Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 19 bài ] 

Đêm giới nghiêm - Basharat Peer

 
Có bài mới 14.11.2017, 10:10
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35423
Được thanks: 5254 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tâm lý XH] Đêm Giới Nghiêm - Basharat Peer - Điểm: 10
12

Những người anh hùng


Trời đang vào đông. Chiếc lá cuối cùng trên cây dâu tằm ngoài cửa sổ phòng tôi đã rụng và những đám mây thì xám mờ ảm đạm. Thành phố Srinagar dường như đã thu mình lại, lùi vào thế giới nội tâm, như một người đàn ông trung niên hốt hoảng thấy mình có thêm một sợi tóc bạc khi soi gương buổi sáng. Sự quạnh quẽ của ngoại cảnh phản chiếu cảm giác cô quạnh trong lòng tôi. Buổi trưa tôi đọc sách và cố gắng viết vào buổi tối. Nhưng có một độ vênh giữa những trải nghiệm tôi đang cố gắng thẩm thấu và việc viết thành văn. Tôi bực bội rồi trở nên cau có và thỉnh thoảng gây gổ rất vô lý với bạn bè. Tôi gọi điện cho Shahid. Chúng tôi hẹn gặp nhau tại quán cà phê yêu thích gần trung tâm thành phố. “Điều đó rất phổ biến đối với những người tiếp xúc với nạn nhân của những thảm kịch,” Shahid nói và gợi ý là tôi đừng cố viết gì trong vài tuần lễ.

“Làm vậy không có ích gì hết. Rốt cuộc tớ cũng phải viết.”

“Vậy thì nên nhớ là những người như tớ với cậu thuộc một số ít may mắn ở Kashmir. Môi trường xuất thân đã che chắn cho chúng ta khỏi rất nhiều thứ. Chúng ta được học hành đàng hoàng và có thể tạo dựng một sự nghiệp. Chúng ta có thể đi khỏi chỗ này bất cứ khi nào.” Cậu ngừng một lát rồi hỏi, “Không phải cậu đã từng rời khỏi đây sao?” Shahid chưa bao giờ rời Kashmir. Cậu học y tại một trường đại học ở Srinagar. Lời nhận xét của cậu nghe như một lời cáo buộc.

“Tớ đã quay về, Shahid. Tớ không quên bất cứ cái gì khi ở xa. Tớ trở về để viết về Kashmir,” tôi hét lên.

“Vậy thì đối diện với sự thật đi! Đừng có bỏ chạy mỗi lần nghe những chuyện làm cậu vật vã,” cậu ta bắt bẻ tôi. Chúng tôi ngồi uống cà phê và hút thuốc lá mà không nói một lời. Sau vài phút, cậu dập thuốc và nói, “Tớ xin lỗi. Tớ biết chuyện này rất khó khăn. Tớ còn không thể thuyết phục anh Hussein nói về những khó khăn của anh ấy. Ở đây tớ là bác sĩ. Nhưng tớ đang nói với tư cách một người bạn.”

Chúng tôi gọi thêm cà phê và Shahid tiếp tục nói. “Nó xảy ra với tất cả những người gắn bó mật thiết với mảnh đất này. Khi tớ được phân về khoa cấp cứu, người ta thường đem biết bao nhiêu người bị thương đến mỗi ngày. Có khi bọn tớ cứu được họ. Cũng có lúc họ chết ngay trên bàn mổ. Tớ đã từng khóc trong phòng mình sau những cái chết như vậy. Nó ảnh hưởng đến công việc của tớ. Tao muốn chuyển đi nên đã tâm sự với một bác sĩ già dặn kinh nghiệm. Ông ấy bảo rằng bọn tớ phải biết mình không thể cứu sống được tất cả, thế nhưng bọn tớ vẫn phải cố gắng để trở thành những bác sĩ giỏi hơn.” Shahid đã đối mặt với nỗi sợ hãi và tiếp tục làm việc tại khu cấp cứu. Tôi cũng phải đương đầu với những bóng ma của mình.

Tôi đi bộ về nhà cha mẹ, lại nghĩ về những người mà tôi không làm sao viết về họ được, về những nơi tôi đã trì hoãn việc thăm viếng bởi tôi sợ chạm vào nỗi đau đớn. Tôi nghĩ đến Mubeena Ghani, một phụ nữ sống tại một ngôi làng phía nam Kashmir, cách quê tôi một giờ đồng hồ, người tôi đã được nghe kể hồi ở trung học. Vào tháng Năm 1990, sau khi làm đám cưới được vài giờ, chị đã bị một nhóm lính của lực lượng bán quân đội Ấn Độ hãm hiếp.

Sau này khi lên đại học, tôi đọc được những mẩu truyện ngắn của Saadat Hussein Manto, người chép sử bậc thầy về bạo lực ở tiểu lục địa. Ông Manto đã viết một loạt bài phác họa rất hùng hồn về sự xung đột giữa các giáo phái theo sau việc chia cắt đất nước Ấn Độ thuộc Anh quốc thành Ấn Độ và Pakistan. Trong một câu chuyện có nhan đề “Khol Do” (Mở ra), ông kể về một người cha tìm thấy đứa con gái của mình trong một phòng bệnh viện vài ngay sau khi cô bị mất tích trong vụ xung đột giáo phái. Ông bác sĩ nhờ người cha mở cửa sổ cho con gái. Khi cô bé nghe hai từ khol do của ông bác sĩ, cô tụt quần mình xuống. Cô bé đã bị hãm hiếp nhiều đến nỗi liên tưởng từ khol do với lệnh cởi bỏ quần áo của kẻ hãm hiếp mình.

Mùa xuân năm 2002, từ Delhi tôi đã đến Kashmir để làm phóng sự. Sau khi hoàn tất những báo cáo tin tức, tôi đi tìm chị Mubeena. Tôi được biết chị và người chồng tên là Rashid Malik đang sống tại làng Chawalgam, cách làng của tôi một giờ đồng hồ. Sáng hôm sau tôi bắt taxi đến Chawalgam. Trong chợ làng, hàng quán treo đầy các biển quảng cáo Coke và bánh quy Parle. Một chủ tiệm chỉ đường cho tôi vào con hẻm hẹp, cuối hẻm là một tiệm bánh. Ông thợ làm bánh đang nhồi bột trong một cái thau gỗ to. “Anh Rashid Malik sống ở đâu vậy?” tôi hỏi.

Ông thợ làm bánh dừng lại và nói, không rời tay khỏi cục bột, “Anh muốn hỏi người có cô dâu bị hiếp phải không? Anh là nhà báo hả?” Ông ấy chỉ vào một túp lều giống như một ngôi nhà, làm bằng gạch thô và gỗ. Sợi dây kẽm rỉ sét được neo vào những cành dương làm thành hàng rào của ngôi nhà. Mấy miếng nhựa poly thay cho kính cửa số và những bó rơm rạ xếp trên vài miếng gỗ sần sùi làm thành mái nhà. Có một con bò nâu bị cột ở góc sân và một đứa bé đang chơi với mấy cành cây trên cầu thang. Tôi đứng bên ngoài căn nhà, cảm thấy mình là người xâm phạm gia cư. Tôi đang cân nhắc có nên làm phiền họ không thì một người đàn ông hốc hác xuất hiện.

Đôi mắt quầng thâm, râu ria lởm chởm, lác đác những đốm trắng trên đôi má vàng bủng và cái áo sơ mi thì rộng lùng thùng trên đôi vai xương xẩu. “Tôi là Rashid. Mấy người chủ tiệm nói với tôi là có một nhà báo tìm tôi. Xin mời vào nhà.”

Anh dẫn tôi vào nhà mình. Những vách tường trát bùn nứt nẻ làm lộ ra những viên gạch thô. Một tấm vải chắp nối nhiều mảnh được trải dưới sàn phòng khách và không có một chiếc bàn ghế nào. Thằng con của anh chạy đi tìm chị Mubeena ở ngoài đồng nơi chị đang làm. Tôi trò chuyện với anh Rashid cho đến khi chị Mubeena về. Nước da xanh xao của chị dường như bám vào gương mặt trái xoan vô hồn, da tay chị nứt nẻ, còn đôi mắt nâu có vẻ ngần ngại và thấu hiểu. Chị mặc một tấm pheran rách nát và mang trà với bánh quy ra mời tôi. Anh Shahid thấy e ngại vì đã không thể mời tôi món gì ngon hơn. Chị Mubeena rót trà vào một cái tách men rạn nứt và họ kể cho tôi nghe chuyện của mình.

Buổi tối ngày 16 tháng Năm 1990, anh Rashid Malik cắt tóc, mặc bộ vét trắng và đội khăn xếp thêu. Các cô gái làng hát những bài hát đám cưới. Trong những bài hát của họ, chú rể là hoàng tử, còn cô dâu là một nàng công chúa đẹp hơn cả mặt trăng. Gia đình anh đã mời thợ chụp ảnh đến lễ cưới. Một tấm trong số đó là cảnh anh Rashid từ nhà mình sang nhà cô dâu. Đôi mắt nâu của anh lấp lánh trên gương mặt hồng hào. Đôi vai rộng và bộ ngực vạm vỡ của anh căng đầy trong chiếc áo vét. Hàm răng trắng sáng bóng lộ ra bên dưới bộ ria đen. Một tấm ảnh khác cho thấy anh ngồi trên chiếc xe buýt được mướn để chở anh, bạn bè và họ hàng đến nhà chị Mubeena bên làng Hiller, cách đó năm dặm. Chiếc xe rời làng lúc chín giờ tối. Nửa tiếng sau anh Rashid đã ngồi trên chiếc ghế bọc nhung trong nhà cô dâu. Một vị giáo sĩ đến và lễ thành hôn kiểu Hồi giáo được tiến hành. Vị giáo sĩ hỏi Rashid ba lần rằng anh có sẵn sàng lấy chị Mubeena một cách tự nguyện và hỏi chị Mubeena ba lần rằng chị có sẵn sàng lấy anh Rashid một cách tự nguyện không. Cả hai người đều chấp thuận và họ trở thành vợ chồng. Hai bên gia đình ăn mừng và mâm cỗ được dọn lên. Một tiếng sau, anh Rashid chuẩn bị đưa cô dâu về cùng. Thêm nhiều bài hát nữa được xướng lên. Rồi họ bỗng nghe tiếng súng.

Bên sui gia của Rashid tin rằng đó là tiếng súng chỉ thiên của quân du kích. Vào thời điểm đó, nghĩa quân yêu cầu người dân không hát những bài đám cưới hay đãi tiệc thịnh soạn trong thời khắc của sự hy sinh. Rashid và bà con của anh nhất định đòi đi về. Gia đình cô dâu rất lo lắng và yêu cầu họ ở yên tại chỗ. Họ cãi nhau về việc có khôn ngoan hay không khi đi năm dặm đường vào thời điểm như thế trong đêm. Phía nhà trai thắng, lên xe buýt để về nhà cùng với cô dâu. Anh trai của Rashid, người làm cho Lực lượng Cảnh sát Đường sắt Ấn Độ, ngồi kế bên anh, tay cầm sẵn giấy thông hành xin được của một đại tá quân đội đóng quân gần đó. Đó là những ngày còn giới nghiêm ban đêm ở Kashmir. Mọi người đi đâu sau hoàng hôn đều cần một giấy thông hành. Chiếc xe buýt chạy chầm chậm trên con đường đất dẫn về làng chú rể.

Đi được hai cây số thì anh Rashid, đang ngồi băng trước cạnh tài xế, nhìn thấy xe của Lực lượng Cảnh sát Dự bị Trung tâm (CRPF). Xe dừng và anh trai của anh trình giấy thông hành với bọn CRPF. Chúng để cho chiếc xe cưới đi tiếp. Đi thêm vài dặm nữa, tại lối cắt ngang làng Hakoorah, Rashid và những người đồng hành nhìn thấy bọn lính của Lực lượng Bảo an Biên giới (BSF), mà một giờ trước đã chạm mặt một toán tuần tra của CRPF. Hai nhóm lính bán quân đội tưởng lầm nhau là quân du kích và đã bắn nhau. Xe buýt lại dừng lại. Một tên BSF chạy lại chỗ họ. Hắn hét vào người tài xế, bảo tắt hết đèn xe. Bóng tối đổ ập xuống con đường và chỉ có vài bóng đèn trang trí nhỏ rọi sáng trên xe. Rashid, những người đồng hành và cô dâu của anh run lập cập trên ghế ngồi. Anh trai của anh đứng lên, tay cầm giấy phép và mở cửa xe. Anh ta đến chỗ tên sĩ quan BSF để trình giấy. Bọn lính BSF chẳng thèm nhìn đến tờ giấy. Rashid thấy hai tên lính túm lấy cổ anh mình lôi ra vệ đường rồi bắt đầu đánh đập anh ấy. Rashid muốn phản đối hoặc van xin nhưng hai chân anh không chịu nhúc nhích. Anh thấy bọn lính BSF đi vòng quanh xe, rồi anh nhìn qua vai mình và thấy cô dâu. Cô đang co rúm trên ghế với người phụ dâu, anh muốn chạy lại chỗ cô. Nhưng có tiếng súng.

Đám lính BSF xả đạn vào chiếc xe buýt. Rashid ném chiếc mũ xếp và hụp xuống dưới ghế như những người khác. Ngay lập tức anh cảm thấy có cái gì đó sượt qua vai anh và một tiếng hét vang lên từ ghế bên cạnh. Viên đạn sượt qua vai anh đã trúng vào tay của đứa em họ Sabzaar. Một loạt đạn nữa xuyên thủng thân xe buýt và xuyên qua tim một đứa em họ khác của anh, thằng Asadullah, làm nó thiệt mạng. Rashid vẫn chưa nhận biết chuyện gì đã xảy ra cho em họ anh thì anh bị bắn trúng lưng và sau này các bác sĩ tìm thấy năm viên đạn. Ba viên đạn trúng vào vai, lưng và hông của Mubeena. Tên sĩ quan BSF ra lệnh cho hành khách xuống xe, một trận đánh hội đồng theo sau đó. Anh Rashid té xuống đường rồi bất tỉnh. Mubeena cùng với cô phụ dâu và những người khác đứng bên đường, máu chảy ròng ròng. Một nhóm lính lôi chị và cô phụ dâu vào cánh đồng mù tạt bên đường. Một nhóm lính BSF không rõ bao nhiêu người đã hãm hiếp hai cô gái bị thương. “Tôi không thể nhớ nổi có bao nhiêu thằng lúc đó. Tôi đã mất cả ý thức.” Chị Mubeena nói.

Một toán lính BSF khác cầm đầu bởi một sĩ quan cấp trên đã đến đó. Chúng đem những người đàn ông và phụ nữ bị thương đến bệnh viện ở Anantnag. Sáng hôm sau, các quan chức của chính phủ tiểu bang đến bệnh viện lấy lời khai của anh Rashid, chị Mubeena và những người bị thương khác. Ông quận trưởng trao cho mỗi người ba ngàn rupee tiền trợ cấp của tiểu bang. Họ từ chối. Lãnh đạo các nhóm ly khai đến bệnh viện thăm họ và sau đó về làng họ, kêu gọi dân làng sát cánh với đôi vợ chồng trẻ.

Rashid được chuyển sang một bệnh viện tốt hơn ở Srinagar. Các bác sĩ cho anh lựa chọn: hoặc chung sống với năm viên đạn trong người hoặc mạo hiểm với cuộc phẫu thuật có thể làm anh bại liệt. Anh quyết định không giải phẫu và trở về nhà, quyết tâm làm lại cuộc đời. Một sự câm lặng đầy thù địch chào đón Rashid và Mubeena trong cuộc trở về của họ. Đối với gia đình Rashid và dân làng thì Mubeena là một điềm gở: chị là nguyên nhân của tai họa đã lấy đi mạng sống của một người và làm mười người khác bị thương. Gia đình chồng hắt hủi chị. Cha mẹ của chị và một số bạn bè thì ủng hộ đôi vợ chồng. Anh Rashid không thể làm việc trong một năm trời, vợ chồng anh sống nhờ vào sự chu cấp của cha mẹ chị Mubeena. Anh muốn bán phần gia sản của mình. Gia đình anh từ chối ngay cả việc đó.

