Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 16 bài ] 

Điệp viên ở Washington - Peter Maas

 
Có bài mới 29.01.2018, 16:42
Hình đại diện của thành viên
Thành viên cấp 9
Thành viên cấp 9
 
Ngày tham gia: 27.10.2016, 15:47
Bài viết: 1343
Được thanks: 254 lần
Điểm: 7.5
Có bài mới [Trinh thám] Điệp viên ở Washington - Peter Maas - Điểm: 11
Điệp Viên Ở Washington

images

Tác giả:  Peter Maas
Người dịch:  Yên Ba
Nhà xuất bản:  Nxb Công an nhân dân
Nhà phát hành:  Thành Nghĩa
Khối lượng:  310.00 gam
Kích thước:  13x19 cm
Ngày phát hành:   09/2004
Số trang:  392trang
Đánh máy: Mõ Hà nội ( Nguyễn Học)
Nguồn: Vuilen.com

Cuốn sách này kể về toàn bộ những hoạt động của Aldrich Ames kể từ khi bắt đầu quyết định cộng tác với tình báo Liên Xô, năm 1985, cho tới khi bị FBI theo vết và bắt giữ rồi đưa ra tòa án xét xử trong năm 1994.

Một điệp vụ điển hình của thời kỳ chiến tranh lạnh.

Bắt đầu từ những năm cuối của cuộc chiến tranh lạnh và kéo dài trong cả thời kỳ sau khi chiến tranh lạnh đã kết thúc, điệp vụ chuyển giao những thông tin mật cho phía KGB của Aldrich Ames có một tác động lâu dài đến cộng đồng tình báo Mỹ cả sau khi Aldrich Ames đã bị bắt. Sẽ còn rất lâu nữa, CIA mới có thể đánh giá được những thiệt hại mà cơ quan tình báo sừng sỏ của Mỹ phải chịu trong điệp vụ này. Mà cũng có thể là CIA sẽ chẳng bao giờ có thể lượng định được một cách chính xác những thiệt hại đó. Hoạt động tình báo, phản gián vốn là thế giới của những điều “có thể” và “không thể”!

Mời bạn đón đọc.


Mở đầu

Đầu năm 1981, khi cuộc chiến tranh lạnh đang ở trong giai đoạn vận hành hết tốc lực, bộ phận phản gián (CI) trong Cục điều tra liên bang Mỹ FBI bắt tay vào một chiến dịch mới, tìm cách tiếp cận với các sĩ quan tình báo Xô viết đang hoạt động trên lãnh thổ Mỹ. Thay vì đặt những người này dưới. sự giám sát thụ động hoặc ngồi chờ ai đó “tình nguyện” lạm việc cho Mỹ, một chiến dịch đã được hoạch định kỹ càng nhằm tuyển mộ điệp viên trong số các nhân viên của KGB để họ hoạt động vì quyền lợi nước Mỹ.

Như là một phần của chiến dịch này, một nhóm hành động bí mật có mật danh Courtship-Tán Tỉnh được thành lập. Các thành viên của nhóm là những nhân viên dày dạn kinh nghiệm đựợc tuyển chọn từ 22 phân ban phản gián khác nhau trực thuộc văn phòng FBI ở Washington. Điều khá lạ là trong. Courtship có cả các điệp viên của CIA. Trong lịch sử đối đầu triền miên giữa CIA và FBI, đây là lần đầu tiên nhân viên của hai cơ quan này hoạt động chung trong cùng một đơn vị hành động.

Cũng hầu như ngay lập tức, Valery Martynov, một thiếu tá KGB, trở thành mục tiêu ưu tiên của Courtship.

Ba mươi sáu tuổi, tóc đen, cao 1m80 và có thân hình hơi nặng nề, Martynov cùng người vợ Natalia tới Washington ngày 4- 11 -1980, đúng vào ngày Ronald Reagan lần đầu tiên được bầu làm tổng thống. Đây là chuyến công tác ra nước ngoài đầu tiên của Martynov. Bề ngoài, anh ta là bí thư thứ ba của sứ quán phụ trách vấn đề văn hoá, trao đổi các nhà khoa học và sinh viên nhưng trên thực tế, Martynov chịu trách nhiệm thu thập các tin tức tình báo khoa học và công nghệ.

Martynov được mời vào làm việc trong KGB ngay sau khi tốt nghiệp hạng ưu chuyên ngành máy tính năm 1970 ở một học viện kỹ thuật có tiếng tại Moscow.

Những báo cáo giám sát cho thấy Martynov hội đủ các yêu cầu mà nhóm Courtship đòi hỏi: một người đàn ông chín chắn; là con người của gia đình với khuynh hướng chi tiêu tiết kiệm, dè xẻn; là một người nhiệt huyết trong công việc; biết tuân theo các qui tắc “nên” hay “không nên” của trò chơi gián điệp.

Nhưng điều quan trọng nhất các nhân viên giám sát biết được rằng Martynov rất bất mãn trước tình trạng tham nhũng đang làm mục ruỗng nước Nga. “Anh ta không phải là một người hạnh phúc” - một báo cáo víết –”Anh ta cảm thấy bất mãn”. Điệp viên chịu trách nhiệm nghe trộm các cuộc nói chuyện của Martynov đã có lần nghe thấy anh ta phàn nàn một cách cay đắng: điều quan trọng không phải là anh làm được cái gì mà anh phải có một “cái ô” như thế nào!” Một chân dung tâm lý của Martynov được phác hoạ, cho thấy anh ta vào làm việc ở KGB “không phải vì lý tưởng mà chỉ như là tìm một nghề để có thể gia nhập vào hàng ngũ tinh hoa trong xã hội Xô viết và đảm bảo một cuộc sống sung túc cho gia đình”.

Bill Mann, điệp viên FBI trong Courtship, dưới một cái tên giả và một thẻ căn cước giả, bắt đầu thường xuyên tới dự những buổi hội thảo có Martynov tham dự. Tại những buổi hội thảo đó, Mann cố gắng làm cho Martynov cảm thấy rằng Mann là một người nổi bật, tách hẳn ra khỏi đám đông xung quanh, giống như một người ngoài cuộc đang quan sát những gì đang diễn ra trước mặt.

Các điệp viên mật khác của nhóm Courtship cũng có mặt tại những cuộc hội thảo đó. Một người trong số đó làm quen với Martynov và anh ta đã được Martynov dò hỏi về Maun. Người điệp viên này liền cung cấp cho Martynov những thông tin thật hấp dẫn: Mann là một nhân vật quan trọng, làm công tác tư vấn cho một tổ hợp khoa học, có những mối quan hệ rất chặt chẽ với các công ty của cả tư nhân và chính phủ Mỹ.

Bước đầu tiên của chiến dịch bẫy con chim mồi như vậy là đã được hoàn thành. Martynov bắt đầu làm quen với Mann và đưa ra các đề nghị thăm dò Tất nhiên không tự nhận mình là người của KGB, Martynov nói với Mann là anh ta muốn có được những bí quyết công nghệ trong nhiều lĩnh vực nhằm giúp đỡ nền công nghiệp lạc hậu của Liên Xô. Mann liền gợi ý rằng một sự trao đổi tự do các thông tin có thể sẽ làm cho thế giới trở nên an toàn và tốt đẹp hơn. Hai người bắt đầu trao đổi tin tức cho nhau. Mann giới thiệu Martynov với một thành viên khác của nhóm Courtship, người cung cấp cho anh ta những tài liệu tuy khó tiếp cận nhưng không được xếp vào diện mật. Khi Martynơv bắt đầu mở rộng phạm vi quan hệ bằng cách tiếp xúc với nhiều người Mỹ khác, những người này lập tức bị nhóm Courtship điều tra xem họ có thể có những điểm yếu gì để có thể bị lợi dụng hay không và có khả năng tiếp cận với những nguồn tin mật không: Nếu như những người này đáp ứng các yêu cầu của Courtship thì họ được đề nghị tiếp tục duy trì các mối quan hệ cộng tác với Martynov, nhưng chỉ được phép ở dạng “hứa hẹn”.

Tin tưởng rằng mình đã xây dựng và bước đầu kiểm soát một, lưới tình báo đang nhen nhóm, bản thân Martynov giờ đây lại bị phụ thuộc vào những người bày ra cuộc chơi này. Điệp viên Mann có thể dễ dàng kiểm soát được anh ta Mann có thể giúp cho Martynov có được những tuần lễ vui vẻ nhưng thoắt sau đó lại trở nên tồi tệ. Vào những tuần lễ không vui vẻ gì ấy, vì lo lắng cho công việc của mình, viên thiếu tá KGB cảm thấy sợ hãi.

Một lần, tại một cuộc hội thảo về máy tính, Martynov theo chân Mann vào phòng vệ sinh nam. Trong khi hai người đi tiểu, Martynơv nói với Mann là anh ta cần những chi tiết mới của phần mềm trong chương trình máy tính Lotus.

Mann cố tình làm cho Martynov thất vọng: “Vì Chúa, hãy quên chuyện đó đi được không, Valery? Anh không thấy là tôi đang tiết lộ những thông tin bí mật hay sao?”

Hoảng sợ trước khả năng bị mất đi sự “sủng ái” của Mann, Martynov vội vàng xin lỗi rối rít. Anh ta không biết rằng đã hoàn toàn bị phụ thuộc vào điệp viên của Courtship.

Tuy nhiên, chỉ ít tháng sau, Martynov bắt đầu yêu cầu có được những số liệu thuộc vào diện nhạy cảm. Với vẻ dứt khoát, Mann nói rằng mình có một “người bạn” làm việc trong cộng đồng tình báo đủ khả năng cung cấp được những thông tin đó, nhưng muốn những tin tức khác để đổi lại. “Nghe này, Valery -

Mann giải thích - Đây là Washington D. C. Đây là một trò chơi. Mà anh biết rồi đấy, ông chi chân giò thì bà phải thò chai rượu!”

Làm sao mà Mann biết được anh bạn KGB của mình đã nghĩ gì trong đầu lúc đó?

Có thể là danh tính của một số nhân viên tình báo ở sứ quán, hoặc cũng có thể là những thông tin trong một vài lĩnh vực khá nhạy cảm nào đó trong phạm vi hiểu biết của anh ta.

Một tuần sau đó, Martynov, với vẻ hết sức căng thẳng, cung cấp cho Mann hai cái tên. Mann chuyển lại cho Martynov một khoản tiền mặt cùng với một món quà rất lịch sự. Tổng cộng chỉ vào khoảng 500 USD, một khoản tiền khá khiêm tốn, nhưng khi Martynov cầm nó, anh ta đã bước qua một ranh giới mà không thể quay lại được nữa. Cả hai đều biết rõ điều đó việc trao đổi tin lấy tiền mặt còn tiếp tục diễn ra thêm hai lần nữa trước khi đến thời điểm chuyển giao Martynov cho “người điều khiển”. Mann có thể dễ dàng làm việc đó. Thoạt đầu, anh ta nói: “Này, Valery, quả thực là tôi chẳng hiểu gì về những việc chúng ta đang làm hiện nay cả. Cần phải có một chuyên gia trong lĩnh vực này thay tôi làm việc với anh”. Rồi Mann thông báo: “Tôi sắp rời Washington. Một công việc mới rất hứa hẹn đang chờ tôi ở California.

Nhưng anh cứ tin lôi đi. Anh đang ở trong tay những người rất đáng tin cậy.”

Điệp viên FBI Jim Holt, “người điều khiển” mới của Martynov là một thành viên của CI-5, nhóm phản gián chuyên theo vết những điệp viên KGB chịu trách nhiệm thu thập những thông tin liên quan đến bí mật công nghệ và khoa học. Martynov là một người cực kỳ thận trọng, luôn lo lắng về an toàn của bản thân cũng như đề phòng mọi khả năng xấu có thể xảy ra. Trong những cuộc tiếp xúc với Mann, anh ta không bao giờ cho phép ghi âm và nếu như phải viết một đề nghị nào đó ra giấy, anh ta cũng yêu cầu Mann chép lại, còn tờ giấy có chữ của anh ta thì bị huỷ đi. Người ta đã cân nhắc rất kỹ trước khi chọn Holt làm “người điều khiển” của Martynov. Là một cựu nhân viên phản gián, Holt có cung cách lịch thiệp, tự tin, không khoa trương. Từ Holt toát ra một ấn tượng về sự tin cậy, điều rất cần thiết đối với Martynov.

Một buổi tối tháng 4-1982, Holt và Martynov gặp nhau lần đầu tiên tại một bãi đỗ xe ở phía bắc Virginia. Đã hơn một năm trôi qua kể từ khi Bill Mann bắt đầu chiến dịch gài bẫy tinh vi và tỉ mỉ Của anh ta. Kể từ khi điệp vụ này nằm dưới sự giám sát của nhóm Courtship, một nhân viên của CIA cũng vào cuộc, mặc dù Holl vẫn là người chịu trách nhiệm chính. Martynov không bao giờ biết được rằng Mann là người của FBI, nhưng dù cả FBI, CIA lẫn KGB đều không bao giờ chính thức thừa nhận một điều gì nhưng tất cả những ai liên quan đến vụ việc đều biết rõ người nào đóng vai trò nào và những gì xảy ra trong cuộc chơi này.

Sau những buổi gặp đầu tiên ở bãi đỗ xe, cả hai chuyển địa điểm các cuộc gặp gỡ về một trong ba “ngôi nhà an toàn” được dành riêng đề sử dụng cho mục đích này. Các cuộc gặp đều đặn diễn ra hai tuần một lần, vào thời gian ăn trưa hoặc vào buổi tối, khi mà sự vắng mặt của Martynov không gây nên sự chú ý

Trong các buổi gặp, họ thường dùng bánh sandwich đựng trong những chiếc. đĩa gỗ; nếu như cược gặp diễn ra vào buổi tối thì cả hai tự cho phép mình uống một hai ly bia.

Khi lái xe đến ngôi nhà an toàn, Martynov cực kỳ thận trọng. Anh ta lái xe vào các ngõ cụt rồi quay ra để đảm bảo chắc chắn rằng mình không bị bám đuôi. Hơn nữa, một nhóm các điệp viên FBI luôn theo sát anh ta. Sau mỗi cuộc gặp, Martynov nhận được 300 USD bằng tiền mặt. Ngay lập tức, Holl khuyên Martynov rằng chớ có tiêu pha một cách khác thường với số tiền đó bởi sẽ gây nên những sự chú ý không cần thiết. Về mặt này, Martynov cũng tỏ ra khá thận trọng. Những khoản chi tiêu bất thường hiếm hoi mà anh ta tự cho phép mình làm là mua một cái máy tính cho cậu con trai l2 tuổi và một cái áo lông chồn tặng vợ nhân dịp sinh nhật. Cái áo lông chồn này, do có thể gây nên nỗi ngạc nhiên trong số các nhân viên sứ quán, cũng được mua theo phương thức trả góp.

Hàng tháng, một khoản tiền 1500 USD cũng được chuyển vào tài khoản có giao kèo đứng tên Martynov. Khoản tiền này là một đảm bảo để trấn an nỗi lo ngại của Martynov về tương lai của gia đình anh ta. Một công việc khác mà nhóm Courtship phải thực hiện là cung cấp những “thành tích” trong công việc của Martynov. Holl đề nghị và Martynov chấp nhận rằng anh ta sẽ được cung cấp tin tức bởi một nguồn tin chắc chắn vào những thời gian đã định trước cùng với ba nguồn tin không thường xuyên khác. Làm như thế để những người chỉ huy của Martynov trong KGB hài lòng vừa đủ nhưng lại không khiến họ quá nghi ngờ.

Càng ngày, Holl càng cảm thấy ưa thích Martynov. Để giải toả bớt cái áp lực nặng nề luôn lơ lửng trên đầu họ, Hơll thường có các cuộc trò chuyện tâm tình với Martynov. Họ có hai cô con gái cùng tuổi và thường cùng ngồi để ngẫm nghĩ về những niềm vui cũng như nỗi cay đắng của bậc làm cha mẹ. Khi cậu con trai của Martynov bị bệnh nặng về đường hô hấp, Holl đã giới thiệu đưa cậu ta đến một chuyên gia về phổi để điều trị. Đôi lúc, khi tới gặp Holl, Martynov có thể bông đùa: “Phái viên mật từ Đế quốc tội lỗi, đã tới đây!” Vào một dịp khác, anh ta thật lòng bày tỏ lấy làm tiếc về việc chiếc máy bay dân dụng của hàng không Hàn Quốc bị Liên Xô bắn rơi năm 1983 khiến cho nhiều người Mỹ bị thiệt mạng. Holl thường nghĩ rằng nếu như ở trong những hoàn cảnh khác thì hẳn là hai người đã trở thành những người bạn thực sự.

Valery Martynov đã tiết lộ cho phía Mỹ danh tính của hơn 50 nhân viên tình báo Liên Xô đang hoạt động bên ngoài phạm vi sứ quán. Trước đó, FBI hoàn toàn không biết gì về sự tồn tại của những người này. Thông tin đo Martynov cung cấp đã giúp cho các nhân viên phản gián Mỹ không phải mất công sức và thời gian để theo vết những người thực sự không hoạt động tình báo. Martynov còn tiết lộ cả một số mục tiêu khoa học kỹ thuật mà KGB đang theo đuổi hoặc đã thâm nhập thành công. Nhờ thế, FBI có thể bịt được những nguồn rò rỉ tin tức hoặc tung tin giả ngược lại cho KGB.

Tuy nhiên, trên thực tế, Martynov không thể cung cấp được cho phía Mỹ tên tuổi của bất kỳ người Mỹ nào trong FBI, CIA hoặc các cơ quan an ninh khác của Mỹ đang hoạt động cho phía Liên Xô. Hệ thống bảo vệ bí mật nội bộ của KGB hoạt động quá hoàn hảo.

Ngoài điều đó ra, như John Lewis, người của FBI phụ trách nhóm Courtship đã hoan hỷ nhận xét, Martynov là “một mỏ vàng”.

Cũng vào khoảng thời gian Martynov trở thành một gián điệp hoàn toàn hoạt động dưới sự điều khiển của nhóm Courtship thì một sĩ quan tình báo thứ hai của KGB tại sứ quán Liên Xô, Sergei Motorin, cũng bị FBI tuyển mộ. KGB chia các bộ phận của mình thành các chi nhánh, gọi là các “tuyến”. Motorin là người thuộc Tuyến PR, chuyên về các hoạt động tình báo chính trị. Vỏ bọc tại Washington của Motorin là phóng viên của Hãng thông tấn Novosti.

Giống như Martynov, Motorin cũng là một thiếu tá KGB. Đã cưới vợ và có hai con nhỏ, nói tiếng Anh một cách hoàn hảo. Đây cũng là chuyến công tác ra nước ngoài đầu tiên của Motorin. Sự tương đồng giữa hai người chỉ dừng lại ở mức đó.

Ba mươi tuổi, cao khoảng lm80, Motorin có một vẻ đẹp trai đầy ấn tượng với nụ cười tươi rói, thân hình săn chắc, mái tóc màu hung chải lượn sóng một cách kỹ càng và bộ ria được tỉa gọn gàng.

Motorin tốt nghiệp loại ưu tú chuyên ngành báo chí tại Học viện quan hệ quốc tế Moscow. Một năm sau đó, Motorin vào làm việc cho KGB, chủ yếu do các mối liên hệ với cô vợ Olga mà anh ta mới cưới. Bố của Olga là một sĩ quan tình báo làm việc cho Cơ quan tình báo quân sự Liên Xô GRU, còn mẹ. của Olga là một nhân viên thuộc Cơ quan an ninh NKVD dưới thời Stalin.

Sergei Motorin không phải là người cam chịu một cuộc sống tẻ nhạt. Tới Washington vào khoảng giữa những năm 80, chỉ vài tháng sau đó, Motorin đã bắt đầu làm bộ làm tịch, ve vãn những phụ nữ ở khu sứ quán, cả có chồng cũng như chưa có chồng. Những người này bị mê hoặc bởi vẻ ngang tàng phóng đãng của anh ta. Motorin thường xuyên vào trong thành phố, tới các tiệm rượu hoặc quán ăn sang trọng, nơi anh ta uống vodka như hũ chìm. Rất nhanh chóng, Motorin trở thành đối tượng chú ý của CI-2, nhóm phản gián Mỹ chịu trách nhiệm theo dấu các điệp viên KGB thuộc Tuyến PR. Motorin cũng chẳng buồn giấu giếm sự quan tâm của anh ta đối với những vấn đề chính trị nội bộ của nước Mỹ, những định hướng chính sách đối ngoại trên đồi Capitol, Bộ ngoại giao hoặc những người làm việc trong giới truyền thông đại chúng Mỹ.

