Diễn đàn Lê Quý Đôn

Cấm đăng tin quảng cáo các lớp học, khoá học, hội thảo, tìm học sinh... Các bài quảng cáo sẽ bị xoá.


Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 348 bài ] 

Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần

 
Có bài mới 20.12.2017, 15:00
Hình đại diện của thành viên
V.I.P
V.I.P
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 32 Nữ
Bài viết: 35935
Được thanks: 5480 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
Chương 67: Chức Tước Của Nguyễn Nhiên


Nguyễn Nhiên chữ nghĩa ít ỏi đến độ kể như mù chữ, vậy mà tháng 10 năm Canh Tuất (1370), đang ở chức chi hậu nội nhân phó chưởng, Nguyễn Nhiên được đưa lên làm hành khiển, đường đường là quan đầu triều. Chưa hết, đến tháng 5 năm Nhâm Tí (1372), Nguyễn Nhiên được vua cho kiêm luôn chức tri khu mật viện chánh chưởng, và đến tháng 9 năm Tân Dậu (1381), Nguyễn Nhiên lại được thăng làm nhập nội hành khiển hữu ti. Giao chính sự cho kẻ mù chữ, có phải là bấy giờ, nhân tài đất nước cạn hết rồi chăng? Sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 7, tờ 32b và 33a) chép rằng:

“Khi vua chưa ra đi (đây chỉ việc Nghệ Tông chạy loạn Nhật Lễ - ND), chi hậu nội nhân phó chưởng là Nguyễn Nhiên khuyên ngài: ‘Người ta muốn làm hại ông (lúc này Nghệ Tông chưa lên ngôi nên Nguyễn Nhiên gọi bằng ông như vậy - ND), sao ông lại không xem thời cơ mà hành động trước.’ Đến khi vua lên ngôi, lấy Nhiên làm hành khiển, thăng làm tả tham tri chính sự. Nhiên chữ nghĩa ít, khi phê giấy tờ, vua thường bảo vẽ các nét chữ đưa cho Nguyễn Nhiên xem.

Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: “Báo cho vua tai nạn là ơn riêng, ban tước cho người giữa triều là việc công. Vua nhớ ơn Nguyễn Nhiên, đền đáp bằng vàng lụa thì được, còn cho làm hành khiển là chức quan trọng thì không thể được. Chức hành khiển thời bấy giờ cũng như ‘lục khanh’ đời Chu, là các quan chức điều hành chính sự của đất nước, mà lại để cho người không biết chữ làm thì không phải chọn người vì việc công vậy.”

Lời bàn: Nghệ Tông nổi tiếng nhát gan, giặc chưa đến đã lo chạy, nhưng trong việc phong chức ban tước cho Nguyễn Nhiên thì xem ra lại quá liều. Nghệ Tông đã liều mà Nguyễn Nhiên còn liều hơn. Mới hay, những kẻ tầm thường vẫn luôn có chỗ để gặp nhau.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks       
            
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 20.12.2017, 15:02
Hình đại diện của thành viên
V.I.P
V.I.P
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 32 Nữ
Bài viết: 35935
Được thanks: 5480 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
Chương 68: Phép Ứng Xử Của Trần Nguyên Đán


Từ đời Trần Duệ Tông (1372 - 1377), nhờ khôn khéo, lại cùng nhờ có chút tài, Hồ Quý Ly được thăng quan tiến chức rất nhanh. Khoảng cuối đời Trần Phế Đế (1377 - 1388), Hồ Quý Ly thực sự là một quyền thần, thao túng mọi hoạt động của triều chính. Trước, hai bà cô ruột của Hồ Quý Ly (cũng là hai chị em ruột) đều là hoàng phi của vua Trần Minh Tông. Bà Minh Từ sinh ra vua Trần Hiến Tông và vua Trần Nghệ Tông, còn bà Đôn Từ thì sinh ra vua Trần Duệ Tông. Sau, con gái của Hồ Quý Ly lại là hoàng hậu của vua Trần Thuận Tông. Em gái họ của Hồ Quý Ly lấy Trần Duệ Tông, sinh ra Trần Phế Đế. Đó là chưa nói bản thân Hồ Quý Ly cũng lấy công chúa Huy Ninh là con gái của vua Trần Nghệ Tông...

Dựa vào mối quan hệ hôn nhân phức tạp này. Hồ Quý Ly từng bước củng cố địa vị của mình, quý tộc và quan lại đương thời, ai cũng lấy đó làm mối lo hàng đầu, nhưng không sao trừ diệt được.

Quan tư đồ Trần Nguyên Đán (ông nội của Trần Nguyên Hãn và cũng là ông ngoại của Nguyễn Trãi) thấy nguy cơ họ Trần mất ngôi là điều không thể tránh khỏi, bèn tính kế giữ thân. Năm Ất Sửu (1385), nghĩa là năm vừa tròn sáu chục tuổi, Trần Nguyên Đán xin về trí sĩ ở Côn Sơn (Hải Dương). Trước khi xa lánh chính trường, Trần Nguyên Đán đem các con là Mộng Dữ, Thúc Giao và Thúc Quỳnh gởi gắm cho Hồ Quý Ly. Đáp lại, Hồ Quý Ly cũng đem công chúa Hoàng Trung gả cho Mộng Dữ và cho Mộng Dữ làm chức đông cung phán thủ, các em của Mộng Dữ là Thúc Giao và Thúc Quỳnh đều được làm tướng quân. Công chúa Hoàng Trung vốn là con của cố tôn thất Trần Nhân Vinh và công chúa Huy Ninh. Khi Nhân Vinh mất, vua Trần Nghệ Tông đem Huy Ninh gả cho Hồ Quý Ly. Bởi vậy, với công chúa Hoàng Trung, Hồ Quý Ly là bố dượng, còn đối với Trần Nguyên Đán, Hồ Quý Ly là chỗ thông gia. Năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly ép vua Trần Thiếu Đế (1398 - 1400) nhường ngôi cho mình. Nhà Trần dứt và nhà Hồ được dựng lên kể từ đấy. Thiếu Đế vốn là cháu ngoại của Hồ Quý Ly nên không bị giết, song, tôn thất họ Trần thì mắc họa kể cũng nhiều. Tư đồ Trần Nguyên Đán cùng gia quyến của ông tất nhiên là vẫn được yên ổn.

Lời bàn: Hai mươi ba năm trước lúc về hưu, Trần Nguyên Đán viết bài Nhâm Dần niên lục nguyệt tác (thơ viết tháng sáu năm Nhâm Dần - 1362), trong đó có câu:

Tam vạn quyển thư vô dụng xứ,

Bạch đầu không phụ ái dân tâm.

Nghĩa là:

Đọc ba vạn quyển sách vẫn chẳng có nơi dùng đến,

Đầu bạc đành phụ lòng thương dân.

Xem thế cũng đủ biết Trần Nguyên Đán thất vọng ngay từ hồi còn trẻ. Thói thường, kẻ thất vọng chán chường dễ mất chí tiến thủ. Trần Nguyên Đán thì khác, ông rút lui mà không gây xung đột, náu ở chốn điền viên mà vẫn giữ được nét thanh tao viết để lại cho đời bộ Bách thế thông khảo (sách khảo về thiên văn và lịch pháp) cùng nhiều tác phẩm có giá trị khác. Tài đức của ông đủ để các bác danh nho như Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Hán Anh lấy làm hân hạnh khi được làm nghĩa tế, mô phạm đủ để dạy dỗ cháu nội và cháu ngoại thành bậc kì tài của thiên hạ. Như ông ai dám nói hưu là nghỉ!


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks       
            
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 20.12.2017, 15:03
Hình đại diện của thành viên
V.I.P
V.I.P
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 32 Nữ
Bài viết: 35935
Được thanks: 5480 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
Chương 69: Chuyện Hai Người Con Gái Của Quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán


Sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 8, tờ 8b) chép chuyện này như sau:

“Nguyên Đán có hai người con gái, trưởng là Thái, thứ là Thai, sai nho sinh đem văn chương dạy cho cả hai người, Nguyễn Ứng Long dạy Thái, Nguyễn Hán Anh dạy Thai. Ứng Long nhân gần gũi lả lơi, làm thơ ca bằng chữ Nôm khêu gợi Thái, thông dâm với Thái. Hán Anh cũng bắt chước Ứng Long mà làm thơ tặng Thai. Rồi Thái có thai, Ứng Long sợ mà bỏ trốn. Đến ngày Thái sinh nở, Nguyên Đán hỏi Ứng Long ở đâu. Người nhà trả lời rằng Ứng Long vì sợ mà đã trốn đi rồi. Nguyên Đán nói:

- Vận nước sắp hết (ý nói nhà Trần sắp đổ - ND) việc này biết đâu chẳng phải là trời xui nên thế, vị tất không phải là phúc?

Nói rồi, bèn cho người gọi Ứng Long và Hán Anh đến bảo rằng:

- Người xưa cũng đã có chuyện này, các ngươi không biết chuyện nàng Văn Quân với Tương Như đó hay sao? Nếu các người làm được như Tương Như, truyền lại danh tiếng cho đời sau thì đó là điều mong muốn của ta.

Hai chàng cám ơn sâu nặng mà chăm chỉ học hành. Đến khi thi, cả hai đều đỗ (thái học sinh, tức tiến sĩ - ND). Thượng hoàng (đây chỉ Trần Nghệ Tông - ND) nói:

- Bọn chúng có vợ giàu sang, như thế là kẻ dưới mà dám phạm thượng.

