Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 4 bài ] 

Năm Người Đàn Bà Si Tình - Ihara Saikaku

 
Có bài mới 02.08.2018, 22:27
Hình đại diện của thành viên
☆~ Số 15 ca ~☆
☆~ Số 15 ca ~☆
 
Ngày tham gia: 14.10.2015, 23:36
Bài viết: 2913
Được thanks: 2063 lần
Điểm: 7.48
Tài sản riêng:
Có bài mới [Văn học Nhật - Tập truyện ngắn] Năm Người Đàn Bà Si Tình - Ihara Saikaku - Điểm: 10

NĂM NGƯỜI ĐÀN BÀ SI TÌNH

Tác giả: Ihara Saikaku

Dịch giả: Phạm Thị Nguyệt

Công ty phát hành     Nhà Sách Phương Nam

Nhà xuất bản     NXB Văn Học, Phương Nam Book

...Sự đen tối của tâm hồn con người trước cám dỗ của sắc dục được miêu tả rất tinh tế trong Năm Người Đàn Bà Si Tình. Nhưng không có tội lỗi nào mà không bị trừng phạt, chỉ là vấn đề sớm hay muộn mà thôi. Motiv tội ác và trừng phạt được khắc họa sắc nét trong tác phẩm qua các truyện tiêu biểu “Chuyện về nàng Oshichi si tình”, “Chuyện về vị phu nhân đa tình” và “Chuyện nàng Osen đa tình”.


Oshichi vốn là con gái duy nhất của một người buôn trái cây tên là Hachibei ở Edo. Vào đêm Hai mươi tám Tết, khu phố phát hỏa và mọi người phải đến chùa Kichijo trong vùng tạm trú. Nơi đây, nàng gặp một chàng thiếu niên võ sĩ anh tuấn tên là Kichisaburo. Hai người lén viết thư từ qua lại cho nhau. Và rồi dịp may đến vào đêm mười lăm tháng Giêng khi các nhà sư phải đi chuẩn bị tang lễ cho Hachizaemon, một người bán gạo trong vùng. Oshichi lén đi gặp Kichisaburo và hai người tình tự. Bà mẹ biết chuyện mới lôi Oshichi về nhà, không cho tạm trú ớ chùa nữa Nhớ nhung, Kichisaburo mới giả làm một người nhà quê tìm đến nhà Oshichi xin ngủ trọ vào một đêm mưa tuyết và “ái ân cũng lặng lẽ như hình những con thiên nga vẽ trên bức bình phong rực rỡ phía sau”. Bình minh đến chia cách đôi lứa rồi đêm ngày Oshichi nhớ mong. Trong một đêm mưa “nàng bỗng nhớ lại cái đêm xảy ra hỏa hoạn làm nàng phải đến trú ngụ trong chùa và nàng nghĩ rằng một tai họa như thế sẽ đem cho nàng dịp may gặp lại Kichisaburo. Ý tưởng điên rồ này đưa nàng đến một hành động vô phương cứu chữa. Nàng châm lửa đốt nhà nhưng dân chúng lần theo dấu khói và bắt gặp Oshichi ở đúng địa điểm gây hỏa hoạn”. Oshichi bị xử tử hình. Trong khi đó, Kichisaburo đêm ngày thương nhớ Oshichi, không hay nàng đã chết. Người thân, bạn bè không dám báo tin cho chàng, sợ chàng tự sát. Nhưng rồi chàng cũng biết và sau khi được các vị sư khuyên giải, Kichisaburo quyết định xuất gia. Truyện kết thúc bằng lời nhận định: “Câu chuyện này được kể lại - đầy tình và khổ - cốt để chỉ cho thấy cuộc đời bất trắc và hư ảo dường nào, giống hệt như một giấc mộng hoang dã và hoang đường.”


“Chuyện về vị phu nhân đa tình” bắt đầu bằng một cuộc tranh luận mỹ nhân thú vị. Bốn chàng công tử nổi tiếng ở kinh thành sau khi đi xem hát về ghé trà thất ngắm người qua lại và tìm kiếm người phụ nữ đẹp nhất. Đầu tiên có “một người phụ nữ trạc hăm ba, hăm bốn đi ngang qua, sắc đẹp hiếm có, cặp mắt tinh anh, chiếc cổ thon thả yêu kiều... Nàng bước đi uyển chuyền nhịp nhàng, hông lác lư một cách rất tự nhiên”. Thế là “một trong mấy chàng trai kêu lên: “Ôi, thật đáng giá ngàn vàng!”, nhưng lời nói chưa kịp thốt ra thì vị phu nhân quay đầu lại nói điều gì đó với người theo hầu, vừa hé môi ra đã lộ chiếc răng sún, làm cho bốn chàng tan hết ảo mộng”. Có nàng thì trên gương mặt đẹp có một vết sẹo dài, có nàng kiêu kỳ thanh thoát nhưng lại mang theo ba đến bốn đứa con, giả vờ như không quan tâm gì đến chúng. Cuối cùng bốn chàng mới tìm được vị phu nhân Osan, được mệnh danh là Tân Komachi mà “chỉ về sau người ta mới hiểu ra rằng biết bao tai ương ẩn giấu dưới cái sắc đẹp yêu kiều ấy”. Nàng là vợ của một viên quan làm lịch. Trong suốt ba năm từ ngày về nhà chồng Osan phục vụ tận tình chu đáo. Nhưng rồi viên quan có công chuyện phải lên Edo. Phụ thân Osan lo lắng cho sức khỏe con gái mình nên mới chọn một chàng trẻ tuổi là Moernon đến phụ giúp. Người hầu gái của Osan là Rin có tình ý với Moemon nhưng không biết chữ nên nhờ Osan viết thư giùm mình Moemon trả lời lại rất xấc xược. Vì tức giận thay cho Rin, Osan lên kế hoạch hẹn Moemon đến gặp Rin vào đêm mười bốn tháng Năm Kế hoạch sắp đặt là Osan sẽ thay chỗ của Rin, cho mấy người hầu gái cầm đèn và gậy gộc chờ sẫn, khi nghe nàng kêu thì chạy đến ngay. Nhưng không may là cả Osan và đám đầy tớ vì quá mệt mỏi nên đã thiếp ngủ đi hết. Moemon tìm đến ân ái rồi quay về mà cứ tưởng đó là Rin. Osan thức dậy phát hiện sự thật bẽ bàng. Nàng quyết định gặp Moemon thú nhận hết tất cả rồi từ đó “đôi tình nhân bắt đầu chơi trò chơi sinh tử - trò chơi nguy hiểm nhất trong tất cả các trò chơi”.


Trước hết hai người giả vờ đã tự tử chết rồi đưa nhau về quê bắt đầu lại cuộc sống mới. Chồng của Osan cư xử với nàng như với một người vợ hiền đã mất. Ông lập bàn thờ và gọi các nhà sư đến tụng kinh siêu độ cho nàng. Gần đến lễ hội tháng Chín có người bán trái lật ghé thăm nhà chồng Osan và nói rằng mình có thấy một người giống hệt phu nhân sống cùng một chàng trai trẻ sống ở làng Kirito. Chồng cũ Osan đến bắt hai người và xử tội chết.


Truyện “Nàng Osen đa tình” cũng có một kết thúc đầy bi thảm. Nàng Osen là người hầu gái cho một phu nhân giàu có, sống trong một cơ ngơi đồ sộ gần khu Tenma. Có nhan sắc, được nhiều người để ý nhưng Osen chưa hề biết đến yêu đương. Trong khi đó có một chàng thợ mộc tương tư Osen mê mệt. Được bà mối Nanny giúp đỡ, hai người đến được với nhau. Đôi vợ chồng sống với nhau rất hòa thuận, hạnh phúc. Nhưng chỉ vì lòng ghen của bà vợ Chozaemon, một người chế men rượu vu oan cho Osen có tình ý với chồng mình mà Osen cảm thấy chua cay đến mức quyết định ngủ với Chozaemon thật sự “để dạy cho con mụ đàn bà ấy một bài học”. Vào ngày lễ hội tháng Giêng, Chozaemon theo Osen về nhà Khi hai người chuẩn bị ái ân thì người thợ mộc thức dậy. Chozaemon vội vàng ném quần áo chạy thoát thân còn Osen thì tuyệt vọng lấy lưỡi bào thợ mộc đâm ngập tim mình mà chết.


Truyện kết thúc trong bi kịch và có thể mượn lời trong truyện “Nàng Osen đa tình” để tóm tắt lại ba câu chuyện tiêu biểu trên của Năm Người Đàn Bà Si Tình như sau: “Tên họ được kể lại trong vô vàn bài hát, bài thơ truyền tụng đến các vùng rất xa với lời cảnh cáo: “Thế giới này nghiêm khắc và tội lỗi không bao giờ thoát khỏi bị trừng phạt”.


Tác giả :

Ihara Saikaku (1642 – 1693) bắt đầu viết văn vào tuổi 14. Trong 26 năm sáng tác đầu tiên, ông chuyên tâmlàm thơ, nhất là thơ haiku.

Vào tuổi 40, đạt được thành công lớn với tiểu thuyết Koshoku ichidai otoko (Người đàn ông đa tình), mở đầu cho hàng loạt tác phẩm “Phù thế thảo tử” của ông, ảnh hưởngđến cả thời đại.

Tác phẩm đã xuất bản:

- Năm người đàn bà si tình (Phương Nam Book, 2016)

Thế giới của yêu ma và tấn tuồng đời khinh bạc
Thời đại Edo (1603 – 1867) dưới sự lãnh đạo của Mạc phủ Tokugawa kéo dài 264 năm có thể xem là một trong những thời kỳ êm đềm nhất trong lịch sử Nhật Bản. Với chính sách bế quan tỏa cảng, người Nhật dựa vào nội lực của chính mình để phát huy đặc tính văn hóa trên tất cả lĩnh vực từ cá tính dân tộc, tay nghề, mỹ thuật… Giai cấp samurai được khuyến khích coi trọng văn hơn võ; giai cấp thương gia ngày càng trở nên giàu có. Thêm vào đó nhờ vào sự phổ cập các trường tư thục, trường dạy trong chùa (terakoya 寺子屋) và kỹ thuật in ấn phát triển, sách in bằng bản khắc gỗ ra đời nên dân thường có điều kiện tiếp xúc với văn chương. Văn học được đại chúng hóa và văn hóa trở thành văn hóa của thị dân (Chonin bunka 町人文化).

Sinh vào đầu thời Edo, Ihara Saikaku (Tỉnh Nguyên Tây Hạc 井原西鶴) (1642 – 1693) là nhà thơ haiku và tác gia tiêu biểu cho dòng tiểu thuyết “phù thế thảo tử”. Phần lớn cuộc đời ông viết về cuộc sống thị dân Edo với những mối quan tâm về tiền bạc và sắc tình. Với khả năng quan sát nhạy bén và tài năng đa dạng, Saikaku đã khắc họa tinh tế bản chất con người trong một xã hội của kim tiền và sắc dục. Những tác phẩm của ông vẫn còn có giá trị cho đến ngày hôm nay vì cho dù có văn minh đến đâu nhưng tâm lý con người ngàn năm nay vẫn không hề thay đổi. Tác phẩm tiêu biểu nhất của ông là “Năm người đàn bà si tình” (Hiếu sắc ngũ nhân nữ 好色五人女).

Ueda Akinari (Thượng Điền Thu Thành 上田秋成) (1734 – 1809) vốn là con hoang của một kỹ nữ, sau được một thương nhân nhận nuôi để nối nghiệp nhưng cuối cùng lại chuyển sang nghề y. Ueda có niềm tin sâu sắc về những truyện huyền bí. “Vũ nguyệt vật ngữ” (雨月物語 Truyện kể trong mưa và trăng) đúng như tên gọi được viết xong vào đêm mưa tạnh trăng mờ năm 1768. Tuy viết về chuyện yêu ma quỷ quái nhưng lại ẩn chứa rất nhiều bài học về thế thái nhân tình.

Hai tác phẩm tiêu biểu “Năm người đàn bà si tình” và “Vũ nguyệt vật ngữ” đặt song song và tương chiếu với nhau giúp chúng ta thấy được cuộc sống và quan niệm nhân sinh của người dân Nhật Bản thời Edo một cáchsống động và chân thực và từ đó có thể rút ra bài học cho chính mình trong cuộc đời hôm nay. Đặc biệt là lời cảnh tỉnh về sắc dục và ái tình. Từ xưa đến nay đã có biết bao nhiêu tấn tuồng đời diễn ra với mùi vị của kim tiền. Chính tiền bạc và sắc dục đã biến con người trở thành yêu ma, yêu ma vì tình mà trả thù người, người và yêu ma lẫn vào nhau, chung sống với nhau. Như xà tinh trong truyện “Con rắn tà dâm” vì tình mà uổng phí công tu luyện ngàn năm, nhà sư trong truyện “Chiếc khăn trùm đầu màu xanh” của “Vũ nguyệt vật ngữ” vì tình yêu với chú tiểu mà biến thành một con yêu quái. Chính Ueda Akinari cũng thừa nhận: “Trên núi ái tình mà bản thân Khổng Tử cũng trượt ngã, người đời dễ quên đi nghĩa vụ của mình và cả bản thân mình nữa”[1]. Còn truyện “Năm người đàn bà si tình” thì kết thúc hầu hết là bi thương, nhân vật chính không chết thì cũng đi tu. Ái tình đã biến thành nghiệp chướng. Cả hai tác phẩm này đều đã có bản dịch tiếng Việt dù không đầy đủ. “Năm người đàn bà si tình” của Ihara Saikaku được Phạm Thị Nguyệt dịch, Nhà xuất bản Tiền Giang ấn hành năm 1988. Còn “Vũ nguyệt vật ngữ” được Nguyễn Trọng Định dịch với tên “Hẹn mùa hoa cúc” do Nhà xuất bản Kim Đồng in năm 2000. Những trích dẫn trong bài của chúng tôi là lấy từ hai bản dịch này.

