Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 14 bài ] 

Bước ngoặt trong câu chuyện - Jeffrey Archer

 
Có bài mới 11.12.2017, 13:48
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35469
Được thanks: 5260 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Trinh thám - Tập truyện ngắn] Bước ngoặt trong câu chuyện - Jeffrey Archer - Điểm: 10
Không Phải Thứ Thiệt

Gerald Haskins và Walter Ramsbottom đã liên tục ăn bỏng ngô từ một năm nay.

“Tớ sẽ đổi tấm huân chương MC[17] và huy chương DSO[18] của tớ lấy tấm VC[19] của cậu,” Walter bảo trên đường tới trường một buổi sáng.

“Không được,” Gerald nói. “Dù sao thì cũng phải mất mười cái vỏ bao để có một tấm huy chương VC và cậu chỉ cần hai vỏ bao cho một tấm MC hoặc một tấm DSO.”

Garald tiếp tục sưu tầm vỏ bao cho đến khi cậu ta có được mọi huân, huy chương từ mặt sau vỏ bao. Walter không bao giờ có được tấm huy chương Victoria. Cô bé Angela Bradbury cho là cả hai cu cậu đều là đồ ngốc.

“Những cái đó, chúng chỉ là huân, huy chương giả,” cô bé liên tục nhắc nhở hai cậu, “Không phải là thứ thiệt, và tớ chỉ quan tâm đến những cái thứ thiệt mà thôi,” cô bé kiêu ngạo bảo với bọn chúng.

Vào lúc đó, cả Gerald và Walter đều không coi ý kiến của Angela ra gì. Cả hai cậu bé vẫn còn chú ý đến những tấm huân, huy chương hơn là quan điểm của phái đẹp.

Chiến dịch khuyến mại huân, huy chương miễn phí của hãng Kellogg kết thúc vào mồng một tháng Giêng, 1950, đúng lúc Gerald đã xoay xở có được đủ bộ. Walter bỏ không ăn bỏng ngô nữa.

Bọn trẻ cả thập kỷ 50 khi đó có được cơ hội khám phá thế giới của Meccano. Meccano thậm chí còn yêu cầu ăn nhiều bỏng ngô hơn nữa, và thế là trong vòng một năm, Gerald đã sưu tầm được một bộ đủ lớn để xây các cây cầu treo, cầu phao, cần cẩu, và thậm chí cả một khu nhà văn phòng nữa.

Gia đình của Gerald tiếp tục nhai bỏng ngô một cách hào hiệp, nhưng khi cậu ta bảo với họ là cậu muốn xây dựng cả một thành phố – phần thưởng khuyến mãi cuối cùng của hãng Kellogg – thì hầu hết các bạn bè của cậu ở lớp năm Trường trung học Hull phải giúp đỡ cậu tiêu thụ những bữa sáng bằng ngũ cốc thì mới có thể hoàn thành tham vọng của cậu.

Walter Ramsbottom từ chối giúp đỡ. Sự trợ giúp của Angela Bradbury không bao giờ được yêu cầu.

Cả ba người tiếp tục đi trên những con đường riêng của họ.

***

Hai năm sau, Gerald Haskins giành được một vị trí tại Trường đại học tổng hợp Durham, không ai ngạc nhiên khi cậu chọn học môn cơ khí, và liệt kê việc sưu tập huân, huy chương như là thú vui chính của mình.

Walter Ramsbottom làm việc cùng với cha trong ngành kinh doanh kim hoàn của gia đình và bắt đầu tán tỉnh Angela Bradbury.

Đúng vào dịp nghỉ xuân trong năm học thứ hai của Gerald tại Đại học Durham thì cậu tình cờ gặp lại Walter và Angela. Họ đang ngồi cùng một hàng ghế tại một buổi biểu diễn giao hưởng tứ tấu âm chạc của Bach[20] tại Đại sảnh tòa thị chính Hull. Walter bảo với cậu trong lúc nghỉ giữa giờ rằng họ mới làm lễ đính hôn nhưng chưa chọn được ngày cưới.

Gerald chưa gặp lại Angela hơn một năm nay, nhưng lần này thì cậu nghe theo ý kiến của cô, bởi vì giống như Walter, cậu cũng yêu cô.

Cậu thay việc ăn bỏng ngô bằng cách liên tục mời Angela đi chơi, ra ngoài ăn tối, với nỗ lực giành lại được nàng từ tay tình địch.

Gerald đạt được thêm một thắng lợi nữa khi Angela hoàn trả lại chiếc nhẫn đính hôn cho Walter một vài ngày trước lễ Giáng sinh.

Walter tung ra tin đồn rằng Gerald chỉ muốn cưới Angela bởi vì bố cô ta là Chủ tịch Hội đồng công trình hạ tầng thành phố Hull, và Gerald đang hy vọng có một chỗ làm trong hội đồng này sau khi nhận bằng của Trường đại học Durham. Khi thiệp mời đám cưới được gửi đi, Walter không có tên trong danh sách khách mời.

***

Vợ chồng Haskins đi Multavia hưởng tuần trăng mật, một phần bởi vì họ không thể trang trải chuyến đi Nice và cũng không muốn đi nghỉ tại Cleethropes, mặc dù các đại lý du lịch tại địa phương đang mời chào một cơ hội đặc biệt cho những người đang cân nhắc một chuyến đi tới cái vương quốc nhỏ bé nằm kẹp giữa Áo và Czech.

Khi đôi vợ chồng mới cưới tới khách sạn của họ ở Teske, thủ đô của Multavia, họ mới khám phá ra tại sao điều khoản chi phí lại vừa phải như vậy.

Vào năm 1959, Multavia đang trải qua một cuộc khủng hoảng chính trị quyết định xem nó sẽ gắn bó vận mệnh của mình với nước nào. Nó đang nỗ lực chuyển đổi cho phù hợp thêm một hiệp ước nữa, do một luật sư người Hà Lan tại Geneva thảo ra. Bản hiệp ước viết bằng tiếng Pháp, nhưng lại có sự ảnh hưởng của Nga và Mỹ. Nhờ có công lao của Đức Vua AlfonsIII, một vị quốc vương khôn ngoan và được ủng hộ, vương quốc này liên tục được thụ hưởng những viện trợ không ngớt từ phương Tây và những chuyến viếng thăm khá tốt từ phương Đông.

Tại thủ đô của Multavia, vợ chồng Haskins nhanh chóng biết được nhiệt độ trung bình là 92°F (Sấp xỉ 40°C) vào tháng Sáu, không có mưa, và phần còn lại của hệ thống cống rãnh thoát nước đã bị cả hai phía ném bom tan tành từ năm 1939 đến năm 1944. Angela đã phải giơ tay bịt mũi khi cô rảo bước qua những dãy phố lát đá hộc. Khách sạn Nhân Dân quảng cáo là có bốn mươi lăm phòng, thế nhưng, điều mà tờ quảng cáo không chỉ ra là chỉ có ba phòng trong số đó có phòng tắm, và không phòng nào có nút bồn tắm. Rồi đến đồ ăn, hoặc không có đồ ăn hoặc là đồ ăn có vấn đề; lần đầu tiên trong đời mình Gerald sút cân.

Cặp vợ chồng hưởng tuần trăng mật cũng khám phá ra rằng đất nước Multavia không hề có một niềm kiêu hãnh nào. Nó không có đài tưởng niệm, bảo tàng mỹ thuật, nhà hát hay rạp Opera xứng đáng với tên gọi, miền quê ngoại thành thì còn bằng phẳng hơn và không thú vị bằng những hàng giậu của Quận Cambridgeshire. Vương quốc này không có bờ biển và chỉ có một dòng sông duy nhất, dòng sông Plotz, bắt nguồn từ Đức và chảy vào Nga, do đó, có thể đảm bảo là không có người dân địa phương nào tin cậy nó.

Đến cuối kỳ nghỉ tuần trăng mật, vợ chồng Haskins thấy quá vui mừng khi biết rằng đất nước Multavia cũng không có sự tự hào về một hãng hàng không quốc gia. Hãng hàng không Anh quốc đưa họ về nhà an toàn, và lẽ ra đến đây là những trải nghiệm của Gerald về đất nước Multavia kết thúc, nếu không có những cống rãnh thoát nước thải kia.

***

Khi vợ chồng Haskins trở về đến Hull, Gerald nhận chức vụ mới được đề bạt ở vị trí trợ lý trong ban cơ khí của Hội đồng thành phố. Công việc đầu tiên của anh – một kỹ sư thứ ba với trách nhiệm đặc biệt đối với hệ thống thoát nước thành phố. Hầu hết những người trẻ tuổi, nhiều tham vọng sẽ chỉ coi một sự đề bạt như vậy không gì hơn chỉ là một bước tiến trên nấc thang cuội đời. Tuy nhiên, Gerald đã không nghĩ vậy. Anh lập tức liên hệ với tất cả những công ty thoát nước hàng đầu, những cố vấn của họ cũng như những người đồng sự ở khắp nơi trong tỉnh.

Hai năm sau, anh đã có thể đưa ra trước hội đồng của ông bố vợ một bản tường trình. Nó cho thấy làm cách nào hội đồng có thể tiết kiệm một lượng đáng kể tiền bạc của những người đóng thuế qua cách tái phát triển hệ thống cống rãnh thoát nước của thành phố.

Hội đồng thực sự bị gây ấn tượng và quyết định thực hiện những dự án của Haskins, cùng lúc đề bạt anh làm kỹ sư thứ hai. Đó là dịp thứ nhất Walter Ramsbottom ra tranh cử hội đồng nhưng không được lựa chọn.

Ba năm sau, khi hệ thống những đường hầm nhỏ và kênh rạch thoát nước đã được hoàn chỉnh, sự cần cù của Gerald được thưởng công bằng sự để bạt làm phó kỹ sư trưởng của thành phố. Cũng trong năm đó, ông bố vợ anh trở thành Thị trưởng và Walter Ramsbottom trở thành hội đồng viên.

Giờ đây, những ủy ban trên khắp đất nước thừa nhận Gerald như một nhân vật mà ý kiến của anh nên được tìm hiểu nếu như họ có bất cứ một sự băn khoăn nào về hệ thống cống rãnh thoát nước của họ. Điều này kích thích những câu đùa cợt nhả không tôn trọng tại mọi bữa tiệc của Tổ chức nghề nghiệp toàn thể cộng đồng mà Gerald tham dự. Tuy nhiên, họ vẫn mặc nhiên chào đón anh như là một người uy tín tiên phong trong địa hạt của anh: lĩnh vực thoát nước thải.

Vào năm 1966, thành phố Halifax xem xét để đấu thầu xây dựng một hệ thống cống rãnh thoát nước mới. Đầu tiên họ hỏi ý kiến Gerald Haskins – Yorkshire là một nơi trên trái đất này mà một nhà tiên tri còn được tôn kính ở ngay trên mảnh đất của ông ta.

Sau khi thăm thú Halifax một ngày với ông kỹ sư cao cấp và biết được cần phải chi bao nhiêu cho hệ thống mới, Gerald nói với với anh, không phải lần đầu tiên, “Nơi đâu có bùn thì nơi đó có xu.” Nhưng chính Angela là người có đủ khôn ngoan để tính toán ra chính xác số xu đó là bao nhiêu mà chồng cô có thể có được với rủi ro thấp nhất. Trong mấy ngày tiếp theo, Gerald xem xét đề nghị của vợ và khi anh ta quay trở lại Halifax vào tuần lễ sau đó, thì không phải đến thăm các phòng, ban của hội đồng mà tới ngân hàng Midland, Gerald không lựa chọn ngân hàng Midland một cách tình cờ; viên giám đốc ngân hàng này cũng là Chủ tịch của Ủy ban kế hoạch của hội đồng thành phố Halifax.

Một hợp đồng phù hợp với cả hai bên được thỏa thuận giữa hai người Yorkshire, và với sự ủng hộ của ngân hàng. Gerald xin từ chức phó kỹ sư trưởng thành phố và thành lập một công ty riêng. Khi anh trình gói thầu, với sự cạnh tranh của mấy tổ chức lớn của Luân Đôn, không có ai ngạc nhiên khi thấy công ty Haskins of Hull được Ủy ban kế hoạch nhất trí lựa chọn để thực hiện công việc.

***

Ba năm sau, Halifax có một hệ thống cống rãnh thoát nước mới tuyệt vời còn Ngân hàng Midland thì hài lòng khi nắm giữ tài khoản của Công ty Haskins of Hull.

Trong suốt mười lăm năm tiếp theo, các thành phố Chester, Runcorn, Huddersfeild, Darlington, Macclesfield và York đều biết ơn những dịch vụ do Gerald Haskins, ông chủ của công ty Haskins & Co. plc đem lại.

Công ty quốc tế Haskins & Co. plc lúc này bắt đầu các hợp đồng ở Dubai, Lagos và Rio de Janeiro. Vào năm 1983, Gerald được nhận Giải thưởng Công nghiệp của Nữ hoàng do chính phủ trao tặng, và một năm sau anh được phong danh hiệu Người chỉ huy của đế chế Anh do một bậc đế vương phong tặng.

Lễ phong tặng diễn ra tại Cung điện Buckingham trong cùng một năm băng hà của Đức vua Alfons III xứ Multavia và ngai vàng được người con trai của ngài thừa kế, Đức vua Alfons IV. Vị quân vương mới được tấn phong quyết định sẽ làm một cái gì đó cho hệ thống cống rãnh thoát nước của thành phố Teske. Đó là niềm mong mỏi lúc lâm chung của cha ngài, rằng những thần dân của ngài không nên tiếp tục phải chịu đựng những mùi khó ngửi, và Đức vua Alfons IV không định truyền thừa kế vấn đề này lại cho con trai ngài.

Sau nhiều lần xin xỏ và vay mượn từ phương Tây, cùng nhiều cuộc thăm viếng, đàm đạo với phương Đông, vị quân vương mới được xức dầu thánh quyết định mời thầu cho hệ thống thoát nước mới cho thủ đô của vương quốc.

Tài liệu mời thầu gồm mấy trang cung cấp các chi tiết và liệt kê danh sách các vấn đề mà bất cứ viên kỹ sư nào muốn nhận thầu đều phải đối mặt. Nó được chuyển đánh uỵch đến hầu hết các bàn họp của các công ty cơ khí lớn trên thế giới. Khi các công tác văn bản giấy tờ đã được soi xét nghiêm túc và lợi nhuận thực tế được xem xét, Đức vua Alfons IV chỉ nhận được một số ít các câu trả lời. Mặc dù vậy, nhà vua cũng có thể thức trọn đêm nghiên cứu những hồ sơ thầu khả thi của ba công ty đã trả lời và đã vượt qua được vòng sơ khảo. Các vị quân vương cũng là người, và khi Alfons khám phá ra Gerald đã chọn lựa Multavia cho tuần trăng mật của anh quãng hai mươi lăm năm về trước thì điều này đã đánh lệch cán cân. Vào lúc Đức Vua Alfons IV chìm vào giấc ngủ buổi sáng hôm đó, ngài đã quyết định chấp nhận gói thầu của công ty quốc tế Haskins & Co. plc.

Do vậy, Gerald Haskins thực hiện chuyến thăm thứ hai đến Multavia, lần này anh được một giám đốc công trường, ba chuyên viên vẽ đồ án và mười một kỹ sư tháp tùng. Gerald có một buổi tiếp kiến riêng với nhà Vua, anh cam đoan với ngài là công việc sẽ được hoàn thành đúng thời hạn và đúng giá cả đã nêu. Anh cũng cho nhà Vua biết anh đã thích thú đến như thế nào về chuyến đi thứ hai của mình đến đất nước này. Tuy nhiên, khi trở về nước Anh, anh đảm bảo với vợ là vẫn còn ít những cái có thể được miêu tả là vui chơi giải trí trước hoặc sau bảy giờ ở Multavia.

***

Sau vài năm và một vài cuộc mặc cả khá ồn ào quanh việc tăng chi phí vật liệu, dự án cho thành phố Teske kết thúc với một trong những hệ thống thoát nước tốt nhất tại Trung Âu. Đức Vua sung sướng – cho dù ngài vẫn tiếp tục càu nhàu về việc làm sao mà công ty Haskins & Co. plc đã vượt quá chi phí hợp đồng ban đầu. Cụm từ “chi tiêu bất thường” phải được giải thích cho vị quân vương mấy lần. Nhà Vua nhận thấy rằng món phụ phí hai trăm bốn mươi ngàn bảng sẽ phải lần lượt giải thích cho phương Đông và lại phải “vay mượn” từ phương Tây. Sau nhiều sự đe dọa úp mở và những bức thư đảm bảo “không có thiệt hại gì” từ các luật sư, công ty Haskins & Co. plc mới nhận được khoản thanh toán cuối cùng, nhưng phải sau khi Đức Vua đã được nhận thêm một khoản trợ cấp nữa từ Chính phủ Anh, một khoản tiền trả nợ từ Ngân hàng Midland Bank, ở phố Sloane, chuyển tới Ngân hàng chi nhánh của nó, ở phố High, thành phố Hull, mà không bao giờ bàn tay của Multavia động chạm được vào khoản tiền đó. Điều này được Gerald giải thích cho vợ biết, là cách thức mà hầu hết các khoản viện trợ hải ngoại được phân phát.

***

Đến đây thì câu chuyện về Gerald Haskins và những vấn đề cống rãnh thoát nước của thành phố Teske đã có thể kết thúc nếu như ngài Bộ trưởng Ngoại giao Anh quốc không quyết định đi thăm vương quốc Multavia.

