Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 11 bài ] 

Khuôn mặt bị đánh cắp - Latifa

 
Có bài mới 17.10.2017, 09:35
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35469
Được thanks: 5258 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Hồi ký] Khuôn mặt bị đánh cắp (Hồi ký của một phụ nữ trẻ lớn lên dưới thời Taliban) - Latifa - Điểm: 10
1 - Lá cờ trắng trên nóc thánh đường Hồi giáo

Chín giờ sáng ngày 27 tháng Chín năm 1996. Có người gõ rầm rầm vào cửa trước. Cả nhà giật mình. Chúng tôi đã lo lắng suốt từ lúc bình minh tới giờ. Cha tôi bước vội vàng ra khỏi phòng. Mẹ tôi lo lắng nhìn theo cha. Mặt mẹ cau lại mệt mỏi. Suốt đêm qua mẹ không ngủ. Không ai ngủ được. Đạn pháo rocket đã nã khắp thành phố cho đến tận hai giờ sáng. Chị gái tôi, Soraya, và tôi thì thào trong bóng tối. Chúng tôi không thể im được cả khi đã yên ắng trở lại. Không nơi nào người ta có thể thực sự ngủ yên.

Hẳn bạn nghĩ rằng, lớn lên ở Kabul, chúng tôi đã quen với việc trở thành mục tiêu của rocket. Tôi mười sáu tuổi và tôi đoan chắc rằng mười sáu năm nay tôi vẫn luôn nghe thấy chúng. Thành phố đã bị bao vây từ rất lâu rồi. Nó cứ bị tấn công, bị oanh tạc rồi lại bị tấn công. Quân kẻ cướp giết người dội lửa khói xuống đầu chúng tôi, xua chúng tôi ra ngoài, thỉnh thoảng hun cho chúng tôi phải chạy hẳn ra khu hầm trú ẩn ở tít xa. Thêm một đêm biến động nữa cũng chỉ nằm trong cái thông lệ này mà thôi.

Nhưng hôm nay thì có vẻ khác hẳn.

Cha tôi quay trở vào trong bếp. Ngay phía sau cha là cậu em họ Farad của chúng tôi. Nó thở hổn hà hổn hển, mặt tái mét như cái xác chết, như thể đang run từ trong ruột run ra. Gương mặt nó lộ vẻ hoảng sợ. Nó nói một cách khó khăn, các từ ngữ ríu vào nhau với những quãng ngắt bất thường.

“Cháu đến... để xem bác có sao không. Mọi việc ổn chứ ạ? Bác không thấy gì à? Bác không biết gì phải không? Nhưng bọn chúng đến đây rồi! Vâng, bọn chúng chiếm Kabul rồi. Taliban(1) đang ở Kabul. Bọn chúng không đến nhà bác à? Chúng không đòi thu hết vũ khí ư?”

“Không. Không ai đến cả,” cha tôi lẩm bẩm. “Nhưng cả nhà đã thấy cờ trắng bay trên nóc thánh đường. Và từ sáng đến giờ đã lo đến khả năng xấu nhất. Daoud trông thấy nó sáng nay.”

Khoảng năm giờ sáng nay, vừa đi xuống lấy nước ở vòi nước công cộng của khu nhà như thường lệ, Daoud, anh trai thứ của tôi, đã hộc tốc chạy về, chiếc xô cầm trên tay vẫn rỗng không. “Con nhìn thấy có cờ trắng trên nóc thánh đường và một lá nữa bên trường học!”

Cờ của Taliban. Nó chưa từng bay trên bầu trời Kabul trước kia. Tôi mới chỉ nhìn thấy nó trên truyền hình hoặc trong các bức ảnh đăng báo mà thôi.

Chúng tôi vẫn biết Taliban ở rất gần. Khắp thành phố người ta kháo nhau rằng chúng chiếm cứ một nơi cách thủ đô khoảng 10 hay 15 cây số gì đó. Nhưng không ai thực sự nghĩ rằng chúng sẽ tiến xa đến thế. Vào tận Kabul. Chúng tôi vẫn cố gắng tìm kiếm thông tin nào đó trên đài hoặc ti vi, nhưng không có gì cả. Không một tin tức nào. Cả đài lẫn ti vi đều bặt tiếng từ sáu giờ tối hôm qua. Sáng nay, cha tôi đã gắng liên lạc với những người thân khác ở Kabul thêm lần nữa. Nhưng đều vô ích. Điện thoại đến giờ vẫn bị ngắt.

Lòng lo lắng, tôi loay hoay vặn cái nút bấm trên đài. Đài này chạy bằng pin, nhưng chỉ phát ra những tiếng rè rè. Cả Đài phát thanh Kabul, đài địa phương, cả đài BBC, lẫn Đài Tiếng nói Hoa Kỳ, mà tôi thử vận may, đều không có tín hiệu... Nếu Farad không liều đạp xe như điên đến đây, băng qua hai cây số đầy nguy hiểm ngăn giữa hai vùng của chúng tôi, thì chúng tôi sẽ chẳng hay biết gì, không gì cả ngoài những lá cờ trắng đang phần phật bay kia.

Những gì Farad trông thấy khiến nó khiếp sợ đến nỗi gần như cấm khẩu. Rồi đột nhiên lời lẽ nó tuôn trào ra thành một tiếng kêu dài nghèn nghẹt.

“Chúng treo Chủ tịch Najibullah và em trai ông ta ở quảng trường Ariana... Cảnh tượng gớm guốc. Thật kinh khủng.”

Farad hết quay sang cha tôi lại sang Daoud, và luôn nhìn mấy người phụ nữ chúng tôi một cách đầy đau khổ. Người ta đã đồn đại những điều kinh hoàng về cách Taliban đối xử với phụ nữ ở những khu vực chúng đã chiếm được. Tôi chưa từng thấy Farad bị kích động đến thế, mắt nó trừng lên hoảng sợ.

“Bác có tưởng tượng nổi không? Chủ tịch nước Najibullah! Chúng treo ông ta lên bằng ống nhựa. Trên quảng trường rất đông người. Chúng bắt họ phải nhìn... phải đứng đấy mà xem. Chúng đánh họ. Cháu nhìn thấy cảnh ấy.”

Năm chúng tôi cứng đờ cả người. Chúng tôi không nói được lời nào đáp lại.

Từ lúc tinh mơ, dù đã nghe anh tôi báo về những lá cờ trắng, tôi vẫn không chịu tin. Quân chính phủ hẳn phải rút lui chỉ để tinh giản lực lượng và sẽ lại chiến đấu, tôi tự nhủ. Đơn giản là họ đang đóng trú tạm thời ở đâu đó hơi xa một chút về phía Bắc, một vùng ngoại ô khác của thành phố. Lực lượng Kháng chiến Mujahidin(2) không thể bỏ rơi Kabul được.

Tôi đã nghe và đọc về Taliban nhiều đến nỗi tôi những muốn lờ đi các thông tin ấy, tự dối mình rằng chúng chỉ là những tin đồn nhảm. Đài Kabul tường thuật rằng chúng giam cầm phụ nữ trong nhà, không cho họ đi làm hoặc đi học. Phụ nữ không còn được sống nữa. Bọn Taliban bắt đi trẻ em gái, đốt nhà cửa của nông dân, dùng vũ lực cưỡng ép đàn ông gia nhập quân đội. Bọn Taliban muốn hủy diệt đất nước chúng tôi.

Ngày hôm qua, cuộc sống ở Kabul vẫn “bình thường”, bất chấp những đống đổ nát và cuộc nội chiến. Ngày hôm qua, tôi đã đi cùng chị đến hiệu may thử những bộ váy áo mà chúng tôi sẽ mặc ở đám cưới vốn phải diễn ra hôm nay. Lẽ ra sẽ có âm nhạc. Lẽ ra chúng tôi sẽ nhảy.

Cuộc sống không thể cứ thế ngừng lại vào ngày 27 tháng Chín năm 1996! Tôi 16 tuổi và vẫn còn quá nhiều việc phải làm - đơn cử như phải thi đỗ kỳ thi đầu vào khóa học báo chí ở trường đại học chẳng hạn. Không, việc Taliban sẽ chiếm đóng Kabul là tuyệt nhiên không thể. Đây chỉ là vận rủi tạm thời mà thôi.

Tôi nghe thấy cha tôi đang tranh luận với Daoud, nhưng chỉ nghe được lõm bõm, bởi tôi đang quá bối rối.

“Najibullah là người Pashtun(3) y hệt như chúng mà. Đi thanh toán một đồng bào Pashtun, thật điên quá. Và chúng bắt ông ta ngay trong tòa nhà của Liên hợp quốc. Rồi chúng treo ông lên. Điều này quả vô nghĩa lý.”

Cha tôi cũng là người Pashtun, nhóm sắc tộc chiếm đa số ở đất nước chúng tôi. Giống như nhiều người khác, cha đã nghĩ rằng nếu chẳng may quân Taliban có đánh chiếm thủ đô, thì chắc chúng sẽ vây bắt Najibullah, nhưng không phải để đem treo ông ta, mà là để giải phóng ông ta và đề nghị Najibullah tham gia vào chính quyền mới của chúng.

Người Kabul vốn không mấy ưa Najibullah, người một thời đứng đầu chính phủ nước tôi. Ông ta vốn là một người có thể nhảy từ phe này sang phe kia dễ như bọn buôn lậu ma túy và vũ khí đi qua biên giới giáp Pakistan vậy. Cha tôi lên án ông ta rất gay gắt và cho ông ta là một tên phản quốc. Tham nhũng và tội phạm. Najibullah từng đứng đầu Sở Mật vụ Cộng sản Afghanistan - Sở Khad, phiên bản nội địa nham hiểm hơn nhiều của KGB Liên Xô. Hồi diễn ra vụ lật đổ tháng Tư năm 1992, khi lực lượng Kháng chiến bao vây Kabul, ông ta mặc nhiên chuồn mất. Quân Kháng chiến đã bắt được ông ta tại sân bay, nơi ông ta sắp lên máy bay đến đâu đó ở nước ngoài. Khi Najibullah bị bắt phải ở lại, ông ta tới lánh nạn trong tòa nhà của Liên hợp quốc cách Quảng trường Ariana không xa, rồi từ đó ông ta không bao giờ ló ra ngoài nữa. Nghĩa là cho đến hôm nay.

Tôi vẫn còn là một đứa trẻ khi Chủ tịch Najibullah đọc diễn văn kêu gọi hòa giải giữa các phe của lực lượng Kháng chiến. Ông ta đã đứng trên chính cái quảng trường Farad vừa nhìn thấy ông ta bị treo lên. Nếu quân Taliban có thể vào lôi cổ một cựu Chủ tịch nước ra khỏi trụ sở Liên hợp quốc ở Kabul, thì điều này chỉ có nghĩa là khủng bố và hỗn loạn giờ đã thống trị ở đất nước chúng tôi.

Cậu em họ Farad của tôi vẫn đang khiếp đảm. Em tôi cũng đang lo lắng cho cha mẹ mình nữa, và không muốn đi ra khỏi nhà quá lâu.

“Nếu phải ra khỏi nhà, bác ạ, nhớ cẩn thận. Cháu đã trông thấy chúng đánh người bằng những cái roi rất to. Nom chúng thật đáng sợ, chúng mặc những cái quần dài mềm thượt như dân Pakistan ấy. Chúng đi xe tải mui trần khắp thành phố, chỉ thỉnh thoảng dừng lại đánh người trong đám đông - nhất là ai không có râu. Mà bác lại không để râu.”

Farad cũng không có râu. Liệu có cậu bé 16 tuổi nào đi để râu kèm với quần bò và giày thể thao không? Một cậu bé 16 tuổi, giống như rất nhiều người khác, thích nghe nhạc rock và mơ về những câu chuyện tình Ấn Độ đa sầu đa cảm mà chúng tôi thường đọc.

Tất cả bọn Taliban đều để râu. Chúng nhấn mạnh rằng râu phải dài bằng một gang tay. Chúng không bao giờ đội pakol, một loại mũ nồi truyền thống của người Afghanistan chúng tôi, vốn là dấu hiệu của lực lượng Kháng chiến. Rất nhiều người trong số chúng không phải là người Afghanistan, hoặc thậm chí không phải dân tộc Pashtun nữa. Pakistan hỗ trợ cho chúng và chiêu mộ chúng ở nước ngoài. Những hình ảnh trên truyền hình và lời kể của các nhân chứng ở các tỉnh bị Taliban chiếm đóng chứng tỏ rằng trong hàng ngũ của chúng có rất nhiều người Pakistan, nhưng còn có cả những người Ả Rập đến từ nhiều quốc gia Hồi giáo khác. Đa phần trong số chúng thậm chí còn không nói ngôn ngữ của chúng tôi.

Cha tôi đang nhìn ra phố từ hành lang căn hộ của mình. Xung quanh vẫn yên ắng như tờ. Cờ của Taliban vẫn tung bay một cách hiền hòa trên nóc thánh đường. Nhưng trong đầu chúng tôi đang đầy bão tố. Chúng tôi nhìn nhau. Farad uống vội ly trà nóng. Cha tôi từ hành lang trở vào và lắc đầu. Ông không thể bắt mình tin rằng Taliban thực sự đã đem treo Najibullah.

Sáng nay cha tôi và tôi sẽ không chạy bộ cùng chú chó Bingo nữa. Sáng nay cha đang tự hỏi mình cả nghìn câu hỏi câm lặng. Cha giữ chúng cho mình bởi cha không muốn mẹ phải lo lắng thêm nữa sau những thử thách của 17 năm chiến tranh ròng rã. Chiến tranh, xung đột, đó thực sự là tất thảy những gì tôi biết kể từ khi tôi chào đời vào ngày đầu xuân, 20 tháng Ba năm 1980. Nhưng kể cả dưới thời Xô viết, dưới hỏa lực của những phe phái thù địch, giữa những đống đổ nát, thì chúng tôi vẫn sống tự do ở Kabul.

Nhưng giờ thì cha tôi có thể mang lại cho gia đình mình một cuộc sống như thế nào đây? Số phận các con ông sẽ ra sao? Tôi may mắn được sinh ra trong một gia đình đầm ấm, vừa mộ đạo vừa phóng khoáng. Chị cả của tôi, Chakila, đã lấy chồng và sống với bố mẹ chồng, như phong tục xưa nay vẫn vậy. Họ sống ở Pakistan và chị tôi đang chờ chồng chị đang sống ở Mỹ nhắn chị sang đó. Chị hai Soraya năm nay 20 tuổi, còn độc thân và suốt ba năm qua làm tiếp viên cho hãng Hàng không Ariana. Chị về nhà hôm kia sau chuyến bay định kỳ đến Dubai(4) và đã định rời nhà sáng nay. Anh trai thứ Daoud là sinh viên kinh tế, còn tôi, ừm, tôi vừa đỗ vòng đầu của kỳ thi sẽ đưa tôi trở thành nhà báo. Đó là nghề tôi luôn mơ ước. Cha tôi và cả nhà tôi vẫn luôn hy vọng rằng tôi sẽ thành công trong học tập, trở thành phóng viên và đi khắp đất nước để tự kiếm sống. Chẳng lẽ mọi thứ đó có thể đổi thay chỉ trong chốc lát ư?

Tôi cần đi đến quảng trường Ariana để xem chuyện gì đang xảy ra. Chị tôi cũng vậy. Chúng tôi phải thấy tận mắt mới tin được. Tin được rằng Taliban thực sự ở đây, trong thành phố của chúng tôi, rằng chúng thực sự đã đem treo Najibullah và em trai ông ta, rằng cái thảm họa mà cho đến tận hôm qua tôi vẫn không chịu nghĩ rằng nó có khả năng tồn tại, giờ đây đang thực sự treo trên đầu chúng tôi. Anh lớn của tôi, Wahid, người đã ở trong quân đội vào thời kỳ Liên Xô chiếm đóng, rồi sau đó bị dụ dỗ gia nhập hàng ngũ Kháng chiến của Thủ lĩnh Massoud, đã luôn nói về quân Taliban khi chúng đang tiến dần về phía Nam, “Mọi người không hình dung nổi sự hỗ trợ từ các thế lực nước ngoài dành cho chúng đâu. Không một ai ở Kabul biết cả. Bọn chúng thực sự hùng mạnh lắm. Chúng có những phương tiện cực kỳ hiện đại. Chính phủ sẽ không bao giờ địch nổi chúng đâu.”

Lúc đó chúng tôi đã nghĩ rằng anh chỉ bi quan. Giờ chúng tôi mới biết rằng anh ấy hoàn toàn đúng. Nhưng để tự thuyết phục mình thì tôi phải tới nhìn đám Taliban ấy bằng chính mắt mình mới được.

Cha tôi cũng muốn đi. Chúng tôi sẽ đi ô tô. Anh Daoud sẽ ở nhà với mẹ tôi, mẹ quá yếu đuối trước những cảnh tượng kiểu này.

Farad cố ngăn chúng tôi lại. “Mọi người đừng ra ngoài,” nó nói với cha tôi. “Không an toàn đâu ạ. Cứ ở nhà đi.”

Nhưng chúng tôi cần phải đích thân chứng kiến những sự kiện không thể tin nổi này. Giả sử tôi thực sự là một phóng viên rồi, thì đến quảng trường đó còn là bổn phận của tôi nữa. Tôi chưa từng nhìn thấy Najibullah, trừ vài lần trên truyền hình mà tôi không nhớ rõ lắm bởi lúc đó tôi còn quá nhỏ. Gần đây nghe người ta nói ông ta đang viết tiểu sử tự thuật. Tôi nôn nóng chờ đọc nó. Bởi kể cả những kẻ phản bội, kể cả những ai ủng hộ cho Liên Xô cũ, đều là một phần của lịch sử đất nước tôi gần đây. Nếu muốn trở thành một nhà báo, tôi cần phải đọc mọi thứ, phải biết mọi chuyện và phải hiểu tất cả.

Chị Soraya và tôi cẩn thận mặc váy dài và choàng chador(5), những tấm áo trùm mà chúng tôi thường chỉ quấn ở nhà khi cầu nguyện. Y phục thường vận của tôi là quần chạy bộ, áo len cổ lọ hoặc áo thun, thêm một đôi giày thể thao. Nhưng hôm nay thì không. Chúng tôi đã được cảnh báo rồi. Cha tôi đi lấy xe đậu ở gần thánh đường, cách nhà chúng tôi ở không xa lắm. Farad đi theo xuống tầng dưới, vác chiếc xe đạp Trung Quốc chắc chắn của nó trên vai. Chúng tôi cùng đợi cha tôi đánh xe đến ở dưới nhà.

Một trong những người hàng xóm kêu to lên với chúng tôi, “Ông và các cháu hay tin gì chưa? Hình như chúng treo cổ Najibullah ở Quảng trường Ariana đấy. Mọi người nghĩ sao?”

Cha tôi kín đáo ra hiệu chúng tôi nên cảnh giác. Ở Kabul và thậm chí trong quận chúng tôi ở, tên là Mikrorayna, không bao giờ biết rõ được là mình đang nói chuyện với người như thế nào. Bốn khu hiện đại tạo thành quận phía Đông của thủ đô Kabul này do Liên Xô xây dựng, tạo thành một kiểu làng mạc bằng bê tông. Những lô chung cư lớn này được đánh số lô Một, lô Hai và vân vân theo kiểu Liên Xô. Chúng tôi cũng có trung tâm thương mại và trường học của khu. Có nhiều quan chức cấp cao của Đảng Cộng sản Afghanistan từng sống ở đây, bởi khu vực này được coi là tiện nghi hơn và sang trọng hơn các khu có những ngôi nhà kiểu truyền thống. Phần lớn cư dân ở đây đều biết nhau và dĩ nhiên là chúng tôi biết người này. Có điều chúng tôi không biết sáng nay ông ta sẽ chọn ngọn cờ nào để đi theo mà thôi.

Chị Soraya lịch sự trả lời với giọng ngọt ngào điềm tĩnh thường thấy của chị. “Chúng cháu cũng đã nghe tin này. Chúng cháu đang định đi xem chuyện gì đang diễn ra.”

“Con gái tôi chắc sẽ rất muốn đi cùng các cháu.”

Farad nói thầm với Soraya, “Tốt hơn là đừng cho bất kỳ ai đi cùng chúng ta. Làm sao biết được chuyện gì có thể đang xảy ra ở đó chứ.”

Farad có các em gái nhỏ và có tinh thần trách nhiệm rất cao. Nên dù cô con gái người hàng xóm cứ một mực xin đi, thì chúng tôi “không” vẫn hoàn “không”.

Chúng tôi lái xe dọc theo con đường đến quảng trường trung tâm Kabul. Ngồi ở sau xe với chị Soraya, tôi nghĩ tới cái đám cưới mà chúng tôi sẽ không đến dự. Hồi sớm, khi tôi than phiền tiếc những bộ váy hôm nay định đi lấy ở hiệu may, mẹ tôi đã mắng tôi rất gay gắt. “Con không biết chuyện gì đang xảy ra ở đây, hả Latifa? Mà con lại còn nói về váy với chả áo!”

Cha tôi can thiệp. “Đừng lo, cha sẽ đi lấy chúng sau.”

Tôi biết mình là một cô bé tuổi teen vốn được cha và các chị gái yêu chiều quá mức. Cho đến tận lúc này cuộc sống của tôi vốn rất tự do. Trường phổ thông, trường cao đẳng, bể bơi các ngày Chủ nhật, các chuyến lượn shopping với bạn bè săn lùng những băng cassette và video mới nhất, những cuốn tiểu thuyết để đọc ngấu nghiến tận khuya trên giường. Tôi khẩn cầu rằng lực lượng Kháng chiến sẽ không làm chúng tôi thất vọng.

Cha tôi dừng xe lại giữa đường. Một người bạn của cha, một dược sĩ, khi nhìn thấy cha tôi sau vô lăng đã ra hiệu cho cha dừng lại. Anh trai chú ấy là một quan chức quan trọng trong chính phủ. “Nếu anh đang đến Quảng trường Ariana, tôi sẽ quay về ngay lập tức.”

“Chúng tôi muốn thực mục sở thị mọi điều.”

“Thôi được. Nhưng hãy cẩn thận. Và trên đường về nhớ ghé vào chỗ tôi. Tôi có điều muốn nói với anh.”

Đường phố vắng vẻ hơn bình thường. Chúng tôi nhìn thấy vài người đàn ông, còn phụ nữ hầu như vắng bóng. Những gương mặt tôi nhìn thấy đều rắn đanh và vô cảm. Dường như mọi người đều trong trạng thái choáng váng. Nhưng không khí lại có vẻ yên tĩnh đến lạ lùng.

Chúng tôi mất 15 phút để ra đến đại lộ chạy giữa sân bay và Quảng trường Ariana. Ở đây giao thông ùn tắc. Đây là khu trung tâm hiện đại của thành phố. Cha tôi bảo sẽ chỉ đi một vòng rất nhanh qua đây rồi sau đó sẽ đỗ xe cách một quãng xa. Chúng tôi chạy qua Đại sứ quán Mỹ, trụ sở đài truyền hình và tòa nhà của hãng Hàng không Ariana. Tất cả các cánh cửa đều đóng thật chặt.

Mắt chị Soraya đẫm lệ. “Có lẽ con sẽ không bao giờ được đến làm việc ở đây nữa. Cả trung tâm truyền hình cũng đóng cửa mất rồi.”

Cha tôi rẽ ở góc Đại lộ Hòa bình, nơi tòa nhà Liên hợp quốc tọa lạc. Phía trước chúng tôi là Bộ Quốc phòng, nơi Thủ lĩnh Massoud từng đặt văn phòng của ông. Và ở đó chúng tôi nhìn thấy nó. Ngay đối diện khách sạn Ariana, sang trọng nhất và tiếp đón nhiều du khách cũng như các nhà báo phương Tây nhất Kabul, có một thứ đài quan sát dành cho nhân viên cảnh sát gác cổng Bộ này. Hai thi thể đung đưa trên giá treo cổ dựng vội. Cha bảo chúng tôi nhìn thật nhanh, bởi ông không định đi quanh quảng trường lần nữa.

“Hãy nhìn kỹ mặt họ. Chúng ta muốn biết chắc đó có đúng là Najibullah và em trai hay không.”