Nhóm CI-2 đã tìm ra phương thức tuyệt diệu để bẫy Motorin lúc các nhân viên giám sát phát hiện được Motorin, khi vào trong một cửa hàng điện tử, đã lén lấy những chai rưựu vodka anh ta mang theo từ kho của sứ quán để đánh tráo lấy thiết bị nghe nhìn stereo trong cửa hàng. Người nhân viên bán hàng đã dễ dàng bị anh ta qua mặt.

Điệp viên Mike Morton liền tới gặp người quản lý cửa hàng, giải thích rằng đây là một vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia và thoả thuận rằng người nhân viên bán hàng, nếu như thấy Motorin tiếp tục làm thế, sẽ không được trừng phạt anh ta. FBI sẽ đền cho cửa hàng tất cả những thiết bị điện tử bị mất.

Lần tiếp sau đó, khi Motorin bị nhân viên cửa hàng phát hiện đổi rượu vodka thì Mike Morton liền xuất hiện. Người nhân viên bán hàng giới thiệu Morton là “một nhân viên chính phủ” và với một cái nháy mắt đầy ý nghĩa, thêm rằng Morton cũng là một khách hàng của anh ta, “giống như anh vậy”.

Không hề lộ vẻ bối rối một chút nào, Motorin cười thoải mái và nói với Morton: “Tốt thôi, chúng ta có nhiều điểm giống nhau. Anh làm việc cho chính phủ anh, còn tôi làm việc cho chính phủ của tôi. Cả hai chúng ta đều là những kẻ lừa đảo. Hãy đi đâu đó và uống một chút gì đi!”

Rõ ràng việc sử dụng hành vi của Motorin để hòng gây sức ép, bắt bí anh ta không tỏ ra hiệu nghiệm gì mấy. Thế nhưng ít nhất một mối quan hệ cũng đã được thiết lập và điệp viên Morton bắt đầu cùng với Motorin lang thang khắp các quán rượu ở Washington, tìm cách pha nước lã vào cốc của mình mỗi khi có dịp. Mọi chi tiết được che đậy của chiến dịch tuyển mộ hoạch định một cách tinh vi bỗng chốc trở nên không cần thiết khi một đêm nọ, Motolin bảo Morton:

“Này, tôi cũng như anh. Tôi có thể là một điệp viên KGB, anh cũng có thể là một điệp viên FBI. Tại sao chúng ta không thể vui vẻ cùng nhau và quên hết mọi sự đi nhỉ?”

Morton nói một cách tàn nhẫn để đưa Motorin trở lại với thực tế. “Sergei này - Morton nói - Chúng tôi biết tất cả về anh. Anh “bắt vít” bất cứ một người đàn bà nào rơi vào tay anh. Anh đang bên bờ vực của một sự đổ vỡ không thể nào cứu vãn được. Vợ anh sẽ hành động ra sao nếu như biết được những hành vi của anh. Cô ấy sẽ gây cho anh nhiều phiền phức, đưa anh về Moscow ngay trong chuyến bay sớm nhất đấy. Thật không hay ho chút nào nếu như chúng ta cứ tiếp tục nhìn về quá khứ Chúng tôi có thể giúp anh và sự nghiệp của anh. Anh cung cấp cho chúng tôi một cái gì đó và chúng tôi cũng sẽ làm như vậy đối với anh, giúp anh thăng tiến trong sự nghiệp.”

Motorin lắc đầu: “Tôi là điều tốt đẹp nhất đối với Olga - anh ta nói - Anh có biết hầu hết những người đàn ông Nga ở trên giường ngủ kém cởi như thế nào không?” Hơi lưỡng lự một chút rồi với vẻ không được tự tin cho lắm, anh ta nói thêm: “Tôi là một người làm tốt công việc của mình. Có thể có những người trong bộ máy quan liêu không thích điều đó lắm.” Cuối cùng, nhìn thẳng vào mắt Morton, Motorin nói: “Tôi sẽ không làm điều gì phản bội lại Tổ quốc tôi!”

Morton thầm cảm phục cái vẻ tuyệt vọng trong hành động của Motorin nhưng không chịu bỏ cuộc: Hãy chờ xem - anh ta nói - Anh sẽ thấy là tôi đúng”.

Mọi việc bỗng bất ngờ quay sang một hướng kịch tính khi Motorin trở lại Mỹ sau một chuyến về thăm nhà Anh ta nói với vẻ cam chịu: “Tôi nghĩ sẽ tốt hơn nếu như tôi giúp FBI chống lại KGB”.

Họ bắt đầu gặp nhau tại các “ngôi nhà an toàn”. Trong các cuốc gặp gỡ đó, chỉ có hai người, Morton và Motorin. Motorin từ chối làm việc với bất kỳ một ai khác Hoặc là Morton, hoặc không ai cả. Cũng không được dính dáng gì đến CIA. Có lẽ Motorin cố gắng tạo ra một thế giới trong tưởng tượng, nơi chỉ có những người bạn trao đổi những mới quan tâm, giúp đê lẫn nhau, một thế giới không có Liên Xô mà cũng chẳng có Mỹ.

Những thông tin mà Motorin cung cấp không giá trị bằng những thông tin của Martynov và cũng không tương xứng với những khoản tiền mà anh ta được trả. “Tôi cần tiền cho những chi tiêu của tôi” - Motorin nói. Morton vẫn tin rằng Motorin là một nguồn tin quý giá đầy tiềm năng và anh la sẽ có những lợi ích lớn cho phía Mỹ trong tương lai.

Nhưng bỗng nhiên tất cả kết thúc một cách bất ngờ. Cuộc gặp cuối cùng của hai người diễn ra vào ngày 3-l-1985. Sau đó hai ngày, không một lời báo trước, Metorin đã ở trên chiếc máy bay trở về Moscow.

Thoạt đầu, xuất hiện mối lo ngại rằng Motorin quyết định đào tẩu Nhưng Martynov, người tự nhận mình là một nhân viên của KGB, cho biết là Motorin đã đi quá xa trong sự nghiệp tình ái của mình. Anh ta bị bắt quả tang ở trên giường với thư ký của một quan chức cấp cao trong sứ quán. Các nhân viên an ninh bảo vệ nội bộ sứ quán cho rằng tiếp tục để Motorin ở lại Mỹ là một điều quá mạo hiểm. Ai mà dám chắc là người phụ nữ tiếp theo trên giường với anh ta lại không phải là một điệp viên của Mỹ!.

Hồ sơ của Motorin dưới mật danh “Meges” (tên một chiến binh Hy Lạp đã nấp bên trong con ngựa gỗ thành Troie) được chuyển giao cho CIA để hy vọng vào khả năng có thể liếp tục sử dụng viên thiếu tá KGB ở phía bên kia Bức màn sắt hoặc bất cứ nơi nào trên thế giới, nơi có thể móc nối lại được với anh ta.

Cũng như với Martynov, việc các hoạt động của Motorin nằm trong hồ sơ của CIA sẽ gây nên kết cục bi thảm cho cả hai.

Trong khi đó, Martynov tiếp tục chuyển các thông tin cho Jim Holl và những đối tác trong CIA của anh ta. Rồi mùa hè năm 1985, cộng đồng tình báo Mỹ xôn xao về vụ đào thoát của điệp viên KGB quan trọng nhất mà CIA có được trong tay, đại tá Vitaly Yurchenko, được coi là người chịu trách nhiệm chính điều hành các chiến dịch của KGB ở Mỹ và Canada. Những tin tức mà Yurchenko tiết lộ cho CIA và FBI đã dẫn tới việc phát hiện được một cựu nhân viên CIA, Edward Lee Howard,. và một cựu nhân viên Cục an ninh quốc gia, Ronald Pelton, đang làm việc cho Liên Xô. Mặc dù CIA đảm bảo trả ít nhất l triệu USD và được bảo vệ an toàn tại Mỹ nhưng Yurchenko vẫn khẳng định rằng không có một “chuột chũi” - điệp viên - nào của phía Xô viết đang hoạt động trong nội bộ CIA.

Yurchenko yêu cầu vụ đào thoát của mình phải được giữ tuyệt đối trong vòng bí mật. Thế nhưng giám đốc CIA khi đó là William Casey đã không thể cưỡng lại cái ham muốn được khoe khoang chiến tích của CIA khắp Washington và thế là vụ đào thoát của Yurchenko trở thành tin tức hấp dẫn trên đầu các trang báo.

Vào khoảng cuối tháng 10 - 1985, trong khi các sự việc này đang tiếp diễn thì

Holl có một cuộc gặp bí mật với Martynov tại một “ngôi nhà an toàn” và nhận ra Martynov ủ rũ trông thấy. Anh ta nói vừa bị ngã, sụn ở gót chân bị tổn thương. Martynov hy vọng rằng những bài tập thể dục theo chỉ định của bác sĩ sẽ giúp cho anh ta tránh được việc phải phẫu thuật. Martynov cũng nói các bác sĩ khuyên rằng việc giảm bớt trọng lượng sẽ giúp ích cho anh ta.

Rồi vào buổi tối ngày thứ bay, 2-l-1985, “món quà” lớn nhất mà CIA có được trong tay, đại tá KGB V. Yurchenko, trong khi đang dùng món cá hồi trần nước sốt với người nhân viên an ninh canh giữ mình tại một tiệm ăn ở khu Georgetown ngoại ô Washington, đã chào từ biệt ra đi và không bao giờ quay trở lại nữa. CIA đau như bị hoạn.

Valery Martynov đã được Holl trao cho một số máy nhắn tin để sử dụng trong những trường hợp khẩn cấp Việc gợi đến số máy nhắn tin này phải được thực hiện tại trạm điện thoại công cộng và anh ta có thể nhận được câu trả lời từ một trạm điện thoại công cộng khác. Hai mươi bốn giờ sau khi Yurchenko “cắt” được những cái đuôi canh giữ mình và biến mất, máy nhắn tin đặc biệt này bắt đầu hoạt động.

“Chúng tôi đã có Yurchenko” - Martynov thông báo cho Holl. Anh ta nói thêm rằng vào chiều ngày hôm sau, thứ hai, 4- 11, một cuộc họp báo sẽ được tổ chức trong khu nhà sứ quán mới của Liên Xô trên đồi Alto ở Washington.

Tại cuộc họp báo, Yurchenko tuyên bố ông không phải là một người đào thoát mà bị CIA bắt cóc tại thủ đô Roma của Ý, bị tiêm thuốc và đưa về Mỹ, nơi ông đã bị giam giữ như một tù nhân trước khi tìm được cơ hội trốn thoát vào sứ quán Liên Xô.

Vào cuối buổi tối hôm đó, Martynov lại sử dụng máy nhắn tin đặc biệt một lần nữa. Anh ta thông báo rằng mình là một thành viên trong nhóm “hộ tống”

Yurchenko trở về Moscow. Họ sẽ rời Washington vào ngày thứ tư, từ phi trường Dulles. “Tôi sẽ quay lại sau một tuần” - Martynov hứa hẹn.

Holt xem tường thuật sự kiện Yurchenko rời nước Mỹ trên truyền hình, trong đó nhìn thấy cả Martynov nữa. Đó là lần cuối cùng Holt trông thấy anh ta.

Thoạt đầu, khi không thấy Martynov quay trở lại theo thời gian như đã hứa, đã không xuất hiện ngay các mối lo ngại ở Washington. Mười ngày sau đó, vợ của Martynov đang ở Mỹ nhận được thông báo vết thương ở gót chân chồng cô ta nghiêm trọng hơn người ta tưởng. Anh ta sẽ phải trải qua một cuộc phẫu thuật. Ít ngày sau đó, lại có một bức điện được đánh đi từ Moscow. Martynov muốn vợ và các con quay về Liên Xô với mình.

Nhìn bề ngoài, mọi việc diễn ra đều có vẻ bình thường Trong khoảng 5 tháng, căn hộ của gia đình Martynov ở Alexandria, Virginia, không hề bị đụng chạm đến, các đồ vật vẫn ở nguyên vị trí như đang chuẩn bị đón người chủ cũ trở về. Tuy nhiên, đến tháng 4-1986, căn hộ bị niêm phong lại, các đồ nội thất được chuyển đi.

Ở phía bên kia Bức màn sắt, đã xảy ra vô số những điều bí ẩn. Chẳng hạn như từng có tin đồn rằng Yurchenko đã bị xử tử. Nhưng tin này đã bị loại bỏ ngay khi người ta biết rằng Yurchenko vẫn sống ở Moscow và làm công tác bảo vệ an ninh cho các nhà ngoại giao Xô viết ở nước ngoài. Câu hỏi liệu Yurchenko có phải là một người đào thoát thực sự hay đây chỉ là một vụ dàn cảnh tinh vi khéo léo và KGB đã chơi cho CIA một vố đau vẫn chưa có được câu trả lời đáng tin cậy.

Nhưng trong thời gian các sự kiện tiếp tục diễn ra, CIA bắt đầu lo ngại khi nhận được những tin tức lẻ tẻ nói rằng Martynov và Motorin đã gặp phải một số phiền phức, có thể đang ở trong tù hoặc thậm chí đã chết. Giận dữ và cay đắng bởi cùng một lúc mất cả hai nguồn tin có giá trị, FBI đã tiến hành một cuộc điều tra trong nhiều tháng trời để tìm xem lịệu có sai sót gì trong chiến dịch tuyển mộ và điều khiển hai nguồn tin quý giá này hay không. Có đúng là đã có những sai sót hay là do một nguyên nhân nào khác?

Có thể là không có sai sót. Các nhân viên tình báo Mỹ đã nghe trộm được một cú điện thoại của Motorin gọi từ Moscow cho cô bạn gái bị bắt quả tang trên giường ngủ cùng với anh ta và cũng là “nguyên nhân” khiến cho anh ta phải rời Washington. “Đừng lo lắng gì cả”- Motorin nói với cô bạn gái. Anh ta mới được giao một nhiệm vụ đặc biệt mà không thể tiết lộ cho cô ta được Anh ta thấy nhớ cô ta và sẽ gặp lại trong thời gian sớm nhất. Điệp viên Mike Morton nhận ra đó đúng là giọng nói của Motorin, rõ ràng là đang ở trong trạng thái hết sức vui vẻ.

Thế nhưng đó chỉ là một đòn phép của KGB. Mùa hè năm 1987, đã có những tin tức xác nhận rằng cả hai đều đã chết. Sau đó, được biết rằng Manynov đã khai báo về quá trình bị tuyển mộ và làm việc cho FBI rồi bị xử bắn. Motorin cũng cùng chung số phận.

Gần 9 năm trôi qua kể từ cái ngày Jim Holt trông thấy Martynov lần cuối cùng trên cầu thang máy bay ở phi trường Đulles, trước khi FBI biết được rằng có một “chuột chũi” đã chui rất sâu trong lòng CIA.

Đó là một điệp viên giết người có máu lạnh.

Chương I

Nằm ở Buzzard Point trong khu ghetto Anacostia đầy rẫy ma tuý và những vụ giết người, toà nhà hình dạng xấu xí của Văn phòng FBI tại Washington hoàn toàn ăn nhập với khung cảnh xung quanh. Phía bên kia đường Half là cái ga xép bụi bặm của Công ty điện lực Potomac. Cạnh đó là những bãi phế liệu với hàng đống kim loại, lốp cũ, được đem đi thiêu huỷ định kỳ. Cách đó một quãng ngắn là hai khối nhà được sơn lòe loẹt. Đấy là hộp đêm, nơi thỉnh thoảng vào lúc sáng sớm, người ta có thể chứng kiến những vụ bắn nhau dữ dội của đám thanh niên choai choai. Toàn bộ cái khung cảnh quái dị đó làm cho các nhân viên FBI làm việc tại Văn phòng Washington có được cái vẻ ngầu ngầu phóng đãng độc nhất vô nhị mà không một văn phòng nào khác có được.

Từ cửa sổ văn phòng của mình trên tầng 11, điệp viên đặc biệt FBI Robert Bryant có thể nhìn thấy những xoáy nước đầy rác rưởi trên sông Anacostia trước khi nó chảy vào sông Potomac, cách khoảng một phần tư dặm về phía dưới. Thỉnh thoảng, Bryant lại trông thấy những xác người bị xoáy nước ở chỗ hai con sông gặp nhau làm cho trồi lên và khi đó, ông ta liền bảo người thư ký:

“Hãy gọi cho cảnh sát. Báo cho họ biết là lại có một cái xác nữa ở trên sông đấy!”.

Bryant có biệt danh là Gấu. Nguyên do của biệt danh này không phải vì ông ta là huấn luyện viên của đợi bóng đá Mỹ nổi tiếng Alabama. Khi mới lên mười, một thằng bạn trong lớp chuyên đi bắt nạt những đứa yếu hơn đã vô phúc chọn Bryant làm mục tiêu của mình. Chỉ một chốc sau, thằng bé kia đã nước mắt ngắn nước mắt dài chạy về nhà, mếu máo mách: “Mẹ ơi, thằng Bobby Bryant nó đánh con như một con gấu!” Sự thực là với chiều cao chỉ hơn lm6 một chút, khuôn mặt có vẻ hoà nhã, dáng đi vụng về, lóng ngóng, trông Bryant quả là giống một con gấu tết bụng. Thế nhưng những ai đã có cơ hội làm việc chung với ông ta đều biết rằng một khi đã theo một vụ nào thì dù bằng cách này hay cách khác, ông ta sẽ đeo bám một cách dữ tợn cho đến khi nó được giải quyết xong mới thôi.

Sinh năm 1943 ở Springfield, Missouri, Bryant có bằng cử nhân của Đại học tổng hợp Arkansas. Công việc chính của Bryant ở FBI là chống các hoạt động tội phạm có tổ chức và ông ta đã thăng tiến rất nhanh trong nghề nghiệp. Cuối những năm 70, Bryant đã điều hành Văn phòng FBI ở Las Vegas, khi mà mafia và các quan chức tham nhũng của Công đoàn các tài xế xe tải đang kiểm soát chặt chẽ những sòng bạc ở đây. Sau đó, ở Kansas City, Bryant đã đương đầu với “gia đình” Civellơ của tổ chức Cosa Nostra, một trong những gia đình hùng mạnh nhất trong thế giới ngầm tại Mỹ.

Tháng 7-199l, ông ta được bổ nhiệm vào chức vụ chỉ huy Văn phòng FBI

Washington. Vào thời gian đó, văn phòng này đang hướng trọng tâm các hoạt động của nó vào công tác phản gián đối ngoại và do vậy, huy động tới hơn một nửa số nhân lực của văn phòng cho công việc này. Nhưng Bryant nhìn nhận sự việc theo cái cách riêng của ông ta. Đối với Bryant, một cuộc điều tra là một cuộc điều tra. Cho dù đối tượng là một bố già trong thế giới ngầm hay là một điệp viên KGB thì công việc vẫn là xây dựng và phát triển các nguồn tin, thu thập chúng để phục vụ cho việc truy tố hoặc nắm bắt thông tin. Lẽ dĩ nhiên, giữa hai công việc này có những sự khác biệt tinh tế khó nhận thấy và trong lĩnh vực này, Bryant luôn có thể trông cậy vào phụ tá chính của ông ta là John Lewis, người từng cầm đầu nhóm Courtship và có những hiểu biết và kinh nghiệm vô giá trong các hoạt động chống tội phạm cũng như phản gián.

Khoảng một năm sau khi Bryant đảm nhiệm công tác ở Buzzard Point, một nhân viên phản gián trẻ có tên là Les Wiser Jr để đạt nguyện vọng muốn thay đổi vị trí công tác. Wiser đã từng là thành viên của nhóm phản gián CI-l7, chuyên phụ trách các hoạt động liên quan đến địa bàn Đông Đức. Khi bức tường Berlin sụp đổ vào năm 1989, nhóm này chuyển hướng các hoạt động điều tra của nó sang những đối tượng gián điệp hải ngoại, đặc biệt là những hoạt động gián điệp tại các sứ quán cũng như lãnh sự quán Mỹ ở nước ngoài. Wiser đặc biệt ưa thích cái trò chơi mèo vờn chuột với các điệp viên có trình độ cao của tình báo Đông Đức. Các cuộc đọ sức trong thế giới hoạt động gián điệp và chống gián Điệp ít ra cũng mang đến một sự thú vị nào đó. Nhưng rồi đột nhiên, những thách thức đó biến mất. Anh ta cảm thấy buồn chán khi cứ phải hàng ngày đọc những bài báo hoặc nghe các thông báo từ đồi Capitol rằng cuộc chiến tranh lạnh đã chấm dứt. Thêm vào đó, trong các hành lang của Văn phòng FBI

Washington lại lan truyền những tin đồn nói rằng Gấu Bryant đang hướng nhiều hơn các hoạt động của Văn phòng FBI vào việc chống lại các băng nhóm tội phạm cũng như những hoạt động buôn bán ma tuý trên địa bàn đặc khu Colombia. Wiser cho rằng cả về phương diện tâm lý của bản thân lẫn tương lai nghề nghiệp, với tư cách là một đặc vụ FBI, có thể anh ta sẽ phải quyết định tách ra khỏi các hoạt động chống tội phạm đơn thuần.