Mục đích ban đầu của chuyến viếng thăm châu Âu của ngài Bộ trưởng Ngoại giao là đi thăm Warsawa và Praha, để xem xét sự dân chủ và cải tổ về kinh tế, chính trị đang diễn ra như thế nào tại những đất nước này. Thế nhưng khi Bộ Ngoại giao biết được có bao nhiêu viện trợ đã được chuyển đến cho Multavia và sau khi họ giải thích cho ngài Bộ trưởng của họ vai trò của nó như là một nước đệm, ngài Bộ trưởng quyết định chấp nhận lời mời thường trực của Đức vua Alfons đến thăm vương quốc nhỏ bé này. Những chuyến viếng thăm như vậy tới những nước nhỏ hơn của các ngài Bộ trưởng Ngoại giao Anh quốc thường chỉ xảy ra trong các gian phòng đợi lớn của các sân bay, một thói quen người Anh bắt chước Henry Kissinger, và sau này là Gorbachov; thế nhưng điều đó không được áp dụng trong dịp này. Có cảm giác rằng chuyến thăm Multavia sẽ trọn vẹn một ngày.

Bởi vì các khách sạn mới chỉ được cải thiện chút ít kể từ tuần trăng mật của Gerald, ngài Bộ trưởng Ngoại giao được mời nghỉ tại cung điện. Ngài được Nhà vua đề nghị chỉ thực hiện hai công việc mang tính nghi lễ trong thời gian nghỉ ngơi ngắn ngủi: Đó là việc khánh thành hệ thống cống rãnh thoát nước mới của thủ đô và tham dự một bữa tiệc chiêu đãi chính thức.

Khi ngài Bộ trưởng Ngoại giao đồng ý với những đề nghị đó, Nhà vua mời Gerald và vợ anh tham dự buổi lễ khai trương – với chi phí tự lo liệu. Khi ngày khai trương đến, ngài Bộ trưởng đọc một bài phát biểu thích đáng cho dịp đó. Đầu tiên, ông ta ca ngợi Gerald Haskins về những thành tựu đáng kể trong truyền thống cơ khí Anh quốc vĩ đại, sau đó tán dương đất nước Multavia vì sự khôn ngoan trong việc trao hợp đồng này cho một công ty Anh quốc ngay từ ban đầu. Ngài Bộ trưởng bỏ qua không nhắc đến thực tế là chính phủ Anh đã kết thúc bằng việc cam kết tài trợ trọn gói công trình này. Tuy vậy, Gerald rất cảm kích với những lời lẽ của ngài Bộ trưởng Ngoại giao và nói như thế với ngài Bộ trưởng sau khi ngài kéo cái cần mở cửa cống đầu tiên.

Đêm hôm đó trong cung điện có một bữa tiệc cho hơn ba trăm thực khách, bao gồm cả ngoại giao đoàn của ông Đại sứ và một vài nhà kinh doanh Anh quốc hàng đầu. Tiếp nối nhau là những bài phát biểu thông thường không ngớt về “những mối liên hệ lịch sử”, vai trò của Multavia trong mối quan hệ Anglo – Soviet và “mối quan hệ đặc biệt” với Hoàng gia Anh quốc.

Tuy nhiên, tiêu điểm của buổi tối lại diễn ra sau các bài phát biểu, khi nhà Vua thực hiện hai cuộc trao tặng. Đầu tiên là việc trao tặng Huy hiệu Con công hạng hai cho ông Bộ trưởng Ngoại giao. “Phần thưởng cao quý nhất mà một người bình thường được nhận,” nhà Vua giải thích cho đám khán thính giả đang tập hợp, “và Huy hiệu Con công hạng nhất thì được dành cho hoàng gia và các nguyên thủ quốc gia.”

Sau đó, Nhà vua tuyên bố cuộc trao tặng thứ hai, Huy hiệu Con công hạng ba sẽ được tặng cho Gerald Haskins – Người chỉ huy của đế chế Anh – dành cho công trạng của anh trong việc cải tạo hệ thống thoát nước của thành phố Teske. Gerald ngạc nhiên và vui sướng khi anh được dẫn từ chỗ của mình ở chiếc bàn gần nhất đến chỗ nhà Vua. Đức Vua tì thân mình về phía trước để đeo qua đầu vị khách của ngài một chiếc dây xích vàng lớn, được trang điểm những viên đá nhiều màu sắc và kích cỡ. Gerald lùi lại hai bước đầy kính trọng, cúi thấp đầu khi ngài Bộ trưởng Ngoại giao nhìn lên từ ghế ngồi của ngài và mỉm cười đầy khích lệ với anh.

Gerald là vị khách nước ngoài cuối cùng rời khỏi bữa tiệc tối hôm đó. Angela đã tự bỏ về một mình từ hơn hai giờ trước, và đã ngủ tít khi Gerald trở về phòng tại khách sạn. Anh đặt sợi xích lên giường, cởi bỏ quần áo, mặc bộ pyjama vào, kiểm tra thấy vợ mình vẫn còn ngủ, rồi lại đeo sợi xích lên cổ để cho nó nghỉ ngơi trên đôi vai mình.

Gerald đứng, ngắm nghía mình trong gương buồng tắm suốt mấy phút. Anh sốt ruột không thể chờ đợi giây phút quay về nhà.

Khi anh về tới Hull, anh gửi ngay một bức thư cho Bộ Ngoại giao Anh, đề nghị cho phép anh đeo phần thưởng mới trong những dịp các giấy mời đề nghị đeo các huân, huy chương. Bộ Ngoại giao theo đúng lệ, trình vấn đề này lên Cung điện. Nữ hoàng, một người họ hàng xa với Đức Vua Alfons IV, chuẩn y.

Dịp đại lễ chính thức kế tiếp, tại đó Gerald có được cơ hội đeo huy hiệu Con công là dịp lễ phong Thị trưởng được tổ chức tại Tòa đại sảnh Thành phố Hull, được khởi đầu bằng bữa dạ tiệc tại Đại lễ đường Guildhall.

Gerald trở về từ Lagos nhân dịp này và thậm chí khi còn chưa kịp thay chiếc áo jacket đại lễ, không thể kiềm chế được một cái liếc mắt tới tấm huy hiệu Con công. Anh mở chiếc hộp chứa phần thưởng của mình và nhìn chòng chọc, vẻ nghi ngờ: Vàng đã bị hoen gỉ và một trong những viên đá trông có vẻ như đã lủng liểng. Bà Haskins ngừng trang điểm, liếc nhìn trộm tấm huy hiệu. “Nó không phải bằng vàng”, cô tuyên bố như có thể làm dừng bước Quỹ tiền tệ Quốc tế trên con đường của nó.

Gerald không hề bình luận gì và mau chóng gắn viên đá lỏng lẻo vào chỗ cũ bằng keo gắn, thế nhưng anh phải tự thừa nhận rằng kỹ năng tay nghề thủ công của mình không được giỏi. Trên đường tới Đại lễ đường thành phố, hai vợ chồng không ai nhắc lại chủ đề này nữa.

Một vài người trong số những vị khách của bữa tiệc do Thị trưởng mời tối hôm đó tại Đại sảnh đường Guildhall có hỏi về lịch sử của tấm huy hiệu Con công hạng ba. Cho dù Gerald khá thỏa mãn khi anh giải thích lí do để đạt được phần thưởng và việc Nữ hoàng cho phép được đeo nó trong những dịp lễ long trọng, anh cảm thấy một hai người đồng nghiệp của mình đã không bị choáng ngợp bởi Con công hoen rỉ. Gerald cũng cho là không may một chút khi anh phải ngồi chung bàn với Walter Ramsbottom, giờ đây đã là Phó Thị trưởng.

“Tôi cho là sẽ khó mà định được giá trị thực của nó,” Walter nói, nhìn chòng chọc với vẻ khinh rẻ sợi dây xích.

“Khó quá đi ấy chứ,” Gerald khẳng định.

“Tôi không có ý nói về giá trị vật chất,” Ông chủ tiệm kim hoàn bảo, với một nụ cười tự mãn. “Điều đó thì quá dễ để khẳng định. Tất nhiên, tôi muốn nói tới một giá trị tinh thần.”

“Tất nhiên,” Gerald nói. “Anh có mong sẽ trở thành Thị trưởng sang năm không đấy?” anh hỏi, cố gắng thay đổi chủ đề.

“Đã là một thông lệ,” Walter nói, “là ông phó lên kế nghiệp ông chánh Thị trưởng nếu như ông ta không làm tiếp năm thứ hai. Và cứ yên trí đi, anh Gerald, rằng tôi sẽ chú ý để anh được đặt ngồi bàn đầu trong dịp đó.” Walter tạm dừng lời. “Sợi dây xích của ngài Thị trưởng, anh biết không, là vàng mười bốn cara đó.”

Gerald sớm rời bỏ bữa tiệc tối đó, kiên quyết phải làm một cái gì đó về tấm huy hiệu Con công trước khi đến lượt Walter làm Thị trưởng.

Không có người nào trong số những bạn bè của Gerald có thể nói anh ta là một người phung phí, và ngay cả cô vợ anh ta cũng ngạc nhiên trước ý thích xa hoa đột ngột xảy ra. Vào chín giờ sáng hôm sau, Gerald điện thoại đến văn phòng để báo rằng anh sẽ không đi làm ngày hôm đó. Sau đó anh đi tàu đến Luân Đôn để thăm phố Bond mà cụ thể là một nhà kim hoàn có tiếng tăm.

***

Cánh cửa hiệu kim hoàn phố Bond được một ông trung sỹ của Trung tâm bảo vệ mở ra cho Gerald. Khi bước vào bên trong, Gerald giải thích vấn đề của mình cho một quý ông cao, gầy, mặc một bộ complet đen, người đã tiến lên trước để chào đón anh. Sau đó, anh được dẫn tới bên một quầy hàng thủy tinh hình vòng cung nằm ở chính giữa cửa hiệu.

“Ông Pullinger của chúng tôi sẽ tiếp kiến ngài trong giây lát.”

Một lát sau, chuyên gia đá quý của cửa hiệu Asprey bước tới và sẵn lòng đồng ý đánh giá tấm huy hiệu Con công theo yêu cầu của Gerald.

Ông Pullinger đặt sợi xích lên một chiếc gối nhung the đen rồi chăm chú nghiên cứu những viên đá qua một thấu kính nho nhỏ.

Sau một cái liếc mắt, ông ta nhăn mặt lại như sự thất vọng của một người đoạt giải ba tại trường bắn trên cầu tàu Blackpool.

“Vậy thì nó đáng giá bao nhiêu?” Gerald hỏi thẳng sau mấy phút trôi qua.

“Khó mà đánh giá một vật gì đó lạ thường,” Ông Pullinger do dự, “rắc rối và phức tạp đến như vậy.”

“Những viên đá quý thì là thủy tinh và vàng thì là đồng, đó là điều ông đang định nói, phải không?”

Vẻ mặt ông Pullinger cho thấy chính bản thân ông ta cũng không thể nào diễn đạt cô đọng hơn được nữa.

“Có thể anh sẽ nhận được vài trăm bảng từ người nào đó muốn sưu tập những vật dụng như vậy, nhưng mà…”

“Ồ, không,” Gerald nói, tự ái ghê gớm. “Tôi không có ý bán nó. Mục đích của tôi đến Luân Đôn là để tìm hiểu xem liệu các vị có sao chép nó được không.”

“Sao chép nó?” Viên chuyên gia thốt lên nghi ngờ.

“Vâng,” Gerald nói. “Đầu tiên, tôi muốn mỗi một viên đá đều phải đúng thể loại căn cứ vào màu sắc của nó. Thứ hai, tôi muốn có một sự phối hợp mà phải gây được ấn tượng đối với một quận chúa. Và thứ ba, tôi yêu cầu người nghệ nhân kim hoàn giỏi nhất chế tác nó với chất liệu vàng không dưới mười tám cara.”

Mặc dù nhiều năm mua bán với các khách hàng Ả Rập, viên chuyên gia của Asprey không thể giấu nổi sự ngạc nhiên của mình.

“Nó sẽ không rẻ đâu, ông ta thốt lên nho nhỏ: cái từ “rẻ” là một trong những từ mà Asprey rõ là đang thất vọng.

“Tôi chưa giây phút nào nghi ngờ về điều đó,” Gerald nói. “Thế nhưng anh phải hiểu rằng đây là danh dự trong đời tôi. Này, thế bao giờ thì tôi có thể có được một dự toán?”

“Sau một tháng, nhiều nhất là sáu tuần,” Viên chuyên gia trả lời.

Gerald rời bỏ tấm thảm giàu có của hiệu Asprey đến với những cống rãnh thoát nước của Nigeria. Quãng chừng hơn một tháng sau, khi bay trở về Luân Đôn, anh đi đến khu Tây lần thứ hai gặp ông Pullinger.

Ông chủ kim hoàn chưa quên Gerald Haskins và cái yêu cầu kỳ lạ của anh. Ông ta nhanh chóng lấy ra từ quyển sách đặt hàng một mẩu giấy gấp gọn. Gerald mở nó ra và chậm rãi đọc: Yêu cầu cho đề nghị của khách hàng: mười hai viên kim cương, bảy viên thạch anh tím, ba viên hồng ngọc và một viên bích ngọc, tất cả sẽ có màu hoàn hảo nhất và chất lượng cao nhất. Một con công sẽ được điêu khắc bằng ngà voi và được một nghệ nhân sơn. Toàn bộ sợi dây xích sau đó sẽ được đúc bằng vàng mười tám cara tốt nhất. Dòng chữ cuối cùng ghi: Hai trăm mười một nghìn bảng – chưa kể thuế VAT.

Gerald – người không đắn đo, sẵn sàng cãi vã mặc cả tính toán vài ngàn bảng về vật liệu lợp mái hoặc là thuê mướn những trang thiết bị hạng nặng, hay thậm chí là một lịch trình chi trả – chỉ đơn giản hỏi, “Bao giờ thì tôi có thể nhận hàng?”

“Người ta không thể biết chắc chắn sẽ mất bao lâu để chế tác ra một vật tinh xảo như thế,” Ông Pullinger bảo. “Tìm kiếm những viên đá có sự hòa hợp về màu sắc, tôi e là phải mất thời gian một chút.” Ông ta tạm dừng lời. “Tôi cũng đang hy vọng nghệ nhân cao cấp của chúng tôi sẽ được rảnh để làm nhiệm vụ này. Gần đây, ông ta đã khá kẹt với những quà tặng cho chuyến viếng thăm sắp tới của Nữ Hoàng tới Ả Rập Saudi, vì thế tôi không cho rằng nó chỉ có thể được hoàn tất trước cuối tháng Ba.”

Vừa đẹp cho bữa tiệc sang năm của ngài Thị trưởng, Gerald nghĩ. Ông Hội đồng viên Ramsbottom sẽ không thể chế giễu mình lần này. Vàng mười bốn cara à, có phải ông ta đã nói vậy không nhỉ.

***

Lagos và Rio de Janeiro, cả hai đều có những hệ thống cống rãnh thoát nước cần được lắp đặt và vận hành, đã chiếm một thời gian khá lâu, trước khi Gerald có thể quay trở lại hiệu Asprey. Và anh chỉ được tận mắt mục kích phần thưởng độc đáo đó vài tuần trước ngày phong Thị trưởng.

Lần đầu tiên, khi ông Pullinger khoe với khách hàng của ông ta tác phẩm đã hoàn chỉnh, anh chàng người Yorshire há hốc mồm sung sướng. Tấm huy hiệu tráng lệ đến mức Gerald thấy cần thiết phải mua một chuỗi hạt ngọc trai từ hiệu Asprey để giữ cho bà vợ im tiếng.

Trở về Hull, anh chờ cho tới tận sau bữa ăn tối mới mở chiếc hộp da xanh dương của hiệu Asprey và làm cô vợ ngạc nhiên với tấm huy hiệu mới, “Xứng đáng với một bậc quân vương, bé à,” anh cam đoan với vợ mình, thế nhưng Angela có vẻ bị cuốn hút vào chuỗi ngọc trai hơn.

Sau khi Angela đã đi ra lo việc trang điểm, anh chồng vẫn còn tiếp tục ngắm nhìn cái vật trang sức đính kim cương đẹp đẽ được chế tác công phu và được chạm cắt thật siêu đẳng một lúc nữa rồi cuối cùng mời đóng nắp hộp lại. Buổi sáng hôm sau, Gerald miễn cưỡng đem món đồ tới nhà băng và giải thích rằng nó phải được giữ gìn cẩn thận, khóa an toàn trong hầm bởi vì anh sẽ chỉ yêu cầu lấy nó ra một, có thể hai lần trong năm. Anh không thể cưỡng nổi đem khoe cái vật trang sức mang lại niềm hạnh phúc với ông giám đốc nhà băng, ông Sedgley.

“Anh sẽ đeo nó trong ngày phong Thị trưởng chứ?” Ông Sedgley hỏi.

“Nếu như tôi được mời,” Gerald nói.

“Ồ, tôi tin chắc Ramsbottom sẽ muốn tất cả các bạn cũ của anh ta chứng kiến buổi lễ. Đặc biệt là anh đấy, tôi nghĩ thế,” ông ta nói thêm mà không hề giải thích.

***

Gerald đọc mẩu tin trong mục Quan hệ của Triều đình trên tờ Thời Báo cho vợ nghe trong bữa ăn sáng. “Có thông báo từ Cung điện Buckingham rằng Đức Vua Alfons IV của Multavia sẽ đến viếng thăm chính thức Anh quốc từ mồng bảy đến mười một tháng Tư.”

“Không biết liệu chúng ta có cơ hội gặp lại nhà Vua không nhỉ,” Angela bảo.

Gerald không nói gì.

Trong thực tế, vợ chồng Gerald Haskins nhận được hai giấy mời có quan hệ với chuyến viếng thăm chính thức của Đức Vua Alfons, một mời đến ăn tối với Đức Vua tại nhà hàng Claridge – Đại sứ quán Multavia ở Luân Đôn không đủ rộng rãi cho một dịp như thế này – và cái thứ hai đến muộn hơn một ngày bằng đường chuyển phát đặc biệt từ Cung điện Buckingham.

