Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 17 bài ] 

Trên biển khơi, dưới đá thẳm - Susan Cooper

 
Có bài mới 02.03.2018, 16:14
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35105
Được thanks: 5242 lần
Điểm: 9.59
Tài sản riêng:
Có bài mới [Giả tưởng] Trên biển khơi, dưới đá thẳm (The dark is rising #1) - Susan Cooper - Điểm: 10
TRÊN BIỂN KHƠI, DƯỚI ĐÁ THẲM

images

Nguyên tác: Over Sea, Under Stone (The Dark Is Rising #1)
Tác giả: Susan Cooper
Dịch giả: Song Hạnh
Công ty phát hành: Nhã Nam
Nhà xuất bản: NXB Hội Nhà Văn
Trọng lượng vận chuyển: 380 grams
Kích thước: 13 x 20.5 cm
Số trang: 360 trang
Ngày xuất bản: 06/2007
Giá bìa: 50.000₫​
Nguồn: tve-4u.org
Type+Làm ebook: thanhbt​


Giới thiệu

Bởi một tấm bản đồ cũ nát giấu trong căn phòng bí mật của ngôi nhà cổ, Simon, Jane và Barney đã bất ngờ bị cuốn vào một cuộc phiêu lưu vừa đáng sợ vừa hứng thú. Bọn trẻ không ngờ có những kẻ xấu xa cũng đang thèm muốn chiếm lĩnh vật báu mà tấm bản đồ dẫn tới. Bởi cái ác trong hình vóc của Bóng tối đã trỗi dậy, và những đứa con nhà Drew vô tình đặt cuộc sống của chúng vào vòng nguy hiểm. Chén thánh thiêng liêng của vua Arthur huyền thoại chính là chiếc chìa khóa của cuộc truy tìm bí hiểm đó.

Trên biển khơi, dưới đá thẳm - tập truyện đầu tiên trong bộ truyện kỳ ảo cuốn hút Bóng tối trỗi dậy của Susan Cooper, một tượng đài trong nền văn học thiếu nhi thế giới thế kỷ XX.

“Susan Cooper là một trong số ít những nhà văn đương đại có một trí tưởng tượng mãnh liệt, khả năng kể chuyện và cái nhìn đạo lý cho phép bà sáng tạo ra một cuộc đối đầu lớn lao giữa cái thiện và cái ác, mô típ tâm điểm của mọi tác phẩm văn học kỳ ảo vĩ đại. Tolkien có điều đó, C.S.Lewis cũng vậy. Và Cooper là người tiếp bước họ.” - Psychology Today

“Một câu chuyện dẫn ta tới đỉnh điểm hưng phấn, ngập tràn những huyền thoại, bí ẩn và hàm ý ngụ ngôn.” - Horn Book

Tác giả

Susan Cooper được biết đến nhiều nhất với bộ tiểu thuyết kỳ ảo nổi tiếng Bóng tối trỗi dậy gồm năm tập: Trên biển khơi, dưới đá thẳm; Bóng tối trỗi dậy (sách đoạt Huy chương Newbery 1974); Phù thủy Xanh; Vua Xám (sách đoạt Giải Newbery 1976); và Bạc trên cây, ra mắt bạn đọc từ những năm 1960 và 1970, miêu tả cuộc giằng co giữa hai thế lực Thiện và Ác, hay Ánh sáng và Bóng tối. Bộ tiểu thuyết này dựa trên truyền thuyết về vua Arthur, được viết chủ yếu cho độc giả trẻ. Các tiểu thuyết khác dành cho độc giả trẻ của bà: Seaward (Về phía biển) và Dawn of Fear (Bình minh của sợ hãi). Bà cũng viết ba cuốn dành cho thiếu nhi: Thím bò Bạc, Cô gái Selkie và Tam Lin; cả ba đều do Warwick Hutton minh họa. Cộng tác với diễn viên Hume Cronyn, bà soạn vở kịch Foxfire (Lửa Cáo) cho sân khấu Broadway và - dành tặng Jane Fonda - bộ phim truyền hình Dollmaker (Người làm búp bê), cả hai đều giành được giải Humanitas 1985. Sinh ra tại Buckinghamshire, nước Anh, Susan Cooper đã chuyển sang Mỹ từ năm 1963 và hiện sống tại Cambridge, Massachusetts.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 02.03.2018, 16:34
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35105
Được thanks: 5242 lần
Điểm: 9.59
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Giả tưởng] Trên biển khơi, dưới đá thẳm (The dark is rising #1) - Susan Cooper - Điểm: 10
CHƯƠNG 1

“Ông ấy đâu nhỉ?”

Xuống khỏi tàu, Barney nhảy tưng tưng lo lắng, nhìn quanh đám đông những khuôn mặt trắng bệch đang lũ lượt đổ về phía thanh chắn soát vé của ga St. Austell. “Em chẳng thấy ông ấy đâu cả. Ông ấy có chờ ở đó không nhỉ?”

“Tất nhiên là ông ấy phải chờ ở đó chứ”, Simon nói, cố giữ chặt lấy cái bọc vải dài đựng cần câu cá của bố. “Ông ấy đã hứa sẽ đón nhà mình mà. Bằng ôtô hẳn hoi.”

Đằng sau họ, đầu tàu chạy bằng diesel rúc lên như một con cú khổng lồ, và cả đoàn tàu bắt đầu chuyển bánh.

“Các con ở nguyên tại chỗ một phút đi,” bố nói, tay khệ nệ xách một đống vali. “Ông Merry không biến mất đâu. Để mọi người đi bớt đã.”

Jane khịt khịt mũi vẻ sung sướng. “Em ngửi thấy mùi biển đấy!”

“Chúng ta còn cách biển cả tỉ dặm mà,” Simon nói vẻ trịch thượng.

“Em không biết. Rõ ràng em có ngửi thấy mùi biển.”

“Ông Merry đã nói là làngTrewissick cách sân ga St Austell năm dặm[1] cơ mà.”

“Ôi, ông ấy đâu?” Barney vẫn suốt ruột nhảy lò cò trên sân ga xám xịt đầy bụi, chăm chú nhìn vào những tấm lưng dần khuất đi cứ chắn mất tầm mắt nó. Rồi đột nhiên, nó đứng im, nhìn chằm chằm xuống dưới. “Ê - nhìn kìa.”

Chúng nhìn theo. Thằng bé đang tròn mắt ngó một cái vali lớn màu đen nằm giữa một rừng chân bước vội vã.

“Có gì hay ho đâu?” Jane hỏi.

Nhưng rồi chúng thấy chiếc vali có hai cái tai màu nâu vểnh lên và một cái đuôi nâu dài đang ve vẩy. Người chủ xách cái vali lên và đi khỏi, còn con chó đứng đằng sau vali bị bỏ lại chơ vơ một mình, nhìn quanh quẩn trên sân ga. Đó là một con chó mình dài, gầy nhẳng như chó hoang và ở những chỗ ánh nắng chiếu vào, bộ lông của nó ánh lên màu đỏ sẫm.

Barney huýt sáo và chìa tay ra.

“Không được đâu con,” mẹ nhắc, tay nắm chặt mấy cây chổi vẽ đang đâm tua tủa ra ngoài túi như túm cần tây.

Nhưng trước cả khi Barney huýt sáo, con chó đã bắt đầu lon ton chạy lại phía cả nhà, mau lẹ và cả quyết, cứ như thể nhận ra bạn cũ. Nó nhảy cẫng lên một vòng xung quanh họ, hếch cái mõm dài đo đỏ lên từng người, rồi dừng lại bên cạnh Jane và liếm tay cô bé.

“Nó đẹp đấy chứ?” Jane cúi xuống cạnh con chó và vuốt ve bộ lông dài mượt như nhung ở cổ nó.

“Con yêu, cẩn thận đấy,” mẹ nói. “Chúng ta sẽ phải để nó lại thôi. Có lẽ nó là của ai đó ở đằng kia.”

“Con ước gì nó là của nhà mình.”

“Nó cũng muốn thế đấy ạ,” Barney nói. “Nhìn này.”

Nó gãi gãi cái đầu màu đỏ hoe và con vật gừ gừ trong cổ họng vẻ thích thú.

“Không được,” bố nói.

Đám đông giờ đã thưa hơn, và qua thanh chắn, họ có thể nhìn thấy bầu trời xanh quang đãng phía trên sân ga.

“Tên nó ghi trên vòng cổ đây này,” Jane nói, em vẫn ngồi bên con chó. Em loay hoay mân mê miếng bạc trên cái đai nặng trịch. “Trên này ghi Rufus. À, còn nữa... Trewissick. Này, nó đến từ khu làng đấy!”

Nhưng khi em ngẩng đầu lên thì mọi người bỗng đã biến đâu mất hết. Em đứng bật dậy, chạy theo cả nhà vào khoảng nắng chan hòa, và trong chốc lát em nhìn thấy những gì mà cả nhà cũng vừa thấy: cái dáng cao cao quen thuộc của Ông Merry đang đứng ngoài sân ga đợi họ.