“Năm người đàn bà si tình” thuộc thể loại tiểu thuyết xã hội (ukiyo zoshi – phù thế thảo tử 浮世草子). Theo Nguyễn Nam Trân thì “Chữ ukiyo đã được người Nhật dùng từ thời Trung Cổ với ý nghĩa là cuộc đời (thế) đầy buồn khổ lo lắng (ưu), chữ Hán viết là “ưu thế” (憂世 cuộc đời đầy lo buồn). Chữ dùng này đã phát xuất từ quan điểm vô thường và tư tưởng yếm thế sinh ra từ những thế kỷ chiến tranh và ly tán. Tuy nhiên đến thời cận đại thì lối lý giải ấy đã thay đổi. Họ mượn từ Hán “phù thế” 浮世 (cuộc đời trôi nổi) để diễn tả quan niệm này. Cùng lúc nội dung từ ukiyo (phù thế) lại được người thời Edo hiểu khác đi. Nó có nghĩa là “lối sống tự do phóng túng trong luyến ái, sắc dục, và tích cực hưởng lạc”. Tóm lại, “ukiyoshi đã xuất hiện như là loại tiểu thuyết phong tục miêu tả xã hội đương thời.”[2]

Còn “Truyện kể trong mưa và trăng” là loại tiểu thuyết độc bản (yomihon 読み本), dùng để phân biệt với loại sách có tranh vẽ (ehon 絵本), chủ yếu dành để đọc. Từ điển Quảng Từ Uyển giải thích là truyện hư cấu, nhiều tình tiết phức tạp, nội dung chủ yếu nói về nhân quả báo ứng của Phật giáo và giáo huấn đạo đức.

“Vũ nguyệt vật ngữ” (雨月物語 – Truyện kể trong mưa và trăng) hoàn thành năm 1768 gồm 9 truyện “Đỉnh Shiramine”(白峰), “Hẹn mùa hoa cúc” (菊花の約), “Ngôi nhà trong bãi sậy”(浅茅の宿), “Cá chép trong giấc mơ”(夢応の鯉魚), “Bupposo” (仏法僧), “Chiếc nồi hơi ở Kibitsu” (吉備津の釜), “Con rắn tà dâm” (蛇性の婬), “Chiếc khăn trùm đầu màu xanh” (青頭巾), “Bàn về sự giàu nghèo” (貧富論). Trong đó hai truyện “Ngôi nhà trong bãi sậy” và “Chiếc nồi hơi ở Kibitsu” được xem là hay nhất trong tập truyện, chịu ảnh hưởng của “Truyện nàng Ái Khanh” và “Chiếc đèn mẫu đơn” trong “Tiễn Đăng tân thoại” của Cù Hựu.

“Chiếc nồi hơi Kibitsu” tuy khởi đi từ điềm báo mang tính định mệnh luận nhưng là một truyện rất hay về niềm tin, tình yêu, sự bội phản và trả thù của con người. Shotaro, vốn là người con độc nhất của gia đình Izawa, “chán ghét công việc đồng áng, chỉ thích rượu chè, ăn chơi trụy lạc, không đếm xỉa gì đến lời răn đe của gia đình”. Hết sức phiền lòng, cha mẹ mới bàn chuyện lấy vợ để Shotaro thay đổi tính nết. Có người mai mối giới thiệu cô con gái nhà Kadasa là Isora vốn đẹp người đẹp nết, am hiểu thơ ca. Nhưng khi đến hỏi ý kiến thần linh ở đền Kibitsu qua chiếc nồi hơi “nếu là điềm lành thì khi nước sôi, nồi nước phát ra tiếng sùng sục, nếu là điềm gỡ thì nồi im lìm” thì kết quả là xấu vì nồi hơi cứ im hơi lặng tiếng. Gia đình Kadasa vẫn tổ chức hôn lễ cho hai người. Isora về nhà chồng rất siêng năng làm việc, hết mực hiếu thảo với cha mẹ chồng. “Shotaro cũng đánh giá cao thiện chí của vợ và cùng nhau sống hòa thuận. Nhưng làm thế nào để chống lại những thiên hướng xấu xa của một con người ích kỷ?”

Shotaro mê một cô ả giang hồ là Sode, bỏ tiền chuộc nàng ta và làm một căn nhà ở làng bên cạnh để sống cùng nhau ngày này qua tháng khác, bất chấp lời khuyên ngăn của Isora và cha mẹ mình. Một lần, trong khi cha mình vắng nhà, Shotaro nói với Isora là mình rất ân hận và sẽ từ bỏ người đàn bà kia nhưng muốn ít tiền để đưa nàng ta lên kinh thành làm người phục dịch cho gia đình sang trọng. Isora cả tin rất vui mừng bán hết tư trang, xin thêm tiền mẹ đưa hết cho Shotaro. Thế là Shotaro cùng ả giang hồ kia bỏ trốn lên kinh thành.

Đau khổ vì bị lừa gạt đến mức đó, Isora lâm bệnh nặng. Trong khi đó Shotaro và ả nhân tình Sode đến trú ngụ tại nhà người bà con của Sode. Nhưng Sode bệnh nặng rồi chết. Shotaro đau khổ chôn cất tình nhân. Khi ra viếng mộ chợt gặp một người con gái trẻ. Khi Shotaro theo nàng về nhà thì nữ chủ nhân lại chính là hồn ma của Isora. Nàng thề sẽ trả thù. Shotaro lăn ra bất tỉnh. Hắn chạy về nhà gặp thầy phù thủy xin bùa chú trong bốn mươi hai ngày. Mỗi đêm hồn ma lảng vảng bên ngoài nhưng không vào được vì có bùa chú dán trên cửa nhà và cửa sổ. Đến đêm cuối cùng, mừng vì tai qua nạn khỏi, Shotaro chạy ra khỏi nhà lúc trời chưa sáng hẳn. Hồn ma ngay lập tức giết hắn, chỉ còn một túm tóc lơ lửng trên mái nhà. “Lời tiên đoán của thầy phù thủy thật dị thường và điềm dữ chiếc nồi hơi quả là đúng sự thật, “đó là điều đáng trân trọng”, người ta bảo nhau như vậy trong khi kể lại câu chuyện này”.

Các tình tiết trong truyện tăng dần mức độ thử thách cho đến đỉnh điểm và khi niềm tin bị bội phản đến mức phũ phàng thì sẽ đến lúc báo thù. Tuy là truyện truyền kỳ, nói về yêu ma nhưng cũng là nói về tâm lý con người cõi thế. Lòng ghen tuông của người đàn bà, sự bội phản niềm tin có thể gây ra những trận đòn thù kinh khiếp nhất. Lòng tham nào rồi cũng sẽ bị trả giá. Cuối cùng ta sẽ mất hết cả những điều quý giá đang có trong tay.

Truyện “Ngôi nhà trong bãi sậy” nói về lòng chung thủy đợi chờ của người vợ xinh đẹp Miyagi với người chồng Katsushiro. Nghe lời rủ rê của gã con buôn Soji, Katsushiro quyết chí lên kinh thành buôn tơ lụa dù Miyagi hết sức can ngăn. Katsushiro hẹn “mùa thu tới sẽ trở về” nhưng rồi cướp bóc, chiến tranh loạn lạc liên miên nên mãi mà không về được. Trong khi đó ở quê nhà, Miyagi với nhan sắc của mình được rất nhiều người để ý nhưng nàng đều cự tuyệt. Cho đến bảy năm sau, Katsushiro cuối cùng mới được về quê. Trong cảnh nhập nhoạng, anh ta thấy ngôi nhà cũ của mình vẫn còn như xưa và người vợ vẫn chung thủy đợi chờ. Sáng hôm sau thức giấc, Katsushiro thấy mình đang nằm giữa chốn hoang vu, bên cạnh là nấm mộ của vợ anh. Bàng hoàng, Katsushiro đi tìm lại người trong làng, hỏi rõ ngọn ngành mới hay nàng đã chết từ năm năm trước nhưng biết Katsushiro trở về, hồn ma tìm đến để ôn lại chuyện xưa. Katsushiro quay trở lại nấm mộ của Miyagi khóc lóc và cầu phúc cho nàng.

Truyện diễn tiến như một giấc mộng hư ảo của cuộc đời. Vì chỉ ham chút lợi vật chất mà cuối cùng Katsushiro thành kẻ trắng tay. Tiền buôn cũng bị cướp sạch, người vợ xinh đẹp cũng không còn nữa. Phải chăng con người ta luôn không biết quý những gì mình đang có cho đến khi mất đi thì mới hay? Và có cần phải đi tìm kiếm tận phương xa nào một niềm hư ảo mà quên mất ngay bên cạnh mình cũng đã có một tri âm: “Chái bếp hiên sau cũng ngọt ngào một lời cho nhau”. Như vậy chẳng cũng phải đã quá đủ cho một kiếp đời hay sao? Có cần phải day dứt: “Bao năm qua rồi còn gối chiếc, nghe lòng nhiều nối tiếc; Thương nhau rồi, xa nhau rồi, một lần dang dở ấy, Ðêm lạnh vui với ai?” (Trúc Phương)

“Vũ nguyệt vật ngữ” thực ra mượn chuyện ma để nói chuyện người, huyễn tưởng, truyền kỳ ở đây đã trở thành nghệ thuật (dĩ huyễn độ chân). Vốn dĩ yêu ma không đáng sợ bằng chính bản thân con người. Như chính Saikaku đã nhận định “đáng sợ hơn nhiều chính là những con quỷ trong hình hài người hủy hoại mạng sống của những người ngu dại. Hồn người thì cũng đen tối như đêm hai mươi tám tháng Bảy mà những chiếc đèn lồng nơi hiên nhà không đủ soi sáng”.

Sự đen tối của tâm hồn con người trước cám dỗ của sắc dục được miêu tả rất tinh tế trong “Năm người đàn bà si tình”. Nhưng không có tội lỗi nào mà không bị trừng phạt, chỉ là vấn đề sớm hay muộn mà thôi. Motiv tội ác và trừng phạt được khắc họa sắc nét trong tác phẩm qua các truyện tiêu biểu “Chuyện về nàng Oshichi si tình”, “Chuyện về vị phu nhân đa tình” và “Chuyện nàng Osen đa tình”.

Oshichi vốn là con gái duy nhất của một người buôn trái cây tên là Hachibei ở Edo. Vào đêm Hai mươi tám Tết, khu phố phát hỏa và mọi người phải đến chùa Kichijo trong vùng tạm trú. Nơi đây, nàng gặp một chàng thiếu niên võ sĩ anh tuấn tên là Kichisaburo. Hai người lén viết thư từ qua lại cho nhau. Và rồi dịp may đến vào đêm mười lăm tháng Giêng khi các nhà sư phải đi chuẩn bị tang lễ cho Hachizaemon, một người bán gạo trong vùng. Oshichi lén đi gặp Kichisaburo và hai người tình tự. Bà mẹ biết chuyện mới lôi Oshichi về nhà, không cho tạm trú ở chùa nữa. Nhớ nhung, Kichisaburo mới giả làm một người nhà quê tìm đến nhà Oshichi xin ngủ trọ vào một đêm mưa tuyết và “ái ân cũng lặng lẽ như hình những con thiên nga vẽ trên bức bình phong rực rỡ phía sau”. Bình minh đến chia cách đôi lứa rồi đêm ngày Oshichi nhớ mong. Trong một đêm mưa “nàng bỗng nhớ lại cái đêm xảy ra hỏa hoạn làm nàng phải đến trú ngụ trong chùa. Và nàng nghĩ rằng một tai họa như thế sẽ đem cho nàng dịp may gặp lại Kichisaburo. Ý tưởng điên rồ này đưa nàng đến một hành động vô phương cứu chữa. Nàng châm lửa đốt nhà nhưng dân chúng lần theo dấu khói và bắt gặp Oshichi ở đúng địa điểm gây hỏa hoạn”. Oshichi bị xử tử hình. Trong khi đó, Kichisaburo đêm ngày thương nhớ Oshichi, không hay nàng đã chết. Người thân, bạn bè không dám báo tin cho chàng, sợ chàng tự sát. Nhưng rồi chàng cũng biết và sau khi được các vị sư khuyên giải, Kichisaburo quyết định xuất gia. Truyện kết thúc bằng lời nhận định: “Câu chuyện này được kể lại – đầy tình và khổ – cốt để chỉ cho thấy cuộc đời bất trắc và hư ảo dường nào, giống hệt như một giấc mộng hoang dã và hoang đường.”[3]

“Chuyện về vị phu nhân đa tình” bắt đầu bằng một cuộc tranh luận mỹ nhân thú vị. Bốn chàng công tử nổi tiếng ở kinh thành sau khi đi xem hát về ghé trà thất ngắm người qua lại và tìm kiếm người phụ nữ đẹp nhất. Đầu tiên có “một người phụ nữ trạc hăm ba, hăm bốn đi ngang qua, sắc đẹp hiếm có, cặp mắt tinh anh, chiếc cổ thon thả yêu kiều... Nàng bước đi uyển chuyển nhịp nhàng, hông lắc lư một cách rất tự nhiên”. Thế là “một trong mấy chàng trai kêu lên: “Ôi, thật đáng giá ngàn vàng!”, nhưng lời nói chưa kịp thốt ra thì vị phu nhân quay đầu lại nói điều gì đó với người theo hầu, vừa hé môi ra đã lộ chiếc răng sún, làm cho bốn chàng tan hết ảo mộng”. Có nàng thì trên gương mặt đẹp có một vết sẹo dài, có nàng kiêu kỳ thanh thoát nhưng lại mang theo ba đến bốn đứa con, giả vờ như không quan tâm gì đến chúng. Cuối cùng bốn chàng mới tìm được vị phu nhân Osan, được mệnh danh là Tân Komachi mà “chỉ về sau người ta mới hiểu ra rằng biết bao tai ương ẩn giấu dưới cái sắc đẹp yêu kiều ấy”. Nàng là vợ của một viên quan làm lịch. Trong suốt ba năm từ ngày về nhà chồng Osan phục vụ tận tình chu đáo. Nhưng rồi viên quan có công chuyện phải lên Edo. Phụ thân Osan lo lắng cho sức khỏe con gái mình nên mới chọn một chàng trẻ tuổi là Moemon đến phụ giúp. Người hầu gái của Osan là Rin có tình ý với Moemon nhưng không biết chữ nên nhờ Osan viết thư giùm mình. Moemon trả lời lại rất xấc xược. Vì tức giận thay cho Rin, Osan lên kế hoạch hẹn Moemon đến gặp Rin vào đêm mười bốn tháng Năm. Kế hoạch sắp đặt là Osan sẽ thay chỗ của Rin, cho mấy người hầu gái cầm đèn và gậy gộc chờ sẵn, khi nghe nàng kêu thì chạy đến ngay. Nhưng không may là cả Osan và đám đầy tớ vì quá mệt mỏi nên đã thiếp ngủ đi hết. Moemon tìm đến ân ái rồi quay về mà cứ tưởng đó là Rin. Osan thức dậy phát hiện sự thật bẽ bàng. Nàng quyết định gặp Moemon thú nhận hết tất cả rồi từ đó “đôi tình nhân bắt đầu chơi trò chơi sinh tử – trò chơi nguy hiểm nhất trong tất cả các trò chơi”.