Gerald sung sướng. Dường như Con công sắp sửa có được ba chuyến ra ngoài hóng gió trong một tháng, bởi vì chuyến thăm Cung điện của họ diễn ra mười ngày trước khi Walter Ramsbottom được bổ nhiệm làm Thị trưởng.

Bữa tiệc tầm cỡ nhà nước tại Claridge rất đáng nhớ, và mặc dù còn có vài trăm vị khách khác nữa, Gerald vẫn xoay xở có được vài giây phút tiếp kiến vị chủ nhân, Đức Vua Alfons IV, và anh sung sướng nhận thấy nhà Vua không thể rời mắt khỏi tấm huy hiệu Con công hạng ba.

Chuyến thăm Cung điện Buckingham một tuần lễ sau là chuyến thăm thứ hai của Gerald và Angela, sau buổi lễ phong tặng năm 1984 cho Gerald với danh hiệu một vị Chỉ huy của Đế chế Anh. Gerald phục sức trang điểm cũng lâu gần bằng cô vợ cho buổi lễ quốc gia này. Anh mất khá thời gian vặn vẹo xoay xở cái cổ áo để tin chắc rằng tấm huân chương có thể được trông thấy với toàn bộ lợi thế của nó và huy hiệu Con công hạng ba vẫn nằm ngay ngắn trên vai. Gerald nhờ anh thợ may của mình đính những vòng chỉ nhỏ vào chiếc áo đuôi tôm để cho tấm huy hiệu không phải chỉnh trang lại thường xuyên.

Khi vợ chồng Haskins đến Cung điện Burkingham, họ đi theo một đám đông những quý ông ngực đầy huân, huy chương và những quý bà đội những viên ngọc sáng lung linh trên mũ, tới yến tiệc đường quốc gia. Một người hầu phân phát những tấm thiếp chỉ dẫn ghế ngồi cho từng vị khách. Gerald mở tấm card của mình ra thấy một mũi tên chỉ vào tên mình. Anh nắm lấy cánh tay vợ và dẫn cô tới chỗ ngồi của họ.

Anh nhận thấy đầu của Angela cứ luôn quay tới quay lui bất cứ khi nào trông thấy một viên ngọc trên một chiếc mũ nào đó.

Mặc dù họ ngồi cách Nữ Hoàng một khoảng khá xa, tại một nhánh của chiếc bàn tiệc chính, vẫn có một ông hoàng nhỏ ngồi bên tay trái của Gerald và ông Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp ngồi bên phải. Anh còn hơn cả thỏa mãn. Cả buổi tối trôi qua quá nhanh, và Gerald đã bắt đầu cảm thấy rằng ngày phong Thị trưởng sẽ là một cái gì đó hạ giá. Mặc dù vậy, Gerald vẫn tưởng tượng cảnh ông Hội đồng viên Ramsbottom ngưỡng mộ tấm huy hiệu Con công trong khi anh kể cho hắn ta biết về buổi yến tiệc tại Cung điện.

Sau hai lời chúc trung quân ái quốc và hai bài quốc ca, Nữ Hoàng đứng lên. Bà nói về Multavia với tình cảm ấm áp khi diễn thuyết trước ba trăm thực khách của bà, và tỏ ý đầy thiện ý đối với người cháu họ xa là Đức Vua. Nữ hoàng nói thêm rằng bà hy vọng sẽ đi thăm vương quốc của nhà Vua vào một thời gian thuận tiện trong tương lai gần. Điều này được tán thưởng với tiếng vỗ tay nồng nhiệt. Đến đây bà kết thúc bài diễn thuyết bằng cách nêu lên bà có dự định thực hiện hai cuộc trao tặng.

Nữ Hoàng phong cho Đức Vua Alfons IV danh hiệu Hiệp sĩ Chỉ huy của Trật tự Hoàng gia, và sau đó là ông Đại sứ của Multavia tại Triều đình thánh James danh hiệu Người chỉ huy cũng của trật tự đó, cả hai đều là huy hiệu của riêng cá nhân vị đế vương. Một chiếc hộp màu xanh lam hoàng gia được một viên Quan thị thần Triều đình mở ra và các phần thưởng được đặt lên vai những người được phong tặng. Ngay khi Nữ hoàng kết thúc nghi lễ, Đức Vua Alfons đứng lên đáp lời.

“Muôn tâu Nữ hoàng,” Ngài nói tiếp sau khi thực hiện xong những thủ tục thông thường và những lời cảm ơn. “Tôi cũng muốn thực hiện hai cuộc phong tặng. Thứ nhất dành cho một người Anh, người đã có cống hiến lớn lao cho đất nước tôi qua sự tinh thông chuyên môn và sự cần cù của mình,” rồi Đức Vua liếc mắt về phía Gerald. “Một người,” Ngài tiếp lời, “đã hoàn thành các công trình vệ sinh một cách tài ba, mà bất cứ một dân tộc nào trên trái đất đều có thể tự hào. Thưa Nữ hoàng, điều này đã được ngài Bộ trưởng Ngoại giao của Nữ hoàng khai thông. Chúng tôi, thủ đô Teske sẽ chịu ơn công lao của ngài Bộ trưởng trong nhiều thế hệ sắp tới. Và do đó, chúng tôi xin trao tặng ông Gerald Haskins huy hiệu Con công hạng hai.”

Gerald không thể tin vào tai mình.

Những lời tán thưởng ầm ĩ nổi lên chào đón Gerald đầy kinh ngạc, đứng lên tiến về phía Đức Vua. Anh đứng yên như trời trồng phía đằng sau những chiếc ngai nằm giữa Nữ hoàng Anh và Quốc vương Multavia. Nhà Vua mỉm cười với người thụ hưởng mới của tấm huy hiệu Con công hạng hai khi hai người bắt tay nhau. Nhưng trước khi trao tặng cái danh dự mới cho anh, Đức Vua Alfons kiễng chân lên trước, hơi khó khăn, tháo từ vai của Gerald xuống chiếc Huy hiệu Con công hạng ba của anh.

“Anh không cần đến cái này nữa,” Đức Vua thì thầm vào tai Gerald.

Gerald dõi theo kinh hãi khi phần thưởng quý báu của mình biến mất trong một chiếc hộp da đỏ được người thư ký riêng của Nhà vua cầm, người đàn ông đứng rất điềm tĩnh phía sau vị Quân vương của ông ta. Gerald vẫn tiếp tục nhìn chòng chọc vào viên thư ký riêng. Ông ta, nếu không phải là một nhà ngoại giao lỗi lạc, thì chắc là không hề biết tí gì về kế hoạch của Nhà vua, bởi vì nét mặt ông ta không để lộ bất cứ sự khác thường. Khi phần thưởng tráng lệ của Gerald đã được tháo xuống an toàn, chiếc hộp đóng sập lại giống như một chiếc két mà mã số của nó Gerald chưa được biết.

Gerald muốn phản đối, thế nhưng cứ lặng thinh.

Thế rồi Đức Vua Alfons lấy ra từ một chiếc hộp khác tấm huy hiệu Con công hạng hai rồi đặt nó lên trên vai Gerald. Gerald nhìn chăm chăm vào những viên đá màu sắc xoàng xĩnh, vô thưởng vô phạt, chần chừ một chút, rồi lảo đảo bước ra phía sau, cúi chào. Sau đó quay trở lại chỗ của mình trong gian phòng yến tiệc vĩ đại, anh không nghe thấy những làn sóng hoan hô vang dội đi cùng với mình, ý nghĩ duy nhất của anh là làm sao lấy lại đồ trang sức kia ngay khi các bài phát biểu kết thúc. Anh gục xuống trên chiếc ghế bên cạnh cô vợ.

“Và bây giờ,” Nhà vua tiếp lời, “Tôi muốn trao một đồ trang sức mà đã không hề được trao tặng cho ai, kể từ khi người cha đã quá cố của tôi qua đời. Tấm huy hiệu Con công hạng nhất, nó đem lại cho tôi niềm vui sướng đặc biệt được trao tặng cho Người phụ nữ Cao quý, Nữ hoàng Elizabeth II.”

Nữ hoàng đứng lên khi người thư ký riêng của Nhà vua lại bước lên phía trước. Trong đôi bàn tay ông ta đang cầm chính chiếc hộp da đỏ mà nó đã đóng lại chắc chắn cái vật sở hữu độc đáo của Gerald. Chiếc hộp lại được mở ra, và Nhà vua lấy ra tấm Huy hiệu đẹp tráng lệ từ trong hộp và đặt nó lên trên bờ vai của Nữ hoàng. Những viên kim cương sáng lấp lánh trong ánh nến, các vị khách há hốc mồm kinh ngạc bởi vẻ đẹp huyền diệu của vật trang sức này.

Gerald là người duy nhất ở trong phòng biết giá trị thực của nó.

“Này, anh đã luôn bảo nó xứng đáng với một bậc đế vương còn gì,” Vợ anh nhận xét, khi sờ tay vào chuỗi ngọc trai của mình.

“À, ừ” Gerald bảo. “Nhưng mà Ramsbottom sẽ nói gì khi hắn ta trông thấy thứ này?” Anh buồn rầu nói thêm, mân mê tấm huy hiệu Con công hạng hai. “Hắn ta sẽ biết nó không phải là thứ thiệt.”

“Em không thấy có gì quan trọng lắm,” Angela bảo.

“Ý em là sao?” Gerald hỏi. “Anh sẽ thành trò cười cho cái thành phố Hull này vào hôm phong Thị trưởng mất thôi.”

“Anh nên bắt đầu đọc các tờ báo buổi tối đi, anh Gerald, và thôi đừng ngắm vuốt trong gương bởi anh sẽ biết là Walter sẽ không làm Thị trưởng trong năm nay.”

“Sẽ thôi không làm Thị trưởng nữa sao?” Gerald lặp lại.

“Thôi rồi. Ông Thị trưởng hiện thời đã được lựa chọn làm thêm nhiệm kỳ thứ hai, thế là Walter sẽ thôi không làm Thị trưởng cho tới tận sang năm cơ.”

“Đúng thế không?” Gerald nói, nở một nụ cười.

“Và nếu anh đang nghĩ ngợi cái điều mà em cho là anh đang nghĩ ngợi, Gerald Haskins ơi, lần này nó sắp tiêu tốn của anh một viên ngọc đấy.”



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 11.12.2017, 13:49
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35469
Được thanks: 5260 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Trinh thám - Tập truyện ngắn] Bước ngoặt trong câu chuyện - Jeffrey Archer - Điểm: 10
Món Hời

Ông bà Christopher và Margaret Roberts luôn đi nghỉ hè rất xa nước Anh trong chừng mực họ có thể trang trải. Tuy nhiên, do ông Christopher là thầy giáo môn Văn học cổ Hi-La tại trường St. Cuthbert’s, một trường tiểu học nhỏ ở mạn phía Bắc của Yeovil, và bà Margaret là quản lý của ngôi trường đó, nên sự trải nghiệm của họ về bốn trong số năm châu lục chủ yếu gói gọn trong những tạp chí số ra hàng tháng như Tạp chí địa lý Quốc gia và Thời báo.

Kỳ nghỉ của gia đình Roberts thường vào tháng tám hàng năm, và nó quan trọng đến mức không thể thay đổi. Họ dành mười một tháng trong năm để dành dụm tiền, lập kế hoạch, và chuẩn bị cho sự chi tiêu xa xỉ đó. Quãng thời gian mười một tháng sau đó được dành để truyền đạt lại những khám phá của họ cho lũ “con cái”. Vợ chồng Roberts không có con, và họ coi tất cả các em học sinh trường St. Cuthbert’s như là các “con”.

Trong các buổi tối dài đằng đẵng, khi lũ “con” được sắp xếp đi ngủ trong buồng ngủ của chúng, ông bà Roberts thường miệt mài trên những tấm bản đồ, phân tích các ý kiến của các chuyên gia và rồi sau cùng, xem xét một bản danh sách đã được chọn lọc và rút ngắn. Trong những chuyến thám hiểm mới đây, họ đã đến được tận Na Uy, miền Bắc Italia và Nam Tư. Kết thúc chuyến thăm quan hồi năm ngoái là việc khám phá hòn đảo của vị thần Achilles, đảo Skyros, ngoài khơi phía Đông bờ biển Hy Lạp.

“Năm nay phải là Thổ Nhĩ Kỳ mới được,” ông Christopher nói sau khi đã cân nhắc kỹ.

Một tuần lễ sau, bà Margaret cũng đi tới kết luận tương tự, và thế là họ có thể chuyển sang giai đoạn thứ hai.

Mỗi cuốn sách viết về Thổ Nhĩ Kỳ trong thư viện địa phương đều được mượn, được đem ra thảo luận, được mượn lại và thảo luận lại. Mỗi một tập quảng cáo có thể mượn được từ Đại sứ quán Thổ Nhĩ Kỳ hoặc từ các đại lý du lịch địa phương, đều được họ nghiên cứu liên tục một cách kỹ lưỡng.

Đến ngày đầu tiên của học kỳ mùa hạ, các tấm vé đã được trả tiền, một chiếc xe hơi được thuê, nơi ăn chốn ở đã được đặt và mọi thứ có thể được bảo hiểm thì đã được lo liệu chu toàn. Kế hoạch của họ chỉ thiếu duy nhất một chi tiết cuối cùng.

“Vậy thì món hời của chúng ta năm nay sẽ là gì đây?” Ông Christopher hỏi.

“Một tấm thảm,” bà Margaret nói không do dự. “Tất nhiên là nó rồi, đã hơn một ngàn năm nay, Thổ Nhĩ Kỳ sản xuất ra những tấm thảm được người ta săn lùng nhiều nhất trên thế giới. Sẽ là ngu ngốc nếu như chúng ta xem xét bất cứ thứ gì khác.”

“Chúng ta sẽ tiêu bao nhiêu vào tấm thảm?”

“Năm trăm bảng,” bà Margaret nói, cảm thấy rất xa xỉ.

Thống nhất như vậy, họ một lần nữa lại nói chuyện về các “món hời” mà họ đã thực hiện được trong nhiều năm qua. Tại Na Uy, đó là một cái răng của cá voi được một nghệ nhân địa phương chạm khắc thành hình một chiếc thuyền buồm lớn. Tại Tuscany, đó là một chiếc bát gốm được tìm thấy tại một ngôi làng nhỏ, nơi mà họ đúc khuôn và nung chúng để đem bán ở Roma với giá cắt cổ: Một lỗi nhỏ, mà chỉ một chuyên gia mới có thể nhận thấy, làm cho nó thành “món hời”. Ở ngay ngoại ô thành phố Skopje, vợ chồng Roberts thăm quan một nhà máy thủy tinh địa phương và kiếm được một chiếc bình đựng nước ngay sau khi nó được thổi trước mắt họ. Và tại Skyros họ đã có một thắng lợi lớn nhất từ trước cho đến lúc này, họ đã tìm thấy ở gần một địa điểm khai quật cũ một mảnh vỡ của một chiếc lư. Vợ chồng Roberts ngay lập tức báo vật họ tìm thấy với chính quyền, thế nhưng các quan chức Hy Lạp không cho là mảnh vỡ đó đủ quan trọng để cần thiết ngăn cản nó được xuất khẩu sang St. Cuthbert’s. Trở về nước Anh, ông Christopher không thể cưỡng nổi việc đến gặp ông giáo sư cao cấp về các môn học kinh điển tại trường Alma Mater cũ của ông để kiểm tra. Vị này khẳng định cái mảnh đó có lẽ thuộc thế kỷ mười hai. Cái “món hời” mới mẻ nhất này, giờ đây đang hiện diện, được kê đỡ cẩn thận trên mặt lò sưởi phòng khách của họ.

“Đúng, một tấm thảm sẽ là hoàn hảo,” bà Margaret ngâm nga. “Điều phiền phức là, mọi người đi Thổ Nhĩ Kỳ với ý nghĩ nhấc được một tấm thảm với giá rẻ. Vì vậy để tìm được một tấm thực sự là tốt…”

Bà ta quỳ xuống và bắt đầu đo đạc khoảng không gian nhỏ bé phía trước cái lò sưởi trong phòng khách của họ.

“Hai mét mốt khổ chín mươi sẽ ổn đây,” bà ta bảo.

***

Học kỳ đã kết thúc được vài ngày, vợ chồng Roberts đi xe buýt tới sân bay Heathrow. Chuyến đi kéo dài lâu hơn một chút so với đi tàu hỏa, thế nhưng giá chỉ bằng một nửa.

“Số tiền dành dụm được là để mua tấm thảm đấy,” bà Margaret nhắc nhở ông chồng bà.

“Đồng ý, thưa bà Quản lý” ông Christopher bảo, cười lớn.

Khi tới sân bay, họ gửi hành lý lên chiếc máy bay họ đã mua vé, lựa chọn hai chỗ ngồi không được hút thuốc. Thấy còn thời gian rỗi rãi, họ ngắm nhìn những chiếc máy bay khác cất cánh bay đến những nơi mới lạ.

Chính ông Christopher là người đầu tiên trông thấy hai hành khách chạy ngang qua đường băng, rõ ràng là bị trễ chuyến bay.

“Hãy nhìn xem,” ông ta bảo, tay chỉ vào hai ông bà đang chạy. Bà vợ ông ta chăm chú xem xét cặp vợ chồng mập ú, nước da vẫn còn nâu nâu từ một kỳ nghỉ trước đó, khi họ hì hục trèo lên thang máy bay.

“Ông bà Kendall Hume,” bà Margaret nghi hoặc. Sau khi do dự giây lát, bà ta tiếp, “Tôi không muốn nghiệt ngã với bất cứ đứa nào trong đám trẻ, nhưng mà tôi thấy thằng cu Malcolm Kendall Hume là một...” Bà ta tạm dừng lời.

“Một thằng nhóc được nuông chiều hỗn xược?” Ông chồng bà gợi ý.

“Đúng như vậy,” bà Margaret nói. “Tôi không thể không bắt đầu nghĩ xem cha mẹ nó là người thế nào.”