Họ ùa lại vây quanh ông, tranh nhau ríu rít như bầy sóc dưới gốc cây. “A, cả nhà đây rồi,” ông nói không chút khách sáo, nhìn họ từ dưới cặp lông mày bạc rậm rạp và nhoẻn miệng cười.

“Cornwall thật là tuyệt,” Barney nói, mừng quýnh cả lên.

“Cháu còn chưa được thấy đâu,” Ông Merry nói.

“Cháu có khỏe không, Ellen?” Ông cúi xuống và hôn nhẹ vào má mẹ. Luôn luôn là như vậy, ông đối với mẹ như thể ông quên mất mẹ đã là người lớn. Mặc dù ông không phải là chú ruột của mẹ mà chỉ là bạn của ông ngoại nhưng ông đã gần gũi với gia đình từ nhiều năm nay đến mức bây giờ họ cũng không còn nghĩ xem ban đầu ông từ đâu đến nữa.

Chẳng ai hiểu rõ về Ông Merry và cũng không ai dám hỏi bao giờ. Trông ông chẳng giống chút gì với tên gọi[2]. Dáng ông cao, thẳng, mái tóc dày, bạc phơ và bù xù. Trên khuôn mặt nâu nghiêm nghị là cái mũi khoằm hẳn xuống như cây cung bị bẻ cong và đôi mắt đen, sâu thẳm.

Chẳng ai biết ông bao nhiêu tuổi. Bố nói, “Ông già bằng núi đồi ấy,” và trong thâm tâm, mấy đứa nhỏ đều cảm thấy đúng. Ở Ông Merry có một cái gì đó, như những quả đồi, như biển hay bầu trời, cái gì đó rất cổ xưa, nhưng không hề có tuổi và bất tận.

Luôn luôn, hễ ông có mặt ở đâu thì những điều kỳ lạ xuất hiện ở đó. Ông thường biến mất một thời gian dài rồi đột nhiên bước qua ngưỡng cửa nhà Drew như thể ông chưa bao giờ đi xa, và thông báo rằng ông vừa mới tìm thấy một thung lũng bị lãng quên ở Nam Mỹ, một pháo đài La Mã ở Pháp hay một con tàu từ thời Viking bị cháy và đắm ở vùng biển nước Anh. Báo chí thường đăng nhiều câu chuyện hấp dẫn về những việc ông đã làm. Nhưng mỗi khi các phóng viên đến gõ cửa thì ông đã lại biến mất, quay về với sự yên bình ở ngôi trường đại học tĩnh mịch nơi ông dạy học. Cả nhà sẽ thức dậy vào một buổi sáng nào đó, gọi ông xuống ăn sáng và thấy ông đã không còn ở đó nữa. Và sau hàng mấy tháng trời họ chẳng nghe được tin tức gì về ông, thì lại thấy ông xuất hiện ở cửa. Thật khó mà tin được mùa hè này, trong ngôi nhà mà ông đã thuê cho họ ở Trewissick, cả nhà lại ở cùng với ông cả bốn tuần liền.

Với ánh nắng chiếu lấp lánh trên mái tóc bạc phơ, Ông Merry xách hai cái vali to nhất lên, mỗi tay một chiếc và rảo bước băng qua sân ga về phía một cái ôtô.

“Các cháu thấy thế nào?” Ông hỏi đầy vẻ tự hào.

Theo sau ông, họ nhìn chăm chú. Đó là một chiếc xe to, chắn bùn đã gỉ, lớp sơn bong tróc và bùn đóng thành bánh trên trục xe. Một làn hơi nước đang cuộn lên từ bộ phận tản nhiệt.

“Hết sảy!” Simon nói.

“Hừm,” mẹ ậm ừ.

“Ơ, Chú Merry,” bố vui vẻ nói đùa, “cháu hy vọng chú đã mua bảo hiểm rồi.”

Ông Merry phì một tiếng. “Vớ vẩn. Chiếc xe tuyệt vời đấy. Chú thuê của một người nông dân. Dù sao thì nó cũng chở được tất cả chúng ta. Các cháu lên đi.”

Jane ngoái nhìn lại lối vào ga vẻ nuối tiếc khi leo lên xe theo sau cả nhà. Con chó lông đỏ đang đứng trên vỉa hè nhìn họ, cái lưỡi đỏ dài ngoẵng đung đưa giữa hai hàm răng trắng.

Ông Merry gọi: “Lại đây, Rufus.”

“Ôi!” Barney reo lên sung sướng khi bốn cái chân dài và cái mõm ướt sượt phóng vọt qua cửa xe, đâm xình vào sườn nó. “Con chó của ông ạ?”

“Lạy trời không phải vậy,” Ông Merry nói. “Nhưng ông tin nó sẽ là của các cháu trong tháng tới. Ông thuyền trưởng không mang nó đi nước ngoài được, vì thế Rufus ở lại trong Ngôi nhà Xám.” Nói rồi ông cúi người ngồi vào ghế lái xe.

“Ngôi nhà Xám ư?” Simon hỏi. “Gọi như thế à, ông? Tại sao vậy ạ?”

“Cứ đến rồi biết.”

Động cơ xe nấc một tiếng rồi gầm lên, và thế là họ lên đường. Xuyên qua các phố và ra khỏi thành phố, họ cười nói ồn ào trong chiếc xe lắc lư, cho đến khi những hàng rào thế chỗ cho các ngôi nhà, những hàng rào cây hoang dại, rậm rịt, mọc cao ngút và xanh rì dọc theo con đường uốn lượn quanh co trên sườn đồi, và đằng sau họ, cỏ trải dài tít tắp đến tận chân trời. Trên nền trời, họ chẳng thấy gì ngoài những thân cây trơ trọi, còi cọc, bị làn gió thổi từ biển bẻ cong, và những vỉa đá màu vàng xám.

“Kia kìa,” Ông Merry hét to, át cả tiếng ồn ào. Ông quay đầu lại, phẩy một tay khỏi vô lăng làm bố phải khẽ kêu lên và lấy tay che mắt. “Bây giờ cả nhà đã đến Cornwall rồi đấy. Cornwall thật sự. Lorges ở trước mặt các cháu kìa.”

Tiếng ồn ào quá to khiến không ai hỏi lại được.

“Ông nói Lorges nghĩa là gì nhỉ?” Jane gặng hỏi.

Simon lắc đầu, và con chó liếm tai nó.

“Ông định nói là Vùng Đất phía Tây,” Barney bất ngờ nói, vừa gạt mớ tóc vàng lúc nào cũng xõa vào mắt nó. “Đó là tên cũ của Cornwall. Tên của vua Arthur.”

Simon rên lên. “Lẽ ra tao phải đoán trước được mới phải.”

Từ khi biết đọc, những người anh hùng vĩ đại nhất của Barney luôn là vua Arthur và các hiệp sĩ của ngài. Trong mơ, nó thấy mình là một hiệp sĩ trong Hội Bàn Tròn, tham gia những cuộc chiến tưởng tượng để cứu các quý cô xinh đẹp và trừng phạt những hiệp sĩ phản trắc. Nó đã mong chờ được đến Vùng Đất phía Tây từ lâu rồi; mảnh đất này đem đến cho nó một cảm giác kỳ lạ, như thể đang được về nhà. Nó bực tức nói: “Anh cứ chờ xem. Ông Merry biết mà.”

Thế rồi, sau một lúc khá lâu, đồi núi đã dần nhường chỗ cho vệt xanh dài của biển, và ngôi làng hiện ra trước mặt họ.

Trewissick dường như vẫn đang ngủ yên dưới những mái nhà lợp ngói acđoa màu xám đen, nằm dọc theo những con phố hẹp quanh co dưới sườn đồi. Lặng lẽ sau những ô cửa sổ có treo rèm bằng ren, những ngôi nhà vuông nhỏ xinh mặc cho tiếng gầm của động cơ ôtô dội lại những bức tường vôi trắng. Thế rồi, Ông Merry đánh tay lái một vòng và họ bỗng thấy mình đang đi trên con đường dọc theo rìa cảng, qua mặt nước đang gợn sóng vàng rực dưới ánh nắng chiều. Những chiếc xuồng bập bềnh buông neo dọc theo bến cảng, và cả một dãy thuyền đánh cá xứ Cornwall mà đám trẻ con mới chỉ nhìn thấy trong những bức tranh mẹ chúng vẽ vài năm trước: những con thuyền chắc chắn, đóng khéo léo, mỗi chiếc có một cột buồm thấp bè và một khoang máy vuông nhỏ về phía đuôi.

Lưới treo dày làm tối cả mấy bức tường cảng, một vài ngư dân, những người đàn ông dáng vạm vỡ, khuôn mặt nâu sạm nắng gió, chân đi ủng cao đến đùi, uể oải liếc nhìn chiếc xe đi qua. Hai hay ba người trong số họ toét miệng cười với Ông Merry và vẫy tay chào.

“Họ biết ông ạ?” Simon tò mò hỏi.

Nhưng Ông Merry vốn vẫn hay trở nên rất nghễnh ngãng mỗi khi không muốn trả lời một câu hỏi nào đó, chỉ nhấn ga trên con đường uốn lượn hướng lên ngọn đồi trông sang phía bên kia bến cảng rồi bất thình lình phanh lại. “Chúng ta tới nơi rồi.” Ông nói.