(Triều đình nghe vậy) bèn bỏ không dùng. Sau, Hán Anh làm quan (cho nhà Hồ) đến chức chuyển vận sứ, Ứng Long cũng được nhà Hồ cất nhắc sử dụng, đổi tên là Nguyễn Phi Khanh.”

Người kể chuyện xin có mấy chú thích nhỏ. Một là về thời gian, chuyện này xảy ra trước ngày Trần Nguyên Đán về Côn Sơn (Hải Dương) trí sĩ, tức là trước năm Ất Sửu (1385). Hai là trong chuyện, Trần Nguyên Đán có nhắc đến Tương Như và Văn Quân. Tương Như ở đây là Tư Mã Tương Như, người Trung Quốc đời Hán Cảnh Đế, làm quan vũ kị thường thị, hay dùng tiếng đàn để mê hoặc người thiếu phụ góa bụa là nàng Trác Văn Quân (con gái yêu của Trác Vương Tôn). Sau, hai người lấy nhau. Tương Như nhờ Trác Vương Tôn giúp đỡ mà trở nên giàu có, được làm quan tới chức hiếu văn viên lệnh, rất nổi tiếng về tài văn chương. Ba là, người con của Nguyễn Ứng Long và Trần Thị Thái, chính là Nguyễn Trãi, vị anh hùng dân tộc, người được xếp vào hàng danh nhân văn hóa của nhân loại, được cả thế giới long trọng kỉ niệm sáu trăm năm ngày sinh vào năm 1980.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks       
            
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 20.12.2017, 15:04
Hình đại diện của thành viên
V.I.P
V.I.P
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 32 Nữ
Bài viết: 35935
Được thanks: 5480 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
Chương 70: Sự Mẫn Cảm Của Gia Từ Hoàng Hậu


Gia Từ hoàng hậu vốn người họ Lê, là em họ của Hồ Quý Ly. Năm Quý Sửu (1373), bà được vua Trần Duệ Tông sách phong làm hoàng hậu. Đến năm Đinh Tị (1377), Duệ Tông đem quân đi đánh Chiêm Thành, thua trận, chết trong đám loạn quân. Được tin này, bà Gia Từ hoàng hậu liền cắt tóc đi tu, còn thượng hoàng Trần Nghệ Tông thì quyết định lập con trưởng của Duệ Tông là thái tử Hiện lên ngôi hoàng đế. Đó là vua Trần Phế Đế (1377 - 1388). Thái tử Hiện lúc này mới được mười sáu tuổi, tài chưa đủ để cứu vãn cơ nghiệp đế vương họ Trần đang trên đà sụp đổ. Biết rõ điều đó, bà Gia Từ liền hết lời can ngăn, than khóc van xin thượng hoàng Trần Nghệ Tông đừng đưa con bà lên ngôi, nhưng thượng hoàng không nghe. Sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 8, tờ 13a) chép rằng:

“Hậu từ chối không được, bèn khóc lóc nói với những người thân thích rằng, con ta phúc bạc, khó lòng gánh vác nổi trách nhiệm lớn, nó đến phải tai họa vì việc đó thôi. Tiên hoàng xa lìa cõi thế, kẻ chưa chết này chỉ muốn chết theo, không muốn trông thấy việc đời nữa, huống chi lại phải nhìn thấy con mình sắp bị nguy hiểm nữa.”

Lời tiên đoán của bà quả không sai. Hai năm sau khi bà mất, chính thượng hoàng Trần Nghệ Tông vì nghe lời xúi giục của Hồ Quý Ly mà bắt giam Trần Phế Đế, giáng làm Linh Đức Công, sau lại còn ép phải thắt cổ tự tử chết một cách thê thảm.

Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: “Linh Đức được lập nên là do Nghệ hoàng, bị phế bỏ cũng do Nghệ hoàng. Trước, (Nghệ hoàng) bất chấp lời can của hoàng hậu Lê thị (tức bà Gia Từ) là vì nghĩa, sau nghe lời gièm của Quý Ly là vì tư tình. Thế thì trước lập nên sao mà sáng suốt, sau phế bỏ sao mà ngu tối thế. Lại còn ép thắt cổ Linh Đức thì quá lắm.”

Lời bàn: Có bao nhiêu người bước vào hoạn lộ thì cũng gần như có bấy nhiêu người khát khao được thăng quan tiến chức. Có bao nhiêu người được thăng quan tiến chức thì cũng gần như có bấy nhiêu người hả dạ mừng vui. Thái tử Hiện được lên ngôi chí tôn mà mẹ đẻ là bà Gia Từ buồn rầu khóc lóc, chuyện ấy quả rất lạ. Bậc thông tuệ không bao giờ dám nhận những chức mà xét không đủ sức làm. Biết có thể mang họa vào thân mà vẫn nhận, kẻ háo danh xin hãy lấy sự mẫn cảm của Gia Từ hoàng hậu để tự cảnh tỉnh mình.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks       
            
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 10.01.2018, 09:56
Hình đại diện của thành viên
V.I.P
V.I.P
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 32 Nữ
Bài viết: 35935
Được thanks: 5480 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 9
Chương 71: Hai Lần Nổi Danh Của Hồ Tông Thốc


Hồ Tông Thốc người Diễn Châu, Nghệ An, sinh và mất năm nào không rõ, chỉ biết dưới triều Trần Phế Đế (1377 - 1388), ông làm quan đến chức hàn lâm học sĩ phụng chỉ và thọ đến hơn tám mươi tuổi Sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 8, tờ 9b) có ghi lại hai mẩu chuyện, phản ánh hai lần nổi tiếng khác nhau trong cuộc đời của Hồ Tông Thốc.

Chuyện thứ nhất kể rằng, tuổi trẻ, Hồ Tông Thốc đỗ cao song tiếng tăm chưa lớn lắm. Một hôm nhân tiết Nguyên Tiêu, có vị đạo nhân ở kinh sư tên là Lê Pháp Quan treo đèn đặt tiệc, mời khách văn chương đến dự rất đông vui. Có rượu ắt phải có thơ, được chủ mời, Hồ Tông Thốc nhận thiếp xin đề thơ, làm xong cả trăm bài thơ trong bữa tiệc. Khách dự tiệc xúm lại xem, ai cũng thán phục. Từ ấy, tiếng tăm Hồ Tông Thốc vang dậy cả kinh sư, được người đời kính trọng.

Chuyện thứ hai kể rằng, khi Hồ Tông Thốc còn làm chức an phủ sứ, có bòn rút của dân, việc bị phát giác. Vua Trần Nghệ Tông lấy làm lạ, thân hỏi việc này, Hồ Tông Thốc lạy tạ thưa rằng:

- Một người được ơn vua, cả nhà ăn lộc trời!

Nghệ Tông chẳng những tha tội mà sau đó còn cho thăng chức nhiều lần, Hồ Tông Thốc nhờ vậy mà làm chức đến hàn lâm học sĩ phụng chỉ kiêm thẩm hình viện sứ.

Lời bàn: Lần thứ nhất, Hồ Tông Thốc nổi danh nhờ có thực tài. Lần thứ hai, Hồ Tông Thốc nổi danh bởi lòng tham. Sử cũ công bằng, mỗi lần nổi danh một cách nhưng đã là nổi danh thì đều phải ghi lại. Ở đây, chỉ có một người không hề công bằng, đó là vua Trần Nghệ Tông. Mới hay, giữ đức thanh liêm và giữ được sự minh bạch công bằng, quả là khó lắm. Cũng vì khó quá mà cả đến hoàng đế cũng không giữ được chăng?


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks       
            
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 10.01.2018, 09:57
Hình đại diện của thành viên
V.I.P
V.I.P
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 32 Nữ
Bài viết: 35935
Được thanks: 5480 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
Chương 72: Niên Biểu Triều Trần


Triều Trần chiếm giữ vũ đài chính trị của nước nhà tổng cộng một trăm bảy mươi lăm năm. Trong khoảng thời gian một trăm bảy mươi lăm năm đó, có mười hai vua người chính gốc họ Trần và một vua tiếm ngôi (người khác họ) đã nối nhau trị vì. Đặc điểm của triều Trần là phần lớn các vua chỉ ở ngôi một thời gian, sau đó, nhường lại cho con hoặc em để lên làm thượng hoàng, chứ không phải là vua trước mất, vua sau lên kế vị như hầu hết các triều đại khác.

Để bạn đọc đỡ mất công tra cứu, chúng tôi lập bảng niên biểu này, kê đủ tên thật, cha sinh mẹ đẻ, thời gian làm vua, thời gian làm thượng hoàng (nếu có) và tuổi thọ của từng hoàng đế. Điều cần lưu ý là ngày tháng ghi trong niên biểu này là ngày tháng âm lịch. Riêng năm, ngoài việc kê tên theo can chi, chúng tôi còn ghi chú ngay trong ngoặc đơn bên cạnh, thứ tự của năm tính theo dương lịch.

1. TRẦN THÁI TÔNG (1225 - 1258): tên thật là Trần Cảnh, cha là Trần Thừa, mẹ đẻ người họ Lê (không rõ tên). Vua sinh ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần (1218). Ngày 12 tháng 12 năm Ất Dậu (1225), được vợ là vua Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi. Vua ở ngôi ba mươi ba năm, nhường ngôi để làm thượng hoàng mười chín năm (1258 - 1277), mất ngày 1 tháng 4 năm Đinh Sửu (1277), thọ năm mươi chín tuổi.