Trước hết hai người giả vờ đã tự tử chết rồi đưa nhau về quê bắt đầu lại cuộc sống mới. Chồng của Osan cư xử với nàng như với một người vợ hiền đã mất. Ông lập bàn thờ và gọi các nhà sư đến tụng kinh siêu độ cho nàng. Gần đến lễ hội tháng Chín có người bán trái lật ghé thăm nhà chồng Osan và nói rằng mình có thấy một người giống hệt phu nhân sống cùng một chàng trai trẻ sống ở làng Kirito. Chồng cũ Osan đến bắt hai người và xử tội chết.

Truyện “Nàng Osen đa tình” cũng có một kết thúc đầy bi thảm. Nàng Osen là người hầu gái cho một phu nhân giàu có, sống trong một cơ ngơi đồ sộ gần khu Tenma. Có nhan sắc, được nhiều người để ý nhưng Osen chưa hề biết đến yêu đương. Trong khi đó có một chàng thợ mộc tương tư Osen mê mệt. Được bà mối Nanny giúp đỡ, hai người đến được với nhau. Đôi vợ chồng sống với nhau rất hòa thuận, hạnh phúc. Nhưng chỉ vì lòng ghen của bà vợ Chozaemon, một người chế men rượu vu oan cho Osen có tình ý với chồng mình mà Osen cảm thấy chua cay đến mức quyết định ngủ với Chozaemon thật sự “để dạy cho con mụ đàn bà ấy một bài học”. Vào ngày lễ hội tháng Giêng, Chozaemon theo Osen về nhà. Khi hai người chuẩn bị ái ân thì người thợ mộc thức dậy. Chozaemon vội vàng ném quần áo chạy thoát thân còn Osen thì tuyệt vọng lấy lưỡi bào thợ mộc đâm ngập tim mình mà chết.

Truyện kết thúc trong bi kịch và có thể mượn lời trong truyện “Nàng Osen đa tình” để tóm tắt lại ba câu chuyện tiêu biểu trên của “Năm người đàn bà si tình” như sau: “Tên họ được kể lại trong vô vàn bài hát, bài thơ truyền tụng đến các vùng rất xa với lời cảnh cáo: “Thế giới này nghiêm khắc và tội lỗi không bao giờ thoát khỏi bị trừng phạt”.

Hai nhà văn Saikaku và Ueda sống cùng thời, viết truyện tuy khác thể loại nhưng lại chung một chủ đề về lòng ham mê sắc dục và kim tiền của con người. Cả hai tác phẩm “Vũ nguyệt vật ngữ” và “Năm người đàn bà si tình” đều dạy cho chúng ta những bài học đau xót về sự buông thả của con người trước cám dỗ cuộc đời. Đặc sắc của hai tác phẩm là ngoài kể chuyện còn đưa vào thêm những lời bình nhận xét khi thì bông đùa, khi thì mỉa mai, lúc lại thở than thương tiếc, lúc lại thâm trầm sâu sắc trải đời làm cho những câu chuyện được kể thành đa thanh, sống động.

Chẳng hạn chuyện “Hẹn mùa hoa cúc”trong “Vũ nguyệt vật ngữ” nói về võ sĩ Akana để giữ trọn lời hứa trở về thăm người em kết nghĩa Samon vào ngày hội hoa cúc ngày chín tháng Chín đã tự sát vì “con người ta một ngày không thể đi được ngàn dặm nhưng một hồn ma thì trong một ngày dễ dàng vượt qua” trong tập “Vũ nguyệt vật ngữ” được mở đầu thế này: “Cây liễu mơn mởn xanh tươi vào mùa xuân, chớ trồng nó trong vườn! Lá liễu sớm xanh tốt vào mùa xuân nhưng bản thân liễu có chống nổi làn gió thu đầu mùa không? Người không kiên định dễ kết thân nhưng tình bạn chẳng được bao lâu. Mỗi khi xuân về liễu lấy lại sắc màu, còn kẻ không kiên định thì khi đã đoạt tuyệt bạn bè không một lời thăm hỏi”[4] và câu kết thúc lại nhấn mạnh: “Quả là không nên kết thân với những kẻ không kiên định.”

Còn trong truyện “Nàng Oshichi si tình” của Saikaku thì có những nhận xét thâm thúy như sau: “Ở trên đời này ta đâu có bất cẩn được. Khi đi đâu xa, ta phải giấu tiền trong lưng cho kín đừng để ai thấy. Đừng đưa dao cho người say rượu, và nhất là đừng để con gái mình cho một thầy tu thấy, cho dù ngài có vẻ thoát tục đến đâu đi chăng nữa” hay “định mệnh là vô thường mà cũng không gì tàn nhẫn cho bằng”…

Ngoài sự liên hệ với nhau về sắc dục ái tình, hai tác phẩm này còn chung một điểm là đều được một trong ba đạo diễn lừng danh nhất của Nhật là Mizoguchi Kenji (hai người kia là Kurosawa Akira và Ozu Yasujiro) dựng thành phim. Phim “Vũ nguyệt vật ngữ” lấy hai truyện trong tập là “Ngôi nhà trong bãi sậy” và “Con rắn tà dâm” phát hành năm 1953. Còn “Năm người đàn bà si tình” được quay lần đầu năm 1948, còn lần thứ hai năm 1954 do chính tay đạo diễn Mizoguchi Kenji dựng phim.

Bản chất con người ở đâu và ở thời nào cũng đều vậy. Có phải thế chăng mà văn chương khắc họa biến chuyển tâm lý con người dù thời đại nào hay quốc gia nào cũng đều gây cho chúng ta những ấn tượng sâu sắc? Có chăng khác biệt là cách diễn đạt mà thôi. Cả hai tác phẩm trên đã cho chúng ta thấy sự đau khổ vì ái tình trong cõi đời vô thường phù thế. Vậy làm thế nào để giải thoát đây? Nếu như có thể rút ra một bài học sâu sắc nhất từ hai kiệt tác trên có lẽ là bài học về sự kiềm chế lòng tham dục. Xin gửi tặng quý độc giả một câu trong kinh Pháp Cú mà chúng tôi mượn làm lời kết cho bài viết này: “Ở thế gian này nếu hàng phục được ái dục khó hàng phục, thì sầu khổ tự nhiên rụng như nước giọt lá sen.”[5]

Sài Gòn, tháng 10/2015
Hoàng Long

TÁC GIẢ
Theo những tài liệu hiếm hoi còn sót lại, người ta được biết Ihara Saikaku (1642 - 1693) không những là một nhà viết tiểu thuyết tiếng tăm mà còn là một thi sĩ lừng lẫy của thời đại ông sống, đồng thời cũng là nhà viết kịch và người bình luận về sinh hoạt sân khấu Nhật Bản.

Người ta không biết gì nhiều về thuở thiếu thời cũng như những ngày cuối cùng của đời ông. Chỉ biết ông sinh tại Osaka năm 1642. Vợ ông mất sớm, để lại cho ông một đứa con gái mù lòa và cũng chết sau đó vài năm. Những nỗi đau khổ trong cuộc đời riêng đó không làm ông rút lui khỏi cuộc sống, cạo đầu xuất gia như cách ứng xử của phần đông người Nhật đương thời, trái lại ông biến chúng thành lòng say mê đi và viết. Từ những tác phẩm của ông, người ta có thể khẳng định rằng việc ông đi và sống khắp nước Nhật đã đem lại cho ông một kiến thức vô cùng phong phú về từng con người, từng địa phương Nhật Bản.

Ông bắt đầu được giới văn chương chú ý khi trở thành môn đồ chủ chốt của trường phái thơ Darin ở Osaka. Cũng từ nơi đây, ông chịu ảnh hưởng của phong trào thơ tự do, chống lại những quy luật, những hình thức cứng cỏi của thi ca truyền thống. Ông chủ trương mở rộng đề tài và chủ trương đọc thơ bằng một giọng đọc tự nhiên, không cách điệu. Những bài thơ của Saikaku lấy cảm hứng và đề tài từ cuộc sống thường nhật của thị dân Nhật Bản đã khiến cho nhà thơ Basho (Ba Tiêu) nổi tiếng đương thời đánh giá là tầm thường, kém hứng khởi, nhưng cũng chính những bài thơ này đem lại cho Saikaku tiếng tăm rộng rãi ở Osaka. Vào tuổi ba mươi sáu, theo người ta truyền tụng, ông đã sáng tác một ngàn sáu trăm bài haikai liên tục và vào tuổi bốn mươi ba, trong một buổi trình diễn suốt một ngày một đêm, cũng theo người ta truyền tụng, ông đã đọc liên tục hai mươi ba ngàn năm trăm đoạn thơ của mình. Có lẽ cũng từ đó mà ông mang biệt danh Ni man Okina – Nhị Vạn Lão Sư – biệt danh nói lên sức sáng tác đặc biệt của ông.

Cũng vào thời gian này, Saikaku quay sang viết tiểu thuyết, tuồng và ghi lại những nhận xét của mình về hoạt động sân khấu Nhật Bản. Ông thường viết về những diễn viên trẻ đương thời, về những nét đặc biệt trong cuộc đời của họ. Nhưng chính trong lĩnh vực tiểu thuyết mà Saikaku đã trở thành khuôn mặt nổi tiếng của lịch sử văn học Nhật Bản, vì nó phản ánh đặc sắc tâm lý thị dân Nhật thời đại đó.

Bước vào thời cận đại – thương nghiệp và cùng với đó là đô thị phát triển – Kyoto, Edo, Osaka,… trở thành những trung tâm kinh tế quan trọng, nhất là từ khi Sứ quân Hideyoshi chọn Osaka làm thủ đô năm 1583. Từ những đô thị này, nhất là từ Osaka, phát sinh một tầng lớp thị dân đông đảo và từ tầng lớp thị dân này nảy sinh một thế giới quan mới, một thế giới quan hướng về một cuộc sống giàu có, hạnh phúc, cuộc sống mà nước Nhật Bản thời Trung đại đã biết. Giờ đây, ngược lại với Bushi-do (đạo của võ sĩ) vốn phổ biến rộng rãi khắp nước Nhật phong kiến dưới ách Sứ quân, là Chomin-do (đạo của thị dân) mà trong đó điểm nổi bật là lòng khao khát đi tìm hạnh phúc cá nhân trong tình yêu. Là người phát ngôn của tầng lớp thị dân đó, Saikaku đã thể hiện trong tiểu thuyết của mình không phải những hiệp sĩ ước lệ, những tiết phụ khuôn sáo mà là những thương nhân, những người bán hàng rong, nhà nghệ sĩ, người hành khất, những chàng trai và nhất là những phụ nữ, từ những tiểu thư khuê các cho đến các cô gái làng chơi, tất cả đều là những con người đích thực. Những con người đang yêu hoặc khao khát đi tìm một tình yêu, đi tìm một cuộc sống hạnh phúc không phải ở đời sau mà ngay chính trong cuộc đời trần thế này của họ.

Nếu cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Saikaku – cuốn Người đàn ông si tình – được đánh giá là tác phẩm hiện thực nhất của ông thì cuốn Năm người đàn bà si tình được công chúng xem là đầy chất tưởng tượng và thơ mộng hơn. Dầu là hiện thực hay thơ mộng, những tác phẩm của Saikaku phần lớn đều chấm dứt bằng số phận bi thảm của các nhân vật trong truyện: kẻ chết, người quyên sinh, kẻ thì phải xuất gia… Bởi lẽ tầng lớp thị dân Nhật Bản thời đó, dù đông đảo, vẫn chưa phải là một lực lượng độc lập; ngược lại, họ vẫn là một lực lượng phụ thuộc bên cạnh tầng lớp thống trị là giai cấp phong kiến. Thực trạng đó được phản ánh vào văn học bằng sự thất bại, bằng kết cục bi thảm của cá nhân trên con đường chinh phục hạnh phúc, chinh phục tình yêu. Những cuộc hành trình đó luôn luôn được thuật lại một cách ngắn gọn, cô đọng và đặc sắc bằng một giọng văn cố tình làm ra hững hờ để che giấu niềm cảm thông, hoặc đôi khi dí dỏm để che giấu nỗi đau xót của một chứng nhân thời cận đại Nhật Bản – Ihara Saikaku.

PHẠM THỊ NGUYỆT



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 02.08.2018, 22:31
Hình đại diện của thành viên
☆~ Số 15 ca ~☆
☆~ Số 15 ca ~☆
 
Ngày tham gia: 14.10.2015, 23:36
Bài viết: 2913
Được thanks: 2063 lần
Điểm: 7.48
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Văn học Nhật - Tập truyện ngắn] Năm Người Đàn Bà Si Tình - Ihara Saikaku - Điểm: 10
Chuyện về nàng Oshichi si tình

Một năm mới tối tăm cho những cặp tình nhân mới

Cơn gió mùa đông dữ tợn thổi từ Đông Bắc xuống và những đám mây di chuyển vùn vụt trên bầu trời u ám tháng Chạp. Mọi người bận rộn chuẩn bị năm mới. Ngoài cửa hiệu làm mochi[6], tiếng chổi tre kêu xoành xoạch. Các đĩa cân thì nhẵn bóng lên bởi được dùng quá nhiều. Đường phố đầy người bán hàng rong, rao bán củi dầu, trái thông, lạt khô hoặc những con tôm hùm khổng lồ. Quả thật, vào mùa cuối năm, thương nhân đâu có nghỉ ngơi được chút nào.

Vào nửa đêm Hai mươi tám Tết, một vài ngôi nhà trong khu phố phát hỏa, cảnh hỗn loạn diễn ra. Người ta kéo vội những hòm xiểng nặng nề ra khỏi những tòa nhà đang bốc cháy. Rồi những đồ đạc khác thì nhét vào gùi, xách, đeo lên lưng chạy ra, còn những đồ vật nhẹ hơn thì ném đại qua cửa nhà kho. Những thứ khác thì chỉ một lát sau biến thành tro cả. Như khi cánh đồng bốc cháy, con chim trĩ lo đến đàn con nó trước hết, những người bị nạn cũng lo tập trung con cái đang chạy nhốn nháo trong cơn hỗn loạn. Lòng nặng trĩu, họ kéo đến nhà bạn bè tá túc.