“Rất thành đạt, nếu tin vào những câu chuyện của thằng bé,” ông Christopher nói. “Một loạt những gara sửa xe từ Birmingham đến Bristol.”

“Ơn Chúa, họ không đi cùng máy bay với ta.”

“Tôi đoán là họ sẽ tới Bermuda hoặc Bahamas,” ông Christopher nói.

Một giọng nói phát ra từ chiếc loa không cho bà Margaret cơ hội nói thêm.

“Chuyến bay Olympic Airways 172 tới Istanbul đang đón khách lên máy bay tại cửa số 37.”

“Chúng ta đó,” ông Christopher vui vẻ nói khi họ bắt đầu đi bộ tới cửa khởi hành.

Họ là những hành khách đầu tiên lên máy bay, và khi đã được đưa đến chỗ ngồi, họ ngồi xuống để nghiên cứu những cuốn sách hướng dẫn du lịch về Thổ Nhĩ Kỳ và ba tập hồ sơ của họ.

“Chúng ta nhất định phải đi thăm quan lăng Diana khi chúng ta đến Ephesus,” Ông Christopher bảo, khi chiếc máy bay lăn bánh ra đường băng.

“Đừng quên rằng đến lúc đó chúng ta chỉ còn cách ngôi nhà nổi tiếng của Đức Mẹ Mari đồng trinh có vài cây số,” bà Margaret nói thêm

“Bà nói cứ như một nhà sử gia thế,” ông Christopher nói, như thể đang phê bình một học sinh lớp bốn, thế nhưng bà vợ không hề nhận thấy vì đang quá mải mê với quyển sách của bà. Hai người lại tiếp tục nghiên cứu riêng, sau đó ông Christopher hỏi bà vợ đang đọc gì vậy.

“Cuốn ‘Những tấm thảm, thực tế và tưởng tượng’ tác giả Abdul Verizoglu, tái bản lần thứ mười bảy,” bà nói, tin rằng bất cứ sai lầm nào cũng đã phải được xóa bỏ trong mười sáu lần xuất bản trước kia. “Nhiều thông tin ghê gớm. Những mẫu tinh xảo nhất, dường như từ vùng Hereke và được người phụ nữ trẻ, thậm chí cả trẻ con làm cùng một lúc.”

“Tại sao là những người trẻ?” Ông Christopher trầm tư. “Mọi người thường nghĩ kinh nghiệm sẽ rất quan trọng đối với một công việc đòi hỏi sự tinh xảo như thế chứ.”

“Rõ ràng là không,” bà Margaret bảo. “Những tấm thảm Hereke được những con mắt trẻ trung dệt nên, có thể thấy rõ những kiểu mẫu phức tạp, đôi khi không lớn hơn một mũi kim và có tới chín trăm nút trong một inch vuông. Một tấm như thế,” bà Margaret nói tiếp, “có thể lên tới mười lăm, thậm chí là hai mươi ngàn bảng.”

“Và những tấm thảm khác được những người đàn bà già nua dệt từ len cũ, dư thừa?” Ông Christopher gợi ý và cũng là trả lời cho câu hỏi của chính mình.

“Chắc rồi,” bà Margaret bảo. “Đối với hầu bao nhỏ bé của chúng ta cũng có thể theo một số chỉ dẫn đơn giản.”

Ông Christopher nghiêng người sang bên để có thể nghe rõ những lời bà vợ nói qua tiếng ầm của động cơ.

“Các tấm có họa tiết đỏ và lam trầm trên nền xanh lục được coi là cổ điển và rất được các nhà sưu tập Thổ Nhĩ Kỳ khâm phục, nhưng người ta thường tránh màu vàng và da cam sặc sỡ,” Bà vợ của ông đọc to lên. “Và không bao giờ xem xét một tấm thảm dệt hình thú vật, cá hay chim chó bởi vì chúng được sản xuất chỉ để thỏa mãn thị hiếu phương Tây mà thôi.”

“Họ không thích thú vật sao?”

“Tôi không cho đó là điểm chính,” Bà Margaret nói.

“Hồi giáo Sunni, là tôn giáo chính của nước này, luật của họ không tán thành các hình ảnh tạc khắc. Thế nhưng nếu chúng ta tìm kiếm cẩn thận ở các khu chợ, chúng ta vẫn có thể mua bán ở tầm vài trăm bảng.”

“Thật là một lý do tuyệt vời để dành cả ngày ngoài chợ.”

Bà Margaret mỉm cười, rồi tiếp. “Nhưng hãy nghe này. Quan trọng nhất là việc mặc cả. Cái giá ban đầu người bán đưa ra thường là gấp đôi số tiền mà anh ta mong muốn được nhận, và gấp ba lần giá trị của tấm thảm.” Bà ta nhìn lên từ cuốn sách. “Nếu như anh có bất cứ vụ mặc cả nào thì anh nhớ đấy, cưng à. Họ không quen với những việc kiểu như thế này tại các cửa hàng Marks & Spencer.”

Ông Christopher mỉm cười.

“Và cuối cùng,” Bà vợ ông ta lật tiếp một trang của cuốn sách, “Nếu người bán hàng mời anh uống cà phê thì anh nên nhận lời. Nó có nghĩa là ông ta mong vụ mua bán diễn ra lâu lâu một chút, vì ông ta thưởng thức cả việc mặc cả cũng nhiều như việc bán được hàng vậy.”

“Nếu như sự việc xảy ra đúng như vây, họ nên có một cái phin pha thật to cho chúng ta,” Ông Christopher nói, nhắm mắt lại và bắt đầu suy nghĩ về những điều thú vị đang chờ đợi.

Bà Margaret chỉ gấp cuốn sách về thảm của bà lại khi máy bay chạm xuống đường băng sân bay Istanbul, và lập tức mở tập hồ sơ thứ nhất ra, nó có tựa đề “Tiền – Thổ Nhĩ Kỳ”.

“Một chiếc xe buýt chờ chúng ta ở phía bắc cửa ra. Nó sẽ đưa chúng ta tới chuyến bay nội địa,” Bà Margaret quả quyết với chồng lúc bà cẩn thận vặn đồng hồ sớm lên hai tiếng.

Vợ chồng Roberts đi ngay theo đám hành khách hướng về cửa kiểm tra hộ chiếu. Những người đầu tiên mà họ trông thấy lại chính là đôi vợ chồng đứng tuổi nọ mà họ nghĩ là đã đi đến những bãi biển xa lạ.

“Không biết họ định đi đâu nhỉ,” Ông Christopher nói.

“Tôi đoán là khách sạn Hilton Istanbul,” Bà Margaret nói khi họ bước lên một chiếc xe quá cổ lỗ của công ty xe buýt Glasgow quãng hai mươi năm trước. Nó phụt phì phì ra làn khói thải đen xì khi rồ ga, rồi lăn bánh về hướng chuyến bay địa phương THY.

Vợ chồng Roberts sớm quên hết về ông bà Kendall Hume khi họ nhìn ra ngoài những ô cửa sổ máy bay nho nhỏ để chiêm ngưỡng bờ biển phía Tây của Thổ Nhĩ Kỳ, nó nổi bật lên dưới ánh mặt trời đang tắt dần. Máy bay hạ cánh tại cảng Izmir đúng vào lúc quả cầu lửa óng ánh biến mất phía sau quả đồi cao nhất. Một chiếc xe buýt khác, thậm chí còn cổ lỗ hơn chiếc xe trước, đảm bảo rằng vợ chồng Roberts sẽ tới được ngôi nhà nghỉ nhỏ bé của họ kịp bữa tối muộn.

Căn phòng của họ chật, nhưng sạch sẽ và người chủ nhà trọ cũng có vẻ dễ chịu. Ông ta chào đón hai người bọn họ với những cử chỉ khá thân thiện và nụ cười rạng rỡ, đó là điềm báo trước tốt lành cho hai mươi mốt ngày sắp tới.

Sáng sớm hôm sau, vợ chồng Roberts kiểm tra những kế hoạch cụ thể của họ cho ngày thứ nhất trong tập hồ sơ thứ hai. Đầu tiên, họ sẽ nhận chiếc xe hơi Fiat đã được trả tiền thuê khi họ còn ở nước Anh, rồi sẽ lái xe qua những vùng đồi núi, tới pháo đài Byzantine cổ kính ở Selcuk vào buổi sáng, nối tiếp là lăng Diana vào buổi chiều nếu họ vẫn còn thời gian.

Sau khi bữa ăn sáng đã được dọn đi và đã đánh răng, vợ chồng Roberts rời khu nhà nghỉ trước chín giờ vài phút. Trang bị chiếc phiếu thuê xe hơi và cuốn sách hướng dẫn du lịch, họ khởi hành hướng tới Gara Beyazik, nơi mà chiếc xe hơi được đặt trước đang đợi chờ họ. Họ rảo bước dọc theo những con phố nhỏ lát đá, ngang qua những ngôi nhà quét sơn trắng, tận hưởng những đợt gió biển, cho đến khi họ tới bên bờ vịnh. Ông Christopher đã trông thấy chiếc biển hiệu của Gara Beyazik khi nó vẫn còn cách họ quãng chừng trăm mét phía trước.

Khi họ đi ngang qua những chiếc du thuyền tuyệt diệu thả neo dọc theo bờ cảng, họ cùng nhau kiểm tra quốc tịch của các lá cờ, cảm thấy không khác mấy những đứa “con cái” đang hoàn thành một bài kiểm tra địa lý.

“Ý, Pháp, Liberia, Panama, Đức. Không có nhiều tàu thuyền Anh,” Ông Christopher nói, nghe có vẻ yêu nước một cách bất thường. Ông luôn tỏ ra như vậy những lúc họ ra nước ngoài, bà Margaret nghĩ.

Bà Margaret nhìn chằm chặp vào dãy thân tàu bóng loáng xếp hàng như các xe buýt tại khu trung tâm Piccadilly trong giờ cao điểm: một vài chiếc thậm chí còn lớn hơn các xe buýt. “Tôi không biết liệu ai có thể trang trải cho sự xa xỉ như thế chứ?” bà hỏi và không chờ đợi câu trả lời nào.

“Ông bà Roberts, đúng không nhỉ?” một giọng nói vang lên từ phía sau lưng họ.

Hai người quay lại và thấy một bóng dáng quen thuộc. Ông ta bận một chiếc sơ mi và quần soóc trắng, đội một chiếc mũ trông chẳng khác viên thuyền trưởng đang vẫy vẫy họ từ mũi tàu của chiếc “Thần Ưng”, một trong những chiếc du thuyền lớn.

“Lên tàu đi, mấy vị,” Ông Kendall Hume sốt sắng nói, với một thái độ ra lệnh nhiều hơn là mời mọc.

Một cách miễn cưỡng, vợ chồng Roberts bước dọc theo những tấm ván cầu tàu.

“Nhìn xem ai đây này,” vị chủ nhân của họ hét xuống một cái lỗ lớn ở giữa con tàu. Lát sau, bà Kendall Hume xuất hiện từ phía dưới, mặc một tấm xà rông màu da cam trong mờ và một tấm bikini che ngực nhiều màu.

“Là ông bà Roberts – em có còn nhớ không, ở trường của thằng Malcolm đó.”

Kendall Hume quay lại đối mặt với đôi vợ chồng đang mất hết tinh thần. “Tôi không còn nhớ tên của các vị, còn tên của vợ tôi Melody và của tôi là Ray.”

“Chúng tôi là Christopher và Margaret,” Ông giáo nói khi họ bắt tay nhau.

“Hãy uống chút gì nhé? Rượu Gin, vodka hay?...”

“Ồ, không,” bà Margaret nói. “Xin cảm ơn nhiều, xin cho cả hai chúng tôi một ly cam vắt.”

“Cứ tự nhiên,” Kendall Hume bảo. “Các vị phải ở lại ăn trưa đấy nhé.”

“Nhưng chúng tôi không thể làm phiền…”

“Tôi thực lòng mà,” Kendall Hume nói. “Vì chúng ta cùng đang đi nghỉ. Nhân tiện chúng tôi sẽ đi sang phía bên kia vịnh để ăn trưa. Có một bãi biển thiên thần ở bên đó, chúng ta có thể tắm nắng và bơi rất yên tĩnh.”

“Anh thật chu đáo quá,” ông Christopher bảo.

“Thế cậu bé Malcomlm đâu?” bà Margaret hỏi.

“Nó đang trong kỳ nghỉ hướng đạo ở Scotland, nó không thích lăn lộn trên tàu thuyền như chúng tôi.”

Lần đầu tiên ông Christopher nhớ ra là ông cũng cảm thấy có chút khâm phục nào đó đối với cậu bé. Lát sau động cơ nổ như sấm rền.

Trong chuyến du hành xuyên qua vịnh, Ray Kendall Hume trình bày chi tiết mớ lý thuyết của ông ta về “hãy quẳng gánh lo đi”. “Không có cái gì có thể đảm bảo sự riêng tư của chúng ta như một chiếc du thuyền, và chúng ta không phải dính dáng tới đám người trên kia.” Ông ta chỉ muốn những điều giản đơn của cuộc sống: ánh nắng, biển cả và một nguồn cung cấp vô tận thức ăn và đồ uống ngon lành.

Vợ chồng Roberts cũng chẳng hỏi thêm điều gì. Vào cuối ngày, cả hai người đều đang phải chịu đựng một cơn say nắng và cũng cảm thấy đôi chút say sóng. Cho dù đã được bà Melody cung cấp thoải mái các viên thuốc trắng, thuốc đỏ và thuốc vàng, cuối cùng, khi đã về lại được phòng mình đêm hôm đó, họ không tài nào ngủ được.

***

Tránh mặt vợ chồng Kendall Hume trong suốt hai mươi ngày sau không phải dễ. Beyazik xưởng gara nơi họ thuê chiếc xe hơi nhỏ đợi họ vào buổi sáng và được đem trả lại vào mỗi tối, chỉ có thể đến được đó khi băng qua mảnh đất bên rìa cầu cảng, nơi chiếc du thuyền gắn mô-tơ của vợ chồng Kendall Hume thả neo, giống như một thanh barie không thể nào vượt qua tại một cuộc thi thể thao. Hầu như không có ngày nào là vợ chồng Roberst không phải dành một phần thời gian quý báu của họ bập bềnh trên những con sóng lớn của bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ, ăn những đồ ăn nhiều dầu và bàn bạc chuyện một tấm thảm phải to cỡ nào mới lấp đủ gian phòng tiền sảnh của gia đình Kendall Hume.

Mặc dù vậy, họ vẫn cố hoàn thành được phần lớn chương trình thăm quan của mình và quyết tâm dành ra cả ngày cuối cùng của kỳ nghỉ để tìm bằng được một tấm thảm. Bởi vì họ không cần chiếc xe hơi Beyazik để đi vào thành phố, họ cảm thấy tin tưởng rằng ít nhất trong ngày hôm đó, họ có thể an toàn tránh được người tra tấn họ.

Vào buổi sáng cuối cùng, họ dậy muộn hơn một chút so với kế hoạch. Sau khi ăn sáng, họ cùng rảo bước xuống con đường nhỏ lát đá, ông Christopher cầm cuốn sách tái bản lần thứ mười bảy “Những tấm thảm, thực tế và tưởng tượng”, bà Margaret thì cầm một cái thước dây và năm trăm bảng bằng séc du lịch.

Khi ông giáo và bà vợ tới khu chợ, họ bắt đầu xem xét xung quanh vô số các cửa hiệu nhỏ, băn khoăn không biết nên bắt đầu chuyến phiêu lưu từ đâu. Những người đàn ông đội mũ đuôi sao cố gắng mời chào họ vào cửa hiệu của mình, nhưng vợ chồng Roberst muốn dành tiếng đồng hồ đầu tiên đơn giản chỉ để làm quen với bầu không khí và khu chợ.

“Tôi đã sẵn sàng bắt đầu cuộc tìm kiếm rồi đây,” bà Margaret nói to át cả những tiếng rì rầm xung quanh.

“Thế thì chúng tôi tìm được các vị đúng lúc rồi,” một giọng nói họ nghĩ là đã thoát khỏi cất lên.

“Chúng tôi đang định…”

“Thế thì đi theo tôi.”

Trái tim của vợ chồng Roberts như đập chậm lại khi họ bị Kendall Hume dẫn ra khỏi khu chợ và quay trở lại thành phố.

“Cứ tin tôi đi, chắc chắn các vị sẽ có một cuộc mặc cả tuyệt vời đấy.” Kendall Hume bảo đảm với cả hai. “Tôi đã nẫng được một số vật phẩm tuyệt mỹ thực sự từ mọi miền của thế giới với cái giá các vị không thể tin nổi đâu. Tôi vui sướng để các vị được hưởng lợi thế trọn gói từ những kiến thức tinh thông của tôi mà không tính thêm phụ phí đâu.

“Tôi không thể ngờ làm sao các vị lại chịu đựng được tiếng ồn ào và những mùi vị khó ngửi của khu chợ đó,” bà Melody bảo, rõ ràng là mừng rỡ được quay trở lại với những dấu hiệu quen thuộc của Gucci, Lacoste và Saint Laurent.

“Chúng tôi thích…”

“Được giải thoát kịp thời nhé,” Ray Kendall Hume nói. “Và tôi được biết cái nơi ta cần phải khởi hành và về đích, nếu ta muốn mua một tấm thảm nghiêm túc, là cửa hiệu Osman.”

Bà Margaret nhớ lại cái tên đó từ cuốn sách về thảm: “Chỉ nên thăm viếng nếu như tiền bạc không phải là vấn đề, và bạn biết chính xác bạn đang tìm kiếm thứ gì.” Buổi sáng cuối cùng tối quan trọng xem chừng đi tong rồi, bà nghĩ khi đẩy cánh cửa kính to lớn của hiệu Osman để bước vào khu tầng trệt, có diện tích cỡ một sân đánh tennis. Căn phòng được che phủ bằng các tấm thảm: trên sàn, các bức tường, các bậu cửa sổ, và thậm chí là các mặt bàn. Bất cứ nơi đâu một tấm thảm có thể trải ra, thì đã có nó ở đó để xem rồi. Cho dù vợ chồng Roberts nhận ra ngay rằng, không có tấm thảm nào ở đây nằm trong tầm chi trả của họ, chỉ vẻ đẹp lộng lẫy, mê ly của cuộc trưng bày thôi cũng đã hớp hồn họ.

