Diễn đàn Lê Quý Đôn

Cấm đăng tin quảng cáo các lớp học, khoá học, hội thảo, tìm học sinh... Các bài quảng cáo sẽ bị xoá.


Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 348 bài ] 

Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần

 
Có bài mới 10.02.2018, 11:01
Hình đại diện của thành viên
V.I.P
V.I.P
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 32 Nữ
Bài viết: 35935
Được thanks: 5480 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
Giai thoại 34: CHUYỆN LÊ NGÃ VÀ TRẦN THIÊN LẠI

Sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 10, tờ 5 - b) viết:

“Người làng Chàng Kênh, huyện Thủy Đường (nay thuộc huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng - ND) là Lê Ngã, đổi cả họ lẫn tên thành Dương Cung, tự xưng là Thiên Thượng Hoàng đế, đặt niên hiệu là Vĩnh Thiên. (Lê) Ngã vốn là gia nô của Trần Thiên Lại, tướng mạo rất đẹp, từng đi khắp tứ xứ, tới đâu cũng được mọi người chu cấp.”

Chuyện đi khắp tứ xứ của Lê Ngã, thực ra chỉ là chuyện đi lo tập hợp lực lượng để nổi dậy chống quân Minh, làm việc đại nghĩa mà lúc ấy không phải ai cũng dám làm. Cũng sách trên (tờ 6 - a) cho biết:

"Ngã nói với những người quen biết rằng:

- Các người có muốn giàu sang không? Ai muốn thì hãy theo ta.

Khi đến huyện Đơn Ba, Lạng Sơn (nay là huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn - ND), Ngã mạo nhận là cháu bốn đời của Trần Duệ Tông (người làm vua từ năm 1372 đến năm 1377 - ND), từ nước Lão Qua trở về. Phụ đạo Đơn Ba (người đứng đầu huyện Đơn Ba - ND) là Bế Thuần đem con gái gả cho và lập làm vua, chẳng bao lâu (Lê Ngã) đã có đến vài vạn quân.”

Khoảng giữa năm Canh Tí (1420), các cuộc nổi dậy của Công Chứng, Phạm Ngọc, Phạm Thiện v.v... lần lượt bị thất bại, tàn quân của họ đều theo về với Lê Ngã, thành ra lực lượng của Lê Ngã lên tời mấy vạn người.

Quân Minh đang bối rối vì phải lo đối phó với nhiều cuộc khởi nghĩa, trong đó có Lê Ngã, thì bỗng dưng chúng có được một lực lượng đồng minh tình nguyện giúp sức đánh Lê Ngã. Thủ lĩnh của lực lượng đồng minh này là Trần Thiên Lại, một quý tộc cũ của họ Trần trước đó đã hèn nhát đầu hàng quân Minh. Trần Thiên Lại vào tận bản doanh của Lê Ngã và xác nhận Lê Ngã chính là một trong những gia nô cũ của hắn. Thiên Lại tuyên bố:

- Hắn là gia nô cũ của ta, việc gì ta phải sợ mà lạy nó!

Thiên Lại về rồi, Lê Ngã xét thấy không nên dung tha tên phản quốc nguy hiểm này, bèn cho quân đuổi theo nhưng không kịp. Sau đó, cũng sách trên (tờ 6 - b) cho biết:

“Thiên Lại gửi hịch cho các huyện gần đó, tự xưng là Hưng Vận Quốc thượng hầu, đem quân đi đánh nhau với Lê Ngã, bị Ngã giết chết. Lý Bân (lúc ấy mới) đem quân thủy bộ đến đánh. (Lê) Ngã và (Bế) Thuần đang đêm bỏ trốn cả, không biết là đi đâu.”

Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục(chính biên, quyển 13, tờ 11) còn ghi thêm một chi tiết thật thảm hại cho Trần Thiên Lại như sau:

"Lý Bân nhà Minh nói:

- Thiên Lại và Lê Ngã cũng chỉ như hai con thú mà thôi. (Bởi vậy) chờ cho (Lê Ngã) thắng rồi, Lý Bân mới xuất quân ra đánh.”

Thế là rõ! Trần Thiên Lại tình nguyện đánh Lê Ngã, nhưng, với tướng giặc là Lý Bân thì Trần Thiên Lại chẳng qua cũng chỉ là đồ thí bỏ, sống chết chẳng có gì đáng bàn.

Lời bàn: Đầu hàng quân Minh là một lần phạm tội. Tình nguyện đem quân đi đánh nghĩa binh Lê Ngã là thêm một lần phạm tội nữa. Trần Thiên Lại bị giết bởi lưỡi gươm của Lê Ngã là phải lắm.

Trần Thiên Lại khinh Lê Ngã, cho Lê Ngã chỉ là gia nô của hắn xưa kia nên không lạy, lại còn cất quân đi đánh, có biết đâu chính Trần Thiên Lại mới thực là gia nô, mà lại là gia nô của quân cướp nước tàn bạo. Nhục thay!

Thế mới biết ở đời, vẫn có kẻ chẳng biết đâu là vinh, đâu là nhục, mà như thế thì còn đáng gọi là người được nữa chăng?



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks       
            
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 10.02.2018, 11:02
Hình đại diện của thành viên
V.I.P
V.I.P
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 32 Nữ
Bài viết: 35935
Được thanks: 5480 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
Giai thoại 35: NỖI OAN KHUẤT CỦA PHẠM LUẬN

Cuối năm Canh Tí ( 1420), Lý Bân đập tan được cuộc khởi nghĩa Lê Ngã. Lê Ngã cùng Bế Thuần trốn thoát được nhưng rồi sau đó họ đi đâu không ai rõ. Trong lúc đó, nhiều cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ khác vẫn tiếp diễn ở nhiều địa phương khiến vua Minh lo lắng hạ chiếu buộc bọn quan lại đô hộ ở nước ta phải bắt cho bằng được vị thủ lĩnh kiệt hiệt là Lê Ngã. Chiếu lệnh quá gắt gao, bọn quan lại đô hộ sợ bị phạt tội nên tính kế tìm kẻ thế mạng cho Lê Ngã. Người chẳng may chịu tai vạ khủng khiếp này là Phạm Luận và gia thuộc của ông. Sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 10, tờ 7 - b) chép rằng:

“Tổng binh Lý Bân và Nội quan Lý Lượng của nhà Minh bắt Phạm Luận là sinh viên người huyện Giáp Sơn (thuộc Hải Dương) và buộc Luận phải nhận mình là Dương Cung (tức Lê Ngã, vì Lê Ngã đã tự đổi họ tên thành Dương Cung - ND) cốt để làm cho qua chuyện thi hành chiếu lệnh lùng bắt (Dương Cung). (Chúng) còn bắt cả gia thuộc (của Phạm Luận) là bọn Phạm Xã rồi giải về Yên Kinh.

(Có viên) Tri huyện tên là Đặc Khiêm nhận thực rằng đó không phải là tên (Dương) Cung. (Lý) Bân không nghe. Khiêm lấy bao vàng (bao đựng tấu thư gửi về triều - ND) dâng đại cáo, tâu thẳng về Yên Kinh. (Lý) Bân sai người chặn đường bắt về. Hoàng Phúc khuyên Khiêm rằng:

- Mọi người đều cho là đúng, chỉ mình ông bảo không đúng là làm sao?

Khiêm nói:

- Ai ra ngoài mà chẳng phải qua cửa ngõ (ý muốn nói tất cả mọi người đều cùng phe đảng của Hoàng Phúc - ND).

(Lý) Bân bèn cho giải cả (Đặc) Khiêm lẫn (Phạm) Luận về Yên Kinh, giao cho pháp ti xét hỏi. Khiêm xuýt nữa bị hành tội, may có người anh đánh trống đăng văn (đánh vào cái trống ở triều đình kêu oan để được cứu xét - ND) kêu oan nên được miễn tội. Sau, (Đặc Khiêm) được thăng đến chức Hữu bố chính ở nước ta, còn gia thuộc Phạm Luận cuối cùng bị chết trong ngục.”

Lời bàn: Sách Lễ kí của Trung Quốc có chép chuyện Hà chính mãnh ư hổ (chính sự hà khắc còn đáng sợ hơn cả cọp). Cứ ngỡ đó chỉ là chuyện riêng của Trung Quốc thời ông Khổng Tử, dè đâu lại có ở nước ta vào thời thuộc Minh. Nỗi oan khuất của Phạm Luận dẫu đến ngàn đời cũng chưa tan nổi.

Đặc Khiêm được miễn tội, hẳn nhiên là có chút nhờ cậy ở tiếng trống đăng văn, nhưng lí do miễn tội chính yếu, chẳng qua chỉ vì Đặc Khiêm là người Trung Quốc, chả gì cũng là đồng hương của quân xâm lăng. Còn như Phạm Luận, dẫu có cả đến trăm người cùng đánh trống đăng văn thì rơi đầu vẫn cứ là bị rơi đầu vì lưỡi gươm oan nghiệt. Lí do chính yếu chẳng qua chỉ vì Phạm Luận là người nước ta, là đồng hương của Dương Cung (tức Lê Ngã).

Bọn Lý Bân, Lý Lượng và Hoàng Phúc, trên thì sợ triều đình, nhưng dưới thì lại ra mặt tác oai tác phúc với dân. Thế mới biết là ở đời, đáng sợ nhất xưa nay vẫn là lũ đội trên đạp dưới. Ngẫm mà xem!