Một năm sau, chị Mubeena sinh một bé trai; đứa bé chết chỉ trong vài tuần. Chị định tự tử. Anh Rashid cầu xin chị phải sống, phải mạnh mẽ lên. Bỏ lại phía sau thảm kịch, anh nhận công việc thợ mộc bất cứ khi nào có việc. Vào những ngày khác, anh đi làm lao động tay chân, khiêng gạch, gieo hạt trên đồng, thu hoạch mùa màng. Chị Mubeena cũng góp sức. Chị thêu thùa, may vá và làm ruộng, dũng cảm chịu đựng những lời chế nhạo của bên chồng, và miệng lưỡi thế gian. Tại vòi nước của làng, khi đứng xếp hàng để lấy nước, chị luôn cúi thấp đầu. Trên những con đường làng, chị đi như chạy, cố gắng không để ai nhìn thấy. Chỉ một lần cãi vã nhỏ xíu cũng sẽ đánh động đến bi kịch của chị. “Mày là cô dâu bị hãm hiếp phải không? Mày là đứa đem lại rủi ro chứ gì?” Người làng đặt tên chế giễu họ. “Họ gọi chúng tôi là ‘Cô dâu Tóe lửa’ và ‘Chú rể Tóe lửa’,” chị Mubeena kể.

Một cuộc điều tra được tiến hành, vài tên lính bán quân đội bị đuổi việc. Những người mới thay chỗ chúng và bọn lính mới không nhận ra Rashid và Mubeena. Nhưng chị vẫn rùng mình mỗi lần thấy bóng quân phục.

Cái đêm hôm đó lẩn quẩn như một bóng ma. Chị Mubeena rót trà cho tôi và lau nước mắt bằng khăn choàng. Anh Rashid im lặng. Tôi nhìn chằm chằm vào hoa văn trang trí đã phai trên tấm vải chắp nối bằng vải vụn mà chúng tôi đang ngồi lên. Con gái của họ đi vào và giải thoát chúng tôi khỏi sự im lặng khó khăn đó. Nó mặc đồng phục trắng và xanh dương, vai đeo cặp xách. Nó chạy đến chỗ Mubeena và ngồi lên đùi chị. Con bé là học sinh lớp bốn trường làng. Nó cho tôi xem tập của nó. Trong cuốn tập tiếng Anh, con bé đã viết về mục tiêu của nó trong đời: làm bác sĩ. Anh Rashid và chị Rubeena nhìn nó hãnh diện. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ, gió làm sột soạt rặng dương sau nhà và làm tấm nhựa poly đóng vào thành cửa sổ trống hoác bay phần phật. Rashid và Mubeena tiễn tôi ra cửa. Anh nắm tay con gái mình và đứa con trai họ níu lấy chị Mubeena. Họ vẫy tay và mỉm cười.

Một thời gian sau cuộc gặp gỡ với họ, tôi tình cờ đọc được bài thơ của một nhà thơ người Kashmir, tên là Farooq Nazki:

Những bà mẹ vò sạch vết máu trên quần áo của các chú rể

Trên bờ sông,

Áo cô dâu đã cháy thành tro bụi,

Các cô phụ dâu khóc

Và dòng jhelum lặng lẽ trôi.

Nhưng tôi không thể buộc mình viết về Rashid và Mubeena. Và tôi cũng không thể đến thăm làng Kunan Poshpora ở phía bắc quận Kupwara nơi quân đội Ấn Độ đã hãm hiếp hơn hai mươi phụ nữ vào năm 1990. Kunan Poshpora đã trở thành một biểu tượng, một ẩn dụ, một ký ức giống như Srebrenica.

Vào đầu tháng Mười Hai tôi đến Kupwara, cách Srinagar ba giờ đồng hồ. Kunan Poshpora chỉ cách đó vài phút và tôi dự định đón xe buýt đến đó. Những rặng núi hùng vĩ và những ruộng lúa xanh tươi bao quanh quận Kupwara. Vẻ đẹp của những khu vực xung quanh càng làm nổi bật sự bẩn thỉu của thị trấn. Chiếc taxi buýt[42] đi từ Srinagar và dừng lại trong một bãi đậu xe buýt rộng không tráng xi-măng, nơi cửa ngõ thị trấn. Hai dãy hàng quán xấu xí chen chúc nhau tạo thành khu chợ chính. Những quán ăn bày đầy các bịch khoai tây xắt mỏng và chai Pepsi nằm cạnh những tiệm bán đồ cơ khí sặc mùi dầu nhớt. Tôi thấy một trạm kiểm soát quân đội với một báng súng thò ra; một tấm biển treo trên đó ghi: BAN CHỈ HUY THỊ TRẤN KUPWARA. Sự hiện diện của quân đội quanh thị trấn biện minh cho cái chức danh đó.

Rồi tôi nghe tiếng một thằng bé mặc đồ lem luốc dầu mỡ la to, “Kunan Poshpora.” Một chiếc xe buýt sơn màu xanh-vàng rồ máy. Một người đàn ông râu lởm chởm, đội cái nón thêu kiểu nông dân, cột hai ống nước dài bằng sắt vào nóc xe. Ba phụ nữ ngồi trên ghế trước ngay sau tài xế. Một cô bé mập mạp mặc áo vàng và đeo vòng xanh nhún nhảy không mệt mỏi giữa lối đi, nhai kẹo cao su và thổi bong bóng. Một đôi âu yếm nhau trên ghế. Người soát vé la lên, “Kunan Poshpora.” Tài xế rồ máy xe lần nữa. Đôi tình nhân vẫn tiếp tục thì thầm. Hai cậu học trò mặc sơ mi trắng quần tây đen nhảy lên xe buýt và xe bắt đầu lăn bánh. Tôi nhìn xe chạy và nghĩ đến anh Rashid, chị Mubeena và con gái họ có ước mơ làm bác sĩ.

Tôi ngồi trong một quán trà xập xệ, hút thuốc, suy nghĩ. Nhưng tôi không được một mình quá lâu. Shabir, một thanh niên ẻo lả tự xưng là nhà thơ, giới thiệu bản thân và hỏi thăm tôi đang làm gì ở Kupwara. Tôi nói tôi làm báo. “Em cũng nghĩ vậy. Em có thể thấy điều đó qua cái túi và sổ ghi chép của anh. Nhà báo nào cũng ăn mặc giống anh,” Shabir nói. Cậu ta mê xem tin tức trên tivi và có nhiều ý tưởng dành cho tôi. “Em có thể dẫn anh đến những chỗ mà có thể anh thích viết,” cậu nói. “Tin đầu tiên em muốn cho anh biết là về một cái nghĩa trang ở đây. Những người được chôn ở đó hầu hết là những đứa con trai bị giết trong các trận đụng độ với quân đội ở biên giới.”

Đường Kiểm Soát chạy qua nhiều rặng núi sừng sững ngả bóng xuống những ngôi làng bao quanh quận Kupwara. Shabir kể rằng sau mỗi cuộc đụng độ, xác của những thanh niên cố vượt sang Pakistan để được huấn luyện vũ trang hoặc từ nơi đó quay về, được quân đội Ấn Độ đưa cho cảnh sát địa phương và được chôn cất trong nghĩa trang đó. “Vì không ai biết tên của những người chết, người dân địa phương trông coi nghĩa trang đã đánh dấu bằng những con số.”

“Con số sau cùng mà cậu thấy ở đó là số mấy?” tôi hỏi cậu.

“Em nghĩ khoảng độ hai trăm.”

“Tôi sẽ đến đó sớm,” tôi hứa suông, cảm ơn Shabir, rồi rời khỏi tiệm cà phê. Tôi thấy mệt mỏi nên bắt một chiếc taxi đi về hướng Srinagar. Tôi muốn về nhà. Tôi muốn được ở trong căn phòng của mình.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 14.11.2017, 10:13
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35423
Được thanks: 5254 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tâm lý XH] Đêm Giới Nghiêm - Basharat Peer - Điểm: 10
13

Cái giá của cuộc sống


Mubeena và Rashid đã sống trong sự tàn bạo và tẩy chay, vậy mà họ vẫn tạo dựng được một gia đình và đang nuôi dạy con cái mình. Parveena từ một bà nội trợ vô danh trở thành một người đấu tranh vì công lý được ca tụng. Những người đàn ông bị tra tấn đến tàn phế như Ansar đã xây dựng cuộc sống mới. Hussein đã bắt đầu tâm sự với Shahid về bệnh tật của mình và tôi cuối cùng cũng có thể viết về những con người, nơi chốn và chủ đề lâu nay tôi tránh né. Trong những câu chuyện ảm đạm về chết chóc và mất mát, còn có những kỳ tích của sự ngoan cường và lòng dũng cảm. Bất chấp tất cả, con người vẫn sống sót. Nhưng bao nhiêu người thực sự có thể vươn lên?

Đã đầu tháng Hai và mùa Đông đang nấn ná ở lại, những ngọn núi vẫn còn băng giá. Đôi vai tôi không còn cảm thấy sức nặng của nhiều lớp áo len dày cộp. Cái vỏ màu be của những chiếc bình kangri[43] chúng tôi mang theo mình suốt mùa đông, ngay cả khi lên giường ngủ, đã đổi thành màu nâu đen vì bị cọ xát vào bàn tay của chúng tôi. Đế giày của tôi đã biến thành màu bùn, mặc cho tôi vẫn hì hục đánh giày hàng ngày. Và hơi thở buổi sáng vẫn trông như khói thuốc lá. Cha tôi đội nón đen kiểu Jinnah[44] và áo khoác nâu để đi làm. Mẹ ở nhà phần lớn thời gian, trường của bà đã đóng cửa nghỉ đông trong hai tháng rưỡi. Bà đề nghị chúng tôi cùng đi thăm người anh em họ của cha tôi, người đã trở về sau chuyến hành hương Mecca.

Hầu hết người Hồi giáo Kashmir đều trông đợi chuyến hành hương về thánh địa Mecca từ nhiều năm trời. Người ta đi làm, xây nhà, nuôi dạy con cái, dựng vợ gả chồng cho chúng và khi những công việc trần tục được lo liệu xong, họ lấy tiền tiết kiệm, đến văn phòng chính phủ để lấy mẫu đơn xin và mua vé đi Mecca. Đó là chuyến đi trọng đại của hầu hết người Hồi giáo Kashmir. Chuyến hành hương có tính chất bắt buộc đối với mọi người Hồi giáo khi ông ta hoặc bà ta có khả năng. Bác tôi đã hoàn thành những trách nhiệm trong đời sống khi bác và vợ lên đường đi Mecca. Giờ thì họ đã về và cuộc hành trình đã đem lại cho họ một chức danh mới: Hajji. Theo truyền thống của Kashmir, bạn bè và bà con phải đến thăm những Hajji vừa trở về. Tuy nhiên, cuộc xung đột đã hạn chế sự đi lại và những người bà con xa chỉ còn gặp nhau vào những dịp quan trọng như lễ đính hôn, lễ cưới hoặc gặp nhau ở bệnh viện, hay tại các đám tang. “Cha con không thể đến được nên con phải đi với mẹ đến nhà bác Rahman,” mẹ tôi nói thế.

Hồi đó cha tôi thường thăm bác và gia đình dù có sự hiện diện hùng hậu của những toán lính Ấn và nghĩa quân quanh làng bác ấy. Nhưng ông đã không đi nữa từ sau vụ tấn công bằng mìn. Cha mẹ tôi vẫn sống trong sợ hãi.

Cách đây ít lâu, có lần chúng tôi đang ngồi trong xe của ông thì tài xế cán ngang một túi nhỏ có bốn vỏ hộp nước xoài nằm trên đường. Lúc còn nhỏ chúng tôi thường nhảy lên đạp mấy cái vỏ hộp đó để làm nó kêu lốp bốp như pháo nổ. Cha tôi đã hụp xuống dưới ghế, hai tay ôm lấy đầu. “Cha ơi, nó chỉ là hộp nước trái cây thôi mà,” tôi nói từ tốn. Ông ngồi lại lên ghế và im lặng. “Con biết không, từ sau cái vụ mìn nổ đó...”

Tôi đã nhìn thấy sự bất lực của cha vào một ngày khác, khi chúng tôi nghe tin về cái chết của dì ông. Bà dì sống tại một ngôi làng gần làng bác tôi và cha tôi đã không thể đi thăm bà khi bà lâm bệnh thời kỳ cuối. “Dì rất tử tế với cha khi cha còn nhỏ. Dì luôn luôn lo lắng cho cha, nhiều hơn bất cứ người bà con nào,” cha kể cho tôi nghe. “Vậy mà cha đã không thể thăm dì khi dì hấp hối.”

Mẹ và tôi đón xe buýt để đến làng của bác. Tôi nôn nao được gặp lại nhiều người bà con sau nhiều năm. Chiếc xe buýt chạy thong dong dọc theo sườn núi và dừng lại sau một dặm đường tại một trong hai trạm kiểm soát bao quanh làng chúng tôi. Hai tên lính trẻ măng mặc áo chống đạn đứng ngay chỗ kiểm soát, vai đeo lủng lẳng hai khẩu Kalashnikov. Chúng bảo chúng tôi bước đi. Chúng tôi bước chừng một trăm mét thì một tên hét lên, “Dừng lại.” Chúng tôi đứng lại. Không ai bị rà soát. Không có chiếc túi nào bị lục lọi. Chúng tôi lên xe buýt và đi về hướng làng. Tôi cứ thắc mắc về cái sự ngớ ngẩn của những mệnh lệnh này. Chúng không nhằm một mục đích nào cả. Nó giống như một trò chơi điện tử. Một thằng lính giơ ngón tay lên, các chiếc xe buýt dừng lại, người ta xếp hàng một, bước tới, dừng lại, lên xe và đi tiếp. Một chiếc xe khác đến trạm kiểm soát và trò chơi lặp lại.

Cái trò ngớ ngẩn đó làm tôi nhớ đến “Một căn bệnh mới,” truyện ngắn của nhà văn người Kashmir Akhter Mohiuddin mất năm 2001. Con rể ông bị giết trong một vụ tấn công của nghĩa quân vào một bờ sông ở khu tổ hợp bệnh viện nơi anh ta làm việc. Con trai ông thì bị giết trên đường đi làm về trong vụ trả đũa của lính quân đội sau khi chúng bị tấn công. Để phản đối những vụ việc vượt quá giới hạn, ông Akhter đã trả lại giải thưởng Padam Shri, một trong những giải thưởng cao quý nhất dành cho thường dân mà chính phủ Ấn Độ đã ban cho ông vì những cống hiến cho văn học. Cũng như Isaac Babel, ông có những sự gắn bó mật thiết với chiến tranh, quyền lực và nỗi sợ hãi và ông đã dâng tặng cuốn sách cuối cùng cho “những thanh niên bị sát hại ở những nơi vô danh.” Babel cũng thế.

Trong truyện “Một căn bệnh mới”, một người đàn ông nọ đứng chờ thật lâu, như thể đang xếp hàng trước khi bước vào chính ngôi nhà của mình, và rồi quay đi về hướng khác. Gia đình ông đưa ông đến bác sĩ. Bác sĩ nói, “Từ khi có chuyện rà soát cơ thể, một căn bệnh mới đã nảy sinh. Một số người cần bị rà soát mỗi lần họ thấy một cái cổng, số khác tự rà soát bản thân.” Ông bác sĩ kê đơn, phải rà soát cơ thể bệnh nhân mỗi lần người đó về đến cổng. Gia đình làm theo và tình trạng của người đàn ông đó khả quan hơn.

Có một ông già mặc bộ vét xanh ngồi trên ghế trước mặt tôi. Ông quay lại nói, “Mục đích của việc đó là gì nhỉ? Chúng chỉ muốn nhấn mạnh sự hiện diện của mình, để cho ta biết là chúng cai trị vùng này.” Chiếc xe buýt vẫn chạy về hướng làng của bác tôi. Không có thêm một trạm kiểm soát nào nữa, nhưng chúng tôi đang đi trên chính con đường nơi cha mẹ tôi đã suýt bị giết chết.

