốn các con tôi học điều đó. Ở ngoài kia, không còn gì là tuyệt đối nữa. Nhưng tôi vẫn tin vào những điều tuyệt đối. Tôi tin có một cách sống mà đúng và sai tuyệt đối tách bạch, và tôi có thể dạy các con điều đó, ngay ở đây trong

Chỉ ra Eustace và Martha khác nhau đến mức nào cũng là một câu chuyện vui thường xuyên của nhà Conway. “Cứ chờ cho đến khi thấy chị ấy sống như thế nào đi,” tôi được cảnh báo. “Cô sẽ không tin nổi chị ấy và Eustace là anh em đâu!” Nhưng tôi xin lễ phép không tán đồng. Ngay khi bước vào phòng khách nhà Martha, tôi nghĩ, Xin lỗi nhé, anh em. Hai con người này chính xác là một. Cả Eustace và Martha đều thấy thế giới “ngoài kia” thật suy đồi và bẩn thỉu, thế nên cả hai người đều thiết kế thế giới riêng của chính họ, những thế giới khăng khăng lánh mình khỏi xã hội rộng lớn hơn, riêng biệt đến như thể họ có thể sống dưới cái chao đèn cũng được. Họ điều khiển thế giới riêng tư của mình với quyền lực tuyệt đối, không bao giờ phải trải qua cảm khó chịu do thỏa hiệp. Thế giới của Eustace rộng một nghìn mẫu Anh còn thế giới của Martha chỉ gần một trăm mét vuông, tuy nhiên họ cai trị với cùng một động lực. Rốt thì đều là chủ nghĩa chuyên chế.

Chủ nghĩa chuyên chế rất tuyệt trong chuyện làm cho vô khối công việc được hoàn thành, nhưng khi các chủ nghĩa chuyên chế va chạm nhau thì đó có thể là một vụ đâm xe lửa dữ dội chết người. Đó là lý do tại sao Eustace và em gái chưa bao giờ xích lại gần nhau được. Càng buồn hơn khi cả hai người đều mong muốn có được một mối quan hệ đúng nghĩa. Nhung họ chỉ gây nỗi bực mình cho nhau. Eustace tin rằng anh đã cố gắng tận lực để tôn trọng các giá trị và cuộc sống được lập trình chặt chẽ của Martha bằng cách báo trước nhiều lần cho cô rồi mới tới thăm và đọc các câu chuyện trong Kinh thánh cho con cô và cố không làm đảo lộn ngôi nhà thân yêu của cô. Thế mà, cô buộc tội anh là thô lỗ và luôn tự cho mình là trung tâm, điều này càng khiến anh tổn thương hơn, bởi anh nhận thức được rằng Martha - vốn chỉ đưa gia đình mình lên Đảo Rùa có hai lần, bất chấp những lời mời liên tục - dường như không hề quan tâm tới cuộc sống của anh. Martha, trái lại, luôn cảm thấy tổn thương trước điều cô trông thấy: một người anh độc đoán đòi cả thế giới phải dừng lại quỳ dưới chân anh để tôn thờ anh mỗi khi anh lướt qua thị trấn. Vì lòng kiêu hãnh, vì thói quen, Martha từ chối nghiêng mình.

Thế nên, không, mối tương tác của Eustace với gia đình không lấy gì làm thỏa mãn. Trên bình diện nào cũng vậy. Anh không thể vượt qua chuyện này. Tuy nhiên, điều khiến anh thậm chí còn phiền muộn hơn là anh vẫn chưa xây dựng gia đình riêng. Từ ba mươi tuổi tới giờ, anh thường nhìn quanh đế chế của mình và bàng hoàng nhận ra rằng, mặc dù anh đã thành công rất nhiều chỉ bằng sức mạnh của ý chí, anh vẫn chưa có vợ con. Tới thời điểm này trong đời đáng lý anh đã phải ổn định trong cuộc sống gia đình, tiến xa trong quá trình nuôi dạy con cái và sung túc vui vầy với sự vững chắc của hôn nhân. Eustace đã sai ở đâu trong chuyện này? Anh không thể hiểu nổi.

Một hôm Eustace và tôi lái xe xuống núi để thăm cố vấn về ngựa của anh, ông chủ trại già miền núi và là người huấn luyện thú kỳ tài, Hoy Moretz. Chúng tôi đã có một buổi chiều vui vẻ trong gian bếp nhà Hoy, ăn bánh mì ngô với bà Bertha vợ ông, nghe những câu chuyện khoác lác ngông cuồng thời xưa, và lật giở cuốn album ảnh của Hoy chẳng có gì khác ngoài ảnh la, bò mộng, ngựa. Hoy rất vui tính và láu cá. (Khi gặp ông lần đầu, tôi nói, “Chào ông, ông thế nào ạ?” ông liền đáp, “Béo và lười. Cô thì sao?”) Ông không biết đọc sách - bố ông bắt ông chăn những đoàn bò mộng đưa gỗ về xưởng cưa từ khi ông mới lên sáu - nhưng ông là một chủ trại đầy năng lực. Ông có ba trăm mẫu đất với những bãi chăn thả và những cánh đồng gọn gàng xinh xắn nhất trần đời. Hoy không có con, thế nên bên chiếc bàn trong gian bếp ngày hôm đó, Eustace đã hỏi ông chuyện gì sẽ xảy ra cho mảnh đất tươi đẹp kia sau khi cả ông và Bertha qua đời. Hoy nói ông không biết chính xác, nhưng ông tưởng tượng “Chú Sam sẽ tiếp quản rồi bán nó cho mấy tay chủ thầu vừa mới dựng chín trăm căn nhà ngay tại sườn bên kia ngọn núi của tôi.”

Khi lái xe về, tôi hỏi Eustace liệu sau này anh có muốn đất của Hoy không. Trang trại Moretz chỉ cách Đảo Rùa bốn mươi lăm phút chạy xe, và nó rất lộng lẫy, Eustace liền nói tất nhiên là anh sẽ muốn có nó và tất nhiên anh ghét phải thấy nó phát triển thành một nghĩa địa toàn những ngôi nhà ngoại ô hiện đại.

“Nhưng đó là hình mẫu rập khuôn của thế giới,” anh nói tiếp. “Đầu tiên xuất hiện đường rồi xuất hiện nông trang rồi những người chủ trại bán đứt mảnh đất cho những tay chủ thầu rồi lũ này bằm nhỏ nó ra và xâm hại nó và xây thêm nhiều đường sá trên đó cho tới khi nó bị nhai vụn. Tôi không thể cứu mọi mẫu đất ở Bắc Carolina được. Tôi không có khả năng làm việc đó.”

“Nhưng anh sẽ làm gì với đất đai của Hoy nếu anh có?” tôi hỏi, thầm nghĩ anh có thể sử dụng mảnh đất ấy làm đồng cỏ hoặc làm nơi chăn thả vương quốc ngựa đang gia tăng không ngừng của anh.

“Tôi sẽ để dành nó rồi trao cho một trong số các con trai của tôi khi nó trưởng thành để nó có thể biến mảnh đất thành một nông trang cổ truyền,” Eustace nói.

Câu nói đó lơ lửng giữa không một lúc lâu. Có nhiều giả định xuất hiện ở đây: một ngày nào đó Eustace sẽ có một lũ con; sẽ có nhiều con trai trong số đó; một cậu con nào đó lớn lên sẽ hứng thú với việc làm trang trại cổ truyền; Eustace sẽ không xem các con trai của anh là nỗi thất vọng ê chề (“đối lập hoàn toàn với đứa con mà tôi mong đợi!”) như ông ngoại và bố anh đã xem các con trai của họ; tất cả đất đai của anh sẽ vẫn còn nguyên vẹn đó trong vòng hai lăm năm nữa. Đến cả Eustace dường như cũng thấy những nỗi băn khoăn này.

“Con trai tôi,” cuối cùng anh lên tiếng với giọng điệu tự mai mỉa bản thân. “Nghe tôi nói kìa. Tôi kiếm đâu ra con trai chứ?”

Đúng vậy, từ đâu? Và ai làm người mẹ? Đây là một câu hỏi đáng giá tỷ tỷ đô la trong cuộc đời Eustace, một câu hỏi ám ảnh không chỉ mình anh mà tất cả những người quen biết anh, đến mức chẳng khác gì một trò giải trí tầm cỡ quốc gia khi mọi người túm tụm lại đoán định xem ai là người (hoặc liệu có khi nào) Eustace sẽ kết hôn. Trong mấy năm qua, mọi thành viên trong gia đình Conway đều kéo riêng tôi ra một lúc nào đó để thổ lộ hy vọng âm thầm của họ rằng Eustace sẽ không bao giờ kết hôn và tất nhiên sẽ không bao giờ có con, bởi vì anh sẽ, như Martha vẫn lo lắng, “là một người cha quá đáng sợ.”

Nhưng có những người bạn khác của Eustace vẫn luôn cố gán ghép anh với hình ảnh một cô gái có bản tính hiện đại, làn da nâu sẫm, yêu hòa bình, giỏi trèo núi. Một số nghĩ anh nên quay lại Guatemala và cưới thiếu nữ Maya mười bốn tuổi lặng lẽ và xinh đẹp nhất anh có thể tìm thấy. Những người khác nghĩ anh cần cô gái cứng rắn và cường hào nhất thế gian tới trị anh ở Đảo Rùa một thời gian. Và anh có một người bạn, một nữ họa sĩ quen ăn nói bỗ bã không bao giờ ngừng thách thức anh với lời buộc tội này: “Ê, Eustace. Sao không thừa nhận quách đi là thật ra anh chẳng thích trẻ con? Hễ chúng ở cùng phòng với anh là anh lập tức vắt chân lên cổ chạy tránh xa chúng.”

Cũng như ai, tôi có những ý kiến của riêng mình về cuộc sống tình cảm của Eustace. Với tôi thì dường như thứ anh thực sự cần là một người phụ nữ vừa mạnh mẽ vừa chịu phục tùng. Giờ đây điều này có thể nghe như một điều mâu thuẫn, nhưng ngày xưa thì không phải lúc nào cũng thế. Mạnh mẽ kết hợp với phục tùng ở phụ nữ là điều bình thường trong suốt nhiều thế kỷ, đặc biệt là ở vùng biên nước Mỹ. Nhìn lại một lần nữa trường hợp vợ của Davy Crockett, năng lực phi thường trong rừng hoang của bà chỉ sánh được với sự phục tùng của bà trước người chồng. Đó là điều Eustace cần. Thế nhưng đó là năm 1780. Thời thế, như chúng ta ai cũng thấy, đã thay thế nên theo ý riêng của tôi thì Eustace Conway sẽ không có nhiều cơ may tìm được cho mình một người vợ (hay, như đôi khi anh vẫn gọi, “một người bạn đời”) - Như có lần một cậu bạn người thành thị của anh đã than tiếc với giọng giả lè nhè kiểu dân quê, “Một thế kỷ cái phong trào nữ quyền chết tiệt đã làm hỏng hết tất cả cô dâu rồi!”

Giống như nhiều Người Mang Sứ Mệnh phi thường trước anh, duy chỉ trong hoạt động quan hệ thân mật tinh tế nhất này Eustace mới không thành công. Tất cả sức lực và tất cả tài năng của anh đều trở nên vô dụng khi đối diện như Meriwether Lewis bất hạnh từng viết cho người bạn thân William Clark mấy năm sau khi họ chu du khắp lục địa này để lập bản đồ, “Bây giờ tôi là một kẻ góa bụa hoàn toàn trong chuyện tình yêu. Tôi cảm thấy được tất cả nỗi thao thức, sự bồn chồn, cái gì đó khôn tả rất quen thuộc với những ông lão độc thân ấy, thứ mà, người anh em thân mến của tôi, tôi không thể không nghĩ là xuất phát từ khoảng trống ấy trong tim chúng ta, cái khoảng trống mà tốt hơn có lẽ, hoặc nên, được lấp đầy. Do đâu mà thành ra thế tôi thật chẳng biết, nhưng điều này là rất rõ ràng, tôi chưa bao giờ cảm thấy mình ít giống một người hùng bằng lúc này. Chúa mới biết chuyến phiêu lưu tiếp theo của tôi có thể là gì, nhưng điều này thì tôi nhất quyết: tìm một người vợ.”