2. TRẦN THÁNH TÔNG (1258 - 1278): tên thật là Hoảng, con thứ hai của Trần Thái Tông (em Trần Quốc Khang), mẹ đẻ là Thuận Thiên hoàng thái hậu. Vua sinh ngày 25 tháng 9 năm Canh Tí (1240), lên ngôi năm Mậu Ngọ (1258), ở ngôi hai mươi năm, nhường ngôi để làm thượng hoàng mười hai năm (1278 - 1290), mất vào tháng 5 năm Canh Dần (1290), thọ năm mươi tuổi.

3. TRẦN NHÂN TÔNG (1278 - 1293): tên thật là Khâm, con trưởng của Thánh Tông, mẹ đẻ là Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hậu. Vua sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (1258), lên ngôi năm Mậu Dần (1278). Ở ngôi mười lăm năm, nhường ngôi để làm thượng hoàng sáu năm (1293 - 1299), đi tu chín năm (là người sáng lập ra phái Thiền Tông Trúc Lâm Yên Tứ), mất ngày 3 tháng 11 năm Mậu Thân (1308), thọ năm mươi tuổi.

4. TRẦN ANH TÔNG (1293 - 1314): tên thật là Thuyên, con trưởng của Nhân Tông, mẹ đẻ là Bảo Thánh hoàng thái hậu. Vua sinh ngày 17 tháng 9 năm Bính Tí (1276), lên ngôi năm Quý Tị (1293), ở ngôi hai mươi mốt năm, nhường ngôi để lên làm thượng hoàng sáu năm (1314 - 1320), mất ngày 16 tháng 3 năm Canh Thân (1320), thọ bốn mươi tư tuổi.

5. TRẦN MINH TÔNG (1314 - 1329): tên thật là Mạnh, con thứ tư của Anh Tông, mẹ đẻ là Chiêu Hiến hoàng thái hậu (con gái của Trần Bình Trọng). Vua sinh năm Canh Tí (1300), lên ngôi năm Giáp Dần (1314), ở ngôi mười lăm năm, nhường ngôi để lên làm thượng hoàng hai mươi tám năm (1329 - 1357), mất ngày 19 tháng 2 năm Đinh Dậu (1357), thọ năm mươi bảy tuổi.

6. TRẦN HIẾN TÔNG (1329 - 1341): tên thật là Vượng, con thứ của Minh Tông, mẹ đẻ là Minh Từ hoàng thái phi. Vua sinh ngày 17 tháng 5 năm Kỉ Mùi (1319), lên ngôi năm Kỉ Tị (1329), ở ngôi mười hai năm, chưa kịp lên làm thượng hoàng thì đã mất vào ngày 11 tháng 6 năm Tân Tị (1341), thọ hai mươi hai tuổi.

7. TRẦN DỤ TÔNG (1341 - 1369): tên thật là Hạo, con thứ mười của Minh Tông, (em của Hiến Tông), mẹ đẻ là Hiến Từ Tuyên Thánh hoàng thái hậu. Vua sinh ngày 19 tháng 10 năm Bính Tí (1336), lên ngôi năm Tân Tị (1341), ở ngôi hai mươi tám năm, chưa làm thượng hoàng thì đã mất vào ngày 25 tháng 5 năm Kỉ Dậu (1369), thọ ba mươi ba tuổi.

8. DƯƠNG NHẬT LỄ (1369 - 1370): con của người kép hát tên là Dương Khương. Vợ Dương Khương lấy Cung Túc Vương Dục (là con thứ của Minh Tông) lúc đang có thai với Dương Khương. Sau, bà sinh ra Nhật Lễ và Nhật Lễ được Cung Túc Vương Dục nhận làm con. Ngày 15 tháng 6 năm Kỉ Dậu (1369), bấy giờ, Cung Túc Vương Dục đã mất, Nhật Lễ được bà Hiến Từ Tuyên Thánh hoàng thái hậu đưa lên ngôi. Nhật Lễ nhân đó muốn phế bỏ nhà Trần, bèn lấy lại họ Dương rồi bức hại Hiến Từ Tuyên Thánh hoàng thái hậu cùng nhiều tôn thất họ Trần. Ngày 21 tháng 11 năm Canh Tuất (1370), Nhật Lễ bị Trần Nghệ Tông cùng triều thần giết chết. Không rõ năm ấy Nhật Lễ bao nhiêu tuổi.

9. TRẦN NGHỆ TÔNG (1370 - 1372): tên thật là Phủ, con thứ ba của Minh Tông, mẹ đẻ là Minh Từ hoàng thái phi (em ruột của Đôn Từ hoàng thái phi). Vua sinh tháng 12 năm Tân Dậu (1321), lên ngôi năm Canh Tuất (1370), ở ngôi hai năm, nhường ngôi để làm thượng hoàng hai mươi hai năm (1372 - 1394), mất ngày 15 tháng 12 năm Giáp Tuất (1394), thọ bảy mươi ba tuổi.

10. TRẦN DUỆ TÔNG (1372 - 1377): tên thật là Kính, con thứ mười một của Trần Minh Tông, mẹ đẻ là Đôn Tử hoàng thái phi. Vua sinh ngày 2 tháng 6 năm Đinh Sửu (1337), lên ngôi năm Nhâm Tí (1372). Ở ngôi năm năm, mất ngày 24 tháng 1 năm Đinh Tị (1377) trong khi đi đánh Chiêm Thành, thọ bốn mươi tuổi.

11. TRẦN PHẾ ĐẾ (1377 - 1388): tên thật là Hiện, con trưởng của Duệ Tông, mẹ đẻ là Gia Từ hoàng thái hậu. Vua sinh ngày 6 tháng 3 năm Tân Sửu (1361), lên ngôi năm Đinh Tị (1377), ở ngôi mười một năm, bị thượng hoàng Nghệ Tông bức tử ngày 6 tháng 12 năm Mậu Thìn (1388), thọ hai mươi bảy tuổi.

12. TRẦN THUẬN TÔNG (1388 - 1398): tên thật là Ngung, con út của Trần Nghệ Tông, mẹ đẻ là hoàng hậu người họ Lê (không rõ tên, hiệu). Vua sinh năm Mậu Ngọ (1378), lên ngôi năm Mậu Thìn (1388), ở ngôi mười năm, đi tu đạo Phật một năm, sau bị Hồ Quý Ly giết hại vào tháng 4 năm Mậu Dần (1398), thọ hai mươi mốt tuổi.

13. TRẦN THIẾU ĐẾ (1398 - 1400): tên thật là An, con trưởng của Thuận Tông, mẹ đẻ là Khâm Thánh hoàng thái hậu. Vua sinh năm Bính Tí (1396), lên ngôi năm Mậu Dần (1398), ở ngôi hai năm, đến năm Canh Thìn (1400) bị Hồ Quý Ly cướp ngôi, giáng làm Bảo Ninh đại vương. Thiếu Đế vì vốn là cháu ngoại của Hồ Quý Ly nên không bị giết hại, nhưng không rõ sau sống chết thế nào?

Nhà Trần đến đây là dứt. Trong số các vua nhà Trần nói trên, có:

- Sáu vua chỉ làm vua một thời gian, sau nhường ngôi để làm thượng hoàng. Đó là: Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông và Nghệ Tông.

- Vua thọ nhất là Trần Nghệ Tông (bảy mươi ba tuổi), vua mất sớm nhất là Trần Thuận Tông (lúc hai mươi mốt tuổi).

- Vua ở ngôi lâu nhất là Trần Thái Tông (ba mươi ba năm), vua ở ngôi ít nhất là Trần Thiếu Đế (hai năm) và Trần Nghệ Tông (hơn hai năm).

- Vua lên ngôi sớm nhất là Trần Thiếu Đế (lúc hai tuổi), vua lên ngôi muộn nhất là Nghệ Tông (lúc bốn mươi chín tuổi).


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks       
            
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 10.01.2018, 09:58
Hình đại diện của thành viên
V.I.P
V.I.P
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 32 Nữ
Bài viết: 35935
Được thanks: 5480 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
Lời Chú Cuối Sách

Sách này sử dụng khá nhiều từ ngữ và khái niệm mà nay không dùng hoặc rất ít dùng. Đó chẳng qua cũng chỉ là điều không thể tránh được mà thôi. Để giúp bạn đọc, đặc biệt là bạn đọc trẻ, có thể nắm được một cách giản lược về ý nghĩa của các từ ngữ và các khái niệm ấy chúng tôi viết thêm Lời chú cuối sách này.

Cũng với mục đích tránh rườm rà, những từ ngữ và những khái niệm nào đã giải thích ở tập trước mà vẫn còn đúng với tập này, thì chúng tôi không giải thích lại. Cuối cùng, xin được lưu ý bạn đọc rằng, hầu hết những lời chú thích dưới đây chỉ đúng với triều Trần mà thôi.

AN PHỦ SỨ: Chức quan đứng đầu một lộ. Thời Trần, cả nước có mười hai lộ. Đó là: Thiên Trường, Long Hưng, Quốc Oai, Bắc Giang, Hải Đông, Trường Yên, Kiến Xương, Hồng, Khoái, Thanh Hóa, Hoàng Giang, Diễn Châu. Ngoài ra, còn có một số phủ và châu trực thuộc nữa.

AN PHỦ THIÊN TRƯỜNG: Chức quan đứng đầu phủ Thiên Trường. Phủ này là vùng trung tâm chính trị của lộ Thiên Trường, nay là đất Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

ẤP THANG MỘC: Thang mộc nguyên nghĩa là tắm rửa. Ấp thang mộc bấy giờ có nghĩa là nơi nghỉ ngơi, an hưởng. Quý tộc nào cũng được cấp đất làm ấp thang mộc như thế.

ÂN CHÚA: Vị chúa mà mình mang ân. Đây là tiếng tôn xưng đối với Trần Nhật Duật.