Tôi có thể thấy được hình ảnh mẹ tôi đang căng thẳng. Chúng tôi vẫn giữ im lặng và nhìn ra ngoài cửa sổ xe. Vài phút sau, chiếc xe buýt chạy ngang qua đoạn ống dẫn nước trên con đường từng được gài mìn. Những ngôi nhà gạch bình thường của người dân Kashmir chắn hai bên đường và những nhóm dân làng uể oải ngồi trước nhà họ, nhìn chăm chăm vào khách qua đường. Tôi thấy những con người đó, nhưng mẹ tôi có vẻ chỉ thấy gã đàn ông đã nhấn nút kích nổ từ xa. Bà chỉ tay về phía nhóm dân làng và nói, “Đó là chỗ họ (nghĩa quân) ngồi cầm chiếc điều khiển từ xa.” Tôi bặm môi rồi lắc đầu. Chúng tôi đi hết quãng đường còn lại trong im lặng.

Những con đường hẹp chạy giữa những căn nhà đắp bằng gạch và bùn được bao quanh bởi các cây óc chó trụi lá trong làng Panzmulla nơi bác tôi sống. Trên đường vào nhà bác, chúng tôi chào hỏi những người quen và bà con đang trở về nhà sau chuyến viếng thăm theo phong tục. Bác tôi người cao, rám nắng, ngồi trên tấm thảm, những người đàn ông và đàn bà đang vây quanh lắng nghe câu chuyện về Mecca của ông. Các cô gái và chàng trai trẻ phục vụ trà kahwa trong những ấm samovar tráng thiếc. Khách khứa nhấm nháp kahwa và nghe những câu chuyện về đức tin. Bác tôi thường sẽ tự ái nếu cha tôi không đến thăm ông sau chuyến hành hương. Nhưng thay vì vậy, ngay giây phút mẹ tôi và tôi bước vào nhà, ông ôm lấy tôi và nói, “Thật tiếc là ngay cả Ghulam Ahmad cũng không thể đến gặp bác hôm nay.”

Những nhóm khách lại đến và bác đứng lên chào hỏi từng người một. Mỗi người đều được mời một ly Aabe-Zam Zam, thứ nước của dòng suối Zam Zam ở thánh địa Mecca, được tin rằng có quyền năng chữa bệnh. Tất cả họ đều hỏi những câu giống nhau. Đúng thế, ở đó giao thông nằm bên phải đường. Vâng, có đủ thứ sắc dân của nhiều đất nước mặc cùng một loại áo thụng cotton màu trắng. Vâng, các cửa hàng rất lớn và đầy hàng hóa đắt tiền. Đúng vậy, anh sẽ bị mê hoặc khi lần đầu tiên nhìn thấy Qaaba[45]. Bác tôi có vẻ đã mệt vì lặp đi lặp lại. Tiếng gọi cầu nguyện của thầy muezzin đã giải thoát bác và bác ra khỏi nhà để đến đền thờ. Mẹ cũng gia nhập một nhóm bà con và ngay sau đó mê mải chuyện trò. Bà nói chuyện rất sôi nổi và cười vì những mẩu chuyện hài hước. Tôi ngắm bà từ xa và mừng khi thấy bà vui vẻ.

Việc cha mẹ tôi bị tấn công đã ám ảnh tôi trong nhiều tháng trời. Nằm chong mắt vào ban đêm, tôi mơ màng nghĩ đến việc trả thù cho họ. Rồi tôi lại quay về với thế giới hiện tại và nghĩ đến ông bà của tôi, các dì, các bác, anh chị em họ tôi, những người vẫn sống trong làng hay gần làng của tôi. Tôi nghĩ về những cái kệ đầy sách của cha và khát vọng viết lách của mình. Hầu hết các gia đình đều chấp nhận việc người thân của họ bị giết với sự cam chịu và nỗ lực để tiếp tục sống. Dưới sự cai trị của chính quyền Kashmir, bất cứ ai có người thân vô tội bị giết trong cuộc xung đột tại Kashmir đều được cấp cho một công việc bậc thấp trong chính quyền và gia đình được trả món tiền đền bù một trăm ngàn rupee. Trong giai đoạn đầu của cuộc xung đột, hầu hết mọi người từ chối nhận số tiền đền bù kiểu như vậy, vì cho rằng nó trái với luân thường đạo lý. Nhưng cuộc sống khắc nghiệt và phức tạp hơn nhiều những ý nghĩ chống đối. Với thời gian, người ta lật lại những bộ hồ sơ cũ và bắt đầu nghĩ đến việc làm cho cuộc sống của họ dễ thở hơn, kể cả việc chấp nhận cái giá chính thức được trả cho một mạng sống. Tôi đáng lẽ đã phải xin tiền bồi thường cùng với một công việc như thế. Tôi đã chứng kiến việc đó xảy ra trong các gia đình bà con xa khi tôi còn học đại học.

Một buổi trưa, khi tôi đang ngồi trong bếp nói chuyện với mẹ thì có tiếng gõ cửa. Chú Bashir, em họ của bà sống tại ngôi làng cách nhà tôi một giờ, đứng thất thần, níu lấy cửa để giữ thăng bằng. Giữa tiếng nức nở, chú nói chậm rãi, “Bọn chúng đã giết Gulzar. Quân đội đã giết nó tối qua bằng mìn.” Chúng tôi lùi lại một bước vì choáng váng. Chú Gulzar là em họ của cả mẹ tôi và chú Bashir. Hai đứa em họ tôi, một người dì và ông bà ngoại chạy vào nhà bếp. Ngoại tôi ôm chú Bashir và trang nghiêm đọc những lời kinh cầu nguyện mà người Hồi giáo đọc khi có người chết: ina lilahi Wa ina ilahi Rajioon (Những gì do Thượng Đế tạo ra sẽ trở về với Ngài). Khuôn mặt nhăn nheo của ông đanh lại vì nỗi đau, còn đôi mắt xanh thì rưng rưng lệ. Một hình ảnh của chú Gulzar thoáng hiện ra trước mắt tôi: một cậu trai ốm yếu mười lăm tuổi đứng trong sân nhà, ria mép lún phún làm mép môi trên của chú đậm hơn một chút so với khuôn mặt hồng hào. Tóc chú ngắn và lỉa xỉa, và chú cầm một cậy gậy cricket.

Nửa giờ sau, gia đình tôi đi dự đám tang của chú ấy. Tôi ở lại. Phải có người nào đó ở lại nhà, vì thật không an toàn khi để nhà không ai trông coi.

Làng của chú Gulzar đã trở nên xa xôi vì nó nằm gần một doanh trại quân đội khổng lồ và khu vực đó nguy hiểm hơn nhiều so với chỗ chúng tôi. Tôi không thể không nghĩ đến những lần gia đình tôi bị lục soát và buộc trình chứng minh thư. Tôi mừng vì họ có một chiếc xe hơi. Việc đi thăm nơi nào đó bằng xe buýt quả là ác mộng. Sẽ có một cuộc hỗn chiến nho nhỏ sau khi bạn vượt qua những trạm kiểm soát. Người ta sẽ điên cuồng chạy đến chiếc xe buýt, chen lấn, xô đẩy, thúc cùi chỏ để giành lấy một chỗ ngồi trên chiếc xe đông nghịt người. Những vụ gây gổ xảy ra khi một hành khách đã có chỗ ngồi từ trước cố đòi lại nó sau khi qua trạm kiểm soát.

Sáng hôm sau họ về nhà, mệt mỏi và đau khổ. Chú Gulzar đang là học sinh lớp mười hai tại một trường cấp ba địa phương. Học kỳ mới vừa chính thức bắt đầu và những học sinh lớp trên lại bắt nạt những học sinh mới.

Một ngày nọ chú Gulzar và bạn bè chọc phá một học sinh mới bằng cách bắt cậu ta đi đến chỗ một cô gái và “hỏi cưới” cô bé. “Hỏi cưới” là từ các học sinh nam người Kashmir dùng để chỉ việc hẹn hò với ai đó. Cậu học sinh mới vốn e thẹn, ngần ngại bước đến chỗ cô bé và làm điều cậu bị bắt phải làm. Cô bé đó mỉa mai, vặn vẹo lại và làm bẽ mặt cậu ta.

Cậu bé đó hóa ra là con của một sĩ quan quân đội. Tối hôm sau, một toán lính bao vây nhà chú Gulzar. Chúng đòi gặp chú ấy, lục soát nhà và chẳng tìm thấy gì. Chúng lôi chú ấy vào trong chuồng bò nơi chứa củi, cày, xẻng và lưỡi hái. Mười phút sau, cha mẹ và anh em chú ấy nghe một tiếng nổ. Cái chuồng bò bể tan nát. Lũ lính đã cho nổ một trái mìn để giết chú Gulzar. Chúng vu cho chú ấy là quân khởi nghĩa và rằng chú đã vô tình làm nổ tung trái mìn.

Cái chết của chú Gulzar làm thay đổi quan hệ tình cảm của chúng tôi với gia đình chú ấy. Cha mẹ tôi, ông bà ngoại, các dì và anh em họ tôi đi thăm họ cách ngày. Mẹ tôi đăng ký cho em gái chú học ở một trường gần nhà tôi và dì ấy ở nhà chúng tôi cho đến gần đây, khi dì tốt nghiệp một trường cao đẳng dành cho nữ giới ở địa phương.

Sau cái chết của chú Gulzar, không ai nói đến việc tranh đấu tại tòa án để trừng trị đám lính đã giết chú ấy. Những việc đó chỉ xảy ra ở những đất nước nơi pháp luật được thực thi; ở Kashmir bạn cố mà bảo vệ những người đang sống khỏi những phiền phức còn hơn thế nữa. Bà con họ hàng bàn chuyện lấy tiền bồi thường và tìm cho người anh trai thất nghiệp của chú Gulzar là chú Ayub một công việc. Suốt nhiều tháng ròng, chúng tôi không thể lấy được giấy chứng nhận của quân đội, chứng thực chú Gulzar không phải là quân khởi nghĩa. Chúng tôi kiến nghị với Hội đồng Nhân quyền Quốc gia của Ấn Độ và sau một thời gian thì nhận được Giấy chứng thực không chống đối. Sự thật là, gia đình chúng tôi có những mối quen biết trong chính quyền địa phương để đẩy nhanh tiến trình. Ayub nhận được một công việc ở phòng phát triển nông thôn và đã lập gia đình một năm sau đó. Cuộc sống thường nhật vẫn tiếp nối. Chú Gulzar hiếm khi được nhắc đến trong những câu chuyện trong nhà. Nhưng chú ấy mãi mãi là một sự hiện diện vô hình.

Trường học mở cửa lại sau kỳ nghỉ đông. Những buổi sáng tháng Ba tràn ngập tiếng la hét của bọn trẻ rầm rập đi ngang nhà chúng tôi. Bọn lính trong những boongke của khu chúng tôi ở dường như mỉm cười được một chút. Báo chí không sớm thì muộn sẽ đưa tin như mọi năm về chuyện tuyết tan chảy trên Đường Kiểm Soát và số lượng nghĩa quân tìm cách vượt biên tăng lên. Tôi bước ra ngoài mua cà phê thì ông thợ cắt tóc đang đứng bên ngoài tiệm cắt tóc Bombay la to “Tóc của chú mày bù xù một nùi kìa.” Ông bỏ ra ít nhất hai tiếng đồng hồ để cắt tóc cho tôi, dù tôi là khách quen bởi vì ông có một trí tưởng tượng phong phú và hay kể chuyện trong lúc giải lao giữa những lượt cắt tóc. Tôi không thể nào quên được câu chuyện ông kể trong một ngày mùa đông, sau lần nghĩa quân kích nổ quả mìn nhắm vào đám lính Ấn đang tuần tra khu vực chúng tôi. “Các thứ kính bể tan nát và tiếng nổ lớn, lớn lắm, đến nỗi ta tưởng là ta đã chết rồi. Trong một chớp nhoáng, ta thấy thần chết cầm một cuốn sổ. Trong đó có tên những người chết. Tên ta không có trong đó! Sau đó ta đốt một điếu thuốc. Ta biết mình sẽ không sao.”

Tôi lắc đầu rồi cầu Thượng Đế và nhà tiên tri Muhammed. Sau một hồi, tôi hỏi ông, “Vậy tên người chết viết bằng tiếng Anh hay tiếng Urdu?”

“Dĩ nhiên là tiếng Urdu! Cháu biết là ta không đọc được tiếng Anh mà.”

Chẳng có chuyện nào hay ho ở Kashmir cả. Chỉ toàn những chuyện khổ sở, nhập nhằng và không giải quyết được. Tôi vẫn nghe chuyện về những gia đình có người thân chết trong cuộc xung đột, những người không có sự giúp đỡ về tài chính của bà con và những mối quan hệ để tiếp tục cuộc sống dễ dàng hơn một tí như gia đình chú Gulzar. Tôi được nghe nhiều câu chuyện về những gia đình đi tìm tiền bồi thường cho những đứa con đã chết của họ, phải tới lui các văn phòng chính quyền nhiều tháng trời và rồi bế tắt trong nhiều năm. Một trong những câu chuyện đó là về bà Shameena, người phụ nữ sống cách làng tôi không xa lắm. “Cậu phải gặp bà ta mới được,” người bạn kể chuyện về bà nói với tôi như vậy.

Bà Shameena sống tại làng Larkipora, cách làng tôi khoảng ba mươi kilômét về hướng nam. Larkipora là cụm nhà và những cánh đồng thanh bình nơi có những bi kịch ẩn mình mà người khách thông thường khó thấy được. Tôi bước đến một con hẻm dẫn vào cánh cổng làm bằng những miếng sắt nhăn nhúm được đóng vào mấy tấm gỗ sơ sài. Bên trong cổng, một người phụ nữ gầy nhom, có chiếc mũi nhọn, mặc áo choàng màu cam đã bạc ngồi trên hàng hiên lát đá cuội. Bà gập người bên chiếc giỏ đan bằng dây liễu đựng đầy haakh, một loại rau địa phương giống như rau bina. Bà để giỏ rau sang một bên và đứng dậy. Bà nhìn tôi một lúc thật lâu rồi nói, “Ngồi xuống đây, con trai. Ta là Shameema.”

Tôi ngồi đối diện bà. Đứa con trai út mười ba tuổi của bà ngồi trong một góc khác của cái hàng hiên hình chữ nhật bên cạnh cái hookah[46]. Em dâu của bà Shameema cũng tham gia vào câu chuyện của chúng tôi. Hai người phụ nữ ngồi sau mấy chiếc giỏ đầy rau. Bà Shameema cầm một nhánh haakh dài lên, ngắt bỏ một đoạn, rồi nói, “Hôm đó là ngày 11 tháng Năm, 2001.” Tôi thấy choáng váng khi thấy người ta có thể nhớ được ngày tháng chính xác của những sự kiện kinh hoàng nhất trong đời họ. Bà nói tiếp, “Ta đã nấu xong món cơm cà chua và đang đợi Shafi về ăn trưa.”

Shafi, đứa con trai mười bảy tuổi của bà, lúc đó đang học lớp mười ở một trường công tại Qabamarg, một làng kế cận, nổi tiếng vì có miếu thờ thánh Sufi. Đứa con trai khác của bà, thằng Bilal, đang học lớp chín và chồng bà, ông Majid là nông dân và bán trái cây phơi khô rẻ tiền ở một trạm xe buýt ở Anantnag. Buổi sáng ngày 11 tháng Năm, Shafi đi học Lý và Hóa ở chỗ hai ông thầy khác nhau tại hai làng lân cận, dù cha cần nó phụ bán hàng tại Anantnag. Nó về nhà vào giữa trưa. “Ta bảo nó ăn trưa nhưng nó bảo chờ nó mang củi đến nhà máy cưa gần đó.” Hai mươi phút sau, thằng Shafi trở về với một cái xe kéo đầy củi. Bà Shameema chỉ tay vào một khoảnh đất dưới sàn gần cầu thang, chỗ một thằng bé đang đứng ăn chuối và nói, “Nó cất củi ở đó.” Bà ấy thở dài. “Rồi nó đi đến đền thờ cho lễ cầu nguyện ngày thứ Sáu.”

