Diễn đàn Lê Quý Đôn
Cấm đăng tin quảng cáo các lớp học, khoá học, hội thảo, tìm học sinh... Các bài quảng cáo sẽ bị xoá.


Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 33 bài ] 

Nam cực tinh huy - Hồ Biểu Chánh

 
Có bài mới 30.04.2017, 06:55
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35929
Được thanks: 5309 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới [Xuất bản - Dã sử] Nam cực tinh huy - Hồ Biểu Chánh - Điểm: 10
NAM CỰC TINH HUY

Tác giả: Hồ Biểu Chánh
Xuất bản lần đầu: năm 1924
Số chương hồi: 32
Nguồn: https://vi.wikisource.org/wiki/Nam_c%E1%BB%B1c_tinh_huy

Giới thiệu

...Trong dinh quan Thứ-sử, cửa tư bề đóng chặt, người cũng vắng bóng lại qua; duy trước hiên chị nguyệt dỡn hoa đào và bên chái ngọn đèn chờ bạn ngọc. Trống vừa trở canh tư thì thấy quan Thứ-sử Ngô-Quyền ở trong phòng bước ra, bưng đèn đem để trên án, rồi sẻ lén mở cửa đi ra ngoài. Bóng trăng tỏ rạng, soi sáng cả mình, mới thấy người tuổi vừa mới quá bốn mươi, vóc to, sức mạnh, trán rộng, mặt ngang, mày rậm, râu dài, cặp mắt lớn mà lại sáng, trông hình dạng thì đủ biết là một người chí khí cao, độ lượng lớn. Quan Thứ-sử xem trăng rồi lần bước đi lại gần mấy hàng hoa đào, thấy bụi hoa nào tốt rờ rẩm sâm soi, còn dòm bụi hoa đèo thì châu mày ủ mặt. Xem hoa xong rồi mới chậm chậm đi thẳng ra hồ sau, thấy dưới cội lý có mấy cái ghế bèn lại đó mà ngồi. Bóng trăng soi mặt nước như vàng gieo bạc chảy, tiếng dế kêu dưới cội như câu hát giọng đờn; quan Thứ-sử ngồi một mình nhắm cảnh thanh vật tịnh rồi lòng bắt nhớ chuyện sẽ tới, nhớ người ở xa, nhớ tổ quán cố hương, nhớ ơn cha nghĩa bạn....

Mời bạn đọc tiếp...

Tác giả

Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20.

Khi viết văn, ông lấy tên tự ghép với họ là Hồ Biểu Chánh, trở thành một bút danh bất hủ, được nhiều người biết đến và quý mến hơn tên tộc Hồ Văn Trung của ông.

Ông sáng tác văn học rất nhiều và để lại hơn 100 tác phẩm gồm tiểu thuyết và các thể loại khác, như: nghiên cứu, phê bình văn học, sáng tác tuồng hát cùng các bản dịch văn học cổ điển Trung Quốc như Tình sử, Kim cổ kỳ quan... đóng góp rất nhiều cho sự phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại.

Tiểu thuyết của ông thuộc về thời kỳ đầu của văn học chữ quốc ngữ, cốt truyện đơn giản, triết lý chủ đạo là thiện thắng ác, ở hiền gặp lành, điểm đặc biệt là rất Nam Bộ, từ giọng văn đến miêu tả con người. Ông có phóng tác một số tiểu thuyết Pháp.

Hồ Biểu Chánh sở trường về viết văn xuôi tự sự. Đề tài phần lớn là cuộc sống Nam Bộ từ nông thôn đến thành thị những năm đầu thế kỷ 20 với những xáo trộn xã hội do cuộc đấu tranh giữa mới và cũ. Cách diễn đạt của ông nôm na, bình dị. Ông đã có những đóng góp to lớn vào sự hình thành thể loại tiểu thuyết trên chặng đường phôi thai. Ông để lại một khối lượng sáng tác không nhỏ: 64 tiểu thuyết, 12 tập truyện ngắn và truyện kể, 12 vở hài kịch và ca kịch, 5 tập thơ và truyện thơ, 8 tập ký, 28 tập khảo cứu-phê bình. Ngoài ra, còn có các bài diễn thuyết và 2 tác phẩm dịch.



Đã sửa bởi Nminhngoc1012 lúc 05.05.2017, 12:11.

Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 03.05.2017, 15:07
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35929
Được thanks: 5309 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Xuất bản - Dã sử] Nam cực tinh huy - Hồ Biểu Chánh - Điểm: 10
Hồi 1

Trong màng loan Dương phu nhơn mộng quái,
Dưới cột lý Ngô Thứ-sử trần tình



Năm mậu tuất (năm 938) đêm rằm tháng giêng, lúc gần hết canh ba, mảnh nguyệt treo giữa trời soi sơn-thủy, giọt nước sương chan mặt đất rưới cỏ cây; nẻo lợi danh vắng-vẻ bước con người, mùi cam khổ tạm bay xa trần thế.

Ái-châu thành[1] là chỗ địa-đầu thị-tứ, dân cư trù mật, quan quân nhộn nhàng; chánh là một trường cạnh tranh lợi danh, mà cũng là chánh một chốn nực nồng cam khổ. Đêm nay canh khuya, trời lạnh người người đều ngơi-nghỉ, nhà nhà đều im-lìm, tưởng là bóng âm che khuất lòng trần, nào dè cách một hồi nghe tiếng chuông trên chùa cúng Phật, mới hay đêm tuy khuya, tiết tuy lạnh, chim trong rừng tuy ngủ, cây trên núi tuy yên, nhưng mà người đời chưa rảnh được nợ trần, hoặc còn mưu kế sanh tồn, hoặc đương tính về phương siêu độ.

Trong dinh quan Thứ-sử, cửa tư bề đóng chặt, người cũng vắng bóng lại qua; duy trước hiên chị nguyệt dỡn hoa đào và bên chái ngọn đèn chờ bạn ngọc. Trống vừa trở canh tư thì thấy quan Thứ-sử Ngô-Quyền ở trong phòng bước ra, bưng đèn đem để trên án, rồi sẻ lén mở cửa đi ra ngoài. Bóng trăng tỏ rạng, soi sáng cả mình, mới thấy người tuổi vừa mới quá bốn mươi, vóc to, sức mạnh, trán rộng, mặt ngang, mày rậm, râu dài, cặp mắt lớn mà lại sáng, trông hình dạng thì đủ biết là một người chí khí cao, độ lượng lớn. Quan Thứ-sử xem trăng rồi lần bước đi lại gần mấy hàng hoa đào, thấy bụi hoa nào tốt rờ rẩm sâm soi, còn dòm bụi hoa đèo thì châu mày ủ mặt. Xem hoa xong rồi mới chậm chậm đi thẳng ra hồ sau, thấy dưới cội lý có mấy cái ghế bèn lại đó mà ngồi. Bóng trăng soi mặt nước như vàng gieo bạc chảy, tiếng dế kêu dưới cội như câu hát giọng đờn; quan Thứ-sử ngồi một mình nhắm cảnh thanh vật tịnh rồi lòng bắt nhớ chuyện sẽ tới, nhớ người ở xa, nhớ tổ quán cố hương, nhớ ơn cha nghĩa bạn.

Mắt đương lim dim, trí đương nghĩ nghị, bỗng nghe phía sau lưng có tiếng tằn-hắn. Quan Thứ-sử day lại thì thấy phu-nhơn, là Dương-thị, biệt hiệu là Nguyệt-Cô, nhẹ bước vạch nhành lần lần đi tới, Phu nhơn đã gần bốn chục mà sắc hãy còn thanh tươi, nước da trắng, gương mặt tròn, mặc áo sô đen, dạng đi yểu điệu. Khi phu nhơn bước tới thấy quan Thứ-sử liền đứng lại mà hỏi rằng:

- Đêm khuya tiết lạnh, sao tướng công không ngủ mà lại ra ngồi ngoài nầy?

- Chẳng biết vì cớ nào đêm nay trong lòng tôi bức-rức ngủ không được, nên tôi thức dậy mở cửa ra ngoài. Đứng trước hiên thấy trăng tỏ, trời thanh tôi mới lần bước đến đây ngồi ngoạn cảnh. Sao phu-nhơn không nghỉ, mà sao lại biết tôi ở đây mà kiếm?

- Thưa tướng-công số là tôi đang ngủ, bỗng chiêm bao thấy phụ thân tôi đầu xã tóc, mà mặt mày tái xanh chạy vô cửa kêu tôi rồi đứng ngó tôi mà khóc. Tôi la lên một tiếng rồi giựt mình thức dậy, cả mình hạn xuất ướt dầm. Tuy tôi biết là chuyện chiêm bao, song không hiểu lành dữ lẽ nào, nên chạy qua phòng tướng-công đặng tỏ lại cho tướng-công nghe. Chẳng dè qua đến đó thấy phòng không vắng vẻ, tôi bước ra tiền đường thấy đèn còn chong trên án mà cửa lại mở bét, tôi liệu chắc tướng-công ra ngoài, nên mới nhẹ gót đến đây mà bày tỏ chuyện chiêm bao cho tướng-công bàn thử.

- Phu-nhơn đừng có sợ. Người ta nói mộng là mị biết sao là lành, sao là dữ mà bàn. Phu-nhơn ngồi ghế đó mà nghỉ chơn, rồi trở vào mà ngủ.

Quan Thứ-sử kéo một cái ghế còn bỏ trống dưới cội cây đem ra mời phu-nhơn ngồi. Lúc đó có một vừng mây bay áng mặt trăng làm cho tư bề cỏ cây lờ mờ, cảnh vật trông ra hết đẹp. Chẳng biết hai người ngồi dưới cội, thấy trăng lu mà buồn bực, hay là nhớ giấc mộng là não nề, song cả hai đều ngồi im-lìm không ai nói tiếng chi hết. Cách một hồi lâu vừng mây qua khỏi, nguyệt sáng lòa, hoa cỏ khoe màu, nước non rạng vẻ; phu-nhơn liếc thì thấy quan Thứ-sử nét mặt ưu sầu, bèn cất tiếng hỏi rằng:

- Thưa tướng-công đá nói chiêm bao là mộng mị, mà sao nãy giờ coi bộ tướng-công không được vui? Nếu thiệt là điềm chẳng lành thì xin tướng-công cũng nói cho thiếp hay. Thiếp tuy là phận gái mặc dầu nhưng mà thiếp đã tuần quen nguy hiểm phong ba, bởi vậy dầu gặp dịp chẳng may thiếp cũng đủ trí đởm đương xin tướng-công chớ ngại.

- Phu-nhơn sợ quá nên nghi cho tôi dấu diếm phu-nhơn đó mà thôi, chớ nào có phải điềm chiêm bao đó làm cho tôi buồn đâu.

- Vậy chớ tướng-công buồn về việc chi?

- Tôi buồn cũng nhiều việc, buồn về việc nhà việc nước lo những nghĩa nặng ơn sâu, nghĩ thiệt khó mà tả hết cho phu-nhơn nghe được.

- Thưa tướng-công, thiếp tuy vụng về yếu đuối, nhưng mà thiếp hằng hết lòng lo sửa trắp nâng khăn. Đã vậy mà lại nhờ phật trời ủng hộ cho vợ chồng ta sanh được hai đứa con trai, thằng Xương-Cấp nay tuổi đã 12, và thằng Xương-Văn nay tuổi đà 11. Còn tướng-công thì đường công danh rực rỡ, làm quan đến chức Thứ-sử, oai quyền to lớn binh tướng dõng cường, cứ Ái-châu thành bố đức trăm nhà, dân Chiêm-thành quốc nghe danh khiếp sợ. Việc gia-đình như vậy, đường công danh như vậy, mà sao tướng-công lại buồn? Hay là thiếp ở có chỗ nào thiếu sót nên tướng-công phiền riêng thiếp chăng?

- Phu-nhơn không rõ, để tôi tỏ thiệt cho phu-nhơn nghe. Tôi vốn con nhà hàn vi lê thứ, chẳng may mẹ cha mất sớm nên tôi phải xứ Đường-Lâm[2] mà rảo bước giang hồ, chủ ý của tôi là muốn kiếm bạn tri-âm mà kết nghĩa đồng-tâm, đặng lập chút thân danh cho rỡ ràng nam-tử. Thiệt cũng nhờ có phật trời giúp vận, nên đến Bình-Kiều[3] may gặp được nhạc phụ yêu thương. Tôi chẳng có tài gì mà nhạc-phụ lại gả phu-nhơn cho tôi, rồi trong lúc dấy nghĩa binh mà đánh Lý-Khắc-Chánh, đuổi Lý-Tấn về Tàu, tôi cũng chẳng có công lao bao nhiêu mà chừng nhạc-phụ cầm quyền Tiết-đạt-sứ rồi lại cho tôi lãnh chức Ái-châu Thứ-sử, lo giữ gìn nam-phương cường-giới.

- Lời tướng-công nói đó là lời khiêm nhượng mà thôi chớ thiếp nghĩ họ Dương ngày nay mà được giao ngôi cao quyền cả, ấy cũng là nhờ có sức tướng-công nhiều nên mới được như vậy chớ.

- Phu-nhơn đừng có cãi lẽ, để tôi nói hết cho phu-nhơn nghe. Làm trai như tôi đây, công danh rực rỡ, mà lại có vợ hiền, có con trai, theo thường tình ai cũng đều phỉ nguyện. Nhưng mà đứng làm trai hễ được vinh huê phú quí rồi thì độc thiện kỳ thân, bo bo giữ lấy cái địa-vị cao sang mà hưởng, ai hoạn nạn không biết thương yêu, ai lâm khổ không thèm tế độ, không lo đền ơn xưa nghĩa cũ, không chịu tính hậu vận tương lai, thế thì sao đáng mặt trượng-phu hào-kiệt. Nãy giờ tôi ngồi đây, trăng-thanh cảnh tịnh khiến cho tôi động lòng mà nhớ những việc trước sau. Tôi nghĩ tôi mang ơn nhạc-phụ thiệt là nhiều, mà không biết lấy chi đền đáp. Nhạc-phụ đã lấy lòng trượng-phu quân-tử mà đãi tôi, nếu tôi muốn báo đáp thì tôi cũng phải lấy nghĩa trượng-phu quân-tử mà đối lại mới vừa. Chẳng giấu chi với phu-nhơn, mấy năm nay tôi thường lo mưu tính kế quyết giúp cho nhạc-phụ dựng cơ-đồ vương bá trong chốn nam phương, nhưng mà tôi tính chưa được nên tôi buồn. Phu-nhơn nghĩ đó mà coi, thằng Lưu-Cung ở thành Phiên-ngung[4] nó tài trí gì mà tự xưng là Nam-Hán Hoàng-Đế. Chúng ta ở đất Giao-châu gồm đến 12 châu, cộng là 59 huyện, mà hơn một năm nay chúng ta cứ thần phục nước Tàu hoài. Nay nhạc-phụ đã cầm quyền Tiết-đạt-sứ nhắm lại dầu tự xưng vương, xưng đế, nghĩ cũng chẳng kém gì Lưu-Cung. Hềm vì nước ta ở giữa, phía Bắc người Tàu cứ hầm hầm thâu đoạt, phía nam Chiêm-thành toan nhiễu loạn biên cương. Đã vậy mà trảo nha của nhạc-phụ đếm không đặng mấy người, lại trong mấy người ấy chưa chắc đã tận tâm nưng đỡ. Bởi vậy cơ đồ vương-bá thiệt là khó dựng, mà tôi coi việc bảo tồn chưa chắc chắn chút nào. Tôi nghĩ cuộc đời nằm nhắm mắt không an, bởi cớ ấy nên tôi buồn chớ nào phải là buồn vì nghe chiêm bao mộng mị hay sao.

- Thưa tướng-công, tướng-công nói những lời trung nghĩa, thiếp nghe qua thiệt cảm xúc vô cùng. Tuy vậy thiếp xin tướng-công cho phép thiếp hỏi đôi lời: phụ-thân của thiếp thế cô lực thiểu, còn đất Giao-châu nầy lưỡng diện thọ địch, bởi vậy cho nên nếu muốn xây nền vương bá thì khó đã đành rồi. Còn tướng-công nói nha-trảo của phụ thân không mấy người, lại trong số ấy chưa chắc hết thảy đều tận tâm tá trợ, thì thiếp không hiểu vì cớ nào mà tướng-công lại nói như vậy. Tướng-công, là con rể trong nhà, cứ Ái-châu đặng ngăn đón Chiêm-thành, còn Dương-kiết-Lợi, là em đồng tông, thì cứ Lục-Châu[5] đặng ngăn ngừa Bắc-địch. Trong xứ lại còn những anh-hùng hào-kiệt như Kiều-công-Tiện, Đỗ-cảnh-Thạc và nhiều người khác nữa lo phò tá phụ thân, vì sao mà tướng-công lại còn lo sợ?

- Phu-nhơn là phụ nữ xẩn-bẩn trong chốn khuê phòng làm sao mà phu-nhơn hiểu những cơ trị loạn tồn vong cho được. Thiệt tôi lìa xa nhạc-phụ trong lòng tôi chẳng chút nào an, ngặt chỗ trọng trấn nầy không dám phú cho ai, nên cực chẳng đã tôi phải ở đây mà gìn giữ. Chẳng phải việc nước làm cho tôi ưu lự mà thôi, việc nhà tôi xem cũng chưa vừa con mắt. Vợ chồng ta có hai đứa con trai, ấy cũng là hạnh phúc, song tôi dòm hai đứa đều nhu nhược không có khiếu anh-hùng. Tôi nay tuổi đã 41 rồi; tôi sợ e sau ngày tôi nhắm mắt qui tiên thì hai trẻ không biết kế chí của tôi mà làm cho tông môn hiển đạt.

- Hai đứa nó khờ dại ăn chưa no lo chưa tới, hơi nào tướng-công lo quá như vậy. Tướng-công ráng dạy dỗ chúng nó lần lần, chừng chúng nó lớn khôn thì chúng nó tự nhiên biết đường chánh nẻo tà chớ.

Quan Thứ-sử nghe phu-nhơn khuyên như vậy. Tướng-công thở dài và đứng dậy mà hỏi rằng: “Ngồi lâu có hơi lạnh, vậy thôi trở vào dinh mà nghỉ một chút!”. Vợ chồng dắt đi vô, chồng đi trước, vợ theo sau, huỡn đãi mà đi, không nói chuyện gì nữa hết.

  
Chú thích cuối trang

1.▲ Ái-châu thành bây giờ thuộc trong tỉnh Thanh Hóa (Trung kỳ)
2.▲ Đường-Lâm bây giờ thuộc tỉnh Sơn-Tây (Bắc Kỳ)
3.▲ Bình-Kiều ở lối chung quanh thành Hà Nội bây giờ không chắc thuộc trong tỉnh nào
4.▲ Phiên-ngung bây giờ thuộc tỉnh Quảng Đông (Trung Hoa)
5.▲ Lục-châu gồm tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Quảng Yên (Bắc kỳ)


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 03.05.2017, 15:08
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35929
Được thanks: 5309 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Xuất bản - Dã sử] Nam cực tinh huy - Hồ Biểu Chánh - Điểm: 10
Hồi 2

Nghe tin dữ anh-hùng sái lụy
Hưng nghĩa binh dõng-sĩ báo thù



Qua ngày sau, mới vừa tảo thinh Ngô Thứ-sử đã thức dậy ngồi tại tiền đường mà uống trà. Trước cửa có hai tên quân đứng hầu, còn ngoài huê-viên thì có mấy tên quân đứa vạch lá bắt sâu, đứa vun phân nhổ cỏ. Hai vị công-tử là Xương-Cấp với Xương-Văn chạy ngang dọc trong mấy đám bông rượt bắt bươm bướm đang bay là đà hút nhụy. Xương-Cấp rủi vấp nhằm cục đất nên té nằm dài mà khóc, Xương-Văn lật đật đỡ anh ngồi dậy, rồi mấy tên quân xúm lại bồng công-tử vào dinh.

Ngô Thứ-sử tuy ngồi trong nhậu trà, song đã có ý dòm chừng hai đứa con, bởi vậy cho nên ngó thấy đầu đuôi rõ hết. Chừng quân bồng Xương-Cấp và dắt Xương-Văn vào tới cửa thì Ngô Thứ-sử mới nói rằng: “Để nó đứng xuống coi thử nào”! Quân lật đật để Xương-Cấp đứng xuống mà Xương-Cấp hãy còn khóc thúc thích. Ngô Thứ-sử kêu hết hai công-tử lại đứng ngay trước mặt mà dạy rằng: “Làm con trai phải tập cho quen tánh hùng-hào dạn-dĩ, còn làm anh em phải biết trìu mến yêu thương nhau. Nãy giờ tao đã thấy rõ hết: thằng Cấp té, thằng Văn lật đật đỡ dậy. Thằng Văn có lòng thương anh thiệt là đáng khen. Còn thằng Cấp, mi đã 12 tuổi rồi, chớ đâu phải là mới nên năm nên ba gì đó mà khóc. Cái tánh nhu-nhược của mi đó lẽ thì ta phải phạt mi đặng cho mi biết mà chừa cãi.

Nhưng nghĩ vì việc đã lỡ rồi nên ta tha mi, song ta nói cho mi biết từ rày sắp tới mi phải sửa tánh lại cho cứng cỏi, nếu mi còn nhu nhược như vậy nữa thì ta đánh đòn chớ không dung nữa đâu. Chơi rủi té trong đám bông mi lại nằm đó mà khóc! Thoảng ngày sau mi khôn lớn, ra xông đột với đời, rủi gặp cơn khuynh-phúc, mi ngồi mà khóc, chớ không lo mưu ra sức mà giải nạn trừ nguy, thì ta chắc cả đời mi không làm nên việc gì cả. Mi phải nhớ lời ta dạy, chớ nên bỏ qua...”.

