Diễn đàn Lê Quý Đôn


Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 16 bài ] 

Những môn võ cổ truyền trên thế giới

 
Có bài mới 18.04.2016, 00:03
Hình đại diện của thành viên
Ex-moderator
Ex-moderator
 
Ngày tham gia: 05.04.2015, 01:12
Tuổi: 3 Nữ
Bài viết: 3021
Được thanks: 2057 lần
Điểm: 8.25
Có bài mới Re: [ Tổng Hợp ] Những môn võ cổ truyền trên thế giới - Điểm: 10
Tìm hiểu về Thaing - Võ thuật của Myanma



Myanma có biên giới với Ấn Độ, Thái Lan, và Trung Quốc. Do đó, nước này có một di sản võ thuật phong phú. Các nhà sư Ấn Độ không chỉ đem tới cho Trung Quốc võ Thiếu Lâm mà còn mang tới cho Myanma những môn võ thuật từ cách đây gần 2000 năm. Sau này, võ thuật Trung Hoa phát triển và phổ biến xuống phía Nam trong đó có Myanma và pha trộn với các dòng võ thuật được phát triển trước đó tại nước này mà tạo nên lối võ thuật Myanma ngày nay được gọi là Thaing.
Các dân tộc lớn ở Myanma gồm người Myanma, người Myanma gốc Hoa, người Myanma gốc Ấn, người Chin, người Kachin, người Karen, người Môn, người Shan, người Talaing đều có một hình thức Thaing riêng. Thaing bao gồm cả võ tay không mà nổi tiếng nhất là bando và võ với vũ khí như kiếm, gậy, dao mà Banshay là tiêu biểu. Các môn phái võ thuật Myanma khác có Naban (vật) và Lethwei (tương tự kick boxing ở một số nơi tại Đông Nam Á.
Có nhiều truyền thuyết kể rằng các nhà sư đã mật truyền võ cho môn đồ. Tới ngày nay, người Myanma vẫn không có lệ phổ biến võ thuật cho người ngoài. Họ cho rằng khi mà võ đã bị truyền ra ngoài thì hiệu quả chiến đấu sẽ mất đi. Do đó, các nhà sư thấy tốt hơn là dạy võ một cách bí mật tại các tu viện.

Các văn kiện cổ cho biết từ thời vua Anawrahta (1044 – 1077 công nguyên) các nhà sư đã dạy các bí quyết kiểm soát hơi thở và luyện thiền để kiểm soát sức mạnh. Những bí quyết này được truyền qua nhiều thế hệ tới nay trở thành một bộ phận của hệ phái bando trong võ thuật Myanma.
Có một kỹ thuật chiến đấu độc đáo trong võ thuật Myanma gọi là Thaing Byaing Byan có một nguồn gốc rất huyền bí. Và có một nhân vật mà tên tuổi gắn với kỹ thuật này, đó là U Maung Lay. Người ta đồn rằng, sư phụ của U Maung Lay là một người xuất thân từ miền bắc bang Shan và chỉ nhận ba đệ tử. Người trẻ tuổi nhất trong số ba đệ tử đó là U Maung Lay và ông này sau đó trở thành người sáng lập môn phái Thaing Byaing Byan ở Myanma. Triết lý và các bài quyền của môn phái này khá khác biệt so với các phái võ khác của Myanma.

Thaing Byong Byan hay còn gọi Khu-Kar-Chant có nghĩa là “Phản Thaing” là một phái nhu thuật của Myanma. Những người luyện môn Thaing Byong Byan thường mặc trang phục truyền thống của người Shan. Kỹ thuật Thaing Byong Byan nổi tiếng là hiệu quả trong cận chiến. Người ta đồn rằng kỹ thuật chiến đấu này có nguồn gốc từ võ thuật của các cao thủ nội cung ỏ Kanbawza. Tuy nhiên không rõ là Kanbawza này là Kanbawza ở bang Shan (còn gọi Kanbawza Thadi) hay thành Hanthawadi ở Pegu.[/color]



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
1 thành viên đã gởi lời cảm ơn ๖ۣۜMꙣêღ về bài viết trên: nắng đông
     

Có bài mới 21.04.2016, 03:10
Hình đại diện của thành viên
Ex-moderator
Ex-moderator
 
Ngày tham gia: 05.04.2015, 01:12
Tuổi: 3 Nữ
Bài viết: 3021
Được thanks: 2057 lần
Điểm: 8.25
Có bài mới Re: [ Tổng Hợp ] Những môn võ cổ truyền trên thế giới - Điểm: 10
Tìm hiểu về Thuật Ném Phi Tiêu



Khó có thể nói đích xác thời điểm xuất hiện của thuật ném phi tiêu ở Nhật bản. Thời xa xưa, phụ nữ nhật đã biết sử dụng vài loại vũ khí gọn nhẹ để tự vệ như dao ngắn (Kaiken) và cây trâm cài tóc (Kazashi).

Dao và trâm thường dài độ 8-9cm và trong tầm gần, chúng có thể được ném đi như phi tiêu. Với kích thước nhỏ bé dễ cất dấu, mũi bén nhọn thường tẩm thuốc độc, một cây trâm cài tóc khi hữu sự trở nên vô cùng nguy hiểm.


1. LỊCH SỬ CỦA THUẬT NÉM PHI TIÊU:

Khó có thể nói đích xác thời điểm xuất hiện của thuật ném phi tiêu ở Nhật bản. Thời xa xưa, phụ nữ nhật đã biết sử dụng vài loại vũ khí gọn nhẹ để tự vệ như dao ngắn (Kaiken) vàcây trâm cài tóc (Kazashi). Dao vàtrâm thường dài độ 8-9cm vàtrong tầm gần, chúng có thể được ném đi như phi tiêu. Với kích thước nhỏ bé dễ cất dấu, mũi bén nhọn thường tẩm thuốc độc, một cây trâm cài tóc khi hữu sự trở nên vô cùng nguy hiểm. Thuật ném phi tiêu Shuriken-Jutsu (Shuriken: phi tiêu; Jutsu: nghệ thuật) bắt nguồn từ cách sử dụng những mũi dao nhọn làm bằng sắt hay thép dài từ 7-22cm. Sau đó là sự phát triển của đoản kiếm (Tanto) và cuối cùng lại trở về với phi tiêu. Có thể đoản kiếm không được chuộng vì đắt tiền và không tiện để ném, không thể mang theo người nhiều như phi tiêu. Hiện nay võ Nhật có 3 trường phái sử dụng phi tiêu được biết đến nhiều nhất: Negishi-ryu, Shirai-ryu vàChisin-ryu.

2. CÁC LOẠI PHI TIÊU KHÁC NHAU:

Căn cứ vào hình dạng, chúng ta có khoảng 20 loại phi tiêu. Có loại nhọn 1 đầu, có loại nhọn cả 2 đầu; dài, ngắn, dầy, mỏng…khác nhau. Dù mang hình dáng nào, phi tiêu cũng phải đáp ứng được hai đòi hỏi tiên quyết:
– Gọn, nhỏ dễ mang theo người.
– Khi được ném ra, chúng phải khó thấy để né tránh.
Điều nầy giải thích tại sao khi sử dụng phi tiêu, người ta thường để cho địch thủ đến gần. Khoảng cách càng ngắn, tiêu ném càng chính xác, bất ngờ.