Khu Hongo ở Edo có một người làm nghề bán trái cây tên là Hachibei – xưa vốn thuộc dòng quyền quý – có một đứa con gái tên là Oshichi, mười lăm tuổi, đẹp như hoa, dịu dàng như ánh trăng. Thật phải lấy làm tiếc rằng, nàng không sinh ra ở thời Narihira, bởi con chim xanh miyako[7] đã không tìm nổi cho chàng một người phụ nữ đẹp đến như vậy. Dẫu sao thì phải nói rằng vào thời này, Oshichi là người mà tất cả đàn ông đều thèm muốn.

Đêm đó, khi ngọn lửa lan tới nơi họ ở, mẹ của Oshichi đem nàng đến một ngôi chùa trong vùng – chùa Kichijo – là nơi họ thường đến lễ từ nhiều năm nay. Hai mẹ con tạm trú ở đó. Nhưng không phải chỉ có họ đến tị nạn mà thôi. Phòng sư trụ trì đầy người đến tị nạn. Tiếng trẻ sơ sinh khóc vang trong phòng, mấy bà tự trải quần áo ra phơi ngay trước tượng Phật. Người ta nằm la liệt trên sàn, người này gối đầu lên thân người kia. Nhiều bà vợ bước đại qua đầu chồng. Đến sáng hôm sau chiếc thùng đựng chuông chùa biến thành chậu giặt quần áo, còn những tách trà lớn thì được lấy làm chén ăn cơm. Tuy nhiên, đức Phật đã từ trên cao nhìn xuống, với một nụ cười bao dung, hỉ xả.

Bà mẹ để mắt trông chừng Oshichi, bà dặn: “Đời này hay lừa đảo lắm, ngay cả trong giới thầy tu đi nữa. ”Và tuy cẩn thận thế, bà vẫn không gặp may.

Đêm nọ, một cơn mưa dữ dội ập đến làm những người tị nạn cực kỳ khốn khổ. Thương hại họ, nhà sư trông coi đồ đạc trong chùa đem hết quần áo, vải vóc dư trong chùa cho dân chúng mượn. Trong số đó có một bộ áo dài phụ nữ bằng lụa đen, thêu lá và hoa, với một đường chỉ đỏ chạy quanh thân dưới, giống như một lối đi bao quanh ngọn núi. Hình thêu đó đối với Oshichi dường như có một ý nghĩa đặc biệt. Nó càng tăng thêm vẻ huyền ảo bởi mùi trầm hương thoang thoảng trong chùa.

“Không biết đó là của cô gái nào đã rời bỏ thế giới này, để lại cho đời sau nhìn ngắm? Cô gái này có lẽ cũng cùng tuổi với mình, thế mà bất hạnh thay! Mình không biết nàng, nhưng chắc số phận của nàng cũng là số phận của kẻ hồng nhan. Cuộc đời chẳng qua là một giấc mộng, chẳng có gì là đáng giá, chỉ có sự giác ngộ, chỉ có cuộc đời sau là thực mà thôi.”

Lòng sầu não, Oshichi bèn mở xách của mẹ lấy ra chuỗi tràng hạt cầm tay. Nàng tụng đi tụng lại kinh Liên Hoa. Nhưng đang lúc niệm kinh thì nàng bỗng chú ý thấy một thiếu niên võ sĩ, một tay đang cầm cây nhíp bạc, cố gắng nhổ một cái dằm cắm đâu đó nơi ngón cái của bàn tay phải. Dưới ánh hoàng hôn chập choạng, chàng ta loay hoay mãi mà không nhổ được.

Bà mẹ Oshichi thấy vậy không chịu được, bảo chàng ta lại gần để bà nhổ hộ. Bà cầm cây nhíp và cố gắng một lúc cũng không tìm được cái dằm, vì bà đã lớn tuổi, mắt cũng chẳng trông rõ gì.

Thấy mẹ mình và chàng trai cực nhọc như vậy Oshichi nghĩ rằng cần phải có một đôi mắt trẻ, khỏe như mắt nàng mới thấy được cái dằm. Tuy nhiên, nàng còn ngần ngại không chạy đến giúp họ.

May thay, mẹ nàng gọi. Cầm lấy cái nhíp, nàng nhổ được cái dằm ra làm anh hết đau ngay. Nhưng bây giờ thì ý tưởng của chàng trẻ tuổi chỉ tập trung nơi người nhổ dằm chứ không phải nơi chính cái dằm nữa. Chàng xúc động nắm chặt lấy tay nàng. Cũng như chàng, nàng không muốn bỏ đi, nhưng sợ mẹ đang nhìn, cả hai đành phải chia tay.

Oshichi đi vài bước, cố ý giữ cái nhíp bạc trong tay. Một lúc sau, nàng bảo mẹ: “Ồ, con phải trả cái nhíp lại cho người ta.” Nàng chạy theo và nắm chặt tay anh. Thế là anh hiểu nàng cũng đang trong tình trạng xao động như anh…

Từ đó, Oshichi tơ tưởng hoài đến anh. “Chàng trai trẻ đó là hạng người nào vậy?” Một hôm, nàng hỏi vị sư trông nom phòng trai.

“Đó là ngài Onogawa Kichisaburo, con nhà dòng dõi và là một hiệp sĩ không phục vụ cho lãnh chúa nào. Ngài ấy là một người dịu dàng, đa cảm.”

Nghe vậy, Oshichi càng nghĩ nhiều hơn về Kichisaburo. Nàng viết thư và bí mật gửi cho anh. Cuối cùng có người đến thay anh trả lời. Thư này qua thư khác, bày tỏ lòng khao khát của đôi bên, cho đến khi họ yêu nhau hoàn toàn. Nhưng yêu bằng thư từ thì đâu có đủ. Họ chưa gặp được nhau, chưa yêu nhau thật sự thì thế giới này đối với họ vẫn ảm đạm vô cùng.

Đêm Ba mươi Tết trôi qua. Mặt trời lại mọc lên như một hạt kim cương. Năm mới rực rỡ – mọi người, mọi vật tưng bừng. Nhưng riêng với những kẻ mới yêu nhau mà phải nằm tách biệt nhau thì có gì là xuân đâu. Rồi những ngày Tết qua đi, người ta nhổ nêu và chấm dứt lễ tiết. Đó là những ngày trống rỗng, vô vị đối với những đôi tình nhân bị ngăn cách.

Trong tiếng sấm mùa xuân

Từ Yanagiwara, nơi cơn mưa mùa xuân đang rắc những hạt nước trong như ngọc xuống những cành liễu xanh mướt, một người đàn ông đến gõ cửa nơi cổng chùa vào đêm hôm mười lăm, đánh thức các nhà sư dậy, báo tin: “Hachizaemon, người bán gạo, vốn bệnh đã lâu, vừa mới qua đời tối nay. Thân nhân người chết muốn chôn cất ông ta ngay tối nay.”

Đó là một công việc cần đến nhà chùa nên các nhà sư phải lo dậy để sửa soạn tiến hành tang lễ. Không đợi trời bớt mưa, các nhà sư lấy dù che và rời chùa ngay. Trong chùa chỉ còn lại một bà già nấu bếp đã bảy mươi tuổi và một chú tiểu mười một, mười hai tuổi cùng một con chó lông xù đỏ. Cả hai, cũng như những người tị nạn tại chùa, đều lắng nghe tiếng gió rít qua rặng thông, sợ hãi nghe tiếng sấm kinh hồn của tháng Giêng đang rung chuyển mặt đất. Bà già nấu bếp lấy một ít đậu khô vãi ra để xua đuổi ma quỷ trong ngày Tết theo tín ngưỡng cổ truyền, rồi chui hẳn vào chái sau nằm.

Bà mẹ Oshichi cũng lo lắng cho con gái: “Con hãy cẩn thận, trùm khăn lên đầu, khi nghe tiếng sấm thì nhớ che tai lại.” Phụ nữ khi sợ hãi thì sẽ làm đủ chuyện.

Nhưng Oshichi thì khác, nàng nghĩ rằng đây là dịp rất tốt để gặp Kichisaburo. “Đêm nay hoặc không bao giờ.” Nàng quyết định thế và nói với người chung quanh: “Tại sao lại phải sợ tiếng sấm nhỏ nhoi đó nhỉ? Tôi sẵn sàng chết trong ngọn lửa. Tôi không còn lo lắng cho đời sống của mình nữa.”

Mấy người hầu gái nghe vậy cho rằng nàng làm phách thế thôi, thật ra Oshichi cũng chẳng gan dạ gì hơn những người đàn bà khác, vì thế họ cười nhạo nàng.

Đêm khuya dần, mọi người đi ngủ và không còn nghe tiếng mưa rơi trên mái chùa nữa. Khi tất cả lặng yên và ánh trăng xuân chiếu xuyên qua cánh cửa chớp, Oshichi chui ra khỏi phòng, gót chân ngập ngừng không biết đi về hướng nào. Đột nhiên, chân nàng giẫm phải một người nào đó đang ngủ giữa sàn nhà.

Sợ thất thần, Oshichi suýt té nhào. Nàng không thốt một lời, hai tay chắp lại chực cầu nguyện, nàng ngạc nhiên thấy người nằm ngủ không quát lên hoặc làm ầm ĩ.

Thu hết can đảm, Oshichi cúi người nhìn kỹ, thì ra đó là người tớ gái Mume.

Oshichi bước qua người cô ta, Mume đột nhiên nhổm dậy và níu lấy áo nàng, làm nàng suýt đứng tim một lần nữa.

Oshichi tự hỏi, chẳng biết cô ta có ngăn mình lại không. Không, may thay, cô ta chỉ đưa chiếc khăn cho Oshichi rồi ngủ tiếp.

Nhẹ nhõm cả người, Oshichi tiếp tục lần ra chỗ các nhà sư ở, nhưng không thể tìm ra nơi người yêu ngủ. Thất vọng, nàng đi lần xuống bếp, thấy bà đầu bếp già đã thức, đang càu nhàu mấy con chuột quấy phá. Bà đang bận rộn với một nồi nấm, một thùng bột đậu nành. Bà chợt thấy Oshichi. Bà vỗ lên lưng nàng và nói thẳng: “Kichisaburo ngủ nơi phòng nhỏ của chú tiểu đấy.”

Không thể ngờ rằng bà bếp lại tốt với mình như vậy, Oshichi cảm thấy yêu bà già vô cùng. Nàng nghĩ: “Trong chùa mà lại có người tốt như vậy nhỉ?” và gỡ chiếc khăn ra khỏi đầu, nàng đi về phía căn phòng nhỏ.

Hẳn đã gần đến canh ba rồi, bởi tiếng chuông vang lên khắp chùa, nhắc chú tiểu thắp hương nơi bàn thờ Phật. Thế là chú tiểu thức dậy, thắp hương, đốt trầm. Chú ngồi chỗ bàn thờ một hồi lâu. Thời gian này đối với Oshichi thật dài vô tận vì nàng đang nóng ruột băng qua đó để vào phòng ngủ. Đột nhiên Oshichi nảy ra một ý, nàng kéo xõa tóc bù xù, nhăn nhó mặt mày làm quỉ, tiến lại gần dọa chú tiểu. Nhưng, dẫu còn trẻ đã thấm nhuần tinh thần đại hùng của đức Phật, chú tiểu dễ gì sợ hãi.

“Chị hẳn là một mụ đàn bà điên, đầu tóc rối bời, đi nhông ngoài đường. Chị muốn phá chùa hả? Được, cứ đợi các thầy về rồi muốn gì thì muốn. Giờ thì cút đi!” – Chú tiểu nghiêm khắc ra lệnh, ánh mắt chẳng có vẻ sợ hãi chút nào.

Oshichi thảng thốt lùi lại nhưng rồi lại tiến tới gần chú tiểu: “Tôi chỉ muốn chú dẫn tôi vào phòng ngủ của chú mà thôi.”

Chú tiểu bật cười: “Ý chị muốn kiếm Kichisaburo chứ gì? Chúng tôi vừa ngủ với nhau thật đấy,” vừa nói vừa vén vạt áo lên làm chứng. Vạt áo còn thoang thoảng mùi hương trầm.

“Đừng! Tôi không còn chịu nổi nữa đâu,” nàng thở một tiếng dài và vẹt lối băng về phòng ngủ.

Chú tiểu chắn trước nàng, la lớn: “Ê, Oshichi tìm trai đấy.”

Hết hồn, Oshichi van nài chú im lặng: “Chú muốn bất cứ cái gì tôi cũng xin hứa sẽ mua cho chú.”

“Thế thì, xem nào, tôi nghĩ rằng không có gì tôi thích cho bằng mười đồng tiền mặt, một bộ bài và năm cái kẹo manju đấy.”

“Mấy thứ đó dễ có lắm. Ngay sớm mai tức thì tôi sẽ gửi cho chú,” nàng hứa.

Chú tiểu bèn bỏ đi và nghĩ: “Sáng sớm mai mình sẽ có ba thứ đó. Chắc chắn có.”

Thế là Oshichi có thể buông mình cho ham muốn. Nàng háo hức nằm xuống bên cạnh chàng Kichisaburo đang ngủ.

Chàng giật mình thức giấc khi Oshichi kéo vạt áo ngủ chàng đang trùm trên mặt xuống.

“Sao chàng để tóc rối tung như vậy?,” nàng kêu.

“Tôi sợ Sư cụ lắm,” Kichisaburo van nài.

“Thì chính em cũng sợ Sư cụ nữa.”

Đột nhiên, cơn mưa dịu bớt và một tiếng sấm rền vang lên trong đêm tối.

“Ôi, dễ sợ quá.” Oshichi kêu lên và ôm chặt lấy Kichisaburo và thế là việc yêu đương trở nên tự nhiên, dễ dàng hơn.

“Tay chân em lạnh lắm,” Kichisaburo nói và siết nàng chặt hơn.

Oshichi hờn dỗi: “Thư chàng viết cho em thì có vẻ chàng yêu em lắm đấy. Thế mà để thân thể này lạnh lẽo thì tại ai?” Rồi nàng cắn mạnh vào cổ chàng.

Nhưng ngày đã rạng, chuông chùa vang inh ỏi, cơn gió xào xạc thổi qua rặng liễu trong sân chùa.

“Thật buồn. Ta chưa có thì giờ để sưởi ấm chiếc giường này thì đã phải chia tay rồi. Trần gian này rộng lắm, chẳng lẽ không có một xứ sở nào mà đêm kéo dài mãi mãi sao?”

Thật là hy vọng hão huyền, chẳng an ủi họ chút nào khi bà mẹ của Oshichi đột ngột xuất hiện để tìm con gái mà bà biết vắng mặt đêm rồi. Khi bà kéo Oshichi đi, Kichisaburo buồn thảm, tuyệt vọng, tim tan nát, y như chàng tình nhân Narihira thời trước khi bị ác quỉ dùng móng vuốt cướp mất người yêu của mình mang đi trong đêm mưa bão.