Ngô Thứ-sử vừa nói tới đó, thì có một tên quân hầu vào thưa rằng có người ở Đại-La thành[1], xưng là Lê-hầu-Ngạc, vì có việc gắp, nên xin vào ra mắt quan Thứ-sử. Ngô Quyền nghe báo liền dạy nhị vị công-tử vào hậu đường, rồi sai quân ra đòi Lê-hầu-Ngạc vào. Hầu-Ngạc bước vào vừa ngó thấy mặt quan Thứ-sử vùng khóc rống lên mà thưa rằng: “Thượng quan ôi! Lịnh nhạc-phụ là quan Tiết-đạt-sứ thọ hại rồi...”.

Ngô-Quyền nghe nói thất sắc vỗ bàn đứng dậy mà hỏi rằng: “Hại về việc gì? Sao mà bị hại?” Hầu-Ngạc thưa rằng: “Hôm tối mùng 8 Tiết-đạt-sứ ra chơi trước dinh, Kiều-công-Tiện phục binh lén giết rồi, thượng quan ôi!” Ngô-Quyền nghe nói té ngồi trên ghế rồi hai tay ôm ngực mà khóc. Dương phu-nhơn ở trong hậu đường nghe khóc chẳng hiểu có việc chi, nên lật đật chạy ra mà hỏi, chừng nghe rõ cha đã bị người ta giết rồi thì ngã lăn dưới đất mà than khóc kêu trời nghe rất thảm thiết.

Quan Thứ-sử nghe nhạc-phụ bị giết thì tức giận vô cùng, mà thấy phu-nhơn ai-bi như vậy lại càng thêm đau-đớn, bởi vậy ngồi thở ra rồi khuyên phu-nhơn rằng: “Tôi đã lo sợ hằng ngày mà không khỏi! Thôi, việc đã lỡ rồi, bây giờ phu-nhơn khóc đã không ích gì, mà lại còn làm cho tôi bối rối thêm nữa. Xin phu-nhơn hãy nín đi để tôi hỏi lại rõ ràng rồi tôi sẽ liệu lượng”. Phu-nhơn nghe lời quan Thứ-sử nói như vậy liền đứng dậy đi lại bộ ván để gần đó mà ngồi. Quan Thứ-sử mới nói với Hầu-Ngạc rằng:

- Em là đứa hầu cận quan Tiết-đạt-sứ, có lẽ em rõ hết các việc ở Đại-La thành. Vậy em hãy tỏ thiệt cho ta nghe coi vì cớ nào mà Kiều-công-Tiện lại nỡ phản tâm như vậy; nó giết rồi bây giờ nó tính làm việc gì, còn nhạc-mẫu và em ta là Dương-tam-Ca bây giờ ở đâu?

- Thưa thượng quan, từ ngày thượng quan đem binh ra trấn Ái-châu thì Kiều-công-Tiện quản xuất binh nhung, lần lần muốn lộng quyền, có nhiều khi chém giết người ta mà không tỏ cho lịnh trên hay. Ông Đỗ-cảnh-Thạc, thường có xin quan Tiết-đạt-sứ hãy thâu binh quyền lại, nhưng mà quan Tiết-đạt-sứ vì yêu Kiều-công-Tiện thái quá nên không chịu nhậm lời của Cảnh-Thạc xin. Trong tiết nguơn-đán mới rồi đây dân ở Thái-bình dấy loạn, Kiều-công-Tiện xin quan Tiết-đạt-sứ sai Đỗ-cảnh-Thạc lãnh hai ngàn quân đi dẹp loạn, Đỗ-cảnh-Thạc đi rồi thì ở Đại-la tướng sĩ chẳng còn ai dám đối đầu với Kiều-công-Tiện nữa, bởi vậy tối mùng 8 nó mới sai con nó là Kiều-công-Hãn dắt 10 tên võ sĩ lén thích tử quan Tiết-đạt sứ. Những quân hầu đứa nào chống cự đều bị giết hết thảy. Tôi thấy việc chẳng lành liền chạy vào báo cho phu-nhơn và công tử hay. Phu-nhơn vừa mới bước ra bị Kiều-công-Hãn bắt lại. Phu-nhơn giận mắng nó nên nó cũng thích tử luôn phu-nhơn nữa.

Ngô-phu-nhơn nghe nói mẹ bị giết nên rống lên khóc nữa. Quan Thứ-sử chắt lưởi rồi lại lắc đầu mà hỏi rằng:

- Nó có giết luôn em ta hay không?

- Thưa thượng quan, tôi thấy họa đã lớn rồi mà lúc ấy Kiều-công-Tiện lại kéo binh vào dinh, tôi sợ tánh mạng của công tử khó toàn, nên tôi cản không cho công tử ra rồi tôi lén dắt qua ngã tây môn cho công tử thoát nạn. Vừa mới tới cửa thì có năm sáu người tay cầm khí giái đón hỏi chúng tôi là ai, và nửa đêm dắt nhau đi đâu vậy? Công-tử sợ hãi lật đật núp sau lưng tôi...

- Cha chết mà không dám báo thù, gặp kẻ nghịch mà không dám chống cự! Con nhà tướng mà sao khiếp nhược quá như vậy? Thiệt tức quá !

- Thưa thượng quan, chúng nó đông dẫy đầy, còn công tử thì có một mình mà chống cự sao được.

- Thà là chết, chớ nỡ nào lại cúi đầu úp mặt mà chạy! Hứ! Thứ đồ hư!... mà công tử bây giờ ở đâu.

- Thưa thượng quan, tôi thấy bọn nó đông, còn tôi có một mình mà lại không có khí giái, nên tôi phải dùng chước nói dối rằng chúng tôi là đề-lại đi ra ngoài thành chơi. Chúng nó hỏi vậy chớ họ đã giết quan Tiết-đạt-sứ rồi chưa. Tôi giã bộ không hay không biết chi hết, và hỏi chúng nó vậy chớ ai giám giết quan Tiết-đạt-sứ. Chúng nó mắng tôi là đồ ngu rồi xô tôi với công tử biểu đi ra khỏi cửa cho mau. Tôi với công tử mới dắt nhau mà chạy, tưởng là thoát nạn được rồi, nào dè mới chạy được một khúc thì chúng nó rượt theo sau lưng và la ó vang rân rằng: “Bắt nó! Công-tử Dương-tam-Ca đó đa. Phải bắt cho được nó”. Tôi với Công-tử hồn phi phách tán nên cong lưng chạy riết, không dám ngó lại. Ra khỏi thành chúng tôi liệu chạy trên bờ cái sợ kẻ nghịch rượt theo kịp, nên tẻ đường chạy băng ngang mấy đám ruộng, tính vô rừng mà trốn. Công-tử yếu đuối quá nên lược bược ở sau hoài, tôi phải chạy chậm chậm mà chờ. Khi băng ngang ruộng, Công-tử đuối chơn tôi phải nắm tay mà dắt. Có một tên quân chạy theo kịp vừa đưa tay chụp đầu công tử thì tôi day lại đá một đá té lăn, nó la om sòm, phía sau nghe có một đám ngưòi chạy gần tới, tôi sợ mới dắt công tử vô rừng; trời tối đen, không thấy đường mà chạy, phần thì không dám kêu chừng nhau, nên chạy một hồi công tử lạc mất.

Tôi trở lại mà kiếm, song kiếm tới sáng cũng không gặp, tôi không biết Công-tử trốn đi đâu, hay là bị quân nghịch nó bắt được. Tôi muốn dọ tin Công-tử nên quơ mót được một gánh củi khô rồi giả dạng tiều-phu gánh vô thành bán. Tôi hỏi thăm thì họ nói Công-tử đã trốn mất, quân của Công-Tiện bắt không được, còn Công-Tiện thì đã đoạt chức Tiết-đạt-sứ, rồi dạy con là Công-Hãn chỉnh tu binh-mã để phòng chống cự với các châu huyện nào nghịch mạng không chịu tùng quyền. Tôi nghe rõ tin ấy liền bươn bả trèo núi lội sông riết đến đây mà báo cho thượng-quan hay đặng thượng-quan liệu định.

Dương phu-nhơn nghe rõ đầu đuôi rồi thì khóc ấm-ức mà thưa với chồng rằng: “Thưa tướng-công, nay quân phản nghịch nó đã giết cha mẹ thiếp rồi. Em thiếp là đứa khốn nạn không dám chết với mẹ cha, lại còn mang đầu mà chạy, thì không còn kể chi nó nữa. Thiếp là phận gái, không biết cầm thương lên ngựa, bây giờ làm sao mà báo thù cho cha? Vậy thiếp xin lỗi tương-công cho thiếp tự-tử cho rồi đặng cho tròn chữ hiếu”.

Ngô Thứ-sử nghe vợ nói như vậy thì cười mà đáp rằng: “Chuyện gì mà phu-nhơn phải chết? Thằng Tam-Ca nó nhác, chớ ta đây cũng sợ Kiều-công-Tiện mà không dám báo thù nữa hay sao? Phu-nhơn hãy vào hậu dinh mà nghỉ để cho ta tính kế trả thù. Ta nói thiệt, nếu ta còn một tấc hơi thì cha con thằng Công-Tiện cũng không ngồi yên được. Ta quyết sẽ phân thây chúng nó mà đền ơn tri-ngộ cho nhạc-phụ ta”.

Ngô Thứ-sử liền nhóm bộ tướng là Nguyễn-Khoan, Lý-Khuê, Triệu-Tấn, Ngô-nhựt-Khánh, Nguyễn-thủ-Thiệp, Lữ-Đường, Nguyễn-Siêu và Cao-đằng-Vân mà thương nghị. Chư tướng ai nghe tin Kiều-công-Tiện thích-tử Dương-diên-Nghệ thì cũng tức giận, bởi vậy họ rập nhau xin cử binh báo thù. Ngô Thứ-sử thấy lòng chư tướng như vậy thì mừng thầm liền dạy Lữ-Đường với Nguyễn-Siêu đi gom hết binh lính các quận huyện trong địa phận Ái-Châu và Hoan-Châu[2], lại truyền lịnh mà chiêu mộ dân tráng để sung làm nghĩa binh thêm nữa. Người lại viết ba bức thơ sai quân đem cho Đỗ-cảnh-Thạc một bức mà khuyên giúp binh đặng phá quân nghịch, và đem cho Dương-kiết-Lợi ở Lục-châu một bức mà khuyên đừng có động binh, phải hết lòng lo ngăn ngừa binh Tàu đừng cho qua cứu Công-Tiện, đặng để mình thong-thả mà lo mưu phá giặc.

Hai tướng đi mộ binh thì chia nhau mà đi, Lữ-Đường lo nội trong Ái-Châu, còn Nguyễn-Siêu lãnh đi Hoan-châu. Nguyễn-Siêu mộ binh góp lính Hoan-châu gần xong sắp trở về bỗng gặp hai tên quân đương dắt một tên trai đi trước, mà sau lưng lại có một bà già với một nàng con gái chạy theo than khóc coi bi thảm lắm. Nguyễn-Siêu kêu đứng lại hỏi thì bà già nói rằng bà có một đứa con trai tên là Lê-Đạt nhà nghèo mà bà nhờ có nó mới khỏi đói lạnh. Bà định đôi bạn cho nó vừa rồi, hôm nọ tiết trời lạnh lẽo, Lê-Đạt thấy mẹ già run lập-cập, mới lật đật xách búa vào rừng đốn củi khô, tính đem về đốt lửa cho bà hơ ấm. Mới vào tới mé rừng, Lê-Đạt thình lình gặp một tên trai, vốn con nhà thân-hào trong xứ, đương hãm hiếp một nàng con gái. Lê-Đạt thấy vậy bất bình dằn lòng không được, nên đánh tên trai ấy gãy ba cái răng. Cha mẹ tên trai ấy binh con nên làm đơn đến huyện đường mà kiện, rồi đem tiền đút lót nài xin phải đày Lê-Đạt đi cho xa. Quan huyện một là vị oai thế nhà thân hào, hai là mê hơi tiền bạc, nên không lóng trong gạn đục, liền dạy lính đi bắt Lê-Đạt đem về, rồi xử đày Lê-Đạt vào nam biên không cho ở trong huyện nửa. Nay lính dắt Lê-Đạt đi đây là dắt mà đày vào xứ Chàm, bởi vậy mẹ già với vợ yếu mới chạy theo, quyết tình sanh tử có nhau, chớ không nỡ kẻ ở chơn trời người góc biển.

Bà già thuật chuyện như vậy rồi ngồi khoanh tay dựa gốc cây rồi khóc muồi. Nguyễn-Siêu nghe rõ sự oan ức như vậy thì nổi giận dằn không được, rượt đánh lính ngã lăn, mở trói cho Lê-Đạt rồi dắt trở lại huyện đường, quở trách quan huyện và dạy phải tha Lê-Đạt lập tức. Quan huyện sợ oai nên bỏ án cũ và lên án mới mà tha bổng Lê-Đạt, không dám cãi lẽ chi tiết.

Mẹ con Lê-Đạt khỏi nạn, bèn lạy tạ Nguyễn-Siêu rồi dắt nhau trở về nhà, hỏi thăm mới hay người cứu mình đó là gia tướng của quan Thứ-sử sai đi mộ binh. Mẹ Lê-Đạt nghe nói ngồi suy nghĩ một hồi rồi xuối con biểu ra đầu quân, trước là đền bồi nghĩa nặng cho ân-nhân, sau nữa vẹn toàn phận sự của nam-tử. Lê-Đạt thấy mẹ già yếu không nỡ bỏ mà đi. Mẹ giận đòi tự vận mà chết còn vợ thì cũng theo đốc hoài nên cực chẳng đã Lê-Đạt phải nghe lời.

Lê-Đạt theo Nguyễn-Siêu mà xin đầu quân, thuật rõ việc nhà cho Nguyễn-Siêu nghe, Nguyễn-Siêu thấy người hào nghĩa thì đem lòng thương và dượt thử, thấy võ nghệ túc dụng nên liền cho làm đội trưởng.

Ngày 30 tháng giêng, Lữ-Đường và Nguyễn-Siêu thâu góp binh các quận và chiêu mộ nghĩa binh đem về Ái-châu-thành kể số được 2 muôn. Ngô Thứ-sử bèn thăng đường, cho đòi chư tướng đến đủ mặt rồi phân rằng: “Phép dụng binh nếu muốn công kích người ta trước phải lo thủ thế. Ta nay tính kéo nghĩa binh ra Đại-La thành đặng đánh bắt Kiều-công-Tiện mà báo thù cho nhạc-phụ ta, tuy là ta thầm nguyện nếu ta không thành công thì ta chết cho rạng danh trung nghĩa, chớ không thèm trở về đất Ái-châu, nhưng mà ta nghĩ Ái-châu là căn bổn của ta, nếu ta kéo hết binh đi, không lo phòng bị, thoảng như họ Kiều nó dọ biết được tình cảnh ấy, nó đợi binh ta đi ra xa rồi nó cho một đạo binh lên vào lấy Ái-châu, rồi trong đánh ra ngoài đánh vô, ta lưỡng diện thọ địch ắt phải mang hại. Vậy thì Nguyễn-Khoan phải lãnh ba ngàn binh ở lại Ái-châu, trước bảo hộ cho gia quyến ta, sau ngăn ngừa binh họ Kiều vào thâu đoạt, hoặc binh Chiêm-Thành sanh rối loạn; Lữ-Đường và Nguyễn-Siêu lãnh chức tiền đạo tiên phuông; Lý-Khuê với Ngô-nhựt-Khánh lãnh tả hữu lưỡng dực, còn Nguyễn-thủ-Thiệp, Triệu-Tấn, Cao-đằng-Vân thì theo ta mà quản suất trung-quân. Ngày mai là ngày tốt, ta sẽ chọn ngày ấy rồi làm lễ tế cờ mà khởi binh. Vậy tướng sĩ phải kiểm điểm binh lính, sửa soạn khí giái, rồi sáng mai, đầu giờ thìn, phải tề tựu tại bắc môn mà nghe lịnh”.

Chư tướng nghe lịnh truyền rồi thảy đều cuối đầu lui ra. Rạng ngày mai tại bắc-môn tiết lễ tế cờ rất rất trọng. Ba ngàn binh ở thủ thành thì dàn ở trong, Nguyễn-Khoan cỡi ngựa cầm đao đứng trước đầu quân mà quản xuất. Ngoài thành thì có Lữ-Đường với Nguyễn-Siêu thống lãnh ba ngàn quân dàn ra phía trước. Lý-Khuê dàn hai ngàn binh ở bên tả, Ngô-nhựt-Khánh dàn hai ngàn binh bên hữu, còn chính giữa thì Nguyễn-thủ-Thiệp, Cao-đằng-Vân với Triệu-Tấn quản xuất một muôn binh, sắp đứng chung quanh một cái đài cao, trên đài có dựng một cây đại kỳ đề chữ:


Nghĩa binh báo cừu,
Ái-châu Ngô Thứ-sử.

Đến giờ thìn đánh ba hồi trống và ba hồi chiêng dứt rồi thì thấy Ngô-Quyền trong thành cỡi ngựa kim đi ra, mình mặc giáp trắng, đầu bao khăn trắng, tay cầm thương, lưng đai kiếm, ngựa đi chậm chậm, coi oai nghi lẫm liệt.

Dương phu-nhơn với nhị vị công-tử ngồi xe theo sau. Ra đến trung-quân, Ngô Thứ-sử xuống ngựa rồi dắt phu-nhơn và hai công tử lên đài cúng tế, khẩn nguyện đất trời phù hộ nghĩa binh, vái linh hồn Dương-diên-Nghệ rồi từ biệt vợ con mà tấn binh, trống đánh nghe vang tai, quân đi, coi chật đất. Dương phu-nhơn cùng nhị Công-tử lên xe ngồi ngó theo, cho đến binh tướng đi khuất hết rồi mới lau nước mắt mà trở vào thành.

Ngô Thứ-sử kéo binh đi được vài dậm đường, xảy có một tên quân, thuộc tiền đạo, trở lại mà báo rằng có gặp Dương-tam-Ca ở Đại La-Thành vào, nên vưng lịnh nhị vị tiên phuông trở lại bẩm cho quan Thứ-sử hay. Ngô-Quyền vẫn tưởng Dương-tam-Ca đã bị giặc giết rồi, nay nghe nói có gặp Dương-Công-tử thì mừng không xiết kể, lại muốn hỏi thăm cho biết thế lực của Kiều-công-Tiện, nên truyền lịnh dừng binh liền rồi cho đòi Dương-tam-Ca đến hội diện. Dương-tam-Ca nhập trung-quân, dòm thấy Ngô Thứ-sử thì chạy lại ôm mà khóc. Ngô Thứ-sử lấy lời khẳng khái mà khuyên lơn, rồi hỏi Dương-Công-tử coi làm sao mà thoát nạn được. Dương-Công-tử nói rằng từ khi lạc mất Hầu-Ngạc rồi thơ thẩn đi trong rừng hoài, đi trót một đêm một ngày mới gặp một tiều-phu hỏi thăm đường rồi lần lần vào Ái-châu. Ngô Thứ-sử bèn sai hai tên quân đưa Dương-tam-Ca trở vào Ái-châu thành đặng em chị gặp nhau, rồi truyện lịnh tấn binh, không chịu trì huởn.

  
Chú thích cuối trang

1.▲ Thành Đại-La bây giờ là Hà-nội (Bắc-kỳ)
2.▲ Hoan-châu thuộc tỉnh Nghệ-An (Trung kỳ) bây giờ


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 03.05.2017, 15:12
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35929
Được thanks: 5309 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Xuất bản - Dã sử] Nam cực tinh huy - Hồ Biểu Chánh - Điểm: 10
Hồi 3

Nước nguy biến, Đinh-Công rầu vong mạng,
Chú đuổi xô, Bộ-Lãnh quyết lập thân.



Ở Hoa-lư-động[1] có một vị thanh-niên tráng sĩ họ Đinh tên Bộ-Lãnh, lúc Ngô-Quyền khởi nghĩa báo thù, anh ta mới được 15 tuổi mà thôi, nhưng mà anh ta chí khí hùng hào, sức lực mạnh mẽ, trong xứ dầu người lớn tuổi cũng phải kiên nể. Đinh-bộ-Lãnh vốn là con quan Thứ-sử Hoan-châu, tên là Đinh-công-Trứ, hồi đời Khúc-Hạo làm Tiết-đạt-sứ.

Năm đinh-sửu (năm 917) Khúc-Hạo qua đời, con là Khúc-thừa-Mỹ lên kế nghiệp cha, chẳng rõ ý chi không chịu giao hảo với Nam-Hán Hoàng đế ở Phiên-Ngung, lại cầu phong với vua nhà Lương. Đinh-công-Trứ ở Hoan-châu nghe tin ấy thì lấy làm bất bình, nên lật đật về Đại-la-Thành vào ra mắt Khúc-thừa-Mỹ mà can rằng: “Đất Giao-châu trót một ngàn năm bị Trung-hoa thâu đoạt, mấy năm nay nhờ có Lưu-Cung ở Quảng-châu không phục Bắc-triều, hai đàng ghìm nhau, nên chúng ta mới được yên ổn. Vả chúng ta ở dưới, Lưu-Cung ở giữa, nhà Lương ở trên, thì ta phải hòa với Lưu-Cung, chớ sao lại phục nhà Lương, thoảng như Lưu-Cung đem binh Nam-Hán mà đánh ta, thì nhà Lương ở xa làm sao mà ứng tiếp được, xin thượng quan phải xét lại mà bải sự cầu phong vơi nhà Lương đi, nếu thượng quan cãi lời tôi thì sợ đất Giao-châu nầy không giữ được”.

Khúc-thừa-Mỹ không thèm nghe lời can gián, mà lại nói nhiều tiếng tự phụ, làm cho Đinh-công-Trứ phiền lòng trở về Hoan-châu vào thở ra than, trong trí chác rằng Giao-châu sớm muộn gì cũng về tay Nam-Hán Hoàng đế. Qua năm quí mùi (năm 923) vợ Đinh-công-Trứ là Đàm-thị mới sanh Đinh-bộ-Lãnh vừa được chừng 3 tháng, thì thiệt quả Nam-Hán Hoàng đế sai tướng là Lý-khắc-Chánh đem binh sang đánh đất Giao-châu, bắt Khúc-thừa-Mỹ giải về Phiên-Ngung rồi Nam-Hán Hoàng đế phong cho bộ tướng là Lý-Tấn làm Thứ-sử qua hiệp với Lý-khắc-Chánh mà cai trị đất Giao-châu. Đinh-công-Trứ nghe tin Thừa-Mỹ bị bắt, đất Giao-châu đã về tay người Tàu, thì chắc lưỡi kêu trời rồi nhuốm bịnh không đầy một tháng thì tỵ-thế.