“Em gặp nó gần đền thờ bên đường,” một giọng con trai nói. Tôi đã không để ý thấy một thanh niên mặc áo sơ mi nâu và quần jean rộng đang ngồi trên mép hiên. Hóa ra đó là Mushtaq, bạn của Shafi. “Tụi em có năm đứa khi Shafi nhập hội, tính luôn cả em trai nó. Tụi em không cầu nguyện mà ngồi dưới bóng cây chinar bên đường và nói chuyện.” Một trận đọ súng đã xảy ra giữa nghĩa quân và quân đội Ấn ở Qabamarg. “Tụi em nói về trận đụng độ đó và nghĩ ngôi trường có thể đã bị thiêu trụi. Rồi tụi em thấy mấy chiếc xe tải của quân đội chạy đến từ rất xa.” Mấy đứa con trai giải tán và nhanh chóng tìm đường về nhà chúng. Đoàn xe quân đội dừng lại và bọn lính rượt theo. Mushtaq và một đứa thoát được, bốn đứa khác bị bắt đem đi. Dân làng nhìn bọn lính đẩy mấy cậu bé vào xe tải rồi chạy về hướng Qabamarg.

Hàng xóm của bà Shameema chạy hộc tốc đến báo tin là quân đội đã bắt hai thằng Shafi và Bilal. Trong vòng vài phút, những người mẹ và chị của các cậu bé đã tập trung lại gần nhà bà. Rồi họ bắt đầu chạy về hướng Qabamarg trên con đường mòn nối hai làng, ngang qua những cánh đồng mù tạt. Bọn lính rảo vòng quanh các cánh đồng ở rìa làng. Chúng cố chặn những người phụ nữ đang la hét và xô đẩy chúng. Bà Shameema ngẩng đầu nhìn lên bầu trời xa xăm và nói, “Hôm đó Thượng Đế đã ban cho ta ý chí. Ta đã chống lại bất cứ thằng lính nào cố ngăn cản ta. Thường thì người ta rất sợ bọn lính, nhưng hôm ấy ta đã không dừng lại cho đến khi đến được căn nhà nơi diễn ra trận đụng độ.” Bà ấy nhìn thấy xung quanh toàn binh lính và bọn Ikhwani (bọn phản bội nghĩa quân, làm việc cho các lực lượng của Ấn Độ). Chúng đang xả súng vào một căn nhà một tầng. Trong sân tòa nhà bên cạnh, bà thấy mấy cậu bé bị bắt. “Ta chỉ thấy thằng Bilal ở đằng xa, chứ không thấy thằng Shafi.” Bà dừng lại. Rồi bà thở dài và kêu thằng út đem cho ít nước. Nó chạy vào trong và mang ra một chiếc cốc bằng đồng. Bà Shameema uống một ngụm, đặt cốc xuống và đẩy giỏ rau sang chỗ khác như thể đang chuẩn bị chiến đấu. “Ta chạy đến Bilal, chụp lấy nó và bắt đầu bỏ đi cùng nó.” Bilal ôm lấy bà, nói rằng bọn lính đã đẩy Shafi vào bên trong căn nhà của nghĩa quân, bắt thằng bé cầm một trái mìn trên tay.

Một tên lính dùng báng súng đánh vào tay bà Shameema và kéo Bilal về phía hắn. Bà thét vào mặt tên lính và kéo tay Bilal. Nó nói, “Buông con ra đi mẹ. Chắc chúng đã giết anh Shafi rồi, hãy để con chết luôn đi.” Thằng lính kéo mạnh hơn và lôi thằng Bilal đi. Bà Shameema đứng ngó theo như trời trồng. Tên lính dúi vào tay Bilal một trái mìn rồi đẩy nó về hướng căn nhà đó. Trận hỏa chiến vẫn tiếp tục. “Có gì đó bóp chặt trái tim ta khi ta nhìn thấy đôi tay run bần bật của Bilal cầm trái mìn. Hai chân nó khuỵu xuống và nó ngã xuống đất.” Bà Shameema hớp một ngụm nước trong chiếc cốc bằng đồng, quệt mồ hôi trên trán và nói, “Ta nhào tới trước và lấy thân mình che chắn thằng Bilal.” Bà giật trái mìn khỏi tay con trai mình và ôm lấy nó. Ba tên lính và một tên sĩ quan vây quanh, yêu cầu bà buông con trai ra. Bà bảo tên sĩ quan buông tha cho con trai mình và để bà ôm mìn vào căn nhà đó. “Ta ôm chặt trái mìn và kêu tên sĩ quan cho nó nổ tung đi.” Hắn im lặng, bà hét lên lần nữa. “Rồi hắn ra lệnh cho bọn lính để cho ta đi. Ta giữ chặt thằng Bilal. Khi mẹ con ta bước đi, ta thấy bọn chúng đẩy một ông già về phía căn nhà đó với một trái mìn trong tay.”

Tối hôm ấy họ không ngủ. Bà ôm thằng Bilal trong tay và họ khóc thương Shafi. Chồng bà, người đã ở lại Anantnag, về đến nhà vào buổi sáng. Hàng xóm báo cho ông ta biết con trai ông đã bị giết. Ba ngày sau khi Shafi được chôn cất, họ tổ chức buổi lễ tưởng niệm cuối cùng. Theo tục lệ, trong ba ngày, họ không được nấu thức ăn trong nhà; hàng xóm sẽ nấu giùm họ. Vào ngày thứ tư, họ nấu cho hàng xóm và mời vị giáo sĩ làng đến cầu nguyện cho linh hồn Shafi được cứu rỗi. “Ta nấu đồ ăn bằng củi mà Shafi mang về nhà lần cuối,” bà Shameema vừa nói vừa lau nước mắt.

Đứa con trai mười ba tuổi của bà cũng khóc. Bà ôm nó, vỗ về và an ủi. Rồi bà đốt thuốc trong hookah và đưa nó cho thằng nhỏ như thể đó là một ly nước trái cây. Nó rít thuốc như điên và nhìn tôi chằm chằm. Bà Shameema nói với tôi là nó bị chấn thương tâm lý. Nó học cùng trường với Shafi và sẽ chạy ra khỏi lớp học để đứng bên ngoài căn nhà nơi Shafi bị giết mà khóc. Tình trạng của nó ngày càng tệ hơn và nó không chịu đến trường nữa. Rồi nó bắt đầu hút thuốc. “Ta đưa nó đến Aishmuqam, đến điện thờ của Zain Shah Sahib (một vị thánh Sufi địa phương được sùng kính). Nó đã khỏe hơn từ khi ta đến cầu nguyện ở đó. Nhưng mỗi nhắc đến Shafi là nó lại bị kích động. Có người mẹ nào lại đưa hookah cho con trai mình chứ? Nhưng ta phải làm như vậy để thằng bé dịu xuống.”

Sau thời gian để tang, bà Shameema và gia đình lại đương đầu với cuộc sống thường nhật. Bilal trở lại trường học, bà Shameema làm việc nhà và ông Majid chồng bà đón xe buýt mỗi sáng đi bán trái cây khô trong thị trấn. Một tháng sau, một người hàng xóm có học thức nói cho họ biết về khoản tiền bồi thường. Ông Majid và thằng Bilal làm những đơn từ cần thiết và chạy ngược xuôi giữa sở cảnh sát và văn phòng quận để giải quyết việc bồi thường. Từ tháng Sáu năm 2001 Bilal và ông Majid đã có mặt hàng tuần tại văn phòng quận. Những nhân viên sắp xếp các cuộc hẹn này luôn có một câu trả lời quen thuộc: “Quay lại đây vào tuần sau. Chưa đến lượt của ông đâu.” Tuần sau họ lại nghe về một lệnh hủy bồi thường giả. “Tháng trước viên thư ký nói với ông Majid rằng số hồ sơ của gia đình ta là bốn trăm, tuần này hắn lại nói là sáu trăm,” bà Shameema kể cho tôi nghe. “Sao cậu không đi gặp ông Majid? Ông ấy sẽ có mặt ở lề đường trạm xe buýt Achabal ở Anantnag gần một tiệm trái cây. Cậu có thể hỏi bất cứ chủ tiệm nào ở đó và họ sẽ chỉ cho cậu chỗ ông ấy. Ông ấy rành về vụ này hơn.”

Tôi hứa sẽ đi gặp ông ấy rồi ra về. Bà tiễn tôi đến chỗ cánh cổng làm bằng thiếc và gỗ để ra ngoài đường. Bà dừng lại, nhìn tôi chăm chăm với đôi mắt trống rỗng ngấn nước. “Suốt buổi trò chuyện, ta đã muốn nói với cậu một điều,” bà nói. Tôi hy vọng nó không phải là một cơn ác mộng nào khác ập lên gia đình bà. Bà cầm tay tôi và nói, “Cậu không biết con trai ta. Nhưng cậu giống hệt thằng Shafi. Nếu nó còn sống đến hôm nay thì cậu có thể bị nhìn nhầm là anh em sinh đôi với nó.” Tôi không biết phải phản ứng thế nào, rồi ôm lấy bà. Tôi bước thất thểu đến con đường chính. Bên kia đường, tôi thấy một cây chinar cao lớn đu đưa trong cơn gió nhẹ. Dưới bóng cây này, Shafi đã tán gẫu với bạn bè lần cuối cùng.

Tôi thấy một chiếc xe buýt đến gần và vẫy nó. Tôi lên xe, ngả đầu vào thành ghế và nhắm mắt lại. Khoảng một giờ sau, xe buýt đến trạm ở Anantnag, chỗ ông Majid bán đồ ngọt. Bụi đất bay tứ phía, xe buýt và xe hơi nhấn còi liên hồi. Những người bán hàng rong hét lớn giá các món hàng, dân các làng xã ôm những cái túi nylon nhiều màu đựng rau củ chạy lòng vòng tìm xe buýt chạy về các ngôi làng khang trang của họ và một nhóm lính bán quân đội mặt mày ủ rũ trong áo chống đạn đứng trên lề đường, tay ôm súng trường. Ông chủ tiệm trái cây thập thò trên lề đường biết ông Majid. “Tiệm của ông ấy ở đâu vậy?” tôi hỏi thăm. Ông ta mỉm cười và chỉ vào một góc nhỏ xíu bên lề đường giữa tiệm của ông ta và tiệm kế bên. Tôi nhìn thấy một cái giỏ đan bằng liễu đựng đầy seemnih, một thứ mứt màu hồng mà tôi mê thích hồi còn bé, được đặt trên một đống gạch. Người đàn ông tóc bạc với đôi gò má hóp mặc áo pheran màu be gần như bị che khuất sau cái giỏ. Tôi bước đến chỗ ông ấy và hỏi, “Ông là Majid phải không ạ?” Ông đứng dậy trên tấm chiếu cói và hỏi, “Mấy trăm gram, thưa ông?”

Tôi không thể gom đủ dũng khí để quấy rầy thế giới của ông lần nữa. Tôi cuốc bộ đến văn phòng quận để gặp người từng lo việc bồi thường cho những cái chết. Sau một đoạn cuốc bộ ngắn, tôi đã đến trước những cánh cổng của khu văn phòng ở Lal Chowk, một sự bắt chước không mấy sáng tạo trung tâm thành phố Srinagar. Đây chính là trung tâm của thị trấn Anantnag – một khu ngổn ngang nhà cửa, hàng quán, cống rãnh toác hoác đầy rác rưỡi, những người bán hàng rong ồn ào, tiếng còi xe buýt inh ỏi lẫn với tiếng huýt còi của cảnh sát. Về mặt nào đó nó giống những thị trấn nhỏ buồn tẻ ở phía bắc Ấn Độ. Đi qua những trạm kiểm soát và máy dò kim loại, khu văn phòng đó là một dãy tòa nhà giống các doanh trại, có cửa sổ sơn thứ màu xanh ảm đạm chuyên dùng để sơn các tòa nhà chính quyền. Nó là trung tâm quyền lực của địa phương, là đơn vị hành chính được kế thừa từ hệ thống dân sự thuộc địa. Những nhóm thường dân sốt ruột, những luật sư vội vã, các chính khách cấp làng xã, những cụ già lảng vảng xung quanh để tìm người tiếp dân và những tay lính văn phòng đói khát đang lùng sục con mồi để có thêm chút ít tiền vào số lương còm cõi của mình ùa ra những bãi cỏ. Tiếng trao đổi, mặc cả vội vã và náo loạn tràn ngập nơi này.

Bên trong, những tay cần vụ mặc đồng phục hét to tên những người chờ đợi được sắp xếp gặp các nhân viên khác nhau. Tôi đi qua một hành lang tối để gặp một người đàn ông có thể biết về trường hợp của bà Shameema. Tôi quen biết ông này đã nhiều năm. Đống cạc tông rách nát che đậy những bộ hồ sơ nằm trên chiếc bàn gỗ xiêu vẹo của ông. Những bộ hồ sơ giống nhau phủ đầy bụi được chất trên kệ phía sau ghế của ông. Có bốn người nữa ngồi sau những bàn chất đầy hồ sơ tương tự, đang gõ chữ trên những chiếc máy cổ lỗ hiệu Remington. Ông mỉm cười khi thấy tôi nhìn cái máy đánh chữ và những bộ hồ sơ. Ông đã gặp tôi khi tôi còn bé và vừa thích thú lại vừa thất vọng khi biết tôi không phải là một công chức như cha tôi, mà là một người cầm bút quan tâm đến “những người dân thấp cổ bé họng” mà tôi gặp “tình cờ”.

“Việc là thế này, họ phải làm một tờ khai trước tiên ở đồn cảnh sát và xin được giấy của cảnh sát, chứng nhận rằng người bị giết không thuộc nghĩa quân. Nghĩa là họ phải trả từ năm ngàn đến mười ngàn rupee cho viên cảnh sát, bởi nếu không có tiền chúng sẽ không nộp báo cáo. Rồi những hồ sơ đó sẽ được đưa đến ban cứu tế ở văn phòng quận. Chúng ta phải làm những hồ sơ dịch chuyển chứ.” Ông tạm dừng để hút thuốc. “Hồ sơ không tự nó di chuyển từ bàn này qua bàn khác. Hay một người đánh máy cũng không đánh không công một công văn nào. Quan chức cấp trên cũng phải được thuyết phục và chia phần. Mọi việc này đều tốn thời gian và tiền bạc. Trong khoản tiền bồi thường một lakh[47], thì người đứng đơn phải chịu bỏ ra từ hai mươi lăm đến ba mươi ngàn rupee. Nếu không ông ta sẽ tiêu tốn nhiều năm trời đi tới lui các văn phòng. Và một khi ông ta trả số tiền đó, chúng tôi bảo đảm là tên của ông ta trong danh sách bồi thường sẽ được đưa lên trên và mọi việc được tiến hành nhanh hơn.” Ông nói y như một cái máy.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 14.11.2017, 10:14
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35423
Được thanks: 5254 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tâm lý XH] Đêm Giới Nghiêm - Basharat Peer - Điểm: 10
14

Trong khuôn khổ của Đức tin


Bà Shameena và ông Majid đã mất đứa con trai, giờ đang nhọc nhằn trải qua một loạt thủ tục hành chính chậm đau chậm đớn để tìm việc cho đứa con trai khác của họ, và họ không đủ khả năng chi trả cho việc chữa trị đứa con trai út bị rối loạn tâm lý. Dường như tất cả những gì họ có chỉ là gia đình mình và đức tin. Anh Hussein từ chối lập gia đình sau khi bị tra tấn, thường cầu nguyện để tìm sức mạnh đương đầu với tình thế khó khăn của mình. Cha mẹ tôi tin rằng Thượng Đế đã cứu sống họ và họ đã cầu nguyện nhiều hơn sau khi sống sót qua vụ nổ mìn. Shahid nói với tôi rằng ngay cả các bác sĩ ở bệnh viện tâm thần đông đúc nhất cũng khuyên nên nương dựa vào đức tin. Thượng Đế và các vị thánh của ngài dường như đã trở thành những chuyên gia tâm lý hành nghề ở khắp Kashmir. Đức tin quả là một chỗ dựa không thể thiếu.

