Diễn đàn Lê Quý Đôn



Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 6 bài ] 

Những Người Nhật Vị Tha - Hasekura Isuna

 
Có bài mới 11.01.2020, 12:57
Hình đại diện của thành viên
☆~ Số 15 ca ~☆
☆~ Số 15 ca ~☆
 
Ngày tham gia: 14.10.2015, 23:36
Bài viết: 3067
Được thanks: 2099 lần
Điểm: 7.61
Tài sản riêng:
Có bài mới [Văn học] Những Người Nhật Vị Tha - Hasekura Isuna - Điểm: 10
Đang tải Player đọc truyện...
Tốc độ đọc truyện: 0.90x

(Đóng góp ý kiến về player nghe đọc truyện)


Những Người Nhật Vị Tha

Tác giả     :     Isoda Michifumi

Thể loại    :   tiểu thuyết, văn học

Công ty phát hành  :     Phương Nam

Ngày xuất bản     :    01-2018

Kích thước     :         14.5 x 20.5 cm

Dịch Giả     :         Nguyễn Đỗ An Nhiên

Giới Thiệu

Những Người Nhật Vị Tha ca ngợi những người Nhật vô tư lợi, giàu lòng trắc ẩn, khiêm nhường và hiến thân.

Kokudaya Juzaburo, một thương nhân với tâm lý sẵn sàng phá sản, thuyết phục các thương nhân khác tìm cách cứu ngôi làng đang suy kiệt về kinh tế.

Nakane Tori, nhà Nho không màng công danh phú quý, mở lớp dạy học, dạy đạo làm người cho dân làng bằng những lời lẽ dễ hiểu nhất.

Otagaki Rengetsu, tuyệt thế giai nhân thời Edo hậu kỳ, khắc thơ waka tự sáng tác lên các tác phẩm gốm của mình, rồi dùng tiền bán sản phẩm để giúp cuộc sống người dân được thuận tiện hơn.

Có thể nói đó là những con người đáng tự hào của nước Nhật và là những đức tính tốt đẹp mà những năm gần đây chúng ta đã lãng quên.

Fujihara Masahiko

(Nhà toán học – Nhà văn)

Với Nhật Bản, nghèo hơn nước láng giềng không có gì đáng sợ. Mà thứ đáng sợ thật sự là đánh mất lòng tin đích thực mà người Nhật đang có. Một đất nước mà chiếc ví bị đánh rơi đâu đó chắc chắn sẽ quay về khổ chủ hơn bất cứ nơi đâu trên trái đất này. Có thể chỉ là một việc rất nhỏ nhặt nhưng tôi cho rằng nó quan trọng hơn cuộc cạnh tranh GDP, quan trọng hơn bất kỳ điều gì.

Isoda Michifumi



LỜI GIỚI THIỆU
T

ác giả Isoda Michifumi (Ki Điền Đạo Sử) sinh năm 1970, là một nhà nghiên cứu sử học. Và đúng như cái tên được cha mẹ đặt cho, ngay từ thuở nhỏ, tác giả Michifumi đã đặc biệt yêu thích môn lịch sử. Những năm học cấp III ở trường công lập Okayama Daianji của tỉnh Okayama, Michifumi đã dùng “Tự điển đọc hiểu văn thư cổ cận thế” của gia đình để đọc các văn bản, sách cổ trong thư viện tỉnh.

Dòng họ Isoda vốn thuộc dòng dõi trọng thần của phiên Okayama, xứ Bichu, thời Mạc phủ Tokugawa nên trong nhà còn lưu giữ nhiều văn thư cổ. Ông tổ 5 đời trước của tác giả vốn là thầy dạy của phiên chủ Ikeda thời bấy giờ và cũng là người dạy Nho giáo cho Takayama Kisai – một nha sĩ thời Minh Trị, người sáng lập Đại học Nha khoa Tōkyō. Chữ “Michi (Đạo)” trong tên tác giả là “thông tự” của gia tộc Isoda, được truyền từ đời này sang đời khác.

Tuy ở Nhật cũng từng có quan niệm “húy danh” – tránh gọi tên bậc tôn trưởng trong họ tộc để tỏ lòng tôn kính nhưng không nghiêm khắc như các nước có nền văn hóa kị húy như Trung Quốc. Vì vậy, từ khoảng giữa thời Heian (794 – 1185), khi thói quen đặt tên gồm 2 chữ Hán trở nên phổ biến thì “húy danh” trở thành “thông tự (toori-ji)” hay “hệ tự (kei-ji)” trong tiếng Nhật. Người Nhật lấy một chữ đặc thù làm toori-ji của họ tộc, truyền từ đời này sang đời khác để chứng tỏ tính chính thống của người kế tục hay có ý cho biết người đó là một thành viên của họ tộc.

Isoda Michifumi đã theo học khoa Sử trường Đại học Kyōto Furitsu do có nhà sử học Mizumoto Kunihiko giảng dạy tại đây cũng như Kyōto là vùng đất còn lưu trữ nhiều văn thư cổ và di tích lịch sử. Tuy nhiên, do trường không có bậc cao học nên Michifumi vừa theo học đại học vừa học luyện thi để năm sau thi vào trường Đại học Keio Gijuku (thường được gọi tắt là trường Keio), nơi có nhà nghiên cứu Sử Kinh tế Hayami Akira làm việc. Tại trường Keio lừng danh, tác giả Isoda Michifumi theo đuổi con đường sử học cho đến khi lấy bằng tiến sĩ với đề tài “Cấu trúc xã hội của đoàn gia thần đại danh (daimyō) cận thế” dưới sự hướng dẫn của nữ sử gia Tashiro Kazui. Sau đó, từ năm 2004, Isoda đã làm việc tại nhiều trường đại học, cơ quan văn hóa khác nhau như Đại học Ibaraki, Đại học Nha khoa Tōkyō, Đại học Văn hóa Nghệ thuật Shizuoka, tòa soạn báo Yomiuri, và nay đang làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Nhật Bản Quốc tế.

Các giải thưởng Isoda Michifumi giành được đều xuất phát từ chuyên môn sử học của ông như giải “Tài liệu Shinchō” năm 2003 với tác phẩm Sổ chi tiêu gia đình võ sĩ – Duy tân thời Mạc mạt của kế toán phiên Kaga. Năm 2010, Sổ chi tiêu gia đình võ sĩ được dựng thành phim. Cùng năm, Isoda Michifumi nhận giải thưởng “Truyền thông Văn hóa” của đài NHK vì “đã giải thích về lịch sử cho khán thính giả một cách dễ hiểu, góp phần cống hiến cho việc tuyên truyền văn hóa và xây dựng địa phương năng động”. Năm 2015, Isoda giành giải thưởng “Câu lạc bộ Người viết tùy bút” vốn có truyền thống lâu đời với mục đích khích lệ những tác giả trẻ.

Từ năm 2003 đến nay, Isoda Michifumi viết gần 20 đầu sách và nhiều bài báo chuyên về lịch sử Nhật Bản trong đó đã có 2 đầu sách được dựng thành phim. Ngoài Sổ chi tiêu gia đình võ sĩ đã đề cập ở trên, bộ phim thứ hai Thưa ngài, đó là tiền lãi! dựa trên tiểu thuyết lịch sử Những người Nhật vị tha mà độc giả đang cầm trên tay. Tuy nhiên, Thưa ngài, đó là tiền lãi! chỉ đề cập đến câu chuyện của các samurai ở làng quê nghèo xứ Sendai tìm mọi cách vực dậy nền kinh tế đang suy sụp của quê mình, tức chỉ sử dụng một phần ba nội dung Những người Nhật vị tha. Bên cạnh những Kokudaya Jūzaburō, Sugawaraya Tokuheiji, Chisaka Chūnai xuất hiện trong phim cũng là những nhân vật chính trong phần đầu của sách, còn có hai văn nhân Nakane Tōri và Ōtagaki Rengetsu góp phần làm đầy đặn quyển sách này. Hẳn quý vị độc giả đang đón chờ những samurai hiện lên trang sách với hình ảnh cầm kiếm oai phong, lẫm liệt, sẵn sàng vì đạo mà tử thủ? Và có phần thất vọng khi nào “tiền lãi”, nào “văn nhân” xuất hiện trong lời giới thiệu này?

Nhưng Isoda Michifumi – một sử gia trẻ tuổi, tràn đầy nhiệt huyết, một cây bút chuyên về lịch sử sẽ không làm bạn thất vọng. Có thể các nhân vật của Isoda Michifumi không xông pha trận mạc, không lừng danh trên văn đàn Nhật Bản như những huyền thoại người người đều biết. Nhưng những Kokudaya Jūzaburō, Sugawaraya Tokuheiji, Chisaka Chūnai, Nakane Tōri và Ōtagaki Rengetsu – những con người chân thật, sống động nhất từ trước đến nay trong lịch sử Nhật Bản thời Edo mà tôi và các bạn được biết đến qua Những người Nhật vị tha sẽ lại một lần nữa chứng minh cho chúng ta thấy: Người Nhật thật biết cách làm cả thế giới kinh ngạc.

Những người Nhật vị tha không thuộc dạng tiểu thuyết thuần túy, cũng không phải dã sử, tuy hơi khó đọc một chút nhưng đủ hấp dẫn để biết thêm tinh thầnsamurai của những người Nhật xa xưa. Tác giả là một nhà sử học nên mức độ chân thật của nội dung khá thuyết phục dù sử liệu ít ỏi nhưng chính vì độ ít ỏi đó mà chân dung những người Nhật trong sách, yêu người vô điều kiện đủ làm lay động người đọc. Tôi tin chắc những samurai tay không cầm kiếm mà cầm tiền chạy đôn chạy đáo cứu làng quê, một Nakane Tōri xứng đáng được gọi là đại thi sĩ nhưng tự tay đốt bỏ tác phẩm của mình, một Ōtagaki Rengetsu đáng bậc anh thư nhưng chẳng mong người ta biết đến trong Những người Nhật vị tha sẽ khiến bạn có những giây phút dừng lại, sống chậm để nhìn lại mình và tự hỏi: Ta đã sống vị kỷ biết dường nào?

Nguyễn Đỗ An Nhiên




Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks       
            
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 20.01.2020, 01:02
Hình đại diện của thành viên
☆~ Số 15 ca ~☆
☆~ Số 15 ca ~☆
 
Ngày tham gia: 14.10.2015, 23:36
Bài viết: 3067
Được thanks: 2099 lần
Điểm: 7.61
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Văn học] Những Người Nhật Vị Tha - Hasekura Isuna - Điểm: 10
Đang tải Player đọc truyện...
Tốc độ đọc truyện: 0.90x

(Đóng góp ý kiến về player nghe đọc truyện)


KOKUDAYA JŪZABURŌ (1719 – 1777)

Xuân Michinoku thường đến muộn nhưng khi cỏ non đã nhú trên thảo nguyên, nụ hoa đã chớm đậu trên cành cây anh đào thì cánh hoa đào bung sắc, núi cười rạng rỡ. Dòng nước trong xanh chảy cuồn cuộn qua bờ ruộng như cắt ngang con đê, đem lại sự mát lành cho thôn làng. Thật không có ngày nào êm đềm, tươi xanh như thế này.

Vậy mà từ lúc nãy, Jūzaburō cứ thở dài. Phải nói đúng là vừa thở dài thườn thượt vừa thất thểu lê bước trên đường làng.

Làng Yoshioka là tên một trong những khu phố shukuba1 dọc tuyến đường Ōshū. Có khoảng hai trăm căn nhà, góc phố có một ụ đất làm mốc ichirizuka, trên đó có một cây liễu sam lớn mọc thẳng đứng như muốn khiêu khích ông trời.

1 Các khu phố có trạm dừng để truyền tin, vận chuyển thời Edo. (Các chú thích trong sách đều của người dịch)

Ụ đất phố Yoshioka là ụ thứ sáu rokurizuka tính từ thành Sendai. Tuy nói khu phố shukuba cách thành Sendai sáu ri2 như vậy nhưng hầu hết một nửa sinh kế của các hộ dựa vào nông nghiệp, vô cùng nghèo khó. Bên kia dãy nhà mái lá nghèo nàn đó là dãy núi hùng vĩ như tấm bình phong Nanatsumori (bảy cánh rừng).

2 Ri (lý): đơn vị tính khoảng cách thời xưa ở Nhật, khoảng 3,927km. Ichirizuka là ụ đất làm mốc như cột mốc cây số ngày nay. Ichi trong ichirizuka là 1, roku trong rokurizuka là 6.

Jūzaburō vốn thích ngắm cảnh từ nhỏ, thường ngắm nhìn bấy lâu nhưng càng bắt gặp vẻ êm đềm của mùa xuân hôm nay chàng càng thấy nặng trĩu trong lòng. Ý muốn ngắm nhìn dãy núi tuyệt đẹp đó bị nghiền nát, ngược lại, cảm giác thất vọng không cách nào diễn tả khiến chàng như đang lê bước trên đường.

Jūzaburō cứ thế phó mặc bước chân cho nỗi buồn, chàng thình lình nhận ra mình đã ra khỏi khu phố nhỏ, đến tận Sekigami-sama (thần hộ đê).

Sekigami-sama thờ thần Sekigami nằm cạnh sông Yoshida, được cúng bái như một miếu thờ nhỏ. Phố Yoshioka đã xây đê ngay Sekigami-sama, dẫn nước tưới tiêu khắp ruộng đồng. Khi mùa xuân đến, cỏ đuôi ngựa mọc đầy con đê bên miếu thờ.

Jūzaburō sinh ra tại khu phố này. Thuở nhỏ, cậu thường hái cỏ đuôi ngựa. Nhưng cứ mỗi lần khoe “Là cỏ đuôi ngựa con hái ở Sekigami-sama” thì y như rằng, người lớn mắt tối sầm, im lặng. Cậu bé thơ ngây hỏi cha thì được dặn:

“Phải biết ơn Sekigami-sama đấy. Sông Yoshida trông hiền hòa vậy chứ rất hung bạo. Hồi xưa, khi có đại hồng thủy làm đê chắn ở Sekigami-sama bị vỡ cho nên dân trong làng họp bàn với nhau tìm người tế thần. Cha không rõ người nào ở đâu đã bị làm vật hi sinh tế thần. Chỉ nghe kể bên làng Ohira dùng vũ lực bắt trói một nữ tu tình cờ đi ngang, mặc lời van xin rồi dân làng vừa khóc vừa chôn. Nơi cúng tế nữ tu đó là đền thờ Mikogozen ở Ohira. Con cũng từng thấy đúng không? Có thể làng Yoshioka chúng ta cũng đã từng làm việc tàn nhẫn như thế. Tóm lại, nhờ vậy, chúng ta thoát nạn lũ lụt và được cày cấy kiếm sống đời này qua đời khác.”

Câu chuyện thật sự chấn động. Jūzaburō muốn nghĩ đó là những lời bịa đặt. Cậu nhìn cha bằng đôi mắt khẩn cầu.

“Cha không bịa đâu. Có năm vỡ đê, xương người hiện ra mà. Bô lão trong làng nói đó là xương người tế thần, phải thờ cúng trong miếu.”

Miếu thờ Sekigami-sama hướng về phía Đông là để dẫn nước về ruộng, dõi theo cây lúa lớn lên. Ánh mắt cha khi nói về điều đó mờ đi như thể bản thân sắp phải làm vật tế thần.

Cha mất đã được ba năm. Ông là Jinnai, đương chủ đời thứ sáu tiệm Asanoya, thương gia duy nhất của làng Yoshioka này. Tuy đời này sang đời khác đều làm rượu nhưng tính tình Jinnai có vẻ hợp với học vấn hơn là bán buôn. Sinh thời, ông thường vui thích bắt chước thầy đồ trường làng, tập hợp bọn trẻ quanh đấy để dạy chúng đọc sách viết chữ miễn phí.

Jūzaburō là con trai trưởng, chào đời khi ông Jinnai hai mươi tuổi. Nhưng Jūzaburō không nối nghiệp cha mà đi làm con nuôi nhà làm rượu cách nhà cha mẹ đẻ chỉ mấy căn, tiệm Kokudaya. Chỉ vì nhà Kokudaya không có người nối dõi nên khi được mời “Làm con nuôi không?” thì sự cứ thế mà thành.

“Đâu nhất thiết phải đưa con trưởng đi làm con nuôi.” – Cũng có người bàn ra nhưng không hiểu vì lý do mà chuyện thành như vậy. Bây giờ, nhà cha mẹ đẻ chàng do người em trai nhỏ hơn bốn tuổi kế nghiệp, làm chủ nhân đời thứ bảy, kế thừa cả tên tuổi cha mình là Asanoya Jinnai. Cũng có khi chàng nghĩ hay là do mình bị cha đánh giá thấp, bị bỏ rơi không chừng nhưng giờ đây, có nghĩ vậy cũng chẳng ích gì.

Trong những câu chuyện về cha mình, Jūzaburō thường nhớ những năm cuối đời, cha như trút hết tâm huyết vào “lợi nhuận lâu dài” mà cứ nhắc đi nhắc lại điều này. Ban đầu, chàng chẳng hiểu cha nói gì.

“Phải làm cho cả làng phồn vinh. Cha muốn làm việc gì đó đem lại lợi nhuận lâu dài cho ngôi làng này rồi mới chết.”

Cũng có khi cha nói vậy. Không phải lời nói đầu môi chót lưỡi. Ông nói như vậy bằng đôi mắt buồn thăm thẳm, từ tận đáy lòng. Thật ra, những năm cuối đời, cha có vẻ gì đó u uất, không vui. Rồi chẳng biết tự lúc nào lại được hòa thượng chùa Kuhonji đặt cho pháp danh Kyōun-an Daiyomukei Zenshi (Giáo Vận Am Đại Dự Vô Kính Thiện Sĩ). Vì ông từng hăng say chỉ dạy ở trường làng cho con người ta nên có thể hiểu chữ “Giáo Vận Am” nhưng “Vô Kính” thì không cách nào hiểu được.

Mãi đến gần đây, chàng mới mơ hồ hiểu được lòng cha. “Những năm gần đây, làng Yoshioka thật kiệt quệ. Tương lai sẽ ra sao đây?” – Mấy ngày trước, chàng chợt nghĩ đến điều đó. Nhà cửa rách nát hiện ra cả mặt tiền, đất trống cỏ hoang mọc đầy, làng Yoshioka chàng đã sống những ngày tháng dài, nay như một cái lược mất răng, cũ kỹ. Nói cách khác, làng đã trở nên rệu rã. Nếu cứ rệu rã thế này, sự khốn khổ như địa ngục sẽ âm thầm tìm đến, phá hủy ngôi làng này mất. Một người vốn lo xa như cha đã sớm nhận ra và vật lộn với điều đó. Tiệm Asanoya của cha là một phú hộ giàu nứt đố đổ vách trong làng, tiệm Kokudaya của chàng cũng ở vị trí tương tự. Gia đình bản thân sống giàu có. Nếu chỉ nghĩ đến điều đó thôi thì chẳng cần phải lo lắng gì. Nhưng, sống ngay cạnh làn sóng bi thảm người dân nghèo trong làng Yoshioka này cứ lần lượt ra đi vì chết đói thì thật đáng sợ và không đành lòng. Chàng không biết tại sao mình thấy sợ hãi đến vậy. Nhưng gì thì gì, cứ nghĩ đến tương lai sắp đến, lòng chàng đầy bất an, toàn thân sởn gai ốc.

“Liệu người quyền quý là để loại bỏ người nông dân sao?” – Jūzaburō cứ phải nghĩ đến điều đó. Việc chàng ưu tư từ lúc nãy là có liên quan đến điều đó.

Khi chính quyền không còn bảo vệ được đời sống của chúng ta nữa, con người phải sống thế nào đây? Bây giờ, điều Jūzaburō đang vừa đi vừa nghĩ đến chính là đây.

“Ít gì cũng là kura-iri-chi thì hay biết mấy.” – Chàng nghĩ vẩn vơ. kura-iri-chi là đất trực thuộc lãnh chúa.

Không may, Yoshioka không phải kura-iri-chi mà thuộc đất ban phát. Nghĩ lại đây là khởi đầu của sự bất hạnh.

Đất ban phát chỉ miếng đất lãnh chúa ban cho trọng thần. Yoshioka được lãnh chúa ban cho gia tộc trọng thần Tadaki với mức bổng lộc 1.500 koku1. Lãnh chúa không xấu nhưng mức 1.500 koku đó thật chẳng thấm béo vào đâu. Nó quá ít để chủ đất phát cho người dân. (Cũng dân trong vùng mà mức đãi ngộ khác biệt thế này thì thật bất hợp lý). Sự thật thì người ở Yoshioka, ai nấy đều ấm ức trong lòng.

1 Trong trường hợp này, đây là đơn vị tính lượng gạo một người trưởng thành tiêu thụ trong một năm và từ đó được tính thành lương bổng của bề trên ban phát cho thuộc hạ. Cũng là đơn vị để tính diện tích đất.

“Chẳng có daimyō1 nào cổ lỗ sĩ như lãnh chúa vùng này.”

1 daimyō (đại danh): lãnh chúa cai quản một phiên thời bấy giờ.

Jūzaburō bắt đầu nghĩ đến cả điều đó. Không cần nói cũng biết, lãnh chúa vùng này là Date2 phiên3 Sendai. Dòng họ Date rất lâu đời, có dòng họ xa với ngự gia nhân của ngài Kamakura. Dòng họ này đã cai trị những vùng hẻo lánh của Nhật Bản như chủ nhân nên để lại một hệ thống xưa cũ, lạc hậu đến mức khó tin.

2 Date Shigemura (1742 – 1796).

3 Lãnh địa do lãnh chúa đứng đầu.

Chẳng hạn, họ không dùng chế độ koku-daka4 mà dùng kan-daka5. Một đồng kan quy bằng miếng đất diện tích 8 tan-bu, và gọi miếng đất 100 koku ở phiên khác là miếng đất 10 kan. Nông dân cũng dùng kan để đo diện tích đất mình có.

4 koku-daka (thạch cao): chế độ dùng sản vật địa phương làm đơn vị koku để tính.

5 kan-daka (quán cao): chế độ dùng kan làm đơn vị tiền tệ, lâu đời hơn chế độ koku-daka.

Vốn dĩ trong dòng họ Date không cho đám gia nhân chính thường trú ở dưới thành Sendai. Họ cho gia nhân sống tản mát ở vùng lãnh thổ rộng 620.000 koku, cho dựng thành quán ở đó và thực hiện trình diện luân phiên trong lãnh thổ. Kiểu gia thần như thế này rất hiếm.

Trọng thần dòng họ Date thực hiện trình diện luân phiên giữa thành Sendai và thành quán như các daimyō lui tới trình diện giữa Edo và phiên xứ của mình. Có thể nói là một cảnh kỳ quái.

Sau khi chính quyền (Mạc phủ) lật đổ Toyotomi1 đã quy định “nhất quốc nhất thành” (một nước một lâu đài), cấm tiệt các daimyō xây dựng thành quách. Vậy mà dòng họ Date lại được miễn quy định này. Jūzaburō nghe người ta nói phiên tổ Date Masamune (1567 – 1636) đã ra sức biện hộ rằng: “Đó không phải là lâu đài. Mà là sở phòng địch. Là “sở” thôi.” Tuy là ngụy biện nhưng Tokugawa2 cũng không quở trách gì nên tình trạng đó cứ nguyên như thế đến tận vùng Kyūshū và Mutsu3.

1 Toyotomi Hideyoshi (1537 – 1598): daimyō thời Sengoku (Chiến quốc), người đã thống nhất nước Nhật.

2 Tokugawa Ieyasu (1543 – 1616): shōgun (tướng quân) đầu tiên mở đầu thời đại Mạc phủ Tokugawa, còn được gọi là thời Edo (1603 – 1868).

3 Tên gọi khác của xứ Michinoku, nay thuộc tỉnh Miyagi.

Kết quả là trong lãnh thổ của Date toàn đồn lũy, mỗi đồn lũy được phân cho chức lão (trọng thần) làm “sở” phòng địch. Và Yoshioka nơi có thành quán Yoshioka cũng là đất phân phát được ném cho trọng thần Tadaki.

“Đây chính là khởi đầu không đem lại lợi lộc gì cho Yoshioka.” – Jūzaburō nghĩ vậy.

Vốn dĩ, làng phải gánh chịu quá nặng. Trách nhiệm làm trạm trung chuyển, truyền tin tenma4 thật không thể xoay xở bằng tiền thuế của nông dân bình thường. Lấy lý do sử dụng đường cái vào việc công, phiên trưng thu người, ngựa. Việc này nặng nề đến mức bất hợp lý không chịu nổi. Nó thật sự khiến cả làng suy sụp đến mức dòng họ Date cũng phải suy nghĩ.

4 tenma (truyền mã): chế độ vận chuyển, truyền tin thời Edo. Chính quyền đặt các trạm trung chuyển ở các khu vực, đường lộ đã quy định.

Họ quyết định lập nên chế độ hỗ trợ gọi là “truyền mã ngự hợp lực”, phát tiền về các shukuba, ngăn chặn kiệt quệ.

“Nhưng cách này cũng có chỗ thiếu sót.” – Mỗi lần nghĩ đến việc này, nỗi ấm ức từ tận đáy lòng Jūzaburō cứ trào lên. Thật ra Yoshikoka chẳng được trả một xu nào từ chế độ này.

“Tại sao chỉ có mỗi Yoshioka là phải chịu cảnh này? Thật là một sự phân biệt đối xử quá đáng.” – Người dân khắp khu Yoshioka ta thán lâu nay nhưng chẳng ích gì.

“Khu Yoshioka là lãnh địa của Tadaki, dân ở đó là dân của Tadaki. Có phải dân của ngài Date đâu mà đòi lãnh trợ cấp từ lãnh chúa?” – Quan lại trong phiên một mực từ chối với lý do duy nhất như vậy.

Vì vậy Yoshioka trở thành một shukuba mà chỉ cần sống ở đó thôi cũng đã là một gánh nặng. Cứ mỗi lần nạn đói kéo đến là cư dân bỏ đi, số hộ dân giảm đi trông thấy. Số hộ dân càng giảm, gánh nặng tenma mỗi nhà càng tăng, rồi số hộ lại giảm vì điều đó.

“Ngôi làng này bị kẹt trong một khởi đầu tồi tệ.” – Từ khi nhận ra điều đó, Jūzaburō chẳng mảy may xúc động khi nhìn những bông hoa đào khoe sắc. Ngược lại, nắng xuân càng ấm áp, lòng chàng càng trống rỗng.

“Nếu cứ như vầy, Yoshioka sẽ diệt vong. Không có cách nào khác sao?” – Vừa đi bên dòng nước con đê, chàng vừa nghĩ nhưng thời gian cứ lạnh lùng trôi.

Đúng lúc ấy, tên một người đàn ông thoáng hiện lên trong đầu. Tokuheiji tiệm Sugawaraya, nổi tiếng là nhà thông thái duy nhất trong làng Yoshioka. “Nếu là Tokuheiji, biết đâu…” – Chàng nghĩ vậy. Người này là một trà sư.

Từ xưa, Yoshioka vốn là nơi trồng trà. Trà uống ở Sendai hầu hết là sản phẩm của vùng này. Tuy nhiên, khi đem sang các phiên, xứ khác lại bị xem thường, chê bôi: “Đồ trà Mutsu!”

“Các xứ phương Bắc không hợp với trà đâu. “Sông đen” Kurokawa xứ Mutsu mà trồng được danh trà sao?” – Tuy bị mỉa mai, Sugawaraya vẫn không hề bận tâm.

“Ta có thể trồng được trà không thua trà Uji của Kyōto.” – Nói rồi chàng ta theo đuổi việc trồng trà. Cuối cùng Sugawaraya thật sự trồng được loại trà nổi tiếng ngang loại trà Jokisen cao cấp của xứ Uji khiến dân Yoshioka mắt tròn mắt dẹt cả lên. Sugawaraya nói năng lại hợp tình hợp lý nên cũng rất được tín nhiệm trong các cuộc họp làng.

Cửa tiệm nằm bên kia đường, xéo xéo nhà Jūzaburō. Cũng vì vậy, hôm trước, khi đến mùa hoa đào, chàng ta lại mời “qua nhà tôi uống kisen nào” như muốn khoe trà mình trồng được.

Tokuheiji ba mươi lăm tuổi nên nói về tuổi tác thì Jūzaburō hơn hẳn một giáp, cả hai đều tuổi Tý. Nói về tài sản thì bên nhà Jūzaburō hơn nhiều nhưng Sugawaraya có vẻ già dặn, lại am hiểu nên khi tiếp xúc với Tokuheiji, lúc nào chàng cũng có cảm giác như được sư phụ truyền dạy, ngược lại với sự chênh lệch tuổi tác.

Jūzaburō chờ đến khi mặt trời lặn, quyết tâm sang nhà Sugawaraya. Bên đó đã có lời mời “qua nhà tôi uống trà” thì hẳn cũng không phải ngại ngần gì. Jūzaburō băng xéo con đường trước nhà, đứng trước cổng nhà Sugawaraya.

“Đó là đêm mùng 5 tháng Ba năm Meiwa1 3 (1766) âm lịch.” – Về sau được ghi chép lại như thế.

1 Minh Hòa: niên hiệu trong khoảng thời gian 1764 – 1772.

Trà kisen thủ công nhà Sugawaraya quả thật rất ngon. Uống cạn chén trà nhỏ rồi mà hương vị sau đó vẫn thật tuyệt. Mỗi lần uống cạn là ngay lập tức, Sugawaraya lại rót chén khác.

“Được rồi, chút ít thôi.”

“Không, được người ta uống trà mình làm ra là niềm vui của tôi mà.”

“Vậy tôi không khách sáo.”

“Trà năm nay có năm loại. Vị khác nhau một chút.”

Jūzaburō lại uống cạn chén trà.

“Ồ, đúng là khác. Rất ngon. Yoshioka mà trồng được trà như vầy thì cũng là một niềm hãnh diện của phiên ta.”

Mặt Sugawaraya giãn ra.

“Tôi có một tâm niệm bí mật. Với anh thì tôi tiết lộ. Tôi đang định dâng trà này lên nhà kanpaku2 Kujō ở Kyōto.”

2 Quan bạch: tương đương quan nhiếp chính trong triều.

“…”

Jūzaburō kinh ngạc. Con người này thật không tầm thường chút nào. Trà Mutsu bị xem thường cũng là vì nơi trồng là một vùng quê xa xôi kinh thành. Nếu vậy, gửi trà đến nhà quan tối cao chốn kinh thành để tạo uy danh là xong chuyện. Chắc chắn người này chỉ nghĩ ra phương pháp giải quyết vấn đề trong khoảnh khắc nhất thời. Thứ trí tuệ không nao núng trước thế lực của nhà kanpaku lừng danh thiên hạ mà dùng quyền uy đó bình phẩm về trà mình trồng. Phải nói là một cảm giác thích thú đến run người. Hay phải nói là đáng sợ nhỉ?

“Tôi nghĩ không đến mức không thể. Nhưng nếu chỉ có mong ước thôi thì biết bao giờ mới thành. Đời sống con người có hạn. Nếu cứ như vầy, Yoshioka sẽ bị bỏ mặc. Nếu không làm ra đặc sản gì thì không thể sinh sống ở đây. Gửi trà lên kinh để quảng bá ở xứ Mutsu này cũng có thể trồng được loại trà như thế này. Làm vậy cũng có lợi cho làng ta.”

Đúng vậy. Chỉ có mong ước thôi thì tương lai chẳng thay đổi gì cả. Toàn thân Jūzaburō như có một luồng điện chạy qua. Cảm giác đầu óc như chấn động. Chàng nghĩ đến suy nghĩ hạn hẹp, cứ mãi chần chừ của mình. Và chàng bắt đầu nói như vỡ đê.

“Thật ra, tôi đang nghĩ muốn làm gì đó, nên mới đến đây.” “Ồ!”

“Mấy năm gần đây, thiên hạ khốn cùng nhưng cái cách Yoshioka Sancho này suy sụp thật quá sức tồi tệ. Cứ cách năm là nhà trống tăng lên, muốn bán nhà cũng không có người mua. Mà có tiền cũng chẳng ai mua nhà ở Yoshioka. Tôi cứ nghĩ chuyện gì thế này. Anh nghĩ chuyện này là sao?”

“Thật vậy, tôi cũng nghĩ như thế. Nhưng một khi đã nói vậy, hẳn anh Kokudaya đây đã có suy nghĩ của mình, nói cho tôi nghe được không?”

Tokuheiji cẩn thận dò hỏi. Có vẻ anh ta nghĩ chẳng may lỡ lời gì với bậc bề trên rồi bị hiểu lầm, mật báo lên thì phiền. Nếu vậy chỉ còn cách tự mình xông lên thôi. Chàng quyết định giãi bày.