Không phải là Eustace không có nhiều sự lựa chọn. Người đàn ông này gây tác động vô cùng mạnh mẽ đến phụ nữ và có thể tiếp cận rất nhiều người trong số họ, cho dù thế giới của anh có vẻ cô biệt đến đâu. Có không biết bao nhiêu nữ nhi đầy mộng tưởng xinh đẹp mắt sáng như sao tới tung tăng khắp Đảo Rùa mỗi năm với vai trò trại viên, người học việc, người đi dạo, nhiều người trong số đó sẽ vô cùng sung sướng được ngả vào vòng tay của một sơn nhân đích thực, nếu được mời. Nếu tất cả những gì Eustace theo đuổi trong cuộc đời là sự thỏa mãn tình ái, anh có thể dễ dàng chọn cho mình một nguồn cung cấp người tình bất tận, như thể hái quả mọng từ trong bụi rậm vậy. Tuy nhiên, phải ghi nhận rằng anh không bao giờ sử dụng Đảo Rùa như một Địa Đàng Tình Ái Tự Do của cá nhân. Anh không bao giờ lợi dụng nhóm phụ nữ trẻ đẹp đó cho khoái lạc ngắn hạn. Ngược lại, anh luôn cố ý tránh xa rất nhiều những cô gái trẻ xem anh như thần tượng vì hình ảnh khắc nghiệt của anh, bởi vì anh không nghĩ rằng lợi dụng sự tôn thờ của họ là thích đáng. Thay vào đó, điều anh không ngừng tìm kiếm là sự hòa hợp một vợ một chồng bất khả xâm phạm có những chiều kích thần thánh giữa hai nhân vật anh hùng. Đó là một cuộc tìm kiếm thấm nhuần ý niệm về tình yêu lãng mạn vẫn còn giữ được một cách bền bỉ - nói cho đúng là một cách vô cùng tha thiết và khó tin và gần như bạo liệt - sự ngây thơ

“Quả thực vô cùng say đắm khi được gặp em và có cơ hội chia sẻ cùng em,” anh viết trong lá thư thuở ban đầu cho một cô gái chẳng lưu lại đủ lâu để có thể hợp thức liệt vào danh sách bạn gái của Eustace Conway. “Anh không biết chính xác em nghĩ gì về anh, nhưng anh hy vọng chúng ta sẽ có một cơ hội để hiểu nhau. Anh đang tìm kiếm một người bạn đời - một người năng nổ, thông minh, ưa phiêu lưu như em thực sự vô cùng lôi cuốn anh. Anh muốn sống mãi trong những mộng ảo của mình về một mối quan hệ thiêng liêng đầy tình yêu và sự chăm sóc yêu thương và sự thấu hiểu trọn đời. Anh muốn có mối quan hệ 'kỳ ảo' mơ mộng kiểu Mỹ 'hoàn hảo' tràn đầy tình yêu đó, nếu em sẵn lòng. Anh không đón đợi điều gì kém vẹn toàn hơn thế... Anh đã muốn kết hôn mười năm nay rồi. Anh đã tìm kiếm nhưng vẫn chưa tìm thấy 'người phù hợp'... Nếu em có nhãn kiến để nhìn và có niềm quan tâm để tìm hiểu, em sẽ thấy anh là một người sâu sắc và chu đáo, một người có thể và sẵn lòng dâng cho em nhiều hơn những gì em từng mơ ước cho một mối tâm giao giàu ý nghĩa trong suốt hành trình sống này, 'cuộc thử nghiệm nhân sinh', Anh dâng em điều đó. Xin em hãy xem xét nghiêm túc chuyện này và đừng để một cơ chế bảo vệ nào ngăn không cho em tìm thấy trong anh điều trái tim em thực sự khao khát. Với tình yêu anh có thể dâng cho em, những cảm nghĩ chân thành nhất, Eustace.”

Nhưng phương pháp tiếp cận “hãy-đứng-trong-đường-hầm-thử-nghiệm-tình-yêu-của-anh” này cũng không ăn thua. Và nó hủy hoại Eustace, sự thiếu vắng này, sự mất mát, sự thất bại trong việc tạo dựng một gia đình lý tưởng để xóa đi hình ảnh tuổi thơ tàn khốc trong anh. Anh ý thức rất rõ rằng anh đang cạn dần thời gian. Mới gần đây, anh có quan hệ với Ashley, một phụ nữ hippy hai mươi bốn tuổi anh quen đã nhiều năm. Cô ấm áp và đáng yêu hơn bất kỳ ai tôi từng gặp. Eustace gặp cô lần đầu cách đây sáu năm, tại một bữa tiệc, anh nhìn cô chằm chằm suốt đêm, quan sát cô nói chuyện với những người khác, thầm nghĩ rằng “cô ấy quá ư sống động, tràn ngập tình yêu, giống như một thác nước đổ xuống cả căn phòng với làn sương khói cuộn lên quanh cô, quá cuốn hút. Chỉ vừa nhìn thấy cô ấy tôi đã nghĩ, Đây chính là người ấy. Mình cần cưới cô gái này.”

Nhưng Ashley, bấy giờ mới tròn mười tám tuổi, đã có người yêu. Cô sắp rời thành phố, bước vào thế giới để thực hiện một số chuyến chu du và cuộc phiêu lưu ngông cuồng, và không hề sẵn sàng trở thành người phụ nữ của Eustace Conway. Nhưng mới đây cô trở về Boone và hiện nay cô chưa có ai. Eustace lại yêu cô lần nữa, và cô yêu anh.

Eustace nghĩ Ashley là một thiên thần, và chẳng khó để hiểu tại sao. Con người cô tỏa ra bản chất tốt và lòng nhân hậu. Một chiều Ashley đang chở tôi đi quanh Boone thì một người đàn ông vô gia cư tiến tới xe cô đang chờ đèn đỏ để xin tiền. Ashley, vốn chật vật sống sót suốt những năm qua nhờ vào phiếu trợ cấp thực phẩm và niềm hy vọng, liền lục khắp xe để tìm tiền, nhưng chỉ kiếm được mấy xu nhỏ.

“Tôi không thể cho ông nhiều tiền,” cô xin lỗi người vô gia cư, “nhưng tôi hứa sẽ cho ông tất cả lời cầu nguyện của tôi.”

“Cảm ơn cô,” ông ta nói, mỉm cười như thể ông vừa nhận được một trăm đô la. “Tôi tin ở cô.”

Ashley có một trái tim bao la đủ hấp thu tất cả tình yêu, nhu cầu và khao khát mãnh liệt Eustace trao cho cô mà thậm chí không hề do dự. Nhưng có một trục trặc với Ashley. Đâu đó trên các hành trình của mình, cô đã có ba đứa con nhỏ - một cậu con trai năm tuổi và hai cô con gái sinh đôi mới chập chững.

Khi nghe về bọn nhỏ, tôi nói, “Eustace, tôi nghĩ anh đã luôn muốn mười ba đứa con. Với tôi thì có vẻ như ở đây anh đã có một khỏi đầu tốt, bạn thân mến ạ. Xong ba, còn mười nữa thôi!”

Eustace cười lớn. “Chắc chắn rồi, nhưng khái niệm mười ba đứa con cực kỳ khác so với thực tế có ba đứa con.”

Ashley điềm đạm, trìu mến, vui tính, chú tâm và bền bỉ. Cô mang lại cảm giác thanh bình và mến khách vốn vô cùng cần thiết cho Đảo Rùa. Và cô có thể nhẹ nhàng xoay xở cách sống đó. Cô đã trải qua mấy năm sống ở một cộng đồng Rainbow Gathering ưa gây gổ, thế nên với cô Đảo Rùa chẳng khác gì Hilton Resort. Đây là một người phụ nữ đã trải qua hai lần mang thai mà không hề đến bác sĩ khám. (“Khi khỏe mạnh là ta biết ngay,” cô giải thích, “và tôi không cần ai nói với tôi rằng tôi đang ổn cả.”) Đây là một phụ nữ đã sinh hai cô con gái sinh đôi ngoài trời vào lúc nửa đêm trên nền đất lạnh ở Colorado, chỉ che mỗi một tấm bạt bên trên. Đây là một phụ nữ đương nhiên có thể xoay xở cuộc sống với những việc như mổ lợn và Bới Thùng Rác.

Eustace thề rằng anh sẽ cưới Ashley ngay lập tức nếu cô chưa có gia đình. Anh vô cùng e ngại chuyện nuôi những đứa con vô tổ chức của một người đàn ông khác, đặc biệt khi gã đó là một tayppy và vẫn còn hiện diện đáng kể trong cuộc sống của con cái anh ta. Eustace không muốn có một ảnh hưởng vô kỷ luật như thế ở bất kỳ nơi đâu gần những đứa trẻ mà có thể một ngày nào đó anh sẽ nuôi dạy. Tuy nhiên có thể nói, anh không thấy e ngại hai cô con gái sinh đôi của Ashley bằng cậu con trai nhỏ đầy năng lượng và ương bướng của cô.

“Làm sao tôi có thể nhận nuôi đứa con đó khi nó đã bắt đầu hình thành nhân cách? Nó đã chứng kiến quá nhiều điều xấu xa mà tôi không thể kiểm soát hay tẩy bỏ được. Tôi có quan hệ vô cùng tồi tệ với cha mình, thế nên nếu sau này có con trai, tôi phải đảm bảo rằng mối quan hệ là hoàn hảo ngay từ đầu. Tôi không muốn có một khoảnh khắc giận dữ hay rắc rối nào giữa chúng tôi. Theo những gì tôi biết, tôi có thể mất mười năm chỉ cho con trai của Ashley lối đi đúng, để rồi khi mười bốn tuổi nó sẽ quay sang chống đối tôi và nói, 'Thôi im đi bố, con sẽ hút cần sa.'”

“Eustace,” tôi nói, “chẳng ai có thể dám chắc với anh là những đứa con ruột của chính anh sẽ không nói những lời như thế một ngày nào đó. Thật ra, tôi hầu như có thể dám chắc với anh là chúng sẽ nói thế. Anh biết rõ vậy mà, đúng không?”

“Nhưng khả năng đó sẽ khó xảy ra với con ruột của tôi hơn, bởi vì tôi sẽ ở đó ngay từ đầu để dạy dỗ chúng hành vi nào được chấp nhận còn hành vi nào không thể chấp nhận. Khả năng đó chỉ có vẻ không sáng sủa với các con của Ashley. Giờ chúng đã vô kỷ luật lắm rồi. Ashley là một người mẹ tuyệt vời nhưng các con cô điều khiển cô và gây ra đủ kiểu phá phách và hủy hoại. Thực sự rất khó thở nếu lúc nào cũng có mấy đứa nhỏ đó bên cạnh, bởi vì chúng không được huấn luyện. Chúng luôn quấy nhiễu mọi thứ và đòi Ashley phải chú ý. Cô ấy đưa bọn chúng lên đây và tôi làm một số việc với chúng, ví như cho chúng cưỡi ngựa, nhưng không vui. Vui với chúng nhưng không vui với tôi.”

Eustace không thể dứt hẳn với Ashley, bởi vì cô xinh đẹp và tốt bụng, cô trao cho anh tình yêu vô điều kiện tuyệt vời mà anh hằng khao khát. Nhưng Eustace cũng không thể giữ cô bên mình, bởi vì cô mang quá nhiều thay đổi dữ dội vào vũ trụ nghiêm khắc và vô cùng trật tự của anh. Anh đã cố giúp cô tạo thêm trật tự và kỷ luật trong gia đình cô; anh cho cô mượn những cuốn sách trong thư viện của anh do người Amish viết về “huấn luyện” một đứa trẻ đúng cách, rất giống với cách người ta huấn luyện ngựa. Vốn thực tình cũng đã rối bời với mấy đứa con, Ashley nghiên cứu những cuốn sách đó cẩn thận và đầy biết ơn, và cô đã nhập tâm nhiều phần những chỉ bảo đó. Cô thậm chí còn trao những bài học kiểu nghệ thuật nuôi con này cho mấy cô bạn hippy nay cũng đã thành mẹ để giúp họ tạo ra sự ổn định trong gia đình rối như tơ vò của họ. Và đó là một sự giáo dục hết sức thành công. Sử dụng hệ thống quy tắc hết sức nghiêm khắc của cộng đồng người Amish ngày xưa, Ashley đã khép các con cô vào một chương trình vững chắc hơn, và những cơn thịnh nộ và nổi đóa cũng dần giảm bớt. Nhưng tất nhiên, bọn trẻ vẫn là một vấn đề nan giải. Bởi vì chúng có ba đứa và bởi vì chúng là trẻ con.

Thế nên Eustace không biết phải làm gì với Ashley. Cuối cùng, quyết định của anh hầu như rõ ràng sẽ là trận đấu cuối cùng giữa hai thứ mà anh khao khát nhất: tình yêu tuyệt đối và sự điều khiển tuyệt đối. Đó là một đòi hỏi vô cùng khó khăn. Xưa nay, tình yêu luôn là một đối thủ rất đáng sợ, nhưng một số người trên thế gian này cần nhiều hơn tình yêu. Trước đây Eustace đã từng sống không có tình yêu; đó là một cảm giác quen thuộc đối với anh. Nhưng ngược lại, anh chưa bao giờ sống một giây trong cuộc sống trưởng thành của mình mà không điều khiển.

Thế nên anh vẫn cô đơn một mình. Và ngập tràn câu hỏi về chuyện đâu là kiểu phụ nữ anh nên tìm kiếm. Sau tất cả chừng ấy năm, anh đã bắt đầu nghĩ rằng anh nên cẩn thận hơn về người anh chọn yêu. Có thể anh đã quá ngẫu hứng trong lựa chọn; có thể đó là lý do nó không bao giờ ổn thỏa. Đón nhận thử thách này như đón nhận bất kỳ nhiệm vụ tổ chức nào, gần đây Eustace đã ngồi lại để liệt kê ra một cách hiệu quả các yêu cầu đối với người phụ nữ hoàn hảo của anh. Nếu có thể định giá những ứng viên tương lai trong từng hạng mục thì có lẽ anh sẽ lựa chọn được một cách thông minh, và chắc chắn anh sẽ không phải tổn thương hay cô đơn lần nữa.

Rất mạnh khỏe, danh sách (trình bày không theo trật tự cụ thể) của anh bắt đầu. Rồi:

Có khả năng gần gũi thân mật.

Đẹp.

Tự tin với tình dục và say mê tình dục.

Có đức tin/đường hướng tâm linh.

Hăng hái nhiệt tình sống từng ngày trọn vẹn và với sự cảm kích thiêng liêng dành cho nó.

Cá tính có các mặt của một phụ nữ truyền thống, quán xuyến, dâng hiến, toan lo.

Thiên về phía lối sống và các giá trị 'phi vật chất'.

Ủng hộ tích cực, đầy năng lượng, tập trung, tự tin, giàu cảm xúc, và các kỹ năng xã hội.

Là người có nội lực tự lập, có khả năng ràng buộc sâu sắc vào sự hòa hợp thiêng liêng của hôn nhân.