Quả đúng là họ. Họ đu đưa sát bên nhau, cựu chủ tịch nước Najibullah vận quần áo Afghanistan truyền thống, còn em trai ông ta mặc âu phục. Một người bị treo lên bằng một cái ống nhựa luồn dưới hai cánh tay, người kia bị luồn qua cổ. Khuôn mặt Najibullah vẫn có thể nhận dạng được mặc dù đã xanh nhợt và có những vết bầm dập lớn màu nâu vàng. Chắc ông ta đã bị đánh cho nhừ tử trước khi bọn chúng đem treo ông ta lên. Em trai ông ta mặt không bị tổn thương, nhưng tái nhợt như sáp. Bọn chúng cắm thuốc lá đầy mồm Najibullah, nhồi những tờ tiền giấy vào túi áo túi quần của ông ta như để chứng minh cho tính tham lam của ông ta. Nom ông ta giống như đang nôn mửa ra những điếu thuốc lá.

Cảnh tượng này nhục nhã và khủng khiếp đến độ tôi òa khóc. Tôi vừa thấy ghê tởm vừa sợ hãi. Chị tôi cũng vậy. Nhưng không ai trong chúng tôi rời mắt nổi khỏi cảnh đó.

Cha tôi đỗ xe cách đám đông một khoảng khá xa. Khi tắt máy, cha nói, “Giờ cha sẽ quay lại quảng trường, nhưng các con phải ở trong xe. Ở nguyên đấy. Cha vừa nhìn thấy chú dược sĩ. Chú ấy hẳn đã đổi ý và quyết định cũng đến đây. Cha sẽ đến nói với chú ấy một tiếng.”

Chỉ còn chúng tôi ở lại, nép vào nhau và chăm chú nhìn những nhóm người nhỏ tụ lại rồi tản ra ở đằng xa.

Farad đã không hề phóng đại. Đám Taliban đang cầm những chiếc roi - hay đúng hơn là một loại dây kim loại nào đó. Chúng quật tùy tiện ra xung quanh và chẳng thèm đếm xỉa đến người qua đường. Chúng bắt họ phải tập trung trên quảng trường và chứng kiến cảnh tượng kinh hoàng đó. Tôi không thể nhìn thấy rõ những chiếc roi của bọn chúng. Chị Soraya cho rằng đầu roi được bọc chì. Tôi thì không chắc.

“Nhưng đúng đấy,” chị quả quyết. “Em nhìn kỹ mà xem. Tên kia đang đánh một cậu bé kìa. Hãy trông cậu bé gập cả người lại. Một sợi dây bình thường không gây đau đớn nhiều đến thế đâu.”

Mười phút trôi qua. Ngồi trơ trọi trong xe, ẩn sau những tấm chador, đầu cúi thấp, lúc này chúng tôi im lặng. Cả hai chị em tôi đều nghĩ về cái tai họa vừa mới ập xuống thành phố chúng tôi và lo sợ không biết liệu chuyện gì sẽ xảy đến với mình. Tin đồn về Taliban thì nhan nhản. Tôi sợ rằng tôi sẽ không được vào đại học. Thậm chí tôi sẽ không có được trình độ học vấn mà mẹ tôi đã có. Mẹ đã học phổ thông trung học ở Zarghouna. Mẹ không phải mặc áo trùm. Cha của mẹ đã mua cho mẹ một chiếc xe đạp giống như chiếc xe của tôi để mẹ đến trường. Mẹ lớn lên vào cái thời mà các cô gái mặc váy dài ngang đầu gối. Mẹ có tấm bằng y tá, làm việc trong bệnh viện, rồi theo chuyên ngành phụ khoa và có thêm một bằng cấp cao hơn. Năm nay mẹ đã bốn mươi tám, đã nghỉ hưu và mệt mỏi vì phải nuôi nấng năm đứa con và dành phần lớn đời mình chăm sóc những phụ nữ ốm đau. Nhưng cứ hai hoặc ba lần một tuần mẹ tôi vẫn khám cho bệnh nhân ở nhà, miễn phí.

Đất nước chúng tôi cần những người phụ nữ của mình. Nhiều năm nay chỉ toàn là phụ nữ đảm nhận những công việc hành chính, giáo dục và y tế. Có quá nhiều quả phụ, quá nhiều trẻ em, quá nhiều công tác cấp cứu và chăm sóc dự phòng cần phải được tiến hành. Quá nhiều cuộc chiến thường nhật chống lại sự mù mờ về y học hiện đại của mọi người. Mẹ tôi đã trải qua nhiều đau khổ đến nỗi việc quân Taliban tràn vào Kabul sẽ quá mức chịu đựng của bà.

Cha tôi đang quay lại. Chúng tôi nhìn thấy cha từ đằng xa. Đôi vai cha so lại. Cha ngồi vào sau vô lăng mà không nói một lời. Đầu cha cúi xuống. Chúng tôi tôn trọng sự im lặng của cha.

Sau đó, khi nổ máy xe, cha mới bắt đầu nói.

“Cha đã nói chuyện với chú dược sĩ. Anh trai chú ấy bảo rằng ngay trước khi đội quân của Thủ lĩnh Massoud rời khỏi thành phố, một trong những người bạn của Thủ lĩnh đã đến tìm Najibullah trong tòa nhà Liên hợp quốc để cảnh báo ông ta và đề nghị ông ta rời khỏi thành phố cùng họ. Nhưng Najibullah từ chối. Ông ta nói rằng ông ta đang viết dở cuốn sách của mình. Ông ta cũng nói rằng Taliban sẽ dành cho mình một vị trí quan trọng, thậm chí là chức thủ tướng không chừng. Thế nên ông ta đã ở lại.”

Thực ra nhiều người đã nghĩ rằng nếu Taliban chiếm chính quyền, thì nhà vua sẽ hồi hương và Najibullah một lần nữa sẽ đảm nhận một nhiệm vụ cao cấp nào đó. Nhưng giờ thì ông ta đang đung đưa trên Quảng trường Ariana.

Cha tôi lại nói tiếp. “Ông ta ở lại trong tòa nhà Liên hợp quốc mà không có ai bảo vệ. Khoảng bốn giờ sáng nay ban lãnh đạo Sở Mật vụ Pakistan đến gặp ông ta. Chúng mang theo một văn kiện bắt ông ta phải ký vào ngay lập tức. Văn kiện này đã được chuẩn bị sẵn, ký vào đó nghĩa là ông ta chính thức thừa nhận các biên giới hiện nay của Pakistan, cho chúng toàn bộ vùng Peshawar mà ngày xưa từng thuộc về Afghanistan. Chúng còn yêu cầu Najibullah cung cấp danh sách các kho vũ khí và kho đạn dược Liên Xô bỏ lại ở Kabul. Nhưng ông ta không chịu ký. Chúng đã đánh và giết chết ông ta, rồi đem treo ông ta ngoài quảng trường. Ông ta chết như thế này là do ông ta cả. Là lỗi của ông ta... Ông ta đã không lường được rằng Taliban dám xông vào cả trụ sở Liên hợp quốc. Thế nhưng chúng đã dám đấy. Chỉ có Đấng Allah mới biết chúng có thể làm gì nữa đây.”

Những điều mà chú hàng xóm cho cha tôi hay có thể tin được. Họ vốn là bạn tốt của nhau. Họ hay cùng chơi cờ và đã trở thành thân thiết. Hình như anh trai chú dược sĩ này đã rời khỏi Kabul sáng nay. Không đời nào có chuyện ông ấy giao nộp vũ khí của mình.

Chúng tôi chầm chậm quay về căn hộ của chúng tôi, quan sát và tiếp nhận mọi chuyện đang diễn ra trên đường phố. Những người phụ nữ bế con hoặc lôi tay bọn trẻ đang hối hả trở về nhà sau khi đến trung tâm để nghe ngóng tin tức. Thành phố yên ắng đến độ chúng tôi có thể nghe thấy cả tiếng vọng bước chân họ. Một vài thiếu niên tụm lại bàn tán về những gì trông thấy. Chúng vung tay vung chân loạn xạ. Ai cũng nhắc đến Najibullah. Khi về đến khu chung cư, chúng tôi đi thật nhanh lên tầng trên vì sợ hàng xóm có thể hỏi han này nọ.

Mẹ tôi thở phào nhẹ nhõm khi nhìn thấy chúng tôi bước vào cửa. “Mấy cha con đã trông thấy ông ta à? Có đúng là ông ta không?”

Chúng tôi kể cho mẹ nghe tất cả. Mẹ bất chợt cảm thấy cần ngồi xuống.

Chị Soraya, lúc trước vẫn yên lặng, định bắt đầu kể về những chiếc roi của đám Taliban, nhưng cha ra hiệu cho chị ngừng lại. Bác sĩ đã dặn chúng tôi phải giữ cho mẹ càng bình tâm càng tốt. Thần kinh của mẹ sẽ không chịu nổi cú sốc cảm xúc nào nữa. Gương mặt mẹ nhợt nhạt khủng khiếp dưới mái tóc đã ngả màu hoa râm buộc túm lại đằng sau. Cái nhìn của mẹ hướng đến chúng tôi đầy khổ sở.

Cha tôi lại đi ra ngoài để gặp chú bạn, nhưng không mang thêm tin gì về. Cả điện thoại lẫn đài đều không hoạt động. Ông dự định sẽ ra ngoài một lần nữa để mua sẵn pin trước khi đêm xuống. Chúng tôi đã dự trữ một ít nhu yếu phẩm: gạo, vốn là thức ăn hàng ngày của chúng tôi, rồi mì tôm, dầu ăn và bột mì, phòng khi các hiệu bánh mì đóng cửa. Cha tôi trữ sẵn những thứ này từ đầu tuần, khi cuộc chiến rõ ràng đã leo thang tới mức ác liệt chưa từng thấy.

Chúng tôi đã quen bị mất điện rồi. Điện là một nàng tiên đỏng đảnh ở Kabul. Nàng xuất hiện vào những thời điểm nhất định khoảng hai hay ba ngày, rồi lại biến mất. Vì thế chúng tôi phải dùng gas và đèn dầu thay thế. Để nấu ăn và đun nước chúng tôi dùng những vòng bếp ga lấy khí đốt từ một bình chứa khoảng 10 đến 14 lít. Chúng dễ mua nhưng trị giá cả một gia tài. Chúng tôi có phòng tắm và vòi nước, nhưng chúng đã cạn khô lâu rồi. Hệ thống ống nước không hoạt động ở khu chúng tôi cũng như bất kỳ nơi nào khác. Chúng tôi là quần áo bằng cái bàn là kiểu cổ mà khi là phải hơ nóng lên trên lửa. Trong lúc bàn là còn đang nóng, chúng tôi cho hàng xóm mượn. Ở Kabul chúng tôi chia sẻ và trao đổi với nhau rất nhiều thứ. Không thứ gì còn hữu dụng cho ai đó lại bị bỏ phí cả.

Lúc mười một giờ chúng tôi giật mình vì âm thanh phát ra từ đài phát thanh. Nó đã được đổi tên thành Đài Sharia, tên của những giáo luật rút ra từ kinh sách của đạo Hồi. Đầu tiên là những bài ca đạo. Chúng kéo dài rất lâu. Sau đó là giọng một người đàn ông đọc lại một tiết trong kinh Koran, rồi nói tiếp:

Đức tiên tri đã nói với môn đệ của Người rằng công việc của họ là ngăn chặn cái ác và nâng cao đức hạnh. Chúng ta đến để phục hồi trật tự. Từ bây giờ trở đi, luật pháp sẽ được lập ra bởi các giáo chức. Các chính phủ tiền nhiệm đã không tôn trọng tôn giáo. Chúng ta đánh đuổi họ và họ đã bỏ chạy. Nhưng kể từ bây giờ tất cả những ai đã tham gia vào chế độ cũ sẽ không hề hấn gì khi ở bên chúng ta. Chúng ta yêu cầu các anh em hãy nộp lại vũ khí, hãy đặt chúng trước cửa nhà của mình hoặc ở thánh đường. Và vì những lý do an ninh, chúng ta yêu cầu phụ nữ không rời khỏi nhà của mình trong thời gian này.

Tiếp theo bài diễn văn bằng giọng điệu hung hăng như khạc ra lửa này là những bài ca đạo cho đến tận trưa. Sau đó đài lại ngừng phát. Chúng tôi sẽ phải đợi đến tận tối để nghe thêm bất cứ tin gì. Có thể sau đó chúng tôi sẽ may mắn nghe được đài BBC hay chương trình phát thanh bằng tiếng Ba Tư(6) của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ.

Làm gì trong lúc chờ đợi đây ngoài việc nghĩ đến những viễn cảnh tồi tệ nhất có thể xảy ra và ôn lại những hình ảnh khủng khiếp? Chúng tôi thậm chí còn quên cả ăn uống.

Có tiếng gõ cửa. Đó là người quản lý tòa nhà đến thông báo về những mệnh lệnh của Taliban. Ông ta báo cho cha tôi phải đến thánh đường ngay gần đó để giao nộp toàn bộ vũ khí. Chúng tôi không có súng ống gì, chỉ có hai khẩu súng cổ đang treo trên tường.

Cha cân nhắc rất lâu trước khẩu súng trường cũ từ thập kỷ hai mươi của thế kỷ trước, thời quân ngũ của cụ nội tôi trong cuộc chiến tranh chống quân Anh xâm lược. Cha đã cẩn thận treo nó ở trên tường sau khi cụ tôi mất. Bây giờ nó chỉ là vật trang trí đơn thuần. Cạnh nó treo một cây kiếm. Quân Taliban có thể làm gì với những vũ khí như thế này chứ? Tôi có thể thấy những cảm xúc trong cái nhìn chăm chú của cha, rằng ông không hề muốn từ bỏ những của gia bảo này. Nhưng mẹ tôi lại khăng khăng đòi giao nộp. Mẹ van xin cha hãy tỉnh táo một chút.

“Giấu đi bất cứ thứ gì cũng đều quá nguy hiểm... nhỡ may chúng lục soát căn hộ này.”

Tim đau nhói, cha đành tháo khẩu súng trường cũ kỹ xuống. Nó để lại một vệt mờ trên tường ghi nhớ sự có mặt của mình, ngay phía trên bức chân dung tuyệt đẹp của mẹ tôi do anh mẹ vẽ. Mẹ rất đẹp với mái tóc lượn sóng trên bờ vai một cô gái hai mươi tuổi, đôi mắt mênh mông sáng ngời hạnh phúc. Vẻ đẹp ấy vẫn còn với mẹ, dẫu rằng nó đã phai mờ đi chút ít qua những thử thách của thời gian.

Cha cũng tháo cả thanh kiếm xuống. Thật lặng lẽ, cha gói chúng lại. Cha sẽ đi ra ngoài một mình để giao nộp những đồ gia bảo này ở thánh đường có lá cờ trắng kia.

Tôi muốn khóc. Nhưng gia đình tôi không quen để lộ ra những nỗi xúc động của mình. Mỗi người tự mang lấy những nỗi buồn riêng. Thật vô nghĩa khi áp đặt nỗi đau của bản thân lên những người thân, bởi nó sẽ chỉ làm nỗi đau của họ tăng gấp đôi mà thôi. Đây là cách sống điển hình của người Afghanistan. Nó bao gồm lòng tự tôn và tiết chế cảm xúc trong mọi hoàn cảnh. Chúng tôi có thể rất huyên thuyên và khoa trương về những vấn đề không phải của mình, nhưng chúng tôi giữ kín những đau đớn trong lòng. Cuộc nội chiến, tôi nghĩ, đã làm tăng thêm tính tự tôn này cũng như sự câm lặng này. Tựa hồ như chúng tôi sống sót được nhờ việc dè sẻn cảm xúc vậy. Điều này là cần thiết để khỏi suy sụp tinh thần, hoặc phát điên lên vì tức giận và sợ hãi. Khi nỗi đau của riêng mình trở nên quá nhức nhối, khi cảm thấy nó đang dâng lên đến mức sắp vỡ òa trước mặt người khác, tôi liền trốn vào phòng mình và khóc thảm thiết trên giường, nhưng chỉ một mình.

Ngày thứ Sáu đó, 27 tháng Chín, lòng trĩu nặng vì dự cảm về khủng bố, chị Soraya và tôi bàn đi bàn lại về các sự kiện và những gì đã chứng kiến. Sau khi chị Chakila lấy chồng, tôi đã bỏ chiếc giường đơn của mình để sang ngủ với chị Soraya. Cho đến tận giờ chị Soraya luôn kể cho tôi nghe những câu chuyện về các chuyến đi của chị và phi hành đoàn, hoặc cả hai nghe nhạc và chị sẽ khiến tôi cười phá lên bằng cách bóp mũi tôi. Đó là cách chúng tôi chịu đựng những vụ nổ tên lửa cuồng bạo khắp xung quanh. Anh trai tôi, Wahid, đã dạy chúng tôi một kỹ thuật mà anh học được ngoài mặt trận hồi đi lính. Trong trường hợp xảy ra vụ nổ lớn, phải há miệng ra càng to càng tốt để tránh không bị thủng màng nhĩ.

Phòng của chị em gái chúng tôi là nơi trú ẩn được khoanh vùng bởi tất cả những đam mê nho nhỏ của thời niên thiếu của tôi. Trên tường treo một tấm poster hình diễn viên kiêm người mẫu Mỹ Brooke Shield. Chị Soraya thường khiến tôi bật cười bằng cách giả làm người mẫu: lênh khênh trên đôi giày cao gót, hai tay chống nạnh, trang điểm lòe loẹt, chị nhún nhảy theo sàn catwalk tưởng tượng và tạo dáng đủ kiểu. Chị thích mặc diện cho tôi ngay cả khi tôi còn nhỏ, bản thân chị cải trang bằng đôi giày và bộ váy của mẹ tôi.

Một tấm poster hình Elvis ở kế bên tấm Brooke Shield, thể hiện tình yêu của tôi dành cho nhạc rock. Tôi có hàng đống băng nhạc. Tôi cũng có nhiều băng video các bộ phim của Bollywood(7) mà anh Daoud đem về cho tôi từ cửa hàng băng của cha Farad, em họ tôi, mà chúng tôi tranh thủ mượn rất nhiều.

Nhưng hôm nay tôi cảm thấy không muốn nghe nhạc. Tôi cũng không đọc được luôn. Tôi thấy cần nói chuyện. Và tâm trạng của chị Soraya còn tệ hơn tôi. Chị ấy còn tỏ ra bi quan hơn tôi nữa. Bộ đồng phục tiếp viên hàng không của chị sẽ không thể ra khỏi tủ áo một lần nữa. Chị biết chắc điều này. Mà bộ đồng phục này thì hợp với chị vô cùng. Chỉ hôm qua thôi chị vừa trở về nhà từ sân bay Bagram, vận áo sơ mi trắng và quần màu lam ngọc, đồng phục của hãng Hàng không Ariana và trông thật xinh đẹp. Chị Soraya rất giống cha. Chị có mái tóc đen nhánh, dài quá vai, đôi mắt quyến rũ và cặp lông mi dày đến kinh ngạc. Cũng như chị Chakila, chị Soraya lúc nào cũng nuông chiều tôi. Từ hồi tôi còn nhỏ xíu, chị đã xoắn xuýt lấy tôi, làm việc nhà cho tôi mỗi khi tôi lười trốn việc. Chị Soraya thật dịu dàng, bình tĩnh, nhân hậu và cả háu ăn nữa, thế nhưng đêm nay chị thậm chí không nuốt lấy một miếng cơm nào.

Chúng tôi suy ngẫm về tất cả những gì nghe được trên đài BBC về việc quân Taliban tiến gần tới Kabul, về những cuộc thảm sát ở thành phố Herat mùa xuân năm 1995. Truyền hình đã chiếu hình ảnh các quả phụ, bị bưng kín trong chiếc áo burqa của họ, bị quất roi và bị đẩy ra ăn xin trên đường phố. Kể từ hôm nay đó không còn là những hình ảnh xa xôi, những khung hình trên ti vi hay ảnh trên báo chí. Chúng là hiện thực ngay trước mắt. Chúng ở ngay đây.

Chiều ngày hôm qua tôi đã đi dạo chơi một cách tự do có lẽ là lần cuối trong đời mình. Ngày cuối cùng tôi còn là một học sinh... Tôi giải thích cho chị Soraya tại sao tôi cảm thấy buộc phải đi đến Quảng trường Ariana.

“Em muốn nhìn thấy Najibullah. Em muốn hiểu được chuyện đó chị à. Thậm chí em còn chuẩn bị tinh thần bị roi quất vì điều đó... bị bắt nữa cũng nên, để mặt đối mặt với cái hiện thực mà chúng ta đang sống. Chị hiểu không Soraya? Em cần tự thuyết phục mình tin rằng nó là sự thật.”

“Hình ảnh những người bị treo cổ đó...” chị tôi nhắc lại. “Giờ đây lúc nào nó cũng ở trong đầu chị, cùng với ý thức rằng tất cả đã chấm dứt, rằng Taliban còn tàn ác quá sức tưởng tượng của chị. Chúng cho chúng ta một biểu tượng để bắt chúng ta hiểu rằng từ giờ trở đi, bất cứ ai - bất kỳ ai đều có thể chết dưới bàn tay của một tên Taliban. Với chúng ta thế là hết rồi, Latifa ạ, sự nghiệp của chị đã tan tành. Chị sẽ không bao giờ được bay nữa. Em có thấy tòa nhà Hàng không Ariana không? Chúng đã đóng cửa nó rồi, cũng như đài truyền hình. Sẽ không một phụ nữ nào được phép đi làm nữa.”

“Cha nói rằng có lẽ tình hình sẽ ổn trong vài ngày tới, hoặc là vài tuần nữa. Rằng lực lượng Kháng chiến vẫn đang hoạt động đâu đó ở miền Bắc. Đội quân Mujahidin sẽ quay trở lại. Và em... em thà chịu đựng đạn pháo rocket còn hơn Taliban.”

“Cha lúc nào cũng cho chúng ta hy vọng. Nhưng lúc này chị không tin điều đó. Kể cả những thời điểm chiến sự tồi tệ nhất, chúng ta cũng chưa từng thấy cảnh tượng nào như thế. Năm 1992, chẳng có ai treo cổ Najibullah, bằng chứng đấy. Najibullah cũng không, và em trai ông ta cũng không, kể cả gã có là một tên vô lại đi nữa...”

Hồi chị lớn Chakila của tôi vẫn còn làm việc ở Kabul, chị đã kể cho chúng tôi nghe câu chuyện bẩn thỉu về Shapour, em trai Najibullah, kẻ đã quan hệ yêu đương với một cô gái nhỏ. Cô bé tên là Wida và sống ở quận một của khu Mikrorayna, chính là khu chúng tôi ở. Cô đã gặp Shapour trên quảng trường chính và từ đó trở đi gã thường xuyên đến đón cô ở trường. Một hôm, trong khi gia đình cô đi vắng, gã đã tiễn cô về tận căn hộ của cha mẹ cô. Tôi không biết ai đã thuyết phục ai leo lên căn hộ không người đó, nhưng mọi người đều cho là họ đã leo lên đấy. Bởi vì trời ạ, Wida đã có thai. Lẽ ra người tình của cô phải cưới cô. Nhưng bất chấp những lời van xin của cô, gã từ chối. Thế nên một hôm Wida đã mời hắn đến nhà để nói chuyện lần cuối, và khi gã vẫn từ chối, cô đã lấy súng lục của gã và tự sát. Đầu tiên không ai dám xì xào gì cả. Nhưng sau đó hàng loạt tin đồn đã nổi lên cho rằng Shapour dứt khoát phải chịu trách nhiệm về cái chết của cô gái. Cha mẹ Wida đã chạy trốn ra nước ngoài. Bởi họ sợ. Là em trai của Najibullah lúc đó nghĩa là ngoài vòng buộc tội, không ai động tới được.