BÀ LIỆT: Vốn là tên thôn. Thôn này nay thuộc huyện Nam Trực tỉnh Nam Định. Nhà Trần thường phân phong ruộng đất (và cả dân cư sinh sống trên đất đó) cho quý tộc để họ lập thái ấp và phủ đệ. Tên đất ấy thường được lấy làm hiệu cho quý tộc. Người con trai này của Trần Thừa tuy được Trần Thừa nhìn nhận, song không được phong tước hiệu gì. Tuy nhiên, người đương thời vẫn theo tục của nhà Trần, lấy bản quán anh ta làm hiệu, rồi sau quen dần, biến hiệu thành tên. Tên thật của người con trai này hiện chưa rõ.

BẠ THƯ CHI HẬU: Chức quan lo giữ sổ sách giấy tờ trong cung cấm.

BẢO UY VƯƠNG: Người có tước Vương, hiệu là Bảo Uy. Ông tên là Trần Hiến, cũng có sách phiên âm là Trần Hoàn, có lẽ do Hiến và Hoàn có mặt chữ Hán gần giống nhau nên nhầm mà ra. Lí lịch Trần Hiến chưa rõ, chỉ biết ông là người trong tôn tộc, rất gần gũi với nhà vua đương thời.

CUNG TĨNH VUƠNG: Người có tước Vương, hiệu là Cung Tĩnh. Đây chỉ Trần Nguyên Trác, con thứ của vua Trần Minh Tông, nay chưa rõ ông sinh và mất năm nào.

CƯƠNG MỤC: Tên viết tắt của bộ Khâm định Việt sử thong giám cương mục, là bộ chính sử do Quốc sử quán Triều Nguyễn biên soạn. Sách gồm năm mươi ba quyển.

CHIM HỒNG HỘC: Theo cố học giả Đào Duy Anh thì Hồng là con ngỗng trời, Hộc là con ngan trời. (Con ngan, người Nam gọi là con vịt Xiêm.) Hai loài chim này bay vừa cao vừa xa. Tuy nhiên, văn học cổ vẫn có lúc gọi chung là chim Hồng Hộc, với ý nghĩa là biểu tượng của người có chí lớn.

CHÂU KHÂM, CHÂU LIÊM, CHÂU TRƯỜNG SA: Tên đất, nay thuộc Trung Quốc.

CHỨC PHÁN THỦ: Chức đứng đầu các quan giúp việc cho thái tử hoặc là chức đứng đầu của một trong sáu tự của triều đình. Tự là cơ quan vừa giúp việc, vừa giám sát hoạt động của các bộ.

ĐẠI HÀNH KHIỂN: Chức hành khiển cũng gần như chức tể tướng là chức quan đầu triều. Nhưng, do chỗ thời Trần cũng có khi gọi các quan đứng đầu các lộ quan trọng là hành khiển, nên để phân biệt, người ta gọi quan hành khiển làm việc ở triều đình là đại hành khiển, còn quan đứng đầu những lộ quan trọng thì chi gọi là hành khiển thôi.

ĐẠI TÔN THẤT: Người trong hoàng tộc, có vai vế họ hàng lớn so với nhà vua. Đây chỉ Trần Ích Tắc, em của thượng hoàng Trần Thánh Tông, chú của vua Trần Nhân Tông.

ĐOẢN BINH: Thuật ngữ thông dụng của binh pháp cổ, rất khó dịch, đại để là dùng binh có vũ khí đánh tầm gần như giáo, mác. Hiểu theo nghĩa rộng, thuật ngữ này cũng có nghĩa là dùng lực lượng gọn, nhẹ, ứng phó một cách linh hoạt.

ĐÔNG CUNG PHÁN THỦ: Chức đứng đầu các quan lo giúp việc cho thái tử.

ĐÔNG GIÁM TU QUỐC SỬ BÍ THƯ GIÁM: Một trong những chức quan tham gia biên soạn lịch sử của nước nhà, kiêm việc trông coi lưu giữ sách vở ở Quốc sử viện.

ĐIỆN SÚY THƯỢNG TƯỚNG QUÂN: Chức võ quan, hàm thượng tướng trông coi cấm quân của triều đình.

HẢI ĐÔNG: Tên đất, nay là vùng An Bang, Hải Phòng.

HÀN LÂM HỌC SĨ PHỤNG CHỈ: Quan có hàm học sĩ, làm việc ở Viện hàn lâm, trực tiếp nhận mọi sắc chỉ của vua. Chức này thường kiêm quản Nội mật viện.

HÀN TÍN BÌNH NƯỚC YÊN: Hàn Tín là một danh tướng của nhà Hán (Trung Quốc). Thời Hán - Sở tranh hùng, nước Triệu và nước Yên cũng là hai nước mạnh. Nhưng Hàn Tín phá được nước Triệu, nhờ đó mà danh tiếng trở nên lừng lẫy. Nhân đà này, Hàn Tín đem quân đến đóng ở nơi sát với địa đầu của nước Yên và sai người đưa thư dụ hàng nước Yên. Nước Yên sợ mà phải hàng phục. Đây ý của Trần Khắc Chung là tại sao Ô Mã Nhi không cho quân đem thư sang báo cho biết trước lẽ thiệt hơn mà lại vội đánh như thế.

HÌNH BỘ LANG TRUNG: Người đứng đầu bộ Hình thời Trần. Chức này, về sau đổi là chức thượng thư.

HỌ MAI: Chúng tôi chỉ thấy sử chép việc nhà Trần bắt phạt một số quý tộc hèn nhát phải đổi thành họ Mai, còn vì sao lại đổi thành họ Mai chứ không phải họ khác thì chưa rõ.

HOÀNG PHI: Hàng thứ hai của vợ vua và vợ chính của thái tử.

HỘI NGHỊ BÌNH THAN: Hội nghị tổ chức tại bến Bình Than. Bến Bình Than nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Đây là hội nghị của quý tộc và tướng lĩnh cao cấp, do triều Trần tổ chức vào năm 1282. Hội nghị nhằm giải quyết hai vấn đề. Một là tư tưởng chiến lược chỉ dạo cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Nguyên. Hai là thành lập bộ chỉ huy chống xâm lăng. Chính ở hội nghị lịch sử này, Trần Quốc Tuấn được cử làm quốc công tiết chế.

HỘI QUÁN ĐỈNH: tức là hội thọ giới. Nhà Phật quy định, tất cả những người khi mới xuất gia để vào chùa tu, đều được nhà sư lấy nước sạch dội lên đầu để làm phép thọ giới, cũng gọi là quán đỉnh.

KHAI QUỐC CÔNG: Người có tước quốc công, hiệu là Khai. Theo lệ phong tước xưa, triều đình bao giờ cũng phong cả tước lẫn hiệu. Trong cùng một hàng tước, thì hiệu nào càng ít chữ, địa vị của người được phong càng lớn hơn. Trong trường hợp này, người ta gọi là tước quốc công hiệu một chữ.

Khai quốc công là tước hiệu của Hưng Nghiễn Vương Trần Quốc Nghiễn, con trai của Trần Hưng Đạo. Trong hoàng tộc, ông có tước Vương, còn khi vào triều, ông được phong tước quốc công. Trước đó, Trần Hưng Đạo cũng được phong tước quốc công như vậy.

KHÂU ÔN: Tên đất, nay thuộc Lạng Sơn, vùng sát biên giới với Trung Quốc.

KIỂM PHÁP: Chức quan chuyên trông coi về án kiện, xét xử và ngục tụng của triều đình.

KIỆT, TRỤ: Tên hai vua khét tiếng tàn bạo của Trung Quốc. Kiệt tức Lý Quý, vua thứ mười bảy cũng là vua cuối cùng của nhà Hạ. Vua Kiệt tham tàn lại say đắm nhan sắc của Muội Hỹ, làm cho nhà Hạ đổ nát, sau bị vua Thành Thang giết. Thành Thang là vua khai sáng ra nhà Thương (cũng gọi là nhà Ân).

Trụ tức Tân Trụ, vua thứ ba mươi cũng là vua cuối cùng của nhà Thương. Vua Trụ tàn bạo và hoang dâm, lại bị mê muội bởi sắc đẹp của Đát Kỷ, sau bị quân các nước chư hầu nổi lên đánh, sợ mà tự thiêu rồi chết.

Trong văn học cổ, hai chữ Kiệt, Trụ thường dùng để chỉ chung những tên hôn quân bạo chúa.

LIÊU THUỘC: cũng như nói thuộc quan hay thuộc viên, chỉ những người có chức nhưng ở dưới mình và thông thuộc về mình.

LƯU THỦ THIÊN TRƯỜNG: Lưu thủ là chức quan được nhà vua ủy thác việc trông coi kinh sư khi vua có việc phải xuất hành. Thiên Trường không phải là kinh sư nhưng lại là bản quán của vua Trần, vì vậy, nhà Trần cũng cho đặt ở đây một người làm chức Lưu thủ.

MAI LĨNH: Tên đất. Đất này nằm tiếp giáp giữa hai tỉnh của Trung Quốc là Quảng Đông và Giang Tây. Thực ra, đó là khu núi non trùng điệp, có tên là núi Đại Dũ, nhưng vì núi ấy có rất nhiều cây mai nên người Trung Quốc mới nhân đó mà gọi là Mai Lĩnh.

MÁN BÀ- LA: Nay chưa rõ ở đâu.

NỘI NHÂN VĂN CỤC: Tên một cơ quan trong cung đình nhà Trần.

NỘI THƯ CHÁNH CHƯỞNG: Chức của hoạn quan, chuyên lo việc giấy tờ thường ngày cho vua hoặc thượng hoàng.