Lý-Tấn sai quan Tàu vào cai trị Hoan-châu. Đàm-thị bơ vơ không nơi nương ngụ, mới bồng con về Hoa-lư-động mà xin tá túc với em chồng tên là Đinh-Quản. Tuy Hoa-Lư là xứ núi non rừng rú nhơn dân tuy nghèo khổ, nhà cửa thưa thớt, nhưng mà Đinh-Quản là một người tánh chất kiệm cần, bởi vậy trong nhà đủ ăn, có nuôi 3 con trâu để cày ruộng. Đinh-Quản có một đứa con trai tên là Đinh-Điền cũng một tuổi với Đinh-bộ-Lãnh, khi mẹ con Đàm-thị về tới thuật chuyện Đinh-công-Trứ chết thì Đinh-Quản than khóc hết sức, thấy cháu còn nhỏ mà mồ côi cha thì hết lòng thương yêu nên nguyện nuôi cháu cho trọn nghĩa đồng bào cốt nhục, nhờ Đinh-Quản tử tế nên mẹ con Đàm-Thị có chỗ dung thân, khỏi lo đói khát.

Khi Đinh-bộ-Lãnh được 5 tuổi thì Đam-Thị tỵ-trần, bỏ Đinh-bộ-Lãnh lại cho Đinh-Quản dưỡng dục. Qua năm Đinh-mão (năm 931) Dương-diên-Nghệ là nha-tướng của Khúc-Hạo thuở trước, chiêu mộ quân sĩ để đánh Lý-Tấn và Lý-khắc-Chánh mà báo thù cho Khúc-thừa-Mỹ, thì trong mỗi làng mỗi xóm ai ai cũng đều thuận tùng, nên những người trai tráng thường hay tựu lại mà luyên-tập võ nghệ để giúp sức cho Dương-diên-Nghệ.

Đinh-Quản là bực thổ hào trong xứ Hoa-Lư, bởi vậy những kẻ trai tráng thường hay tựu tập tại nhà Đinh-Quản mà tập luyện kẻ lại múa siêu, người tập đi roi kẻ tập lăn khiên người tập độc kiếm. Khi ấy Đinh-bộ-Lãnh với Đinh-Điền đã được 8 tuổi, ngó thấy người ta luyện tập võ nghệ thì trong lòng ham mộ lắm nên hễ lúc nào không có ai thì hai trẻ ra sân bắt chước nhảy múa đánh đập. Đinh-bộ-Lãnh mạnh mẽ lẹ-làng mà trí lại sáng suốt, nghe ai nói thì hiểu liền, thấy ai làm thì nhớ hết, bởi vậy mấy thiệu nghề võ đều thuộc lòng rồi kiếm cây nhỏ làm roi mà tập.

Chừng Đinh-bộ-Lãnh được 10 tuổi, chú mới sai đi giữ trâu. Bữa nào cũng vậy, hễ Bộ-Lãnh dắt trâu ra khỏi nhà thì lo kiếm bọn chăn trâu mà chơi, hễ gom được năm bảy đứa rồi thì chia ra một bên phân nửa rồi đánh lộn với nhau.

Bên nào có Bộ-Lãnh thì ăn hoài: chơi năm mười lần sắp chăn trâu đều biết sức Bộ-Lãnh nên không dám đối địch với anh ta nữa. Bộ-Lãnh thấy vậy mới chấp hết bọn chăn trâu ở một bên, còn một mình anh ta ở một bên. Bọn chăn trâu chịu, rồi áp ra mà đánh, chúng nó đông đứa, áp vô một lượt ôm mà vật Bộ-Lãnh. Bộ-Lãnh tuy đánh đạp mấy đứa vô trước, song mấy đứa sau áp vô nữa, ôm chặt anh ta quá nên túng thế phải chịu thua. Bộ-Lãnh ngồi suy nghĩ một hồi rồi bước ra khích đánh nữa. Sắp chăn trâu thấy mình đã đánh thắng được một trận rồi, tưởng nếu đánh nữa thì cũng sẽ ăn nữa, nên dàn ra mà đánh. Chẳng dè khi chúng nó vừa áp vô thì Bộ-Lãnh lại trá bại tháo lui; chúng nó thấy vậy lại càng hứng chí rượt theo, nhưng bởi vì có đứa chạy mau có đứa chạy chậm, không xáp vô một lượt nữa được, nên Bộ-Lãnh thừa thế trở lại đánh mấy đứa tới trước ngã lăn, rồi mấy đứa tới sau đứa nào tới cũng đều bị đánh hết thảy, đứa u đầu, đứa xể mặt, thất kinh không dám chống cự nữa. Từ ấy về sau sắp chăn trâu đều tôn Bộ-Lãnh làm anh cả; nếu có đứa nào cãi lộn với nhau thì phải thưa cho Bộ-Lãnh phân xử. Khi còn nhỏ thì hung hăng như vậy, nhưng Bộ-Lãnh thương Đinh-Điền là con của người chú lắm, hai anh em chẳng hề khi nào rời nhau, đi đâu cũng đi với nhau, làm việc gì cũng làm chung với nhau, mà Bộ-Lãnh mạnh mẽ hơn, nên mấy việc nặng nề cực nhọc thì Bộ-Lãnh gánh vác thế cho Đinh-Điền hết thảy. Chừng được mười ba mười bốn tuổi thì chú bắt vào rừng đốn củi chớ không cho đi coi trâu nữa. Tuy vậy mà hễ bữa nào rảnh rang thì Bộ-Lãnh chạy đi kiếm sắp chăn trâu mà chơi. Mà sắp chăn trâu cũng kỳ, hễ thấy dạng Bộ-Lãnh thì mừng rỡ vô cùng, áp nhau chạy lại mà nghinh tiếp rồi nắm tay nhau lại làm kiệu để cho Bộ-Lãnh ngồi mà khiên đi, hò hét om sòm, kiếm mấy bóng mát để Bộ-Lãnh ngồi rồi khoanh tay đứng chung quanh mà hầu.

Năm mậu tuất, là năm bắt đầu thuật truyện nầy, thì Bộ-Lãnh đã được 15 tuổi. Nhà Trần-Lão ở gần nuôi trâu nhiều nên cuối tháng giêng mới mướn thêm một đứa bạn tên là Lê-Dực đặng coi trâu. Lê-Dực ở làng xa, thuở nay không biết mặt Bộ-Lãnh. Nó đã 21 tuổi rồi, mà lại vóc vạt vậm-vỡ, sức lực mạnh-mẽ lắm. Ngày mùng một tháng hai nó dắt trâu của Trần-Lão lên mé rừng cho ăn. Sắp chăn trâu thấy nó lạ mặt nên xúm nhau lại làm quen rồi đứa hỏi tên tuổi, đứa hỏi quê quán lăn xăn. Chúng nó thấy Lê-Dực cao lớn vậm vỡ thì trầm trồ hoài, có một đứa lại cắc cớ hỏi rằng: “Nầy anh, anh cao lớn như vầy mà dám cự với anh cả của chúng tôi hay không?” Lê-Dực nghe hỏi thì chưng hửng rồi hỏi lại rằng:

- Anh cả của bây là đứa nào?

- Anh không biết hay sao? Anh cả của chúng tôi là Đinh-bộ-Lãnh đó.

- Bộ-Lãnh nào tao có biết đâu. Có nó ở đây hay không?

- Không, anh cả bữa nay không ra chơi.

- Thế thì nó dữ lắm hay sao mà bây hỏi tao dám cự với nó hay không?

- Không có dữ! Anh cả còn nhỏ, mới 15 tuổi, song mạnh mẽ lắm, chắp hết thảy bọn tôi mà đánh không lại ảnh nữa.

- Hứ! Mạnh gì! Bây là đồ con nít nên bây sợ, gặp tao thì tao bẻ cổ nhét lưng chớ tao dễ sợ đâu.

- Anh nói phách đây anh chết đa.

- Bây kêu nó ra đây.

Mới nói chuyện tới đó thì thấy dạng Bộ-Lãnh ở trong xóm đi ra với Đinh-Điền. Sắp chăn trâu vỗ tay mừng rỡ rồi chạy vô đón rước, vòng tay làm kiệu rồi khiêng riết lại chỗ Lê-Dực đứng đó mới để xuống. Có một đứa chăn trâu nói rằng: “anh cả của chúng tôi đây nè! Anh giỏi thì anh bẻ cổ nhét lưng đi”.

Bộ-Lãnh với Lê-Dực liếc ngó nhau, rồi Bộ-Lãnh mới day lại hỏi sắp chăn trâu rằng:

- Đứa nào đòi bẻ cổ tao?

- Anh đó đa.

Bộ-Lãnh ngó ngay Lê-Dực mà hỏi:

- Tôi vô can, mà thuở nay chưa quen biết với anh lần nào, vì cớ chi không có mặt tôi mà anh lại dám buông lời sĩ nhục tôi?

Lê-Dực cũng ngó Bộ-Lãnh mà đáp rằng:

- Mấy đứa nầy nó khoe tài mầy lắm, rồi lại hỏi tao có dám cự với mầy chăng. Tao nói chúng nó sợ mầy, chớ tao dễ sợ đâu, nếu mầy dữ với tao, thì tao bẻ cổ nhét lưng. Tao có nói thì tao chịu, chớ phải là nói lén mầy đâu.

- Anh giỏi thì bẻ cổ tôi đi. Nếu anh bẻ cổ tôi không được, thì tôi lấy cặp con mắt của anh đặng treo nhành cây nầy coi chơi.

Lê-Dực thấy Bộ-Lãnh nhỏ hơn mình mà nói hơi cao, thì giận đỏ mặt bèn nhảy tới đưa tay muốn chụp cổ Bộ-Lãnh, chẳng dè Bộ-Lãnh lẹ quá, trớ ngang qua rồi lòn đá Lê-Dực trúng tại hông bên tả một cái ạch; Lê-Dực một tay ôm hông một tay chờn-vờn muốn níu đầu Bộ-Lãnh, Bộ-Lãnh thừa thế liền nhảy a vô chận cổ móc hết hai con mắt của Lê-Dực mà quăng ra cho Đinh-Điền cầm. Lê-Dực té ngửa ôm mặt mà la; sắp chăn trâu cười vang rân rằng: “Thất kinh hay chưa, còn nói phách nữa thôi?” rồi bỏ Lê-Dực nằm đó khiêng Bộ-Lãnh vào mé rừng đặng ngồi nghỉ mát.

Đến chiều trâu nhà ai cũng đã về hết, duy chỉ có trâu của Trần-Lão không về, Trần-Lão chạy đi kiếm, lên đến mé rừng gặp Lê-Dực đương nằm ôm mặt mà la khóc. Hỏi ra mới hay Bộ-Lãnh đánh và móc mắt Lê-Dực. Trần-Lão dìu-dắt Lê-Dực và đuổi trâu về, rồi qua nhà Đinh-Quản mà mắng vốn. Đinh-Quản kêu Bộ-Lãnh ra mà hỏi rõ đầu đuôi, rồi đánh đòn 50 roi. Bộ-Lãnh kêu nài nói rằng tại Lê-Dực ỷ lớn muốn khiêu khích và nhảy ra đánh trước, chớ không phải tại mình sanh sự. Đinh-Quản sợ Trần-Lão đi kiện, nên tuy Bộ-Lãnh nói phải mà không chịu nghe, cứ đè đánh ép đủ 50 roi rồi đuổi đi, không cho ở nữa.

Đinh-Điền sợ cha nên không dám khuyên giải, song thấy Bộ-Lãnh ra đi thì thương xót vô cùng, bởi vậy lén chạy theo đưa cho Bộ-Lãnh một quảu gạo với một gói áo quần rồi anh em khóc với nhau mà từ biệt.

Trong xứ ai nghe chuyện Bộ-Lãnh còn nhỏ mà đánh móc con mắt Lê-Dực là đứa đã lớn hơn lại mạnh hơn, thì cũng đều ngợi khen kính phục, mà ai nghe nói Bộ-Lãnh bị chú đuổi ra khỏi nhà thì cũng đều thương xót, bởi vậy Bộ-Lãnh ghé nhà nào họ cũng đều vui lòng cho ở đậu.

Bộ-Lãnh bơ-vơ, nay ở nhà nầy, mai qua nhà khác, nghĩ phận mình không cha không mẹ thì buồn bực vô cùng, ban đêm nằm thổn thức ngủ không an, ban ngày thả linh đinh theo rừng núi. Cách vài ngày nghe người ta đồn rằng Kiều-công-Tiện giết Dương-diên-Nghệ mà đoạt chức Tiết-đạt-sứ, nên Ngô Thứ-sử Ái-châu chiêu binh mãi mã đặng đánh báo thù, trong ít ngày nữa ắt binh sẽ kéo đi ngang qua Hoa-Lư. Bộ-Lãnh nghe nói như vậy thì trong bụng mừng thầm, bèn tính đón Ngô Thứ-sử mà xin đầu quân đặng lập chút công danh cho đẹp mày nở mặt. Đêm ấy Bộ-Lãnh đợi Đinh-Quản ngủ rồi, mới lén về nhà kêu Đinh-Điền ra ngoài mà bày tỏ ý của mình cho Đinh-Điền nghe rồi khuyên Đinh-Điền ở nhà ráng giúp đỡ cho chú để mình lập chút công danh, hứa rằng ngày nào công thành danh toại rồi sẽ về rước chú và em đến đặng chung hưởng vinh huê phú quí. Đinh-Điền bận-bịu không muốn cho Bộ-Lãnh đi. Bộ-Lãnh nói rằng bây giờ chú còn đương giận, nếu ở lân la trong xứ, thì chú càng giận thêm, chớ không ích gì. Đã vậy mà đứng làm trai phải vẫy vùng trong bốn biển, nước ly loạn phải lo giúp nước, có chút tài phải lo lập thân danh, vậy nên chi bằng nhơn dịp nầy mà trổ chí anh-hùng, hoặc may trời giúp vận tông môn hiển đạt. Anh em nói to nhỏ dặn dò với nhau cho tới mặt trời hừng đông, gà gáy tưng bừng, Bộ-Lãnh mới từ biệt xách gói áo quần mà đi.

  
Chú thích cuối trang

1.▲ Hoa-lư-động bây giờ thuộc huyện Gia-Viễn, tỉnh Ninh-Bình (Bắc kỳ)


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 03.05.2017, 15:13
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35929
Được thanks: 5309 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Xuất bản - Dã sử] Nam cực tinh huy - Hồ Biểu Chánh - Điểm: 10
Hồi 4

Đinh tráng-sĩ nơi Vân-sơn được gươm báu.
Trần tướng-quân dưới cổ thọ gặp người tài



Mùa xuân chưa mãn, cây cỏ còn tươi. Lúc tảng sáng, sương sa mù mịch, phái-phái mưa phùng, trên nhành giọt sương quằn quại lá cây xanh, dưới đất gió thổi phất phơ đầu ngọn cỏ. Mấy nhà ở dọc theo đường đi, chỗ thì đã chống cửa rồi nhúm lửa nấu nước trà khói bay lên ngui ngút, chỗ thì còn im-lìm giấc điệp để gà heo trước ngõ chạy tung hoành; đầu trên nghe tiếng chó sủa vang rân, phía dưới thấy nông phu đang cuốc đất.

Đinh-bộ-Lãnh đi một hồi thì ngó ngoái lại một cái, dường như sợ người theo mà cản không cho đi, mà đi lại không đi mau, khi thì nhìn mé rừng là chỗ xưa nay mình thả trâu ăn, khi thì trông mấy cội lớn là chỗ mình thường hay chơi bời với chúng bạn, lưu lưu luyến luyến dường như giã từ cố lý chi siết lòng đau. Ra khỏi xóm xa rồi Bộ-Lãnh mới băng đường rừng mà đi riết lên Đại-vân-sơn, bởi vì đường Ái-châu ra Đại-la-Thành đi ngang qua chơn núi nầy nên tính lên đó mà đón, chắc sẽ gặp binh Ngô Thứ-sử.

Mặt trời đã xế bóng, Bộ-Lãnh lên mới tới Đại-vân-sơn; đứng ngó thì tư bề chớn chở núi non, sau trước bịt bùng rừng bụi. Anh ta thơ thẩn một mình, chơn đã mỏi mà bụng lại đói, nên vào rừng kiếm trái cây mà ăn. Đến chiều gặp một ông tiều phu, đầu bạc hoa râm, ở trong rừng gánh củi đi ra. Bộ-Lãnh hỏi thăm rằng:

- Thưa ông, cháu nghe nói quan Thứ-sử Ái-châu cử đại binh ra Đại-la-Thành mà đánh Kiều-công-Tiện, chẳng biết ông có thấy binh mã đi ngang qua chốn nầy rồi hay chưa vậy ông?

- Chưa, tôi cũng có nghe nói như vậy, mà chưa thấy binh đi ngang qua đây. Tráng-sĩ hỏi thăm chi vậy?

- Chẳng giấu chi ông, tôi muốn theo đầu quân nên chẳng nệ đường xa, quyết đến đây đón Ngô Thứ-sử mà xin làm nha trảo.

Tiều phu nghe nói mấy lời liền để gánh củi xuống đất, đứng ngó Bộ-Lãnh một hồi rồi nói rằng:

- Phải, phải lắm. Đời ly-loạn phận làm trai phải lấy kiếm cung làm sự nghiệp. Tráng sĩ còn nhỏ mà lập chí như vậy lão khen lắm đa. Lão xem tướng tráng sĩ không phải người tầm thường, tuy đường công danh có muộn một chút, nhưng mà hễ thành công rồi thì ở trên đầu thiên-hạ, chớ không nhượng ai đâu. Nay tình cờ mà gặp nhau đây, lão chẳng biết lấy chi mà tặng nhau, vậy lão xin dưng đỡ cho tráng sĩ một gói cơm nầy, sợ ngày sau tráng sĩ thành công thì lão không còn ở dương trần mà cung hạ.

Tiều phu nói dứt lời liền mở gánh lấy gói cơm mà trao cho Bộ-Lãnh. Bộ-Lãnh nghe lời khen ngợi thì đã khoái chí thỏa lòng, mà lúc đói lại được cơm thì càng mừng rỡ hơn nữa, bởi vậy cho nên đưa tay thọ lãnh gói cơm, miệng thì cảm tạ lia lịa rồi hỏi tiều phu quê quán ở đâu, danh tánh là chi đặng ngày sau có đền ơn đáp nghĩa. Tiều phu khoác tay lắc đầu mà nói rằng:

“Tôi là Ngô-chấn-Bạch, mà tráng sĩ hỏi làm gì? Tôi đã nói ngày sau tráng sĩ thành công thì tôi đã chết rồi, còn ở đâu mà đền ơn, nên phòng hỏi”. Tiều phu nói mấy lời rồi từ biệt gánh củi mà đi.

Đinh-bộ-Lãnh thấy dựa bên đường có một hòn đá lớn, phía trên bằng trang như bộ ván, còn chung quanh cây mọc giao nhành che phủ kín mích, bèn leo lên đó mở gói cơm ra ăn, rồi nằm mà nghỉ. Bởi đi gần trót ngày mệt mỏi, vừa nằm xuống thì ngủ ngáy khò khò, trời tối bao giờ không hay, mà thú dữ bên mình cũng không sợ. Chẳng biết ngủ được mấy canh, song chừng ngủ đã thèm thức dậy ngồi ngó quanh quất thì tứ bề rừng núi tối đen, xa xa lại nghe tiếng cọp rền in ỏi. Bộ-Lãnh nghĩ thầm rằng mình có hai tay không, chớ không có khí giái chi hết thoãng gặp ác-thú hành hung thì lấy chi mà chống cự. Đương nghĩ như vậy thì thấy mé bên kia đường có hai đốm sáng dường như hai ngọn đèn đỏ lòm. Anh ta chẳng biết là vật chi, nên ngồi ngó chừng hoài. Cách một hồi nghe cọp rền tại chỗ ấy rồi thấy dạng nhảy vô rừng mà chạy. Anh ta không dám ngủ nữa, cứ khoanh tay ngồi ngó chừng tứ phía hoài.

Đến sáng, Bộ-Lãnh leo xuống thạch bàn, rồi đi lần lại chỗ cọp ngồi hồi hôm đó mà coi thấy dấu chơn cọp còn ràng ràng mà trên một hòn đá nhỏ lại có một cây gươm rất đẹp.

Bộ-Lãnh cầm gươm lên mà coi thì thấy cán gươm có đề bốn chữ: “Thanh long bửu kiếm”, rút vỏ ra thì thấy lưỡi gươm sáng ngời dường như thưở nay không ai rờ tay tới vậy. Anh ta cầm sâm soi một hồi rồi xách trở lại thạch-bàn ngồi mà suy nghĩ: chốn non cao rừng rậm ai đến đây làm gì, mà cây gươm tốt như vầy sao lại bỏ đó? Hay là ta suất thân ứng nghĩa thánh thần giúp cho ta kiến công lập nghiệp, nên sai chúa sơn lâm đem gươm báu đến mà cho ta chăng? Anh ta suy nghĩ như vậy rồi rút gươm ra mà múa, nhảy tới thối lui, tràn qua xây lại, bộ như hùm ngồi phụng đáp, còn lưỡi gươm thì chói yến mặt trời chớp nháng dường sao xẹt quanh mình.