3. CẦM PHI TIÊU:

Phi tiêu được nằm gọn trong lòng bàn tay với 4 ngón duỗi thẳng, ngón cái giữ phi tiêu ở vị trí cố định. Đầu nhọn có thể hướng ra phía đầu ngón tay hay quay về phía cổ tay.
Nếu nhắm vào mục tiêu ở gần, ta để cho phần mũi nhọn ló ra khỏi các đầu ngón tay nhiều và ngược lại, ta cầm phi tiêu với mũi nhọn thấp khi muốn ném xa.

4. KỸ THUẬT NÉM PHI TIÊU:

Trước hết, khi ném phải giữ cổ tay thật thẳng. Nếu bạn cong hay quặc cổ tay, mũi phi tiêu sẽ xoáy quá đà trên đường tới đích.
Kế đến là khoảng cách từ bạn đến đích. Kỹ thuật ném thay đổi tùy theo khoảng cách xa hay gần. Phi tiêu khi được ném ra sẽ xoay theo vòng tròn trước khi chạm đích. Bạn phải tính toán được số vòng quay của phi tiêu tùy theo đích ném xa hay gần. Ở tầm ném gần, phi tiêu chỉ xoay 1/2 vòng trước khi đến đích. Ở khoảng cách xa, phi tiêu sẽ xoay 1 vòng hay nhiều vòng. Nếu ném gần, chú ý cách cầm phi tiêu với mũi nhọn ra khỏi đầu ngón tay nhiều, bước chân bỏ tới rộng, chồm người về phía trước khi ném, phi tiêu sẽ đi nhanh và mạnh hơn.
Khi ném xa, cầm phi tiêu thấp hơn so với khi ném gần, đứng thẳng người, nhắm kỹ trước khi ném.
Khi bắt đầu tập luyện, nên đứng gần đích độ vài mét. Nếu bạn cầm phi tiêu mũi nhọn hướng ra phía đầu ngón tay, khi ném nó sẽ bay thẳng tới đích, không xoay vòng. Sau đó bạn bước lui xa thêm vài bước nữa. Cứ thế mà bạn tìm ra khoảng cách thích hợp cho phi tiêu xoay đủ một vòng trước khi đến đích. Với một người tầm vóc trung bình, khoảng cách đó nằm trong khoảng 4-5m. Tiếp tục đứng xa dần đích, tìm khoảng cách thích hợp cho 1 vòng rưởi, 2 vòng và hơn nữa. Nếu bạn thuận tay phải, đứng chân phải trước, khi ném chân trái bước lên. Nếu phi tiêu chạm ngay đích với mũi nhọn hướng lên, bạn bước lui 1 hay 2 bước.
Nếu phi tiêu chạm đích với mũi quay xuống, bạn bước lên 1 hay 2 bước. Nếu phi tiêu chạm đích với phần đuôi không nhọn hoặc có lúc xoay mũi lên, có lúc xoay xuống, bạn nên chú ý lại cổ tay, có thể bạn đã cong cổ tay khi ném. Mỗi khi tìm ra khoảng cách thích hợp, đánh dấu điểm đứng hay đo khoảng cách đó. Dần dần bạn sẽ quen ước lượng và chọn đúng khoảng cách thích hợp cho mỗi lần ném. Sự chính xác sẽ hoàn thiện dần qua quá trình tập luyện kiên trì.

5. CHỌN ĐÍCH NÉM PHI TIÊU:

Việc chọn đích thích hợp để tập ném khá đơn giản. Bạn có thể chọn những miếng ván dầy 4-5cm, dài độ 1-1,2m, đóng dính lại bằng 2 miếng gỗ chéo ở 2 mặt sau. Nên chọn loại gỗ thông vì chúng có độ mềm thích hợp cho việc luyện tập. Gốc cây, bức tường gỗ của căn nhà bỏ hoang… tất cả đều có thể biến thành đích ném, miễn là phi tiêu cắm vào được. Nếu muốn, bạn có thể sơn những vòng đồng tâm trên gỗ để tập.

6. AN TOÀN TRONG LUYỆN TẬP NÉM PHI TIÊU:

Dù nhỏ bé nhưng phi tiêu làmột vũ khí nguy hiểm nếu như bạn sử dụng bất cẩn. Trong lúc tập ném, phải hết sức thận trọng, không để người xem đến gần đường ném và đích. Phi tiêu có thể bị nẩy dội khi chạm đích, văng ra chung quanh. Đừng ném bừa bãi vào của cải vật chất công cộng hay cá nhân, cất giữ ngoài tầm tay của trẻ con.

7. CÁCH LÀM PHI TIÊU:

Phi tiêu được làm bằng thép, chiều dài 14cm và18cm là thích hợp nhất, nhọn một đầu. Phần nhọn khoảng 2,5cm tính từ mũi. Bạn nên làm nhiều phi tiêu để dễ tập, đỡ mất thời gian phải đi lại thu hồi các phi tiêu đã ném. Các võ sĩ đạo thường mang theo người 5-6 phi tiêu một lúc.

Nguyễn Dương Linh Vũ.[/color]


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
1 thành viên đã gởi lời cảm ơn ๖ۣۜMꙣêღ về bài viết trên: nắng đông
     
Có bài mới 09.05.2016, 00:47
Hình đại diện của thành viên
Ex-moderator
Ex-moderator
 
Ngày tham gia: 05.04.2015, 01:12
Tuổi: 3 Nữ
Bài viết: 3021
Được thanks: 2057 lần
Điểm: 8.25
Có bài mới Re: [ Tổng Hợp ] Những môn võ cổ truyền trên thế giới - Điểm: 10
Sơ lược về vũ khí : côn nhị khúc



Côn nhị khúc hay Nunchaku (còn được gọi là côn ly tâm, lưỡng tiết côn) là một binh khí được phát sinh từ đảo Okinawa (hay còn gọi là đảo Xung Thằng) – một đảo nằm ở phía Nam Nhật Bản và cũng là quê hương của môn Karate-Do.

Đảo Okinawa đã luôn trải qua nhiều cuộc chiến đấu nội bộ giữa các bộ tộc bản địa. Năm 1429 vua Sho Hashi thống nhất các lãnh địa ở Okinawa và ban hành một đạo luật cấm đoán mọi việc mang vũ khí đối với tất cả mọi người, trừ quân cận vệ của nhà vua và các quan lại của triều đình nhằm loại trừ các mưu toan bạo động. Vậy là nhân dân Okinawa bị tước mất tất cả các loại vũ khí tự vệ và họ đã tìm cho mình một loại vũ khí mới là võ thuật “Kenbo’’ (tiền thân của Karate-Do sau này). Chưa hết, sang đầu thế kỷ thứ VII Okinawa lại bị Nhật Bản xâm lăng với một chính sách cai trị vô cùng khắc nghiệt, sưu cao thuế nặng. Từ đó đã có nhiều cuộc nổi dậy ở nhiều nơi để chống đối lại triều đình chuyên chế.