Bà Margaret chậm rãi bước quanh phòng, ghi nhớ trong đầu những đo đạc về những tấm thảm nhỏ để bà có thể tính toán trước loại hàng mà họ có thể tìm kiếm khi họ đã thoát khỏi chỗ này.

Một người đàn ông cao, dáng thanh nhã, đôi tay giơ cao như thể đang cầu nguyện và ăn vận hoàn hảo không chê vào đâu, trong bộ đồ sợi len, mà có thể do Savile Row cắt may, tiến lên chào đón họ.

“Xin chúc buổi sáng tốt lành, thưa quý ngài,” ông ta nói với ông Kendall Hume, không mấy khó khăn chọn lựa ra người tiêu pha phóng khoáng. “Tôi có thể giúp được gì?”

“Anh chắc chắn có thể giúp được đấy,” Kendall trả lời. “Tôi muốn được xem những tấm thảm xịn nhất của anh, nhưng tôi không định trả những cái giá xịn nhất của anh.”

Người bán hàng mỉm cười lịch thiệp và vỗ tay. Sáu tấm thảm nhỏ được ba người giúp việc mang vào, họ trải chúng ra giữa phòng. Bà Margaret thấy yêu ngay một tấm với nền xanh dương thanh nhã, với những ô vuông đỏ nhỏ xíu dệt viền quanh thảm. Mẫu mã tinh xảo đến mức bà không thể nào rời mắt khỏi nó được. Bà đo tấm thảm vì thích thú: chính xác hai mét mốt khổ chín mươi.

“Bà có khiếu thẩm mỹ tuyệt vời, thưa bà,” người bán hàng nói. Bà Margaret, hơi đỏ mặt, nhanh chóng đứng dậy, lùi ra sau một bước và giấu cái thước dây đằng sau lưng.

“Em cảm thấy cái lô này thế nào, cưng?” Kendall Hume hỏi, phẩy tay mọt cái qua sáu tấm thảm.

“Không có cái nào đủ lớn,” bà Melody trả lời, chỉ thoáng liếc qua chúng.

Người bán hàng vỗ tay lần thứ hai, những tấm thảm trưng bày được cuộn lại và đem đi khỏi đó. Bốn tấm lớn hơn nhanh chóng thế chỗ chúng.

“Các vị có muốn uống chút cà phê không?” người bán hàng hỏi ông Kendall Hume khi những tấm thảm mới đang nằm trải ra dưới chân họ.

“Không có thời gian,” Kendall Hume nói cụt lủn. “Đến đây để mua thảm. Nếu tôi muốn uống cà phê, tôi luôn có thể đến quán cà phê,” ông ta nói với tiếng cười khùng khục khoái trá. Bà Melody mỉm cười đồng lõa.

“À vâng, tôi muốn uống một chút cà phê,” bà Margaret nói, quyết định phản kháng đôi chút trong kỳ nghỉ.

“Rất hân hạnh, thưa bà,” ông bán hàng nói, và một người giúp việc đi khỏi để thực hiện yêu cầu của bà trong khi vợ chồng Kendall Hume nghiên cứu những tấm thảm mới.

Cà phê được mang đến sau giây lát. Margaret cảm ơn người giúp việc trẻ tuổi và bắt đầu nhấm nháp chầm chậm thứ dung dịch đen đậm đặc. Ngon tuyệt, bà mỉm cười thừa nhận với người bán hàng.

“Vẫn chưa đủ lớn,” Bà Kendall Hume khăng khăng nói. Ông bán hàng khẽ thở dài và lại vỗ tay lần nữa. Thêm một lần nữa, những người giúp việc bắt đầu cuộn lại những hàng hóa bị chối từ. Rồi ông ta nói với một trong những người nhân viên của mình bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ. Anh giúp việc này nhìn sư phụ mình đầy nghi hoặc nhưng ông bán hàng gật đầu dứt khoát, và vẫy tay bảo anh ta đi đi. Người giúp việc quay trở lại sau một thoáng, với một tiểu đội nhỏ những người giúp việc hạng thấp hơn, đem theo hai tấm thảm, cả hai tấm này, khi trải ra, choán gần hết toàn bộ sàn nhà. Bà Margaret không ưa chúng, thậm chí không bằng những tấm mà bà vừa mới được cho xem, nhưng bởi vì không được hỏi ý kiến, nên bà không nói gì.

“Có vẻ được hơn rồi đấy,” Ray Kendall Hume bảo. “Có vẻ đúng cái kích cỡ của gian tiền sảnh, em bảo sao nhỉ, Melody?”

“Hoàn hảo,” bà vợ ông ta trả lời, không hề đo một cái nào

“Anh rất vui mừng chúng ta thống nhất,” Ray Kendall Hume bảo. “Nhưng mà tấm nào, hả cưng? Tấm đỏ và lam nhạt, hay tấm vàng và da cam rực rỡ?”

“Tấm vàng và da cam,” bà Melody nói không chút do dự. “Em thích kiểu cách những con chim màu sắc sặc sỡ chạy nhảy ở bên ngoài.”

Ông Christopher nghĩ ông ta trông thấy người bán hàng nhăn mặt.

“Vậy thì tất cả việc còn lại chúng ta phải làm bây giờ là thống nhất một cái giá,” Kendall Hume nói. “Tốt hơn em nên ngồi xuống, cưng à, bởi vì có thể mất một lúc đó.”

“Em hy vọng là không,” Bà Kendall Hume bảo, cương quyết cứ đứng.

Vợ chồng Roberts vẫn yên lặng.

“Thật không may, thưa ngài,” người bán hàng bắt đầu, “Bà vợ ngài đã lựa chọn một trong số những tấm thảm đẹp nhất trong bộ sưu tập của chúng tôi, và do đó, tôi sợ rằng sẽ không thể điều chỉnh lại giá nhiều được nữa.”

“Bao nhiêu?” Kendall Hume nói.

“Ngài thấy đấy, thưa ngài, tấm thảm này được dệt ở Demirdji, tỉnh Izmir, do hơn một trăm người thợ dệt dệt và họ phải mất hơn một năm để hoàn thành nó.”

“Đừng nói với tôi cái chuyện vớ vẩn đó,” Kendall Hume nói, nháy mắt với Christopher. “Hãy chỉ cho tôi biết tôi phải trả bao nhiêu đây.”

“Tôi cảm thấy là trách nhiệm của tôi phải chỉ ra, thưa ngài, rằng tấm thảm này không nên có mặt ở đây chút nào,” Người Thổ nói buồn rầu ai oán. “Nó ban đầu được làm ra cho một ông hoàng Ả Rập. Ông ta đã không thể mua nó khi giá dầu sụt giảm.”

“Thế nhưng chắc ông ta đã đồng ý với một cái giá vào lúc đó chứ hả?”

“Tôi không thể tiết lộ con số chính xác, thưa ngài. Tôi thấy bối rối khi nêu nó lên.”

“Nó không làm tôi bối rối,” Kendall Hume nói. “Thôi nào, nói đi, giá bao nhiêu?” ông ta khăng khăng vặn hỏi.

“Ngài muốn mua bằng tiền loại nào?” Người Thổ hỏi.

“Đồng bảng”

Người bán hàng lấy ra một chiếc máy tính mỏng từ trong túi áo jacket, nhập mấy con số vào đó, rồi buồn rầu nhìn về phía vợ chồng nhà Kendall Hume.

Ông Christopher và bà Margaret vẫn giữ im lặng, giống như những đứa học trò sợ hãi ông thầy hiệu trưởng có thể vặn hỏi chúng một câu hỏi mà chúng không thể nào biết câu trả lời.

“Nào, nhanh nào, anh muốn bao nhiêu?”

“Tôi nghĩ ngài chắc phải chuẩn bị cho mình một cú sốc, thưa ngài,” người bán hàng nói.

“Bao nhiêu?” Kendall Hume sốt ruột nhắc lại.

“Hai mươi lăm ngàn.”

“Bảng?”

“Bảng.”

“Chắc anh đang đùa hả,” Kendall Hume nói, đi vòng quanh tấm thảm và sau cùng đứng bên cạnh bà Margaret. “Các vị sẽ biết được nguyên nhân tại sao tôi lại được coi là người chặt chẽ trong ngành buôn bán ô tô vùng trung du miền Đông,” ông ta nói khẽ với bà. “Tôi sẽ không trả quá mười lăm ngàn cho tấm thảm kia.” Ông ta quay lại để giáp mặt với người bán hàng. “Ngay cả khi cuộc sống của tôi phụ thuộc vào nó.”

“Vậy thì tôi e rằng thời gian của ngài đã bị phí hoài, thưa ngài,” người Thổ trả lời. “Bởi vì đây là một tấm thảm chủ ý chỉ dành cho những người sành điệu. Có thể quý bà sẽ xem xét tấm đỏ và lam chứ?”

“Chắc chắn là không,” Kendall Hume nói. “Màu sắc của nó phai nhạt hết rồi. Anh không thấy sao? Rõ ràng anh đã để nó trên cửa sổ quá lâu, và mặt trời đã tác động đến nó. Không được, anh sẽ phải xem xét lại giá cả của anh nếu anh muốn cái tấm da cam và vàng được kết thúc ở ngôi nhà của một tay sành chơi.”

Người bán hàng thở dài khi các ngón tay ông ta bấm bấm lại vào chiếc máy tính.

Trong lúc cuộc mua bán vẫn tiếp diễn, bà Melody lơ đãng, thỉnh thoảng nhìn ra ngoài khung cửa sổ về phía vịnh.

“Tôi không thể bớt một xu dưới hai mươi ba ngàn bảng.”

“Tôi sẽ sẵn lòng tăng lên tới mười tám ngàn,” Kendall Hume nói, “nhưng không thêm một xu nữa đâu.”

Vợ chồng nhà Roberts dõi theo người bán hàng nhấn số vào chiếc máy tính.

“Số tiền đó thậm chí chưa đủ cho chi phí mà chính tôi đã phải trả cho nó,” ông ta nói với vẻ đáng tiếc, nhìn chằm chặp xuống các con số đang sáng ánh lên.

“Anh đang ép tôi đấy, nhưng đừng có đi quá xa nhé. Mười chín ngàn,” Kendall Hume bảo. “Đó là con số cuối cùng tôi đưa ra đó.”

“Hai mươi ngàn bảng là con số thấp nhất mà tôi có thể xem xét,” người bán hàng trả lời. “Một cái giá cho đi, thề trên mộ mẹ tôi đó.”

Kendall Hume móc chiếc ví ra và đặt nó lên mặt bàn bên phía người bán hàng.

“Mười chín ngàn bảng và anh đã giành được cho mình một vụ làm ăn rồi đó,” ông ta bảo.

“Thế thì làm sao tôi nuôi được các con tôi đây?” người bán hàng nói, hai cánh tay ông ta giơ lên cao quá đầu.

“Cũng giống y như tôi nói các con tôi vậy thôi,” Kendall Hume nói, cười to. “Bằng cách làm ra một lợi nhuận kha khá.”

Người bán hàng tạm dừng lời như thể đang suy tính lại, rồi nói. “Tôi không thể làm thế được, thưa ngài. Tôi xin được thứ lỗi. Chúng tôi phải cho các vị xem những tấm thảm khác vậy.” Những nhân viên giúp việc tiến lên trước theo hiệu lệnh.

“Không được, đó là tấm mà tôi muốn,” Bà Kendall Hume bảo. “Đừng cãi cọ vì một ngàn bảng, cưng à.”

“Hãy tin lời tôi nói, thưa quý bà,” người bán hàng nói, quay sang bà Kendall Hume. “Cả nhà tôi sẽ chết đói nếu như chúng tôi chỉ bán cho những khách hàng giống như đấng phu quân của quý bà.”

“OK, anh có hai mươi ngàn bảng, nhưng với một điều kiện.”

“Điều kiện?”

“Hóa đơn của tôi phải được ghi thanh toán là mười ngàn bảng. Nếu không, tôi sẽ phải trả chênh lệch thuế hải quan.”

Người bán hàng cúi thấp đầu, cứ như thể tỏ ra rằng ông ta không thấy yêu cầu này lạ lùng chút nào.

Ông Kendall Hume mở ví và rút ra mười ngàn bảng bằng séc du lịch và mười ngàn bảng tiền mặt.

“Như anh thấy đấy,” ông ta bảo, cười rạng rỡ, “Tôi đến đã có chuẩn bị sẵn sàng.” Ông ta rút ra thêm năm ngàn bảng nữa và vẫy vẫy tập tiền trước mặt người bán hàng, tiếp lời, “và tôi đã có thể vui lòng trả nhiều hơn nữa.”

Người bán hàng nhún vai. “Ngài mặc cả chắc quá, thưa ngài. Thế nhưng ngài sẽ không phải nghe tôi phàn nàn đâu, giờ đây vụ mua bán đã thỏa thuận xong.”

Tấm thảm khổng lồ được bó và gói ghém lại, một hóa đơn mười ngàn bảng được viết khi những tấm séc du lịch và tiền mặt được trả.

Vợ chồng nhà Roberts đã không thốt lên một tiếng nào trong hai mươi phút vừa qua. Khi họ thấy số tiền được đổi chủ, trong đầu bà Margaret hiện lên ý nghĩ rằng khoảng tiền này nhiều hơn cả hai vợ chồng họ kiếm được trong một năm.

“Đã đến giờ quay lại du thuyền,” Kendall Hume nói. “Hãy nhớ nhập bọn với chúng tôi ăn trưa nếu các vị chọn được một tấm thảm đúng giờ.”

“Xin cảm ơn anh,” Vợ chồng nhà Roberts đồng thanh. Họ đợi cho vợ chồng nhà Kendall Hume đi khuất, hai người giúp việc khiêng tấm thảm da cam và vàng đi theo sau, rồi mới cảm ơn người bán hàng vì tách cà phê và lần lượt đi về phía cửa.

“Các vị đang tìm kiếm loại thảm như thế nào?” người bán hàng hỏi.

“Tôi e rằng giá của ông vượt tầm chúng tôi quá xa,” ông Christopher nói lịch thiệp. “Nhưng dù sao cũng xin cảm ơn.”

“À vâng, ít nhất hãy để tôi tìm hiểu. Ông hoặc vợ ông đã nhìn thấy một tấm nào mà các vị ưa thích chưa?”

“Có,” bà Margaret trả lời, “tấm thảm nhỏ, thế nhưng mà…”

“À vâng,” người bán hàng bảo. “Tôi nhớ được ánh mắt của quý bà khi trông thấy tấm thảm Hereke.”

Ông ta bỏ lại họ ở đó, giây lát sau quay lại với tấm thảm màu nhã, nền xanh dương với những ô vuông bé nhỏ mà vợ chồng nhà Kendall Hume đã kiên quyết từ chối. Không chờ được giúp đỡ, ông ta tự mình trải nó ra để cho vợ chồng nhà Roberts xem xét kỹ lưỡng hơn.

Bà Margaret nghĩ nó thậm chí còn đẹp lộng lẫy hơn nữa trong lần thứ hai này và e rằng mình không thể hy vọng tìm được tấm nào sánh ngang với nó trong một vài giờ còn lại của họ.

“Thật hoàn hảo,” bà thừa nhận không hề e ngại.

“Vậy thì chúng ta chỉ còn phải bàn bạc về giá cả thôi,” ông bán hàng nói tử tế. “Quí vị định tiêu bao nhiêu, thưa bà?”

“Chúng tôi đã có kế hoạch tiêu ba trăm bảng,” ông Christopher nói xen vào.

Bà Margaret không thể giấu nổi sự ngạc nhiên của mình. “Nhưng mà chúng ta đã đồng ý…” bà ta bắt đầu nói.

“Em yêu, anh nghĩ anh sẽ xử lý vấn đề này.”

Ông bán hàng mỉm cười và quay lại với việc thỏa thuận giá cả.

“Tôi sẽ phải tính với các vị sáu trăm bảng,” ông ta bảo. “Thấp hơn một tý nào sẽ là sự cướp đoạt.”

“Bốn trăm bảng là giá cuối cùng của tôi,” ông Christopher cố gắng nói bình tĩnh.

“Năm trăm bảng là giá sàn của của tôi đấy,” người bán hàng nói.

“Tôi mua nó!” ông Christopher kêu lên.

Một người giúp việc bắt đầu vẫy vẫy đôi cánh tay và nói rất to với người bán hàng bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của họ. Người chủ cửa hiệu giơ một bàn tay lên để phủ nhận những lời phản đối của anh thanh niên trong khi vợ chồng nhà Roberts sốt ruột dõi theo.

“Thằng con trai tôi,” người bán hàng giải thích, “không vui với giá cả như thế, nhưng tôi sung sướng khi biết rằng cái tấm thảm nhỏ này sẽ ở trong ngôi nhà của những người rõ ràng sẽ biết thưởng ngoạn giá trị thực của nó.”

“Xin cảm ơn,” ông Christopher nói khẽ.

“Các vị cũng sẽ yêu cầu một tấm hóa đơn với giá tiền khác đi chứ?”

“Không đâu, xin cảm ơn,” Christopher nói, đưa ra mười tờ giấy bạc năm mươi bảng rồi chờ đợi cho đến khi tấm thảm được bọc lại và ông ta nhận được tấm hóa đơn ghi đúng số tiền như vậy.

Người bán hàng dõi theo đôi vợ chồng nhà Roberts rời khỏi cửa hiệu, giữ chặt lấy món hàng mới mua được, người bán hàng mỉm cười một mình.