Từ xưa đến giờ đã luôn luôn là thế. Trong thời thơ ấu và niên thiếu của mình, tôi không hề có nhận thức về đạo Hồi – nó ở sẵn trong tôi, là một phần cuộc sống chúng tôi, như làng mạc, hàng xóm, gia đình tôi và như những cuốn sách trên kệ của cha tôi. Đền thờ của làng là nơi tôi viếng thăm cùng hầu hết bạn bè vào những ngày thứ Sáu và thỉnh thoảng vào các buổi tối để cầu nguyện. Có một ý thức về cộng đồng, một sự trêu đùa vui vẻ và một sự thư giãn trong những thực hành tôn giáo. Chúng tôi đều là hàng xóm của nhau, cùng đến một tiệm bánh mì, một ông bác sĩ và một tiệm tạp hóa. Đền thờ của chúng tôi là một ngôi nhà hai tầng khiêm tốn cách nhà tôi vài trăm mét, trên bờ một dòng suối nhỏ chảy qua làng. Lũ trẻ con sẽ bơi dưới suối nhiều giờ liền, phụ nữ thì giặt đồ, rửa chén trên bờ và tán gẫu. Khi thầy muezzin[48] gọi cầu nguyện, những người phụ nữ sẽ tìm tấm khăn choàng và đội lên đầu cho đến khi cầu nguyện xong, rồi lại tán chuyện tiếp.

Những tấm chiếu cỏ đan bằng tay mềm oặt đi sau nhiều năm sử dụng, được trải lên nền của đền thờ và vài bóng đèn điện lờ mờ rọi một thứ ánh sáng leo lét lên mấy bức tường màu xanh lá cây đã bạc phếch. Một hốc tường hình vòm ở sảnh cầu nguyện đánh dấu không gian nơi vị imam dẫn dắt lễ cầu nguyện, xoay mặt về phía tây, hướng thánh địa Mecca. Bên cạnh sảnh cầu nguyện là hamaam, một phòng nhỏ nền lát đá vôi được sưởi ấm bằng vài khúc củi đốt dưới tầng hầm. Chú Gul Khan, một nông dân có gương mặt trẻ thơ sống gần ngôi đền và là người gọi nhắc nhở cầu nguyện, thường đến từng nhà để xin tiền đóng góp cho việc giữ gìn đền thờ. Mùa đông, những người đàn ông ngồi trong hamaam và nói chuyện làng, chuyện tôn giáo và chính trị. Đó là nơi ấm áp nhất trong làng.

Vị imam[49] đọc cùng một bài thuyết pháp bằng tiếng Ả Rập mỗi thứ Sáu. Tôi biết tên của các nhà tiên tri Muhammad, Easa (Jesus), Moosa (Moses) và Ibarhim (Abraham) xuất hiện ở đoạn nào, nhưng tôi không bao giờ hiểu nổi bài thuyết pháp nói gì. Chúng tôi luôn đi từ đền thờ về nhà với bà con và bạn bè. Sau buổi lễ cầu nguyện ngày thứ Sáu, theo phong tục thì phải chuẩn bị một ấm trà samovar và tụ tập quanh nó nhiều giờ liền. Trong những cuộc chuyện trò đó, chúng tôi thường kể lại câu chuyện cười về một người dân quê Kashmir đi đến Mecca. Ông ấy ở trong một khách sạn và có một lần người quản lý khách sạn nổi cáu với ông và bắt đầu la hét bằng tiếng Ả Rập. Người đó chỉ biết tiếng Ả Rập như ngôn ngữ của việc cầu nguyện nên đã đáp lại, “Aameen.”

Tôi có thể gắn nhiều gương mặt vào nhân vật dân quê đó. Một nhóm những ông già sẽ ngồi trong gian hamaam ấm cúng, ngủ gà gật. Tôi thường phải nén cười khi thấy họ giật nảy mình ra khỏi cơn mộng mị khi chú Gul Khan thét gọi cầu nguyện. Sau khi cầu nguyện, họ lại đắm mình vào việc tụng niệm darood, những lời ca ngợi Đấng tiên tri và các vị thánh bằng tiếng Kashmir và tiếng Ba Tư, lắc lư người trong khi ngân nga những lời thiêng liêng. Tôi và đám bạn bè không bao giờ nhớ nổi bài darood, nhưng chúng tôi cũng giả bộ làm theo, ngồi bắt chéo chân, lắc lư người và đồng thanh la to “Ya Allah” theo các cụ già. Ai trong đền thờ cũng cười khi ông Saifuddin, ông chú của mẹ tôi, đứng lên trong đền sau lễ Eid và nói, “Ôi Thượng Đế! Xin hãy phù hộ cho những người đã kiêng ăn trong suốt tháng Ramadan. Ôi Thượng Đế nhân từ! Xin hãy tha thứ và phù hộ cho những kẻ đã làm ngơ trước những yêu cầu của người và không kiêng ăn trong tháng Ramadan.” Chúng tôi biết ông Saifuddin không bao giờ kiêng ăn và sẽ chuồn ra đằng sau tấm rèm của tiệm ông để ăn vào mỗi buổi trưa trong tháng Ramadan.

Vào cuối những năm tám mươi, một giáo viên cao đẳng cầm đầu một nhóm Salafist hoạt động trong làng tôi và họ đã thành lập một đền thờ riêng. Hầu hết thành viên của nhóm là tầng lớp trung lưu trở xuống, có bằng cao đẳng và công việc bậc thấp trong chính quyền. Họ chống lại nghi thức mà người đạo Hồi đã thực hiện qua bao thế kỷ tại Kashmir – một sự kết hợp giữa truyền thống và sách vở. Không ai trong số họ là học giả Hồi giáo được đào tạo bài bản, mà họ chỉ là những độc giả nhiệt thành của những bài bình luận của người Urdu về kinh Koran và Hadith. Họ muốn làm méo mó truyền thống địa phương được gầy dựng trong quá trình dài chuyển từ đạo Hindu sang đạo Hồi. Thậm chí họ đã trình làng những sự khác biệt về hình thức: họ xắn quần lên trên mắt cá chân khoảng hai, ba phân, để râu quai nón dài ra và cầu nguyện vào những giờ khắc hơi khác một tí trong ngày. Họ cho mình là những người cải cách xã hội, cứu rỗi nông dân khỏi sự sùng bái mù quáng và khỏi sự bóc lột của tầng lớp tu sĩ – những moulvi[50] và pir[51], những người Bàlamôn theo Hồi giáo. Một người bạn tôi mô tả thế này: “Xe gắn máy của con trai một vị moulvi không chạy bằng xăng. Nó chạy bằng máu của dân làng.” Ngoại tôi, người luôn có cái nhìn khắt khe với các moulvi và pir, đã rời bỏ ngôi đền trong làng tôi và bắt đầu đến cầu nguyện ở đền thờ của những người thức tỉnh đức tin[52] cách đó ba tiếng đi bộ.

Tôi có vài lần đến đền thờ Salafist để cầu nguyện ngày thứ Sáu, nhưng tôi thấy những buổi lễ đó khô khan và nghiêm ngặt. Tôi không thoải mái với không khí căng thẳng, ý thức mộ đạo và sự chắc chắn của họ về việc đang đi đúng đường. Họ khinh khi và khắt khe với những người không quá sùng đạo. Họ tranh luận không ngừng nghỉ về việc phát âm chính xác tiếng Ả Rập và cho rằng việc phát âm sai những trích đoạn kinh Koran và Hadith là một cái tội. Một nỗi ám ảnh khác của họ là về độ dài đúng mực của bộ râu: bảy phân rưỡi hay là mười phân, một nắm tay hay hai nắm tay. Lũ trẻ con trong làng gọi người điều hành nhóm thức tỉnh đức tin là lão Dê.

May thay, Ngoại chẳng bao giờ để cho mối quan hệ giữa ông và người điều hành nhóm đó ảnh hưởng đến những tình bằng hữu của mình. Ông giữ mối liên hệ với những người theo đạo Hồi chống lại nhóm thức tỉnh đức tin và những người bạn theo đạo Hindu. Ngoại vẫn tiếp tục ghé tiệm tạp hóa của ông Somnath và giữ tình bạn với ông Bhaskarnath, người dạy học chung với Ngoại trong nhiều năm. Không giống những nơi khác trong đất nước Ấn Độ các cuộc xung đột giữa đạo Hindu và đạo Hồi đã giết chết hàng trăm người và đẩy những người Ấn Độ theo đạo Hồi vào những khu ổ chuột; ở Kashmir mối quan hệ giữa người đạo Hindu và người đạo Hồi trước nay vẫn hòa bình. Có một sự ý thức về những khác biệt và tương đồng tôn giáo trong quan niệm xử thế. Nhiều người Hồi giáo và người Hindu để riêng các tách và đĩa ở nhà họ cho những người khách thuộc tôn giáo khác.

Nhà chúng tôi không có tách và đĩa riêng. Chúng tôi ăn cùng nhau. Vào khoảng mười tuổi, tôi được dự một đám cưới Hindu của em trai ông Bhaskarnath. Tôi mặc quần tây đen, áo sơ mi carô trắng-đen và vuốt tóc bằng dầu mù tạt. Ông ngoại diện chiếc áo khoác nỉ ưa thích, cạo râu nhẵn nhụi và xức nước hoa Old Spice. Chúng tôi ngồi trong một phòng lót thảm đầy khách khứa. Bữa trưa gồm các món rau và thịt cừu, được phục vụ trong những đĩa thép nhỏ. Nó thật khác biệt so với những bữa tiệc cưới Hồi giáo, nơi bốn người ăn chung trong một cái đĩa đồng tráng thiếc, có rất ít rau củ và những món thịt cừu thì cay hơn và nhiều vô kể. Một người ngồi gần tôi hỏi thăm, “Con chịu ăn ở nhà người Hindu rồi ư?” Một người khác chụp hình rồi sau đó đưa cho chúng tôi vài tấm. Tôi còn một tấm trong album của mình: hình Ngoại đang nói chuyện với ông Bhaskarnath, còn tôi đang cầm một mẩu thức ăn trong tay phải và nhìn chằm chằm vào máy ảnh.

Sau cuộc nổi loạn chống Ấn Độ, tương tự những câu chuyện từ lịch sử nền chính trị ở Kashmir, các nhóm nghĩa quân đã dùng đạo Hồi cho kế hoạch động viên. Họ mượn những hình ảnh về lịch sử Hồi giáo và dùng tràn lan những từ ngữ như “tử vì đạo” và “chiến tranh vì đạo[53]”. Cho đến năm 1993-1994 các nhóm nghĩa quân Hồi giáo đã thắng thế trong cuộc chiến ly khai và các nhóm người Kashmir theo chủ nghĩa dân tộc như Mặt trận Giải phóng Jammu và Kashmir ủng hộ độc lập, đã đầu hàng và chấp nhận phương thức phản kháng phi bạo động. Pakistan hoàn toàn ủng hộ phương thức đó vì cũng như Ấn Độ, họ luôn kiên quyết chống lại ý tưởng về một nước Kashmir độc lập.

Pakistan quay về phía phe ủng hộ họ từ xưa tại Kashmir: Jamaat-e-Islami ở Jammu và Kashmir, một tổ chức tôn giáo – chính trị cánh hữu, từng có sự hiện diện nhỏ bé ở Kashmir từ đầu những năm 1950. Maulana Sayid Abu Ala Mawdudi, một nhà báo, đã sáng lập tổ chức Jamaat tại Lahore năm 1941; ông hy vọng thiết lập một tiểu bang Hồi giáo bằng việc cải tạo từng cá nhân, để họ luôn trong sạch về đạo đức và triệt để tuân theo các giáo luật của đạo Hồi.

Tổ chức Jamaat đến Kashmir một thập kỷ sau và tìm cách mở rộng ảnh hưởng bằng cách mở trường dạy học, thường xuyên họp mặt các thành viên cốt cán và phân phát vô số tờ rơi và sách in rẻ tiền do ông Mawdudi viết. Họ giữ nguyên quy mô, cung cách hoạt động và đã trưởng thành trong sự tự tin và tham vọng chính trị của mình. Họ ra tranh cử trong những đợt bầu cử tiểu bang vào cuối những năm 1960, với hy vọng rằng việc chỉ trích không ngừng về thất bại của Đảng Hội nghị Quốc gia trong việc tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý tại Kashmir sẽ thu được phiếu bầu dành cho họ. Nhưng họ không bao giờ giành được nhiều hơn ba hay bốn trên tổng số bảy mươi ghế trong quốc hội Kashmir. Mặc dù hầu hết dân Hồi giáo Kashmir không còn ảo tưởng về đất nước Ấn Độ và đã có thiện cảm với Pakistan, họ vẫn không nương tay với tổ chức Jamaat. Năm 1979, khi nhà độc tài người Pakistan Zia-ul-Haq treo cổ thủ tướng theo Đảng Xã hội của Pakistan là ông Zulfikar Ali Bhutto – người rất được dân Hồi giáo Kashmir thích – thì những người ủng hộ tổ chức Jamaat đã bị các băng nhóm ở Kashmir tấn công, còn nhà cửa của họ bị đốt. Ngoại thấy dân làng tức giận ném các bản kinh Koran vào đống lửa trên đường gần nhà chúng tôi. “Ta cố ngăn họ lại nhưng họ không chịu nghe và nói rằng nó là kinh Koran của tổ chức Jamaat-e-Islami.”

Nhưng khoảng đầu những năm chín mươi, tổ chức Jamaat lên tiếng trở lại sau khi phe cánh chiến đấu của nó là nhóm Hizbul Mujahideen được sáng lập. Người của tổ chức Jamaat trở nên đầy quyền lực do ảnh hưởng của họ đối với nghĩa quân đã giúp họ nhận được sự hỗ trợ to lớn từ phía Pakistan và sự khuyến khích Kashmir sáp nhập vào đất nước này. Tôi nhớ đến người dược sĩ thuộc tổ chức Jamaat ở làng tôi. Ông ta từng là một người lặng lẽ và lịch sự, nhưng có điều gì đó đã thay đổi trong khoảng năm 1992. Ông không bước đi bình thường nữa, mà ông đi nghênh ngang. Bạn có thể biết ngay ai là thành viên của Jamaat từ kiểu cách tự tin, đôi mắt sáng rỡ đầy vẻ chắc chắn, phong thái toát ra một sự hiểu biết bí ẩn nào đó và bộ râu quai nón ngắn đúng quy cách. Những ý tưởng của Mawdudi cũng nhận được sự cống hiến gần như sùng bái. Những người thuộc nhiều phe phái khác nhau trên chính trường đã dùng đạo Hồi ở Kashmir cho những mưu cầu chính trị, nhưng không ai nhấn mạnh vị trí của nó trong chính thể Kashmir nhiều như tổ chức Jamaat. Đầu những năm chín mươi, họ tổ chức những cuộc họp thường xuyên gọi là ijtima, nơi người của họ sẽ tìm cách thuyết phục các thanh niên gia nhập nhóm Hizbul Mujahideen.

Tôi nhớ một ngày nọ, tôi đang ngồi trước một cửa tiệm phía ngoài nhà mình thì ông dược sĩ của Jamaat đi ngang qua. Tôi lịch sự chào hỏi ông và ông chụp lấy ngay sự chú ý của tôi, nói chuyện hết sức hồ hởi và chu đáo, hỏi thăm gia đình, việc học hành của tôi, kể lể niềm hy vọng của ông rằng tôi sẽ toàn tâm toàn ý nghiên cứu tôn giáo hay deen[54]. Rồi giọng điệu ông bỗng trở nên bí ẩn như thể ông đang chia sẻ với tôi một bí mật giấu kín. Ông choàng một tay qua vai tôi rồi bảo tôi đi sang một chỗ cách xa đám đông trước tiệm. Ông nói, “Chúng tôi cần những chàng trai giống cậu. Cậu nên đến dự một buổi ijtima.” Nhưng ông không bao giờ phải nung nấu điều đó lần thứ hai sau khi tôi đáp, “Cháu sẽ cùng đến với con trai bác.”

Nhiều người Kashmir cho rằng sự lớn mạnh trong những năm 1990 của nhóm vũ trang tàn bạo Ikhwan-ulMuslimoon (Hội Ái hữu Hồi giáo) là nhờ sự thừa mứa của tổ chức Jamaat và Hizbul Mujahideen. Những người này – thường được biết đến như những Ikhwani – được chính phủ Ấn Độ trang bị vũ khí và cho một đặc quyền: miễn tố trước bất kỳ tội ác nào của họ. Những Ikhwani nắm rõ các nhóm khởi nghĩa ly khai lẫn xã hội Kashmir và sự hiểu biết đó giúp chúng trở thành những người chống khởi nghĩa đắc lực đến tàn nhẫn. Bọn chúng tra tấn và giết người như đội quân Mông Cổ thời hiện đại. Được trang bị khí tài bởi quân đội Ấn Độ, bọn Ikhwani thực hiện các cuộc vây ráp, giết chóc, đả thương và hạch sách bất cứ ai chúng nghĩ là có cảm tình với tổ chức Jamaat hay quân ly khai.