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks       
            
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 10.02.2018, 11:03
Hình đại diện của thành viên
V.I.P
V.I.P
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 32 Nữ
Bài viết: 35935
Được thanks: 5480 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
Giai thoại 36: CHUYỆN NGƯỜI ĐÀN BÀ Ở TRANG PHAO

Ghi chép những sự kiện xảy ra vào năm Bính Ngọ (1426), sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 10, tờ 19 a - b) đã dành một đoạn khá dài để nới về người đàn bà ở trang Phao, huyện Đáy Giang (nay thuộc Hà Tây). Chuyện đại lược như sau:

"Mùa hạ, tháng sáu, có người đàn bà nghèo khổ ở trang Phao, huyện Đáy Giang bị mắc bệnh hủi, lại bị chồng ruồng bỏ (nên phải lang thang đó đây). Bỗng một hôm, mụ gặp một cụ già ở dọc đường đi. (Cụ già) cho mụ một hòn đá to bằng quả trứng gà, bảo cứ lấy mà mài rồi đem nước mài ấy bôi vào chỗ loét thì khỏi ngay. Mụ làm theo như vậy thì quả nhiên khỏi bệnh. Xa gần nghe tin, nhiều người đem tiền, lụa đến xin chữa bệnh. Mụ ứng tiếp không xuể mà cũng chỉ lấy hòn đá mài nước đem cho, gọi là nước bồ tát. Người ta hỏi nhau, tìm đường đến xin cho được nước đó để về chữa. Việc ấy bị (quân Minh) phát giác, cả người và đá đều bị bắt đưa về giam ở Tam ti. Không bao lâu quan quân (của Lê Lợi) tới, người đàn bà ấy mới được đưa về. Kẻ có học cho rằng, đó là điềm Lê Thái Tổ lấy được nước.”

Lời bàn: Đã nghèo hèn lại mắc bệnh hủi, đó là một lần đại rủi ro. Đã mắc bệnh hủi lại còn bị chồng ruồng bỏ, đó là thêm một lẩn đại rủi ro nữa. Phận đàn bà mà mắc phải hai lần đại rủi ro ấy thì lẽ thường là cả thể xác lẫn tâm hồn đều tan nát, có sống cũng chỉ là sống thừa.

Song, tất cả những người bị bệnh hủi chẳng ai tình cờ có được hòn đá huyền diệu như người đàn bà trang Phao. Nhờ nó mà bà tự chữa được căn bệnh thuộc hàng tứ chứng nan y, thế là một lần được hưởng đại phước đức. Lại cũng nhờ hòn đá huyền diệu ấy mà người đàn bà trang Phao chưa từng một ngày học kê đơn bốc thuốc bỗng dưng có tiếng tăm lừng lẫy như một bậc đại danh y, khiến cho thiên hạ phải chen nhau tìm đến, thế cũng có thể nói là bà được thêm một lần hưởng đại phước đức nữa.

Hai lần mắc đại rủi ro, hai lần được hưởng đại phước đức, bù qua đắp lại, kể như huề. Song, đất nước điêu linh, kẻ thứ dân hèn mọn mà được dân lành tín phục, quân Minh đô hộ tất phải hoảng sợ mà coi đó là mối lo hàng đầu. Chúng bắt người đàn bà trang Phao là cốt để ngừa cái rủi cho chúng vậy. Bấy giờ, hễ cái gì có lợi cho quân Minh thì tất phải có hại cho nhân dân ta. Đội quân “điếu dân khử bạo” của Lam Sơn đến, trong sự quyết chí cứu nguy cho thiên hạ, có cả sự cứu nguy riêng cho người đàn bà ở trang Phao. Kẻ có học thuở xưa nói rằng đó là điềm Lê Thái Tổ lấy được nước, chẳng qua chỉ cốt cổ vũ cho thuyết “bĩ cực thái lai” đó thôi.

Ở đời, chẳng có ai suốt đời chỉ gặp may, cũng chẳng có ai suốt đời chỉ gặp rủi, khác nhau chỉ là may nhiều hay rủi nhiều và dạng thức cụ thể của sự may rủi mà thôi. Trong tất cả những sự rủi ro, thì cái đáng sợ nhất chính là không bình tâm tìm ra lối thoát một cách sáng suốt.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks       
            
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 10.02.2018, 11:05
Hình đại diện của thành viên
V.I.P
V.I.P
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 32 Nữ
Bài viết: 35935
Được thanks: 5480 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
MẤY LỜI DẪN CHUYỆN VỀ TRIỀU HỒ

Sách Đại việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 8, tờ 33 - a) cho biết rằng, Hồ Quý Ly, tự là Lý Nguyên, người gốc ở Chiết Giang (Trung Quốc). Vào thời Ngũ Quý (Cũng gọi là thời Ngũ Đại Thập Quốc, 907 - 960), tiên tổ của Hồ Quý Ly là Hồ Hưng Dật được cử sang làm Thái thú Diễn Châu (Nghệ An ngày nay). Hồ Hưng Dật làm nhà ở thôn Bào Đột, về sau, con cháu Hồ Hưng Dật trở thành trại chủ của đất này. Thời Lý (1010 - 1225), họ Hồ đã có người lấy Công chúa Nguyệt Đích, sinh ra Công chúa Nguyệt Đoan, dẫu vậy, họ Hồ vẫn chưa phải là một cự tộc.

Đến đời thứ 12, một người của họ Hồ ở Diễn Châu là Hồ Liêm đã di cư ra vùng Đại Lại (Thanh Hóa), làm con nuôi của quan Tuyên úy Lê Huấn, nên nhận là người họ Lê. Nếu coi Lê Huấn là tổ thì Hồ Quý Ly là cháu bốn đời của ông. Bởi mối quan hệ này, sử cũ vẫn gọi Hồ Quý Ly là Lê Quý Ly.

Thuở nhỏ, Hồ Quý Ly theo học võ nghệ với Sư Tề. Sư Tề người họ Nguyễn, có người con trai là Nguyễn Đa Phương cũng rất giỏi võ nghệ. Hồ Quý Ly kết nghĩa anh em với Nguyễn Đa Phương.

Về đường danh vọng, tuy là được xây đắp phần lớn bằng thủ đoạn và hẳn nhiên là cả bằng xương máu của nhiều người nữa, song, quả là cổ kim hiếm có nhân vật lịch sử nào có thể sánh được với Hồ Quý Ly. Sách Đại Việt sử kí toàn thư viết:

“Đời Trần Nghệ Tông (1370 - 1372 - ND), từ chức Chi hậu tứ cục chánh chưởng, thăng lên Khu mật viện đại sứ, lên Tiểu tư không, tiến phong Đồng binh chương sự, sau liên tiếp gia phong tới Phụ chính thái sư nhiếp chính, Khâm Đức Hưng Liệt Đại vương, Quốc tổ chương hoàng rồi thay nhà Trần, đặt quốc hiệu mới là Đại Ngu, trở lại họ Hồ, chưa đầy một năm thì truyền ngôi cho con là Hán Thương.”

Triều Hồ chỉ tồn tại được vỏn vẹn chưa đầy 7 năm (1400 – 1407) nhưng lại là triều đại có lắm chuyện đáng lưu tâm. Có những chuyện do chính bản thân triều Hồ tạo ra, nhưng cũng có không ít chuyện do người đời sau khác ý khi nhận định về triều Hồ mà có.

Với triều đại quá ngắn ngủi này, chúng tôi xét thấy không cần thiết phải lập thêm một bảng niên biểu riêng, chỉ xin kê ra đây mấy sự kiện lớn trước khi kế từng giai thoại riêng biệt.

1 – HỒ QUÝ LY

- Năm 1371: Được vua Trần Nghệ Tông phong tước Trung Tuyên quốc thượng hầu, chức Khu mật viện đại sứ.

- Năm 1375: Được Thượng hoàng Trần Nghệ Tông và vua Trần Duệ Tông thăng chức Tham mưu quân sự.

- Năm 1379: Được Thượng hoàng Trần Nghệ Tông và vua Trần Phế Đế thăng chức Tiểu tư không, kiêm Khu mật viện đại sứ.

- Năm 1380: Được Thượng hoàng Trần Nghệ Tông và vua Trần Phế Đê thăng chức Nguyên nhung, quản việc Hải Tây đô thống chế.

- Năm 1387: Được Thượng hoàng Trần Nghệ Tông và vua Trần Phế Đế thăng chức Đồng binh chương sự (thành viên cơ quan tối cao của nhà nước).

- Năm 1395: Được vua Trần Thuận Tông thăng tước Tuyên Trung vệ quốc Đại vương.

- Năm 1397: Ép vua Trần Thuận Tông phải dời đô từ Thăng Long vào Thanh Hóa.

- Năm 1398: Ép vua Trần Thuận Tông phải nhường ngôi cho Trần Thiếu Đề (lúc ấy mới 3 tuổi).

- Năm 1399: Giết vua Trần Thuận Tông, sau lại giết thêm 370 người mà Hồ Quý Ly cho là thuộc phe đối nghịch với mình, rồi tự xưng là Quốc tổ chương hoàng.

- Năm 1400: Truất ngôi của vua Trần Thiếu Đế (cũng là cháu ngoại của Hồ Quý Ly), tự lập làm vua và đặt quốc hiệu mới là Đại Ngu. Quốc hiệu Đại Ngu chỉ có dưới thời Hồ (1400 – 1407).

2 – HỒ HÁN THƯƠNG: con của Hồ Quý Ly

- Năm 1399: Xưng là Nhiếp thái phó.

- Năm 1401: Được Hồ Quý Ly nhường ngôi (từ đó Hồ Quý Ly là Thái thượng hoàng).

- Năm 1407: Nhà Minh xâm lược nước ta. Cuộc kháng chiến do nhà Hồ lãnh đạo bị thất bại. Thượng hoàng Hồ Quý Ly, vua Hồ Hán Thương và một loạt các đại thần của nhà Hồ bị nhà Minh bắt về Trung Quốc làm tù binh. Nước ta bị nhà Minh đô hộ trong vòng 20 năm (1407 - 1427).

Thời thuộc Minh là một trong những thời bi thương nhất của lịch sử dân tộc ta. Quân Minh đô hộ đã tìm đủ mọi phương sách để đàn áp và bóc lột nhân dân ta đến tận cùng của sự tàn bạo và thậm tệ, đúng như Nguyễn Trãi đã tổng kết:

… "Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.