“Dù gã có tội lỗi gì đi nữa,” chị Soraya nói, “thì cái lối hạ thủ hai anh em ông ta như thế này vẫn thật dã man. Lũ người này không phải người Afghanistan. Em có nhớ chị đã kể cho em nghe hôm thứ Tư, khi chị từ Dubai về nhà, về những người được cho là người Afghanistan trên chuyến bay đã hạ cánh sau chị không? Một nữ chiêu đãi viên kể với chị rằng những người này bị trục xuất khỏi các Tiểu vương quốc Ả Rập vì không có hộ chiếu hoặc vì visa của họ đã hết hạn, đại loại thế. Bất luận thế nào thì đồng nghiệp của chị cũng phát khiếp trước cách cư xử của họ. Họ cực kỳ khinh bỉ các nhân viên nữ. Giờ chị nghĩ biết đâu họ đến đây là để giúp Taliban.”

Ở Kabul chúng tôi luôn phải tự hỏi xem ai là ai và liệu họ có đúng là người như họ nói không. Nguyên tắc an ninh đầu tiên là đừng bao giờ chia sẻ những suy đoán và quan điểm với bất cứ ai ngoài gia đình mình. Nguyên tắc của chúng tôi là giữ nguyên thái độ trung lập hết mức có thể. Chỉ có một điều duy nhất thống nhất giữa những người Afghanistan qua những chia rẽ dân tộc phức tạp, là không chấp nhận bất cứ một lực lượng nước ngoài nào chiếm đóng - dù đó là Anh, Pakistan, Ả Rập hay, tất nhiên, Liên Xô nữa.

Người Afghanistan đã nổi dậy chống lại người Nga, và thành lập tổ chức để kháng cự bằng tất cả những gì họ có. Cuộc đấu tranh giữa quân Mujahidin với Liên Xô đã kéo dài mười năm đẫm máu, đánh lại những chế độ thân Liên Xô giống hệt nhau liên tiếp chuyển tay.

Sau khi người Nga rời khỏi đất nước chúng tôi, nghĩa quân Kháng chiến đã tập trung lại dưới sự lãnh đạo của Thủ lĩnh Massoud ở Kabul vào năm 1992. Cuộc đời chúng tôi lúc này lại theo một nhịp điệu chiến tranh mới, bởi tất cả những phe cánh khác giờ đây chống lại Thủ lĩnh Massoud, một người Tajik. Người đầu tiên trong số những tướng lĩnh ấy là kẻ thù người Pashtun cũ của ông ta: Gulbuddin Hekmatyar đáng sợ, thủ lĩnh đảng Hezb-e-Islami, đảng phái chính thống cực đoan nhất trong số đó, được hậu thuẫn bởi Pakistan. Nhưng kể cả những năm tháng đó cũng chưa chấm dứt câu chuyện chiến tranh. Giờ đây chúng tôi lại bước vào một kỷ nguyên mới dưới những nhát roi quất của Taliban. Và trong suốt cuộc đời vẫn còn ngắn ngủi của mình, tôi cảm thấy đây là ngày khủng khiếp nhất.

Chị Soraya đang khóc. Chị chưa từng thực sự thấy chiến tranh gần kề như thế này. Lần cuối cùng Hekmatyar nã rocket vào thành phố Kabul là mồng Một tháng Giêng năm 1994, khi chị đang bay tới Dubai. Trước đó sân bay Kabul đã bị phá hủy và các máy bay của hãng Hàng không Ariana phải chuyển sang hạ cánh ở bãi đỗ Bagram, cách thủ đô 40 cây số. Nhưng lại không thể hạ cánh ở đó vào lúc đang giao chiến nên phi công chuyến đó đã hạ cánh xuống New Delhi. Chị Soraya thực sự đã bị kẹt ở đó mất sáu tháng. Chị giết thời gian bằng cách ở một mình trong phòng khách sạn hoặc xem tivi cùng với các đồng nghiệp của chị.

Vào ngày cưới của chị Chakila cách đây hai năm, hơn 300 quả đạn rocket đã nã xuống Kabul trong lúc chúng tôi đang giữa buổi tiệc. Tôi nhớ một câu tục ngữ mà cả nhà tôi hay nói để an ủi nhau: vui với buồn là hai chị em.

Ngay sau lễ cưới, anh trai Wahid của tôi đã bỏ đi Ấn Độ, trước khi anh quyết định định cư hẳn ở Moskva. Hồi anh còn ở nhà, dù vô cùng yêu quý anh tôi vẫn thường cảm thấy một nỗi sợ mơ hồ nào đó. Anh rất nghiêm ngặt về chuyện tuân thủ các giáo tắc và là người đầu tiên đưa cho chúng tôi những chiếc chador mà hôm nay chúng tôi đang mặc.

“Chị có nhớ,” tôi hỏi chị Soraya, “cái hôm anh Wahid mua cho chúng mình những chiếc chador này không? Chúng mình đã nghĩ rằng chúng to quá khổ.”

“Chị đã bảo anh ấy là mình sẽ cắt chúng ra làm đôi.”

Cha tôi rất không đồng ý việc anh Wahid muốn can thiệp vào chuyện quần áo của chúng tôi. Cha không muốn chúng tôi ăn mặc khác với các bạn nữ trong trường. Thế nên chúng tôi chỉ mặc chador vào giờ cầu nguyện trong góc riêng của mình, khi một mình trong phòng chúng tôi. Chúng tôi không bao giờ mặc chador ra đường. Cả mẹ cũng vậy. Nhưng vì yêu anh trai mình tôi vẫn cố vâng lời anh ấy. Anh giảng những bài dài về độ dài váy chúng tôi mặc, về đường xẻ rãnh khá khiêm tốn trên cổ những chiếc áo phông mùa hè của chúng tôi. Chị Chakila và chị Soraya cứ kệ cho anh ấy nói, hoặc tệ hơn, các chị ấy cãi anh Wahid ra trò. “Chúng em đủ khôn lớn để tự biết nên ăn mặc thế nào rồi nhé, cảm ơn” hoặc “Anh đi mà lo việc của mình ấy.”

Cha mẹ tôi thấy lo trước ảnh hưởng của tư tưởng chính thống đến tính cách anh tôi và họ đã khuyên anh, sau chừng ấy năm tháng trong quân ngũ và kinh qua chiến tranh, tốt nhất anh ấy nên xuất ngoại để đến sống ở một đất nước hòa bình.

Tôi tự hỏi lúc này anh tôi đang làm gì và có bao giờ anh ấy định lấy vợ hay không. Trước đây gia đình đã dạm hỏi cho anh tôi nhiều đám, nhưng anh tôi đều từ chối cả. Quân đội vốn không thuận lợi cho cuộc sống gia đình. Thế nên mẹ tôi muốn anh tôi ra nước ngoài và từ bỏ những trận đánh đã làm anh tôi đau khổ và chai sạn đi quá nhiều.

Anh Daoud chưa rõ lắm mình nên làm gì. Được bao bọc trong vòng tay cả nhà và người anh trai mà anh khâm phục, người đã từng bảo anh rằng “một người trong nhà là quá đủ”, anh Daoud đã tránh được quân đội đến nay. Không biết giờ đây anh có phải lẩn trốn để được làm việc hay không? Tốt nghiệp kinh tế xong, anh chỉ kiếm được mỗi chân bán vé ở hãng Hàng không Ariana.

Người ta nói rằng ở các tỉnh, Taliban dùng vũ lực để bắt giới trẻ Afghanistan phải gia nhập quân đội, rồi chúng sẽ đưa họ ra Mặt trận để đốt nhà và phá hủy các làng mạc.

Chiều hôm đó anh Daoud đòi thay cha ra ngoài để mua trữ số pin điện mà chúng tôi sẽ cần đến nếu bị bao vây. Anh ấy không phải là người duy nhất làm nhiệm vụ này. Buổi tối, khi về nhà, anh kể với chúng tôi rằng anh gặp rất nhiều người cùng đi làm việc đó. Mẹ tôi thì không muốn anh ra khỏi nhà. Tôi đã nghe thấy mẹ tranh cãi với anh rằng không nên mạo hiểm...

“Thế nếu chúng bắt giữ con thì sao? Nếu chúng tống con vào tù như anh con lúc trước thì sao? Hoặc lỡ chúng bắt con phải giết người thì sao?”

Người cha tội nghiệp của tôi phải lo lắng cho cả gia đình. Cha lo cho sức khỏe của mẹ. Cha cũng lo Taliban sẽ cướp con trai cha đi và các con gái cha sẽ phải chịu một cuộc sống tù túng, không còn hy vọng gì về sự nghiệp. Thêm vào đó, cha không biết số phận kho vải của cha sẽ thế nào: nó nằm ngay trên con đường Taliban tiến vào thành phố.

Trước đây có lần cha tôi đã mất hết mọi thứ vào năm 1991, thời kỳ cuộc đảo chính của Tướng Tanai thất bại. Hồi đó đạn pháo rocket đã phá trụi cửa hàng của cha nằm trên Đại lộ Jade Maywan náo nhiệt. Thế là mọi thứ tan thành mây khói. Việc kinh doanh ở cửa hàng đó đang suôn sẻ là thế. Cha kiếm được đủ sống. Cha nhập vải từ Nhật Bản và Liên Xô. Tuy không phải là giàu có, nhưng chúng tôi cũng chẳng nghèo. Cái ngày mà cửa hàng đó bị mất đi thì phần tài sản lớn nhất của cha tôi cũng mất theo.

Trải qua nhiều khó khăn, cha tôi lại gây dựng chỉ để lại hứng chịu thảm họa thứ hai vào năm 1993, khi Hekmatyar tấn công Kabul. Kho vải của cha tôi nằm ở khu Pole Mahmoud Khan, ngay giữa vùng chiến sự, mặt đất đầy rẫy mìn sát thương. Cha không thể lại gần đó được. Tivi đã phát hình ảnh các đống đổ nát vẫn đang bốc khói. Ba tháng trôi qua, cha tôi cuối cùng rồi cũng đến được khu vực này. Giữa những mảnh vụn của vỏ đạn pháo và chất nổ, chẳng còn lại gì cả. Cha tôi tới thăm một trong số những nhân viên bảo vệ cũ đang nằm viện. Chú ấy đã thoát chết trong gang tấc và kể lại cho cha nghe một câu chuyện khủng khiếp. Khi người đàn ông đáng thương này cố gắng thuyết phục đám lính đừng đốt cháy cửa hàng bằng những khẩu súng phun lửa, chúng đã bắn chú ấy. Chúng còn bắn cả lũ chó nữa. Bị thương nặng, người bảo vệ này đã giả chết cho đến khi xe tăng của chính phủ đi qua vào cuối ngày hôm đó và đưa chú ấy lên xe.

Tại sao lại thiêu cháy những nhà kho đầy hàng hóa? Sao lại giết thường dân và cả chó nữa? Quân đội của Hekmatyar đúng là dã man, không từ bất cứ thứ gì để đánh bại Massoud và chiếm lại Kabul.

Đối với cha tôi điều này đồng nghĩa với việc phải bắt đầu lại từ con số không, lần này được chính phủ trợ giúp bằng những khoản vay dành cho các thương nhân gặp thảm họa. Cha tôi đã gắng sức gây dựng lại công việc kinh doanh và thậm chí đã trả được phần lớn số nợ của mình. Cha nghĩ cha đang vô cùng may mắn. Nhưng từ sau đợt tấn công ngày hôm qua, chẳng còn gì chắc chắn nữa cả. Nếu xảy ra một thảm họa thứ ba, tôi không biết cha tôi sẽ xoay xở ra sao để gỡ lại tình hình tài chính của mình nữa.

Tối hôm đó cuối cùng chúng tôi cũng dò được sóng đài BBC. Chúng tôi căng tai nghe những âm thanh được vặn rất nhỏ phát ra từ đài. Chúng tôi không muốn để hàng xóm của mình biết.

Phát ngôn viên chẳng báo được thêm điều gì chúng tôi chưa biết. Anh ta miêu tả các trận đánh ở ngoại vi Kabul, nơi quân đội chính quyền của Thủ lĩnh Massoud đã giao chiến và bị quân Taliban đánh bại.

Chúng tôi đã biết rằng chiến tranh không còn ở vùng ngoại ô nữa, mà ở ngay đây trong thành phố chúng tôi, giữa cuộc sống của chúng tôi. Và rằng đêm nay, chúng tôi sẽ phải cố dỗ giấc ngủ chung cùng cái hiện thực đầy ác mộng này.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 17.10.2017, 09:37
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35469
Được thanks: 5258 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Hồi ký] Khuôn mặt bị đánh cắp (Hồi ký của một phụ nữ trẻ lớn lên dưới thời Taliban) - Latifa - Điểm: 10
2 - Chim yến trong lồng

Trên tường phòng chúng tôi chị Soraya gắn một tấm bưu thiếp in hình một bông hồng tuyệt đẹp, màu tía trên đài xanh. Tôi cứ nhìn chằm chằm vào tấm bưu thiếp kể từ lúc chị Soraya trở dậy để nấu ăn sáng tới giờ. Bình minh ngày thứ Bảy hôm nay, 28 tháng Chín năm 1996, mang mùi hủy diệt. Hôm qua hàng xóm của chúng tôi đã bị kích động. Trong phòng chờ của tòa nhà người ta bàn bạc xem liệu đã có đường dây điện thoại nào hoạt động chưa, và băn khoăn không biết có tin tức gì về những người thân khác chưa. Hôm nay tất cả những gì tôi nghe thấy chỉ là im lặng. Sáng nay cha tôi không chạy bộ nữa. Chắc chắn Taliban không khuyến khích chạy bộ, vả lại chúng tôi còn nhiều điều phải lo lắng. Hôm qua các ngân hàng đóng cửa, thứ Sáu nào cũng vậy, nhưng sáng nay cha vẫn phải đến ngân hàng xem có rút được tiền về dùng cho những ngày sắp tới.

Mẹ vẫn đang ngủ, mê mệt vì đã dùng thuốc. Cũng không thấy có tiếng nhạc từ phòng anh Daoud. Để không làm mẹ thức giấc, anh tôi chắc đang thì thào nói chuyện với chị Soraya ở trong bếp. Sáng nay họ sẽ không đi làm và tôi cũng không đi học.

Một cảm giác mệt mỏi vô cùng như một nỗi buồn đè nặng lên cả cơ thể tôi, vậy mà tôi không thể khóc. Tôi cũng không trở dậy nổi. Thay vào đó tôi giở bộ sưu tập bưu thiếp của chị tôi ra xem. Một bông hoa tulip đỏ, một bông hoa trắng không tên nào đó xuất xứ từ New Delhi... Cứ sau mỗi chuyến đi chị Soraya lại bổ sung thêm khu vườn hoa giấy của mình. Ở chính Kabul này đã lâu không có hoa - ngoại trừ những bó hoa nhựa nhập từ Đài Loan về.

Làm gì tiếp theo đây? Tôi đã cầu nguyện xong trên tấm chăn cha mang từ Mecca về rồi. Thôi thì tôi đọc bài báo mới nhất mà bạn tôi, Saber, đã đưa tôi để cho vào tờ báo do chúng tôi tự làm. Nhóm chúng tôi vẫn làm tờ báo này khoảng hai năm nay. Mỗi số chỉ có một bản. Nó được chuyền tay khắp cả khu, và cuối cùng trở về với tôi, quăn hết cả góc. Số báo cuối đang nằm trong tủ quần áo của tôi; số báo mới này chỉ mới đang trong khâu chuẩn bị. Nhưng giờ thì viết bài và tìm ảnh về Madonna, thơ ca, thời trang mốt mới hoặc những bộ phim Ấn Độ còn ích lợi gì không? Nếu Taliban kiểm soát các phương tiện truyền thông đại chúng, thì chả còn gì đáng đọc trên các tờ báo cả. Báo chí sẽ bị Hồi giáo hóa hoàn toàn hoặc sẽ ngừng hoạt động.

Sáng hôm thứ Năm vừa rồi tôi đã thi xong vòng đầu kỳ thi đầu vào khoa Báo chí. Ngay buổi tối hôm đó, khi Saber và chị gái cậu ấy, Farida, tỏ ra lo lắng không biết liệu tôi đã chuẩn bị đủ cho vòng cuối sẽ diễn ra vào mùa đông năm nay hay chưa, tôi đã nhún vai và nói, “Dễ như kẹo ấy mà.”

“Đề bài vòng một cụ thể là gì?”

“Chúng tớ phải chọn và xử lý một mẩu tin để đăng trên ba phương tiện khác nhau - báo giấy, báo nói và báo hình.”

“Cậu chọn tin gì vậy?”

“Một tin có thật nhé, mặc dù tớ không nhớ nguồn ở đâu: ‘Ngài Bin Laden, một người bạn Saudi của Taliban, đề xuất cấp tài chính để xây dựng các thánh đường Hồi giáo ở Afghanistan.’”

Tôi đã nghe được tin này trên đài phát thanh, tôi không nhớ chính xác là khi nào, nhưng nó đã khiến tôi chú ý. Dù tôi hầu như chẳng biết tí gì về ông Bin Laden này cả, có lẽ ngoại trừ một điều rằng, là một người Saudi, ông ta hẳn phải có nhiều tiền. Tôi đã được điểm khá cao trong vòng một.

Trước khi Saber và chị Farida ra về, Saber trả lại tôi cuốn Bông hoa đỏ cho nỗi sầu của em của nhà văn người Iran Parwiz Ghasi Said mượn của tôi trước đó. Đây là một câu chuyện tình buồn mà tất cả bọn trẻ chúng tôi đều đang đọc và tôi thì thích mê nó.

“Thấy quyển này thế nào?”

Saber nhăn mặt để tỏ ra mình chẳng xúc động gì cả, mặc dù tôi biết tỏng là cậu ấy đang yêu một cô bé sống trong khu. Cậu ấy kể hết cho tôi nghe và tôi kể lại hết cho chị gái cậu ấy. Tôi cũng biết rằng cha mẹ Saber nghĩ cậu ấy còn quá trẻ để tới bàn chuyện với gia đình cô gái kia.

Tôi ép mình phải nghĩ đến những điều sống động, những thứ phù phiếm, cái váy của tôi chẳng hạn, nó đang chờ tôi ở hiệu may và cha đã hứa đi lấy về sớm cho tôi, bất chấp cái nhìn quở trách của mẹ. Mẹ cho là cha quá chiều theo những trò nhõng nhẽo của tôi. Tôi tôn sùng cha và cha cho tôi hầu như mọi thứ mà tôi muốn. Thậm chí anh Daoud khi còn là sinh viên còn nhờ đến tôi khi cần xin cha thứ gì đó. Mỗi lần tôi muốn xin một ít tiền để mua băng cassette hay nhũ móng tay là mẹ lại mắng tôi. “Con nên nghĩ đến ngân quỹ gia đình một chút chứ, Latifa. Đừng có đòi hỏi quá mức.”

Hôm qua mẹ giận điên lên vì tôi vẫn còn nghĩ đến chuyện đi dự tiệc cưới vào một ngày như thế. Nhưng tôi không thể không nghĩ đến nó. Tôi thậm chí còn chưa được nhìn thấy cái váy đã may xong của mình... Tôi biết như thế là nông nổi, nhưng chỉ là tôi đang nỗ lực sống bình thường như mọi cô gái ở tuổi tôi mà thôi. Đó là cách trì hoãn cảnh giam lỏng chắc chắn sẽ xảy ra với tôi. Với tất cả những cô gái và những người phụ nữ chúng tôi.

Tôi có thể nằm mãi ở đây lặng nhìn bông hoa hồng trong tấm bưu thiếp. Đó là một ý nghĩ đầy ám ảnh, giống như một vật nặng đè trên trán tôi: tôi sẽ không thể đi học đại học được nữa. Tôi đã thi kỳ thi đó chẳng để làm gì. Tôi sẽ bị mắc kẹt trong ngôi nhà này mà sống không có mục đích và không có một kế hoạch nào cho tương lai. Mà trong bao lâu đây? Phải hàng tuần, hàng tháng nữa lực lượng Kháng chiến mới có thể tống cổ lũ tu sĩ tham tàn này đi. Có thể mất hàng năm. Không ai biết Thủ lĩnh Massoud và quân lính của ông đang trú ẩn nơi đâu. Họ đã bị đánh lui, Đài Sharia loan tin như vậy, và chúng tôi sẽ không hay biết gì thêm nữa suốt một thời gian dài.

Bữa ăn sáng đầy u ám. Đài phát thanh Sharia chẳng giống gì Đài phát thanh Kabul. Không có phần tin tức. Chương trình phát thanh sẽ chỉ lại bắt đầu như lúc mười một giờ hôm qua, với các bài ca đạo và những lệnh cấm của các mullah(8) mà thôi.

Tôi ghét buổi sáng hôm nay, bởi nó thật vô nghĩa. Trước đây quả là dễ chịu khi ăn bánh mì nóng và uống trà bỏ đường trong lúc nghe chương trình Payam Sobhgahan trên Đài phát thanh Kabul: tin tức, thơ tiếng Ba Tư và ca nhạc. Khoảng tám giờ, anh Daoud và chị Soraya đi làm và tôi đến lớp. Chỉ còn mẹ ở nhà bầu bạn với con Bingo. Có một số ngày mẹ khám miễn phí cho những phụ nữ quanh vùng có chồng khắt khe đến nỗi không cho họ đến khám bệnh viện với các bác sĩ nam. Đây là lý do mà phần lớn các bác sĩ ở Kabul đều là nữ, nhất là bác sĩ phụ khoa.

Trong lúc chờ Đài Sharia cho chúng tôi cái vinh dự được nghe những chỉ thị của chế độ mới, tầm từ tám đến chín giờ, chúng tôi chỉ có thể nghe nhạc cầu, một bài đọc trích đoạn vài tiết trong kinh Koran và cầu nguyện. Cứ mỗi tiếng anh Daoud lại bật đài một lần, chỉ để xem có gì mới hay không.

Tôi quay về phòng mình trong lúc chị Soraya rửa bát. Cha sẽ đi một vòng kỹ lưỡng quanh khu để lo vài việc vặt, đến ngân hàng và cố tìm hiểu xem chuyện gì đang xảy ra qua những lời xì xào của bạn bè. Mẹ nằm dài trên ghế sofa trong phòng khách. Mẹ đã sắp ngủ thiếp đi, cái nhìn đã lờ đờ. Mẹ thậm chí chả buồn cằn nhằn khi tôi để chị Soraya rửa bát. Sáng nay dường như mẹ chẳng quan tâm đến điều gì cả.

Cha trở về với toàn tin xấu. Các ngân hàng đến giờ vẫn đóng cửa, các cửa hiệu và tất cả các tòa nhà hành chính cũng vậy. Chỉ Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ là vẫn đang làm việc. Cha nhìn thấy tivi vỡ nằm ngổn ngang như rác trên các đường phố, dây băng cassette xổ ra vắt lòng thòng trên cây, đu đưa trong gió thu trông như những vòng hoa báo điềm gở. Người dân tràn ra trên các đường phố vẻ chán nản. Các hàng người đứng chờ trước các cửa hiệu mỗi lúc một đông hơn.

Bây giờ cha sẽ đến thánh đường để giao nộp những vũ khí cổ của gia đình, được gói lại trong một mảnh vải. Người cha đáng thương của tôi, vốn cứng rắn là thế, dũng cảm là thế, đáng trọng là thế. Việc này thật hổ thẹn đối với cha. Sáng nay cha không buồn cạo râu, gương mặt tái sạm lại và u buồn. Những sợi râu lún phún khiến cha nom ốm yếu.

Mười một giờ. Đài Sharia lại phát để công bố rằng Thủ tướng của Chính phủ Lâm thời gồm sáu mullah, ra sắc lệnh gồm những điều như sau:

Từ bây giờ trở đi, quốc gia sẽ được điều hành nghiêm ngặt theo luật đạo Hồi. Tất cả các trụ sở sứ quán nước ngoài đều tạm thời đóng cửa. Những sắc lệnh mới theo luật Sharia là:

Bất cứ ai có súng đều phải mang đến giao nộp ở đồn quân sự hoặc ở thánh đường gần nhất;

Đàn bà và con gái không được làm việc ở ngoài;

Tất cả những phụ nữ nào phải ra khỏi nhà đều phải được một mahram(9) hộ tống;

Giao thông công cộng sẽ được phân riêng, có xe buýt riêng cho phụ nữ và nam giới;

Chiểu theo luật Sharia, nam giới phải để râu và xén ria mép;

Nam giới phải đội khăn xếp hoặc pakol trắng trên đầu;

Cấm mặc com-lê và đeo cà vạt. Phải mặc y phục truyền thống của Afghanistan;

Đàn bà và con gái phải mặc burqa;

Cấm mặc quần áo màu sáng bên trong burqa;

Cấm đánh móng chân, móng tay, đánh son và trang điểm;

Tất cả các tín đồ Hồi giáo phải cầu nguyện vào những giờ ấn định dù đang ở chỗ nào.