Nhưng với một sự ngạc nhiên lớn, Wiser nghe thấy sếp Bryant bảo: “Tại sao cậu không tiếp tục làm việc với nhóm phản gián thêm ít nhất là 6 tháng nữa!”

Trong những trường hợp tương tự, một gợi ý như vậy của Gấu được hiểu tương đương với một mệnh lệnh. Thế là Wiser tiếp tục ở lại. Và Wiser đã được tưởng thưởng bằng việc nhóm phản gián của anh ta nhận lệnh hướng trọng tâm hoạt động vào các quốc gia mà trong thời gian diễn ra cuộc chiến tranh lạnh đã không phải là mục tiêu được chú ý lắm như các nước ở châu Á: Nhật Bản, Pakistan; các quốc gia Trung Đông; tăng cường thêm các hoạt động hướng vào lục địa châu Phi. Các quốc gia này luôn sẵn sàng chỉ chờ cơ hội thuận tiện là xoáy ngay các bí mật của Mỹ trên đủ mọi lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế cho đến Tác Giả: Peter Maas ĐIỆP VIÊN Ở WASHINGTON Người Dị{ch: Yên Ba khoa học công nghệ. Wiser bắt đầu công việc chỉ với 5 điệp viên, có người đã có kinh nghiệm hoạt động lâu năm nhưng cũng có người chưa đủ kinh nghiệm dù chỉ để làm công tác giám sát. Tuy nhiên, chỉ trong một thời gian ngắn sau đó, Wiser đã xây dựng được một nhóm hành động cực kỳ linh hoạt và năng động khiến cho điệp viên của các nhóm phản gián khác đều muốn gia nhập nhóm của anh ta. Tất cả những động thái đó đều không lọt qua khỏi sự chú ý của Bryant.

Khi đề đạt với Bryant nguyện vọng muốn thay đổi môi trường công tác, Wiser không hề biết rằng khi đó Gấu đã khởi đầu ở Buzzard Point một điệp vụ phản gián lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ và điệp vụ này sau đó đã theo mỗi bước chân của Wiser, vào cả trong những giấc ngủ hằng đêm của anh ta.

Mùa xuân năm 1991, Paul Redmond, Phó giám đốc CIA đặc trách công tác phản gián đã đề nghị có một cuộc gặp ngay tại Tổng hành dinh FBI với Ray Mislock, Trưởng Ban Liên Xô thuộc Phòng 5 của FBI, chịu trách nhiệm bảo vệ an ninh quốc gia Mỹ. Đối với Redmond, đây không phải là một chuyến viếng thăm dễ chịu gì. Ông ta buộc phải thừa nhận một sự thật cay đắng. “Đang có kẻ thọc dao vào lưng chúng tôi - ông ta nói với Mislock - Chúng tôi cho rằng hiện đang có một kẻ xâm nhập sâu vào trong nội bộ của chúng tôi, ở cấp rất cao”.

Và cũng là lần đầu tiên, FBI được CIA chia sẻ toàn bộ những bí mật đang xảy ra, khẳng định chắc chắn những mối lo ngại của cơ quan này là có cơ sở. Kể từ sau hai vụ xử tử Valery Martynov và Sergey Motorin, giờ đây, FBI mới lại được biết rằng một nguồn tin quý giá khác của FBI ở Liên Xô đã tồn tại từ ba mươi năm nay, kể từ năm 196l, cũng đã bị phát hiện và hành quyết. Đó là một sĩ quan cấp tướng hoạt động trong Cục tình báo quân sự GRU của Liên Xô, đã được FBI chuyển giao cho CIA khi người này rời khỏi nước Mỹ. Đó có thể là nguồn tin thuộc vào loại quý giá bậc nhất của CIA tại Liên Xô. Cũng còn một tổn thất thứ tư nữa, một trung tá KGB dơ Văn phòng FBI tại San Franciscơ tuyển mộ. Cũng như trường hợp trước, khi người này quay trở lại Liên Xô, anh ta đã được FBI chuyển giao cho CIA.

Anh ta chỉ đơn giản là đã biến mất không để lại một tăm tích nào và không ai biết được số phận của anh ta ra sao.

Vẫn chưa hết. CIA cũng buộc phải xấu hổ thú nhận rằng ít nhất có tới nửa tá nguồn tin của chính CIA đã trở thành con mồi cho các đội xử bắn hay tệ hơn, trong các nhà tù của KGB. Đó là số phận dành cho những kẻ phản bội.

Tình hình đã ở vào tình trạng tuyệt vọng và CIA không biết phải bắt đầu lần mò từ đâu. Với sự chuẩn y của Giám đốc CIA khi đó (cũng là cựu giám đốc FBI) là William Webster, CIA buộc phải miễn cưỡng nhờ đến các kỹ năng điều tra của FBI. Kể từ khi được thành lập vào năm 1947, giờ đây, CIA mới cho phép FBI tiếp cận không chỉ những tài liệu tóm tắt mà cả những tài liệu gốc, toàn bộ chi tiết các vụ việc đã xảy ra để có thể lần ra những manh mối của một sự phản bội chết chóc.

FBI đặt mật danh cho cuộc điều tra này là. Playactor - Kép Hát.

Playactor được chia làm hai phần. Trong phần đầu, hai điệp viên từ Tổng hành dinh của FBI là Jim Holt và Jim Milbum sẽ cùng làm việc với hai nữ chuyên viên phân tích của CIA tại Tổng hành dinh CIA ở Langley, Virglnia, đầu não của mọi hoạt động và cũng có thể là nơi phát sinh ra những rắc rối chết người. Công việc của họ là tìm ra những khâu mà điệp viên của đối phương có thể xâm nhập, phương cách xâm nhập và cuối cùng, cũng là yếu tố quyết định nhất, ai có thể là “chuột chũi” của tình báo Liên Xô.

Việc lựa chọn Holt và Milbum tham gia điệp vụ Playactor là một quyết định sáng suốt. Cho đến những ngày này, giữa CIA và FBI vẫn còn tồn tại một sự cách biệt lớn về văn hoá. Trong CIA, nhiều người vẫn tiếp tục giữ một thái độ kẻ cả, coi FBI chỉ như là một đám những kẻ rình mò thô thiển còn sót lại từ thời J. Edgar Hoover. Nhưng Holt, với bản tính trầm tĩnh, hoà nhã, người đã từng tham gia điều khiển Valery Martynov, cũng đã phối hợp một cách tuyệt hảo với điệp viên CIA được giao nhiệm vụ cộng tác trong chiến dịch Courtship. Còn Milbum, người đã làm công tác phản gián khi bắt đầu làm việc cho FBI kể từ năm 1978, thậm chí cả Langley cũng phải nể phục bởi vốn hiểu biết vô cùng sâu rộng của anh ta đối với các hoạt động của KGB. Anh ta nắm rất rõ lịch sử phát triển của KGB, những chiến dịch mà cơ quan này tiến hành trong các thời điểm khác nhau, những ưu tiên trong hoạt động của KGB, cách thức mà cơ quan tình báo này điều hành các điệp viên. Đã từng tồn tại một giai thoại nổi tiếng vào cuối những năm 80, khi một nguồn tin của Milbum đang trình bày về một kịch bản chiến dịch đặc biệt của KGB. Trong khi người này đang thao thao bất tuyệt thì bất chợt Milbum cắt ngang: “Nhưng chẳng phải là họ đã thay đổi cái kịch bản này vào khoảng hai tháng trước đây hay sao?” Thế là người kia ngượng ngùng thừa nhận:” “Vâng, ông nói đúng. Tôi đã quên mất điều đó”.

Phần hai của Playactor bắt đầu vài tháng sau đó, là một cuộc điều tra song song được tiến hành ngay tại văn phòng FBI ở Washington. Tim Caruso, 44 tuổi, một người có phông cách làm việc tỉ mỉ, nguyên tắc, trưởng nhóm phân tích chống tình báo Liên Xô thuộc Phòng 5, được biệt phái từ Tổng hành dinh FBI tới để thành lập và đứng đầu một nhóm tham gia vào giai đoạn này. Nom bề ngoài, Caruso có dáng vẻ như vị hiệu trưởng lạnh lùng của một trường tư thục dành cho con em tầng lớp tinh hoa trong xã hội. Các điệp viên vẫn thường vụng trộm bông đùa rằng nếu như mặc thêm một cái quần kẻ sọc với cái áo choàng đuôi tôm thì hẳn là Caruso sẽ bị Bộ ngoại giao trưng dụng ngay.

Khi được giao nhiệm vụ mới, Caruso lập tức nhớ đến câu nói của một nhà hiền triết: “Chẳng có gì mới khi mọi sự lặp lại từ đầu”. Năm năm trước đó, vào một buổi chiều giá lạnh buồn thảm của tháng 11 năm 1986, khi đang đảm nhiệm công tác giám sát các hoạt động của KGB trong các cơ quan chính phủ Mỹ, Caruso đã được triệu đến văn phòng Phó trợ lý giám đốc Phòng 5 để nghe thông báo về những. khả năng tồi tệ có thể xảy ra đối với Martynov và Motonn. Việc chỉ trong có một thời gian ngắn mà FBI bị mất liên tiếp hai nguồn tin quý giá là điều không thể chấp nhận được. Liệu đã có một sai sót nào đó chăng? Cuộc Điều tra này được đặt mật danh là Amace, tên của một loại dao găm có từ thời Trung cổ. Vấn đề là ở chỗ hiện ai đang nắm giữ con dao găm ấy?

Trong mười tháng sau đó, Camso cùng với hai điệp viên của tổng hành dinh FBI và ba nhân viên Văn phòng FBI Washington hàng ngày đều gặp nhau ở Mái Vòm, tiếng lóng chỉ một căn phòng cách âm, không có cửa sổ, được bảo đảm bí mật tối đa, bề ngang 5 mét, rộng 6 mét, nằm sâu trong lòng toà nhà J.

Eđgar Hơover trên đại lộ Pennsylvanya. Họ nghiên cứu tỉ mỉ một sơ đồ trên bức tường lớn - “bức sơ đồ giết người”. Trên đó, tất cả những hoạt động trong công tác điều khiển hai điệp viên của KGB đều được đánh dấu chữ thập. Các báo cáo về hai điệp viên, từng ngày một, được nhóm này nghiên cứu mộ cách hết sức kỹ lưỡng. Các báo cáo này ghi lại từng chi tiết hai điệp vụ liên quan đến hai điệp viên mất tích, kể từ khi họ. được chọn làm mục tiêu cho đến khi bị tuyển mộ.

Tất cả các cuộc gặp gỡ bí mật đã từng diễn ra đều được săm soi như dưới kính hiển vi.

Toàn bộ đều được tái hiện lại. Sai sót đã xảy ra ở khâu nào? Trong quá khứ, đã có nhiều chiến dịch liên quan đến các điệp viên được tuyển mộ bị đổ vỡ mà nguyên nhân là bởi chính các điệp viên này. Đã có một sự phản thùng chăng?

Đây là sai lầm của FBI? Phải chăng trong số những điệp viên được tuyển mộ đã có người hồi tâm nghĩ lại? Liệu điệp vụ có được giữ hoàn toàn trong vòng bí mật hay không? Những ai được quyền tiếp cận với các thông tin về những điệp vụ này? Những “ngôi nhà an toàn” có thực sự an toàn không? Các điệp viên đã thường xuyên sử dụng chúng hay thi thoảng mới dùng đến các ngôi nhà này làm nơi hẹn gặp bí mật? Liệu có tồn tại một sự xâm nhập bằng kỹ thuật của đối phương, một “con rệp” điện tử, băng ghi trộm hay một bức điện đã bị đối phương chặn bắt được? Hay đã có một điệp viên nằm vùng? Cũng có thể là một sự mua sắm hoang phí lơ đễnh nào đó đã vô tình trở thành đầu mới dẫn người Nga đến Martynov và Motorin? Hay là họ đã không giữ mình cẩn thận và cái giá phải trả chính là cái đầu của họ?

Đó là những câu hỏi cực kỳ khó trả lời. Nhưng một cú điện thoại của Motorin cho cô bạn gái ở Washington đã hầu như loại bở hết tất cả những nghi ngờ. Cho mãi tới tận mùa hè năm sau đó mới phát hiện được rằng đó thực ra là một tuyệt chiêu nghi binh của KGB.

Rồi lại còn phải phân tích những dữ kiện liên quan đến Edward Lee Howard nữa chứ. Howard, người mà thời kỳ năm 1983 đã biết rất nhiều bí mật có độ nhạy cảm cao, kể cả danh tính các điệp viên Mỹ tại Liên Xô, để chuẩn bị cho chuyến công vụ của ông ta tại trạm CIA ở Moscow, đã không qua được kỳ kiểm tra cuối cùng trên máy phát hiện nói dối. Kết quả kiểm tra cho thấy Howard đã dùng ma tuý và nghiện rượu, những lý do đủ để sa thải ông ta. CIA chỉ đơn giản thông báo cho Howald rằng ông ta bị đuổi việc, dửng dưng tống ra vỉa hè một con người cảm thấy nhục nhã, tài khoản trống rỗng và không có thu nhập. Mà CIA cũng chẳng thèm cảnh báo cho FBI biết về khả năng tiềm tàng của con người này có thể dẫn tới những tai hoạ. Rỡ ràng việc thú nhận một việc như vậy khiến cho CIA cảm thấy bị mất mặt.

Cho đến cuộc đào thoát năm 1985 của đại tá KGB Yurchenko, FBI mới biết được rằng đã từ lâu, Howard tình nguyện cung cấp tin tức cho phía Liên Xô.

Lập tức, FBI cho đặt một máy quay phim bên ngoài căn hộ của Howard ở Santa Fé, bang New Mexico, nơi ông ta đã tìm được việc làm trong một hãng luật.

Nhưng không may cho FBI là Howard, người mà trong thời gian làm việc ở CIA từng trải qua những khoá huấn luyện kỹ càng về các kỹ năng phát hiện và loại bỏ sự giám sát, đã dễ dàng qua mặt được người điệp viên FBI trẻ tuổi thiếu kinh nghiệm phụ trách việc ghi hình ngôi nhà của ông ta, bằng cách thay thế một hình nhân giả vào chỗ của mình trên xe khi trở về nhà vào ban đêm. Sau đó, người ta chỉ biết được về Howard khi ông ta đã an toàn ở Moscow. Mặc dù FBI có thể chống chế rằng đã phát hiện ra Howard quá muộn và không có bằng chứng buộc tội đủ mạnh để bắt giữ Howard nhưng rõ ràng thất bại này là một nỗi nhục đau đớn của cơ quan này.

Nhưng nhóm Amace của Caruso đã đi tới kết luận rằng mặc dù Howard có thể là người đã tiết lộ tung tích của Valery Martynov nhưng ông ta không thể nào là người giúp KGB phát hiện ra Sergei Motorin. Đơn giản bởi vì Howard đã ra khỏi CIA trước khi chiến dịch Meges liên quan đến Motorin được thông báo cho Langley.

Còn có những vụ việc khác không thể không xem xét Cũng vào khoảng thời gian đó, một lính thuỷ đánh bộ trong đơn vị canh gác toà nhà sứ quán Mỹ tại Moscow, hạ sĩ Clayton Lonetree, đã bí một nữ điệp viên của KGB mua chuộc và cho phép KGB thực hiện được chiến dịch đột nhập khắp toà nhà sứ quán, tiếp cận được cả với trung tâm thông tin tối mật của sứ quán. Lonetree và một lính thuỷ đánh bộ khác canh gác sứ quán đã vi phạm luật lệ khi quan hệ với những phụ nữ Xơ viết duyên dáng xinh đẹp; nhưng không có bằng chứng nào cho thấy họ đi xa hơn thế.

Sau đó, lại có những phát hiện chưa chắc chắn lắm về việc KGB đã có một chiến dịch gài máy nghe trộm trong khắp toà nhà sứ quán. Từ đó nảy sinh một mối lơ ngại khác. Phải chăng khoá mật mã an ninh quốc gia đã bị đối phương giải được?

Tháng 9-1987, nhóm điều tra Amace soạn thảo một báo cáo, trong đó đề nghị phải siết chặt hơn nữa các biện pháp bảo vệ an ninh trong nội bộ FBI. Báo cáo này chỉ ra rằng có thể một số những đổ vỡ có nguyên nhân từ Howard, nhưng không phải là tất cả. Vụ việc liên quan đến toà nhà sứ quán Mỹ tại Moscow vẫn chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn, nhưng những dấu hiệu thu thập được cho thấy có thể đi tới một kết luận rằng đã có một sự xâm nhập của điệp viên đối phương, mà không phải là trong FBI!

Vậy thì chỉ còn có một nơi khác: CIA. Nhưng trong khi CIA cũng khẳng định rằng cơ quan này bị mất một số nguồn tin của chính mình thì những dấu hiệu thu thập được tỏ ra khá sơ sài. Cũng không hề có một tiếng chuông báo động nào đáng kể được gióng lên từ Langley. Cho dù thế nào đi nữa thì FBI cũng chẳng bao giờ lại tự mình thực hiện một cuộc điều tra về CIA nếu như không được mời. Vào thời điểm đó thì đúng là FBI đã không được mời thật!

Nhưng nay, vào cái buổi chiều ngày 8- 11-199l, khi mà thời tiết bên ngoài cũng lạnh lẽo và u ám như 5 năm trước đó, Caruso lại được triệu đến phòng Phó trợ lý giám đốc FBI phụ trách chiến dịch. Tại đó đã có mặt Ray Mislơck, người đứng đầu bộ phận mà Camso đang làm việc và Gấu Bryant, mới được bổ nhiệm làm Trưởng Văn phòng FBI tại Washington.

Caruso được thông báo rằng ông ta đã được chọn để tham gia vào một cuộc điều tra gián điệp lớn và hết sức phức tạp. Nớ cũng có nghĩa rằng ông ta được phép tự chọn lấy các nhân viên điều tra của mình. Caruso được hoàn toàn tự do hành động. Vấn đề là ở chỗ đã có một sự xâm nhập của đối phương vào sâu trong hàng ngũ CIA và gây ra vô sớ những vụ bắt bớ cũng như hành quyết các nguồn tin điệp báo quý giá. Không nghi ngờ gì nữa là cả FBI lẫn CIA đều phải chịu những thiệt hại nặng nề bởi sự xâm nhập này. Và đó là một điệp viên.

Những nguyên nhân như sai sót trong điều hành chiến dịch, việc tiêu pha hớ hênh hay sự xâm nhập bằng các thiết bị kỹ thuật đã bị loại trừ. Đơn giản là vì chúng không thể xảy ra trong một thời gian ngắn, lại ở nhiều vị trí khác nhau đến như thế. CIA sẵn sàng hợp tác lâu dài và đầy đủ. Một đội đặc nhiệm hỗn hợp FBI - CIA được thiết lập ở Langley, cố gắng lần tìm ra những dấu vết để

Caruso có thể theo đó điều tra. Ông ta nghĩ gì về nhiệm vụ mới này?

Tim Caruso không thấy có lý do gì phải vui mừng cả. Ông ta đang trên con đường tiến tới vị trí phụ trách một văn phòng lớn trong một lĩnh vực hoạt động quan trọng của FBI và đủ kinh nghiệm để hiểu rằng nếu như bị tách ra khỏi Tổng hành dinh FBI vào lúc này thì cũng có nghĩa là ông ta sẽ mất đi sự chú ý đối với quá trình thăng tiến của mình.

Caruso trả lời, cố gắng bằng một giọng nhẹ nhàng nhất: “Các ông biết không? Quả thực là ngộ nghĩnh - ông ta nói - Cũng năm năm trước đây, tôi đã ở chính trong căn phòng này, ngồi trong chính chiếc ghế này, ngoài kia cũng lạnh buốt như thế. Đúng là giống nhau như lột”.

Không một ai trong phòng cất tiếng cười.

Caruso trở lại nghiêm túc. Ông ta biết rằng không thể nói “Không, xin cảm ơn” rồi đi ra khỏi phòng. Nhưng ông ta muốn được đảm bảo rằng sẽ không phải chịu sức ép bắt buộc ông ta phải giải quyết vụ việc chỉ trong vòng vài ba tháng.

“Tôi rất sung sướng vì sự tín nhiệm của các ông đốl với tôi - ông ta nói – Nhưng công việc điều tra và phân tích không phải bao giờ cũng mang lại sự hài lòng.