Dối trời, lừa người, mưu gian đủ muôn ngàn kế

Cậy binh gây hấn, tội ác chứa ngót hai mươi năm.”

(Bình Ngô đại cáo)

Song, thời thuộc Minh cũng là thời nhân dân ta liên tiếp vùng dậy chiến đấu ngoan cường. Hàng loạt anh hùng hào kiệt đã anh dũng dựng cờ xướng nghĩa đánh giặc cứu nước. Hai mươi năm chiến đấu gian lao cũng là hai mươi năm có biết bao mẩu chuyện đáng nhớ đã xảy ra. Chúng tôi quả là có phần lúng túng khi chọn kết cấu thích hợp cho tập sách nhỏ này. Sau nhiều lần cân nhắc, chúng tôi quyết định vẫn giữ nguyên tên gọi là giai thoại về thời Hồ và thời thuộc Minh, nhưng tất cả những giai thoại gắn liền với Lam Sơn, với cuộc đời và sự nghiệp của Lê Lợi, chúng tôi đều chuyển sang tập sau, mặc dầu nhiều chuyện thực sự xảy ra trong thời thuộc Minh.

Cuối cùng, xin chân thành cám ơn Nhà xuất bản Giáo dục đã giúp chúng tôi nối nhịp cầu giao lưu với bạn đọc gần xa, những người thành kính ngưỡng mộ tổ tiên mình, và cũng xin tất cả bạn đọc hãy nhận ở đây chút lòng thành của tôi.

Thành phố Hồ Chí Minh

9 - 1 992

NGUYỄN KHẮC THUẦN


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks       
            
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 10.02.2018, 11:07
Hình đại diện của thành viên
V.I.P
V.I.P
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 32 Nữ
Bài viết: 35935
Được thanks: 5480 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
LỜI CHÚ CUỐI SÁCH

Để bạn đọc đỡ mất công tra cứu, chúng lôi cố gắng viết thêm lời chú ở cuối sách này. Với lời chú cuối sách, chúng tôi giải nghĩa một số khái niệm cũ, nhất là các khái niệm và thế thứ hoàng tộc và hệ thống học vị, quan chức... Xin được lưu ý bạn đọc ba điểm sau đây:

- Tất cả lời chú đều được sắp theo thứ tự chữ cái của tiếng Việt. Sau mỗi khái niệm là số thứ tự của giai thoại, được đặt trong dấu ngoặc đơn.

- Lời chú của sách này chỉ có giá trị trong sách này mà thôi. Sở dĩ nói như vậy là vì mỗi thời có những quy định khác nhau, trường hợp giống nhau thường không nhiều.

- Riêng bài văn Nôm của Trùng Quang Đế viết để tế Nguyễn Biểu (in ở giai thoại số 30), chúng tôi chú thích ở cuối cùng, không sắp theo thứ tự chữ cái tiếng Việt.

AN PHỦ SỨ (14): Chức quan đứng đầu một phủ. Chức này đầu thời Trần rất lớn, nhưng sang thời Hồ và thời thuộc Minh, tuy cũng thuộc hàng quan lại o cấp của triều đình, nhưng không lớn như thời Trần nữa.

BĨ CỰC THÁI LAI (36): Vận bĩ cùng cực thì vận thái đến. Quan niệm này có nguồn gốc từ Kinh Dịch. Trong Kinh Dịch có quẻ bĩ, tượng trưng cho sự bế tắc và quẻ thái tượng trưng cho sự hanh thông. Bế tắc đến cùng cực thì hanh thông lại đến. Suy rộng ra, hết rủi là đến may, hết xấu là đến tốt... sự thế chuyển vận không ngừng.

LỐI LỘC MINH (30): chữ lấy trong Kinh Thi (Trung Quốc), tả việc vua đãi yến các sứ giả. Đây ý nói ngon như bữa yến tiệc của vua ban cũng thật khó mà sánh.

CÁC HẠ (29): Nguyên nghĩa là kẻ ở dưới gác. Quan chức trong triều đều được gọi là các hạ. Vì lẽ này, các hạ cũng là tiếng tôn xưng người quan chức.

CỔ LÂU (19): Tên đất. Nguyên đất này thuộc lãnh thổ của ta. Tháng 2 năm Ất Dậu, nhà Hồ sai Hoàng Hối Khanh làm Cát địa sứ (người lo việc cắt đất). Hoàng Hối Khanh đã cắt đất này cho nhà Minh. Trên bản đồ hiện nay, đất Cổ Lâu xưa, giờ là đất hai huyện, vùng Điền Nam của tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc).

CÔNG CHÚA NGUYỆT ĐÍCH (Lời dẫn chuyện): Chưa rõ là Công chúa con của vua nhà Lý nào. Các bản đều chép: "Có người lấy Công chúa Nguyệt Đích, sinh ra Công chúa Nguyệt Đoan.” Đoạn văn ngắn này rất khó hiểu, vì người lấy Công chúa là Phò mã thì con của họ không thể được phong là Công chúa. Chúng tôi chỉ xin dịch đúng nguyên văn, chờ khảo cứu sau.

CÔNG CHÚA NGUYỆT ĐOAN (Lời dẫn chuyện): Xin xem Công chúa Nguyệt Đích đã chú ở trên.

CÔNG SƠN (7): Tích lấy trong thiên Dương hóa của sách Luận ngữ, theo đó thì Công Sơn tức Công Sơn Phất Nhiễu, nguyên là quan tể (chức đứng đầu) của họ Quý, nhưng rồi khi giữ đất Phí, Công Sơn Phất Nhiễu đã làm phản.

CỰ TỘC (Lời dẫn chuyện): Dòng họ có thế lực lớn.

CHÁNH SỨ (28): Đây không phải là chức tước của người đứng đầu một phái bộ sứ giả, mà là chức nhà Minh ban cho Hồ Hán Thương. Năm 1405, vua Minh đã ban chức này cho Hồ Hán Thương. Bản thân chức vị này cũng đã đủ để tỏ rõ rằng, nhà Minh đang ráo riết chuẩn bị xâm lược nước ta, coi nước ta chỉ là một bộ phận lãnh thổ của Trung Quốc.

CHI HẬU TỨ CỤC CHÁNH CHƯỜNG (Lời dẫn chuyện): Tên quan chức. Thời Trần, chức này rất lớn, thường chỉ do các bậc thân vương nắm giữ. Đến cuối thời Trần, chức này có thể giao cho người ngoại tộc và vị trí không còn lớn như trước nữa. Về thứ bậc, chức Chi hậu tứ cục chánh chưởng đứng sau các quan làm việc trong Khu mật viện, là cơ quan được quyền bàn đến những vấn đề quan trọng của triều đình.

CHỈ HUY HẬU NỘI NHÂN (2): Chức quan trông coi các vị hoạn quan ở trong triều. Chức này thường kiêm luôn chức Trung sứ (lo việc truyền đạt và kiểm soát việc thực hiện mệnh vua).

CHỈNH HÌNH VIỆN (19): Chức quan lo việc xét xử và án kiện của triều đình. Những quan nào có hàm Đại phu trở lên đều có thể được trao chức này. Đây chỉ chức của Hoàng Hối Khanh.

CHỨC HÀNH QUÂN (20): Chức việc đặc biệt trao cho sứ giả. Đây chỉ Lý Kỳ là sứ giả của nhà Minh sang nước ta vào năm 1404. Việc đặc biệt mà Lý Kỳ thực hiện là bắt nhà Hồ phải cắt đất 59 thôn dâng cho nhà Minh. Việc này được tiến hành vào năm 1405.

ĐẠI PHU (19): Hàm của quan lại. Hàm này chỉ được ban cho quan lớn trong triều. Quan được ban hàm này có thể được tham gia bàn luận những việc quan trọng của nhà nước.

ĐẠI TRI CHÂU (25): Chức quan đứng đầu một châu lớn. Đây chỉ Đặng Tất là người giữ chức Đại tri châu ở Hóa Châu (vùng Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên ngày nay).

ĐẦU NGŨ (5): Là chức võ quan cấp thấp (mỗi ngũ có 10 người, người chỉ huy gọi là Đầu ngũ).

ĐỒNG TRI KHU MẬT VIỆN, THAM MƯU QUÂN SỰ (25): Chức quan lớn thứ hai trong cơ quan Khu mật viện, kiêm giữ chức Tham mưu quân sự. Đây chỉ chức tước của Nguyễn Cảnh Chân là một trong những vị tướng xuất sắc nhất của Giản Định Đế Trần Ngỗi trong cuộc khởi nghĩa chống quân Minh xâm lược.

GIA HÀO (30): Thức ăn ngon, đồ nhắm, rượu hảo hạng.

GIAO CHỈ BỐ CHÁNH SỨ (28): Quan giữ chức Bố chánh (là chức đứng đầu) ở đất Giao Chỉ. Giao Chỉ ở đây là tên lãnh thổ nước ta. Nhà Minh không thừa nhận nước ta là một nước độc lập, có chủ quyền, mà chỉ coi nước ta là một bộ phận lãnh thổ của Trung Quốc. Từ cách nhìn đó, vua Minh đã ban cho vua nhà Hồ là Hồ Hán Thương chức Giao Chỉ Bố chánh sứ.

GƯƠM LONG TUYỀN (26): Tên một thanh gươm quý. Tương truyền, có người Trung Quốc tên là Lôi Hoán đã tìm được trong nhà ngục ở Phong Thành một cái hòm. Trong hòm có hai thanh gươm, một thanh gươm tên Long Tuyền và một thanh gươm tên là Thái An. Văn học cổ thường gọi gươm quý là gươm Long Tuyền, tuy nhiên, gươm quý không phải chỉ là gươm tốt mà còn là gươm dùng vào việc đại nghĩa.