Nhà cầm quyền ban một đạo luật tịch thu toàn bộ các loại vũ khí trong nhân dân. Một chiến dịch được mệnh danh là “săn lùng kiếm” đã được tiến hành trên lãnh thổ Okinawa. Người dân, thậm chí là sư sãi cũng có thể bị hành hình do việc tàng trữ vũ khí, dù đó là một lưỡi dao cạo râu! Tất cả những lò rèn ở các làng xóm đều bị đóng cửa, và các công dụng gia đình bằng kim loại đều bị tịch thu. Mỗi làng chỉ có độc nhất một con dao được xích lại ở đầu làng, do lính Nhật canh giữ.

Côn nhị khúc được phát sinh từ thời gian này. Với cây kẹp lúa dùng trong nông nghiệp người dân đã cải tạo thành một binh khí tiện dụng và có thể cất giữ được trong người, có thể qua mắt được lính canh. Ngoài côn nhị khúc còn nhiều dụng cụ nông nghiệp khác cũng được người dân tập luyện & chuyển hóa như một binh khí để chiến đấu chống lại sự đàn áp của chính quyền phong kiến như: côn dùi (bo), liềm cắt lúa (kama), song quái (tonfa), kiếm ngắn (sai)….

Mặt khác, lịch sử võ thuật thế giới cũng đã ghi nhận công lao của Lý Tiểu Long trong việc giới thiệu hình ảnh côn nhị khúc trên phim ảnh. Có lẽ từ đó, côn nhị khúc đã trở thành một binh khí tập luyện phổ biến của những người yêu mến võ thuật cho đến ngày nay.

Vào khoảng tháng 8 năm 1985, môn sinh Lê Lý Thuận ở Tp.HCM đã nghiên cứu, sáng tạo và hệ thống các kỹ thuật côn nhị khúc thành chương trình đào tạo hoàn chỉnh, theo 3 bậc chuyên môn: sơ cấp, trung cấp & nâng cao. Trong những cố gắng hoàn thiện trên, nổi bật nhất là sự sáng tạo 04 kỹ thuật lăn cơ bản đã góp phần đưa côn nhị khúc từ một binh khí thông thường trở thành một môn nghệ thuật thể thao.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 22.05.2016, 01:09
Hình đại diện của thành viên
Ex-moderator
Ex-moderator
 
Ngày tham gia: 05.04.2015, 01:12
Tuổi: 3 Nữ
Bài viết: 3021
Được thanks: 2057 lần
Điểm: 8.25
Có bài mới Re: [ Tổng Hợp ] Những môn võ cổ truyền trên thế giới - Điểm: 10
Tứ Thức: Hỗn Ngược Chưởng Công



Yếu Lý Chung

Tất cả 4 thức, khi đẩy hay án (đè) tới chỗ chẳng đẩy-đè được nữa thì dừng hơi, tức nín thở, bụng dưới hơi phình ra chớ nên thóp bụng. Nếu thóp bụng thì khí dồn lên ngực mà chẳng được nơi Đan Điền, khí không ở Đan Điền thì Kình ở chưởng chẳng sung mãn, như vậy không thích nghi cho môn Chưởng Công luyện Kình. Bốn thức này có thể tập trước hoặc sau khi tập Thiết Sa Chưởng hoặc tập khi vì lý do chẳng thể tập Thiết Sa Chưởng trong ngày. Mỗi ngày sáng tối tập một lần thì chẳng bao lâu Kình lực phát ra trôi chảy. Muốn cho thân thể sung mềm dẻo, uyển chuyển, Kinh Mạch thông lưu môn sinh nên tập thêm bài Ngũ Cầm Hí. Đây là Bài luyện Khí Công động luyện của trường phái Tiên Gia ngày xưa.




Thức 1: Thác Thiên Án Địa

Chuẩn bị: Đứng hai chân khít gót, mũi bàn chân mở hình chữ V, tay phải đưa thẳng lên trời, lòng bàn tay ngửa trên đỉnh đầu, tay trái đưa thẳng xuôi theo bên hông xuống đùi, bàn tay đưa ngang bằng mặt đất, mũi quay về hướng trái như hình 1.

Động tác 1: Hít hơi từ từ bằng mũi đồng thời tay phải-trái nghịch chiều đẩy lên-xuống thẳng tay, đến khi thật thẳng thì ngưng hít rồi cố gắng đẩy thêm lên-xuống cho tới mức chẳng thể đẩy được nữa và dừng ở đó 6 giây đồng hồ. Kế xã hơi, thở nhẹ ra, tay co xuống lên, tay phải xuống gần đỉnh đầu, tay trái co lên gần tới eo lưng.

Động tác 2: Từ từ hít hơi vào, hai tay đẩy lên-xuống, nín hơi đoạn đẩy cực lực, dừng lại ở chỗ tột cùng 6 giây rồi xả kình, thở ra, hạ tay…

Tập ba lần, xong từ từ đưa tay trái lên đỉnh đầu, tay phải xuống thẳng bằng đùi phải. Và tiếp tục tập như trên ba lần. Nên nhớ là luôn luôn phối hợp với hô hấp (hít thở) và dừng lại ở chỗ tột cùng 6 giây. hình 3 là hình 2 nhìn từ một bên.




Thức 2: Song Chưởng Thác Thiên

Chuẩn bị: Thực hành thức thứ nhất cả thảy là 6 lần, xong hạ hai tay xuống nghỉ ngơi 2 phút, kế lại đưa cả song chưởng lên trời, hai mũi chưởng đối nhau, hai lòng bàn tay đều ngửa lên trời, chân trái bước sang trái một khoảng rộng bằng vai, như hình 4.

Động tác 1: Hít hơi vào từ từ, đồng thời song chưởng đẩy lên đến chỗ cực cùng, đẩy không nổi nữa thì dừng lại ở đó 6 giây, ngưng thở. Kế thở ra, xả kình, thu chưởng xuống vị trí gần đỉnh đầu như lúc chuẩn bị

Động tác 2: Lại hít hơi, song chưởng thác thiên… mắt nhìn lên thấy lưng song chưởng… Tập đủ ba lần thác thiên. Cũng có thể đứng hai bàn chân khít nhau.



Thức 3: Song Chưởng Án Địa

Chuẩn bị: Thu chân trái về sát chân phải, hai tay hạ xuống đưa vào đối nhau trước bụng, lòng hai bàn tay chiếu xuống đất như hình 5.

Động tác 1: Hít hơi từ từ đồng thời song chưởng từ từ đẩy xuống thẳng cánh tay, đẩy tới chỗ cực cùng thì dừng lại 6 giây, nín thở. Xong thở ra, xả kình, thu tay về thế chuẩn bị để chuẩn bị tập lại. Tập ba lần.

Lưu ý: Khi đẩy xuống hai tay thẳng, không đẩy tới trước, hai bàn tay đối và thẳng bằng với mặt đất như hình 6. Hình 7 là hình 6 nhìn từ một bên.



Thức 4: Song Đề Chưởng

Chuẩn bị: Từ từ banh song chưởng từ thức ba sang hai bên để thành thế chuẩn bị cho thức thứ tư như hình 8.

Động tác 1: Hít hơi vào từ từ, đồng thời song chưởng vừa xoay ra hai bên vừa đẩy xuống cho đến khi hai bàn tay chỉ mũi thẳng về hai hướng phải trái, cánh tay căng thẳng cực độ thì dừng lại 6 giây. Xong xả kình thu tay trở về vị trí chuẩn bị. Xem hình 9. Tập ba lần.