Trong sự yên lặng đột ngột ấy, tai vẫn đang tê dại đi vì tiếng động cơ ôtô rầm rĩ ban nãy, tất cả đều rời mắt khỏi mặt biển và quay nhìn sang phía bên kia con đường.

Họ nhìn thấy một dãy nhà chênh vênh dọc sườn dốc, và ngay chính giữa, nổi bật lên như một tòa tháp là một ngôi nhà cao, hẹp với ba hàng cửa sổ và một mái đầu hồi. Một ngôi nhà u ám, sơn màu xám sẫm, nhưng khung cửa ra vào và cửa sổ lại sáng trắng lên. Mái nhà lợp ngói acđoa, một khung cửa tò vò tít trên cao màu xanh xám hướng ra bến cảng về phía biển.

“Ngôi nhà Xám đây,” Ông Merry giới thiệu.

Họ ngửi thấy trong ngọn gió yếu ớt thổi qua mặt xuống dưới chân đồi một mùi gì là lạ: mùi của muối, tảo biển và sự háo hức như đang mời gọi.

Khi họ dỡ hành lý xuống khỏi xe và Rufus đang thích thú chạy loanh quanh chui qua chân mọi người thì Simon bỗng giật giật cánh tay Jane: “Ôi trời... nhìn kìa!”

Simon đang nhìn ra ngoài biển, xa phía cửa cảng. Theo tay nó chỉ, Jane thấy cái dáng hình tam giác thanh mảnh, duyên dáng của một chiếc du thuyền đang căng hết buồm lái, biếng nhác trôi về phía Trewissick.

“Đẹp nhỉ,” Jane nói, không lấy gì làm thích thú lắm. Em không có cùng lòng say mê những con thuyền như Simon.

“Đẹp tuyệt. Không biết ai là chủ nhân của nó nhỉ?” Simon đứng nhìn, mê mẩn. Chiếc du thuyền đã lướt lại gần hơn, nghe rõ cả tiếng những cánh buồm phần phật; rồi cánh buồm chính xếp lại và hạ xuống. Chúng nghe thấy tiếng kẽo kẹt của đám dây chão thoảng trên mặt nước, và tiếng khùng khục của động cơ.

“Mẹ bảo bọn mình có thể xuống xem bến cảng trước bữa tối được đấy,” Barney nói vọng phía sau hai đứa. “Anh chị đi không?”

“Dĩ nhiên rồi. Thế Ông Merry có đi cùng không?”

“Ông đi cất xe rồi.”

Cả bọn đi xuống con đường dẫn ra kè đá, bên cạnh là một bức tường xám thâm thấp với những bụi cỏ chen lẫn hoa nữ lang[3] hồng mọc lên giữa những khe đá xây tường. Đi được vài bước Jane sực nhớ ra em để quên chiếc khăn tay nên chạy vội về xe ôtô lấy. Tay quờ quạng trên sàn xe cạnh ghế sau, em ngước lên và sững người khi nhìn qua kính chắn gió.

Ông Merry đang đi từ Ngôi nhà Xám về phía cái xe, bỗng đứng sững lại giữa đường. Ông nhìn chằm chằm xuống biển; em nhận ra ông đã nhìn thấy chiếc du thuyền. Điều làm em sửng sốt là vẻ mặt của ông. Đứng đó như một bức tượng cao ngất, ông cau mày, vẻ dữ tợn và căng thẳng như thể đang nghe và nhìn bằng mọi giác quan chứ không chỉ bằng tai và mắt. Ông không thể tỏ ra sợ hãi được, em nghĩ, nhưng với những gì mà em vừa nhìn thấy thì không có từ nào diễn tả đúng vẻ mặt ông lúc này hơn thế. Cảnh giác, hoảng hốt, lo sợ... Ông làm sao thế nhỉ? Chiếc du thuyền kia có gì lạ chứ?

Ông Merry quay người và vội vã trở vào trong nhà, còn Jane trầm ngâm ra khỏi xe, đi theo hai anh em trai đi xuống dưới đồi.

***

Bến cảng gần như vắng tanh. Mặt trời nóng bức chiếu vào mặt bọn trẻ và qua đế xăng đan chúng vẫn cảm thấy hơi nóng của lớp đá trên kè. Ngay chính giữa, trước những cánh cửa kho cao bằng gỗ, kè đá nhô ra mé nước thành một góc vuông, và trên đó là một đống khổng lồ những thùng rỗng chất cao quá đầu bọn trẻ. Ba chú mòng biển khoan thai bước về phía mép kè đá, tránh đường cho chúng. Phía trước là một rừng những cột neo và dây thừng đang đu đưa, thủy triều mới lên cao một nửa và chưa thể nhìn thấy sàn những con tàu đang neo đậu vì chúng vẫn còn thấp khuất phía dưới mặt kè.

“Này,” Simon gọi, chỉ ra phía đường vào cảng. “Chiếc du thuyền đang đi vào kìa. Trông tuyệt chưa?”

Chiếc du thuyền trắng thanh mảnh thả neo ngoài tường cảng, tránh những con sóng ngoài biển khơi nhờ mũi đất nơi Ngôi nhà Xám đang an tọa.

Jane buột miệng: “Anh có thấy con thuyền có gì hơi lạ không?”

“Lạ ư? Sao lại phải có gì lạ?”

“Ôi - em cũng chẳng biết nữa.”

“Có lẽ đó là du thuyền của ông trưởng bến cảng này,” Barney nói.

“Bến cảng nhỏ như thế này làm gì có ông trưởng cảng, hả cu nó ngốc nghếch, chỉ có những bến cảng như bố đã từng đến hồi ở hải quân thôi.”

“Ồ, có chứ, anh biết tuốt ạ, phía góc phố kia có một cánh cửa đen nhỏ, trên đó ghi Văn phòng Trưởng Cảng,” Barney đắc thắng nhảy chân sáo, làm một chú mòng biển hoảng hồn. Chú mòng biển chạy vài bước rồi bay lên, vỗ cánh sát mặt nước và kêu những tiếng phàn nàn xa dần.

“À, ừ,” Simon nói cầu hòa, đút tay vào túi quần và đứng giạng chân ra hai bên, đu đưa trên gót chân trong tư thế viên-thuyền-trưởng-trên-cầu-tàu của mình. “Thì một - không vậy. Dĩ nhiên chiếc du thuyền ấy là của nhà giàu rồi. Mày còn có thể đi qua biển Măngsơ, thậm chí qua cả Đại Tây Dương bằng con thuyền đó ấy chứ.”

“Eo ơi,” Jane nói. Cô bé bơi giỏi chẳng kém ai, nhưng em là người duy nhất trong gia đình nhà Drew không thích biển. “Thử tưởng tượng phải vượt qua Đại Tây Dương trên con thuyền tí xíu ấy xem.”

Simon nhe răng cười ranh mãnh. “Còn phải nói. Những con sóng lớn trồi lên rồi sụt xuống vút một cái, mọi thứ quay cuồng, nồi niêu xoong chảo rơi loảng xoảng trong khoang bếp, và boong tàu thì cứ lên, xuống, lên xuống...”

“Anh sẽ làm chị ấy buồn nôn đấy,” Barney bình thản nói.

“Vớ vẩn. Say sóng ở trên đất liền, ngay dưới ánh nắng như thế này á?”

“Thật đấy, trông mặt chị ấy đã xanh xám lại rồi kìa. Nhìn mà xem.”

“Chị không say.”

“Mày say thật rồi. Tao không thể tưởng tượng được tại sao mày lại không bị say trên tàu như mọi khi nhỉ. Chỉ cần nghĩ đến những con sóng ngoài Đại Tây Dương, mọi vật đánh võng đu đưa là chẳng ai còn cảm thấy bữa sáng ngon miệng ngoại trừ tao...”

“Thôi anh im đi, em không thèm nghe nữa đâu” - và Jane tội nghiệp quay ngoắt đi rồi chạy vòng ra phía bên kia đống hộp cao ngất ngư đang bốc mùi cá tanh lòm, những thứ có lẽ tác động vào trí tưởng tượng của em còn nhiều hơn cả khi em nghĩ về những cơn say sóng biển.

“Đúng là đồ con gái!” Simon khoái chí nói.

Đột nhiên từ bên kia đống hộp có tiếng rầm chói tai, một tiếng kêu thất thanh và tiếng kim loại loảng xoảng trên nền bê tông. Simon và Barney sợ hãi nhìn nhau trong giây lát, rồi chạy vòng sang phía bên kia.

Jane đang nằm trên đất, gọn lỏn bên dưới một chiếc xe đạp, bánh trước vẫn còn đang quay. Cách đó không xa, một thằng nhóc cao, tóc sẫm màu ngã sóng soài trên kè đá. Một hộp đồ lon với mấy gói thức ăn đã văng khỏi giỏ xe và sữa đang chảy thành vũng từ một chai sữa vỡ tan tành, những mảnh thủy tinh ánh lên trong nắng.