HẢI TÂY ĐÔ THỐNG CHẾ (Lời dẫn chuyện): Người cầm đầu lực lượng quân sự ở Hải Tây. Hải Tây là tên đất. Từ thời Lê Thái Tổ, Hải Tây là đạo. Đạo này gồm vùng đất từ Thanh Hóa trở vào. Trước thời Lê Thái Tổ, đạo Hải Tây chưa lập. Chúng tôi ngờ rằng, đây là tên gọi dùng để chỉ chung miền duyên hải Đông Bắc nước ta.

HÁN O TỔ THẤY ĐẦU HẠNG VŨ (5): Hán o Tổ tức Lưu Bang, người lập ra nhà Tây Hán (hay Tiễn Hán) của Trung Quốc. Hạng Vu tức Hạng Tịch, một danh tướng của Trung Quốc, xưng là Tây Sở Bình Vương. Thuở nhỏ, Hạng Vũ được chú là Hạng Lương dạy cho biết binh pháp. Sau chín trận đánh thắng quân Tần, uy danh của Hạng Vũ trở nên lừng lẫy.

Bấy giờ, Lưu Bang liên minh với Hàn Tín và Bành Việt đánh Hạng Vũ, giành quyền thống trị toàn thiên hạ. Hạng Vũ thua ở trận i Hạ, phải nhờ một người giữ chức Đình trưởng đưa qua sông Ô Giang để trốn về Giang Đông. Nhưng rồi vì quá hổ thẹn bởi sự bại trận, Hạng Vũ tự đâm cổ mà chết, không thèm qua Giang Đông nữa.

Là hai kẻ quyết không đội trời chung, nhưng trong thâm tâm, Hán Cao Tổ vẫn luôn bày tỏ sự kính phục tài cầm quân của Hạng Vũ. Đây nhà Trần coi Chế Bồng Nga cũng như Hạng Vũ, tự ví mình là Hán o Tổ.

HÀO KIỆT TRUNG CHÂU (25): Hào kiệt nghĩa là kẻ tài trí hơn người. Theo sách Hoài Nam Tử thì tài trí hơn vạn người gọi là anh, tài trí hơn ngàn người thì gọi là tuấn, tài trí hơn trăm người thì gọi là hào, tài trí hơn mười người thì gọi là kiệt. Còn trung châu là từ chỉ chung vùng đất trung tâm Đại Việt, tức vùng đồng bằng Bắc Bộ nước ta ngày nay.

HỮU BỐ CHÍNH (35): Một trong hai chức đứng đầu cơ quan hành chính ở nước ta. Nhà Minh coi nước ta là một bộ phận lãnh thổ của họ và đặt chức Bố chính để trông coi. Khi còn nhà Hồ, chức này được phong cho vua Hồ Hán Thương, và chỉ có một mình Hồ Hán Thương giữ chức này. Sau, nhà Minh thiết lập hai bộ máy i trị ở nước ta: Bộ máy quân sự và bộ máy dân sự. o nhất trong bộ máy dân sự là hai chức Tả và Hữu bố chính. Thời thuộc Minh, chức này chỉ trao cho người Trung Quốc mà thôi.

KIỆT HIỆT (35): Hùng mạnh và thông tuệ hơn cả.

KÌ LÃO (29): Người già cả.

KHÂM ĐỨC HƯNG LIỆT ĐẠI VƯƠNG (10): Tước Đại vương, hiệu là Khâm Đức Hưng Liệt. Theo quan chế xưa, trong cùng một hàm tước tên hiệu nào càng dài thì vị trí càng thấp hơn. Đây là tước Đại vương hiệu bốn chữ, thuộc loại không dài cũng không ngắn.

KHU MẬT CHỦ SỰ (9): Chức quan làm công việc đại để như Chánh văn phòng của Khu mật viện. Chức này dưới quyến của quan Khu mật viện chánh sứ, Khu mật viện phó sứ và các quan khác trong Khu mật viện như Tri viện sự, Đồng tri và Thiên tri viện sự.

KHU MẬT VIỆN ĐẠI SỨ (Lời dẫn chuyện): Cũng tương tự như chức Khu mật viện chánh sứ, tức là chức đứng đầu cơ quan Khu mật viện. Cơ quan này được quyền bàn thảo công việc của triều đình.

LẠI BỘ THƯỢNG THƯ (9): Chức quan đứng đầu bộ Lại là bộ trông coi về tổ chức của các cơ quan nhà nước. Triều đình xưa thường có sáu bộ (bộ Lại, bộ Hộ, bộ Lễ, bộ Binh, bộ Hình và bộ Công), trong đó, bộ Lại thường là một trong những bộ lớn nhất, quan Thượng thư bộ Lại có quyền uy hơn hẳn quan Thượng thư bộ Công.

LẶC THUẬN HẦU (12): Người có tước Hầu, hiệu hai chữ (là Lặc Thuận).

LONG TIỆP (5): Tên đơn vị quân đội.

LÝ TỬ TẤN (26): Người làng Triều Liệt, huyện Thượng Phúc (nay thuộc huyện Thường Tín, ngoại ô Hà Nội), không rõ sinh và mất năm nào. Lý Tử Tấn đậu Thái học sinh (tức Tiến sĩ) năm 1400 (cùng khoa với Nguyễn Trãi) nhưng không ra làm quan cho nhà Hồ. Thời Lê, Lý Tử Tấn ra làm quan, từng được vua Lê Nhân Tông trao chức Hàn lâm Học sĩ. Ông là nhà yêu nước, cũng là một trong những tác gia nổi tiếng của nước ta thời Lê. Tác phẩm của ông để lại, ngoài bộ tập chú cho sách Ức Trai dư địa chí của Nguyễn Trãi, còn có Chu yết Am thi tập và 5 bài phú nổi tiếng: Chí Linh sơn phú, Hạ Hiến Thiên Thánh tiết phú, Xương Giang phú, Dưỡng Chuyết phú, Du tiên đô phú, tất cả đều được chép trong Hoàng Việt văn tuyển.

MẶT NHÌN HƯỚNG TÂY (7): Nho gia tôn Khổng Tử làm Thánh tổ, nhưng Hồ Quý Ly chỉ cho Khổng Tử là Tiên sư, cho Chu Công mới xứng là Tiên thánh. Vì cách lập luận này, Hồ Quý Ly xin đặt tượng của Chu Công ở giữa, mặt nhìn về hướng Nam là hướng tượng trưng cho ngôi vị của Thiên tử. Vị trí này, hướng nhìn này, nguyên trước ở Văn Miếu chỉ dành cho Khổng Tử mà thôi. Cũng vì coi Khổng Tử chỉ là Tiên sư chứ không phải Tiên thánh nên Hồ Quý Ly xin đặt tượng Khổng Tử bên cạnh mặt nhìn về hướng Tây. Vị trí này, hướng nhìn này là của người thuộc hàng Tôn sư, tức là thấp hơn Tôn thánh.

MỘT LỮ (31): Tên một đơn vị quân đội. Theo binh chế nước ta thời Đinh thì lữ là đơn vị mà trên lí thuyết có đến 10.000 quân. Tuy nhiên, chưa bao giờ các lữ gồm đủ đến 10.000 quân cả, thậm chí là còn xa mới đạt đến tổng số này.

Thời Tiền Lê, thời Lý rồi thời Trần và thời Hồ, binh chế luôn luôn thay đổi, cả về tên gọi đơn vị, tổ chức chỉ huy lẫn con số cụ thể. Ở đây, lữ là đơn vị ước lệ, ý nói quân đội không bao nhiêu.

NỘI TẨM HỌC SINH (11): Kẻ hầu phòng ngủ cho vua chưa có chức ngạch gì. Chức này thường dùng cho hoạn quan mới tuyển.

NINH VỆ (6): Là tên đơn vị quân đội.

NƯỚC TRẦN (7): Tên một nước chư hầu thời Xuân Thu ở Trung Quốc.

NHIẾP THÁI PHÓ (Lời dẫn chuyện): Thái phó là một trong Tam Thái, gồm: Thái sư, Thái phó và Thái bảo. Trong hàng quan lại, Tam Thái là lớn hơn cả.

Nhiếp thái phó là chức của Hồ Quý Ly năm 1399. Chức ấy có nghĩa là Hồ Quý Ly nắm quyền nhiếp chính hàm Thái phó.

NGỌC THIỆN TRÂN TU (30): Món ăn vừa quý vừa ngon. Lời chỉ các món ăn vương giả.

NGUYÊN NHUNG (Lời dẫn chuyện): Chức đứng đầu một đơn vị quân đội lớn dưới thời Trần. Đây chỉ chức của Hồ Quý Ly năm 1380, khi ông làm Hải Tây Đô thống chế.

PHẬT HẤT (7): Quan tể của ấp Trung Mâu, xuất thân là gia thần của quan Đại phu Triệu Giám Tử (người nước Tấn, Trung Quốc thời Xuân Thu).

PHỤ CHÍNH THÁI SƯ NHIẾP CHÍNH, KHÂM ĐỨC HƯNG LIỆT ĐẠI VƯƠNG, QUỐC TỔ CHƯƠNG HOÀNG (Lời dẫn chuyện): Quan thay vua nắm quyền nhiếp chính, tước Đại vương, hiệu là Khâm Đức Hưng Liệt, lại cũng là ông của vua. Đây chỉ Hồ Quý Ly, vì Hồ Quý Ly là ông ngoại của Trấn Thiếu Đế nên xưng là Quốc tổ chương hoàng.

PHƯƠNG THUẬT (15): Phép thuật thần tiên. Đây chỉ phép của đạo sĩ và thầy pháp.

QUAN PHỤC HẦU (12): Tước hầu, hiệu là Quan Phục.

QUAN SÁT SỨ (12): Chức quan nhỏ thời Trần, chưa rõ làm việc cụ thể gì.

QUAN TUYÊN ÚY (Lời dẫn chuyện): Chức quan tương đương với chức Tri huyện sau này.

QUÂN THÁNH DỰC (4): Tên một trong những đơn vị quân đội chủ lực của triều đình, do triều đình trực tiếp quản lí và tổ chức chỉ huy.