Khi họ tới được cầu cảng, con tàu của vợ chồng nhà Kendall Hume đã đi tới giữa vịnh, hướng tới bãi biển yên tĩnh. Vợ chồng nhà Roberts cùng thở phào nhẹ nhõm và quay trở lại khu chợ để ăn trưa.

***

Đúng vào lúc họ đang chờ hành lý của mình xuất hiện trên băng chuyền tại sân bay Heathrow thì ông Christopher cảm thấy một cái vỗ nhẹ vào vai. Ông ta quay người lại đối mặt với ông Ray Kendall Hume đang cười tươi như hoa.

“Không hiểu anh có thể giúp tôi một việc không, bạn mến?”

“Tôi sẽ làm nếu tôi có thể làm được,” ông Christopher nói, vẫn chưa hết hoàn hồn sau cuộc gặp gỡ cuối cùng của họ.

“Việc cũng đơn giản thôi,” Kendall Hume bảo. “Tiểu thư già nhà tôi và tôi mang quá nhiều tặng phẩm về và tôi không biết liệu anh có thể mang một trong những món đồ đó qua hải quan được không. Nếu không chúng tôi chắc phải bị mắc kẹt lại cả đêm ở đây mất.”

Bà Melody, đang đứng đằng sau một chiếc xe đẩy chở vali chất nặng đầy, mỉm cười độ lượng với hai người đàn ông.

“Anh sẽ vẫn phải trả bất cứ khoản tiền thuế nào đánh vào món đồ đó,” ông Christopher quả quyết.

“Tôi sẽ không làm gì khác đâu,” Kendall Hume nói, vật lộn với một gói đồ lớn rồi đẩy nó lên chiếc xe đẩy của vợ chồng nhà Roberts. Ông Christopher muốn lên tiếng phản đối khi Kendall Hume lấy ra hai ngàn bảng và đưa số tiền đó cùng tấm hóa đơn cho ông giáo.

“Chúng tôi phải làm thế nào nếu như họ bảo tấm thảm của anh có giá trị lớn hơn mười ngàn bảng rất nhiều?” bà Margaret lo lắng hỏi, đến đứng bên cạnh ông chồng của bà.

“Cứ trả bù đi rồi tôi sẽ trả lại cho các vị ngay tắp lự. Nhưng mà tôi cam đoan với các vị là điều đó rất khó xảy ra.”

“Tôi hy vọng là ông đúng.”

“Tất nhiên là tôi đúng mà,” Kendall Hume nói. “Đừng ngại, tôi đã từng làm những việc kiểu như thế này trước kia rồi. Và tôi sẽ không quên sự giúp đỡ của các vị trong buổi lạc quyên năm học tới,” ông ta nói thêm, bỏ họ lại với gói đồ khổng lồ.

Khi ông Christopher và bà Margaret nhận được những chiếc túi hành lý của họ, họ lấy thêm chiếc xe đẩy thứ hai và đứng xếp hàng trước tấm biển đỏ “Hàng hóa phải khai”.

“Các vị có mặt hàng nào trị giá trên năm trăm bảng không?” anh nhân viên hải quan trẻ lịch thiệp hỏi.

“Có,” ông Christopher nói. “Chúng tôi mua hai tấm thảm trong kỳ nghỉ của chúng tôi ở Thổ Nhĩ Kỳ.” Ông ta xuất trình hai tấm hóa đơn biên nhận.

Anh nhân viên hải quan xem các hóa đơn kỹ lưỡng, sau đó xin phép được tự mình xem xét những tấm thảm.

“Chắc chắn rồi,” ông Christopher nói, và bắt đầu công việc tháo dỡ các gói đồ lớn trong lúc bà Margaret làm việc với gói đồ nhỏ hơn.

“Tôi sẽ cần phải để một chuyên gia xem xét những tấm thảm kia,” anh nhân viên hải quan nói khi những gói đồ được cởi bỏ vỏ bọc. “Sẽ không mất quá mấy phút đồng hồ đâu.”

Những tấm thảm nhanh chóng được mang đi chỗ khác.

“Mấy phút” đó biến thành hơn mười lăm phút, ông Christopher và bà Markaret sớm cảm thấy hối tiếc về quyết định giúp đỡ vợ chồng nhà Kendall Hume, bất kể nhu cầu về cuộc lạc quyên năm học mới có cần kíp đến đâu. Họ bắt đầu sa đà vào những chuyện vặt vãnh không đáng và nó không thể qua mắt được những thám tử cho dù là nghiệp dư nhất.

Sau cùng anh nhân viên hải quan quay trở lại.

“Tôi không biết liệu ông bà có thể trao đổi riêng đôi lời với người đồng nghiệp của tôi không?” anh ta hỏi.

“Cái đó có thực sự cần thiết hay không?” ông Christopher hỏi, mặt đỏ lựng lên.

“Tôi e là cần thiết, thưa ngài.”

“Chúng ta lẽ ra đã không nên đồng ý ngay từ ban đầu,” bà Margaret thầm thì. “Trước đây chúng ta chưa bao giờ gặp phải phiền phức với chính quyền bao giờ.”

“Đừng nói nữa, cưng à. Rồi mọi việc sẽ đâu vào đấy, chỉ mấy phút nữa thôi, bà sẽ thấy,” ông Christopher bảo, không tin chắc vào lời nói của chính mình.

Họ đi theo người trẻ tuổi đi ra ngoài về phía đằng sau tòa nhà và bước vào một căn phòng nhỏ.

“Xin chúc một ngày tốt lành, thưa ngài,” một người đàn ông tóc bạch kim, với mấy chiếc vòng vàng đeo quanh cổ tay áo, lên tiếng. “Tôi xin được thứ lỗi vì để các quí vị phải chờ đợi, nhưng viên chuyên gia của chúng tôi xem xét những tấm thảm của quý vị và ông ta cảm thấy chắc chắn đã có một sự nhầm lẫn.”

Ông Christopher muốn lên tiếng phản đối nhưng không thể thốt lên một lời nào.

“Một sự nhầm lẫn ư?” bà Margaret cố gắng thốt lên.

“Vâng, thưa bà. Những hóa đơn mà quý vị xuất trình chẳng có nghĩa lý gì đối với ông ta.”

“Không có nghĩa lý gì sao?”

“Không, thưa bà,” viên quan chức hải quan cao cấp nói. “Tôi nhắc lại, chúng tôi cảm thấy chắc chắn đã xảy ra một sự nhầm lẫn.”

“Nhầm lẫn gì vậy?” ông Christopher hỏi, sau cùng đã lấy lại được sự bình tĩnh.

“À, vâng, quý vị đã khai báo hai tấm thảm, một tấm giá là mười ngàn bảng, và tấm kia có giá là năm trăm bảng, theo những tấm hóa đơn kia.”

“Thì sao?”

“Hàng năm, có hàng trăm người quay trở về nước Anh với những tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ, do đó chúng tôi có những kiến thức nhất định về những vấn đề này. Ông cố vấn của chúng tôi thấy chắc chắn rằng các hóa đơn biên nhận đã bị làm sai.”

“Tôi chưa hiểu mô tê gì hết…” ông Christopher nói.

“Thế này,” viên quan chức cao cấp giải thích, “tấm thảm lớn, chúng tôi tin chắc là nó đã được dệt với một con quay kéo sợi thô và chỉ có hai trăm mối, hay nút chỉ, trong một inch vuông. Nên dù với kích cỡ lớn của nó, chúng tôi chỉ dự đoán giá trị của nó tầm năm ngàn bảng. Tấm thảm nhỏ, chúng tôi tính nó có chín trăm nút chỉ trong một inch vuông, và là một ví dụ tinh xảo của thảm lụa dệt thủ công Hereke giàu truyền thống và chắc chắn có giá trị năm ngàn bảng. Bởi vì cả hai tấm thảm này đều từ cùng một cửa hiệu, chúng tôi cho là chắc có một sự nhầm lẫn nào đó trong việc ghi hóa đơn.”

Vợ chồng nhà Roberts vẫn không thốt lên lời.

“Nó sẽ không tạo ra bất cứ thay đổi nào về số tiền thuế mà ông bà sẽ phải trả, thế nhưng chúng tôi thấy chắc chắn là ông bà muốn biết, vì những mục đích bảo hiểm ấy mà.”

Vợ chồng nhà Roberts vẫn không nói gì.

“Bởi vì các vị được miễn trừ năm trăm bảng không phải trả thuế, số tiền thuế nội địa sẽ vẫn là hai ngàn bảng.”

Ông Christopher nhanh chóng đưa ra tập giấy bạc của vợ chồng nhà Kendall Hume. Viên hải quan cao cấp đếm số giấy bạc trong khi anh nhân viên dưới quyền của ông ta bọc lại hai tấm thảm.

“Xin cảm ơn các anh,” ông Christopher nói, khi họ được trao lại những kiện hàng hóa và hóa đơn biên nhận hai ngàn bảng vừa rồi.

Vợ chồng nhà Roberts nhanh chóng tống cái kiện hàng lớn lên chiếc xe đẩy, đẩy xe đi qua gian phòng đợi lớn của sân bay và ra tới vỉa hè bên ngoài, nơi vợ chồng nhà Kendall Hume đang sốt ruột chờ đợi họ.

“Các vị ở trong đó thật là lâu,” Kendall Hume nói. “Có vấn đề gì không?”

“Không, họ chỉ đánh giá giá trị của những tấm thảm thôi.”

“Có chi phí phụ trội nào không?” Kendall Hume hỏi lo lắng.

“Không, hai ngàn bảng của anh chị đã trang trải tất cả mọi thứ,” ông Christopher nói, đưa ra cái biên lai.

“Vậy là chúng ta thoát rồi, bạn thân mến. Tuyệt quá. Một vụ mua bán quá tuyệt cộng thêm vào bộ sưu tập của tôi.” Kendall Hume xoay người để ấn cái kiện hàng khệ nệ vào trong cốp chiếc xe hơi Mercedes của mình, rồi khóa cốp xe lại và ngồi vào ghế sau tay lái. “Được lắm,” ông ta nhắc lại qua cánh cửa sổ mở, khi chiếc xe lao vút đi. “Tôi sẽ không quên dịp lạc quyên của trường học đâu.”

Vợ chồng nhà Roberts đứng và dõi theo chiếc xe màu xám bạc nhập vào dòng xe hơi rời phi trường.

“Tại sao anh không bảo cho ông Kendall Hume biết giá trị thực tấm thảm của ông ta?” Bà Margaret hỏi khi họ đã ngồi trên chiếc xe buýt.

“Anh đã suy nghĩ khá kỹ, nhưng anh rút ra kết luận rằng sự thật là điều cuối cùng Kendall Hume muốn được nghe.”

“Nhưng anh không cảm thấy một chút tội lỗi nào sao? Suy cho cùng, chúng ta đã phỗng tay trên…”

“Không tí nào đâu, em yêu. Chúng ta chẳng phỗng tay trên cái gì cả. Thế nhưng chúng ta đã vớ được “món hời” trời cho chứ sao nữa.”


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 11.12.2017, 13:50
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35469
Được thanks: 5260 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Trinh thám - Tập truyện ngắn] Bước ngoặt trong câu chuyện - Jeffrey Archer - Điểm: 10
Danh Dự Giữa Những Tên Đại Bịp

Lần đầu tiên tôi gặp Sefton Hamilton là vào dịp cuối tháng tám năm ngoái, lúc đó vợ chồng tôi đang ăn tối với vợ chồng anh Henry và chị Suzanne Kennedy tại ngôi nhà của anh chị trên đường Quảng trường Warwick.

Hamilton là một trong số những người kém may mắn, được thừa hưởng vô số của cải, nhưng chỉ có thế. Anh ta nhanh chóng thuyết phục chúng tôi rằng anh ta có ít thời gian để đọc sách và không có thời gian để đi nhà hát, hay xem nhạc kịch. Tuy nhiên, điều đó không hề gây cản trở cho anh ta có nhiều những ý kiến bàn luận về mọi chủ đề, từ Shaw đến Pavarotti, từ Gorbachev cho tới Picasso.[21] Chẳng hạn, anh ta luôn cho rằng những người thất nghiệp chẳng có điều gì mà phải phàn nàn bởi vì khoản trợ cấp của họ chỉ thấp hơn chút ít so với số tiền mà anh ta đang trả cho những người lao động trong trang trại của mình. Hamilton khẳng định với chúng tôi rằng họ chỉ tiêu nó vào bingo[22] và nhậu nhẹt mà thôi.

Bữa tiệc đã cho tôi làm quen với một vị khách khác của buổi tối hôm đó – ông Freddie Barker – chủ tịch Hiệp hội rượu vang, ông ta ngồi đối diện với vợ tôi, và không giống với Hamilton, ông ta chẳng nói gì nhiều. Trước đó, anh Henry đã quả quyết với tôi trên điện thoại rằng Barker không những đưa được Hiệp hội trở lại sự phồn thịnh về tài chính, mà còn được thừa nhận là một tên tuổi hàng đầu trong lĩnh vực chuyên môn của ông ta. Do vậy, tôi chờ đợi để cóp nhặt những mẩu kiến thức hữu ích và bất cứ khi nào Barker xen vào một lời nào đó, ông ta chỉ để lộ vừa đủ kiến thức về đề tài đang được thảo luận. Tôi tin chắc rằng ông ta sẽ là người rất thú vị nếu Hamilton chỉ cần im lặng đủ lâu để cho ông ta nói.

Trong lúc bà chủ nhà dọn ra món khai vị, thì món súp rau chân vịt tan biến trong miệng các thực khách, anh Henry đi vòng quanh bàn, rót cho mỗi người chúng tôi một ly rượu vang.

Barker hít hà ly rượu đầy tán thưởng: “Thật thích hợp cho dịp lễ kỷ niệm hai trăm năm này, và chúng ta đang được uống thứ Chablis của Australia với niên hiệu tuyệt vời đến thế. Tôi dám chắc rằng những thứ vang trắng của họ sẽ làm cho người Pháp bắt đầu nhìn vào cành nguyệt quế vinh quang của mình.”

“Rượu vang Australia hả?” Hamilton ngỡ ngàng rồi đặt ly rượu xuống. “Làm thế nào mà một dân tộc toàn những gã nốc bia hiểu được cái mô tê gì để chế ra được một thứ rượu vang gọi là tạm chấp nhận được cơ chứ?”

“Tôi nghĩ là anh sẽ thấy,” Barker bắt đầu, “rằng những người Australia…”

“Đúng thực là Lễ kỷ niệm hai trăm năm rồi!” Hamilton tiếp tục. “Nhưng hãy nhìn thẳng vào sự thật là chúng nó chỉ đang tổ chức ăn mừng hai trăm năm tại ngoại thôi.” Không ai cười ngoại trừ Hamilton. “Tôi vẫn cứ đóng gói gửi tất tật lũ tội phạm còn lại của chúng ta sang bên ấy, chỉ cần cho tôi một nửa cơ hội thôi.”

Không ai nói gì.

Hamilton ngập ngừng nhấm nháp chút rượu vang, giống như một người đang sợ sắp sửa bị đầu độc. Rồi anh ta bắt đầu giải thích lý do tại sao, theo quan điểm của mình, những vị quan tòa lại quá khoan dung, độ lượng với những kẻ tội phạm vặt vãnh…

Tôi thấy mình tập trung nhiều vào đồ ăn hơn là vào dòng chảy liên miên của anh chàng này.

Tôi hay thưởng thức món bò Wellington, chị Suzanne có thể nấu món bít tết không hề bị nhão khi cắt, và miếng bít tết mới mềm mại làm sao, đến mức khi người ta đã dùng xong một suất, thì Oliver Twist[23] hiện lên ở trong đầu. Điều này chắc chắn giúp tôi chịu đựng được cái điệu bộ tinh tướng của Hamilton. Barker thì đang cố gắng đưa ra một sự đánh giá tán thưởng chất lượng rất tốt của rượu vang đỏ với anh Henry, xen vào giữa những dòng quan điểm của Hamilton về những thời cơ của Paddy Ashdown nhằm phục hưng đảng Tự do, vai trò của Arthur Scargill trong phong trào nghiệp đoàn và không cho ai một cơ hội nào để trò chuyện.

“Tôi không cho phép các nhân viên của tôi tham gia vào bất cứ nghiệp đoàn nào,” Hamilton tuyên bố, gằn ly rượu xuống. “Tôi kinh doanh một cửa hiệu ‘đóng cửa’”. Anh ta lại cười hô hố tán thưởng câu nói đùa của chính mình và nâng cao chiếc cốc rỗng lên không trung, cứ như thể rồi nó sẽ được rót đầy bởi phép màu nhiệm. Thực tế thì Henry cũng đã rót đầy nó với sự ý nhị đủ để khiến Hamilton phải xấu hổ – nhưng anh ta không nhận ra được điều đó. Trong phút tạm ngừng ngắn ngủi đó, vợ tôi nói rằng có lẽ phong trào nghiệp đoàn đã ra đời để đáp ứng nhu cầu thực tế của xã hội.

“Đó là một điều nhảm nhí, thưa bà,” Hamilton bật lên. “Hãy đặc biệt lưu ý điều này, các nghiệp đoàn đã và đang là những nhân tố đơn lẻ quan trọng nhất trong sự suy sụp của nước Anh. Như chúng ta thấy đấy, họ không hề quan tâm đến bất cứ ai ngoại trừ chính họ. Các vị chỉ cần nhìn vào gã Ron Todd và toàn bộ vụ thất bại của Ford thì sẽ thấy ngay điều đó.”

Chị Suzanne bắt đầu thu dọn bát đĩa và tôi nhận thấy chị tìm cách thúc cho Henry một khuỷu tay, và anh ấy lập tức thay đổi đề tài.