Thằng nhóc lồm cồm bò dậy và nhìn Jane trừng trừng. Nó mặc một bộ thủy thủ quân màu xanh da trời, ống quần đút trong đôi ủng cao su, bên trên cái cổ to bạnh và ngắn tủn của nó là khuôn mặt dẹt đến kỳ lạ đang méo xệch đi vì tức giận.

“Mầy đang bước đường lào đấy, không dòm à?” nó hằm hè, giọng xứ Cornwall khi tức giận càng trở nên khó nghe. “Xéo ra chotau đi.”

Nó giật cái xe dựng đứng lên, không chút mảy may để ý đến Jane; bàn đạp của xe thúc vào mắt cá chân cô bé khiến em nhăn mặt lại vì đau.

“Không phải lỗi của tôi,” em nói, hơi lấy lại can đảm. “Cậu phóng xe mà chẳng chịu nhìn đường gì cả.”

Barney lặng lẽ đi đến gần Jane và đỡ cô chị đứng dậy. Thằng nhóc mặt mày sưng sỉa bắt đầu thu dọn những cái lon bị rơi và ném chúng vào trong hộp. Jane giúp nó nhặt một lon lên. Nhưng khi cô bé chìa tay về phía cái hộp thì thằng nhóc hất tay cô ra, làm cái lon quay vòng tròn bay ra kè đá.

“Để yiêm đó,” nó gầm gừ.

“Này,” Simon phẫn nộ, “đâu cần phải làm thế.”

“Câm mồm,” thằng nhóc gằn giọng, thậm chí nó chẳng buồn nhìn lên.

“Mày câm mồm mày lại ấy,” Simon đáp trả, sẵn sàng nghênh chiến.

“Anh Simon, thôi đừng,” Jane khổ sở nói. “Nếu nó muốn thô lỗ như vậy thì mặc kệ nó.” Chân cô bé đang nhức nhối ghê gớm, máu chảy thành giọt từ vết xước trên đầu gối. Simon nhìn mặt em gái đang đỏ bừng lên, nghe thấy giọng cô bé lạc đi vì đau. Nó cắn chặt môi.

Thằng nhóc đẩy cái xe đạp dựa vào đống hộp, quắc mắt nhìn Barney làm chú bé hơi hoảng nhảy tránh ra xa; rồi bất chợt cơn thịnh nộ của nó lại bật ra thành giọng nói cắn cảu “xéo... đi, tất cả lũ chúng mầy,” bọn trẻ không nghe rõ nó nói từ gì nhưng cái giọng điệu ấy thì không thể nhầm lẫn được, vậy nên tức giận đùng đùng, Simon siết chặt nắm đấm, sẵn sàng lao tới. Nhưng Jane kéo giật anh trai lại, thằng nhóc kia bước nhanh đến mép kè, trèo xuống, quay mặt lại phía bọn trẻ, tay bê cái hộp đựng đống đồ lỉnh kỉnh. Bọn trẻ nghe thấy tiếng lạch cạch rất to và nhìn qua mép kè, chúng thấy nó lắc lư trên một chiếc xuồng cao su. Nó gỡ dây chão buộc xuồng ra khỏi một cái vòng trên tường và bắt đầu len lỏi qua đám thuyền hướng ra ngoài cảng, đứng đẩy mạnh mái chèo về phía đằng đuôi. Vội vã và giận dữ, nó va cả xuồng vào sườn một trong những con tàu đánh cá lớn, mà cũng chẳng thèm để tâm. Chỉ một thoáng sau, nó đã thoát ra được đến vùng nước trống, hối hả chèo bằng một tay và đưa mắt lườm bọn trẻ đầy khinh bỉ.

Ngay lúc đó, bọn trẻ nghe thấy tiếng bước chân lạch cạch trên sàn gỗ rỗng, đi ra từ phía trong chiếc tàu đánh cá bị đâm. Một dáng người nhỏ thó, khô xác bất ngờ hiện ra chỗ cửa hầm trên boong tàu, cái tay vung vẩy đầy bực tức, một tiếng gào khàn đục chưa từng thấy lướt qua mặt nước về phía thằng nhóc.

Thằng nhóc cố tình quay lưng lại, tay vẫn khua mái chèo và chiếc xuồng biến mất ngoài cửa cảng, khuất sau bức tường nhô ra.

Ông già nhỏ bé dứ dứ nắm đấm rồi quay về phía kè đá, nhảy thoăn thoắt từ sàn thuyền này sang sàn thuyền khác cho đến chỗ cái thang leo trên tường và trèo lên đến sát chân bọn trẻ. Ông ta mặc chiếc áo nịt len, quần màu xanh nước biển không lẫn vào đâu được và đi bốt cao lên đến cẳng chân.

“Đồ vụng thối vụng tha, thằng Bill ‘Oover kia,” ông ta quát lên. “Đợi đấy rồi tao sẽ bắt được mầy, thế đấy, đợi rồi xem.”

Rồi dường như lúc đó ông mới chợt nhận ra bọn trẻ không chỉ là vật vô tri vô giác như cái kè đá kia. Ông càu nhàu, liếc xéo vào khuôn mặt vẫn đang căng thẳng của chúng và cái đầu gối còn đang chảy máu của Jane. “Hèn chi từ dưới kia bác đã nghe thấy tiếnglói,” ông nói, giọng dịu dàng hơn. “Các cháu lại có chuyện gì với ló phỏng?” Ông hất đầu về phía biển.

“Nó đâm xe làm em cháu ngã,” Simon phẫn nộ nói. “Thật ra cháu cũng có lỗi, cháu dọa làm em ấy chạy xô vào nó, nhưng nó thật là một thằng thô lỗ, nó còn đánh rất mạnh vào tay Jane và-và rồi nó đã chạy mất trước khi cháu kịp cho nó một trận,” Simon kết thúc bằng một câu ỉu xìu.

Ông già đánh cá cười. “Ờ thôi, đừng để ý đến ló làm gì. Ló xấu tính lắm, cái thằng lỏi con, tính khí lóng lảy như con quỷ, xấu tính xấu lết. Tốt nhất là các cháu lên tránh xa ló ra.”

“Chúng cháu sẽ tránh,” giọng Jane vẫn còn run run, tay cô bé thận trọng xoa cái chân đau.

Ông đánh cá tặc lưỡi. “Vết thương tệ đấy, cháu gái, cháu phải đi rửa cho sạch đi. Các cháu tới đây nghỉ hè phỏng?”

“Chúng cháu ở Ngôi nhà Xám,” Simon nói, “ở trên đồi kia kìa.”

Ông đánh cá liếc trộm nó thật nhanh, một ánh tò mò thoảng qua khuôn mặt sạm nắng nhăn nhúm dửng dưng. “Thật thế hử? Không biết có phải là...” - nhưng ông dừng phắt ngay lại, như thể vừa chợt quyết định thay đổi những gì sắp nói. Simon bối rối, cố chờ xem ông định nói gì tiếp. Nhưng Barney nãy giờ chẳng nghe hết câu chuyện, đang nhìn qua mép kè đá, liền quay lại hỏi.

“Thuyền của bác kia phải không ạ?”

Ông đánh cá nhìn nó, nửa ngạc nhiên, nửa thích thú cứ như ông đang nhìn thấy một sinh vật bé nhỏ lạ kỳ tự dưng sủa lên vậy. “Đúng vậy, chú chàng bảnh chọe ạ. Chiếc thuyền mà bác vừa đứng đó.”

“Thế những ngư dân khác không khó chịu khi bác nhảy qua thuyền của họ à?”

Ông già vui vẻ cười khùng khục. “Bác chẳng có cách lào khác để đi lên bờ cả. Không ai quan tâm đến việc có ai nhảy qua thuyền mình đâu, miễn có đừng phá phách là được.”

“Thế bác có ra khơi đánh cá không?”

“Giờ thì không, bé nó ạ,” ông già thân mật nói, lôi từ trong túi quần ra một miếng giẻ bẩn thỉu và lau những vết dầu dính trên tay. “Bọn bác ra khơi từ chập tối và quay về lúc bình minh lên.”

Mặt Barney rạng rỡ. “Cháu sẽ dậy sớm và đứng đón xem khi bác ở ngoài khơi về.”

“Bác sẽ tin là thế khi lào bác nhìn thấy cháu,” ông già nói, ánh mắt lấp lánh. “Lào, bây giờ thì đưa cô bé lày về nhà rửa cái chân kia đi, không biết là những rác rưởi, bẩn thỉu gì đã kịp bám vào đây lữa.” Ông mài mài chiếc bốt bóng loáng trên nền kè đá.

“Nào Jane, đi thôi,” Simon nói. Nó đưa mắt nhìn lại dãy tàu thuyền đang nằm im lìm trên mặt nước, rồi đưa tay lên che mắt để nhìn về hướng mặt trời. “Kìa, cái thằng cục mịch đi xe đạp đang lên chiếc du thuyền kìa!”

Jane và Barney nhìn theo.

Phía xa, qua bức tường chắn cảng, một bóng đen đang nhún nhảy leo lên cái thân trắng dài của chiếc du thuyền lặng lẽ. Bọn trẻ chỉ kịp nhìn thấy thằng nhóc leo lên thành tàu và hai người đón nó trên boong. Rồi cả ba cái bóng biến mất, con tàu trở lại vắng lặng.