Thức này mới xem như giống thức thứ 3 nhưng khác là đẩy chưởng theo hình rẻ quạt từ trên xuống dưới, vừa đẩy vừa xoay, còn thức 3 chỉ đẩy thẳng. Đây là tập phát kình theo đường xoắn trôn ốc. Các ngón tay khít nhau.

Hàng Thanh.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 01.06.2016, 14:56
Hình đại diện của thành viên
Ex-moderator
Ex-moderator
 
Ngày tham gia: 05.04.2015, 01:12
Tuổi: 3 Nữ
Bài viết: 3021
Được thanks: 2057 lần
Điểm: 8.25
Có bài mới Re: [ Tổng Hợp ] Những môn võ cổ truyền trên thế giới - Điểm: 11

Tìm hiểu Vũ khí của người Việt cổ đại (Phần 1)



Khảo sát folklore, dân tộc học, truyền thuyết dân gian. Thương, giáo, lao, có hình dạng tương tự và cùng với tên nỏ, cung, rìu, v.v. … là những vũ khí đã được xử dụng thường xuyên của người Việt thời thượng cổ. Để được đầy đủ hơn cho công việc tìm hiểu nguồn gốc bản địa của những vũ khí truyền thống này, chúng ta không thể bỏ qua lĩnh vực khảo cổ và những tài liệu ở các lĩnh vực thuộc khoa học xã hội và nhân văn khác.

Khảo cổ học thời thượng cổ Việt Nam đã được phân ra những giai đoạn có khung niên đại (dựa theo sách Lịch Sử Việt Nam tập I) như sau :

-Thời đại đồ đá cũ : khoảng 300 ngàn năm về trước (di tích ở núi Đọ và văn hóa Sơn Vi hậu kỳ thời đá cũ ).

-Thời đại đồ đá giữa : 10 ngàn năm trước nay (văn hóa Hòa Bình, nghề nông đã xuất hiện).

-Thời đại đồ đá mới : 5 ngàn năm trước nay : văn hóa Bắc Sơn, văn hóa Bầu Chó, văn hóa Hạ Long.

-Thời đại đồ đồng thau :4 ngàn năm trước nay (văn hóa Phùng Nguyên).3 ngàn năm – 2.5 ngàn năm : Văn Hóa Đông Sơn, trống đồng Ngọc Lũ. (1)

Ngay từ thời đại đồ đá cũ, người Việt cổ đã biết dùng đá làm những công cụ chặt, nạo, rìu tay, ghè đẽo thô sơ tìm thấy núi Đọ (Thanh Hóa) cách nay ba trăm ngàn năm hay những công cụ bằng đá cuội ở vùng đồi núi Vĩnh Phúc Yên, Phú-thọ, (văn hóa Sơn Vi), cách nay trên dưới ba chục ngàn năm, hậu kỳ đồ đá cũ.

Truyền thống kỹ thuật và văn hóa đá cuội Việt Nam được tiếp nối với hai nền văn hóa Hòa-bình (thuộc thời đại đá giữa) và văn hóa Bắc-sơn (thuộc buổi đầu thời đại đá mới).

Bên cạnh kỹ thuật ghè đẽo, người Việt cổ đã phát minh kỹ thuật mài, tạo nên những chiếc rìu Bắc-sơn (rìu tứ giác mài lưỡi) nổi tiếng thời đại đồ đá mới. một số lưỡi dáo hay thương hoặc lao và mũi tên đá. Văn hóa Bắc-sơn là một trong những văn hoá có rìu mài sớm ởtrên thế giới. Tiến sĩ Wilhelm G. Solheim, giáo sư Nhân Chủng Học trường đại học Hawaii, nhận xét :”Tôi cho rằng những công cụ bằng đá dẽo có cạnh sắc tìm thấy ởphía bắc Úc châu và được định tuổi bằng Carbon 14 là hai chục ngàn năm trước Tây lịch đều thuộc nguồn gốc Hòa Bình “. (2).

Trình độ phát triển vũ khí ở thời đại đồ đá tại Việt Nam nhìn chung, ngoại trừ rìu đá, vẫn còn ít ỏi về kiểu loại, và sự thô sơ của kỹ thuật cùng tính năng của nó. Những vũ khí này dù kỹ thuật chế tác có đạt tới bước phát triển cuối cùng của kỹ nghệ đồ đá, thì cũng vẫn bị chất liệu đá hạn chế khá nhiều độ sắc nhọn, hướng cải tiến và diện sử dụng.

Tuy nhiên, cần ghi nhận ở đây điểm quan trọng là : một sở trường, một thiên hướng, một thị hiếu nữa, trong việc chọn lựa, sáng tạo và sử dụng vũ khí của tiền nhân người Việt đã được khẳng định ở thời đại đồ đá để rồi sau sẽ được nhân bội lên trong việc trực tiếp kế thừa và phát triển mạnh mẽ ở những thời đại đồ đồng, đồ sắt sau này, góp phần tạo nên những vũ khí truyền thống. Đó là sở trường, thiên hướng, thị hiếu dùng cung nỏ tên, rìu búa và giáo lao (thương) làm vũ khí chủ đạo.

Và chính vì thế mà chúng ta có thể thấy thêm một đặc điểm thứ hai của tình trạng vũ khí ở bước này là : chưa có sự phân hóa, chuyển hóa rạch ròi và phổ biến giữa vũ khí và công cụ. Cây rìu, cung tên, ngọn giáo, ở thời kỳ này, lúc là công cụ để chặt bổ, săn bắn, lúc là vũ khí để đâm phóng, đánh bổ, hoặc vừa là công cụ vừa là vũ khí. Trong tình trạng này cũng chung cho cả những khí vật bằng chất liệu mà lòng đất không thể gìn giữ tới nay cho chúng ta hình dáng của nó, nhưng theo qui luật chung, hiển nhiên cũng tồn tại ở bước này. Đó là những gậy, búa, mũi nhọn, lao … bằng tre, bằng gỗ, v.v…

Tài liệu khảo cổ học thời đại đồ đồng thau thuộc văn hoá Đông-sơn (Thanh Hóa, Bắc Việt) cho thấy rằng trong khoảng thiên niên kỷ thứ nhất trước Tây lịch, vũ khí của tổ tiên người Việt đã phát triển lên một mức và có một vai trò quan trọng đáng kể. Sự tăng tiến về số lượng và sự phong phú về kiểu dạng khai quật được phản ảnh rõ ràng sự phát triển của vũ khí ở bước này. Bên cạnh những vũ khí chủ đạo, kế thừa và phát triển trực tiếp từ những vũ khí thời đồ đá, là cung nỏ tên, lao giáo và rìu búa, (những vũ khí này chẳng những còn để lại những bằng cứ là vật chất, mà còn để lại đầy đủ bằng hình ảnh qua những nét chạm khắc trên các trống đồng, thạp đồng) còn nở rộ một loạt dáng kiểu vũ khí khác nhau khá phong phú. Có thể nói những thành phần vũ khí cơ bản của bộ binh trước khi có hỏa khí, đều đã thấy xuất hiện ở giai đoạn này. Đó là các loại vũ khí tấn công tầm xa như cung nỏ và lao, đánh tầm gần như thương, dáo, mác, rìu búa, dao găm, đoản kiếm, qua, và vũ khí phòng ngự như hộ tâm phiến, khiên, mộc, v.v….