Phần lớn chúng đều không đi tới những kết luận rõ ràng. Và tất nhiên là chúng chiếm mất rất nhiều thời gian. Thường thì ban đầu người ta bao giờ cũng đầy hăng hái, nhiệt tình, nhưng rồi với thời gian, những cái đó sẽ mất dần đi. Tôi biết rõ điều đó. Tôi sẽ đảm nhận công việc. Nhưng tôi phải biết rằng mình sẽ nhận được sự ủng hộ kiên định trước sau như một.”

Dĩ nhiên là tất cả những người có mặt trong phòng đều đảm bảo với Caruso là ông ta sẽ có được sự ủng hộ đó. Nhưng sự có mặt của Gấu Bryant mới đặc biệt khiến cho Caruso yên tâm. Mặc dù kinh nghiệm của Bryant chủ yếu dựa trên những công việc liên quan đến đám tội phạm, là một lĩnh vực không quen thuộc đối với Caruso, nhưng ông ta đã nghe nói nhiều về Gấu, về bản tính lỳ lợm của ông ta, việc ông ta luôn dành sự ủng hộ tuyệt đối đối với những nhân viên của mình. Camso biết rằng Gấu không bao giờ né tránh những quyết định cứng rắn và cũng không trốn tránh trách nhiệm để đổ tội cho cơ chế. Và mặc dù đã trên cương vị chỉ huy nhưng ở Bryant vẫn còn những phẩm chất của một điệp viên lăn lộn trên đường phố. Trong điệp vụ này, Caruso sẽ làm việc trong lãnh địa của Bryant, tại Văn phòng FBI ở Washington.

Camso cũng biết rằng FBI đã cử Jim Holt và Milburn tham gia vào chiến dịch Playactor cùng với bên CIA. Caruso giữ một thái độ vì nể cả hai người này.

Holt đã từng tham gia nhóm Amace trước kia, còn Milbum, với những hiểu biết vô song của anh ta về cộng đồng tình báo Xô viết, xứng đáng nhận được sự tham khảo ý kiến thường xuyên. Caruso đặt cho họ một biệt danh là Jim Squared.

Giờ đây, trong cái buổi chiều tháng 11 này, trong khi đi dọc theo hành lang để trở về văn phòng của mình, Camso có thể nghe thấy tiếng gót giày của ông ta vang trên sàn nhà. Trước đó, khi nhóm Amace đưa ra kết luận rằng tình báo Xô viết không phải đã xâm nhập vào FBI thì đó vẫn là một kết luận mang tính tiêu cực. Đây không phải là một mối đe doạ tưởng tượng. Vẫn có một con “chuột chũi” cực kỳ nguy hiểm náu ở đâu đó.

Tháng giêng năm 1992, Caruso đã tập hợp được tất cả những thành viên mà ông ta muốn có trong nhóm Playactor. Cả nhóm lại tập hợp trong căn phòng số 11610 ở trụ sở của Văn phòng FBI Whasington, một căn phòng bí mật khác, không cửa sổ, cách âm và phải có giấy tờ đặc biệt mới được vào. Trước đó, căn phòng này là nơi làm việc của nhóm phản gián đặc biệt chịu trách nhiệm điều tra vụ đánh bom chiếc máy bay số 103 của hãng hàng không Pan Am năm 1988 trên bầu trời Lockerbie, Scơtland, được cho là có liên quan đến tình báo Libya.

Trong khi Holt và Miibum cùng với các đồng nghiệp trong CIA ở Langley kiên nhẫn sàng lọc những đầu mối bị tình nghi thì các điệp viên trong nhóm của Caruso, với những dữ liệu mới do CIA cung cấp về việc phản gian Liên Xô đã

“dọn dẹp” các nguồn tin tình báo của Mỹ như thế nào, bắt đấu xem xét lại những vụ việc vẫn còn chưa được giải quyết trước đó. Hầu hết những vụ việc này đều chỉ dừng lại ở dạng hết sức mập mờ, không rõ ràng, và công việc của các điệp viên trong nhóm Playactor là lần lại từ đầu, xới tung chúng lên, cố gắng tìm ra những khả năng có thể dẫn tới một sự đổ vỡ trên một quy mô lớn đến nhường ấy. Thực chất, công việc của họ giống như đi tìm những tế bào ung thư đã xâm nhập vào cơ thể trong nhiều năm trời rồi vậy.

Trong khi đang tiến hành cái công việc nặng nhọc và tỉ mỉ đó thì nhóm của Caruso có một “đồng minh” bất ngờ: đó là sự sụp đổ của Liên bang Xô viết và cùng với nó là sự phá vỡ những quy định, luật lệ trong xã hội Xô viết trước đây Vào cái năm 199l ấy, không một ai ở cái đất nước được gọi là Liên bang Nga ấy có thể biết rằng những sự đổ vỡ, rạn nứt tiếp theo sẽ xảy ra từ đâu. Cũng không một ai biết chắc rằng liệu những phúc lợi xã hội trước đó có còn được đảm bảo nữa hay không. KGB, khi đó được tổ chức lại, trang bị mới và đổi tên thành SVRR, cũng không được miễn nhiễm khỏi tình trạng hỗn loạn này. Cho dù có một cái tên mới hay không, nó vẫn được xây dựng dựa trên cơ sở của những con người cũ. Camso nhìn nhận đây là một tình thế mà ông ta hoàn toàn có thể lợi dụng để đạt được các mục đích của cuộc điều tra. Tất cả mọi nỗ lực đều được huy động nhằm tìm ra người đã cung cấp tin tức cho đối phương, dù là trực tiếp hay gián tiếp, dù chỉ trong thời gian ngắn hay có quan hệ bí mật trong một thời gian dài.

Trong khi đó, lại có thêm một thành viên mới tham gia vào nhóm Playactorở Langley (phía CIA đặt mật danh cho nhóm này là Skylight). Đó là một chuyên viên phân tích tài chính có tên là Dan Payne. Nhiệm vụ của Payne là tìm hiểu nguồn gốc khoản tiền cá nhân của những đối tượng bị tình nghi trong một danh sách đã được lập ra. Một cái tên trong danh sách này đã gây nên sự chú ý đặc biệt. Xét về bề ngoài, khoản tiền lương của đối tượng không thể nào đủ để cho phép người này mua được một căn nhà - với một khoản tiền mặt lớn - ở Bắc Arlington, Virginia, khu vực dành cho giới giàu có, cách không xa mấy tổng hành dinh của CIA. Ông ta cũng không có một tài sản độc lập nào đáng kể.

Thực ra, trước đây CIA cũng đã từng lưu ý đến việc người này mua căn nhà đắt tiền đó, nhưng khi đó đã có những tin đồn đại rằng ông ta được hưởng thừa kế từ người cha dượng của vợ. Những người khác thì lại cho rằng chẳng có ai phản bội lại hành xử một cách thô thiển để thu hút sự chú ý của người khác như thế.

Dường như tất cả đều đã quên đi câu chuyện ngụ ngôn về chú bé con với vị Hoàng đế cởi truồng.

FBI, khi đó vẫn chưa chính thức khởi tố vụ án, nên không có quyền tìm hiểu về những tài khoản ở ngân hàng của các cá nhân. Nhưng CIA, được miễn trừ khỏi đạo luật về bí mật tài chính cá nhân, lại được phép kiểm tra những tài khoản của nhân viên đang làm việc cho cơ quan này. Bởi vậy mà với sự chấp thuận của FBI, Payne đã gửi một bức thư mật cho các ngân hàng và các công ty tín dụng mà đối tượng có sử dụng thẻ tín dụng của họ; trong bức thư này, Payne viện dẫn đến an ninh quốc gia, yêu cầu cho phép điều tra tài khoản của đối tượng bị tình nghi.

Kết quả thu được thật đáng kinh ngạc. Đã phát hiện ra được một quá trình gửi tiền của đối tượng từ năm 1985 vào hai tài khoản ở Virginia. Chỉ trừ có 3 lần, còn lại tất cả những lần gửi tiền khác, đối tượng và vợ đều gởi bằng tiền mặt và dưới 10.000 USD, con số giới hạn mà ngân hàng nào cũng yêu cầu phải có giải trình về nguồn gốc cho Cục thu nhập nội bộ. Lần theo những bức điện chuyển tiền, các nhân viên điều tra cũng phát hiện ra dấu vết tài khoản ở một ngân hàng Thuỵ Sĩ. Các thẻ tín dụng được đối tượng sử dụng rất nhiều, với số lượng lớn.

Sau khi được thông báo về những hiện tượng này, các nhân viên trong nhóm điều tra của Tim Caruso đã lần xem lại cuốn băng video cũ ghi lại cảnh đối tượng, với tư cách là nhân viên phản gián của CIA, đã tới khu nhà sứ quán Liên Xô ở Washington. Họ cũng nghe lại cuốn băng ghi âm ghi lại cuộc nói chuyện điện thoại, trong đó đối tượng đề nghị bố trí một cuộc gặp với Sergey Chuvakhin, một nhà ngoại giao Liên Xô làm việc trong lĩnh vực kiểm soát vũ khí. Và rồi họ cũng đã thiết lập được lịch gửi tiền của đối tượng trong hai năm 1985 và 1986, đều diễn ra ngay sau mỗi cuộc tiếp xúc với Chuvakhin.

Thêm vào đó, Dell Spry, một nhân viên trong nhóm Playactor chịu trách nhiệm theo vết những khoản chi tiêu bằng thẻ tín dụng của đối tượng, đã phát hiện ra rằng vào tháng 10-1992, đối tượng đã bay đi Bogota, Colombia, bằng máy bay của Hãng hàng không Mỹ, sau đó còn đi Caracas, Venezuela. Từ

Langley, Milburl khẳng định rằng đối tượng đã không báo cáo về chuyến đi này, vi phạm một điều khoản bắt buộc của CIA là tất cả mọi nhân viên không được phép đi ra nước ngoài nếu như không có sự chấp thuận của CIA.

Đến tháng 12 năm 1992, Gấu Bryant thấy những kết quả điều tra đã đủ để khởi tố vụ án. Những kinh nghiệm trong thời gian chống tội phạm có tổ chức cho phép ông ta nghĩ rằng một khi những dấu vết dẫn tới những khoản tiền bất minh thì sau đó bao giờ toà án cũng phải vào cuộc. Mà ở đây thì đã có đủ những gì cần phải có cho một vụ án như vậy. Mặt khác, Bryant cũng có những vấn đề riêng của ông ta. Giờ đây, nhóm làm việc của Camso chỉ còn phải chờ một báo cáo phân tích của nhóm đặc nhiệm hỗn hợp ở Langley, một báo cáo mà tất cả mọi người đều cho rằng lẽ ra đã phải có từ mấy tháng trước. Một số thành viên chủ chết trong nhóm của Caruso đã được điều động đi làm những công việc ở các văn phòng khác trên khắp nước Mỹ. Họ đã xa gia đình, ở lại Washington tới gần một năm rồi. Mà cũng đã tới gần lễ Noel và không phải là không có lý khi với tình trạng là còn rất ít công việc phải làm, họ muốn quay trở về với gia đình, trở lại với công việc hàng ngày của họ. Bryant có thể thấy nhóm làm việc của Caruso đang tan rã ngay trước mắt mình.

Nhưng CIA không cho là như vậy. Cơ quan này tiếp tục cái công việc là đào sâu bên dưới chính gót chân của mình. Nó muốn có được những kết quả điều tra chính xác 100%. Trong quá khứ, CIA đã từng có những bài học kinh nghiệm đau đớn về những điệp viên nhị trùng. Một nhân viên CIA, trong thời gian làm việc tại Indonesia, đã bán những bí mật của cơ quan này cho các tình báo viên Xô viết. Một nhân viên cấp thấp khác cũng đã bán những sơ đồ và kế hoạch liên quan đến các vệ tinh dò thám của Mỹ. CIA cũng không ít lần dính đòn điệp báo của các cơ quan tình báo đối phương. Một điệp viên “đào thoát” của Tiệp Khắc, dưới vỏ bọc là một phiên dịch, đã là một điệp viên nhị trùng hoạt động cho cơ quan tình báo Tiệp Khắc: Một phiên dịch khác người Trung Quốc, sau khi trở thành công dân Mỹ, đã thu thập được những tài liệu tối mật và chuyển nó cho tình báo Trung Quốc trong suốt 33 năm làm việc của ông ta. Dĩ nhiên cũng phải kể đến Edward Lee Howard nữa. Tuy nhiên, không có bất cứ một vụ nào trong quá khứ đó lại có thể sánh được về quy mô so với vụ việc mà cả CIA và FBI đang tiến hành điều tra.

Thêm nữa, CIA vẫn còn chưa tiêu hoá hết cái dư vị cay đắng mà James Jesus Angleton, người đã từng có thời đứng đầu bộ phận phản gián của cơ quan này, để lại Trong suốt hai mươi năm trời, Angleton đã bị ám ảnh rồi chính bản thân ông ta gieo rắc mới lo ngại rằng có một “chuột chũi” đã chui sâu vào trong hàng ngũ những quan chức cấp cao của CIA. Thậm chí đã có lúc người ta thì thầm rằng có thể giám đốc CIA cũng đang hoạt động cho tình báo Xô viết. Angleton chẳng bao giờ tóm được con: chuột chũi” của ông ta cả, nhưng cũng đã thành công trong việc phá hỏng tiền đồ sự nghiệp của một vài nhân viên CIA trong sạch mà kết quả là cơ quan này đã phải bỏ ra những khoản tiền lớn để bồi thường. Sau cùng thì Angleton cũng bị sa thải và ông ta chết vào năm 1987. Giờ đây, trong khi đang nằm dưới mồ, có thể ông ta đang cười khẩy vì đã để lại một gia tài tinh thần đổ vỡ.

Trái với mong muốn của Bryant muốn nhanh chóng kết thúc vụ việc, Tổng hành dinh FBI lại đồng ý với quan điểm của CIA. Cả Jim Holt và Jim Milbum đều được khuyến cáo là phải hết sức thận trọng.

“Tôi sẽ thúc đẩy công việc nhanh hơn - Bryant nói với John Lewis, trợ lý đặc biệt của mình trong văn phòng FBI Washington - Tôi sẽ xới tung lên cho mà xem.”

Vốn đã có kinh nghiệm làm việc ở cả Tởng hành dinh FBI lẫn Văn phòng FBI địa phương cộng với những hiểu biết về cung cách điều hành các chiến dịch của CIA, Lewis trả lời: “Đôi khi có những hạn chế trong đầu óc con người mà anh không thể vượt qua được. Nó giống như đánh nhau với cối xay gió vậy.

Nhưng ông cứ đợi đấy, rồi cũng đến lúc nó phải kết thúc thôi”

Rốt cuộc thì đến giữa tháng 3 năm 1993, nhóm hỗn hợp Playactor Skylight cũng đã soạn xong một dự thảo báo cáo. Trong bản cáo này còn lại tên của 5 kẻ bị tình nghi nhất. Một trong số đó cần phải có sự chú ý đặc biệt. Nhưng vấn đề là ở chỗ vẫn chưa thể loại bỏ hoàn toàn 4 kẻ tình nghi kia ra khỏi danh sách này.

Và rồi bỗng dưng hoạt động điều tra chi tiết của nhóm Caruso được đền đáp xứng đáng. Tên của một trong số 5 kẻ tình nghi được đặt lên hàng đầu tiên. Có thể chưa hoàn toàn chắc chắn 100%, nhưng đã rất gần với những gì mà người ta muốn có trong tay.

Kẻ bị tình nghi số một này, trên thực tế, chính là người đàn ông đã mua căn nhà ở Bắc Arlington. Tên ông ta là Aldrich H. (Rick) Alnes. Vào năm 1993, ông ta 5l tuổi và đã có 3l năm làm việc cho CIA, từng nắm giữ nhiều trọng trách có độ nhạy cảm cao trong hệ thống tổ chức của CIA. Trước đó, cha của ông ta cũng đã từng là một nhân viên CIA.

Với sự chấp thuận của Tổng hành dinh FBI, ngày 12-5 1993, Gấu Bryant chính thức khởi tố vụ án.

Theo logique thông thường thì rõ ràng Tim Caruso phải là người tiếp tục cầm đầu các hoạt động điều tra. Thế nhưng Caruso muốn quay trở lại làm việc ở Tổng hành dinh FBI và ông ta có những lý lẽ để biện hộ cho quyết định của mình. “Tôi đang dẫm chân lên người khác - ông ta nói với Bryant - Kể từ nay, mọi việc phải được điều hành theo phương thức trực tiếp bởi văn phòng FBI địa phương. Hiện nay, John Lewis là nhân vật số 2 ở đây Nếu như tôi tiếp tục ở lại, tôi sẽ phải báo cáo trực tiếp với anh và trên thực tế, John sẽ không có quyền hành gì hết. Với phương thức như vậy, anh sẽ không thể tiến hành chiến dịch một cách hiệu quả được.”

Gấu đồng ý.

Câu hỏi đặt ra là ai sẽ thay thế Caruso điều hành nhóm công tác trong giai đoạn mới. “Đó không nhất thiết phải là một nhân viên giám sát tốt nhất - Caruso nói với Lewis- Tất cả bọn họ đều có nghiệp vụ rất tốt. Vấn đề là ai thích hợp nhất với cương vị này?” Theo ông ta thì đó là Les Wiser. Mới 38 tuổi, Wiser là nhân viên giám sát trẻ tuổi nhất trong văn phòng FBI Washington, thế nhưng anh ta đã từng là một nhân viên phản gián đấy nhiệt huyết, hiểu biết rất rõ giá trị của những chứng cứ trong một vụ án. Anh ta đã có bằng luật của Đại học Tổng hợp Pitlsburlgh, từng làm cả công tố viên và chưởng lý trong lực lượng hải quân trước khi vào làm việc cho FBI. Wisel chính là đại diện cho một thế hệ mới trong FBI. Cao khoảng 1m80, người mảnh dẻ, Wiser có một bộ ria lớn mà mặc dù được xén tỉa gọn gàng nhưng người ta cho rằng trong thời gian trước đấy, khó có thể được chấp nhận trong FBI. Lewis cũng không có điều gì phải phàn nàn về Wiser. Ông ta đã có lần cùng với Wiser hoạt động trong thời gian một tuần lễ ở Đức nhân một vụ việc có liên quan đến CIA và đánh giá rất cao năng lực của Wiser.

Vào cuối buổi chiều ngày 24-5-1993, -Bryant gọi Wiser vào phòng làm việc của mình và bảo anh ta đóng cửa lại. Gấu đứng lên khỏi bàn làm việc của ông ta rồi cùng với Wiser bước sang phòng hợp. Ông ta hỏi Wiser: “Này, anh có biết họ đang làm gì trong cái phòng trước đây dùng để điều tra vụ máy bay số 103 của hãng Pan Am không?”.

Wiser trả lời rằng anh ta cũng có nghe nói đôi chút về công việc đó. Anh ta biết rằng có tồn tại một nhóm điều tra mang mật danh là Playactor. Chỉ có vậy thôi, còn ngoài ra anh ta không biết gì hơn nữa và cũng không có ý định tìm hiểu. Đó không phải là công việc của anh ta. Anh ta cho rằng nếu như người ta cần anh ta phải biết điều gì đó thì hẳn là anh ta sẽ được thông báo cấp kỳ.

Đó chính là câu trả lời mà Bryant muốn nghe. Cộng đồng tình báo Mỹ, mà chính xác là CIA, đang bị xâm nhập. Một vụ rất lớn đấy - Bryant nói - Vẫn còn chưa rõ mọi việc cho lắm, nhưng có thể nói rằng chúng ta đã xác định được gần như chắc chắn cái gã đó là ai. Đây có thể là vụ quan trọng bậc nhất của FBI từ trước tới nay.”

Wiser cảm thấy sống lưng mình gai gai.

“Anh có muốn nắm vụ này không.” - Bryant hỏi:

“Sếp! Tôi đã chờ đợi một vụ như thế từ lâu lắm rồi” - Wisel đáp.

Trong khi sẽ nhận được một số tin tức do nhóm của Camsơ cung cấp, Wiser vẫn có thể tự do lựa chọn những nhân viên mà anh ta muốn từ bất kỳ một phân ban phản gián nào trong phạm vi điều động của Văn phòng FBI Washington.

Camso và Mike Anderson, người đã hy sinh công việc giám sát của ông ta để tham gia làm việc cùng với Caruso, sẽ cung cấp mọi thông tin cho Wiser.