Lát sau, một chiếc bánh hoa đường mâm xôi phủ nước sốt khá đặc biệt được bưng ra. Thật đáng tiếc nếu phải cắt một tuyệt phẩm như thế, nhưng chị Suzanne khéo léo chia nó thành sáu phần đẹp mắt như một bà vú em chia phần cho lũ trẻ nhỏ. Trong lúc đó thì anh Henry bật nắp một chai Sauternes 1981. Barker liếm môi chờ đợi

“Còn một điều nữa,” Hamilton nói. “Thủ tướng đã có quá nhiều những nhân vật hỉ mũi chưa sạch trong nội các của bà ta, điều này làm tôi không thể chịu đựng nổi.”

“Thế anh định thay thế họ bằng ai đây?” Barker ngây thơ hỏi.

Danh sách mà quý ông Hamilton tiến cử cho thấy việc sát hại những con người vô tội chỉ đơn thuần là một việc làm mở rộng của chương trình chăm sóc trẻ em.

Một lần nữa, tôi trở nên hứng thú hơn với tài nấu nướng của chị Suzanne, đặc biệt lúc này chị đã dành cho tôi một điều thú vị: món cuối cùng là món pho mát Cheddar được dọn ra làm món tráng miệng. Vừa nếm, tôi biết ngay là nó được mua từ trang trại của anh em nhà Alvis ở Keynsham. Tất cả mọi người chúng ta đều phải hiểu biết sâu về một cái gì đó, và pho mát Cheddar là chuyên môn của tôi.

Để đi với món pho mát, anh Henry lấy ra một loại rượu bordeau, được dự tính là món nổi bật nhất của tôi hôm đó. “Sandeman 1970,” Henry nói, kéo riêng Barker sang một bên khi anh rót những giọt đầu tiên vào chiếc cốc của nhà chuyên gia.

“Vâng, tất nhiên rồi,” Barker nói, nâng ly lên đặt trước mũi. “Tôi sẽ nhận ra nó ở bất cứ đâu. Độ ấm áp đặc trưng của Sandeman như là có một cơ thể thực. Tôi hy vọng anh đã chôn đi một ít rồi, anh henry à,” ông ta nói thêm. “Anh sẽ lại thưởng thức nó thậm chí còn hứng thú hơn nữa khi anh về già đấy.”

“Anh nghĩ anh là một chuyên gia về rượu vang, phải không nào?” Hamilton nói, câu hỏi đầu tiên mà anh ta hỏi trong suốt cả buổi tối.

“Cũng không hoàn toàn như vây,” Barker nói. “Nhưng mà tôi…”

“Anh, chỉ là một loại bìm bịp, cùng tất tật những loại người như anh,” Hamilton lắp bắp. “Anh hít và anh lắc, anh nếm rồi anh khạc, rồi anh phun ra một đống bầy nhầy, bạc nhạc và trông đợi chúng tôi nuốt trôi cái đó. Cơ thể với hơi ấm cái cóc khô gì. Anh nghĩ có thể lừa tôi dễ vậy sao.”

“Chẳng ai hơi đâu làm thế,” Barker nói hơi bực tức.

“Anh đã làm điệu bộ với chúng tôi suốt cả buổi tối hôm nay,” Hamilton trả lời, “Với cái câu cửa miệng của anh ‘Vâng, tất nhiên rồi, tôi sẽ nhận ra nó ở bất cứ nơi đâu’. Thôi nào, thừa nhận đi.”

“Tôi không có ý đó…” Barker thêm.

“Tôi sẽ chứng minh điều đó, nếu anh thích,” Hamilton bảo.

Cả năm người chúng tôi nhìn chòng chọc vào vị khách khiếm nhã. Và, lần đầu tiên trong buổi tối hôm đó, tôi tự hỏi không biết sẽ xảy ra điều gì nữa đây.

“Tôi đã được nghe nói,” Hamilton tiếp lời, “Rằng lâu đài Sefton Hall lấy làm kiêu hãnh về một trong những hầm rượu vang ngon nhất ở nước Anh. Nó được cha tôi và ông nội tôi gây dựng nên. Mặc dù tôi thừa nhận là không có thời gian để kế thừa truyền thống đó.” – Barker gật gù – “Nhưng mà người quản gia của tôi biết chính xác tôi thích thứ gì. Do đó, tôi xin mời ngài, thưa ngài, đến chỗ tôi thưởng thức bữa trưa vào ngày thứ Bảy tuần sau nữa, khi đó tôi sẽ đưa ra bốn loại rượu vang thuộc loại danh tiếng nhất để các vị xem xét. Và tôi xin đặt cược,” anh ta nhìn thẳng vào Barker nói thêm. “Năm trăm bảng ăn năm mươi bảng một chai. Xét tỉ lệ ăn thua, tôi tin chắc ngài sẽ đồng ý, rằng ngài sẽ không tài nào gọi đúng tên một chai nào.” Anh ta nhìn chòng chọc đầy thách thức vào vị chủ tịch Hiệp hội rượu vang danh tiếng.

“Số tiền đó quá lớn, tôi không thể không xem xét…”

“Không sẵn lòng chấp nhận thách thức à, ngài Barker? Thế thì ngài là, thưa ngài, một tên hèn nhát cũng như một tên bịp bợm.”

Một phút nặng nề trôi qua, Barker trả lời, “Sẽ như ngài mong đợi, thưa ngài. Có vẻ tôi không còn cơ hội nào khác ngoài việc phải chấp nhận lời thách thức của ngài.”

Một nụ cười thỏa mãn hiện lên trên khuôn mặt người kia. “Anh phải đi cùng như một nhân chứng, anh Henry à,” Hamilton bảo, quay sang vị chủ nhà. “Và tại sao anh không kéo theo cả cái ông tác giả Ký thật kia?” anh ta chỉ tay vào tôi nói thêm. “Đến lúc đó anh ta sẽ thực sự có cái gì đó để mà thay đổi cách viết đi một chút.”

Xét thái độ của Hamilton thì rõ ràng là cảm nghĩ của các bà vợ của chúng tôi đều không được lưu ý. Mary nhăn nhó cười chế giễu tôi.

Henry áy náy nhìn tôi, nhưng tôi hoàn toàn hài lòng được là một người quan sát của vở kịch đang hé mở này. Tôi gật đầu đồng ý.

“Tốt,” Hamilton bảo và đứng lên, chiếc khăn ăn vẫn còn nhét dưới cổ áo. “Tôi mong được gặp ba người các vị tại lâu đài Sefton Hall vào thứ Bảy sau nữa. Mười hai giờ ba mươi được không?” Anh ta cúi chào Suzanne.

“Tôi e rằng sẽ không thể dự cùng các anh được,” Suzanne nói, xóa đi bất cứ sự vấn vương nào có thể bao gồm cô ấy trong lời mời. “Tôi luôn dùng bữa trưa với mẹ tôi vào các ngày thứ Bảy.”

Hamilton phẩy tay cho thấy rằng điều đó dù sao cũng không ảnh hưởng gì tới anh ta.

Sau khi vị khách kì khôi đã đi khỏi, chúng tôi ngồi yên lặng một lúc trước khi Henry đưa ra một lời xin lỗi. “Tôi lấy làm tiếc về tất cả những chuyện này. Bà mẹ của anh ta và bà dì tôi là bạn cũ, bà ấy đã yêu cầu tôi mời anh ta đến ăn tối cũng mấy lần. Có vẻ như là không có ai muốn làm việc này.”

“Đừng ái ngại,” sau cùng Barker bảo. “Tôi sẽ cố gắng hết sức để không làm các bạn phải thất vọng. Và để đáp lại tấm thịnh tình này, hai bạn có thể thu xếp thời gian rỗi được vào tối thứ Bảy không?” ông ta giải thích. “Có một tiệm ăn gần lâu đài Sefton Hall tôi đã muốn ghé thăm lâu nay, đó là tiệm Hamilton Arms. Tôi cho là đồ ăn ở đó thì trên mức trung bình, nhưng mà thực đơn rượu vang thì…” ông ta do dự, “được các chuyên gia đánh giá là nổi trội đấy.”

Henry và tôi đều kiểm tra lại lịch trình làm việc và sẵn sàng nhận lời mời.

***

Tôi suy nghĩ khá nhiều về Sefton Hamilton suốt trong mười ngày sau đó và chờ đợi bữa ăn trưa của chúng tôi với tâm trạng vừa e ngại vừa háo hức.

Buổi sáng thứ Bảy, Henry lái xe đưa ba chúng tôi tới vườn Sefton, chúng tôi tới nơi quá mười hai giờ ba mươi một chút. Thực ra chúng tôi đi qua chiếc cổng sắt tây được rèn bề thế đúng lúc mười hai giờ ba mươi, nhưng tới được cửa trước ngôi nhà thì đồng hồ chỉ mười hai giờ ba mươi bảy phút.

Cánh cửa lớn bằng gỗ sồi được một người đàn ông cao, dáng thanh nhã, mặc áo đuôi tôm cổ lớn và thắt nơ đen mở ra trước khi chúng tôi gõ cửa. Ông ta giới thiệu mình là Adams, người quản gia. Rồi ông ta hộ tống chúng tôi tới một gian phòng sáng sủa. Chúng tôi được chào đón bởi một lò sưởi đốt củi, phía bên trên đống lửa treo một bức tranh chân dung một người đàn ông trông khó ưa, người mà tôi đồ là ông nội của Sefton Hamilton. Trên những bức tường khác là một tấm thảm cực lớn mô tả trận đánh Waterloo và một bức sơn dầu khổng lồ về Cuộc chiến tranh Krym[24]. Những đồ cổ rải rác khắp căn phòng và có một bức tượng được trưng bày – một lực sỹ Hy Lạp đang ném đĩa. Nhìn quanh phòng, tôi chợt có ý nghĩ là chỉ có chiếc máy điện thoại thuộc về thế kỷ này mà thôi.

Sefton Hamilton xông vào phòng như một cơn bão đánh vào một thị trấn ven biển buồn chán. Ngay tức thì, anh ta đứng quay lưng lại ngọn lửa, che chắn hết mọi luồng hơi ấm mà chúng tôi đang thưởng thức.

“Whisky!” Anh ta gào lên khi Adams một lần nữa xuất hiện. “Barker?”

“Đừng rót cho tôi,” Barker nói với nụ cười nhạt.

“Ồ,” Hamilton nói. “Ông muốn giữ vị giác được nhạy cảm nhất đó ư?”

Barker không trả lời. Trước khi ăn trưa, chúng tôi được giới thiệu về khu bất động sản có diện tích hai ngàn tám trăm hectare và có một số hoạt động săn bắn tuyệt vời nhất ở bên ngoài xứ Scotland. Lâu đài có một trăm mười hai phòng, một hai phòng trong số đó Hamilton chưa hề lui tới kể cả khi anh ta còn là một cậu bé. Sau cùng anh ta đảm bảo với chúng tôi rằng chỉ riêng cái mái lâu đài thôi cũng rộng 0,6 hectare, một con số sẽ đọng lại lâu dài trong trí óc tôi, bởi vì diện tích của nó vừa đúng bằng khu vườn của nhà tôi.

Chiếc đồng hồ hộp dài trong góc phòng điểm chuông một giờ. “Đã đến giờ cuộc thi bắt đầu,” Hamilton tuyên bố và nghễu nghện đi ra khỏi căn phòng, như một vị tướng cho rằng những lính tráng của ngài sẽ đi theo sau vô điều kiện.

Chúng tôi đi theo, suốt quãng đường ba mươi mét dọc theo hành lang dẫn tới phòng ăn. Rồi bốn người chúng tôi ngồi xuống quanh một chiếc bàn gỗ sồi thế kỷ mười bảy có thể chứa thoải mái hai mươi người.

Trang trí ở giữa bàn là hai bình đựng rượu pha lê kiểu Georgian và hai cái chai không có nhãn mác. Chai thứ nhất chứa đầy một thứ rượu vang trắng, trong vắt, bình đựng rượu thứ nhất chứa một thứ vang đỏ. Chai thứ hai chứa một thứ rượu vang trắng đậm hơn, và chiếc bình đựng rượu thứ hai có một chất rượu đỏ nâu. Phía trước bốn loại rượu vang này là bốn tấm thiếp trắng. Bên cạnh mỗi tấm thiếp là một thếp mỏng những tờ bạc năm mươi bảng.

Hamilton ngồi xuống chỗ của mình trong chiếc ghế lớn tại đầu bàn, Barker và tôi ngồi đối diện nhau ở giữa bàn, đối mặt với đám rượu vang, Henry chiếm chỗ ngồi cuối cùng, phía xa của chiếc bàn.

Người quản gia đứng cách một bước chân phía sau lưng ông chủ. Ông ta gật đầu và bốn người hầu xuất hiện, mang theo món ăn đầu tiên. Món cá và pa-tê tôm hùm dọn ra trước mặt mỗi người. Adams nhận được một cái gật đầu từ ông chủ, liền nhấc chai rượu đầu tiên lên và bắt đầu rót vào ly của Barker. Barker đợi cho người quản gia đi vòng quanh chiếc bàn và rót đầy ba ly rượu khác rồi ông ta mới bắt đầu thực hiện trình tự phán đoán.

Đầu tiên Barker lắc tròn ly rượu, cùng lúc đó xem xét nó một cách kỹ lưỡng. Rồi ông ta hít ngửi nó. Ông ta hơi chần chừ và một nét ngạc nhiên thoáng hiện trên khuôn mặt. Ông ta nhắp một hơi.

“Hừm,” sau cùng Barker nói. “Tôi xin thú thực, đây quả là một thử thách.” Ông ta lại hít lại để chắc chắn thêm. Rồi ông ta nhìn lên và mỉm cười thỏa mãn. Hamilton chằm chằm nhìn Barker, miệng hơi hé mở, cho dù anh ta vẫn yên lặng khác thường.

Barker lại nhấp thêm một hớp. “Montagny Tête de Cuvée 1985,” ông ta tuyên bố với một sự tự tin của một chuyên gia. “Louis Latour đóng chai”. Tất cả chúng tôi đều hướng về Hamilton, trông sắc mặt anh ta khá căng thẳng, lộ vẻ không tán thành.

“Ngài đúng rồi,” Hamilton nói. “Nó do Latour đóng chai. Nhưng mà điều đó rõ ràng như thể bảo với chúng ta rằng Heinz đóng chai nước sốt cà chua. Và bởi vì cha tôi mất vào 1984 nên tôi có thể cam đoan với ngài rằng, thưa ngài, ngài đã sai rồi.”

Anh ta nhìn viên quản gia để khẳng định câu nói. Khuôn mặt của Adams vẫn bí hiểm. Barker lật tấm thiếp lên. Trên đó đề: “Chevalier Montrachet les Demorselles 1983”. Ông nhìn chòng chọc vào tờ giấy, có thể thấy được ông không tin vào mắt mình.

“Một sai và còn lại ba để chơi tiếp,” Hamilton tuyên bố như không hề nhận thấy phản ứng của Barker. Những người hầu lại xuất hiện và mang đi các đĩa đựng cá, và sau giây lát họ thế vào đó món gà gô trắng nấu tái. Trong lúc đồ uống đi kèm với nó đang được phục vụ, Barker không nói năng gì. Ông ta chỉ nhìn chăm chăm vào ba cái bình đựng rượu còn lại, thậm chí không nghe thấy vị chủ nhà của mình nói với Henry về các vị khách của anh ta sẽ là những ai trong cuộc săn đầu tiên của mùa săn vào tuần lễ sau đó. Tôi nhớ rằng những cái tên đó khá trùng hợp với tên những nhân vật mà Hamilton đã đề xuất cho Nội các lý tưởng của anh ta.

Barker nhấm nháp món gà gô trong khi chờ đợi Adams rót đầy ly rượu từ chiếc bình thứ nhất. Ông chưa dùng xong món pa-tê sau khi phán đoán đầu tiên bị sai mà chỉ thỉnh thoảng nhấp nước lọc.

“Vì Adams và tôi đã bỏ ra thời gian đáng kể buổi sáng của chúng tôi để lựa chọn một số loại vang cho cuộc thách đố nhỏ này, chúng tôi hy vọng lần này ông có thể làm tốt hơn,” Hamilton nói, không giấu nổi sự thỏa mãn.

Barker một lần nữa lại bắt đầu lắc tròn ly rượu vang. Lần này ông ta dường như mất nhiều thời gian hơn, hít ngửi chất rượu mấy lần trước khi đưa miệng ly chạm vào môi và sau cùng nhấm nháp nó.

Một nụ cười lập tức nở trên khuôn mặt Barker, và ông không do dự: “Château la Louvière 1978.”

“Lần này ngài đã nói đúng năm, thưa ngài, thế nhưng ngài đã xúc phạm loại rượu vang này.”

Lập tức Barker lật tấm thiếp lên và đọc một cách nghi hoặc: “Château Laffite 1978.”

Thậm chí ngay cả tôi cũng biết đây là một trong những loại vang đỏ xịn nhất mà người ta có hy vọng được nếm. Barker rơi vào một trạng thái yên lặng nặng nề và tiếp tục nhấm nháp thức ăn. Hamilton có vẻ như đang tận hưởng chất rượu một cách ngất ngây cũng y như thưởng thức tỷ số hiệp một.

“Một trăm bảng về tôi, không có gì cho ông chủ tịch Hiệp hội rượu vang,” Anh ta nói với chúng tôi.

Bối rối quá, anh Henry và tôi cố gắng giữ cho cuộc nói chuyện tiếp tục cho đến khi món thứ ba được dọn ra – một món sufflet chanh, nó không thể nào so sánh được về hình thức, hoặc sự tinh tế với bất cứ món nào chị Suzanne đã chiêu đãi chúng tôi.

“Chúng ta bước vào cuộc thách đố thứ ba của tôi chứ nhỉ?” Hamilton hỏi đắc thắng.

Adams lại nhấc lên một bình rượu và bắt đầu rót. Tôi ngạc nhiên nhận thấy ông ta để sánh ra chút ít trong khi rót vào ly của Barker.

“Đừng vụng về như vậy,” Hamilton gắt gỏng.