Thời Trần trở về trước, quân đội thường gồm 4 bộ phận. Bộ phận thứ nhất do triều đình trực tiếp quản lí, kể cũng như quân chủ lực ngày nay. Lính của bộ phận này thường được gọi là Thiên tử quân hay Cấm vệ quân. Bộ phận thứ hai do các địa phương quản lí, thường gọi là Quân các lộ (lộ là đơn vị hành chánh địa phương), kể cũng tương tự như quân địa phương của ta ngày nay. Bộ phận thứ ba là lực lượng bán vũ trang do nhân dân các làng xã tự tổ chức, kể cũng như dân quân du kích của ta ngày nay. Ngoài ra, còn có một bộ phận nữa, đó là quân đội tư nhân của các bậc vương hầu. Tuy là quân đội tư nhân, do tư nhân trực tiếp quản lí và chỉ huy, nhưng khi cần, nhà nước vẫn có thể huy động.

Như vậy, quân Thánh Dực là quân thuộc bộ phận thứ nhất. Nhà Hồ tiến hành nhiều cải cách quân đội, nhưng về mặt này, chính sách của nhà Hồ không có gì khác trước lắm.

QUỐC CÔNG (25): Tên tước vị. Xưa, tước vị gồm: Vương, Công, Hầu, Bá, Tử và Nam. Tước Vương thường chỉ ban cho người trong hoàng tộc, rất ít khi ban cho người ngoài hoàng tộc, cho nên, nói là sáu bậc, song trong thực tế chỉ có năm bậc mà thôi.

Trong mỗi tước vị, lại còn phải chia làm nhiều bậc, như tước Công thì có Quốc công, Quận công, hay tước Hầu thì có Quận hầu, Huyện hầu v.v... Trong mỗi bậc, khoảng cách hơn kém còn phụ thuộc ở số chữ trong tên hiệu. Số chữ càng nhiều, tước càng thấp. Đây chỉ tước của Đặng Tất. Theo chữ mà suy thì Đặng Tất được phong tới bậc o nhất của tước công.

QUỐC TỬ TRỢ GIÁO (7): Chức quan ở Quốc Tử Giám, thuộc quyền i quản của các quan như Tri giám, Tế tửu, Tư nghiệp... chuyên lo giúp việc giảng tập tại cơ quan giáo dục này của triều đình.

SINH VIÊN (35): Học trò lớn tuổi đã học khá o. Xưa, học trò mới nhập trường cho đến khoảng 14 hay 15 tuổi thì gọi là tiểu tử, từ 14 hay 15 tuổi trở lên, được học Tứ Thư, Ngữ Kinh và Bắc Sử thì gọi là đại nhân. Một số người trong hàng đại nhân được gọi là sinh viên.

SỔ PHỤNG ĐẠO (10): Sổ ghi tên những người tình nguyện theo đạo. Ở đây, đạo là đạo giáo

TÁC OAI TÁC PHÚC (35): Làm oai làm phúc, chỉ việc hay dùng quyền uy để dọa nạt thiên hạ.

TIÊM LA (32): Tên nước, cũng đọc là Xiêm La (tức Thái Lan ngày nay).

TIÊN SƯ (7): Người khởi xướng ra một học thuyết hay người có công tạo ra một nghề mới đều gọi là Tiên sư. Xưa, học trò gọi người thầy của mình đã mất cũng là Tiên sư. Đây chỉ Khổng Tử. Nho gia tôn Khổng Tử là Tiên thánh hay Thánh tổ, nhưng Hồ Quý Ly chỉ cho Khổng Tử là Tiên sư mà thôi.

TIÊN THÁNH (7): Vị thánh đầu tiên và o nhất. Đây theo Hồ Quý Ly thì Tiên thánh là Chu Công Đán chứ không phải là Khổng Tử.

TIẾN PHONG ĐỒNG BÌNH CHƯƠNG SỰ (Lời dẫn chuyện): Được tiến phong làm Đồng bình chương sự. Đồng bình chương sự là chức rất lớn, chỉ ở sau quan Phụ chính mà thôi. Người giữ chức này thường được tự ý quyết đoán các việc, sau mới tâu vua.

TIỂU TƯ KHÔNG (Lời dẫn chuyện): Từ thời Trần, quan chế có thêm Tam tư là Tư đồ, Tư mã, Tư không, trong mỗi Tư lại có Đại và Tiểu tư. Như vậy, Tiểu tự không là người ở hàng thứ hai của Tư không. Chức này về sau tương đương với Thượng thư bộ Công (bộ nhỏ nhất trong số 6 bộ của triều đình).

TÔN THẤT (12): Họ của nhà vua.

TUYÊN TRUNG VỆ QUỐC ĐẠI VƯƠNG (Lời dẫn chuyện): Cũng có thể viết là Trung Tuyên vệ quốc Đại vương, tuy nhiên, nghĩa không đổi: tước Đại vương, hiệu là Trung Tuyên vệ quốc.

THẠCH THẤT (33): Tên đất thuộc tỉnh Hà Tây.

TOÁT THÔNG VƯƠNG (12): Là người được phong tước Vương, hiệu Toát Thông (tước Vương hai chữ) nhưng đây là tước Vương phong cho các vị tù trưởng thiểu số, chỉ là hư hàm mà thôi.

THÁI SỬ LỆNH (9): Chức việc quan trọng, chỉ giao cho quan lại cỡ lớn làm trong nhất thời. Đây chỉ việc quan Thượng thư bộ Lại là Đỗ Tỉnh được vua Trần giao việc đi đo đạc ruộng đất.

THÁI TỬ THÁI PHÓ (22): Trong quan lại, o nhất là hàng Tam thái: Thái sư, Thái phó và Thái bảo. Hai chữ Thái tử ở đây là gia hàm, ban thêm cho người được phong hàm Thái phó. Xin lưu ý thêm rằng, hệ thống quan chức của Trung Quốc thời Minh có khác với hệ thống quan chức của nước ta thời Hồ. Thái tử Thái phó nói ở đây là Thái tử Thái phó Chu Năng (tướng chỉ huy của quân Minh).

THÁI THƯỢNG NGUYÊN QUÂN HOÀNG ĐẾ (10): Danh xưng của vua Trần Thuận Tông sau khi bị Hồ Quý Ly ép phải nhường ngôi cho con là Trần Thiếu Đế. Nhường ngôi xong, Trần Thuận Tông buộc phải đi tu theo Đạo giáo nên mới có danh xưng này.

THÁI ÚY (3): Hàm võ quan, nhưng thời Trần và thời Hồ chỉ dùng để gia hàm cho các vị tôn thất khi họ được kiêm làm Tể tướng (hoặc Tướng quốc).

THAM MƯU QUÂN Sự (Lời dẫn chuyện): Chức lo việc giúp vua bàn tính chuyện quân sự. Đây chỉ chức của Hồ Quý Ly năm 1375.

THAM NGHỊ (24): Chức được tham gia bàn việc. Đây chỉ chức của Bùi Bá Kỳ khi Bùi Bá Kỳ theo quân Minh về nước ta. Trong quan chế thời này, Tham nghị chỉ là hư hàm, nằm ở ngoại ngạch, chỉ ban cho Bùi Bá Kỳ như một sự an ủi mà thôi.

THÀNH QUỐC CÔNG (22): Tước Quốc công, hiệu là Thành. Đây chỉ tước của tướng nhà Minh là Chu Năng.

THIẾT LIÊM, THIẾT SANG (2): Tên đơn vị quân đội.

TRANG (6): Tên đơn vị hành chánh địa phương, ở dưới cấp lộ, tương đương với huyện hoặc châu. Đây chỉ trang Nam Định là một trang trong phủ Nam Định lúc bấy giờ.

TRÁNG SĨ NHƯ PHÀN (30): Tráng sĩ như Phàn Khoái. Phàn Khoái là võ tướng của Hán o Tổ. Trong bữa tiệc ở Hồng Môn, Hạng Vũ muốn tìm cách giết Hán o Tổ. Phàn Khoái biết, liền xông vào mà nói rằng: Nay có tiệc rượu thì xin được uống rượu. Nói rồi lừ mắt nhìn Hạng Vũ, khiến Hạng Vũ phải đổi ý mà lấy rượu thịt mời Phàn Khoái ăn. Phàn Khoái vừa uống vừa ăn gọn cả một vai heo! Hạng Vũ khen Phàn Khoái là tráng sĩ. Đây Nguyễn Biểu ví mình cũng như Phàn Khoái, ung dung ăn để giữ tư thế sứ giả của vua khởi nghĩa là Trùng Quang Đế.

TRUNG THƯ HOÀNG MÔN THỊ LANG KIÊM TRI ÁI CHÂU THÔNG PHÁN (7): Quan có hàm ngang với Thượng thư, làm việc ở dinh thự có tên là Hoàng Môn, kiêm đứng đầu các việc ở châu Ái. Châu Ái nay thuộc Thanh Hóa và Bắc Nghệ An.

TRI PHỦ (26): Chức quan đứng đầu một phủ, cũng có khi gọi là An phủ sứ.

TRI THẨM HÌNH VIỆN (3): Chức quan o cấp trong cơ quan Thẩm hình viện của nhà nước. Cơ quan này chuyên lo việc xét xử, án kiện, ngục tụng v.v...

TRUNG THỊ LANG ĐỒNG TRI THẨM HÌNH VIỆN SỰ (7): Người có chức dưới Thượng thư, kiêm coi các việc với các quan trong cơ quan Thẩm hình viện.

TRUNG THƯ, THƯỢNG THƯ SẢNH, PHỤNG NHIẾP CHÍNH, I GIÁO HOÀNG ĐẾ THÁNH CHỈ (10): Tờ thánh chỉ của người coi việc dạy dỗ Hoàng đế nhỏ tuổi, cũng là người đang giữ quyền nhiếp chính, ban ra từ nơi làm việc của các quan Thượng thư trong triều. Đây chỉ các tờ văn kiện do Hồ Quý Ly ban ra.