Biết nhiều thứ tiếng.

Có tham gia hoặc biết thưởng thức nghệ thuật - nhảy múa, hát xướng, văn học, biểu diễn, v.v.

Tha thiết xem gia đình là số một.

Đánh giá cao khả năng quản lý tiền bạc sáng suốt.

Thích làm công việc nặng, ví như: quản lý vườn tược/đất đai/trang trại.

Danh sách còn tiếp tục kéo dài. Vậy là ta có thể thấy vấn đề ở đây. Ta có thể thấy rằng chính Thượng đế hẳn cũng sẽ lắc đầu giao trả một tờ hóa đơn như thế này và nói, Xin lỗi anh bạn, chúng tôi không có thứ này trong kho. Nhưng Eustace dường như lạc quan hơn Thượng đế nhiều. Và cũng cô đơn hơn Thượng đế nhiều.

Lần đầu Eustace cho tôi xem danh sách tình yêu này, tôi trả lại và nói, “Tôi thật sự rất tiếc, Eustace, nhưng đây không phải con đường của tình yêu.”

“Tôi không biết cách nào khác để làm việc đó,” anh nói, lần đầu tiên nghe có vẻ thật sự bất lực.

Rõ ràng là danh sách này cho thấy Eustace Conway thiếu trang bị đến nhường nào khi xử lý vấn đề tình cảm. Đương nhiên, tất cả chúng ta đều tìm kiếm những đặc điểm nào đó ở một người tình, nhưng với tôi danh sách này chẳng khác gì “phao” cho một bài kiểm tra mà đa số chúng ta không cần phải học. Đa số chúng ta không cần phải so sánh những phẩm chất của con người với một tờ giấy kiểm kê; khi yêu là chúng ta biết ngay. Nhưng Eustace không chắc anh có biết hay không. Anh có quá ít kỹ năng căn bản để đối mặt với những núi đồi và thung lũng và dạng thức thời tiết khó lường của tình yêu đích thực giữa những người trưởng thành vô cùng tốt đẹp và không hoàn mỹ. Như chính anh thừa nhận, anh đã bị tổn thương quá nhiều và quá nhạy cảm; và tôi thấy quả là một sự dũng cảm đáng kinh ngạc khi anh còn tiếp tục cố gắng mở lòng mình ra với người khác.

Những rắc rối này có thể đổ lỗi cho hình tượng nam nhi đầy tham vọng anh đã hấp thu từ văn hóa Mỹ hay hậu quả của tuổi thơ nhiều tổn thương của anh, tôi không rõ. Nhưng khi tôi thấy Eustace Conway dấn bước vào mảnh hoang vu của tình yêu, nắm chặt bản liệt kê đủ mọi đề mục đó, thì với tôi có vẻ như anh cực kỳ giống một anh chàng phố thị béo tốt vừa mua hết mọi thứ có ghi trong catalog của đại siêu thị Orvis để phục vụ cho một chuyến đi săn cuối tuần: nặng trĩu đồ đạc, thiếu kỹ năng, sợ hãi trối chết.

***

Một trong những hợp đồng biểu diễn thường xuyên của Eustace trong suốt nhiều năm qua là ở Merlefest, một liên hoan âm nhạc và nghệ thuật dân gian đã có từ lâu diễn ra vào mùa hè ở phía Tây Bắc Carolina. Giờ Eustace không còn đi đây đi đó và trò chuyện nhiều như trước nữa; anh thích ở nhà tại Đảo Rùa xa khỏi công chúng hơn. Nhưng hằng năm anh vẫn tới làm việc tại Merlefest, dựng lều vải trong khu vực tổ chức liên hoan và trò chuyện với mọi người về lối sống tự nhiên. Đó là một công việc tốt. Thù lao cao và thu hút được một đám đông háo hức, và Eustace được trải qua một kỳ cuối tuần nghe biểu diễn nhạc dân gian từ những vị anh hùng người Appalachia của anh như Doc Watson và Gillian Welch.

Mùa hè năm 2000 tôi tới Merlefest cùng với Eustace, và thấy, trong cách thức của anh trước công chúng, nỗi chán đời hơn bao giờ hết trong anh. Không đến nỗi là như thể anh đang gọi điện thoại trong khi biểu diễn trước mọi người, song anh chẳng còn là kẻ đầy nhiệt huyết như tôi vẫn nhớ tại các buổi nói chuyện những năm qua. Và trong suốt kỳ cuối tuần đó, không khó hiểu tại sao một người đàn ông lại có thể đánh mất nguồn khích lệ của mình như vậy khi đối diện thực tại của

Người ta đã cho Eustace biết rõ từ trước rằng anh sẽ chia sẻ sân khấu ở Merlefest với một người diễn thuyết hàng đầu khác, “một thủ lĩnh thổ dân chính cống từ Everglades thuộc bang Florida” tên là Thủ lĩnh Jim Billy. Trong nhiều tuần, Eustace có vẻ như đã căng thẳng và e sợ trước cuộc gặp gỡ này.

“Tôi biết rất nhiều thổ dân Mỹ và thường được đón tiếp rất vui vẻ,” anh giải thích. “Nhưng đôi khi các thổ dân có phản ứng tiêu cực với tôi, kiểu như, Gã da trắng sống trong lều vải này đang vờ vịt mình là ai vậy? Đặc biệt với những người bản xứ nhiễm chính trị, thoạt đầu họ thường thấy tôi thật chướng tai gai mắt. Tất nhiên tôi hiểu nỗi ngần ngại của họ, vì thế tôi luôn hơi e dè; cẩn thận để được tôn trọng hơn.”

Trong trường hợp này, anh không cần phải lo lắng. Thủ lĩnh Jim Billy hóa ra lại là một anh chàng cực kỳ thân thiện mặc quần jean xanh với nụ cười rộng mở và cái bắt tay nồng nhiệt của một doanh nhân thiên bẩm. Bộ tộc của anh ta vừa nhận được món quà lớn trời ban dưới dạng tiền lời đánh bạc, và vị thủ lĩnh này khoác cho mình dáng vẻ thư thái thỏa mãn của sự giàu sang no đủ. Tiết mục mà bây giờ anh ta làm chỉ để cho vui, vì anh ta không còn cần tiền nữa, là lên sân khấu để hát những bài hát theo cảm hứng từ “rock 'n' roll cho bọn trẻ” về tất cả những con thú lạnh lùng và đáng sợ cư trú dưới Everglades.

“Này các vị phụ huynh!” anh chàng cảnh báo giữa các bài hát. “Đừng để con cái các bạn vào rừng một mình, vì sâu trong đó có những con thú sẽ cắn các bạn! Cắn các bạn ấy à? Ôi chao, dưới Everglades, chúng sẽ ăn thịt các bạn!”

Khi tiết mục của anh ta kết thúc, Thủ lĩnh Jim Billy ngồi vào hàng ghế khán giả và chăm chú lắng nghe những trình bày nghiêm trang và lôi cuốn của Eustace về cách sống hòa hợp với tự nhiên. Eustace cho khán giả thấy cách bện thừng bằng cỏ và bằng tóc của chính họ, và trưng ra những cái giỏ và quần áo mà anh đã làm từ nguyên liệu tự nhiên. Sau chương trình, Thủ lĩnh Jim Billy cảm thấy cực ấn tượng, đi tới chỗ Eustace.

“Tôi sẽ nói vài lời với anh, anh bạn,” anh ta nói, ôm lấy Eustace. “Anh rất vĩ đại. Còn những thứ anh biết cách làm? Cũng rất vĩ đại. Anh cần phải xuống Florida để dạy dân tộc tôi tất cả những điều này bởi vì giờ đây không ai dưới đó biết cách làm những thứ này nữa. Anh cò thổ dân hơn bất kỳ ai trong chúng tôi! Chúa ơi, thứ duy nhất người trong bộ tộc tôi biết cách làm là lấy vé máy bay đi Miami tắm nắng! Tôi đùa chút đấy thôi, bạn thân mến. Nhưng nghiêm túc nhé, anh nên xuống dưới đó mà gặp gỡ chúng tôi trên vùng đất của thổ dân. Hiện nay chúng tôi đang hoạt động rất tốt. Chúng tôi thực hiện một hành trình ngắn đi xuyên thẳng qua khu đầm lầy dành cho khách du lịch, và khách du lịch chắc chắn sẽ rất thích được gặp anh. Anh có thể là một sức hút thực sự lớn, bởi vì những người khách đó đang tìm kiếm cái gì đó chân xác, cái gì đó đích thực, và đó là thứ anh có. Chúng tôi cố gắng cho họ một trải nghiệm về sự chân xác trên hành trình qua đầm lầy của chúng tôi, nhưng chúng tôi cũng thích pha thêm giải trí. Chúng tôi cho một chàng trai mặc đồ bằng lông màu đen chạy trên bờ dọc theo con thuyền, nhảy bổ vào người ta. Để tôi nói với anh, anh sẽ thích mê cho mà xem. Bất cứ khi nào muốn xuống thăm, cứ gọi cho tôi nhé. Tôi sẽ chăm sóc anh, đãi anh như một ông hoàng. Anh có điện thoại ở trong rừng sâu đấy chứ, Tarzan? Tốt. Gọi cho tôi. Nghiêm túc đấy. Tôi sẽ đón anh lên máy bay của tôi, đưa anh xuống đó chơi cuối tuần. Tôi có máy bay phản lực riêng, một chiếc G-4 rất tuyệt. Nó thậm chí còn có toilet bên trong! Anh sẽ thích cho mà xem!”

Rồi Thủ lĩnh Billy ôm Eustace lần nữa và nhẹ nhàng trao danh thiếp cho anh.

“Tất cả những gì anh cần biết về tôi đều ở trên tấm danh thiếp này,” vị Thủ lĩnh ưa giao du của người Seminole nói với Eustace Conway. “Điện thoại bàn, di động, máy nhắn tin, mọi thứ. Gọi cho tôi bất cứ lúc nào, anh bạn. Anh thật phi thường.”

Cùng nhau, Eustace và tôi lặng lẽ rời khỏi khu vực sân khấu và quay trở lại lều vải trưng bày của anh, cái lều dựng ở lưng chừng quãng đường, đối diện các gian hàng bán đồ ăn nhanh. Khi chúng tôi tới, có hai cậu bé chín tuổi đang chơi trong đó, những chiếc xe đạp bẩn lem nhem dựa vào nắp thông khói, và chúng gần như chặn đường Eustace khi anh xuất hiện.

“Bọn cháu nghe bảo chú có thể dạy bọn cháu cách đánh lửa,” một đứa nói. Một đứa có mái tóc đen, người nhỏ hơn so với tuổi; đứa kia mập mạp tóc vàng, mặc cái áo phông có chữ EARTHDAY.

Để chiều lòng hai cậu nhóc, Eustace lấy hai cái que và giải thích cho hai đứa rằng “cây giữ lửa. Cây thu nhận lửa từ mặt trời. Trong mỗi cái cây là một chút mặt trời mà ta có thể giải phóng bằng năng lượng của chính ta.” Eustace cọ hai cái que vào nhau cho đến khi anh có được một đốm lửa sáng rực, anh thả đốm lửa đó vào giữa cái tổ vỏ cây khô nhỏ xíu nằm gọn trong bàn tay anh. “Cái chúng ta có ở đây là một đốm lửa chớm nở, một mẩu lửa mới nhen. Nếu chúng ta không đối đãi tử tế với nó và tiếp cho nó thức ăn ngon lành là ôxy thì nó sẽ tắt.” Anh khuyến khích cậu bé tóc đen thổi nhẹ vào mẩu vỏ cây, và, như có ma thuật, bỗng nhiên xuất hiện một ngọn lửa. Cậu bé sướng rơn. Rồi trong lều vải chợt có tiếng kêu ầm ĩ của thiết bị điện tử. Cậu bé mập mạp mặc chiếc áo EARTHDAY rút bộ đàm từ túi sau ra.

“Gì ạ?” cậu hét vào ống nghe, cực kỳ bực dọc.

“Con đang ở đâu, Justin? Hết,” giọng một người phụ nữ phát ra.

“Con đang ở trong lều vải mẹ ạ!” Justin hét lại. “Hết!”

“Mẹ không nghe thấy gì cả, Justin. Con đang ở đâu, Justin?” chiếc bộ đàm đáp lại. “Hết.”

Justin trợn mắt hét lên, “Con nói con đang ở trong lều, mẹ! Hết! lều vải ấy? Lều vải. Mẹ? Nghe chưa mẹ? Hết!”

Tôi bước ra ngoài, tránh xa tiếng la hét om sòm đó, thầm nghĩ Eustace sẽ còn bao nhiêu công việc trước mặt nếu anh thực sự định cứu nền văn hóa này. Bên ngoài lều vải, tôi thấy một vị trung niên mặc áo vải flanen đang thích thú nhìn khắp lượt công trình của Eustace. Chúng tôi bắt đầu trò chuyện.