Chú tiểu không hề quên lời hứa của Oshichi hôm trước, dọa: “Nếu chị không cho tôi ba thứ như đã hứa, tôi sẽ nói cho mọi người biết hết chuyện đêm qua.”

Bà mẹ ngừng lại một lúc: “Tôi không biết chú nói chuyện gì, nhưng nếu Oshichi đã hứa cho chú cái gì thì tôi sẽ cho chú.” Rồi bà bỏ đi.

Một bà mẹ mà có con gái phóng đãng thì đâu thể cho mọi người biết chuyện được. Mẹ Oshichi biết con mình có nguy cơ bị tai tiếng, nên ngay sáng đó bà ra chợ mua mấy món đồ chú tiểu yêu cầu.

Nơi trú ẩn êm đềm trong đêm bão tuyết

Ở trên đời này ta đâu có bất cẩn được. Khi đi đâu xa, ta phải giấu tiền trong lưng cho kín đừng để ai thấy. Đừng đưa dao cho người say rượu, và nhất là đừng để con gái mình cho một thầy tu thấy, cho dù ngài có vẻ thoát tục đến đâu chăng nữa.

Bà mẹ Oshichi hẳn nhiên là biết rõ điều này khi bà lôi con gái ra khỏi chùa để về nhà, tách rời đôi trẻ đang khổ đau. Nhưng nhờ một người hầu gái tốt bụng, họ vẫn chuyền lén thư từ cho nhau, ít ra cũng chia sẻ được nỗi nhớ nhung. Thế rồi, một đêm nọ có một cậu nhà quê, rõ ràng là từ vùng quanh Idatashi đến, mang theo rổ nấm và phất trần bán kiếm sống qua ngày. Oshichi gọi cậu ta vào nhà, mua một ít nấm cho mẹ. Đêm đó tuyết rơi, mặc dầu là vào mùa xuân, nên cậu con trai không quay về nhà được, vì nhà xa quá. Chủ nhà thấy tội nghiệp cho cậu, mới bảo cậu ở lại trong một góc sân cho qua đêm để sáng sớm mai trở lại nhà.

Cậu ta trải chiếc chiếu rơm ở góc sân, đầu úp chiếc nón tre, phủ lên mình chiếc áo tơi bện bằng rơm, cậu nằm xuống ngủ qua đêm. Nhưng gió thổi mạnh quanh nơi cậu nằm, nền đất thì lạnh thấu xương. Một hồi sau, cậu thở khò khè, mắt mờ đi vì lạnh.

Oshichi thấy vậy, kêu lên: “Tội nghiệp cậu ta, cho cậu ta cái gì uống đi, một miếng nước nóng vậy!”

Thế là Mume, bà đầu bếp, rót một ít nước nóng cho người tớ trai là Kyushichi mang đến cho cậu.

Cậu ta thì thào cám ơn.

Trong bóng tối, người đầy tớ trai chăm chú nhìn cậu nhà quê, đưa tay gạt lọn tóc trước trán cậu: “Trông cậu hẳn là sống ở kinh thành. Sao mà ra nông nỗi này?”

“Nhưng từ bé đến lớn tôi ở thôn quê mà. Tôi không biết gì ngoài việc đốn củi và kéo cây cả.”

Kyushichi bèn sờ chân cậu: “Thế mà bàn chân cậu không nứt nẻ và nổi chai gì nhỉ. Nào giờ thì đưa miệng cho tôi xem nào?”

Anh đầy tớ cúi người chồm tới trên mình cậu ta thì cậu nghiến chặt răng, nước mắt giàn giụa, trông hết sức khổ não. Anh ta thấy vậy bèn thôi không gạn hỏi nữa.

Lúc đó đã là giờ đi ngủ. Chủ nhà bảo đầy tớ soi đèn, khóa cửa. Mẹ Oshichi đóng chặt cửa phòng con gái. Trộm của, trộm tình đều không thể đột nhập được.

Nhưng, nửa đêm thì chuông cổng réo, người ta báo tin cháu gái của chủ nhân, ở gần đó, vừa sinh một bé trai. Thế là cha mẹ Oshichi choàng dậy, vội vã khoác áo choàng ngoài, rồi ra khỏi nhà, đem theo một bình nước cam thảo để tắm cho đứa trẻ sơ sinh, sau khi dặn cô con gái đóng cửa cẩn thận.

Oshichi đóng cửa, toan quay trở lại buồng ngủ thì chợt nghĩ đến cậu nhà quê. “Thắp cho tôi cây nến,” nàng bảo một người tớ gái, rồi đi ra sân tìm cậu con trai.

Cậu nằm trơ trọi trên nền đất lạnh, trông mới cô đơn và tội nghiệp làm sao.

Người tớ gái nhận xét: “Cậu ta khá rồi, thôi tiểu thư để cậu ta yên.”

Nhưng Oshichi vờ như không nghe cô hầu gái nói. Nàng bước lại gần đủ để cảm nhận mùi hương thơm tỏa ra từ áo lót của cậu con trai. Kéo phắt chiếc áo mưa phủ trên người cậu ra, nàng đứng đó, ngắm làn tóc rối bù và khuôn mặt tuấn tú của cậu ta.

“Cậu ta bao nhiêu tuổi nhỉ?,” nàng vừa nghĩ thầm vừa lùa tay vào trong áo cậu, thấy cậu mang áo lót bằng lụa vàng quý.

Nàng thảng thốt kêu lên: “Thế là thế nào?”

Cậu trai đó chính là Kichisaburo.

“Làm sao chàng lại đến đây trong hình thù như thế này?” Nàng kêu lên, rồi ôm lấy chàng trìu mến, không kịp nghĩ rằng người ta có thể nghe thấy tiếng nàng.

Gặp nàng đột ngột, Kichisaburo không thốt nên lời. Một lúc mới nói: “Ta hóa trang thế này với hy vọng được thấy nàng trong một chốc. Nàng phải hiểu, tối nay ta chịu đau khổ vì nàng biết ngần nào.” Chàng bắt đầu kể lại mọi việc cho nàng nghe.

“Thôi, chàng vào trong nhà đã. Rồi chàng hãy kể cho em nghe tất cả những nỗi khổ nhọc của chàng vừa qua.” Nàng hỏi, nắm tay chàng dắt vào nhà.

Nhưng Kichisaburo, hồi chiều bị gió rét, yếu quá bước đi không nổi khiến Oshichi và người tớ gái phải nắm tay nhau làm cáng khiêng chàng vào nhà. Họ mang chàng vào nhà, tíu tít đem đủ thứ thuốc lại khiến chàng không nén nổi phải mỉm cười.

“Chúng ta sẽ cùng uống cạn cốc rượu tình và nói hết nỗi lòng cho nhau nghe đêm nay nhé.”

Hỡi ôi, vừa đúng lúc đó thì cha nàng về, tai họa suýt chút nữa lại rơi xuống đầu họ. Kichisaburo vội trốn đằng sau giá áo tưởng như bị bắt gặp tới nơi. May không có chuyện gì xảy ra.

Oshichi đón chào cha: “Chị Ohaisu và cậu bé khỏe chứ cha?”

“Ừ, nhờ trời mẹ tròn con vuông cả.” Cha Oshichi mừng rỡ, sung sướng khoe: “Nó là đứa cháu gái độc nhất của cha và cha lo cho nó lắm. Bây giờ mới thật nhẹ cả người.” Trong cơn hứng chí, ông vạch chương trình ngày lễ đầy tháng cho đứa bé. “Phải thêu hình Phúc, Lộc, Thọ trên áo gối bằng chỉ vàng này, phải...”

Một người tớ gái đề nghị: “Nhưng chủ nhân có nhiều thì giờ mà, để ngày mai rảnh rỗi tính cũng được.”

“Không được, không được, ta làm sớm lúc nào tốt lúc đó.” Rồi ông lấy giấy bút trải ra giữa nhà bắt đầu vẽ kiểu. Mọi người đều phát chán, nhưng phải một lúc lâu mới dỗ dành được ông đi ngủ.

Đôi tình nhân rất muốn tâm tình nhưng che chở họ chỉ có một bức bình phong, sợ mọi người nghe được. Họ bèn lấy bút mực để bày tỏ nỗi lòng cho nhau. Ái ân cũng lặng lẽ như hình những con thiên nga vẽ trên bức bình phong rực rỡ phía sau.

Bình minh đến, chia cắt họ. Đành xa nhau mà lòng không nguôi. Đời thật buồn, bởi họ không còn gặp lại nhau nữa.

Vĩnh biệt cánh hoa đào

Đêm ngày, con tim Oshichi tê tái, dù nàng chẳng mở miệng nói với ai một lời nào. Nàng cũng chẳng biết chừng nào thì gặp lại người yêu. Thế rồi, trong một đêm mưa, nàng bỗng nhớ lại cái đêm xảy ra hỏa hoạn làm nàng phải đến trú ngụ trong chùa. Và nàng nghĩ rằng một tai nạn như thế nữa sẽ đem cho nàng dịp may gặp lại Kichisaburo. Ý tưởng điên rồ này đưa nàng đến một hành động vô phương cứu chữa. Nàng châm lửa đốt nhà, nhưng dân chúng lần theo dấu khói và bắt gặp Oshichi ở đúng địa điểm gây hỏa hoạn.

Bị chất vấn, nàng kể hết mọi chuyện, không giấu giếm điều gì và chẳng bao lâu chuyện của nàng trở thành câu chuyện bi thảm nhất đương thời. Ngay ngày hôm đó, Oshichi bị dẫn đi bêu rếu khắp nơi trước công chúng: nơi cầu Kanda, trước quảng trường Shiba… Dân chúng tụ tập xung quanh, vừa thương vừa giận. Đến trời cũng không thể tha thứ cho tội lỗi điên rồ của nàng.

Còn cô gái thì chẳng có vẻ gì ăn năn day dứt nên nhan sắc không hề tàn phai. Nàng trông vẫn đẹp như xưa. Tóc vẫn mượt, khuôn mặt vẫn yêu kiều. Thì nàng đang tuổi thanh xuân mà. Nhưng ngay cả những đóa hoa xuân rực rỡ rồi một ngày kia cũng phải lìa cành, rơi xuống đất và tàn úa đi, trong khi tiếng chim cu rộn lên khúc ai ca buồn thảm: “Thế là hết, thế là hết.”

Nàng tự nhủ: “Chỉ là một giấc mơ, chỉ là một ảo vọng,” và nàng nguyện cầu đức Quan Thế Âm giải thoát. Trong tay nàng cầm một bông hoa đào nở muộn, do một kẻ nào đó vì cảm thông mà tặng cho nàng.

Nhìn cánh hoa, nàng khẽ hát: “Cõi đời này buồn biết bao. Ngày hôm nay ta sẽ rơi rụng như cánh hoa đào cuối cùng này, tiếng nhơ của ta sẽ bay theo làn gió xuân.”

Lời hát của nàng làm trĩu nặng thêm lòng của những người đứng gần nàng lúc nàng bị bức tử. Lúc bình minh, chuông ngân vang, trên đám cỏ bên vệ đường giờ đây đã vàng úa, linh hồn Oshichi từ giã cõi trần, tan vào làn khói lửng lơ trong bầu trời buổi sáng. Cái chết như làn khói của đời, đợi chờ nơi cuối mỗi con đường, không có gì chắc chắn hơn, cũng không có gì sầu thảm hơn.

Nhưng đó là chuyện ngày hôm qua. Ngày hôm nay, nơi đây tro bụi đã cuốn đi, chỉ còn làn gió reo giữa những rặng thông. Khách du hành đi ngang qua nơi này đều nghe kể lại chuyện tình của Oshichi. Ai nghe chuyện cũng đều vào cúng lễ bên mộ nàng trước khi đi. Ngay hôm nàng chết, người ta cũng đã nhặt những mảnh áo của nàng và cất giữ. Chúng trở thành nguồn cảm hứng cho vô số câu chuyện về sau. Cả những người không biết rõ Oshichi lắm cũng đến trồng những cây quế bên mộ nàng.

Còn những người lý sự thì lấy làm lạ rằng: Tại sao người tình của Oshichi lại không chịu chết theo nàng? Thế là họ bắt đầu bàn tán những điều không hay về chàng mà không biết rằng chàng vẫn chưa biết về cái chết của Oshichi, rằng chàng vẫn yêu nàng điên dại đến nỗi hóa rồ. Thật ra, chàng cũng đang gần kề cái chết và gần như đã mất trí. Bạn bè quan tâm đến chàng bảo nhau: “Nếu mình báo tin về Oshichi, có cơ may chàng sống được chăng?”

Trong lúc đó, Kichisaburo đã chuẩn bị đâu vào đó để chấm dứt cuộc đời, bởi cái chết đã gần kề. Bạn bè chàng làm chàng hồi phục bằng cách nói với chàng những tin tốt lành, bảo: “Hoặc hôm nay, hoặc ngày mai, nàng sẽ đến với anh, dung nhan y hệt như xưa.”

Nghe vậy, tinh thần chàng sống động. Chàng từ chối không uống thuốc và nói như trong giấc mơ: “Nàng đâu rồi, ta yêu nàng, sao nàng chưa đến?”

Rồi chàng vật mình than khóc. Đến tuần tang, cha mẹ Oshichi khi làm tuần xong, lên chùa van nài xin phép gặp người yêu của con gái. Người ta giải thích bệnh tình chàng, cố thuyết phục cho cha mẹ Oshichi hiểu rằng việc báo tin Oshichi chết có thể mang lại một thảm họa khác. Bạn bè chàng bảo: “Nếu Kichisaburo là một đấng nam nhi, khi nghe tin này, chàng sẽ chết theo. Thôi ta cứ giữ kín cho đến khi chàng hết bệnh. Lúc đó ta sẽ thuật lại cho chàng những lời cuối cùng của Oshichi và thay nàng nâng niu, chăm sóc chàng.”

Cha mẹ Oshichi ngậm ngùi nghe theo, dựng bia khắc tên nàng trong chùa. Bia mộ nàng luôn luôn ướt đẫm vì nước mắt người thân. Hình dáng tấm bia sao trông giống hệt Oshichi dưới đôi mắt nhòa lệ của người mẹ. Thật vô thường, bất trắc, cái cảnh người mẹ bị bỏ lại trong cõi đời này để than khóc cho cái chết bi thương của đứa con gái mình.