Có một lần tôi gặp con trai của Kuka Parrey, kẻ sáng lập tàn bạo của Ikhwan.

Parrey từng hoạt động phần lớn ở Baramulla. Đến khi tôi gặp con trai Parrey thì nghĩa quân ly khai đã giết chết ông ta. Con trai ông ta kể, Parrey từng là một ca sĩ hát dân ca hạng xoàng, một người ủng hộ phong trào ly khai và tán dương những thanh niên Kashmir vượt qua Đường Kiểm Soát để được huấn luyện vũ trang bằng việc sáng tác và hát một bài mang tên: “Shahzaad lukh Draayih Azad Kashmir” (Các hoàng tử hành quân đến Kashmir tự do!) Con trai Parrey nói với tôi là cha hắn đã hợp tác với quân đội Ấn Độ chỉ sau khi một thành viên Jamaat tát và sỉ nhục ông ta. Parrey và nhóm chống khởi nghĩa của ông ta bị dân Kashmir khinh ghét đến nỗi khi nghĩa quân giết chết ông ta, gia đình đã không đủ cam đảm chôn ông ta trong nghĩa trang của làng. Rời khỏi ngôi nhà giống như pháo đài được canh giữ bởi đám lính bán quân đội có vũ trang của Parrey, tôi nhìn thấy một khoảng đất có hàng rào sắt bao quanh ở một góc đằng xa trên thảm cỏ – đó là mộ của Parrey. Con trai ông ta kể rằng gã đàn ông thuộc nhóm Jamaat, người khiến Parrey trở thành quân chống khởi nghĩa, đã đảo ngũ và làm mật thám cho lực lượng bán quân đội.

Sau thập niên chín mươi, tổ chức Jamaat tìm cách tách khỏi các nhóm nghĩa quân, một phần vì hàng trăm thành viên của nó đã bị bắt và giết chết bởi quân đội Ấn và bị chết nhiều hơn nữa trong chiến dịch của quân chống khởi nghĩa Ikhwan. Tổ chức Jamaat tiếp tục là một nhóm thiểu số ở Kashmir. Nếu nó lại tranh cử tại Kashmir, tôi e rằng nó sẽ không tìm được một người ủng hộ nào ngoài những người ủng hộ nó từ trước, cũng không thể nào giành được nhiều hơn ba ghế như nó đã làm được vào những năm 1960.

Phần lớn tín đồ Hồi giáo Kashmir vẫn tiếp tục theo đạo Hồi không chính thống. Thực ra xã hội Kashmir đã thoáng hơn trong một thập kỷ rưỡi vừa qua. Hàng ngàn trai gái Kashmir đã ra đi vào đầu những năm chín mươi để theo học tại những thành phố và thị trấn của Ấn Độ hoặc tại các trường đại học ở Bắc Mỹ, châu Âu và Nga. Tôi là một trong số đó. Bạn bè tôi cũng là một phần của làn sóng. Hầu hết chúng tôi quay về Kashmir trong tư thế những người được đào tạo bài bản và những chuyến du hành dài đã làm thay đổi chúng tôi. Trong khi chúng tôi ra đi, một cuộc cách mạng khác đã nổi lên khắp vùng Nam Á, kể cả Kashmir, đó là truyền hình cáp. Trong suốt cuộc xung đột, khi phương tiện vận chuyển bị cắt giảm và người Kashmir phải ở trong nhà, họ đã xem hàng ngàn giờ tivi – phần lớn là các bộ phim Bollywood, những chương trình múa hát và tin tức. Sự phổ cập của Internet cũng làm xã hội “mở cửa”.

Đã có ít nhiều nỗ lực trong việc áp đặt các quy tắc đạo Hồi kiểu Saudi ở Kashmir, mặc dù việc này luôn thất bại. Trong một xã hội chủ yếu làm nông của Kashmir, đàn ông và phụ nữ cùng làm việc với nhau trên đồng và trong vườn và mặc dù phụ nữ vẫn đội khăn che đầu, cái ý tưởng về mạng che mặt không bao giờ thực sự được hưởng ứng. Thậm chí trong môi trường ngoài nông nghiệp và vùng thành thị như trường học, văn phòng và trường đại học, chỉ một số nhỏ phụ nữ Kashmir chọn đeo mạng. Đã có cố gắng không thành trong việc bắt phụ nữ đeo mạng che mặt, đặc biệt là của nhóm phụ nữ Hồi giáo khắt khe Dukhtaran-e-Millat (Những cô con gái của Cộng đồng Hồi giáo), cầm đầu là bà Asiya Andrabi, người không được biết đến bởi chuyện nào khác hơn. Tôi đã không nghe nói về bà ấy trong hơn một thập kỷ. Rồi một ngày hè năm 2004 bà xuất hiện trở lại trong cộng đồng. Tôi đến quán cà phê internet ưa thích của mình ở Lal Chowk. Người quản lý có vẻ chán nản và cam chịu. Cửa của hầu hết các phòng gỗ đã bị giật ra khỏi bản lề. “Asiya Andrabi và mấy mụ đàn bà của bà ta đã ở đây,” ông nói.

Bà ta và những người hoạt động của mình đã bắt đầu quấy nhiễu những cặp bồ bịch trẻ đang tranh thủ tình cảm một tí trong quán cà phê Internet hoặc đang ăn trưa trong các nhà hàng đèn mờ. Trong những tấm hình trên báo, bà Andrabi trông như một Zorro[55] nữ, một phụ nữ che mạng giương cao nắm tay đeo găng trắng. Mãi sau này tôi mới tìm cách gặp bà tại nhà riêng của bà ở Srinagar. Bà cao chưa được đến một mét tư và từ đầu đến chân trùm kín trong tấm mạng đặc trưng của mình. Bà kể với tôi là bà trở thành một tín đồ cải đạo theo Hồi giáo vào năm 1986, khoảng thời gian bà cảm thấy trầm cảm và bị cản trở vì gia đình cấm bà không được học cao học ngành hóa sinh ở Pune. Tham vọng không được thỏa mãn quả là một thứ nguy hiểm.

Bà bắt đầu hoạt động tích cực ngay sau khi ra trường vào năm 1987, bằng việc xóa hình những nữ diễn viên Bollywood trên các tấm poster được dựng lên hàng tuần ở Srinagar và đâu đó trong thung lũng. Bà cũng vận động để phụ nữ có băng ghế riêng trên những chiếc xe buýt đông nghẹt người. Sau đó, bà tham gia vào chương trình nghiên cứu Ả Rập và Hồi giáo tại Đại học Kashmir. Bà nói về gia đình gia giáo và trung lưu lớp trên của mình. Thật sự là, tôi đã choáng ngợp với hàng trăm quyển sách, kể cả sách của Noam Chomsky, Edward Said và bản copy cuốn Bhagavad Gita trên nhiều kệ sách trong phòng khách của bà. Đầu những năm chín mươi, bà Andrabi đã kết hôn với chỉ huy của nhóm Hizbul Mujahideen, người đã bị cầm tù nhiều năm ròng. Bà cho rằng việc lập gia đình với người theo nghĩa quân là một vinh dự, bất chấp những khó khăn kèm theo nó, và đã đặt tên cho con trai mình là Mohammed bin Qasim, theo tên của một vị tướng Ả Rập thời trung cổ đã xâm chiếm Ấn Độ. Khi chúng tôi trò chuyện vào trưa hôm ấy, bà Andrabi cằn nhằn về sự phổ biến của truyền hình cáp và thừa nhận là có rất ít phụ nữ Kashmir theo bà.

Những cách áp dụng khắt khe đạo Hồi tiếp tục thất bại ở Kashmir. Trong một lần về thăm quê, một đứa em họ kể cho tôi nghe về thằng con trai lớn của một ông thầy từng là lãnh đạo một nhóm Salafist tại làng tôi từ khi tôi còn nhỏ. Thằng bé đó học chung với em họ tôi. Ai cũng biết việc người ta nuôi dạy con cái theo kiểu khắt khe là như thế nào. Trong nhiều năm trời, bọn trẻ đã vâng lời, nhưng khi trưởng thành, chúng sẽ nổi loạn. “Nó làm trò hề trong trường. Nó đuổi theo tụi con gái, phóng xe như điên và tụi em gọi nó là Cầu vồng,” thằng em họ tôi nói vậy. Tôi thắc mắc cái tên đó và hỏi nó nghĩa là gì. “Nó nhuộm tóc mỗi tuần một màu khác nhau. Ngày thì tóc nó đen, ngày khác thì đỏ hay xanh lá cây.”

Tôi còn nhớ, khi tôi còn nhỏ, cha thằng bé và nhóm của ông ta đã vận động chống lại việc cầu nguyện ở đền thờ. Họ nghĩ rằng việc biến các vị thánh thành trung gian giữa đấng tạo hóa và tạo vật là phi Hồi giáo. Họ bị toàn bộ dân làng phản đối đến mức phải trốn vào nhà của bạn bè vì sợ một băng nhóm nào đó sẽ thanh toán họ. Điều mà ông thầy nhóm Salafist và đội quân của ông ta dường như không hiểu là tầm quan trọng về xã hội và văn hóa của đền thờ trong đời sống của người Kashmir. Chúng không đơn thuần là trung tâm tín ngưỡng mà còn là một nơi hội hè, một không gian dành cho những cuộc họp mặt cộng đồng, những kỳ lễ lạt và cho việc kinh doanh.

Đền thờ gần nhà tôi nhất nằm trong làng Aishmuqam, gần trường cũ của tôi. Một buổi trưa đầu tháng Tư tôi lên xe buýt đến Aishmuqam. Một người bạn của gia đình tôi, ông Kallu, bán vải trong cái chợ nhỏ gần trạm xe buýt. Con đường từ chợ đến làng trải rộng trước khoảng đất trống của con dốc dẫn đến đền thờ trên đỉnh đồi.

Trước khi bắt đầu cuốc bộ, tôi thấy ông Kallu ngồi trên cái bục trong tiệm, mặc áo khoác kiểu Nehru trang nhã và đội mũ kiểu Jinnah. “Mày ở đâu trong suốt thời gian qua thế?” ông ấy hỏi thăm. Giọng cao vút của ông ấy nghe thật vững dạ. Hai răng cửa của ông đã rụng, khuôn mặt ông nhăn nheo. Tôi tóm tắt những phần chính của khoảng thời gian tôi vắng mặt: cao đẳng, đại học và nghề báo chí. “Vậy còn chuyện vợ con thì sao?” Ai cũng hỏi bạn câu đó, dù là người thân trong gia đình, bà con hay người quen. Chị Razia con gái và anh Altaf con trai ông đều đã lập gia đình và đang điều hành một trường học. Riêng việc kinh doanh của ông thì không được tốt từ khi xảy ra cuộc chiến. “Nhưng cũng cảm ơn Thượng Đế là mọi người trong gia đình đều an toàn. Vào thời điểm này, mỗi ngày đều là một món quà.” Hai người đàn ông ngồi cạnh tôi trên chiếc ghế gỗ trong tiệm gật gù đồng ý. “Không có gì bảo đảm hết,” một người nói.

“Sáng nay toán lính tuần tra đã giết chết một thằng bé làng Pulwama. Xác của nó đang nằm trong đồn cảnh sát,” ông Kallul nói. “Một viên cảnh sát đến đây mua vải liệm cho nó. Bọn quân đội nói nó là người của nghĩa quân. Nhưng ai mà biết chắc được?” Rồi ông quay về hướng đền thờ trên đỉnh đồi và giơ hai tay lên cầu nguyện. “Ôi! Thánh Zainuddin ơi! Xin hãy làm người hòa giải với Đấng tối cao! Hãy cầu xin Ngài thương xót những con người này!”

Vì muốn làm nhẹ bớt bầu không khí đó, tôi nhắc ông một chuyện cũ từng làm ông cười. Một trong những cái tên mà người Hồi giáo dùng cho Thượng Đế là Noor (Ánh sáng thiêng liêng). Một giáo sĩ già với gương mặt hồng hào và bộ râu trắng toát ở đền thờ của làng Aishmuqam cũng được gọi là Noor. Khi còn bé, tôi được đi theo Ngoại và ông Kallu đến làm lễ cầu nguyện ngày thứ Sáu ở ngôi đền lộng lẫy đó. Mớ kiến thức nhỏ nhặt về tôn giáo dạy tôi rằng đền thờ là nhà của Thượng Đế. Noor đang thuyết pháp. Tôi tưởng ông là Thượng Đế. Sau buổi cầu kinh, tôi thấy Noor đi cùng một con đường với mình. Quá đỗi ngạc nhiên, tôi hỏi ông Kallu, “Tại sao Thượng Đế lại đi cùng đường với chúng ta?”

“Lúc đó cháu chừng sáu tuổi thôi. Đó là những ngày rất hạnh phúc. Ta với ông ngoại của cháu kể chuyện đó cho bạn bè nghe, còn ông Noor tội nghiệp thì rất xấu hổ.” Ông ấy mỉm cười và nói, “‘Thượng Đế’ đó của cháu đã chết rồi.”

Allah-o-Akbar! Ashadu An la ilaha illalah! (Thượng Đế vĩ đại! Không có Thượng Đế nào khác, ngoài Ngài!)

Tiếng gọi nhắc nhở tín đồ cầu nguyện buổi trưa lan xuống như làn sương từ trên đền thờ phủ lên những mái nhà tôn lô nhô trên đồi. Mùi bánh mì mới ra lò đựng trong các chiếc giỏ đan bằng liễu gai của tiệm bánh và mùi những bọc gia vị đặt trước các cửa tiệm vây lấy tôi khi tôi leo lên những bậc thang bằng đá dẫn đến đền thờ. Mỗi khi xuân về người ta lại tụ tập ở đây để dự một hội chợ thường niên ăn mừng hết đông và bắt đầu mùa gieo trồng mới. Hàng trăm người đàn ông, đàn bà và trẻ em sẽ cùng đốt những bó đuốc (những nhánh thông khô cột vào một cành dương liễu) và khiêm nhường đứng gần tường bao giống như pháo đài và trong cái sân lát đá cuội của đền thờ. Cổng vòm bằng gỗ của đền thờ được khắc chữ văn hoa. Những cửa sổ lưới mắt cáo và mái nhà màu xanh có hình dáng như của một ngôi tháp được chống đỡ bởi các cột trang trí và trên đỉnh được phủ một chóp đồng rực sáng trong ánh lửa vàng của những bó đuốc.

Nhiều năm sau, các tín đồ vẫn đứng chật cả sân lát đá cuội. Tôi dựa người vào bức tường bao thấp, ngắm nhìn dòng suối Lidder chảy xiết, nhìn những dải vàng rực màu hoa mù tạt, những mái nhà và ngôi làng bị thu nhỏ bởi khoảng cách và đường cánh cung màu nâu sẫm của dãy Himalaya. Đức Phật đã nghĩ Kashmir là địa điểm lý tưởng cho sự thiền định. Mỗi ngọn đồi nhỏ đều có một đền thờ và mỗi dòng suối đều có một thánh thất. Việc làm tín đồ ở đây dường như thật dễ. Tôi quay người vào sân và xem ông thợ hớt tóc râu ria lởm chởm đang mài chiếc dao cạo vào đá. Một đôi thanh niên và một phụ nữ lớn tuổi đang bồng một đứa bé cũng quan sát ông. Người phụ nữ giúp ông thợ tóc cột một miếng vải cotton trắng quanh cổ đứa bé. Lần cắt tóc đầu tiên của đứa bé, theo truyền thống của đạo Hồi ở Kashmir, phải được tiến hành tại một đền thờ. Ông thợ hớt tóc thoa lên mái tóc màu nâu nhạt thứ nước ấm đựng trong một tô nhôm.

Đứa bé khóc ré lên, người phụ nữ dỗ dành cho nó im lặng và đôi cha mẹ trẻ thì bồn chồn. Ông thợ cạo sạch tóc của đứa bé. Người cha bỏ những mớ tóc đó vào một chiếc khăn tay. Người mẹ mang một thau đầy tehr – thứ gạo tẩm gia vị có màu nghệ – và chia cho những người đã chúc phúc cho đứa bé.