NỘI THƯ GIA: Chức của hoạn quan, dưới quyền sai khiến của nội thư chánh chưởng.

NGỰ SỬ ĐẠI PHU: chức quan xếp hàng thứ năm trong số sáu quan làm việc ở Ngự sử đài của triều đình.

NGỰ SỬ ĐẠI PHU, ĐÌNH ÚY TỰ KHANH, TRUNG ĐÔ PHỦ TỔNG QUẢN: Trong triều đình nhà Trần có cơ quan Ngự sử đài, chuyên coi việc giữ gìn phong hóa, pháp độ và can gián. Ngự sử đài gồm sáu vị quan: thị ngự sử, giám sát ngự sử, ngự sử trung tán, ngự sử trung thừa, ngự sử đại phu và chủ thư thị ngự sử. Như vậy:

Ngự sử đại phu là quan đứng hàng thứ năm trong số sáu vị quan của Ngự sử đài.

Đình úy tự khanh là chức quan lớn, coi việc xét xử những án kiện còn tình nghi.

Trung Đô phủ tổng quản là chức quan coi việc phòng giữ ở phủ Trung Đô.

Ở đây, Trương Đỗ cũng như các quan đương thời, thường kiêm giữ nhiều chức việc khác nhau.

NGỮ SỬ TRUNG TÁN: Chức quan xếp hàng thứ ba trong số sáu vị quan ở Ngự sử đài của triều Trần.

NGỰA KÌ, NGỰA KÍ: Tên hai loài ngựa quý, có sức chạy nhanh và chạy xa. Đấy ngụ ý chỉ người có tài kiệt xuất.

NGƯỜI PHIÊN LẠC: Người sinh ở chốn Phiên thuộc phiêu dạt đến. Người Trung Quốc gọi các nước ở ngoài cõi của họ là Phiên.

Thời Trần, triều đình nhà Trần nhiều khi cũng tự nhận mình là Trung Quốc và coi các nước chung quanh mình là Phiên. Đây Trần Nhân Tông muốn nói, kiếp trước, ắt Trần Nhật Duật phải là sinh dân của một nước Phiên thuộc nào đấy, nên bây giờ mới giỏi tiếng các nước Phiên thuộc như vậy.

NGHIÊU: Tức Đường Nghiêu, tên một vị vua, cũng là tên một triều đại trong huyền sử của Trung Quốc, rất được Nho gia đề cao.

NHẬP NỘI HÀNH KHIỂN HỮU TI, LANG TRUNG, ĐỒNG TRỊ TẢ TI SỰ: Trong triều Trần, bên cạnh nơi làm việc của vua (gọi là Quan Triều Cung), còn có nơi làm việc của thượng hoàng (gọi là Thánh Từ Cung). Cả hai nơi đều có chức hành khiển. Riêng ở nơi thượng hoàng làm việc, có đến hai chức hành khiển là tả và hữu. Nhập nội hành khiển hữu ti là chức quan hành khiển ở hữu ti, thuộc Thánh Từ Cung.

Lang trung cũng là một chức lớn, sau đổi gọi là thượng thư, nhưng chức này thường do quan hành khiển kiêm giữ.

Đồng tri tả ti sự là chức kiêm coi công việc của tả ti trong triều đình.

Đây chỉ là chức truy tặng, trong thực tế, khi sống, Lê Cư Nhân không hề được giữ nhiều chức tước như thế.

NHẬP NỘI HÀNH KHIỂN, THƯỢNG THƯ TẢ BỘC XẠ: Quan hành khiển, làm việc ở triều đình thì gọi là nhập nội hành khiển. Thượng thư là chức đứng đầu một bộ, còn bộc xạ (tả và hữu) là chức vụ á tướng, đứng sau chức tướng quốc.

PHI LIÊM, ÁC LAI: Tên hai kẻ gian thần, xu nịnh và dâm loạn của Trung Quốc thời Hạ và thời Thương.

PHIÊU KỊ ĐẠI TƯỚNG QUÂN: Chức chỉ dành để phong cho các vị hoàng tử. Trong hoàng tộc, chỉ những ai được đặc biệt ưu ái mới được phong chức tước này.

Phiêu kị đại tướng quân cũng là chức coi việc quân, nhưng là quân riêng của hoàng gia.

QUÁCH TỬ NGHI: Danh tướng của Trung Quốc đời Đường, làm quan trải thờ hai vua là Đường Túc Tông và Đường Đại Tông, từng lập nhiều công lớn, được phong làm Phần Dương Vương. Quách Tử Nghi sống phóng khoáng, thích âm nhạc, trong nhà luôn có tiếng đàn hát. Ông thọ tám mươi tám tuổi.

QUAN NỘI HẦU: Chức hoạn quan nhỏ, lo việc hầu hạ trong cung cấm.

QUAN TÔNG CHÍNH ĐẠI KHANH: Chức quan lớn trông coi việc ghi chép gia phả của hoàng tộc. Chức này, bắt đầu đặt ra từ đời Trần Thái Tông và buổi đầu chỉ giao cho trong hoàng tộc nắm giữ, nhưng vào khoảng từ giữa đời Trần trở đi, chức này chỉ còn là hư hàm dùng để phong cả cho người ngoài hoàng tộc.

QUAN TRUNG ÚY: Hàm võ quan cao cấp, dưới thiếu úy. Xin lưu ý rằng thời này, đại tướng thấp hơn thượng tướng, còn trung úy lại thấp hơn thiếu úy.

QUỐC CÔNG TIẾT CHẾ: Người có tước quốc công, chức tiết chế. Thời Trần có hai loại tước cùng song hành, một là tước để phân biệt thế thứ thân sơ trong hoàng tộc, và hai là tước để phân biệt cao thấp trong triều đình. Trong hoàng tộc, Trần Hưng Đạo có tước vương, còn khi vào triều, Trần Hưng Đạo lại có tước quốc công. Tiết chế là chức chỉ bắt đầu có từ đời vua Trần Nhân Tông (1278 - 1293), theo đó thì chức này chịu trách nhiệm cao nhất về mọi hoạt động của lực lượng vũ trang trong cả nước.

RƯỢU XƯƠNG BỒ: Xương bồ là một loại cây làm thuốc, Đông y rất hay dùng. Người ta thường lấy cây xương bồ ngâm rượu. Rượu ấy gọi là rượu xương bồ.

SINH TỪ: Đền thờ người đang sống. Người đang sống mà có công đức lớn với dân, với nước, thì được nhân dân hoặc triều đình lập đền thờ, đền ấy gọi là sinh từ.

Trần Hưng Đạo là một trong những người lãnh đạo và tổ chức nên mọi thắng lợi của quân dân ta trong sự nghiệp chống quân xâm lược ở thế kỉ XIII. Bởi công đức lớn lao đó, ông được triều Trần cho lập sinh từ.

TẮC, KHIẾT, QUỲ, LONG: Tắc là Hậu Tắc, tên thật là Khí, người đã có công dạy dân trồng các thứ lúa cho hợp thời vụ. Khiết hay Tiết là người chuyên dạy dân về luân thường, đạo lí. Quỳ là người chuyên lo dạy dân việc tế lễ và âm nhạc. Long là người chuyên lo tiếp nhận và truyền đạt mệnh lệnh của vua. Cả bốn ông đều được coi là người có công giúp dập vua Nghiêu và rất được Nho gia tán tụng.

TẤN PHONG: Được cất nhắc, phong cho chức cao hơn.

TIẾT NGUYÊN TIÊU: Tiết rằm tháng giêng.

TIỂU TƯ XÃ: Người đứng đầu một xã nhỏ.

TĨNH QUỐC ĐẠI VƯƠNG: Người có tước đại vương, hiệu là Tĩnh Quốc. Đây chỉ Trần Quốc Khang.

TOÀN THƯ: Tên viết tắt của bộ Đại Việt sử kí toàn thư là bộ chính sử của nước ta. Đây là công trình đại tập thành của nhiều thế hệ sử gia, từ Lê Văn Hưu (thế kỉ XIII) đến Lê Hy (thế kỉ XVII). Sách gồm hai phần. Phần đầu là Ngoại kỉ chép từ họ Hồng Bàng đến loạn mười hai sứ quân. Phần thứ hai là Bản kỉ, chép từ Đinh Tiên Hoàng đến năm 1675.

TỬ PHỤC THƯỢNG VỊ HẦU: Người có tước hầu, ở vào bậc thượng vị và được quyền mặc áo có sắc đỏ tía.

TƯỚNG QUỐC THÁI ÚY: Chức thái úy, quyền tướng quốc. Tướng quốc cũng gần như tể tướng, nhưng chức tể tướng thì chỉ có một người giữ, còn chức tướng quốc thì có đến hai người cùng đồng thời nắm giữ, một người gọi là tả tướng quốc, một người gọi là hữu tướng quốc.

THÁI BÁ: Bác của vua. Lẽ ra, Dương Nhật Lễ phải gọi Cung Túc Vương Dục là thân phụ (cha đẻ) hoặc tệ hơn, cũng phải gọi là nghĩa phụ (cha nuôi), nhưng vì Dương Nhật Lễ quyết chí gạt họ Trần để cướp ngôi, nên bỏ họ Trần mà lấy lại họ Dương, đồng thời, gọi Cung Túc Vương Dục là thái bá.

THÁI HOÀNG THÁI HẬU: Bà nội của vua.

THÁI HỌC SINH: Học vị thi cử Nho học, được đặt ra lần đầu tiên vào năm 1232 và được sử dụng liên tục cho đến đầu đời Lê. Năm 1442, học vị này được đổi gọi là tiến sĩ.