“À,” ông già kêu lên. “Ra thế. Hôm qua thằng Bill đi mua hàng dự trữ, xăng và mọi thứ khác, đủ dùng cho cả một hạm đội, nhưng chẳng ai biết ló mua cho ai. Một chiếc thuyền khớ đấy. Chả hiểu việc gì mà ló phải làm ra vẻ bí mật thế.”

Ông bước đi dọc theo kè đá, dáng vóc nhỏ bé ngiêng ngả, cái cổ bẻ gập ra ngoài của đôi ủng đập đập vào chân theo mỗi bước đi. Barney lóc cóc đi bên cạnh, sốt sắng bắt chuyện và chỉ khi ông già vẫy tay chào để rẽ về phía làng thì nó mới chạy lại phía hai đứa kia, lúc đó đã đi đến góc phố.

“Bác ấy tên là Penhallow, còn thuyền của bác ấy tên là Thạch Nam Trắng. Bác ấy bảo họ đánh được hàng vạn tấn cá mòi tối hôm qua, ngày mai họ sẽ còn bắt được nhiều hơn thế nhiều vì trời sắp mưa.”

“Rồi em sẽ càng ngày càng tọc mạch hơn cho mà xem,” Jane nói.

“Mưa ấy à?” Simon nghi ngờ hỏi lại và nhìn lên bầu trời xanh trong.

“Thì bác ấy nói thế mà.”

“Đúng là vớ vẩn. Ông ta chắc cũng hơi dở người.”

“Em cá là bác ấy nói đúng đấy. Dân đánh cá luôn biết mọi việc, đặc biệt là dân xứ Cornwall. Anh cứ thử hỏi Ông Merry mà xem.”

***

Nhưng khi bọn trẻ ăn tối trong Ngôi nhà Xám thì Ông Merry không có ở đó; chỉ có bố mẹ và bà Palk, một bà người làng má đỏ hồng, mặt mày tươi tỉnh, hàng ngày vẫn đến giúp nấu ăn và dọn dẹp. Ông Merry đã đi đâu mất.

“Ông chắc phải nhắn lại cái gì đó chứ,” Jane nói.

Bố nhún vai. “Cũng không hẳn. Ông chỉ lẩm bẩm rằng ông phải đi và tìm kiếm cái gì đó rồi lên xe phóng vụt đi như tia chớp.”

“Nhưng mình vừa mới đến đây xong,” Simon tự ái nói.

“Đừng để ý như thế con ạ,” mẹ an ủi. “Con biết ông rồi còn gì. Ông sẽ quay lại ngay khi cần thôi mà.”

Barney đang đắm đuối nhìn đĩa bánh khoai tây nhồi thịt mà bà Palk làm cho bữa tối. “Ông Merry đang tham gia vào một cuộc thám hiểm. Có thể sẽ mất hàng năm, hàng năm trời. Trong một cuộc thám hiểm thì ta có thể đi tìm, tìm mãi, mà cuối cùng thì có lẽ vẫn chẳng bao giờ đến được nơi cần đến.”

“Thám hiểm cái đầu mày,” Simon sửng cồ. “Ông lại chỉ đi tìm một ngôi mộ cổ ngớ ngẩn nào đó trong nhà thờ hoặc vật gì đấy thôi. Không thì tại sao ông chẳng thèm nói gì với bọn mình cả?”

“Em nghĩ sáng mai ông sẽ về,” Jane nói. Em nhìn qua cửa sổ, qua bức tường thấp màu xám dọc theo con đường. Ánh sáng đang nhạt dần và mặt trời lặn xuống phía sau mũi đất đang chuyển sang màu xanh xám sẫm, một làn sương mù nhẹ nhàng lan vào cảng. Qua màn sương đang nặng dần, em nhìn thấy một hình bóng mờ ảo đang chuyển động trên mặt biển, phía trên cái bóng có ánh sáng nhấp nháy; đầu tiên là một chấm đỏ mờ, rồi chấm màu xanh, và những chấm trắng sáng phía trên cùng. Bỗng em ngồi bật dậy khi nhận ra cái bóng mà em nhìn thấy chính là chiếc du thuyền bí ẩn đang đi ra khỏi cảng Trewissick, vẫn lặng lẽ và lạ lùng như khi nó đi vào.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 02.03.2018, 16:35
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35105
Được thanks: 5242 lần
Điểm: 9.59
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Giả tưởng] Trên biển khơi, dưới đá thẳm (The dark is rising #1) - Susan Cooper - Điểm: 10
CHƯƠNG 2

Hôm sau, khi cả nhà đang ngồi ăn sáng thì Ông Merry về. Bóng ông hiện ra che khuất cả lối vào, cao lớn sừng sững, đôi mắt trũng sâu dưới mái tóc trắng bờm xờm, và ông nở nụ cười rạng rỡ trước con mắt ngạc nhiên của mọi người.

“Chào cả nhà,” ông vui vẻ. “Còn tí cà phê nào không?” Mấy thứ đồ trang trí trên bệ lò sưởi dường như rung lên lanh canh khi ông nói; Ông Merry luôn gây ra ấn tượng rằng ông quá to lớn cho bất kỳ căn phòng nào ông bước vào.

Bố từ tốn với tay kéo thêm một chiếc ghế. “Sáng nay ở ngoài kia thế nào, chú Merry? Cháu thấy có vẻ không tốt lắm.”

Ông Merry ngồi xuống, lấy một miếng bánh mì nướng, để miếng bánh trong lòng bàn tay to lớn và phết bơ lên bằng con dao ăn của bố. “Đầy mây. Mù mịt, mây từ biển vào. Sắp có mưa rồi.”

Barney nhấp nhổm vì tò mò. Đột nhiên, nó bật hỏi, quên mất cái quy tắc trong gia đình là không bao giờ được hỏi người ông bí ẩn của chúng về việc riêng của ông: “Ông Gumerry, ông vừa ở đâu về vậy?” Trong lúc quá kích động, nó đã gọi ông bằng biệt danh mà nó tự đặt cho ông khi còn nhỏ. Tất cả mọi người đôi khi vẫn dùng tên đó nhưng không thường xuyên lắm.

Jane suỵt khẽ qua kẽ răng còn Simon thì trợn mắt nhìn nó từ phía bên kia bàn. Nhưng có vẻ như là Ông Merry không nghe thấy. “Chắc là không lâu đâu,” ông tiếp tục câu chuyện với bố, miệng đầy bánh mì. “Nhưng chú nghĩ là hôm nay sẽ mưa gần hết ngày đấy.”

“Liệu có sấm không ông?” Jane hỏi.

Simon tiếp lời giọng đầy hy vọng, “Liệu có bão biển không ạ?”

Barney ngồi im lặng giữa những giọng nói xôn xao quanh bàn. Thời tiết, nó bực tức tự nhủ, tất cả bọn họ đều chỉ nói đến thời tiết, trong khi Ông Merry thì vừa mới trở về từ một cuộc thám hiểm.

Một tiếng sấm ầm ì vọng đến át đi tiếng nói của họ, rồi đến tiếng lộp độp của những hạt mưa đầu tiên. Mọi người chạy ào đến bên cửa sổ để nhìn ra bầu trời xám xịt nặng nề, không để ý thấy Barney đi qua phòng về phía Ông Merry và đút bàn tay vào tay ông một lúc.

“Ông Gumerry ơi,” nó khẽ hỏi, “ông đã tìm thấy chưa, cái ông đang tìm ấy ạ?”

Nó ngỡ rằng Ông Merry sẽ nhìn xuyên qua nó với cái vẻ nửa bướng bỉnh nửa hồn hậu quen thuộc mỗi khi nhận được một câu hỏi. Nhưng ông già cao lớn chỉ cúi xuống nó gần như lơ đãng. Cặp lông mày nhíu lại trông thật đáng sợ trên khuôn mặt khắc khổ đầy bí ẩn mà vẻ già nua dữ dằn đã hằn sâu trên hai hõm má và nơi những nếp nhăn. Ông nhẹ nhàng nói, “Không, Barnabas ạ, lần này ông không tìm thấy.” Rồi dường như lại có một tấm màn che phủ lên khuôn mặt ông. Ông gọi bố: “Chú phải đi cất ôtô bây giờ đây,” rồi đi ra ngoài.

Tiếng sấm nhỏ dần, chỉ còn vẳng lại xa xa từ ngoài khơi, nhưng mưa vẫn rơi đều đều buồn bã, những dòng nước mưa chảy xuống làm mờ khung cửa sổ. Bọn trẻ đi loanh quanh trong nhà. Trước bữa trưa, mặc dù mưa, chúng vẫn cố đi dạo, nhưng rồi đành trở về nhà người ướt như chuột lột, mặt mày ủ rũ.

Khoảng giữa chiều, mẹ thò đầu vào cửa nói: “Mẹ sẽ đi lên gác làm việc cho đến bữa tối. Bây giờ nghe này - ba đứa các con có thể đi bất kỳ chỗ nào mà các con thích trong nhà, nhưng phải hứa với mẹ là không được động vào những cái gì rõ ràng là đã được cất đi đấy nhé. Tất cả những thứ giá trị đều đã bỏ tủ khóa lại rồi, nhưng mẹ không muốn các con lục lọi bất kỳ giấy tờ hay đồ dùng riêng của ai hết. Được không nào?”