Hôm sau, cùng với một điệp viên trong nhóm phản gián của anh ta, Wiser vẫn phải đi Connecticut. Đó là một cuộc gặp đã được bố trí từ trước và không thể hiểu được Công tác móc nối với một nguồn tin của cơ quan tình báo một nước thuộc thế giới thứ ba được tiến hành từ lâu và đã đến ngày thu lượm kết quả.

Ngày hôm sau, thứ tư, 26-5-1993, Wiser tham dự buổi thông báo tình hình đầu tiên của Caruso và Anderson. Anh ta được họ đưa cho xem một tấm ảnh của Ames.

Nhìn vào tấm ảnh, Wiser không khỏi cười thầm. Với cặp mắt hiếng, khuôn mặt hóp và cái mũi nhọn, trong Ames rất giống một con chuột chũi.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
1 thành viên đã gởi lời cảm ơn Mymk về bài viết trên: Nminhngoc1012
     

Có bài mới 29.01.2018, 16:44
Hình đại diện của thành viên
Thành viên cấp 9
Thành viên cấp 9
 
Ngày tham gia: 27.10.2016, 15:47
Bài viết: 1343
Được thanks: 254 lần
Điểm: 7.5
Có bài mới Re: [Trinh thám] Điệp viên ở Washington - Peter Maas - Điểm: 11
Chương 1


Nằm ở Buzzard Point trong khu ghetto Anacostia đầy rẫy ma tuý và những vụ giết người, toà nhà hình dạng xấu xí của Văn phòng FBI tại Washington hoàn toàn ăn nhập với khung cảnh xung quanh. Phía bên kia đường Half là cái ga xép bụi bặm của Công ty điện lực Potomac. Cạnh đó là những bãi phế liệu với hàng đống kim loại, lốp cũ, được đem đi thiêu huỷ định kỳ. Cách đó một quãng ngắn là hai khối nhà được sơn lòe loẹt. Đấy là hộp đêm, nơi thỉnh thoảng vào lúc sáng sớm, người ta có thể chứng kiến những vụ bắn nhau dữ dội của đám thanh niên choai choai. Toàn bộ cái khung cảnh quái dị đó làm cho các nhân viên FBI làm việc tại Văn phòng Washington có được cái vẻ ngầu ngầu phóng đãng độc nhất vô nhị mà không một văn phòng nào khác có được.

Từ cửa sổ văn phòng của mình trên tầng 11, điệp viên đặc biệt FBI Robert Bryant có thể nhìn thấy những xoáy nước đầy rác rưởi trên sông Anacostia trước khi nó chảy vào sông Potomac, cách khoảng một phần tư dặm về phía dưới. Thỉnh thoảng, Bryant lại trông thấy những xác người bị xoáy nước ở chỗ hai con sông gặp nhau làm cho trồi lên và khi đó, ông ta liền bảo người thư ký:

“Hãy gọi cho cảnh sát. Báo cho họ biết là lại có một cái xác nữa ở trên sông đấy!”.

Bryant có biệt danh là Gấu. Nguyên do của biệt danh này không phải vì ông ta là huấn luyện viên của đợi bóng đá Mỹ nổi tiếng Alabama. Khi mới lên mười, một thằng bạn trong lớp chuyên đi bắt nạt những đứa yếu hơn đã vô phúc chọn Bryant làm mục tiêu của mình. Chỉ một chốc sau, thằng bé kia đã nước mắt ngắn nước mắt dài chạy về nhà, mếu máo mách: “Mẹ ơi, thằng Bobby Bryant nó đánh con như một con gấu!” Sự thực là với chiều cao chỉ hơn lm6 một chút, khuôn mặt có vẻ hoà nhã, dáng đi vụng về, lóng ngóng, trông Bryant quả là giống một con gấu tết bụng. Thế nhưng những ai đã có cơ hội làm việc chung với ông ta đều biết rằng một khi đã theo một vụ nào thì dù bằng cách này hay cách khác, ông ta sẽ đeo bám một cách dữ tợn cho đến khi nó được giải quyết xong mới thôi.

Sinh năm 1943 ở Springfield, Missouri, Bryant có bằng cử nhân của Đại học tổng hợp Arkansas. Công việc chính của Bryant ở FBI là chống các hoạt động tội phạm có tổ chức và ông ta đã thăng tiến rất nhanh trong nghề nghiệp. Cuối những năm 70, Bryant đã điều hành Văn phòng FBI ở Las Vegas, khi mà mafia và các quan chức tham nhũng của Công đoàn các tài xế xe tải đang kiểm soát chặt chẽ những sòng bạc ở đây. Sau đó, ở Kansas City, Bryant đã đương đầu với “gia đình” Civellơ của tổ chức Cosa Nostra, một trong những gia đình hùng mạnh nhất trong thế giới ngầm tại Mỹ.

Tháng 7-199l, ông ta được bổ nhiệm vào chức vụ chỉ huy Văn phòng FBI

Washington. Vào thời gian đó, văn phòng này đang hướng trọng tâm các hoạt động của nó vào công tác phản gián đối ngoại và do vậy, huy động tới hơn một nửa số nhân lực của văn phòng cho công việc này. Nhưng Bryant nhìn nhận sự việc theo cái cách riêng của ông ta. Đối với Bryant, một cuộc điều tra là một cuộc điều tra. Cho dù đối tượng là một bố già trong thế giới ngầm hay là một điệp viên KGB thì công việc vẫn là xây dựng và phát triển các nguồn tin, thu thập chúng để phục vụ cho việc truy tố hoặc nắm bắt thông tin. Lẽ dĩ nhiên, giữa hai công việc này có những sự khác biệt tinh tế khó nhận thấy và trong lĩnh vực này, Bryant luôn có thể trông cậy vào phụ tá chính của ông ta là John Lewis, người từng cầm đầu nhóm Courtship và có những hiểu biết và kinh nghiệm vô giá trong các hoạt động chống tội phạm cũng như phản gián.

Khoảng một năm sau khi Bryant đảm nhiệm công tác ở Buzzard Point, một nhân viên phản gián trẻ có tên là Les Wiser Jr để đạt nguyện vọng muốn thay đổi vị trí công tác. Wiser đã từng là thành viên của nhóm phản gián CI-l7, chuyên phụ trách các hoạt động liên quan đến địa bàn Đông Đức. Khi bức tường Berlin sụp đổ vào năm 1989, nhóm này chuyển hướng các hoạt động điều tra của nó sang những đối tượng gián điệp hải ngoại, đặc biệt là những hoạt động gián điệp tại các sứ quán cũng như lãnh sự quán Mỹ ở nước ngoài. Wiser đặc biệt ưa thích cái trò chơi mèo vờn chuột với các điệp viên có trình độ cao của tình báo Đông Đức. Các cuộc đọ sức trong thế giới hoạt động gián điệp và chống gián Điệp ít ra cũng mang đến một sự thú vị nào đó. Nhưng rồi đột nhiên, những thách thức đó biến mất. Anh ta cảm thấy buồn chán khi cứ phải hàng ngày đọc những bài báo hoặc nghe các thông báo từ đồi Capitol rằng cuộc chiến tranh lạnh đã chấm dứt. Thêm vào đó, trong các hành lang của Văn phòng FBI

Washington lại lan truyền những tin đồn nói rằng Gấu Bryant đang hướng nhiều hơn các hoạt động của Văn phòng FBI vào việc chống lại các băng nhóm tội phạm cũng như những hoạt động buôn bán ma tuý trên địa bàn đặc khu Colombia. Wiser cho rằng cả về phương diện tâm lý của bản thân lẫn tương lai nghề nghiệp, với tư cách là một đặc vụ FBI, có thể anh ta sẽ phải quyết định tách ra khỏi các hoạt động chống tội phạm đơn thuần.

Nhưng với một sự ngạc nhiên lớn, Wiser nghe thấy sếp Bryant bảo: “Tại sao cậu không tiếp tục làm việc với nhóm phản gián thêm ít nhất là 6 tháng nữa!”

Trong những trường hợp tương tự, một gợi ý như vậy của Gấu được hiểu tương đương với một mệnh lệnh. Thế là Wiser tiếp tục ở lại. Và Wiser đã được tưởng thưởng bằng việc nhóm phản gián của anh ta nhận lệnh hướng trọng tâm hoạt động vào các quốc gia mà trong thời gian diễn ra cuộc chiến tranh lạnh đã không phải là mục tiêu được chú ý lắm như các nước ở châu Á: Nhật Bản, Pakistan; các quốc gia Trung Đông; tăng cường thêm các hoạt động hướng vào lục địa châu Phi. Các quốc gia này luôn sẵn sàng chỉ chờ cơ hội thuận tiện là xoáy ngay các bí mật của Mỹ trên đủ mọi lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế cho đến Tác Giả: Peter Maas ĐIỆP VIÊN Ở WASHINGTON Người Dị{ch: Yên Ba khoa học công nghệ. Wiser bắt đầu công việc chỉ với 5 điệp viên, có người đã có kinh nghiệm hoạt động lâu năm nhưng cũng có người chưa đủ kinh nghiệm dù chỉ để làm công tác giám sát. Tuy nhiên, chỉ trong một thời gian ngắn sau đó, Wiser đã xây dựng được một nhóm hành động cực kỳ linh hoạt và năng động khiến cho điệp viên của các nhóm phản gián khác đều muốn gia nhập nhóm của anh ta. Tất cả những động thái đó đều không lọt qua khỏi sự chú ý của Bryant.

Khi đề đạt với Bryant nguyện vọng muốn thay đổi môi trường công tác, Wiser không hề biết rằng khi đó Gấu đã khởi đầu ở Buzzard Point một điệp vụ phản gián lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ và điệp vụ này sau đó đã theo mỗi bước chân của Wiser, vào cả trong những giấc ngủ hằng đêm của anh ta.

o O o

Mùa xuân năm 1991, Paul Redmond, Phó giám đốc CIA đặc trách công tác phản gián đã đề nghị có một cuộc gặp ngay tại Tổng hành dinh FBI với Ray Mislock, Trưởng Ban Liên Xô thuộc Phòng 5 của FBI, chịu trách nhiệm bảo vệ an ninh quốc gia Mỹ. Đối với Redmond, đây không phải là một chuyến viếng thăm dễ chịu gì. Ông ta buộc phải thừa nhận một sự thật cay đắng. “Đang có kẻ thọc dao vào lưng chúng tôi - ông ta nói với Mislock - Chúng tôi cho rằng hiện đang có một kẻ xâm nhập sâu vào trong nội bộ của chúng tôi, ở cấp rất cao”.

Và cũng là lần đầu tiên, FBI được CIA chia sẻ toàn bộ những bí mật đang xảy ra, khẳng định chắc chắn những mối lo ngại của cơ quan này là có cơ sở. Kể từ sau hai vụ xử tử Valery Martynov và Sergey Motorin, giờ đây, FBI mới lại được biết rằng một nguồn tin quý giá khác của FBI ở Liên Xô đã tồn tại từ ba mươi năm nay, kể từ năm 196l, cũng đã bị phát hiện và hành quyết. Đó là một sĩ quan cấp tướng hoạt động trong Cục tình báo quân sự GRU của Liên Xô, đã được FBI chuyển giao cho CIA khi người này rời khỏi nước Mỹ. Đó có thể là nguồn tin thuộc vào loại quý giá bậc nhất của CIA tại Liên Xô. Cũng còn một tổn thất thứ tư nữa, một trung tá KGB dơ Văn phòng FBI tại San Franciscơ tuyển mộ. Cũng như trường hợp trước, khi người này quay trở lại Liên Xô, anh ta đã được FBI chuyển giao cho CIA.

Anh ta chỉ đơn giản là đã biến mất không để lại một tăm tích nào và không ai biết được số phận của anh ta ra sao.

Vẫn chưa hết. CIA cũng buộc phải xấu hổ thú nhận rằng ít nhất có tới nửa tá nguồn tin của chính CIA đã trở thành con mồi cho các đội xử bắn hay tệ hơn, trong các nhà tù của KGB. Đó là số phận dành cho những kẻ phản bội.

Tình hình đã ở vào tình trạng tuyệt vọng và CIA không biết phải bắt đầu lần mò từ đâu. Với sự chuẩn y của Giám đốc CIA khi đó (cũng là cựu giám đốc FBI) là William Webster, CIA buộc phải miễn cưỡng nhờ đến các kỹ năng điều tra của FBI. Kể từ khi được thành lập vào năm 1947, giờ đây, CIA mới cho phép FBI tiếp cận không chỉ những tài liệu tóm tắt mà cả những tài liệu gốc, toàn bộ chi tiết các vụ việc đã xảy ra để có thể lần ra những manh mối của một sự phản bội chết chóc.

FBI đặt mật danh cho cuộc điều tra này là. Playactor - Kép Hát.

Playactor được chia làm hai phần. Trong phần đầu, hai điệp viên từ Tổng hành dinh của FBI là Jim Holt và Jim Milbum sẽ cùng làm việc với hai nữ chuyên viên phân tích của CIA tại Tổng hành dinh CIA ở Langley, Virglnia, đầu não của mọi hoạt động và cũng có thể là nơi phát sinh ra những rắc rối chết người. Công việc của họ là tìm ra những khâu mà điệp viên của đối phương có thể xâm nhập, phương cách xâm nhập và cuối cùng, cũng là yếu tố quyết định nhất, ai có thể là “chuột chũi” của tình báo Liên Xô.

Việc lựa chọn Holt và Milbum tham gia điệp vụ Playactor là một quyết định sáng suốt. Cho đến những ngày này, giữa CIA và FBI vẫn còn tồn tại một sự cách biệt lớn về văn hoá. Trong CIA, nhiều người vẫn tiếp tục giữ một thái độ kẻ cả, coi FBI chỉ như là một đám những kẻ rình mò thô thiển còn sót lại từ thời J. Edgar Hoover. Nhưng Holt, với bản tính trầm tĩnh, hoà nhã, người đã từng tham gia điều khiển Valery Martynov, cũng đã phối hợp một cách tuyệt hảo với điệp viên CIA được giao nhiệm vụ cộng tác trong chiến dịch Courtship. Còn Milbum, người đã làm công tác phản gián khi bắt đầu làm việc cho FBI kể từ năm 1978, thậm chí cả Langley cũng phải nể phục bởi vốn hiểu biết vô cùng sâu rộng của anh ta đối với các hoạt động của KGB. Anh ta nắm rất rõ lịch sử phát triển của KGB, những chiến dịch mà cơ quan này tiến hành trong các thời điểm khác nhau, những ưu tiên trong hoạt động của KGB, cách thức mà cơ quan tình báo này điều hành các điệp viên. Đã từng tồn tại một giai thoại nổi tiếng vào cuối những năm 80, khi một nguồn tin của Milbum đang trình bày về một kịch bản chiến dịch đặc biệt của KGB. Trong khi người này đang thao thao bất tuyệt thì bất chợt Milbum cắt ngang: “Nhưng chẳng phải là họ đã thay đổi cái kịch bản này vào khoảng hai tháng trước đây hay sao?” Thế là người kia ngượng ngùng thừa nhận:” “Vâng, ông nói đúng. Tôi đã quên mất điều đó”.

Phần hai của Playactor bắt đầu vài tháng sau đó, là một cuộc điều tra song song được tiến hành ngay tại văn phòng FBI ở Washington. Tim Caruso, 44 tuổi, một người có phông cách làm việc tỉ mỉ, nguyên tắc, trưởng nhóm phân tích chống tình báo Liên Xô thuộc Phòng 5, được biệt phái từ Tổng hành dinh FBI tới để thành lập và đứng đầu một nhóm tham gia vào giai đoạn này. Nom bề ngoài, Caruso có dáng vẻ như vị hiệu trưởng lạnh lùng của một trường tư thục dành cho con em tầng lớp tinh hoa trong xã hội. Các điệp viên vẫn thường vụng trộm bông đùa rằng nếu như mặc thêm một cái quần kẻ sọc với cái áo choàng đuôi tôm thì hẳn là Caruso sẽ bị Bộ ngoại giao trưng dụng ngay.

Khi được giao nhiệm vụ mới, Caruso lập tức nhớ đến câu nói của một nhà hiền triết: “Chẳng có gì mới khi mọi sự lặp lại từ đầu”. Năm năm trước đó, vào một buổi chiều giá lạnh buồn thảm của tháng 11 năm 1986, khi đang đảm nhiệm công tác giám sát các hoạt động của KGB trong các cơ quan chính phủ Mỹ, Caruso đã được triệu đến văn phòng Phó trợ lý giám đốc Phòng 5 để nghe thông báo về những. khả năng tồi tệ có thể xảy ra đối với Martynov và Motonn. Việc chỉ trong có một thời gian ngắn mà FBI bị mất liên tiếp hai nguồn tin quý giá là điều không thể chấp nhận được. Liệu đã có một sai sót nào đó chăng? Cuộc Điều tra này được đặt mật danh là Amace, tên của một loại dao găm có từ thời Trung cổ. Vấn đề là ở chỗ hiện ai đang nắm giữ con dao găm ấy?

Trong mười tháng sau đó, Camso cùng với hai điệp viên của tổng hành dinh FBI và ba nhân viên Văn phòng FBI Washington hàng ngày đều gặp nhau ở Mái Vòm, tiếng lóng chỉ một căn phòng cách âm, không có cửa sổ, được bảo đảm bí mật tối đa, bề ngang 5 mét, rộng 6 mét, nằm sâu trong lòng toà nhà J.

Eđgar Hơover trên đại lộ Pennsylvanya. Họ nghiên cứu tỉ mỉ một sơ đồ trên bức tường lớn - “bức sơ đồ giết người”. Trên đó, tất cả những hoạt động trong công tác điều khiển hai điệp viên của KGB đều được đánh dấu chữ thập. Các báo cáo về hai điệp viên, từng ngày một, được nhóm này nghiên cứu mộ cách hết sức kỹ lưỡng. Các báo cáo này ghi lại từng chi tiết hai điệp vụ liên quan đến hai điệp viên mất tích, kể từ khi họ. được chọn làm mục tiêu cho đến khi bị tuyển mộ.

Tất cả các cuộc gặp gỡ bí mật đã từng diễn ra đều được săm soi như dưới kính hiển vi.

Toàn bộ đều được tái hiện lại. Sai sót đã xảy ra ở khâu nào? Trong quá khứ, đã có nhiều chiến dịch liên quan đến các điệp viên được tuyển mộ bị đổ vỡ mà nguyên nhân là bởi chính các điệp viên này. Đã có một sự phản thùng chăng?

Đây là sai lầm của FBI? Phải chăng trong số những điệp viên được tuyển mộ đã có người hồi tâm nghĩ lại? Liệu điệp vụ có được giữ hoàn toàn trong vòng bí mật hay không? Những ai được quyền tiếp cận với các thông tin về những điệp vụ này? Những “ngôi nhà an toàn” có thực sự an toàn không? Các điệp viên đã thường xuyên sử dụng chúng hay thi thoảng mới dùng đến các ngôi nhà này làm nơi hẹn gặp bí mật? Liệu có tồn tại một sự xâm nhập bằng kỹ thuật của đối phương, một “con rệp” điện tử, băng ghi trộm hay một bức điện đã bị đối phương chặn bắt được? Hay đã có một điệp viên nằm vùng? Cũng có thể là một sự mua sắm hoang phí lơ đễnh nào đó đã vô tình trở thành đầu mới dẫn người Nga đến Martynov và Motorin? Hay là họ đã không giữ mình cẩn thận và cái giá phải trả chính là cái đầu của họ?

Đó là những câu hỏi cực kỳ khó trả lời. Nhưng một cú điện thoại của Motorin cho cô bạn gái ở Washington đã hầu như loại bở hết tất cả những nghi ngờ. Cho mãi tới tận mùa hè năm sau đó mới phát hiện được rằng đó thực ra là một tuyệt chiêu nghi binh của KGB.

Rồi lại còn phải phân tích những dữ kiện liên quan đến Edward Lee Howard nữa chứ. Howard, người mà thời kỳ năm 1983 đã biết rất nhiều bí mật có độ nhạy cảm cao, kể cả danh tính các điệp viên Mỹ tại Liên Xô, để chuẩn bị cho chuyến công vụ của ông ta tại trạm CIA ở Moscow, đã không qua được kỳ kiểm tra cuối cùng trên máy phát hiện nói dối. Kết quả kiểm tra cho thấy Howard đã dùng ma tuý và nghiện rượu, những lý do đủ để sa thải ông ta. CIA chỉ đơn giản thông báo cho Howald rằng ông ta bị đuổi việc, dửng dưng tống ra vỉa hè một con người cảm thấy nhục nhã, tài khoản trống rỗng và không có thu nhập. Mà CIA cũng chẳng thèm cảnh báo cho FBI biết về khả năng tiềm tàng của con người này có thể dẫn tới những tai hoạ. Rỡ ràng việc thú nhận một việc như vậy khiến cho CIA cảm thấy bị mất mặt.