“Tôi là Dan,” ông bảo tôi. “Năm nào tôi cũng từ Michigan tới Merlefest và luôn cố tìm Eustace. Tôi thích nghe anh ấy nói về cuộc đời của anh ấy. Nó vô cùng cuốn hút tôi, tuy nhiên nó cũng khiến tôi thấy ghen tị. Có Chúa chứng giám, nếu có thể thì tôi đã chuyển vào rừng ngay lập tức rồi. Nhưng tôi không thể. Hiện giờ tôi phải chu cấp cho năm đứa con ăn học. Tôi có một công việc tốt ở tập đoàn Sarah Lee, tôi phải trả tiền trợ cấp cho vợ cũ, và tôi không biết bằng cách nào tôi có thể rời bỏ sự an toàn tài chính và bảo hiểm sức khỏe để sống như Eustace, nhưng tôi cầu Chúa mình có thể. Tôi nghĩ về điều đó hằng năm mỗi khi đến đây, mỗi khi tôi gặp anh ấy. Anh ấy rất thuyết phục, cô biết không? Và nhìn xem anh ấy khỏe mạnh biết bao khi sống theo cách thức tự nhiên như thế. Khác hẳn với chúng ta.ói đến đây, Dan mỉm cười với vẻ lúng túng đáng yêu và vỗ vỗ lên cái bụng béo tròn của mình. Ông tiếp tục. “Eustace lúc nào cũng bảo kiểu như, bạn có thể làm được, bạn có thể làm được. Nhưng tôi không biết bằng cách nào tôi có thể làm được thế. Chúng tôi vừa xây một ngôi nhà lớn, cô biết không? Nó chứa vô kể đồ đạc, tôi thậm chí chẳng biết chúng từ đâu tới. Thề có Chúa, tôi không hiểu làm sao đột nhiên chúng tôi lại sở hữu tất cả những thứ đồ đạc này. Đôi khi tôi nhìn ngôi nhà mình mà ước gì tôi có thể đốt nó ra tro, bỏ mọi thứ mà đi, bắt đầu lại ở một nơi nào khác với hai bàn tay trắng. Sống một cuộc sống giản tiện ở ngoài rừng, rời xa khỏi thế giới này. Cô có hiểu cảm giác đó chút nào không? Cô từng có khao khát đó bao giờ chưa? Cô có từng muốn biến mất khỏi mặt đất này không?”

“Tất nhiên rồi,” tôi đáp. “Ai ai cũng có khao khát đó.”

“Ngoại trừ Eustace Conway, tôi cá đấy.”

“Đừng cá vụ đó, Dan.”

***

Tất cả những điều này nghĩa là, sắp bước sang tuổi bốn mươi, Eustace phải thừa nhận thực sự anh chưa tạo được sự thay đổi trong thế giới của chúng ta như thời còn trẻ anh từng hy vọng. (Nói cho đúng thì, như anh từng chắc chắn mình sẽ tạo ra được.) Mơ ước tuổi hai mươi của anh rằng từng làn sóng thị dân sẽ nô nức đi theo anh vào rừng thẳm đã không bao giờ thành hiện thực. Thế giới đâu vẫn hoàn đó, có khi còn tệ hơn.

Nhìn lại hai thập kỷ, anh bảo tôi, “Thật lòng tôi đã tin tôi có thể thay đổi mọi thứ. Cảm giác của tôi là Cứ trao nước Mỹ vào tay tôi; để tôi đón nhận nó; chính bản thân tôi sẽ sửa chữa nó! Tôi nghĩ tất cả những gì mà điều này đòi hỏi là niềm tin sắt đá và làm việc cật lực, tôi biết tôi có thể làm việc cật lực hơn bất kỳ ai. Tôi không nghĩ toàn bộ đất nước này sẽ ào ạt quay trở lại với một lối sống gần gũi với tự nhiên hơn, nhưng tôi dự tính khoảng sáu chục hoặc cả trăm người sẽ tới Đảo Rùa mỗi năm rồi sau đó đưa những bài học của họ ra với cộng đồng, và thông điệp ấy sẽ trải rộng như những gạn sóng lăn tăn trên mặt hồ và ảnh hưởng đó sẽ không ngừng lan xa mãi. Nhưng bây giờ thì tôi biết tạo ra được một thay đổi đáng kể ở đất nước này gian khó đến thế nào nếu ta chẳng phải tổng thống hay một thượng nghị sĩ có tiếng và nếu ta không có nguồn lực n ngoài sinh lực của bản thân. Làm sao một người có thể tạo ra một sự khác biệt? Điều đó bất khả, điều đó phi thực và, quan trọng hơn, nó cực kỳ mệt mỏi.”

Và nỗi ám ảnh của nước Mỹ về đất đai bị tàn phá vẫn tiếp diễn, nhanh hơn và có tác động lớn hơn bao giờ hết. Eustace vui mừng khi thấy nhận thức về môi trường ấy, một thời từng được coi là khái niệm cấp tiến và quá khích, giờ đây “phổ biến như pop và hip vậy.” Tuy nhiên, anh không thể thấy một cơn tái sốt nho nhỏ có gì tương xứng với xung lực mãnh liệt của công nghiệp, sự quá tải dân số và sự bảo vệ quá khích quyền lợi người tiêu dùng vốn đang định hình nền văn hóa của chúng ta. Có thể sau một trăm năm nữa Đảo Rùa sẽ đúng như Eustace từng tưởng tượng về nó: “Một cái bát nhỏ xíu giữa lòng trái đất, nguyên vẹn và tự nhiên, bủa vây bởi vỉa hè và đường cao tốc. Mọi người sẽ trèo lên những đỉnh núi xung quanh Đảo Rùa mà ghé nhìn vào trong, và họ có thể sẽ thấy một hình mẫu nguyên sơ xanh bát ngát cho hình ảnh toàn bộ thế giới trước đây.”

Có lẽ điều đó đúng. Có lẽ điều Eustace đang làm thông qua việc cứu mảnh rừng Appalachia nhỏ bé này cũng giống y như điều những thầy tu thời Trung cổ từng làm thông qua sao chép lại tất cả các thư tịch cổ. Trong một thời đại tăm tối, khi người ta không coi trọng kiến thức, anh kiên trì bảo tồn thứ gì đó nhỏ bé nhưng quý giá là bởi hy vọng rằng một thế hệ tương lai được khai minh hơn sẽ thấy biết ơn khi có nó. Có lẽ đó là tất cả những gì anh đang làm.

Người ta thường nói với Eustace, “Chỉ cần ảnh hưởng tới một cuộc đời là ta vừa có một tác động lên thế giới!” Nhưng Eustace không bao giờ thỏa mãn với điều đó. Mục đích của anh là thay đổi chính vận mệnh của nhân loại, và anh không bao giờ bằng lòng với thành tựu xoàng xĩnh khi thỉnh thoảng tình cờ ảnh hưởng tới một cuộc đời ngẫu nhiên nào đó. Bây giờ đôi khi anh vẫn vô tình gặp những người lạ bảo với anh, “Anh là Eustace Conway! Tôi vẫn nhớ anh! Anh đã diễn thuyết ở trường trung học của tôi mười lăm năm trước! Anh thật phi thường! Anh đã làm thay đổi cuộc đời tôi.”

Lúc đó, Eustace sẽ vô cùng phấn khởi, cho tới khi người đó giải thích rõ chuyện này. “Đúng thế đấy, từ khi nghe anh diễn thuyết, tôi không để vòi nước chảy không trong khi đánh răng nữa. Tôi đang bảo vệ tài nguyên.”

Eustace chỉ có thể cười ầm lên, úp hai bàn tay lên mặt và lắc đầu quầy quậy. Những lần như thế anh sẽ bảo với tôi, “Đừng có hiểu lầm tôi nhé. Tôi muốn nói với những người đó, này, tôi rất vui vì bạn không để nước chảy trong khi đánh răng. Thật đấy, vui lắm. Đó là một cách rất hay để bảo vệ một tài nguyên quý giá và điều đó khiến tôi thực sự mừng. Nhưng bạn biết sao không? Về đại thể thì tôi có những kế hoạch lớn hơn cho các bạn.”

Eustace cũng đã đánh mất ý niệm hồi còn trẻ rằng anh có thể dạy dỗ bất kỳ ai cách sống ở trong rừng. Khi còn trẻ, anh không bao giờ nghĩ tới chuyện từ chối một người đến xin học việc ở Đảo Rùa. Anh không bao giờ tin là có một ai trên đất nước này không thể thông thạo cuộc sống gần gũi thiên nhiên hơn nếu được đào tạo chút ít. Nhưng giờ đây anh cẩn trọng hơn, chọn lọc hơn. Anh không còn chủ động chào mời người từng ngồi tù và những kẻ nghiện ma túy vừa mới cai và những cô cậu mới lớn bất mãn bỏ nhà đi bụi, bởi vì có những người như thế ở đây sẽ dẫn đến xói mòn trật tự.

Anh cũng thấy việc chính thức hóa hơn nữa chương trình học việc là rất có ích. Chương trình đó xưa nay vốn lỏng lẻo, được chăng hay chớ. Về căn bản, tất cả những gì một cậu trai hay cô gái phải làm là trình diện ở Đảo Rùa và bày tỏ phần nào niềm say mê háo hức, thế rồi Eustace sẽ chấp thuận thanh niên đó, chỉ đòi hỏi một điều là người học việc ấy phải hứa làm việc chăm chỉ và duy trì thái độ tích cực trong suốt thời gian ở lại. Tuy nhiên ngày nay Eustace kiểm tra lý lịch tất cả những người học việc tiềm năng thông qua một quá trình xin học khá khắt khe đòi hỏi phải có hồ sơ cá nhân, giấy giới thiệu, thông tin lý lịch, và một bài tiểu luận. Hơn nữa, mệt mỏi với Hiệu ứng Roi da Eustace Conway vốn đã làm tiêu hao nhuệ khí lực lượng lao động của anh, giờ đây Eustace phát bản ghi nhớ này (được đặt nhan đề đơn giản là “Về vấn đề: Quan hệ với Eustace”) tới mọi ứng viên:

“Xin đừng hy vọng phát triển một mối quan hệ thân thiết với Eustace hoặc cảm thấy thất vọng bởi bất cứ điều gì khác ngoài với một ông chủ trong công việc, người chỉ huy và người lãnh đạo trong tình bằng hữu. Mọi người luôn bị lôi cuốn bởi bản tính ấm áp và hào sảng của Eustace nên thường muốn có một mối quan hệ mang nhiều tính cá nhân hơn so với được mong đợi ở đây, hoặc hơn mức mà Eustace cảm thấy dễ chịu khi cho phép. Nhiều người học việc đã rất thất vọng khi họ không đạt được mối quan hệ xã hội đủ sâu sắc với Eustace. Eustace rất thoải mái dành thêm thời gian cho bạn ở một mức độ mà hai người đồng thuận dựa trên kỳ vọng của đôi bên. Mối quan hệ được xác định rõ ràng này là mối quan hệ giữa một chỉ huy và những người tới học về công việc, phương pháp và nhu cầu của một trang trại đồng thời cũng là một trung tâm giáo dục

Gần đây, Eustace đã phải chịu đựng những nỗi thất vọng quá ư não nề về nhân viên của mình tới mức anh đang tính bỏ hẳn chương trình học việc. Mùa xuân năm nay, hai trong số những người học việc của anh đã bỏ đi sau khi phục vụ mới được sáu tháng bản hợp đồng kéo dài một năm của họ, từ bỏ Đảo Rùa với những lời oán than quen thuộc rằng công việc quá cực nhọc, họ có khúc mắc với sự chỉ đạo của Eustace, trải nghiệm này không phải là những gì họ mong đợi, và họ “cần đi theo niềm hạnh phúc của bản thân” cho dù điều đó đồng nghĩa với việc không tôn trọng lời cam kết của họ.

“Chẳng lẽ ngày nay việc ký vào bản giao ước không có chút ý nghĩa gì với bất kỳ ai nữa sao?” Eustace băn khoăn thắc mắc. “Phải chăng tôi thật ngây thơ khi cứ giữ cái lối nghĩ cổ lỗ rằng con người ta nên làm việc mà họ bảo họ sẽ làm? Sao đám thanh niên ấy có thể bỏ đi sau sáu tháng mà chẳng buồn bận tâm rằng họ đã hứa lưu lại một năm? Họ chẳng hề có ý thức gì về mối ràng buộc mà tôi đã tự đặt mình vào, hay về chuyện chắc hẳn tôi đã lên nhiều kế hoạch dựa trên lời cam kết của họ. Họ sớm bỏ dở chương trình và mặc xác tôi trong tuyệt vọng. Và tại sao chuyện này cứ tái diễn liên miên hết lần này tới lần khác cơ chứ?”

Eustace tan nát cả lòng khi mất hai thanh niên này không chỉ bởi quá trình họ lưu lại Đảo Rùa đã lại đi theo cái lối mòn quen thuộc (niềm hy vọng say mê nối tiếp bằng sự vỡ mộng cay đắng) mà còn bởi một trong số họ, một cô gái rất đỗi thành thạo và đáng tin cậy tên Jennifer, vốn được Eustace đánh giá có khả năng là nhân viên xuất sắc nhất anh từng có. Với tiềm năng của bản thân, cô thậm chí còn cạnh tranh được với Christian Kaltrider huyền thoại. Cô rất thông minh, chuyên tâm, không bao giờ ca thán, và cam kết nghiêm túc học tập cách làm nông thời nguyên thủy. Cô sinh trưởng ở miền núi và đã mang đến Đảo Rùa những kỹ năng mà đến cả Eustace cũng chưa có. Anh tin cậy cô đủ để trao cho cô quyền quản lý khu vườn của Đảo Rùa (một hành động anh làm để thể hiện lòng tin cậy mà không hề cảm thấy khổ sở; chủ yếu anh coi đây là một trải nghiệm của bản thân để xem liệu mình có thể chấp nhận được chuyện từ bỏ quyền điều khiển hay không). Và Jennifer đã làm cho khu vườn tươi tốt sum suê, ngay trong lúc đó cô vẫn học cách chăm sóc ngựa và xây dựng công trình. Cô hoàn hảo, nên Eustace ngày càng trân trọng và tin cậy cô. Thế mà giờ đây cô đã bỏ ra đi.