TRUNG TUYÊN QUỐC THƯỢNG HẦU (Lời dẫn chuyện): Người có tước Quốc thượng hầu, hiệu là Trung Tuyên. Đây là tước của Hồ Quý Ly năm 1371.

TRỤ QUỐC (12): Tên hiệu của Nhật Đôn.

VẬT BÀY THỎ THỦ (30): Thức ăn có món đầu thỏ. Chữ lấy trong thơ Biểu diệp của Kinh Thi: "Hữu thố tư thủ” (có món đầu thỏ ấy). Ý chỉ yến tiệc ngon.

VỆ CẨM Y (29): Tên một đơn vị quân đội thường trực của triều đình. Đơn vị này thường được giao việc bắt giam những người phạm tội và i quản phạm nhân.

VỆ LINH CÔNG (7): Tên một nhân vật người Trung Quốc thời Xuân Thu. Vệ Linh Công là chồng của nàng Nam Tử, nổi tiếng xinh đẹp nhưng cũng nổi tiếng dâm dật.

XA KỊ VỆ THƯỢNG TƯỚNG QUÂN (11): võ quan hàm Thượng tướng, i quản vệ quân có tên gọi là Xa Kị (Các vệ quân có cuối thời Trần và thời Hồ là: Kim Ngô, Long Tiệp, Phụng Thần, Xa Kị, Thần Sách và Kiêu Kị).

Theo binh chế xưa, Thượng tướng là hàm võ quan o cấp.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks       
            
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 10.02.2018, 11:08
Hình đại diện của thành viên
V.I.P
V.I.P
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 32 Nữ
Bài viết: 35935
Được thanks: 5480 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
CHÚ THÍCH BÀI VĂN TẾ NGUYỄN BIỂU, VIẾT BẰNG CHỮ NÔM CỦA TRÙNG QUANG ĐẾ

Câu 1: Sinh rồi lại mất, luân chuyển không cùng, máy tạo hóa thật là mầu nhiệm mà khó thấy.

Câu 2: Có đó rồi không cũng đó, bụi cõi đời rõ thay.

Câu 3: Thù không đội trời chung, trời đất chứng giám.

Câu 4: Hận đến vô cùng, thề để quỷ thần rõ.

Câu 5: Nhớ thời tiên sinh giơ cao chiếc mũ có hình con giải trãi, (giải trãi là con vật mà tương truyền, tự nó có thể biết được ai chính ai tà. Vì lẽ đó, các quan Ngự sử thường đội mũ giải trãi. Mũ giải trãi tượng trưng cho khí tiết ngay thẳng, không thiên vị bất cứ ai).

Câu 6: Vững lòng nơi làm việc can gián, cam làm cột đá để ngăn dòng nước chảy sai chiều (ý chỉ ngăn việc sai trái).

Câu 7: Cho đến lúc tiên sinh lên ngựa đi xa, hăm hở mà chỉ,

Câu 8: Cán cờ của sứ giả bỗng gặp gió thu cản trở mà nên nỗi.

Câu 9: Giặc Hồ hôi tanh chỉ hòng làm hại.

Câu 10: Gan như sắt đá; Tô Vũ (thời Hán bên Trung Quốc) cũng chẳng dễ sánh.

Câu 11: Quan Vân Trường vì gặp Lữ Mông (tướng của nhà Đông Ngô) nên mới sa cơ.

Câu 12: Thoáng thấy chữ phệ tề hà cập (ăn năn sao kịp) mà lòng dạ bùi ngùi.

Câu 13: Lưu Huyền Đức giận Lục Tốn, mong trả thù này,

Câu 14: Nghĩ đến câu thường đảm bất vong (nếm mật đắng cho khỏi quên) lòng thêm dọi dọi.

Câu 15: Sấu kia không lấp cạn dòng (ý nói nỗi sầu rất lớn, khó có thể quên, nhưng vẫn không ngăn được chí lớn),

Câu 16: Thảm nọ dễ xây nên núi (ý nói nỗi thảm quá lớn, nhưng vẫn không che được hướng đã chọn).

Câu 17: Lấy chi để báo đáp đức dày, rượu kim tương (rượu quý) này một lọ.

Câu 18: Vơi vơi xin chuốc ba tuần (ba lần rót rượu quý để tê)

Câu 19: Lấy chi để vỗ về hồn thơm, văn dụ tế mấy câu,

Câu 20: Thăm thẳm thông xuống tận nơi chín suối.

(Bài văn tế viết bằng chữ Nôm nói trên, vừa có nhiều điển tích, lại vừa có một số khái niệm rất khó giải thích cho tường tận, nhất là chỉ trong vài ba hàng. Chúng tôi chỉ lược chữ như trên để bạn đọc dễ theo dõi mà thôi).

Hết tập 4.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks       
            
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 10.02.2018, 11:11
Hình đại diện của thành viên
V.I.P
V.I.P
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 32 Nữ
Bài viết: 35935
Được thanks: 5480 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
TẬP 5 (62 GIAI THOẠI THỜI LÊ SƠ)


Giai thoại 1: LÍ LỊCH XUẤT THÂN CỦA LÊ LỢI


Tằng tổ của Lê Lợi là Lê Hối, vốn người ở thôn Như Áng. Sách Đại Việt thông sử (trang 31) chép rằng: "Một hôm, cụ đi chơi thấy đàn chim lượn vòng quanh trên một khoảng đất nơi dưới núi Lam Sơn, trông như hình một đám người tụ hội. Cụ nghĩ: “Chỗ này tất là nơi đất lành,” bên dời nhà đến ở đấy, rồi khai phá ruộng vườn, tự chăm lo cày cấy, được ba năm thì thành sản nghiệp, từ đấy, đời đời đều là hùng trưởng một phương.”

Lê Hối sinh ra Lê Thinh. Lê Thinh lấy bà Nguyễn Thị Quách, sinh hạ hai người con trai, con trưởng là Lê Tòng, con thứ là Lê KHóang. Lê KHóang kết hôn với bà Trịnh Thị Ngọc Thương, sinh hạ được ba người con trai, con trưởng là Lê Học, con thứ là Lê Trừ và con út là Lê Lợi.

Cũng sách Đại Việt thông sử (trang 32) chép rằng: "Vua sinh giờ tí (tức từ khoảng 23 giờ đến 1 giờ sáng - NKT) ngày mồng 6 tháng 8 năm Ất Sửu (1385), niên hiệu Xương Phù thứ 9 nhà Trần, tại làng Chủ Sơn, huyện Lôi Dương. Nguyên trước, xứ Du Sơn, thôn Như Áng Hậu thuộc làng này (Chủ Sơn), có một cây quế, dưới cây quế này có con hùm xám thường xuất hiện, nhưng nó hiền lành, vẫn thường thân cận với người mà chưa từng hại ai. Từ khi Vua ra đời thì không thấy con hùm ấy đâu nữa. Người ta cho là một sự lạ! Ngày Vua ra đời thì trong nhà có hào quang đô chiếu sáng rực, và mùi thơm ngào ngạt khắp làng. Khi lớn lên thì thông minh dũng lược, độ lượng hơn người, vẻ người tươi đẹp hùng vĩ, mắt sáng, miệng rộng, sống mũi cao, xương mi mắt gồ lên, bả vai bên tá có bảy nốt ruồi, bước đi như rồng như hổ, tiếng nói vang vang như tiếng chuông. Các bậc thức giả biết ngay là một người phi thường.

Khi Vua làm phụ đạo ở Khả Lam, được hồn sư ông mặc áo trắng hiển hiện chỉ cho ngôi huyệt phát "đế vương" ở động Chiêu Nghi.

Thời ấy, người phường chài ở sách Mục Sơn là Lê Thận, đêm nào cũng thấy khoảng sông Lam Xuyên có luồng ánh sáng như bó đuốc cháy. Hơn một tháng sau, bỗng chài được một thanh sắt dài hơn một thước, hình tựa con dao cũ, đem về để trong nhà. Ngay hôm ấy, Vua đến nhà ông, thấy trong nhà tối có một luồng ánh sáng, liền tới chỗ đó lấy thanh đao đem về. Về đến nhà, không phải mài mà sáng (như dao mới), nhận thấy có hàng chữ triện khắc trên thân đao, biết là một thanh đao quý. Đêm hôm sau, có trận mưa gió, sáng ra, thấy trong vườn rau có lốt chân thần in trên lá rau, Vua sai người vẽ hình vết chân ấy. Ngày hôm sau, Hoàng hậu ra vườn hái rau, đến chỗ cây rau có hình bàn chân, bỗng được một quả ấn báu, dài rộng ngay ngắn, một quả ấn khắc mấy chữ lối triện, trên lưng quả ấn khắc đích họ tên Vua, nhận kĩ mới rõ. Vua biết là bảo vật của trời ban cho, bèn cúi đầu lạy tạ. Ngày hôm sau, bỗng được cái chuôi kiếm ở gốc cây đa, rửa sạch đất cát đi, thấy có khắc hình con rồng và con hổ, và hiện ra hai chữ "thanh thúy,” đem lắp vào thanh kiếm đã bắt được hồi trước, vừa vặn không sai tí nào, càng tin là vật của thần cho.”

Lời bàn: Ở đời, phàm người mình yêu thì bao giờ cũng đẹp, thậm chí, có khi mình còn thấy cả cái đẹp trong chỗ chưa đẹp; và phàm là người mình kính thì khi họ sống, mình thấy họ có uy, khi họ mất, mình thấy họ thiêng, thậm chí, thấy cả cái uy cái thiêng ngay trong chỗ rất bình thường nữa. Bậc dốc lòng nuôi chí cả, bất chấp hiểm nguy mà làm nên đại sự nghiệp cứu nước cứu dân như Lê Lợi, cổ kim nào có được mấy người. Cho nên, nếu trăm họ cảm phục và kính trọng Lê Lợi, rồi nhân đó mà tặng thêm cho lí lịch Lê Lợi những chi tiết li kì và sử gia xưa cũng viết về Lê Lợi với tấm lòng ấy, khiến cho Lê Lợi càng trở nên khác thường, thì có gì là lạ đâu.