Cho đến cuộc đào thoát năm 1985 của đại tá KGB Yurchenko, FBI mới biết được rằng đã từ lâu, Howard tình nguyện cung cấp tin tức cho phía Liên Xô.

Lập tức, FBI cho đặt một máy quay phim bên ngoài căn hộ của Howard ở Santa Fé, bang New Mexico, nơi ông ta đã tìm được việc làm trong một hãng luật.

Nhưng không may cho FBI là Howard, người mà trong thời gian làm việc ở CIA từng trải qua những khoá huấn luyện kỹ càng về các kỹ năng phát hiện và loại bỏ sự giám sát, đã dễ dàng qua mặt được người điệp viên FBI trẻ tuổi thiếu kinh nghiệm phụ trách việc ghi hình ngôi nhà của ông ta, bằng cách thay thế một hình nhân giả vào chỗ của mình trên xe khi trở về nhà vào ban đêm. Sau đó, người ta chỉ biết được về Howard khi ông ta đã an toàn ở Moscow. Mặc dù FBI có thể chống chế rằng đã phát hiện ra Howard quá muộn và không có bằng chứng buộc tội đủ mạnh để bắt giữ Howard nhưng rõ ràng thất bại này là một nỗi nhục đau đớn của cơ quan này.

Nhưng nhóm Amace của Caruso đã đi tới kết luận rằng mặc dù Howard có thể là người đã tiết lộ tung tích của Valery Martynov nhưng ông ta không thể nào là người giúp KGB phát hiện ra Sergei Motorin. Đơn giản bởi vì Howard đã ra khỏi CIA trước khi chiến dịch Meges liên quan đến Motorin được thông báo cho Langley.

Còn có những vụ việc khác không thể không xem xét Cũng vào khoảng thời gian đó, một lính thuỷ đánh bộ trong đơn vị canh gác toà nhà sứ quán Mỹ tại Moscow, hạ sĩ Clayton Lonetree, đã bí một nữ điệp viên của KGB mua chuộc và cho phép KGB thực hiện được chiến dịch đột nhập khắp toà nhà sứ quán, tiếp cận được cả với trung tâm thông tin tối mật của sứ quán. Lonetree và một lính thuỷ đánh bộ khác canh gác sứ quán đã vi phạm luật lệ khi quan hệ với những phụ nữ Xơ viết duyên dáng xinh đẹp; nhưng không có bằng chứng nào cho thấy họ đi xa hơn thế.

Sau đó, lại có những phát hiện chưa chắc chắn lắm về việc KGB đã có một chiến dịch gài máy nghe trộm trong khắp toà nhà sứ quán. Từ đó nảy sinh một mối lơ ngại khác. Phải chăng khoá mật mã an ninh quốc gia đã bị đối phương giải được?

Tháng 9-1987, nhóm điều tra Amace soạn thảo một báo cáo, trong đó đề nghị phải siết chặt hơn nữa các biện pháp bảo vệ an ninh trong nội bộ FBI. Báo cáo này chỉ ra rằng có thể một số những đổ vỡ có nguyên nhân từ Howard, nhưng không phải là tất cả. Vụ việc liên quan đến toà nhà sứ quán Mỹ tại Moscow vẫn chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn, nhưng những dấu hiệu thu thập được cho thấy có thể đi tới một kết luận rằng đã có một sự xâm nhập của điệp viên đối phương, mà không phải là trong FBI!

Vậy thì chỉ còn có một nơi khác: CIA. Nhưng trong khi CIA cũng khẳng định rằng cơ quan này bị mất một số nguồn tin của chính mình thì những dấu hiệu thu thập được tỏ ra khá sơ sài. Cũng không hề có một tiếng chuông báo động nào đáng kể được gióng lên từ Langley. Cho dù thế nào đi nữa thì FBI cũng chẳng bao giờ lại tự mình thực hiện một cuộc điều tra về CIA nếu như không được mời. Vào thời điểm đó thì đúng là FBI đã không được mời thật!

o O o

Nhưng nay, vào cái buổi chiều ngày 8- 11-199l, khi mà thời tiết bên ngoài cũng lạnh lẽo và u ám như 5 năm trước đó, Caruso lại được triệu đến phòng Phó trợ lý giám đốc FBI phụ trách chiến dịch. Tại đó đã có mặt Ray Mislơck, người đứng đầu bộ phận mà Camso đang làm việc và Gấu Bryant, mới được bổ nhiệm làm Trưởng Văn phòng FBI tại Washington.

Caruso được thông báo rằng ông ta đã được chọn để tham gia vào một cuộc điều tra gián điệp lớn và hết sức phức tạp. Nớ cũng có nghĩa rằng ông ta được phép tự chọn lấy các nhân viên điều tra của mình. Caruso được hoàn toàn tự do hành động. Vấn đề là ở chỗ đã có một sự xâm nhập của đối phương vào sâu trong hàng ngũ CIA và gây ra vô sớ những vụ bắt bớ cũng như hành quyết các nguồn tin điệp báo quý giá. Không nghi ngờ gì nữa là cả FBI lẫn CIA đều phải chịu những thiệt hại nặng nề bởi sự xâm nhập này. Và đó là một điệp viên.

Những nguyên nhân như sai sót trong điều hành chiến dịch, việc tiêu pha hớ hênh hay sự xâm nhập bằng các thiết bị kỹ thuật đã bị loại trừ. Đơn giản là vì chúng không thể xảy ra trong một thời gian ngắn, lại ở nhiều vị trí khác nhau đến như thế. CIA sẵn sàng hợp tác lâu dài và đầy đủ. Một đội đặc nhiệm hỗn hợp FBI - CIA được thiết lập ở Langley, cố gắng lần tìm ra những dấu vết để

Caruso có thể theo đó điều tra. Ông ta nghĩ gì về nhiệm vụ mới này?

Tim Caruso không thấy có lý do gì phải vui mừng cả. Ông ta đang trên con đường tiến tới vị trí phụ trách một văn phòng lớn trong một lĩnh vực hoạt động quan trọng của FBI và đủ kinh nghiệm để hiểu rằng nếu như bị tách ra khỏi Tổng hành dinh FBI vào lúc này thì cũng có nghĩa là ông ta sẽ mất đi sự chú ý đối với quá trình thăng tiến của mình.

Caruso trả lời, cố gắng bằng một giọng nhẹ nhàng nhất: “Các ông biết không? Quả thực là ngộ nghĩnh - ông ta nói - Cũng năm năm trước đây, tôi đã ở chính trong căn phòng này, ngồi trong chính chiếc ghế này, ngoài kia cũng lạnh buốt như thế. Đúng là giống nhau như lột”.

Không một ai trong phòng cất tiếng cười.

Caruso trở lại nghiêm túc. Ông ta biết rằng không thể nói “Không, xin cảm ơn” rồi đi ra khỏi phòng. Nhưng ông ta muốn được đảm bảo rằng sẽ không phải chịu sức ép bắt buộc ông ta phải giải quyết vụ việc chỉ trong vòng vài ba tháng.

“Tôi rất sung sướng vì sự tín nhiệm của các ông đốl với tôi - ông ta nói – Nhưng công việc điều tra và phân tích không phải bao giờ cũng mang lại sự hài lòng.

Phần lớn chúng đều không đi tới những kết luận rõ ràng. Và tất nhiên là chúng chiếm mất rất nhiều thời gian. Thường thì ban đầu người ta bao giờ cũng đầy hăng hái, nhiệt tình, nhưng rồi với thời gian, những cái đó sẽ mất dần đi. Tôi biết rõ điều đó. Tôi sẽ đảm nhận công việc. Nhưng tôi phải biết rằng mình sẽ nhận được sự ủng hộ kiên định trước sau như một.”

Dĩ nhiên là tất cả những người có mặt trong phòng đều đảm bảo với Caruso là ông ta sẽ có được sự ủng hộ đó. Nhưng sự có mặt của Gấu Bryant mới đặc biệt khiến cho Caruso yên tâm. Mặc dù kinh nghiệm của Bryant chủ yếu dựa trên những công việc liên quan đến đám tội phạm, là một lĩnh vực không quen thuộc đối với Caruso, nhưng ông ta đã nghe nói nhiều về Gấu, về bản tính lỳ lợm của ông ta, việc ông ta luôn dành sự ủng hộ tuyệt đối đối với những nhân viên của mình. Camso biết rằng Gấu không bao giờ né tránh những quyết định cứng rắn và cũng không trốn tránh trách nhiệm để đổ tội cho cơ chế. Và mặc dù đã trên cương vị chỉ huy nhưng ở Bryant vẫn còn những phẩm chất của một điệp viên lăn lộn trên đường phố. Trong điệp vụ này, Caruso sẽ làm việc trong lãnh địa của Bryant, tại Văn phòng FBI ở Washington.

Camso cũng biết rằng FBI đã cử Jim Holt và Milburn tham gia vào chiến dịch Playactor cùng với bên CIA. Caruso giữ một thái độ vì nể cả hai người này.

Holt đã từng tham gia nhóm Amace trước kia, còn Milbum, với những hiểu biết vô song của anh ta về cộng đồng tình báo Xô viết, xứng đáng nhận được sự tham khảo ý kiến thường xuyên. Caruso đặt cho họ một biệt danh là Jim Squared.

Giờ đây, trong cái buổi chiều tháng 11 này, trong khi đi dọc theo hành lang để trở về văn phòng của mình, Camso có thể nghe thấy tiếng gót giày của ông ta vang trên sàn nhà. Trước đó, khi nhóm Amace đưa ra kết luận rằng tình báo Xô viết không phải đã xâm nhập vào FBI thì đó vẫn là một kết luận mang tính tiêu cực. Đây không phải là một mối đe doạ tưởng tượng. Vẫn có một con “chuột chũi” cực kỳ nguy hiểm náu ở đâu đó.

Tháng giêng năm 1992, Caruso đã tập hợp được tất cả những thành viên mà ông ta muốn có trong nhóm Playactor. Cả nhóm lại tập hợp trong căn phòng số 11610 ở trụ sở của Văn phòng FBI Whasington, một căn phòng bí mật khác, không cửa sổ, cách âm và phải có giấy tờ đặc biệt mới được vào. Trước đó, căn phòng này là nơi làm việc của nhóm phản gián đặc biệt chịu trách nhiệm điều tra vụ đánh bom chiếc máy bay số 103 của hãng hàng không Pan Am năm 1988 trên bầu trời Lockerbie, Scơtland, được cho là có liên quan đến tình báo Libya.

Trong khi Holt và Miibum cùng với các đồng nghiệp trong CIA ở Langley kiên nhẫn sàng lọc những đầu mối bị tình nghi thì các điệp viên trong nhóm của Caruso, với những dữ liệu mới do CIA cung cấp về việc phản gian Liên Xô đã

“dọn dẹp” các nguồn tin tình báo của Mỹ như thế nào, bắt đấu xem xét lại những vụ việc vẫn còn chưa được giải quyết trước đó. Hầu hết những vụ việc này đều chỉ dừng lại ở dạng hết sức mập mờ, không rõ ràng, và công việc của các điệp viên trong nhóm Playactor là lần lại từ đầu, xới tung chúng lên, cố gắng tìm ra những khả năng có thể dẫn tới một sự đổ vỡ trên một quy mô lớn đến nhường ấy. Thực chất, công việc của họ giống như đi tìm những tế bào ung thư đã xâm nhập vào cơ thể trong nhiều năm trời rồi vậy.

Trong khi đang tiến hành cái công việc nặng nhọc và tỉ mỉ đó thì nhóm của Caruso có một “đồng minh” bất ngờ: đó là sự sụp đổ của Liên bang Xô viết và cùng với nó là sự phá vỡ những quy định, luật lệ trong xã hội Xô viết trước đây Vào cái năm 199l ấy, không một ai ở cái đất nước được gọi là Liên bang Nga ấy có thể biết rằng những sự đổ vỡ, rạn nứt tiếp theo sẽ xảy ra từ đâu. Cũng không một ai biết chắc rằng liệu những phúc lợi xã hội trước đó có còn được đảm bảo nữa hay không. KGB, khi đó được tổ chức lại, trang bị mới và đổi tên thành SVRR, cũng không được miễn nhiễm khỏi tình trạng hỗn loạn này. Cho dù có một cái tên mới hay không, nó vẫn được xây dựng dựa trên cơ sở của những con người cũ. Camso nhìn nhận đây là một tình thế mà ông ta hoàn toàn có thể lợi dụng để đạt được các mục đích của cuộc điều tra. Tất cả mọi nỗ lực đều được huy động nhằm tìm ra người đã cung cấp tin tức cho đối phương, dù là trực tiếp hay gián tiếp, dù chỉ trong thời gian ngắn hay có quan hệ bí mật trong một thời gian dài.

Trong khi đó, lại có thêm một thành viên mới tham gia vào nhóm Playactorở Langley (phía CIA đặt mật danh cho nhóm này là Skylight). Đó là một chuyên viên phân tích tài chính có tên là Dan Payne. Nhiệm vụ của Payne là tìm hiểu nguồn gốc khoản tiền cá nhân của những đối tượng bị tình nghi trong một danh sách đã được lập ra. Một cái tên trong danh sách này đã gây nên sự chú ý đặc biệt. Xét về bề ngoài, khoản tiền lương của đối tượng không thể nào đủ để cho phép người này mua được một căn nhà - với một khoản tiền mặt lớn - ở Bắc Arlington, Virginia, khu vực dành cho giới giàu có, cách không xa mấy tổng hành dinh của CIA. Ông ta cũng không có một tài sản độc lập nào đáng kể.

Thực ra, trước đây CIA cũng đã từng lưu ý đến việc người này mua căn nhà đắt tiền đó, nhưng khi đó đã có những tin đồn đại rằng ông ta được hưởng thừa kế từ người cha dượng của vợ. Những người khác thì lại cho rằng chẳng có ai phản bội lại hành xử một cách thô thiển để thu hút sự chú ý của người khác như thế.

Dường như tất cả đều đã quên đi câu chuyện ngụ ngôn về chú bé con với vị Hoàng đế cởi truồng.

FBI, khi đó vẫn chưa chính thức khởi tố vụ án, nên không có quyền tìm hiểu về những tài khoản ở ngân hàng của các cá nhân. Nhưng CIA, được miễn trừ khỏi đạo luật về bí mật tài chính cá nhân, lại được phép kiểm tra những tài khoản của nhân viên đang làm việc cho cơ quan này. Bởi vậy mà với sự chấp thuận của FBI, Payne đã gửi một bức thư mật cho các ngân hàng và các công ty tín dụng mà đối tượng có sử dụng thẻ tín dụng của họ; trong bức thư này, Payne viện dẫn đến an ninh quốc gia, yêu cầu cho phép điều tra tài khoản của đối tượng bị tình nghi.

Kết quả thu được thật đáng kinh ngạc. Đã phát hiện ra được một quá trình gửi tiền của đối tượng từ năm 1985 vào hai tài khoản ở Virginia. Chỉ trừ có 3 lần, còn lại tất cả những lần gửi tiền khác, đối tượng và vợ đều gởi bằng tiền mặt và dưới 10.000 USD, con số giới hạn mà ngân hàng nào cũng yêu cầu phải có giải trình về nguồn gốc cho Cục thu nhập nội bộ. Lần theo những bức điện chuyển tiền, các nhân viên điều tra cũng phát hiện ra dấu vết tài khoản ở một ngân hàng Thuỵ Sĩ. Các thẻ tín dụng được đối tượng sử dụng rất nhiều, với số lượng lớn.

Sau khi được thông báo về những hiện tượng này, các nhân viên trong nhóm điều tra của Tim Caruso đã lần xem lại cuốn băng video cũ ghi lại cảnh đối tượng, với tư cách là nhân viên phản gián của CIA, đã tới khu nhà sứ quán Liên Xô ở Washington. Họ cũng nghe lại cuốn băng ghi âm ghi lại cuộc nói chuyện điện thoại, trong đó đối tượng đề nghị bố trí một cuộc gặp với Sergey Chuvakhin, một nhà ngoại giao Liên Xô làm việc trong lĩnh vực kiểm soát vũ khí. Và rồi họ cũng đã thiết lập được lịch gửi tiền của đối tượng trong hai năm 1985 và 1986, đều diễn ra ngay sau mỗi cuộc tiếp xúc với Chuvakhin.

Thêm vào đó, Dell Spry, một nhân viên trong nhóm Playactor chịu trách nhiệm theo vết những khoản chi tiêu bằng thẻ tín dụng của đối tượng, đã phát hiện ra rằng vào tháng 10-1992, đối tượng đã bay đi Bogota, Colombia, bằng máy bay của Hãng hàng không Mỹ, sau đó còn đi Caracas, Venezuela. Từ

Langley, Milburl khẳng định rằng đối tượng đã không báo cáo về chuyến đi này, vi phạm một điều khoản bắt buộc của CIA là tất cả mọi nhân viên không được phép đi ra nước ngoài nếu như không có sự chấp thuận của CIA.

Đến tháng 12 năm 1992, Gấu Bryant thấy những kết quả điều tra đã đủ để khởi tố vụ án. Những kinh nghiệm trong thời gian chống tội phạm có tổ chức cho phép ông ta nghĩ rằng một khi những dấu vết dẫn tới những khoản tiền bất minh thì sau đó bao giờ toà án cũng phải vào cuộc. Mà ở đây thì đã có đủ những gì cần phải có cho một vụ án như vậy. Mặt khác, Bryant cũng có những vấn đề riêng của ông ta. Giờ đây, nhóm làm việc của Camso chỉ còn phải chờ một báo cáo phân tích của nhóm đặc nhiệm hỗn hợp ở Langley, một báo cáo mà tất cả mọi người đều cho rằng lẽ ra đã phải có từ mấy tháng trước. Một số thành viên chủ chết trong nhóm của Caruso đã được điều động đi làm những công việc ở các văn phòng khác trên khắp nước Mỹ. Họ đã xa gia đình, ở lại Washington tới gần một năm rồi. Mà cũng đã tới gần lễ Noel và không phải là không có lý khi với tình trạng là còn rất ít công việc phải làm, họ muốn quay trở về với gia đình, trở lại với công việc hàng ngày của họ. Bryant có thể thấy nhóm làm việc của Caruso đang tan rã ngay trước mắt mình.

Nhưng CIA không cho là như vậy. Cơ quan này tiếp tục cái công việc là đào sâu bên dưới chính gót chân của mình. Nó muốn có được những kết quả điều tra chính xác 100%. Trong quá khứ, CIA đã từng có những bài học kinh nghiệm đau đớn về những điệp viên nhị trùng. Một nhân viên CIA, trong thời gian làm việc tại Indonesia, đã bán những bí mật của cơ quan này cho các tình báo viên Xô viết. Một nhân viên cấp thấp khác cũng đã bán những sơ đồ và kế hoạch liên quan đến các vệ tinh dò thám của Mỹ. CIA cũng không ít lần dính đòn điệp báo của các cơ quan tình báo đối phương. Một điệp viên “đào thoát” của Tiệp Khắc, dưới vỏ bọc là một phiên dịch, đã là một điệp viên nhị trùng hoạt động cho cơ quan tình báo Tiệp Khắc: Một phiên dịch khác người Trung Quốc, sau khi trở thành công dân Mỹ, đã thu thập được những tài liệu tối mật và chuyển nó cho tình báo Trung Quốc trong suốt 33 năm làm việc của ông ta. Dĩ nhiên cũng phải kể đến Edward Lee Howard nữa. Tuy nhiên, không có bất cứ một vụ nào trong quá khứ đó lại có thể sánh được về quy mô so với vụ việc mà cả CIA và FBI đang tiến hành điều tra.

Thêm nữa, CIA vẫn còn chưa tiêu hoá hết cái dư vị cay đắng mà James Jesus Angleton, người đã từng có thời đứng đầu bộ phận phản gián của cơ quan này, để lại Trong suốt hai mươi năm trời, Angleton đã bị ám ảnh rồi chính bản thân ông ta gieo rắc mới lo ngại rằng có một “chuột chũi” đã chui sâu vào trong hàng ngũ những quan chức cấp cao của CIA. Thậm chí đã có lúc người ta thì thầm rằng có thể giám đốc CIA cũng đang hoạt động cho tình báo Xô viết. Angleton chẳng bao giờ tóm được con: chuột chũi” của ông ta cả, nhưng cũng đã thành công trong việc phá hỏng tiền đồ sự nghiệp của một vài nhân viên CIA trong sạch mà kết quả là cơ quan này đã phải bỏ ra những khoản tiền lớn để bồi thường. Sau cùng thì Angleton cũng bị sa thải và ông ta chết vào năm 1987. Giờ đây, trong khi đang nằm dưới mồ, có thể ông ta đang cười khẩy vì đã để lại một gia tài tinh thần đổ vỡ.