Bộ-Lãnh đương múa gươm, bỗng nghe xa xa có tiếng trống dóng ba, nghi là binh của Ngô Thứ-sử gần đến nên ngừng tay lại rồi leo lên cây mà dòm. Bởi cây cao rừng rậm nên dòm không thấy chi hết, chỉ nghe tiếng trống dóng ình ình mà thôi. Anh ta lật đật leo xuống, đeo gươm vào lưng, tay ôm hành-lý rồi ra đứng dựa bên đường mà chờ. Cách chẳng bao lâu thiệt quả có một đạo binh đi tới. Bộ-Lãnh hỏi thăm biết rõ là binh Ái-châu thì mừng rỡ vô cùng, liền cậy quân thưa dùm vơi tướng-soái đặng cho mình nhập ngũ.

Hai tướng tiên phuông là Lữ-Đường với Nguyễn-Siêu nghe báo có người đón xin đầu quân, liền dạy dắt lại xem, thấy Bộ-Lãnh còn nhỏ tuổi thì có hơi khinh thị. Lữ-Đường tính háo thắng đùng nói rằng: “Mi còn nhỏ quá đánh giặc sao được? Cho mi theo thì tốn cơm, chớ có ích gì. Mà mi đã có lòng muốn đầu quân, không lẽ ta không nạp dụng. Vậy thôi mi cứ đi theo”. Bộ-Lãnh từ khi quyết chí đầu quân thì trong trí thầm tưởng rằng mình tuy nhỏ tuổi mà võ nghệ cao cường, hễ mình nhập ngũ ắt đặng làm quan lớn; nay nghe mấy lời như vậy thì sái với trí tưởng của mình rất xa, bởi vậy đi theo vòng binh mà trong lòng không vui chút nào hết. Ngày đi đêm nghỉ, binh đi tới mùng 10 tháng hai mới đến đất Đằng-châu[1].

Nói về Trần-Lãm trấn Bồ-hải-Khẩu, khi nghe tin Kiều-công-Tiện thích tử Dương-diên-Nghệ mà đoạt chức Tiết-đạt-sứ thì lấy làm bất bình, nhưng vì sức yếu thế cô nên không dám tính đến việc báo thù binh loạn. Cách ít ngày sau, tiếp được thơ của Ngô-Quyền khuyên hãy đem binh giúp sức, thì anh ta lấy làm mừng rỡ tính tom góp binh thuyền để giúp Ngô-Quyền mà trừ khử họ Kiều. Nhưng mà tối lại anh ta nằm tính tới nghĩ lui, mình đem binh giúp với Ngô-Quyền đây, ví như Ngô-Quyền đắt thắng dẹp đãng họ Kiều được thì chẳng nói chi, thoảng như gặp dịp chẳng may Ngô-Quyền thất bại, thì mình đã tổn tướng hao binh mà sợ Kiều-công-Tiện hờn lây thì e mình khó mà giữ Bố-hải-khẩu được. Vả quan trấn Đằng-châu, là Phạm-bạch-Hổ, anh hùng khẳng khái mà lại có tình giao hảo với mình, vậy thì mình nên dọ ý anh ta, nếu anh ta chịu hiệp với mình, mà giúp Ngô-Quyền thì dầu thành hay bại mình cũng khỏi lo thiệt hại.

Trần-Lãm nghĩ như vậy, nên sáng bữa sau viết thơ rồi sai quân đem qua cho Phạm-bạch-Hổ mà hỏi coi có khứng hiệp binh với mình đặng giúp Ngô-Quyền hay không, Phạm-bạch-Hổ, tuổi vừa mới 30, tánh khí nóng nảy đã có ý muốn đánh Kiều-công-Tiện mà báo thù cho họ Dương, bởi vậy được thơ của Trần-Lãm hay Ngô-Quyền khởi binh báo thù thì mừng rỡ vô cùng, liền viết thơ trả lời, khuyên Trần-Lãm đem hết thủy binh Bố-hải-khẫu lên Đằng-châu hiệp với binh của mình mà chờ Ngô-Quyền.

Trần-Lãm được lời của Bạch-Hổ rồi mới quyết định việc dấy binh, nên nhứt diện sai người vào Ái-châu cho Ngô-Quyền hay rằng: mình sẽ đem binh qua Đằng-châu mà đón còn nhứt diện thâu góp quân sĩ được một ngàn với 30 chiến thuyền rồi kéo qua Đằng-châu.

Khi đại binh của Ngô Thứ-sử vừa đến đất Đằng-châu thì Trần-Lãm với Phạm-bạch-Hổ vội vàng ra đón đường mà nghinh tiếp. Ngô Thứ-sử thấy hai tướng sẵn lòng giúp sức thì chẳng xiết nỗi mừng, bởi vậy lấy lời dịu ngọt mà an-ủi hai tướng rồi truyền lịnh an dinh hạ trại cho quân sĩ nghỉ ngơi. Phạm-bạch-Hổ mời Ngô Thứ-sử cùng các tướng vào dinh của mình rồi đặt bày diên tiệc mà đãi rất trọng. Trước khi nhập tiệc thì Ngô Thứ-sử hỏi Phạm-bạch-Hổ rằng: “Tướng quân trấn thủ xứ nầy, cách Đại-la-Thành chẳng bao xa. Vậy chớ tướng quân có nghe tin tức bọn Kiều-công-Tiện thể nào hay chăng?”.

Bạch-Hổ đáp rằng: “Thưa Thượng quan, từ ngày tôi hay tin cha con Kiều-công-Tiện phản loạn thì tôi có sai người dọ hai ba lần. Chúng nó biết trước bề nào Thượng quan cũng khởi binh báo thù, bởi vậy cho nên chúng nó mộ quân tuyển tướng quyết chống cự với Thượng quan. Tuy vậy mà tôi không lo bởi vì cha con Kiều-công-Tiện trí lực bao nhiêu, hễ binh ta tới thì chúng có phải bó tay chịu tội. Tôi có lo một điều là lo nó cầu cứu với Nam-Hán Hoàng-đế, bởi vì nếu Lưu-Cung mà giúp với chúng thì ta khó mà thắng được”.

- Tướng quân liệu như vậy thì hiệp ý ta lắm. Ta cũng sợ Lưu-Cung nhơn dịp nầy, giả dạng ứng tiếp họ Kiều mà thâu đoạt Giao-châu, bởi vậy ta đã có viết thơ mà dặn Dương-kiết-Lợi ở Lục-châu phải đề phòng, đừng để quân Tàu xâm lăng biên giới, còn tướng quân có nghe Đỗ-cảnh-Thạc bây giờ ở đâu hay không?

- Thưa Thượng quan, tôi nghe Đỗ-cảnh-Thạc bây giờ đương đồn trú tại Đỗ-động-giang người có ý muốn cử binh báo thù, nhưng vì sức yếu thế cô nên chưa dám dấy động. Nếu Thượng quan tấn binh đến thành Đại-La mà đánh họ Kiều thì chắc Cảnh-Thạc sẽ dẫn binh đến tiếp ứng.

Ngô Thứ-sử nghe hết đầu đuôi mọi việc thì có ý mừng thầm, mà nghe Phạm-bạch-Hổ với Trần-Lãm mỗi tướng giúp được một ngàn binh thì lại càng mừng hơn nữa. Ngô Thứ-sử định đồn binh cho tướng sĩ nghỉ 5 ngày, đợi đến ngày rằm sẽ tấn binh. Chuyện vãn một hồi rồi Bạch-Hổ mới mời các tướng nhập tiệc, ăn uống vui say cho đến tối mới từ biệt nhau, ai về dinh trại ấy mà nghỉ.

Đêm khuya trăng tỏ, gió thổi hiu hiu, tư bề lặng lẽ, một lát nghe mấy trại gõ mỏ canh mà thôi, chớ không nghe tiếng chi khác hết. Trần-Lãm nằm dưới thuyền chẳng biết vì cớ gì mà thổn thức trong lòng không ngủ được, bèn leo lên bờ rồi lần bước đi dọc theo mé sông mà nhìn mặt nước, hưởng bóng trăng. Đi vừa tới một cây lớn gốc to, tàn ve sát đất, bỗng thấy có một người đương ngồi dưới bóng cây mà ngủ, lưng có đai một cây gươm, trước mặt lại có để một gói áo. Trần-Lãm thấy vậy lấy làm lạ, không biết người ở đâu lại đến đó mà ngủ, nên lén bước lại gần rồi vổ vai kêu thức dậy mà hỏi rằng: “Em ở đâu, mà sao lại ngồi đây mà ngủ?”. Người ấy giựt mình thức dậy, ngó Trần-Lãm trân trân không chịu trả lời. Trần-Lãm liếc xem thì thấy người tuy nhỏ tuổi mà sức lực mạnh mẽ, tướng mạo khôi ngô, cặp mắt sáng như gươm lưng eo vai rộng, thì trong bụng khen thầm, nên hỏi nữa rằng: “Chẳng hay tráng sĩ danh tánh là chi, quê quán ở đâu, mà sao lại ngồi đây mà ngủ như vậy?”. Người ấy thở ra một cái rồi đáp rằng: “Tôi họ Đinh tên Bộ-Lãnh, quê quán ở Hoa-Lư”.

- Tráng sĩ là người ở Hoa-Lư, mà sao lại đến đây làm gì?

- Số là tôi nghe Ngô Thứ-sử, là một đứng anh hùng hào kiệt, quyết mộ nghĩa binh, tuyển nhơn tài để diệt-tru loài phản loạn. Tuy tôi tài sơ lực bạc, song tôi muốn lập chút công danh, nên tôi đón mà xin tùng chinh, rồi tôi mới đi theo quân sĩ mà đến đây.

- Té ra tráng-sĩ là bộ tướng của Ngô Thứ-sử hay sao? Mà tráng-sĩ đầu quân rồi sao không ở trong trại, lại đến đây ngồi mà ngủ, và sao khí sắc coi chẳng đặng vui? Có lẽ khi tráng-sĩ nhớ nhà hay sao?

- Thưa ngài, tôi chẳng dấu chi ngài, khi tôi ở trong làng đi ra, ý tôi tưởng người như tôi vầy, hễ đầu quân thì ắt sẽ được quyền tước, chẳng dè người ta chê tôi còn nhỏ ý không muốn thâu dụng tôi, bởi vậy cho nên tôi buồn, tôi muốn trở về quê xưa cho an thân khỏe xác.

Trần-Lãm nghe nói mấy lời thì đứng suy nghĩ thầm trong bụng rằng: người tướng mạo như vậy, mà ý tứ lại như vầy, thì chắc là có tài lắm, nếu mình trọng dụng có lẽ khi giúp ích cho mình được, rồi liền hỏi tiếp rằng:

- Vậy mà tráng-sĩ cha mẹ còn song toàn hay không?

- Thưa ngài, tôi mồ côi, còn có một người chú mà thôi, chớ không có bà con nào nữa hết.

- Khuyên tráng-sĩ chớ nên phiền; Ngô Thứ-sử thiên tướng vạn binh không có thể mà xem xét mọi người được. Tráng-sĩ là người có tài, vậy thì nên ẩn-nhẩn mà chờ cơ hội, chớ nếu tráng-sĩ phiền rồi bỏ đi về thì còn ngày nào mà trổ tài lành đặng lập công lớn nữa được.

- Thưa ngài, ngài thương tôi nên ngài khuyên như vậy, tôi rất cám ơn ngài. Song tôi đã quyết định rồi, thà tôi ẩn tích mai danh, chớ tôi không muốn giúp Ngô Thứ-sử.

- Nếu thiệt tráng sĩ không giúp Ngô Thứ-sử nữa, thôi thì đi theo tôi. Tuy tôi binh quả thế-cô, nhưng nếu tráng-sĩ chịu làm trão nha thì tôi rất vui lòng mà trọng dụng.

Bộ-Lãnh đứng ngẫm nghĩ một hồi rồi hỏi rằng:

- Thưa ngài, chẳng biết ngài là ai, xin cho tôi biết đại danh qúy tánh.

- Tôi là Trần-Lãm trấn Bố-hải-khẩu, nghe Ngô Thứ-sử báo thù, nên đem binh đến đây mà ứng tiếp.

- Thưa ngài, tôi đeo mắt thịt, không thấy tướng tài, nên nãy giờ tôi thất lễ với ngài, vậy xin ngài miễn lỗi.

- Không, tráng-sĩ có thất lễ chỗ nà đâu. Thôi đi theo tôi xuống thuyền, trời đã khuya rồi, phải nghỉ một chút rồi rạng mai chúng ta sẽ đàm đạo.

Trần-Lãm và nói và dắt Bộ-Lãnh xuống thuyền. Bộ-Lãnh xách gói ríu-ríu đi theo không dụ-dự chi hết.

Qua ngày sau Trần-Lãm hỏi thăm, Bộ-Lãnh mới kể hết các việc cho Trần-Lãm nghe. Trần-Lãm biết người nhỏ tuổi mà có kỳ tài, trong bụng mừng rỡ lắm, bèn dạy quân dọn rượu thịt mà đãi Bộ-Lãnh, rồi liền phong cho Bộ-Lãnh làm chức phó tướng, để giúp với mình mà điều đình quân vụ.

  
Chú thích cuối trang

1.▲ Đằng-châu ở trong địa phận tỉnh Hưng-Yên (Bắc kỳ) bây giờ


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 03.05.2017, 15:14
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35929
Được thanks: 5309 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Xuất bản - Dã sử] Nam cực tinh huy - Hồ Biểu Chánh - Điểm: 10
Hồi 5

Công-Hãn đem binh vây Cảnh-Thạc
Ngô-Quyền sai tướng cứu Động-Giang


Ngô Thứ-sử đóng binh tại Đằng-châu thì trong lòng nóng nảy chịu không được, ý muốn đi riết ra thành Đại-La mà đánh bắt Kiều-công-Tiện cho mau, ngặt quân sĩ đi đường xa mỏi mệt, lại không rõ thế lực của kẻ nghịch ra thể nào, nên phải dừng binh cho tướng-sĩ nghỉ ngơi và phải sai người đi thám-dọ tình hình quân giặc. Đến ngày 14, Ngô Thứ-sử nhóm chư tướng và cho mời Bạch-Hổ với Trần-Lãm đến mà nghị việc tấn binh. Trong lúc đương hội nghị, thám-tử về báo rằng: Kiều-công-Hãn dẫn một đạo binh lên Đỗ-động-Giang vây đánh Cảnh-Thạc, còn Kiều-công-Tiện thì cố thủ Đại-La thành; thế lực mạnh lắm.

Ngô Thứ-sử nghe báo liền hỏi chư-tướng coi ai có kế chi mà phá giặc được không. Lữ-Đường liền đứng dậy thưa rằng: “Ta binh đã gần 2 vạn, tướng đã được 10 viên, người người đều quyết tử chiến mà báo thù cho Dương-tiên-công, thế lực của ta như vậy thì có lo gì mà đánh không thắng. Tôi nghĩ Kiều-công-Tiện là một đứa thất phu tàn bạo, dầu cho nó binh đông tướng giỏi cho mấy đi nữa cũng chẳng đủ cho chúng ta lo sợ. Vậy xin thượng quan kéo binh ra đánh Đại-La, tôi dám chắc hễ binh đi tới thì nghịch tặc phải bỏ thành mà chạy”.

Ngô Thứ-sử còn đương suy nghĩ, Phạm-bạch-Hổ liền đứng dậy mà thưa rằng: “Tôi tuy bất tài, nhưng mà tôi nghĩ theo phép dụng binh chẳng nên khinh địch. Đã biết tướng của ta thì đông, binh của ta sẵn lòng tử-chiến, song binh tướng của ta đi đường xa mệt mỏi, còn họ thì mấy tháng nay an nghỉ, họ dùng binh khỏe mà đánh với binh mệt của ta, đó là một điều ta yếu thế hơn họ. Còn ta nghe nói Kiều-công-Hãn đã dẫn quân đi Đỗ-động-Giang, mà ta không đề phòng, cứ dẫn binh đến Đại-la-Thành mà khiêu chiến, thoảng như Công-Hãn kéo binh về rồi ngoài đánh vô trong đánh ra, ta ở giữa ắt phải thất bại. Vậy theo ý tôi nên cho một đạo binh đi đường tắt lên Đỗ-động-Giang mà cứu Đỗ-cảnh-Thạc và nhơn dịp ấy chận đường không cho Kiều-công-Hãn trở về, còn đại binh thì đi riết ra Đại-La mà công-thành, làm như vậy mới khỏi sợ thất”.

Ngô Thứ-sử gật đầu khen phải, rồi hỏi chư tướng coi ai muốn dẫn binh đi cứu Cảnh-Thạc. Phạm-bạch-Hổ vỗ ngực xin đi, Ngô Thứ-sử rất vui lòng nên cho liền, lại sai Lữ-Đường dẫn 500 binh theo tiếp ứng.

Qua ngày sau Bạch-Hổ dẫn một ngàn binh Đằng-châu và Lữ-Đường dẫn 500 binh Ái-châu băng đường rừng mà lên Đỗ-động-Giang, còn Ngô Thứ-sử với các tướng khác thì dẫn đại binh đi thẳng ra Đại-La.

Đây nói về Kiều-công-Tiện, từ ngày giết được Dương-diên-Nghệ rồi thấy tướng sĩ ở thành Đại-La thảy đều qui phục, không ai dám chống cự thì thỏa lòng đắc ý, bèn đoạt ngôi Tiết-đạt-sứ rồi lo sắp việc cai trị đất Giao-châu. Anh ta vẫn biết Ngô-Quyền, Dương-kiết-Lợi và Đỗ-cảnh-Thạc có tình thân-ái với Diên-Nghệ, chắc sao ba tướng ấy cũng cử binh báo thù, nhưng mà anh ta nghĩ rằng Ngô-Quyền thì trấn thủ ở Nam-cương, Kiết-Lợi thì cheo leo nơi Bắc-giới, còn Cảnh-Thạc ở gần, song binh-thiểu thế-cô, nên không đáng lo sợ. Tuy vậy, mà anh ta cũng là một tay trí lược, không phải như người đứng chờ nước tràn lên tới cẳng mới lật đật nhảy quanh, bởi vậy cướp được ngôi qúy thì liền truyền lịnh tuyển tướng mộ binh đấp lũy sửa đồn mà đề phòng cường địch.

Đến cuối tháng nghe tin Đỗ-cảnh-Thạc dẹp yên loạn Thái-Bình rồi tính kéo binh về mà bắt tội, thì Công-Tiện chúm chiếm cười mà nói rằng: “Con mèo sức lực bao nhiêu mà đòi chống cự với cọp. Ta biết Cảnh-Thạc là người có lòng trung nghĩa, sớm muộn gì cũng phải đánh báo thù, bởi vậy cho nên ta đã liệu trước rồi, ta chờ Cảnh-Thạc về đây đặng lấy lời phải trái mà khuyến-dụ người, như người biết thời thế mà qui hàng thì thôi, còn nếu giữ lòng ngu-muội cứ chống cự nhau thì ta sẽ ra tay mà trừ khử”.

Kiều-công-Hãn nghe cha nói như vậy liền đứng dậy thưa rằng: “Thưa cha, đã biết Cảnh-Thạc binh thiểu thế cô, không đủ chi mà phải lo sợ, nhưng mà con nghĩ cha mới lên ngôi Tiết-đạt-sứ, tuy châu huyện đã cúi đầu qui-phục, song còn e họ phục đó là vì họ sợ oai mà thôi chớ họ chưa mến tình, trong một tháng nay châu huyện bình-an, ấy là vì không ai khởi xướng việc báo thù, nếu cha để Cảnh-Thạc về đây con sợ người mượn danh trung-nghĩa mà khuyến khích dân tình, rồi tứ hướng ứng tiếp, trong ngoài dấy lên thì khó cho mình phục được. Vậy con xin cha cấp cho con ba ngàn tinh binh đặng con đi bắt Cảnh-Thạc đem về nạp cho cha. Con nghĩ kế ấy là kế vẹn toàn, đã trừ bớt một mũi giặc, mà lại làm cho dân tâm khỏi xao động”.

Công-Tiện ngồi suy nghĩ một hồi lâu gật đầu khen phải rồi cấp cho Công-Hãn 3 ngàn binh đặng đi đánh Cảnh-Thạc. Công-Hãn kiểm quân mã, cụ-bị lương thảo, rồi đến ngày mùng 6 tháng hai, mới truyền lịnh khai thành tấn binh. Đi được vài ngày, có người báo tin rằng Cảnh-Thạc đương đồn binh tại Đỗ-động-Giang, Kiều-công-Hãn mới kéo binh đến trước thành khêu-chiến. Cảnh-Thạc đương lo mưu tính kế mà diệt trừ Công-Tiện đặng trả nghĩa cho Công-Nghệ, bỗng nghe quân báo có Công-Hãn dẫn binh đến khêu-chiến thì cả giận, đỏ mặt phừng gan, liền truyền lịnh khai thành xua quân ra cự địch. Hai bên hỗn chiến với nhau từ giờ thìn chí giờ ngọ, Cảnh-Thạc thấy tướng sĩ mõi mệt, mà không có mòi thắng được, bèn dóng chiên thu quân, tính nhập thành rồi sẽ liệu bày kế sách mà phá giặc. Công-Hãn sợ Cảnh-Thạc có kế chi lạ nên trá bại mà dụ mình, bởi vậy cũng dóng chiên thu quân, không dám đuổi theo.

Qua ngày sau, Công-Hãn chờ hoài mà không thấy binh Cảnh-Thạc ra giáp chiến, mới sai người đi vòng chung quanh thành, trước dọ đường đất, sau thám coi cử động của giặc là thể nào. Đến chiều, quân về báo rằng chung quanh thành một phía sát mé sông, còn ba phía khác thì hào hố rất nhiều mà hết hào hố rồi thì kế rừng bụi, chớ không có đất trống; còn trong thành thì im lìm, duy mấy cửa thì có quân gát rất nghiêm nhặt không cho ai vô hết. Công-Hãn biết Cảnh-Thạc yếu sức, sợ thất nên không dám tái chiến, muốn tấn binh vây thành, ngặt vì xem thành trì thiệt là hiểm địa, không phải chỗ dụng binh nên lo lắng hoài, không biết kế chi mà hạ thành cho được. Công-Hãn cùng thế mới sai 10 tên quân đến trước cửa thành kêu Đỗ-cảnh-Thạc mà mắng, có ý muốn khêu-khích đặng cho Cảnh-Thạc giận mà xuất binh, chẳng dè khêu luôn cho đến 6 ngày mà không tin tức chi hết.