“Vốn dĩ, làng này từ xưa, đất ruộng đã ít hơn so với số nông dân và ngựa. Có hai trăm hộ nhưng nông dân có ruộng rộng 1 kan (8 tan-bu) chẳng có mấy người. Người chỉ có nhà mà không có ruộng lại nhiều. Đã vậy, ai cũng làm ăn buôn bán kiếm sống nhưng gần đây, tình hình khó khăn. Tháng họp chợ sáu lần mà lần nào cũng ế ẩm, chưa kể, mấy chuyện khác cũng u ám gì đâu!”

“Đúng vậy. Tôi cũng nghĩ anh Kokudaya đây nói đúng lắm. Nhưng không chỉ có vậy. Đất ruộng đã ít lại còn không được nhận trợ cấp tenma như các shukubakhác. Thế là gánh nặng tenma càng tăng lên. Đã vậy, lãnh chúa Sendai thu nhập không như ý, cho chặt cây rừng gần đó đem bán, thế là cây gỗ cũng dần bị chặt hết. Lại nói vận chuyển những cây này nên trách nhiệm tenma càng không thể so sánh với ngày xưa, chẳng phải sao? Khốn khổ trong công việc tenma, người ta nghĩ có nhà ở Yoshioka là một thiệt thòi, chẳng còn người ở đây nữa, đó là những sự thật không thể chối cãi.”

Sugawaraya nói những điều đáng kinh ngạc. Jūzaburō nuốt nước bọt cái ực, nhìn quanh. Cửa lùa như thế, lỡ ai nghe thấy thì không hay chút nào. Chuyện đụng chạm đến bề trên mà. Sugawaraya nói rõ ràng lý do thật sự khiến shukuba khốn khổ. Đó là vì lãnh chúa.

“Vậy ta phải làm thế nào?”

“Về chuyện đó, trong lòng tôi có một ước nguyện lớn nhưng không tương xứng với thân phận của mình. Nếu làm được việc đó, nơi này sẽ được cứu. Nhưng nói gì thì nói, cần một thứ tiên quyết. Đó là tiền. Nhưng quả thật lực bất tòng tâm nên tôi giữ trong lòng bấy lâu.”

Jūzaburō đột nhiên chồm người lên. “Cần bao nhiêu để cứu nơi này?” “Một ngàn bốn, năm trăm ryō.” Sugawaraya buông gọn lỏn.

Jūzaburō thật không tài nào hiểu được một ngàn bốn, năm trăm ryō thì làm thế nào để cứu shukuba này? Nhưng người như Sugawaraya đã nói thì hẳn có đối sách bí mật nào đó chứ không sai. Jūzaburō thật muốn biết đó là gì.

“Chỉ cần có số tiền đó thì sẽ có cách à?”

“Đúng vậy, có cách. Nhưng trước mắt phải có tiền. Vì là ước nguyện to lớn để đem lại hạnh phúc cho mọi người nên không thể trộm cắp, cướp giật được chứ thật sự tôi rất muốn có tiền.”

“Anh nói là ước nguyện to lớn để đem lại hạnh phúc cho mọi người, tức là mọi người trong shukuba sẽ được cứu đúng không? Nếu chỉ cần có số tiền đó mà đem lại sự giàu có cho shukuba này thì dù phải hi sinh thân này, tôi cũng sẵn sàng.

Cách đó là gì? Nhiều năm nay tôi đã nghĩ bụng không biết có cách nào để giải quyết chuyện này không. Anh hãy cho tôi biết cách đó là gì đi!”

Những lời nói đó được thốt ra từ miệng Jūzaburō một cách tự nhiên. Bản thân chàng cũng không biết tại sao mình lại hăm hở đến vậy nhưng tóm lại, chàng đã hỏi suy nghĩ của Sugawaraya như thể cầu cạnh. Chỉ cần một ngàn bốn, năm trăm ryō là có thể cứu Yoshioka này. Jūzaburō đã chồm người lên vì lời nói của Tokuheiji. Đột nhiên, chàng cảm thấy như hào quang Phật tổ đang tỏa ra trước mặt.

“Không, không có gì ghê gớm đâu…”

Nói rồi, Sugawaraya bắt đầu nói về bí sách tái sinh Yoshioka. Một đối sách đủ gây ấn tượng cho Jūzaburō. “Không gì khác. Đó là bẩm tấu tạm gửi số tiền đó lên bề trên một thời gian, hàng năm chúng ta nhận lợi tức.”

Suy nghĩ của Sugawaraya thật đáng kinh ngạc. Nếu cứ như vầy, Yoshioka sẽ bị bề trên nghiền chết bằng những trọng trách.

Còn bây giờ ngược lại, đổi thành Yoshioka sẽ cho bề trên mượn một số tiền và hàng năm nhận lãi từ bề trên.

Nghĩa là, từ chỗ bị lấy tiền chuyển thành bên lấy tiền. Tức là không thể cứ bị phiên bóc lột như lâu nay nên Yoshioka sẽ bắt đầu cho phiên Sendai rộng lớn 620.000 koku vay tiền với tư cách một làng shukuba.

Nhưng, liệu đề nghị như vậy có được bề trên chấp nhận? Vẻ mặt Jūzaburō hiện lên nỗi bất an. Tokuheiji sắc sảo nói ngay.

“Chẳng phải bề trên tiền nong cũng đang không như ý sao? Tức là ngài không có tiền. Chúng ta tranh thủ những lúc bề trên cần tiền thật sự như khi Mạc phủ ra lệnh giúp đỡ hay trước khi lên Edo trình diện luân phiên, lúc đó mạn phép tâu lên nguyện vọng đó, chắc chắn người sẽ chịu nhận.”

“Thì ra là vậy.”

Có lẽ đúng vậy. Phiên Sendai không có tiền.

“Vả lại, từ năm ngoái, bề trên đã bắt đầu giúp đỡ các shukuba khác với lý do hợp lực. Ngoài lợi tức, có lẽ còn gia tăng ân huệ mà thêm tiền nữa thì phải. Lợi tức mười phần trăm một năm, đúng với thị trường. Nếu cho bề trên mượn khoảng 1.000 ryō, chắc chắn chúng ta sẽ nhận được khoảng 100 ryō tiền lời một năm. Và đem số này đi phát cho những nhà làm nhiệm vụ tenma ở shukuba thì về lâu dài, công việc ở shukuba cũng không bị đình trệ. Nếu không quyết chí làm thì sẽ có người chẳng còn cách nào để làm nhiệm vụ của bề trên giao cho mà gia nghiệp sụp đổ mất. Nếu số hộ trong shukuba giảm đi nữa thì việc những người còn lại bị đẩy xuống địa ngục nhiệm vụ là chuyện hiển hiện trước mắt. Thật không đành lòng. Tôi nghĩ bằng cách nào đó, chúng ta phải tập hợp được số tiền hơn 1.000 ryō để cứu shukuba Yoshioka này ra khỏi địa ngục. Thật lòng mà nói, tâm nguyện này không phải nhất thời tôi mới nghĩ ra mà đã từ lâu rồi, nó cứ luẩn quẩn trong đầu tôi nhưng nó là chuyện quá sức tôi. Như tôi nói đấy, sức tôi thật không thể gom được số tiền đó. Tôi tiếc lắm nhưng đành chịu sống như vầy bao năm nay. Nhưng tôi nghĩ thế này. Có câu “có chí thì nên” mà. Không có việc gì mà ta không làm được.

Chỉ là vì nghĩ không thể nên không làm được thôi. Anh đã hỏi như vậy nên tôi cũng nghĩ kỹ rồi. Tôi muốn đời mình phải cứu được Yoshioka bằng kế hoạch này, dù có phải đổi cả mạng sống, tôi cũng muốn thực hiện tâm nguyện này.”

Sức mạnh khẩu khí của Sugawaraya thật không tầm thường. Jūzaburō biết Sugawaraya từ khi còn nhỏ. Chàng chưa từng thấy chàng trai thông minh, lại hiền lành từ lúc mới biết đi này có ánh mắt đáng kinh ngạc và cách nói chuyện hào khí như lần này. Vì vậy, như có một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng, toàn thân Jūzaburō sởn cả gai ốc.

“Đúng vậy rồi, Sugawaraya! Tôi rất ngạc nhiên khi biết anh có tâm nguyện như vậy. Nếu đã nói vậy, tôi cũng sẽ nói cho anh nghe. Thật ra, tôi cũng thấy chỉ mỗi Yoshioka chúng ta không được trợ cấp thì thật vô lý. Tôi cũng đã nghĩ liệu không có cách nào sao, tỉ như dâng tiền, khẩn cầu người rủ lòng từ bi mà cho chúng ta trợ cấp. Nhưng bao năm nay không lo nổi tiền, nên đành im lặng, giấu nó trong lòng.”

Sugawaraya ngạc nhiên ra mặt. Dâng tiền lên bề trên cầu xin lòng từ bi và cho bề trên mượn tiền để lấy lời đúng là khác nhau, nhưng chàng thật không ngờ trong Yoshioka này cũng có người có suy nghĩ giống mình. Jūzaburō nói với Sugawaraya, vẻ quyết chí.

Những lời này được ghi chép kỹ càng trong Kokuonki (Quốc Ân kí) lưu truyền tại Yoshioka.

“Đã vậy, một khi anh và tôi cùng chung tâm nguyện rồi thì mình hãy động viên tinh thần lẫn nhau đi. Hãy cùng nhau biến trái tim thành sắt đá, tuyệt đối không từ bỏ tâm nguyện này mà cùng nhau đồng tâm hiệp lực. Chúng ta cùng thề trước thần linh, Phật tổ sẽ hoàn thành nó. Nếu chúng ta biết chờ đợi, sẽ có con đường, chắc chắn cuối cùng sẽ đạt thành. Chỉ một hạt giống nhỏ không chịu chết ngạt trong lòng đất cũng tạo ra cả ngàn cành hoa cơ mà. Trước tiên, hai người chúng ta phải vững tin sẽ làm được việc này.”

“Đúng vậy, anh Kokudaya. Trước tiên chúng ta phải có lòng tin.”

Hai người họ đã ngộ ra. Trái tim con người là hạt giống. Là hạt giống mở ra tương lai rộng lớn vô cùng. Như một hạt giống biến thành rừng cây anh đào nở hoa, chỉ cần có trái tim là chắc chắn sẽ tạo được kỳ tích kinh ngạc. Ngày nay, không những không bảo vệ được dân, quan lại đang trở thành những con người đe dọa dân chúng. Phải bằng cách nào đó mà ra tay thôi.

Tuy vậy, Jūzaburō vẫn cảm thấy lo lắng.

“Cho daimyō mượn tiền, liệu số tiền đó có quay lại thật không?” Chàng lo lắng về điểm này. Nhưng câu trả lời của Sugawaraya rất rõ ràng.

“Gì chứ? Không phải cho bề trên mượn trực tiếp. Mà là bề trên sẽ chuyển cho daimojiya (đại văn tự ốc) và tiền sẽ luân chuyển ở đó.”

Daimojiya là kuramoto (tàng nguyên) của phiên Sendai. Chuyện đó thì Jūzaburō biết.

kuramoto vừa là ngân hàng của daimyō, chính là cho mượn tiền nhưng cũng là nơi vận hành tiền bạc của daimyō. Nhà Date dùng daimojiya này để lưu thông tiền bạc. Cũng nghe nói “về mặt tài chính, daimojiya hiểu rõ hơn quan nhân”.

Như Sugawaraya nói, nếu để daimojiya lưu thông tiền thì chắc chắn sẽ có lợi tức mười phần trăm một năm.

Không tự mình vận hành số tiền 1.000 ryō mà gửi cho daimojiya lưu thông như là tiền vốn của phiên để sinh lời chắc chắn.

Đây chính là suy nghĩ kỳ diệu của Sugawaraya. Chàng nghĩ anh ta sao giỏi nghĩ ra kế sách đó.

“Vốn dĩ, nếu ở Yoshioka nghèo nàn này có 1.000 ryō đi nữa cũng chẳng có chỗ để lưu thông sinh lời.” Sugawaraya nói.

Chính xác là như thế.

Có 1.000 ryō làm vốn trong tay, kiếm được 100 ryō mỗi năm. Yoshioka này không có thương nhân nào tài tình đến thế. Nhưng Sendai thì khác. Ở đó có nhiều võ gia, nhà buôn, và cũng có nhiều người sốt ruột muốn mượn tiền.

“Nhu cầu vốn” – thời đại này chưa có từ chuyên ngành kinh tế này. Nếu có đi nữa thì “nhu cầu vốn” sẽ là từ ngữ của giai cấp đặc quyền như samurai, quý tộc, thương nhân. Giới samurai tiêu thụ bốn mươi phần trăm tổng sản lượng gạo. Nhu cầu vốn của giới samurai không nhỏ. Hay như các thương gia Sendai kinh doanh gạo phát lương, rượu, nước tương cũng có nhu cầu vốn lớn. Thời Edo, những người nắm giữ ngành vận tải, sản xuất rượu, người hoạt động tài chính với giới võ sĩ đều giàu có và có nhu cầu về vốn.

Ở đâu cũng vậy, kuramoto đều huy động vốn với lãi suất năm là mười phần trăm và cho võ gia vay với lãi suất gần hai mươi phần trăm mỗi năm. Họ lời gần mười phần trăm nên thấy như “gà đẻ trứng vàng” nhưng “không phải ai cũng có thể cho giới võ gia vay tiền” là chuyện bình thường vào thời đại này. Chưa kể, võ gia lại không trả tiền vay mượn ngay. Hình thức vay mượn cũng khó khăn. Đất đai, nhà cửa của samurai đều do lãnh chúa ban phát, không được bán nên không thể thế chấp. Cũng không có trường hợp thương nhân nào tịch thu đất của phiên sĩ không trả được nợ rồi lên làm phiên sĩ cả. Để cho võ gia mượn tiền, cần có thuật nắm được phần gạo lương của võ gia. Ngày thường, phải kết nối với người làm ở kuramoto của phiên, lựa thời cơ, trước khi gạo lương được vận chuyển đến nhà của samurai thì thu lại phần đã cho vay. Chỉ có những người nắm được đường đi nước bước đó mới có thể cho võ gia vay tiền.

Sugawaraya định xây dựng một cơ chế để cho kuramoto lưu thông tiền và Yoshioka sẽ thu tiền từ giới võ gia Sendai. “Tức là người nông dân chúng ta sẽ lấy lại phần lương đã bị lấy đi từ giới samurai.”

Có thể nói trong đầu Sugawaraya là kế hoạch xây dựng cơ chế tiền trợ cấp từ bên trên chảy xuống làng Yoshioka quê mùa, nghèo nàn. Jūzaburō không nén nổi vui mừng trước mưu trí đáng sợ đó.

Tuy nhiên, Sugawaraya vẫn còn trẻ. Thình lình Jūzaburō cảm thấy bất an trước kế hoạch quá hoàn hảo đó. Mặc dù nghĩ rằng hơi dư thừa nhưng chàng vẫn cảnh báo: “Anh Sugawaraya này, tôi nhiều chuyện một chút. Chuyện này chỉ có tôi và anh biết thôi đấy nhé. Xin lỗi chứ nếu anh nói với người khác thì sẽ bị cười vào mặt đấy.”

“Đúng là vậy. Có bị nói vậy cũng chịu.”

Sugawaraya bật cười. Đêm đó, hai người cùng nhau cười nói vui vẻ và chào tạm biệt với tinh thần sảng khoái.

Sự thay đổi, trước tiên, xuất hiện thật nhỏ nhoi trong đầu ai đó. Thoạt đầu nó biến mất như những bọt tuyết mùa xuân, sau đó lớn lên đến mức gây ngạc nhiên, thay đổi toàn thể. Nếu điều đó là bóng dáng thường xuyên của lịch sử thì có thể gọi cuộc trò chuyện của hai người đêm ấy là sự thay đổi.

Có thể đó là một suy nghĩ vĩ đại.

“Nếu cứ như vầy, tiền công hàng năm cứ bị cắt xén bớt mà thôi. Chúng ta sẽ bị các samurai bóc lột đến tận xương tủy. Ngược lại mới đúng, thường dân chúng ta phải lấy tiền từ bề trên.”

Trong cái đêm đáng ghi nhớ, ngày 5 tháng Ba năm Meiwa 3 đó, Kokudaya Jūzaburō và Sugawaraya Tokuheiji đã nói với nhau như thế.

Họ âm thầm chiêu mộ những người cùng chí hướng, gom góp số tiền 1.000 ryō để cho lãnh chúa phiên Sendai 620.000 koku mượn, hàng năm thu lợi tức 100ryō để phát cho dân làng. Và như vậy, Yoshioka sẽ được cứu thoát khỏi cảnh khốn cùng.

Tức là không gì khác ngoài việc “dân làng Yoshioka cho lãnh chúa mượn tiền và thu lại tiền từ lãnh chúa”.

Có thể nói, đương thời, đây là một tư tưởng nguy hiểm và nếu dân làng không quan tâm đến câu chuyện này thì xem như thất bại.

Vì vậy, Jūzaburō tiến hành kế hoạch này một cách thận trọng như đang đi trên lớp nước đá mỏng tang.

Vào thời Edo, bè đảng bị ghét như rắn độc. Nếu không được phép của bề trên mà ba người trở lên tụ họp lại nói chuyện chính trị thì sẽ bị xem là đồ đảng, tương đương hành vi mưu phản.

Nền hòa bình ba trăm năm của Tokugawa có được là do từ daimyō đến dân chúng đều dưới quyền cai trị của tướng quân và cả việc kết nối nhau lên kế hoạch làm gì cũng bị cấm triệt để. Thời Edo, từ “đảng” có âm hưởng gần như ác sự.

Ba trăm năm, những người dân đã được cai trị không được kết bè kết đảng, nay bước vào thời Meiji1, họ không thể nào lý giải nổi nền chính trị với đảng chính thống cũng là chuyện đương nhiên. Và điều đó đã khiến nền chính trị của đất nước này tơi tả đến tận sau này.

1 Minh Trị: niên hiệu trong khoảng thời gian 1868 – 1912. Đây cũng là khoảng thời gian diễn ra công cuộc Meiji Ishin (Minh Trị Duy tân).

Tóm lại, với người Edo, một đoàn thể kết nối chỉ là “ngôi làng” họ sinh ra, hay nếu không phải vậy thì là “buổi giảng đạo” cúng bái thần Phật mà thôi.

Lên kế hoạch liên quan đến chính trị, tập hợp mọi người này nọ sẽ là những hành vi tương đương mưu phản hay khởi nghĩa, điều đó nguy hiểm không sao đo lường được.

Jūzaburō biết điều đó. Nhưng chàng không thể điềm tĩnh được như Tokuheiji.

“Anh Jūzaburō, tôi biết anh rất nóng lòng, dù chỉ một khắc cũng muốn sớm đưa thỉnh nguyện cho mượn tiền lên bề trên để cứu Yoshioka nhưng phải chọn thời điểm thích hợp…”

Khi bị nhà thông thái Tokuheiji nhắc nhở như vậy, chàng đã bực tức thật sự. Nghĩ lại, từ khi được nghe Tokuheiji nói về kế hoạch này, đã gần nửa năm trôi qua. Bấy lâu, họ đã nhiều lần tổ chức họp bàn chỉ hai người với nhau nhưng vì thấy không tiến triển gì nếu cứ như vậy mãi, chàng giục Tokuheiji.

“Anh Sugawaraya này, vậy tôi hỏi anh. Tóm lại khi nào thì cái thời điểm thích hợp đó đến?”

“Đó là khi bề trên thiếu tiền chứ gì nữa.”

“Nếu vậy, chẳng phải ngay bây giờ cũng được sao? Nếu là lãnh chúa Sendai thì lúc nào chẳng thiếu tiền.”

“Không, nếu vậy thì không đúng. daimyō thoạt nhìn tưởng thiếu tiền nhưng thật sự không khó khăn gì. Anh thử nghĩ xem. Không có daimyō nào bị sụp đổ vì tiền nợ cả. Thứ đáng sợ nhất đối với các daimyō là khi bị Mạc phủ ra lệnh làm nhiệm vụ bất thình lình, không kịp có kế hoạch điều động tiền và không hoàn thành nhiệm vụ.”

“Đúng là nếu không hoàn thành nhiệm vụ Mạc phủ giao phó thì sự nghiệp daimyō cũng tan tành. Và chịu ô nhục với toàn thiên hạ.”

“Đúng vậy. Nói có hơi trắng trợn chứ ở đó có kẽ hở để chúng ta chen vào. Bây giờ anh cứ quan sát. Sẽ đến lúc lãnh chúa Sendai nhận lệnh tướng quân mà rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan cho xem. Đó là lúc chúng ta hành động.”

Jūzaburō chỉ biết nghĩ bụng “thì ra là vậy”.

Những lúc bình thường, có nói gì với phiên cũng vô ích. Nhưng khi phiên bị Mạc phủ dồn ép quá sức, phiên chủ sẽ gặp khó khăn vì thiếu tiền thì nhân cơ hội đó mà tâu lên: “Mạn phép bề trên, đây là số tiền 1.000 ryō làng Yoshioka gom góp được. Chúng dân cho ngài mượn, chỉ xin lấy tiền lãi 100 ryō mỗi năm.” Lúc đó, chắc chắn phiên chủ chỉ còn cách chấp nhận.

“Chẳng phải có câu “người sắp chết đuối cả cọng rơm cũng chụp” sao? daimyō cũng vậy thôi.”

Tokuheiji nói vậy rồi cười.

Cơ hội đó đã đến sớm thật bất ngờ. Không, phải nói là quá sớm. Tháng Tám năm Meiwa 3 (1766). Khắp Yoshioka rộ lên một lời đồn.

Mạc phủ có lệnh cho lãnh chúa Sendai giúp đỡ công trình xây dựng sông ngòi vùng Kantō1. Và trách nhiệm của phiên Sendai được giao cho bách tính trong phiên. Đương nhiên, dân chúng lấy làm bất mãn. Nhưng với Jūzaburō, cơ hội tuyệt hảo chờ đợi bấy lâu đã đến. Chàng không thể đè nén sự phấn khích đang trỗi dậy, vội vã chạy đến nhà Sugawaraya. Chàng muốn báo tin tốt lành này càng sớm càng tốt.

1 Quan Đông: chỉ các địa phương phía Đông Nhật Bản, bao gồm cả Edo (Tōkyō ngày nay).

“Anh Sugawaraya, cuối cùng rồi nó cũng đến. Đã có lệnh cho lãnh chúa đi giúp xây dựng.”

Nhưng thật bất ngờ, mặt Sugawaraya bỗng u ám.

“Không, rắc rối rồi. Thật không ngờ cơ hội lại đến sớm quá. Ngay bây giờ làm sao hai người chúng ta xoay cho được số tiền lớn chứ.”

“Đúng là vậy, nhưng dù gì cũng là cơ hội nên…”

“Anh Jūzaburō, để phiên chấp nhận đề nghị này mà cứu Yoshioka thì số tiền nhỏ là không thể nào. Ít nhất phải có 1.000 ryō, nếu không chẳng thể làm gì hơn. Ngay bây giờ, liệu chúng ta có được số tiền đó không?”

“Nhưng, nếu chúng ta tập hợp mọi người…”

“Đúng, phải gia tăng số người cùng chí hướng. Nhưng những chuyện như thế này, phải thận trọng, không thì gặp rắc rối to đấy.”

Đúng là vậy. Bây giờ phiên đang ép buộc nhiệm vụ xuống cho người dân trong phiên. Phiên rất lo sợ bất mãn của người dân sẽ bộc phát nên rất cảnh giác với việc tụ tập, khởi nghĩa. Nếu bây giờ làm gì không khéo mà bị mật báo lên trên thì phải chịu cảnh lao tù. Và như vậy, sẽ mất cả chì lẫn chài.

“Bây giờ tôi không nghĩ ra được cách gì ngoài việc cầu khấn thần Phật.”

Một khi người như Sugawaraya đã nói vậy, Jūzaburō chẳng thể làm gì khác.

Từ hôm đó, Jūzaburō quyết định. Trước tiên, chàng quyết không đi tắm. Làng Yoshioka có nhà tắm công cộng, chàng đã từng rất thích ngâm ở đó cho toát mồ hôi vào những ngày nóng nực. Nhưng nay chàng không làm vậy mà chuyển sang mizugori1. Sugawaraya cũng làm vậy nên chàng rất vui.

1 Tắm nước lạnh để thanh tẩy khi khẩn cầu thần Phật điều gì đó. Còn gọi là “hành thủy”.

Trong Kokuonki có viết thế này:

“Cuối cùng, họ không đi tắm ở nhà tắm công cộng quen thuộc. Sáng chiều, họ hành thủy tuyệt thực, cầu nguyện.”

Cứ như thế, họ cắt giảm tiền đi nhà tắm công cộng, lại tuyệt thực, bắt đầu để dành tiền.

“Họ đang cầu nguyện gì vậy nhỉ?” – Những người xung quanh bắt đầu thắc mắc. Nếu thanh tẩy mizugori thì hẳn có sự tình gì mới cầu nguyện – họ nghĩ vậy cũng là chuyện đương nhiên. Nhưng hai người đàn ông ấy không thể thổ lộ đang định làm một việc vô cùng to tát với đối phương là bề trên. Họ chỉ biết im lặng, tiếp tục niệm Phật khấn thần. Sau này, việc đó tạo ra một tác dụng bất ngờ nhưng cho đến lúc này, họ chẳng nghĩ gì, chỉ chuyên tâm hành thủy, cầu khấn thần linh, chư Phật.

Nhưng đã xảy ra một chuyện phiền toái.

“Kokudaya Jūzaburō với Sugawaraya Tokuheiji không giỡn chơi được đâu. Ngày nào cũng tắm nước lạnh, chuyên tâm cầu khấn như thế thì đổ bệnh mất.” Tiếng đồn lan khắp shukuba, khiến mọi người trở nên nghi hoặc.

Sugawaraya quả thật nhạy bén. Chàng nói: “Nếu kế hoạch bại lộ thì thật không hay. Thay vì vậy, có lẽ nên bàn bạc với ngài Chisaka.” Và đó là một quyết định trọng đại.

Ngài Chisaka tức là nhà Chisaka, quan ōkimoiri (đại can tiên) quản lý quận Kurokawa ở Yoshioka.

Ở phiên khác, ōkimoiri được gọi là ōjōya (đại trang ốc), người có chức tước cao nhất làng được chọn ra từ bách tính. Nhà Chisaka đã nhiều đời phụ trách chức quan ōkimoiri này ở Yoshioka, nay do Chisaka Chūnai, một thanh niên mới ba mươi tuổi nắm giữ. Nhân tiện, nhắc lại là ở phiên Sendai, shōya (trang ốc) hay myōshu (danh chủ) đều được gọi là kimoiri (can tiên).

Trong số dân làng, ōkimoiri là người có vị trí gần với bề trên nhất. Có thể nói đó là thủ hạ của bề trên. Nay Sugawaraya nói “trình bày tất cả về kế hoạch này” cho một người hoàn toàn xa cách như thế.

“Thật không đây?” – Chàng đã nghĩ vậy, nhưng:

“Anh Kokudaya này, anh thử nghĩ kỹ xem, nếu không nói cho ōkimoiri nghe, liệu tâm nguyện to lớn này có thành hiện thực không?”

Đúng là vậy. Đúng như Sugawaraya nói, nếu ōkimoiri không chấp nhận, kế hoạch này không thể tiến được bước nào cả. Chàng hiểu điều đó.

Chính ōkimoiri mới là chỗ quan trọng trong hành chính, là nơi kết nối duy nhất với phiên. Khi không thông qua ōkimoiri, gọi là otsuso (việt tố). Tức qua mặtōkimoiri mà bẩm báo trực tiếp với lãnh chúa và quan lại trong phiên thì có thể là trọng tội, thậm chí là tội chết. Nếu không theo đúng trình tự, ước muốn sẽ không thành, vì vậy trước tiên phải qua được cửa ải ōkimoiri mới có thể tiến lên phía trước, đó là điều quá rõ ràng. Okimoiri quan trọng như vậy đấy.

Sự kỳ quặc trong chính quyền võ sĩ thời Tokugawa là chính trị dân sự hầu như phó thác cho người dân trong phiên. Với ý nghĩa đó, có thể nói thời Tokugawa là thời đại “tự trị” lạ lùng. Nhà daimyō (phiên) vốn thuộc quân đội, không phải là tổ chức dành cho chính trị dân sự. Tuy cũng có cách cai trị trực tiếp bằng cách gửi võ sĩ đến các vùng nông thôn làm shōya nhưng, nếu quan sát các phiên như Satsuma sẽ thấy phương pháp đó không được áp dụng. Nếu làm như thế, người ta dự đoán bách tính sẽ chống đối. Với chính quyền võ sĩ, chỉ cần nộp thuế cho họ là đủ. Đó là phong cách của đất nước này, trước hết là của thời Tokugawa. Hình thức thỏa hiệp được hình thành giữa hai bên chính quyền võ sĩ và nông dân là hai chế độ f (thôn thỉnh) và shōya (trang ốc). Đó là chế độ chọn người trong làng có thế lực, đảm nhiệm chức shōya, chịu trách nhiệm thu thuế và công việc hành chính theo đơn vị làng. Dưới chế độ này, trên shōya còn có ōjōya với khoảng mười mấy làng, nên ōkimoiri trở thành người có quyền lực lớn nhất trong thôn làng ở ōjōya và phiên Sendai.

Trên ōkimoiri có chức quan kōribugyō (quận bổng hành) và daikan (đại quan) do võ sĩ đảm nhiệm nhưng công việc thực tế thì ōkimoiri và kimoiri xử lý tất cả mọi việc.

“Hãy điều tra dân số trong vùng” – nếu có lệnh như vậy thì người làm sổ hộ tịch và đếm nhân khẩu chính là ōkimoiri và kimoiri. kōribugyō và daikan chẳng chút động đậy, chỉ việc ngồi trên cao chờ nghe báo cáo.

Tất cả hành chính dân sự của quận Kurokawa ở Yoshioka cũng do Chisaka Chūnai là ōkimoiri phụ trách. Do đó, rõ ràng là trường hợp nhóm Jūzaburō có muốn làm gì đó, nếu ngài Chisaka không đồng ý thì chẳng thể tiến hành.

Ở Yoshioka, người ta nói “không có ai tử tế bằng ngài Chisaka”. Vì sự tử tế đó mà khi có thiên tai, nhà Chisaka suýt chút phá sản. Người ta gọi “nhà Chisaka mua thuốc” có nghĩa nhà này thường mua thuốc phát cho người bệnh nghèo khó. Cha của Chisaka thời trẻ là một người nổi tiếng nốc rượu như hũ chìm. Bà mẹ tức giận mắng: “Người nghèo không có tiền mua rượu. Còn con thì chỉ biết uống rượu mà thôi.” Thế là, kỳ lạ thay, người con thay đổi hẳn, bỏ rượu mà lạ lùng nữa là bắt đầu mua thuốc phát cho dân nghèo. Nhà nào không có tiền làm đám tang, anh ta cũng chi trả cho, người nghèo không có tiền làm đám cưới, anh ta cũng cho không. Cuối cùng, khi làng khốn khổ vì hạn hán, anh ta trút hết gia sản để đào kênh, dẫn nước khiến gia cảnh rơi vào nghèo khó, suýt bị bãi chứcōkimoiri. Nhưng dân làng không quên ơn anh ta.

“Ngài Chisaka mà không làm ōkimoiri nữa thì chúng tôi sẽ vất vả lắm.” Họ đóng góp mỗi nhà chút ít tiền, thu xếp trả các khoản nợ của nhà Chisaka. Nay đã đến đời con, cháu nhưng đương nhiên, nhà Chisaka vẫn được dân làng kính trọng hết mực.

Chisaka Chūnai bây giờ cũng được biết là người nhân đức. Trong Yoshioka, ai cũng biết rõ chuyện dạo gần đây, sức khỏe người cha già có phần sút kém, không còn minh mẫn, hay đi lang thang thơ thẩn khiến cả nhà rất vất vả nhưng hai vợ chồng không phó mặc cho người làm mà tự tay chăm sóc.

“Ngài Chisaka bận việc công, không thể thường xuyên theo bên người cha già hay đi lang thang nên phải cho người hầu đi theo. Nhưng đến chiều, nếu cha chưa về đến là ngài lo lắng ra đến tận cửa để chờ. Nếu guốc dép cha bẩn, ngài tự tay lau cho sạch.”

Chuyện này, trong làng Yoshioka, không ai không biết. Cả Jūzaburō và Tokuheiji đều nghĩ nếu là ōkimoiri bình thường, họ sẽ không bàn bạc nhưng với Chisaka Chūnai thì họ mạnh dạn nghĩ “chúng ta nói chuyện thử xem sao”.