Những ngày sau đó một tràng sắc lệnh tiếp tục tuôn ra từ Đài phát thanh Sharia, tất cả vẫn theo giọng điệu sặc mùi đe dọa ấy, tất cả vẫn nhân danh luật Sharia.

Cấm không được trưng bày ảnh chụp người và động vật;

Phụ nữ không được bắt taxi nếu không có một mahram hộ tống;

Cấm bác sĩ nam viện cớ khám bệnh để chạm vào người phụ nữ;

Phụ nữ không được đến hiệu may của nam giới;

Phụ nữ trẻ không được chuyện trò với nam giới trẻ. Nếu có, hai người đó sẽ phải kết hôn ngay sau sự vi phạm này;

Các gia đình theo đạo Hồi không được nghe nhạc, kể cả trong lễ cưới;

Cấm các gia đình chụp ảnh hoặc quay phim, kể cả trong lễ cưới;

Phụ nữ đã đính hôn không được đi thẩm mỹ viện; kể cả trong lúc chuẩn bị cho lễ cưới;

Cấm đặt những tên phi Hồi giáo cho trẻ sơ sinh;

Tất cả những tín đồ ngoại đạo Hồi, nghĩa là theo Hindu giáo và Do Thái giáo, phải mặc quần áo màu vàng hoặc đính một mảnh vải vàng. Nhà ở của những người này phải cắm cờ vàng để dễ nhận dạng;

Các thương nhân không được bán rượu;

Cấm các thương nhân bán đồ lót phụ nữ;

Khi cảnh sát đang phạt người vi phạm, không ai được quyền chất vấn hoặc phê bình hành động của cảnh sát;

Tất cả những ai vi phạm các sắc lệnh của luật Sharia đều sẽ bị xử phạt trên quảng trường công cộng.

Lần này đúng là chúng đang giết đàn bà con gái chúng tôi thật rồi. Chúng đang giết chết chúng tôi một cách ngấm ngầm và xảo quyệt. Những luật cấm tồi tệ nhất này, đã áp dụng trên phần lớn đất nước chúng tôi, đang hủy diệt chúng tôi bằng cách đẩy chúng tôi ra bên lề xã hội. Tất thảy phụ nữ, từ già đến trẻ, đều phải chịu cảnh này. Không cho phụ nữ đi làm nghĩa là dịch vụ y tế và công việc hành chính ngừng hoạt động toàn bộ. Các cô gái không được đi học, phụ nữ không được chăm sóc sức khỏe, và không được hít thở không khí trong lành ở bất cứ nơi đâu nữa. Đàn bà hãy về nhà! Hoặc chôn mình trong lớp áo burqa. Tránh xa cặp mắt đàn ông ra. Toàn bộ điều này nghĩa là phủ nhận tuyệt đối quyền cá nhân - một thứ kỳ thị giới tính đáng sợ.

Sự lăng mạ tột cùng đối với người Afghanistan, cả phụ nữ cũng như nam giới, là việc cho ra đời một Bộ mới. Nó có cái tên đến là lố bịch: Bộ Ngăn chặn sự Đồi bại và Nâng cao Đức hạnh - tiếng Afghanistan là AMR Bel Mahrouf.

Tôi trốn trong phòng mình và nhìn chỗ tài sản của mình - sách, quần áo, ảnh, truyện tranh, băng nhạc, băng video và các tấm poster. Và tất nhiên, cả nhũ đánh móng của tôi và son môi của chị Soraya nữa. Chẳng còn làm được gì hết ngoài gói tất cả chúng lại trong hộp giấy và tìm cách giấu trong tủ. Tôi hết úp mặt xuống giường rồi lại nổi điên lên, sau đó bật khóc. Công việc kiểm kê các đồ dùng cá nhân này hình như quá sức chịu đựng của mỗi người trong số ba phụ nữ trong gia đình tôi.

Bất chấp người đang đau yếu, mẹ tôi vẫn trở dậy tự mình gói ghém các đồ dùng bị cấm - những bức ảnh sơ sinh và ảnh cưới trong gia đình, của mẹ và của chị Chakila. Mẹ gỡ xuống bức chân dung tuyệt đẹp của mình do anh mẹ vẽ. Đó là bức tranh vẽ một người phụ nữ đang ở độ xinh đẹp nhất. Khuôn mặt để trần của mẹ sẽ khiến bọn Taliban không chịu nổi.

Trong khi chúng tôi cất những gia tài thời con gái vào trong tủ, mẹ tôi ngụy trang các kỷ vật của chính mình thời sinh viên, thời trẻ, những ngày đầu làm vợ và làm mẹ, rồi giấu chúng sau chạn bếp. Tôi cất hết những bộ váy áo xịn nhất của mình vào trong va li, chỉ bỏ lại quần và đôi giày thể thao màu đen. Chị Soraya cũng làm y như vậy. Bộ đồng phục chiêu đãi viên rất đẹp của chị, những chiếc váy ngắn sáng màu của chị, áo sơ mi, áo thun và giày cao gót, tất cả chỉ qua một đêm đã trở thành không đứng đắn. Khi dọn đồ xong chị tôi đến giúp mẹ xem xét kỹ căn hộ xem có còn đồ cấm nào khác chúng tôi còn bỏ sót không: lịch, poster bóng đá, băng nhạc trong phòng của anh Daoud.

Nước mắt ứ đầy mắt tôi khi tôi quay về đứng giữa căn phòng của chúng tôi, một mình, giữa đống sách còn chưa đóng gói. Tôi cảm thấy choáng váng. Lúc nãy khi bắt mình phải bận rộn, tôi đã tự lừa dối mình bằng ý nghĩ rằng đơn giản là tôi chỉ thu dọn đồ đạc để tạm thời chuyển đi thôi. Giờ thì tôi không thể giả vờ được nữa. Đập vào mắt tôi là bức tranh biếm họa mà năm ngoái tôi đã cắt ra từ một tờ báo. Hai nhà khoa học đang cúi người nhìn chiếc kính hiển vi, họ nhìn những con “Taliban” nào đó đang quằn quại trên bản kính. Vẻ mặt hai người nom rất bối rối. Trong lời ghi bên dưới họ hỏi nhau không biết những con vi khuẩn lạ hoắc họ vừa phát hiện ra này chính xác là gì.

Những con vi khuẩn khủng khiếp, tôi nghĩ. Nguy hiểm và tai hại bởi chúng nhân bản bằng cách gieo truyền một loại bệnh nguy hiểm, phả luồng hơi chết chóc của nó vào tự do của một nửa nhân loại. Mà truyền nhiễm nó thật đơn giản. Tất cả những gì cần làm là để Taliban tuyên bố - với những thế lực hung tàn ủng hộ - rằng chúng là những người duy nhất nắm vững luật Sharia, những luật lệ được đề ra trong kinh Koran. Nhưng thực ra, chúng bóp méo những giáo luật này vì mục đích riêng của mình, không tôn kính gì kinh điển hết. Nhà chúng tôi vốn là một gia đình mộ đạo: cả cha tôi và mẹ tôi đều biết rằng với một tín đồ Hồi giáo ngoan đạo thì Sharia có ý nghĩa thế nào. Và những răn dạy của luật Sharia không dính dáng gì hết tới những điều mà chúng tôi vừa bị áp đặt lên mình.

Taliban đã cấm tranh ảnh động vật. Rồi chúng sẽ nhanh chóng cấm cả chó và chim đang sống. Tôi đoan chắc điều này. Trên sân hiên phòng khách nhà chúng tôi (mà cha tôi đã biến thành một nhà kính trồng cây để tránh những con mắt soi mói và hiểm ác) có nuôi một con chim hoàng yến trong lồng. Con chim cất tiếng hót rất hay mỗi khi bình minh đến.

Khi từ thánh đường trở về, cha bắt gặp tôi đang khóc trong phòng mình.

“Bình tĩnh đi con, Latifa. Lúc này không ai biết mọi chuyện sẽ thế nào. Chúng ta phải kiên nhẫn thôi con ạ. Những chuyện thế này không kéo dài được lâu đâu, rồi con sẽ thấy.”

“Cha ơi, phải thả con chim hoàng yến ra thôi. Con muốn nó được tự do. Ít nhất thì để cho nó được tự do.”

Việc mở lồng chim giống như một hành động cần thiết - một biểu tượng quan trọng vậy. Tôi nhìn con chim hoàng yến chần chừ một lát trước tự do chưa quen thuộc của mình. Rồi nó vỗ cánh bay lên và biến mất trong bầu trời thu ảm đạm. Nó đang mang theo cả tự do của tôi. Tôi hy vọng rằng cả hai điều ấy sẽ tìm được chốn nương thân ở một thung lũng thanh bình nào đó.

Mọi vật đã đổi thay. Thế giới đảo ngược. Cha tôi vẫn dậy cầu nguyện hàng sáng, nhưng ông không thể chạy bộ được nữa vì Taliban không cho bất cứ ai, ngoài bọn chúng, được chạy ngoài đường phố. Chị Soraya, anh Daoud và tôi ngủ dậy tầm chín hoặc mười giờ gì đó. Tất cả chúng tôi đều mệt mỏi, mặc dù được dậy muộn. Chúng tôi chẳng thèm muốn gì cả. Cha tôi và anh trai tôi bị bắt phải để râu. Hình như cả nhà tôi trông ai cũng bẩn thỉu, mệt mỏi và chán nản. Không ai bật đài nữa, vì trên đài làm gì có tin tức, không âm nhạc, không thơ phú. Chỉ độc tuyên truyền. Và sắc lệnh.

Những ấm nước đang sôi cũng bị cấm.

Cấm cả nuôi chó và nuôi chim.

Thế là tôi đã đoán đúng. Con chim hoàng yến của chúng tôi đã bay đi xa rồi. Chúng tôi, chứ không ai khác nữa, đã quyết định mang lại tự do cho nó. Nhưng giờ đây, chúng tôi phải chia lìa với Bingo, chú chó Afganistan lông trắng, có bộ lông dày đến mức nom nó giống một con gấu nhỏ. Bingo đã ở với tôi từ lâu lắm. Ký ức đầu tiên của tôi về nó là trong bức ảnh màu trong cuốn album mà mẹ tôi đã đem giấu trong bếp. Tôi chừng năm tuổi và mặc một cái váy lửng, áo cổ lọ màu đỏ và đội mũ rơm. Bingo đứng thẳng trên hai chân sau, tì vào người tôi, hai chân trước đặt vào hai tay tôi. Cái mõm dài của nó hướng về phía chị cả tôi, Chakila, như thể đang muốn nói rằng, “Cứu tôi với. Tôi sinh ra để chạy bằng cả bốn chân cơ mà.”

Chúng tôi làm sao mà bỏ rơi Bingo ngoài đường giống như một số chủ chó khác đã làm được. Thay vào đó cha đem Bingo đến chỗ chú tôi. Nhà chú có vườn. Nên Bingo, cậu bé Afghanistan bốn chân hay nổi loạn, ban ngày có thể trốn trong nhà và đi hóng gió vào ban đêm. Tôi biết ở chỗ chú tôi nó sẽ được chăm nom chu đáo.

Cha tôi lại mất sạch một lần nữa. Cha không thể lại gần khu vực có kho vải của mình cho tới mãi ba tuần sau khi quân Taliban đến. Mìn rải khắp nơi. Cha đứng từ đằng xa, nhưng vẫn trông thấy những năm tháng làm việc vất vả của mình đã biến thành một đống gạch vụn.

Cha không hề than phiền để mẹ tôi khỏi phải bận tâm thêm một vấn đề nan giải nữa. Cha sẽ cố gắng làm việc gì đó với một đối tác người Pakistan, sẽ đầu tư những gì còn lại vào một cơ nghiệp mới với hy vọng nó sẽ đem lại chút lợi nhuận. Nhưng sự tình phức tạp hơn thế. Nó không cho cha một công việc để làm hàng ngày và cha sẽ nhớ điều đó lắm. Từ giờ trở đi, ở mức độ nào đó cha cũng là một tù nhân trong căn hộ của chúng tôi - người phải đi chợ và lo chuyện bếp núc, dù công việc này cha vốn không nề hà gì. Cha vẫn luôn nấu ăn, nhất là vào những ngày mẹ phải thường xuyên làm việc ở bệnh viện.

Lúc này râu của cha tôi đã mọc đủ dài để thi thoảng chúng tôi lại đùa cợt cha vì bộ mặt mới hoặc vì độ dài cần thiết cho một bộ râu Taliban đặc biệt. Cha đón nhận những lời đó với vẻ lạnh nhạt pha lẫn căm ghét. “Bộ râu đó là của đám Taliban, chứ không phải của cha,” cha nói.

Về phần mình, anh Daoud và bạn bè anh giờ đã biết cách kiếm được các băng video. Chúng được tuồn đến từ Pakistan qua giới chợ đen đã có từ lâu. Thêm vào đó, trong cửa hàng chú tôi vẫn còn một số. Đây quả là một nghịch lý khôi hài: chúng tôi bị cấm mua máy ghi âm, tivi, băng đài và băng video, trong khi nhiều cửa hàng vẫn có bán những mặt hàng này trong đống hàng hóa của mình. Không ai mua chúng công khai cả. Họ chỉ kiếm được chúng bằng cách nào đó. Dường như đám Taliban đạo đức giả này vẫn cho phép một số hoạt động buôn bán ngầm diễn ra, bởi nếu không, tất cả các cửa hàng ở Kabul sẽ bị phá sản.

Cuộc sống trong nhà tôi giờ đây điểm nhịp bằng những lần đi, về của cha và anh Daoud. Họ mang theo đủ thứ tin tức từ thế giới bên ngoài - từ người bán tạp hóa, người bán rau quả, từ trung tâm thương mại và cả từ thánh đường. Chúng tôi nghe những tin tức này đầy háo hức.

“Người dân Afghanistan đang phẫn nộ trước cái lối diễn dịch Taliban về tôn giáo chúng ta, với những luật lệ lố bịch của chúng. Chúng ta đã là tín đồ Hồi giáo từ trước đến giờ và không ai thấy có gì chung với thứ đạo Hồi của Taliban cả. Chúng bắt mọi người phải dừng lại ở bất cứ chỗ nào trên phố để cầu nguyện. Một người kể với cha là ông ấy đã bị bắt đứng lại năm lần và lần nào cũng phải quỳ. Người ta cũng đồn rằng ở thánh đường, vào thời điểm cần bày tỏ ước nguyện thiết tha nhất đến Đấng Allah, thì nhiều người đã khấn rằng ‘Lạy Đấng Allah, cầu xin Người hãy ngăn chặn bọn Taliban lại.’ Cứ khi nào chúng bắt chúng ta phải cầu nguyện, thì người dân lại cầu nguyện chống lại chúng...”

Những ngày này quả là đường hầm hư vô tối đen vô tận. Phần lớn thời gian tôi nằm dài trong phòng mình đọc sách báo hoặc nhìn lên trần nhà. Hết chạy bộ và đạp xe đi chơi, hết những lớp học tiếng Anh và báo chí. Cơ thể tôi dần nhũn ra cũng như bộ não, lại bổ sung thêm bằng cách tiêu thụ quá nhiều những bộ phim yêu đời của Ấn Độ mà anh Daoud mang về cho tôi. Để Taliban không thể nhìn thấy ánh sáng yếu ớt phát ra từ màn hình, chú tôi đã qua quét sơn đen lên gần hết cửa sổ nhà chúng tôi. Phòng khách nhỏ, phòng ăn trông ra phố, cũng như sân hiên và các phòng ngủ, tất cả giờ đều màu đen. Duy có cửa sổ nhà bếp trông sang phía đối diện là không bị sơn. Qua ô cửa sổ này chúng tôi có thể nhìn thấy thánh đường và trường học, nơi lúc này chỉ còn lại lũ con trai đang ngồi quanh viên mullah nghe ông ta đọc kinh Koran.

Đầu tôi tịnh không một dự định. Thi thoảng tôi lại đi tới đi lui quanh căn hộ giống như một tù nhân đi quanh xà lim của mình. Tôi đi rồi ngồi xuống hết ghế sofa lại ghế băng hoặc ngồi lên thảm. Sau đó tôi đi dọc theo hành lang dẫn xuống bếp rồi trở lại phòng mình. Tôi ngồi, tôi nằm, tôi săm soi hình thêu trên thảm ngày càng tỉ mỉ, tôi bật tivi, rồi lại nằm xuống. Tôi chưa bao giờ nhìn đồ đạc trong nhà chăm chú như thế này. Một mẩu vụn bánh mì trên bàn cũng khiến tôi bận tâm; một con chim ngoài trời cũng thu hút tôi. Mẹ thì xa cách và nằm bẹp suốt; mẹ không còn quan tâm xem Soraya và tôi đang làm gì nữa, vì chúng tôi chẳng làm gì cả.

Đôi khi Saber đến thăm tôi. Thi thoảng mẹ tôi vẫn khám cho một bệnh nhân trùm burqa kín mít. Họ từ trong khu đến và lúc nào cũng tất ta tất tưởi, lúc nào cũng lo lắng. Tôi mở cửa và họ liền biến vào trong phòng khách với mẹ. Chồng của họ chờ ở dưới, bên ngoài tòa nhà.

Vào một ngày cuối đông, tôi mở cửa cho một phụ nữ mặc burqa và nghĩ bà ta là một trong những bệnh nhân bí mật của mẹ. Nhưng bà ta lại hỏi ngay tôi những câu hỏi lạ lùng.

“Cháu là Latifa phải không? Con gái của Alia à? Bạn của Saber?” Vì không rõ bà ta muốn gì, tôi toan đóng cửa lại, nhưng bà ta khăng khăng đòi vào. ”Đúng, đúng, đúng là cháu rồi.”

Đột nhiên bà ta phá ra cười và vén burqa ra. Chỉ lúc đó tôi mới nhận ra chị gái của Saber.

“Farida, là chị à! Chị làm em phát khiếp lên được. Chị làm gì với cái áo này vậy?”

“Chị gái chị đến thăm và chị đã mặc cái áo này vào để trêu chị ấy. Nhưng giờ chị đến đây mua vui cho em. Vì từ giờ chị sẽ lợi dụng nó để đi khắp nơi, đi dạo nữa. Em lại đây thử mặc nó vào xem nào.”

Quả là tôi bị sốc khi nhìn thấy chị Farida ăn mặc như thế này. Dĩ nhiên là tôi đã thấy những chiếc áo burqa trước khi Taliban xâm chiếm thành phố chúng tôi. Một vài bà ở nông thôn đến khám bệnh chỗ mẹ tôi vẫn mặc chúng theo phong tục và theo ý muốn riêng của họ. Tuy nhiên, chúng vẫn còn khá hiếm thấy ở Kabul. Mặt khác, trong suốt thời Nội chiến, rõ ràng những chiếc áo burqa đã khá hữu ích cho những phụ nữ làm công việc đưa tin bí mật. Đôi khi những bộ mặt không phân biệt nổi và những hình dáng phụ nữ vô danh đó cũng giấu bên trong cả những người Kháng chiến.

Khi gặp những thân hình trùm áo thùng thình này trên phố, tôi và đám bạn cùng trường cứ khúc khích cười. Chúng tôi gọi họ là “chai” hoặc “súp-lơ lộn ngược” hoặc “bao đựng đồ”. Khi họ đi thành nhóm, chúng tôi gọi họ là một quân đoàn nhảy dù. Có một câu chuyện cười ngớ ngẩn đã khiến chúng tôi cười như điên. Chuyện này kể rằng có một ông người Nhật trở về nhà sau một chuyến đi đến Afghanistan và kể lại với bạn bè mình rằng đàn ông ở Afghanistan đã vượt xa người Nhật và sống đâu vào đấy. “Tại sao vậy?” Bạn bè hỏi và ông ta trả lời, “Vì họ cầm những cái chai to bự trong tay đi khắp các đường phố!”

Tôi nhìn cái áo này, đống vải dệt của nó thõng xuống đất từ một cái mũ tròn ôm khít phủ kín đầu. Một số loại áo burqa ngắn hơn và dễ mặc hơn. Nhưng điều làm tôi thực sự kinh sợ là một mảnh lưới thêu mắt cáo che trước mắt và mũi.

“Cha em đã mua cho chúng em vài cái, nhưng không dài đến thế này.”

“Chị gái chị thấy nó ở nhà bà cô. Nó cũ rồi. Vả lại cô của chị dáng người cũng cao. Em mặc vào thử xem. Nếu hôm nào em muốn ra đường, em sẽ phải trùm kín hết người đấy.”

Tôi làm như chị bảo để chiều lòng chị, nhưng cũng để xem cảm giác chui vào trong cái áo sẽ như thế nào. Thật là nghẹt thở. Vải dính vào mũi tôi. Tôi vất vả mãi mới chỉnh được phần mắt cáo trước mắt mình.

“Thế nào? Em có nhìn thấy chị không?” chị Farida hỏi.

Tôi có thể nhìn thấy chị Farida với điều kiện tôi phải đứng ngay trước mặt chị. Để quay đầu lại tôi phải túm chặt một ít vải ở bên dưới cằm để những lỗ mắt cáo trước mắt không bị xê dịch. Còn để nhìn được đằng sau tôi phải quay hẳn người lại. Tôi có thể cảm thấy hơi thở của chính mình bên trong cái áo này. Tôi thấy ngột ngạt. Hai bàn chân tôi vướng víu hết vào bên trong lần vải. Tôi sẽ không bao giờ mặc nổi cái áo này. Giờ thì tôi mới hiểu những bước đi cứng nhắc như rô bốt của những “phụ nữ hình chai” kia, hiểu cái nhìn một mực hướng thẳng về phía trước hoặc dán chặt vào một chướng ngại vật nào đó. Giờ tôi mới biết tại sao họ lại ngập ngừng quá lâu trước khi sang đường, tại sao họ lại mất quá nhiều thời gian để leo thang gác đến vậy. Đối với những bóng ma đang lang thang trên các đường phố Kabul này, quả là khủng khiếp mỗi lần phải tránh xe đạp, xe buýt hoặc xe kéo. Muốn chạy thoát khỏi Taliban còn khó khăn hơn. Đây không phải là một chiếc áo. Đây đúng là một cái nhà tù di động.

Nhưng nếu muốn ra khỏi nhà, tôi không có lựa chọn nào khác ngoài giấu mình trong chiếc áo ấy. Hoặc là thế hoặc cải trang thành con trai, cắt tóc ngắn và để râu. Tức là chẳng có lựa chọn nào cả. Lúc này tôi thấy mình chưa đủ sức chịu đựng nó. Những ô mắt cáo ở vùng mắt chiếc burqa khiến tôi nhớ đến cái lồng nhốt con chim hoàng yến. Và con chim yến, lần này, lại là tôi.

Tôi chui ra khỏi cái áo burqa mà cảm thấy nhục nhã và tức giận. Khuôn mặt tôi là của tôi. Kinh Koran nói rằng phụ nữ có thể trùm khăn áo, nhưng cũng nói rằng vẫn phải nhận ra được họ. Taliban muốn đánh cắp khuôn mặt của tôi, muốn cấm đoán khỏi chúng tôi chính khuôn mặt của mình. Điều này là không thể. Tôi sẽ không cho phép điều này. Tôi sẽ không nhượng bộ. Tôi sẽ không ra ngoài với Farida.

“Em không thể ở nhà cả đời được.”

“Em sợ. Chỉ thế thôi. Em sợ bị vướng vấp trong cái áo đó, sợ bị người ta chú ý đến mình. Sợ bị đánh ở trên phố nếu em để lộ một phân cơ thể mình hay nếu em nhấc cái thứ này ra để hắt hơi. Nếu em có phải chạy trốn, em cũng không tài nào chạy được.”