“Tìm nghĩa của từ đoạn trường trong từ điển thì cô sẽ thấy hình ảnh của tôi bên cạnh cái từ ấy,” Eustace gọi cho tôi một tuần sau khi Jennifer bỏ đi. “Sau khi cô ấy ra đi tôi ngã lòng quá đến độ nằm liệt giường hai ngày trời. Nếu một người như Jennifer không thể ở đây tròn một năm thì còn ai có thể? Tôi đang giỡn mặt ai? Sao tôi phải làm thế? Đảo Rùa sinh ra để làm gì, nếu như mọi chuyện luôn kết thúc cùng một cách như vậy? Tôi tưới máu mình lên chốn này để mang lại lợi ích cho những người khác, nhưng điều đó chẳng giúp được gì, những người mà tôi đang dành cho điều ấy cứ liên tục bỏ đi và thất bại. Chưa bao giờ tôi mấp mé ý định đầu hàng đến như lúc này. Tôi đã tưởng tượng tới chuyện treo một tấm biển nhỏ ngoài cổng có đề: Đảo Rùa đóng cửa. Đi đi. Tất nhiên là tôi sẽ không làm thế. Mà cũng có thể tôi sẽ làm. Tôi không biết nữa...”

Và thế là, bởi quy luật tất yếu đầy khắc nghiệt, khi tuổi tác càng cao thì Eustace càng thu hẹp dần mộng tưởng, sàng lọc bớt một số ý tưởng thời trai trẻ, từ bỏ nhiều giấc mơ táo bạo nhất của bản thân. Những khát vọng gần đây nhất của anh khiêm tốn đến bất ngờ. Hiện nay anh không nhận thêm người học việc mới nào nữa mà tập trung sức lực vào tổ chức một chương trình cưỡi ngựa tại Đảo Rùa. Anh đã đăng quảng cáo trên báo chí ở Boone, mời mọi người lên vùng đất của anh thực hiện hành trình trong ngày dạo quanh các khu rừng. Anh hy vọng rằng khoản tiền anh kiếm được nhờ cho mọi người cưỡi ngựa sẽ giúp cầm cự phí tổn nuôi giữ tất cả những con ngựa đáng yêu của mình. Và đây sẽ là một sự tương tác giữa người với người đơn giản đến độ mát lòng mát dạ: khách hàng thanh toán, Eustace cung cấp một dịch vụ đơn giản chứ không cố thuyết phục bất kỳ ai vào rừng sống cùng anh, và cứ cuối ngày là mọi người lại trở về nhà trong mãn nguyện.

OK, giờ đây anh nghĩ, có lẽ mình chẳng thể thay đổi được thế giới. Có lẽ tầm ảnh hưởng của Eustace sẽ hạn chế hơn, tác động tới những nhóm nhỏ và những cá nhân riêng lẻ - những người kiểu như những vị lái ô tô mà anh đã vẫy tay chào từ trên lưng ngựa trong hành trình Kỵ sĩ Đường trường, những trẻ mẫu giáo mà anh vùi đến tận cổ dưới lá cây trong rừng, những tay buôn ma túy trong Công viên Quảng trường Tompkins mà sau khi anh đi rồi vẫn không thôi ngẫm nghĩ về câu chuyện lạ lùng rằng một người có thể làm quần áo cho chính mình từ những chất liệu của trái đất này...

Hoặc xét đến những trại viên trẻ - những người mà một hôm khi đang khám phá Đảo Rùa thì phát hiện ra một con đập vốn là tổ của hải ly và được các tư vấn viên khuyến khích bơi vào trong con đập xuyên qua những đường hầm của hải ly cho tới khi họ tới bên trong chỗ ở của hải ly - ấm áp, khô ráo, thiêng liêng và ẩn mật. Suốt cả thế kỷ này có bao nhiêu cậu bé từng vào trong tổ của hải ly? Sự kiện đó chắc hẳn đã gửi một dư chấn khôn lường qua tâm thức của những cậu bé ấy. Đối với Eustace Conway, với mộng tưởng của một nhà kiến trúc vĩ đại về việc biến đổi nước Mỹ, sự kiện đó có lẽ dường như không có gì to tát. Nhưng trong cái thời đại của sự thỏa hiệp không suy nghĩ đang ngày càng gia tăng này, ngay cả sự ám thị mờ nhạt nhất rằng chúng ta có thể nhìn thế giới này từ một góc nhìn khác dù chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi cũng đã là nhiều lắm rồi. Và có lẽ sự kiện ấy chẳng làm nức lòng Eustace, nhưng có thể nó lại là tất cả những gì anh đạt được. Xét cho cùng, là một người thầy. Và như bao người thầy khác, anh phải chấp nhận thực tế là qua mấy thập kỷ chỉ một số học trò của anh sẽ thực sự chịu tác động từ một ít bài học.

Lấy ví dụ, trước đây từng có một cậu thanh niên tên là Dave Reckford.

Cậu sinh trưởng ở vùng ven Chicago, một cậu bé ngoại ô có cha là bác sĩ và người mẹ thể hiện khuynh hướng có phần lập dị của bà thông qua việc gửi cậu con trai tới các trường học của người Quaker và cho cậu ăn thực phẩm được nuôi trồng bằng chất hữu cơ. Khi tập đoàn Caterpillar Tractor đóng cửa nhà máy ở Illinois, quê nhà của Dave từ một mảnh đất phát triển thành ra nghèo túng, thế là bố mẹ cậu chuyển tới Bắc Carolina, ở đó Dave được gửi vào một trường tư thục xa hoa đầy những đứa trẻ thuộc những gia tộc kỳ cựu nhất miền Nam. Thế rồi cuộc đời cậu đảo lộn hoàn toàn. Bố Dave phải lòng một người đàn bà khác và ly hôn. Gia đình cậu tan tành hỗn loạn. Cuối cùng thì những mảnh vỡ tan tành ấy cũng trật tự trở lại. Sau mấy năm đau khổ, mẹ cậu xốc lại được tinh thần và kết hôn với một người đàn ông giàu có tốt bụng, nhưng chẳng hiểu sao Dave đã rớt lại phía sau trong tất cả chuyện này. Cậu mới mười ba tuổi nên đã bị chấn thương tâm lý. Đau buồn sâu sắc. Và tìm kiếm.

Mấy năm sau, một sơn nhân thời hiện đại tên là Eustace Conway tới dạy một khóa học về tự nhiên tại ngôi trường tư nơi Dave Reckford theo học. “Anh ấy mặc toàn đồ làm từ da hoẵng,” Dave nhớ lại, “mùi người anh ấy hơi kinh. Thế rồi với cái lối trầm lặng của mình, anh ấy bắt đầu trình bày về lều vải và ống xì đồng cũng như cuộc đời của anh trong rừng hoang. Tôi chết mê chết mệt. Anh ấy nói về chuyện đi vệ sinh ở trong rừng. Anh ấy bảo ngồi xổm đi vệ sinh là cách thức tự nhiên, còn ngồi trên bồn cầu sẽ áp đặt một trạng thái căng thẳng thiếu tự nhiên lên các cơ quan tiêu hóa, và chúng tôi đã bị sốc - cả lớp tôi toàn bọn thiếu niên thượng lưu miền Nam. Chúng tôi chưa bao giờ nghe điều gì như thế. Và anh ấy nói, 'Thực tình, khi phải đi vệ sinh ở một nơi chỉ có bồn cầu thì tôi cứ thế nhảy lên chỗ ngồi và ngồi xổm trên đó như thế này,' nói đoạn anh ấy nhảy lên bàn để ngồi xổm cho chúng tôi thấy. Anh ấy cười vang và chúng tôi cũng phá lên cười, và chẳng hiểu sao anh ấy đã khiến cho mọi điều dường như ổn cả và hết sức thú vị mà không khiến chúng tôi thấy sợ hãi.”

Về sau, Eustace bắt đầu nói chuyện với Dave, và vì cảm hiểu được mức độ tuyệt vọng trong lòng cậu bé này, anh mời cậu tới thăm Đảo Rùa. Dave đồng ý ngay, và lái chiếc “Mercedes hai chỗ ngồi của cậu nhóc nhà giàu” lên chơi một tuần. Chuyện này xảy ra vào những năm ban sơ nhất của Đảo Rùa. Khi đó nơi ấy còn chưa có gì nhiều, chỉ có mỗi cái lều vải của Eustace. Anh chưa phát quang một mảnh đất nào và cũng chưa hề có gia súc. Tất cả vẫn còn nguyên sơ. Khi Dave xuất hiện, Eustace đang ngồi bên lều vải, nói chuyện “với một cô gái thật là đẹp. Anh ấy bảo tôi làm ơn tránh mặt trong khoảng nửa giờ để anh có thể ở riêng với cô gái này trong lều vải, và rồi anh trườn về phía cô để - rõ ràng rồi - làm tình. Tôi cực kỳ kinh ngạc vì tính công khai trong chuyện tình dục của anh. Cuối cùng anh ra khỏi lều vải và cô gái ra về, thế rồi anh bắt đầu dạy tôi. Thứ đầu tiên anh chỉ cho tôi là thảm than trong lò sưởi tròn. Anh giải thích rằng nếu ta luôn giữ ấm lớp than dưới đáy thì lúc nào ta cũng có sẵn lửa mà không cần phải nhóm lửa mới.”

Rồi anh cho Dave làm công việc xây dựng lại khu lò trong xưởng rèn. Sau đó, họ bắt đầu đào móng cho kho cụ Eustace đang xây. Anh dạy Dave cách làm ván lợp mái, đây “thực sự là một công việc nặng nhọc, phải dùng búa tạ.” Và thế là, ngày này qua ngày khác, toàn công việc tay vất vả, trong khi Dave là một cậu bé chưa bao giờ trải nghiệm điều gì như thế.

“Đó không phải điều tôi đã mong đợi,” Dave nói, “từ người thầy như thiền sư, nói năng nhẹ nhàng, chiến binh thầm lặng mà tôi tưởng mình đã theo lên vùng núi này. Anh ta là một chủ nô. Anh ta tàn bạo và bị ám ảnh với tiểu tiết; công việc nặng nhọc khiến tôi phát khóc và lưng tôi muốn gãy luôn. Quá khủng khiếp, ngày nào tôi cũng sợ mình sẽ không sống sót nổi. Nhưng hằng đêm, tôi nằm ngủ cạnh Eustace trong lều vải trên những tấm thảm da thú bên bếp lửa ấm nồng, đó là giấc ngủ ngon lành và an toàn nhất tôi từng có từ hồi tôi còn nhỏ. Anh ấy làm cho tôi thức ăn rất tuyệt và lắng nghe tôi kể chuyện gia đình. Tôi không nghĩ về sau còn có ai đạt được kiểu gần gũi này với Eustace Conway nữa, tuy nhiên đó là những năm trước khi anh ấy có người học việc và trại viên khắp nơi nơi cùng với tất cả trách nhiệm cộng đồng. Anh ấy hai mươi bảy tuổi còn tôi là một cậu bé không cha, nhưng dù sao được ở bên một người đàn ông trưởng thành muốn nói chuyện với mình và dạy dỗ mình mọi điều quả là một trải nghiệm sâu sắc.

Eustace sử dụng thời gian của mình với Dave để cố gắng làm cho cậu bé hiểu bản chất triết học nền tảng của anh, triết học này tập trung vào sự chú tâm. Eustace nói với Dave, ta không cách nào có được một cuộc sống cho ra con người nếu ta không tỉnh giấc từng giây từng phút. Trình diện cho cuộc đời của chính ta, anh nói. Đừng có sống qua ngày trong trạng thái ngơ ngác, đừng có bằng lòng nuốt lấy bất cứ ý niệm nhạt nhẽo nào xã hội hiện đại có thể mớm cho ta thông qua truyền thông, hài lòng với việc ngủ vùi cả đời trong một niềm hưng phấn thỏa mãn thoáng chốc. Món quà kỳ diệu nhất ta vừa được trao cho là nhân tính của chính ta, nhân tính ấy là ý thức, vậy nên hãy tôn vinh ý thức ấy.

Hãy kính trọng các giác quan của ta; đừng có làm thoái hóa chúng bằng ma túy, nỗi tuyệt vọng, bằng sự quên lãng có chủ ý. Mỗi ngày hãy cố gắng để ý điều gì đó mới mẻ, Eustace nói. Chú tâm tới ngay cả những chi tiết thường nhật xoàng xĩnh nhất. Ngay cả khi cậu không ở trong rừng thì cũng phải luôn tỉnh giấc. Để ý xem thức ăn có vị thế nào; để ý dãy hàng bột giặt trong siêu thị có mùi ra sao và nhận ra những thứ mùi hóa học rất nặng đó gây tác động gì tới các giác quan của ta; để ý xem đi chân đất có cảm giác thế nào; chú ý từng ngày tới những thông hiểu cần cho sự sống mà sự định tâm có thể mang lại. Và quan tâm tới tất cả mọi thứ, tới từng thứ một hiện hữu - cơ thể, trí tuệ, tinh thần, hàng xóm láng giềng và hành tinh này. Đừng làm ô nhiễm tâm hồn ta bằng sự thờ ơ hay làm tổn hại sức khỏe ta bằng thức ăn nhanh, bằng không một ngày nào đó ta sẽ chủ ý làm vẩn đục một dòng sông trong vắt bằng chất thải công nghiệp. Có thể ta sẽ chẳng bao giờ trở thành con người chân chính nếu cứ có thái độ tiêu cực và vô tâm, Eustace nói, trái lại sự trưởng thành sẽ nối gót ý thức chú tâm như ngày nối đêm.