Lối ra vào nhà ōkimoiri quả thật khác biệt. Để tránh con mắt dòm ngó của mọi người, một tối, hai người họ tìm đến nhà Chisaka Chūnai và thổ lộ tất cả về kế hoạch cứu làng Yoshioka.

Trong bóng tối, Chūnai tuyệt đối giữ im lặng, lắng nghe. Trong ánh sáng leo lét của chiếc đèn lồng, Tokuheiji trình bày chi tiết về kế hoạch, không nghỉ. Sau khi chàng nói xong, bầu không khí tĩnh lặng bao trùm cả ba người kéo dài một cách đáng sợ.

Cả Jūzaburō và Tokuheiji nín thở chờ lời nói sẽ được phát ra từ con người đầy quyền uy ngồi trước mặt. Nhưng Chūnai không nói lời nào dù đã được cho nghe một chuyện trọng đại.

Vào đúng khoảnh khắc họ vừa nghĩ “thôi xong!” thì Chūnai mấp máy cặp môi dày. Nhìn kỹ, nước mắt đang trào ra từ hai khóe mắt Chūnai.

“Dạo gần đây, có rất nhiều người tìm đến ta nhờ cậy. Nhưng hết thảy đều là những người đến vì lợi ích của riêng mình. Người hứa dâng lên số tiền lớn thì đại khái, thay vào đó là muốn được lên cấp bậc võ sĩ, thay đổi thân phận. Nghe hai người nói sẽ dâng số tiền lớn lên bề trên, thoạt đầu ta đã nghĩ cũng lại là những chuyện như vậy nhưng nghe kỹ mới thấy khác biệt một trời một vực. Hóa ra hôm nay hai người đến đây vì nghĩ đến những người không thể sinh sống ở Yoshioka này và mong muốn làm gì đó cho họ. Ước nguyện của hai người, Chisaka Chūnai này rất hiểu. Liệu có việc nào tốt đẹp hơn việc này không? Vì vậy, ta muốn nhờ hai người một việc. Kể từ đêm nay, hãy thêm ta vào số người cùng chí hướng cho kế hoạch này, có được không?”

Chūnai nói, toàn thân run lên vì xúc động. Và như thế, số người cùng chí hướng trong kế hoạch cứu Yoshioka tăng thành ba người.

Việc ōkimoiri Chisaka Chūnai tham gia có ý nghĩa rất lớn. Đến gần con dốc thứ năm mươi của cuộc đời, Jūzaburō mới hiểu ōkimoiri gánh vác vai trò to lớn như thế nào.

“Phiên Sendai, mọi việc trong quận đều giao cho ōkimoiri” – việc này được cả các phiên lân cận biết đến rộng rãi.

Phiên Sendai quá rộng lớn. Có đến mười hai quận. Việc cai quản không thể nào sâu sát được. Như nhiều phiên thời Edo, từ đầu, phiên Sendai cũng không dùng phương pháp cai trị trực tiếp bằng bàn tay võ sĩ mà giao việc các địa phương cho ōkimoiri.

Đáng ngạc nhiên là cho đến thời kỳ cuối Mạc phủ, nhà Date phiên Sendai cũng chỉ có bốn quan kōribugyō. Thay vào đó, có khoảng ba mươi daikan, mỗi quận có một, hai daikan chịu trách nhiệm hành chính nhưng thực tế, vận hành mọi việc là ōkimoiri. Trước tiên, nếu không thuyết phục được vị trí quan trọng này thì kế hoạch không thể tiến hành là một sự thật rõ ràng. Và Jūzaburō, Tokuheiji đã thành công.

Nhưng điều này cũng chỉ như mới đi được một phần mười đoạn đường lên đỉnh núi, không hơn không kém.

Jūzaburō từng thử hỏi Sugawaraya:

“Anh nói chúng ta cho phiên mượn 1.000 ryō để lấy lãi, phục hưng Yoshioka này. Nhưng nếu định làm một việc quy mô như vậy, liệu có cần xin phép ai đó không? Lẽ nào có chuyện xin phép trực tiếp lãnh chúa?”

“Đúng vậy. Không cần sự đồng ý từ trước của lãnh chúa. Ở nhà Date, có sáu bugyō lo chính sự. Chỉ cần xin được phép của nhóm bugyō này.”

“Phải cần xin phép những sáu vị bugyō, anh định làm thế nào?”

“Không, nói sáu người nhưng thật ra chỉ một người thôi. Nhà võ gia vốn không muốn dính dáng đến việc dân chính. Họ thích mấy việc liên quan đến võ bị, thiền viện, chùa chiền hơn. Cho nên những chuyện tính toán tiền bạc, hay công việc liên quan đến địa phương được xem là ti tiện, thấp kém nên chỉ có một bugyō gọi là zaiyō-kata-torikiri (tài dụng phương thủ thiết) lo thôi.”

“Ồ, vậy vị bugyō gọi là zaiyō-kata-torikiri đó sẽ là người quyết định có chấp nhận nguyện vọng của chúng ta hay không?”

“Không, không phải vậy.” “…”

“Bugyō có địa vị quá cao, nghe đâu còn không tự mình đi chợ nữa cơ mà. Cho nên còn có một người phụ trách công việc thực sự gọi là shutsunyū zukasa (xuất nhập ti) sẽ quyết định.”

“shutsunyū zukasa oai lắm à?”

“Oai. Trên ōkimoiri Chisaka là ngài daikan, trên đó có kōribugyō, rồi trên nữa là shutsunyū zukasa và các ngài bugyō. Những tiện dân thấp kém như chúng ta không thể đến gần được. shutsunyū zukasa là ngài Kayaba Moku.”

“Vậy ai mới có thể đến gần shutsunyū zukasa được?”

“Ưm, cả ngài Chisaka cũng không mong được diện kiến. Người có thể gặp chỉ là daikan.”

Jūzaburō thấy sao mà xa xôi, diệu vợi. Bọn họ còn chưa có cách gom được 1.000 ryō. Giả sử có gom được 1.000 ryō đi nữa, nào thương lượng với quan trên cầm số tiền này để xây dựng chế độ đặc biệt cấp lãi cho Yoshioka này nọ, còn quá cả mơ. Cho dù là một kế hoạch vì người trong thiên hạ, cho dù đã vứt bỏ lợi ích, tham vọng riêng tư bao nhiêu đi nữa, nhưng các quan lại bề trên trong phiên vốn rất ghét những gì chưa có tiền lệ. Trước mặt làng Yoshika là dãy núi bảy cánh rừng đen thẫm. Và việc họ lôi kéo quan lại trong phiên tham gia kế hoạch khó như đào đường xuyên dãy núi đó vậy.

Cả Jūzaburō cũng chẳng dám nói cho con cái trong nhà về kế hoạch này. Người con trai tên Otoemon. Chàng có chút khoảng cách với con trai, chưa lần nào trút hết ruột gan nói chuyện với nhau. Otoemon không phải là con ruột của Jūzaburō. Otoemon là yashinai-katoku (dưỡng gia đốc) vốn đang thịnh hành trong giới thương gia lúc bấy giờ. Nói đơn giản là con nuôi để kế nghiệp kinh doanh nên mới đến với nhà Kokudaya mà thôi. Tính tình siêng năng, đầu óc thông minh nhưng chỉ trò chuyện về công việc với Jūzaburō, nghĩ lại, giữa họ chưa từng nói chuyện gì cho ra chuyện. Cũng không phải là bất hòa hay không hợp gì. Cho đến nay, mối quan hệ của hai người chỉ là cùng nhau chu toàn công việc, không nói những chuyện không cần thiết.

Kokudaya có họ là Takahira. Không phải là họ được phiên chính thức công nhận, mà chỉ xưng với nhau như “họ ẩn” nên không được điền vào giấy tờ việc công, chỉ ký tên “Takahira Otoemon” như samurai. Ở Yoshioka, nhà buôn bán chút đỉnh, ai cũng có “họ ẩn” như thế. Thời trẻ, Jūzaburō cũng vào nhà Kokudaya – Takahira – với tư cách yashinai-katoku. Nghĩ lại thì thân phận chẳng khác nào Otoemon.

Hàng ngày, Jūzaburō cùng Otoemon – người con không cùng chung dòng máu, đứng cạnh nhau trước bài vị của tổ tiên để thắp hương, cùng nhau chắp tay cầu nguyện cho sự an bình của nhà Kokudaya.

Nay, việc Jūzaburō định làm là một việc không tưởng, nếu nghĩ trên phương diện nhà Kokudaya. Đó là hành vi đừng nói là đem lại an bình cho gia tộc mà còn có thể nguy hại đến tính mạng. Nếu thành công, có thể Yoshioka sẽ phục hồi, nhưng Kokudaya sẽ phá sản nếu làm không tốt. Một Otoemon chăm chỉ làm việc thế này sẽ nghĩ gì khi biết chuyện này? Cứ nghĩ đến là Jūzaburō không sao an lòng. Nhưng nếu không xây nền móng dưới chân cho vững chắc, kế hoạch này không thể tiến triển.

Một ngày tháng Năm năm Meiwa 5 (1768), Jūzaburō thình lình gọi Otoemon.

“Otoemon! Bây giờ ta chuẩn bị đi gặp ngài Jūbei, con đi chung với ta.”

“Có chuyện gì không ạ?” “Đi rồi biết. Mau đến đây.”

Otoemon chỉ còn cách đi theo. Ngài Jūbei là Jūbei nhà Kokudaya, cùng là đồng tộc gầy dựng thương hiệu. Khi vào đến nhà Kokudaya Jūbei cùng người con trai Otoemon, Jūzaburō bắt đầu nói như tuôn trào bao điều chất chứa bấy lâu. Chàng vội vàng kể về kế hoạch cùng với Sugawaraya định gom góp 1.000 ryō để cho phiên mượn lấy lãi, việc được cả ōkimoiri đồng tâm, nhưng tiền chưa lo đủ, chàng đang cố gắng hết mình với tinh thần hi sinh cả gia nghiệp Kokudaya.

Jūbei im lặng lắng nghe. Otoemon cũng lặng thinh. Tuy là chuyện không tưởng nhưng cũng có thể là sự mạnh mẽ của con người có chính khí. Khuôn mặt Jūzaburō đang ra sức trình bày không gợn chút phân vân, lưỡng lự mà lại có một sức hấp dẫn kỳ lạ. Hai người họ im lặng lắng nghe câu chuyện có thể khiến số phận của họ thay đổi, nhuộm trong tro xám.

Và khi Jūzaburō kết thúc toàn bộ câu chuyện, thêm vào đó, một sự việc không thể nào tin được đã xảy ra. Jūbei lên tiếng: “Anh Jūzaburō, anh thật đáng ngưỡng mộ. Tôi nghĩ nguyện vọng đó thật không thể nào. Nhưng người ta có nói muốn là được mà phải không? Cứ làm thử đi. Tôi nghĩ thần Phật sẽ phù hộ cho những việc làm tốt đẹp. Các anh không đến nhà tắm công cộng nữa mà mizugori là vì chuyện này đúng không?

Quyết không bỏ cuộc, không nản chí mà chờ thời cơ. Hãy cho ta cùng tham gia với các anh có được không?”

Jūzaburō bật khóc nức nở, nắm tay Jūbei siết chặt. Sau đó, quay sang Otoemon nói với thái độ cực kỳ nghiêm trọng: “Ta đã gần năm mươi. Khó có thể đạt được chí nguyện này khi còn sống. Nếu ta chết mà việc chưa thành, con hãy thay ta cùng đồng tâm hiệp lực với mọi người để hoàn thành đại nguyện này. Cho dù thân ta chết đi, dù phân hủy hay tan rã thì linh hồn ta sẽ luôn bên con, nhất định đạt thành tâm nguyện.”

“Lần đầu tiên con được nghe tâm sự của cha. Cha đã lao tâm khổ tứ như thế. Thật là một ý chí đáng ngưỡng mộ. Việc cha nói, không đợi sau khi cha mất đi mà bây giờ khi cha còn sống, con sẽ không chút lơ là.”

Nào ngờ Otoemon cũng nói như thế, bắt đầu dốc lòng cho kế hoạch này còn hơn cả Jūzaburō.

Mối quan hệ cha con xa cách lâu nay bây giờ được gắn kết chặt chẽ như cha con thật sự, mà không, còn hơn thế. Người trong nhà và hàng xóm lân cận không biết chuyện đó nên khi thấy sự thay đổi rõ rệt giữa hai người họ đều lấy làm thắc mắc: “Nhà Kokudaya có chuyện gì ấy nhỉ?”

Jūzaburō và Tokuheiji bắt đầu bước vào giai đoạn hoàn thiện nền móng để hoàn thành “kế hoạch”.

Như đã nói, ở phiên Sendai, người ta gọi shōya là kimoiri. Dân số Nhật Bản thời Edo khoảng ba mươi triệu người, với sáu triệu hộ dân. Cả nước Nhật có khoảng 50.000 ngôi làng, bình thường có một shōya, hơn nữa, có trường hợp một làng nhiều lãnh chủ, hay ở những làng lớn thì có vài shōya. Nếu tính cả gia đình shōya thì trên dưới 500.000 shōya, tức trong số bách tính, cứ chừng 50 người là có 1 người là shōya.

Gia đình samurai khoảng một triệu rưỡi người, nhiều hơn hẳn shōya. Nhưng những võ sĩ này thời bình chẳng giúp ích được gì. Chiến đấu là nhiệm vụ chính củasamurai nên người phụ trách hành chính trong dân chúng ít ỏi, dân chúng cả nước Nhật do 500.000 shōya chăm lo. Với ý nghĩa đó, rõ ràng, các shōya là người cai quản đất nước này. shōya (kimoiri) có trọng trách như vậy đấy. Chưa kể, về điểm “tri thức” thì shōya là báu vật của đất nước này.

Cuối thời Mạc phủ, khi Nhật Bản như bừng tỉnh thì người “có học” rất ít. Người có học có nghĩa gần như là người có thể đọc viết Hán văn, viết ra suy nghĩ của mình thành câu cú, nhưng dân số có thể làm được chuyện này lại ít không ngờ.

Samurai chừng một triệu rưỡi người, shōya chừng 500.000 người, ngoài ra thêm vào chưa đến mười phần trăm số thần quan, tăng lữ là số dân biết đọc biết viết cao quý đi nữa thì tóm lại, 500.000 shōya ở các vùng quê, nông thôn chính là người tổ chức văn hóa. Đối với bách tính trong làng, shōya là quan lại hành chính, là thầy, là người có văn hóa, thậm chí là cơ quan truyền thông loan báo các thông tin trong xã hội. Nếu không có “những người tri thức” này cắm rễ ở các vùng đất thì sẽ không giữ được quốc gia.

500.000 shōya – nếu những con người này không có tri thức, chắc chắn đất nước này sẽ bi thảm biết dường nào.

Tóm lại, kimoiri là một trọng trách nặng nề. Việc chính sự là do ōkimoiri Chisaka nhưng gì thì gì phải lôi kéo được kimoiri trong làng về cùng phe thì kế hoạch của nhóm Jūzaburō mới có thể tiến lên trước được.

“Cũng sắp đến lúc phải trình bày với kimoiri Ikuemon. Chúng ta đã đến chỗ ngài kimoiri Chisaka trước, vậy không biết nói sao với ngài ấy đây?”

Khi Jūzaburō hỏi như vậy, Sugawaraya trả lời: “Gì chứ? Không cần lo lắng đâu. kimoiri đó là người đàn ông khẳng khái. Chỉ cần ngài ōkimoiri chấp nhận, thì sẽ theo thôi. Nếu cùng mọi người thì chuyện gì cũng làm theo. Tính người đó là vậy. Tuy nhiên, không được nhượng bộ để chịu lùi một việc nào đó. Thay vì dùng lý lẽ thì nên trao nhau ly rượu, nói chuyện tình cảm tốt hơn.”

“Đúng vậy. Nói đúng ra đó là người có tình cảm.”

“Tôi muốn mời ngài ấy uống rượu. Thết đãi chỗ nào thì được nhỉ?”

“Có đấy. Ở Asanoya, nhà cha mẹ ruột tôi.”

Jūzaburō nhớ đến loại rượu dùng để thết đãi ở chỗ Asanoya Jinnai, nhà cha mẹ ruột của mình. kimoiri Ikuemon rất thích uống rượu. Chưa kể, là chỗ bà con của Jūzaburō. Họ của Ikuemon là Endō, một nhánh phân gia của nhà cha mẹ ruột Jūzaburō, Asanoya. Dòng họ Endō có bản gia là Asanoya cũng là một “danh môn” ở shukuba này. Quan trấn thủ Endō Izumi là tổ tiên của dòng họ này.

Có hẳn một ngôi mộ đá ở chùa cửu phẩm trong phố, khắc dòng chữ “Endō Izumi” rất uy nghiêm. Cũng vì vậy mà họ rất được kính trọng: “Thì ra tổ tiên nhà Asanoya là daimyō!”

Vốn dĩ, Ikuemon được lãnh chức kimoiri cũng là nhờ nguồn gốc phân gia của nhà Asanoya. Nếu từ sự tình như vậy thì Ikuemon hẳn sẽ rất biết ơn nhà Asanoya và có ý thức với việc cùng chung gia tộc với Jūzaburō. Phải dùng đến cách này thôi.

Họ tính toán sẽ mời kimoiri đến nhà Asanoya, mời rượu thết đãi rồi bày tỏ tâm tình.

Tài lực nhà cha mẹ ruột của Jūzaburō, Asanoya đặc biệt nổi bật trong vùng Yoshioka này. Không những có một căn nhà rộng lớn trên đại lộ mà còn cả dãy nhà xưởng sản xuất rượu trải dài. Asanoya cùng lúc sở hữu ba thương hiệu rượu nổi tiếng, không nhà sản xuất rượu nào trong vùng lân cận hơn được. Rượu thết đãi của họ nức tiếng xa xỉ thượng hạng.

“Mời anh đến làm chung rượu.” – Trao đổi với nhà cha mẹ ruột rồi, Jūzaburō ngỏ lời mời Ikuemon. Ikuemon vui mừng đến. Đã đến rồi thì chỉ có uống rượu. Đúng như tính toán của Sugawaraya, Ikuemon say bí tỉ. Nhưng gần đến tàn cuộc, họ vẫn chưa thể đề cập đến vấn đề chính với kimoiri này. Xung quanh đông đúc người, không thể nào nói chuyện trong bí mật.

Khi Jūzaburō không thể kiềm chế được nữa, hướng về Ikuemon với vẻ quyết định dứt khoát, thì Sugawaraya đưa mắt ra hiệu ngăn lại.

Họ cứ chần chừ như vậy đến khi buổi tiệc rượu bước vào hồi kết.

“Nếu cứ như vậy thì ngài kimoiri sẽ về mất.” – Jūzaburō sốt ruột ra mặt. Khi chàng còn đang bối rối không biết làm thế nào thì Sugawaraya nhích lại gần Ikuemon đang rất phấn khích.

“Ngài kimoiri, xem ra ngài uống chưa đủ phải không?”

“Ờ, đúng vậy. Chưa đủ gì cả. Sao, đến nhà ta uống không? Jūzaburō, cám ơn anh đã gọi tôi đến nhà hôm nay. Bây giờ chúng ta đến nhà tôi đi. Sugawaraya, thấy sao hả?”

“Vâng, vậy tôi không khách sáo.”

Đúng như ý định của mình nên Sugawaraya nhanh chóng trả lời và quay về hướng Jūzaburō với vẻ mặt “Đấy, anh thấy chưa?”.

Đến nhà kimoiri, cả hai uống đến ong cả đầu. Ngài kimoiri Ikuemon này, tính tình hào sảng, lại biết quan tâm đến người khác. Ngài có mụn con trai nối dõi tên Tōkichi, yêu thương nó hết mực. Mỗi lần rượu vào rồi thì Ikuemon bắt đầu khóc: “Ta thật lo lắng cho tương lai của thằng nhỏ.” Hôm đó, khi đã ngà ngà say, họ lại nói đến chuyện đó.

Cũng là chuyện đương nhiên. Tương lai của Yoshioka thật u ám. Có thể nói chẳng bao lâu rồi cũng như ngọn đèn leo lét trước gió, khó mà đóng nổi cống vật, thuế má tenmayaku hàng năm. Việc trưng thu cống vật là trách nhiệm của kimoiri, nếu cống nạp của Yoshioka chậm trễ thì kimoiri là Ikuemon và cả đứa con một Tōkichi sẽ bị ném vào nhà giam. Nhà giam thì chẳng khác gì địa ngục. Mùa đông vùng này khắc nghiệt, nhà giam không tường chắn, chỉ là những hàng rào gió lùa thì chỉ với một tấm áo mỏng, chắc chắn Tōkichi sẽ chết cóng.

Tuy đã cố gắng tránh nghĩ đến chuyện như thế, nhưng ngài biết rõ số phận đó đang âm thầm tiến đến. Dạo gần đây, Ikuemon thường tìm đến rượu cũng vì lý do đó.

“Không có cách nào sao?”

Khi kimoiri Ikuemon tay cầm ly rượu, mặt đỏ lựng thốt lên câu nói đó, Sugawaraya không bỏ lỡ cơ hội. Ngay lập tức, chàng tiết lộ kế hoạch của họ, giải thích chỉ cần có 1.000 ryō thì có con đường để được giải phóng khỏi áp lực nặng nề hoàn thành công việc.

Mặt Ikuemon lộ vẻ ngạc nhiên, cuối cùng ngài nói với đôi mắt lưng tròng: “Nếu cần tiền để làm việc như vậy, ta đây sẵn sáng bán tất cả gia sản, đồ đạc trong nhà cũng được. Dù có phải xách bị đi ăn mày tôi cũng cam lòng. Vợ chồng có phải bán mình đi làm thuê cũng không nề hà. Cứ nghĩ đến tương lai của Tōkichi, làm vậy chẳng phải yên tâm hơn sao?”

Rất thật lòng.

“Đúng vậy. Nếu nghĩ đến lúc cậu Tōkichi trưởng thành, trở thành kimoiri thì phải làm gì đó. Nếu cứ như thế này, con cái chúng ta rất đáng thương.”

Nghe Jūzaburō nói vậy, Ikuemon nói: “Nhưng, có điều…”

“Chuyện gì?”

“Liệu nguyện vọng đó có thành sự thật không?”

Ngài nói như vậy cũng phải. Liệu việc họ định làm sắp tới đây có khả thi không? Jūzaburō nuốt nước bọt cái ực. Chàng chưa từng hỏi Sugawaraya, nhưng với Jūzaburō, thật lòng chàng cũng rất muốn biết sự thật đó. Sugawaraya lên tiếng: “Trước tiên, phải nói kế hoạch to lớn này không đơn giản. Ừm, cũng như khỉ hái mặt trăng vậy.”

Mặt đỏ gay như khỉ, Sugawaraya nói với giọng bông đùa, phá tan bầu không khí căng thẳng.

“Thật là!” – Câu chuyện giữa ba người trở nên thân mật hơn, họ cười phá ra.

“Khỉ hái mặt trăng ư? Không làm thử sao biết được.” – Ba người họ chỉ còn cách nghĩ như vậy, trái tim họ đã quyết. Và như thế, cuối cùng Jūzaburō và Sugawaraya cũng đã thành công trong việc lôi kéo được kimoiri Ikuemon cùng tham gia. Đó là vào tháng Năm, năm Meiwa 5 (1768).

Sau đó khoảng hai tháng trôi qua, câu chuyện có tiến triển. Đã qua mùa obon1, vào một ngày nóng nực cực điểm, một lệnh thư bay đến chỗ Jūzaburō. Lật ra phía sau thấy tên người gửi là: Miuraya Sōemon, phố Yanagi, Sendai. Không phải chuyện tầm thường. Miuraya là thương gia nổi tiếng vùng Sendai, đảm nhận việc công trong phiên. Nói cách khác, đó là thương gia giàu có nhất trong số các thương gia phiên Sendai, khác hẳn với thương gia shukuba quê mùa như Jūzaburō. Tay run run, Jūzaburō mở phong bì. Đúng là nét chữ do chính tay Miuraya viết.

1 Mùa lễ hội tưởng nhớ những người đã khuất trong gia đình, thường được tổ chức trong 3 ngày 13 ~ 15 tháng Tám. Có địa phương làm theo âm lịch.

“Mới đây, tôi được giao trọng trách đúc tiền, chūsen goyō (chú tiền ngự dụng). Theo đó, xưởng đúc cần rất nhiều người làm việc. Bề trên có lệnh tuyển chừng mười bốn, mười lăm người có nhân cách để phụng sự. Do đó, liệu ngài có thể cho người nối dõi của mình, cậu Otoemon, làm người cai quản ở xưởng đúc tiền được không? Tôi biết lời đề nghị này thật không có lý chút nào. Nhưng tôi không nghĩ ra được ai khác. Nếu là cậu Otoemon, tôi biết rõ con người cậu ấy nên không chút lo lắng. Vì vậy, rất mong ngài xem xét trước sự vô tâm này của tôi.”

Nội dung bức thư thật đáng kinh ngạc. Jūzaburō không biết phải làm thế nào. Phiên bắt đầu cho đúc tiền, và người quản lý công việc đó, Miuraya chỉ đích danh con trai Jūzaburō là Otoemon.

Chūsen – không cần phải giải thích nhiều, tức là đúc tiền xu. Sự kỳ lạ của thời đại Edo là công việc phát hành tiền tệ vốn là quyền của chính phủ lại không do chính phủ thực hiện mà được ủy nhiệm cho giới thương nhân trong xã hội.

Tiền xu Kanei – được đúc bằng đồng hoặc sắt nhưng chính quyền trung ương là Mạc phủ Tokugawa không hề nhúng tay vào việc phát hành đồng tiền cơ bản này.

Trước hết là các shinpan1 (thân phiên), và đến cả tozama daimyō2 (ngoại dạng đại danh) cũng được cho phép đúc tiền.

1 Chỉ các phiên có người đứng đầu là con cháu trực hệ của dòng họ Tokugawa, một trong ba nhóm daimyō thời Edo. Nếu dòng họ Tokugawa không có con trai nối dõi shōgun (tướng quân) thì sẽ tuyển người từ các phiên này.

2 Một trong 3 nhóm daimyō thời Edo, chỉ các dòng họ theo phụng sự Tokugawa từ trước trận Sekigahara. Nhóm đầu tiên là shinpan (chú thích trên), nhóm còn lại là fudai daimyō (phổ đại đại danh) chỉ các dòng họ theo phụng sự Tokugawa sau trận Sekigahara.

Đương nhiên, phải tiến hành dưới sự cho phép của Mạc phủ nhưng đó chỉ là phép xã giao bên ngoài, chứ các daimyō được phép đúc tiền vốn khó khăn về tài chính, thường mong có tiền không gì bằng nên họ thường đúc tiền một cách vô độ. Chưa kể, công việc đúc tiền này không phải do phiên trực tiếp quản lý, mà được giao phó cho thương gia giàu có. Một đại sự quốc gia là đúc tiền mà được giao chuyền từ chính phủ xuống phiên, từ phiên xuống thương gia như thế. Việc thương nhân đúc tiền theo lệnh của phiên được gọi là chūsen goyō. Và Miuraya được giao cho việc này.

Cách làm thừa thãi, phó mặc việc phát hành tiền cho người khác của Mạc phủ Tokugawa dẫn đến thảm kịch thời kỳ cuối Mạc phủ. Các phiên như Satsuma phát hành tiền giả, khuếch trương ngân khố của phiên. Một đồng tiền xu Kanei chỉ bằng một mon (bằng 50 yên ngày nay) nhưng lại có đồng tiền tenpō. Đó là loại tiền đáng sợ khi lưu thông với giá trị một đồng tenpō bằng 100 mon (5.000 yên ngày nay). Bằng cách xây dựng đồng tiền tenpō này làm “tiền riêng”, Mạc phủ các phiên đã làm giàu nhanh chóng. Để cho các phiên đúc tiền, Mạc phủ đã vô tình tự siết cổ mình.

Tóm lại, đó là một sự kiện trọng đại. Jūzaburō chạy ngay đến chỗ Sugawaraya. Phản ứng của Sugawaraya sau khi nghe chuyện thật bất ngờ. Chàng vui mừng nhảy cẫng.

“Anh Jūzaburō à, đây quả là một tin tốt lành đấy. Có thể nói là cơ hội ngàn năm có một. Như vậy thì những con khỉ như chúng ta cũng có thể hái được mặt trăng trên trời không chừng.”

“…”

“Cuối cùng thì bề trên đã cạn tiền, bắt đầu cho đúc tiền rồi. Không còn cách nào khác. Miuraya Sōemon là thương gia được bề trên giao trọng trách. Con trai của anh lọt mắt xanh Miuraya rồi. Làm cai quản ở xưởng đúc tiền là một chức vụ lớn. Nếu nhận nhiệm vụ này, đương nhiên, sự tin cậy của bề trên cũng khác hẳn.”

“Nghĩa là, nếu Otoemon nhà tôi mà được lãnh trọng trách đó thì có lợi cho việc khởi bẩm nguyện vọng phục hưng Yoshioka của chúng ta?”

“Đúng vậy. Chuyện sẽ hoàn toàn khác hẳn. Chưa kể, không chỉ có vậy. Lại có tiền nữa.”

“Lẽ nào?”

“Anh không hiểu sao? Tuy Miuraya giàu nhất vùng Sendai, nhưng anh nghĩ liệu họ có thể đúc tiền bằng chỉ tiền của họ mà được sao?”

“Chuyện đó thì khó rồi.”

“Để đúc tiền cần một số tiền khổng lồ. Nào xây nhà xưởng, nào thuê nhân công, mua đồng, xây lò, mua củi. Chắc chắn thời gian đầu sẽ tốn rất nhiều tiền. Trước tiên, nhà Miuraya sẽ hết tiền. Nhưng, sau đó thì khác đấy. Miuraya sẽ cho đúc thật nhiều tiền với tư cách quan đúc tiền của phiên. Mà đúc tiền thì chắc chắn không sinh lời. Đây là chỗ chúng ta cần để mắt tới.”

“Anh nói chúng ta sẽ làm gì hả?”

“Miuraya lúc đó sẽ thiếu tiền nên tạm thời chúng ta sẽ cho họ mượn, sau đó, đề nghị họ trả dôi ra.”

“Chà, liệu có làm được không?”

“Được! Không có cách nào làm tăng số tiền một cách chắc chắn như cho mượn tiền để đúc tiền cả. Nếu chúng ta cho mượn tiền thì Miuraya sẽ mang ơn chúng ta. Sau khi đúc tiền thành công, Miuraya sẽ trở nên thong thả, thoải mái hơn. Lúc đó, chúng ta sẽ đề nghị mượn số tiền lớn để phục hưng Yoshioka là được.”

“Thì ra là vậy.”

“Chưa kể, nếu anh gửi Otoemon lên đó, chúng ta sẽ nắm được tình hình xưởng đúc tiền kịp thời. Có lẽ, Miuraya để mắt tới nhà anh không chỉ vì đánh giá cao con người của Otoemon mà còn muốn mượn tiền từ người có tiền tích lũy như anh. Có lẽ họ cũng có chút tính toán như vậy đấy. Biết đâu chừng cuối năm nay là Miuraya sẽ đề nghị anh cho mượn tiền. Từ bây giờ nên gom tiền đi là vừa.”

Đầu óc con người này thông minh đến mức nào vậy? Anh ta thông suốt mọi việc khiến Jūzaburō kinh ngạc đến sợ.

Chấp nhận đề nghị của Miuraya, Jūzaburō gửi Otoemon đến xưởng đúc tiền. Và đúng như dự báo của Sugawaraya.

Miuraya đã lên tiếng đề nghị “Cho tôi mượn tiền”. Đúng như Sugawaraya nói, khoảng cuối năm, Miuraya thiếu tiền để trả lương cho nhân công và mua củi đốt nên đề nghị mượn 550 ryō.

“Tiền lãi cao thế nào cũng chịu.” – Miuraya đã nói vậy.

Sugawaraya nhanh chóng hành động. Ngay lập tức, chàng sai người đến chỗ ōkimoiri Chisaka Chūnai và tập hợp nhóm những người đồng chí Chūnai, Ikuemon, Jūbei, Junai đến để giải thích.

“Nếu chỉ chúng ta thì khó lòng gom đủ 1.000 ryō được ngay. Tạm thời bây giờ chúng ta cho Miuraya mượn 500 ryō, sau đó sẽ mượn lại từ Miuraya số tiền lớn.”

“Liệu thật sự có ổn không?” – Có người lên tiếng lo lắng trước công việc đúc tiền. Nhưng, Sugawaraya nói: “Đúng là sẽ mất thời gian cho đến lúc đúc tiền thành công. Nhưng, dù gì đi nữa, cũng có cái gọi là vận may từ trên trời rơi xuống. Nếu không nhận lấy vận may đó, ngược lại, vậy phải chịu phạt, chẳng phải vậy sao? Vậy thì bây giờ, ta nên quyết chí làm thì tốt hơn.”