“Được rồi. Vậy là cái áo này quá dài so với em. Kiếm cái ngắn hơn vậy.”

“Không. Mọi người nói rằng bọn chúng đang bắt cóc các cô gái, để dùng vũ lực bắt họ phải lấy không tên Taliban này thì tên khác làm chồng.”

“Thôi được, chị thì vẫn muốn ra ngoài. Em trai chị sẽ hộ tống chị. Em sẽ không bị nguy hiểm nếu anh trai em đi cùng với em. Hãy bảo anh Daoud đưa em ra ngoài.”

Tôi lắc đầu một cách dứt khoát. Tôi sẽ không đi. Vả lại tôi không muốn thấy bao nhiêu phụ nữ đang nép sát vào tường vì sợ hãi, giấu người theo từng bước đi. Khi đó đi ra ngoài sẽ chỉ khiến tôi thêm chán nản khi quay về nhà. Nếu tôi còn về được đến nhà...

Các chương trình trên Đài phát thanh Sharia muôn ngày như một: từ tám đến chín giờ đọc kinh Koran và những lời cầu nguyện; từ chín đến mười rưỡi là các diễn văn tuyên truyền, công bố các sắc lệnh mới, một số được hát lên như những khúc kinh cầu Ả Rập, như thể điều đó sẽ làm chúng tôi tin rằng chúng thực sự bắt nguồn từ kinh Koran. Sau đó đài ngừng phát cho đến sáu giờ tối, khi có cái gọi là “tin báo tử” của các anh hùng Taliban. Tiếp theo là phần tin tức, chúng luôn giống hệt nhau và luôn tán dương bước tiến của quân Taliban, nhưng không có một lời nào - khỏi phải nói - về bất cứ cuộc giao chiến nào với lực lượng Kháng chiến hoặc về bất cứ làng mạc nào không thể hoặc chưa bị chiếm đóng. Cuối cùng vào lúc chín rưỡi, sau vài đoạn trích kinh nữa, Đài Sharia ngậm miệng.

Đến trưa, ai đó sẽ mở miệng đề nghị, không hào hứng lắm, rằng có lẽ nên làm cái gì đó ăn... Căn hộ giống như một nhà tù hay bệnh viện. Im lặng nặng nề bao trùm lấy tất cả chúng tôi. Vì không một ai làm gì nhiều, nên chúng tôi chẳng có gì nhiều để nói với nhau cả. Không thể sẻ chia những cảm xúc của mình, mỗi người chúng tôi tự khép kín trong nỗi sợ hãi và đau buồn của riêng mình. Bởi vì mọi người đều ở trong hố đen như nhau, nên thật vô nghĩa khi nhắc đi nhắc lại rằng chúng tôi không rõ sẽ ra sao.

Tôi sống vật vờ. Tôi chẳng thiết ăn mặc gì nữa. Đôi khi tôi không thay quần áo ba hay bốn ngày liền, bất kể ngày đêm. Điện thoại hàng xóm không đổ chuông nữa. Đường dây đã bị cắt. Vào ngày đường dây được nối lại, cha tôi lưỡng lự không muốn dùng nó; chúng tôi biết giờ bọn Taliban nghe trộm mọi chuyện, rình mò mọi thứ.

Đôi khi bạn bè của anh Daoud vẫn bí mật đến nhà tôi xem phim. Thi thoảng chị Farida và Saber lại ghé qua thăm tôi. Họ liều hơn chúng tôi. Họ dám ra khỏi nhà. Tôi không đối mặt nổi với việc này. Tôi cảm thấy đối với chúng tôi, hình thức phản kháng duy nhất còn lại là đóng cửa ở nhà và không phải nhìn thấy chúng.

Mãi tới đầu năm 1997, khoảng bốn tháng sau khi Taliban đến, cuối cùng chị Farida cũng thuyết phục được tôi mạo hiểm ra ngoài với chị ấy. Cái cớ chị đưa ra là đi đòi số tạp chí vừa rồi của chúng tôi ở nhà Maryam bạn tôi. Chị đã hỏi lấy nó trước đó mấy hôm.

Tôi thực sự không hiểu tại sao cần phải đi, nhưng chị Farida nằng nặc. “Em phải ra ngoài,” chị nói. “Trông em khiếp lắm, không khỏe, vả lại đó là cách tốt nhất để đối mặt với hiện thực. Nếu em cứ đóng cửa ở trong nhà, em sẽ phát điên mất.”

Tôi biến mất trong lớp áo burqa và nhập hội với chị Farida và Saber, chúng tôi bắt đầu cuộc “dạo chơi” kỳ quái của mình. Đã bốn tháng nay tôi không ra khỏi nhà. Tôi cảm thấy trong người khó ở như vừa ốm dậy, mệt lả và quá yếu để làm một hành động mạo hiểm nào đó. Đường phố trông thật khổng lồ, quá lớn, và tôi cảm thấy lúc nào mình cũng bị nhìn chằm chặp, bị dõi theo bằng những con mắt vô hình. Để không gây chú ý đến mình, chúng tôi chỉ thì thào nói với nhau qua lớp áo. Saber luôn ở bên chúng tôi, gần hơn hình bóng.

Hành trình của chúng tôi đi qua trường cấp ba cũ. Quân Taliban đang đứng gác ở lối vào. Trong sân thể thao gần trường, cây cối khoác những vòng hoa kỳ cục bằng dây băng cassette. Thứ dây dợ này cũng buộc cả vào những cái rổ đựng giày thể thao, vào cả lưới bóng chuyền. Cha tôi đã cho tôi hay điều này, nhưng lúc đó tôi nghĩ đây chỉ là biểu hiện không chính thức của việc Taliban phản đối những thị hiếu “phương Tây” của chúng tôi mà thôi. Hóa ra chúng được treo đi treo lại theo hàng lối, biểu trưng về những gì bị cấm đoán: Cấm hình ảnh. Cấm âm nhạc.

Đi thêm chút nữa chúng tôi nhìn thấy bốn phụ nữ mặc burqa đang đi về phía mình. Đột nhiên một chiếc xe tải của bọn Taliban không rõ từ đâu chạy tới và phanh khựng lại trước mặt họ với một tiếng động khủng khiếp. Bọn Taliban nhảy xuống xe, vung những chiếc roi bằng dây cáp của chúng rồi bắt đầu quất vào người họ mà không nói một lời, không thèm giải thích, bất chấp họ đều mặc áo burqa không thể giản dị hơn được nữa. Đám phụ nữ kêu lên, nhưng không ai đến giúp họ cả. Rồi họ bắt đầu bỏ chạy, vướng vấp trong cái mớ xống áo nặng nề của họ, nhưng đám Taliban vẫn đuổi theo họ, không ngừng quất roi. Tôi nhìn thấy máu nhỏ ra từ giày của những phụ nữ này.

Sững sờ và đờ cả người ra, tôi cảm thấy mình đúng là đang hóa đá. Bọn chúng sắp tiến đến chỗ chúng tôi. Tôi biết điều đó. Chị Farida cầm lấy tay tôi và lắc thật mạnh.

“Chạy thôi. Chúng ta phải chạy. Chạy đi.”

Một tay tôi giữ phần áo burqa trước mặt mình, tay kia nắm lấy chị Farida. Chúng tôi chạy như điên, chạy cho đến khi chúng tôi không thở được nữa. Saber chạy đằng sau chúng tôi, một kiểu bảo vệ đến là buồn cười; cậu ấy biết rằng mình làm sao ngăn được Taliban, nhưng ít ra cũng có cậu ấy ở đấy. Trong lúc chạy, tôi không biết có phải Taliban đang đuổi theo chúng tôi hay không. Tôi nghĩ mình cảm thấy chúng ngay sau lưng và bất cứ lúc nào những cái roi vung lên sẽ quấn lấy tôi và tôi sẽ ngã.

May mà chúng tôi ở cách nhà không bao xa và chưa đầy bốn phút sau cầu thang tòa nhà đã nuốt chửng chúng tôi vào trong. Khi bước vào nhà, tôi không nói được, cũng không thở được. Tôi thổn thức, mất bình tĩnh. Chị Farida đã lấy lại hơi và lẩm bẩm điều gì đó tôi không rõ, nghe như những lời nguyền rủa Taliban. Chị Farida tỏ ra có máu phản kháng hơn tôi nhiều.

Saber ở ngay đằng sau chúng tôi, hiểu chuyện gì đã xảy ra và giải thích cho chị Farida. “Bọn chúng đánh họ vì họ đi giày trắng...”

“Cái gì cơ, giày trắng hả? Nó bị cấm trong sắc lệnh mới nhất chắc?”

“Vì đó là màu cờ của Taliban. Phụ nữ không được phép đi giày trắng. Điều đó có nghĩa là họ đang giẫm đạp lên lá cờ.”

Những sắc lệnh nối tiếp nhau không có một trật tự hay lý lẽ nào. Thế nhưng, đối với tôi chúng dường như đều tuân theo một lôgic chắc chắn và xảo quyệt: tiêu diệt phụ nữ Afghanistan.

Một hôm có một phụ nữ chỉ mặc đúng áo burqa ra đường. Chị ôm chặt cuốn kinh Koran vào ngực. Bọn Taliban đã lấy roi vụt chị. Chị phản đối, “Các ông không có quyền. Hãy xem kinh Koran viết gì xem!” Thì trời ơi, ở cú roi tiếp theo cuốn kinh rơi xuống đất và không kẻ tấn công nào cúi xuống để nhặt nó lên... Thế mà luật dạy rằng không bao giờ được phép đặt kinh Koran dưới đất. Nếu đám Taliban quả thực đã đọc kinh, thì bọn chúng hẳn phải biết điều này. Nhưng bọn chúng chẳng để ý gì đến những nguyên lý truyền thống của tôn giáo chúng tôi. Những sắc lệnh của chúng chỉ là những điều xuyên tạc ngắt ngọn từ thánh kinh mà thôi. Kinh Koran đặc biệt nhấn mạnh rằng có hai trường hợp mà phụ nữ có thể phô bày những bộ phận kín đáo của mình cho nam giới - đó là khi họ ở cùng chồng hoặc ở chỗ bác sĩ. Vừa cấm họ điều trị ở chỗ bác sĩ nam, lại vừa cấm họ không được hành nghề y tế chứng tỏ một mưu toan rõ ràng muốn hủy diệt họ.

Sự trầm cảm sâu sắc đang dần dần nuốt trọn lấy mẹ tôi là một bằng chứng cho cả những đau khổ mà phụ nữ phải hứng chịu lẫn việc Taliban tuyệt đối phủ nhận họ. Mẹ tôi từng là một phụ nữ sống tự nhiên, mang tư tưởng tự do. Mẹ luôn cảm thấy thoải mái ở nhà mình, ở nơi mẹ học tập và làm việc. Kể cả cuộc hôn nhân của mẹ cũng không phải là do sắp đặt. Hồi mẹ học đại học, mẹ mặc váy hoặc mặc quần. Trong suốt thập kỷ 1960, mẹ vẫn hay đi đến rạp chiếu bóng Zainab và thậm chí còn đưa cả các chị em gái đi theo. Suốt thời gian đó phụ nữ Kabul có được quyền lợi của mình. Năm 1975, Năm Phụ nữ của Liên hợp quốc, chính quyền của tổng thống Mohammed Daoud đã ban hành một sắc lệnh dân chủ rằng “Phụ nữ Afghanistan có quyền làm chủ cơ thể mình, có quyền lựa chọn sự nghiệp và người chồng của mình, giống như nam giới Afghanistan.”

Một hiệp hội bênh vực nữ quyền đã hoạt động trong một hoàn cảnh tưởng như bất khả để áp dụng sắc lệnh trên ở các tỉnh và các vùng sâu vùng xa của đất nước. Các chiến sĩ này phải mệt sức đấu tranh với những truyền thống thâm căn cố đế của các bộ lạc. Mẹ đã kể với tôi rằng ở một số vùng nông thôn, những đứa trẻ không biết vâng lời sẽ bị đe dọa gọi “một mụ không trùm khăn”, một mụ yêu tinh thực sự đến. “Nếu chúng mày không ngoan,” họ bảo bọn trẻ, “mụ ta sẽ ăn thịt chúng mày.”

Mẹ được đào tạo nghiệp vụ y tá tại Bệnh viện Mastourat ở Kabul, một bệnh viện của nữ giới. Ở đó mẹ được làm việc với các giáo sư lỗi lạc - Bác sĩ Fatahe Najm, Bác sĩ Nour Ahman Balaiz và Bác sĩ Kerramuddin. Mẹ có mặt trong nhóm bác sĩ đã chăm sóc cho mẹ Vua Zaher. Dưới thời Liên Xô, mẹ làm việc tại một nhà trẻ ở khu chúng tôi, nhờ đó có được cho tôi một chỗ trong nhà trẻ đó. Một hôm, hồi tôi lên bốn, mẹ đã lôi tôi ra khỏi nhà trẻ. Mẹ giận điên lên ấn tôi vào trong xe taxi, rồi đưa tôi về, và bỏ tôi ở nhà một mình rồi lại hối hả ra đi. Nhiều năm sau mẹ mới nói cho tôi hay nguyên do sự giận dữ và vội vã đó của mẹ. Mẹ đã mắng như tát nước vào mặt một cô y tá Liên Xô, vì cô này khi tiêm vắc xin cho trẻ em đã chỉ dùng một ống tiêm chung cho tất cả các cháu, do đó lũ trẻ có nguy cơ bị nhiễm bệnh tập thể. Đó là năm 1984 và mẹ tôi biết rõ độ nguy hiểm của cái lối hành nghề kiểu này.

Bị phòng quản lý nhà trẻ gọi lên vào ngay ngày hôm đó, mẹ tôi đã bị kỷ luật thẳng tay.

“Chị không có quyền tranh cãi về những cách thức y tá Liên Xô tiến hành.”

“Kể cả nếu điều đó sai trái về mặt chuyên môn sao? Chị có biết đang bàn đến chuyện gì không thế?”

“Người Liên Xô đang phụ trách việc này. Họ làm gì không liên quan đến chị. Chị phải xin lỗi chị y tá đó. Nếu không thì tôi buộc phải coi chị là một kẻ phản cách mạng.”

“Người đàn bà đó đã phạm phải một tội nghiêm trọng. Cô ta đã gây nguy hiểm đến mạng sống trẻ em Afghanistan. Là một phụ nữ Afghanistan, tôi không thể xin lỗi cô ta. Tôi rất tiếc.”

“Vậy thì tôi không có lựa chọn nào khác ngoài việc sa thải chị.”

Mẹ tôi đã cố gắng rút lại hồ sơ chuyên môn của mẹ ở Bộ Y tế, nhưng thật lạ lùng làm sao, nó đã biến mất. Bộ trưởng Nabi Kamyar, để cố vỗ yên mọi chuyện, đã đề xuất để mẹ tôi ghi danh tham gia một kỳ thi tuyển để theo học một khóa đào tạo chuyên khoa do mẹ tôi tự chọn. Mẹ thi rất tốt và năm sau mẹ tôi được cử sang Prague(10) để học chuyên về phụ khoa sáu tháng. Mẹ đạt điểm số xuất sắc nhất khóa học đó. Khi trở về Kabul, mẹ đã đến thẳng Bộ Y tế.

“Tôi cảm ơn ông đã sắp xếp khóa đào tạo này cho tôi. Và bây giờ tôi xin nghỉ việc. Tôi không thể làm việc theo mệnh lệnh của người Liên Xô được.”

Vị bộ trưởng đã thuyết phục được mẹ tôi đến làm việc với ông ta trong Bộ Y tế, trước khi nghỉ việc hẳn - khoảng ba năm sau đó, nhưng chỉ để tiếp tục hành nghề ở nhà. Tức là trước khi bọn Taliban đến.

Tình trạng nghỉ việc này hoàn toàn không phải là biến mẹ tôi thành một người chỉ ru rú xó nhà mà nấu nướng và nuôi dạy cô con gái út. Mẹ chưa từng sùng bái gì công việc quản gia. Còn cha tôi vẫn luôn thoải mái trước lối sống của mẹ. Thậm chí có lúc cha còn thuê hẳn một người nấu ăn để có thêm thời gian cho mẹ tôi theo đuổi sự nghiệp của mình.

Không được làm việc với mẹ thậm chí còn khó chịu hơn cả với chị em tôi. Chị Soraya và tôi đều còn trẻ. Mọi hy vọng vẫn chưa mất hết, như cha luôn nói đi nói lại với chúng tôi. Nhưng đối với vợ mình, người trước mắt cha ngày lại ngày đang rút sâu hơn vào cái sự nghỉ hưu bắt buộc kia, cha lại lo sợ điều xấu nhất.

Khi cha ra ngoài hoặc khi bạn bè đến nhà tôi chơi, họ chỉ điểm lại những cảnh tượng ác mộng, kinh tởm, đáng phẫn nộ. Làm sao người ta lại chấp nhận được rằng có một phụ nữ đã bị cắt lìa các ngón tay ngay giữa ban ngày ban mặt bởi bọn cảnh sát tôn giáo, đơn giản chỉ vì chị ta đánh móng tay chứ? Cha cố gắng ngăn không cho mẹ biết về những chi tiết bạo lực nhất trong các câu chuyện này.

Nhưng không cần phải ra ngoài mới chứng kiến được nỗi kinh hoàng mà chúng tôi đang trải qua.

Vào đầu mùa đông năm 1997, chúng tôi nghe thấy tiếng một phụ nữ kêu la ngoài phố, “Con trai tôi vô tội. Con trai tôi vô tội.”

Nhìn qua cửa sổ tôi nhận ra mẹ của Aimal sống ở lô lân cận. Ba tên Taliban đang lấy báng súng Kalashnikov đánh cậu ấy một cách dã man. Chúng đánh cậu theo đúng trình tự, đặc biệt là đánh vào mạng sườn. Chị Soraya và tôi vội thụt người lại kẻo bị nhìn thấy, nhưng tiếng thét của cậu ấy như cứa vào tâm can chúng tôi.

Sau đó im lặng bao trùm. Đám Taliban đã đi khỏi đó. Ở dưới nhà chỉ còn mình mẹ Aimal đang than khóc, cúi xuống bên thân thể vô tri vô giác của con trai mình. Khi các bác sĩ đến để đưa cậu vào viện thì đã muộn. Aimal đã chết một tiếng đồng hồ rồi.

Anh Daoud tìm hiểu được chuyện gì đã xảy ra. Aimal đã mời vài người bạn, tất cả chừng 15 đến 17 tuổi, đến nhà để xem một bộ phim bằng đầu máy video của anh, bất chấp những lệnh cấm đang ban hành. Bọn Taliban đã đột kích căn hộ và bắt quả tang sáu người bạn trẻ. Chúng đập vỡ tivi và đầu video, xé ruột băng ra khỏi vỏ băng, trước khi chúng lôi các cậu ra ngoài. Ở đó, chúng tra hỏi cuốn băng video là của ai và Aimal đã thừa nhận là của mình. Để trừng phạt, bọn chúng bắt họ phải đánh lẫn nhau, một hành động mà người Afghanistan coi là hết sức nhục nhã, kể cả đối với những người còn trẻ. Aimal đã đánh không đủ mạnh và một tên trong số chúng đã tiến lại gần cậu ấy.

“Tao cho mày biết cần phải đánh như thế nào.”

Thế là hắn trút xuống người cậu, đầu tiên là những cú đấm, sau đó là khẩu súng trường của hắn. Mẹ anh Aimal đã cố gắng lao người vào đỡ, nhưng một tên Taliban đã đánh mạnh đến nỗi bác ấy bay người vào đống dây thép gai. Tiếp đó, giống như một đám đông đang hăng máu tùng xẻo, tất cả bọn chúng xông vào giơ báng súng trường đánh đập cậu.

Khi quân Taliban tràn vào Kabul, gia đình Aimal thuộc số những người đã tung hoa qua cửa sổ để chào đón chiến thắng của bọn chúng. Sau thảm kịch ấy, mẹ cậu cả ngày chỉ đi xin lỗi mọi người vì đã sai lầm mà hoan nghênh Taliban. Giờ những chuyện này khiến bác ấy phát điên lên. Chẳng đời nào bác ấy hình dung nổi rằng bọn Taliban lại có thể giết chết con trai mình lạnh lùng đến thế ngay trước mặt mình. Bây giờ bác ấy đi nhặt đá cuội ném vào trước xe ôtô của Taliban. Chúng đã bắt bác ấy và dùng roi đánh bác không biết bao nhiêu lần mà kể. Nhưng ngay sau khi được thả ra bác ấy lại tiếp tục ném đá, không biết mệt mỏi. Chúng đánh bác thì cũng có làm sao đâu? Bác ấy không còn gì để mất cả.

Vào tháng Hai năm 1997, tôi ra khỏi nhà lần thứ hai, lần này đi cùng chị Soraya. Mặc dù chính quyền Taliban cấm phụ nữ đi làm, chúng vẫn hứa sẽ trả cho họ tiền lương của vài tháng. Anh Daoud tháp tùng chúng tôi tới trụ sở hãng Hàng không Ariana, cách nhà tôi vài ba cây số. Bên ngoài trời rất lạnh. Chúng tôi kéo chiếc váy đen dài trùm xuống chiếc quần chạy bộ và áo len dài tay sẫm màu. Giày thể thao của chúng tôi màu đen, cả tất cũng vậy. Với chiếc áo burqa màu hạt dẻ được trùm cẩn thận trên đầu mình, về nguyên tắc, chúng tôi sẽ tránh được sự nghi ngờ của Taliban.

Đại lộ chính đã thay đổi rất nhiều kể từ lần cuối cùng tôi nhìn thấy nó. Các tòa nhà của đài truyền hình và công ty hàng không vẫn đóng cửa và mang vẻ tĩnh lặng đầy sát khí. Bọn chúng dựng lên những phòng nhỏ bằng tôn múi trước cửa các tòa nhà này. Đó là những công-ten-nơ thông thường có trổ một lối vào dành riêng cho phụ nữ. Phụ nữ được đón tiếp ở đây, từng người một, để chúng kiểm tra căn cước và cấp lương cho họ. Qua cửa ra vào tôi nhận thấy có một cái lỗ nhìn. Trong lúc xếp hàng tôi hiểu được nó dùng để làm gì. Một phụ nữ đi qua lối vào để vào trong buồng chứa và sau đó đến đứng trước cái lỗ, chị thò bàn tay cầm giấy tờ của mình qua nó. Một tên Taliban bên ngoài buồng chứa cầm lấy giấy tờ, kiểm tra chúng, rồi, cũng bằng cách đó, chuyển chúng lại cùng với tiền lương của chị.

Những chiếc áo burqa rõ ràng là chưa đủ đối với chúng. Thậm chí bọn chúng còn cần được bảo vệ khỏi những người phụ nữ nhiều hơn nữa. Chúng cần đến những tấm tôn múi để tránh xa khỏi họ. Nhưng chính xác thì chúng sợ cái gì chứ? Có thể chúng tôi bị coi là ô uế, nhưng điều đó có ngăn được chúng đừng giơ tay trần tát phụ nữ và đẩy họ vào đống dây thép gai đâu!

Những phụ nữ đến lĩnh lương ngày hôm đó bắt đầu phản đối. Tại sao lại làm nhục họ bằng cách không cho họ bước vào trong tòa nhà chính chứ? Tại sao lại đón tiếp họ trong các công-ten-nơ bằng tôn múi?

Một trong số những tên Taliban đang ngồi trên mặt đất ở lối vào đứng dậy bắn chỉ thiên một tràng đạn để đe dọa chúng tôi. Về phần tôi thì hắn chắc chắn đã thành công. Nhưng chị Narguesse, bạn đồng nghiệp của chị Soraya, thì mất tự chủ và đột ngột giật chiếc burqa ra và kêu lên.

“Thật nhục nhã cho các người khi đối xử với chúng tôi như thế này!”

Tất cả mọi người xung quanh chết điếng. Chị đã dám làm một cử chỉ chống đối và để lộ ra gương mặt chiêu đãi viên xinh đẹp của chị ngay giữa ban ngày.