Tôi đi theo gia đình đó vào trong đền thờ. Những người coi sóc đền thờ – những baba – ngồi trên bục gỗ đằng sau các khay đồng đựng đầy tiền xu. Gia đình đó hào phóng cúng tiền, đặt một hoặc hai tờ lên khay của mỗi baba. Tất cả baba đều chúc phúc cho đứa bé. Bên trong đền thờ là một cái hang cổ xưa với những cải biến hiện đại. Nhiều phụ nữ mặc áo hoa rực rỡ cầu nguyện ở một bên bệ đá cẩm thạch óng ánh xanh và một số baba khác nhận tiền cúng ở phía bên kia. Một cột đá vững chãi chống đỡ nóc hang. Một baba đang ngồi đó la to, “Nó là cột Mehboob-e-Alam. Người nào dựa vào nó thì được giải tỏa hết những rắc rối của mình. Cúng một ít vào đây và dựa vào cái cột kia, chàng thanh niên ơi. Những lo lắng của cậu sẽ biến mất.”

Tôi bước về cuối hang, nơi có một hốc thấp và hẹp dẫn vào căn phòng bé xíu nơi vị thánh từng cầu nguyện. Một ông cụ bước ra khỏi hốc đó và hai cô gái trẻ theo sau ông. Họ gập lưng lại và bước lùi ra. Người mộ đạo không quay lưng về phía vị thánh. Một ngọn đèn bằng đất nung được thắp gần cái hốc. Các tín đồ nhúng ngón tay của họ vào một ô đá hình lòng bàn tay chứa đầy dầu rồi xoa lên trán mình. “Nó sẽ chữa lành mọi bệnh tật và giải quyết mọi rắc rối của quý vị,” một baba đầu vấn khăn nói lanh lảnh. Tôi bò vào căn phòng của ông thánh. Một mảnh lụa xanh phủ lên mộ của ngài. Tám vị tín đồ đứng thành hai hàng hướng về ngôi mộ. Một baba cầu kinh một lúc rồi đi từ tín đồ này sang tín đồ kia với cái khay đồng của mình. “Để những tờ tiền vào khay, vị thánh sẽ lo cho quý vị.” Tôi ra về với một chút thất vọng về sự lấn lướt của sự thương mại hóa đối với vẻ cô tịch và trang nhã ở đây.

Khi đang bước xuống các bậc thang để đến trạm xe buýt, tôi nghe tiếng ai đó gọi. Khuôn mặt của người đàn ông thấp và gầy đó có vẻ quen quen. “Ta học chung trường. Tôi là Mubashir.” Anh ấy bán dược phẩm ở gần đây. Tôi ngồi trên một băng ghế gỗ sần sùi đối diện với chiếc bàn gỗ trống trơn, anh ngồi trên một cái ghế nhựa. Thuốc bao tử loại thường, xirô giảm ho và những gói giấy đựng thuốc viên chữa các bệnh lặt vặt nằm trên các kệ gỗ thô sơ dọc theo bức tường trát bùn. Giấy hoa dán tường phủ cái trần bằng rầm gỗ và cái bóng đèn lờ mờ làm cho cửa tiệm trông vàng vọt hẳn đi. Mubashir bỏ đi lấy trà. Tôi ngắm anh băng qua đường, anh đi cà nhắc. Khi anh quay lại, chúng tôi trò chuyện về cuộc sống của mình sau khi ra trường và Mubashir nói với tôi là anh không học hết cao đẳng.

Cha của Mubashir bị bệnh vào mùa đông năm 1997.

Bệnh viện địa phương lại đóng cửa. Chàng trai mười chín tuổi chạy đến tiệm thuốc gần cửa tiệm của ông Kallu. Khi anh chờ đến lượt mình thì thấy một tên trong nhóm chống khởi nghĩa Ikhwani đi về hướng tiệm thuốc. Mubashir cảm thấy bồn chồn khi thấy tên Ikhwani lảng vảng xung quanh mình. “Tôi tự hỏi ai sẽ gặp rắc rối đây.” Quân ly khai rất ghét Ikhwani và chắc chắn sẽ có một cuộc đụng độ nhỏ. Mubashir chỉ muốn lấy thuốc cho cha mình rồi đi về nhà.

Hàng người nhích lên chậm chạp. Tên Ikhwani đứng gần Mubashir, nhìn ngó quanh quất, nói vài câu xã giao và tung hứng một quả lựu đạn như tung một trái banh cricket. Mubashir hét to, bảo ông bán thuốc tây làm nhanh hơn. Không có gì xảy ra. Anh ấy vẫn chờ. Rồi anh nghe một tiếng nổ và mọi thứ tối đen. Sáu tiếng sau anh hồi tỉnh trên giường bệnh viện ở Srinagar. Quả lựu đạn đã tuột khỏi tay tên phản bội, rơi xuống mặt đường kim loại và phát nổ. Tên phản bội chết tại chỗ. Nhiều mảnh đạn xuyên vào chân Mubashir. Các bác sĩ đã mổ và chăm sóc cho anh trong ba tháng. Anh về nhà trên chiếc xe lăn và sau hai năm thì bỏ xe để chống gậy. Việc chữa trị cho anh hao tốn cả một gia tài. Cha anh đã nghỉ hưu một vị trí công chức cấp thấp. Anh Mubashir phải chu cấp cho gia đình mình. Bằng cấp của anh không đảm bảo được một công việc, mà anh lại không quen ai có chức tước. Thế nên anh bỏ học và mở tiệm thuốc, cũng kiếm được chút tiền. Ngày ngày anh ngồi trên chiếc ghế nhựa màu xanh đằng sau cái bàn gỗ trống trơ, chờ bệnh nhân đến mua thuốc và mơ đến những gì lẽ ra anh đã có thể có.

Tôi rời tiệm của anh và bắt đầu đi xuống trạm xe buýt. Anh đi với tôi, lê chân qua các bậc thang bằng đá cuội. Tôi ngăn anh lại. Anh dừng, quay lưng lại và nói, “Basharat à! Điều này thật khó nói, nhưng mà cậu giúp tôi tìm một công việc được không? Giúp tôi ra khỏi cái địa ngục này.” Thật không dễ gì trả lời câu hỏi này. Nhưng tôi thấy có một niềm hy vọng, đó là việc học tập. “Tôi sẽ hỏi thăm bạn bè tôi, nhưng anh phải học xong cao đẳng đã. Không có bằng cấp thì không có hy vọng gì đâu.”

Anh đồng ý. “Tôi sẽ gọi điện cho anh khi tôi có tấm bằng trong tay. Với sự phù hộ của thánh Zain Shah, chắc sẽ có điều gì đó giải quyết được”. Đôi mắt anh lóe lên một tia hy vọng mỏng manh. Chúng tôi chia tay nhau. Những lời nói của anh theo tôi về đến nhà. Tôi nghĩ mãi về sự vô vọng, về sự bám víu vào đức tin của anh.

Dường như con người ta cần đức tin, cần những phép màu. Một tuần sau, tôi ngồi trong nhà mình ở Srinagar, nói chuyện với một người bạn thi sĩ, người làm ra tiền bằng việc sản xuất những chương trình trả tiền cho đài truyền hình của bang. Anh ấy nói, “Thời bây giờ, đức tin đã trở thành thứ chống đỡ cho những kẻ giàu có, người nổi tiếng và người nghèo vô danh. Người ta không còn hy vọng vào chính phủ hay bất kỳ một chính khách nào. Họ quay sang các đền thờ, Đấng tiên tri và Thượng Đế.” Anh kể cho tôi nghe về một trong số các nhà thơ nổi bật nhất của Kashmir, giáo sư Rashid Nazki, người đã đắm mình vào đức tin sau một bi kịch cá nhân trong khoảng giữa những năm chín mươi. “Ông ta rời bỏ cuộc sống ồn ào và lui về sống tại ngôi làng của tổ tiên ở Bandipora,” anh bạn tôi nói.

Thị trấn nhỏ Bandipora cách Srinagar khoảng một trăm kilômét, trong quận Baramulla ở phía bắc Kashmir, gần Đường Kiểm Soát. Một buổi sáng, tôi đón taxi buýt đi từ Srinagar đến Bandipora. Đi khỏi Srinagar khoảng nửa tiếng, con đường dẫn đến Bandipora chạy men theo dòng Jhelum nhiều dặm khi con sông chảy lên hướng bắc, ngang qua Pakistan rồi đến biển Ả Rập. Những nhành dương liễu đan vào nhau tạo thành bóng mát cho đến khi con đường chạy lên một vùng cao nguyên bị quân đội chiếm đóng.

Đăm đắm nhìn qua cửa sổ taxi bên tay phải của mình, tôi bị hút hồn bởi khung cảnh của một cái hồ. “Đó là hồ Manasbal,” một người đi cùng nói với tôi. Trên mặt hồ xanh ngắt, hai chiếc shikara màu vàng đang lướt đi thanh thoát. Con đường lại chạy về hướng những ngọn đồi ở đằng xa. Chúng tôi chạy ngang qua các vườn táo và hạnh nhân cùng với những nóc nhà bằng tôn lấp lánh. Trong làng, có một cái biển vẽ tay thông báo:

HIỆU LÀM ĐẸP MUSKAAN, CHĂM SÓC DA, MÁT-XA VÀ CẮT TÓC.

Trên băng ghế phía sau tôi là một gia đình có hai đứa con hiếu động. Người mẹ bảo chúng xử sự đúng mực. Do quá phấn khích bởi làn gió nhẹ thổi qua cửa sổ xe, mấy thằng bé bỗng dưng đọc một bài thơ nói về ánh sáng và làn gió lạnh.

Một trạm kiểm soát xuất hiện chứng tỏ đã đến Bandipora. Một chiếc xe bọc thép đậu gần đó và hàng tá lính đứng dọc con đường. Chiếc taxi dừng lại. Mấy bé trai trên ghế sau la hét, “Dishkiaon, Dishkiaon”. Chúng nó cong tay, giả làm súng. Chúng nhại các hiệu ứng âm thanh đi kèm với tiếng súng trong hầu hết phim tiếng Hindi. Cái chợ ngay trung tâm thị trấn rất đông đúc, nhưng không dơ dáy như chợ ở các thị trấn nhỏ khác ở Kashmir. Lính Ấn Độ là những kẻ ngoại đạo duy nhất người ta có thể thấy. Cho đến tận những năm 1930, nếu bạn đi lòng vòng trong một cái chợ, thì cứ mỗi bốn người bạn gặp sẽ có một người đến từ một thành phố trung cổ nổi tiếng nào đó ở Trung Á. Chuyến hành trình từ Bandipora đến các thành phố Trung Á mất đến vài tuần, ngay cả bằng những phương tiện thời trung cổ như ngựa và la. Sự giao thoa văn hóa giữa Kashmir với những thành phố Samarkand, Bokhara và Kashgar rất phong phú và mạnh mẽ.

Nhà thơ Rashid Nazki sống trong căn nhà một tầng có cây tuyết tùng bên ngoài. Một thằng bé dẫn tôi vào. Nhà thơ rúm người dưới tấm khăn choàng trong một căn phòng nhỏ. Ông có đôi mắt đen sâu, sáng rực trên khuôn mặt hóp và giống như bức tượng. “Chắc hẳn cậu đến từ Srinagar,” ông nói, đẩy một tấm đệm về phía tôi. Mời khách tấm đệm để tựa lưng thay vì để họ dựa vào bức tường trống là một cử chỉ bày tỏ sự kính trọng theo tập quán địa phương. Ông duỗi chân ra rồi lại dựa vào tấm đệm, rít điếu thuốc lá trên những ngón tay mảnh khảnh, run rẩy. “Tôi là một ông già sống cách biệt với thế giới bên ngoài. Điều gì đã mang cậu đến đây?” Bạn tôi đã giới thiệu tôi là một nhà báo, và nhà thơ cũng chờ đợi một cuộc phỏng vấn về suy nghĩ của ông đối với cuộc xung đột ở Kashmir.

Ông vừa ngạc nhiên lại vừa nhẹ nhõm vì tôi đã không có câu hỏi nào như vậy cho ông. “Ở những thời điểm khó khăn thế này, các nhà báo thường hỏi những câu người ta biết nhưng không dám trả lời,” ông nói có phần bực dọc. “Tôi chỉ muốn được gặp ông thôi,” tôi nói. Một cậu thiếu niên đi vào và hỏi ông dùng bữa trưa hay không. “Cậu sẽ ăn trưa với tôi,” ông ra lệnh. Rồi ông lấy tờ một trăm rupee trong túi quần đưa cho cậu. “Mua thịt cừu rồi nói mẹ con chiên lên. Ông khách này sẽ ăn cơm với ta.” Ông nói với tôi, “Nó là cháu ngoại tôi.” Rồi ông bảo tôi kể về những chuyến đi. Tôi kể chuyện, còn ông nhận xét, hút thuốc, rồi nhận xét và hút thuốc. Thức ăn được mang đến: cơm, thịt cừu và đậu. Nhà thơ chất lên đĩa của tôi đầy thịt cừu. “Tôi sẽ ăn chừng đó trong hai ngày,” tôi vùng vằng. “Cậu là thanh niên và cậu cần phải ăn”, ông ấy khăng khăng.

Sau bữa trưa, chúng tôi trò chuyện về thơ ca. “Ông nghĩ gì về thơ ca được viết ở Kashmir sau khi có cuộc xung đột?” tôi hỏi ông. “Thơ được sáng tác nhiều lắm. Thế hệ trẻ hơn nói về cuộc xung đột một cách thẳng thắn. Có một số bài khá hay. Viết bằng tiếng Anh thì có tác phẩm của Agha Shahid Ali,” ông ấy khăng khăng.

“À đúng rồi. Tôi thích thơ anh ta lắm,” tôi tán thành.

Giáo sư Nazki lại im lặng. “Cậu ấy là một chàng trai khá hay. Khi chúng tôi ở nhà cậu, Shahid hay bước đi như một người say rượu. Cha của cậu là bạn tôi và có một lần tôi nói với ông ấy là Shahid không được khỏe. Nhưng ông ấy tin rằng đó chỉ là cách các nhà thơ sống mà thôi. Không bao lâu sau, người ta phát hiện ra tế bào ung thư trong cậu. Cái chết của cậu là một mất mát to lớn. Kashmir cần có những nhà thơ như cậu ấy, nhưng liệu ai có thể né tránh được cái chết?” Nhà thơ già ngồi thẳng người lên. “Shahid tuy làm thơ về chính trị nhưng không thỏa hiệp về mặt kỹ thuật. Hầu hết thơ ca chính trị đều trống rỗng. Chất luận chiến còn thì thơ ca chết.”

Tôi hỏi về thơ của ông. Những bài thơ có tính chất huyền bí của ông đã đoạt nhiều giải thưởng khác nhau. Tôi hỏi ông có bài nào được dịch sang tiếng Anh không. “Có, chúng đã được dịch sang tiếng Urdu. Người nào đó ở Delhi đã dịch thơ ta sang tiếng Anh. Người dịch không bao giờ hỏi xin phép ta, thậm chí cậu ta cũng chẳng thèm gửi cho ta một bản copy.” Ông đã không viết nhiều kể từ năm 1990. “Ta đã mất nửa gia đình mình trong một vụ nổ lựu đạn và đã ngưng làm thơ sau đó.” Tôi rất sợ cái giây phút này và cúi đầu trong im lặng. Nhà thơ tường thuật lại chuyện của mình bằng một giọng điềm tĩnh.