THÁI TỂ: Tiếng tôn xưng đối với quan đầu triều (như hành khiển, tướng quốc, tể tướng).

THÁM HOA: Học vị thi cử Nho học, được đặt ra lần đầu tiên vào năm 1247. Người đã đỗ thi Hội, được học vị thái học sinh (hay tiến sĩ), vào dự thêm một khoa thi phụ, gọi là Đình thí hay Điện thí. Ba người đỗ cao nhất trong kì thi phụ này được mang ba học vị khác nhau, đỗ đầu là trạng nguyên, đỗ thứ hai là bảng nhãn và đỗ thứ ba là thám hoa.

THẨM HÌNH VIỆN SỨ: Chức đứng đầu Thẩm hình viện là cơ quan trông coi việc án kiện, xét xử và ngục tụng.

THỆ TỪ: Bản văn ghi lời thề ước.

THỀM CẤM: Thềm ở gần nơi vua làm việc. Đến đó, ai cũng phải giữ phép rất nghiêm, ai không có phận sự, quyết không được vào.

THIÊN TRƯỜNG: Tên lộ. Nhà Trần chia cả nước làm mười hai lộ và Thiên Trường là một trong số mười hai lộ đó. Đây nói lính Thiên Trường là lính quê ở lộ Thiên Trường (quê hương của họ Trần) được nhà Trần tin cẩn trao việc bảo vệ hoàng cung.

THIỀN TÔNG TRÚC LÂM YÊN TỬ: Tên một phái Thiền Tông do thượng hoàng Trần Nhân Tông đi tu mà sáng lập ra tại chùa Yên Tử (Quảng Ninh).

THIẾU BẢO: Trong triều đình xưa, tam thái và tam thiếu là hai hàng quan cao nhất. Tam thái gồm: thái sư, thái phó và thái bảo. Tam thiếu gồm: thiếu sư, thiếu phó và thiếu bảo. Như vậy, thiếu bảo là quan thuộc hàm thứ hai, chức vị thứ sáu trong triều đình.

THỔ TÙ ĐÀ GIANG: Người đứng đầu các sắc dân ít người ở Đà Giang. Thời Trần, Đà Giang là tên của một đạo, đất đai đạo này nay là vùng Hưng Hóa (Vĩnh Phúc, Tuyên Quang).

THƠ NGỤ CHẾ: Thơ do vua hoặc thượng hoàng làm ra.

THƯỢNG VỊ CHƯƠNG HIẾN HẦU: Người có tước hầu, hiệu Chương Hiến, bậc thượng vị. Đây chỉ Trần Kiện, con của Tĩnh Vương Trần Quốc Khang. Xét về thế thứ trong hoàng tộc, Trần Kiện ở vai cháu của vua Trần Thái Tông (gọi Trần Thái Tông là chú ruột), anh con bác của vua Trần Thánh Tông và hàng bác họ của Trần Nhân Tông.

THƯỢNG PHẨM: Hư hàm nhà nước dùng để ban thưởng cho các chức tạp lưu, nằm ngoài và thấp hơn chín bậc chính thức. Đây Trần Lai được hư hàm là thượng phẩm, còn thực quyền là xã trưởng một xã nhỏ.

TRẦN BANG CẨN: Đại thần nhà Trần, dưới thời Trần Minh Tông (1314 - 1329), giữ chức Đại hành khiển, thượng thư, tả bộc xạ ông là người nổi tiếng giản dị, mực thước, điềm tĩnh và sống rất thanh đạm.

TRI KHU MẬT VIỆN CHÁNH CHƯỞNG: Đại để cũng như là chánh văn phòng của cơ quan Khu mật viện (là cơ quan thường trực của triều đình).

TRIỆU VÕ: Miếu hiệu của Triệu Đà. Triệu Đà nguyên là tướng của nhà Tần. Năm 208 trước công nguyên, nhân Tần Thủy Hoàng mất và nhà Tần sụp đổ, Triệu Đà chiếm cứ vùng Lĩnh Nam, lập ra nước Nam Việt, và làm vua nước này từ đó cho đến năm 136 trước công nguyên. Trong thời gian trị vì, Triệu Đà đã nhiều lần đem quân sang đánh nước Âu Lạc. Nhưng nhân dân Âu Lạc, dưới sự chỉ huy của An Dương Vương, đã đẩy lùi tất cả những cuộc tấn công xâm lược đó. Sau, Triệu Đà liền cho con là Trọng Thủy, kết hôn với con gái của An Dương Vương là Mỵ Châu, dùng quan hệ hôn nhân để làm cho An Dương Vương mơ hồ, mất cảnh giác. Năm 179 trước công nguyên, Triệu Đà bất ngờ cho quân sang xâm lược, và lần này, An Dương bị đại bại. Đất nước bị Triệu Đà chiếm kể từ đó.

Tuy nhiên, do lập trường chính trị ngày xưa có khác, cho nên, trong nhiều tác phẩm sử học cũ, Triệu Đà được coi như là vua chính thức của nước ta. Trần Hưng Đạo là người theo quan điểm xưa này.

TRUNG THƯ THỊ LANG, KIÊM TRI THẨM HÌNH VIỆN SỰ: Trung thư thị lang sau đổi là thượng thư. Kiêm Tri thẩm hình viện sự là kiêm coi công việc của Thẩm hình viện (cơ quan chuyên lo xét xử, án kiện và ngục tụng của triều đình).

TRƯỜNG TRẬN: Thuật ngữ của binh pháp cổ, rất khó dịch. Đại để trường trận là dùng quân có vũ khí và phương tiện đánh tầm xa như cung tên, ngựa... v.v. Tuy nhiên, hiểu theo nghĩa rộng, trường trận cũng có nghĩa là dùng lực lượng lớn, đánh theo lối chính quy, trận địa chiến.

XUÂN THU: Chặng đầu của thời Đông Chu (Trung Quốc), gồm từ cuối thế kỉ thứ VIII đến đầu thế kỉ V trước công nguyên.

Khổng Tử có soạn một bộ sử của nước Lỗ (một trong những nước chư hầu của nhà Chu), từ Lỗ Ẩn Công đến Lỗ Ai Công, tức là khoảng thời gian tương ứng với chặng đầu của nhà Đông Chu. Bộ sử ấy được đặt tên là Xuân Thu (sau được coi là một trong Ngũ kinh của Nho gia), nên người đời cũng nhân đó để gọi toàn bộ chặng đầu của nhà Đông Chu là thời Xuân Thu.

VŨ HẦU: Tức Chư Cát Lượng mà ta quen đọc là Gia Cát Lượng, quân sư lỗi lạc của Lưu Bị (vua nước Thục của Trung Quốc thời Tam Quốc). Ông là biểu tượng điển hình của những người dốc lòng phò vua giúp nước, được nho sĩ xưa hết sức ca ngợi.

Hết tập 3.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks       
            
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 10.01.2018, 10:08
Hình đại diện của thành viên
V.I.P
V.I.P
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 32 Nữ
Bài viết: 35935
Được thanks: 5480 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
TẬP 4 (36 GIAI THOẠI THỜI HỒ VÀ THỜI THUỘC MINH)


Giai thoại 1: Hồ Quý Ly Với Đợt Công Phá Đầu Tiên Vào Triều Trần


Bởi có hai bà cô ruột cùng lấy vua Trần Minh Tông (1314 - 1329) một bà là Hoàng phi Minh Từ, người sinh ra vua Trần Hiến Tông (1329 - 1341), một bà là Hoàng phi Đôn Từ, người sinh ra vua Trần Duệ Tông (1372 - 1377), nên Hồ Quý Ly rất được triều Trần biệt đãi. Đã thế, con gái của Hồ Quý Ly là Hoàng hậu của vua Trần Thuận Tông (1388 - 1398), rồi bản thân Hồ Quý Ly cũng lấy Công chúa Huy Ninh là con của vua Trần Nghệ Tông (1370 - 1372) và em gái họ của Hồ Quý Ly lại lấy vua Trần Duệ Tông (người sinh ra vua Trần Phế Đế)... cho nên, quan lại triều Trần thời Nghệ Tông hầu như không ai không kiêng sợ Hồ Quý Ly.

Được Thượng hoàng Trần Nghệ Tông che chở và tin cẩn, Hồ Quý Ly không còn coi ai ra gì nữa. Trong suốt thời gian Nghệ Tông làm Thượng hoàng (từ năm 1372 đến năm 1394), Hồ Quý Ly đã gần như thao túng được toàn bộ các hoạt động của triều đình, đồng thời dùng mọi cách để lần lượt thủ tiêu những kẻ đối nghịch. Cuộc công phá có quy mô lớn đầu tiên của Hồ Quý Ly vào triều Trần là việc lật nhào ngôi vị của vua Trần Phế Đế (1377 - 1388). Sự kiện này diễn ra vào tháng 8 năm Mậu Thìn (1388) và được sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 8, tờ 10 - b và tờ 11 a) chép lại như sau:

"Vua (đây chỉ Trần Phế Đế - ND) bàn mưu với Thái úy Ngạc (tức Trang Định Vương Trần Ngạc - ND) rằng:

- Thượng hoàng tin yêu ngoại thích là Quý Ly, cho hắn mặc sức làm gì thì làm, nếu không lo trước đi thì sau sẽ rất khó chế ngự.