Nguyên liệu mới của những vũ khí này là một điều kiện rất cơ bản làm nẩy sinh một loại thuộc tính ưu việt của vũ khí. Đồng thau cùng với trình độ hiểu biết cao về kỹ thuật đúc cho phép sản xuất hàng loạt (Trường hợp điển hình là kho đầu mũi tên đồng ở thành Cổ-Loa, kinh đô của nhà nước Âu Lạc, khoảng mười ngàn mũi tên), tăng cường độ sắc nhọn của vũ khí và nhất là tạo điều kiện cho cho sự gia công cải tiến vũ khí, phát huy nhiều tính năng và tác dụng của vũ khí (đầu mũi tên đồng có hơn một chục loại, lao, giáo, dao găm, rìu chiến cũng có nhiều dáng vẻ khác nhau, có thể vừa đâm vừa chém và mũi tên bắn ra không lấy lại được, …).

Kết quả của những bài tính toán học và thực nghiệm cho thấy rằng với sức nặng của đầu mũi tên đồng Cổ Loa, thì phải có một chuôi tên dài từ 80 phân đến một mét mới có thể bắn tên đi ở tình trạng tốt nhất (độ dài này tính theo tỷ trọng của tre). Một chiếc tên như thế cho phép giả thiết rằng, ngoài cây cung là phương tiện phóng tên chắc chắn, còn có thể có cả hình thức nỏ máy để phóng tên nữa (3). (Một số hình ảnh chạm khắc trên trống đồng, những tài liệu dân tộc học và truyền thuyết vùng Cổ Loa cũng phù hợp với điều giả thiết này.) Sách Việt Kiệu Thư chép Man động xưa ở nước Nam Việt thời Tần rất mạnh, về phép dùng nỏ thì lại càng giỏi lắm, mỗi phát tên bằng đồng xuyên qua hơn chục người (4).

Những tài liệu ở một ngôi mộ Việt Khê thời đồ đồng cũng cung cấp những số liệu chính xác về những cây dáo, cây lao, thương : cán có độ dài lên tới hai mét ba mươi bẩy phân, đường kính cán tương đối nhỏ, khoảng một phân rưỡi, nhưng bù lại, được lựa chọn từ loại cây có thớ dọc, dẻo dai, có độ bền cao và được cạp thêm một khoảng gần sát luỡi bằng mây sợi chẻ mỏng. Cán giáo còn được sơn bóng đẹp với nước sơn ta từng khoanh màu vàng và màu đen xen kẽ.

Như vậy, ba vũ khí chủ đạo của người Việt cổ là : mũi tên, giáo lao hay thương và lưỡi rìu, và có nguồn gốc bản địa, sản xuất ngay tại chỗ. Giáo sư Wilhelm G. Solheim đã viết :

“Quan niệm cổ điển về thời tiền sử cho rằng kỹ thuật vùng Đông Nam Á là kết quả của những làn sóng di dân từ phương Bắc mang tới. Ngược lại, tôi cho rằng vào thời đại đầu đồ đá mới , nền văn hóa Bắc Trung Hoa gọi là Ngưỡng Thiều là một phần của nền văn hoá Hòa Bình đã tỏa lên Bắc Trung Hoa vào khoảng sáu hay bẩy ngàn năm trước Tây lịch”.

“Tôi cho rằng nền văn hóa mà sau này được gọi là văn hóa Long Sơn vẫn thường được coi là phát triển từ Ngưỡng Thiều • Bắc Trung Hoa rồi lan ra miền Đông và Đông Nam, thì trái lại thực ra đã khai sinh • Nam Trung Hoa và di chuyển lên phía Bắc. Cả hai nền văn hóa này đều bắt nguồn từ gốc văn hóa Hòa Bình”.

Mặt khác, tên gọi Nam Á (Austroasiatic) là thuật ngữ nhân chủng học và ngôn ngữ học bao gồm khu vực Đông Nam Á và Châu Á Hải Đảo kể cả phía Nam Trung Hoa mà một phần chủng tộc này được cổ thư Việt Nam và Trung Hoa gọi là Bách Việt (Điền Việt, Dương Việt, U Việt, Mân Việt, Đông Việt, Lạc Việt,…) sinh sống từ khu vực phía Nam sông Dương Tử đổ xuống phía nam, họp thành những khối cư dân lớn có những tiếng nói thuộc ngữ hệ Mon-Khmer, Việt-Mường và Malayo-Polynesian, những dân tộc thời tiền sử chủ yếu sống nông nghiệp, săn bắn đánh cá, dùng thuyền bè di chuyển trên sông rạch, biển cả, ăn mắm (chưa biết ăn xì dầu), ở nhà sàn, nhà mái cong, xâm vẽ mình, mặc: áo chui đầu (poncho), sà-rông, váy , v.v…khác với nhóm dân tộc thời tiền sử chủ yếu sống du mục, chăn nuôi với đồng cỏ mông mênh phía Bắc và Tây Bắc, thuộc ngữ hệ Hán-Tạng.

Khi xưa tiếng Hán đang còn đóng khung ở vùng phía bắc sông Hoàng Hà, sông Vị Hà thì nó chưa thể có nhiều những từ nêu lên tên gọi của những sản vật mà chỉ phương nam mới có, do đó có sự vay mượn, ảnh hưởng qua lại các thuật ngữ vùng Nam Á. Những danh từ chỉ thực vật như cảm lãm (trám), phù lưu (trầu), ba la mật (mít) v.v… chắc chắn là những danh từ vay mượn các ngôn ngữ vùng nhiệt đới. Để chỉ sông, phía bắc, người Hán gọi là Hà, nhưng từ sông Dương Tử trở về nam lại gọi là Giang. Theo các nhà địa danh học : Giang ( 江) là một từ người Hán vay mượn, rất dễ dàng gợi cho ta nghĩ đến Kion (Miến), Kon (Katu), Karan (Mơ-nông), Krong (Chàm), Không ( Mường), Hông (Khả), Krông (Bà Na), Khung (Thái), Sôngal (Mã Lai), cũng như nghĩ đến Sông trong tiếng Việt (Việt Miên Lào có chung con sông là Mê-kông).

Có khi chiều ảnh hưởng chỉ đi theo một dường thẳng đơn giản, từ bên này sang bên kia, nhưng cũng nhiều khi mũi tên có thể đi đường vòng từ A sang B, rồi lại từ B quay trở lại A. Đó là trường hợp của nỏ, thứ vũ khí phương Namta gọi là Ná. (So sánh với Na của người Mường, người Chức, Nả của người La-Ha (Mưng La) , Hna của người Bà Na, Na của người Ê Đê, dọc Trường Sơn, Mnaá của người Sơ Đăng, Sa Na của người Kơ-ho, Snao của người Raglai, Na của người Mạ Nam Tây-nguyên, Hnaá của người Gia Rai, S-Na của người Miên, Sơ-Na của người Srê, hay Sna của người Chàm Phan Rang, Phan Rí , Ná của người Thái Trắng, Pna của người Mã Lai , v.v. …), có nhiều cơ sở để có thể khẳng định chính từ tên gọi loại vũ khí này mà được nhập vào vốn từ vựng của người Trung Hoa, sản sinh ra tiếng Hán có cách đọc Hán Việt cổ là Nổhay Hán Việt hiện nay là Nõ, (chữ Nõ [弩] tổng hợp của thanh phù Nô [ 奴] (như Nô Bộc) đứng trên chữ Cung tượng hình [弓] rồi lại quay trở về Việt Nam được đọc theo Nôm là Nỏ. Nỏ là một phát minh của người phương nam (6).