Một buổi chiều năm 1990, khi ông đang dạy tại trường Đại học Kashmir thì có tin báo rằng một trái bom đã phát nổ gần nhà ông. Ông lao thẳng từ trường đại học về Bandipora. Sáng hôm ấy, một người nghĩa quân lảng vảng trên con ngõ cạnh nhà ông, dự tính sẽ ném một trái lựu đạn vào toán lính đang đi ngang qua. Sợ bọn lính trả đũa, hai người con trai của nhà thơ đi ra, thuyết phục người đó ném trái lựu đạn ở môt nơi xa khu dân cư. Anh ta rất kiên quyết và họ cũng vậy. Rồi mẹ của họ cũng tham gia vào câu chuyện. Trong lúc tranh cãi, người ta vung tay chỉ trỏ để thuyết phục theo cách của người Kashmir và người nghĩa quân đó đã vô tình làm bật chốt nổ trái lựu đạn. Khi nhà thơ về đến nhà thì vụ nổ đã giết chết tay nghĩa quân, hai người con trai và vợ của ông. “Ta rơi vào trạng thái mê man trong tám năm sau đó. Ta không thể viết nổi một dòng thơ. Mỗi lần cầm bút lên, mấy ngón tay ta run lẩy bẩy.” Không có tòa án nào dành cho nỗi mất mát của ông. “Ta than với Đấng tiên tri Muhammad. Ta gửi những lời cầu nguyện và than vãn của mình đến tòa án của người.” Ông đã vượt qua sự mất mát bằng tình yêu dành cho Đấng tiên tri. “Ta dành thời gian cho việc dịch một cuốn tiểu sử.” Ông sống động trở lại, mắt ông sáng rỡ khi ông nói về công việc của mình. “Cậu sẽ cảm nhận được hơi thở của Đấng tiên tri khi cậu đọc cuốn sách này. Ta đã tận hưởng dòng ý thức ấy.” Tôi còn nhớ một trong những câu thơ của ông:

Tôi hỏi vị tu sĩ ngồi trên vỉa hè

Từ đây đến thế giới bao xa?

Nooruddin Rishi là vị thánh bảo hộ của Kashmir. Ông được dẫn dắt bởi Lalleshwari, một phụ nữ Bàlamôn, người sau khi chịu quá nhiều đau khổ dưới bàn tay sắt của gia đình chồng đã nổi loạn và trở thành một người bí ẩn, rao giảng về sự độc hữu của Thượng Đế và phản bác hệ thống đẳng cấp xưa cũ của Ấn Độ. Khi còn bé, ông Nooruddin đã được gửi đến một mullah, nhưng ông không chịu đọc cái gì khác ngoài chữ cái Ả Rập đầu tiên là chữ Alif (Một). Thầy của ông hỏi vì sao, ông đáp, “Chỉ có một Thượng Đế mà thôi và tôi không cần biết gì ngoài Alif.” Thời tuổi trẻ, ông đã chối bỏ thế giới và cầu nguyện trong một hang động suốt mười hai năm. Thỉnh thoảng sau thời gian tu hành trong hang động của mình, ông Nooruddin đã gặp Mir Mohammed Hamdani, một vị thánh Sufi người Iran. Mohammed là con trai của nhà học giả Sufi vĩ đại Syed Mir Ali, người đến Kashmir vào thế kỷ mười bốn và đã thu hút người Kashmir đến với Hồi giáo và được biết đến rộng rãi với cái tên Shah-eHamadan (Vua của Hamadan). Trước khi trở về và chết ở Khatlan, một thị trấn Trung Á, Shah Hamadan đã thuyết phục được đứa con trai nhỏ của mình là Mohammed đi vòng quanh thế giới để học hỏi. Sau nhiều cuộc hành trình, chàng trai trẻ đã đến Kashmir và tiếp tục sứ mạng cũng như công việc của một học giả như cha mình.

Mohammed Hamdani đã dạy cho Nooruddin Rishi những giáo lý phức tạp của đạo Hồi và về cuộc đời của đấng tiên tri Muhammad. Những cuộc đàm luận của hai người đã thuyết phục Nooruddin tập trung vào cải cách xã hội thay vì từ bỏ nó. Ông đã đi khắp Kashmir, trò chuyện với mọi người bằng tiếng nói của họ. Sự diễn giải của ông về đạo Hồi đã bám được vào các phong tục địa phương và nền văn hóa của họ, nên dân chúng hiểu ông dễ dàng hơn hiểu những người Sufi gốc Iran và gốc Trung Á, những người đã đưa đạo Hồi đến Kashmir. Ông chỉ trích những tu sĩ Hồi giáo chính thống và Bàlamôn đã hạ thấp tôn giáo thành những nghi thức rỗng tuếch, biến nó thành cách tự đề cao bản thân và tạo ra sự thù ghét lẫn nhau giữa những người theo đạo Hindu và đạo Hồi:

Nghiền ngẫm sách vở họ trở thành những người xa lạ với chính mình.

Giống như những con lừa nặng trĩu sách trên lưng.

Vị Mullah thì hỉ hả với quà cáp và tiệc tùng,

Vị Pandit già thì tìm kiếm một cô vợ trẻ trinh trắng.

Dưới sự ảnh hưởng của ông, phần lớn dân Kashmir trở thành tín đồ Hồi giáo, tuy việc cải đạo sang Hồi giáo đã bắt đầu vào đầu thế kỷ mười bốn sau khi hoàng tử Tây Tạng Rinchana trở thành người cai trị Kashmir. Để củng cố vị trí của mình, ngài Rinchana đã quyết định cải đạo sang đạo Hindu. Nhưng các tu sĩ Bàlamôn không chịu cho ngài cải đạo vì không chắc chắn Rinchana sẽ thuộc về đẳng cấp nào. Shah Mir, người bạn theo đạo Hồi đồng thời là cố vấn của ngài nói cho ngài biết về Hồi giáo. Hoàng tử Rinchana ngủ trong cung điện trên bờ sông Jhelum và tỉnh giấc khi nghe nghe tiếng gọi cầu nguyện của người Hồi giáo. Trên bờ sông đối diện với lâu đài, vị Sufi người Ba Tư Bulbul Shah đang dẫn dắt lễ cầu nguyện buổi sáng. Hoàng tử Rinchana vượt qua sông để gặp Bulbul Shah và được trả lời những thắc mắc. Thế giới đạo Hồi không phân biệt đẳng cấp, mọi người đều bình đẳng. Sự cải đạo chỉ đơn giản là nói: “Không có chúa trời mà chỉ có Thượng Đế và Muhammad là sứ giả của Ngài.” Hoàng tử Rinchana đã cải đạo sang đạo Hồi, bảo trợ cho vị thánh đó và cai trị độ lượng trong ba năm.

Shah Mir đã thắng trong trận tranh giành quyền kế vị sau cái chết của ông hoàng Rinchana. Trong số những người kế vị của Shar Mir có hai người được nhớ đến nhiều nhất: Sikander, một người cuồng tín và Zainulabideen, một người theo chủ nghĩa tự do. Sikander ra lệnh cấm nhạc nhẽo, rượu chè nhảy múa và bị lên án là đã phá hủy nhiều đền thờ của đạo Hindu tại Kashmir trong khoảng cuối thế kỷ mười bốn. Người Kashmir còn nhớ, thời gian trị vì của vị vua chuộng tự do Zainulabideen, từ năm 1420 đến năm 1470, là một thời kỳ hoàng kim. Người ta vẫn còn gọi ông là Bud Shah (Đức vua vĩ đại). Ông đã cho xây dựng nhiều trường đại học và tặng học bổng cho nhiều sinh viên và học giả ngành luận lý và ngôn ngữ. Ông cho mời các thợ thủ công và nghệ nhân bậc thầy ở những thành phố Trung Á về dạy cho dân Kashmir làm giấy bồi và dệt thảm. Ông chấm dứt nạn ngược đãi người theo đạo Hindu và vực dậy âm nhạc và kịch nghệ. Bud Shah là một trong những người hộ tang trong tang lễ của Nooruddin Rishi. Nhà vua được chôn cất tại thị trấn Chrar, cách Srinagar khoảng một giờ lái xe về hướng tây, nơi ông đã sống những năm cuối đời mình. Ngôi đền được xây ở đó để tưởng niệm ông đã trở thành một trong những nơi linh thiêng nhất ở Kashmir.

Tháng Năm 1995, quân đội Ấn đã bao vây thị trấn Chrar. Nghĩa quân được cầm đầu bởi một người Pakistan tên là Mast Gul đang ẩn náu trong thị trấn Chrar. Từ khi tuyết rơi, việc ẩn nấp trong núi của họ trở nên bất khả. Một trận chiến đã nổ ra trong thị trấn và không lâu sau trở nên vô cùng gay gắt. Hai ngàn năm trăm ngôi nhà đã bị đốt và vô số thường dân bị giết. Quân Ấn đã chuyển sang tấn công khu đền thờ nơi nghĩa quân ẩn nấp. Trận chiến đó đã thiêu rụi ngôi đền: sáu trăm năm của lịch sử đã bị hủy hoại chỉ trong một ngày. Người Kashmir thương khóc và cùng tuần hành đến ngôi đền chỉ còn lại tro tàn. Bọn lính bắt bớ họ, xả súng vào những người tuần hành. Mast Gul và quân của ông đã phá vỡ hàng rào quân đội và trốn thoát. Người Kashmir buộc tội quân đội Ấn Độ đã phá hủy ngôi đền, còn quân đội và chính phủ Ấn đổ tội cho nghĩa quân Pakistan đã phá hủy nó để tự cứu mình.

Vào một buổi chiều tháng Năm quang đãng tôi lên đường từ Srinagar đến đền thờ ở thị trấn Chrar. Nửa tiếng sau, chiếc taxi ra khỏi thành phố và những ngôi làng xuất hiện dày đặc hơn ở phía trước. Xe chạy qua những cánh đồng, lên một vùng cao nguyên và qua một số trạm kiểm soát. Chín năm sau, thị trấn Chrar có vẻ giống như một thị trấn mới. Chiếc jeep dừng lại bên ngoài ngôi đền mới do chính phủ xây dựng. Nó là một tòa nhà bằng xi-măng, màu trắng. Những khung cửa sổ bằng gỗ phủ véc-ni được mô phỏng theo kiến trúc ngôi đền cũ một cách nửa vời. Những tấm thiếc bóng loáng như đang mỉa mai cái ký ức về những tấm ván ốp mái.

Tôi đứng nơi taxi đậu, chăm chú nhìn ngôi đền mới. Một cặp vợ chồng già đang đi chầm chậm ra cửa trong nỗi sùng kính. Họ dừng lại gần tôi, miệng mấp máy những lời khấn nguyện: “Ôi Sultan của các vị thánh! Xin hãy từ bi với chúng con, từ bi với con cái của chúng con. Xin hãy cứu chúng khỏi những trận bão và hỏa hoạn, xin hãy cứu vớt chúng như ngài đã từng cứu vớt chúng cho đến hôm nay.” Đôi mắt họ rưng rưng lệ.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 19 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 148, 149, 150

2 • [Hiện đại] Làm thế nào để ngừng nhớ anh - Mộng Tiêu Nhị

1 ... 34, 35, 36

3 • [Cổ đại] Kiêu Tế - Quả Mộc Tử

1 ... 46, 47, 48

4 • [Hiện đại] Cướp tình Tổng giám đốc ác ma rất dịu dàng - Nam Quan Yêu Yêu

1 ... 64, 65, 66

5 • [Xuyên không] Khi vật hi sinh trở thành nữ chính - Tư Mã Duệ Nhi

1 ... 28, 29, 30

6 • [Xuyên không] Cuộc sống nông thôn nhàn rỗi - Kẹo Vitamin C

1 ... 108, 109, 110

7 • [Xuyên không - Dị giới] Phế sài muốn nghịch thiên Ma Đế cuồng phi - Tiêu Thất Gia - New C882

1 ... 127, 128, 129

8 • [Xuyên không - Cổ xuyên hiện] Ảnh hậu đối mặt hàng ngày - Ngã Yêu Thành Tiên

1 ... 37, 38, 39

9 • [Xuyên không] Vương phi thần trộm Hưu phu lúc động phòng! - Thủy Mặc Thanh Yên

1 ... 82, 83, 84

10 • [Xuyên không] Trôi nổi trong lãnh cung Khuynh quốc khí hậu - Hoa Vô Tâm

1 ... 75, 76, 77

11 • [Hiện đại] Hôn nhân giá ngàn vàng - Cẩm Tố Lưu Niên (103/104]

1 ... 181, 182, 183

12 • [Hiện đại] Eo thon nhỏ - Khương Chi Ngư [NEW C65]

1 ... 23, 24, 25

13 • [Xuyên không] Hỉ doanh môn - Ý Thiên Trọng

1 ... 105, 106, 107

14 • [Cổ đại - Trùng sinh] Đích nữ nhà nghèo Bán phở heo

1 ... 8, 9, 10

15 • [Hiện đại] Xin chào Chu tiên sinh! Dạ Mạn

1 ... 27, 28, 29

[Cổ đại - Trùng sinh] Trọng sinh cao môn đích nữ - Tần Giản

1 ... 137, 138, 139

17 • [Hiện đại] Người cha nhặt được - Cát Tường Dạ

1 ... 26, 27, 28

18 • [Hiện đại Thanh mai trúc mã] Đều Tại Vầng Trăng Gây Họa - 11 Giờ Phải Ngủ

1 ... 40, 41, 42

19 • [Hiện đại] Cục cưng lật bàn Con là do mẹ trộm được? - Ninh Cẩn

1 ... 87, 88, 89

20 • [Hiện đại] Anh Trai VS Em Gái - Trà Trà Hảo Manh

1 ... 10, 11, 12


Thành viên nổi bật 
Aka
Aka
Puck
Puck
PhongLangTB
PhongLangTB
Nminhngoc1012
Nminhngoc1012
Cà Ri Bơ
Cà Ri Bơ
susublue
susublue

Công Tử Tuyết: Re: [Trắc Nghiệm] Bạn là ai trong truyện Đam mỹ ?
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 700 điểm để mua Hamster lêu lêu
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 665 điểm để mua Hamster lêu lêu
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 250 điểm để mua 3 quả cam
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 1995 điểm để mua Đá Peridot
Shop - Đấu giá: Eun vừa đặt giá 1899 điểm để mua Đá Peridot
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 728 điểm để mua Hộp quà Hamster
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 421 điểm để mua Cổ vũ
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 400 điểm để mua Cổ vũ
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 692 điểm để mua Hộp quà Hamster
Shop - Đấu giá: Snow cầm thú HD vừa đặt giá 789 điểm để mua Nữ thần rừng
Shop - Đấu giá: Phong_Nguyệt vừa đặt giá 751 điểm để mua Nữ thần rừng
Shop - Đấu giá: tieu_hao vừa đặt giá 649 điểm để mua Điện thoại HTC U11
Shop - Đấu giá: tieu_hao vừa đặt giá 550 điểm để mua Điện thoại Xiaomi Mi Mix 2
Shop - Đấu giá: tieu_hao vừa đặt giá 950 điểm để mua Điện thoại Samsung Galaxy Note 8
Shop - Đấu giá: tieu_hao vừa đặt giá 750 điểm để mua Điện thoại Samsung Galaxy S8
Shop - Đấu giá: tieu_hao vừa đặt giá 999 điểm để mua Điện thoại Iphone X
Shop - Đấu giá: tieu_hao vừa đặt giá 750 điểm để mua Điện thoại Sony Xperia Z5 Premium
Shop - Đấu giá: tieu_hao vừa đặt giá 450 điểm để mua Điện thoại Oppo F3 Plus
Shop - Đấu giá: tieu_hao vừa đặt giá 850 điểm để mua Điện thoại Samsung Galaxy S9
Shop - Đấu giá: tieu_hao vừa đặt giá 699 điểm để mua Điện thoại Iphone 8
Shop - Đấu giá: susublue vừa đặt giá 1807 điểm để mua Đá Peridot
Shop - Đấu giá: Snow cầm thú HD vừa đặt giá 714 điểm để mua Nữ thần rừng
Shop - Đấu giá: Phong_Nguyệt vừa đặt giá 679 điểm để mua Nữ thần rừng
Shop - Đấu giá: Snow cầm thú HD vừa đặt giá 645 điểm để mua Nữ thần rừng
Shop - Đấu giá: Aka vừa đặt giá 1720 điểm để mua Đá Peridot
Shop - Đấu giá: susublue vừa đặt giá 1370 điểm để mua Đá Peridot
Shop - Đấu giá: Aka vừa đặt giá 1303 điểm để mua Đá Peridot
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 658 điểm để mua Hộp quà Hamster
Shop - Đấu giá: Mẹ tớ là Thái Hậu vừa đặt giá 699 điểm để mua Điện thoại Iphone 8

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.