Con của Vương Nhữ Chu là (Vương) Nhữ Mai lúc ấy đang hầu Vua học, nhân đó biết mà tiết lộ mưu này nên Hồ Quý Ly biết được. Đa Phương (con Sư Tề, em kết nghĩa của Hồ Quý Ly - ND) khuyên Hồ Quý Ly tránh ra núi Đại Lại (tức núi Kim Ân, thuộc Vĩnh Lộc, Thanh Hóa - ND) để chờ xem biến động thế nào. Phạm Cự Luận nói:

- Không được. Một khi đã ra ngoài (kinh thành) thì khó mà lo nổi chuyện sống còn.

Quý Ly nói:

- Nếu không còn phương sách gì thì ta đành tự tử, không để tay kẻ khác giết mình.

Cự Luận nói:

- Thượng hoàng trong lòng vẫn căm Vua về việc giết Quan Phục Đại vương (một trong những người con của Nghệ Tông - ND), và Vua cũng chẳng vui gì về chuyện này. Nay quyền bính trong thiên hạ đều ở đại nhân cả mà Vua lại mưu hại đại nhân thì ắt Thượng hoàng càng lấy làm ngờ lắm. Đại nhân nên hãy liều vào lạy Thượng hoàng, bày tỏ lợi hại thì nhất định Thượng hoàng sẽ nghe theo, chuyển họa thành phúc dễ như trở bàn tay vậy. Thượng hoàng có nhiều con đích, đại nhân cứ tâu rằng, thần nghe ngạn ngữ nói: "Chưa ai dám bán con để nuôi cháu, chỉ thấy bán cháu để nuôi con" (ý muốn chỉ việc Nghệ Tông cho lập cháu nội là Trần Phế Đế, con của Trần Duệ Tông, làm vua mà không lập con mình lên ngôi vua - ND). (Nghe thế), may ra Thượng hoàng sẽ tỉnh ngộ mà đổi lập Chiêu Định Vương (tức Trần Ngung, con út của Nghệ Tông - ND) lên ngôi. Nếu đến lúc ấy mà Thượng hoàng vẫn không nghe thì chết cũng chưa muộn.

Quý Ly nghe theo, bí mật tâu với Thượng hoàng như lời Cự Luận bàn. Thượng hoàng cho là phải.”

Lời bàn: Nhờ có tài, lại nhờ mối quan hệ hôn nhân chằng chịt, Hồ Quý Ly đã tạo được thần thế cho riêng mình. Đã vậy, bên cạnh Quý Ly còn có võ tướng khét tiếng là Nguyễn Đa Phương, mưu sĩ trí xảo là Phạm Cự Luận, triều Trần đổ nát thật khó lòng mà quản chế nổi. Đến cả nhà vua mà còn bị gièm pha để rồi bị truất phế và bị giết một cách thê thảm, thì thử hỏi còn ai đủ sức qua mặt Hồ Quý Ly?

Hồ Quý Ly là người thế nào, khỏi bàn cũng đã rõ, chỉ tiếc là cái gốc của sự điên loạn lại nằm ngay trong phép dùng người của triều Trần.

Với Nghệ Tông, Trần Phế Đế là cháu nội, Trần Thuận Tông là con đẻ. Với Hồ Quý Ly, Trần Thuận Tông vừa là cháu họ lại vừa là con rể. Máu mủ trực hệ mà Nghệ Tông còn không thương tình, bảo Quý Ly phải thương xót con rể làm sao được? Sau, Quý Ly giết chết vua Trần Thuận Tông, cách nghĩ cách làm tuy có khác, nhưng mạch đức hạnh thì cũng chung nhau đó thôi.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks       
            
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 24.01.2018, 11:40
Hình đại diện của thành viên
V.I.P
V.I.P
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 32 Nữ
Bài viết: 35935
Được thanks: 5480 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
Giai thoại 2: Hồ Quý Ly Mượn Tay Thượng Hoàng Nghệ Tông Để Giết Vua Phế Đế


Ngày 6 tháng 12 năm Mậu Thìn (1388), nghĩa là bốn tháng sau khi nghe lời mật tấu đầy ác ý gièm pha của quan Đồng bình chương sự (Hồ Quý Ly - ND), cũng là thông gia của mình, thượng hoàng Trần Nghệ Tông quyết định phế bỏ vua Trần Phế Đế. Đây là một trong những cuộc phế lập rất thương tâm, được sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 8 tờ 11 a - b) chép lại như sau:

“Tháng 12, ngày mồng 6, sáng sớm, Thượng hoàng vờ ngự về An Sinh sai Điện hậu hộ vệ, rồi sai Chỉ huy hậu nội nhân gọi Vua tới bàn việc nước. Vua chưa kịp ăn, vội đi ngay, chỉ có hai người theo hầu mà thôi. Đến nơi, Thượng hoàng bảo Vua:

- Đại vương lại đây!

Nói rồi, lập tức cho người đem Vua ra giam ở chùa Tư Phúc, tuyên đọc nội chiếu rằng: "Trước đây, Duệ Tông đi tuần phương Nam không trở về, lấy con đích (của Duệ Tông) để nối ngôi, đó là đạo xưa. Nhưng, từ khi quan gia lên ngôi đến nay, lòng dạ trẻ con, giữ đức không thường, gần gũi bọn tiểu nhân, nghe lời Lê Á Phu, Lê Dữ Nghị gièm pha vu hãm công thần, làm lung lay xã tắc, nay phải giáng làm Linh Đức Đại vương. Song, quốc gia không thể không có chủ, ngôi báu không thể bỏ trống lâu, nên truyền đón Chiêu Định (tức Trần Ngung, con út của Nghệ Tông - ND) vào nối ngôi đại thống. Bá cáo trong ngoài để mọi người đều biết.”

Việc truất phế bất ngờ này đã gây nên một làn sóng phản kháng khá mạnh mẽ của quan quân và tướng sĩ. Cũng sách trên đã chép tiếp rằng:

“Nhiều tướng chỉ huy của các phủ quân cũ như tướng chỉ huy quân Thiết Liêm là Nguyễn Khoái, Nguyễn Vân Nhi, tướng chỉ huy quân (thiếu tên đơn vị - ND) là Nguyễn Kha, Lê Lặc, tướng chỉ huy quân Thiết Sang là Nguyễn Bát Sách... định đem quân vào cướp lấy Vua đem ra. Vua viết hai chữ giải giáp đưa cho các tướng và răn bảo họ không được làm trái ý Thượng hoàng nên các tướng mới thôi. Lát sau, Thượng hoàng (sai người) dìu Vua xuống phủ Thái Dương thắt cổ cho chết.”

Lời bàn: Muốn cướp ngôi, trước phải làm cho thời loạn thêm loạn. Muốn làm cho thời loạn thêm loạn, trước phải làm cho hoàng tộc sát hại nhau. Lúc ấy, trong cuộc hoàng tộc giết hại nhau, không gì kinh khủng bằng việc Thượng hoàng giết vua. Nhà đã dột từ nóc tất phải gỡ đi mà làm lại. Quý Ly mượn được cả tay Thượng hoàng để giết vua, gớm thay! Mới hay, người cầm quyền bính mà tai thích nghe lời xu nịnh gièm pha thì không có chuyện gì lại không thể xảy ra.

Nghệ Tông xuống chiếu kết tội Phế Đế nhưng hậu thế lại kết tội chinh Nghệ Tông. Sinh thời cậy quyền cậy thế để tác oai tác quái, có biết đâu khi đã chết, dẫu ngàn năm vẫn chưa hết lời hậu thế chê bai.

Còn như Phế Để lúc ấy, thế dã vậy thì đành phải vậy. Đáng để trách chăng là ở chỗ, nhà vua ở ngôi lúc tuổi trẻ dồi dào sức lực và trí tuệ, song lại không làm được điều gì cho xứng với ngôi vị của mình. Làm vua như vậy, dễ thay!


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks       
            
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 24.01.2018, 11:42
Hình đại diện của thành viên
V.I.P
V.I.P
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 32 Nữ
Bài viết: 35935
Được thanks: 5480 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
Giai thoại 3: CUỘC SÁT HẠI CÓ QUY MÔ LỚN CỦA HỒ QUÝ LY

Trong những ngày trị vì cuối đời của Trần Phế Đế, không ít quý tộc và quan lại của triều đình tỏ ra căm ghét Hồ Quý Ly. Họ muốn trừ khử Hồ Quý Ly nhưng lại không biết chung lưng sát cánh để bàn mưu tính kế với nhau, bởi vậy, tất cả đều bị Hồ Quý Ly lần lượt thủ tiêu. Trước khi chính thức mượn tay Thượng hoàng Trần Nghệ Tông để giết Trần Phế Đế, Hồ Quý Ly đã tìm đủ mọi cơ hội để chặt bớt vây cánh của nhà vua. Sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 8, tờ 12 - a) chép rằng:

“Trước đó, theo lệ cũ ở các đài, sảnh, chỉ các quan từ chức Đồng bình chương sự trở lên mới được ngồi ghế sơn đen có tựa. Bấy giờ, Trang Định Đại vương (Trần) Ngạc làm Thái úy, Lê Quý Ly làm Đồng bình chương sự. Quan trị thẩm hình viện là Lê Á Phu nói với Ngạc bỏ ghế của Quý Ly đi, không cho ngồi cùng nữa. (Ông) lại bí mật tâu vua giết Quý Ly. Cơ mưu bị lộ mà thất bại, bọn (Lê) Á Phu, (Nguyễn) Khoái, (Nguyễn) Vân Nhi, (Nguyễn) Kha, (Nguyễn) Bát Sách, (Lê) Lặc, và người học sinh được tin yêu là Lưu Thường đều (lần lượt ) bị giết cả. Trước khi bị hành hình, Lưu Thường có làm bài thơ rằng:

Phiên âm:

Tàn niên tứ thập hựu dư tam,
Trung ái phùng chu tử chính cam,
Bảo nghĩa sinh tiền ưng bất ngỗ,
Bộc thi nguyên thượng cánh hà tàm.