Được khuyến khích bởi cơn tức giận của Narguesse, những người khác liền vây quanh tên Taliban kia và la lên giận dữ. Một phút sau, thêm nhiều tên Taliban nữa xuất hiện, thô bạo ấn chúng tôi vào trong buồng chứa và đem Narguesse đi, lúc này đang chống trả như hổ cái.

Khi đã bị nhốt lại, chúng tôi liền lột hết áo burqa ra và la lên với bọn Taliban, “Chúng tôi sẽ không rời khỏi đây mà không có cô ấy. Hãy trả cô ấy về đây.”

Chúng tôi có chừng khoảng hai mươi người, không hơn. Tôi không biết anh Daoud có chứng kiến cảnh tượng này hay không. Chắc là không. Vì tin rằng những thủ tục lĩnh lương sẽ kéo dài đến vô cùng, chắc là anh ấy đang tản bộ dọc theo đại lộ trong lúc sự huyên náo nổi lên dữ dội trong buồng chứa. Chúng tôi lo sợ cho Narguesse. Tất cả chúng tôi đang nghĩ xem bọn chúng giáng lên chị loại hình phạt gì. Cách gây áp lực duy nhất là cứ ở đây, để trần khuôn mặt, để chúng không dám ném chúng tôi ra ngoài. Đây là một hình thức dọa dẫm khá yếu ớt.

Cuối cùng chị Narguesse cũng quay trở lại. Chị rất kích động và đã mặc lại áo burqa, nhưng chị không nói năng gì. Bọn Taliban quát chúng tôi bắt rời tòa nhà.

Tám người chúng tôi đi về khu Mikrorayan. Trên đường về, Narguesse kể cho chúng tôi nghe chuyện gì đã xảy ra.

Bọn Taliban bắt chị vào trong phòng nhân sự cũ ở tầng trệt.

“Tại sao cô lại cởi burqa ra?” chúng hỏi. “Tại sao cô lại muốn tỏ ra cứng đầu cứng cổ và lăng mạ chúng tôi?”

“Bởi vì các ông không có quyền không cho phụ nữ đi làm. Không có quyền tiếp đón chúng tôi hôm nay trong những buồng chứa kia như lũ chó hoang. Chúng tôi đã cống hiến sức mình cho cái công ty này, đã góp phần vào hoạt động của nó. Và chúng tôi chẳng bao giờ phải mặc burqa, kể cả trên máy bay lẫn trong công ty.”

“Cô chỉ là đàn bà. Cô không có quyền nói. Cô không có quyền lên tiếng. Cô không có quyền cởi áo burqa ra. Thời các cô đi đó đi đây không mặc burqa đã qua rồi.”

Hai lần nữa chị Narguesse định cởi áo burqa ra thì cả hai lần chúng đều ngăn chị lại.

“Nếu mày cứ tiếp tục như thế, chúng tao sẽ giết mày.”

Thật may cho chị là một trong những tên Taliban đứng gác cái phòng đã vào nói với ông chủ của hắn rằng chúng tôi không chịu rời khỏi đó chừng nào Narguesse chưa trở về. Chúng lưỡng lự chỉ giây lát, sau đó đẩy chị ra.

“Ra đi. Và ngậm miệng lại!”

Chị đã thoát khỏi một hình phạt khắc nghiệt, biết đâu chẳng là cái chết vì đã chống đối theo cách ấy. Vậy thực ra thì vì sao chúng lại thả chị ấy ra? Vì sợ không chống lại nổi cả đám đàn bà ư? Phải, chúng không đông đến như chúng tôi. Cũng có thể là chúng đã nhận được chỉ thị của cấp trên, nhưng chính xác thì chỉ thị ấy là gì?

Narguesse không thể bình tĩnh lại được. Mặt chị đỏ lên vì tức giận. Là bạn thân của chị Soraya, chị Narguesse vốn luôn mạnh mẽ và hết sức độc lập.

“Chúng ta phải phản kháng, phải hành động thôi. Hôm nay chúng ta đã không làm được gì nhiều vì chúng ta không đủ người. Nhưng nếu ngày mai chúng ta có hàng nghìn người, chúng ta sẽ cố gắng đánh đổ được bọn Taliban này.”

Tất cả chúng tôi đều đồng ý với chị, nhưng chống đối như thế nào đây? Tập hợp nhau lại, đúng, nhưng ở đâu? Chúng tôi sẽ đặt gia đình mình vào vòng nguy hiểm. Chúng tôi không có vũ khí, không có quyền tự do lên tiếng, không có báo chí và truyền hình. Chúng tôi có thể hướng đến ai? Làm thế nào có được sự trợ giúp từ bên ngoài nếu tất cả chúng tôi chỉ là những cái bóng vô danh không có tiếng nói?

Đó là sự phản kháng đầu tiên của chúng tôi trong năm tháng trời bị Taliban cai trị. Tôi khiếp sợ. Tôi vẫn còn bị khích động khi anh Daoud đuổi kịp nhóm chúng tôi trên đường về khu Mikrorayan.

Đêm hôm đó, trong căn hộ với những cửa sổ bị sơn đen, chúng tôi ngồi dưới ánh sáng le lói của khí đốt và cuối cùng cũng có chuyện gì đó để kể với mẹ. Nhưng mẹ chúng tôi, xưa kia đầy tinh thần chiến đấu đến thế, chỉ buồn rầu nói khẽ, “Các con thật dũng cảm. Điều này thì mẹ chắc chắn.”

Mẹ đặt bàn tay mệt mỏi lên đầu chúng tôi và tôi biết chắc điều đáng sợ này: mẹ tôi không còn muốn nghe nói về chiến tranh hay phản kháng gì nữa. Mẹ chỉ muốn uống những viên thuốc của mình rồi chìm vào giấc ngủ mê mệt. Bọn Taliban không thể động đến mẹ trong đó được.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 17.10.2017, 09:38
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35469
Được thanks: 5258 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Hồi ký] Khuôn mặt bị đánh cắp (Hồi ký của một phụ nữ trẻ lớn lên dưới thời Taliban) - Latifa - Điểm: 10
3 - Ba cô gái nhỏ

Cửa sổ nhà bếp và cửa ra vào căn hộ nhà chúng tôi giờ đây là những điểm tiếp xúc duy nhất của tôi với thế giới bên ngoài. Buổi sáng, tôi ngắm thánh đường và trường học cũ của tôi từ đằng xa. Trong ngày, thỉnh thoảng tôi lại mở cửa để đón một trong số những bệnh nhân bí mật của mẹ vào, những người dám lén đi qua các đường phố, giấu người trong burqa để đến nhờ mẹ tôi giúp đỡ. Khi mẹ khám bệnh xong, tôi lại ra đóng cửa cho họ và quay về phòng mình nằm dài trên giường và nghe tiếng nhạc mở rất nhỏ hoặc xem những bộ phim mà tôi đã xem ít nhất mười lần rồi. Về mặt thể chất tôi không được khỏe lắm. Tình trạng kiệt sức lạ lùng không tên ghim chặt tôi lại trên giường bên cạnh chị Soraya. Chúng tôi ôn đi ôn lại những việc mà chúng tôi không còn được làm nữa. Kể cả sinh nhật của anh Daoud vào tháng Mười năm ngoái cũng diễn ra một cách bình thường và lặng lẽ. Bộ quần áo tôi hằng mong mỏi và định mặc đi dự cái đám cưới đã không đến được giờ gấp lại bỏ trong hộp các tông. Nó sẽ không bao giờ được mặc đến dưới thời Taliban này.

Tôi thấy thật khó tin chúng tôi chính là những người trước kia từng đã rất yêu các buổi lễ lạt, đám cưới, gia đình hội ngộ, nơi chúng tôi được thoải mái cười đùa và nhảy nhót. Những người xưa từng dạo bộ trên đường phố mua đồ trang điểm, băng đĩa nhạc và mua sách; từng thảo luận không ngớt về nhiều điều với bạn bè trên đường đi học về. Một vài người bạn của tôi, vốn không e lệ như tôi, thường phá lên cười thoải mái khi lũ con trai đi qua, thì thầm tán dương vẻ bề ngoài và quần áo của họ. Họ mới 15, 16 tuổi, nhưng một số bậc phụ huynh đã bắt đầu nghĩ đến chuyện hứa hôn cho họ.

Về đề tài bạn trai thì tôi kín đáo hơn nhiều. Tôi luôn nghĩ rằng tôi sẽ không lấy chồng chừng nào tôi còn chưa biết chắc về nhân cách, về quá khứ và gia đình anh ấy. Và tôi phải chắc là tôi yêu anh ấy. Tôi là một tín đồ, tôi cầu nguyện, tôi tôn trọng những tục lệ trong xã hội chúng tôi. Nếu người chồng tương lai muốn tôi đội khăn trùm đầu hoặc chador khi ra khỏi nhà, tôi sẽ làm theo không vấn đề gì. Nhưng đòi hỏi nhiều hơn thế thì tôi sẽ không chấp nhận. Về chuyện này cha mẹ tôi đều ủng hộ tôi.

Tôi vốn biết rất rõ rằng trong nền văn hóa của chúng tôi, một phụ nữ không thể sống nếu không có sự bảo vệ của nam giới, dù đó là cha, là anh em trai hay chồng mình. Khi ở một mình, cô ấy không có được đời sống xã hội. Tôi không từ chối sự bảo vệ này. Ngược lại là khác. Nhưng tôi muốn được độc lập và tự do suy nghĩ. Chị Soraya chưa đính hôn. Điều đó cần thiết cho công việc của chị ấy. Chị nói rằng chị giống tôi. Chị sẽ chỉ kết hôn với một người do chính chị lựa chọn. Cả cha lẫn mẹ tôi đều không muốn bắt ép chúng tôi phải cưới ai cả. Bất luận thế nào thì chúng tôi đều không muốn lấy chồng lúc này. Mà cái thời kỳ kinh khủng này cũng không đem lại được cho chúng tôi những cuộc gặp gỡ thuận lợi.

Chúng tôi không còn được gặp cả đại gia đình chúng tôi nữa. Chúng tôi không còn gặp bất cứ ai, ngoại trừ đôi khi gặp những người hàng xóm. Kể từ hôm xảy ra chuyện ở trước trụ sở hãng Hàng không Ariana đến giờ, chị tôi và tôi không ra ngoài nữa.

Tôi nổi xung lên với bọn Taliban, những kẻ đang giam lỏng chúng tôi. Tôi để mình bị cuốn đi trong ý nghĩ ghê tởm rằng nếu bọn chúng còn nắm quyền lâu hơn nữa, thì cả đời tôi thế là xong. Trừ phi chúng tôi bỏ trốn khỏi đất nước mình, nhập vào làn sóng lưu vong và tị nạn đang ngày một nhiều, nhưng cha mẹ tôi không hề tính tới chuyện này. Tôi cũng đồng ý với cha mẹ mình về chuyện ấy.

Niềm an ủi duy nhất của tôi là sự khá giả tương đối của cha mẹ tôi. Sự khá giả ấy mang lại cho chúng tôi một lớp bảo bọc mà nhiều phụ nữ khác, những người buộc phải ra đường kiếm sống, phải ganh tị - cho dù đó chỉ là việc chúng tôi có cái để ăn khi đói. Nhưng năm tháng trôi đi, chị tôi và tôi sẽ già đi mà không có công ăn việc làm, tình yêu hoặc con cái. Chị tôi buồn, vừa nhẫn nhục vừa bi quan. Về phần tôi, niềm căm ghét trào dâng bên trong nay đã trở thành một tình trạng ù lì khổ sở.

Có tiếng gõ vào cánh cửa căn hộ. Tôi nhận ra sự nài nỉ nóng nảy trong tiếng gõ đó. Nó cho biết đấy là một bệnh nhân bí mật và nó nói lên rõ ràng như bằng lời rằng, “Mở cửa ra ngay. Cho tôi trốn với. Tôi không muốn bị nhìn thấy.”

Bị nhìn thấy à? Ai mà nhận ra được một người phụ nữ nào đó dưới tấm burqa chứ? Nhưng giờ nỗi sợ hãi ở phụ nữ lại trở nên thường trực đến nỗi nó trở thành bản năng thứ hai. Sợ gặp hàng xóm, sợ phải trả lời các câu hỏi. Chúng tôi nghi ngờ tất thảy. Tôi ra mở cửa cho một tấm burqa màu nâu. Người phụ nữ bỏ áo ra ngay khi cửa được đóng lại. Mặt cô sưng tấy, môi cô phồng lên và rỉ máu. Cô không cần phải nói gì. Tôi dẫn cô vào phòng khách nơi mẹ tôi khám cho cô. Vì tôn trọng, tôi để họ lại một mình với nhau. Nhưng qua cánh cửa đã được đóng lại tôi vẫn nghe thấy tiếng người phụ nữ đang khóc, và một lát sau, mẹ tôi gọi tôi. “Con mang một ít nước sôi và băng gạc vào đây. Nhanh lên.”

Tôi đổ đầy ấm nước, chuẩn bị băng gạc và sốt ruột chờ nước sôi. Lại một phụ nữ khác bị lăng nhục và đánh đập. Chỉ Đấng Allah mới biết tại sao.

Tôi xem mẹ tôi lau chùi và dùng kim mổ khâu các vết thương khắp vùng ngực và thân mình người phụ nữ. Một bác sĩ hành nghề bí mật phải biết cách làm gần như mọi thứ trong cái thế giới đảo điên này. Người phụ nữ này kể cho chúng tôi nghe vụ ngược đãi gần đây nhất mà cô ấy phải hứng chịu. Cô ấy đã bị bọn Taliban dùng roi đánh bởi vì cô dám đi ra ngoài một mình.

Mẹ hỏi cô ấy, “Sao chị lại ra ngoài một mình?”

“Cha tôi đã chết trong trận đánh mùa đông năm 1994. Tôi không có chồng, không có anh em trai, không có con trai. Không ra ngoài một mình thì tôi sống thế nào được?”

“Thế hôm nay chị làm thế nào?”

“Anh họ tôi đã hộ tống tôi đến chỗ chị.”

Để nuôi sống mình, người phụ nữ này phải ra ngoài. Nhưng bọn Taliban không thèm quan tâm tìm hiểu. Chúng cứ thế vung roi lên quất mà thôi.

Nhưng tội ác cứ nối tiếp tội ác. Bọn chúng không vừa lòng với việc chỉ quất roi không thôi. Chẳng mấy chốc chúng lại áp dụng những hình thức mới.

Cuối tháng Mười năm 1996, tôi ra mở cửa để đón nhận một nỗi kinh hoàng mới - một tội ác mới nhằm vào phụ nữ.

Từ Ban Quốc tế của đài BBC chúng tôi biết được rằng lực lượng Kháng chiến Mujahidin dưới sự chỉ đạo của Ahmed Shah Massoud đã liên minh với lực lượng của thủ lĩnh Abdul Rachid Dostom người Uzbek, kẻ thù trước đây của ông, để tiến hành phản công vào miền Bắc Kabul. Đài Sharia đương nhiên chẳng thông tin gì về điều này cả, bởi Đài Sharia chỉ chuyên tôn vinh những chiến công của các anh hùng Taliban và giấu nhẹm đi những thất bại của bọn chúng. Nếu tin theo viên mullah chịu trách nhiệm “thông tin” cho thính giả Kabul, thì hẳn phải chắc chắn trăm phần rằng quân Taliban đã xâm chiếm được toàn bộ lãnh thổ Afghanistan ít nhất hai mươi lần. Nhưng thật ra lực lượng Kháng chiến dưới sự chỉ huy của Thủ lĩnh Massoud vẫn nắm giữ 25 phần trăm lãnh thổ mà quân Taliban lăm le thôn tính. Trận chiến này vẫn tiếp tục và diễn ra ở vùng Kohestan.

Vài ngày sau khi có tin này, khoảng chín giờ tối, tôi ra mở cửa cho bốn người phụ nữ quấn burqa. Tôi nhận ra ngay một người trong số họ. Chị ấy là Nafissa, bạn học cũ của chị Soraya. Ba người kia, ba cô gái còn trẻ, là chị em họ của chị ấy đến từ các tỉnh. Nhưng họ không chịu bỏ áo lộ khuôn mặt của mình. Nafissa giải thích sơ qua rằng họ đến từ vùng Kohestan, chính xác là từ bình nguyên Shomali.

Vì họ đến một mình, cha tôi đâm lo. “Không có ai đi cùng các cháu à?” cha hỏi.

“Một người lái taxi đã đồng ý đưa chúng cháu đến đây.”

Mẹ dẫn ba cô gái vào trong phòng khách và đóng cửa lại, trong lúc đó cha tôi lặng lẽ đi xuống tầng dưới cùng chị Nafissa để cảm ơn người lái taxi.

Tôi nghe thấy tiếng ba cô gái khóc và tiếng mẹ khuyên họ bình tĩnh lại và không nên gây chú ý cho hàng xóm. Sau đó mẹ ra khỏi phòng, thảo nhanh một mẩu thư ngắn. “Daoud, hãy mang lá thư này đến chỗ bạn mẹ, bác sĩ Sima, ở khu Mikrorayna 2, nhanh lên nhé - chỉ còn một tiếng đồng hồ trước giờ giới nghiêm.”

Sau mười giờ tối, chúng tôi không được phép đi quanh thành phố nữa và đều phải tắt hết đèn trong nhà. Đêm nay đề phòng hơn, dù rằng các cửa sổ đều đã được sơn đen để không ai có thể nhìn vào bên trong căn hộ, chúng tôi vẫn lấy rèm vải loại dày màu tối che cửa sổ để giúp mẹ khám bệnh cho các cô gái một cách an toàn.

Sau đó mẹ bảo chúng tôi trải một cuộn nhựa dẻo dài trên nền nhà để mẹ có thể tiến hành phẫu thuật. Bởi trong nhà không có kim mổ mới, vì mẹ không thể đi mua y cụ ở bệnh viện như trước nữa, chúng tôi phải đun nước sôi để khử trùng các kim mổ cũ. Tiếp đó, mẹ bỏ chúng vào một lọ cồn. Tôi vẫn không biết chuyện gì đã xảy ra với các cô gái đang nằm co quắp trên sàn nhà và thổn thức lặng lẽ vào lớp áo burqa. Một cô trong số họ khẽ lắc người liên tục trong lúc ôm lấy bụng mình. Bức tranh về nỗi tuyệt vọng thống khổ của ba cô gái này mãi mãi hằn in trong tâm trí tôi.

Trong khi đợi anh Daoud về, mẹ xuống bếp cùng chúng tôi và kể chuyện đã xảy ra với họ.

“Các bạn ấy chừng tuổi con, Latifa ạ, độ 15, 16. Bọn Taliban đã bắt họ làm con tin trong một cuộc tấn công máy bay ở Shomali. Bọn này khoảng 15 tên. Chúng đã cưỡng bức họ... tất cả 15 tên đó. Thật kinh khủng, thật vô nhân tính... Nhưng thế vẫn chưa hết. Bọn chúng còn...”

Mẹ ngừng lời. Chúng tôi hiểu cái khó của mẹ khi phải thuật lại những điều như thế với các con gái của mình. Chị Soraya khóc. Tôi thì nhìn như dán mắt vào mẹ, choáng váng đến nỗi tôi phải cố ngăn mình không bật khóc.

“Gì ạ?... Bọn chúng đã làm gì?”

“Bọn chúng cắt xẻo các bộ phận sinh dục của họ. Xé rách chúng...”

Mẹ không nói được nữa và quay lại thật nhanh để chăm sóc ba cô gái bị tra tấn kia. Bây giờ mẹ phải tẩy trùng cho họ, gây tê bộ phận và khâu chúng liền lại bằng bất cứ thứ gì mẹ có. Tôi thậm chí còn không dám hỏi mẹ xem liệu các cô ấy có chịu nổi đau đớn không. Tôi thậm chí còn không dám hình dung... Tôi gạt phắt đi cái cảnh tượng một lũ 15 tên súc vật xâm phạm ba cô gái bằng tuổi tôi, ba cô gái trinh trắng. Những chị em của tôi.

Anh Daoud trở về cùng bác sĩ Sima ngay trước giờ giới nghiêm. Khi bác sĩ hiểu được tình cảnh, người đàn ông tội nghiệp đó phản ứng điên cuồng đến nỗi mẹ phải bảo bác ấy kiềm chế bản thân và giữ bình tĩnh.

“Anh phải giúp tôi hoàn tất việc này. Anh hãy bình tĩnh. Anh có mang theo những gì tôi bảo không?”

“Có, tôi mang cả theo đây.”

Suốt từ mười giờ đêm cho tới bốn giờ sáng họ chăm sóc các cô gái và khâu cho họ. Từ phòng chúng tôi có thể nghe thấy những tiếng rên yếu ớt của bệnh nhân và tiếng thì thào của mẹ và bác sĩ Sima. Chúng tôi không thể nghĩ đến điều gì khác nữa. Cũng không thể ngủ được.

Các cô gái trẻ ở nông thôn vốn có cách sống khác với chúng tôi. Mẹ tôi đã chứng kiến điều này trong thời Liên Xô đóng quân tại Afghanistan. Ban quản lý đã cử mẹ đến làm việc ở Kandahar sáu tháng. Mẹ phụ trách chăm sóc sức khỏe cộng đồng - các biện pháp phòng bệnh cũng như chữa bệnh. Mẹ kể cho tôi nghe mẹ đã gặp khó khăn như thế nào để tuyên truyền về việc hạn chế sinh đẻ, về các vấn đề phụ khoa và kể cả về cơ thể phụ nữ. Có lần một phụ nữ khoảng 40 tuổi đã đến gặp mẹ và than phiền về tình trạng bốc nóng và những cơn đau của mình. Bà ấy tin rằng mình đang mang thai; nhưng trên thực tế bà ấy đang mãn kinh.

Tương lai đối với ba cô gái này ở vùng đó là một cuộc hôn nhân được gia đình sắp đặt. Việc bị cưỡng hiếp đã giết chết tương lai đó. Không một người hàng xóm nào trong làng họ, không cả một người bà con ở nơi khác cùng thị tộc sẽ đến xin dạm hỏi họ. Không một ai. Và thậm chí, nếu bằng cách nào đó ba cô gái giữ kín được toàn bộ chuyện này, thì cuộc đời họ sẽ vẫn bị phá hỏng bởi sức ép tàn bạo của nỗi tủi nhục riêng tư.

Theo một truyền thống ác nghiệt mà ngày nay vẫn còn được áp dụng, cưỡng bức một phụ nữ Afghanistan là buộc người phụ nữ này phải lấy kẻ xâm hại mình làm chồng. Hoặc là buộc cô ta phải lưu vong hoặc chết. Tôi vốn không có khuynh hướng bạo lực, nhưng đêm hôm đó, tôi hiểu rằng nếu điều này xảy ra với tôi, thì tôi hẳn sẽ giết chết kẻ cưỡng bức tôi trước khi tự kết liễu cuộc đời mình.

Khi công việc đầy đau đớn của mẹ tôi và bác sĩ Sima đã hoàn tất, họ ngồi trong bếp uống trà trong lúc ba cô gái trong phòng khách cuối cùng cũng ngủ thiếp đi. Mẹ tôi đang thuyết phục bác sĩ Sima mở một phòng khám bí mật.

“Có quá nhiều phụ nữ ốm yếu ở quanh đây, một mình tôi không thể khám hết cho họ. Thậm chí họ còn đến từ rất xa, như anh thấy đấy. Tôi không có đủ y cụ và thuốc men. Còn anh, các con anh đều đã khôn lớn và sống ở nước ngoài. Anh có thể bảo các cháu gửi những thuốc men mà chúng ta không có về. Anh có thể tổ chức tất cả chuyện đó tốt hơn tôi nhiều. Trên hết, tôi đã kiệt sức rồi. Tôi không còn sức lực và nghị lực nữa.”

Dịch vụ bưu điện ở Kabul giờ bị giảm thiểu xuống cái hình thức thô sơ nhất của nó. Những bưu kiện nhỏ nhất cũng có nguy cơ bị bắt. Vì thế mọi thứ đến được phải nhờ người đưa thư mang qua Peshawar ở Pakistan. Đó là điểm quá cảnh để vận chuyển tiền hoặc hàng hóa mà những người Afghanistan ở nước ngoài gửi về cho gia đình và bạn bè của họ. Kể cả các điện tín hay thư từ cũng thường được trung chuyển qua lộ trình này. Tất nhiên, phải chắc chắn về những người đưa thư và phải có kênh an toàn, và bác sĩ Sima có cả hai điều đó. Từ khi Taliban đến, trong các trường hợp khẩn cấp, mỗi lần mẹ cần đến thuốc men đều nhờ cả vào bác sĩ Sima mới có được.