“Chẳng phải đây là lúc để đạt thành chí nguyện to lớn của chúng ta sao?” Jūzaburō đưa ra kết luận. Chàng cùng Sugawaraya, “nhị khẩu nhất thiệt” (hai miệng một lưỡi) (Kokuonki) thuyết phục mọi người cùng đồng ý.

Một khi đã quyết định cho Miuraya mượn tiền thì trước mắt, phải gom tiền. Cả nhóm tức tốc bắt đầu kế hoạch. Tuy lòng tin đối với việc đúc tiền khá mơ hồ nhưng lòng tin dành cho Miuraya khá sâu sắc.

“Ai chứ nhà Miuraya đó thì cho mượn tiền chắc chắn sẽ được trả lại.” – Họ lấy làm yên tâm như thế. Bất kể sáng tối, bọn họ ra sức thống kê, xem xét gia sản. Họ tính từng món đồ, y phục, đến cả căn nhà để đưa vào thế chấp. Đặc biệt, Sugawaraya đã đem mọi thứ trong nhà đi cầm. Chàng đem cả gia nghiệp là sách sản xuất trà bí truyền đi cầm.

Jūzaburō đã nói “không cần phải làm như thế” nhưng chàng không nghe. Kinh ngạc là Sugawaraya còn đem cả thứ chàng quý trọng chỉ sau sinh mạng đến tiệm cầm đồ. Mùi hương trà do Sugawaraya sản xuất rất tuyệt vời. Danh tiếng vang đến tận kinh thành.

Haru no kaze

Kaori mo koko ni

Chiyo kakete

Hana no rokosu

Sueno Matsuyama.

Dịch ý:

Hương thơm làn gió xuân

Tỏa ngát đến tận nơi này

Trải qua ngàn năm

Sóng hoa trập trùng

Núi Sueno Matsuyama.1

Chàng đem đi cầm cả bài waka2 được công khanh Kujō ban cho.

1 Bài thơ nhắc đến năm loại hương trà: gió xuân (harukaze), hương thơm (kaori), ngàn năm (chiyo), sóng hoa (hana no rokosu) và Sueno Matsuyama (cũng là tên ngọn núi trong vùng).

2 Hòa ca: thể thơ truyền thống có 31 âm tiết của Nhật.

Biết được việc đó, Jūzaburō nói: “Chẳng phải đó là thứ anh quý chỉ sau sinh mạng mình thôi sao? Đem đi cầm vậy có được không?”

Sugawaraya bình thản đáp: “Gì chứ? Những lúc như thế này mới là lúc đem đi cầm những báu vật khiến người ta kinh ngạc đấy. Làm vậy thì mọi người sẽ hứng khởi hơn.”

Và cuối cùng, họ gom được 450 ryō. Số tiền vốn có thể gọi là dòng nước tái sinh Yoshioka đã được sinh ra như vậy.

Xuân mới năm Meiwa 6 (1769). Ngày 16 tháng Giêng là yabuiri – ngày gia nhân, tiểu đồng, tiểu tăng khắp mọi nơi ai nấy được nghỉ phép về quê.

“Đến mùa yabuiri, cả nắp vạc dầu nơi địa ngục cũng để mở.” – Ở Yoshioka, nắp vạc các nhà đều để mở, hầu gái nấu cơm được cho về quê, nước sôi cũng không được nấu. Nhà tắm, tiệm cắt tóc cũng đóng cửa nghỉ.

Khi cả khu phố trở nên tĩnh lặng như thế thì Otoemon đang tham gia công việc đúc tiền ở Ishinomaki quay về Kokudaya. Chàng trai trẻ đem theo một tin tốt lành. “Công việc đúc tiền đang rất thuận lợi, phát triển hàng ngày. Ngài Miuraya Sōemon đang có lời.”

Jūzaburō chạy như bay đến chỗ Sugawaraya.

“Anh Sugawaraya này, Otoemon nhà tôi mới về đến. Nghe nói Miuraya đang gặp thuận lợi lắm.”

“Quả đúng là vậy nhỉ. Nhưng phải nói, Miuraya quả thật lợi hại.”

“…”

“Ngài ấy nói “đúc tiền, cần người, cần tiền” rồi lấy đi con trai của anh, Otoemon. Dùng người rồi lại đánh tiếng “vì đúc tiền theo lệnh bề trên nên chắc chắn có lời” để định lấy tiền từ tay chúng ta.”

“Đúng là ngài Miuraya có nói “tiền lãi cao bao nhiêu cũng được” mà.”

“Thế nhưng, chẳng phải nội dung khác sao? Sau đó, nào là theo luật quản lý đúc tiền, không trả được. Hãy chờ thêm chút đi. Họ vừa nói một chuyện thật không hiểu được. Nếu có lời thật thì Miuraya đã trả tiền được rồi. Anh Kokudaya này, chúng ta đi Ishinomaki đàm phán đi.”

“Để lấy lại số tiền đã cho mượn à?”

“Chẳng phải vậy sao. Chuyện đó là đương nhiên. Lấy lại cả vốn lẫn lời 450 ryō đã cho mượn, và sau đó còn phải mượn tiền vốn từ Miuraya đó. Tổng cộng 1.000 ryō. Phải lấy từ Miuraya.”

“Anh đừng nói chuyện không tưởng như thế chứ. Liệu chúng ta có thể làm được việc đó sao?”

“Được hay gì đi nữa, đó chẳng phải là lời hứa giữa chúng ta và Miuraya sao?”

Đúng là vậy. “Nếu có lời từ việc đúc tiền, ta sẽ xuất vốn để phục hưng Yoshioka.” – Miuraya đã cam kết như vậy.

Nhưng dù gì đi nữa, Sugawaraya lúc nào cũng khiến người ta kinh ngạc. Con người này sắc sảo hay dũng cảm? Nhưng nếu theo kết quả lâu nay thì chàng ta luôn thắng. Cả sự việc lần này hẳn cũng nằm trong tính toán nước đi rồi. Chỉ còn cách theo chàng ta thôi.

“Anh có nước đi để giành phần thắng rồi à?” Trên đường đi Ishinomaki, Jūzaburō rụt rè hỏi thử. Sugawaraya nói: “Anh là người nhà của Miuraya mà đúng không?”

“…”

Sự thật đúng là vậy. Tuy bây giờ Miuraya là thương gia giàu có vùng Sendai nhưng cha ông ấy sinh ra ở Yoshioka, bà con họ hàng vẫn còn sống ở nhiều nơi trong Yoshioka. Jūzaburō cũng là một trong số đó nên việc Miuraya đề nghị con trai của Jūzaburō là Otoemon đến giúp việc đúc tiền cũng phần lớn xuất phát từ đó.

“Bề trên không kiếm lời được ở việc đúc tiền. Nhưng người nhận làm thì có lợi. Hệ thống đã như vậy rồi. Với Miuraya bây giờ, 1.000 ryō là số tiền có thể thanh toán được. Nhưng với một thương gia tầm cỡ như thế thì có chút xảo quyệt. Sự xảo quyệt đó là cố tình im lặng. Cho đến lúc bị hối thúc, món nào không trả cũng yên thì sẽ im lặng, không trả. Chỉ là vậy thôi.”

“Tuy nói vậy nhưng…”

“Anh thử nghĩ xem. Nếu Miuraya vì việc trên giao cho mà xảy ra tranh chấp với chúng ta thì sẽ ra sao? Miuraya đã đóng dấu trên giấy tờ làm chứng rồi. Nếu nuốt lời thì còn gì thể diện, đúng không? Với những cửa hiệu lớn như vậy thì rất ngại dư luận. Vả lại, Miuraya xuất thân từ Yoshioka. Nếu bỏ mặc Yoshioka thì cũng không còn mặt mũi về viếng mộ tổ tiên.”

Ra là vậy, những lời Sugawaraya nói thật có lý. Nếu Miuraya không trả những gì đã nói sẽ trả thì đó là tội lỗi của Miuraya. Sugawaraya đã thương lượng một cách có tính toán với việc Miuraya sợ mất thể diện với dư luận quần chúng. “Những việc như thế này, chỉ có cách đường đường chính chính trình bày lên bề trên ở một sân khấu có thể trổ tài. Vì vậy, ngài Jūzaburō, từ bây giờ phải chuẩn bị đạo cụ đấy. Giúp tôi một tay nào.”

Nói rồi, Sugawaraya cho tay vào nẹp áo. Chàng rút ra một mảnh giấy kỳ dị. Nhìn kỹ thì đó là Kumano Go-ōfu (Năng dã ngọ vương phù). Kumano Go-ōfu là giấy dùng để viết lời thề. Vì có in hoa văn quạ đen là sứ giả của đền thờ Thần đạo Kumano mà nó còn được gọi là Kumano Go-ōfu1. Kể từ thời trung cổ, ở đất nước này, khi thề trước thần linh thì viết lời thề ước đó vào giấy này. Người ta tin rằng nếu không giữ lời hứa đã được viết trong Kumano Go-ōfu thì sẽ có một con quạ chết ở đâu đó và trước sự tức giận của thần Kumano, người lập lời thề sẽ thổ huyết mà chết. Người đó sẽ rơi xuống địa ngục, liên tục bị đốt bởi ngọn lửa của nghiệp chướng.

1 “Karasu” có nghĩa là con quạ, thêm “o” và “san” là cách nói lịch sự, tôn kính.

Không biết Sugawaraya có được Kumano Go-ōfu từ đâu, nay đem ra đưa cho Jūzaburō.

Lên đến phủ đúc tiền, ngay lập tức họ đến gặp Miuraya Sōemon. Phủ đúc tiền có những gương mặt quan lại cai quản nổi tiếng mà trước hết phải kể đếnkaneshi mới từ Edo về, hoặc đại diện thương gia đầu tư. Trong phòng khách rộng lớn, trước hàng loạt các gương mặt đầu lĩnh, Sugawaraya bắt đầu bài diễn thuyết.

“Ngài Miuraya ngồi đây đã đồng ý cam kết với chúng tôi việc gia tăng tiền theo giấy cam kết này. Nhưng lại nói rằng phủ đúc tiền không thể trả tiền theo đúng giấy cam kết này.”

“…”

Mọi người nín lặng, nghĩ bụng người này bắt đầu tố cáo việc làm không đúng đắn của chủ tọa Miuraya. Khi sự im lặng bao trùm cả gian phòng rộng lớn, Sugawaraya nói.

“Lý ra, chúng tôi sẽ đề nghị được trả lại đủ. Nhưng lần này, chúng tôi xin phép để đó. Thật ra, nhóm năm, sáu người chúng tôi có một tâm nguyện. Đó là tạm dâng lên bề trên số tiền lớn (tiền vốn) để hàng năm lấy lãi từ đó, phát cho dân chúng trong Yoshioka. Chúng tôi muốn xây dựng một cơ cấu như vậy. Số tiền chúng tôi thu xếp đưa ngài Miuraya chính là số tiền quan trọng để làm việc đó. Bởi Yoshioka là một nơi nghèo nàn nên chúng tôi không xoay xở được số tiền lớn. Nên chúng tôi định đề nghị ngài Miuraya giúp sức, mượn tiền từ phủ đúc tiền. Chúng tôi định sẽ trả lại bằng số tiền lãi nhận được từ bề trên. Nhưng một khi đã như thế này rồi thì chúng tôi đành từ bỏ ý định mượn tiền từ phủ đúc tiền. Thay vào đó, rất mong ngài Miuraya trả lại số tiền 450 ryō đã mượn vào mùa đông này. Lãi suất thì không cần như đã hứa, đúng theo thông thường là được.”

“Chà, đâu cần phải nói vậy…” Miuraya nói với vẻ khó xử.

“Vậy, một lần nữa, xin nhờ ngài Miuraya. Mong ngài hãy cho chúng tôi mượn tiền. Chúng tôi không yêu cầu ngay. Khi nào việc đúc tiền tiến triển tốt, thì vui lòng cho chúng tôi mượn như đã hứa. Nếu công việc có vẻ không ổn thì đáng tiếc là chúng tôi đành từ bỏ ý định đó.”

Theo lý lẽ thì phần đúng thuộc về nhóm Sugawaraya. Sự sai trái của phủ đúc tiền nhóm Miuraya đã quá rõ ràng.

“Rất có lý lẽ.” – Quan lại ngồi tại đó ai nấy đều nghĩ vậy. Khi dựng nên phủ đúc tiền, họ rất thiếu tiền. Lúc đó, khu Yoshioka nghèo khó đã giúp họ bằng cách cho mượn số tiền ít ỏi quý giá. Nếu việc đúc tiền bắt đầu thuận lợi rồi thì lần này phải giữ lời hứa, trả lại cho khu phố nghèo khó này và giúp họ mới phải.

Đúng lúc đó. Sugawaraya chậm rãi rút từ ngực áo ra một tờ giấy. Chính là Kumano Go-ōfu.

“Hai người chúng tôi tuyệt nhiên không dùng số tiền sẽ mượn vào việc riêng. Chúng tôi không thể làm những việc này vì lợi ích cá nhân. Nếu cứ như hiện nay, Yoshioka của chúng tôi sẽ lâm vào khốn cùng. Chúng tôi một lòng muốn cứu lấy Yoshioka. Chúng tôi đã thề với thần linh ở ba đền thờ Thần đạo Kumano như thế này đây.”

Nói rồi chàng mở rộng Kumano Go-ōfu, cúi rạp người. Trên đó có tên Sugawaraya Tokuheiji và Kokudaya Jūzaburō, đậm đen, rõ ràng.

Dấu điểm chỉ bằng máu cũng nổi rõ, sống động.

Mọi ánh mắt của những người phủ đúc tiền nhất loạt đổ về Miuraya. Không còn cách nào khác, Miuraya nói: “Nếu, nếu vậy thì tôi đã hiểu rồi. Các vị trong phủ đây hẳn cũng không có ý kiến gì.”

Vậy là đã quyết định.

Miuraya trả lại 450 ryō mượn từ nhóm Jūzaburō, kèm tiền lãi. Không những vậy, còn đề nghị cho mượn một số tiền lớn để phục hưng Yoshioka, khoảng 562 ryō2 bu.

Mọi việc quá suôn sẻ nên Jūzaburō nói: “Anh Sugawaraya, anh thật xuất sắc. Đúng là chúng ta đã lấy được từ Miuraya hơn 1.000 ryō rồi.”

Nhưng Sugawaraya nói với vẻ không vui: “Không, chưa xong việc đâu. Phải lấy được giấy cam kết từ Miuraya chứ không phải hứa miệng.” Chàng bặm môi.

Thật ra Miuraya cũng có ý hướng riêng. Tháng Tư, khi Jūzaburō đến chỗ Miuraya ở phố Yanagi, Sendai, thái độ của Sōemon xem ra có vẻ mềm mỏng, nhẹ nhàng hơn mọi khi. Jūzaburō nói: “Sắp tới, chúng tôi sẽ thỉnh nguyện lên bề trên việc của Yoshioka. Vì vậy, chúng tôi cần tiền. Mong ngài Miuraya đây viết cho giấy cam kết sẽ cho chúng tôi mượn số tiền lớn như đã hứa hôm trước…”

“Đương nhiên rồi. Được thôi. Ta sẽ viết.”

Miuraya nhận lời viết giấy cam kết nhanh chóng một cách bất ngờ.

“Thật cám ơn ngài.”

“Để tên ai thì được nhỉ?”

“Vui lòng viết tên ngài Sugawaraya Tokuheiji, ngài

Kokudaya Jūbei, và tôi Kokudaya Jūzaburō giúp.” “Ta hiểu rồi.”

“Thật ra, nếu thất bại trong việc mượn hơn 560 ryō từ ngài Miuraya đây, ba người chúng tôi sẽ phải bán hết gia sản, bán thân làm công để xoay xở số tiền này đấy ạ.”

Có vẻ trước lời nói của Jūzaburō, một người sống chỉ biết đuổi theo lợi nhuận như Miuraya thật sự kinh ngạc. Thình lình Miuraya trở nên nói nhiều hơn: “Yoshioka là nơi người cha quá cố của tôi chào đời. Nếu nói rõ thì bản gia nhà anh cũng như gia tộc nhà tôi. Tôi đã nghĩ không biết có thể làm được gì giúp ích không. Nay đối với tôi, việc các anh Jūzaburō đây nghĩ ra và làm thật cũng đáng góp sức lắm nên tôi rất hài lòng.”

Những lời nói rất thảo mai, không có lấy một chút tình cảm. Nhưng với bản chất thật thà, chỉ cần nghe ông ta nói thôi, Jūzaburō đã cảm thấy rất vui sướng trong lòng.

Như vậy, số tiền cũng đã được một nửa. Tiền như những nắm tuyết vo tròn. Một khi đã có được một số vốn gốc rồi thì như những nắm tuyết lăn, tiền gọi tiền đến, cứ thế mà nắm tuyết to lên.

“Nghe nói Miuraya ở Sendai đã đầu tư 560 ryō.”

Chỉ như vậy thôi mà kế hoạch cứu Yoshioka thoát cảnh khốn cùng bằng cách gửi số tiền 1.000 ryō lên bề trên để lấy tiền lãi dần dần bước vào giai đoạn hiện thực hóa.

Jūzaburō bàn bạc với Sugawaraya một việc đã kìm nén bấy lâu.

“Cũng đã đến lúc tôi nói với nhà cha mẹ ruột Asanoya để nhờ giúp sức nhưng…”

“Vậy thì bây giờ là đúng thời điểm rồi. Nên nói ngay càng sớm càng tốt.”

Tuy Sugawaraya nói vậy nhưng với thân phận người con đã được đưa đi làm con nuôi từ tấm bé thì với Jūzaburō, cũng có chỗ thật khó mở lời. Asanoya là thương gia số một ở Yoshioka. Nếu được nhà cha mẹ ruột giúp điều đạt tiền thì kế hoạch sẽ tiến triển thuận lợi. Nhưng chàng có chỗ hơi băn khoăn. Hiếm hoi, có lần về nhà, chàng đã nói chuyện cứu Yoshioka với em trai là Asanoya Jinnai, con trai của Jinnai là Shuemon, và người mẹ già thì chẳng hiểu sao ai nấy đều im lặng, đánh trống lảng sang chuyện khác. Chàng không tài nào hiểu được. Sau đó, Jūzaburō hoàn toàn không thể đề cập gì đến việc sẽ gây ảnh hưởng đến gia nghiệp như kiểu “sẽ bỏ ra số tiền lớn vì Yoshioka”.

Ngày 13 tháng Tư là ngày giỗ cha ruột của Jūzaburō, Asanoya Jinnai.

Thật ra ngày 13 tháng Mười hai mới đúng nhưng thời gian này, việc kinh doanh bận rộn. Asanoya chọn tháng Tư, mùa xuân, thời tiết tươi đẹp để cả gia tộc cùng làm giỗ.

Hôm đó, Jūzaburō quyết định cùng Sugawaraya đến nhà để trình bày kế hoạch cứu Yoshioka, đề nghị giúp hỗ trợ về mặt tiền bạc.

Nhưng đến khi phải nói thì không tài nào nói cho suôn sẻ. Chàng cứ ngắc nga ngắc ngứ.

Mãi một lúc cố gắng, Jūzaburō mới lên tiếng được: “Hôm nay, tôi xin phép…”

Kokuonki có ghi lại Jūzaburō đã bắt đầu câu chuyện như thế. Jūzaburō dốc hết ruột gan ra để nói. Chàng giải thích quá trình lâu nay, chuyện này chuyện kia, rồi giở tấm giấy cam kết của Miuraya cho từng người trong nhà xem, nói rằng cuối cùng đã điều đạt tương đối một số vốn. Nhưng càng nói, người trong nhà càng im lặng. Cuối cùng, khi đã giải thích xong xuôi, Jūzaburō mới nói thế này: “Nay tôi cũng muốn được ngài Asanoya đây giúp một số tiền tương ứng…”

Khoảnh khắc đó, sự im lặng bao trùm toàn bộ nhà Asanoya. Một lúc lâu sau, một tiếng nói vang lên từ đâu đó: “Thật không ngờ lại có chuyện thế này. Anh Jūzaburō, thật giống cha như đúc.”

Đó là người em trai Jinnai. “…”

“Anh Jūzaburō. Thật ra nhà ta đã có chuyện giấu anh lâu nay.”

“Chuyện gì?”

“Vì anh đã đi làm con nuôi nhà Kokudaya Takahira nên em đã không thổ lộ, xem như đây là đại sự nhà Asanoya. Nhưng nay không cần giữ đó làm bí mật nữa nên em sẽ nói. Thật ra đó là lời trăn trối lúc lâm chung của cha.”

“Trăn trối thế nào?”

“Chuyện là thế này. Lúc cuối đời, cha đã gọi mọi người đến bên chỗ nằm và nói: “Xem ra ta không còn thời gian nữa. Như ta đã nói từ lâu, ta rất mong con xem trọng việc kế tục gia nghiệp, một mặt hãy cố gắng giúp đỡ những người nghèo khó, cô đơn trong khả năng có thể. Ngoài ra, cha mong con thương yêu mẹ già. Cho đến lúc này, ta không còn gì luyến tiếc nhưng chỉ một điều, từ thời trung niên, ta có một ước vọng to lớn. Đó là giúp cho việc tenma của Yoshioka này. Làm cách nào đó để bề trên ra tay cứu giúp Yoshioka-juku này nhưng cơ hội và tuổi thọ thì có hạn, ta đã không thể làm gì được. Ta rất tiếc. Vì vậy ta nhờ con. Đây là số tiền của Asanoya mà ta góp nhặt được cho đến hôm nay, mong con đừng dùng vào việc gì khác. Đời cha làm không được thì đời con, đời con không được thì đời cháu Shuemon, bao nhiêu đời cũng được, đừng vứt bỏ ý nguyện này. Hãy dùng số tiền này để vực dậy Yoshioka.” – Cha nói vậy và nắm chặt tay em, vẻ mặt đầy tiếc nuối, chuẩn bị trút hơi thở cuối cùng. Lúc đó, em đã cố gắng nói với cha. “Con xin tiếp nhận di ngôn cuối đời của cha. Con sẽ tiếp tục tiết kiệm tiền, chờ thời cơ. Nếu con làm không được thì con sẽ truyền đạt lại cho con trai con, Shuemon. Nhất định chúng con sẽ hoàn thành chí nguyện của cha.” Em nói vậy thì cha chỉ im lặng, gật đầu và hơi mỉm cười rồi ra đi.”

“Chuyện đó, tôi không hề nghe nói đến.”

Jūzaburō vừa khóc nức nở vừa nói.

Vì chàng không ngờ cha cũng nghĩ đến việc cứu Yoshioka như mình. Những lời nói tiếp đó của người em trai lại càng khiến Jūzaburō kinh ngạc.

“Khi nghe chuyện rồi, em bàn với mẹ và quyết định không nói với anh. Em nghĩ như vậy tốt hơn. Vì đằng nào rồi gia sản Asanoya này sẽ trở nên khó khăn. Em không muốn liên lụy đến cả anh. Cả em và mẹ đều đồng tình với cha. Gia đình ta đã quyết định trút hầu hết gia sản cho Yoshioka. Nhưng đúng là cha nào con nấy. Anh không biết gì về chuyện này vậy mà cũng đã lên kế hoạch cứu Yoshioka, sẵn sàng tiêu hết tiền của Kokudaya. Đã như vậy rồi, chỉ có tiến hành thôi. Nghĩ lại, còn hạnh phúc nào bằng?”

Những người có mặt ở đó, ai nấy đều khóc. Sugawaraya cũng khóc.

Người em trai, Jinnai, mắt đỏ hoe, tiếp tục nói: “Chà, hôm này cũng là ngày giỗ cha, em đã lỡ khóc. Gì thì gì, em xin theo ý mọi người ở đây. Em giúp bao nhiêu thì được?”

“Tạm thời, xin viết giấy cho mượn 500 kan (quan).”

“Chắc hẳn từ bên kia suối vàng, tâm nguyện duy nhất của cha đã lan tỏa. Em muốn báo cáo với mẹ và trước bài vị cha chuyện này, anh vui lòng chờ một chút.”

Người mẹ già xuất hiện ngay sau đó. Bà nói như trách mắng con trai: “Gì mà lấp lửng vậy, không cần. Mau viết giấy hẹn cho hai người họ đi!”

Ngay lập tức, Jinnai đem bút nghiên đến trước bài vị của người cha quá cố, viết giấy trao cho Jūzaburō và Sugawaraya.

Chưa hết, hôm sau, chuyện đáng ngạc nhiên hơn đã xảy ra. Để nói lời cảm ơn hôm trước, Sugawaraya ghé nhà Jinnai. Chàng cố giữ lòng như một con quỷ, nói những lời lạnh lùng.

“Hôm qua thật cám ơn anh. Hiện nay chúng tôi đã mượn được từ Miuraya 2.000 kiri (500 ryō), thêm phần 500 kanmon của anh. Nhưng vẫn chưa đủ để bẩm lên bề trên. Thật phiền anh nhưng có thể xuất thêm cho chúng tôi được không?”

Nếu là bình thường thì thật đáng giận. Nhưng Jinnai nói: “Nếu vậy, tôi đưa thêm 500 nữa nhé.”

Chỉ một thái độ, nếu cần lại đưa thêm. Nếu hơn thế nữa, Asanoya sẽ phá sản. Mà như vậy thì thật không hay chút nào. “Không, chỉ cần anh sửa lại trong giấy thành 1.000 kanmon là được rồi.”

Sugawaraya nói vậy và ra về.

Như thế, tuy chậm rãi nhưng việc gom tiền vốn đã được tiến hành. Nhưng, trong nhóm đồng chí, có người trong thâm tâm không muốn đưa tiền nên giữa chừng, vài người bắt đầu tỏ vẻ sốt ruột:

“Nếu Miuraya Sōemon lại nói chuyện gì hèn hạ, không muốn đưa tiền thì sao? Nếu vậy thì kế hoạch này mất cả chì lẫn chài.”

“Lúc đó, tôi, Jūzaburō, Jūbei, ba người chúng tôi sẽ bán hết gia tài, bán thân làm công để gom tiền. Ba người chúng tôi vốn đã chuẩn bị tinh thần đó.” – Nói rồi Sugawaraya đặt mạnh giấy hợp tác và Kumano Go-ōfu xuống sàn. Trước thái độ đó, những kẻ bàn ra trở nên lúng túng, vội vàng nói:

“À, không. Anh nói đúng lắm. Chúng tôi cũng nghĩ như anh vậy thôi.”

Sugawaraya cũng nhân cơ hội, kết thúc sự việc:

“Vậy với kế hoạch này, mọi người cũng không bàn ra tán vào nữa. Vậy được chứ?”

Chàng nhắc nhở. Một khi đã bị nói như vậy, chỉ còn cách đồng ý. Mọi người gật đầu.

Jūzaburō há hốc mồm kinh ngạc. Sugawaraya đã trở ngược tình thế bất ngờ xuất hiện trong buổi gặp mặt, giải quyết gọn gàng nguy cơ nội bộ lủng củng, nhanh chóng xốc lại tinh thần mọi người một cách ngoạn mục.

Vấn đề khó khăn tiếp tới đây là thỉnh nguyện lãnh chúa, lập nên một cơ cấu cứu Yoshioka-juku. Và liệu có khả năng người dân trong phiên cho lãnh chúa mượn tiền để sau đó lấy lời, giảm thuế hay không? Jūzaburō hỏi thẳng Sugawaraya câu hỏi mà mình thắc mắc bấy lâu.

“Anh Sugawaraya này, tiền thì có vẻ gần đạt mục tiêu rồi. Nhưng chúng ta làm cách nào để bề trên chấp nhận kế hoạch của chúng ta? Chuyện này đâu phải nộp đơn thỉnh nguyện là sẽ được thông qua dễ dàng, đúng không?”

“Là chuyện đó.” “Tức là?”

“Anh Jūzaburō quen biết với ngài Ōtomo Gunji chứ?” “Ngài Ōtomo, gia trung nhà Tadaki à? Chỉ biết tên nhưng…”

“Vậy cũng được rồi. Trong Yoshioka này, đó là người biết rõ bề trên nhất.”

Ōtomo Gunji là gia nhân dòng họ Tadaki mà Tadaki là người cai quản vùng Yoshioka-juku này. Trước tiên, phải hỏi người này. Jūzaburō cùng Sugawaraya đến gặp Ōtomo.

Yoshioka không phải là một shukuba thông thường. Đó là một trong “bốn mươi tám quán Date” mà Date Masamune đặt ra. Dù gì cũng được dựng lên như một thị trấn dưới chân thành nên đường dốc nhiều, lại quanh co khúc khuỷu.

“Yoshioka bảy khúc tám dốc.” – Người ta thường nói vậy. Thậm chí còn gọi là “thị trấn cái khố”. Sự thật thì mỗi góc đường đều được xây vuông vức đề phòng bị kẻ thù đột nhập.

Vì vậy, có đi cũng mãi chẳng thấy tới đâu, cứ mỗi lần đường gấp khúc thì tên phố lại đổi, từ phố thượng, phố trung xuống phố hạ.

Hai người họ cứ đi theo con đường khúc khuỷu “cái khố” này từ phố thượng xuống phố trung, từ phố trung xuống phố hạ. Nhà của ngài Tadaki lãnh chủ ở một góc phố hạ, xung quanh được bao bọc bởi khu nhà ở của các samurai.

Nhà của Ōtomo Gunji ở khu đó.

Ōtomo không phải là gia nhân trực tiếp của phiên Sendai. Vì là gia nhân của nhà Tadaki vốn là gia thần của dòng họ Date nên thường được gọi matamono (bồi thần), nghèo hơn Jūzaburō nhiều.

Dù vậy, nhà ở của Ōtomo vẫn toát lên phong cách samurai với chiếc cổng nhỏ được dựng chu đáo. Khi nói chuyện thì tác phong ấy cũng được thể hiện. Chàng võ sĩ Ōtomo ngồi đối điện cách xa họ một chút và ở vị trí cao hơn. Jūzaburō và Sugawaraya nghiêm trang ngồi dưới.

Khi hai người tóm tắt kế hoạch, Ōtomo thở dài ái ngại. “Chà, hai người lại nghĩ chuyện khó rồi đây. Mà tìm đến tôi thì có nghĩa gì đâu chứ?”

“Chỉ là chúng tôi muốn mạn phép hỏi người liệu trình nguyện vọng này lên trên thì có được bề trên chấp thuận không? Vả lại, trình lên như thế nào thì dễ được chấp thuận hơn? Vì vậy chúng tôi mới mạn phép đến đây.”

Ōtomo đăm chiêu.

“Chuyện đó thì phải lên đến Sendai mới biết được.”

“Ngài Ōtomo, đây là nguyện vọng một đời của chúng tôi. Mong ngài khi lên cổng quan dọ hỏi giúp có được không ạ?”

“Để ta suy nghĩ.”

Ōtomo chau mày. Không còn cách nào khác, hai người họ thất thểu quay về.

Thế rồi, một thời gian sau, Ōtomo liên lạc với họ. “Ta đã tìm hiểu chuyện hôm trước rồi, hãy đến gặp ta.”

Hai người họ vui mừng nhảy cẫng, lại bước đi trên con đường dốc khúc khuỷu của shukuba đến nhà Ōtomo lần nữa.

Khác với lần trước, Ōtomo thay đổi hẳn, nói nhiều hơn. Người đàn ông này có tính làm công bẩm sinh, hễ được giao việc là không thể ngồi yên. Lần trước, sau khi Jūzaburō và Sugawaraya ra về, ông ta đã nhanh chóng viết thư lên người quen ở phủ quan cũng như nghe ngóng, dò hỏi tình hình.

Đó cũng là lần đầu tiên Jūzaburō nghe chuyện chính sự của giới samurai. Ōtomo nói thế này: “Ở phủ quan, điều cốt lõi là từ trước đến nay đã có tiền lệ hay chưa?”

Phủ quan trên phiên vận hành với chủ nghĩa quan liêu.

Công việc hành chính chỉ mang tính tiếp nhận, một khi không có trình báo gì từ các thôn làng thì hầu như chẳng làm việc gì mới mẻ. Nếu những người bên dưới có đề nghị điều gì đó mới thì họ sẽ tìm hiểu, kiểm tra xem đã có tiền lệ, có việc gì tương tự hay không. Ở Sendai, có chức quan làm việc kiểm tra đó, gọi là “quan kiểm tra tài chính”. Gặp việc gì quan trọng thì quan kiểm tra xác nhận với ōkimoiri, so sánh tiền lệ để sao cho không bị bất bình đẳng.