Công-Hãn thấy vậy có ý khinh thị Cảnh-Thạc, nên truyền lịnh phân binh vây thành mà công phá. Vả chung quanh thành bị hào-hố nhiều, binh không tiếp với nhau được, phần thì trên thành Cảnh-Thạc dàn binh rồi dạy lấy cung nỏ mà bắn, bởi vậy cho nên binh của Công-Hãn lao nhao lố nhố rồi rút vô rừng mà núp, không dám xáp lại gần thành. Công-Hãn dùng đủ chước mà trọn 6 ngày nữa cũng công-thành chưa được. Đêm nọ vừa lối canh ba anh ta dạy binh sĩ nai nịch khí giới, kẻ núp bóng cây người bò sát mặt đất, lén tới mặt thành rồi dóng trống van rân mà công phá. Binh của Cảnh-Thạc thình lình nghe tiếng trống dựa mặt thành thì hồn phi phách tán, tưởng là giặc đã vào thành rồi, vừa muốn quăng khí giới mở cửa sau mà chạy, may nhờ Cảnh-Thạc ra kịp, khoát nạt đốc sức om sòm nên tướng sĩ mới định tâm rồi kéo nhau dàn trên mặt thành mà chống cự. Kẻ ngoài người trong đánh nhau cho tới sáng mà binh của Công-Hãn cũng chưa phá thành được. Công-Hãn nổi giận, vừa tính cỡi ngựa xông ra trước mặt mà đốc sức, bỗng nghe phía sau lưng trống dóng vang trời, tiếng người la dậy đất thì ngẩn ngơ không hiểu binh ở đâu mà đến đây. Anh ta vừa muốn dóng chiên thâu binh thì liền thấy có một đạo binh xông tới có hai viên đại tướng cỡi ngựa đi trước kêu lớn mà nói rằng: “Kiều-công-Hãn, mi chớ khá diệu võ dương oai, có Phạm-bạch-Hổ và Lữ-Đường đến đây, mi phải đưa tay mà chịu trói”.

Công-Hãn thất kinh, không kịp liệu định, thì binh của Bạch-Hổ với Lữ-Đường đã ào tới rồi áp vô đánh vây, Cảnh-Thạc ở trên thành thấy ngoài có binh ứng tiếp, tuy không hiểu là binh của ai song cũng thừa thế mở cửa thành dẫn quân ra mà đánh. Binh của Công-Hãn lưỡng diện thọ địch, chống cự không nổi, chết quá phân nữa, còn sót lại bao nhiêu thì tản lạc chạy vào rừng mà trốn. Kiều-công-Hãn cũng bỏ ngựa nhảy xuống rồi chung vào rừng, vạch đường mà thoát-nạn.

Đỗ-cảnh-Thạc gặp Bạch-Hổ với Lữ-Đường liền cung thân thi lễ, hỏi ra mới hay là binh của Ngô Thứ-sử sai lên giải cứu thì cảm phục vô cùng; anh ta truyền lịnh thâu quân rồi tiếp hai tướng vào thành mà thương nghị. Phân tân chủ an tọa rồi, Cảnh-Thạc mới nói rằng: “Ngô Thứ-sử có lòng huệ-cố, cho nhị-vị tuớng-quân đến cứu tôi, ơn ấy dầu muôn năm tôi vẫn còn ghi tạc. Nay tôi chẳng biết lấy chi mà tỏ lòng cảm mến nhị vị tướng quân, vậy tôi xin nhị vị tướng quân cho tôi dọn một tiệc mọn đặng anh em ăn uống với nhau chơi một bữa, gọi là lễ sơ kiến”.

Bạch-Hổ và cười và nói rằng: “Chúng ta đồng một lòng, thờ một chúa thì tự nhiên phải nương đỡ nhau, tôi tưởng chẳng có chi đáng cho tướng-quân phải nhọc lòng ái-ngại. Còn việc ăn uống tôi cũng xin tướng-quân đừng có lo, bởi vì lúc nầy chúng ta đương nếm mật nằm gai, để ngày nào chúng ta tru diệt loài phản bạn rồi thì chúng ta sẽ bày diên tiệc mà hỉ-hạ”.

Cảnh-Thạc nghe Bạch-Hổ nói mấy lời khiêm-nhượng mà nhiệt-thành thì kỉnh phục hết sức. Anh ta hỏi thăm Ngô Thứ-sử bây giờ ở đâu, đã có định kế báo thù hay chưa, bởi vì tháng trước anh ta có tiếp được thơ dặn phải chiêu binh mãi mả rồi sau sẽ hiệp nhau mà trừ họ Kiều, song anh ta chờ hoài mà không nghe tin tức, nóng lòng chịu không được nên mới tính kéo binh xuống mà đánh Đại-la-Thành, chẳng dè chưa đi mà Kiều-công-Tiện đã sai con đến vây đánh. Bạch-Hổ với Lữ-Đường bèn tỏ sự Ngô-Quyền kéo đại binh ra đánh Đại-la-Thành cho Cảnh-Thạc nghe. Cảnh-Thạc mừng hết sức, thương nghị với hai tướng rồi định cho quân an nghỉ tới rạng ngày mai sẽ kéo xuống Đại-La mà ứng tiếp.

Đêm ấy Cảnh-Thạc và Bạch-Hổ luận biện với nhau về cách ở đời, về phép dụng binh, thì hai người tâm đầu ý hiệp nên tương đắc với nhau lắm. Qua ngày sau Cảnh-Thạc lựa binh yếu đuối để ở lại giữ thành, còn lối một ngàn rưỡi binh hùng tráng thì hiệp với binh Lữ-Đường và Bạch-Hổ rồi ba tướng gióng trống khai thành nhắm hướng Đại-la-Thành mà kéo tới.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 03.05.2017, 15:15
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35929
Được thanks: 5309 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Xuất bản - Dã sử] Nam cực tinh huy - Hồ Biểu Chánh - Điểm: 10
Hồi 6

Vô-ý Nguyễn-Siêu bại trận
Hữu-Tâm Lê-Đạt đền ơn



Khi Ngô-Quyền sai Bạch-Hổ với Lữ-Đường đi rồi, liền phân binh mà kéo ra Đại-la-Thành, Trần-Lãm dẫn thủy quân do đường sông mà làm hữu dực, Nguyễn-Siêu dẫn bổn bộ binh đi trước mà khai lộ. Ngô-nhựt-Khánh dẫn bổn bộ binh mà đi kế theo sau đó mà tiếp-ứng. Còn Lý-Khuê thì cũng cứ làm tã-dực như cũ.

Ngô-Quyền đã dặn Nguyễn-Siêu đi tiền đạo phải lấy lời trung nghĩa mà khuyến dụ nhơn-dân, phải cấm quân sĩ đừng cho cướp giựt bạo tàn, bởi vậy cho nên binh kéo đến đâu dân chúng thảy đều hoan nghinh tùng phục.

Binh Ngô-Quyền đi còn vài ngày nữa thì tới thành Đại-La, Kiều-công-Tiện nghe tin hết sức lo sợ, nên nhóm chư tướng mà thương nghị. Công-Tiện lấy làm tiếc không có Công-Hãn ở nhà mà cầm binh, nên tính bế thành cố thủ... Có một tướng hình cao, mặt nám, lông ngực, râu rìa, nghe Công-Tiện phân như vậy liền đứng dậy nói lớn lên rằng: “Nhơn huynh phân như vậy thì nhục cho tướng-sĩ trong thành Đại-La nầy quá! Em tuy bất tài, song nguyện dẫn binh xuất thành chém lấy đầu Ngô-Quyền đem dưng trước bệ”.

Người ấy nói tiếng nghe rổn-rảng, Công-Tiện ngó ra thì thấy Kiều-Thuận, vốn là em đồng tâm với mình, nên trong lòng mừng thầm, ngồi suy nghĩ một hồi rồi kêu Kiều-Thuận vào đứng trước bệ mà nói rằng: “Em có tính khẳng-khái vậy cũng đáng khen. Nhưng mà em phải biết rằng Ngô-Quyền là người lược thao gồm đủ, đã có trí mà lại có tài; đã vậy mà nghe nói người lại có tướng giỏi binh đông, nhắm không phải dễ gì mà khinh địch. Ta tính bế thành cố thủ là ý ta muốn sai người qua Nam-Hán mà cầu cứu với Lưu-Cung. Nếu Lưu-Cung sẵn lòng giúp ta thì ta mới chắc thắng được”. Kiều-Thuận thưa rằng: “Nhơn huynh tính như vậy cũng phải nhưng mà em nghĩ trong thành binh đã hơn một vạn, dõng tướng kể được năm bảy viên; thế lực của ta như vậy mà đành bó tay cố thủ đợi người tiếp cứu thì hổ thẹn quá. Vậy em xin nhơn huynh để cho em cầm một đạo binh ra đối địch với Ngô-Quyền, chúng ta lấy sức riêng mà chống cự với kẻ thù, chừng nào chúng ta cùng thế rồi sẽ cần Lưu-Cung, nghĩ cũng chẳng muộn gì”.

Công-Tiện gặt đầu mà đáp rằng: “Lời em nói đó phải lắm. Song bây giờ muốn đánh với Ngô-Quyền thì phải dụng mưu, hoặc may mơi thắng được. Vậy đêm nay, lối đầu canh ba em phải dẫn hai ngàn binh ra khỏi thành rồi kéo đến cụm rừng lim mà núp. Tô-Cầu cũng dẫn hai ngàn binh ra truông ông Hổ mà núp. Phải cấm quân đừng cho nói chuyện, và phải cho thám tử leo lên ngọn cây mà thăm chừng hễ binh của Ngô-Quyền đi tới thì cứ để êm cho chúng nó đi, chừng nào quân qua khỏi rồi, thì đốt lửa ung khói mà làm hiệu lịnh, rồi hai bên xông ra mà đánh dồn tới chận đường đừng cho giặc thối lui được. Ta cùng các tướng khác sẽ mở cửa thành kéo binh ra mà đánh, làm như vậy ắt sẽ bắt được giặc”.

Chư tướng nghe Công-Tiện bày binh bố trận như vậy, thảy đều kỉnh phục, nên lật đật bái mạng lui về mà sắp đặt việc xuất binh, không dám cãi lẽ chi hết. Đêm ấy, Kiều-Thuận với Tô-Cầu dẫn binh đi núp y lời của Công-Tiện dặn. Rạng ngày sau Công-Tiện nhóm bộ tướng là Lưu-Định, Phan-quế-Chi, Nguyễn-duy-Lang mà dặn hễ thấy ngoài thành ban đêm có lửa, ban ngày có khói, thì kéo binh ra mà đánh.

Nguyễn-Siêu dẫn 2 ngàn rưỡi binh đi tiền đạo, đã gần tới Đại-La mà không thấy binh của Kiều-công-Tiện ngăn cản chi hết, thì trong trí khinh khi, nên đốc quân đi riết tới hoài không đề phòng, chẳng dè vừa mới qua khỏi truông ông Hổ thì nghe sau lưng hai bên quân ó vang trời. Nguyễn-Siêu biết mình đã trúng kế rồi nên dừng binh lại, không dám đi tới nữa. Quân sĩ lại thấy trong rừng khói lên nghi ngút, không hiểu binh giặc nhiều ít thể nào, nên thảy đều kinh khủng, lao-nhao lố nhố, muốn lạc hàng thất thứ. Nguyễn-Siêu thấy vậy liền vượt ngựa ra trước đầu quân rồi đưa gươm mà nói rằng: “Quân sĩ ai nhút nhát ta chém đầu. Đã đi đánh giặc mà còn sợ giặc nỗi gì? Chừng nào ta chết rồi, thì các người mới bị hại, chớ ta còn đây mà các ngươi sợ làm sao?”.

Nguyễn-Siêu vừa nói dứt lời thì thấy bên hữu Tô-Cầu ở trong truông dẫn binh xông ra. Nguyễn-Siêu liền liền xốc ngựa tới rồi huơi gươm mà đối địch. Đánh chưa rồi một hiệp, sau lưng Kiều-Thuận lại kéo binh tới nữa. Nguyễn-Siêu thối lui tránh Tô-Cầu; vừa mới nhảy ra thì thấy có một tướng xông vào đánh. Lúc đương rối loạn, Nguyễn-Siêu không kịp ngó cho kỹ, coi tướng ấy là ai, liền quay ngựa tháo ra ngả khác đặng đón Kiều-Thuận mà đánh.

Hai bên đối địch với nhau binh ó vang trời, trống hồi dậy đất. Nguyễn-Siêu sức cự không nổi với Kiều-Thuận, mà lại thấy trong thành phất cờ dóng trống đại binh kéo ra nữa, thì anh ta rối loạn trong lòng, nên quyết liều chết đánh khai đường mà chạy. Nguyễn-Siêu nỗ lực mà chém, Kiều-Thuận phải dang ra mà tránh. Nguyễn-Siêu thừa dịp ấy mới quay đầu mà chạy, Kiều-Thuận giục ngựa đuổi theo. Lúc theo gần kịp Nguyễn-Siêu lại nghe sau lưng có tiếng kêu lớn rằng: “Thằng khốn kia, mi có giỏi thì trở lại đánh với ta đây”, rồi xốc tới đâm Kiều-Thuận, Kiều-Thuận đở vẹt mũi thương rồi mắc trở lại đánh với tướng ấy, Nguyễn-Siêu thoát mới khỏi được.

Nguyễn-Siêu một người một ngựa chạy ra khỏi vòng binh rồi đứng suy nghĩ rằng: mình làm tướng mà mình bỏ quân sĩ trốn chạy một mình như vầy thì hổ quá; thà mình chết với quân, chớ sống như vầy thì còn mặt mũi nào mà ngó quan Thứ-sử cùng chư-tướng. Nguyễn-Siêu nghĩ như vậy liền cầm gươm quất ngựa xông vào trong trận nữa. Lúc ấy đại binh Kiều-công-Tiện trong thành Đại-La đã kéo ra tới, nên đốc các tướng là Lưu-Định, Quế-Chi, Duy-Lang xông vào mà tiếp chiến. Nguyễn-Siêu trở lại ngó xa xa thấy Kiều-Thuận vừa mới đâm chết người cứu mình khi nãy, thì nổi giận, nên nổ lực mà đánh, chạy đến đâu chém đến đó, quân sĩ thất kinh phải vẹt đường không dám chống cự.

Tô-Cầu thấy Nguyễn-Siêu hùng hào thái thậm, thì giận quá, nên xốc tới đón đường mà đánh. Chẳng dè mũi thương qua, lưỡi gươm lại mới vài hiệp, thì Tô-Cầu đã bị Nguyễn-Siêu chém đứt đầu. Kiều-Thuận, Lưu-Định, Quế-Chi, và Duy-Lang áp vô một lượt mà đánh Nguyễn-Siêu, Nguyễn-Siêu đánh với một mình Kiều-Thuận còn không thấy thắng được thay, huống chi với bốn tướng thì làm sao mà đối địch cho nổi, nên phải tháo mà chạy nữa. Bốn tướng vừa muốn đuổi theo đặng vây bắt Nguyễn-Siêu thì đạo binh của Ngô-nhựt-Khánh đã kéo tới.

Nguyễn-Siêu thấy có binh ứng tiếp thì mừng rỡ vô cùng nên trở lại mà cự chớ không chạy nữa, Ngô-nhựt-Khánh đốc quân xông vào mà tiếp Nguyễn-Siêu, hai bên hỗn chiến với nhau, quân sĩ kẻ đổ ruột người đứt đầu, thấy nằm lểnh-nghểnh giữa chiến trường xem rất gớm ghê. Vả binh tướng của Kiều-công-Tiện đông hơn nên đánh tới giờ ngọ thì Nguyễn-Siêu với Nhựt-Khánh bị vây chặt không thể nào thoát ra cho khỏi được, Nguyễn-Siêu mệt đuối, đỡ gạt không lẹ làng nữa được nên bị Duy-Lang đâm một thương trúng nhằm tay mặt rớt gươm té nhào xuống ngựa; may nhờ có Nhựt-Khánh chạy lại tiếp cứu chớ không thì chắc đã bị giặc bắt.

Ngô-nhựt-Khánh và đánh và lo điều độ Nguyễn-Siêu, một mình tả đục hữu xông, quân sĩ lớp thì chết lớp thì tản-lạc hết. Lúc đương bối rối tưởng mình ắt sẽ bị bắt, bỗng nghe phía đông bắc ngó chừng thấy một đạo binh kéo tới, có hai chiến tướng cỡi ngựa đi đầu. Nhựt-Khánh không biết là binh của ai, trong lòng hồi hộp, nên đứng mà ngó. Kiều-công-Tiện và mấy tướng của Công-Tiện cũng chưng hửng nên ngừng lại mà coi.

Khi hai chiến tướng ấy lại gần tới Nhựt-Khánh với Nguyễn-Siêu xem kỹ thì Phạm-bạch-Hổ với Lữ-Đường, Nhựt-Khánh mừng quính, liền kêu lớn rằng: “Vào tiếp chúng tôi cho mau, bớ nhị vị tướng quân”. Bạch-Hổ hét lớn lên rằng: “Có ta đây”, rồi quất ngựa xông vào trận với Lữ-Đường, đánh Nam dẹp Bắc chém chết Duy-Lang và đánh thối bọn Kiều-Thuận rồi điều độ Nhựt-Khánh với Nguyễn-Siêu đem ra khỏi trùng vây.

Kiều-công-Tiện ngồi trên một cái nổng cao mà đốc quân, xem thấy đạo binh của Bạch-Hổ và Lữ-Đường có chừng vài ngàn quân, còn binh của mình kể hơn một vạn, nên không có chút chi lo sợ, trong bụng nói thầm rằng: hai đạo binh trước đã nát rồi đạo binh nầy đem mình mà nạp nữa. Đến chừng ngó thấy Duy-Lang vong mạng. Bạch-Hổ với Lữ-Đường cứu Nhựt-Khánh với Nguyễn-Siêu đem ra khỏi vòng vây rồi đốc quân xông vào hổn chiến, hai tướng đến đâu quân ngã lăn, tướng thối lui đến đó, thì Công-Tiện lo sợ nên dóng chiên thâu quân. Nhựt-Khánh thấy Công-Tiện binh đông tướng nhiều sợ Bạch-Hổ với Lữ-Đường thọ hại như mình nữa, nên dóng chiên thâu quân, tính đợi Ngô Thứ-sử đến rồi sẽ liệu kế báo thù.

Khi Bạch-Hổ với Lữ-Đường trở lại vòng binh mình thì Đỗ-cảnh-Thạc cũng vừa đến nữa. Lữ trách Ngô-nhựt-Khánh rằng: “Hai anh em tôi đương hổn chiến, vì cớ nào mà ông lại dóng chiên mà thu quân về? Ông tệ quá! Phải ông để hai anh em tôi đánh riết, rồi binh của Đỗ tướng quân tới sẽ tiếp mà đánh luôn nữa thì chắc là bắt được Kiều-công-Tiện rồi”. Nhựt-Khánh nói rằng: “Tướng quân nói nghe coi dễ quá! Binh của chúng nó kể hơn một vạn, binh của tôi và Nguyễn tiên phuông đã nát hết, còn binh của tướng quân có vài ngàn mà sao thắng được”. Bạch-Hổ với Cảnh-Thạc nghe Nhựt-Khánh nói như vậy thì khen phải, rồi tính với nhau nhứt diện định truyền lịnh đồn binh hạ trại, nhứt diện sai người trở lại đón mà báo tin cho Ngô Thứ-sử hay.

Các tướng thấy Nguyễn-Siêu bị thương thì lo kiếm thuốc điều trị, rồi mới biểu Nguyễn-Siêu thuật rõ sự mình trúng kế lại cho các tướng nghe. Lữ-Đường cũng thuật cho Nhựt-Khánh với Nguyễn-Siêu hiểu việc mình đánh đuổi Kiều-công-Hãn, cứu được Đỗ-cảnh-Thạc, rồi dắt nhau xuống Đại-La tính hiệp binh với Ngô Thứ-sử, chẳng dè đến đây Ngô Thứ-sử chưa tới mà lại gặp giặc đương vây hai tướng nên lật đật xông vào mà cứu. Các tướng lo tom góp tàn quân, thì binh của Nhựt-Khánh còn được một ngàn rưỡi, còn binh của Nguyễn-Siêu còn không đầy 500 người.

Nguyễn-Siêu nhớ lại hồi sớm mơi có một tướng tiếp mình mà đánh Tô-Cầu chừng mình bị Kiều-Thuận rượt nà tướng ấy xốc tới đánh với Kiều-Thuận đặng cho mình thoát nạn, chừng mình trở vào trận lại còn thấy tướng ấy đánh với Kiều-Thuận nữa, một mình tả đột hữu xông, mà không chịu đầu hàng, cứ đánh hoài cho đến đổi bị Kiều-Thuận đâm chết. Nguyễn-Siêu không rõ người ấy là ai, kêu quân sĩ mà hỏi thăm, mới hay người ấy là Lê-Đạt, tháng trước mình đi mộ binh trong Hoan-Châu, thấy anh ta vô tội mà bị đày nên ra tay giải cứu, rồi cho làm đội-trưởng trong đạo binh của mình.