Sách Lĩnh Nam Chích Quái chép truyện Triệu Đà sai con là Trọng Thủy đánh cắp nỏ thần phương nam của An Dương Vuơng Thục Phán.

Cái Rìu của tổ tiên chúng ta cũng có một sự tích lý thú, được đặt thành tên dân tộc: Về ý nghĩa của tộc danh Việt, lâu nay một số người dựa trên dạng chữ Hán hiện đại [越] có chứa bộ tẩu [走] của chữ này để giải thích rằng Việt nghĩa là chạy, vượt. Thực ra chữ Việt trong Hán tự đã trải qua nhiều cách viết rất khác nhau, đây là tên gọi có từ lâu đời (họ Việt[粤] –thường, chủng Bách Việt được nhắc đến trong sử Bắc từ rất sớm).

Theo Bình Nguyên Lộc (7), việt [钺] vốn là tên gọi một loại công cụ kiêm vũ khí rất đặc thù của người Việt cổ : cái rìu. Như chúng ta đã biết, khảo cổ học đã tìm được ở khắp nơi trong địa bàn cư trú của người Việt cổ rất nhiều loại rìu với các nguyên liệu khác nhau (đá, đồng, sắt) như rìu đá có tay cầm, rìu đồng hình tứ giác, rìu đồng lưỡi xéo. Trong ngôn ngữ Nam-Á cổ đại, rìu hay dìu có lẽ đã được phát âm là “uỵt” hoặc một âm gì đó tương tự (các truyền thuyết Mường gọi vua Việt là Bua Dịt hay Dịt Dàng). Khi tiếp xúc với người phương Nam, tổ tiên người Hán, với tính cách du mục vốn có, đã rất chú ý đến loại công cụ có thể được dùng như vũ khí này, coi nó là đặc trưng quan trọng của ngưòi phương Nam nên đã gọi họ là bọn Rìu : “Uỵt” được phiên âm qua tiếng Hán cổ (tiếng Quảng Đông-vùng Bách Việt), rồi từ tiếng Hán lại phiên âm trở lại theo cách đọc Hán-Việt thành Việt. Chính cái vật chất là cái rìu lưõi xéo có cán đã là nguyên mẫu để tổ tiên người Trung Hoa, khi tiếp xúc với phương Nam, đã mô phỏng theo đó mà tạo nên chữ Việt nguyên thủy. Còn trong tiếng Việt, chữ”Uỵt” nguyên thủy ở bản địa đã trải qua nhiều biến đổi ngữ âm để có được bộ mặt của chữ rìu hiện nay cùng với cả một họ các từ gần nghĩa : rìu , rèn, rào, dao , rựa , … Bên cạnh đó, cho đến gần đây vẫn có một chữ Việt với tư cách danh từ chung có nghĩa là rìu ; nó xuất hiện trong kết hợp phủ việt (phủ = búa, việt = rìu), tương tự giống trường hợp chữ Ná người Hán mượn rồi trở về ta là chữ Nỏ.



Chú thích
(1) Uỷ Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam, LỊCH SỬVIỆT NAM tập I, Hà Nội, nhà xb KHXH, 1971, trang 87.
(2) Wilhelm G. Solheim , New Light on a Forgotten Past, National Geographic, Vol. 139, No. 3 , March 1971, page 339.
(3) Hùng Vương Dựng Nước , tập 4, Hà Nội, nxb KHXH, 1974, trang 292-299.
(4) Dẫn theo Trần Quốc Vượng-Hà Văn Tấn, Lịch Sử Chế Độ Phong Kiến Việt Nam. Tập 1, Hà Nội, Giáo Dục, 1960, trang 26.
(5) Wilhelm G. Solheim, đã dẫn, trang 339.
(6) Phan Quỳnh, Non Bộ Trong Lịch Sử Việt Nam, Đặc san VOVINAM Việt Võ Đạo, Đại Hội Thế Giới tháng 8 năm 2000 tại California USA, trang 58- 72.
(7) Bình Nguyên Lộc, Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam , Saigon, Bách Bộc xb, 1971, Xuân Thu in lại tại Hoa Kỳ, trang 154-157, 784-787.

Phan Quỳnh
(Còn tiếp)


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
1 thành viên đã gởi lời cảm ơn ๖ۣۜMꙣêღ về bài viết trên: nangdong18_nary
Có bài mới 14.03.2017, 17:06
Hình đại diện của thành viên
Tiểu Thần Tịch Ưng Bang Cầm Thú
Tiểu Thần Tịch Ưng Bang Cầm Thú
 
Ngày tham gia: 27.11.2015, 16:02
Tuổi: 23 Chưa rõ
Bài viết: 11104
Được thanks: 12209 lần
Điểm: 10.61
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: Những môn võ cổ truyền trên thế giới - Điểm: 10
Võ cổ truyền Việt Nam : Phiên bản của võ Trung Quốc?

images
Cho đến nay, ngay trong giới hoạt động võ thuật, vẫn có không ít người cho rằng võ Việt Nam chỉ là một phiên bản của võ thuật Trung Quốc. Những người này còn đưa ra một số bằng chứng, như tên gọi đòn thế, tên bài quyền của võ Việt Nam và võ Trung Quốc đều có những nét giống nhau. Sự thật ra sao?

Từng gắn bó với hoạt động võ thuật cổ truyền Việt Nam hơn 40 năm qua, được dịp tiếp xúc nhiều bậc võ sư của cả hai nền võ thuật Việt Nam và Trung Quốc hoạt động khắp ba miền Nam – Trung – Bắc, chúng tôi chưa hề nghe các bậc tiền bối nói rằng võ Việt Nam là một phiên bản hoặc chi phái của võ Trung Quốc! Các cụ bao giờ cũng xác định khá rạch ròi “võ Ta và võ Tàu là hai nền võ thuật khác nhau”.

Khác về lời thiệu

Trước hết là sự khác nhau về ngữ nghĩa. Võ Ta là loại võ thuật của chúng ta – những người Việt có nguồn gốc con Hồng cháu Lạc. Còn võ Tàu là loại võ thuật của những người Hán của đất nước Trung Hoa, trong quá khứ vẫn thường sử dụng để tấn công nước Việt. Từ “Ta” và “Tàu” đã cho thấy một bên là yếu tố nội sinh của chúng ta, còn một bên là yếu tố ngoại nhập, của những người không cùng nòi giống.