Eustace kể cho Dave nghe nhiều câu chuyện bi hài lẫn lộn về một số những cậu bé Mỹ từng tới thăm Đảo Rùa, bọn họ mù tịt về môi trường tự nhiên tới mức họ thực sự không có ý niệm là thấy mưa thì phải chạy vào nhà. Khi cơn bão ập đến, những cậu trai ấy sẽ cứ đứng đó trong cơn mưa như trút, ngu độn chẳng khác gì một đàn cừu no căng rốn không thể nghĩ ra rằng chúng nên vác xác vào nơi ẩn náu. Hay chuyện Eustace từng thấy một cậu bé giẫm phải tổ ong vò vẽ và rồi cứ đứng như trời trồng, bối rối ngơ khi đàn ong bu xung quanh mình. Cậu bé đó rõ ràng không thể nghĩ ra mình nên ra khỏi tình huống này cho đến khi Eustace hét lên, “Chạy đi!”

Tỉnh giác, Eustace nói (cười lớn trước sự đơn giản vô cùng của điều đó), rồi thì bạn sẽ thành công trong thế giới này. Khi trời mưa, hãy tìm chỗ trú! Khi ong vò vẽ bủa vây, chạy! Chỉ thông qua sự chú ý thường trực ta mới có thể trở nên tự lập. Chỉ thông qua sự tự lập ta mới có thể hiểu được bản thân. Và chỉ thông qua hiểu rõ bản thân ta mới có thể đặt ra những câu hỏi mấu chốt cho cuộc đời mình: Tôi sinh ra để hoàn thành điều gì, và bằng cách nào tôi có thể làm được điều đó?

Tuy nhiên điều Dave nhớ nhất về tuần đó là trải nghiệm làm thay đổi nhận thức, gần như mang tính tôn giáo, khi quan sát Eustace xây hàng rào.

“Xây hàng rào ở trên đây, trong lớp đất đầy đá sỏi này là công việc vô cùng cực nhọc. Đầu tiên ta phải đóng vào lòng đất cây cột sắt này, nện nó xuống bằng búa tạ để tạo một cái hố cho cây cọc gỗ bồ kết đen óng. Có lần tôi suýt chút nữa thì chặt đứt chân mình khi đang cố làm việc này. Sau đó ta cắm cây cọc gỗ bồ kết đen óng đó vào trong hố rồi quai cái búa tạ nặng trịch lên để khoan sâu nó vào lòng đất. Làm xong một hàng sáu cây cọc này thì thề có Chúa là tôi gần chết. Tôi không thể miêu tả nổi công việc đó cực nhọc cỡ nào. Tôi sụp xuống đất và cảm thấy tim mình sắp vỡ tung. Thế rồi Eustace làm tiếp giúp tôi; và trong khi tôi đang cố thở đều thì anh đã đóng xong cây cọc thứ hai mươi mà chẳng hề ngừng nghỉ lấy một lần, thậm chí còn chẳng hề thở dốc.

“Tôi đã học tập từ anh trong khi anh đang làm việc. Làm sao anh ấy có thể làm việc này? Anh ấy không to lớn mà cũng chẳng cơ bắp bằng tôi. Tôi là một vận động viên thể thao ba môn phối hợp và tôi rất đô con, thế mà tôi không thể làm được việc ấy. Cánh tay anh ấy rất gầy. Sao nó có thể làm việc nhỉ? Nhưng khi quan sát anh, tôi nhận ra anh có một mối quan hệ tự nhiên mật thiết với dụng cụ của mình. Khi quai cái búa tạ ấy, anh không chỉ sử dụng cánh tay; anh quai nó bằng một cử động tuyệt đối tiết kiệm sức, sử dụng toàn bộ cơ thể. Đôi hông giúp anh nhấc bổng cái búa tạ lên, và rồi anh ngửa người ra sau và dồn tất cả sức đẩy tới vào cú bổ búa. Hình ảnh đó quả là đẹp. Đó là sự tập trung toàn bộ thể chất vào một công việc. Chẳng khác gì đang xem khiêu vũ. Màn khiêu vũ của người lao động chân tay. Và tôi biết đó là lý do tại sao Eustace có thể làm mọi việc nhanh hơn và tốt hơn những người khác, tất cả nhờ vào sự tập trung tuyệt đối, mãnh liệt và uyển chuyển đó.”

Dave nhớ có một hôm khác khi đang quan sát Eustace đóng đinh vào gỗ - nhanh thoăn thoắt, nhịp nhàng và hoàn hảo - thì cậu hỏi, “Làm thế nào mà anh có thể chẳng bao giờ đóng trượt cái đinh?”

“Bởi vì từ rất lâu rồi tôi đã khắc cốt ghi tâm rằng mình sẽ không bao giờ đóng trượt đinh,” Eustace trả lời. “Thế nên tôi không bao giờ đóng trượt.”

Cuối cùng nhịp độ chóng mặt trong công việc ở Đảo Rùa đã trở thành nỗi kinh hoàng khủng khiếp cho cơ thể tới mức cậu gục ngã. Mười một tiếng quần quật mỗi ngày khiến cậu đổ bệnh. Thấy thế, Eustace nghỉ làm một ngày để lái xe đưa Dave xuống thành phố. “Hãy đi chơi một chuyến cho vui vẻ,” anh nói vui vẻ. Anh đưa cậu bé vào quán bar và gọi cho cậu một vại bia - cốc bia đầu tiên trong đời cậu. Eustace cười đùa với người pha rượu và không hề đả động tới những công việc bị bỏ lại phía sau. Đêm đó trên đường quay lại núi, Dave sụp đổ, cậu nói với Eustace cậu không nghĩ mình có thể ở lại thêm một chút nào nữa.

“Tôi nói với anh ấy tôi muốn về nhà. Có lẽ khi ấy tôi đã khóc. Tôi nghĩ mình nhớ nhà, bởi vì lúc đó tôi chỉ là một đứa trẻ - Eustace rất bình tĩnh và ân cần. Chúng tôi ngồi xe tải của anh ấy, anh nói về cuộc đời và về những điều cần thiết để trở thành một người đàn ông. Anh truyền trí tuệ và lòng tốt sang tôi, coi trọng tôi ở cái tuổi mà chưa ai coi trọng tôi. Anh nói với tôi rằng một trong những lý do con người quá bất hạnh là họ không độc thoại. Anh bảo con người ta phải duy trì một cuộc trò chuyện song hành với bản thân suốt cuộc đời để xem mình đang sống ra sao, để duy trì sự tập trung, để giữ gìn người bạn là chính ta. Anh nói với tôi rằng lúc nào anh cũng trò chuyện với bản thân, và điều đó giúp anh trở nên mạnh mẽ và hoàn thiện hơn lên từng ngày. Anh gợi ý một số quyển sách tôi nên đọc. Rồi anh ôm tôi.”

Mười lăm năm sau, mỗi khi nhắc đến phần này trong câu chuyện, Dave Reckford vẫn không thể không rưng rưng nước mắt.

“Nghe này,” cậu bảo, “đó là một cái ôm đích thực, lâu và mạnh mẽ. Đó là một cái ôm ghì thắm thiết. Đó là lần đầu tiên có một người đàn ông ôm tôi, và cái ôm ấy dường như đã chữa lành cái gì đó trong tôi vẫn đầy tổn thương và cô độc. Anh bảo tôi là tôi được tự do về nhà và anh chúc tôi may mắn. Nhưng anh cũng bảo tôi là tôi được tự do quay trở lại và ở với anh trên Đảo Rùa bất cứ lúc nào tôi muốn, bởi vì tôi đã làm việc rất giỏi và bởi vì tôi là người tốt. Thế rồi tôi trở về nhà, nhưng khi về đến đó, tôi nhận ra rằng một điều gì đó đã thay đổi trong tôi. Và cả phần đời còn lại của tôi cũng thay đổi.”

Mọi người trong gia đình Dave Reckford đều là luật sư, bác sĩ, doanh nhân hoặc nhà ngoại giao. Đó là điều được mong đợi, con đường đi của gia tộc này. Nhưng hóa ra đó lại không phải con đường của Dave. Hiện nay, Dave ba mươi tuổi, anh đã đi lang thang khắp nơi để tìm chỗ đứng của mình. Anh nghiên cứu lịch sử và âm nhạc. Anh thử viết lách. Anh chu du tới Cuba, châu Âu và khắp nơi trên nước Mỹ, anh thậm chí còn nhập ngũ, cố gắng nghĩ xem nên đứng vào đâu trong khoảng thời gian ngắn ngủi của anh trên trái đất này.

Mới đây, rốt cuộc anh đã dừng chân. Anh đã giải đáp được. Anh đề nghị người phụ nữ trông nom các khu vườn của bố mẹ anh nhận anh làm người học việc. Bà đồng ý. Thế là giờ đây Dave Reckford đã trở thành con người mà xưa nay anh vẫn tin mình định trở thành: một người làm vườn. Anh chăm sóc cây cỏ. Suốt ngày anh nghĩ về đất đai, ánh sáng và sự sinh trưởng. Đó là một mối quan hệ bình dị nhưng anh được nó đền đáp. Anh cố gắng nhận biết cây cối cần gì và làm sao giúp chúng. Anh cố gắng cẩn trọng và chính xác trong từng chuyển động, cố gắng trân trọng công việc của mình. Lúc nào anh cũng nói chuyện với bản thân, giữ liên lạc với bản chất cá nhân con người anh. Và từng ngày một trong đời mình, anh luôn nghĩ về sự hoàn hảo của tập trung và về nét duyên dáng lạ thường trong lao động của con người.

Điều đó có nghĩa là, từng ngày một trong đời mình, anh nghĩ về Eustace Conway.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 16.03.2018, 14:36
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35423
Được thanks: 5254 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tâm lý XH] Người đàn ông Mỹ cuối cùng - Elizabeth Gilbert - Điểm: 10
Phần Kết


Bạn không thể giải quyết nó. Bạn không thể vứt bỏ nó đi.

Tôi chẳng biết bạn định làm gì với nó, nhưng tôi biết mình sẽ làm gì với nó. Đơn giản là tôi sẽ bỏ nó ra đi. Có thể một phần nhỏ của nó sẽ chết nếu tôi không ở bên chăm sóc cho nó nữa.

- Lew Welch

Tiểu sử của Eustace Conway chính là lịch sử phát triển của con người trên lục địa Bắc Mỹ này.

Đầu tiên, anh ngủ trên mặt đất và mặc đồ da thú. Anh đánh lửa bằng que củi và ăn những gì có thể săn bắn hái lượm. Khi đói, anh ném đá vào chim chóc và phóng tên vào thỏ và đào rễ củ từ lòng đất, và thế là anh sống sót. Anh đan giỏ từ thân cây cối trong lãnh thổ của mình. Anh là dân du cư; anh chỉ đi bộ. Rồi anh chuyển vào sống trong lều vải và trở thành kẻ bẫy thú tinh vi hơn. Anh đánh lửa bằng đá lửa và thép. Khi thành thạo việc này rồi, anh dùng diêm. Anh bắt đầu mặc đồ len. Anh không ở lều vải nữa mà chuyển vào sống trong nhà gỗ đơn sơ. Anh trở thành nông dân, phát quang đất đai và trồng vườn. Anh kiếm được gia súc. Anh mở lối vào rừng, lối đi ấy trở thành đường mòn rồi thành đường cái. Anh hoàn thiện đường cái bằng những cây cầu. Anh mặc vải bò.

Ban đầu anh là thổ dân da đỏ, sau đó trở thành nhà thám hiểm, rồi thành người khai hoang. Anh xây cho mình căn nhà gỗ và trở thành người định cư thực thụ. Là con người mang mộng tưởng về xã hội không tưởng, giờ đây anh duy trì cuộc đời mình với niềm hy vọng rằng những người có cùng chí hướng như anh sẽ mua đất quanh Đảo Rùa và nuôi nấng gia đình mình như anh sẽ nuôi nấng gia đình của chính anh một ngày nào đó. Những người hàng xóm ấy sẽ canh tác trên đất đai của họ với máy móc sử dụng sức kéo gia súc, đến giúp đỡ nhau vào đúng vụ mùa, tham gia bữa tiệc nhảy nhót vui vẻ của nhau, và họ sẽ cưỡi ngựa sang nhà nhau để trao đổi hàng hóa.

Chừng nào tất cả điều này xảy ra, Eustace sẽ trở thành một người làng. Đó là điều anh muốn - xây dựng một thị trấn. Và khi tất cả đã đâu ra đó, anh sẽ xây ngôi nhà mơ ước của mình. Anh sẽ rời căn nhà gỗ mà chuyển vào sống trong một ngôi nhà xa hoa rộng thênh thang đầy các phòng thay đồ khổng lồ và trang thiết bị và con cái đề huề và đủ thứ. Và cuối cùng anh sẽ bắt kịp thời đại mình. Tới lúc đó, Eustace Conway sẽ là hình mẫu của một người Mỹ hiện đại.

Anh biến đổi liên tục trước mắt chúng ta. Anh cải tiến và mở rộng rồi lại cải tiến và mở rộng bởi vì anh thông minh và tháo vát tới mức không dừng được. Anh không muốn nghỉ ngơi vui thú với những gì anh đã biết rõ cách làm; anh phải không ngừng tiến lên. Anh không dừng lại được. Và chúng ta cũng không dừng lại được. Con người chúng ta trên lục địa này xưa nay vẫn không dừng lại được. Tất cả chúng ta đều tiến lên, như de Tocqueville từng nhận xét, “giống như một dòng lũ người, cứ cuồn cuộn dâng lên không hề suy giảm, và tiến lên phía trước từng ngày dưới bàn tay điều khiển của Thượng đế.” Chúng ta vắt kiệt sức mình và mọi người khác. Chúng ta vắt kiệt nguồn lực - cả tự nhiên lẫn nội tâm - và Eustace chỉ là đại diện rõ ràng nhất cho tình trạng khẩn cấp của chúng ta.