Nguyễn-Siêu nhớ tới Lê-Đạt thì cảm xúc vô cùng, vì ngày trước mình vì sự bất công bất chánh mà nổi giận nên giải cứu người mà thôi, chớ không phải làm ơn, mà ngày nay người ấy tận tâm mà báo đáp, đến đỗi phải vong thân tán mạng. Nguyễn-Siêu nghĩ chừng nào càng thương tiếc Lê-Đạt chừng ấy mà chư tướng ai nghe rõ sự tích như vậy cũng đều mủi lòng. Người thuật chuyện nầy viết đến đây cũng động tâm cảm nghĩa nên phải tả một bài thi:


Vì nghĩa xưa nay chết thiếu gì,
Cảm thương Lê-Đạt sử quên ghi.
Nặng ơn giải cứu hồi tai nạn,
Liều thác đền bồi lúc hiểm nguy.
Vợ trẻ ôm mền buồn bạc phận,
Mẹ già dựa cửa khóc cô nhi.
Làm trai muốn vẹn niềm ngay thảo,
Vì nghĩa xưa nay chết thiếu gì.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 03.05.2017, 15:17
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35929
Được thanks: 5309 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Xuất bản - Dã sử] Nam cực tinh huy - Hồ Biểu Chánh - Điểm: 10
Hồi 7

Toan cướp trại, Kiều binh thọ hại
Xem sa trường,Thứ-sử thương tâm.



Ngô-Quyền dẫn đại binh với tả hữu lưỡng dực lúc-thúc đi sau, chiều bữa ấy được tin báo rằng Nguyễn-Siêu đi gần tới Đại-La, không dè Kiều-công-Tiện phục binh trước nên phải bại trận, quân 10 phần còn có 2 phần mà Nguyễn-Siêu lại bị thương nữa. Ngô-nhựt-Khánh đem binh tới tiếp cứu, quả bất năng địch chúng, nên cũng bại trận, may nhờ có Bạch-Hổ với Lữ-Đường cứu Cảnh-Thạc rồi dắt nhau xuống Đại-La tính ứng tiếp Ngô Thứ-sử, tới đó gặp hai tướng đương nguy khổn bèn nỗ lực ra oai đánh binh giặc thối vào thành nên cứu hai tướng mới khỏi nạn. Ngô Thứ-sử nghe báo cả kinh, liền truyền lịnh cho chư tướng phải đi riết, vì sợ trì huỡn thì tiền đạo ắt sẽ bị hại nữa.

Trời đã chạng vạng tối mà đại binh cũng chưa đến. Đỗ-cảnh-Thạc có ý lo sợ, bèn mời chư tướng nhóm lại rồi nói rằng: “Binh của Ngô Thứ-sử chưa tới, binh của chúng ta còn lại đây không đầy năm ngàn, mà lớp thì đi đường mới đến, lớp thì bị chiến đấu cả ngày nên mệt mỏi hết thảy, Kiều-công-Tiện mới thắng ta được một trận, binh tướng đều hiêu-hiêu tự-đắc chắc sao đêm nay chúng nó cũng kéo tới mà cướp trại ta, vậy xin chư vị tướng quân phải liệu kế đề phòng, nếu lơ đỉnh sợ chẳng khỏi hại lớn”. Phạm-bạch-Hổ cùng các tướng đều khen phải, liền bàn tính với nhau rồi nhứt định chia quân ra. Bạch-Hổ dẫn một đạo binh đi núp trước trại phía bên tả, Lữ-Đường dẫn một đạo binh đi núp trước trại phía bên hữu, còn Cảnh-Thạc với Nhựt-Khánh mỗi người dẫn một đạo binh mà đi núp phía sau trại, Nguyễn-Siêu đi theo vòng binh của Nhựt-Khánh, còn trại thì đốt đèn sáng trưng, song bỏ không, chỉ có vài tên quân ở đó đánh trống canh cầm chừng mà thôi.

Các tướng phân binh mai phục xong rồi tới đầu canh ba, bóng thỏ bạc rạng ngời mặt đất, ngọn gió vàng hiu hắt đầu nhành, từ trong rừng ra cho tới ngoài ruộng thảy đều lặng lẽ chỉ có tiếng vạc bay đi kiếm ăn nên kêu oạt oạt trên trời với tiếng quân sa trường bị bịnh nên than rỉ-rả trong cỏ mà thôi. Thình lình Kiều-Thuận với Lưu-Định mỗi người dẫn một đạo binh chừng một ngàn người, mở cửa thành kéo ra không dóng trống, không phất cờ, nhẹ bước lặng thinh kéo tới trại của Ngô binh mà xông vào cướp phá. Lưu-Định đi trước, Kiều-Thuận theo sau, sấn tới cửa trại thấy đèn đuốc huy-hoàng mà không có binh tướng chi hết, biết đã trúng kế nên lật đật thối lui. Hai tướng vừa mới quay ngựa thì nghe tứ bề trống dóng vang tai, trước mặt thì Bạch-Hổ với Lữ- Đường hai bên kéo binh xông ra mà cản lộ, sau lưng thì Cảnh-Thạc với Nhựt-Khánh hai bên cũng kéo binh ào tới mà công kích.

Kiều-Thuận với Lưu-Định cả kinh nên liều chết đánh dẹp đường mà chạy. Lưu-Định gặp Bạch-Hổ đánh mới vài hiệp bị Bạch-Hổ bắt được; còn Kiều-Thuận gặp Lữ-Đường hai tướng giao phuông với nhau đã hơn 10 hiệp mà chưa phân thắng bại. Bạch-Hổ bắt Lưu-Định giao cho quân giữ rồi rồi xông ra tiếp chiến với Lữ-Đường. Kiều-Thuận thấy Bạch-Hổ xốc tới liệu khó mà cự với hai tướng cho nổi, nên quất ngựa chạy dài. Hai tướng đuổi riết theo, Kiều-Thuận túng thế mới bỏ ngựa chạy vào rừng mà trốn mất. Cảnh-Thạc với Nhựt-Khánh kéo binh tới rồi bốn đạo binh hiệp lại đánh binh của họ Kiều lớp thì chết lớp thì hàng đầu hết. Bốn tướng rượt gần tới cửa thành, trời đã bình minh, mới thâu quân trở về trại.

Kiều-công-Tiện hay hai đạo binh đi cướp trại bị ngụy kế, Lưu-Định đã bị bắt còn binh thì tiêu điều hết, đương ngồi ta thán, bỗng thấy Kiều-Thuận trở về, bước tới trước bệ mà chịu tội. Công-Tiện bước xuống đỡ dậy mà nói rằng: “Lỗi nầy tại ta, chớ không phải tại ngươi. Ta sai ngươi với Lưu-Định đi cướp trại, mà ta không đề phòng để cho Lưu-Định bị bắt, còn ngươi cũng gần thọ hại, ta nghĩ lại ta ăn năn vô cùng. Thôi ngươi hãy về dinh mà nghỉ, để rồi ta sẽ liệu kế mà phá giặc”.

Công-Tiện nói vừa dứt lời, lại thấy Kiều-công-Hãn ở ngoài bước vào, mặt mày nhăn nhó, quần áo tả tơi, biết việc đi dẹp Cảnh-Thạc chắc là chẳng thành, nên đùng hỏi rằng: “Còn tai họa gì nữa đó hay sao?” Công-Hãn quì xuống mà tỏ hết đầu đuôi sự vây Đỗ-cảnh-Thạc, phá thành gần được chẳng may có hai tướng ở đâu không biết, kéo binh tới giải cứu, một mình chống cự không nổi, phải bỏ quân sĩ đạp đường rừng trốn mà trở về Đại-La.

Công-Tiện nghe nói nổi giận vỗ bàn đập ghế mà la rầy rằng: “Mi là đồ vô dụng; ta cho mi học tập nghề văn nghiệp võ thuở nay, tưởng là mi dầu không hơn đi nữa thì cũng bằng người ta. Té ra sai mi đi đánh Cảnh-Thạc, là một việc dễ hết sức, mà mi để cho thất bại, thế thì còn dùng mi vào chỗ nào nữa được”. Công-Tiện dạy võ sĩ dắt Công-Hãn ra trước cửa thành mà chém, đặng làm oai với chư tướng. Chư tướng thấy Công-Tiện nghiêm quân lịnh quá như vậy ai cũng kinh tâm, song gượng gạo áp vô quì mà xin tội giùm cho Công-Hãn, nói rằng trong việc dụng binh nếu có thắng thì tự nhiên phải có bại; nay gặp giặc đã tới ngoài thành mà ở trong mình lại chém tướng, thế thì còn ai mà chống cự với giặc. Công-Tiện ngồi suy nghĩ một hồi rồi dạy dắt Công-Hãn trở vô mà nói rằng: “Vì có lời chư tướng can gián nên ta tha tội cho mi, song nếu từ nầy về sau mi còn lôi thôi, không tận tâm mà điều đình quân vụ thì ta sẽ chém đầu, chẳng tha nữa”. Công-Hãn cúi lạy cha rồi lui ra. Công-Tiện dạy chư tướng phải hết lòng mà lo phòng bị, hâm rằng nếu ai giải-đãi thì sẽ chém mà răng kẻ khác.

Trưa bữa ấy, đại binh của Ngô-Quyền đã kéo tới. Bọn Cảnh-Thạc, Bạch-Hổ, Lữ-Đường, Nguyễn-Siêu và Nhựt-Khánh tề tựu trước trại mà nghinh tiếp. Ngô-Quyền bổn bộ chư tướng bước tới chào mừng. Cảnh-Thạc ngợi khen Bạch-Hổ với Lữ-Đường đã có công giải cứu Đỗ-động-Giang mà lại còn có tài đánh thối binh Kiều-công-Tiện, rồi day qua ngó thấy Nhựt-Khánh với Nguyễn-Siêu đứng gụt mặt xuống đất không dám ngó ngay, bộ coi hỗ thẹn về sự thất bại lắm, thì động lòng, bèn bước lại gần mà an ủi rằng: “Nguyễn tướng quân bị thương nặng hay là nhẹ? Hai tướng còn sống mà thấy mặt nhau đây thiệt lấy làm may, chớ ta nghe nói hai tướng trúng kế như vậy thì ta sợ một tên quân cũng không thoát khỏi được. Thôi, Nguyễn tướng quân phải lo thuốc men đặng cho thương tích mau lành, còn Ngô-tướng quân chớ khá buồn lòng, trận nầy rủi thất thì còn trận khác, không can chi mà ngại”.

Nhựt-Khánh với Nguyễn-Siêu xá quan Thứ-sử mà tạ ơn; chư tướng ai nghe mấy lời nhơn huệ như vậy cũng đều cảm xúc trong lòng. Nhơn dịp ấy Đỗ-Cảnh-Thạc liền thuật chuyện Kiều-Thuận với Lưu-Định hồi hôm lén dẫn quân cướp trại lại cho Ngô Thứ-sử nghe, rồi dạy dắt Lưu-Định đem ra cho người phân xử, Ngô Thứ-sử mừng rỡ hết sức, ngó chư tướng mà nói rằng: “Các ngài giỏi quá! Đã thất rồi mà làm cho thắng được, mình thế yếu mà làm ra mạnh, dụng binh như vậy thì còn ai hơn được. Ta được các ngài giúp thì có lo chi sự báo thù không xong”.

Ngô Thứ-sử ngó thấy quân dắt Lưu-Định đem ra thì đổi vui làm giận mà hỏi rằng: “Mi giúp kẻ quấy mà làm quấy, tội mi đáng giết rồi cắt đầu bêu lên đặng răn muôn chúng, mi có biết chăng?” Lưu-Định ngước mặt, vinh râu mà ngó Ngô Thứ-sử lườm lườm, coi chẳng có chút chi sợ sệt hết. Ngô Thứ-sử liếc thấy như vậy mới bước lại gần mà nói tiếp rằng: “Đến nước nầy mà mi cũng chưa biết ăn năn nữa sao? Dương-tiên-Công ngày trước có công đánh đuổi Lý-Tấn với Lý-khắc-Chánh về Tàu mà cứu dân trong xứ khỏi tai ương đồ thán, ấy chẳng phải là đại ân-nhơn của dân của nước hay sao? Kiều-công-Tiện là đứa tham danh mê lợi, không niệm suy ơn trước nghĩa sau, ăn cơm của người rồi trở lại phản người, hết thảy dân chúng ai nghe Công-Tiện giết Dương-tiên-Công mà đoạt quyền thì cũng đều ngậm hờn ôm oán. Mi là người An Nam, ví dầu mi không có chịu ơn riêng của Dương-tiên-Công đi nữa, thì cha mẹ bà con mi cũng nhờ có Dương-tiên-Công nên mấy năm nay mới được an cư lạc nghiệp, mới khỏi bị người Tàu họ mạ nhục hiếp đáp; vậy thì mi thấy Kiều-công-Tiện sanh tâm bất chánh, mi phải hiệp với công chúng mà diệt tru mới phải nghĩa, chớ sao mi lại xu-phụ theo đứa bất lương mà chống cự với kẻ hảo tâm. Nếu ngày nay là ngày mi gần chết, mà mi không biết ăn năn, thì thiệt rõ ràng mi là đứa thất-phu, chớ không phải là người nghĩa-sĩ”.

Lưu-Định nghe Ngô Thứ-sử nói thì lần lần xụ mặt gục xuống đất chớ không dám ngó nữa, rồi hai hàng nước mắt chảy rưng rưng. Ngô Thứ-sử liếc thấy, bèn nói tiếp rằng: “Nếu mi ăn năn, cải tà quy chánh, bỏ kẻ phản loạn theo mà giúp ta, thì ta tha tội cho mi, còn nếu mi nịch thói gian tà, không biết nghe lời trung nghĩa, thì ta sẽ dạy phân thây mi, đặng bớt một đứa bất chánh”.

Lưu-Định bước tới mà đáp rằng: “Thưa ngài, chẳng phải tôi sợ chết, đứng trượng-phu nếu chết vì nghĩa thì có sợ gì. Nhưng vì ngài nói nãy giờ cũng như ngài vén ngút mây cho tôi xem thấy trời xanh, bởi vậy cho nên tôi cảm tình ngài chẳng biết lấy chi mà tỏ ra cho rõ được. Thưa ngài, thiệt tôi cũng muốn cải tà qui chánh, ngặt vì tôi đã thờ lầm Kiều-công-Tiện rồi, bây giờ không lẽ tôi phản nó mà theo ngài được. Vậy tôi xin ngài giết giùm tôi đặng bảo toàn danh tiết cho tôi, chớ ngài để tôi còn sống, nếu tôi theo ngài thì tôi mang tiếng phản thần, còn nếu tôi theo Công-Tiện thì tôi lại mang danh bất nghĩa. Xin ngài xét lại rồi làm ơn giùm cho tôi”.

Ngô Thứ-sử nghe nói như vậy liền dạy quân mở trói cho Lưu-Định rồi nói rằng: “Tướng-quân như vậy mới đáng mặt trượng phu. Tướng-quân đã ăn năn rồi, nếu ta còn giết tướng-quân, thì ta mang tiếng bất nghĩa. Vậy ta tha tội cho tướng-quân; tướng-quân muốn theo giúp ta hay trở về Đại-La tự ý, ta không ép uổng, mà cũng không ngăn cản”. Lưu-Định đáp rằng: “Ngài lấy lòng quân-tử mà đãi tôi, thì tôi cũng nguyện lấy lòng trượng-phu mà đáp với ngài. Thưa ngài, những lời vàng ngọc ngài nói với tôi nãy giờ đó tôi tạc dạ ghi xương mà nhớ hoài. Có lẽ ngày sau tôi sẽ có dịp đền ơn đáp-nghĩa”.

Lưu-Định nói dứt lời rồi xá Ngô Thứ-sử mà đi; chư tướng đứng ngó nhau chưng hửng. Phạm-bạch-Hổ thưa rằng: “Đã bắt được mãnh hổ rồi mà ngài lại thả đi, tôi sợ ngài làm như vậy rồi ngày sau chúng ta ăn năn lắm đó ngài”. Ngô Thứ-sử cười mà đáp rằng: “Người đã ăn năn rồi nếu ta hẹp lượng đem chém đi thì ắt chẳng khỏi lời dị nghị. Lưu-Định là đứng anh hùng, không có lòng phản ta đâu mà tướng-quân phải sợ”.

Ngô Thứ-sử truyền lịnh đồn binh hạ trại, dặn Trần-Lãm phải lo đề phòng đường sông, còn chư tướng thì dạy dẫn quân đi đóng, kẻ tiền người hậu, kẻ tả người hữu, đại binh ở giữa, mỗi đạo binh đều phải lo canh gác cho nghiêm nhặt. Đến chiều mấy đạo binh đều an dinh hạ trại xong rồi hết. Ngô Thứ-sử cho đòi Đỗ-Cảnh-Thạc đến trại của mình, rồi mang cung đai kiếm mỗi người cỡi một con ngựa mà đi xem địa thế.

Mặt trời gần lặn, tà tà ngả bóng về tây. Trên mấy triền núi, cây cội rước yến sáng nên chỗ đỏ lòm như lửa cháy, còn chỗ thì mù mịt như khói bay. Chim thấy trời gần tối rồi, nên đoàn ba lủ bảy ở ngoài trảng bay về rừng, Con thì kêu cheo-chét dưới mây xanh, con thì luyện vởn vơ trên nhành thắm.

Ngô Thứ-sử với Đỗ-Cảnh-Thạc thủng thẳng nhắm đường về thành Đại-La mà đi, ngựa chống vó lần theo mé rừng thong thả bước, người gò cương trông chừng trước mặt nhiếu nhăn mày; bên tai nghe suối khóc dế than, quanh mình thấy gió đàn cây múa. Hai người cứ ngó tới mà đi, trong lòng ngổn ngang trăm mối, nên không nói chuyện chi hết. Đi được một khúc xa xa, mặt trời chen đầu non chồi lên hụp xuống, cỏ cây hiu-hắc, đường sá im-lìm, ngó về mấy trại thì quân nhúm lửa nấu cơm, khói bay lộn với mây xanh, còn trông ra Đại-La thì thành đồ sộ xa xa, dạng lờ mờ bên giòng bích.

Ra tới mé rừng là chỗ Nguyễn-Siêu trúng kế bữa trước, mà cũng là chỗ Lưu-Định bị bắt hồi hôm, Ngô Thứ-sử mới gò cương ngựa đứng lại mà xem chiến địa. Trong rừng cao ngoài đồng ruộng, u-sầu cảnh tượng, âm khí nặmg nề. Mấy đám dâu còi tan tác, cây gãy nhành, cây đổ lá, dường như ai cầm dao chặt đốn đặng hạ sắp nông-phu; và khoảnh ruộng lúa tả-tơi, bụi ngả tới, bụi ngả lui; dường như ai thả trâu đi càn không biết yêu hột thóc. Từ trên bờ dâu xuống tới ruộng lúa, thấy quân sĩ còn nằm lển-nghểnh, người thì gãy tay té nằm bên mé bờ, nhắm mắt an một giấc ngàn thu; kẻ thì đổ ruột vịn đứng dựa gốc cây, nhăn răng giận trăm năm một phút! Xa xa thấy dạng người thẩn thơ trên bờ cỏ, ấy là chúng cha già tìm con coi thây dật lạt chỗ nào; văng vẳng nghe tiếng khóc rỉ rả dưới gốc cây, ấy là vợ yếu tiếc chồng, vì nguồn ái-ân khó lấp. Dưới chơn rải rác gươm đao bỏ cùng trên mặt đất, cái lấm bùn, cái vấy máu, nằm ngang dọc dựa bên thây; trên đầu sập sập dều quạ quẩn theo người kiếm ăn, con đáp xuống con cất lên, bay vởn vơ gần trước mặt.

Ngô Thứ-sử thấy cảnh chiến trường buồn thảm như vậy, thì trong lòng đau đớn vô cùng, bởi vậy cho nên giọt lụy tuông rơi, rồi ngó ngay ra thành Đại-La dơ roi lên chỉ mà nói rằng: “Bớ Kiều-công-Tiện, vì mi mà khiến cho ruộng vườn tan nát, khiến cho một nòi một giống phải đâm chém nhau đến đỗi thây nằm đầy đồng, máu chảy thành vũng như vầy, mi có biết chăng? Ta nguyện sẽ giết mi mà tạ u-hồn quân sĩ chết oan nơi chiến địa nầy!”.

Ngô Thứ-sử muốn đi thẳng tới trước thành Đại-La dọ coi thế lực của giặc thể nào. Cảnh-Thạc cản không cho đi, vì sợ rủi gặp binh nghịch đi tuần, thì khó mà tránh cho khỏi được. Hai người mới dắt nhau trở về trại. Ngô-Quyền chong đèn ngồi mà vận trù kế sách, tính coi phải làm thế nào mà hạ thành đặng bắt Kiều-công-Tiện cho mau. Phạm-bạch-Hổ dẫn quân đi tuần, ngang qua trại Ngô Thứ-sử thấy trong trướng còn chong đèn, ghé lại hỏi thăm thì quân canh cửa nói rằng quan Thứ-sử còn thức. Bạch-Hổ mới xin vào mà nói chuyện. Ngô Thứ-sử ra tiếp Bạch-Hổ vào trại rồi hỏi rằng: “Tướng-quân nửa đêm đến trại ta, chẳng hay tướng-quân có việc chi muốn tỏ với ta chăng?”

Bạch-Hổ thưa rằng: “Thưa thượng-quan, tôi vào đây có ý muốn hỏi coi thượng-quan đã liệu việc giao chiến hay chưa, chớ binh ta đây người người còn đương hăn hái, nếu trì huỡn thì sợ e quân tâm dãi đãi rồi khó mà thủ thắng được”. Ngô Thứ-sử gặt đầu rồi đáp rằng: “Tướng-quân liệu như vậy phải lắm. Ta đương tính việc giao chiến đây. Chẳng hay tướng-quân có biết chước chi hạ thành mà ít hao binh tổn tướng hay không”.

- Phàm đánh giặc thì phải chết chớ làm sao mà khỏi hao binh tổn tướng cho được.

- Vì một thằng thất phu Công-Tiện mà phải chết đến ngàn muôn người thiệt ta lấy làm đau lòng quá!

- Thượng quan là người có nhơn nên không muốn tàn hại sanh linh, cái lòng nhơn của thượng quan đó thiệt tôi kính phục lắm. Song tôi xin thượng quan đừng có thổ lộ cho chư tướng biết, bởi vì nếu họ biết rồi sợ họ sẽ dãi đãi không tận tâm tận lực nữa.