Vẫn biết rằng lúc vận nước nguy nan, ngọn cờ thiên hạ cần nhất là ngọn cờ đủ sức quy tụ và cố kết lòng người chứ không phải là ngọn cờ có sắc màu lạ, nhưng khi xã tắc thái bình, nếu ngọn cờ đủ sức quy tụ và cố kết lòng người bỗng được vẽ thêm sắc màu lạ, thì trăm họ cũng sẽ sẵn lòng tin là sắc màu ấy vốn đã có từ lâu.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks       
            
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 10.02.2018, 11:13
Hình đại diện của thành viên
V.I.P
V.I.P
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 32 Nữ
Bài viết: 35935
Được thanks: 5480 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
Giai thoại 2: SỰ TÍCH ĐIỆN TIÊN DU

Ở xứ Phật Hoàng, động Chiêu Nghi, Lam Sơn, Thanh Hóa, có một ngôi điện nhỏ, gọi là điện Tiên Du. Điện này được lập từ thế kỉ XV. Sách Lam Sơn thực lục (quyển 1) đã chép về sự tích điện Tiên Du này như sau:

'Thuở ấy, Vua (chỉ Lê Lợi - ND) sai người đến cày ruộng ở xứ Phật Hoàng thuộc động Chiêu Nghi. (Người cày) bỗng thấy một vị sư già, mình kHóac áo trắng, đi từ hướng làng Đức Trai tới, vừa đi vừa than rằng:

- Đất này đẹp quá, thế mà chẳng có ai để trao cho.

Người cày thấy thế, vội chạy vế báo Vua hay. Vua chạy gấp đến hỏi. Có người cho biết:

- Nhà sư đã đi rồi.

Theo hướng chỉ, Vua đi nhanh đến sách Quần Đội, huyện Lôi Dương. (Dọc đường), Vua thấy có cái thẻ tre đề rằng:

Thiên đức thụ mệnh,

Tuế trung tứ thập,

Số dĩ chỉ định

Tích tai vị cập.

(Nghĩa là: Đức trời nhận mệnh, vào tuổi bốn mươi, số kia đã định, tiếc thay chẳng kịp). Vua thấy chữ ấy mà mừng nên càng cố đi nhanh. Lúc ấy, rồng vàng hiện lên che lấy Vua. Vừa chợt thấy, vị sư già đã thưa rằng:

- Tôi từ đất Ai Lao đến, người họ Trịnh, tên tự là Bạch Thạch Sơn Tăng. Thấy Vua khí tượng khác người, đoán là có thể làm nên việc lớn.

Vua quỳ xuống thưa rằng:

- Mạch đất của tôi đây sang hèn ra sao, dám xin thầy chỉ rõ cho.

Vị sư già nói:

- Xứ Phật Hoàng, động Chiêu Nghi có một thửa đất rộng chừng nửa sào, có hình tượng như cái ấn của nước nhà, bên tả có thái thất là núi Chí Linh ở Mường Giao Lão. Trong núi ấy có gò Tiên Bạn, Chiêu Sơn ở xã An KHóai là án, phía trước có nước Long Sơn, phía trong có nước Long Hồ hình xoáy như ruột ốc, bên hữu có nước hồ bao quanh, phía ngoài chân núi tựa như chuỗi hạt. Đất ấy, đàn ông thì quý không thể nói được, nhưng đàn bà thì hẳn là sẽ phải thất tiết. Tôi e rằng con cháu ngài về sau nó không ở cùng với nhau. Ngôi báu tất có khi trung hưng, mệnh trời có thể biết trước được. (Bây giờ) nếu có được thầy giỏi, đem hài cốt đi cải táng thì vẫn có thể phấn phát được dăm trăm năm.

Nghe lời vị sư già, Vua đem hài cốt của thân phụ táng ở xứ ấy. Vào khoảng giờ Dần (từ 3 đến 5 giờ sáng - ND), khi Vua về đến thôn Giao Xá Hạ thì vị sư già ấy cũng bay lên trời. Vì lẽ này, Vua cho lập điện Tiên Du ở đấy. Trong động Chiêu Nghi, Vua cho dựng am nhỏ (chỗ mộ Phật Hoàng). Đó chính là gốc cội của sự phát tích.”

Lời bàn: Chuyện này có đến ba điều đáng suy ngẫm. Thứ nhất, nhờ người nhà đi cày về mách bảo, Lê Lợi mới hay là có thầy phong thủy đi qua xứ mình. Người cày ấy chính là nhân chứng bằng xương bằng thịt vậy. Thứ hai, thầy phong thủy lại cũng là một vị sư già, tự hiệu Bạch Thạch Sơn Tăng, vốn người Ai Lao, tức là người xứ lạ. Cứ theo nếp nghĩ “bụt chùa nhà không thiêng” thì người xứ lạ thường là người giỏi hơn xứ mình, họ mà đã nói thì còn sai vào đâu được. Vả chăng, đã là người xứ lạ giá thử như có người nào khó tính của xứ mình muốn đến gặp để kiểm chứng lại, việc nhiêu khê này cũng chẳng dễ gì làm. Thứ ba, thầy phong thủy sau khi chỉ huyệt đại phát cho Lê Lợi, đã bay thẳng lên trời. Với đấng phi phàm ấy, thế tục chỉ còn biết hãy vâng theo và nghiêm cẩn kính thờ.

Từ ba điều đáng suy ngẫm ấy, dễ thường cũng có cả trăm lẽ khiến cho thiên hạ kéo về tụ nghĩa ở Lam Sơn. Chí quật khởi có thật, cộng với khí thiêng sông núi và mệnh trời vô hình lẩn quất đâu đó đã cùng họp lại mà tạo ra sức mạnh vô song, quân Minh xâm lược không bị đánh bại làm sao được!


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks       
            
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 10.02.2018, 11:14
Hình đại diện của thành viên
V.I.P
V.I.P
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 32 Nữ
Bài viết: 35935
Được thanks: 5480 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
Giai thoại 3: LÊ LỢI XƯỚNG NGHĨA

Sách Đại Việt thông sử (trang 34 chép rằng: "Từ khi người Minh đô hộ nước ta, chính sự phiền toái, thuế má nặng nề, quan tham lại nhũng, cấm dân nấu muối trồng rau, bắt dân xuống biển mò ngọc châu, phá núi tìm vàng; những sản phẩm quý giá như ngà voi, sừng tê, lông chim trả, cùng các thứ hương liệu, chúng đều vơ vét hết. Sau lại bất dân đắp mười thành trong mười quận để đóng quân; chúng lại khéo dùng chức tước để dụ dỗ những người hào kiệt, đưa về triều đình Trung Hoa, cốt là an trí ở đó. Bởi vậy nhân dân nước ta không trừ một ai, thảy đều thảm sầu oán giận! Vua (chỉ Lê Lợi - NKT) vẫn giữ chí như trước, dù người Minh đem quan tước ra dụ cũng không được, lấy thế lực cũng không hiếp nổi, nhưng nhận thấy thế quân địch đang mạnh, nên Vua càng ẩn trong bóng tối, không dám khinh động, lại thường đem bảo vật năn nỉ hối lộ cho bọn Trương Phụ, Trần Trí, Sơn Thọ và Mã Kỳ, những mong được khỏi nạn, để nuôi thêm sức lực và chờ đợi thời cơ. Chỉ vì tên Lương Nhữ Hốt, người huyện Cổ Đằng (sau này đổi là Hoằng Hóa) giữ chức tham chính, là thổ quan của người Minh, đem lòng ghen ghét, bèn mật cáo với người Minh rằng:

"Người chúa Lam Sơn chiêu nạp những kẻ vong mạng và làm phản, đãi ngộ sĩ tốt rất hậu, chí của người ấy không phải là nhỏ. Nếu không sớm liệu đi, để cho con rồng gặp mây mưa, thì khi ấy nó sẽ không còn là một con vật ở trong ao nữa đâu. Vậy, xin trừ ngay đi, đừng để tai vạ về sau.”

Người Minh tin lời tên Nhữ Hốt, cho nên, càng bức bách rất gấp. Bởi vậy, Vua bèn đại hội tướng sĩ, bàn tính việc khởi binh.

Ngày mồng hai là ngày Canh Thân, tháng giêng năm Mậu Tuất (tức ngày mồng hai Tết, hay ngày 7 tháng 2 năm 1418), niên hiệu Vĩnh Lạc thứ XVI nhà Minh, Vua dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, xưng là Bình Định Vương.”

Lời bàn: Trước, dẫu lòng riêng vẫn hằng kính trọng nghĩa khí của Giản Định Đế và Trùng Quang Đế, nhưng Lê Lợi vẫn quyết không theo phò, bởi đã nhìn thấy kết cục thất bại không thể nào tránh khỏi của họ. Đó là mẫn tuệ.

Sau, vì thương trăm họ bị quân Minh đày đọa mà khôn khéo tập hợp anh hùng hào kiệt, ẩn nhẫn chờ thời để dựng cờ cứu nước cứu dân, đó là chí nhân và đại dũng.

Gồm đủ cả trí, dũng và nhân, Lê Lợi quả đúng như lời Lương Nhữ Hốt nói, chẳng phải là con vật tầm thường trong ao, mà là con hoàng long phi phàm vậy.

Dân gian có câu rằng:

Xạ hương dẫu ở trong rừng.

Khi thơm, bưng bít mấy tầng cũng thơm.

Trước khi để lại danh thơm muôn thuở cho nước nhà, Lê Lợi là xạ hương đặc biệt của núi rừng Lam Sơn đó chăng? Nếu không, trăm họ ở khắp thiên hạ bốn phương, làm sao biết được để tìm đến mà tụ nghĩa?