“Chúng con hứa ạ.” Jane nói, còn Simon thì gật đầu.

Một lát sau, bố chui vào bộ quần áo bằng vải dầu màu đen to đùng và đi ra ngoài mưa để tìm gặp ông trưởng cảng. Jane đi quanh mấy giá sách, nhưng những quyển sách nằm trong tầm với đều có những tiêu đề như Xung quanh Mỏm Vịnh, hay Nhật kí con tàu Đức Hạnh, 1886, và em nghĩ những quyển sách đó đều chán phèo.

Simon, từ nãy tới giờ vẫn ngồi làm phi tiêu bằng những tờ báo buổi sáng, đột nhiên vò hết đống phi tiêu với vẻ bực bội. “Tao ngấy lên tận cổ rồi. Bọn mình làm gì bây giờ?”

Barney rầu rĩ nhìn ra ngoài cửa sổ. “Trời đang mưa to quá. Mặt biển chỗ bến cảng thì lặng tờ chẳng có tí sóng nào. Mà đây lại là ngày đầu tiên. Ôi, mình ghét mưa quá, ghét quá, ghét quá, mình ghét mưa quá...” Nó bắt đầu ủ ê lẩm bẩm như tụng kinh.

Simon vơ vẩn đi qua đi lại trong phòng vẻ bồn chồn, vừa nhìn những bức tranh trên nền giấy dán tường xám xịt. “Hễ bị buộc phải ở trong nhà thì ngôi nhà sẽ trở nên thật tẻ nhạt. Hình như ông thuyền trưởng này chẳng quan tâm tới điều gì khác ngoài biển cả?”

“Bằng giờ này năm ngoái anh cũng định trở thành thủy thủ còn gì.”

“Ừ, nhưng tao đổi ý rồi. Mà tao cũng không biết nữa. Kiểu gì tao cũng phải đi trên một chiếc tàu khu trục[4], chứ không phải một chiếc thuyền buồm bé tí tầm thường thế này đâu. Cái gì đây nhỉ?” Simon nhìn lên dòng chữ khắc bên dưới một hình chạm trổ “Con Hươu Vàng.”

“Đó là con tàu của Drake. Từ hồi ông ấy vượt biển tới châu Mỹ và tìm ra khoai tây.”

“Đó là Raleigh chứ.”

“À, vâng,” Barney nói, nhưng thực ra nó cũng chẳng để tâm mấy.

“Khám phá gì toàn những thứ vô vị cả,” Simon mỉa mai. “Nếu tao là bọn họ, tao sẽ chẳng quan tâm gì đến mấy thứ rau củ ấy, tao sẽ mang về toàn tiền vàng, kim cương và ngọc trai.”

“Và cả vượn cùng chim công,” Jane nói, em đang loáng thoáng nhớ lại một bài thơ học ở trường.

“Và tao sẽ khám phá sâu bên trong đất liền, rồi bọn thổ dân mọi rợ sẽ coi tao là thánh sống và hiến dâng vợ cho tao.”

“Tại sao cứ thổ dân là lại mọi rợ nhỉ?” Barney hỏi.

“Không phải là nghĩa mọi rợ ấy đâu, đồ ngốc, mà nó có nghĩa là - nghĩa là - ờ, ờ, thì thổ dân người ta như vậy. Đó là từ mà những nhà thám hiểm hay gọi bọn họ.”

“Hay mình làm những nhà thám hiểm đi,” Jane bật lên một ý. “Mình có thể khám phá ngôi nhà này. Mình vẫn chưa biết hết về nó mà. Cũng giống như một vùng đất lạ. Mình có thể thám hiểm từ tầng trệt cho đến nóc nhà.”

“Và mình cần phải mang theo dự trữ đồ ăn để khi lên tới đó mình có thể làm một chuyến picnic,” Barney nói, mặt mày rạng rỡ hẳn lên.

“Mình chẳng có cái gì cả.”

“Mình có thể hỏi bà Palk,” Jane nói. “Bà ấy đang làm bánh cho mẹ ở trong bếp ấy. Đi thôi.”

Bà Palk đang ở trong bếp. Bà nở nụ cười hết cỡ trên khuôn mặt đỏ lựng và nói, “Không biết rồi các cô cậu còn nghĩ ra trò gì lữađây?” Nhưng bà vẫn cẩn thận gói và đưa cho bọn trẻ một chồng bánh vừa mới nướng, được cắt ra, phết đầy bơ ở giữa rồi lại ụp lại với nhau, một bọc bánh quy nho khô, ba quả táo và một miếng bánh ngọt màu vàng cam to tướng, dày và đầy nhân hoa quả.

“Cái gì đó để uống nữa,” Simon nói như ra lệnh, tự cho mình là đội trưởng của đoàn thám hiểm. Thế là bà Palk liền vui vẻ đưa cho bọn trẻ thêm một chai nước chanh to của nhà tự làm lấy “để cho đầy đủ.”

“Bằng ấy thứ,” bà nói, “tôi đoán là phải đủ cho cô cậu đi đến St Ives và về đấy.”

“Balô của anh để trên gác,” Simon kêu lên. “Anh đi lấy đây.”

“Lại còn thế nữa,” Jane nói, em đã bắt đầu cảm thấy hơi ngớ ngẩn. “Mình thậm chí còn chẳng ra ngoài cơ mà.”

“Tất cả những nhà thám hiểm đều cần phải có balô,” Simon nghiêm trang nói và chạy về phía cửa. “Không đến một phút đâu.”

Barney nhặt mấy mẩu bánh vàng trên bàn lên nhấm nháp. “Chà, ngon tuyệt.”

“Bánh nghệ đấy,” bà Palk giọng đầy tự hào. “Các cô cậu không thể tìm được loại bánh lày ở London đâu.”

“Bà Palk ơi, Rufus đâu ạ?”

“Đi rồi, may mắn làm sao, nhưng chỉ sợ là lát lữa chúng ta sẽ thấy đầy những vết chân ướt sũng của ló khắp sàn nhà cho mà xem. Ông Giáo Sư đã dẫn ló đi dạo. Lào, thôi không bấu cái bánh nữa cưng, không thì cậu sẽ làm hỏng chuyến picnic mất thôi.”

Simon mang theo balô quay trở lại. Bọn trẻ nhét tất cả thức ăn vào balô, ra khỏi bếp theo một lối đi hẹp và tối, bà Palk vẫy tay chào chúng rất trang trọng, cứ như chúng sắp đi lên Bắc Cực vậy.

“Bà ấy nói là ai đã dẫn con Rufus đi chơi đấy?” Jane hỏi.

“Ông Merry,” Barney trả lời. “Mọi người toàn gọi ông ấy là Giáo Sư, chị không biết à? Ông Penhallow cũng gọi thế. Họ nói chuyện cứ như họ đã biết ông ấy lâu lắm rồi không bằng.”

Bọn trẻ đang ở chiếu nghỉ tầng hai vừa dài vừa tối, chỉ có chút ánh sáng chiếu vào từ một ô cửa sổ nhỏ. Jane vẫy tay chỉ một cái hòm gỗ bị che khuất một nửa trong góc tường. “Cái gì kia?”

“Nó bị khóa rồi.” Simon cố mở nắp ra. “Chắc là một trong những thứ mà chúng ta không được động vào. Thực ra trong đó chứa đầy vàng và đồ trang sức, chúng ta sẽ lấy nó trên đường trở về và xếp xuống hầm tàu.”

“Ai sẽ vác bây giờ?” Barney hỏi rất thực tế.

“Dễ ợt, chúng ta sẽ có một đoàn những tên thổ dân chuyên mang vác. Tất cả bọn chúng sẽ xếp thành hàng đằng sau và gọi tao là Ông Chủ.”

“Bắt em gọi anh là Ông Chủ á.”

“Mày thì sẽ là bồi tàu và phải gọi tao là Ngài. Dạ, dạ, thưa Ngài!” Simon đột nhiên hét tướng lên.

“Im đi,” Jane nói. “Mẹ đang làm việc ở ngay phòng đằng kia đấy, anh làm mẹ vẽ hỏng bây giờ.”

“Cái gì ở đây ấy nhỉ?” Barney nói. Có một cánh cửa sẫm màu khuất trong bóng tối tít góc trong cùng của chiếu nghỉ. “Sao từ trước đến giờ em không phát hiện ra cánh cửa này nhỉ.” Nó vặn tay nắm cửa, cánh cửa khẽ kêu cọt kẹt và mở ra. “Em đoán là đi xuống dưới vài bậc cầu thang sẽ có một hành lang nhỏ và cuối hành lang đó sẽ lại có cửa đấy. Đi thôi.”

Bọn trẻ bước xuống một tấm thảm đã sờn rách, đi dưới một dãy bản đồ cũ treo trên tường.

Cũng giống như toàn bộ ngôi nhà, dãy hành lang này có mùi của dầu đánh bóng, mùi năm tháng và mùi biển cả; thế nhưng cũng không có gì giống hẳn với những thứ ấy, mà chỉ là một mùi kỳ lạ và bí ẩn.