Tôi nhớ có một buổi cuối chiều, tôi cùng anh lái xe trở lại Đảo Rùa sau khi tới thăm Trại Sequoyah, đế chế cũ xưa của ông ngoại anh. Chúng tôi sắp về đến nhà, đang đi qua Boone, và dừng lại tại một đường giao. Bỗng nhiên Eustace quay ngoắt đầu lại hỏi, “Hai ngày trước, hôm chúng ta đi Asheville, tòa nhà kia đã ở đó chưa?”

Anh chỉ vào khung của một tòa nhà văn phòng nhỏ mới. Chưa, hai ngày trước tôi không thấy nó ở đó. Nhưng trông có vẻ như nó sắp hoàn thiện rồi. Chỉ cần lắp cửa sổ vào nữa thôi. Một tốp thợ xây đang rời khỏi công trường vào cuối ngày.

“Không thể thế được,” Eustace nói. “Chẳng lẽ họ xây được một ngôi nhà nhanh đến thế sao?”

“Tôi không biết nữa,” tôi nói, thầm nghĩ anh phải biết rõ hơn ai hết. “Tôi nghĩ họ làm được đấy.”

Anh thở dài. “Đất nước này…” anh than.

Nhưng Eustace Conway là đất nước này. Và, từ thực tế đó, sẽ còn lại cái gì? Sẽ còn lại gì sau tất cả hoạt động này? Đó là câu hỏi Walt Whitman từng đặt ra. Ông nhìn khắp lượt nhịp độ thần tốc của đời sống Mỹ, sự phát triển công nghiệp, sự ồn ào gồng mình trong tham vọng của đồng bào mình, và tự hỏi, “Sau khi ta đã vắt kiệt những gì có trong buôn bán, chính trị, tiệc tùng... - nhận ra rằng rốt cuộc chẳng thứ gì trong số này làm ta thỏa mãn, hay tồn tại lâu bền vĩnh cửu - sẽ còn lại cái gì?”

Và như mọi khi, nhà thơ già Walt đáng mến đưa ra cho chúng ta một câu trả lời: “Còn lại tự nhiên.”

Đó cũng là thứ còn lại cho Eustace. Tuy nhiên, giống như tất cả chúng ta (và đây là điều trớ trêu nhất của anh), Eustace không có nhiều thời gian như anh ao ước để tụng ca thế giới

Đúng như anh nói với tôi qua điện thoại vào một đêm đông, “Tuần này trên Đảo Rùa chúng tôi có một cơn bão tuyết. Một người bạn lên thăm có bảo, ‘Này Eustace, cậu đã làm việc vất vả quá đấy. Cậu nên nghỉ tay ra ngoài nặn người tuyết. Đã bao giờ nghĩ đến điều đó chưa?’ Ôi trời ơi, tất nhiên là tôi đã từng nghĩ đến điều đó chứ. Buổi sáng hôm ấy chỉ cần bước một bước chân ra khỏi cửa là tôi đã có thể thấy lớp tuyết tuyệt vời để làm người tuyết. Tôi đã tưởng tượng sẵn người tuyết mà tôi sẽ đắp, nếu thật sự phải đắp. Tôi nhanh chóng phân tích độ đặc của tuyết và quyết định chính xác chỗ đặt người tuyết để trưng bày đẹp nhất, chính xác nó to cỡ nào, và tôi có thể tìm mẩu than làm đôi mắt ở đâu trong xưởng rèn của mình. Tôi tưởng tượng ra mọi chi tiết của người tuyết đến tận cái mũi làm bằng củ cà rốt, với cái mũi này tôi phải nghĩ trong một giây: Bọn mình có còn đủ cà rốt dự trữ để mình có thể thửa một củ cho người tuyết này không? Sau khi thôi chơi người tuyết mình có thể lấy lại củ cà rốt để cho vào món hầm kẻo phí phạm không? Hay là một con thú nào đó sẽ chén mất củ cà rốt trước rồi? Tôi suy nghĩ lướt qua tất cả điều này trong khoảng năm giây, ước tính xem mình phải bỏ ra bao nhiêu thì giờ trong một ngày bận rộn để đắp người tuyết ấy, tôi cân nhắc thấy thời lượng đó tỉ lệ nghịch với mức độ niềm vui mà việc đắp người tuyết sẽ mang đến cho tôi - và quyết định không làm.”

Thật quá đáng buồn, bởi vì anh thực sự thích được ở bên ngoài kia và biết đâu anh đã có được nhiều niềm vui từ người tuyết hơn bản thân anh có thể ước lượng một cách logic. Bởi vì anh thực sự yêu thiên nhiên, bất chấp mọi cam kết và nghĩa vụ của anh. Anh yêu mọi thứ thuộc về thiên nhiên - cái bao la của rừng; đốm nắng xuyên xuống qua một tấm mái thiên nhiên tươi tốt; vẻ đẹp của các từ bồ kết, bu lô, hoàng dương... Hơn cả tình yêu, anh cần thiên nhiên. Như ông ngoại của Eustace từng viết, “Khi trí óc mệt mỏi hay tâm thần bất an, chúng ta hãy đi vào rừng để hít vào đầy ắp phổi làn không khí được tắm gội trong mưa và thanh lọc trong nắng, để đong đầy trái tim ta vẻ đẹp của cây cối, hoa lá, pha lê, đá quý.”

Người đàn ông tốt nhất mà Eustace có thể làm là người đàn ông mà anh trở thành khi một mình trong rừng thẳm. Đó là lý do tại sao lần nào lên Đảo Rùa tôi cũng lôi anh ra khỏi phòng làm việc và bắt anh đưa đi dạo. Mặc dù nói chung anh không có thời gian cho việc này, tôi buộc anh phải làm, bởi vì chưa đi được mười bước vào rừng là anh đã thao thao, “Đây là hương phong thảo. Cô có thể dùng cái thân rỗng của nó làm ống hút để uống nước ẩn nơi những viên đá cuội nằm trong lòng suối cạn quá nên có thể ta không dùng miệng uống được.”

Hoặc, “Đây là hoa huệ đốm tím, loài hoa này rất giống hoa huệ đốm da cam, chỉ có điều trông lạ mắt hơn. Nó cực hiếm đấy. Tôi ngờ là chỉ có năm cây hoa này trên toàn bộ một nghìn mẫu đất Đảo Rùa.”

Hoặc, khi tôi phàn nàn vì chạm phải cây thường xuân độc, anh sẽ đưa tôi xuống suối mà bảo, “Cùng đi đến hiệu thuốc của tôi nào.” Anh nhổ mấy cây bóng nước rồi bẻ thân để lấy nhựa bên trong, phết thứ thuốc mỡ đó lên cổ tay nổi mẩn của tôi, và đột nhiên cảm giác dễ chịu hẳn.

Tôi yêu thích khi Eustace ở trong rừng bởi vì anh yêu bản thân khi ở trong rừng. Đơn giản là thế. Đó là lý do tại sao một hôm khi chúng tôi đang đi dạo, tôi bỗng nhiên nói với anh, “Cho phép tôi giới thiệu một khái niệm mới mẻ đột phá được chứ, thưa ngài?”

Eustace cười phá lên. “Cho phép.”

“Đã có khi nào anh băn khoăn tự hỏi,” tôi hỏi, “liệu anh có thể làm lợi cho thế giới này nhiều hơn bằng cách thực sự sống cuộc đời mà anh luôn vẽ ra? Ý tôi là, chẳng phải tất cả chúng ta ở đây là vì điều đó hay sao? Chẳng phải mỗi người chúng ta đều có bổn phận cố gắng sống cuộc sống trung thực và sáng suốt nhất có thể có hay sao? Và khi hành động của chúng ta mâu thuẫn với giá trị của chúng ta, chẳng phải chúng ta vừa phá hoại mọi thứ thậm chí còn mạnh tay hơn à?”

Tôi ngưng lại ở đây và chờ lãnh một cú đấm. Nhưng Eustace không nói gì, thế nên tôi tiếp tục.

“Anh luôn nói với chúng tôi rằng chúng tôi có thể hạnh phúc chừng nào chúng tôi sống trong rừng. Nhưng khi mọi người lên đây ở với anh, rốt cuộc họ toàn thấy căng thẳng và thất vọng vì có quá nhiều người xung quanh và ngập đầu trách nhiệm. Thế nên đương nhiên họ không hấp thu được bài học, Eustace. Họ nghe thông điệp của anh nhưng lại không thể cảm nhận thông điệp ấy, và đó là lý do vì sao nó không hữu ích. Đã bao giờ anh tự hỏi điều đó chưa?”

“Tôi tự hỏi điều đó thường xuyên liên tục!” Eustace bùng nổ. “Tôi nhận thức rõ mười mươi chuyện đó! Mỗi khi vào dạy trong các trường, tôi đều nói với mọi người, ‘Nghe này các bạn, tôi không phải người duy nhất còn lại trên đất nước này nỗ lực sống cuộc đời gắn bó với thiên nhiên rừng thẳm, nhưng các bạn sẽ không bao giờ gặp được tất cả mấy gã kia đâu, bởi vì họ không sẵn sàng.’ Còn tôi thì sẵn sàng. Đó là sự khác biệt ở tôi. Tôi luôn chuẩn bị tinh thần sẵn sàng, ngay cả khi điều đó gây tổn hại đến cách sống tôi muốn. Khi ra với công chúng, tôi cẩn trọng cố gắng thể hiện như một anh chàng hoang dã vừa từ trên núi xuống, và tôi nhận ra rằng phần lớn đó là một sự giả vờ giả vịt. Tôi biết tôi là một người quảng cáo. Tôi biết tôi trình ra trước thiên hạ cái hình ảnh mà tôi ước đang sống thật. Nhưng tôi có thể làm gì khác chứ? Tôi phải khoác lên bộ mặt vờ vĩnh đó vì lợi ích của mọi người.”

“Tôi không chắc lắm là chuyện đó giúp ích chúng tôi, Eustace.”

“Nhưng nếu tôi sống cuộc đời lặng lẽ và đơn giản mình hằng muốn thì ai sẽ thấy nó? Ai sẽ có động lực để thay đổi? Chỉ hàng xóm láng giềng mới thấy tôi. Tôi sẽ chỉ tác động tới được chừng bốn mươi người, trong khi tôi muốn tác động tới khoảng bốn trăm ngàn người. Cô thấy tình thế tiến thoái lưỡng nan đó chưa? Cô thấy cuộc đấu tranh của tôi chưa? Tôi phải làm gì đây?”

“Cố gắng sống thanh thản lấy một lần thì sao?”

“Nhưng điều đó có nghĩa gì?” giờ thì Eustace hét lên, cười to và hoàn toàn đầu hàng. “Điều đó có nghĩa gì cơ chứ?”

***

Tất nhiên, câu hỏi của tôi đó không phải để mà trả lời. Tất cả những gì tôi có thể nói có chút chắc chắn là khi nào người đàn ông này có vẻ thanh thản nhất. Và đó thường không phải là khi anh đuổi người học việc hay khi nói chuyện điện thoại sáu giờ liên tục mặc cả với luật sư thuế, ban giám hiệu các trường, phóng viên báo chí và công ty bảo hiểm. Anh có vẻ thanh thản nhất là khi anh đang trải nghiệm mối liên hệ riêng tư nhất và mật thiết nhất với rừng hoang. Khi ở ngay bên trong rạp hát kỳ diệu của tự nhiên chính là khi anh đến gần hạnh phúc nhất. Khi anh - ở mức tối đa con người có thể đạt được trong thời hiện đại này - sống trong sự giao cảm với những gì còn sót lại từ vùng biên của chúng ta, đó là lúc anh tới điểm gần gũi đó

Đôi khi tôi may mắn được thoáng nhìn vào phần tuyệt vời nhất này trong con người Eustace Conway vào những khoảnh khắc lạ lùng nhất. Đôi khi chỉ là khoảnh khắc ấy tìm đến anh. Có một buổi đêm khi chúng tôi đang lái xe về từ Asheville, lái xe đi trong im lặng. Tâm trạng Eustace thật yên tĩnh, chúng tôi đang lắng nghe nhạc Appalachia xưa, chìm đắm trong giọng hát u buồn bằng âm mũi kể về những người đàn ông lam lũ đã mất đi trang trại của mình và những người phụ nữ nhọc nhằn có chồng xuống núi vào làm trong mỏ than rồi chẳng bao giờ về nữa. Lúc đó trời mưa lâm thâm, và khi chúng tôi chuyển từ siêu đại lộ sang đường cao tốc sang con đường hai làn rải đá dăm sang dải đường đất trên ngọn núi của anh, và mưa thưa hạt bớt, ngay khi đó mặt trời dần lặn xuống. Chúng tôi xóc nảy trườn lên phía Đảo Rùa dưới bóng tối của những thung lũng dốc lau lách um tùm.

Bất thình lình, một gia đình nhà nai từ rừng nhảy ra lao lên con đường trước mặt chúng tôi. Eustace đạp phanh. Con nai cái và đàn con vọt sang bên khuất vào bóng tối, nhưng con nai đực đứng yên, nhìn chăm chăm vào đèn pha của chúng tôi. Eustace bấm còi. Con nai đực cứ đứng yên. Eustace nhảy ra khỏi xe và quát to vào màn đêm ẩm ướt để đuổi con nai quay vào rừng, nhưng con nai vẫn đứng nguyên tại chỗ.

“Mày đẹp quá, người anh em!” Eustace hét lên với con nai.