Đột nhiên quyết định xuất gia

Định mệnh là vô thường, mà cũng không gì tàn nhẫn cho bằng. Kichisaburo thầm nghĩ: “Nếu mình chết đi, cả mối tình và nỗi sầu não của cuộc đời này cũng dứt.”

Vào ngày bách nhật của Oshichi, chàng chồm dậy chống cây nạng tre, đi dọc trong sân chùa yên tĩnh, lần đầu tiên, sau mấy tháng nằm trên giường bệnh. Chàng chú ý thấy một tấm bia mộ mới trong chùa và khi đọc tên người ghi trên tấm bia, chàng rụng rời.

“Trời ơi! Sao không ai báo cho tôi biết cả. Thiên hạ không hiểu ta, họ sẽ trách ta sao lại chậm theo nàng.”

Chàng rút gươm, nhưng mấy vị sư kịp giữ chàng lại.

“Có thể đời sống của ngươi không còn đáng giữ nhưng còn vị thệ huynh[8] của ngươi, còn vị Sư trưởng mà ngươi phải bộc bạch hết nỗi lòng nữa chứ. Ngươi hãy hỏi Người để Người định đoạt số phận. Chính người “thệ huynh” của ngươi đã gửi gắm ngươi cho nhà chùa chăm sóc. Bây giờ ngươi phải nghĩ đến điều bất hạnh của việc ngươi quyên sinh mang lại. Dầu sao ngươi không thể để mình thành nguyên nhân cho một bi kịch khác được!”

Họ phân giải điều hơn lẽ thiệt và thuyết phục được Kichisaburo, chàng từ bỏ ý định quyên sinh. Nhưng chàng thật không còn ham muốn nào để sống trên cõi đời, chàng trình với Sư cụ như thế. Sư cụ khuyên:

“Đời con đã thề ước với người thệ huynh của con và người ấy gửi gắm con cho chúng ta săn sóc. Ông ấy hiện nay ở Matsumac, nhưng ta nghe mùa thu này thế nào cũng đến đây. Khi đó, con có thể giãi bày mọi chuyện cho ông ấy rõ. Còn từ đây đến trước khi ông ấy tới, nếu có chuyện gì xảy ra thì ta có lỗi. Gặp ông ấy rồi, con sẽ được làm theo sở nguyện.”

Chàng vốn chịu ơn Sư cụ, nay nghe Sư cụ khuyên thế, chàng phải vâng lời. Mặc dù vậy, Sư cụ cũng cất giữ thanh kiếm và cho người canh gác chàng thật kỹ. Không có chuyện gì xảy ra cho đến một ngày nọ chàng đến phòng các nhà sư bộc lộ nỗi niềm.

“Tôi còn sống thật, nhưng tôi đã chịu đựng niềm bỉ báng gớm ghê nơi tất cả mọi người. Hỡi ôi, tôi đã thệ ước với một người rồi khi gặp cô gái ấy tôi đã trở thành nô lệ của nàng. Với thệ huynh tôi mang lại niềm đau khổ, với nàng tôi mang lại nỗi bất hạnh khôn cùng. Bây giờ ai cũng bỏ rơi tôi, cả Phật, cả Thần, cả mọi người!” Rồi chàng bật khóc nức nở: “Điều tệ hại nhất là khi thệ huynh tôi trở lại đây, không có cách nào tự biện giải trước Người. Tôi phải chấm dứt cuộc đời ngay thôi, trước khi Người trở lại. Nhưng mà cắn lưỡi hay treo cổ thì người ta thấy ghê rợn quá. Xin các thầy hãy thương tôi mà trao cho tôi thanh gươm. Tôi tiếp tục sống nữa có ích gì?”

Chàng nói qua màn lệ, các vị sư thấy cảm thương quá đều lấy vạt áo chùi nước mắt. Khi song thân Oshichi nghe chuyện đó, họ bèn đến gặp chàng.

“Chúng ta đều biết cậu đau khổ thật tình, nhưng Oshichi nhiều lần đã nói trước khi chết: “Nếu Kichisaburo yêu con thật tình, chàng sẽ từ bỏ thế giới này và xuất gia. Bằng cách đó, chàng sẽ chăm sóc con khi con khuất. Con không bao giờ quên chàng. Cả trong kiếp sau, tình con với chàng cũng không bao giờ phai.””

Thấy những lời trăng trối của Oshichi vẫn không thuyết phục nổi chàng đừng quyên sinh và thấy chàng có vẻ sắp cắn lưỡi tự sát, mẹ Oshichi liền cúi mình lại gần nói nhỏ điều gì đó vào tai chàng. Bà nói điều gì không ai rõ cả nhưng sau khi lắng nghe bà một lúc Kichisaburo gật đầu.

Cuối cùng, vào mùa thu, người thệ huynh về đến chùa và khuyên giải người bạn trẻ đôi điều, kết quả là Kichisaburo đi tu. Thật buồn khi nhìn mái tóc đẹp của chàng bị cạo nhẵn! Vị sư cạo đầu cho chàng xong liền ném con dao đi. Thật giống một cơn mưa đột ngột hủy hoại một bông hoa tươi thắm đang nở rộ. Có lẽ dẫu còn sống, Kichisaburo chịu đựng một số phận ác nghiệt hơn cả Oshichi. Nói về chàng, người ta bảo đó là nhà sư đẹp nhất thế gian và mọi người nghĩ rằng đó quả là một điều rất buồn.

Thế nhưng, đối với những kẻ mà nghiệp tình đưa họ đến cửa Thiền thì rất chân thành với lời phát nguyện của mình. Bản thân người thệ huynh của Kichisaburo sau khi trở về quê cũ ở Matsumac cũng phát nguyện xuất gia.

Câu chuyện này được kể lại – đầy tình và khổ – cốt để chỉ cho thấy cuộc đời bất trắc và hư ảo dường nào, giống hệt như một giấc mộng hoang dã và hoang đường.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 11.08.2018, 01:45
Hình đại diện của thành viên
☆~ Số 15 ca ~☆
☆~ Số 15 ca ~☆
 
Ngày tham gia: 14.10.2015, 23:36
Bài viết: 2913
Được thanks: 2063 lần
Điểm: 7.48
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Văn học Nhật - Tập truyện ngắn] Năm Người Đàn Bà Si Tình - Ihara Saikaku - Điểm: 10
Chuyện về Seijuro Ở Himeji

Bóng tối là thời gian cho tình yêu, tình lấy đêm làm ngày

Xuân đến, chiếc tàu chở đầy châu báu gối đầu lên những đợt sóng êm ả trong vịnh Morutsu. Ở đây có một thương nhân chuyên cất rượu sa-kê tên là Izumi Seizaemon, giàu có, nhà không thiếu thứ gì. Trời còn ban cho ông một đứa con trai đĩnh ngộ tên là Seijuro Seijmo có vẻ đẹp dịu dàng còn vượt xa vẻ đẹp của Narihira, vị anh hùng thần thoại thường được vẽ trong các tranh cổ Nhật Bản.

Đẹp và dịu dàng với phụ nữ, Seijuro đã quen với tình yêu từ thuở mới mười ba tuổi. Ở thị trấn này số gái thanh lâu lên đến tám mươi bảy cô, thế mà chẳng có cô nào anh không biết. Thư tình viết cho anh dồn lại thành bó, móng tay mà họ cắt gửi cho anh để thề non hẹn biển cả một bao tải chứa không hết. Những lọn tóc đen các ả trao cho anh đủ bện thành một con bím dài, trói cả chục người cũng được. Hàng ngày, anh nhận hàng đống thư tình cũng như hàng đống quần áo bằng lụa quý các ả tặng anh mà anh chẳng hề mặc bao giờ. Đó là những trang phục quý giá đến nỗi có thể làm cho bất cứ thương nhân nào ở Osaka cũng thèm thuồng. Anh dồn tất cả vào một đống và viết dòng chữ trước cửa nhà: “Kho tàng trên Cõi thế.”

Nhưng trên đời này có ai lười biếng, lãng phí mà sung túc được lâu đâu. Kẻ chung quanh thấy thế lấy làm buồn cho anh và bảo: “Chẳng bao lâu cậu sẽ chẳng còn gì.” Thế nhưng dễ gì mà từ bỏ cuộc đời hoan lạc đó được, huống chi lúc ấy Seijuro lại đang si tình một cô gái làng chơi tên Minakawa bằng một nỗi niềm tuyệt vọng, một nỗi đam mê khác thường khiến kẻ chung quanh bắt đầu xì xào bàn tán.

Rồi một hôm nọ, nơi lầu xanh anh thường lui tới, anh thắp đèn dầu lên mặc dầu đêm trăng sáng, anh đóng cửa, kéo rèm để ánh sáng không lọt ra ngoài; nơi đây anh tạo ra một chốn thiên đường vô tận, một đêm hoan lạc vĩnh hằng. Anh rủ một bọn vô công rồi nghề đến giúp vui thêm cuộc chơi. Họ hò hét, bắt chước tiếng dơi kêu, tiếng gõ mõ. Mấy mụ trùm thì vừa đọc kinh Phật vừa rót trà. Họ lấy tăm đốt lên để giả làm một vụ hỏa thiêu và dưới ánh sáng chập chờn, họ tuôn ra những bài hát kể về những việc hoan lạc thường làm trong đêm. Cuối cùng, để giả làm “những hòn đảo trơ trụi” – như một người trong bọn thấy trên bản đồ, họ bắt các ả làng chơi thoát y toàn bộ, mặc dù các nàng phản đối. Trong số các nàng đang đỏ bừng mặt vì lõa lồ, có một cô gái mới vào nghề tên là Yothizaki đang cố gắng che đậy một vết sẹo trắng toát nơi đùi. Thấy vết sẹo đó, bọn đàn ông bỗng cụt hứng và họ quay ra chế nhạo ả bằng cách long trọng cúi mình chào cái vết sẹo kia. Rồi nhìn những ả khác, họ bỗng nhận thức được rằng không có sắc đẹp nào mà không có tì vết. Thế rồi dần dần cả trò chơi này cũng không còn làm họ vui thú nữa.

Đúng lúc đó cha của Seijuro như một cơn lốc giận dữ ập vào nhà, bắt gặp mọi người trong tình trạng không kịp che đậy.

Seijuro van nài cha: “Xin cha hãy tha thứ cho con lần này. Từ nay con hứa sẽ không bao giờ dám làm những điều điên khùng thế nữa.”

Nhưng cha anh hoàn toàn không cần nghe anh xin lỗi: “Ra khỏi đây và cút khỏi nhà tao.” Nói xong, ông vội vã đi mất.

Tủi nhục, buồn thảm, Minakawa và mấy ả làng chơi bật khóc. Nhưng Jisuke, một trong những chủ lầu xanh, thì không hề bối rối, ông nói với Seijuro, giờ đây chỉ còn là một người tứ cố vô thân, mất hết tài sản: “Một con người dù trần như nhộng cũng đáng giá một cái gì đó. Dù chỉ còn một chiếc khố che thân người ta cũng vẫn có thể thành công trên con đường đời. Đừng để chuyện vừa qua làm mất can đảm, anh bạn ạ.” Thế là giữa cơn sầu thảm, ông ta vẫn tìm thấy niềm vui để đãi mấy người khách một chầu rượu sa-kê. Họ uống, chẳng mấy chốc lại quên bẵng chuyện buồn vừa rồi.

Nhưng mấy người chủ lầu xanh khác thì đâu có thấy vui. Sự lạnh nhạt của họ hiện rõ. Khách vỗ tay gọi phục vụ thì không thấy tiếng thưa, đến giờ ăn cũng chẳng thấy ai mang cơm cháo gì lên cả.

Trà thì cũng có mang lên một hai tách, nhưng cũng chẳng thèm để trong khay nữa. Còn bọn đầy tớ trước khi ra khỏi phòng đã vặn đèn thật nhỏ, cho khỏi hao dầu. Rồi cuối cùng các ca kỹ cũng lần lượt bị gọi đi.

Hỡi ôi, đổi thay là luật của thanh lâu, còn sự tử tế thì phải tính bằng tiền chứ.

Minakawa, lòng tê tái, nán lại khi mấy ả làng chơi kia đã đi khỏi. Mặt cô đầm đìa lệ.

Seijuro chỉ còn biết thốt lên: “Ôi đau lòng quá.” Và anh nghĩ rằng anh chỉ có thể sống nếu Minakawa không đòi cùng đi theo anh.

Nàng đoán anh nghĩ gì, nói: “Chàng đang nghĩ đến chuyện quyên sinh. Ôi điên khùng! Mặc dầu em rất muốn nói “Cho em theo chàng,” em vẫn còn nhiều hệ lụy trong thế gian này, em không thể quyên sinh được. Trong nghề em, trái tim em nay thuộc người này mai người khác. Chàng hãy xem chuyện tình chúng ta là chuyện đã qua.” Nói xong nàng đứng dậy đi ra.

Nghe lời lẽ không ngờ, Seijuro bỏ luôn ý định quyên sinh. “Mấy ả làng chơi này mới hay thay lòng đổi dạ làm sao! Lúc nào cũng sẵn sàng tống khứ người tình cũ của mình đi.”

Mặt đầy nước mắt, anh toan đứng lên bỏ đi thì bỗng Minakawa trở lại, trang phục trắng toát, níu lấy anh: “Chàng làm sao sống được? Chàng sẽ đi đâu bây giờ? Ôi, đây là lúc nên chấm dứt tất cả!” Nàng kêu lên vậy rồi rút trong tay áo ra một cặp đoản đao.

Thấy người yêu vẫn trung thành với mình, Seijuro sửng sốt không nói nên lời. Người trong lầu xanh thấy chuyện lạ, kéo Minakawa ra và đem trả về cho chủ nàng. Còn Seijuro thì họ dẫn đến Eiko-in là đền thờ của gia đình anh. Nơi đây, Seijuro bắt đầu lại cuộc đời bên câu kinh tiếng kệ để chờ một ngày cha anh tha thứ. Tội nghiệp làm sao, mới mười tám tuổi mà đã sống cuộc đời muối dưa nâu sồng.

Những bức thư trong làn vải của chiếc khăn quàng

“Khủng khiếp quá, gọi lương y, đem thuốc lại mau.”

“Chuyện gì vậy?”

“Minakawa quyên sinh rồi.”

Trong cơn hoảng hốt không còn ai biết làm gì để cứu giúp Minakawa và thế là con tim nàng ngừng đập. Thế gian này buồn thảm như vậy đó.

Trong hơn mười ngày họ giữ không cho Seijuro biết tin. Sau nhờ có thư mẹ viết, anh mới biết. Anh quyết định vì mẹ mà tiếp tục sống. Anh trốn khỏi Eiko-in đến thành phố Himeji, nhờ những người quen biết ở đó giúp đỡ.