Việc phủ quan chú trọng đến tiền lệ và giải quyết vấn đề dựa vào chỉ thị và phản hồi trong quá khứ thì không phải mới đây. Các quan lại khi xưa đặt ra luật lệ, đến thời Kamakura, Muromachi thì phát triển hơn và cho đến thời Edo thì hành chính phiên được tiến hành dựa trên hành chính đã có tiền lệ này. Các hồ sơ ghi chép hành chính được chất trong kho lưu trữ cùng với một số lượng đáng kinh ngạc các giấy ghi chú, đánh dấu và mục lục để có thể tham khảo tiền lệ. Có thể nói, cho đến thời kỳ phiên xứ thời cận thế, chế độ hành chính tập trung vào tiền lệ trong quá khứ hơn là sự tình hiện thực đã thật sự được sinh ra.

“Vì vậy, về nguyện vọng của các ngươi…” “Sao ạ?”

“Có nhiều ý kiến khác nhau, ta không rõ lắm. Đúng là có người trong quan phủ đã khen ngợi đây là “nguyện vọng có một không hai từ cổ chí kim” hay đại loại “từ trước đến nay, chưa từng có nguyện vọng nào mà dân chúng đồng lòng như vậy. Ta chưa từng nghe thấy bao giờ dù trong ghi chép của phiên. Nếu dâng đơn lên bề trên chắc ngài sẽ tiếp nhận thôi” nhưng mà…”

Thình lình nét mặt hai người tối sầm lại. “Nhưng mà sao ạ?”

“Ừ thì, cũng có người nói nguyện vọng đó “tuyệt vời quá nên ngược lại, không hay cho lắm”. Người đó nói “nguyện vọng này quá tuyệt vời. Phần tuyệt vời là dân chúng trong phiên, tức hành chính trong phiên không tốt, liệu không tạo ấn tượng như vậy cho bề trên chứ? Những nguyện vọng quá xuất sắc thường lại rất đáng lo”.”

“Lẽ nào!”

Hai người họ sững sờ. Nếu nói tồi tệ thì không có chuyện gì tồi tệ bằng. Bao nhiêu năm nay, phiên Sendai giao phó công việc cho Yoshioka-juku nhưng chẳng hề hỗ trợ. Nói cách khác, thấy chết chẳng thèm cứu. Sai trái là ở phiên. Dân Yoshioka đã chịu đựng điều đó, nay chỉ đồng lòng chuẩn bị số tiền lớn mà không chút vụ lợi để dâng lên phiên, tìm đường cứu lấy chính mình mà thôi. Vậy mà nay có kẻ làm quan lại cho rằng “dân chúng trong phiên tuyệt vời quá sẽ cho thấy sự yếu kém của bề trên, không hay cho lắm”.

“Bề trên và quan lại chỉ biết nghĩ cho bản thân.”

Jūzaburō đau đớn cảm nhận điều đó.

“Chưa kể, có nơi còn nói “nếu nhìn xa, nguyện vọng này chẳng có lợi ích gì với bề trên”. Còn nữa, có người nói “nguyện vọng thì có phần kỳ dị, nhưng nếu đề nghị lợi tức thật ít thì may ra được phép”.”

“…”

Làm sao có chuyện đó được chứ?

“Một khi đã mượn tiền thì phải trả tiền lãi như người ta – là chuyện đương nhiên. Nhưng xem ra phiên không có cả khái niệm trả lãi đúng giá thị trường dù nhận tiền. Những suy nghĩ nào là trả lãi thì không lợi lộc gì, hay trả lãi ít thì được, tất cả đều là những suy nghĩ tùy tiện không có nhân lẫn đức, không lý cũng chẳng tình.”

“Rốt cuộc là vẫn chưa biết thế nào nhỉ?” – Sugawaraya nói khi rời khỏi nhà Ōtomo, trên đường về.

“Vốn dĩ chúng ta đã biết trên phiên là cửa khó thông rồi. Chúng ta cứ cố gắng, đừng bỏ cuộc.”

Jūzaburō chỉ biết nói vậy.

Thế nhưng, không chỉ có tin xấu. Phần nào đã có cách gom góp tiền, Jūzaburō và mọi người tập trung ở Kichijōin để bàn bạc. Kichijōin là ngôi chùa nằm giữa Yoshioka-juku, cánh đàn ông trong làng thường tụ tập, hội họp ở đây.

Hôm ấy, một việc đáng mừng đã xảy ra. Chẳng là, khi một người trong số họ đứng lên nói:

“Có một điều đáng lo. Chúng ta tiến hành kế hoạch này sau khi đã chuẩn bị được 1.000 ryō vàng nhờ mượn được của Miuraya Sōemon. Giả sử chúng ta có lấy được lợi tức 100 ryō từ phiên đi nữa thì trước tiên phải trả 100 ryō đó cho Miuraya. Dân chúng Yoshioka thì nghĩ, nếu kế hoạch này được chấp nhận thì sẽ có tiền ngay. Thế nhưng, họ không được nhận ngay mà lại thấy tiền đi đến nhà của thương gia Sendai, chắc chắn dân làng này sẽ ầm ĩ lên rằng “bất chính”, là “cướp cạn”.

Và chúng ta sẽ bị kéo lên phiên để xử tội. Khi đó, kế hoạch hoàn toàn sụp đổ.”

Chính xác là vậy. Jūzaburō và những người thực hiện kế hoạch này là những người có học ít nhiều trong đám đàn ông ở shukuba này. Nhưng người trongshukuba không phải ai cũng biết chữ.

“Ta không thể biết những người không biết chữ sẽ làm gì.”

– Đúng là có nỗi lo như thế. Thế nhưng, khi đề cập chuyện đó, thình lình từ phía bên kia có tiếng nói lớn vang lên.

“Các ông! Không phải lo chuyện đó.”

“Chúng tôi không nói vậy đâu. Hãy tin chúng tôi!”

Đó là tiếng của Dengorō phố trung và Heihachi ở phố hạ, họ là những người phụ việc ở gian bếp. Cả hai đồng thanh lên tiếng.

“Chúng tôi không góp tiền vào kế hoạch này được. Nhưng chúng tôi thấu hiểu sự vất vả của các ông. Không trả tiền cho ngài Miuraya thì không được nhận tiền cứu trợ. Chúng tôi sẽ chịu trách nhiệm giải thích cho mọi người kỹ càng chuyện đó. Bây giờ chúng tôi sẽ đi từng nhà để nói cho họ biết chuyện.”

Họ nói sẽ đi lấy giấy cam kết của dân trong làng, giúp Jūzaburō và mọi người. Jūzaburō thấy mắt mình cay cay.

Thời Edo, đặc biệt thời kỳ cuối, chính là thời đại thường dân tỏa sáng. Thường dân thời Edo tử tế, hiền hậu, nét đẹp tính cách đó không nền văn minh nào trên trái đất từng trải qua.

Người bình thường cũng cư xử trên phương diện luân thường đạo lý mà cả thời đại yên bình từ trước đến nay cũng hiếm mà có được.

Heihachi là một trong số những thường dân như thế. Chàng không có lấy được mảnh đất ra hồn, chỉ có được căn nhà tồi tàn ở phố hạ Yoshioka-juku và làm công ở Kichijōin, sống một cách khiêm cung. Công việc của chàng ta đại loại bưng cơm khi có lễ cúng, hay quét dọn trước cổng chùa.

Thời Edo là xã hội mà “sở hữu đất đai” là điều kiện duy nhất quyết định quyền lên tiếng của một người. Người không có đất thì không được xem nhưikkenmae1, không được gọi đến các buổi hội họp trong làng. Vì vậy, những người như Heihachi không phải chịu trách nhiệm gì đối với công việc của làng cả. Thế nhưng, đến cả người đàn ông này cũng bắt đầu chạy quanh, không, nói đúng hơn là ra sức chạy để góp sức.

1 Người sở hữu đất, đóng thuế, có quyền hơn các hộ gia đình khác và có nghĩa vụ đối với tập thể.

“Nếu cứ như vầy, Yoshioka-juku này sẽ sụp đổ.” – Dường như lòng Heihachi đầy ắp suy nghĩ đó. Chàng nghĩ nếu không tập hợp tiền vốn, dâng lên bề trên, nếu không xây dựng quỹ tiền thì không thể cứu shukuba này.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks       
            
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 28.01.2020, 00:06
Hình đại diện của thành viên
☆~ Số 15 ca ~☆
☆~ Số 15 ca ~☆
 
Ngày tham gia: 14.10.2015, 23:36
Bài viết: 3067
Được thanks: 2099 lần
Điểm: 7.61
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Văn học] Những Người Nhật Vị Tha - Hasekura Isuna - Điểm: 10
Đang tải Player đọc truyện...
Tốc độ đọc truyện: 0.90x

(Đóng góp ý kiến về player nghe đọc truyện)


TŌRI (1694 – 1795)

Tôi muốn viết về một Nho sĩ tên Nakane Tōri. Sống với tư cách một Nho sĩ thôn làng và cũng chết như một Nho sĩ thôn làng nên giờ đây chẳng còn được mấy ai biết đến, nhưng thật lòng, tôi không thể nào không viết về con người này.

Con người có tên Nakane Tōri này tuyệt nhiên không hề mong đợi gì cuộc đời bé mọn được hậu thế biết đến. Chắc rằng ông cũng chẳng lấy gì làm thoải mái với những dòng chữ này của tôi. Thậm chí ngược lại, ông còn ra sức xóa bỏ vết tích cuộc đời mình. Chính vì vậy, sử liệu về ông rất nghèo nàn nên tôi không biết mình có thể viết về cuộc đời ấy đến đâu.

Nakane có một tài năng tuyệt diệu về thơ văn. Nếu ông đi con đường bình thường như bao người, hẳn giờ này đã được ngợi ca như một đại thi nhân của đất nước này và lưu danh trong ký ức của chúng ta.

“Không ai bì được với Nakane về thi phú.” – Đó là câu nói bình thường trong giới văn nhân Edo những năm Kyōhō1. Sang thời Kansei2, khi đọc được những vần thơ còn lại ít ỏi của Nakane, những văn nhân như Shibano Ritsuzan, Inoue Shimei, Ōta Kinjō đã thốt lên kinh ngạc trước tài thơ ấy: “Một thiên tài hiếm có kể từ thời Kei-Gen.”

1 Hưởng Bảo: niên hiệu trong khoảng thời gian 1716 – 1736.

2 Khoan Chính: niên hiệu trong khoảng thời gian 1789 – 1801.

“Kể từ thời Kei-Gen” nghĩa là từ thời Keichō1 trước thời Edo và Genna2 là giai đoạn mở đầu thời Edo, nói cách khác kể từ thời mở đầu Mạc phủ Tokugawa… Có thể nói đó là tài năng thi ca không tiền khoáng hậu suốt thời Edo.

1 Khánh Trường: niên hiệu trong khoảng thời gian 1596 – 1615.

2 Nguyên Hòa: niên hiệu trong khoảng thời gian 1615 – 1624.

Một thiên tài như vậy nhưng không được người đời biết đến là có lý do. Do thi nhân tài năng kiệt xuất hiếm hoi này đã ném tất cả những tác phẩm thi ca, văn chương của mình vào bếp lửa.

Có thể nói vốn dĩ việc một thiên tài như vậy sinh ra ở cõi đời này đã là một sự tình cờ. Ông sinh ra ở Shimoda, Izu. Ngôi làng Shimoda này là nơi mọi thứ trên đời trôi giạt đến một cách kỳ lạ đến buồn cười. Nào kiệu lễ của xứ Sado, nào tượng Phật cứ thế nổi trôi đến đây là những câu chuyện chẳng lạ gì với ngôi làng ven biển Thái Bình Dương này.

Cả con người cũng trôi giạt đến đây. Những năm Enpō3, một người đàn ông khác lạ xuất hiện. Thoạt nhìn, chàng ta có phong thái của một samurai nhưng dường như đang trên đường lang bạt kỳ hồ, không biết gốc gác. Chàng ta có nói “Tôi đến từ Mikawa” nhưng thật giả thế nào không biết được. Có điều, dường như chàng rất thích thưởng ngoạn thiên nhiên, nên cả ngày ngắm những vách đá không biết chán, lại làm thơ ca tụng vẻ đẹp ấy:

3 Diên Bảo: niên hiệu trong khoảng thời gian 1673 – 1681.

Kaihin seiyu ni shite

Tōsho miru beki nari.

Dịch ý:

Biển xanh thanh nhã mát lòng,

Ta ngồi ngắm đảo cả ngày không thôi.

Xem ra chàng ta cũng rất yêu thích bờ biển đá gồ ghề nơi này nên xưng: “Tôi là Takehama” và dừng chân ở Shimoda. Đã vậy, chàng còn bắt đầu hành nghề y chẳng biết học từ đâu. Sau đó chàng cưới vợ. Đây là lai lịch của Nakane Shigekatsu – một samurai lang bạt, trôi giạt đến vùng biển phong cảnh hữu tình để rồi sinh thành một thi nhân kỳ lạ, Tōri.

Những chuyện kể về thời thơ ấu của Tōri không nhiều, nghe đâu tên lúc nhỏ của chàng là Magohei. Nhưng chắc chắn một điều là gia đình không được hạnh phúc cho lắm. Tuy hành nghề y rất phát đạt nhưng dòng máu phiêu lưu, lang thang đây đó lại trỗi dậy khiến người cha Shigekatsu trở nên nghiện rượu. Ông thường xuyên ra ngoài uống rượu đến nửa đêm, khi đứa con nhỏ là Tōri đến gọi mới chịu về. Bàn tay nhỏ bé của Tōri cầm đèn lồng, soi đường trong đêm tối Shimoda để tìm người cha đã bét nhè vì rượu. Người làng ai cũng chảy nước mắt xót thương khi thấy cảnh cậu bé cứ phải đi đứng trong màn đêm như thế: “Thằng bé thật đáng thương làm sao!”

Còn có chuyện này. Một đêm mùa hè, khi đã quá khuya mà cha vẫn chưa về, Tōri ra sức đi tìm. Thình lình thấy trước mặt một bóng người chân bước liêu xiêu. Đó là cha. Vì đã quá say nên ông mắng mỏ Tōri không tiếc lời rồi ngã uỳnh dưới gốc cây, chìm vào giấc ngủ với tiếng ngáy thật to. Đương nhiên muỗi bu lại nhiều không kể xiết. Tōri thu hết sức mình định cõng cha về nhưng với sức lực của một đứa trẻ thì không thể làm gì. Cậu bé đành chạy thật nhanh về nhà. Cửa vừa mở, cậu nói ngay với mẹ: “Tối nay cha ngủ lại nhà người quen. Bên ấy không đủ màn nên nói con về lấy. Tối nay con cũng ngủ ở đấy.” Đó là lời nói dối đầu tiên của Tōri vì nghĩ đến tâm trạng của mẹ mình. Cậu bé ôm cái màn trong tay và chạy hết tốc lực đến chỗ cha để che màn, bảo vệ cha. Và chuyện còn kể rằng cậu bé ngồi bên cha suốt cả đêm không rời. Đương nhiên Tōri không hé răng nửa lời về chuyện này nên mãi về sau mẹ cậu bé mới biết chuyện khi nghe người trong làng bàn tán.

Chính vì Tōri là một đứa trẻ như thế nên người lớn trong làng rất quan tâm đến tương lai của cậu. “Cậu bé này không hợp với thế tục xô bồ đâu. Nên cho xuất gia thì hơn.” Mẹ cậu cũng nghĩ vậy nên gửi Tōri đến một thiền tự. Cậu bé được cạo đầu và đặt tên là Shōen (Chứng Viên).

Thế nhưng, khi trở thành chú tiểu, Tōri bắt đầu có mối quan tâm lạ lùng. Cậu nói: “Con muốn học Đường âm.” “Đường âm” ở đây có nghĩa là tiếng Trung Quốc. “Ngày nào con cũng đọc kinh mà phát âm toàn tiếng Nhật. Vì Thiền được các Đường sĩ đem đến Nhật nên con muốn đọc kinh bằng Đường âm gốc vốn có.”

Cậu bé đã bắt đầu có những suy nghĩ mà người thường chẳng ai nghĩ ra. Không biết có phải vì đêm ngày ngắm cảnh biển tuyệt đẹp của Shimoda mà lòng cậu trỗi dậy suy nghĩ đó, hay vì dòng máu phiêu bạt của người cha đã khiến cậu như thế? Nhưng tóm lại, một tiểu tăng Thiền tự ở một đảo quốc giữa biển khơi đã nghĩ ra những điều thật không tầm thường.

Đương thời, ở Nhật chỉ có hai nơi có thể học Đường âm.

Đó là Nagasaki nơi có nhà của Đường nhân (người Trung Quốc), và một nơi nữa là Ōbakusan Mampukuji ở Uji.

Ōbakusan là một Trung Hoa thu nhỏ lúc bấy giờ. Ông tổ của Ōbakusan là Ingen lưu lạc đến nơi này trong khoảng thời gian nhà Minh trên đường diệt vong. Không biết có phải vì quyết trốn chạy tình trạng nguy cấp khi đất nước bị một dân tộc khác tiêu diệt không mà ông đã đem theo cả Trung Hoa lên thuyền đến đảo quốc ở phía Đông. Có thể nói đó là một chiếc tàu thùng cũng đúng. Trên chiếc thuyền đó, có ba mươi nhà sư cùng thợ mộc, thợ xây. Không chỉ vậy, ông còn đem theo cả đầu bếp, bàn ăn và cả cây trồng. Từ đó tái hiện cả cố quốc qua các loại rau củ mà trong đó có đậu que (ingen-mame). Ở Ōbakusan, họ trồng cả trúc sào của Trung Quốc để thay thế những cây trúc xung quanh. Có thể nói Ōbakusan ở Uji là Trung Quốc thu nhỏ ở Nhật là vậy. Và ở đó, Đường âm được người ta sử dụng hàng ngày.

Tōri đã phóng khỏi thiền tự, nhằm hướng Ōbakusan mà đi không chút do dự. Đó là vào mùa thu năm Shōtoku1 đầu tiên.

1 Chính Đức: niên hiệu trong khoảng thời gian 1711 – 1716.

Từ Shimoda đi Uji phải đi bằng tàu đến Ōsaka, sau đó đi đường bộ. Giữa chừng, cậu trọ ở chùa Henjōin ở Nakayama, xứ Settsu và được rủ đi hái nấm. Thú vị là họ hái được rất nhiều nấm. Tōri vui mừng thưởng thức, tự hỏi liệu có món nào ngon như thế không. Thế nhưng, sáng hôm sau, bốn trong sáu người họ bắt đầu đau đớn, da lưng phồng rộp, đổi tím và lần lượt chết. Trong số đó, có chú tiểu nhỏ nhất, tên Roshin mới mười một tuổi.

Tōri đau buồn lên đường đến Ōbakusan. “Xin vui lòng!” – Việc hô to câu nói này là một trong những nghi lễ của thiền tự. Sư trụ trì bước ra hỏi: “Ai đấy?”, và sẽ nói một câu từ chối theo luật: “Chùa này đã đủ. Chúng tôi xin từ chối.” Nhưng thật ra đây là phương cách để người nhập môn quỳ gối ba ngày trước cổng chùa, chứ chắc chắn họ sẽ cho vào chùa. Mọi thứ trong thế giới của Thiền được hình thức hóa như một vở diễn như vậy.

Tōri bắt đầu học tiếng Trung Quốc ở Ōbakusan này dưới sự chỉ dạy của tăng sư Trung Quốc. Chẳng bao lâu, trình độ Đường âm của cậu tiến bộ rõ rệt. Ban đầu, cậu rất hào hứng, nhưng sau đó, trở nên chán nản. Có thể nói, với một thiếu niên đầy tính hiếu kỳ như Tōri, một ngày ở thiền tự quá nhàm chán. Ở Ōbakusan, sách được đem đến từ Trung Quốc chất nhiều như núi trong kinh tàng. Tōri rất muốn đọc số sách khổng lồ đó nhưng bị sư thầy Trung Quốc gạt ngang một cách lạnh lùng: “Tu tập thiền không phải là đọc sách.” Từ đó, sự ngưỡng mộ mà Tōri dành cho Ōbakusan chuyển thành một sự thất vọng tràn trề.

Tinh thần của thiền trú ngụ trong những hành động “hành, trụ, tọa, ngọa”, nghe thì hay nhưng phải chăng nơi cấm đọc sách có đáng là nơi mình trú ngụ? Cậu thiếu niên Tōri quyết tâm xuống núi để được đọc sách. Ngày nọ, Tōri được giới thiệu:

“Ở Edo có người tên Sorai. Ông ấy là một học giả uyên bác, thu hút nhiều người theo học văn chương cũng như khuyến khích học vấn mới mẻ. Ông ấy tự nhận không ai bằng ông ấy về Đường âm. Mà này, quê của chú tiểu đây ở Sagami phải không? Không xa Edo nơi ở của tiên sinh Sorai mấy đâu. Hay theo ông ấy học xem sao?”

Khi đã hiểu ra rồi thì rất nhanh. Tōri nhanh chóng để lại Ōbakusan sau lưng. Cậu thiếu niên đi một mạch đến Edo không nghỉ. Chỉ với một manh mối duy nhất là tên vị sư – Egan. Ông là sư chùa Renkō phái Tịnh Độ tông ở Komagome, Edo, cũng là môn hạ của Ogyū Sorai thi văn xuất chúng. Tourai tìm đến vị sư này. Kể từ thời Meiji về sau, sách vở có nhắc đến Tōri đều viết tên vị sư này là “thượng nhân Yūyo Reigan” nhưng Yūyo đã mất vào năm này. Có thể do nhầm lẫn trong cách đọc tên mà thành tam sao thất bản. Tōri mong được tri ngộ với tiên sinh Sorai thông qua Egan.

Vốn dĩ, Tōri gia nhập thiền tự thật đã là một ý tưởng không hay cho lắm. Nếu đọc sách với tư cách tăng lữ, nên chọn một tông phái ít nghiêm khắc hơn. Và đó là Tịnh Độ tông. Từ trước đến nay, đây là tông phái có luật lệ lỏng lẻo nhất. Tuy có kẻ mở sòng bài kiếm tiền, rước cả du nữ, đánh mất phẩm cách nhưng mặt khác, không ít nhà sư có học thức, yêu thích thơ văn.

Tōri tìm đến Egan. Chùa Renkō khá rộng lớn. Đây là ngôi chùa do thành chủ Ōgaki tên Toda Uneme-no-shō (Toda Ujisada 1657 – 1733) sáng lập, cũng là nơi nhiều đời dòng họ Toda lập mộ.

“Ồ, chú tiểu đây đã học Đường âm ở Ōbakusan sao?” – Egan chồm người lên hỏi.

Tuy có hơi xa với nguyện vọng chính nhưng sức mạnh ngưỡng mộ Trung Quốc của các văn nhân Edo vượt xa trí tưởng tượng của chúng ta. Người Nhật thời Edo tôn sùng đất nước này cả về vườn tược lẫn thư họa. Nhưng do sakoku (tỏa quốc) nên không được phép qua đó. Vậy thì ít gì cũng được cầm trên tay viên đá, thế là họ nhập cả đá từ Trung Quốc. Đặc biệt, đá của Thái Hồ rất quý. Đẳng cấp shōya thì ít nhất cũng có một viên đá Thái Hồ làm đá trong vườn hay đặt dưới chậu cây để ngắm nhìn. Từ đó, không ai được quan tâm bằng người nói mình “biết Đường âm” hay người có thể đọc Hán thư. Egan nhìn chằm chằm vào mặt Tōri như thể nhìn báu vật quý hiếm từ bên Đường đến đây. “Cậu tạm ở chùa ta một thời gian xem sao?”

Tōri sống ở chùa Renkō và thay đổi khá nhiều. Cậu chất sách kinh trong phòng riêng nhiều như núi, từ sáng đến tối chỉ im lặng đọc sách. Thậm chí có ăn cơm hay không cũng không biết. Đã vậy, thỉnh thoảng lại có tiếng hét vang “Hiểu rồi!” khiến nhiều người trong chùa rất lấy làm khó chịu.

“Tên đó chỉ mới mười chín tuổi mà đã đọc hết tất cả Đại tàng kinh rồi đó!” – Chẳng bao lâu, lan truyền lời đồn như vậy.

Đại tàng kinh là bộ kinh hơn 5.000 quyển tập hợp tất cả mọi sách kinh trong thế giới này. Bộ kinh còn được gọi là Issaikyō (Nhất Thiết kinh), kim cổ nhiều người đã trở thành tăng sư nhưng hiếm ai đọc được phần lớn toàn tập bộ kinh này. Tương truyền chỉ có đại sư Saichō, người đã mở chùa Enryakuji ở núi Hiei cho đến năm chín mươi tuổi mới đọc hết bộ Đại tàng kinh này.

Nhưng nói gì thì nói Tōri không hề có ý định cạnh tranh với Saichō. Chỉ là chàng bị thôi thúc bởi suy nghĩ, một khi đã trở thành nhà sư thì phải đọc hết toàn bộ kinh sách trong thế giới, có vậy mới thỏa mãn.

Sư trụ trì Egan đã quan sát thái độ đó của Tōri. Mỗi lần có khách đến thăm chùa, nhà sư lại hết lời khen ngợi sự chăm chỉ của chàng. Có thể nói, sự thật là thái độ, tinh thần học tập của Tōri rất chân thành. Trước tiên, người ta kinh ngạc trước trí thông minh đọc nhiều nhớ lâu của Tōri. Không chỉ có trí nhớ tốt, ở chàng còn có sự kiên trì. Nếu gặp phải câu, từ không hiểu, Tōri vẫn ghi nhớ đến năm năm, mười năm cho đến khi gặp được sự việc nào đó khiến chàng hiểu ra vấn đề. Có thể nói đó là một bộ óc siêu phàm.

“Cậu này dành cả đời để đọc sách. Thật chẳng tầm thường.” – Egan rất thích thú và thường nói với khách đến thăm chùa như vậy. Và rồi, tiếng đồn về Tōri đến tai nhà Nho Ogyū Sorai. “Có thể cho ta gặp cậu ta một lần được không?”

– Một đại học giả như Sorai đã đề nghị Regan bằng một ngữ điệu lịch sự, tôn kính quá mức.

Cần giải thích đôi chút về tính quan trọng mang tính lịch sử tư tưởng của Ogyū Sorai.

Từ thời Shōtoku cho đến thời Kyōhō, giới Nho sĩ Edo lâm vào tình trạng hỗn loạn. Và nguyên nhân không ai khác chính là Sorai.

“Nho học ngày nay đã bị làm cho lệch lạc. Ta sẽ dạy Nho học thật sự cho các người.” Sorai đã đưa ra những lời lẽ quá khích như thế và gia tăng môn sinh. Ông cho rằng học giả Chu Hi (1130 – 1200) thời Tống, thật đáng trách khi là người khiến Nho học lệch lạc. Ông thậm chí còn tuyên bố: “Nho học ngày nay là những lời dạy của ngụy học giả nhà Tống, không phải là lời răn dạy của Khổng Tử.” Một cách gây chiến khôn ngoan. Đó là cách tuyên truyền, vào học với Sorai thì sẽ biết được Nho học thật sự. Không có lời nào ấn tượng hơn để thu hút môn sinh như thế. Sự thật là trường học của Sorai đã trở nên huyên náo như họp chợ.

Vốn dĩ, không có học giả nào có tư tưởng mang hơi hướm chính trị được như Ogyū Sorai. Tính cách đó là của một người chu du thiên hạ, kết bè phái hơn là của một học giả. Cuộc đời của ông đã khiến như vậy. Cha của Sorai là thầy thuốc riêng của Tokugawa Tsunayoshi (1646 – 1709) – người sau này trở thành tướng quân, nhưng vì tội lỗi nào đó mà ông ta bị lưu đày đến Mobara ở Kazusa1. Do đó, từ năm mười bốn tuổi, Sorai trở thành con của một lãng nhân, nếm trải đắng cay của cuộc đời. Để lập thân, không còn con đường nào khác ngoài học vấn. Trên cánh đồng cỏ cao quá đầu người, Sorai đã ôm chặt mấy quyển sách ít ỏi có được trong lòng, ra sức học tập. Tham vọng méo mó nảy mầm trong lòng Sorai từ lúc này. Năm hai mươi lăm tuổi, Sorai trở về Edo và mở trường dạy học ngay trước cổng chùa Zōjōji hòng tìm kiếm mối quan hệ với các bậc quan lại trong Mạc phủ. Zōjōji là chùa gia đình dòng họ tướng quân, ngang với chùa Kaneiji. Chàng thanh niên đã nhìn thấy khả năng đạt được vinh hoa nếu quen biết với giới cao tăng. Đúng như ý đồ, Sorai trở thành Nho thần của Yanagisawa Yoshiyasu (1658 – 1714), một cận thần đầy quyền lực của tướng quân lúc bấy giờ. Những Nho sinh bình thường bấy giờ, không ai có thể bắt chước được sự nhạy bén này. Người đàn ông này có một tài năng chính trị thiên bẩm.

1 Nay thuộc tỉnh Chiba.

Tuy nhiên, chàng ta vẫn có một nhược điểm. Điều cốt lõi là học vấn lại có điểm dối trá. Một khi đã nói học vấn của người khác “lệch lạc” thì Sorai phải chứng minh Nho học của mình “đúng đắn”. Chàng ta nói “Phải nghiên cứu cổ văn tự”. Cổ văn tự là khái niệm ở Trung Quốc thời nhà Minh, chỉ văn chương cổ đại Trung Quốc. Sorai cho rằng để biết lời dạy thật sự của Khổng Tử, phải tinh thông cổ văn tự là thứ chữ nghĩa được cho là gần với thời đại đó nhất. Và chàng đã ngạo mạn tuyên bố “Ta biết Đường ngữ (tiếng Trung Quốc)”. Dù thật sự, bản thân Sorai không hề thông thạo ngôn ngữ đó. Chàng ta chỉ sử dụng Okajima kanzan, một cựu thông dịch viên thông thạo tiếng Trung Quốc ở Nagasaki, làm túi khôn cho mình. Bằng cách có được Okajima, Sorai đã thành công trong việc tự mình xây dựng địa vị với quyền uy có được từ Đường ngữ.

Giai đoạn này, để mở rộng học phái của mình, Sorai hoạt động hết mình. Chàng ra vào thiền viện, chùa chiền khắp nơi để mời gọi những người quan tâm đến học vấn dù chỉ đôi chút, và cũng tranh thủ tìm kiếm anh tài trẻ tuổi. Chàng phát hiện ra tài năng bị ẩn giấu của những người con người ít tên tuổi và nhận làm môn đệ, đào tạo thành những người trợ giúp đắc lực cho mình. Nhờ vậy, khi tiếng đồn về Tōri, “một thanh niên hai mươi tuổi, đọc trọn sách kinh, thông thạo Đường ngữ” đến tai, Sorai đã rất háo hức. Nói đúng hơn thì đây chính là mẫu đệ tử Sorai ao ước, muốn có được hơn bất kỳ điều gì.

Khi gặp gỡ Tōri, Sorai đã khen ngợi tài năng đó. Nhưng một học giả đầy mưu tính như Sorai biết rõ không thể bộp chộp với những tài năng như thế này. Sorai đưa ra một quyển sách và nói: “Nghe nói cậu đọc được Hán thi, vậy trước tiên, thử đọc cái này xem.” Đó là Bạch Tuyết lâu tập của Lý Phàn Long (1514 – 1570).

“Dạ” – Nói rồi Tōri bắt đầu đọc thật trơn tru. Thật đáng kinh ngạc. Lý Phàn Long là một học giả chủ trương cổ văn tự thời nhà Minh. Học thuyết của Sorai, đa phần cũng dựa vào đó. Vì văn của Lý Phàn Long là văn cổ, không phải văn phong để một thư sinh sơ học, hai mươi tuổi lại có thể đọc một lèo, trôi chảy. Sorai dao động.

“Được rồi. Chuyển sang tiếng Nhật rồi hôm sau đem đến cho ta.” Chẳng có lý do gì ngoài việc Sorai muốn bắt thiên tài trẻ tuổi này dịch tác phẩm của Lý Phàn Long sang tiếng Nhật để mình tham khảo. Sorai đặc biệt nhạy bén trong những tính toán thiệt hơn như thế này. Cả mối quan hệ con người cũng vậy, ông ta luôn dùng người để đem lại cái lợi cho mình. Thế nhưng, Sorai giao tiếp với mọi người mà không thể hiện đầu óc tính toán đó ra bên ngoài. Đây vừa là điểm khôn lõi vừa chứng tỏ mưu trí của Sorai. Tōri vốn đầu óc ngây thơ, không biết tính toán đó nên ra sức đáp lại kỳ vọng của Sorai. Chàng đã thức suốt đêm để dịch Bạch Tuyết lâu tập sang tiếng Nhật và nhanh chóng dâng lên cho Sorai. Sorai tán thưởng và “cho phép nhập môn”.