“Này,” Simon nói khi Barney tiến về phía cửa. “Tao là đội trưởng, để tao đi trước. Có thể có bọn ăn thịt người đấy.”

“Bọn ăn thịt người á,” Barney nói vẻ khinh thường, nhưng nó vẫn nhường cho Simon mở cửa.

Đó là một căn phòng kì cục, nhỏ và trống rỗng, chỉ có một ô cửa sổ tròn khung bọc chì nhìn về đất liền qua những mái nhà lợp ngói acđoa xám và những cánh đồng. Một chiếc giường phủ ga kẻ ô đỏ trắng, một ghế gỗ, một tủ quần áo và một giá rửa mặt[5] trên đó có một cái bát to vẽ men xanh và một bình đựng nước. Tất cả chỉ có vậy.

“Ôi, chẳng có gì thú vị cả,” Jane thất vọng. Em nhìn xung quanh, cảm thấy như còn thiếu một cái gì đó. “Nhìn xem này, thậm chí phòng này còn chẳng có cả thảm nữa, chỉ có mỗi sàn nhà không.”

Barney lon ton chạy đến bên cửa sổ. “Cái gì đây?” Nó nhặt một cái gì đó trên bệ cửa sổ lên, một vật dài, màu sẫm và lấp lánh ánh đồng. “Một loại ống gì đó thì phải.”

Simon cầm vật lạ từ tay Barney, tò mò lật lên lật xuống. “Một cái hộp đựng kính viễn vọng,” Simon xoáy mở cái hộp ra thành hai nửa. “Không, không phải, chán quá, chỉ có vỏ thôi chứ không có ruột.”

“Bây giờ thì em biết là căn phòng làm em nhớ tới cái gì rồi,” Jane đột nhiên nói. “Nó giống như một cabin trên tàu. Cái cửa sổ này trông giống như cửa sổ ở thành tàu. Em đoán chắc đây là phòng ngủ của ông thuyền trưởng.”

“Bọn mình phải mang theo cái kính viễn vọng này đề phòng bị lạc đường,” Simon nói. Nó tự cảm thấy mình quan trọng hơn hẳn khi cầm cái hộp kính viễn vọng trong tay.

“Anh đừng có ngốc nghếch thế chứ, đó chỉ là cái vỏ rỗng thôi mà,” Jane nói. “Dù sao nó cũng không phải là của chúng ta, để lại vào chỗ cũ đi.”

Simon quắc mắt nhìn em gái.

“Ý em là,” Jane vội nói, “mình đang ở trong rừng, chứ không phải ở ngoài biển, vì thế đã có các mốc định vị rồi.”

“Ơ, thôi được.” Simon miễn cưỡng đặt cái ống xuống.

Bọn trẻ ra khỏi dãy hành lang nhỏ tối om, cánh cửa mà chúng vừa khép lại sau lưng đã lại chìm ngay vào trong bóng tối đến nỗi chúng cũng khó có thể nhận ra nó ở đâu nữa.

“Ở đây chẳng còn gì nữa đâu. Kia là phòng ngủ của Ông Merry, phía bên này là nhà tắm còn phía kia là phòng vẽ của mẹ.”

“Ngôi nhà này xây kiểu gì mà kỳ quặc,” Simon nói khi chúng rẽ vào một hành lang hẹp khác dẫn tới cầu thang đi lên tầng tiếp theo. “Toàn những khu nhỏ xíu nối với nhau bằng các lối đi bé tí tẹo nực cười. Cứ như là để giữ bí mật giữa các khu với nhau ấy.”

Barney nhìn quanh trong ánh sáng lờ mờ, tay gõ nhẹ vào bức tường ốp ván gỗ lên đến nửa chừng. “Tất cả đều đặc hết. Chắc là phải có những tấm ván rỗng và các thứ bí mật nữa chứ, lối đi bí mật vào khu hang động cất giấu kho báu của thổ dân chẳng hạn.”

“Mình vẫn chưa kết thúc mà.” Simon dẫn đường lên chiếu nghỉ quen thuộc, ngay cạnh phòng ngủ của bọn chúng. “Trời đã tối rồi à? Chắc là do mây mù.”

Barney ngồi xổm trên bậc thang trên cùng. “Mình phải có đuốc, phải đốt đuốc lên thì mới thấy đường và đuổi bọn thú rừng đi được. Mỗi tội không được vì xung quanh đây có đầy bọn thổ dân hiếu chiến, chúng có thể phát hiện ra mình mất.”

Simon tiếp lời ngay. Dường như trong không khí tĩnh mịch của Ngôi nhà Xám, trí tưởng tượng dễ thăng hoa hơn thì phải. “Thực ra thì bọn chúng vẫn đang theo mình, lần theo dấu của bọn mình lên tận đồi rồi. Mình sắp nghe thấy tiếng bước chân của bọn chúng ngay bây giờ đấy.”

“Mình phải nấp đi thôi.”

“Cắm trại ở đâu đó mà bọn chúng không thể đến được ấy.”

“Cắm trại trong một phòng ngủ nào đó ý, à quên hang động ấy mà.”

“Em nghe thấy tiếng bọn chúng thở rồi,” Barney nói, nhìn trân trân xuống phía dưới chân cầu thang tối om. Nó đã bắt đầu hơi có cảm giác như đang đi vào rừng thật.

“Những cái hang lộ quá là không được,” Simon nói, vẫn luôn nhớ đến vai trò chỉ huy của mình. “Bọn chúng sẽ lùng sục ở những hang động đó đầu tiên.” Nó đi dọc theo chiếu nghỉ, hết mở rồi đóng cửa từng phòng vẻ mặt đầy lo âu. “Phòng bố và phòng mẹ không được, hang động quá bình thường. Phòng Jane - cũng thế. Phòng tắm, phòng của hai anh em mình, không có đường thoát. Rồi tất cả chúng ta sẽ trở thành vật hiến tế và bị ăn thịt mất thôi.”

“Hoặc bị luộc nhừ trong những cái nồi lớn,” Barney tiếp lời vẻ tang tóc.

“Có thể vẫn còn cánh cửa nào đó nữa, ý quên, cái hang nào đó nữa mà mình chưa phát hiện ra. Như cái ở dưới cầu thang ấy.” Jane nhìn vào chỗ tối nhất ở cuối chiếu nghỉ bên cạnh phòng hai thằng con trai. Nhưng đường đến đó là cụt, bức tường chạy liền quanh suốt cả ba phía, không một vết ghép. “Nhất định là phải có một cánh cửa khác. Dù sao thì ngôi nhà này cũng xây thẳng đứng lên phải không, và có một cái cửa nằm ngay bên dưới kia” - em chỉ tay vào bức tường trống trơn - “và một căn phòng đằng sau đó. Như vậy, chắc chắn phải có một căn phòng rộng bằng thế đằng sau bức tường này.”

Simon chú ý ngay. “Mày nói đúng đấy. Nhưng chẳng thấy cánh cửa nào cả.”

“Có thể có tấm ván bí mật nào đó,” Barney nói đầy vẻ hy vọng.

“Mày đọc nhiều sách quá đấy. Mày đã bao giờ thấy một tấm ván bí mật nào đó trong một ngôi nhà thật bao giờ chưa? Mà chẳng có ván viếc nào trên bức tường này cả, chỉ toàn giấy dán tường thôi.”

“Phòng của anh ở phía bên kia,” Jane nói. “Có cánh cửa nào trong đó không?”

Simon lắc đầu.

Barney mở cánh cửa phòng ngủ của hai anh em, đi vào, đá chiếc dép vào gầm giường lúc đi ngang qua. Rồi đột nhiên nó khựng lại.

“Này, lại đây đi.”

“Cái gì thế?”

“Cái góc ở giữa hai giường, chỗ hốc tường đặt tủ quần áo ấy. Phía bên kia là gì ấy nhỉ?”

“Tất nhiên là chiếu nghỉ đầu cầu thang rồi.”

“Không phải. Nếu thế thì tường ở đây quá dài. Anh đứng ở cửa ra vào và nhìn cả bên trong, bên ngoài mà xem - chiếu nghỉ không chạy dài đến thế đâu.”

“Em sẽ gõ vào tường ở cuối chiếu nghỉ và hai người ở bên trong nghe nhé.” Em đi ra ngoài, đóng cửa lại và rồi hai anh em nghe thấy tiếng gõ rất khẽ trong tường ngay trên đầu giường của Barney.

“Đây rồi!” Barney nói, nhảy lên vì sung sướng. “Chiếu nghỉ chỉ đến đây là hết, thế mà bức tường bên trong còn chạy dài thêm bao nhiêu yard[6] nữa, suốt từ giường của anh cho đến tận cửa sổ. Như thế chắc chắn phải có một căn phòng khác ở phía bên kia rồi.”

Jane quay trở vào phòng. “Bức tường ngoài kia trông không dài như bức tường trong này.”

“Đúng vậy.” Simon chậm rãi nói. “Và anh nghĩ điều đó có nghĩa là có một cánh cửa đằng sau tủ quần áo.”