Con nai nhìn anh chăm chú. Eustace cười vang. Anh vo nắm tay khua loạn giữa không. Anh gào thét như một con thú. Một lần nữa, Eustace hét lên với con nai đực, “Mày đẹp quá! Mày cừ lắm! Tuyệt bỏ xừ!”

Eustace cười mãi. Con nai đực vẫn bám đất, không nhúc nhích.

Và rồi Eustace cũng thôi không nhúc nhích nữa, bị mê mẩn đến tạm thời tê liệt. Một lúc lâu, anh cứ đứng lặng im bất động - tôi chưa bao giờ thấy anh như vậy - và chỉ được chiếu rọi bởi luồng sáng mờ tỏa ra từ đèn ô tô, nhìn chằm chằm con nai đực. Không ai động đậy hay hít thở. Cuối cùng, Eustace vỡ òa trước, anh lại thoi nắm đấm lên không trung và vận hết sức hét vào màn đêm:

“Tao yêu mày! Mày đẹp quá! Tao yêu mày! Tao yêu mày! Tao yêu mày!”


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 16.03.2018, 14:37
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35423
Được thanks: 5254 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tâm lý XH] Người đàn ông Mỹ cuối cùng - Elizabeth Gilbert - Điểm: 10
Lời cảm ơn


Tôi xin được cảm ơn gia đình Conway kiệt xuất về sự cởi mở và tình mến khách trong suốt công trình này, và đặc biệt là Eustace Conway vì anh đã dũng cảm cho phép tôi được tự do thực hiện tác phẩm.

Thật vinh hạnh khi được biết cả gia đình, và tôi đã cố gắng vinh danh mọi người ở đây.

***

Có rất nhiều người trong cuộc đời của Eustace - cả quá khứ lẫn hiện tại - đã hào phóng dành thời gian giúp tôi trình bày sáng rõ những ý tưởng đằng sau cuốn sách này. Vì sự rộng lượng của họ khi cho phép tôi phỏng vấn liên tục, tôi xin đa tạ Donna Henry, Christian Kaltrider, Shannon Nunn, Valarie Spratlin, CuChullaine O’Reilly, Lorraine Johnson, Randy Cable, Steve French, Carolyn Hauck, Carla Gover, Barbara Locklear, Hoy Maretz, Nathan và Holly Roarke, gia đình Hicks, Jack Bibbo, Don Bruton, Matt Niemas, Siegal Kiewe, Warren Kimsey, Alan Stout, Ed Bumann, Pop Hollingsworth, Patience Harrison, Dave Reckford, Scott Taylor, Ashley Clutter và Candice Covington. Và một lời cảm ơn đặc biệt dành cho Kathleen và Preston Roberts, không chỉ bởi hai bạn thật lịch thiệp và đáng mến mà còn bởi hai bạn đã cho Eustace và tôi ngồi trên hiên nhà để uống bia và bắn súng suốt đêm dài. (“Trước nay tớ chưa bao giờ nổ súng khi say đâu đấy,” Eustace nói, và Preston hét lên, “Thế mà cậu tự gọi mình là người miền Nam sao?”)

Tôi vô cùng biết ơn các tác giả của rất nhiều cuốn sách văn học và lịch sử đã soi lối cho nỗ lực này. Trong số đó, tôi tìm thấy cảm hứng trong các cuốn tiểu sử Daniel Boone của John Mack Faragher, tiểu sử Kit Carson của David Roberts, tiểu sử Davy Crockett của James Atkins Shatford, tiểu sử về thời trẻ của Teddy Roosevelt của David McCullough, bản phân tích về những người thế hệ Beat sống trong rừng hoang của Rod Phillips, và câu chuyện cảm động của Stephen Ambrose về hành trình tới Thái Bình Dương của Lewis và Clark.

Ai muốn đọc thêm về các xã hội không tưởng Mỹ thì nên tìm cuốn bách khoa thư của Timothy Miller nhan đề The 60's Communes: Hippies and Beyond, và bất kỳ ai yêu thích một cuốn sách thú vị bất ngờ viết về những xã hội không tưởng Mỹ thì nên lùng một bản tác phẩm ark Halloway nhan đề Heavens on Earth: Utopian Communities in America, 1680-1880. Các con số thống kê được đưa ra trong chương bảy về sự suy yếu của phái mạnh lấy từ cuốn The Decline of Males của Lionel Tiger. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới R. W. B. Lewis vì nghiên cứu thông thái của ông The American Adam, tới Richard Slotkin vì tác phẩm thông thái không kém của ông The Fatal Environment. Và lòng biết ơn vô cùng (cùng sự thán phục bấy lâu) của tôi xin được gửi tới ông Doug Brinkley, một thư viện sống, vì đã khuyên tôi đọc tất cả những cuốn sách này.

Tôi cũng xin cảm ơn hiệu sách của công ty Powell ở thành phố Portland, bang Oregon, vì trong khi tôi đang tìm kiếm những cuốn sách viết về ấn tượng của du khách châu Âu đến Mỹ vào thế kỷ mười chín thì nơi đây có nguyên một giá sách dán nhãn “Ấn tượng của du khách châu Âu đến Mỹ vào thế kỷ mười chín”. Trên khắp nước Mỹ không có hiệu sách nào tốt hơn, và chuyện này chứng minh điều đó.

Tôi thật may mắn khi có những người bạn tuyệt vời đồng thời cũng là những độc giả và biên tập viên xuất sắc. Vì sự giúp đỡ và hỗ trợ quý báu của họ trong việc biên tập lại rất nhiều bản nháp của cuốn sách này, tôi xin cảm ơn David Cashion, Reggie Ollen, Andrew Corsello, John Morse, John Gilbert, Susan Bowen (Mỹ nữ Georgia đọc sách siêu tốc) và John Hodgman. Tôi xin cảm ơn John Platter, người đã tìm thấy sức lực để đọc bản nháp đầu tiên của cuốn sách này trong những ngày cuối đời; cứ mỗi khi ra hộp thư tôi lại cảm thấy nhớ nhung da diết khi nhận ra rằng mình sẽ không bao giờ nhận được một lá thư nào từ ông nữa.

Tôi xin cảm ơn Kassie Evashevski, Sarah Chalfant, Paul Slovak, và Frances Apt rất ư đặc biệt vì sự dìu dắt vững vàng của họ. Xin cảm ơn Art Cooper ở tạp chí GQ vì bốn năm trước đã đặt lòng tin khi tôi nói, “Hãy tin tôi - bà chỉ cần cho tôi viết tiểu sử về anh chàng này là được.” Xin cảm ơn Michael Cooper vì đã nói từ rất lâu, khi tôi còn hồ nghi chuyện viết cuốn sách này, “Chẳng phải mắc sai lầm khi làm một việc gì đó vẫn hơn là mắc sai lầm khi không làm việc ấy hay sao?” Một lần nữa, xin cảm ơn chị gái Catherine của em vì sự thông tuệ phi thường của chị về lịch sử nước Mỹ và vì sự ủng hộ kiên định của chị. Một lần nữa, xin cảm ơn người bạn thân yêu Deborah vì đã luôn sẵn sàng hai tư tiếng mỗi ngày để truyền đạt những hiểu biết sâu rộng về tâm lý người. Cuốn sách này quả thực sẽ giống như một mớ ý tưởng khô khan nếu không có sự khởi nguồn cảm hứng của hai người phụ nữ kỳ diệu ấy.

Có gom hết mọi lời cảm tạ trên thế giới này cũng chẳng đủ để bày tỏ với Ucross Foundaì đã trao cho tôi 22.000 mẫu đất để được riêng tư giữa Wyoming trong suốt khoảng thời gian mà có lẽ rồi đây tôi sẽ nhớ đến như ba mươi ngày quan trọng nhất trong cuộc đời mình.

Và cuối cùng, có dùng hết mọi phương cách trên thế gian cũng chẳng đủ cho tôi nói điều này:

Tình Yêu Lớn.

HẾT.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 12 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 148, 149, 150

2 • [Hiện đại] Làm thế nào để ngừng nhớ anh - Mộng Tiêu Nhị

1 ... 34, 35, 36

3 • [Cổ đại] Kiêu Tế - Quả Mộc Tử

1 ... 46, 47, 48

4 • [Hiện đại] Cướp tình Tổng giám đốc ác ma rất dịu dàng - Nam Quan Yêu Yêu

1 ... 64, 65, 66

5 • [Xuyên không] Khi vật hi sinh trở thành nữ chính - Tư Mã Duệ Nhi

1 ... 28, 29, 30

6 • [Xuyên không] Cuộc sống nông thôn nhàn rỗi - Kẹo Vitamin C

1 ... 108, 109, 110

7 • [Xuyên không - Dị giới] Phế sài muốn nghịch thiên Ma Đế cuồng phi - Tiêu Thất Gia - New C882

1 ... 127, 128, 129

8 • [Xuyên không - Cổ xuyên hiện] Ảnh hậu đối mặt hàng ngày - Ngã Yêu Thành Tiên

1 ... 37, 38, 39

9 • [Xuyên không] Vương phi thần trộm Hưu phu lúc động phòng! - Thủy Mặc Thanh Yên

1 ... 82, 83, 84

10 • [Xuyên không] Trôi nổi trong lãnh cung Khuynh quốc khí hậu - Hoa Vô Tâm

1 ... 75, 76, 77

11 • [Hiện đại] Hôn nhân giá ngàn vàng - Cẩm Tố Lưu Niên (103/104]

1 ... 181, 182, 183

12 • [Hiện đại] Eo thon nhỏ - Khương Chi Ngư [NEW C65]

1 ... 23, 24, 25

13 • [Xuyên không] Hỉ doanh môn - Ý Thiên Trọng

1 ... 105, 106, 107

14 • [Cổ đại - Trùng sinh] Đích nữ nhà nghèo Bán phở heo

1 ... 8, 9, 10

15 • [Hiện đại] Xin chào Chu tiên sinh! Dạ Mạn

1 ... 27, 28, 29

[Cổ đại - Trùng sinh] Trọng sinh cao môn đích nữ - Tần Giản

1 ... 137, 138, 139

17 • [Hiện đại] Người cha nhặt được - Cát Tường Dạ

1 ... 26, 27, 28

18 • [Hiện đại Thanh mai trúc mã] Đều Tại Vầng Trăng Gây Họa - 11 Giờ Phải Ngủ

1 ... 40, 41, 42

19 • [Hiện đại] Cục cưng lật bàn Con là do mẹ trộm được? - Ninh Cẩn

1 ... 87, 88, 89

20 • [Hiện đại] Anh Trai VS Em Gái - Trà Trà Hảo Manh

1 ... 10, 11, 12


Thành viên nổi bật 
Aka
Aka
Puck
Puck
PhongLangTB
PhongLangTB
Nminhngoc1012
Nminhngoc1012
Cà Ri Bơ
Cà Ri Bơ
susublue
susublue

Công Tử Tuyết: Re: [Trắc Nghiệm] Bạn là ai trong truyện Đam mỹ ?
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 700 điểm để mua Hamster lêu lêu
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 665 điểm để mua Hamster lêu lêu
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 250 điểm để mua 3 quả cam
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 1995 điểm để mua Đá Peridot
Shop - Đấu giá: Eun vừa đặt giá 1899 điểm để mua Đá Peridot
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 728 điểm để mua Hộp quà Hamster
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 421 điểm để mua Cổ vũ
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 400 điểm để mua Cổ vũ
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 692 điểm để mua Hộp quà Hamster
Shop - Đấu giá: Snow cầm thú HD vừa đặt giá 789 điểm để mua Nữ thần rừng
Shop - Đấu giá: Phong_Nguyệt vừa đặt giá 751 điểm để mua Nữ thần rừng
Shop - Đấu giá: tieu_hao vừa đặt giá 649 điểm để mua Điện thoại HTC U11
Shop - Đấu giá: tieu_hao vừa đặt giá 550 điểm để mua Điện thoại Xiaomi Mi Mix 2
Shop - Đấu giá: tieu_hao vừa đặt giá 950 điểm để mua Điện thoại Samsung Galaxy Note 8
Shop - Đấu giá: tieu_hao vừa đặt giá 750 điểm để mua Điện thoại Samsung Galaxy S8
Shop - Đấu giá: tieu_hao vừa đặt giá 999 điểm để mua Điện thoại Iphone X
Shop - Đấu giá: tieu_hao vừa đặt giá 750 điểm để mua Điện thoại Sony Xperia Z5 Premium
Shop - Đấu giá: tieu_hao vừa đặt giá 450 điểm để mua Điện thoại Oppo F3 Plus
Shop - Đấu giá: tieu_hao vừa đặt giá 850 điểm để mua Điện thoại Samsung Galaxy S9
Shop - Đấu giá: tieu_hao vừa đặt giá 699 điểm để mua Điện thoại Iphone 8
Shop - Đấu giá: susublue vừa đặt giá 1807 điểm để mua Đá Peridot
Shop - Đấu giá: Snow cầm thú HD vừa đặt giá 714 điểm để mua Nữ thần rừng
Shop - Đấu giá: Phong_Nguyệt vừa đặt giá 679 điểm để mua Nữ thần rừng
Shop - Đấu giá: Snow cầm thú HD vừa đặt giá 645 điểm để mua Nữ thần rừng
Shop - Đấu giá: Aka vừa đặt giá 1720 điểm để mua Đá Peridot
Shop - Đấu giá: susublue vừa đặt giá 1370 điểm để mua Đá Peridot
Shop - Đấu giá: Aka vừa đặt giá 1303 điểm để mua Đá Peridot
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 658 điểm để mua Hộp quà Hamster
Shop - Đấu giá: Mẹ tớ là Thái Hậu vừa đặt giá 699 điểm để mua Điện thoại Iphone 8

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.