Sự khác nhau về võ Ta và võ Tàu còn có thể nhận thấy trong tên gọi những đòn thế trong một bài quyền (còn gọi là bài thảo). Tất cả những bài võ Ta hiện đang lưu truyền khắp ba miền đều có một bài thơ kèm theo, gọi là thiệu. Các bài thiệu này được làm theo các thể thơ quen thuộc của người Việt thời xưa như: thất ngôn (mỗi câu thơ có 7 từ), tứ tự (mỗi câu thơ có 4 từ), ngũ ngôn (mỗi câu thơ có 5 từ), lục bát (câu 6 từ liền với câu 8 từ), song thất lục bát (hai câu 7 từ liền với hai câu lục bát)… Những từ sử dụng trong các bài thiệu này cũng khá đa dạng: chữ Nho, chữ Nôm, hay xen kẽ chữ Nho với chữ Nôm. Chẳng hạn như: “Chống roi đứng thủ Thần Đồng, Bắt qua bên trái, đánh càn lưỡng biên” (bài roi Thần Đồng), “Lão mai độc thọ nhứt chi vinh, Lưỡng túc khinh khinh tấn bộ hoành” (bài quyền Lão Mai). Trong khi võ Tàu cũng có thiệu, nhưng rời rạc từng câu, không kết hợp thành một bài thơ. Ví dụ mấy câu thiệu trong bài Mai Hoa Quyền của võ Tàu: “Tướng quân bái tổ, Song cung bảo nguyệt. Lưỡng thủ tảng quyền, Nhị long nhập động. Song chỉ cầm long…” hay mấy câu thiệu trong bài Thái Cực Quyền của võ Tàu: “Khởi thế, Dã mã phân tung. Bạch hạc lượng xí, Tả hữu lâu tất ảo bộ. Tả huy tì bà…”.

Khác phương pháp huấn luyện

Cũng trong quá trình thể hiện, những bài quyền, thảo, binh khí, võ Ta hầu như chỉ triển khai theo hai hướng chính là hướng trước mặt và hướng sau lưng, còn các hướng trái phải tuy cũng có thể có triển khai nhưng rất ít, nghĩa là những bài quyền, bài binh khí võ Việt triển khai theo đồ hình nét sổ trong chữ Hán (l). Trong khi đó, các bài võ Tàu, cả quyền thảo lẫn binh khí, được triển khai rất nhiều hướng với các đồ hình khá đa dạng: 4 hướng, 8 hướng… thậm chí mang tính ngẫu hứng, như trong Tuý quyền, Thái cực quyền…

Trong phương pháp giảng dạy truyền thống của võ Ta và võ Tàu cũng khác nhau. Các bậc thầy võ Ta ngày xưa thường dạy theo phương pháp từ tổng hợp đến phân tích. Cụ thể là dạy bài quyền trước rồi phân tích thành đòn thế sử dụng sau. Còn võ Tàu thì dạy theo phương pháp từ phân tích đến tổng hợp: võ sinh bước đầu tập từng đòn căn bản, sau mới tập đến các bài quyền vốn là tổng hợp của những đòn căn bản.

Tóm lại, võ Ta khác hẳn võ Tàu, nghĩa là võ Việt Nam chắc chắn không phải là phiên bản của võ Trung Quốc. Dĩ nhiên quá trình giao lưu văn hoá Việt Hoa trong lịch sử hai dân tộc đã dẫn tới sự ảnh hưởng của võ Tàu trên võ Việt là điều không tránh khỏi. Nhưng cũng như trên các lãnh vực văn hoá khác, các bậc tiền bối võ Việt Nam đã tiếp thu những cái hay của võ Trung Quốc, nhưng đã biến đổi cho phù hợp với con người Việt Nam, cho nền võ học Việt Nam ngày thêm phong phú, góp phần tích cực vào công cuộc bảo vệ và mở mang đất nước Việt Nam trường tồn.

HỒ TƯỜNG



Võ Việt Nam chưa phát triển đúng tầm: Đi tìm nguyên nhân

Trong 15 năm qua, ngoài việc tập hợp được các môn phái trong cả nước, Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam đã xây dựng một số qui trình, thể lệ, hình thành các tiêu chí chuyên môn, qui định các chuẩn mực về đai đẳng, võ phục, tổ chức định kỳ hàng năm các giải quốc gia. Đặc biệt, Liên đoàn đã bình chọn 10 bài quyền, binh khí và đưa vào giáo trình thống nhất (mang tính bắt buộc) trong các kỳ thi thăng đai và Hội thi. Bên cạnh đó, VCT không còn bó hẹp ở các tỉnh phía Nam mà đã lan toả nhanh đến nhiều địa phương miền Bắc và vượt biên giới đến với nhiều quốc gia, với hàng ngàn võ sư, võ sinh.

Những thay đổi bất hợp lý

Tuy nhiên, những gì mà giới chức có trách nhiệm đã mang lại cho nền võ học nước nhà vẫn chưa được như mong đợi. Trong đó đáng quan ngại hơn cả, chính là việc chỉnh sửa, thay đổi cấu trúc một số đòn thế, hoặc cấm đoán những miếng đánh phối hợp chuyên biệt, mang tính đặc trưng của VCT dân tộc, dẫn đến bẻ gãy một số bộ pháp, nhất là quyền pháp và cước pháp vốn biến hoá liên hoàn, theo đồ hình “ngũ hành pháp”(bộ tay) và”bát quái pháp” (bộ chân) của thuyết Ngũ hành (các dòng võ ở phương Đông đều vận dụng triệt để thuyết này. 10 bài giáo trình “chuẩn quốc gia”, sau khi được các lão võ sư, các nhà nghiên cứu và Ban chuyên môn chỉnh lý tương đối chuẩn xác (năm 2001 tại Nha Trang), nhưng khi xuất bản lại “thay tên, đổi chữ” dẫn đến sai lệch một số thuật ngữ chuyên môn và có phần mâu thuẫn giữa lời thiệu gốc (lý thuyết) với phần thể hiện động tác kỹ thuật của một số bài võ. Hay việc xoá bỏ hệ thống thi đấu trên võ đài đã tồn tại hàng trăm năm bằng những tấm thảm. Cách làm này vừa giống cách bố trí thảm đấu của môn Judo, Pencak Silat… lại vừa giống môn vật. Do không có dây “ring” đài bao bọc nên những trận đấu chênh lệch trình độ, võ sĩ yếu hơn thường chạy nháo nhào để tránh đòn, làm cho trận đấu luôn bị cắt vụn, tẻ nhạt, không còn uy phong lẫn không có tính nghệ thuật.

Việc chọn võ phục màu đen, thứ bậc đai đẳng cũng chưa hợp lý. Màu đen suy cho cùng vẫn là gam màu “chết”, hoàn toàn không gắn kết với nền tảng văn hoá thẩm mỹ cũng như truyền thống và biểu trưng của dân tộc. Thậm chí có nhiều môn sinh (có cả một số HLV, võ sư) lại rất khoái mặc võ phục may theo kiểu Tàu, làm cho nhiều người liên tưởng có sự “phiên bản” của võ thuật Trung Hoa. Những sự việc trên bắt nguồn từ sự chủ quan, thiếu cân nhắc lẫn kiểm soát của BCH Liên đoàn, hay do BCH ít sinh hoạt, chủ yếu “khoán trắng” cho vài vị thường trực bao biện toàn bộ mọi công việc nên chỉ mới lo được khâu võ thuật, còn các phần chính, như: võ lý, võ đạo, võ lễ, võ y, võ nhạc… và nhiệm vụ “nâng tầm võ Việt, hội nhập quốc tế” vẫn còn bỏ trống. Cụ thể, BCH Liên đoàn đến nay đã quá nhiệm kỳ trên 3 năm, nhưng vẫn chưa tiến hành Đại hội được. Trong khi đó có khá nhiều thành viên, kể cả Chủ tịch Liên đoàn sau khi được bầu, nhưng vì lý do này, lý do khác cũng không hoạt động…

PHẠM ĐÌNH PHONG

Bạn có biết?