Dịch thơ:

Đời tàn vào tuổi bốn ba,
Chết vì trung ái cũng là đáng thôi.
Hết lòng giữ nghĩa một đời,
Dẫu cho đồng nội thây phơi sá gì."

Trong số những người chống đối, chỉ có Lê Dữ Nghị là được Hồ Quý Ly tạm cho tha chết, bắt phải tội đi đày, sau cũng vờ cho phục chức, nhưng rồi lại bị Hồ Quý Ly khép vào tội kết bè kết cánh mà giết đi. Nguyễn Bát Sách thì hoảng sợ mà bỏ trốn, Hồ Quý Ly không thèm đuổi mà cho người bắt giam mẹ của ông. Vì thương mẹ già bị tù tội mà Nguyễn Bát Sách phải ra hàng, rốt cuộc cũng bị Hồ Quý Ly giết nốt.

Sau khi Trần Phế Đế cùng những người thuộc vây cánh của nhà vua bị giết, Hồ Quý Ly còn cho cả Thượng hoàng Trần Nghệ Tông lẫn triều đình mắc lỡm. Trong hoàng tộc lúc ấy, chỉ có Trang Định Đại vương Trần Ngạc (con của Thượng hoàng Nghệ Tông) là người tỏ vẻ căm ghét Hồ Quý Ly ra mặt. Trước đó, chính Trang Định Đại vương đã mật bàn với nhà vua về việc giết Hồ Quý Ly, nhưng Hồ Quý Ly không bị giết, ngược lại nhà vua bị Thượng hoàng giết chết. Đã bày mưu sát hại nhà vua là cháu nội của Thượng hoàng, nay nếu lại bày mưu giết ngay Trang Định Đại vương là con của Thượng hoàng nữa, Hồ Quý Ly sẽ khó mà tiếp tục lợi dụng được Thượng hoàng. Nghĩ vậy, Hồ Quý Ly bèn cho người nói phao lên rằng, Trang Định Đại vương Trần Ngạc sắp được đưa lên ngôi vua. Thấy phe đảng chẳng còn ai, Trang Định Đại vương Trần Ngạc sợ hãi mà vội đính chính tin đồn đó. Hồ Quý Ly chỉ chờ có vậy để đưa con út của Thượng hoàng Nghệ Tông (cũng là con rể của Hồ Quý Ly) lên ngôi vua, đó là vua Trần Thuận Tông (1388 - 1398). Trang Định Đại vương Trần Ngạc chỉ được tạm yên thân một thời gian ngắn. Đến tháng 6 năm Tân Mùi (1391) ông cũng bị Hồ Quý Ly lập mưu giết chết.

Lời bàn: Trần Nghệ Tông danh nghĩa là Thượng hoàng nhưng thực ra chỉ là con cờ trong tay Hồ Quý Ly vậy. Các bậc tôn thất đại thần và văn quan võ tướng nhà Trần căm ghét Hồ Quý Ly thì có thừa mà sao chẳng có lấy được một chút cơ mưu nào đáng kể, khiến Hồ Quý Ly có thể giết hại dễ như trở bàn tay. Cất cái ghế tựa sơn đen ở đài sảnh của Hồ Quý Ly thì có khác gì tự mình đưa đầu cho Hồ Quý Ly chém?

Than ôi! Thời loạn mọi sự đều loạn. Lấy lễ thường để xét đoán thời loạn là không thể được vậy. Hồi chuông cáo chung của nhà Trần bắt đầu điểm những tiếng đầu tiên.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks       
            
Xem thông tin cá nhân
Hiển thị bài viết từ:  Sắp xếp theo  
Trả lời đề tài  [ 348 bài ] 
           
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:



Đề tài nổi bật 
1 • [Hiện đại] Cố chấp ngọt - Triệu Thập Dư

1 ... 10, 11, 12

[Xuyên không] Bệnh vương tuyệt sủng độc phi - Trắc Nhĩ Thính Phong

1 ... 39, 40, 41

3 • [Hiện đại] Hôn nhân bất ngờ Đoạt được cô vợ nghịch ngợm - Luật Nhi

1 ... 63, 64, 65

4 • [Hiện đại] Đồng phục cùng áo cưới - Lục Dược

1 ... 7, 8, 9

5 • [Cổ đại - Trùng sinh] Ngày mai liền hòa ly - Hải Lí Khê

1 ... 9, 10, 11

6 • [Xuyên không - Dị giới] Phế sài muốn nghịch thiên Ma Đế cuồng phi - Tiêu Thất Gia - New C1644

1 ... 61, 62, 63

7 • [Hiện đại] Vợ yêu con cưng của tổng tài - Thượng Quan Nhiêu

1 ... 22, 23, 24

8 • [Xuyên không] Con đường vinh hoa của Thái tử phi - Tú Mộc Thành Lâm

1 ... 15, 16, 17

9 • [Xuyên không - Dị giới] Thiên tài triệu hồi sư - Nhược Tuyết Tam Thiên

1 ... 66, 67, 68

10 • [Cổ đại - Trùng sinh] Đích nữ vô song - Bạch Sắc Hồ Điệp

1 ... 35, 36, 37

11 • [Cổ đại - Trọng sinh] Võ thần nghịch thiên Ma phi chí tôn - Băng Y Khả Khả

1 ... 22, 23, 24

12 • [Xuyên không] Cuộc sống điền viên của Tình Nhi - Ngàn Năm Thư Nhất Đồng

1 ... 53, 54, 55

13 • [Xuyên không - Điền văn] Hán tử trên núi sủng thê Không gian nông nữ Điền Mật Mật - Thấm Ôn Phong

1 ... 22, 23, 24

14 • [Hiện đại - Trùng sinh] Gia khẩu vị quá nặng - Hắc Tâm Bình Quả

1 ... 39, 40, 41

15 • [Hiện đại] Trong phim ngoài đời - Nhất Diệp Cô Chu

1 ... 8, 9, 10

16 • [Cổ đại tiên hiệp] Tiên vốn thuần lương - Chính Nguyệt Sơ Tứ

1 ... 72, 73, 74

17 • [Cổ đại - Trùng sinh] Tiêu Phòng ký - Bích Loa Xuân

1, 2, 3, 4

[Hiện đại] Cuộc hôn nhân dài lâu Vân Quán Phong

1 ... 19, 20, 21

19 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 72, 73, 74

20 • [Hiện đại] Hôn trộm 55 lần - Diệp Phi Dạ

1 ... 69, 70, 71



Shop - Đấu giá: Puck vừa đặt giá 276 điểm để mua Cung Song Tử
Shop - Đấu giá: Lục Bình vừa đặt giá 552 điểm để mua Dây chuyền đá Amethyst & Citrine
Shop - Đấu giá: Lục Bình vừa đặt giá 3781 điểm để mua Bông tai đá Amethyst
Shop - Đấu giá: lily58 vừa đặt giá 3190 điểm để mua Bông tai đá Amethyst
Shop - Đấu giá: Lục Bình vừa đặt giá 3020 điểm để mua Bông tai đá Amethyst
Shop - Đấu giá: lily58 vừa đặt giá 2875 điểm để mua Bông tai đá Amethyst
Shop - Đấu giá: lily58 vừa đặt giá 2600 điểm để mua Bông tai đá Amethyst
Shop - Đấu giá: lily58 vừa đặt giá 2300 điểm để mua Bông tai đá Amethyst
Shop - Đấu giá: Lục Bình vừa đặt giá 2101 điểm để mua Bông tai đá Amethyst
Shop - Đấu giá: Lục Bình vừa đặt giá 761 điểm để mua Ngọc xanh lá
Shop - Đấu giá: cò lười vừa đặt giá 828 điểm để mua Bé hoa hồng
Shop - Đấu giá: tiểu an nhi vừa đặt giá 251 điểm để mua Chuột Minnie 1
Shop - Đấu giá: Sư Tử Cưỡi Gà vừa đặt giá 226 điểm để mua Hà mã lười
Shop - Đấu giá: Taylucdiep vừa đặt giá 300 điểm để mua Lồng đèn cam
Shop - Đấu giá: Lục Bình vừa đặt giá 313 điểm để mua Nhẫn nam
Shop - Đấu giá: Lily_Carlos vừa đặt giá 405 điểm để mua Nhẫn vàng tình yêu (Part 1)
Shop - Đấu giá: Sunlia vừa đặt giá 271 điểm để mua Cô bé làm dáng
Shop - Đấu giá: Sunlia vừa đặt giá 200 điểm để mua Couple 7
Shop - Đấu giá: Sunlia vừa đặt giá 256 điểm để mua Bảo Bình Nam
Đào Sindy: hi bạn
xukaa: hihihihi
xukaa: hiiiiiii
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 506 điểm để mua Mèo xám
Shop - Đấu giá: Đào Sindy vừa đặt giá 377 điểm để mua Princess 4
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 238 điểm để mua Giỏ hoa hồng
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 378 điểm để mua Gấu Pooh say Hi
Shop - Đấu giá: Xám vừa đặt giá 406 điểm để mua Bò ngủ
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 541 điểm để mua Cung Nhân Mã
Shop - Đấu giá: Phượng Ẩn vừa đặt giá 393 điểm để mua Bướm vàng
Shop - Đấu giá: cò lười vừa đặt giá 248 điểm để mua Cầu thủy tinh Tatty

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.