Trái với mong muốn của Bryant muốn nhanh chóng kết thúc vụ việc, Tổng hành dinh FBI lại đồng ý với quan điểm của CIA. Cả Jim Holt và Jim Milbum đều được khuyến cáo là phải hết sức thận trọng.

“Tôi sẽ thúc đẩy công việc nhanh hơn - Bryant nói với John Lewis, trợ lý đặc biệt của mình trong văn phòng FBI Washington - Tôi sẽ xới tung lên cho mà xem.”

Vốn đã có kinh nghiệm làm việc ở cả Tởng hành dinh FBI lẫn Văn phòng FBI địa phương cộng với những hiểu biết về cung cách điều hành các chiến dịch của CIA, Lewis trả lời: “Đôi khi có những hạn chế trong đầu óc con người mà anh không thể vượt qua được. Nó giống như đánh nhau với cối xay gió vậy.

Nhưng ông cứ đợi đấy, rồi cũng đến lúc nó phải kết thúc thôi”

Rốt cuộc thì đến giữa tháng 3 năm 1993, nhóm hỗn hợp Playactor Skylight cũng đã soạn xong một dự thảo báo cáo. Trong bản cáo này còn lại tên của 5 kẻ bị tình nghi nhất. Một trong số đó cần phải có sự chú ý đặc biệt. Nhưng vấn đề là ở chỗ vẫn chưa thể loại bỏ hoàn toàn 4 kẻ tình nghi kia ra khỏi danh sách này.

Và rồi bỗng dưng hoạt động điều tra chi tiết của nhóm Caruso được đền đáp xứng đáng. Tên của một trong số 5 kẻ tình nghi được đặt lên hàng đầu tiên. Có thể chưa hoàn toàn chắc chắn 100%, nhưng đã rất gần với những gì mà người ta muốn có trong tay.

Kẻ bị tình nghi số một này, trên thực tế, chính là người đàn ông đã mua căn nhà ở Bắc Arlington. Tên ông ta là Aldrich H. (Rick) Alnes. Vào năm 1993, ông ta 5l tuổi và đã có 3l năm làm việc cho CIA, từng nắm giữ nhiều trọng trách có độ nhạy cảm cao trong hệ thống tổ chức của CIA. Trước đó, cha của ông ta cũng đã từng là một nhân viên CIA.

o O o

Với sự chấp thuận của Tổng hành dinh FBI, ngày 12-5 1993, Gấu Bryant chính thức khởi tố vụ án.

Theo logique thông thường thì rõ ràng Tim Caruso phải là người tiếp tục cầm đầu các hoạt động điều tra. Thế nhưng Caruso muốn quay trở lại làm việc ở Tổng hành dinh FBI và ông ta có những lý lẽ để biện hộ cho quyết định của mình. “Tôi đang dẫm chân lên người khác - ông ta nói với Bryant - Kể từ nay, mọi việc phải được điều hành theo phương thức trực tiếp bởi văn phòng FBI địa phương. Hiện nay, John Lewis là nhân vật số 2 ở đây Nếu như tôi tiếp tục ở lại, tôi sẽ phải báo cáo trực tiếp với anh và trên thực tế, John sẽ không có quyền hành gì hết. Với phương thức như vậy, anh sẽ không thể tiến hành chiến dịch một cách hiệu quả được.”

Gấu đồng ý.

Câu hỏi đặt ra là ai sẽ thay thế Caruso điều hành nhóm công tác trong giai đoạn mới. “Đó không nhất thiết phải là một nhân viên giám sát tốt nhất - Caruso nói với Lewis- Tất cả bọn họ đều có nghiệp vụ rất tốt. Vấn đề là ai thích hợp nhất với cương vị này?” Theo ông ta thì đó là Les Wiser. Mới 38 tuổi, Wiser là nhân viên giám sát trẻ tuổi nhất trong văn phòng FBI Washington, thế nhưng anh ta đã từng là một nhân viên phản gián đấy nhiệt huyết, hiểu biết rất rõ giá trị của những chứng cứ trong một vụ án. Anh ta đã có bằng luật của Đại học Tổng hợp Pitlsburlgh, từng làm cả công tố viên và chưởng lý trong lực lượng hải quân trước khi vào làm việc cho FBI. Wisel chính là đại diện cho một thế hệ mới trong FBI. Cao khoảng 1m80, người mảnh dẻ, Wiser có một bộ ria lớn mà mặc dù được xén tỉa gọn gàng nhưng người ta cho rằng trong thời gian trước đấy, khó có thể được chấp nhận trong FBI. Lewis cũng không có điều gì phải phàn nàn về Wiser. Ông ta đã có lần cùng với Wiser hoạt động trong thời gian một tuần lễ ở Đức nhân một vụ việc có liên quan đến CIA và đánh giá rất cao năng lực của Wiser.

Vào cuối buổi chiều ngày 24-5-1993, -Bryant gọi Wiser vào phòng làm việc của mình và bảo anh ta đóng cửa lại. Gấu đứng lên khỏi bàn làm việc của ông ta rồi cùng với Wiser bước sang phòng hợp. Ông ta hỏi Wiser: “Này, anh có biết họ đang làm gì trong cái phòng trước đây dùng để điều tra vụ máy bay số 103 của hãng Pan Am không?”.

Wiser trả lời rằng anh ta cũng có nghe nói đôi chút về công việc đó. Anh ta biết rằng có tồn tại một nhóm điều tra mang mật danh là Playactor. Chỉ có vậy thôi, còn ngoài ra anh ta không biết gì hơn nữa và cũng không có ý định tìm hiểu. Đó không phải là công việc của anh ta. Anh ta cho rằng nếu như người ta cần anh ta phải biết điều gì đó thì hẳn là anh ta sẽ được thông báo cấp kỳ.

Đó chính là câu trả lời mà Bryant muốn nghe. Cộng đồng tình báo Mỹ, mà chính xác là CIA, đang bị xâm nhập. Một vụ rất lớn đấy - Bryant nói - Vẫn còn chưa rõ mọi việc cho lắm, nhưng có thể nói rằng chúng ta đã xác định được gần như chắc chắn cái gã đó là ai. Đây có thể là vụ quan trọng bậc nhất của FBI từ trước tới nay.”

Wiser cảm thấy sống lưng mình gai gai.

“Anh có muốn nắm vụ này không.” - Bryant hỏi:

“Sếp! Tôi đã chờ đợi một vụ như thế từ lâu lắm rồi” - Wisel đáp.

Trong khi sẽ nhận được một số tin tức do nhóm của Camsơ cung cấp, Wiser vẫn có thể tự do lựa chọn những nhân viên mà anh ta muốn từ bất kỳ một phân ban phản gián nào trong phạm vi điều động của Văn phòng FBI Washington.

Camso và Mike Anderson, người đã hy sinh công việc giám sát của ông ta để tham gia làm việc cùng với Caruso, sẽ cung cấp mọi thông tin cho Wiser.

Hôm sau, cùng với một điệp viên trong nhóm phản gián của anh ta, Wiser vẫn phải đi Connecticut. Đó là một cuộc gặp đã được bố trí từ trước và không thể hiểu được Công tác móc nối với một nguồn tin của cơ quan tình báo một nước thuộc thế giới thứ ba được tiến hành từ lâu và đã đến ngày thu lượm kết quả.

Ngày hôm sau, thứ tư, 26-5-1993, Wiser tham dự buổi thông báo tình hình đầu tiên của Caruso và Anderson. Anh ta được họ đưa cho xem một tấm ảnh của Ames.

Nhìn vào tấm ảnh, Wiser không khỏi cười thầm. Với cặp mắt hiếng, khuôn mặt hóp và cái mũi nhọn, trong Ames rất giống một con chuột chũi.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
1 thành viên đã gởi lời cảm ơn Mymk về bài viết trên: Nminhngoc1012
     
Có bài mới 29.01.2018, 16:45
Hình đại diện của thành viên
Thành viên cấp 9
Thành viên cấp 9
 
Ngày tham gia: 27.10.2016, 15:47
Bài viết: 1343
Được thanks: 254 lần
Điểm: 7.5
Có bài mới Re: [Trinh thám] Điệp viên ở Washington - Peter Maas - Điểm: 11
Chương 2

Cái thời điểm định mệnh trong số phận của Valery Martynov và Sergey Motorin đã diễn ra vào một ngày tháng l2 năm 1982 ở Mexicơ City, khi Rick

Ames, lúc đó mới 40 tuổi, được giới thiệu với một phụ nữ 30 tuổi người Colombia tên là Maria del Rosario Casas Dupuy.

Họ có rất nhiều điểm chung. Cả hai đều là những người kín đáo. Và vào thời điểm đó, họ rất cần đến nhau. Người nọ có thể bù đắp cho những hụt hẫng của người kia.

Một năm trước đó, Rick được bổ nhiệm tới Trạm CIA ở Mexico City. Vỏ bọc của ông ta là một chuyên viên phân tích chính trị thuộc Bộ ngoại giao. Mùa xuân năm sau đó thì Rosario tới thủ đô Mexico với vai trò là tuỳ viên văn hoá của sứ quán Colombia.

Không đẹp lắm nhưng Rosario vẫn còn giữ được cái vẻ trong sáng, linh lợi của một thiếu nữ. Như người ta vẫn thường nói, cô ta là người “tinh vi”. Rosario xuất thân từ một gia đình nổi tiếng ở Bogotá, được coi là khá trí thức và thuộc vào giới tinh hoa ở thủ đô Colombia. Bố của Rosario là một nhà hoạt động chính trị, cựu hiệu trưởng trường Đại học Tổng hợp, đồng thời là một nhà toán học. Ông ta nổi tiếng với vai trò của một thống đốc bang, đồng thời là một thượng nghĩ sĩ đại diện cho Đảng Tự do theo đường lối trung dung trong Thượng viện Colombia. Rosarii lớn lên ở khu phía bắc Bogotá, nơi tập trung những gia đình danh gia vọng tộc. Mẹ của cô ta, bà Cecilia Dupuy de Casas, một người sang trọng và có xu hướng chính trị tả khuynh hơn ông chồng, đều đặn chủ trì những buổi tiếp khách với sự tham gia của các học giả, nhạc sĩ, nhà thơ, nhà văn, trong đó có cả nhà văn Gabnel Garcia Marquez. Trong khi mẹ của cô ta ra mặt ủng hộ lãnh tụ của cách mạng Cuba Fidel Castro bằng cách làm Chủ tịch hội hữu nghị với Cuba mang tên một thần tượng của Fidel là José

Martí, nhà thơ đã lãnh đạo cuộc nổi dậy của nhân dân Cuba chống lại thực dân Tây Ban Nha vào năm 1895 thì bản thân Rosario, ngoại trừ một thời gian ngắn có tham gia phong trào maoist, khi đó vốn là thời thượng trong đám sinh viên đại học, thực chất là người theo xu hướng phi ý thức hệ. Nếu như có tồn tại một tư tưởng chính trị thực sự nào đó trong cuộc đời của Rosano thì có lẽ đó chính là cái khuynh hướng chống Bắc Mỹ, một khuynh hướng vốn không phải là thịnh hành lắm trong môi trường sống của cô ta. Niềm đam mê của Rosario chính là văn học. Cô ta đã tốt nghiệp hạng ưu Khoa triết học và văn chương trường Đại học Tổng hợp Andes ở Bogotá, sau đó tham gia một học kỳ 6 tháng ở trường Đại học Tổng hợp Princeton, có lẽ là một cố gắng vô vọng nhằm thoát khỏi cái mối quan hệ yêu ghét lẫn lộn với bà mẹ đầy uy quyền, người cũng bắt đầu tham gia vào các lớp học cùng với cô ta. Luận văn của Rosano có tựa đề là “Sự giải trí mang tính thị dân trong các tác phẩm của Baudelaire, Eliot và García Lorca Bị ảnh hưởng bởi văn chương Pháp, Đức, Anh và văn chương cổ điển Hy Lạp, Rosano tham gia giảng dạy ở khoa văn đại học Bogotá, đồng thời tiếp tục làm luận án tiến sĩ triết học với chủ đề “Mỹ học Hegel trong mối liên hệ với văn học”. Những người phụ trách ở trường đại học cùng với Rosano nhìn nhận cô ta như một giảng viên nhiệt tình, lịch thiệp, có kỷ luật, kín đáo, thậm chí hơi khắc khổ Dường như Rosano chỉ tập trung mục tiêu duy nhất của đời mình vào những giá trị tinh thần mà ít quan tâm đến khía cạnh vật chất của đời sống hàng ngày. Cô ta vẫn là một thiếu nữ chứ chưa phải là đàn bà.

Tuy nhiên, vẫn có một bi kịch nhỏ ẩn dấu đằng sau cuộc sống của Rosario Casas. Mặc dù địa vị sang trọng về mặt xã hội và chính trị của gia đình đã giúp cho Rosario sống ở Bogotá trong tư thế khá đàng hoàng, thế nhưng càng ngày, gia đình cô ta càng lâm vào tình trạng suy vi. Sau khi cha chết, bà mẹ đã phải cố gắng tằn tiện tiêu pha trong phạm vi số tiền ít ỏi còn lại của gia đình. Rosario tới trường khi là một thành viên của một gia đình giàu có, sống trong thế giới của những người giàu nhưng khi ra trường, cô ta đã không còn thuộc về thế giới ấy nữa. Rosario căm ghét người cha vì điều đó, muốn lảng tránh cái thực tại tàn nhẫn ấy càng xa càng tốt Rosario cố gắng giảm bớt thời gian phải sống ở nhà và chính điều đó lại khiến cho cô ta không có đủ khả năng mua được những bộ đồ thời trang mới nhất mà đám bạn gái thường đem ra phô trưông, không được sơn sửa móng tay hay làm đầu ở những mỹ viện sang trọng quý phái mà trước đó cô ta vẫn thường lui tới, không mua được những băng nhạc Cuba mới nhất mà tất cả đám bạn bè đều mê mẩn đến phát cuồng lên, phải cầu xin bà mẹ để bà cho phép sử dụng chiếc xe Fiat tới tham dự một buổi tiệc nào đó, phải băn khoăn suy tính xem sẽ phải mua bộ tất liền quần tiếp theo ở đâu, thậm chí phải giảm bớt đi xe bus tới trường đại học hoặc tiền ăn trưa.

Những mối căng thẳng nội tâm thường xuyên làm cho Rosario gầy đi và điều đó lại khiến cho cô ta có được một thân hình toát ra cál vẻ hoang dã đầy gợi cảm. Rosario tìm sự giải khuây trong tình dục. Cô ta đã từng trải qua vài cuộc tình nhưng rồi chẳng đi đến đâu bởi những đòi hỏi khá cao đối với bạn tình. Cứ thế, các mối quan hệ liên tiếp bị đổ vỡ Trong khi Rosario đang cố gắng gượng dậy sau một cuộc tình lãng mạn vừa mới chấm dứt thì những mối dây liên hệ chính trị thuở trước của cha cô ta tỏ ra hữu ích. Đích thân. Tổng thống Colombia bổ nhiệm cô ta tới làm, việc tại sứ quán ở Mexico City. Rosario bắt đầu tìm lại được niềm vui sống.

Rosario nhanh chóng trở thành một nhân vật nổi bật trong những cuộc tiếp tân và chiêu đãi. ngoại giao liên miên. Cô ta tham gia Vào ban điều hành của AMCOSAD, tên gọi theo tiếng Tây Ban Nha một câu lạc bộ chuyên tài trợ các hoạt động văn hoá và xã hội cho các nhân viên nước ngoài trong sứ quán. Vào thời gian đó, Mexico City là địa bàn nóng bỏng của chiến tranh điệp báo, đầy rẫy những âm mưu, những hoạt động ngầm. Cả Mỹ và liên Xô đều coi đây là cái yết hầu để từ đó xâm nhập vào Nicaragua và El Salvador Tình báo Cu ba cũng coi không nào lại thuận lợi hơn thành phố này cho các hoạt động của họ.

Vị giám đốc đầy quyền thế của CIA, William Casey, cho rằng Mexico có đầy đủ những dấu hiệu để trở thành một Iran thứ hai.

Một nhân viên CIA tại Trạm Mexico City phát hiện thấy Rosario thường hay tán gẫu một thành viên khác trong ban điều hành của câu lạc bộ. Đó là một thiếu tá KGB khá năng nổ, nói được tiếng Tây Ban Nha, tên là Igor Shurygin. nhân viên CIA này là một bạn nhậu của Rick trong những cuộc chè chén tuý luý, đồng thời cũng là một tay tán gái thành thần. Anh ta dễ dàng tiếp cận với Rosario rồi sau một thời gian thì đưa được cô ta lên giường. Đến mùa thu năm 1982 thì- Rosario đồng ý vào làm việc cho CIA, có lương hẳn hoi. Đó chỉ là khoản tiền khiêm tốn 200 USD một tháng, thế nhưng khi đổi sang tiền Mexico ở Mexico City, đó là một số tiền cũng đáng kể, đủ để mua được những đôi giày đắt giá hiệu Ferlagamô mà cô ta vẫn thèm thường. Thực ra, Rosario cũng làm việc rất ít để nhận được khoản tiền lương này. Đó chỉ là báo cáo những thông tin đáng chú ý mà cô ta thu lượm được từ một số người Cuba trong những lần nói chuyện ngồi lê đôi mách, một vài dấu hiệu mà thiếu tá Shurygin vô tình để lộ ra đôi lần, Rosario cho phép sử dụng căn hộ của cô ta để CIA sử dụng làm nơi gặp gỡ bí mật.

Đến thời điểm đó, người nhân viên CIA ở Mexico City chịu trách nhiệm phụ trách Rosario buộc phải tự mình thoát ra khỏi mối quan hệ cá nhân với cô ta.

Ngủ với một nguồn tin của mình không phải là một phương thức hoạt động trong CIA. Ngoài ra, anh ta cũng biết rằng giống như những người tình trước đây của Rosario, một khi những hấp dẫn về mặt tình dục ban đầu qua đi thì giữa họ sẽ chỉ còn lại những rắc rối mà thôi. Bởi vậy, anh ta bèn chuyển giao Rosario cho Rick Ames bằng cách giới thiệu họ với nhau trong một buổi chiêu đãi của AMCOSAD. Cô ta có lẽ chính là người mà Rick đang rất cần để lấy lại sinh khí trong cuộc sống. Cuộc hơn nhân của Rick với vợ người đã từ chối đi cùng ông ta tới Mexico, đang ở vào thời kỳ sóng gió. Với bản chất tôn, khi mối quan hệ hơn nhân trở nên tàn tạ thì Rick đành tìm sự lãng quên bằng việc uống rượu.

Ông ta cũng từng tham gia một vài cuộc diễn thuyết trong đó có cuộc diễn thuyết với sự tham gia của một quan chức Cuba mà tại đó, ông ta đã lên án sự “phản bội” của Fidel Castro đối với nhân dân Cuba; một lần khác, khi đang say bí tỉ, ông ta đã làm bẹp rúm chiếc xe của mình trong một tai nạn giao thông và khi đại diện của Sứ quán Mỹ, người mà ông ta biết rất rõ được cảnh sát mời tới nơi, ông ta đã làu bàu: “Anh là thằng quái nào vậy?”

Rick biết rằng Rosario không biết những điều đó. Nhưng ở đây còn có nhiều yếu tố khác hơn là những ánh mắt gặp nhau. Tình dục không phải là sợi dây duy nhất liên kết hai người lại với nhau. Trong căn hộ độc thân của Rick ở Pink

Zone, một khu vực rợp bóng cây của thành phố với những toà nhà có tường được quét vôi màu hồng nhạt gợi nhớ đến vùng Greenwich Viliage của New

York, Rosano sửng sốt khi nhìn thấy những giá chất đầy sách kín lên đến tận trần nhà. Hoá ra đây không phải là một gã người Mỹ thô kệch. Thay vào đó, ông ta có những hiểu biết sâu rộng về văn học, niềm đam mê lớn của cô ta, người có thể có những bài hùng biện về các lĩnh vực mà cô ta không am hiểu cho lắm.

Thậm chí, ông ta còn có thể đọc thuộc những trích đoạn dài trong các tác phẩm của Chaucer!

°°°

Đối với Rick Ames, việc trở thành nhân viên CIA là một thất bại to lớn về mặt cá nhân. Ông ta từng mơ mộng một ngày kia sẽ vào làm việc tại một nhà hát nào đó làm diễn viên, xuất hiện trên sân khấu. Khi đó, Rick cũng không thể ngờ được rằng rồi CIA sẽ phân cho ông ta vai diễn trong chính cuộc đời.