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks       
            
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 10.02.2018, 11:15
Hình đại diện của thành viên
V.I.P
V.I.P
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 32 Nữ
Bài viết: 35935
Được thanks: 5480 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
Giai thoại 4: HOẰNG HỰU ĐẠI VƯƠNG VÀ BẢO QUỐC ĐẠI VƯƠNG

Bên bờ sông Khả Lam (Thanh Hóa) hiện vẫn còn dấu tích của hai ngôi miếu thờ, một là Hoàng Hựu Đại vương và một là Bảo Quốc Đại vương. Sự tích hai ngôi miếu thờ này được sách Lam Sơn thực lục chép lại khá rõ.

Chuyện kể rằng, khi Lê Lợi đang gấp rút chuẩn bị dựng cờ khởi nghĩa thì có một sự xích mích đáng tiếc đã xảy ra. Bấy giờ, ở thôn Hào Lương (cũng thuộc Lam Sơn) có một người tên là Đỗ Phú, bỗng sinh chuyện tranh giành đất đai với Lê Lợi. Đỗ Phú đưa đơn kiện Lê Lợi. Quan trên thấy Đỗ Phú đuối lí, bèn cho Lê Lợi thắng kiện. Lam Sơn thục lục (quyển 1) chép:

“Đỗ Phú nhân thế mà sinh thù oán, dẫn giặc Minh về bắt Vua (chỉ Lê Lợi - ND). Vua cùng với Lê Liễu chạy đến sông Khả Lam thì thấy thi thể một người đàn bà, mình mặc áo trắng, có đeo xuyến vàng và thoa vàng. Vua và Lê Liễu ngửa mặt lên trời mà khấn rằng:

- Ta bị giặc Minh đuổi, xin hãy giúp ta thoát nạn, mai sau nếu được thiên hạ, ta sẽ lập miếu thờ, hễ có bò heo cúng tế thì sẽ xin đem cúng trước.

(Khấn rồi, vội đem xác người đàn bà đi chôn). Mồ đắp chưa xong thì giặc đã xua chó ngao chạy đến. Vua và Liễu trốn vào gốc cây đa. Giặc lấy giáo đâm vào gốc đa, mũi giáo trúng ngay đùi bên trái của Liễu. Liễu lấy tay nắm cát, đem vuốt cho hết máu ở mũi giáo. Bất ngờ, một con chồn trắng từ đâu đó trong gốc đa chạy ra, chó ngao cứ thế đuổi theo chồn, giặc bỏ đi vì không nghi trong gốc cây có người trốn nữa, Vua cũng nhờ vậy mà được thoát.

Sau này, khi định song thiên hạ, Vua phong thần áo trắng làm Hoằng Hựu Đại vương (vị Đại vương có công lớn trong việc cứu giúp) và phong cây đa làm Hộ Quốc Đại vương (vị Đại vương có công bảo hộ nước nhà).

Lời bàn: Sống mà phản trắc như Đỗ Phú là sống nhục. Của tham dầu mọn nuốt cũng chẳng trôi mà danh nhơ thì muôn đời rửa cũng chẳng sạch.

Trong chỗ quẫn bách, cái chết đã cận kè mà Lê Lợi và Lê Liễu vẫn giữ vững đức nhân, cẩn thận đắp mồ cho người đàn bà xấu số, việc ấy đáng kính lắm thay. Bậc đại nhân túc tự trí thường vẫn ung dung, thấy lối thông trong chỗ cùng, thấy đường sống ngay trong chỗ hiểm nguy chết chóc. Nếu không vậy thì làm sao mà Lê Liễu đủ bình tĩnh nắm cát vuốt máu ở đầu mũi giáo!

Ban sắc phong cho thần áo trắng và cây đa ở bến Khả Lam, hẳn Hoàng đế Lê Lợi muốn tự nhắc nhở mình đừng quên thời hàn vi gian khổ và nhắc nhở dân Lam Sơn rằng đừng bao giờ quên đất ấy quả là địa linh.

Đỗ Phú mang danh là người mà sau chẳng dám ngửa mặt nhìn người, đến cúi xuống cũng chẳng dám mở mắt, bởi thân xác ấy làm sao mà không khỏi hổ thẹn, cả với gốc cây đa, với con chồn trắng bên bến Khả Lam.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks       
            
Xem thông tin cá nhân
Hiển thị bài viết từ:  Sắp xếp theo  
Trả lời đề tài  [ 348 bài ] 
           
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:



Đề tài nổi bật 
1 • [Hiện đại] Cố chấp ngọt - Triệu Thập Dư

1 ... 10, 11, 12

[Xuyên không] Bệnh vương tuyệt sủng độc phi - Trắc Nhĩ Thính Phong

1 ... 39, 40, 41

3 • [Hiện đại] Hôn nhân bất ngờ Đoạt được cô vợ nghịch ngợm - Luật Nhi

1 ... 63, 64, 65

4 • [Hiện đại] Đồng phục cùng áo cưới - Lục Dược

1 ... 7, 8, 9

5 • [Cổ đại - Trùng sinh] Ngày mai liền hòa ly - Hải Lí Khê

1 ... 9, 10, 11

6 • [Xuyên không - Dị giới] Phế sài muốn nghịch thiên Ma Đế cuồng phi - Tiêu Thất Gia - New C1644

1 ... 61, 62, 63

7 • [Hiện đại] Vợ yêu con cưng của tổng tài - Thượng Quan Nhiêu

1 ... 22, 23, 24

8 • [Xuyên không] Con đường vinh hoa của Thái tử phi - Tú Mộc Thành Lâm

1 ... 15, 16, 17

9 • [Xuyên không - Dị giới] Thiên tài triệu hồi sư - Nhược Tuyết Tam Thiên

1 ... 66, 67, 68

10 • [Cổ đại - Trùng sinh] Đích nữ vô song - Bạch Sắc Hồ Điệp

1 ... 35, 36, 37

11 • [Cổ đại - Trọng sinh] Võ thần nghịch thiên Ma phi chí tôn - Băng Y Khả Khả

1 ... 22, 23, 24

12 • [Xuyên không] Cuộc sống điền viên của Tình Nhi - Ngàn Năm Thư Nhất Đồng

1 ... 53, 54, 55

13 • [Xuyên không - Điền văn] Hán tử trên núi sủng thê Không gian nông nữ Điền Mật Mật - Thấm Ôn Phong

1 ... 22, 23, 24

14 • [Hiện đại - Trùng sinh] Gia khẩu vị quá nặng - Hắc Tâm Bình Quả

1 ... 39, 40, 41

15 • [Hiện đại] Trong phim ngoài đời - Nhất Diệp Cô Chu

1 ... 8, 9, 10

16 • [Cổ đại tiên hiệp] Tiên vốn thuần lương - Chính Nguyệt Sơ Tứ

1 ... 72, 73, 74

17 • [Cổ đại - Trùng sinh] Tiêu Phòng ký - Bích Loa Xuân

1, 2, 3, 4

[Hiện đại] Cuộc hôn nhân dài lâu Vân Quán Phong

1 ... 19, 20, 21

19 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 72, 73, 74

20 • [Hiện đại] Hôn trộm 55 lần - Diệp Phi Dạ

1 ... 69, 70, 71



Shop - Đấu giá: Puck vừa đặt giá 276 điểm để mua Cung Song Tử
Shop - Đấu giá: Lục Bình vừa đặt giá 552 điểm để mua Dây chuyền đá Amethyst & Citrine
Shop - Đấu giá: Lục Bình vừa đặt giá 3781 điểm để mua Bông tai đá Amethyst
Shop - Đấu giá: lily58 vừa đặt giá 3190 điểm để mua Bông tai đá Amethyst
Shop - Đấu giá: Lục Bình vừa đặt giá 3020 điểm để mua Bông tai đá Amethyst
Shop - Đấu giá: lily58 vừa đặt giá 2875 điểm để mua Bông tai đá Amethyst
Shop - Đấu giá: lily58 vừa đặt giá 2600 điểm để mua Bông tai đá Amethyst
Shop - Đấu giá: lily58 vừa đặt giá 2300 điểm để mua Bông tai đá Amethyst
Shop - Đấu giá: Lục Bình vừa đặt giá 2101 điểm để mua Bông tai đá Amethyst
Shop - Đấu giá: Lục Bình vừa đặt giá 761 điểm để mua Ngọc xanh lá
Shop - Đấu giá: cò lười vừa đặt giá 828 điểm để mua Bé hoa hồng
Shop - Đấu giá: tiểu an nhi vừa đặt giá 251 điểm để mua Chuột Minnie 1
Shop - Đấu giá: Sư Tử Cưỡi Gà vừa đặt giá 226 điểm để mua Hà mã lười
Shop - Đấu giá: Taylucdiep vừa đặt giá 300 điểm để mua Lồng đèn cam
Shop - Đấu giá: Lục Bình vừa đặt giá 313 điểm để mua Nhẫn nam
Shop - Đấu giá: Lily_Carlos vừa đặt giá 405 điểm để mua Nhẫn vàng tình yêu (Part 1)
Shop - Đấu giá: Sunlia vừa đặt giá 271 điểm để mua Cô bé làm dáng
Shop - Đấu giá: Sunlia vừa đặt giá 200 điểm để mua Couple 7
Shop - Đấu giá: Sunlia vừa đặt giá 256 điểm để mua Bảo Bình Nam
Đào Sindy: hi bạn
xukaa: hihihihi
xukaa: hiiiiiii
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 506 điểm để mua Mèo xám
Shop - Đấu giá: Đào Sindy vừa đặt giá 377 điểm để mua Princess 4
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 238 điểm để mua Giỏ hoa hồng
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 378 điểm để mua Gấu Pooh say Hi
Shop - Đấu giá: Xám vừa đặt giá 406 điểm để mua Bò ngủ
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 541 điểm để mua Cung Nhân Mã
Shop - Đấu giá: Phượng Ẩn vừa đặt giá 393 điểm để mua Bướm vàng
Shop - Đấu giá: cò lười vừa đặt giá 248 điểm để mua Cầu thủy tinh Tatty

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.