Tōri vui mừng tột độ. Sau đó, chàng cũng muốn làm thơ. Nhưng người Nhật làm Hán thi không dễ. Phải giữ niêm luật bằng trắc, ghép vần. Vì vậy, để làm thơ, các nhà thơ mua tự điển về vần bằng trắc được gọi là Vần thư để tra cứu, chọn chữ. Chưa kể, người Nhật làm Hán thi rất khô khan. Người nhà Đường đến Nagasaki, đọc thơ người Nhật làm chỉ biết bịt mũi “toàn mùi Nhật Bản” là vậy.

Thế nhưng, chỉ có Tōri là khác. Tōri biết Đường âm. Chàng thông thạo Hán ngữ, tự do tự tại trong thế giới Hán ngữ như thiên mã tung vó trời cao. Chỉ cần nghĩ là ra thơ, chẳng mấy chốc chàng đã viết hơn mươi bài thơ.

Tōri đem những bài thơ đó đến gõ cửa nhà Sorai, cho ông ta xem. Ngạc nhiên thay, phản ứng của Sorai vô cùng lạnh nhạt. Ông ta chỉ giở chừng nửa tập thơ rồi chẳng buồn xem tiếp.

Với Sorai, ông ta không cần một thi nhân thiên tài để làm đệ tử. Ông ta chỉ cần một học sinh trung thành, sẵn sàng theo mình phát triển cổ văn tự học. Sorai giở tập Hán thi như châu như ngọc ra mà chẳng đoái hoài sự tuyệt vời của nó. Ông ta bắt đầu nghĩ cách làm sao để tài năng đáng kinh ngạc của chàng thanh niên này đem lại ích lợi cho mình. Sorai ngẩng lên nói: “Bất kỳ ai học văn chương cũng nên đọc Tả thị truyện, Sử ký, và Hán thư.”

Tōri cứ thế nghe lời Sorai, ngày qua ngày đọc Tả thị truyện. Một chàng trai trẻ lại có trái tim trong sáng như thế quả thật hiếm. Không chỉ đọc, chàng còn bắt tay vào viết lời giới thiệu cho Tả thị truyện. Chàng thấm nhuần văn phong của Tả thị truyện và viết lời giới thiệu như thể đã đào sâu tận xương tủy của bộ truyện, sau đó lại đem đến chỗ Sorai. Sorai đọc một mạch và thốt lên một tiếng “Tốt!”.

“Để ta viết hậu đề cho ngươi.” – Nói rồi Sorai cầm bút viết vào cuối quyển: “Không còn là kẻ mông muội như xưa.” Sorai thích diễn như vậy. “Mông muội” ở đây ám chỉ Lã Mông1 khi xưa bị chế giễu vì sự vô học của mình. Tức không cần phải nói nhiều, ý Sorai viết rằng Tōri “không phải là kẻ vô học như xưa, ta đã nhầm lẫn”.

1 Lã Mông (178 – 220): một danh tướng Trung Quốc thời Đông Hán, lúc trẻ ít học, sau tự trau dồi kiến thức trở thành một người văn võ song toàn.

Tōri vui mừng viết ngay một đoạn tiểu sử về Lã Mông dâng cho Sorai. Đương nhiên, với văn phong cổ xưa như của những sử gia trước thời Tần, Hán. Sorai lại tán thưởng nhiệt liệt. Trong thế giới Nho học, tán thưởng với tất cả cảm xúc dâng trào như thế này được gọi là “ta thưởng”, đúng vậy, ông ta tán thưởng không hết lời. “Mọi người, có thể nói lần đầu tiên Tả thị truyện đã được đọc, hiểu thật sự trọn vẹn như thế này.” – Sorai tuyên bố. Tōri đã hoàn toàn trở thành một sứ đồ của Sorai.

Có điều, chính vì vậy, danh tiếng Tōri vang xa khắp thành đô.

Thế nhưng, khi tài năng văn chương phát tiết rực rỡ, tinh thần Tōri lại trở nên xuống dốc. Cứ như thể có một khối u trong lồng ngực khiến chàng nặng nề, và cuối cùng nằm liệt giường. Chàng cứ thế nằm dài trên chiếc giường ở tăng phòng sau Phật điện, chỉ biết ngắm trần nhà mơ hồ, lãng đãng, không cách gì dậy nổi. Một tia nắng rọi vào phòng, chiếu sáng mặt bàn. Tōri đưa bàn tay gầy ốm vì bệnh hướng về chiếc bàn như để đón nhận ánh sáng. Và tình cờ, bàn tay chạm vào một cuốn sách. Thật ngẫu nhiên, đó là chương “Hạo nhiên chi khí” trong Mạnh Tử. Điều này đã làm thay đổi to lớn cuộc đời Tōri, về sau chàng đã kể lại như vậy. Tōri đọc ngấu đọc nghiến quyển sách như một kẻ bị bỏ đói lâu ngày.

“Dám hỏi, hạo nhiên chi khí là gì? Để giải thích thật khó thay. Khí đó chí đại chí cương. Nếu nuôi dưỡng, không làm hại thì khí đó bao phủ đất trời…”

Đọc được những dòng đó, Tōri như bị điện giật. Chỉ có thể do chàng cảm nhận được cái gọi là khí hạo nhiên đó. Ta đã u sầu, rã rượi vì điều gì những ngày qua? Chàng nhận ra những lời ngợi khen của sư phụ, nào tài văn chương, nào phải tu tập, những việc ấy trở nên nhỏ bé và tầm thường biết bao. Không được cúi đầu để ra sức tìm kiếm những hạt cát. Phải biết ngẩng đầu để nhìn đại dương mênh mông. Lâu nay chàng hoàn toàn không nhận ra điều đó.

Tōri hét vang: “Đường đi thật bao la và dễ dàng. Đúng là vậy.”

Có thể nói, trong khoảnh khắc này, mọi thứ trong lòng chàng đã được sáng tỏ. Từ ngày bước chân vào thiền tự, có một câu chuyện khiến Tōri luôn bị ám ảnh.

Có một lão bà dựng một cái am để chăm sóc một vị sư tu hành. Bà luôn để một cô gái trẻ bưng cơm rót nước cho nhà sư. Ngày nọ, bà dặn cô gái vòng tay ôm nhà sư và hỏi “Như thế này có được không?”. Nhà sư đang tu hành đẩy cô gái ra và nói: “Ta như cành cây khô trên vách đá, không có sự ấm áp.” Lão bà nghe thấy liền nói “Hai mươi năm nay ta đã nuôi một nhà sư trần tục như vậy sao?”, và đuổi nhà sư đi rồi đốt cháy am.

Chàng đã luôn băn khoăn không biết lý giải câu chuyện thế nào? Đây là một công án vốn được lưu truyền trong thiền môn, gọi là Bà tử thiêu am và được xem là một vấn đề khó từ trước đến nay. Khi chàng vui mừng như bị điện giật là lúc câu giải đáp hiện lên trước mặt chàng thật rõ ràng. Những năm cuối đời, Tōri đã giảng giải cho nhiều người về vấn đề này nhưng nay, không có sách vở nào để lại. Nhưng có điều gì đó đã được sáng tỏ trong lòng chàng. Tōri quyết định hoàn tục.

Thế nhưng, chàng không được phép. Gì thì gì, mẹ chàng còn đó. Bà luôn mong muốn Tōri trở thành một vị sư đức cao trọng vọng. Với một người có lòng tín ngưỡng sâu sắc, bà tự hào khi Tōri trở thành nhà sư. Vả lại, cha Tōri cũng vừa mới ra đi. Ngày nào, bà cũng chắp tay trước bài vị chồng, khóc kể: “Nhờ Magohei (Tōri) trở thành nhà sư mà mình mới có thể cực lạc vãng sinh.”

“Một con xuất gia, cửu tộc được cứu.” – Với Tōri chỉ là một câu tục ngữ đơn thuần không hơn không kém, nhưng với người mẹ, đó là tất cả hiện thực.

Dù sao đi nữa, Tōri đã về quê. Bước chân nặng trĩu. Chàng nói “con muốn hoàn tục” nhưng mẹ không cho phép. Không, nếu bà nói thành tiếng “mẹ không cho phép” thì dễ chịu hơn. Đằng này, khi vừa nghe hai chữ “hoàn tục” từ miệng Tōri, bà sững sờ, gục mặt xuống chiếu mà nấc lên những tiếng kêu nghẹn ngào: “Một người như con làm sao có thể làm học giả mà sống được chứ?”

Không biết làm sao, người chú được gọi đến. Người này có chút học vấn, từng nghe tiếng tăm của Tōri trên thi đàn Edo. Ông đặt tay lên vai mẹ Tōri và nói nhỏ nhẹ: “Làm nhà sư phải vứt bỏ cả thế gian. Cho con làm nhà sư chẳng khác nào vứt bỏ con khỏi thế giới này sao? Để cứu cha mẹ mà phải vứt bỏ con sao? Nghĩ lại chẳng phải quá đáng lắm sao? Bây giờ, Magohei muốn hoàn tục. Tức đứa con tỉ đã một lần vứt bỏ nay quay trở về thế gian này. Như tỉ lại có một đứa con. Đệ xin tỉ hãy chấp nhận nguyện vọng hoàn tục của cháu nó.”

Lúc ấy, đôi vai run vì khóc của người mẹ dừng hẳn lại. Tōri được phép hoàn tục.

Sư Egan chùa Renkō có mắt nhìn sáng suốt. Khi nghe lời nói đường đột “hoàn tục” của Tōri, ông vẫn không thay đổi sắc mặt, chỉ trả lời: “Nếu vậy, có thể nuôi tóc dài trở lại ở gian khác trong chùa.” Ông chuẩn bị cho chàng cả một căn phòng riêng. Ý nói chờ cho đến lúc tóc dài ra, có thể buộc thành búi, lúc đó có thể rời chùa.

Thời đại này, con mắt người đời dành cho việc hoàn tục vẫn còn rất khắt khe. Một khi đã hứa trở thành đệ tử của đức Phật nhưng làm khác đi, quay về thế tục thì sẽ bị trừng phạt. Vì vậy, nếu về nhà để tóc dài trở lại thì dễ trở thành tâm điểm nhạo báng của người đời. Hay như người hoàn tục bị ném đá vào nhà cũng là một chuyện thường tình. Egan đã cho Tōri ở trong chùa vì muốn bảo vệ đệ tử.

Bắt đầu hành trình hoàn tục, Tōri càng đọc nhiều sách hơn nữa. Có sách ghi chép lại rằng: “Ngày giờ không đủ dài để chàng đọc sách.”

Thế nhưng, hòn đá ném vào việc hoàn tục của Tōri lại xuất phát từ một nơi khá bất ngờ. Chính là Sorai. Hay tin Tōri hoàn tục, Sorai khó chịu ra mặt. Với ông ta, Tōri ở mãi trong chùa mới có lợi hơn. Chỉ cần chàng giao lưu với các nhà sư của tông phái khác, nghiên cứu Đường âm, chú giải Hán tịch, hỗ trợ Sorai học từ phía sau là được. Với Sorai, giá trị lợi dụng Tōri chỉ có vậy. Nếu chàng hoàn tục, ông ta mất cả chì lẫn chài. Nhưng đầu óc con người này không đơn giản. Ông ta không hề tỏ ra mặt suy nghĩ đó của mình, chỉ nhắm vào đạo nghĩa thầy trò để tấn công Tōri.

“Tại sao không trao đổi với ta? Nếu hoàn tục để lập thân xuất thế với tư cách học giả, trước tiên phải báo cáo với sư phụ là ta đây mới đúng tôn ti trật tự chứ? Chưa kể, tóc để dài cũng đã hơn trăm ngày, nhà sư mà để tóc dài như vậy là có nghĩa gì?”

Nghe tin Sorai tức giận, ban đầu Tōri đã không tin. “Sư phụ Sorai không thể nào nói những lời như vậy.” Chàng không hiểu tại sao sư phụ lại tức giận vì một người như mình hoàn tục. Nhưng đúng là sư phụ giận thật rồi. Tōri vội vàng toàn tâm toàn ý viết thư phân trần gửi sư phụ. Một đoạn văn chương siêu tuyệt thấu tình đạt lý. Nhưng chỉ như đổ thêm dầu vào ngọn lửa tức giận trong lòng Sorai.

“Tiểu tăng, dám cãi lại ta.” – Ông ta nói như quát với hai môn đệ Dazai Shundai, Yamagata Shūnan. Dù trong cơn tức giận, con người này vẫn không quên hoạt dụng sức mạnh tổ chức. Nhìn thấy Dazai Shundai thường ngày rất rạch ròi trong việc phân biệt trên dưới đang phẫn nộ, ông ta ra lệnh: “Shundai, ngươi đi giải quyết cho ta.” Có thật không khi Sorai không tự mình ra tay mà để môn đệ trừng phạt Tōri. Cả một môn phái Sorai cùng nhau tập hợp, bắt đầu bài xích, tẩy chay Tōri.

Tōri ra đòn bất ngờ cũng là lúc ấy. Một ngày, chàng nhóm lửa và ném tất cả những thi phú, văn chương vào đấy. Bởi chàng thấy xấu hổ trước việc đã dựa dẫm vào hư danh của Sorai, dù chỉ là một giai đoạn nhất thời.

Và tất cả thơ văn được cho là tuyệt tác không thể có về sau kể từ thời Kangen1 đã biến mất trong ngọn lửa hôm ấy. Nghĩ đến lịch sử văn học đất nước, ta chỉ có thể ngửa mặt lên trời cảm thán mà thôi.

1 Khoan Nguyên: niên hiệu trong khoảng thời gian 1243 – 1247.

Thế nhưng, câu chuyện vẫn chưa kết thúc. Cách sống thật sự của Tōri bắt đầu từ đây.

Tōri không biết phải làm sao. Rời khỏi chùa cũng không biết đi đâu.

Chàng hiểu ra sức mạnh ẩn giấu của Ogyū Sorai. Một khi đã bị ông ta căm ghét thì bằng hữu cũng viện đủ cớ để xa lánh chàng. Chưa kể, vừa không thể về quê với thân phận hoàn tục, vừa không thể cứ ăn nhờ ở đậu làm phiền sư trụ trì Egan mãi.

Tōri tiến thoái lưỡng nan. Đứng bên cửa sổ trai phòng, chàng ngắm nhìn bầu trời hoàng hôn tuyệt mỹ. Vừa lúc một đàn ngỗng trời bay ngang qua. Chàng cảm nhận chúng bay theo quy luật và có đích đến rõ ràng.

“Đàn chim còn có tổ để trở về. Ta thì không. Dưới bầu trời rộng lớn này, không đủ một chốn để ta dung thân.” – Nghĩ đến đó, chàng rơi lệ.

Thình lình, có tiếng gọi: “Tōri, có khách đấy!” Chàng lật đật sửa soạn lại y trang, tiến ra phòng khách. Một samurai tuổi chừng sáu mươi, đôi mắt sáng quắc như nhìn thấu tâm can người khác, ngồi thẳng lưng chờ chàng. Chàng nhớ mình đã gặp người này.

Khoảng thời gian Tōri mới vào chùa, từng dự một buổi tang lễ nhỏ. Tang lễ của một cô bé mới bốn tuổi, trên ngôi mộ nhỏ ở một góc vườn chùa có khắc “Hà Ngọc Lương Nguyên đồng nữ – Hưởng niên tứ”. Đó là lần đầu tiên chàng nhìn thấy người samurai nọ. Ông ngồi thẳng lưng, người vợ trẻ ngồi bên cạnh thì đau khổ vô hạn. Chàng nhớ một người trong chùa đã nói nhỏ: “Ngài Hosoi thật đáng thương. Một người có khí lượng như vậy lại sống đời rōnin1. Không được cấp lương nên sống đời nghèo khó, đứa con này là đứa thứ ba đã mất của ngài ấy.”

1 Lãng nhân – samurai không có chủ quân.

Nhờ vậy Tōri mới biết người samurai nghèo vừa mất đứa con gái nhỏ tên Hosoi Kōtaku (1658 – 1735). Hosoi là một lãng nhân cao danh nhất vùng. Không mộtsamurai nào tồn tại trong thế gian này văn võ song toàn bằng ông. Đặc biệt, ông nổi tiếng viết thư pháp theo kiểu Trung Quốc rất đẹp, đến nỗi Kinri Gosho (Thiên hoàng Reigen) vì muốn có được bút tích của Hosoi đã đặt hàng từ Kyōto. Hosoi còn nổi tiếng là người nhân nghĩa. Cả bốn mươi bảy lãng sĩ Akō1 cũng đã tiết lộ kế hoạch trả thù cho chủ với ông từ trước. Họ nhiều lần bàn bạc với Hosoi và ông chính là người viết tấm bảng cắm trên sân nhà Kira “Gia nhân Asano Takumi-no-Kami no kami báo thù”.

1 Xem chú thích trang 87.

Những chuyện như vậy thì ngay cả người ít quan tâm đến thế sự như Tōri cũng biết. Nay vị samurai lừng danh Hosoi đó tìm đến mình, ngay trước mắt, không sai vào đâu được.

Hosoi vốn là gia thần của Yanagisawa Yoshiyasu đầy quyền lực với 200 koku và chỉ huy một đơn vị pháo binh. Nhưng từ một việc nọ, Hosoi vứt bỏ thân phận, địa vị của mình trong nháy mắt. “Nghĩa hiệp” – Có thể nói từ này được tạo ra để dành cho người đàn ông này.

Tori cũng biết chuyện này. Một người quen của Hosoi trở thành lãng nhân và sống nghèo khổ nên nhờ ông tìm giúp một việc làm trong phủ quan. Hosoi dốc toàn lực giúp đỡ. Người quen của ông sở hữu một thanh kiếm quý gọi là “Sư tử vương” nên khi ông giới thiệu đến gia lão nhà sobayōnin (người bên cạnh hầu hạ tướng quân) của Ukyōnodaibu (tả kinh đại phu) Matsudaira Terusada thì được đề nghị: “Nếu dâng danh kiếm đó cho ta, ta sẽ tìm cách tâu lên trên.” Không còn cách nào khác, người quen đó dâng thanh “Sư tử vương”. Nhưng chờ mãi cũng bặt vô âm tín, không thấy hồi âm. Cuối cùng, Hosoi đến hỏi thì Terusada chối quanh: “Ta không biết việc đó. Gia lão hứa giới thiệu đó đã chết rồi. Nếu vậy ta trả lại kiếm.” Một thái độ đi ngược lại tinh thần võ sĩ đạo quá rõ ràng. Hosoi tức giận: “daimyō phải là người yêu thương samurai. Thế nhưng, ngài lại không nghĩ đến thân phận kẻ lãng nhân, mượn kiếm chán rồi thì bảo không biết. Như vậy là sao? Người quen của tôi thân phận lãng nhân, đã chờ đợi ba năm trời dằng dặc, một ngày tưởng như nghìn thu.” Hosoi nhìn thẳng mặt daimyō Terusada, nói giọng sang sảng: “Ukyōnodaibu! Việc ngài làm thật tồi tệ!”, rồi bỏ đi. Đương nhiên, chuyện không kết thúc đơn giản như thế. Thủ đoạn của Ukyōnodaibu thật bẩn thỉu. Ông ta mượn tay chủ quân của Hosoi là Yanagisawa Yoshiyasu để trừng phạt Hosoi. Yanagisawa cũng thật bất công, ông ta đứng về phía daimyō, bỏ rơi Hosoi. Hosoi biết rõ tính cách của chủ quân nên chẳng đợi nói, ông rời bỏ nhà Yanagisawa để tránh đem lại phiền phức cho nhà chủ. Kể từ đó, Hosoi trở thành lãng nhân.

“Lúc đó, tiên sinh Hosoi chẳng có tiền để dọn nhà. Nghe nói phải mượn từ chị dâu. Gia nhân nhà Yanagisawa ai cũng đầy ắp của biếu của tặng, vậy mà Hosoi thật thanh liêm. Nhưng tội nhất là người vợ. Sống cảnh bần hàn mà lần lượt, một, hai, rồi bây giờ là đứa con thứ ba ra đi. Cứ nhìn cảnh tiên sinh chắp tay trước ngôi mộ nhỏ, tôi đây thật không cầm lòng.” – Tōri vẫn còn nhớ rõ mồn một những lời nói đó của người trong chùa. Tiên sinh Hosoi đó có việc gì mà tìm đến mình nhỉ?

Vốn Hosoi chính là người đưa Ogyū Sorai, sư phụ của Tōri, ra thế giới bên ngoài. Hosoi đã phát hiện ra tài năng của Sorai – một người cho đến năm ba mươi mốt tuổi vẫn còn vô danh, và tiến cử lên Yanagisawa. Không chỉ vậy, ông còn thu xếp cho Sorai mười lăm tùy tùng, và lo cả chuyện cưới vợ. Thế nhưng, khi Hosoi lâm cảnh khó khăn, Sorai chẳng những không đưa tay giúp mà còn ngoảnh mặt làm ngơ. Nay Sorai có danh phận ở nhà Yanagisawa với bổng lộc 500koku, còn người đã tiến cử ông ta là Hosoi trở thành lãng nhân tay trắng, sống cảnh khó nghèo, con cái vì thế cứ chết thảm.

Thật ra, với Sorai mà nói, Hosoi là người khiến Sorai cảm thấy ngột ngạt hơn ai hết. Ngay từ đầu đã như vậy. Lần đầu tiên, khi giới thiệu Sorai diện kiến Yanagisawa, một người tử tế thật lòng như Hosoi đã không tiếc lời ca ngợi Hán thi của Sorai trước mặt chủ quân. Thế là Yanagisawa Yoshiyasu chỉ bình hoa, nói: “Vậy hãy làm một bài thơ về những bông hoa đó xem.” Sorai lúng túng. Nếu làm không hay thì sẽ bị chê cười, trốn được thì trốn. Sorai nhanh mắt phát hiện hoa trong bình là hoa giả nên từ chối: “Đó là hoa giả. Thời xưa không có hoa giả.” Đường thổ khi xưa không có hoa giả. Tức hoa giả không phải là vật có thể làm chủ đề của Hán thi. Ông ta muốn lẩn tránh với lý lẽ đó. Thế nhưng, cơ hội vi diệu đó không qua được cửa Hosoi. “Làm thơ về thứ không có mới gọi là văn chương chứ. Lệnh của bề trên, cứ thử đọc xem.” – Ông vô tư nói. Không còn cách nào khác, Sorai toát mồ hôi hột làm một bài Hán thi. Kết cuộc, một bài thơ ngớ ngẩn ra đời. Mọi sự Sorai căm ghét Hosoi cũng từ sự kiện đó mà ra. Nhưng Hosoi lại vô tư, chẳng nghĩ gì. Tuy trở thành lãng nhân, ông vẫn hồn nhiên tìm đến chỗ Sorai: “Ta muốn in sách, nên muốn nhờ bậc cao danh đây viết lời tựa.” – Chứng tỏ vẫn duy trì mối quan hệ bằng hữu với Sorai.

Tōri rụt rè tiến lại ngồi trước mặt Hosoi. Thế nhưng, vừa nhìn mặt Tōri, Hosoi dập trán xuống chiếu, rạp người nói:

“Ngài Nakane, tôi đây có một nguyện vọng. Nghe nói ngài sẽ hoàn tục. Ngài có thể lưu lại nhà tôi một thời gian không? Đương nhiên, chỉ cần ngài đồng ý.”

“…”

Còn chuyện gì buồn cười hơn? Cao nhân thư pháp lừng danh nhất xứ, tuổi hơn sáu mươi lại chắp tay trước một thanh niên tuổi mới hai mươi, cung kính hết mực, khẩn cầu người đó đến nhà mình ở. Tuy rất biết ơn lời mời nhưng thật lòng Tōri chẳng hiểu chuyện gì.

“Thế nhưng cháu không có lấy một mon. Thật sẽ phiền ông lắm.”

“Ngài Nakane, sao lại nói vậy? Lẽ nào mời thầy quý mà lấy tiền cơm, ở đời làm gì có đạo lý đó. Nhà tôi tuy tồi tàn nhưng xin đừng lo lắng.”

Không cần nói cũng biết, đây là sắp xếp của Egan. Sư trụ trì Egan vì lo lắng cho Tōri nên đã âm thầm bàn bạc với Hosoi. Hosoi từng biết tài thơ văn tuyệt diệu của Tōri. Không bỏ mặc kẻ khó vốn đã là căn tính của Hosoi. Hay tin Tōri bị môn đệ Sorai đồng loạt tẩy chay, Hosoi đã vội chạy như bay đến.

Rốt cuộc, Tōri đến nhà Hosoi ở Hongō. Căn nhà quả thật rách nát, lại có con nhỏ, thỉnh thoảng gào khóc thật to. Nếu bình thường thì thật chẳng phải nơi dẫn khách về.

Chưa hết, vừa về đến nơi, Hosoi lấy ra một cuộn giấy được viết tên người dày đặc, rồi lấy bút viết tên Tōri vào đoạn cuối cùng: “Nakane Magohei”. Tōri ngạc nhiên tột độ. “À, đây là danh sách bạn bè, quen biết của tôi. Người ta nói chữ viết nói lên cái tâm. Nếu quen với bạn xấu, tâm hồn mình sẽ bị vẩn đục, không viết chữ đẹp được. Cho nên, mỗi khi tìm được người bạn có tâm hồn đẹp, tôi lại viết tên người đó ra như thế này.” Đó là một thói quen kỳ lạ của Hosoi.

Điều khiến Tōri ngạc nhiên hơn cả khi đến nhà Hosoi là phòng đọc sách. Trong phòng không chỉ sách in rập takuhon1, kim thạch văn mà còn có cả văn tự Mãn Châu, tất cả thư tịch, văn tự đều có. Không chỉ vậy, Hosoi còn biết cả tiếng La-tinh. Đó là nhờ ông đã học kỹ thuật khảo sát thiên văn của phương Tây khi ở Nagasaki, còn có thể gọi tên các vì sao, tên của mười hai tháng trong năm bằng tiếng Hà Lan hay tiếng La-tinh.

1 Sách đồ lại chữ đã được khắc trên gỗ, đá, v.v.

“Tháng Một là Yanuwari (January), tháng Hai là Feburuwani (February). Nếu chia thế giới thành bốn phần thì có Ajiya (Asia), Erohha (Europe), Rimiya (Africa), America. Còn nếu chia thành năm thì America sẽ phân Bắc, Nam. Một foot của Tây dương bằng 1 shaku 2 bu của chúng ta.”

Chuyện ông nói với khách đến chơi nhà như vậy là bình thường. Sau đó, ông viết lại những kiến thức đó thành sách bí truyền gọi là Trắc lượng bí ngôn. Tuy hơi lạc đề nhưng cũng mạn phép nói thêm, quyển sách này của Hosoi đã được lưu truyền dưới dạng sách chép lại, sau thời Meiji, hiệu trưởng đầu tiên của trường Đại học Kyōto Teikoku, khoa Văn học, là nhà triết học kanō Kōkichi biết được. Cuối cùng cuốn sách đã được in lại vào thời Heisei. Tôi cũng từng được nhìn thấy nó.

Tóm lại, tư duy của Hosoi rộng mở, quảng đại, Ogyū Sorai thật chẳng thể nào sánh bằng.

Càng tiếp xúc với ông, Tōri càng không thể hiểu nổi con người này.

Cơm ngày hai bữa đạm bạc, rượu không uống. Khi nào có chút đồ nhắm sashimi1 ông mới nhắm chút rượu muối nhưng lại cực kỳ thích mì soba. Cứ ba ngày ông ăn mì soba một lần. Khó hiểu nhất là Hosoi không hề ngủ. Ông đọc sách, viết lách thâu đêm. Khi trời sắp sáng, ông chợp mắt một chút. Nhưng mặt trời ló dạng thì ông cũng thức dậy, lại chìm đắm trong sách vở. Không dạy ai cũng chẳng lấy tiền bạc gì khi viết chữ. Cũng không tỏ ý gì muốn phụng sự daimyō nào đó. Ông chỉ mềm lòng khi thấy mì soba nên ai đó đem soba đến thì ông viết chữ rồi nhận lấy như tiền công. Người hầu trong nhà có lấy trộm gạo, củi than Hosoi cũng nói: “Vì là nhà ta nên hắn mới dám, đừng mắng hắn”, rồi bỏ qua. Ngay cả người như Tōri nhìn cũng thấy Hosoi là một người kỳ lạ nhưng những lời nói kỳ lạ đó lại có sức hấp dẫn khó lý giải. Đặc biệt, khi nghe Hosoi nói về chuyện tiết nghĩa của con người, chẳng hiểu tại sao người nghe ai nấy đều xúc động chảy nước mắt.

1 Món cá sống cắt lát mỏng của Nhật.

Một người đáng kính như vậy lại chịu sống cảnh như thế này sao? Có lần, chàng lấy hết can đảm hỏi thử: “Tiên sinh thông tuệ học vấn, từ thư pháp, kiếm thuật, cung thương, nhu thuật, pháo binh đến thiên văn trắc lượng, sao lại không phụng sự bề trên? Con đây thấy thật uổng phí…” Bất ngờ thay, Hosoi trả lời: “Ngài Nakane đây nghĩ vậy sao? Ta vì muốn viết mà viết, muốn đọc nên đọc, chỉ vậy là đủ. Ta nghĩ rằng đó là con đường của “kĩ”. Nếu chuyên tâm vào “kĩ”, sẽ nhìn thấy con đường. Nếu “kĩ” đạt ở tầm vóc cao, nó sẽ có ích cho ta và lưu hành đương thế nhưng ta quyết định không dùng kĩ để kiếm sống.” Nói rồi ông mỉm cười hiền hậu.

Đúng là vậy. Nghệ thuật tự thân nó đã có vẻ đẹp. Việc chúng ta muốn có cái gì đó từ nghệ thuật là một sai lầm. Khi được ca ngợi tài năng văn chương, khi tên tuổi nổi tiếng ở kinh đô, bản thân chàng cũng suýt lầm đường. Lúc đó chàng đã say sưa, đắm chìm trong thơ phú chỉ vì niềm hạnh phúc khi một kẻ cô độc lần đầu tiên được thế gian chấp nhận, chỉ vì mong được người đời công nhận hơn nữa mà lặp lại đi lặp lại thi tác. Tuy không có tham vọng công danh, cũng chẳng có ý định làm quan nhưng nghĩ lại đó là một cách báng bổ nghệ thuật.

“Không thể cứ ở mãi nơi này được.” – Khi Tōri bắt đầu cảm thấy đã đến lúc rời khỏi nhà Hosoi ở Hongō, chàng nhận được một lời đề nghị ngoài mong đợi.

Nghe danh tài năng văn chương trẻ tuổi nên nhà Kaga cùng xứ Hongō đã gửi thư cho Tōri. Tên người gửi là Muro Shinsuke. Muro Shinsuke có hiệu là Kyūsō. Tuy phụng sự Mạc phủ, có sức ảnh hưởng đến nền chính trị của Tokugawa Yoshimune nhưng thật ra Muro vốn là trọng thần phiên Kaga.

Thư viết: “Ta chuẩn bị đi Kanazawa. Ngươi có thể cùng đi với ta không?”

Phiên Kaga lúc ấy nhanh nhạy nhất nước Nhật trong việc tìm kiếm học giả. Đó là vì phiên chủ của họ là Maeda Tsunanori (1643 – 1724), một daimyō rất chú trọng học vấn. Tsunanori có thói quen sưu tầm. Với ông, học vấn là “sưu tầm”.

Châu Âu cận đại đã tạo ra tự điển bách khoa, sở thú, bảo tàng, cửa hàng bách hóa, cho hết cả thế giới vào một không gian nhỏ và tư tưởng của Tsunanori cũng gần như thế. Với sức mạnh kinh tế một triệu koku, phiên Kaga giàu có có thể mua hết những sách vở quý hiếm trong và ngoài xứ, cũng như con mắt sắc sảo không bỏ qua việc chiêu mộ nhân tài. Muro Kyūsō cũng là một người trong bộ “sưu tập”của Tsunanori, mười lăm tuổi đã được mời đến phiên Kaga. Phiên Kaga đã dùng Muro Kyūsō để mắt giới Nho học, chiêu mộ văn nhân. Hơn hết, Kyūsō là người phản đối Ogyū Sorai mạnh mẽ nhất trong việc đuổi Tōri.

Nhưng khi ở nhà Hosoi, với Tōri, chuyện xảy ra với Sorai chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Tōri chỉ quan tâm một điều: “Kaga có nhiều sách. Mình muốn đọc sách.”

Kaga được gọi là “thiên hạ chi thư phủ” (phủ có nhiều sách nhất trong thiên hạ). Đó là nhận xét của Arai Hakuseki1 và sự thật đúng là vậy. Không thể lập chính quyền ở Kaga, dòng họ Maeda đã lập thành một phủ sách. “Có sách thì cứ đem đến Kaga. Sẽ bán được giá” là câu nói truyền miệng và là tri thức phổ biến giữa học giả và giới buôn sách. Sách vở trong thiên hạ được tập trung ở Kaga. Trong lòng Tōri trỗi dậy ham muốn mãnh liệt là đọc hết chỗ sách đó.