Rick đã hết sức miễn cưỡng khi vào làm việc cho CIA. Thực ra thì đó cũng hầu như là công việc duy nhất mà ông ta có thể làm. Ông ta đã không có được một công việc bình thường mà những thanh niên cùng tuổi ở vùng ngoại ô vẫn thường làm, chẳng hạn như xén cỏ hoặc chan chạy phân phát báo. Khi mới l6 tuổi, sau khi kết thúc năm thứ hai tại trường Trung học Mc tean ở Virginia, cách không xa mấy trụ sở Tổng hành dinh của CIA, Rick đã bắt đầu một mùa hè làm. công việc sắp xếp tài liệu phân loại những hồ sơ cho CIA. Cha của Rick, cũng là một nhân viên CIA, đã tìm cho Rick công việc đó Trong gia đình, biệt hiệu. của ông bố Rick là “Vua”. Quả thực là ông ta có phong thái của một vị vua, một người đàn ông xa cách, nghiện rượu, thất vọng về hiện tại và luôn tham gia vào những cuộc chè chén say sưa Nhưng ông ta không bao giờ đối xử tàn nhẫn hay đánh đập Rick cũng như hai cô em gái của Rick. Trong thâm tâm, Rick nghĩ rằng mình yêu cha mình, cho dù trong gia Đình Rick, những tình cảm như vậy thường không được khuyến khích biểu lộ ra ngoài.

Khi còn trẻ, Rick đã từng tặng cho cha mình, ông Carleton, một cuốn tiểu sử của Giám đốc CIA Allen Đulles. Trong lời đề tặng, Rick chỉ viết một cách đơn giản: “Tặng cha. Chúc lễ giáng sinh vui vẻ. Rick”. Từ yêu quý hoặc những từ ngữ tương tự khác biểu lộ sự trìu mến không có trong phạm vi diễn đạt của hai cha con. Năm 197l, sau khi Carlelon kết thúc công việc ở CIA và về hưu, Rick nhận được một bức thư viết tay dài hai trang của cha mình. Trong đó, ông bố thuyết cho ông con về việc cuộc chiến tranh vẫn còn đang tiếp diễn, về mối đe doạ cộng sản trên khắp thế giới và ở những dòng cuối cùng, ông ta viết Nhân tiện đây, cha cũng muốn nói cho con hay là cha đã đi khám bác sĩ và người ta cho cha biết là cha đang bị ung thư vòm họng. Nhưng cha cũng chưa đến nội phải “đi” ngay đâu. Ông bác sĩ đã không nói cho cha biết. Có thể là 6 tháng nữa, mà cũng có thể là l năm. Cha của con”.

Rick đã giữ lại bức thư đó nhiều năm sau này, khi cha đã chết, Rick đã tình cờ đọc được hồ sơ của Carleton Ames trong tủ hồ sơ cà nhân của CIA. Tất nhiên là dưới một cái tên giả, nhưng Rick biết cái tên đó là của cha mình. Đó là một tập hồ sơ lạnh lùng mà người ta cảm thấy bị xúc phạm nặng nề khi đọc nó.

Trưởng Trạm CIA tại Miến Điện đã viết trong hồ sơ về cha của Rick: “ôĐây là một người không có chút giá trị nào. Tôi không nhìn thấy bất cứ một tia hy vọng nào là anh ta có, thể tiến bộ được. Tối không trách cứ anh ta, mà trách cứ

Tổng hành dinh của chúng ta đã gửi anh ta tới chỗ chúng-tôi”. Nhân viên CIA tại đó đã đưa ra một số thang bậc để đánh giá khả năng và Carleton thuộc vào hạng thấp nhất. Hơn nữa, ông ta là một người nghiện rượu, bản báo cáo kết luận.

Rick vô cùng kinh hãi. Lạy Chúa, Rick nghĩ, làm sao người ta lại có thể viết những điều như vậy được? Cho dù có nhiều lỗi lầm nhưng cha của Rick dẫu sao vẫn là một người tốt. Rick sẽ còn nhớ mãi điều này.

°°°

Aldrich Hazen Ames sinh ngày 26-5-1941 tại thành phố nhỏ River Falls bang Wisconsin cách không xa biên giới với bang Minnesota. Cha của Rick, một người đàn ông cao lớn, đẹp trai với mái tóc bạc sớm thêm vào cùng với vốn kiến thức sâu rộng, là giáo sư sử học, chuyên về vùng Viễn Đông. ông tà là gáo viên tại một trường cao đẳng của bang, nơi ông nội Rick đã từng có thời làm hiệu trưởng. Năm 1938, Carleton kết hôn với một trong những nữ sinh viên của ông là Rachel Aldrich, một thiếu nữ dễ thương người Wisconsin trẻ hơn ông ta tới l3 tuổi. Khi đang giảng dạy môn tiếng Anh tại trường trung học River Falls thì bà ta sinh ra Rick. Ở nhà, không bao giờ bà gọi cậu con trai mình là Aldrich mà lúc đầu chỉ đơn giản là Ricky, rồi sau đó là Rick.

Khi còn là một đứa bé, Rick không chơi môn thể thao nào vì thị lực rất kém.

Năm lên 10 tuổi, Rick đã phải đeo cặp kính cận dày cộm. Rick chỉ chơi cờ và rất giỏi trong môn thể thao trí tuệ này. Mối đam mê thứ hai là sách. Trong gia đình của Rick, văn học có một vị trí quan trọng và nếu như có một điểm gì chung trong những thú vui giải trí của gia đình này thì đó là đọc sách. Bà Rachel, trái ngược với bản tính lạnh lùng và xa cách của ông chồng, là một người có bản tính xởi lởi và dễ mến. Bà đã dành nhiêu thời gian để tạo cho Rick thói quen đọc sách, giới thiệu cho Rick những tác giả mà bọn trẻ cùng lứa tuổi với Rick hầu như chẳng có một chút khái niệm nào, như Dickens, Trollope, Thackeray, rồi Hemy James, Melvilie.

Với bản chất hướng nội, ưa cô độc, lại sống trong một gia đình mà những cảm xúc cũng như suy nghĩ riêng tư không được khuyến khích bộc lộ, thời trẻ tuổi, Rick cảm thấy rất khó khăn trong việc tiếp xúc với những người khác.

Nhưng nếu như người khác đặt một mối quan hệ với Rick thì Rick rất nhiệt tình đáp lại Tính cách này sẽ theo Rick trong suốt cuộc đời sau này.

Có lẽ Rick cũng sẽ đi tới một kết cục bình thường trong cái thế giới hàn lâm, làm một giáo sư đãng. Trí khoa tiếng Anh tại một trường cao đẳng nào đó ở miền trung tây nước Mỹ, nếu như không có chuyện vào năm 1952, tức là 5 năm sau ngày thành lập CIA, cơ quan tình báo này đã tuyển mộ ông Carleton Ames vào làm việc để tận dụng vốn hiểu biết sâu rộng của ông ta về vùng Viễn Đông cũng như tinh thần hăng hái của ông ta phấn đấu cho những giá trị mà nước Mỹ theo đuổi. Đó là thời kỳ mà vị Thượng nghị sĩ bang Wisconsin, Joe Mc Cathy, đang rêu rao về mối hiểm hoạ đó, rằng Moscow đang điều khiển những người cộng sản xâm nhập vào khắp các cơ quan của Chính phủ Mỹ. Sau khi kết thúc một khoá huấn luyện, năm 1953, Carileton cùng với gia đình chuyển tới thủ đô Rangoon của nước Miến Điện mới được độc lập Cả gia đình sống trong ngôi nhà có nhiều người hầu, nơi có một vườn phong lan với mùi thơm thoang thoảng xuyên qua những bức mành mành màu nâu xám treo bên ngoài cửa sổ.

Đối với cậu bé Rick, vốn đã quen với mùa đông lạnh lẽo ở Wisconsin thì đó là cả một sự mới lạ. Khi đó, Rick mới bắt đầu chơi một số môn thể thao, đặc biệt là bơi lội. Rick cũng hiểu rằng sở dĩ gia đình mình có được cuộc sống mới này chính là nhờ vào cái công việc bí mật mà người cha đang làm. Cuối cùng thì

Carleton cũng giải thích cho cậu con trai của mình tường tận CIA là như thế nào và ông ta là một phần của nó. Đó là một bí mật mà Rick, với một vẻ đầy trách nhiệm, đã không hề tiết lộ cho hai cô em gái của mình. Vỏ bọc của Carleton ở Miến Điện khi đó là nghiên cứu để viết một cuốn sách về vùng Đông Nam Á.

Sau khi Carleton trở về từ Rangonn vào năm 1955, Ban chiến dịch, bộ phận chịu trách nhiệm thực hiện những hoạt động mật của CIA; đã tổ chức một đợt sát hạch ông ta. Cũng như tất cả những nhân viên CIA khác, ông ta phải chịu những sự chỉ trích nặng nề nhưng đã chống lại những lời cáo buộc đó một cách quyết liệt. Theo lý lẽ của Carìeton, ông ta là một nhà nghiên cứu chứ không phải là một nhân viên hành động chuyên đi móc nối tuyển mộ điệp viên của đối phương, tiêu chuẩn để tất cả các trạm của CIA ở hải ngoại đánh giá năng lực nhân viên của mình. CIA phải chịu nhượng bộ. Với sự chấp thuận của Quốchội sau những phiên điều trần không có hỏi đáp, các cơ quan của chính phủ tiếp tục phình to ra chứ không phải bị cắt bớt nhân viên của nó. Bởi vậy mà Carleton trở thành một chuyên viên phân tích trong cái đội ngũ của Angleton luôn bị ám ảnh bởi sự xâm nhập của những con “chuột chũi”, một chủ đề mà ông ta thường xuyên trao đổi với cậu con trai Rick thay vì chuyện may mắn của đội bóng đá

Washington Redskins. Cái sự thật là Carletơn thường xuyên ngủ gục ở bàn làm việc vào các buổi chiều hầu như không gây nên một lời chỉ trích nào. Việc nốc rượu không phải là một tội lỗi chết người trong CIA. Bản thân Carletơn khó có thể nói chuyện được với người khác sau mỗi bữa trưa với ba cốc rượu martini của ông ta.

Cứ đến kỳ nghỉ hè là Rick lại tiếp tục làm công việc hành chính, văn phòng trong CIA. Trong khi đó, ở trường trung học, Rick có một bước biến chuyển đột ngột, đầy kịch tính. Rick bỗng dưng tìm thấy bản thân mình ở trong cái thế giới đầy tưởng tượng của sân khấu, ham mê tham gia các vở kịch, các buổi trình diễn ca nhạc, đóng các vai diễn trên sân khấu. Trong lĩnh vực này, Rick được đánh giá là người rất thông minh. Mùa thu năm 1959, Rick trúng tuyển vào trường Đại học Tổng hợp Chicago, chuyên ngành lịch sử. Tuy vậy, Rick đã nhanh chóng tự dìm mình vào trong các hoạt động sân khấu và bắt đầu tích luỹ những kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Vào thời gian đó, ở bên ngoài trường đại học có một số nhóm hoạt động sân khấu khá nổi tiếng như Thành Phố Thứ Hai với thành viên là những ngôi sao như Mike Nichơls và Elaine May. Sử dụng tấm thẻ sinh viên, Rick tới xem một cách say mê tất cả các buổi biểu diễn ở bốn nhà hát kịch chính thống tại Chicago hồi đó. Anh ta cũng tới những quán rượu có trình diễn kịch, các buổi biểu diễn ở các sân khấu địa phương đang hồi hưng thịnh. Kết quả của những đam mê thái quá này là đến cuối năm học thứ hai, Rick không qua được kỳ thi cuối năm. Bị đánh trượt trong kỳ thi, giấc mơ trở thành diễn viên của Rick cũng tan vỡ theo. Nhưng Rick không dễ dàng đầu hàng số phận. Để tiếp tục thực hiện giấc mơ của mình, Rick tìm được công việc không thường xuyên là làm trợ lý đạo diễn sân khấu cho một nhà hát. Nhưng việc đi sâu tỉ mỉ vào các chi tiết không phù hợp với tính cách của Rick và thế là sau một thời gian, công việc này chấm dứt.

Cuối cùng, đến đầu tháng 2 năm 1962, Rick quyết định bỏ cuộc, trở về nhà ở Mc Lean và bắt đầu làm việc chính thức cho CIA với vai trò như một thư ký - đánh máy, trước khi trở thành một nhân viên phân tích tài liệu. Thoạt đầu, Rick nhìn nhận công việc này như là một cơ hội có được nguồn tài chính để tiếp tục theo lớp học ban đêm tại trường Đại học tổng hợp George Washington. Nhưng đến khi đã nhận được bằng cử nhân về lịch sử, Rick mới nhận thấy triển vọng khó tìm được một nghề nghiệp mới ngoài công việc ở CIA. Bởi vậy, năm 1967, Rick đành chấp nhận tham gia một khoá đào tạo của CIA đề trở thành một nhân viên hành động. Mặc dù năng lực hành động của Rick không đủ đề có thể trở thành một tay chuyên nghiệp trong cái ngón nghề đòi hỏi rất chuyên nghiệp này nhưng Rick đã tiếp thu được từ khoá đào tạo này tất cả những điều cần thiết để chứng tỏ rằng anh ta là một nhân viên mẫn cán, nhiệt tình và thành thục trong công việc.

Cũng trong thời gian đó, Rick chinh phục được một cô gái tóc vàng trẻ hơn anh ta một tuổi, người từ Buffalo, New York, tên là Nancy Segebarth. Cô ta đã tốt nghiệp Đại học tổng hợp Đenison ở Ohio, sau đó tìm được công việc lại Khoa quan hệ quốc tế ở Trường Đại học tổng hợp American tại Washingtơn.

Nancy cũng là một người tham gia khoá đào tạo trong CIA cùng với Rick. Khi họ tiến hành tổ chức lễ cưới vào ngày 24-5-1969, một lễ cưới được tổ chức theo nghi thức dành cho những người theo tôn giáo Nhất thể thì Nancy từ bỏ công việc của mình trong CIA (quy định của CIA không cho phép cả vợ và chồng đều làm nhân viên hành động). Họ về sống cùng với cha mẹ của Rick, nơi Nancy nhanh chóng nhận ra rằng trong gia đình này, người ta ưa thích đọc sách hơn là nói chuyện với nhau. Tháng 10 năm đó, Rick được bổ nhiệm đi công tác tại Trạm CIA ở Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ. Một cuộc viễn du mới lại mở ra trước mắt Rick.

Trong năm đầu tiên ở cương vị hoạt động mới, Rick làm việc rất tốt, giành được thiện cảm của những người phụ trách. Nhưng rồi cũng như người cha của mình trước đây, Rick không trở thành một nhân viên tuyển mộ xuất sắc, không tài nào thiết lập được những mối tiếp xúc cần thiết cho công việc của mình.

Trong hai năm tiếp sau đó, công việc của Rick sa sút đến mức tồi tệ, xuống tới ranh giới “chỉ tạm chấp nhận được”. Thay cho viễn cảnh của một chuyến viễn du lớn, Thổ Nhĩ Kỳ hoá ra lại chỉ là một vũng nước buồn tẻ. Nó giống như một cái nhà hát vậy – đã có lần Rick cay đắng phàn nàn với Nancy như thế. Rick không được hoan nghênh ở đớ và vì vậy, bắt đầu uống rượu, ngày càng thu vào trong cái thế giới riêng của mình. Trong khi đó, công việc bán thời gian ở Trạm CIA tại Ankara khiến cho Nancy cảm thấy không vừa tầm với năng lực của cô Nancy bắt đầu thấy không hài lòng. Bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên của một sự rạn vỡ không tài nào hàn gắn nổi trong cuộc hôn nhân của họ.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
1 thành viên đã gởi lời cảm ơn Mymk về bài viết trên: Nminhngoc1012
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 16 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Hiện đại] Làm thế nào để không nhớ hắn - Mộng Tiêu Nhị

1 ... 28, 29, 30

2 • [Hiện đại] Xin chào Chu tiên sinh! Dạ Mạn

1 ... 26, 27, 28

3 • [Hiện đại Thanh mai trúc mã] Đều Tại Vầng Trăng Gây Họa - 11 Giờ Phải Ngủ

1 ... 40, 41, 42

4 • [Xuyên không] Vương phi thần trộm Hưu phu lúc động phòng! - Thủy Mặc Thanh Yên

1 ... 82, 83, 84

5 • [Xuyên không - Cổ xuyên hiện] Ảnh hậu đối mặt hàng ngày - Ngã Yêu Thành Tiên

1 ... 37, 38, 39

6 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 140, 141, 142

7 • [Xuyên không] Hỉ doanh môn - Ý Thiên Trọng

1 ... 105, 106, 107

8 • [Hiện đại] Anh Trai VS Em Gái - Trà Trà Hảo Manh

1 ... 10, 11, 12

9 • [Hiện đại] Bó tay chịu trói - Thiên Thần Di Cô

1 ... 30, 31, 32

10 • [Hiện đại] Eo thon nhỏ - Khương Chi Ngư [NEW C59]

1 ... 21, 22, 23

11 • [Hiện đại] Cục cưng lật bàn Con là do mẹ trộm được? - Ninh Cẩn

1 ... 87, 88, 89

12 • [Xuyên không - Dị giới] Phế sài muốn nghịch thiên Ma Đế cuồng phi - Tiêu Thất Gia - New C804

1 ... 116, 117, 118

13 • [Hiện đại] Hôn nhân giá ngàn vàng - Cẩm Tố Lưu Niên (103/104]

1 ... 178, 179, 180

[Cổ đại - Trùng sinh] Đích trưởng nữ - Hạ Nhật Phấn Mạt

1 ... 80, 81, 82

[Cổ đại - Trùng sinh] Trọng sinh cao môn đích nữ - Tần Giản

1 ... 137, 138, 139

16 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 244, 245, 246

17 • [Hiện đại] Vui vẻ gặp lại - Miêu Diệc Hữu Tú

1 ... 24, 25, 26

18 • [Xuyên không] Cuộc sống nông thôn nhàn rỗi - Kẹo Vitamin C

1 ... 108, 109, 110

19 • [Xuyên không] Thú phi thiên hạ Thần y đại tiểu thư - Ngư Tiểu Đồng

1 ... 98, 99, 100

20 • [Xuyên không] Nịch sủng Chí tôn cuồng phi - Mặc Thập Tứ

1 ... 52, 53, 54



Shop - Đấu giá: Tử Tranh vừa đặt giá 528 điểm để mua Kem ly 2
Shop - Đấu giá: Maria Nyoko vừa đặt giá 294 điểm để mua Mây Alway Happy
Công Tử Tuyết: Re: [Trắc Nghiệm] Bạn là cô nàng nào trong "Tam sinh tam thế: Thập lý đào hoa"
Shop - Đấu giá: Lavender - Blue vừa đặt giá 387 điểm để mua Chim cánh cụt
Shop - Đấu giá: Hoa Lan Nhỏ vừa đặt giá 1000 điểm để mua Cá voi xanh
Shop - Đấu giá: Hoa Lan Nhỏ vừa đặt giá 279 điểm để mua Mây Alway Happy
Shop - Đấu giá: Maria Nyoko vừa đặt giá 264 điểm để mua Mây Alway Happy
Shop - Đấu giá: Maria Nyoko vừa đặt giá 400 điểm để mua Trung thu Hằng Nga
Shop - Đấu giá: Maria Nyoko vừa đặt giá 300 điểm để mua Lồng đèn đỏ 2
Shop - Đấu giá: windchime vừa đặt giá 839 điểm để mua Cá voi xanh
Shop - Đấu giá: Libra moon vừa đặt giá 609 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Công Tử Tuyết: Re: 12 cung hoàng đạo và 12 con giáp
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 579 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 798 điểm để mua Cá voi xanh
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 736 điểm để mua Bé trứng gà
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 700 điểm để mua Bé trứng gà
Shop - Đấu giá: Minh Huyền Phong vừa đặt giá 303 điểm để mua Thư tình
Shop - Đấu giá: windchime vừa đặt giá 759 điểm để mua Cá voi xanh
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 550 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 522 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Shop - Đấu giá: Lãnh Nguyệt Dạ vừa đặt giá 287 điểm để mua Thư tình
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 362 điểm để mua Xe hơi quà tặng
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 496 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Shop - Đấu giá: Hoàng Phong Linh vừa đặt giá 384 điểm để mua Nơ bông hồng
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 471 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 526 điểm để mua Bé trứng gà
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 721 điểm để mua Cá voi xanh
Shop - Đấu giá: Libra moon vừa đặt giá 447 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 500 điểm để mua Bé trứng gà
Shop - Đấu giá: Sam Sam vừa đặt giá 279 điểm để mua Lovely Bear 2

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.