Bác sĩ Sima không ngần ngại đồng ý với đề xuất của mẹ tôi về việc mở một phòng khám bí mật. Sau cảnh tượng kinh hoàng mà bác vừa chứng kiến, tính cấp bách của nó là điều đương nhiên. Rồi còn có những bệnh nhân thường xuyên của mẹ tôi, những người vốn chẳng có nơi nào để đến khám vì cái tình cảnh không lối thoát của riêng phụ nữ chúng tôi - chỉ nam giới mới được làm bác sĩ và các bác sĩ chỉ có quyền chữa bệnh cho nam giới.

Đêm hôm đó đã chứng kiến sự khởi đầu của một phòng khám bí mật quan trọng nhất ở Kabul. Sáng hôm sau, ba cô gái rời khỏi nhà tôi cùng với chị Nafissa và người tài xế taxi. Để đón chờ một số phận nào đây? Chúng tôi không bao giờ gặp lại họ nữa.

Mỗi ngày trôi qua thế giới của chúng tôi lại suy thoái đi một chút. Nó rữa ra xung quanh mà chúng tôi không thể chiến đấu chống lại quá trình này. Cha kể với chúng tôi rằng ngày càng có nhiều người ăn xin trên đường phố. Đa số họ là những người phụ nữ bị cấm đi làm hoặc các quả phụ. Mẹ của Anita, một người bạn cùng trường của tôi, chuyên nhận giặt đồ thuê để kiếm miếng cơm manh áo. Bác ấy từng là giáo viên dạy ở trường cấp ba của tôi. Những phụ nữ khác thì nướng bánh mì hoặc làm bánh ngọt kiểu truyền thống để con trai họ đem bán ngoài phố. Những người khác nữa thêu thùa hoặc làm những chuỗi hạt vòng.

Gần đây anh Daoud thấy các cậu con trai đi bán từng điếu thuốc lá cuộn, cũng như từng viên aspirin. Anh cũng kể với chúng tôi rằng những thanh niên khác phải bán thuốc phiện để nuôi sống gia đình. Thuốc phiện, ở vùng biên giới giáp Pakistan, là thứ hàng sinh lời nhất và chính quyền Taliban cứ để thả nổi. Suốt thời gian này Đài phát thanh Sharia còn phun ra nhiều sắc lệnh hơn nữa. Viên Mullah Omar, thủ lĩnh và bậc thầy tư tưởng của bọn chúng, giờ đây còn ra sắc lệnh rằng tấm thêu mắt cáo cho phép phụ nữ nhìn qua tấm burqa có lỗ quá to. Từ bây giờ trở đi, các lỗ trên đó phải nhỏ hơn và chặt hơn. Các mullah còn chưa đưa ra kích thước chính xác chúng tôi phải tuân theo. Chắc sẽ nhỏ hơn nửa milimét.

Với sắc lệnh bổ sung éo le này, tôi mất hết cả niềm tin. Chị gái tôi cũng vậy. Chúng tôi lặp đi lặp lại, “Nhưng chúng ta có thể làm gì? Chúng ta biết làm gì đây? Hay cứ chết béng đi cho xong?”

Tôi đã ốm thực sự khá lâu rồi. Sáng nay tôi bị sốt và chóng hết cả mặt. Cứ gượng dậy, tôi lại đổ vật xuống giường. Mẹ nghĩ là tôi bị hạ huyết áp, nhưng mẹ lại không rõ vì sao. Điều tệ nhất là mẹ còn ốm yếu hơn tôi nhiều.

Tình trạng suy sụp của mẹ ngày càng nặng hơn. Chúng tôi cố gắng hết sức chăm sóc mẹ, nhưng chúng tôi có quá ít phương tiện trong tay. Và phương thuốc duy nhất dễ kiếm là những viên thuốc ngủ. Cha tôi, vốn rất yêu mẹ, luôn cố gắng ở bên mẹ mọi lúc có thể. Mất mẹ sẽ là một điều quá kinh khủng. Mẹ luôn điều hành mọi việc trong nhà. Mẹ từng là một phụ nữ có ý chí cao, rất ngăn nắp và rất đảm đang. Thêm vào mọi điều đang xảy ra ở Kabul là sự buồn nản của chúng tôi khi nhìn thấy mẹ như thế này. Sự lo lắng thường trực đè nặng lên mỗi người chúng tôi.

Những lúc duy nhất trông mẹ có vẻ ổn là khi chăm sóc cho người nào đó hoặc tư vấn cho họ. Điều đáng buồn là thi thoảng mẹ tôi còn không muốn gặp những bệnh nhân đang đau ốm của mình. Mẹ không có gì giúp được cho họ cả.

Mới đây có một phụ nữ bị rong huyết đến khám chỗ mẹ. Để cứu cô ấy, mẹ sẽ phải cần đến một loại thuốc giá xấp xỉ một triệu hai afghani (179 bảng Anh), đấy là nếu có thể tìm được loại thuốc này. Trước khi Taliban xâm chiếm, mẹ dễ dàng mua được nó ở bệnh viện. Nhưng giờ đây mẹ không thể đến bệnh viện nữa. Đã bị cấm hành nghề, mẹ sẽ bị đuổi ra, thậm chí bị bỏ tù. Việc bị cấm hành nghề y tá của mình giày vò mẹ trong mọi lúc. Thậm chí cả trong mơ mẹ cũng mơ thấy nó. Khi phải để người phụ nữ này ra về mà không giúp được gì, mẹ đã nói với chúng tôi, “Người phụ nữ đó sẽ bị biến chứng. Đó là điều không tránh khỏi. Có lẽ cô ấy sẽ chết vì nhiễm trùng phụ khoa, mặc dù phòng tránh điều này thật đơn giản. Chỉ cần một mũi tiêm thôi. Chỉ cần có thế...”

Lương tâm của một thầy thuốc vốn không thể lặng xuống một cách dễ dàng. Và chúng tôi hiểu được nỗi hoang mang đau đớn của mẹ. Việc một vấn đề y tế đơn giản có thể dẫn đến cái chết của một phụ nữ, chỉ vì sắc lệnh của Taliban, làm cho mẹ tôi càng thêm chán nản.

Vào đầu hè năm 1998, người cha tội nghiệp của tôi có hai phụ nữ ốm yếu ở trong nhà: người vợ bác sĩ suy sụp tinh thần của cha không thể chữa bệnh được cho cô con gái ốm yếu của bà. Dù trong bất cứ trường hợp nào thì căn bệnh bí ẩn khiến tôi phát sốt vẫn nằm ngoài chuyên môn của mẹ.

Cha tôi gọi điện cho một người bạn bác sĩ và nài nỉ đến nhà giúp đỡ. Đó là một người đàn ông, vì thế bác ta bị cấm chữa bệnh cho phụ nữ, và bác ta sợ. Bác sẽ đến với một điều kiện: đó là cha phải thề sẽ giữ bí mật chuyện này. Bác chỉ đòi trả công có thế.

Bác sĩ không thể giúp gì trước tình trạng trầm cảm của mẹ tôi. Nhưng bác ấy nghĩ rằng có thể là do căn bệnh tiểu đường đang phát tác, mặc dù trước đây mẹ chưa từng bị tiểu đường. Bác lấy máu để làm xét nghiệm cho cả hai chúng tôi và mang ống nghiệm về theo mình.

“Tôi sẽ mang chúng đến phòng xét nghiệm dưới tên con gái tôi,” bác ấy nói với cha tôi. “Nhưng tôi có thể nói luôn với anh rằng cả hai đều cần được đưa đến bệnh viện ở Pakistan và cần được điều trị ngay lập tức. Latifa cũng bị trầm cảm, nhưng cô bé còn bị viêm màng phổi nữa. Có nước trong phổi của cháu. Anh không được phép để quá lâu.”

Thực ra tôi đã bị ốm khoảng ba tháng nay, với những thời kỳ tạm thời bình phục. Cơn sốt gần đây mới bắt đầu và lập tức trở thành dai dẳng.

Thế là quyết định đã được đưa ra. Chúng tôi sẽ đi Peshawar, nhưng việc chuẩn bị đi mất rất nhiều thì giờ. Phải tìm được xe ô tô và người lái xe, ngoài ra còn những việc khác nữa.

Cuối cùng thì mọi thứ đã sẵn sàng. Cha đóng gói đồ đạc của mẹ trong khi chị Soraya chuẩn bị đồ đạc của chúng tôi. Anh Daoud phải ở nhà trông nhà. Rõ ràng là Taliban đang nhăm nhe muốn chiếm những căn hộ như căn hộ nhà chúng tôi, vốn hiện đại và nằm ở khu vực sang trọng của khu Mikrorayna. Chúng tôi sẽ lưu trú ở nhà bố mẹ chồng chị Chakila trong suốt thời gian chữa bệnh.

Vào thời trước, đi Peshawar không gặp phải bất cứ vấn đề đặc biệt nào, ngoài việc phải len lỏi qua một con đường hết sức nguy hiểm và những luật lệ trừng trị đối với những người Afghanistan rời khỏi đất nước. Bất chấp điều đó, nhiều người Afghanistan vẫn thường xuyên đến Peshawar, một hoặc hai lần một tháng, để mua hàng hóa. Các nhân viên hải quan nhắm mắt làm ngơ. Cách đi đến Peshawar là phải giả vờ đang đi tới Jalalabad, phải thương lượng với những trạm kiểm soát gắt gao ở nhiều điểm trên tuyến đường đến biên giới Peshawar - Pakistan đã đơn phương thay đổi biên giới này để có lợi cho mình. Anh lớn của tôi nói rằng đã từ lâu Pakistan hằng mơ thôn tính đất nước chúng tôi.

Đó là chuyến đi đầu tiên của chúng tôi kể từ khi Taliban chiếm quyền. Chuyến đi đầu tiên sau khoảng hai năm. Mùa hè đã đến và thời tiết rất nóng nực. Áo burqa gây ngột ngạt nhưng ba người phụ nữ chúng tôi vẫn phải mặc chúng.

Lúc bình minh lên, chiếc xe và người tài xế đã đợi chúng tôi ở bên ngoài tòa chung cư. Nếu tôi không bị ốm nặng, chuyến đi này hẳn sẽ là một cách giải trí. Có điều tôi đang cảm thấy sợ, không chỉ vì những hiểm nguy trên đường, mà còn vì mẹ mỗi lúc một kiệt sức hơn.

Người lái xe cảnh báo cha tôi một lần nữa, “Trên hết, đừng quên nói tại các trạm kiểm soát rằng chúng ta đang tới Jalalabad.”

Con đường cắt ngang vùng ngoại ô lân cận Kabul của chúng tôi tường thuật lại lịch sử của đất nước từ khi tôi chào đời. Trên đó những xác xe tăng Liên Xô nằm bừa bãi. Những bức tường mang vết đạn Mujahidin trong cuộc bao vây Kabul do Thủ lĩnh Massoud tiến hành vào năm 1992. Mìn và lựu đạn vẫn còn nằm rải rác trên các cánh đồng và các con đường.

Tại trạm kiểm soát đầu tiên sau khi rời khỏi thành phố, chúng tôi phải ra khỏi xe để bọn chúng kiểm tra giấy tờ. Chúng tôi cũng phải chịu để chúng lục soát người. Đối với nam giới, việc lục soát do chính đám lính gác tiến hành theo các điều luật, và chúng làm việc này một cách nghiêm túc. Đối với phụ nữ, bọn Taliban cử ra các cậu bé độ tám tuổi, bởi chúng là những người đàn ông duy nhất được phép tiếp cận chúng tôi. Vì phụ nữ không được đi làm, nên không có cảnh sát nữ.

Đứa trẻ thậm chí không mở miệng nói với chúng tôi. Nó chỉ đơn giản ra hiệu để chúng tôi vén burqa lên, nhìn lướt mặt để xem xem chúng tôi có vi phạm lệnh cấm trang điểm hay không, và hời hợt đưa tay quờ khắp chiếc váy dài của chúng tôi. Việc lục soát dừng lại ở đó. Thằng bé trông nghiêm túc, hơi khinh khỉnh, nhưng rõ ràng là tự hào về công việc của mình, bất chấp nó còn nhỏ. Khẩu súng trường đeo trên vai nó trông còn to hơn cả chính nó.

Nó lớn lên rồi sẽ thành loại người nào đây?

Tiếp đó là lục soát thùng xe và các va li của chúng tôi. Cha tôi đưa va li của mình ra. Tên lính gác mở va li ra và kiểm tra nó một cách cẩn thận.

“Mấy người đi đâu?”

“Chúng tôi tới Jalalabad.”

Nỗi sợ của chúng tôi gần như sờ vào được. Những tên Taliban này có thể có những phản ứng bất ngờ, nhất là đối với phụ nữ, đến nỗi bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra. Tôi nhẩm lại những thứ có trong va li của mình. Tôi chỉ mang theo những đồ màu tối và màu đen. Không màu sắc. Cả mẹ và chị Soraya cũng vậy. Theo nguyên tắc thì va li của phụ nữ không bị lục soát; bọn Taliban trong trắng đến nỗi không cả chạm vào quần áo đàn bà.

Ngay khi cha nói, “Cái túi đó của vợ tôi và hai túi kia của các con gái tôi,” tên lính gác lùi lại.

Hàng xe đang đợi thật dài cả phía trước lẫn đằng sau chúng tôi. Phải đợi thêm hai mươi phút nữa mới có thể chạy tiếp. Khi đã đi được, xe xóc nảy lưng tôi, và thỉnh thoảng mẹ lại nói với cha bảo người lái xe chạy chậm lại. Mặt trời đang lên cao trên bầu trời và tỏa sức nóng xuống. Chúng tôi đến vùng Sarowbi sau khoảng hai tiếng đồng hồ ngồi xe mệt lử. Ở đây có một chốt gác nữa và chúng tôi lại phải chịu cái trình tự tương tự. Sau đó chúng tôi trở lại với con đường ngoằn ngoèo đi về hướng Jalalabad.

Khi chúng tôi đến gần thành phố, có một trạm kiểm soát thứ ba. Cứ mỗi lần dừng lại, nỗi lo lắng lại khiến chúng tôi im lặng, chú ý đến cử chỉ nhỏ nhất của tên lính gác. Bọn chúng có thể chặn chúng tôi lại hoặc tống vào tù mà chẳng cần biết lý do. Dù chỉ một vi phạm nhỏ nhất cũng đủ để một trong những tên lính này nổi giận với một người trong đoàn, và những người còn lại sẽ phải hứng chịu hậu quả.

Ở phía trước mình một chút chúng tôi nhìn thấy một xe buýt đang bị lục soát. Bọn Taliban đang bắt phụ nữ phải xuống xe và sau đó người tài xế bị bắt phải đánh xe quay lại.

Cái nhìn đầy nghi ngờ mà những tên lính gác ném vào giấy tờ của chúng tôi, cái cách bọn chúng kiểm tra giấy, khiến tôi gần như yêu quý cái áo burqa của mình, dẫu nó gần làm tôi ngạt thở dưới cái nhiệt độ 40oC trong nắng như rang. Khi cuối cùng cũng qua được trạm kiểm soát này, chúng tôi còn phải đương đầu với con đường núi đến thị trấn Samarkhail, một con đường ngoằn ngoèo và lắm lối rẽ hơn cả con rắn vặn mình hình số tám. Khi vào đến thị trấn, chúng tôi phải đi qua trạm kiểm soát thứ tư. Nỗi lo lắng, nỗi sợ hãi bị chặn lại của chúng tôi vẫn chưa giảm chút nào.

Gần đèo Turkham ở biên giới, chúng tôi nhìn thấy những cậu bé đang từ Pakistan trở về mang theo những thùng đựng đầy xăng và dầu, và những bao đường mà chúng sẽ buôn bán lại. Những người đàn ông ngồi trên mặt đất với những đống tiền Afghanistan để đổi cho người Pakistan sang đây và những đồng rupee Pakistan để đổi cho những người như chúng tôi.

Chúng tôi đã mất hơn bảy tiếng đồng hồ để đến đây và mẹ đã kiệt sức hoàn toàn. Đúng lúc này người lái xe nói với chúng tôi, “Mọi người nhanh lên. Họ sắp đóng cửa biên giới rồi. Và tôi không thể đi qua đó được nữa.”

Chúng tôi phải dỡ những túi đồ xuống khỏi xe, tìm một cậu bé kéo xe kéo để chở hành lý và cố gắng đi bộ hết quãng đường còn lại đến tận chỗ những cánh cổng kim loại màu đen kịt ma quái chặn đường chúng tôi sang.

Cha và chị Soraya đang đỡ mẹ dậy để dìu mẹ đi. Mẹ bước đi thật chậm, quá chậm, chốc chốc lại dừng để lấy lại hơi. Và chúng tôi không biết chính xác là mấy giờ các nhân viên hải quan sẽ đóng cửa khẩu. Cha tôi cũng đang nhìn cậu bé đang đẩy chiếc xe mang va li của chúng tôi quá gấp rút.

Cuối cùng chúng tôi cũng đến trước những cánh cổng màu đen, quét nhựa đường và phủ đầy dây thép gai. Không còn đường nào khác để qua biên giới trừ phi trèo qua một ngọn núi dựng đứng. Đứng canh trước những cánh cổng này là những tên Taliban được trang bị vũ khí. Ở phía bên kia cổng thì có những tên Pakistan vũ trang đầy đủ. Người ta phải chia thành từng tốp để đi qua. Nghe nói rằng cửa khẩu sẽ đóng tầm giữa mười hai giờ trưa và một giờ chiều. Chúng tôi suýt soát vừa đủ thời gian.

Một tên Taliban lục lọi hành lý của chúng tôi, kiểm tra hộ chiếu của cha tôi, giấy tờ duy nhất chứng minh vợ và các cô con gái của cha tồn tại. Toàn bộ việc cấm hay không cấm rời khỏi đất nước chúng tôi đúng là một trò hề. Ở đây, hàng nghìn người vẫn băng qua biên giới. Điều quan trọng nhất là chỉ cần có một người đàn ông đứng ra thương lượng và những phụ nữ phải cam chịu đúng mực trong những chiếc áo burqa của họ, đầu cúi xuống và câm lặng mà thôi.

Vào lúc đó, một cảnh sát Pakistan bước ra khỏi bốt gác của gã và chuẩn bị đóng cổng biên giới. Đằng sau chúng tôi một phụ nữ kêu to, “Cho chúng tôi qua đi, người anh em, đừng đóng cổng.”

Tên Taliban quay lại nhìn. Hắn bước tới chỗ viên cảnh sát Pakistan và quát tháo gã này một cách hung dữ đến nỗi gã này liền rút lui không nói một lời và thay vì đi vào trong bốt gác bằng gỗ của mình, gã lại trốn đằng sau nó vì e rằng tên Taliban có thể nã vài viên đạn về phía gã. Kể cả viên cảnh sát này cũng tỏ ra hoảng sợ.

Nhưng gã lại không sợ cha tôi. Ngay khi chúng tôi vừa đặt chân sang phía bên kia cửa khẩu, gã cùng một tên khác tiến đến chỗ cha tôi. Gã lên mặt rất ta đây. Gã đeo một khẩu súng ngang lưng và vung vẩy một cây dùi cui phía trước mình, hai tay gã nắm chặt cả hai đầu gậy.

“Dấu?”

Cha tôi đưa hộ chiếu của mình cho gã. Làm gì có dấu và gã cảnh sát Pakistan này biết thừa điều đó. Gã muốn thứ khác chứ không phải là giấy tờ. Gã muốn tiền.

“Nhà này đi đâu?”

“Đến Peshawar. Vợ và con gái tôi cần chữa bệnh.”

Cha tôi phải ghìm lại bởi ông vốn ghét cái cơ chế thối nát đút tiền cho nhân viên hải quan mà không có lý do gì ngoại trừ lòng tham của chúng. Trên thực tế lãnh thổ này thuộc về chúng tôi. Người Pakistan chỉ ăn cắp nó. Đây không phải chỗ của chúng và chúng biết điều này rõ đến mức đã ép Najibullah phải ký một văn bản chính thức để thừa nhận đường biên giới mới này trước khi giết ông ta. Tôi biết cha tôi đang nghĩ gì vào chính giây phút đứng trước tên kẻ cắp Pakistan này. Cha đang nghĩ, “Mày đang ở trên đất nước của tao mà mày lại dám đòi tao, một người Afghanistan, phải trả tiền. Đây không đơn giản chỉ là một thủ đoạn làm tiền. Mà đây là một sự sỉ nhục đối với người Afghanistan.”

Nhưng biên giới vẫn ở đây, kể cả nếu cha tôi không chịu đựng nổi điều này. Điều cha không chịu được là việc nó trở thành biên giới mới quá dễ dàng và không một quốc gia nào thèm để ý đến sự thay đổi này. Rốt cục thì cha cũng rút ra một tờ 50 rupee.

Gã nhân viên hải quan lắc đầu. “Vẫn chưa đủ đâu, ông anh. Phải là mỗi người 50 rupee.”

Lần này thì cha tôi không chịu nổi. Ông cao giọng, “Gì kia? Anh muốn gì? Anh muốn tôi gây chuyện cãi lộn ở đây hả? Phải thế không?”

Gã này nổi giận, nhưng cuối cùng lại nhượng bộ. “Được rồi. Chỉ cần đưa tôi 50 rupee. Dĩ hòa với anh đấy.”

50 rupee không phải một khoản tiền lớn, nó chưa đến một bảng. Nhưng với cha tôi nó là vấn đề nguyên tắc. Dưới thời Taliban, trao đổi buôn bán chỉ diễn ra bằng tiền mặt, và cha tôi chỉ có thể kiếm được tiền nhờ sự chiếu cố của đối tác ở Peshawar mà cha góp một số vốn nhỏ cho hoạt động kinh doanh của ông ấy.

Cha tức giận vô cùng. Khi đưa xong số tiền đút lót, cha rít qua kẽ răng, “Đây là lần cuối cùng tao đến Pakistan!”

Giờ chúng tôi phải tìm một xe taxi để đưa chúng tôi đến Peshawar. Người lái xe chúng tôi tìm được trông có vẻ thích hợp. Ông ấy bắt chuyện với chúng tôi ngay lập tức. Ở Kabul, không một tài xế nào nói chuyện với hành khách. Sự thiếu tin tưởng hoành hành khắp nơi.

“Các anh chị từ Kabul đến à?”

“Vâng.”

“Tôi cũng là người Afghanistan. Nhưng tôi sống ở Pakistan mười tám năm nay rồi...”

Chúng tôi ngồi trong xe chạy dọc theo một con đường tự do ở một đất nước tự do, và bất chấp cái nóng, cái dốc, cái quanh co khúc khuỷu, tình trạng con đường này vẫn khá hơn nhiều so với con đường phía bên kia biên giới. Tất nhiên cũng có những hiểm nguy. Ở dưới các hẻm núi, có thể nhìn thấy các phần còn lại của xe tải và xe buýt gặp nạn. Nhưng các dốc núi lại được phủ xanh bởi cây cối và các loài hoa dại. Người tài xế dừng xe một lát gần một hồ nước ngọt sáng lên lấp lánh và đổ xuống qua các hòn đá. Cuối cùng thì đến đây chúng tôi cũng được rửa mặt. Tôi thấy ngột ngạt. Chị gái tôi cũng vậy. Bàn chân chúng tôi sưng phồng lên vì nóng và vì ngồi quá lâu. Tôi nhấc áo burqa của mình lên để té làn nước mát lạnh vào người, mặc dù rõ ràng không nên uống nước ở đây.

Chặng nghỉ chân chốc lát trên núi này là một niềm vui thực sự. Tôi hầu như chưa ăn hoặc uống gì suốt chặng đường dài. Nước trên đôi má nóng hầm hập của tôi là một món quà Đấng Allah ban cho. Đi đứng tự do mà không có bóng dáng Taliban giống như hơi ôxy thần diệu. Nó gần như lọc sạch phổi tôi.