Họ biết anh thuộc gia đình khá giả nên đối xử tốt với anh. Được một thời gian, nghe chủ nhân tiệm Tajima-ya đang tìm một người phụ tá để trông coi giúp cửa hiệu của mình, nếu Seijuro được vào làm nơi đó thì tương lai anh rất rực rỡ. Thế là người ta giới thiệu anh, và anh bắt đầu học việc.

Seijuro làm rất tốt. Cư xử dịu dàng, nói năng tử tế, làm việc thông minh, mọi người yêu mến anh. Anh làm hết lòng, quên chuyện yêu đương, chỉ lo cải tiến nghề nghiệp. Chủ anh tin, giao hết việc cho anh. Anh làm ăn giỏi, chắc chắn sẽ là người thay thế chủ trong tương lai.

Thế nhưng ông chủ anh, Kyuemon, có một người con gái là Onatsu đã mười sáu tuổi, mặc dầu tính tình lãng mạn vẫn chưa thực sự yêu ai bao giờ. So với gái quê, hoặc ngay cả với các cô nàng xuân sắc ở Kinh đô, sắc đẹp nàng khó ai sánh nổi. Họ thường bảo sắc đẹp Onatsu còn vượt hơn cả người được xem là hoàng hậu của các nàng ca kỹ ở Shimatara, người mà trên ngực xăm đôi cánh bướm rực rỡ. Ta chẳng nên nói vì sao Onatsu lại được đem so sánh với nàng ca kỹ đó. Chỉ cần nói đến Onatsu có nhân dáng một người tình tuyệt vời là đủ.

Chuyện xảy ra vào ngày nọ, khi Seijuro đến gặp Kame, người hầu gái trưởng, đưa cho bà này chiếc khăn lụa thêu hình con rồng: “Chiếc khăn này hơi rộng, nhờ bà sửa lại hộ cho tôi nhé.”

Khi tháo đường khâu của chiếc khăn, Kame khám phá ra rất nhiều lá thư nhỏ giấu trong đó. Bà vuốt thẳng, đọc từng cái. Có đến mười bốn, mười lăm lá thư, tất cả đều gửi cho Seijuro dưới biệt danh là “chàng Kiyo”còn tên người viết thư thì khác nhau: Hanacho, Kodayu, Okashi, Koyoshi… thôi thì đủ, tất cả đều là những ả làng chơi ở Murotsu. Các nàng đều bộc lộ một niềm gắn bó thiết tha với Seijuro bằng một mối tình cao thượng và diễn đạt hết sức chân thật. Không có lá thư nào viết bằng giọng điệu yêu đương mời mọc giả tạo thường thấy nơi các ả nghề này. Lời thư thẳng thắn chân tình và nếu chỉ đọc thư không thôi, không ai có thể khinh được các ả.

Xem những lá thư này, một người phụ nữ bắt buộc sẽ nghĩ rằng hẳn Seijuro có một biệt tài nào đó, từ những ngày còn chìm đắm trong hoan lạc trước đây. Biệt tài này hẳn là được giấu kín, nhưng những cô ả này đủ gần gũi thân mật với Seijuro để hiểu về tài năng tuyệt vời mà anh có được, qua ngần ấy kinh nghiệm trong tình yêu. Dẫu sao ý tưởng đó cũng nảy ra trong trí óc của Onatsu khi nàng được Kame cho biết rành rọt về những lá thư kia.

Thế là từ đó, từ sáng cho đến tối, trái tim Onatsu quặn lại vì niềm khao khát Seijuro. Như thể hồn nàng rời bỏ thân xác để bay đến tận trên ngực người nàng mơ tưởng. Giác quan bị ám ảnh, giờ đây nàng thấy hoa xuân bị mờ đi trong bóng tối, còn ánh trăng thu cũng chẳng khác gì ánh sáng ban ngày. Mắt không còn thấy màu tuyết trắng trong buổi bình minh mùa đông, tai không còn nghe tiếng cu gáy buổi chiều mùa hạ. Quả nàng không có ý thức gì về mùa màng, thời tiết, dầu là năm mới đầu xuân hay là hội mùa hè tháng Tám nữa. Cuối cùng, Onatsu quên hết thảy. Nỗi đam mê khao khát hiện rõ trong từng ánh mắt, từng lời nàng nói.

Bọn tớ gái trong nhà thấy thế, nghĩ rằng ai rồi cũng có lúc như vậy. Họ thương Onatsu, muốn giúp nàng, nhưng khốn thay chính mỗi người cũng thấy mình yêu Seijuro mới khổ. Cô nữ tì lo việc khâu vá trong nhà thì viết cho anh một lá thư bằng máu do cô lấy kim chích tay ra… Bà quản gia viết không thông nhờ một gã gia nhân viết thư giùm, nét chữ đàn ông cứng cỏi thô lỗ không che giấu ai được. Thế mà bà ta vẫn lén nhét lá thư vào tay áo Seijuro. Cô hầu phòng thì luôn mang trà lên chỗ anh làm việc mặc dầu anh không hề yêu cầu. Chưa hết, bà vú thì giả vờ đem cho anh xem em bé, để kiếm cớ lân la đến gần anh, bất kể việc đứa bé tè ra ướt cả áo quần anh.

“Đã đến lúc cậu cũng nên có một đứa bé như thế này.” Bà vú bảo: “Trước khi đến đây ở vú, tôi cũng có một đứa con thật xinh. Nhưng ông chồng tôi thì thật chẳng ra gì. Nghe đâu giờ đây ông ta đã lên Kumamoto để học một nghề gì đó thì phải. Tôi ly dị với ông nhà tôi rồi…” Và bà nói thêm như độc thoại: “Mà tôi như thế này thì sống với ông ấy sao được….”

Còn cô đầu bếp cũng vậy, khi dọn thức ăn cho những người làm công, bao giờ cũng cố dành phần ngon nhất cho Seijuro.

Bị tấn công tình yêu tứ phương tám hướng như vậy Seijuro cũng vui, nhưng không hoàn toàn. Họ làm trở ngại công việc của anh và anh phải bận viết thư trả lời. Cuối cùng anh thấy chán, bởi giấc mơ của anh cũng bị quấy nhiễu, anh phải ngủ mở mắt.

Onatsu vẫn bền chí gửi cho anh hết lá thư thắm thiết này đến lá thư thắm thiết khác cho đến khi, cuối cùng, con tim của Seijuro nhượng bộ. Nhưng trong nhà có nhiều con mắt rình mò. Đôi tình nhân không tìm được dịp nào để gặp riêng nhau. Tình yêu bị gò bó thì thân xác lại bừng bừng. Ngày trôi qua trong nao nức căng thẳng, cho đến khi chỉ cần người này nghe được tiếng nói của người kia trong chốc lát là cũng đủ thấy hoan lạc rồi.

Nhưng hạt giống của đời luôn nằm trong cuộc sống. Đôi tình nhân biết rằng, cứ tiếp tục sống, một ngày nọ họ sẽ được gần nhau, như hai ngọn cỏ sẽ được ngọn gió vô tình kết dính lại với nhau. Người chị dâu của Onatsu, không bao giờ quên khóa chặt cửa hành lang chắn giữa nơi hai người ở.

Tối tối bao giờ bà ta cũng bảo: “Coi chừng lửa gần rơm đấy!” rồi đóng cửa lại thật mạnh, như tiếng sấm hãi hùng dội vào tai đôi tình nhân đang thao thức.

Trong tiếng trống của người múa lân

Hoa đào nở rộ ở Onoc. Các bà vợ cũng đua đòi khoe sắc, các cô tiểu thư cũng tung tăng theo các bà mẹ kiêu kỳ của mình, đi xem hoa đào thì ít mà để cho người ta xem mình thì nhiều. Ít ra thì phụ nữ ngày ấy cũng sống như vậy đấy. Họ như những mụ phù thủy có thể bỏ bùa cho bất cứ ai, kể cả con chồn tinh của lâu đài Himeji nữa đấy.

Vào một ngày xuân, phụ nữ nhà Tajina đi chơi rừng. Đám phụ nữ đi kiệu, theo sau là Seijuro trông coi việc đi chơi của các bà. Khu rừng thông xanh ngắt vào buổi đầu xuân, bãi cát đẹp mịn màng như tranh vẽ. Đám phụ nữ háo hức nhìn trẻ con trong làng đi nhặt nấm, hái hoa. Rồi họ tìm thấy một bãi cỏ xanh non, họ trải chiếu và thảm, quây màn nơi đó.

Biển và cánh đồng lặng yên. Ánh mặt trời, hoa và bướm đều kém sắc trước y phục rực rỡ của đám phụ nữ. Thế nên, một đám đàn ông du ngoạn khác đến đây đã chẳng thèm nhìn đến hoa dại mà chỉ chú mục nhìn đám phụ nữ xuyên qua bức màn, và bị hớp hồn bởi những phụ nữ trẻ đẹp trong lều. Quên cả giờ về, quên tất cả mọi chuyện, đám du ngoạn này khui các hũ rượu đầy, uống say sưa để thưởng thức nỗi hoan lạc bất ngờ trong buổi chiều hoang dã.

Seijuro là người đàn ông duy nhất ở với đám phụ nữ trong lều. Bên ngoài thì bọn phu khiêng kiệu uống từng vại rượu lớn rồi lăn ra ngủ, ngáy ầm ầm và mơ đến những giấc mơ hoa bướm ngoài đồng nội. Đang lúc lặng yên như thế, bỗng nhiên có một đoàn múa lân đi qua. Dưới tiếng trống vang dội, người múa lân uốn lượn với những động tác tài tình, lần lượt đi ngang những đám người này rồi đám người khác. Đám phụ nữ cũng như mọi người bị thu hút, bỏ hết những cuộc vui đến tập trung quanh đoàn múa lân, hoan hô, reo hò, yêu cầu họ tiếp tục trình diễn. Thế là cả đoàn lân ngừng lại ở một chỗ hát cho đám thính giả bất ngờ nghe những bài dân ca tuyệt diệu.

Onatsu không có mặt trong số những người vây quanh đoàn múa lân. Bảo rằng bị đau răng, nàng ở lại trong lều một mình, đằng sau những bức màn. Gối đầu lên cánh tay, khuất sau một chồng quần áo, khăn thôi buộc, xiêm y buông lỏng, Onatsu cất tiếng ngáy đều đều như thể đang chìm vào giấc ngủ say.

Ai mà nghĩ được rằng đây là một cơ hội tốt để gặp nhau, vì chỉ có một khoảnh khắc ngắn thôi mà? Không ai nghĩ ra được, ngoại trừ những người yêu nhau trọn vẹn và cương quyết. Thấy Onatsu ở lại một mình, Seijuro lập tức đi vòng phía sau lều, nhờ khuất dưới tàn cây thông, để đến với người yêu đang đợi sẵn. Không hề sợ làn tóc Onatsu rối tung lên, đôi tình nhân quấn chặt lấy nhau, tim đập thình thịch. Tuy nhiên, họ vẫn sợ người chị dâu của Onatsu bắt gặp, họ vừa yêu nhau vừa để mắt nhìn ra đám khán giả đang xem múa lân ngoài lều.

Khi Seijuro ra khỏi lều, đoàn múa lân bên ngoài cũng đã ngừng trình diễn, mặc dầu còn nhiều phần rất hay chưa diễn hết. Đám đông thất vọng vì việc ngừng diễn đột ngột, nhưng lúc đó sương đã lên và ánh mặt trời sắp tắt nên họ thu vén đồ đạc để trở về Himeji, Onatsu không buồn biết đến vết nhơ ngay phía sau chiếc áo kimono của nàng.

Seijuro nán lại phía sau, ngỏ lời cảm ơn đoàn múa lân: “Tôi chịu ơn các bạn đã giúp đỡ tôi ngày hôm nay.”

Nghĩ mà xem! Hóa ra việc trình diễn tưởng như tình cờ lại đã được sắp đặt trước, một kế hoạch rất thông minh của kẻ si tình. Người tinh mắt đến mấy, kể cả người chị dâu lắm chuyện của Onatsu, cũng làm sao mà biết được?

Người đàn ông bỏ quên túi thư nơi quán

Ván đã đóng thuyền, giờ đây Seijuro vội vã cùng Onatsu trốn khỏi nhà. Hai người gấp rút đến bến cảng Shikamaza vào lúc chạng vạng.

“Ta cùng đến Osaka hoặc Kyoto, anh biết rằng ta sẽ sống hạnh phúc, dầu cho có phải trải qua nhiều năm nghèo khó ở đó đi nữa.” Vậy là Seijuro quyết định và sửa soạn hành trang cần thiết, mặc y phục du hành và đứng đợi thuyền trong một túp lều ở chân đê. Cùng đợi với họ có những người hành hương, một thương nhân bán đồ sứ ở Osaka, một lái buôn sơn mài từ Nara, một nhà sư ở Daigo, một người bán hàng rong ở Tambe,… điều này làm cho cuộc hành trình thú vị, vì có những hành khách từ rất nhiều nơi khác nhau.

Rồi người lái thuyền hô lớn: “Lên thuyền! Chúng ta rời bến.” Các thủy thủ đọc lời cầu nguyện cho thuyền đi an toàn, và để tạ ơn thần biển, họ chuyền nhau bát rượu tập thể. Cứ đếm đầu người, dầu có uống hay không cũng phải đóng một người sáu xu tiền rượu. Các thủy thủ lấy bát múc rượu sa-kê từ trong thùng ra, cũng chẳng cần hâm rượu nữa. Họ dùng tay xé từng miếng cá chiên nhắm với rượu. Chẳng mấy chốc rượu làm họ phấn chấn.

Người lái thuyền hô to: “Chúc mọi người may mắn! Bây giờ giương buồm lên, gió thổi từ phía sau lái.” Thế là họ giương buồm rời bến.

Được chừng hai dặm, đột nhiên người phát thư từ Bizen đến đập tay vào đùi giận dữ, kêu lên: “Chết mẹ rồi! Tôi quên mất một món đồ! Tôi buộc gói thư vào thanh kiếm và bỏ quên nơi quán trọ rồi.” Anh ta trông vào bờ và than rằng anh đã dựng thanh kiếm nơi bàn thờ Phật.

Người trên thuyền bảo anh: “Anh có kêu lớn bao nhiêu thì người trên bờ họ cũng không nghe thấy đâu. Anh có phải là đàn ông không mà cứ than vãn vậy. Hay anh là hoạn quan?” Anh phát thư xem xét kỹ lại người mình rồi tuyên bố: “Tôi có đủ cả đấy.”