“Tôi thành thật xin lỗi, thưa ngài,” Adams nói. Ông ta lau đi những giọt rượu sánh ra chiếc bàn gỗ bằng một chiếc khăn ăn. Trong lúc làm việc này, ông ta nhìn chăm chăm vào Barker với một nỗi tuyệt vọng mà tôi tin chắc không hề liên quan đến việc làm sánh rượu ban nãy. Tuy nhiên, ông ta vẫn câm lặng khi tiếp tục đi vòng quanh bàn.

Lại một lần nữa Barker thực hiện các trình tự, lắc tròn, hít ngửi và sau cùng là nếm thử. Lần này ông ta còn lâu hơn nữa. Hamilton trở nên sốt ruột và gõ gõ các ngón tay mập mạp lên mặt chiếc bàn vĩ đại kiểu Jacob.

“Nó thuộc về dòng Sauternes,” Barker bắt đầu.

“Bất cứ tay ấm ớ nào cũng có thể cho ta biết điều đó,” Hamilton nói. “Tôi muốn biết năm và tên tuổi của nó.”

Vị khách của anh ta do dự.

“Château Guireaud 1976,” Barker nói quả quyết.

“Ít nhất thì anh cũng nhất quán,” Hamilton nói. “Anh luôn luôn sai”

Barker lật tấm thiếp lên.

“Château d’Yquem 1980,” ông bật ra đầy hoài nghi.

Đây là một cái tên mà tôi mới chỉ trông thấy ở cuối các thực đơn uống tại các nhà hàng sang trọng, và chưa bao giờ có đặc quyền được nếm thử. Tôi cực kỳ bối rối về việc ông Barker có thể nhầm lẫn về nàng Monalisa của rượu vang.

Barker liền hướng về Hamilton để phản đối, và chắc là trông thấy Adams đang đứng đằng sau ông chủ, cả thân hình một mét chín mươi của ông ra run rẩy, ngay đúng lúc tôi trông thấy. Tôi muốn Hamilton rời ngay khỏi căn phòng để tôi có thể hỏi Adams điều gì đang làm ông ta sợ hãi đến như thế, nhưng mà chủ nhân của lâu đài Sefton Hall lúc này đang phấn khích tột độ.

Trong lúc đó, Barker nhìn chòng chọc vào người quản gia thêm chút nữa, và thấy sự mất bình tĩnh của ông ta, ông cụp mắt xuống và không góp thêm chuyện gì vào cuộc đàm luận cho đến khi một lần nữa chất rượu vang đỏ porto được rót ra, quãng hai mươi phút sau đó.

“Cơ hội cuối cùng để giúp ông tránh khỏi nhục nhã hoàn toàn,” Hamilton nói.

Một mâm pho mát được đem ra, bày trên đó là mấy loại khác nhau, và mỗi vị khách tự chọn lấy cho mình. Tôi chọn món pho mát Cheddar và có thể nói với Hamilton là nó không được làm từ vùng Somerset.

Trong lúc này rượu porto được viên quản gia rót ra, thân hình ông ta lúc này trắng bệch như tờ giấy. Tôi phân vân liệu ông ta có sắp ngất xỉu đi hay không, nhưng mà dù sao ông ta cũng cố gắng rót đầy được bốn chiếc ly trước khi quay trở lại đứng cách một bước chân đằng sau lưng ghế của ông chủ. Hamilton thì không nhậy thấy có điều gì bất thường.

Barker uống li rượu porto, không chú ý đến các bước mở đầu như trước nữa.

“Taylors,” ông mở đầu.

“Đồng ý,” Hamilton nói. “Nhưng bởi vì chỉ có ba nhà cung cấp rượu vang porto đáng kể trên thế giới, năm tháng mới là điều quan trọng – như ông, ở địa vị cao quý của ông, chắc phải biết rõ, ông Barker.”

“Một ngàn chín trăm bảy nhăm,” Barker nói quả quyết rồi lanh lẹ lật ngửa tấm thiếp lên: “Taylors 1927”.

Lại một lần nữa Barker quay ngoắt về phía ông chủ nhà đang cười lớn rung cả người. Người quản gia liếc nhìn vị khách của ông chủ với ánh mắt như bị ma ám. Barker chỉ hơi do dự rồi rút ra một cuốn séc từ túi áo trong. Ông ta điền tên “Sefton Hamilton” vào, và con số 200 bảng. Ông ta ký tên và không nói một lời, chuyển tờ séc dọc chiếc bàn cho chủ nhà.

“Đó mới chỉ là một nửa cuộc mặc cả,” Hamilton nói, thưởng thức từng giây phút của kẻ chiến thắng.

Barker đứng lên, hơi chần chừ, nói: “Tôi là một kẻ bịp bợm.”

“Ngài quả thực đúng là như vậy, thưa ngài,” Hamilton nói.

Sau khi đã tiêu tốn ba tiếng đồng hồ khó chịu nhất trong cuộc đời mình, tôi đã thoát khỏi nơi đó cùng với Henry và Freddie Baker vào lúc hơn bốn giờ một chút. Trong lúc Henry lái xe rời khỏi lâu đài Sefton Hall, không ai trong chúng tôi thốt nên lời nào. Có lẽ cả hai chúng tôi cảm thấy rằng nên dành những lời bình luận đầu tiên cho Barker.

“Tôi e rằng, thưa các ông,” Sau cùng ông ta nói. “Tôi sẽ không phải là người đồng hành tốt trong mấy giờ sắp tới, và vì vậy tôi xin phép các vị, được đi dạo một đoạn ngắn và sẽ gặp lại cả hai người để ăn tối tại tiệm Hamilton Arms quãng bảy giờ ba mươi. Tôi đã đặt sẵn một bàn vào lúc tám giờ.”

Không nói thêm một lời nào, Barker ra hiệu cho Henry dừng xe, chúng tôi dõi theo ông ta bước ra và hướng tới một con đường làng. Henry dừng xe khi người bạn của anh đã hoàn toàn khuất dạng.

Tôi hết sức thông cảm với Barker, cho dù toàn bộ câu chuyện vẫn làm tôi băn khoăn. Làm sao một ông chủ tịch Hiệp hội rượu vang lại có thể vấp phải những sai lầm cơ bản đến như thế? Bởi vì, tôi có thể đọc một trang của Dickens[25] và biết rằng nó không phải là của Graham Green[26].

Cũng giống như bác sĩ Watson[27], tôi cảm thấy tôi cần có một sự giải thích đầy đủ hơn.

***

Barker nhận thấy chúng tôi đang ngồi bên đống lửa trong một góc kín đáo của tiệm rượu Hamilton Arms lúc hơn bảy giờ ba mươi vào buổi tối hôm đó. Sau khi đi bộ, ông ta xuất hiện trong khí sắc tốt hơn rất nhiều. Ông ta nói chuyện không đâu vào đâu và không hề nhắc đến những điều đã xảy ra vào bữa ăn trưa.

Mấy phút sau, khi quay sang xem giờ ở chiếc đồng hồ cổ treo ở phía trên cánh cửa, thì tôi trông thấy viên quản gia của Hamilton ngồi bên quầy rượu, đang sốt sắng chuyện trò với ông chủ tiệm. Lẽ ra tôi đã không nghĩ gì đến chuyện đó nếu tôi không nhận thấy vẫn cái vẻ sợ hãi mà tôi đã chứng kiến ban nãy lúc buổi chiều, khi ông ta chỉ tay về phía chúng tôi. Ông chủ tiệm cũng có vẻ lo lắng tương tự, cứ như thể ông ta bị một nhân viên thuế quan phát hiện phạm tội trốn lậu thuế.

Ông ta nhặt lên một thực đơn và bước tới bên bàn chúng tôi.

“Chúng tôi không cần những cái đó,” Barker nói. “Tiệm của các anh đã rất nổi tiếng. Tùy các anh, bất cứ món gì các anh phục vụ chúng tôi đều rất hân hạnh được thưởng thức.”

“Xin cảm ơn, thưa ngài,” Ông chủ tiệm nói và đưa cho ông chủ tiệc của chúng tôi tấm thực đơn rượu vang.

Barker xem nội dung bên trong tấm bìa da bọc lấy thực đơn một lúc, rồi ông ta tươi tắn nở một nụ cười.

“Tôi nghĩ tốt hơn là anh cũng nên lựa chọn hộ cả rượu vang nữa,” Ông bảo. “Bởi vì tôi có cảm giác anh biết loại rượu mà tôi sẽ chọn.”

“Tất nhiên rồi, thưa ngài,” Ông chủ tiệm nói, khi Freddie đưa trả lại thực đơn rượu vang. Điều này làm cho tôi hoàn toàn ngạc nhiên, nhớ rằng đây là chuyến viếng thăm đầu tiên của Barker tới tiệm ăn này.

Ông chủ tiệm đi vào trong bếp trong lúc chúng tôi tán gẫu, và quay trở lại sau chừng mười lăm phút.

“Bàn của các vị đã sẵn sàng, thưa các quý ngài,” Ông ta nói.

Chúng tôi theo sau ông ta bước vào một phòng ăn liền cửa. Chỉ có khoảng hơn một chục chiếc bàn, nhưng bởi vì bàn của chúng tôi là chiếc bàn trống cuối cùng, nên chắc tiệm ăn này rất đắt khách.

Ông chủ tiệm đã chọn một món súp nước dùng nhẹ, sau đó là những lát thịt vịt mỏng, cứ như thể ông ta đã biết chắc rằng chúng tôi sẽ không thể ăn một bữa thịnh soạn nữa sau bữa ăn trưa tại lâu đài.

Tôi cũng ngạc nhiên nhận thấy rằng tất cả những loại rượu vang ông ta chọn đều được phục vụ trong những bình đựng pha lê. Do đó, tôi cho rằng ông chủ tiệm đã lựa chọn những loại rượu vang của bản tiệm. Khi mỗi loại rượu được rót ra và uống, tôi thừa nhận rằng, đối với khẩu vị tự nhiên không sành lắm của mình, chúng có vẻ quá xuất sắc hơn những thứ mà tôi đã được uống tại lâu đài Sefton Hall. Barker chắc chắn đã nâng niu thưởng thức từng hớp rượu đầy và một lần đã thốt lên đầy tán thưởng: “Đây mới đúng là loại McCoy thứ thiệt.”

Cuối buổi tối hôm đó, khi bàn ăn đã được dọn đi, chúng tôi thư giãn, thưởng thức một thứ vang porto tuyệt hảo và hút xì gà.

Đến lúc này, lần đầu tiên Henry mới đả động đến Hamilton: “Liệu anh có thể nói cho chúng tôi biết về điều bí ẩn gì thực sự đã xảy ra tại bữa ăn trưa này không?” Anh hỏi.

“Bản thân tôi cũng chưa hoàn toàn chắc chắn,” Barker trả lời. “Thế nhưng tôi biết chắc một điều là ông bố của Hamilton là một người biết rõ rượu vang của mình, trong khi anh con trai ông ta thì không.”

Lẽ ra tôi đã thúc Barker nói thêm nữa về điều đó nếu như lúc đó ông chủ tiệm không đến bên cạnh ông ta.

“Một bữa ăn tuyệt vời,” Barker tuyên bố. “Còn về phần rượu vang thì thật là đặc biệt.”

“Ngài thật tốt bụng, thưa ngài,” Ông chủ tiệm nói khi ông ta đưa hóa đơn tính tiền.

Tính tò mò đã xâm chiếm tôi, và tôi rất tiếc phải thú nhận rằng tôi đã liếc mắt nhìn xuống cuối mẩu hóa đơn. Tôi không thể tin vào mắt mình nữa vì hóa đơn lên tới hai trăm bảng Anh.

Barker chỉ bình luận một câu khiến tôi quá kinh ngạc: “Rất phải chăng,” Ông ta viết một tờ séc và đưa nó cho ông chủ tiệm, “tôi chỉ được nếm rượu vang Château d’Yquem 1980 có một lần trước ngày hôm nay,”. Ông nói thêm. “Và Taylors 1927 thì chưa bao giờ.”

Ông chủ tiệm mỉm cười: “Tôi hy vọng ngài tán thưởng cả hai thứ, thưa ngài. Tôi cảm thấy chắc chắn rằng ngài không muốn thấy chúng bị bỏ phí bởi một kẻ bịp bợm.”

Barker gật đầu tán thành.

Tôi dõi theo ông chủ tiệm rời khỏi phòng ăn và quay trở lại chỗ của ông ta phía sau quầy rượu.

Ông ta đưa tờ séc cho viên quản gia Adams, ông này xem xét nó trong giây lát, mỉm cười và xé vụn nó ra thành những mảnh nhỏ.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 14 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Hiện đại] Làm thế nào để ngừng nhớ anh - Mộng Tiêu Nhị

1 ... 35, 36, 37

2 • [Xuyên không] Khi vật hi sinh trở thành nữ chính - Tư Mã Duệ Nhi

1 ... 28, 29, 30

3 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 149, 150, 151

4 • [Cổ đại] Kiêu Tế - Quả Mộc Tử

1 ... 46, 47, 48

5 • [Xuyên không] Cuộc sống nông thôn nhàn rỗi - Kẹo Vitamin C

1 ... 108, 109, 110

6 • [Cổ đại] Nô gia không hoàn lương - Cật Thanh Mai Tương Nha

1 ... 20, 21, 22

7 • [Xuyên không - Cổ xuyên hiện] Ảnh hậu đối mặt hàng ngày - Ngã Yêu Thành Tiên

1 ... 37, 38, 39

8 • [Hiện đại] Cướp tình Tổng giám đốc ác ma rất dịu dàng - Nam Quan Yêu Yêu

1 ... 64, 65, 66

9 • [Xuyên không - Dị giới] Phế sài muốn nghịch thiên Ma Đế cuồng phi - Tiêu Thất Gia - New C891

1 ... 128, 129, 130

10 • [Hiện đại] Hôn nhân giá ngàn vàng - Cẩm Tố Lưu Niên (103/104]

1 ... 181, 182, 183

11 • [Hiện đại] Eo thon nhỏ - Khương Chi Ngư [NEW C66]

1 ... 24, 25, 26

12 • [Cổ đại - Trùng sinh] Đích nữ nhà nghèo Bán phở heo

1 ... 9, 10, 11

13 • [Xuyên không Dị giới] Phượng nghịch thiên hạ - Lộ Phi (Phần 1)

1 ... 176, 177, 178

14 • [Xuyên không] Vương phi thần trộm Hưu phu lúc động phòng! - Thủy Mặc Thanh Yên

1 ... 82, 83, 84

[Cổ đại - Trùng sinh] Trọng sinh cao môn đích nữ - Tần Giản

1 ... 137, 138, 139

16 • [Xuyên không] Trôi nổi trong lãnh cung Khuynh quốc khí hậu - Hoa Vô Tâm

1 ... 75, 76, 77

17 • [Hiện đại] Cục cưng lật bàn Con là do mẹ trộm được? - Ninh Cẩn

1 ... 87, 88, 89

18 • [Hiện đại] Xin chào Chu tiên sinh! Dạ Mạn

1 ... 27, 28, 29

19 • [Xuyên không] Hỉ doanh môn - Ý Thiên Trọng

1 ... 105, 106, 107

20 • [Cổ Đại Huyền Huyễn] Chiêu Diêu - Cửu Lộ Phi Hương

1 ... 27, 28, 29


Thành viên nổi bật 
Eun
Eun
Puck
Puck
Nminhngoc1012
Nminhngoc1012
Trà Mii
Trà Mii
Alexandra Do
Alexandra Do
Mẹ Bầu
Mẹ Bầu

Shop - Đấu giá: canutcanit vừa đặt giá 248 điểm để mua Áo sơ mi nam
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 909 điểm để mua Cặp nhẫn kim cương
Shop - Đấu giá: Sư Tử Cưỡi Gà vừa đặt giá 250 điểm để mua Quà sinh nhật
Lãnh Băng Hy: Hi
Shop - Đấu giá: thienbang ruby vừa đặt giá 248 điểm để mua Hoa cúc trắng
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 3433 điểm để mua Đá Peridot
Tuyền Uri: Thông báo: Các chị (bạn) đang edit/ sáng tác tại box Tiểu thuyết CHƯA HOÀN vui lòng cập nhật mục lục truyện. Thời gian từ 19/10/2018 đến 23/10/2018. Xin trân trọng cảm ơn :thanks:
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 702 điểm để mua Hoa anh đào
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 3268 điểm để mua Đá Peridot
Mía Lao: Ăn ở :v
Cô Quân: Vật phẩm hêts hạn hết cả r :cry:
Cô Quân: Sao bây giờ tui nghèo thế này hả trời  :cry:
Cô Quân: Ed ở đây vì đam mê và sở thích là PHI LỢI NHUẬN bạn à
thuy_ngan: chào các bn, ácc bạn cho mình hỏi có công việc làm thêm nào liên quan đến edit ko vậy? nếu có hãy gửi thư trực tiếp cho mk nha.
Shop - Đấu giá: Minh Huyền Phong vừa đặt giá 250 điểm để mua Couple
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 667 điểm để mua Hoa anh đào
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 3111 điểm để mua Đá Peridot
Shop - Đấu giá: susublue vừa đặt giá 2961 điểm để mua Đá Peridot
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 637 điểm để mua Cổ vũ
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 1090 điểm để mua Hộp quà Hamster
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 294 điểm để mua Thỏ tắm nắng
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 1732 điểm để mua Hamster lêu lêu
thuyvu115257: Hi Hoa Hồng
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 634 điểm để mua Hoa anh đào
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 1037 điểm để mua Hộp quà Hamster
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 605 điểm để mua Cổ vũ
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 279 điểm để mua Thỏ tắm nắng
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 1648 điểm để mua Hamster lêu lêu
Lãng Nhược Y: Viết cho người phụ nữ tôi thương Mọi người hãy vào bình chọn cho các bạn nào :D5 Ai có số bình chọn nhiều nhất sẽ nhận quà nha :kiss3:
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 602 điểm để mua Hoa anh đào

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.