1 Arai Hakuseki (1657 – 1725): một nhà Nho, nhà văn nổi tiếng thời Edo trung kì.

Tết năm Shōtoku 6 (1716), Tōri hai mươi ba tuổi đi theo Muro Kyūsō năm mươi chín tuổi, xuống Kanazawa.

Kyūsō là người tốt, có học, chỉn chu. Khuôn mặt với đôi lông mày chảy xuống trông buồn cười. Không như Ogyū Sorai và Hosoi Kōtaku, ông cực kỳ ít nói.

Tuy vậy, thơ văn của Kyūsō thì không phải tầm thường. Cả đối thủ học vấn Sorai cũng phải công nhận tài viết văn của Kyūsō.

Lúc trước có người tên Hirano Kinka, đệ tử của Sorai, vốn hay nghịch ngợm. Tōri cũng biết, người này làm thơ hay và khá tự do. “Để xem tài nghệ của Kyūsō thế nào”, Hirano thình lình đến chỗ Kyūsō đề nghị sửa giúp một tác phẩm tâm đắc của mình. Ban đầu, Kyūsō từ chối nhưng Hirano một mực nài nỉ nên ông gọt bớt hai mươi chữ, thêm vào năm chữ rồi trả lại cho Hirano. Hirano bất mãn nên đem đến cho Sorai xem, mong được nghe lời nhận xét “trước khi sửa hay hơn”. Nhưng xem xong bản sửa của Kyūsō, Sorai đã phải thốt lên vì nó quá hoàn hảo.

Chính vì học thức của Kyūsō như vậy nên khi Tōri quyết định đi Kanazawa, Hosoi Kōtaku rất lấy làm vui mừng, mắt cười rạng rỡ:

“Ngài Nakane có tài năng thi phú trời ban. Nếu được ngài Kyūsō gọt giũa, thật tôi không tưởng tượng được tài năng đó sẽ đạt đến mức nào.”

Kyūsō là một học giả lớn của Trình Chu học tức Chu Tử học, lại có tính chỉn chu, việc gì cũng phải đâu vào đấy mới được nên từ đầu, khi Tōri nhập môn, ông đã hỏi:

“Nghe nói ngươi đã có tên Shōen khi vào chùa, nay định làm thế nào?”

“Con dự định quay lại là Magohei như xưa.”

“Magohei cũng là cái tên hay nhưng sao không thử chọn một cái tên cho ra samurai một chút? Thật ra ta đã thử nghĩ giúp ngươi. Ngươi thấy tên Sadaemon thế nào? Sada có nghĩa là đúng đắn, ý là quay về con đường đúng đắn. Sadaemon. Ngươi đã hoàn tục, có được con đường đúng đắn của mình. Trong Luận ngữcũng có viết “quân tử trinh nhi bất lượng” (quân tử giữ điều ngay chính, không chấp những điều tín nhỏ mọn). Nói gì thì nói, rất hợp với ngươi, luôn đứng thẳng, không cúi đầu. Chỉ có thể là Sada mà thôi. Có thể xưng tên mình là Sadaemon lắm chứ. Ở Kanazawa, ngươi không phải lo lắng điều gì. Chỉ cần chuyên tâm học hành.”

Nghe những lời nói đó, lòng Tōri ngập tràn cảm xúc.

“Con thật không xứng với những lời như vậy. Con đã đạt được mong mỏi bao lâu nay của mình. Gánh nước, thổi cơm, việc gì con cũng có thể làm được. Xin hãy cho con được ở bên cạnh tiên sinh.”

Nói rồi chàng bật khóc nức nở.

Như vậy, Tōri trở thành Sadaemon. Có một người như Tōri làm đệ tử, Kyūsō lấy làm vui mừng, viết cả thư cho bạn bè, tri kỉ kể chuyện đặt tên cho Tōri.

Tuy miệng nói vậy nhưng ở chỗ Kyūsō, Tōri không gánh nước cũng chẳng nấu cơm. Nói đúng hơn, thật không thể để Tōri làm những việc đời thường đó. Chàng ta thích học đến mức kinh ngạc, không thể nào mở miệng sai làm những việc

vặt đó được. Kyūsō còn viết thư kể: “Mỗi sáng thức dậy là cậu ta ngồi thiền rồi đọc Tứ thư, cứ như một hình nhân đất sét.” Buổi sáng, mỗi khi thức dậy, Tōri ngồi thiền ngay và bắt đầu đọc Tứ thư. Bất chấp muỗi chích, ruồi bay xung quanh, chàng cứ ngồi yên, bất động. Dân Kanazawa thích thú bàn tán về Tōri: “Người đó chắc là hình nhân bằng đất.” Kyūsō rất quý mến một Tōri như thế.

Tóm lại, một lần nữa, Tōri bắt đầu con đường học vấn đáng kinh ngạc của mình. Bằng cách đó, học thức của chàng bắt đầu vươn đến đỉnh cao. Cũng phải thôi. Thời niên thiếu, Tōri đến Ōbakusan mài đũng quần ở chùa với tăng sư Trung Quốc, học Hán học. Năm mười chín tuổi, như Saichō, chàng đọc hết các kinh kệ. Sau đó theo Ogyū Sorai học cổ văn tự, cùng sống với Hosoi Kōtaku tinh tường thiên văn học phương Tây. Sau đó, lại theo Muro Kyūsō là một nhà tri thức hàng đầu để tìm đến với học vấn chính thống. Đương thời, những lĩnh vực chàng từng theo đuổi và học qua đều là những lĩnh vực tối cao trong học vấn, chỉ có thể nói thật là một kỳ tích khi những tinh túy đó đều được trút vào chàng trai thiên tài này.

Do đó, ở Kanazawa, Tōri rất được quý trọng. Người ta nói với nhau chàng thừa sức được trọng dụng như một học giả Nho học của bề trên. Và người ta nói rằng: “Nếu để một tài năng như thế bị phiên khác chiêu mộ thì thật đáng tiếc. Phải nhanh chóng tìm cách giữ lại.” Vốn Kyūsō cũng có suy nghĩ đó. Dẫn Tōri về Kanazawa cũng là muốn một lúc nào đó, để Tōri làm quan phụng sự phiên Kaga.

Vì vậy, Kyūsō đã khuyến khích Tōri làm quan. Nhưng Tōri không hề có ý đó. Chàng từ chối: “Bản thân con không có ý định làm quan. Không thể nhận bổng lộc bằng học vấn được.”

Thoạt đầu, Kyūsō cũng nghĩ chàng khiêm tốn, cho là khẩu khí thường gặp của những người trẻ nên không để bụng. Ông chủ quan nghĩ rồi Tōri sẽ thay đổi sau một thời gian tiếp xúc với người dân ở Kanazawa. Thế nhưng, chẳng có chút thay đổi nào cả. Ông tìm đủ mọi cách mà Tōri vẫn một mực kiên định trước lời đề nghị làm quan. Dần dần, Kyūsō trở nên sốt ruột.

Tōri cảm thấy nếu cứ ở đây sẽ phải nghe đi nghe lại chuyện làm quan, phụng sự mãi. Cuối cùng, chàng cũng bị sư phụ gọi lên:

“Ngươi không định ra làm quan, vậy chứ định làm gì?” “Con định về lại Edo.”

“Về rồi làm sao?”

“Con đọc sách. Con vẫn chưa đọc cho đến khi thấy thỏa mãn ạ.”

“Vậy nếu đọc đến lúc thỏa mãn thì ngươi sẽ làm quan đúng không? Vậy ta sẽ chờ đến lúc đó.”

“Dạ không, cả đời con sẽ không làm quan ạ.”

“Ngươi nói gì vậy? Làm sao mà có thể đọc sách mãi được. Còn phải ăn chứ?”

Đúng vậy. Ở thôn làng thì không nói làm gì, nhưng Edo là chốn phồn hoa, vật giá đắt đỏ. Tōri lại có tính cứng đầu, không giỏi ăn nói. Đến cả một Sorai khôn ngoan như thế cũng phải vất vả bao nhiêu mới mở trường học ở Edo được. Tōri không thể nào có được cái tài khéo léo xoay xở đó. Biết đâu chết khô bên đường cũng nên. Thế nhưng, Tōri nói dứt khoát:

“Con sẽ bện dép zōri để bán.” “…”

“Con sẽ đọc sách vào buổi sáng và tối, nếu hết gạo sẽ bện zōri bán bên đường. Nếu có tiền, sẽ nấu cháo cỏ ăn rồi lại đọc sách.”

“Đúng là một tên ngốc.” – Kyūsō nghĩ bụng.

Thời này, zōri thường được treo trong những căn lều nhỏ thô sơ bên đường để bán. Những thanh niên độc thân đói nghèo hay những lão nhân thường được đem về đây để làm người canh gác và được phép làm zōri để bán. Nhưng Nho gia, samurai mà lại dùng nghề này để sinh nhai thì thật không thể nào tưởng tượng được. Vốn là một đại học giả phái chính thống trong thiên hạ, ý thức sang hèn trong Kyūsō rất mạnh.

Ông cho rằng: “Con người ta mỗi người có cái gọi là thân phận. Nho gia thì phụng sự quốc quân với tư cách Nho gia, có sứ mệnh được trời trao cho, làm an lòng dân chúng bằng trái tim nhân từ.” Việc bán zōri để kiếm tiền là việc làm tư lợi, không phải dành cho người quân tử. Vậy giải thích như thế nào về mâu thuẫn giữa việc này với việc sống bằng lương bổng lấy được từ tiền thuế của những người dân bán zōri? “Lòng nhân là nghĩ về hạnh phúc của con người, còn lợi chỉ nghĩ đến hạnh phúc của riêng mình. Người có lòng nhân luôn nghĩ về hạnh phúc của mọi người nên đứng trên thì xã hội mới yên bình, cũng như mây bay trên cao, bùn lắng xuống dưới, thân phận cao thấp đã được hình thành như một đạo lý của trời đất.” – Kyūsō nói. Nhưng, Tōri lại cho rằng: “Nói như vậy chẳng phải là ngụy biện sao?”

Vì vậy, cuộc nói chuyện giữa hai thầy trò mãi không có điểm gặp nhau.

“Con không có ý định nói này nói nọ về chuyện người khác. Có điều con muốn tự mình kiếm ăn bằng sức của mình, chứ cảm thấy không đúng đắn khi nhận từ người khác dù chỉ một xu nhỏ. Con muốn theo đuổi cách sống như vậy.”

Tōri nhìn thẳng vào Kyūsō. Một ánh mắt trong sáng, tuyệt đẹp như có thể xuyên thấu. Hình ảnh chàng trai trẻ lúc ấy hệt như hình ảnh của một chiếc đĩnh nặng ngàn cân đứng thẳng, vững chãi.

Cuối cùng Kyūsō đành chịu thua. “Ta sẽ không nói chuyện làm quan nữa. Con làm gì tùy thích.” Và ông còn nói thế này: “Con là một người có lòng nhân, không chịu khuất phục. Dù xung quanh có là đen, hay trắng, con cũng chẳng bị nhuộm màu. Và chẳng tranh cãi với ai. Thật là một người kỳ lạ.”

Về sau, Kyūsō còn có lời bình về Tōri như thế này: “Cứng cỏi, không chịu khuất phục; trầm lặng, không tranh cãi; không sợ mòn dù bị mài, không sợ đen dù bị bôi bẩn.”

Kyūsō nghĩ Tōri “như một viên ngọc cứng”. Ở đời, những viên ngọc thường đánh mất ánh sáng long lanh của mình khi bị đá lăn lóc, bị vùi dập trong bùn đất thô nhám nhưng với Tōri thì hoàn toàn không có chuyện “bị chà xát” đó. Ngược lại, càng lao khổ, tâm hồn chàng càng được mài giũa trở nên sáng đẹp. Hoàn toàn khác hẳn với Ogyū Sorai vốn vì những khó khăn thời trẻ mà trở thành một con người tính toán. Kyūsō nghĩ vậy.

“Cuối cùng, ta muốn nói với con điều này. Con không được vứt bỏ thi ca. Đừng bám lấy văn từ mà đánh mất thơ. Thơ mà câu nệ từ ngữ, sẽ rơi vào lý thuyết, đánh mất phẩm chất, nếu xuất phát từ cái tình, sẽ trở nên cao quý đầy cảm xúc. Ta chỉ mong con nhớ điều này. Những bài thơ xuất phát từ tình cảm sẽ thấu tận trời cao, chiếm trọn trái tim muôn người. Không có gì cao quý và mỹ tuyệt bằng một người sống và để lại những bài thơ cho đời.”

Khắc sâu trong tâm khảm những lời nói của Kyūsō, Tōri rời Kanazawa.

Nakane Tōri là một Nho gia lạ thường. Chàng được nhà Nho hàng đầu trong thiên hạ, Muro Kyūsō công nhận nhưng lại có suy nghĩ “Không thể nhận bổng lộc bằng học vấn được” và bỏ ra đi. Chàng đã tự mình rời bỏ con đường làm quan, con đường trở thành một Nho gia hàng đầu của phiên Kaga giàu có cả triệukoku.

“Người đó khác thường không thể tả. Rồi kiếm cái ăn như thế nào đây?” – Người quen của Tōri bàn tán với nhau. Thậm chí có người lo lắng, đi tìm chàng nhưng họ chẳng biết chàng đã đi đâu.

Cũng phải thôi. Tōri đến ở tại xóm trọ bẩn thỉu Hacchōbori ở Edo, đầu đầy chí, chẳng gặp gỡ ai, cả ngày không chợp mắt, chỉ biết đọc sách. Như khi còn ở Kanazawa, một ngày chỉ hai lần là dịch chuyển, ăn cơm, tiểu tiện. Xong những việc đó, lại đọc sách.

Hệt như một con rối búp bê đọc sách, chẳng thể nào nghĩ đó là một con người. Vì quá kỳ lạ nên có lần, một người trong nhà trọ đã đến hỏi.

“Anh đọc nhiều sách như thế để làm gì vậy?” Tōri chậm rãi ngẩng mặt lên trả lời:

“Tôi đọc sách là để lấp đầy cuộc đời này. Không biết có phải tham lam quá không nhưng nếu không đọc sách, tôi thấy rất thiếu thốn, muốn ăn món ngon và lo lắng hết tiền. Nhưng thật ra không được đọc sách chỉ để vui thú. Mà phải suy ngẫm nhiều hơn. Làm thế, khi làm những việc không đúng, ta biết xấu hổ. Người có thể hoàn thiện nhân cách chỉ bằng việc đọc sách thật tuyệt vời. Nhưng không cần đến mức đó cũng được, chỉ cần đọc sách, con người sẽ thấy xấu hổ khi làm chuyện không hay. Chỉ vui thú đọc sách như tôi cũng không đúng đâu nhưng…”

Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau đó, nguồn lương thực của chàng cạn kiệt. Thùng gạo của Tōri đã trống rỗng. Cái chết vì đói hiển hiện trước mắt.

Vẫn có nơi có thể nhờ cứu giúp. Đó là Hosoi Kōtaku ở Hongō và Egan ở chùa Renkō. Chỉ cần hai người này biết Tōri đã quay lại, họ sẽ vui mừng đón chàng. Nhưng chàng đã quyết định không nhờ cậy vào họ. Chàng đã quyết định không dựa dẫm vào họ dù chàng có thể làm vậy với lòng hảo tâm của hai người. Tōri tiếp tục đọc sách. Chàng nghĩ: “Mình không thể nào chết ngay được. Mình chỉ uống nước thôi, rồi đọc sách.”

Thế rồi kỳ lạ thay, khi đã xác định rõ trong lòng “có thể chết” và bắt đầu đọc những quyển sách yêu thích thì không ngờ, nỗi bất an trong lòng biến mất. Và quả thật, chỉ còn niềm vui.

“Uống nước lòng khoan khoái, mặc lụa vẫn ưu sầu.” – Chàng thốt lên. Ý rằng dù chỉ uống nước nhưng vẫn có thể tận hưởng cuộc đời. Hay dù mặc lụa vẫn không thể thoát khỏi bất hạnh.

Nhưng nói gì thì nói, không thể cứ như vậy mà chết được. Tōri còn một người em trai. Gia đình chàng vốn đông đúc anh em, khi cha mất đi, Tōri còn bốn người em trai và một người em gái nhưng họ cũng lần lượt ra đi. Bây giờ chỉ còn một người em trai và em gái. Cô em gái tháo vát đi làm dâu nhà một vị quan ở Uraga, dẫn theo mẹ già để chăm sóc nên phần họ không có gì đáng lo.

Người em trai còn lại mới thật đáng nói. Ngay cả người vụng về như Tōri cũng thấy em mình là một người không giỏi xoay xở, rất đáng lo. Người em trai này chỉ có cái tên Toshinori (Thúc Đức) là có vẻ Nho gia, còn lại thì chậm chạp, ít nói nên chẳng kiếm được tiền, sống bữa đói bữa no ở Kamakura với chút tiền công ít ỏi.

Chẳng biết Tōri nghĩ gì nhưng chàng vét hết mấy hạt gạo cuối cùng còn sót lại ở đáy hũ rồi đi Kamakura. Hai anh em họ cùng bán geta1 dưới cổng đền Tsurugaoka Hachiman. Họ vớt gỗ cây trôi từ bờ biển Yuigahama vào, đẽo đóng thành guốc rồi bày dọc đường lên viếng đền, bán cho người đi cúng bái.

1 Guốc gỗ truyền thống của Nhật.

Cho đến thời Muromachi, người xứ này vẫn cởi guốc, dép, đi chân trần khi vào khu vực linh thiêng của đền, chùa do không được phép đem những gì đã vấy bẩn của hạ giới vào. Vào thời Edo, phong tục tuy chỉ còn cái tên nhưng vẫn được những người có lòng tín ngưỡng sâu sắc duy trì bằng cách mua guốc, dép mới trước cổng. Do đó, anh em Tōri có thể bán geta trước đền thờ là vậy.

Người đề nghị “bán geta dưới cổng đền” là Tōri. Người em trai lập tức chau mày. Thời này, bán guốc, dép trên đường là nghề hạ tiện nhất vùng. “Huynh có học vấn. Chẳng phải làm thầy thuốc không tốt hơn sao?” Cách nói tỏ rõ thái độ “đâu cần phải đến mức bán geta”.

Đúng vậy. Vốn dĩ thời này, không thể nào có chuyện một sĩ đại phu có thể đọc hiểu y thư mà bán geta bên đường.

Hơn thế nữa, cha của Tōri là thầy thuốc, và người có học như Tōri, đừng nói Kamakura này mà có tìm sang Edo, một vòng Kantō cũng chẳng có. Nếu theo ngành y, chắc chắn thiên hạ sẽ kéo đến. Lý lẽ của người em trai cũng không có gì là khó hiểu.

Tuy vậy, Tōri dứt khoát: “Ta không thể chữa bệnh. Điều này rất rõ ràng. Đúng là nếu làm thầy thuốc, cuộc sống của chúng ta sẽ thoải mái hơn. Nhưng phát thuốc không hiệu nghiệm rồi đi lấy tiền công chẳng khác nào lừa người.”

Vốn là người chính trực nên người em trai gật gù đồng ý. Thế là hai anh em họ bắt đầu bán geta. Những đôi geta do những người nghiệp dư làm thì không thể nào bán giá cao.

Hai người bị khách bắt thóp, đành giảm giá bán hai đôi geta mất bao công sức mới làm ra với giá 3 mon. Thật là những ngày khó nhọc.

Nếu một ngày bán được một đôi thì họ đủ tiền ăn hôm đó. Gặp ngày mưa liên tiếp, không bán được đôi nào thì không có cơm, đành chịu để bụng đói.

Có điều, dần dần, lời đồn “có người kỳ quặc vừa đọc sách Hán vừa bán geta” bắt đầu lan ra. Thế là có người lấy làm tò mò, tìm đến mua geta. Nhờ vậy mà cuối cùng họ cũng có thể tiếp tục ngồi bán geta trên đường, lay lắt bữa đói bữa no qua ngày dù tâm, thân co ro trong bộ quần áo mỏng manh giữa những cơn gió lạnh.

Vào khoảng thời gian đó, cạnh phòng trọ của Tōri có một người đàn ông bị bệnh, ho sù sụ đến kiệt sức, không ngồi dậy nổi. Đừng nói tiền gọi thầy thuốc, anh ta chẳng có lấy một xu để mua cơm. Người ở quanh đó ai cũng nghèo kiết xác, ban đầu họ còn thương tình nấu cơm cho nhưng rồi tiền cũng chẳng còn nên không ai đến giúp nữa. Đứng ngoài nghe tiếng anh ta ho cũng thấy thật đáng thương.

Tōri không cầm lòng. Chàng vội vã nấu cháo đem sang và múc từng thìa đút cho người đàn ông. Nhưng anh ta không ăn, ngước đôi mắt hõm sâu nhìn Tōri nói: “Tôi không có tiền, đằng nào cũng chết. Tiên sinh hãy ăn đi. Tôi nghe nói ngày xưa, tiên sinh là sư trong chùa. Tôi chết rồi, nhờ tiên sinh đọc cho bài kinh để tôi được siêu thoát.”

Tōri sững sờ. Chàng nghĩ không thể nào để cho người này chết được.

Và điều đó là thật lòng chàng. Tōri vội vã quay về nhà, gom hết tất cả y phục, sách vở vào furoshiki1. Người em trai thấy vậy liền hỏi:

1 Tấm vải vuông lớn được dùng để gói hành lý, đồ đạc.

“Anh làm gì vậy?”

“Nếu cứ để vậy, người đó sẽ chết mất. Chỉ cần có thuốc là anh ta sẽ sống. Anh định đem quần áo và sách vở đi cầm, mượn chút tiền.”

“Anh đừng làm vậy. Nếu là đồ của em thì anh bán hết cũng không sao. Mớ sách vở đó chẳng phải là công sức anh bỏ ra mười năm nay để ghi chép lại sao? Anh đâu cần phải làm đến mức đó với một người xa lạ…”

Người em trai ra sức ngăn Tōri vì anh ta không thể nào tưởng được cuộc sống không có sách vở của anh mình. Nhưng Tōri vẫn làm.

“Sinh mạng con người quý hơn sách vở.”

Chàng dứt khoát và đem tất cả quần áo, sách vở đi cầm, đổi thành tiền.

Sau khi Tōri mất, trong Đạo đức tiên sinh Tōri do người em trai biên tập, có ghi thế này: “Tình cờ có người ở trọ gần đó bị bệnh. Anh ta nghèo khó, không có tiền mua thuốc. Tiên sinh đã cầm cố tất cả sách vở, y phục để giúp người này.”

Căn phòng của Tōri vốn chất đầy sách vở nay trở nên trống trải hẳn. Buổi tối, không có sách để đọc, Tōri đành ngắm trăng. Chàng ngồi yên lặng trên manh chiếu cũ của căn phòng trọ, tắm mình dưới ánh trăng xuyên qua cửa sổ. Người em lên tiếng:

“Căn phòng rộng hẳn ra nhỉ. Anh ta đã chắp tay bái anh, gọi là ân nhân cứu mạng. Nhưng nghĩ lại, với anh em mình, anh ta cũng là ân nhân không chừng. Anh ta đã trao cho chúng ta cơ hội vượt qua lòng tham. Em quyết định nghĩ theo cách đó.”

“Anh cũng nghĩ vậy. Học vấn là thứ để tiến gần đến đạo, không phải là thứ để tích trữ sách vở. Cả những lời của thánh nhân quân tử, nói ra, cũng chỉ như những ngón tay mà thôi.”

“Ngón tay ư?”

Người em trai tỏ vẻ khó hiểu. Tōri chỉ thẳng vào mặt trăng ngoài cửa sổ.

“Nếu không dõi mắt nhìn theo hướng ngón tay này, chúng ta chỉ thấy bên trong căn phòng tồi tàn này và cho rằng đây là đất trời của chúng ta. Nhưng nếu nhìn theo đầu ngón tay chỉ, ta sẽ thấy có bầu trời rộng lớn, có mặt trăng xinh đẹp. Những lời của thánh nhân quân tử như ngón tay chỉ cho ta thấy mặt trăng tuyệt đẹp ngoài kia. Chúng ta chỉ có việc ngắm trăng mà thôi.”

“…”

“Chúng ta không được theo đuổi những con chữ vô dụng, đọc những gì khó hiểu, giải những gì khó thông, tiêu tốn tinh thần mà đánh mất ánh dương một cách lãng phí. Anh cũng đã suýt bỏ lỡ ngón tay cho mặt trăng kia. Tứ thư, Ngũ kinh chỉ là ngón tay mà thôi. Điều quan trọng là mặt trăng ngoài kia.”

Ý Tōri nói: “Người nhìn thấy mặt trăng có thể quên đi ngón tay.” Có thể nói tư tưởng này thật quá khích. Vào thời đại này, không nhân vật nào có thể khẳng định rằng giá trị thật sự nằm ngoài lời dạy của thánh hiền là Tứ thư, Ngũ kinh, chỉ cần nắm được điều đó, có thể quên đi những cuốn sách hướng dẫn.

Và Tōri đã mất toàn bộ tài sản như thế. Sau khi chứng kiến người đàn ông nọ hồi phục, chàng cũng rời bỏ Kamakura.

“Mình mà ở đây thì người đó cũng khó xử.” – Hai anh em bàn tính với nhau và quyết định chuyển chỗ ở. Nhờ người quen, họ trở thành người gác tiệm ở gần cầu Benkei, Edo. Ở đây, những người canh gác thường làm và bán cả geta.

Nhưng tiệm geta ở Edo rất chuyên nghiệp, nên những đôi geta do những người nghiệp dư như họ làm chẳng được ai ngó ngàng đến.

Hai anh em Tōri tay trắng đến Edo, không biết đã học ở đâu, gọt vỏ tre đan thành những đôi dép cỏ bền chắc, treo ở nơi mình đứng canh để bán.

Nơi ở của Tōri thật sự rất chật hẹp. Có thể nói căn phòng chật chội, “nhỏ như cái lỗ mũi” cũng được, nói độ hai chiếu cho sang chứ thật ra họ chẳng có đến manh chiếu để lót. Gió mưa cứ thổi vào nhà qua khe vách. Hai anh em ôm nhau trong căn phòng đó mà ngủ.

Ngày nào cũng như ngày nấy, cứ đến giờ là Tōri lại thức dậy vào rừng tre để gọt vỏ tre, cặm cụi đan dép, đến tối lại dọn hàng. Dép tre của chàng bán chạy. Khi có dư tiền, chàng lại mua sách đọc.

Sau đó, đám trẻ trong phố kéo đến nhờ chàng dạy chữ.

Tōri dùng gậy vẽ lên mặt đất dạy chúng đọc viết và từ đó, được gọi là “Tiên sinh dép tre”.

Ngày nọ, Tōri để mắt đến một đứa trẻ. Một đứa bé trai mới ba tuổi đầu. Đôi má bầu bĩnh trông rất đáng yêu. Trước đó không lâu, thằng bé được cha bồng đến ở căn phòng thuê bên cạnh.

Chắc chắn là đứa bé không còn mẹ. Người cha bận đi làm, phải để nhà trống, cũng không thể chăm sóc miếng cơm cho con nên dẫn đến người phụ nữ trông trẻ lấy tiền gần bên. Người phụ nữ tươi cười nhận giữ đứa bé.

Nhưng thật ra, tiếng đồn về người này vốn không hay ho gì. Bà ta miệng rộng đến tận mang tai, lại rất háu ăn nên dân xóm trọ rất ghét, gọi sau lưng bà ta là “chó sói”. Thoạt đầu, người phụ nữ này cũng yêu mến đứa bé như con mình. Có người thấy vậy còn nói với vẻ cảm động “người như bà ta cũng có trái tim của người mẹ”.

Nhưng rồi, đứa bé cứ ngày càng ốm đi, hai má hóp lại. Thử hỏi hàng xóm láng giềng mới biết: “Bà đó đúng là chó sói. Nhận tiền của người cha rồi là bà ta không cho thằng nhỏ ăn uống gì nữa. Bà ta chỉ biết có tiền.”

Tōri muốn giúp đứa bé. Nhưng với người phụ nữ đó, đứa bé là nguồn thu chính, sẽ dứt khoát không chịu buông. Nếu Tōri định làm gì, người phụ nữ xảo quyệt đó sẽ ngược đãi đứa bé mất. Nếu có nhiều tiền thì còn có thể có cách giải quyết. Nhưng Tōri đã trút toàn bộ tài sản cho người đàn ông bị bệnh lúc trước, chẳng còn một xu dính túi nên chẳng thể làm gì được. Buổi trưa, chàng vừa gác tiệm vừa âm thầm theo dõi đứa bé. Tối đến, hai anh em chỉ có thể vừa đan dép vừa lặng lẽ kể cho nhau nghe cảnh đáng buồn đã chứng kiến ngày hôm đó.

Tōri kẹp sợi tre giữa mấy ngón chân, nói:

“Đứa bé đó, đói bụng cũng không được cho ăn, khát nước cũng không được cho uống. Chẳng được ai nắm tay, lúc ngủ cũng thui thủi một mình. Nó còn nhỏ quá nên không biết cầu xin, không biết làm gì, chỉ biết nằm ra khóc. Nhưng khóc thì lại bị bà ta đánh đập. Trái tim nhỏ bé của nó hình như cũng biết điều đó nên khóc mà cố gắng sao cho không phát ra tiếng. Thật đáng thương làm sao.”

“Tại sao con người ta có thể làm chuyện tàn nhẫn như vậy được nhỉ? Biết thằng bé yếu ớt, những đứa trẻ gần đó lại kéo đến trêu chọc, bắt nạt. Hết nhổ nước bọt vào mặt, bẻ ngoặt tay ra sau, túm tóc mà kéo lê, cào khắp da thịt thằng bé cho đến khi chảy máu. Chúng vui thú khi thấy thằng bé kêu khóc. Vậy mà bà ta lại không ngăn chúng lại. Không những không ngăn lại mà còn hào hứng hùa với chúng mà cười thích chí. Nhưng thật không thể tha thứ được là chỉ khi người cha đến, bà ta mới giả vờ cưng nựng thằng bé, bồng bế, vỗ xoa dịu dàng và nói “cha về kia, con cười đi, nói chuyện đi”, bắt thằng bé cười để lừa người cha. Thật không thể nói.”

“Anh cũng thấy. Thằng bé đói tình thương. Nên nó khao khát được yêu thương dù chỉ một chút, nó không muốn bị đánh đập. Cho nên nó mới cười, mới nói chuyện. Người ta nói, kẻ sắp chết đói gì cũng ăn, kẻ sắp chết khát gì cũng uống.

Nhìn thằng bé, anh thật sự cảm nhận được nỗi buồn tuyệt vọng đó.”

“Người cha có biết thằng bé đang khốn khổ như thế nào không nhỉ?”

“Anh nghĩ là biết. Ông ta nhìn bộ dạng ốm yếu của nó mà nước mắt lưng tròng. Chắc chắc không phải không nhìn ra sự tình. Chỉ là không dám nói. Trong thời gian ngắn ngủi cha con gặp nhau, chắc ông ta chỉ muốn an ủi thằng bé. Ông ta say sưa nhìn thằng bé với vẻ mặt rạng rỡ. Thằng bé cũng nhìn mặt cha, hẳn là hiểu được nỗi buồn trong lòng đó mà cười nhe cả răng “cha đến rồi, cha đến rồi”. Niềm vui quá độ đó thể hiện rõ cuộc sống ngày thường của thằng nhỏ đau buồn đến mức nào. Thật buồn quá.”

“…”

“Cho nên, người cha đã ôm con thật chặt vào lòng, cho nó uống, cho nó ăn, nghe bất kỳ điều gì con nói, hết sức làm cho vui vẻ rồi mới ra về.”

Nói đến đó, Tōri nghẹn ngào.

“Nhưng khi ra về, sợ con níu kéo nên ông ta không dám nói thật. Chỉ cho thằng bé cái bánh hay con búp bê cho nó vui rồi lúc đó mới nói “cha đi tiểu tiện cái”, “cha qua nhà hàng xóm”. Khi thằng bé vui vẻ gật đầu “ừm”, người cha không còn ở đó nữa. Nhưng ông ta vừa ra khỏi cổng xóm trọ là đám trẻ bắt nạt ùa đến, cướp lấy của thằng bé món đồ chơi, cái bánh đó. Rốt cuộc, thằng bé chẳng có gì. Thật tội nghiệp. Nó khóc gọi cha nhưng rồi nước mắt cũng cạn khô, chỉ biết lăn ra ngủ. Thức dậy, lại khóc… Thằng bé đang sống trong địa ngục như thế.”