“Ôi, thế thì thôi rồi,” Jane thất vọng nói. “Cái tủ to thế kia thì mình sẽ không bao giờ kéo ra được đâu.”

“Tại sao lại không chứ.” Simon nhìn cái tủ, suy nghĩ. “Mình sẽ phải kéo ở dưới chân tủ để phía trên không bị mất thăng bằng. Nếu cả ba người cùng kéo về một phía thì sẽ xoay được nó thôi.”

“Thế thì làm ngay đi,” Jane nói. “Anh và em sẽ kéo, còn Barney thì giữ phía trên, nếu thấy mất thăng bằng thì phải kêu lên nhé.”

Hai đứa cùng cúi xuống và kéo mạnh cái chân tủ ngay cạnh nhưng cái tủ không hề suy suyển.

“Em nghĩ cái của nợ này bị đóng đinh xuống sàn nhà rồi.” Jane bực mình kêu lên.

“Không, không phải đâu. Cố lên nào, thử lần nữa nhé. Một, hai, ba - kéo!”

Cái tủ gỗ cao ngất ngưởng kêu cọt kẹt và chỉ nhích ra được vài inch[7].

“Cố lên, cố lên nào, nó nhúch nhích rồi đấy!” Barney không thể đứng yên được nữa.

Simon và Jane vừa kéo vừa thở hổn hển, giày của hai đứa trượt trên lớp vải trải nền; cái tủ dần dần được kéo ra cách tường một góc. Barney nhìn vào khoảng lờ mờ đằng sau tủ và đột ngột ré lên.

“A, đây rồi! Đúng là có một cánh cửa! Ui...” Barney loạng choạng lùi lại, thở hắt ra rồi hắt xì hơi. “Toàn bụi và mạng nhện, chắc hàng chục năm rồi chẳng có ai mở nó ra cả.”

“Nào, tới đi, vào thử xem,” Simon nói trong hơi thở hổn hển, mặt đỏ gay lên vì nín hơi và vì sung sướng với thành công.

“Em hy vọng là cánh cửa ấy không mở về phía bọn mình,” Jane ngồi bệt dưới sàn nhà nói giọng yếu ớt. “Em chịu không thể kéo nó ra thêm một chút nào nữa, dù chỉ là một inch.”

“Không đâu,” tiếng Barney nghèn nghẹt vọng ra từ đằng sau cái tủ. Chúng nghe thấy tiếng cọt kẹt của cánh cửa cự nự mở ra. Rồi Barney lại xuất hiện với một vết bẩn to tướng đen sì trên má. “Chẳng có phòng ốc nào ở đây cả. Mỗi một cái cầu thang. Một cái thang thì đúng hơn. Nó dẫn lên một cửa sập hay sao ấy, có ánh sáng trên đó.” Nó nhìn Simon cười vẻ láu cá. “Thưa Ông chủ, ngài có thể đi trước được rồi ạ.”

Đứa nọ bám theo sau đứa kia, cả bọn biến mất sau lưng tủ và đi qua cánh cửa nhỏ bí mật. Thoạt đầu bên trong tối om, nhưng sau khi chớp chớp mắt Simon đã trông thấy một cái thang ở ngay trước mặt mình với bậc thang rộng dựng chênh chếch, hướng lên một ô vuông viền sáng lờ mờ. Đến đó thì nó không nhìn thấy gì hơn nữa. Các bậc thang phủ một lớp bụi dày và trong thoáng chốc, nó có thấy lo sợ phải phá vỡ sự yên bình nghìn đời nơi đây.

Rồi nó nghe thấy ngay phía trên đầu, rất khẽ thôi, tiếng sóng biển ì ầm quen thuộc ngoài kia. Ngay lập tức, âm thanh dễ chịu ấy làm nó vui vẻ hẳn, thậm chí nó còn nhớ ra cả ba đứa đang giả vờ làm gì nữa. “Người đi cuối cùng phải đóng chặt cửa lại đấy,” Simon gọi với xuống qua vai. “Để không cho bọn thổ dân lại gần.” Nói rồi nó bắt đầu trèo lên thang.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 17 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Hiện đại] Làm thế nào để không nhớ hắn - Mộng Tiêu Nhị

1 ... 28, 29, 30

2 • [Hiện đại Thanh mai trúc mã] Đều Tại Vầng Trăng Gây Họa - 11 Giờ Phải Ngủ

1 ... 40, 41, 42

3 • [Hiện đại] Xin chào Chu tiên sinh! Dạ Mạn

1 ... 26, 27, 28

4 • [Xuyên không] Hỉ doanh môn - Ý Thiên Trọng

1 ... 105, 106, 107

5 • [Xuyên không] Vương phi thần trộm Hưu phu lúc động phòng! - Thủy Mặc Thanh Yên

1 ... 82, 83, 84

6 • [Xuyên không - Cổ xuyên hiện] Ảnh hậu đối mặt hàng ngày - Ngã Yêu Thành Tiên

1 ... 37, 38, 39

7 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 138, 139, 140

8 • [Hiện đại] Anh Trai VS Em Gái - Trà Trà Hảo Manh

1 ... 10, 11, 12

9 • [Hiện đại] Bó tay chịu trói - Thiên Thần Di Cô

1 ... 30, 31, 32

10 • [Hiện đại] Cục cưng lật bàn Con là do mẹ trộm được? - Ninh Cẩn

1 ... 87, 88, 89

11 • [Xuyên không - Dị giới] Phế sài muốn nghịch thiên Ma Đế cuồng phi - Tiêu Thất Gia - New C804

1 ... 116, 117, 118

[Cổ đại - Trùng sinh] Đích trưởng nữ - Hạ Nhật Phấn Mạt

1 ... 80, 81, 82

13 • [Hiện đại] Hôn nhân giá ngàn vàng - Cẩm Tố Lưu Niên (103/104]

1 ... 178, 179, 180

[Cổ đại - Trùng sinh] Trọng sinh cao môn đích nữ - Tần Giản

1 ... 137, 138, 139

15 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 244, 245, 246

16 • [Hiện đại] Vui vẻ gặp lại - Miêu Diệc Hữu Tú

1 ... 24, 25, 26

17 • [Xuyên không] Thú phi thiên hạ Thần y đại tiểu thư - Ngư Tiểu Đồng

1 ... 98, 99, 100

18 • [Xuyên không] Nàng phi lười có độc - Nhị Nguyệt Liễu

1 ... 90, 91, 92

19 • [Xuyên không] Nịch sủng Chí tôn cuồng phi - Mặc Thập Tứ

1 ... 52, 53, 54

20 • [Hiện đại - Trùng sinh] Sống lại tại cửa cục dân chính - Bạo Táo Đích Bàng Giải

1 ... 20, 21, 22



Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 324 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 531 điểm để mua Cá voi xanh
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 325 điểm để mua Bé trứng gà
Công Tử Tuyết: Re: 12 cung hoàng đạo và 12 con giáp
Shop - Đấu giá: luoicon27 vừa đặt giá 534 điểm để mua Ác quỷ  3
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 308 điểm để mua Bé trứng gà
Shop - Đấu giá: Tiểu Mỡ Mỡ vừa đặt giá 292 điểm để mua Bé trứng gà
Shop - Đấu giá: Tiểu Mỡ Mỡ vừa đặt giá 507 điểm để mua Ác quỷ  3
Shop - Đấu giá: Sam Sam vừa đặt giá 637 điểm để mua Bé và cỏ bốn lá
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 605 điểm để mua Bé và cỏ bốn lá
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 277 điểm để mua Bé trứng gà
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 473 điểm để mua Trái dâu
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 262 điểm để mua Bé trứng gà
Shop - Đấu giá: luoicon27 vừa đặt giá 481 điểm để mua Ác quỷ  3
Shop - Đấu giá: Tiểu Mỡ Mỡ vừa đặt giá 248 điểm để mua Bé trứng gà
Shop - Đấu giá: Tiểu Mỡ Mỡ vừa đặt giá 457 điểm để mua Ác quỷ  3
Shop - Đấu giá: Tử Tranh vừa đặt giá 388 điểm để mua Tình yêu trong sáng
Công Tử Tuyết: Re: [Game] Phép cộng may mắn - Tầng 4
Shop - Đấu giá: Sam Sam vừa đặt giá 449 điểm để mua Trái dâu
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 426 điểm để mua Trái dâu
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 434 điểm để mua Ác quỷ  3
Shop - Đấu giá: meoancamam vừa đặt giá 433 điểm để mua Gấu xanh, gấu hồng
Tuyền Uri: Thông báo lần 2: Do có nhiều bạn (chị) chưa cập nhật mục lục. Vui lòng cập nhật mục lục giùm, thời gian chậm nhất là 21/9/2018
Shop - Đấu giá: ღ_kaylee_ღ vừa đặt giá 412 điểm để mua Ác quỷ  3
Tuyền Uri: Kao điên =))
Kaori Hương: hahahha
Shop - Đấu giá: trucxinh0505 vừa đặt giá 250 điểm để mua Chim cánh cụt xanh
Shop - Đấu giá: Sam Sam vừa đặt giá 404 điểm để mua Trái dâu
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 383 điểm để mua Trái dâu
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 342 điểm để mua Chó vàng

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.