Mọi người phá lên cười, rồi một thủy thủ nói: “Chắc không còn cách gì khác là phải quay thuyền lại thôi.”

Đám hành khách tức giận vì việc này, than: “Chúng tôi đi nhằm một ngày thật xui xẻo.”

Khi thuyền cặp bờ, người từ Himeji phái đến truy nã Seijuro và Onatsu đang nháo nhác tìm kiếm họ khắp nơi. Họ bảo: “Có lẽ bọn chúng ở trên thuyền.”

Đôi tình nhân biết rằng không còn trốn đâu được nữa, than phiền: “Bất hạnh cho chúng ta quá!”

Nhưng kẻ truy nã thì đâu có thương hại, cũng chẳng cần nghe họ nói. Onatsu bị nhốt vào một chiếc kiệu có người canh phòng chặt chẽ. Seijuro thì bị trói. Cả hai bị dẫn về Himeji. Nhìn hai người khóc lóc ai cũng không khỏi mủi lòng.

Từ đó, Seijuro bị nhốt trong phòng kín, có người canh gác chung quanh. Tuy bị cực khổ đủ điều, anh cũng không bao giờ nghĩ về mình, anh chỉ thầm gọi tên Onatsu.

“Nếu cái thằng khốn kiếp đó không quên túi thư thì Onatsu và mình bây giờ đã ở Osaka rồi. Mình sẽ thuê một căn phòng ở khu Kozu, và sẽ thuê một bà đầy tớ già gần lòa mắt giúp việc. Onatsu và mình đồng ý trong năm mươi ngày đầu tiên ở với nhau suốt ngày suốt đêm, không bao giờ rời nhau. Trời ơi! Bây giờ tất cả trở thành quá khứ rồi. Ước chi họ giết ta đi. Ngày sao dài quá… Ta mệt vì cuộc sống lắm rồi.”

Ý tưởng đó hiện ra trong trí anh hàng ngàn hàng vạn lần. Anh đã toan cắn lưỡi, nhắm mắt để quyên sinh, nhưng rồi nghĩ đến Onatsu có thể gặp lại anh một lần cuối cùng, trong vẻ kiều lệ của nàng, anh lại thôi. Anh không còn chú ý đến nỗi nhục nhằn của cuộc sống hiện tại, cũng như lời vu cáo họ buộc cho anh nữa.

Onatsu cũng ở trong một tâm trạng buồn thảm tương tự. Bảy ngày nàng từ chối không ăn uống. Rồi nàng viết một lời cầu xin gửi vị thần Murotsu, xin cho Seijuro được sống.

Lạ thay, vào giữa đêm ấy một bà tiên già hiện ra bên giường nàng nằm, nói: “Con hãy lắng nghe ta bảo: Khi con người đau khổ họ thường cầu xin những điều vô lý, đến nỗi dầu là tiên như ta cũng không làm thỏa mãn được. Kẻ thì cầu xin trong một đêm trở thành giàu có. Người thì xin đoạt vợ người khác, kẻ thì muốn giết người họ ghét. Ai cũng có một chuyện gì đó để cầu xin. Con biết không, chỉ trong ngày lễ vừa qua mà có hàng chục ngàn người đến cúng ta ở đền thờ và không một ai không cầu xin điều lợi ích cho cá nhân họ. Nhưng ta làm thế nào thỏa mãn được.

Còn con, nếu con lấy một người chồng theo ước muốn của cha mẹ con, hẳn con sẽ không có điều gì phải phiền não, nhưng vì con có một tình yêu đặc biệt, con mới rơi vào nỗi khổ này. Con coi thường đời sống của con, nhưng con sẽ sống lâu. Còn đời sống của Seijuro, mà đối với con hết sức lớn lao, thì sẽ chấm dứt không bao lâu nữa.”

Giấc mơ có vẻ thật đến nỗi làm Onatsu kinh hoàng. Bừng mở mắt, nàng cảm thấy đau đớn quá và khóc cho đến rạng đông.

Đúng như dự đoán, Seijuro bị kết án hành hình, vì những tội mà anh không hề biết. Bảy trăm đồng ryo vàng trước đấy cất kín trong tủ nhà kho ở Taijma-ya biến mất. Người ta cố tình lan truyền rằng Seijuro đã xúi Onatsu lấy cắp số tiền đó và trốn đi. Chứng cớ chống lại Seijuro và anh không thể biện minh được. Thế là, buồn thay, anh bị giết vào ngày mười tám tháng Tư, tuổi mới hai mươi lăm.

Những người chứng kiến cuộc hành hình Seijuro đều than thở: “Cõi trần này thật oan nghiệt” và nước mắt họ chảy thấm áo, còn hơn những cơn mưa rào buổi chiều mùa hạ. Không có ai mà không thấy buồn và than vãn cho số phận của Seijuro.

Vào đầu tháng Sáu, nhân dịp lau chùi, dọn dẹp toàn bộ nhà cửa, người ta lục lọi nơi nhà kho và bảy trăm đồng tiền vàng tưởng mất, đã tuôn ra từ một chiếc rương lớn.

Bảy trăm đồng tiền vàng được tìm thấy quá muộn màng

Những kẻ sống chung quanh Onatsu giấu không cho nàng biết điều gì xảy ra với Seijuro. Nhưng ngày nọ, nàng đang nhớ tới Seijuro, mấy đứa trẻ trong làng đi tung tăng ngoài đường, vừa đi vừa hát: “Khi người ta giết Seijuro, người ta cũng giết luôn cả Onatsu nữa.” Nghe thế, Onatsu hoảng hồn. Nàng chạy ngay đi tìm bà vú nuôi hồi bé để hỏi sự tình, nhưng bà vú không trả lời và bật khóc.

Nàng thảng thốt kêu lên: “Thôi thế thì đúng rồi! Mà thà chàng chết đi còn hơn sống như vậy.”

Thế rồi, Onatsu trở thành điên dại, nhập bọn cùng đám trẻ trong làng đi nghêu ngao hát. Người chung quanh tội nghiệp nàng, nói nhiều điều an ủi nàng, song vô ích. Việc họ quan tâm đến nàng chỉ khiến nàng thêm đau đớn mà thôi.

“Chàng trai đang đi qua ngoài kia

Có phải anh là Seijuro?

Chiếc nón rơm anh đội

Hệt như Seijuro!

Ha ha…”

Bài hát chấm dứt bằng tiếng cười man dại. Nàng đã mất hết tri giác, cơn điên loạn đã tàn phá nhanh chóng dáng dấp kiều mị của nàng. Suốt ngày, nàng lang thang trên các ngọn đồi và khi đêm đến, nàng ngủ bên bờ cây bụi cỏ, giữa cánh đồng. Những người đàn bà trong nhà đi theo canh giữ nàng đều lần lượt bị nhiễm sốt nặng, chẳng bao lâu cũng điên nốt.

Những người quen biết Seijuro trong nhiều năm trước bắt đầu nghĩ đến việc chôn cất anh cho tử tế. Thi hài anh khô quắp và dính đầy máu, được rửa sạch và đem chôn. Trên mộ anh, để đánh dấu, người ta trồng một cây sồi và một cây thông, và dân chúng gọi đó là “nấm mộ Seijuro.” Chẳng còn gì thê thảm hơn, cho dù là trong cái thế giới vốn bi đát này.

Hằng đêm, Onatsu đến chịu tang bên nấm mồ Seijuro và nàng thấy hình ảnh anh hiện ra rõ rệt như trong quá khứ. Cứ thế, cho đến một trăm ngày, nàng ngồi sụp xuống trên đám cỏ ướt đẫm hơi sương, bên nấm mộ người yêu, rút một con dao trong túi ra để toan tự sát.

Những người đàn bà đi cùng Onatsu giằng lấy con dao, bảo: “Có chết bây giờ cũng chẳng cứu vãn được điều gì. Nếu nỗi đau của cô quả thật chân thành cô hãy cắt tóc đi tu. Cầu nguyện cho chúng sinh bớt đau khổ, đó là con đường chứng ngộ của đức Phật, và tất cả chúng tôi sẽ theo gương cô.”

Lời họ làm dịu lòng Onatsu. “Tôi xin theo lời các bà,” nàng trả lời. Và họ chứng nhận lòng thành của nàng bằng cách cùng tình nguyện xuất gia với nàng.

Thế rồi, họ cùng đến chùa Chân Giác. Được vị sư trưởng của chùa chấp thuận, Onatsu đổi y trang mùa hè của mình lấy bộ giới phục màu đen. Nàng trở thành một ni cô đáng kính nhất.

Sáng sáng, nàng mang nước suối từ thung lũng về dâng lên bàn thờ, chiều chiều mang hoa hái từ đỉnh núi về cúng Phật. Đêm hè, dưới ánh đèn dầu, nàng nhiệt thành tụng kinh cứu khổ. Mọi người thán phục và cảm thương nàng, bảo nàng là hiện thân của Đức Bà Chujo, mà dân chúng nghe đến trong những truyện truyền kỳ Nhật Bản.

Cả anh trai của Onatsu khi đến thăm nàng ở chùa cũng thấy tâm hồn mình hướng về Chân Giác. Bảy trăm đồng tiền vàng vốn gây nên oan nghiệt kia, giờ được đem góp vào việc lo chu toàn cho người chết, và chính bản thân người anh trai của Onatsu cũng để tang Seijuro. Vào thời gian này, chuyện về Onatsu được dựng thành một vở tuồng ở vùng Kyoto – Osaka, rồi từ đó lan rộng đến những vùng xa xôi nhất, truyền đến từng thành phố, từng xóm làng như một dòng suối tình yêu bất tận. Người ta có thể buông mình cùng với tất cả ưu phiền vào trong dòng suối đó, nhẹ tênh như bọt nước trôi xuyên qua cõi Phù Đồ.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 4 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Hiện đại] Làm thế nào để ngừng nhớ anh - Mộng Tiêu Nhị

1 ... 35, 36, 37

2 • [Xuyên không] Khi vật hi sinh trở thành nữ chính - Tư Mã Duệ Nhi

1 ... 28, 29, 30

3 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 148, 149, 150

4 • [Cổ đại] Kiêu Tế - Quả Mộc Tử

1 ... 46, 47, 48

5 • [Xuyên không - Cổ xuyên hiện] Ảnh hậu đối mặt hàng ngày - Ngã Yêu Thành Tiên

1 ... 37, 38, 39

6 • [Xuyên không] Cuộc sống nông thôn nhàn rỗi - Kẹo Vitamin C

1 ... 108, 109, 110

7 • [Hiện đại] Cướp tình Tổng giám đốc ác ma rất dịu dàng - Nam Quan Yêu Yêu

1 ... 64, 65, 66

8 • [Xuyên không - Dị giới] Phế sài muốn nghịch thiên Ma Đế cuồng phi - Tiêu Thất Gia - New C888

1 ... 128, 129, 130

9 • [Hiện đại] Hôn nhân giá ngàn vàng - Cẩm Tố Lưu Niên (103/104]

1 ... 181, 182, 183

10 • [Cổ đại] Nô gia không hoàn lương - Cật Thanh Mai Tương Nha

1 ... 20, 21, 22

11 • [Xuyên không] Vương phi thần trộm Hưu phu lúc động phòng! - Thủy Mặc Thanh Yên

1 ... 82, 83, 84

12 • [Cổ đại - Trùng sinh] Đích nữ nhà nghèo Bán phở heo

1 ... 9, 10, 11

13 • [Hiện đại] Eo thon nhỏ - Khương Chi Ngư [NEW C65]

1 ... 23, 24, 25

14 • [Xuyên không] Trôi nổi trong lãnh cung Khuynh quốc khí hậu - Hoa Vô Tâm

1 ... 75, 76, 77

[Cổ đại - Trùng sinh] Trọng sinh cao môn đích nữ - Tần Giản

1 ... 137, 138, 139

16 • [Xuyên không] Hỉ doanh môn - Ý Thiên Trọng

1 ... 105, 106, 107

17 • [Hiện đại] Người cha nhặt được - Cát Tường Dạ

1 ... 26, 27, 28

18 • [Hiện đại] Xin chào Chu tiên sinh! Dạ Mạn

1 ... 27, 28, 29

19 • [Hiện đại] Cục cưng lật bàn Con là do mẹ trộm được? - Ninh Cẩn

1 ... 87, 88, 89

20 • [Hiện đại Thanh mai trúc mã] Đều Tại Vầng Trăng Gây Họa - 11 Giờ Phải Ngủ

1 ... 40, 41, 42


Thành viên nổi bật 
Eun
Eun
Aka
Aka
Nminhngoc1012
Nminhngoc1012
An Tĩnh Lạc
An Tĩnh Lạc
Puck
Puck
susublue
susublue

Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 543 điểm để mua Hoa anh đào
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 546 điểm để mua Cổ vũ
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 938 điểm để mua Hộp quà Hamster
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 1492 điểm để mua Hamster lêu lêu
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 516 điểm để mua Hoa anh đào
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 2819 điểm để mua Đá Peridot
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 490 điểm để mua Hoa anh đào
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 1420 điểm để mua Hamster lêu lêu
Shop - Đấu giá: Sam Sam vừa đặt giá 250 điểm để mua Kẹo mút 2
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 640 điểm để mua Mề đay đá Citrine 5
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 1351 điểm để mua Hamster lêu lêu
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 465 điểm để mua Hoa anh đào
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 2683 điểm để mua Đá Peridot
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 608 điểm để mua Mề đay đá Citrine 5
Nhân Gian Hoan Hỉ: chữ tạo đề tài chỗ nào vơqis các bạn...ko thấy chi luôn
Windwanderer: huhu có ai biết dùng PTS k tớ nhờ xíu
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 1285 điểm để mua Hamster lêu lêu
Công Tử Tuyết: Re: [Trắc Nghiệm] Bạn là ai trong truyện Đam mỹ ?
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 248 điểm để mua Chai nước biển
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 1222 điểm để mua Hamster lêu lêu
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 519 điểm để mua Cổ vũ
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 892 điểm để mua Hộp quà Hamster
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 1162 điểm để mua Hamster lêu lêu
Shop - Đấu giá: Sam Sam vừa đặt giá 250 điểm để mua Kẹo cầu vồng
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 441 điểm để mua Hoa anh đào
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 1105 điểm để mua Hamster lêu lêu
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 493 điểm để mua Cổ vũ
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 848 điểm để mua Hộp quà Hamster
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 2554 điểm để mua Đá Peridot
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 419 điểm để mua Hoa anh đào

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.