Nước mắt Tōri rơi lã chã trên những thanh tre đan dép. Câu chuyện ngược đãi trẻ em cách đây ba trăm năm được truyền tải đến tận ngày nay qua những dòng văn còn sót lại ít ỏi của Tōri. Nay tôi vừa đọc những câu văn viết bằng chữ Hán vừa viết đoạn văn này nhưng cảm thấy đau buồn vô hạn. Văn Tōri không chỉ nổi tiếng mà cảnh tượng mô tả càng đọc càng thấy đau đớn như thể bị dao đâm vào ngực. Không, còn hơn thế, tôi tự hỏi Hán văn đã được viết trong lịch sử đất nước này đã hơn ngàn năm nhưng liệu có mấy ai để lại những dòng văn mô tả trái tim một đứa trẻ sâu sắc như Tōri? Tôi tự hỏi Nho giáo ở đất nước này, Quốc học ở đất nước này đã đạt đến “lòng nhân” thật sự chưa?

Kết cuộc của đứa bé trai bị ngược đãi được Tōri viết như thế này: “Kể từ đó về sau, chúng tôi không được biết gì về đứa bé nữa.” Chẳng biết tự lúc nào, đứa bé biến mất.

Thời Edo trung kỳ, chỉ một nửa số trẻ em, kể cả những đứa trẻ được cha mẹ thương yêu chăm sóc, là sống được đến mười hai tuổi. Số phận của đứa bé trai ba tuổi đầy thương tích vì bị ngược đãi đã quá rõ ràng ngay từ đầu.

Sau đó một thời gian, Tōri sống trong niềm mông lung. “Lâu nay ta học để làm gì…?” Có thể tâm hồn chàng đã bị xáo động quá mức. Những câu hỏi không lời đáp hiện lên và đọng lại trong đầu. Tōri nằm dang rộng hai tay hai chân trong căn phòng chật chội. Chàng đã đọc hết số sách mới có được sau khi cầm cố hết cả gia tài lần trước. Vừa nghĩ đến đó thì chàng nhớ ra vẫn còn một bộ chàng chưa đọc tới. Đó là Vương Dương Minh1 toàn tập. Biết được Tōri vừa đan dép bán vừa sống đời cực khổ, một người bạn tìm đến tặng nhưng chàng để mặc đến hôm nay. Có lý do khiến chàng không muốn đọc. Lúc trước, ân sư Muro Kyūsō đã dặn “Tránh xa Vương Dương Minh học. Lấy Chu Tử học chính thống làm mô phạm”.

1 Vương Dương Minh (1472 – 1528): nhà tư tưởng thời nhà Minh ở Trung Quốc. Ông được đánh giá rất cao trong giới Nho học, được xem là một trong bốn vị thầy vĩ đại, ngang hàng với Khổng Tử, Mạnh Tử, Chu Hi.

“Học vấn Đường thổ cho đến giữa thời nhà Minh rất đúng đắn. Thế nhưng Vương Dương Minh xuất hiện, bắt đầu hô hào “Lương tri chi học”, cho rằng “Đừng nghĩ chuyện gì khó khăn. Cứ theo lương tri có trong ta”. Nhưng học vấn là thứ truy tìm cái lý của từng sự vật. Nếu không làm vậy mà tự nhiên nhận ra thì tọa thiền cũng được. Đó chỉ là Phật giáo ngụy tạo cố cho thấy đó Nho giáo.” – Đó là một người cuồng thiền. Kyūsō cực lực phản bác Dương Minh học. Khoảng thời gian đó, Tōri đã quá chán Thiền học nên chàng cũng chấp nhận những phản bác đó.

Vì vậy, tuy đã cầm trong tay Vương Dương Minh toàn tập, chàng cũng đọc rất thờ ơ, tức vừa nằm vừa đọc. Thế nhưng, càng đọc, tâm trạng chàng thay đổi hẳn, cứ như màn sương bao phủ trước mắt dần tan biến. Không chỉ vậy, mắt Tōri dừng lại luận thuyết “trí tri cách vật, tri hành hợp nhất”. Chàng bật ngồi dậy, chỉnh lại tư thế, ngồi ngay ngắn lại và thình lình thốt lên: “Cứ như thể tâm pháp truyền thụ của Khổng Tử đều nằm trong quyển sách này. Sao ta lại đọc nó muộn thế này?” Kể từ đó, chàng say sưa đọc luận thuyết của Vương Dương Minh như nuốt từng chữ từng lời. Những suy nghĩ mơ hồ lâu nay được kết nối thành hình rõ ràng. Bao nhiêu năm nay chàng chỉ biết có đọc sách nhưng đây là lần đầu tiên có được trải nghiệm tinh thần như thế này.

Thiên 1 Đại học trong Lễ ký có viết tám điều người quân tử phải làm. Đó là cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Trong số đó căn bản nhất là cách vật. Chu Tử lý giải điều này là “nghiên cứu vật”, “truy tìm lý của vật, tức tìm hiểu lý của tự nhiên với mọi sự vật hiện tượng để lý giải”.

Thế nhưng, trong giới hạn đọc hiểu của Tōri, lý giải về “cách vật” của Vương Dương Minh hoàn toàn khác. Nó tươi mới đến kinh ngạc. “Cách vật” này được lý giải là “sửa vật”.

Khác với phái Chu Tử, Vương Dương Minh đặt ra câu hỏi “Vậy chứ “vật” là gì?” và lập luận chặt chẽ.

Tōri hiểu ra rằng Chu Tử cho rằng “phải quan sát vật để tìm ra lý của nó” nhưng ý thức bản thân khi nhìn “vật” không tồn tại nghiễm nhiên bên ngoài “vật”. “Vật” và “Tâm” của bản thân nhìn vật vốn là một, không phải hai thứ tách rời. Chàng tỉnh ngộ rằng ngược lại, vốn dĩ bản thân cũng là một thể cùng với “vật” và phải sống với ý thức như vậy.

Hơn thế nữa, khi đọc đến Truyện tập lục, trong đó có viết thế này: “Con người là tâm hồn của đất trời. Đất trời, vạn vật vốn là một thể với ta. Những khốn khổ, đắng cay của ai kia cũng khiến ta đau đớn… Nhìn người như ta, nhìn quốc gia như gia đình. Đất trời vạn vật là một thể.”

“Hãy nghĩ rằng con người là tâm hồn của đất trời. Đất trời, vạn vật và ta vốn là một thể. Nếu ở đâu đó có người nào đó đau khổ, thì tất cả đau khổ đó bản thân ta cũng chịu đựng. Cả những con người như ta, cả động vật, cả cỏ cây đều sinh ra từ đất trời và cũng chết đi, biến vào đất trời. Vốn dĩ tất cả đều như vậy. Nếu đứng giữa đất trời mà suy nghĩ, vốn dĩ trên thế gian này không tồn tại cái gọi là chuyện của người ta…”

Đúng là vậy. Tuy có nhiều người cho rằng “không thể nghĩ như vậy được” nhưng Tōri cho rằng “dứt khoát không có chuyện đó”.

Đúng như Vương Dương Minh nói, nếu con người vốn là một thể với vạn vật, đất trời, thì chắc chắn con người đã có tâm hồn cảm nhận được điều đó khi sinh ra.

Đó chính là “lương tri” mà Mạnh Tử nói, không sai. Nếu vậy, chim mẹ mớm mồi cho chim non, mẹ cho con bú, những trái tim ấm áp đó, dù bắt nguồn từ xa xưa đến nay vẫn lớn lên trong con người. Và chẳng phải sứ mệnh đọc sách lâu nay của bản thân ta là giảng lại những điều trong sách cho người khác nghe sao?

Chàng kinh ngạc trước tư tưởng của một nhân vật sống cách mình hai trăm năm và như được tiếp thêm dũng khí.

Tōri bắt đầu công việc dạy học từng chút một. Ban đầu chỉ là có ai hỏi thì trả lời, có ai xin học chàng nhận dạy nhưng so với thời chàng còn né tránh tiếp xúc với thiên hạ thì khác hẳn. Lúc này chàng vừa bước sang tuổi ba mươi.

Sau đó không lâu, chàng nhận đệ tử. Cậu học trò có tên Kozuka Shimpo đến từ làng Ueno vùng Shimotsuke1. Không biết cậu ta nghe từ đâu mà tìm đến ngôi nhà nhỏ của Tōri để nghe giảng và ra về với vẻ mặt rất phấn khởi. Kozuka vốn là người tốt bụng, và rất thích chăm sóc người khác. “Con muốn cho chủ nhân ở Shimotsuke nghe bài giảng của tiên sinh.” – Chàng ta nói vậy và mời Tōri đến đó. Shimotsuke là một trạm thông tin rất lớn. Người chủ trạm tên Takagi, rất thích học vấn, vừa nhìn thấy mặt Tōri đã khẩn khoản: “Thưa tiên sinh, rất mong tiên sinh lưu lại đây ít lâu để giảng sách cho chúng tôi.” Tōri rời ngôi nhà nhỏ tồi tàn chàng quanh quẩn gần mười năm nay, đến nơi ở mới có trải chiếu đàng hoàng tử tế.

1 Nay ở tỉnh Tochigi.

Thế nhưng, ngay sau đó chàng cũng lập tức rời nơi ấy ra đi. Tōri có thói quen không ở đâu lâu, đến mức có người nói rằng “ống khói nhà Tōri chẳng bao giờ ám muội khói”.

Khoảng thời gian này, số người ngưỡng mộ đức tính của Tōri cũng tăng lên. Chàng thuê một chỗ chật hẹp trước cổng đền Fukagawa Hachiman tuy để đan và bán dép tre trở lại nhưng thời gian dạy học cũng nhiều lên.

Tuy trong số đệ tử, có người đến muộn giờ nhưng chàng hoàn toàn không la mắng dù chỉ một lần. Nhưng phần mình thì Tōri luôn luôn đúng giờ hệt như sự vận hành của những thiên thể khiến nhiều người lấy làm thú vị.

Mỗi độ xuân về, Tōri thường đi dạo ngoại ô. Chàng rất yêu hoa, đặc biệt là hoa đào. Hoa đào kết thành trái to, đem lại ích lợi cho cuộc đời. Chàng được người bạn có tên Muga (Vô Ngã) mời đi thăm vườn đào. Muga là một người lạ lùng.

Ngày nọ, khi Tōri đang bán dép tre thì được một thầy bói bắt chuyện. Khi được hỏi tên, người ấy chỉ trả lời “Muga” mà không nói danh tính. Khi được hỏi “Sao lại lấy cái tên Muga lạ như thế?”, thầy bói trả lời thế này: “Khổng Tử có nói bốn điều phải dứt: vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã. Đừng phỏng đoán. Đừng khẳng định, đừng cố chấp, đừng có mình. Điều thứ tư, không có mình là khó nhất. Do đó tôi đặt hiệu mình là Vô Ngã.”

Thế rồi họ trở nên thân thiết với nhau. Tōri thuê tầng hai của một nhà bán dầu, cùng Muga cơm cháo qua ngày bằng nghề bói của chàng quân tử ẩn dật này và cùng nhau thưởng thức cuộc sống vui tươi, dạo bộ ngoại ô Edo để thưởng hoa. Những người ngắm hoa bày yến tiệc dưới gốc cây, nào rượu ngon, và cả thức nhắm.

Cả Tōri và Muga đều không một xu dính túi. Họ chỉ nhìn rồi đi ngang qua. Bình thường, Tōri hay lẩm nhẩm làm thơ khi đi bộ. Chàng bắt đầu đọc:

Đông nông chi hoa

Cốc phong kì phức

Thử hữu ẩm tửu

Thị hữu thực nhục

Kí bão kí túy

Sứ ngã tâm lạc.

Dịch ý:

Cánh đồng phía Đông thắm sắc hoa

Thung lũng ngào ngạt hương

Nơi đây người uống rượu

Nơi nọ người nhấm mồi

Còn tôi đã no, say

Lòng tràn đầy hoan lạc.

Nghe được, Muga bật cười:

“Thú vị lắm. Họ chỉ ăn, uống riêng họ thôi mà. Sao chúng ta có thể thấy lòng vui vẻ được chứ?”

“Vui chứ. Hãy cứ để mình vô ngã xem. Khi lòng ta không còn ranh giới đến mức ta là họ, họ cũng trở thành ta thì không còn cái không phải của ta nữa. Nếu cứ cố chấp phần mình, ta sẽ quan tâm đến tất cả, từ phú quý – bần tiện, trường thọ – đoản mệnh, hạnh – bất hạnh, sinh – tử, phúc – họa, vinh – nhục và ngược lại chỉ thấy khổ mà thôi. Nhưng nếu không còn mình nữa, mọi người đều như nhau đúng không. Thật ra nuôi dưỡng con người đàng hoàng, chấm dứt chiến tranh, cấm bạo loạn, dẹp bỏ bắt nạt, tất cả không vì người khác đâu, mà là để chữa bệnh cho chính bản thân ta đấy.”

“Đúng là vậy nhưng không phải bậc hiền nhân thì không thể có được suy nghĩ đó đâu.”

“Không có chuyện đó đâu. Không phải mọi thứ đều bắt đầu từ bậc hiền nhân. Chẳng phải đó là những điều chúng ta nên làm sao? Chỉ cần từng người chúng ta mài giũa viên ngọc đẹp đẽ trong tâm hồn mình bằng khả năng của mình là được. Có ngọc lớn, ngọc nhỏ, có thể không thể mài viên ngọc lớn như bậc hiền nhân nhưng ngọc nhỏ nếu chăm mài vẫn tỏa sáng lấp lánh. Chỉ cần mài viên ngọc đó trong tim mình. Đó mới là nghĩa vụ ở đời của con người.”

Muga ngẩn người ra. Đi trong làn hương hoa đào một lúc lâu, chàng buột miệng:

“Làm cách nào chứ?”

“Tôi cũng nghĩ đến điều đó nhưng không thể diễn tả được.”

“…”

Muga nhìn Tōri với ánh mắt khẩn cầu:

“Cũng có thể là khiêm tốn. Là tấm lòng đặt người khác lên trước, ta lui về sau. Nếu có được tấm lòng đó, sẽ không còn ta và có thể tiến gần đến lòng nhân…”

Muga ngộ ra khi nghe những lời này và đổi tên thành Kensai (Khiêm Trai). Câu chuyện được kể lại như thế đấy.

Sau đó khoảng bốn năm, Tōri xuống vùng Sano xứ Shimotsuke vì Kozuka Shimpo đã lưng tròng nước mắt, tha thiết đề nghị: “Tôi rất mong cho người dân quê mình được nghe những bài giảng Truyền tập lục của tiên sinh.” Deigetsu là cái am nhỏ được dựng lên tại Ueno ở Sano. Tōri sống ở đó và giảng về Truyền tập lục của Vương Dương Minh tại nhà của Kozuka Shimpo. Nhà của Kozuka không nhỏ vậy mà cũng đầy ắp người đến nghe giảng do tiếng lành đồn xa.

Những bài giảng của Tōri thật sự thực tế. Chàng ưu tiên mức độ dễ hiểu nên không nói vòng vo, kiểu cách. Với cách nói chuyện lấy ví dụ gần gũi nên vẫn dễ tiếp thu dù nội dung thật sự cao siêu. Người nghe cứ thế tự ngộ ra trong lúc lắng nghe giảng.

“Tiên sinh đã ưu tiên việc giảng cho người nghe, chuyện danh vọng để lại phía sau. Tiên sinh lấy những ví dụ so sánh gần gũi để giải thích nên rất dễ hiểu.” (Tōri sensei gyōjō – Hành trạng của tiên sinh Tōri)

Chàng thiếu niên tên Sudō Atsushi đã đi bộ một chặng đường xa xôi để đến nghe giảng. Khi bắt đầu giờ học, Tōri đã nói về cách đọc sách như sau: “Mọi người, với sách vở chúng ta có cách đọc. Trước khi đọc, người đọc sách nên suy nghĩ đâu là chính yếu để lưu ý mà đọc cho thấu đáo. Ví dụ, khi du ngoạn thị thành, nếu chỉ ngắm những cánh cổng nhỏ, những tiệm ăn mà chẳng buồn nhìn qua thành quách, cung điện mà ra về thì có gọi là du ngoạn thị thành được chăng? Cũng giống như vậy thôi. Đi tìm đạo, đi tìm sự thật cũng như khi ta tìm cơm ăn khi đói. Không có đồ ăn thì ta không có thời gian rảnh để loanh quanh những chỗ không cần thiết. Để có được đạo, mọi người cứ thẳng một đường, tìm cho ra chỗ quan trọng trong sách để đọc…”

Có thể nói những giờ học của Nho gia đương thời không phải là nói về đạo mà là giải thích về câu chữ trong sách. Họ giải nghĩa từng đoạn, từng câu ngay từ đầu sách và nhận tiền học phí. Còn Tōri lại nói rằng không cần đọc toàn bộ. Có lẽ điều này đã gây ấn tượng mạnh cho Sudō khiến ba mươi năm sau đó, chàng vẫn nhớ rõ bài giảng đó như in.

“Những lời dạy của hiền nhân, không có gì là khó cả. Chỉ cần nhớ một điều này là được.” – Tōri nói chắc như đinh đóng cột. “Đó là Thiên địa vạn vật nhất thể, chỉ cần nhớ đạo lý này là đủ.” “Sự học của thánh hiền có thể gói gọn trong một chữ “Nhân”. Nhân là trái tim của thiên địa, vạn vật nhất thể. Cả Nghĩa, Lễ, Trí, Tín cũng bao gồm trong đó. Đúng là thoạt nhìn, những gì trong vũ trụ thật đa dạng, khác nhau, không thể nói là một được. Nhưng hãy thử nghĩ xem. Vạn vật trong vũ trụ này, tất cả đều đón nhận khí của trời đất mà sinh ra. Với ý nghĩa đó, có thể nói vạn vật nhất thể. Nhờ ánh sáng mặt trời rọi xuống, nhờ những cơn mưa mà cây cỏ trên núi cao, ngũ cốc trên những cánh đồng sinh sôi nảy nở, đâm chồi nảy lộc. Rồi từ đó, chim muông và loài người sinh ra. Vì vậy, từ cha con, huynh đệ cho đến hậu thế trong thiên hạ, tất cả đều là cốt nhục của ta. Cả thái dương hay vầng trăng, cả những cơn mưa hay giọt sương sớm, núi và sông, cỏ cây, chim, thú, cá, tôm, cua, ghẹ đều là một, không gì là không phải ta. Thiên địa vạn vật là một. Chỉ cần quay lại điều cơ bản này. Sự học của thánh hiền quảng đại vô ngần nhưng lại đơn giản vô cùng.” Cuối cùng, chàng còn nói thêm như thế này.

“Nhưng tôi đang nói thế này cũng là một con người rất tẻ nhạt. Xin lặp lại, tôi đọc thuyết này, giảng giải cho cả người khác nghe nhưng cũng như ếch ngồi đáy giếng, không biết biển rộng sông dài. Tôi đã cố gắng nhổ bỏ hàng rào ngăn cách giữa mình và họ, mở rộng tấm lòng nhưng mãi không được, nên thật sự đau khổ. Điều đó cũng như con chó, con mèo cứ đuổi theo cái đuôi của chính mình mà quay vòng. Tôi hiểu rằng đó là vì cứ mãi chú tâm vào bản thân “ta là”, “tôi thì” nên đau khổ mà thôi. Nhưng… Hôm nay đến đây thôi.”

Sau đó, Tōri sống ở vùng quê Sano này khoảng gần ba mươi năm. Giữa chừng, chàng quay lại Uraga khoảng ba năm. Thời gian ấy, chàng chăm sóc mẹ già gần đất xa trời và trông coi mộ mẹ. Khi mãn tang, chàng quay về Sano, tiếp tục dạy học và được tôn kính.

Cả đời, Tōri không lập gia đình. Nhưng vì hoàn cảnh, chàng nhận nuôi cô cháu gái.

Một ngày nọ, người em trai tìm đến: “Con gái em, Yoshiko tội quá anh ơi.” Sau khi Tōri đi Sano thì Toshinori, người em trai từng sống với chàng cũng tự lập, đến khoảng độ bốn mươi lăm tuổi cũng lấy được vợ. Họ có với nhau đứa con gái tên Yoshiko. Tức cháu gọi Tōri bằng bác. Nhưng vợ người em trai chẳng may mất sớm, ngay sau khi sanh con, để lại Yoshiko bé nhỏ.

Người em trai lâm vào cảnh cùng cực. Thân làm đàn ông nên không có sữa đã đành, lại nghèo xác xơ chẳng thể nào thuê vú em. Không còn cách nào khác, Toshinori đi xin sữa của những người xung quanh. Hễ Yoshiko cất tiếng khóc là Toshinori đi xin sữa. Nhưng đứa bé mới lọt lòng mẹ, chẳng bú được nhiều nên lại đói ngay. Người cha lại đi xin sữa, cứ thế thâu đêm suốt sáng. Nhưng vì quá thường xuyên nên người cho sữa cũng trở nên khó chịu và từ chối. Đi xin chỗ khác cũng vậy. Cứ như thế này, Yoshiko bé bỏng sẽ chết mất. Toshinori và người mẹ vợ già yếu thay nhau đút cháo nóng, giữ được tính mạng đứa bé.

Đến năm Yoshiko lên ba, khó khăn lại xuất hiện. Bà ngoại cô bé đuối sức trong việc chăm cháu, lâm bệnh rồi mất. Người cha phải đi làm nên đành gửi Yoshiko cho bà lão hàng xóm. Toshinori ra sức đi làm kiếm tiền nhưng không thể nào lo đủ tiền công cho bà lão. Vì vậy, bà lão không chăm sóc cô bé kỹ càng khiến cô bé ngày càng suy nhược, hệt như đứa bé mà hai anh em Tōri từng chứng kiến.

“Anh ơi, em thật xin lỗi nhưng em không còn nơi nào để nương tựa…” Người em trai nhịn đói nhịn khát, lặn lội từ Uraga xứ Sagami xa xôi trong gió lạnh bật khóc nức nở. Tōri tức giận quát: “Sao không dẫn theo con bé đến đây?”

Ngay lập tức, người em trai quay lại Uraga, cõng Yoshiko đang thoi thóp đến Sano. Lúc ấy đang tháng Mười một, trời mùa đông. Yoshiko ba tuổi trông thật bi thảm. Chẳng biết được cho ăn gì mà cô bé đi chảy nhiều ngày liền, bụng phình to như cái trống, đầu đầy vảy và chấy rận.

Tōri bắt đầu chăm sóc đứa cháu gái ba tuổi đang thoi thóp sắp chết ấy. Toshinori quay về Sagami. Từ đó, Tōri xây dựng cuộc sống ở Sano như thế. Dân làng rủ nhau dốc sức “làm cho tiên sinh Nakane cái am”. Họ dựng một túp lều tranh nhỏ Bắc – Nam chừng hai gian rưỡi, Đông – Tây chừng ba gian, đặt tên Chishōan (Tri Tùng am). Cái am thô sơ, cửa sổ yếu ớt, đến cánh cổng ra vào cũng chẳng có. Nhưng Tōri đã vừa nuôi dạy Yoshiko vừa dạy học cho dân làng ở đó.

Những hôm trời đẹp, có thể nhìn về hướng Sagami ngắm núi Phú Sĩ. Chàng đặt Yoshiko bé nhỏ ngồi trên đầu gối mình và nói: “Chỗ đó là quê mình.”

Trong khoảng thời gian này, chàng đã thử viết lên vách nhà những điều ghi nhớ dành cho học trò đến học.

“Người tiều phu lên núi, ngư ông xuống biển, mỗi người đều phải tận hưởng niềm vui với nghề của mình.”

“Có người uống nước lã mà vui, có người mặc áo lụa mà buồn.” Nói vậy nhưng lúc ấy Tōri đã năm mươi ba tuổi. Chẳng biết cái chết sẽ đến lúc nào?

“Nếu mình chết… Yoshiko sẽ ra sao? Liệu con bé có bị những cơn sóng buồn bã nhấn chìm khi chỉ còn lại một mình trơ trọi giữa thế gian?” – Tōri nghĩ đến điều đó. Và thế rồi, thình lình chàng nảy ra một ý. “Hãy chờ trăng lên. Đừng đuổi theo những cánh hoa rơi.” – Tōri viết thêm lên vách.

Ngày 7 tháng Hai năm Meiwa 2 (1765), Tōri qua đời, thọ bảy mươi hai tuổi. Ông không để lại thứ gì đáng gọi là di vật, cả những bản thảo quý báu cũng không còn. Chỉ mỗi tập sách Tân ngõa (Gạch mới) rơi ra từ tấm khăn vải furoshiki.

Đệ tử mở ra xem thì thấy trong đó là những bài văn thơ Hán tự, về tiểu sử và hành trình đến Sano của người cháu gái Yoshiko. Những tinh hoa trong tư tưởng của Tōri đã được chuyển tải bằng những câu chữ đơn giản nhất để cho cô cháu gái bốn tuổi có thể đọc hiểu. Thi sĩ thiên tài này chỉ để lại trước tác duy nhất cho người cháu và rời khỏi cõi đời. Trong tập sách còn có những bức tranh màu do chính Tōri vẽ chim muông.

Sau đó, Tōri dần bị lãng quên. Những đệ tử từng được ông dạy học ở Shimotsuke cố gắng tìm kiếm, thu thập lại những bản thảo quý giá của Tōri. Hay tin ở đâu có bút tích của ông là họ tìm đến ngay dù chỉ là mảnh giấy vụn. Nhưng dấu tích của chàng Nho sĩ thanh bần chẳng còn được bao nhiêu.

Cuối cùng Tōri di cảo cũng được xuất bản với số lượng ít ỏi. Sau đó, tuy đã thử tái bản nhiều lần nhưng không thành. Một trăm năm sau khi Tōri mất, Tōri ngoại tập mới được ấn hành. Ngày nay, nếu muốn đọc các tác phẩm văn chương của ông, ta có Tōri di cảo giải do Kumekawa Shinya biên tập. Quyển sách đã khiến Kumekawa mất nhiều công sức nhưng cũng chỉ được in với tư cách cá nhân nên số lượng cực kỳ ít ỏi. Khi tôi bắt tay viết bản thảo phần này, không một thư viện nào ở Tōkyō cho tôi mượn.

Nhưng chắc chắn một điều, Nakane Tōri đã hiện diện ở cõi đời này.

Nhà tư tưởng sớm nhận ra vũ trụ và chúng ta là một, rằng con người nên sống cuộc sống như thế nào ở thời đại còn chưa biết đến sự tồn tại của nguyên tử, phân tử, đã sống bình dị như thế tại một ngôi làng hẻo lánh.

Và ông đã sống trong ký ức ngôi làng hai trăm năm mươi năm. Người dân Sano không hề quên Tōri. Ông lão tôi tình cờ gặp trên đường ở Sano đã ân cần chỉ tôi: “Tiên sinh Tōri đã sống ở ngôi chùa đằng kia.” Ông còn nói thêm bằng một vẻ kính cẩn như đang nói về một điều quý giá, thiêng liêng: “Tiên sinh thật sự là một người vĩ đại.”


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks       
            
Xem thông tin cá nhân
Hiển thị bài viết từ:  Sắp xếp theo  
Trả lời đề tài  [ 6 bài ] 
           
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:



Đề tài nổi bật 
1 • [Cổ đại] Ta chính là một cô nương như thế - Nguyệt Hạ Điệp Ảnh

1 ... 55, 56, 57

2 • [Xuyên không - Dị giới] Phế sài muốn nghịch thiên Ma Đế cuồng phi - Tiêu Thất Gia - Hoàn

1 ... 229, 230, 231

3 • [Hiện đại - Trùng sinh] Ảnh hậu tái lâm - Khương Ngọc

1 ... 28, 29, 30

4 • [Hiện đại] Quân hôn Tổng giám đốc thô bạo của tôi - Nam Mịch

1 ... 140, 141, 142

5 • [Hiện đại - Quân nhân] Cô dâu của trung tá - Hồ Ly

1 ... 138, 139, 140

6 • [Hiện đại - Trùng sinh] Gia khẩu vị quá nặng - Hắc Tâm Bình Quả

1 ... 144, 145, 146

7 • [Xuyên không - Dị giới] Thiên tài triệu hồi sư - Nhược Tuyết Tam Thiên

1 ... 235, 236, 237

8 • [Xuyên không] Cuộc sống điền viên của Tình Nhi - Ngàn Năm Thư Nhất Đồng

1 ... 180, 181, 182

9 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 244, 245, 246

10 • [Cổ đại - Trùng sinh] Ngày mai liền hòa ly - Hải Lí Khê

1 ... 32, 33, 34

11 • [Cổ đại - Trùng sinh] Đích nữ vô song - Bạch Sắc Hồ Điệp

1 ... 120, 121, 122

12 • [Xuyên không] Con đường vinh hoa của Thái tử phi - Tú Mộc Thành Lâm

1 ... 53, 54, 55

13 • [Hiện đại] Hôn trộm 55 lần - Diệp Phi Dạ

1 ... 234, 235, 236

[Xuyên không] Bệnh vương tuyệt sủng độc phi - Trắc Nhĩ Thính Phong

1 ... 132, 133, 134

15 • [Hiện đại] Hôn nhân bất ngờ Đoạt được cô vợ nghịch ngợm - Luật Nhi

1 ... 214, 215, 216

16 • [Hiện đại] Vợ yêu con cưng của tổng tài - Thượng Quan Nhiêu

1 ... 77, 78, 79

17 • [Hiện đại] Cố chấp ngọt - Triệu Thập Dư

1 ... 38, 39, 40

18 • [Cổ đại - Trọng sinh] Võ thần nghịch thiên Ma phi chí tôn - Băng Y Khả Khả

1 ... 76, 77, 78

19 • [Xuyên không - Điền văn] Hán tử trên núi sủng thê Không gian nông nữ Điền Mật Mật - Thấm Ôn Phong

1 ... 78, 79, 80

20 • [Cổ đại tiên hiệp] Tiên vốn thuần lương - Chính Nguyệt Sơ Tứ

1 ... 245, 246, 247


Thành viên nổi bật 
Song Nhi
Song Nhi
Jung Ad
Jung Ad
tieungu2512
tieungu2512
Tầm Mộng
Tầm Mộng
Aka
Aka
lila.lam
lila.lam

Shop - Đấu giá: Đào Sindy vừa đặt giá 391 điểm để mua Nhẫn đá Topaz xanh London 2
Shop - Đấu giá: ciel99 vừa đặt giá 200 điểm để mua Mashimaro tập lặn
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 248 điểm để mua Mèo trong giỏ hoa
Shop - Đấu giá: Mavis Clay vừa đặt giá 201 điểm để mua Cung Bọ Cạp
Shop - Đấu giá: Mavis Clay vừa đặt giá 291 điểm để mua Con kiến đen
Shop - Đấu giá: Mavis Clay vừa đặt giá 238 điểm để mua Lung linh
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 490 điểm để mua Mèo hát
Shop - Đấu giá: Đào Sindy vừa đặt giá 266 điểm để mua Mề đay đá Peridot 2
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 300 điểm để mua Hươu hồng
LogOut Bomb: Mika_san -> Ân Ngọc
Lý do: Buổi tối vui vẻ
thuytinhden750: Các bạn ơi cho mình hỏi làm thế nào để lên vip để đọc hết truyện đc ạ
đêmcôđơn: BVậy sau này bỏ luôn box truyện sắc luôn hả ad?
Shop - Đấu giá: Đào Sindy vừa đặt giá 355 điểm để mua Mề đay đá Citrine 3
Hạt mưa nhỏ: Các bạn cho mình hỏi thăm là box truyện sắc đâu rồi ạ , cả box sắc hoàn nữa ?
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 247 điểm để mua Hoa hồng
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 216 điểm để mua Love Green
doctruyen888: Cho mình hỏi thăm, sao mình ko được cấp phép để xem tiếp truyện ạ?
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 329 điểm để mua Mèo tặng hoa
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 322 điểm để mua Mèo trong giỏ
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 327 điểm để mua Mèo xanh thèm cá
Shop - Đấu giá: Lục Bình vừa đặt giá 851 điểm để mua Ngọc xanh đen
Shop - Đấu giá: Lục Bình vừa đặt giá 500 điểm để mua Hồng ngọc 3
Shop - Đấu giá: Đào Sindy vừa đặt giá 467 điểm để mua Dây chuyền đá Peridot
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 474 điểm để mua Chuột Minnie 2
cò lười: chào mọi người
Hoàng Phong Linh: hmmm
Độc Bá Thiên: E qua nick đó xem âm bao nhiêu đi :)2
Mẫu Tử Song Linh: Em có lòng thành thôi, chứ không có tiền
Mẫu Tử Song Linh: Đại gia Ếch Ộp Kêu ngày xưa nay còn đâu? =))
Độc Bá Thiên: Tết lì xì chị nhá

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.