- Tướng-quân nói như vậy thì tướng-quân chưa rõ ý ta. Ta thấy quân sĩ vì báo thù giùm cho nhạc-phụ ta mà phải vong thân nơi chiến địa, nên ta đau lòng đó mà thôi chớ nào phải đem binh đến đây rồi ta ngã lòng thối chí hay sao. Ta tính mai ta viết thơ rồi sai người đem vào thành mà bắt tội Kiều-công-Tiện. Nếu nó biết lỗi, bó tay chịu tội, thì quân sĩ khỏi nhọc sức. Chừng nào nó quyết chống cự không chịu hàng đầu thì ta sẽ phát binh vây thành mà công kích.

Bạch-Hổ nghe nói lấy làm cảm phục, nên kiếu quan Thứ-sử mà về trại, trong lòng khen thầm hoài.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 03.05.2017, 15:19
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35929
Được thanks: 5309 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Xuất bản - Dã sử] Nam cực tinh huy - Hồ Biểu Chánh - Điểm: 10
Hồi 8

Ghét lời phải, Kiều-Công giết Lưu-Định,
Sợ thế nguy, Công-Hãn viện Hán-Triều



Lúc Ngô Thứ-sử với Đỗ-Cảnh-Thạc dắt nhau đi xem chiến trận, thì Lưu-Định cũng lần bước trở về Đại-La. Làm tướng cầm binh xuất trận, đã bị giặc bắt, sự chết đã thấy trước mặt rồi, mà may người ta không giết, lại thả cho mình trở về, thế thường ai cũng vui mừng, ai cũng bươn bả trở về cho mau, đặng vợ chồng xum-hiệp, tôi chúa đoàn viên, rồi có lo mưu khác mà rửa hờn rửa oán. Lưu-Định được phóng xả, cho ra khỏi vòng binh, mà trong bụng chẳng có chút vui mừng, lại trong trí càng thêm bối rối hơn trong lúc bị bắt đó nữa.

Trời chiều vụt tối, Đại-La thấy gần trước mặt, nếu đi săn bước thì trời chưa tối đã vào tới thành rồi. Nhưng mà Lưu-Định không chịu đi mau, cứ thơ thẩn dọc theo mé rừng, hễ đi tới một vài chục bước thì đứng lại ngó mông một hồi, đi được xa xa thì ngồi dựa gốc cây mà suy nghĩ, coi bộ não nề tư lự, dường như người không trí không hồn. Nếu trong lúc ấy ai cắc cớ nom theo rình mà coi, thì ắc thấy anh ta một lát thở dài một cái, rồi lắc đầu chắt lưỡi.

Gần hết canh một Lưu-Định mới về tới thành Đại-La, thấy cửa thành đóng chặt, mà trên địch lầu lại nghe có người nói chuyện. Lưu-Định vừa muốn kêu cửa, rồi lại suy nghĩ rằng: mình còn vào thành nữa làm gì mà kêu cửa? Tháng trước mình nghe lời người ta khuyên dụ nói rằng Kiều-công-Tiện là người nhơn từ lễ nghĩa, lại dõng lực trí tài, nên mình xuống mà đầu nó. Nay mình đã tỉnh ngộ, biết nó là đứa thất phu bất nghĩa, nay mình còn xu-phụ với nó nữa hay sao? Vậy thôi mình trở về núi mà mai danh ẩn tích, đặng cho danh tiết vẹn toàn, chớ mình biết Ngô-Quyền chơn chánh mà mình đầu không được, còn Công-Tiện gian tà mà cứ theo giúp hoài, thì ai gọi là nghĩa sĩ. Làm trai ở đời phải ghi tâm rằng nếu phải nghĩa thì ăn múi cũng vui lòng, chớ còn trái nghĩa, dầu ăn vàng cũng đừng ham.

Lưu-Định nghĩ như vậy nên day mặt trở ra mà đi. Đi được chừng ít chục bước lại nghĩ rằng: Công-Tiện nghe nói mình bị bắt, bởi vậy nếu mình bỏ đi luôn, không trở vào thành chắc là nó tưởng mình bị giặc giết rồi. Mà đứng anh hùng khứ tựu phân minh bạch. Khi mình xuống mà đầu nó rõ ràng trước mặt thiên hạ, nay nếu mình không xu-phụ với nó nữa thì mình cũng nói rõ ràng cho nó biết, chớ mình đi luôn như vầy, té ra mình trốn nó. Lưu-Định bèn trở lại kêu cửa thành, quân canh trên địch lầu trả lời rằng có lịnh dạy ban đêm không được mở cửa. Lưu-Định xưng tên chúng nó cũng không chịu mở, túng thế phải ngồi ngoài thành mà chờ đến sáng.

Qua ngày sau, mặt trời mọc, quân mở cửa thành. Lưu-Định vào gặp Kiều-Thuận thì Kiều-Thuận mừng rỡ vô cùng, hỏi thăm lăn xăn coi vì cớ nào đã bị bắt mà lại trở về được. Lưu-Định không chịu trả lời cứ nài xin dẫn vào ra mắt Công-Tiện. Khi Lưu-Định tới dinh, quân vào báo, Kiều-công-Tiện lật đật chạy ra mừng rỡ và nói rằng: “Ta vụng tính sai tướng-quân đi cướp trại mà không đề phòng, để cho tướng-quân bị bắt bởi vậy hai bữa rày ta ăn ngủ không được, tưởng là tướng-quân đã bị hại rồi. Nay tướng-quân được về đây thiệt may mắn lắm”.

Công-Tiện tưởng Lưu-Định cũng sẽ lấy lời vui vẻ mà đáp lễ, chẳng dè Lưu-Định đứng ngó trân trân, rồi thủng thẳng mà nói rằng: “Tôi tuy sanh trưởng trong chốn non cao rừng rậm, nhưng mà từ nhỏ cho tới lớn, tôi hằng giữ lòng thanh bạch, chẳng hề chịu làm những đều phi-nghĩa bất nhơn. Tôi mà bỏ chốn mao-lư xuống đây, chẳng phải tôi ham tước ham quyền, hay là ham tiền ham bạc, ấy là tôi nghĩ phận làm trai trong võ-trụ, dầu hay, dầu dở, cũng phải có công nhiều ít với non sông nên tôi mới ra làm tôi ngài. Chẳng dè ngày nay tôi mới rõ lại ngài là một người đại bất nhơn trong nước, ngài ăn cơm của Diên-Nghệ rồi ngài lại phản phúc giết người đi, bởi vậy cho nên tôi trở lại đây nói cho ngài hay rồi tôi mới trở về núi mà ở”.

Kiều-Thuận đứng gần nghe nói mấy lời như vậy thì mặt đỏ phừng phừng, chơn bước tới, tay rút gươm, muốn giết Lưu-Định. Công-Tiện lấy tay khoát Kiều-Thuận, rồi ngó Lưu-Định cười mà nói rằng: “Ờ, té ra thằng Ngô-Quyền nó đã dụ tướng-quân đầu nó rồi nó sai tướng-quân về đây mà mắng ta nữa há?” Lưu-Định cũng cười gằn mà đáp rằng: “Ngài chí khí hẹp quá, nên ngài tưởng tôi cũng như bọn tiểu nhơn-kia, rày đây mai đó, sớm đánh tối đầu. Ngài đừng có tưởng như vậy mà lầm. Không, tôi không phải như họ vậy đâu. Tôi mà trở lại đây là vì hồi tôi xuống đầu ngài thì minh bạch, bây giờ tôi trở về núi cũng muốn minh bạch, nên tôi vào tỏ lại cho ngài rồi sẽ đi. Ngô-Quyền chẳng màng gì tôi mà khuyên dụ, mà tôi cũng chẳng có đều chi hờn riêng ngài nên kiếm chuyện nói xấu cho ngài”.

Công-tiện đáp rằng: “Tướng-quân ở hay là về, ấy là tự ý tướng-quân, ta không nỡ ép. Nhưng tướng-quân chê ta là người bất nhơn, hay vong-ân bội-nghĩa, ăn cơm của Diên-Nghệ rồi phản tâm giết Diên-Nghệ nên ta phải kể rõ chuyện cho tướng-quân nghe. Ngày trước Lưu-Cung ở Nam-Hán triều sai tướng là Lý-khắc-Chánh đem binh qua đánh Giao-châu, bắt Khúc-thừa-Mỹ về Phiên-Ngung mà giết. Những nha trảo của họ Khúc ai cũng ta-nha thiết-xỉ nhưng vì thế cô lực nhược nên không biết làm sao mà báo thù. Dương-diên-Nghệ là đứa gian-hùng, thấy dân tâm như vậy mới giả mặt trung-quân ái-quốc, mượn danh báo thù cho họ Khúc, giải cứu cho quê hương, rồi chiêu tập quân sĩ mà khởi nghĩa. Ta cùng những anh hùng hào kiệt ai cũng lầm, nên theo phò tá Diên-Nghệ mới đánh đuổi bọn Lý-khắc-Chánh được. Nào dè Diên-Nghệ khôi phục giang-san được rồi, lại giành lấy ngôi Tiết-đạt-sứ mà an hưởng phú quí vinh hoa, không chịu tìm kiếm dòng họ Khúc mà tôn lên ngôi báu. Tướng-quân nghĩ lại mà coi, ta giết Dương-diên-Nghệ đó là phải nghĩa hay trái nghĩa.

- Ngài nói như vậy mà ngài giết Diên-Nghệ rồi ngài đoạt truyền Tiết-đạt-sứ chớ ngài cũng không tìm họ Khúc mà tôn, thế thì dầu Diên-Nghệ bất nghĩa, nghĩ lại ngài cũng chẳng có nghĩa.

- Ta trừ Diên-Nghệ chưa được hai tháng, mà trong nước lại sanh rối loạn, làm sao ta kiếm con cháu họ Khúc cho được.

- Tôi biết rồi! Ngài nói Diên-Nghệ giả danh trung nghĩa, nay ngài cũng giả danh trung nghĩa chớ khác gì. Cái trung nghĩa của kẻ quê mùa như tôi không hiệp với cái trung nghĩa của ngài, vậy xin ngài vui lòng để cho tôi về chốn rừng núi cho an thân, đặng ngài có thong thả kiếm tìm họ Khúc đem về mà nhường ngôi nhường chức.

Lưu-Định nói dứt lời rồi liền xá Công-tiện mà lui ra. Công-tiện đứng ngó theo mà có sắc giận. Kiều-Thuận bước lại thưa rằng: “Lưu-Định vô lễ, nói nhiều lời hỗn ẩu, mà lại khinh khi nhơn huynh. Em sợ nếu không giết người mà răng chúng thì dân tâm ắt sẽ thiên biến”. Công-tiện gặt đầu. Kiều-Thuận liền rút gươm chạy theo, gặp Lưu-Định vừa ra tới cổng thành mới kêu dứng lại, rồi nhảy tới chém nhầu không thèm nói chi hết. Lưu-Định không có khí giới trong tay, mà Kiều-Thuận lại chém thình lình quá, đỡ gạt không kịp, nên bị Kiều-Thuận giết chết, rồi cắt đầu xách trở vô dinh.

Công-tiện dạy Kiều-Thuận đem đầu của Lưu-Định bêu trước cửa thành rồi truyền hịch cho dân chúng nói dối rằng Lưu-Định làm tướng bất trung, bị giặc bắt rồi theo đầu giặc, nên phải giết mà làm gương cho quân-sĩ. Người đời sau nghe chuyện Lưu-Định là nghĩa sĩ mà bị giết thì đau lòng nên có làm thi điếu như vầy:


Anh hùng coi chết cũng như chơi,
Chỉ sợ nhơ danh hổ với đời.
Tháo cũi nhờ Quyền yêu nghĩa khí,
Đứt đầu bởi Tiện ghét ngay lời.
Sá chi tước lộc mà đeo đuổi,
Có vậy non sông mới rạng ngời.
Cái phận nam nhi là ấy thế,
Treo gương thiên cổ để soi người.

Công-Tiện giết Lưu-Định vừa xong thì quân báo có Ngô-Quyền sai sứ đem thơ đến trước thành xin vào ra mắt. Công-tiện hội văn võ bá quan lại rồi truyền lịnh cho sứ vào. Sứ đưa một bức thơ, Công-tiện mở ra xem, thì trong thơ nói đại khái như vầy:

Trong nước sơn xuyên là chí hữu, người đời trung nghĩa ấy tánh lành. Nước dầu khuynh nguy sông núi cũng vững bền, người dầu điên đảo nghĩa trung đừng xao-lảng.

Kiều-công-Tiện nhờ Dương-tiên-Công thi-ân bố-đức mới được quyền cao lộc cả, tử ấm thê vinh, lẽ thì đêm ngày phải tận tâm kiệt lực mà chống vững gian-sơn, khuôn phò Dương-thị, đặng đền bồi ơn nặng báo đáp nghĩa dày mới phải, chớ sao lại nỡ trái lòng trở mặt, âm mưu thiết kế sát hại người ơn mà cướp ngôi, làm cho trái đạo luân thường trong nước? Từ xưa đến nay hễ người bất trung thì đất trời đều ghét, kẻ bất nghĩa thì dân chúng đều hờn. Mi đã bất nghĩa mà lại bất trung, thế thì tội mi đáng phân thây muôn đoạn.

Nay ta vì lòng bá tánh nên dẫn binh các quận huyện đến đây mà vấn tội mi. Vậy mi khá bó tay rồi mở cửa thành ra mà chịu tội cho mau đặng khỏi chiến đấu làm cho sanh linh tàn hại. Nếu mi chẳng biết ăn năn tội ác, chẳng chịu thúc thủ thọ hình, thì ta sẽ đốc binh khiễn tướng đạp nát thành trì, rồi chừng ấy mi đã không khỏi bị phân thây, mà những người thân thuộc và những người xu phụ với mi lại còn phải đứt đầu hết nữa.

Ít lời cho mi rõ, hẹn ngày mai đến giờ thìn, mi phải nạp mình không được trễ hơn nữa.


Ngô-Quyền

Ký thơ

Kiều-công-Tiện đọc thơ rồi thì ngó chư tướng, và cười và nói rằng: “Ngô-Quyền thiệt là quỉ quái, đã giả nhơn nghĩa mà gạt người, rồi lại còn muốn dùng oai-thế mà hâm-dọa ta nữa. Vậy ta phải dùng nhơn nghĩa, rồi cũng phải dùng oai-thế mà đối với nó mới được”. Công-tiện nói dứt lời, liền dạy đem viết mực ra viết một bức thơ rồi sai con là Kiều-công-Hãn đem qua Phiên-Ngung mà xin Lưu-Công, cử binh tiếp cứu.

Công-Hãn vưng lịnh lãnh thơ sửa soạn đi. Công-tiện đương căn dặn phải đi cho mau, và hễ đến nơi thì phải nài xin binh tiếp cho được, thình lình vợ là Liễu-phu-nhơn ở hậu đường dở màng bước ra hỏi rằng:

- Tướng công tính sai con đi đâu đó?

- Quốc-gia hữu sự, ta đương lo tính việc cả, phu-nhơn biết gì mà hỏi?

- Thưa tướng công, phận thiếp là đà-bà, tuy thiếp không được bàn tới quốc sự, nhưng mà thiếp thường nghe nói chưởng qua đắc qua, chưởng đậu đắc đậu. Tướng-công làm tôi Dương-diên-Nghệ, tướng-công giết Diên-Nghệ mà cướp ngôi, nay Ngô-Quyền cử đại binh đến báo thù, thiếp tưởng theo lẽ trời dầu tướng-công lo mưu tính kế cho mấy đi nữa cũng không khỏi bị hại được. Tướng-công làm điều bất trung tội ác đã nhiều rồi; nay tướng-công lại tính viện binh ngoại quốc vào mà tiếp sức, thì tội tướng-công lại còn lớn hơn nữa, bởi vì dẫn cọp vào nhà không phải dễ; ví như tướng-công thắng Ngô-Quyền được thì tướng-công lại mắc tay Lưu-Cung; còn như tướng-công thua thì tướng-công chết đã đành rồi, mà còn để tiếng xấu lại đời sau nữa. Vậy thiếp xin tướng-công xét lại; theo ý thiếp chẳng có kế chi hay hơn là cầu hòa với Ngô-Quyền, rồi cắt đất chia hai đặng một người chiếm một nơi mà cai trị, làm như vậy hoặc may tướng-công mới an thân.

Kiều-công-Tiện nạt lớn lên rằng: “Đàn-bà biết gì mà nghị luận. Việc của ta thì ta tính, phu-nhơn không được xen vào”. Liễu phu-nhơn nghe lật đật lui vào hậu dinh, không dám cãi lẽ nữa. Công-Tiện dạy Công-Hãn tức tốc đem thơ qua Phiên-Ngung, rồi công nghị với chư-tướng mà viết thơ trả lưòi cho Ngô-Quyền như vầy:

Ta vẫn biết làm người phải lấy nghĩa trung làm trọng người bất trung bất nghĩa thì phải giết đặng răng dân chúng đời sau.

Dương-diên-Nghệ làm tướng cho họ Khúc mà không tận lực khuôn phò; khi Khúc-thừa-Mỹ bị Lý-khắc-Chánh đánh bắt, Diên-Nghệ không dám liều chết với Thừa-Mỹ, rồi sau lại giã dối, mượn danh báo thù cho họ Khúc mà chiêu binh mộ tướng đặng khôi phục ngôi báu, té ra dẹp loạn yên rồi, nó không chịu tìm con cháu họ Khúc mà tôn để chiếm ngôi Tiết-đạt-sứ mà an hưởng một mình. Bá tánh ai thấy vậy cũng đều ngậm oán nuốt hờn, bởi vậy cho nên ta phải vì lòng bá tánh mà giết đứa bất nghĩa bất trung, đặng giành ngôi trời lại cho con cháu họ Khúc.

Dân trong nước phải tuân theo phép nước: Mi làm Thứ-sử Ái-châu mà không lo gìn giữ biên-cương, lại muốn toan khuấy rối trong nước, nên chiêu tập côn-đồ kéo đến đây tác loạn, lẽ thì ta phải giết mi đặng răn muôn chúng. Nhưng nghĩ vì mi mới sơ-phạm lần đầu, nếu ta hẹp lượng làm tội mi thì ta mang tiếng bất nhơn. Vậy ta kỳ cho mi đến ngày mai, đúng giờ thìn, mi phải dạy quân sĩ phân-tán, ở đâu về đó, không được trì huởn. Nếu mi cãi lịnh nầy thì ta chẳng dung mi, mà những kẻ theo mi tạo phản cũng đứt đầu hết nữa.


KIỀU-CÔNG-TIỆN

Ký thơ

Công-Tiện niêm thơ lại rồi giao cho sứ của Ngô-Quyền cầm về. Sứ khỏi cửa, Công-Tiện mới hỏi chư-tướng coi định kế làm sao mà chống cự với giặc.

Bọn văn thần thì bàn phải bế thành môn cố thủ, chờ chừng nào có binh Lưu-Cung ứng tiếp tồi sẽ xuất binh; còn bọn võ tướng thì lại nài xin phải bố trận giao phuông, quyết tận lực trổ tài mà thủ thắng.

Công-Tiện còn đương dụ-dự, bỗng nghe Kiều-Thuận thưa rằng: “Hôm nọ chúng ta đánh thử với binh tướng của Ngô-Quyền một trận, thì sức chúng nó coi cũng không mạnh gì. Tối lại chúng ta đem binh cướp trại, tuy bị thua song thua đó là vì thình lình chúng ta không đề phòng, chớ không phải chúng nó tài cao chi đó. Nay nếu chúng nó kéo binh đến trước thành khêu chiến mà ta điềm nhiên không ra cự địch thì ắt chúng nó cười ta nhút-nhát. Vậy xin nhơn huynh quyết định xuất binh; chúng nó đường xa mới đến, quân sĩ đều mệt mõi, chúng ta dùng binh khỏe mà đánh với binh mệt thì có lẽ nào mà không thắng. Nói cùng mà nghe, nếu như chúng ta yếu thế có thua nó đi nữa, thì chừng ấy chúng ta sẽ bế thành cố thủ, nghĩ cũng chẳng muộn gì”.

Công-Tiện thấy Kiều-Thuận giao chiến với mấy tướng của Ngô-Quyền hôm nọ thì biết là mãnh tướng. Nay nghe nói khẳng khái như vậy nữa, thì trong bụng mừng thầm, song anh ta nghĩ cố thủ mà chờ viện binh là kế hay hơn hết bởi vậy căn dặn chư-tướng thủ thành cho cẩn thận, phải đợi chừng nào có lịnh mới được khai thành giao chiến. Chư-tướng vưng lịnh, rồi từ nhau ai về dinh nấy mà lo phòng bị.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 03.05.2017, 15:20
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35929
Được thanks: 5309 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Xuất bản - Dã sử] Nam cực tinh huy - Hồ Biểu Chánh - Điểm: 10
Hồi 9

Ngô Thứ-sử phân binh vây Đại-La
Đỗ danh-thần dụng nghĩa vận lương thảo.



Mặt trời vừa xế bóng, Ngô-Quyền với chư-tướng đương hội nghị tại đại trại bỗng đâu sứ đem thơ về tới, vào quì trước án mà dưng bức thơ của Công-Tiện. Ngô-Quyền vội vã mở ra rồi đọc lớn cho chư-tướng nghe; đọc một câu giận một hồi chừng đọc hết rồi mới nói lớn lên rằng: “Tội ác như vậy mà còn kiếm cớ chửi mình! Tại mi muốn gây họa lớn, vậy sau mi đừng oán trách ta nghe”.