Võ Việt ở hải ngoại

Chưa thể xác định thời điểm VCT có mặt ở nước ngoài nhưng muộn nhất cũng vào khoảng gần cuối thập niên 50 của thế kỷ trước khi võ sư Nguyễn Đức Mộc mở võ đường Song Long Quyền Thuật tại Pháp năm 1957. Sau đó, các du học sinh, những người Việt Nam định cư ở nước ngoài tiếp tục truyền bá VCT hoặc một số người phương Tây đã tìm đến nước ta học VCT hay mời “thầy ta” ra nước ngoài tập huấn cho “tây”. Hầu hết các võ phái đều dùng tên gọi các bài thiệu, đòn thế bằng tiếng Việt. Tuy nhiên, bên cạnh những võ sư vẫn giữ nguyên danh xưng từ đất Việt (Lam Sơn Võ Đạo, Kiến An Công Phu, Thần Quyền, Tây Sơn Nhạn, Tinh Võ Đạo…) cũng có một số người dùng sở học của mình kết hợp thêm bài bản, kỹ thuật của võ phái khác để hình thành một võ phái mới (Quán Khí Đạo, Hoà Long Võ Đạo, Cửu Long Võ Đạo, Tráng Sĩ Đạo, Vivodo…). Nhìn chung, hầu hết võ sinh VCT ở nước ngoài vẫn luôn hướng về đất tổ và khát khao học hỏi thêm tinh hoa võ Việt, trong đó có 10 bài võ thống nhất của LĐ Võ thuật cổ truyền Việt Nam.

Có bao nhiêu võ phái?

Theo một thành viên của Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam, chỉ riêng tại TPHCM đã có 54 võ phái hoạt động. Nếu tính trên toàn quốc thì con số này xấp xỉ 70. Một số võ phái đáng chú ý như: An Thái Bình Định, Tây Sơn Bình Định, Tây Sơn Bạch Long, Thanh Long Võ Đạo, Võ Lâm Tân Khánh Bà Trà, Lam Sơn Võ Đạo, Nam Tông, Hàn Bái, Trung Sơn Võ Đạo, Ngũ Hổ Trấn Môn, Sa Long Cương, Thất Sơn Quyền, Nam Hồng Sơn, Bình Định Gia…

H.TH


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 16 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
[Cổ đại - Trùng sinh] Đích trưởng nữ - Hạ Nhật Phấn Mạt

1 ... 25, 26, 27

[Xuyên không] Khuynh thế tuyệt sủng tiểu hồ phi - Thanh Canh Điểu

1 ... 17, 18, 19

3 • [Cổ đại] Sư phụ quá mê người đồ đệ phạm thượng! - Khinh Ca Mạn

1 ... 19, 20, 21

4 • [Hiện đại] Tổng tài đừng tới đây! - Ăn quái thú

1 ... 11, 12, 13

[Hiện đại] Hào môn thịnh sủng bảo bối thật xin lỗi - Hạ San Hô

1 ... 14, 15, 16

6 • [Hiện đại - Trùng sinh] Sống lại sinh em bé - Sâm Trung Nhất Tiểu Yêu

1, 2, 3, 4, 5

7 • [Hiện đại] Ông xã cầm thú không đáng tin - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 21, 22, 23

8 • [Hiện đại] Người tình của tổng giám đốc đài truyền hình - Cơ Thủy Linh

1 ... 5, 6, 7

9 • [Hiện đại] Vợ cũ quay lại Tổng tài biết sai - Vô Danh

1 ... 53, 54, 55

10 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 56, 57, 58

11 • [Cổ đại - Trùng sinh] Thừa tướng yêu nghiệt sủng thê - Sương Nhiễm Tuyết Y

1 ... 27, 28, 29

12 • [Xuyên không] Cuộc sống điền viên của Tình Nhi - Ngàn Năm Thư Nhất Đồng

1 ... 53, 54, 55

13 • [Hiện đại] Cục cưng càn rỡ Tổng giám đốc dám cướp mẹ của tôi - Tả Nhi Thiển

1 ... 29, 30, 31

14 • [Hiện đại] Hôn nhân bất ngờ Đoạt được cô vợ nghịch ngợm - Luật Nhi

1 ... 50, 51, 52

15 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 72, 73, 74

16 • [Xuyên không] Hoàng gia tiểu kiều phi - Ám Hương

1 ... 40, 41, 42

17 • [Xuyên không - Cung đấu] Thế nào là hiền thê - Nguyệt Hạ Điệp Ảnh

1 ... 11, 12, 13

18 • [Hiện đại] Người tình hợp đồng của tổng giám đốc bạc tình - Hải Diệp

1 ... 33, 34, 35

19 • [Hiện đại] Tổng tài yêu Thủy Tinh - Thiên Nhan

1, 2, 3, 4

20 • [Xuyên không - Dị thế] Thiên tài cuồng phi - Băng Y Khả Khả

1 ... 24, 25, 26



Shop - Đấu giá: V.O vừa đặt giá 431 điểm để mua Bông tuyết
Shop - Đấu giá: Mai Tuyết Vân vừa đặt giá 427 điểm để mua Hổ ném bom
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 405 điểm để mua Hổ ném bom
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 312 điểm để mua Thiên thần 3
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 384 điểm để mua Hổ ném bom
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 250 điểm để mua Couple 7
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 3424 điểm để mua Anh bộ đội
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 364 điểm để mua Hổ ném bom
Shop - Đấu giá: Mai Tuyết Vân vừa đặt giá 345 điểm để mua Hổ ném bom
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 327 điểm để mua Hổ ném bom
Shop - Đấu giá: Mai Tuyết Vân vừa đặt giá 310 điểm để mua Hổ ném bom
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 294 điểm để mua Hổ ném bom
Shop - Đấu giá: Mai Tuyết Vân vừa đặt giá 279 điểm để mua Hổ ném bom
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 264 điểm để mua Hổ ném bom
Shop - Đấu giá: Mai Tuyết Vân vừa đặt giá 250 điểm để mua Hổ ném bom
Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 1285 điểm để mua Anh bộ đội
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 1222 điểm để mua Anh bộ đội
Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 1162 điểm để mua Anh bộ đội
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 333 điểm để mua Mashimaro ăn cà rốt
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 248 điểm để mua Vịt Daisy
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 248 điểm để mua Giày đen 2
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 1105 điểm để mua Anh bộ đội
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 591 điểm để mua Song Ngư Nam
Shop - Đấu giá: Mai Tuyết Vân vừa đặt giá 561 điểm để mua Song Ngư Nam
Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 1051 điểm để mua Anh bộ đội
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 1000 điểm để mua Anh bộ đội
Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 888 điểm để mua Anh bộ đội
Thiên Hạ Đại Nhân: haha
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 844 điểm để mua Anh bộ đội
Shop - Đấu giá: Leslie Juan vừa đặt giá 336 điểm để mua Mashimaro lái xe

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.