Nhưng dù được nếm mùi vị của sự tự do, chúng tôi vẫn mặc áo burqa cho đến tận Peshawar. Chúng tôi cần phải thận trọng.

Người tài xế vẫn nói chuyện với cha tôi. “Tôi hiểu anh. Tình hình ở Afghanistan thật rùng rợn. Bọn Taliban là những kẻ tồi tệ. Chúng đàn áp con người ta bằng quá nhiều luật lệ.”

Cha tôi đề nghị người tài xế chạy xe chậm thôi để mẹ tôi đỡ mệt rồi chúng tôi lên đường. Chị Soraya và tôi ngồi yên lặng, mắt mở to nhìn quang cảnh hai bên. Người tài xế mở nhạc. Tiếng nhạc thoát ra qua cửa sổ xe để mở. Gần hai giờ thì chúng tôi đến Peshawar, đi qua vùng Karkhana.

Phía trước chúng tôi, ở xa ngút tầm mắt, là hàng dãy vô tận các cửa hiệu bày đầy hàng hóa khắp các tầng. Người lái xe nói với chúng tôi về cái chợ lớn vốn buôn bán đủ loại hàng hóa này, rằng đây là điểm buôn lậu vô vàn các chủng loại sản phẩm xuất xứ từ khắp nơi, nó đích thị là một khu vực vô luật pháp, không bị đánh thuế cũng như các khoản lệ phí hải quan nào cả.

“Ở đây, anh sẽ tìm được người bán vũ khí và thuốc phiện cho anh. Đó là thứ tất cả các gian hàng này đều có. Hơn nữa, nhờ điểm kiểm soát, anh sẽ tìm mua được các đồ gia dụng, máy quay phim, tivi, đài, máy ghi âm, máy điều hòa nhiệt độ và bất cứ thứ gì anh muốn.”

Ở một biên giới khác của chúng tôi, người dân tộc nhập khẩu hàng về Afghanistan mà không phải đóng bất cứ khoản thuế hải quan nào, bởi vì chúng tôi không bị đánh thuế, hoặc bị đánh rất ít. Sau đó các mặt hàng này lại được tái xuất sang Pakistan, mà cũng không phải đóng thuế... Vũ khí cũng được quay vòng như vậy.

Điều rõ ràng là đất nước chúng tôi, vì bị tàn phá bởi nhiều năm nội chiến, đã trở thành một bến cảng thuận lợi cho dân buôn lậu Pakistan. Đó là lý do Pakistan không hề ngần ngại thừa nhận chính quyền Taliban - chính quyền mà Pakistan cung cấp lính đánh thuê với sự đồng ý của Mỹ. Tất cả chúng tôi sẽ chết hết nếu lực lượng Kháng chiến không kiểm soát lại được thủ đô của chúng tôi. Đất nước chúng tôi sẽ bị xóa sổ, sẽ bị nuốt chửng dưới lớp vỏ Sharia rất đặc biệt được thiết lập bởi bọn Taliban đó.

Khi chúng tôi đến nhà bố mẹ chồng chị Chakila, chị ôm lấy chúng tôi mà khóc sướt mướt. Đã bao lâu nay chị không gặp chúng tôi. Chị cũng không chứng kiến cảnh Taliban tràn vào Kabul, nhưng tất nhiên suốt thời gian này chị lúc nào cũng lo lắng cho chúng tôi. Chị sợ rằng chị phải đến Mỹ đoàn viên với chồng mà không được gặp lại chúng tôi nữa. Ở Peshawar, ít nhiều thì người ta cũng biết chuyện gì đang xảy ra ở Kabul, nhưng chị Chakila muốn biết từng phút chúng tôi trải qua trong những ngày này ra sao.

“Các em đối phó với cái áo burqa như thế nào?”

“Chúng em không ra khỏi nhà.”

“Thế thì thật khó cho các em. Các em còn quá trẻ. Nhưng các em làm gì ở nhà?”

“Em đọc sách. Em cố gắng học lại tiếng Anh qua sách chị gửi cho em.”

“Em học một mình hay học với Soraya?”

“Một mình. Có từ điển.”

“Em gầy thật đấy. Mẹ cũng vậy. Gầy quá mức và rất yếu nữa.”

Chakila hỏi thăm về các cô dì chú bác và những anh em họ hàng của chúng tôi trong lúc đưa chúng tôi lên phòng tắm của gia đình. Có ba phòng tắm tất cả. Nước chảy ra từ các vòi nước. Chúng tôi lại có thể được tắm dưới vòi hoa sen thực sự - một sự xa xỉ mà ở Kabul hầu như chúng tôi đã không còn nhớ đến. Chị Chakila tất bật chạy đi chạy lại. Chị mang cho chúng tôi khăn tắm và xà phòng. Em chồng chị cũng giúp một tay.

Sau đó mẹ đến nằm dài trên ghế sofa và chị Chakila nhẹ nhàng mát xa chân cho mẹ cho đến khi mẹ ngủ thiếp đi.

Chị gái tôi sắp đi Mỹ. Chị nóng lòng muốn được đoàn tụ với chồng mình, nhưng lại không biết gì nhiều về cái đất nước mà chị sẽ đến sống. Chị chỉ biết rằng chồng chị đảm nhận một công việc kinh doanh ở bang Virginia. Đối với chúng tôi, nước Mỹ là một hành tinh xa lạ - lối sống, con người, tên gọi các thành phố, chúng tôi chẳng biết gì về chúng kể cả dưới thời Liên Xô và sau này. Chị Chakila lấy làm buồn với ý nghĩ rằng có thể sẽ không bao giờ được về Afghanistan nữa. Nhưng chị tin tưởng chồng mình. Chị yêu anh ấy.

Đến đó chị sẽ không làm nhà báo nữa; mà sẽ làm việc trong cửa hàng của chồng chị. Họ sẽ vẫn giữ những truyền thống ở nhà. Chị tôi sẽ vẫn đội khăn trùm đầu khi cầu nguyện dưới bầu trời không phải bầu trời của chúng tôi, thế thôi.

Trong lúc đó, chị Chakila kể cho chúng tôi biết về những người bạn phổ thông cũ đã đến sống ở đây. Họ đều học đại học, họ may mắn được tiếp tục theo đuổi việc học tập của mình.

Nhưng chúng tôi không thể đến sống ở Pakistan. Chị Chakila sẽ sớm đi khỏi đây và cha tôi sẽ không thể tưởng tượng nổi việc xin tị nạn ở gia đình chồng con gái lớn của mình. Lòng kiêu hãnh của cha không cho phép điều đó.

Ngày hôm sau, tại bệnh viện, tôi vào khám một phòng, mẹ vào phòng khám khác. Người ta chụp X quang cho tôi. Bác sĩ xem phim rồi hỏi tôi, “Sao cô lại không đi chữa sớm hơn?”

Tôi cho rằng ông ta hẳn phải biết là ở Kabul phụ nữ không được đi chữa bệnh. Thế mà ông ta lại hỏi một câu như thể đó là lỗi của chúng tôi vậy.

Tôi nằm viện một tuần. Họ chọc thủng phổi của tôi để hút nước ra - hai chai đựng đầy một thứ chất lỏng lạ lùng. Họ kê cho tôi vitamin B và các loại thuốc khác mà tôi không biết tên.

Cha tôi đến phòng bệnh nơi tôi nằm chung với một phụ nữ ốm khác và buồn bã nói, “Họ xác nhận rằng mẹ con bị bệnh tiểu đường nặng. Về bệnh suy sụp của mẹ, bác sĩ chỉ có thể kê thuốc an thần. Ông ta giữ mẹ con lại hai ngày, sau đó cha sẽ phải đưa mẹ đến chỗ bác sĩ chuyên khoa thần kinh. Bệnh viện này không có bác sĩ chuyên khoa này.”

Thế là mẹ ra viện trước tôi. Việc đi khám bác sĩ chuyên khoa của mẹ không đem lại chút an ủi gì. Cha tôi phải giải thích cho bác sĩ những điều mẹ không thể tự trình bày rõ ràng được. Cha vốn thừa biết rằng mẹ sẽ không nói về những chịu đựng tinh thần của mẹ - mẹ không nói kể cả với cha. Cha cũng không kể lại được chi tiết những cú sốc và những căng thẳng liên tiếp mà mẹ đã phải trải qua, bởi có những bảo vệ người Pakistan đứng trước cửa nhà bác sĩ, và một người Afghanistan vốn không bao giờ thoải mái nói chuyện được trong những điều kiện như thế này. Cha sợ sẽ bị nghe lén và điều đó sẽ gây ra những phiền toái chính trị.

Mẹ từng là một người phụ nữ hạnh phúc trước khi Liên Xô tới. Cả sự nghiệp lẫn cuộc sống hôn nhân của mẹ đều thành công. Cha mẹ tôi yêu nhau bằng một tình yêu chưa bao giờ vơi cạn. Nhưng sau khi Liên Xô đến Afghanistan, mẹ tôi phải vượt qua quá nhiều bất hạnh: anh cả tôi bị tố cáo và bị bỏ tù ba năm; anh Daoud thì phải trốn lính; rồi những nỗi kinh hoàng hàng ngày của cuộc nội chiến, đầu tiên với tư cách y tá, rồi với tư cách bác sĩ phụ khoa. Và giờ đây, là nỗi đau của tất cả những người phụ nữ mẹ đã cố cứu giúp trong nhiều tháng ròng dưới chế độ Taliban...

Phải giải thích sao đây cho vị bác sĩ người Pakistan hiểu chuyện gì đã xảy ra với anh Daoud ở trường đại học sau trận đánh giữa các phe phái của lực lượng Mujahidin kéo dài từ năm 1993 đến 1996? Tôi vẫn nhớ từng biểu hiện trên mặt mẹ tôi khi nghe câu chuyện anh Daoud kể lúc đó. Hồi đó tôi 12 tuổi. Đó là một câu chuyện rất khủng khiếp. Tôi sẽ không bao giờ có thể quên được.

Khoa của anh Daoud bị đóng cửa và chiếm đóng bởi các đồng minh của Hekmatyar, khi đó đang là đối thủ của Ahmed Shah Massoud. Bọn chúng dùng tòa nhà của khoa làm doanh trại. Hekmatyar thua và khi các lực lượng của Thủ lĩnh Massoud kiểm soát khu vực này, đài phát thanh đã kêu gọi các sinh viên đến dọn sạch tòa nhà để khoa có thể mở cửa trở lại. Một buổi sáng anh Daoud đã đi hưởng ứng lời kêu gọi cùng tất cả các sinh viên khác đang muốn được đi học một lần nữa. Nhiều người trong số họ đã tình nguyện đến dọn dẹp.

Khi anh tôi về đến nhà, mẹ nhận thấy ngay là anh không được ổn. Nom mặt anh tái xám và không nói năng gì. Anh giam mình trong phòng không chịu ăn uống gì. Mẹ vẫn đang ở trong bếp và nài nỉ anh ấy xuống ăn cơm cùng chúng tôi.

“Xuống ăn cơm đi con, Daoud.”

“Không, con không đói...”

“Có chuyện gì vậy con?”

Daoud không trả lời. Điều đó thật đáng lo ngại, thế nên tôi đi theo mẹ vào phòng anh trai tôi. Anh đang ngồi trên giường, hai tay ôm lấy mặt. Mẹ ngồi xuống cạnh anh, đợi đến khi anh nói được.

“Con nhìn thấy một cảnh tượng choáng người,” cuối cùng anh nói. “Một cảnh tượng thật đáng sợ.”

“Con đã nhìn thấy gì?”

“Con thấy một người phụ nữ hoàn toàn lõa thể... Cô ấy... Cô ấy bị đóng đinh vào một cánh cửa ở khoa con. Bọn chúng cắt người cô ấy ra làm hai... làm hai phần. Trên mỗi cánh cửa là một nửa thi thể. Một nửa thi thể bị đóng đinh của cô ấy... Và cửa cứ mở ra đóng vào. Thật kinh khủng. Thật đáng sợ.”

Mẹ bắt đầu khóc. Anh Daoud nói tiếp.

“Khắp nơi là những bàn chân. Những bàn tay đã bị cắt mất. Máu vương khắp nơi. Đúng là một cuộc tàn sát mẹ ạ. Con không biết bọn chúng đã giết bao nhiêu người, nhưng thật kinh khủng... Đài chỉ bảo rằng sinh viên nên đến dọn dẹp tòa nhà, sắp xếp mọi thứ như cũ. Nhưng chúng con không thể dọn sạch được, không phải thứ đó. Không thể được. Cuối cùng các nhân viên bảo vệ đã làm việc đó. Chiều nay con không muốn quay lại khoa nữa. Con chịu. Họ bảo chúng con đến trường dọn dẹp để chúng con thấy chúng đã làm gì. Họ muốn chúng con được biết, nhưng...”

Tôi trở về phòng tôi và khóc một mình. Anh Daoud không bao giờ đề cập đến chuyện này lần nào nữa. Nhưng mẹ vẫn bị nó ám ảnh. Mẹ không thể quên được. Tôi chắc chắn về điều đó. Và có quá nhiều những cơn ác mộng khác mà tôi không thể biết bởi mẹ chôn kín chúng trong lòng mình. Mẹ không nói ra bất cứ điều gì. Chỉ giấu chúng trong lòng, đào sâu chôn chặt tất cả. Sau đó báo chí đã nói về vụ tàn sát ở trường đại học, nhưng họ không đưa thêm bất cứ chi tiết nào.

Bác sĩ khuyên cha tôi nên trông chừng mẹ cẩn thận, bảo đảm là mẹ đang uống thuốc an thần và những loại thuốc chữa bệnh tiểu đường của mẹ. Ông ta cũng bảo mẹ hàng ngày phải đi dạo ít nhất hai tiếng.

Đến cuối tuần tôi cảm thấy người khỏe hơn. Tôi có thể ra ngoài. Bác sĩ của tôi cũng bảo tôi phải đi dạo ít nhất hai tiếng một ngày và cử động trong bầu không khí trong lành càng nhiều càng tốt.

Theo như bác sĩ nói với cha tôi, “Ngoài thuốc ra, chúng tôi thực sự không thể làm được gì nhiều...”

Đêm đến, tại nhà chồng chị Chakila, ba chị em chúng tôi hàn huyên nhiều chuyện. Mong muốn không trở về nhà nữa, được ở lại đây và chạy trốn khỏi đất nước chúng tôi dấy lên mạnh mẽ. Khi ở nước ngoài nhìn vào, chính quyền của chúng tôi thậm chí còn đáng sợ hơn.

Nhưng chúng tôi không thể ở lại Pakistan. Bây giờ chị Chakila đang chuẩn bị chuyển đến Mỹ. Chị vừa mới nhận được điện thoại của chồng. Các giấy tờ của chị sắp được gửi về. Gia đình chồng chị không thể giữ chúng tôi ở đây. Còn tôi và chị Soraya thì không bao giờ nghĩ đến chuyện để cha mẹ về Afghanistan mà không có chúng tôi về cùng. Ở đó chúng tôi có một mái nhà, một căn hộ có thể trả được tiền thuê. Ở Pakistan thì chúng tôi sẽ được tự do, mẹ sẽ được chăm sóc, tôi sẽ được đi học đại học. Thế nhưng lại có mặt bất lợi, như chị Chakila chỉ ra.

“Ở đây người ta coi thường chúng ta. Cho dù tất cả hoạt động kinh doanh ở Peshawar đều do người Afghanistan điều hành. Kể cả chúng ta có xây dựng nhà cửa, có làm cho nền kinh tế khởi sắc, thì dân Pakistan vẫn không thích chúng ta.”

Và đó là sự thật.

Trong khi đó, cứ hai ngày một lần, tôi lại tận dụng không khí trong lành và đi dạo. Chúng tôi mua vải để may quần áo, mua những đôi giày mùa hè màu đen thật xịn thay thế giày thể thao, cha tặng tôi một chiếc khăn choàng dùng để cầu nguyện. Chúng tôi trò chuyện với nhau trong vườn lúc hoàng hôn. Một gia đình thực sự. Một cuộc sống đích thực.

Nhưng một tháng sau thì chúng tôi phải về nhà. Mẹ, chị Soraya và tôi thấy việc này quả là khó khăn. Tôi bỏ lại sau mình hình ảnh những người bạn cũ của tôi đang thong thả đến trường đại học, đang cười đùa, đang bước đi không chút vướng vấp khắp các đường phố Peshawar hoặc Islamabad. Phần lớn bọn họ đều có anh trai, chú, bác hoặc một người họ hàng gần, có thể giúp họ về mặt tài chính, đang sống ở nước ngoài. Cuộc sống của họ cũng không phải là sung túc. Một người bạn đã kể với tôi qua điện thoại rằng bảy người bọn họ dùng chung một phòng đơn ở Islamabad. Mặc dù vậy, bạn tôi vẫn may mắn vì được đi học. Tôi mong rằng cô ấy ý thức được sự may mắn của mình và học hành chăm chỉ như trước kia. Trong suốt cuộc chuyện trò, tôi cảm thấy cô ấy đã để mất đi một chút động lực được trở thành bác sĩ. Cô ấy có vẻ hời hợt hơn, ít lo lắng hơn trước kia. Có lẽ đó là một trong những điều mà sự tự do cho phép.

Trong chuyến trở về, chúng tôi đi bằng xe buýt, vì mẹ và tôi đã cảm thấy khỏe hơn. Những cuộc khám xét, những rào chắn, những cái nhìn quỷ quyệt của bọn Taliban, sự lăng mạ thường trực... Tôi còn cảm thấy bị tước đoạt nhiều hơn so với trước khi ra đi.

Lúc này mẹ tôi lại không chịu uống thuốc chữa bệnh tiểu đường của mình. Cha tôi và chị Soraya phải nghĩ ra đủ trò để bắt mẹ nuốt chúng. Nhưng mẹ thích thuốc an thần và thuốc ngủ của mẹ hơn. Chúng tôi canh chừng mẹ như trông một đứa trẻ. Mẹ tôi, ngày xưa khỏe mạnh và linh lợi đến thế, nay không chịu đối diện với hiện thực. Mẹ thoát ly khỏi hiện thực bằng giấc ngủ mỗi ngày một sâu hơn. Chúng tôi không biết làm gì nữa khi sự suy sụp của mẹ đã đánh bại cả bốn người chúng tôi.

Chúng tôi còn cảm thấy chán nản hơn nữa khi anh Daoud kể rằng những trận đấu bóng đá anh vốn yêu thích là thế trên sân vận động Kabul giờ phải nhường chỗ cho màn biểu diễn một hành động gớm ghiếc mới của bọn Taliban. Giờ đây công lý được thực hiện giữa chốn công cộng. Bọn chúng treo các bị cáo lên cột dọc của khung thành, chặt tay những tên trộm, hành quyết những phụ nữ bị cho là ngoại tình bằng một viên đạn vào gáy. Đây là một cảnh tượng quái dị, ngắt quãng bằng những lời cầu nguyện bắt buộc. Khán giả bị lùa vào sân vận động bằng roi.

Tôi không muốn nghe gì thêm về nỗi kinh hoàng trong thành phố của tôi nữa. Tôi sẽ không ra khỏi căn hộ một bước nào nữa. Tôi sẽ vừa lòng với việc nhìn ra ngoài qua cửa sổ bếp và phòng ngủ càng nhiều càng tốt, như mẹ tôi, để quên đi cơn ác mộng đang hoành hành dưới ánh mặt trời sáng chói của Kabul này.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 11 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Hiện đại] Làm thế nào để ngừng nhớ anh - Mộng Tiêu Nhị

1 ... 35, 36, 37

2 • [Xuyên không] Khi vật hi sinh trở thành nữ chính - Tư Mã Duệ Nhi

1 ... 28, 29, 30

3 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 149, 150, 151

4 • [Cổ đại] Kiêu Tế - Quả Mộc Tử

1 ... 46, 47, 48

5 • [Xuyên không] Cuộc sống nông thôn nhàn rỗi - Kẹo Vitamin C

1 ... 108, 109, 110

6 • [Xuyên không - Cổ xuyên hiện] Ảnh hậu đối mặt hàng ngày - Ngã Yêu Thành Tiên

1 ... 37, 38, 39

7 • [Cổ đại] Nô gia không hoàn lương - Cật Thanh Mai Tương Nha

1 ... 36, 37, 38

8 • [Hiện đại] Cướp tình Tổng giám đốc ác ma rất dịu dàng - Nam Quan Yêu Yêu

1 ... 64, 65, 66

9 • [Xuyên không - Dị giới] Phế sài muốn nghịch thiên Ma Đế cuồng phi - Tiêu Thất Gia - New C888

1 ... 128, 129, 130

10 • [Hiện đại] Hôn nhân giá ngàn vàng - Cẩm Tố Lưu Niên (103/104]

1 ... 181, 182, 183

11 • [Hiện đại] Eo thon nhỏ - Khương Chi Ngư [NEW C66]

1 ... 24, 25, 26

12 • [Cổ đại - Trùng sinh] Đích nữ nhà nghèo Bán phở heo

1 ... 9, 10, 11

13 • [Xuyên không] Vương phi thần trộm Hưu phu lúc động phòng! - Thủy Mặc Thanh Yên

1 ... 82, 83, 84

[Cổ đại - Trùng sinh] Trọng sinh cao môn đích nữ - Tần Giản

1 ... 137, 138, 139

15 • [Xuyên không] Trôi nổi trong lãnh cung Khuynh quốc khí hậu - Hoa Vô Tâm

1 ... 75, 76, 77

16 • [Hiện đại] Cục cưng lật bàn Con là do mẹ trộm được? - Ninh Cẩn

1 ... 87, 88, 89

17 • [Hiện đại] Người cha nhặt được - Cát Tường Dạ

1 ... 26, 27, 28

18 • [Hiện đại] Xin chào Chu tiên sinh! Dạ Mạn

1 ... 27, 28, 29

19 • [Xuyên không] Hỉ doanh môn - Ý Thiên Trọng

1 ... 105, 106, 107

20 • [Xuyên không Dị giới] Phượng nghịch thiên hạ - Lộ Phi (Phần 1)

1 ... 176, 177, 178



Lãng Nhược Y: Viết cho người phụ nữ tôi thương Mọi người hãy vào bình chọn cho các bạn nào :D5 Ai có số bình chọn nhiều nhất sẽ nhận quà nha :kiss3:
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 602 điểm để mua Hoa anh đào
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 264 điểm để mua Thỏ tắm nắng
Shop - Đấu giá: Sư Tử Cưỡi Gà vừa đặt giá 250 điểm để mua Thỏ tắm nắng
Eun: Cưng ý kiến gì. Nảy quên nói lãi suất 25% tháng ấy :)2
Công Tử Tuyết: -.-
Tuyền Uri: Cho vay lãi suất thấp đây =))
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 575 điểm để mua Cổ vũ
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 986 điểm để mua Hộp quà Hamster
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 572 điểm để mua Hoa anh đào
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 1568 điểm để mua Hamster lêu lêu
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 543 điểm để mua Hoa anh đào
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 546 điểm để mua Cổ vũ
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 938 điểm để mua Hộp quà Hamster
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 1492 điểm để mua Hamster lêu lêu
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 516 điểm để mua Hoa anh đào
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 2819 điểm để mua Đá Peridot
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 490 điểm để mua Hoa anh đào
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 1420 điểm để mua Hamster lêu lêu
Shop - Đấu giá: Sam Sam vừa đặt giá 250 điểm để mua Kẹo mút 2
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 640 điểm để mua Mề đay đá Citrine 5
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 1351 điểm để mua Hamster lêu lêu
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 465 điểm để mua Hoa anh đào
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 2683 điểm để mua Đá Peridot
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 608 điểm để mua Mề đay đá Citrine 5
Nhân Gian Hoan Hỉ: chữ tạo đề tài chỗ nào vơqis các bạn...ko thấy chi luôn
Windwanderer: huhu có ai biết dùng PTS k tớ nhờ xíu
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 1285 điểm để mua Hamster lêu lêu
Công Tử Tuyết: Re: [Trắc Nghiệm] Bạn là ai trong truyện Đam mỹ ?
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 248 điểm để mua Chai nước biển

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.