Ngô-Quyền liền truyền lịnh cho chư-tướng ai về trại nấy mà lo chỉnh bị cung thương, dặn dò quân sĩ, đầu canh năm phải thức dậy nấu cơm ăn cho xong rồi trời bình minh hễ nghe lịnh thì tấn binh vây thành công phá. Chư-tướng lãnh mạng lui ra. Ngô-Quyền kêu Đỗ-Cảnh-Thạc với Phạm-bạch-Hổ trở lại rồi dắt vào trướng mà nói rằng: “Binh của chúng ta kể gần hai vạn, còn tướng thì hơn 10 viên, ta tưởng dầu Kiều-công-Tiện có chiêu mộ tướng sĩ thế nào cũnh không đông hơn binh tướng ta được. Tuy vậy mà tôi thường nghe xưa nay chiến thắng là nhờ trí lược của tướng, chớ không phải là nhờ binh đông. Tôi xem chư-tướng như Lữ-Đường thì có tánh hốt tốc chớ không có mưu trí chi hết, còn các tướng khác thì lục lục thường tài, chẳng phải là tay dõng lược, duy có nhị vị tướng-quân, trí mưu gồm đủ, thao lược toàn tài, bởi vậy nếu báo thù được cho nhạc-phụ tôi thì nhờ sức nhị vị tướng-quân. Vậy tôi xin nhị vị tướng-quân tận tâm tận lực mà giúp tôi; nếu tôi được thành công thì chẳng những là tôi ghi tạc công ơn của nhị vị tướng-quân mà thôi, mà nhạc-phụ tôi ở dưới cửu-tuyền cũng chịu ơn của nhị vị tướng-quân nhiều nữa”.

Cảnh-Thạc với Bạch-Hổ nghe nói như vậy thì nhìn nhau chúm-chím cười rồi Cảnh-Thạc đáp rằng: “Thế khi thượng-quan nghi hai anh em tôi hay sao mà thượng-quan nói như vậy? Đã biết Dương-tiên-Công là nhạc-phụ của thượng-quan, nhưng mà ngài là ân-nhân của dân chúng và ngài là chúa của anh em chúng tôi. Nếu thượng-quan quyết lo báo thù cho lịnh nhạc-phụ, thì anh em tôi cũng quyết lo báo thù cho chúa, chớ sao thượng-quan lại sợ anh em tôi không hết lòng”. Bạch-Hổ lại tiếp rằng: “Thưa thượng-quan, tôi có lòng muốn báo thù cho Dương-tiên-Công mà thôi, chớ tôi có tài lược bao nhiêu, mà thượng-quan phân như vậy thì tôi lấy làm ái-ngại quá. Tuy hồi trước tôi không được gần gũi thượng-quan, song tôi thường có nghe thượng-quan là một người dõng lược khiêm toàn, bởi vậy sự đánh báo thù đây nếu thắng được là nhờ sức thượng-quan, chớ anh em tôi tài trí bao nhiêu mà dám kể công”.

Ngô-Quyền nghe hai tướng nói như vậy liền đứng dậy mà đáp rằng: “Chẳng phải tôi nghi bụng nhị vị tướng-quân, mà cũng không phải tôi lấy lời khiêm nhượng mà quá khen nhị vị tướng-quân. Thiệt nhị vị tướng-quân là rường cột của nước nhà, nếu nhị vị tướng-quân tận lực tận tâm thì chẳng lo chi mà không thành sự. Vậy xin nhị vị tướng-quân ráng giúp tôi, hễ thù nhà tôi trả đặng rồi thì ơn nghĩa của nhị vị tướng-quân dẫu ngàn năm tôi cũng không quên đặng”. Hai tướng thấy bộ Ngô-Quyền thiệt tình chớ không có bụng nghi ngại, thì cảm động, nên khi trở về trại nằm ngủ không được, cứ trằn trọc lo mưu tính kế coi phải làm thế nào mà tru-diệt Kiều-công-Tiện cho mau.

Đêm ấy Ngô-Quyền cũng thức mà tính hoài. Trời đã hừng sáng, quân lính cơm nước xong gần hết, Ngô-Quyền mới cỡi ngựa kim, đầu vấn khăn trắng, mình mặc giáp trắng tay cầm thương, lưng đai kiếm, ra đứng trước trại rồi cho đòi chư-tướng tề tựu mà thỉnh lịnh. Nguyễn-thủ-Thiệp thì lãnh hai ngàn binh ở lại canh giữ dinh trại. Nguyễn-Siêu có bịnh nên ở trong trại với Thủ-Thiệp. Trần-Lãm thì dẫn bổn bộ thủy quân ngăn các nẻo sông. Lữ-Đường dẫn 2 ngàn binh đánh cửa Nam; Ngô-nhựt-Khánh với Cao-đằng-Vân dẫn 2 ngàn binh đánh cửa Bắc; Lý-Khuê với Triệu-Tấn dẫn 2 ngàn binh đánh cửa Đông; Đỗ-Cảnh-Thạc dẫn 2 ngàn binh đánh cửa Tây. Còn lại 7 ngàn binh thì Ngô Thứ-sử với Bạch-Hổ thống lãnh đi vòng các cửa mà ứng tiếp.

Phát lịnh vừa xong, thì chư-tướng phân binh, trống dóng vang trời, quân la dậy đất, rần rần kéo thẳng đến thành Đại-La.

Kiều-công-Tiện viết thơ giao cho sứ rồi, thì độ trước thể nào Ngô-Quyền cũng dẫn binh đến công thành, bởi vậy đêm ấy kêu tướng là Kiều-Thuận với Phan-quế-Chi mà dặn rằng: “Tô-Cầu với Nguyễn-duy-Lang vì ta mà tử trận. Lưu-Định không nghĩ binh ta, phản tâm bội nghĩa nên đã giết rồi. Còn Công-Hãn thì ta đã sai đi viện binh. Bây giờ đại tướng trong thành chỉ còn có hai ngươi mà thôi. Vậy hai ngươi phải ráng mà giữ gìn phòng bị. Nếu hai ngươi bảo thủ thành trì được mà chờ cho binh Nam-Hán tới, thì chẳng lo chi là không giết bọn Ngô-Quyền được”. Kiều-Thuận thưa rằng: “Xin nhơn huynh đừng lo mà nhọc sức; có hai anh em tôi đây không hại chi đâu mà sợ”.

Binh Ngô-Quyền kéo tới rồi phân các cửa thành, y như lời dạy. Kiều-Thuận tánh tình nóng nảy, đứng trên dịch lầu thấy giặc kéo tới, thì hầm-hầm muốn ra đánh. Công-Tiện rầy la ngăn cấm nghiêm nhặt lắm, Kiều-Thuận mới không dám đòi ra đánh nữa. Vả thành Đại-La là một thành rộng lớn, mà lại chắc chắn; 4 mặt thành cộng chung bề dài gần 2 ngàn trượng, và mỗi mặt bề cao kể đến hai trượng rưỡi. Phía ngoài thành có đào hào sâu bao vòng chung quanh; rồi phía ngoài nữa lại có đấp một bờ đê bề mặt hai trượng, bề cao một trượng rưỡi. Nước sông Tô-Lịch chảy vào chứa đầy mấy hào luôn luôn.

Ngô-Quyền biết địa thế hiểm trở, bởi vậy tuy phân binh vây thành, song trong bụng đã tính rằng nếu muốn hạ thành Đại-La thì phải dùng chước, chớ ra sức công phá thì không bao giờ nhập thành được. Binh vây giáp vòng rồi, Ngô-Quyền mới truyền lịnh mỗi đạo đều đóng trại trên mặt bờ đê, đêm ngày phải cần canh giữ nghiêm nhặt đừng cho ai ở trong thành lọt ra ngoài, mà cũng đừng cho ai ngoài lộn vào thành. Đại binh thì đóng trại tại hướng Nam, phía ngoài bờ đê nữa.

Chiều bữa ấy Ngô-Quyền với Bạch-Hổ cỡi ngựa đi vòng theo bờ đê mà kiểm sát các trại, tới mỗi đạo đều dặn chủ tướng phải coi canh gác cẩn thận, hễ thấy trong thành động binh thì phải báo cho đại đội hay. Tối lại Ngô-Quyền với Bạch-Hổ ngồi đàm luận binh cơ, Ngô-Quyền mới hỏi Bạch-Hổ rằng:

- Tướng-quân thấy rõ địa thế rồi, vậy chớ theo ý tướng-quân bây giờ phải thể nào hạ thành?

- Thượng-quan dụng binh như thần, dầu cho Hàn-Tín hay là Khổng-Minh tái sanh cũng không hơn được, tôi đâu dám làm tài khôn mà bày mưu hiến kế.

- Tướng-quân tặng tôi thái quá như vậy tôi lấy làm hổ lắm. Tôi làm việc cầu may, nếu thành việc là nhờ sức mấy anh em, chớ tôi có tài chi mà dám sánh với Khổng-Minh, Hàn-Tín.

- Lời thượng-quan nói đó là lời khiêm-nhượng, mà nếu thượng-quan không khiêm-nhượng thì té ra thượng-quan khinh thị tôi quá, thượng-quan nghĩ lại mà coi, Cao-Biền xây thành Đại-La nầy là có ý muốn cho An-Nam dẫu muôn năm về sau cũng không thể nào phá nổi, bởi vậy cho nên làm rộng lớn mà lại chắc chắn, trong tường cao, ngoài hào sâu, binh đến đây đều đứng ngoài mà ngó, chớ làm sao mà công phá được. Nay Công-Tiện ở trong thành nghe nói nó có hơn một vạn binh; nó đã có thế hiểm mà lại có sức mạnh nữa, thế thì chúng ta làm gì mà hại nó được; nếu chúng ta áp vào công thành dầu 10 vạn binh đi nữa thì cũng phải chết, chẳng luận là một vài vạn. Thượng-quan cầm binh thấy chỗ lợi hại, nên kéo binh đến vây thành mà không cho công phá, biết thành lớn dân cư đông, dầu cho lương thực tích-tụ bao nhiêu đi nữa ăn năm ba tháng cũng phải hết, nên thượng-quan định vây chặt mà chờ dân trong thành đói chết sanh biến rồi sẽ công phá, cái kế của thượng-quan như vậy há không phải là kế hay nhứt hay sao, chớ bây giờ ỷ binh đông tướng mạnh đốc vào đánh bướng thì tôi sợ binh tướng chết hết mà thành cũng chưa chắc lấy được.

- Tướng-quân biết rõ ý tôi như vậy thì tôi mừng quá. Song tôi nói thiệt cho tướng-quân hiểu, tôi thương binh tướng lắm, thấy sự công thành hiểm trở tôi sợ hao binh tổn tướng nên định vây đỡ rồi sau sẽ liệu lượng, chớ tôi không có ý tính xa như tướng-quân nói đó. Nay nhờ tướng-quân luận việc lợi hại rõ ràng thiệt tôi cảm ơn chẳng xiết. Vậy tôi xin nghe lời tướng-quân cứ vây thành cho chặc mà chờ dân trong thành hết lương chết đói rồi sẽ công phá. Song tôi còn lo một điều nầy: ví như binh trong thành lúc gần hêt lương chúng nó nghĩ đói cũng chết thà ra đánh hoặc may thắng được còn hơn là ở trong mà chịu chết đói, rồi chúng nó liều chết nỗ lực xông ra đánh binh ta, thì ta có kế chi mà trừ cái nghị-lực liều chết ấy cho được.

- Thượng-quan đừng lo. Tôi sợ là sợ hồi chúng ta mới vừa kéo binh xông tới, tướng trong thành dẫn binh ra chiếm vòng theo bờ đê rồi núp mà ngăn cự, chúng nó ra vào thong thả, cứ vận lương mà cầm cự hoài, chớ chúng nó ám mụi, bỏ bờ đê mà rút vào thành, để cho binh ta vây chặc được rồi, thì chúng nó ở trong tay, có chi mà sợ nữa. Ví như chúng nó hết lương, liều mạng ra đánh giải vây, thì chúng nó phải ra mấy cửa, chớ lội ngang qua hào sao được; mà hễ ra cửa thì có binh ta đón đó, nếu ta khó vào thì chúng nó ra cũng không dễ gì, chúng nó thoát mà chạy khỏi một đôi tốp thì có lẽ được, chớ thắng binh ta sao cho được.

- Tướng-quân nghị luận hay quá! Vậy mà tướng-quân cứ khiêm nhượng hoài.

Sáng bữa sau Ngô Thứ-sử truyền lịnh cho chư-tướng cứ lo vây thành mà thôi, chớ không được công phá, rồi lại rút bớt Cao-đằng-Vân đem qua tây môn, thế cho Đỗ-Cảnh-Thạc, để một mình Ngô-nhựt-Khánh vây bắc môn mà thôi. Đỗ-Cảnh-Thạc, thì Ngô Thứ-sử kêu về đại trại mà hỏi rằng: “Hồi hôm nầy tôi với Phạm-tướng-quân thương nghị với nhau về kế hạ thành, thì hai anh em tôi đều hiệp ý với nhau mà nhứt định phải vây thành cho nghiêm nhặt, đợi chừng nào trong thành hết lương, nhơn dân sanh biến, quân sĩ khối tâm rồi chúng ta sẽ liệu kế mà công phá, chớ thành chắc lắm, nếu bây giờ chúng ta nóng nảy đốc quân hãm nhầu, thì sợ chết hết binh tướng mà lấy thành cũng chưa được. Hai anh em tôi tính như vậy, tướng-quân nghĩ coi có được hay không, hay là tướng-quân có mưu chi cao hơn nữa?”.

Cảnh-Thạc ngồi suy nghĩ một hồi rồi đáp rằng:

- Tính như vậy thì phải rồi, có kế nào hay hơn nữa. Song tôi nghĩ nếu mình chờ cho nó hết lương thì phải vây đến năm ba tháng. Ví như lúc ấy binh Tàu kéo qua tiếp nó thì mình bị hai mối giặc tôi e khó liệu lắm chăng.

- Tôi cũng có nghĩ đến việc ấy. Song tôi có tiếp được thơ của Dương-kiết-Lợi trấn Lục-châu, người khuyên tôi hãy ráng mà trừ Công-Tiện, sự ngăn đón binh Tàu thì để cho người tự liệu, bởi vậy cho nên tôi vững bụng khỏi lo phía đó.

- Nếu được như vậy thì tốt lắm.

- Ngặt có một diều nầy là mình muốn vây lâu ngày cho nó hết lương, thì mình cũng phải có lương cho nhiều, đủ cho binh lính ăn luôn luôn mới được. Tôi tính cắt một vị tướng để đi vận lương, mà tôi coi trong hàng chư-tướng duy chỉ có một mình tướng-quân ở Giao-châu nhiều năm, các quận huyện đều nghe danh biết mặt, bởi vậy nếu tướng-quân vui lòng lãnh đi vận lương thì chắc là thành sự.

- Nếu thượng-quan khứng giao việc ấy cho tôi làm thì tôi sẽ hết lòng lo lắng, dầu chết tôi cũng cam tâm, tôi đâu dám chối từ.

Ngô Thứ-sử thấy Cảnh-Thạc chịu lãnh đi vận lương thì mừng rỡ lắm, bèn cấp cho Cảnh-Thạc ít trăm lính và dạy Trần-Lãm giao cho 10 chiếc thuyền đặng cho Cảnh-Thạc đi. Ngô Thứ-sử thấy Nguyễn-Siêu vít thương đã lành rồi và xin ra cầm binh đặng kiếm dịp mà tẩy-hận, lại thấy vây thành đã yên, để trại tại truông Ông Hổ không ích gì, nên dạy Nguyễn-thủ-Thiệp bạt trại kéo binh tới mà nhập với đại đội, rồi dạy Thủ-Thiệp tiếp với Nhựt-Khánh mà vây bắc môn, còn Nguyễn-Siêu thì hiệp với Đằng-Vân vây tây môn.

Cảnh-Thạc lãnh binh đi vận lương, đi đến đâu cũng lấy nhơn nghĩa mà khuyến dụ, bởi vậy các châu huyện đều sẵn lòng cống hiến. Mấy nhà giàu có nghe nói Ngô Thứ-sử khởi binh báo thù cho Dương-diên-Nghệ, đã vây thành Đại-La rồi, chẳng sớm thì muộn ắt sẽ bắt Kiều-công-Tiện mà trị tội, thì thảy đều vui mừng, nên đua nhau nạp lương. Nhờ có dân tình giúp đỡ sốt-sắn như vậy, nên Cảnh-Thạc có lương tiếp tục chở về luông luôn, quân lính ăn không hết. Ngô Thứ-sử tuy hạ thành chưa được, song thấy dân tâm như vậy thì phỉ tình đắc ý vô cùng, bởi vậy càng quyết tâm vây hoài mà chờ cho trong thành hết lương, chớ không tính công phá.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 33 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Hiện đại] Hôn nhân giá ngàn vàng - Cẩm Tố Lưu Niên (HOÀN)

1 ... 54, 55, 56

[Cổ đại] Yêu nghiệt khuynh thành Minh vương độc sủng - Thụy Tiếu Trụ

1 ... 13, 14, 15

3 • [Hiện đại - Quân nhân] Hợp đồng quân hôn - Yên Mang

1 ... 37, 38, 39

4 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 46, 47, 48

5 • [Cổ đại - Huyền huyễn] Sư phụ Ma Quân đồ đệ Thượng Thần - Tô Nhị Khuyết

1 ... 7, 8, 9

[Hiện đại] Bà xã anh chỉ thương em - Nam Quan Yêu Yêu

1 ... 42, 43, 44

7 • [Xuyên không - Dị giới] Phế sài muốn nghịch thiên Ma Đế cuồng phi - Tiêu Thất Gia - New C966

1 ... 40, 41, 42

8 • [Xuyên không - Huyễn huyễn] Ma phi khuynh thế độc sủng nàng - Dạ Ngữ Phàm

1 ... 10, 11, 12

[Hiện đại] Hoa hồng nhỏ của anh - Song Du

1 ... 4, 5, 6

[Xuyên không] Chuyên tâm độc sủng mùa xuân của hạ đường thê - Vũ Sơ Tình

1 ... 10, 11, 12

11 • [Xuyên không Dị giới] Phượng nghịch thiên hạ - Lộ Phi (Phần 1)

1 ... 52, 53, 54

12 • [Hiện đại] Anh nghĩ anh sẽ không thích em - Nam Quan Yêu Yêu

1 ... 11, 12, 13

13 • [Hiện đại - Võng du] Cô dâu Hoa Yêu - Mặc Thanh Thành

1 ... 6, 7, 8

14 • [Hiện đại] Eo thon nhỏ - Khương Chi Ngư [NEW C72]

1 ... 7, 8, 9

15 • [Hiện đại] Làm thế nào để ngừng nhớ anh - Mộng Tiêu Nhị

1 ... 5, 6, 7

16 • [Hiện đại] Nhốt yêu - Sắc

1, 2, 3, 4, 5

[Cổ đại - Trùng sinh] Trọng sinh cao môn đích nữ - Tần Giản

1 ... 40, 41, 42

18 • [Xuyên không Dị giới] Phượng nghịch thiên hạ - Lộ Phi (Phần 2)

1 ... 55, 56, 57

19 • [Cổ đại] Kiêu Tế - Quả Mộc Tử

1 ... 15, 16, 17

20 • [Xuyên không] Cuộc sống nông thôn nhàn rỗi - Kẹo Vitamin C

1 ... 31, 32, 33



Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 357 điểm để mua Phù thủy mặt trăng
Sam Sam: hú cả hồn :v
Độc Bá Thiên: Bà bà tặng thỏ mi cho con ạ
Con iu bà bà nhìu nhìu nhìuuuu lém lém :kiss5:
Shop - Đấu giá: Độc Bá Thiên vừa đặt giá 294 điểm để mua Thỏ mi gió
Shop - Đấu giá: heocon13 vừa đặt giá 481 điểm để mua Mề đay đá Garnet 2
Công Tử Tuyết: Re: [Trắc nghiệm] Bạn có tò mò nhân cách thứ hai nào đang trú ẩn trong mình?
Shop - Đấu giá: heocon13 vừa đặt giá 388 điểm để mua Bướm Trắng
Shop - Đấu giá: heocon13 vừa đặt giá 474 điểm để mua Mashimaro Thanks
Shop - Đấu giá: sun520 vừa đặt giá 249 điểm để mua Thiệp giáng sinh
Shop - Đấu giá: sun520 vừa đặt giá 339 điểm để mua Phù thủy mặt trăng
Shop - Đấu giá: Xiu Ying vừa đặt giá 300 điểm để mua Bánh kem sinh nhật
Shop - Đấu giá: Sam Sam vừa đặt giá 279 điểm để mua Thỏ mi gió
Shop - Đấu giá: Độc Bá Thiên vừa đặt giá 264 điểm để mua Thỏ mi gió
Shop - Đấu giá: Phượng Ẩn vừa đặt giá 236 điểm để mua Thiệp giáng sinh
Công Tử Tuyết: Re: [Trắc nghiệm] Bạn có tò mò nhân cách thứ hai nào đang trú ẩn trong mình?
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 321 điểm để mua Phù thủy mặt trăng
Shop - Đấu giá: salemsmall vừa đặt giá 304 điểm để mua Phù thủy mặt trăng
Shop - Đấu giá: Snow cầm thú HD vừa đặt giá 547 điểm để mua Song Tử Nữ
Shop - Đấu giá: ღ_kaylee_ღ vừa đặt giá 582 điểm để mua Tiên nữ
Shop - Đấu giá: sun520 vừa đặt giá 307 điểm để mua Cậu bé vs đàn guitar
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 248 điểm để mua Giày cao gót nâu hồng
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 291 điểm để mua Cậu bé vs đàn guitar
Shop - Đấu giá: sun520 vừa đặt giá 264 điểm để mua Gấu ôm kẹo
Shop - Đấu giá: sun520 vừa đặt giá 288 điểm để mua Phù thủy mặt trăng
Shop - Đấu giá: ღ_kaylee_ღ vừa đặt giá 250 điểm để mua Gấu ôm kẹo
TranGemy: Hôm nay của bạn thế nào, How are you today?
LogOut Bomb: heocon13 -> dienvi2011
Công Tử Tuyết: Re: [Trắc nghiệm] Bạn có tò mò nhân cách thứ hai nào đang trú ẩn trong mình?
Shop - Đấu giá: salemsmall vừa đặt giá 273 điểm để mua Phù thủy mặt trăng
LogOut Bomb: thuyvu115257 -> y229917

DiendanLeQuyDon | ddLQD | Phong thu am | studio | YeuCaHat
Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.