Diễn đàn Lê Quý Đôn


Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 5 bài ] 

Hokkaido Mê Trận Án - Soji Shimada

 
Có bài mới 09.06.2019, 01:48
Hình đại diện của thành viên
☆~ Số 15 ca ~☆
☆~ Số 15 ca ~☆
 
Ngày tham gia: 14.10.2015, 23:36
Bài viết: 2964
Được thanks: 2075 lần
Điểm: 7.53
Tài sản riêng:
Có bài mới [Trinh thám - Văn học Nhật] Hokkaido Mê Trận Án - Soji Shimada - Điểm: 10
Hokkaido Mê Trận Án - Soji Shimada


Tựa   Hokkaido Mê Trận Án

Công ty phát hành      IPM

Nhà xuất bản      NXB Văn Học

Kích thước      13.5 x 20.5 cm

Author      Soji Shimada

Số trang      380

Nguồn     tve-4u.org

Tại Hokkaido, trên một mỏm cao xa tít tắp trông xuống biển khơi đầy băng trôi, có xây cất một công trình dị thường mà người trong vùng gọi là "nhà nghiêng".

Công trình ấy gồm một ngôi nhà và một ngọn tháp tròn, cùng nghiêng về phía Nam, xây dựng rất kì công với thiết kế mê cung bên trong, nhưng hiện tại đang rơi vào tình trạng hoang phế, rao bán đã lâu mà chẳng ai hỏi mua, không chỉ vì vị trí quá hẻo lánh, mà còn vì nơi này từng xảy ra án mạng.

Chuyện là vào Giáng sinh năm ấy, sau đêm tiệc linh đình, một trong số khách khứa đã bị giết ở phòng kín, ngủ yên mãi mãi với tư thế tay giơ chân múa như cầu thần linh. Khi ai nấy chưa kịp trấn tĩnh, người khách thứ hai tiếp tục đi về cõi vĩnh hằng ở tư thế nằm sấp trong căn phòng kín bưng với ba lớp khóa.

Mitarai Kiyoshi tài danh tìm đến, khẳng định có anh ở đây, sẽ không một ai phải chết nữa. Lời chưa ráo miệng, người khách thứ ba ra đi…

Bộ đôi Mitarai và Ishioka ở Tokyo hoàng đạo án nay trở lại trong một phi vụ giết người đầy ảo diệu, sử dụng rất nhiều đạo cụ cầu kì…


Mở màn

Ta như vua xứ Mưa

Giàu nhưng vô dụng, ít tuổi nhưng già nua

Những mồi săn và chim ưng,

cho đến con dân chết đói dưới hiên kia

Đều không đủ làm xao đông lòng vua

- Chán đời[1], Baudelaire

1. Tên gốc: Spleen. Charles Baudelaire là nhà thơ nổi tiếng và có ảnh hưởng lớn ở Pháp, người tiên phong cho trường phái thơ tượng trưng.

Ở làng Hauterives miền Nam nước Pháp, có một công trình kì lạ tên là lâu đài Lý tưởng, hay lâu đài Cheval. Đây là lâu đài mơ ước của Ferdinand Cheval nghèo khó, xây dựng mất tổng cộng ba mươi ba năm, hoàn thành vào năm 1912, do ông ta một mình thi công.

Công trình này, có góc na ná đền thờ Ả Rập, lại có góc na ná đền thờ Ấn Độ, cửa vào giống cổng thành châu Âu thời Trung cổ, ngay cạnh đó là một túp lều chăn cừu kiểu Thụy Sĩ. Trông qua thì thiếu tính nhất quán về phong cách, nhưng nghĩ cho kĩ, lâu đài trong mộng tưởng của mỗi đứa trẻ chẳng phải đều đa dạng như thế sao? Chính vì quan điểm đơn điệu, luôn bận tâm đến chỉnh thể, đến tính kinh tế và đánh giá của xã hội mà ngày nay người lớn chúng ta mới mắc kẹt trong những chuồng bồ câu rập khuôn nhau ở Tokyo đấy.

Cheval là một người đưa thư không được học hành tử tế, trong các ghi chép nhiệt thành mà ông để lại có vô vàn chữ viết sai. Các ghi chép này cho biết, vào năm 43 tuổi, được Chúa trời báo mộng, Cheval quyết định xây dựng một lâu đài độc đáo. Lúc đầu, bên cạnh ba lô đựng bưu phẩm, ông mang theo bao tải để thu lượm những viên đá hình thù quái lạ dọc đường đưa thư. Dần dần, bao tải biến thành gùi đeo lưng. Cuối cùng Cheval đổi hẳn sang xe cút kít.

Chẳng nghĩ cũng biết cư dân ở chốn quê làng buồn tẻ ấy có thái độ thế nào trước hành vi lập dị của ông bưu tá. Nhưng bất chấp lời ra tiếng vào, Cheval bắt đầu dùng xi măng và đống đá nhặt được để làm móng lâu đài.

Khối chính lâu đài dài 26 mét, rộng 14 mét, cao 12 mét, mất ba năm mới xây xong. Tiếp theo, trên tường lần lượt xuất hiện phù điêu hình hạc, báo, đà điểu, voi, cá sấu… bằng xi măng, cứ thế mà đắp cho đến khi phủ kín khắp các mặt tường thì Cheval chuyển sang chế tạo thác nước và ba pho tượng người khổng lồ.

Vào năm 76 tuổi, cuối cùng Cheval cũng hoàn công, ông đưa cộng sự hàng đầu là chiếc xe cút kít vào bày ở vị trí nổi bật nhất trong lâu đài, còn mình thì dựng một túp lều gần cổng để trú chân sau khi nghỉ hưu, từ đó ngắm lâu đài mà sống qua ngày thay vì dọn vào ở.

Xem trên ảnh, có cảm giác lâu đài Cheval được xây bằng một loại vật liệu mềm nhũn nhẽo như dọc mùng. Mật độ phù điêu và trang trí xi măng còn dày đặc hơn cả Angkor Wat, bồi đắp lớp lớp lên nhau khắp các mặt tường khiến những đường nét cơ bản không rõ ràng nữa, đống chi tiết rườm rà và mất cân đối đó làm cả công trình méo mó một cách lạ lùng. Nếu không hứng thú với lâu đài này, người ta rất dễ cho rằng tác phẩm mà Cheval hoài phí nửa cuộc đời để hoàn thành chỉ có giá trị ngang đống sắt vụn hay đồ cổ vô dụng.

Nếu nghĩ Cheval là kẻ điên như cách dân làng Hauterives vẫn nghĩ, thì quá đơn giản. Nhưng tôi cho rằng, ý tưởng sáng tạo thể hiện qua lâu đài Lý tưởng có một cái gì đấy khá gần gũi với các công trình của kiến trúc sư thiên tài người Tây Ban Nha Antonio Gaudi. Ngày nay, lâu đài Cheval trở thành tụ điểm du lịch duy nhất của làng Hauterives - nơi vốn dĩ chẳng có một thắng cảnh gì.

Nhắc đến những chân dung lập dị trong lĩnh vực kiến trúc thì không thể bỏ qua Ludwig II của vương quốc Bavaria*. Ai cũng biết ông vô cùng hâm mộ nhà soạn nhạc Richard Wagner, nhưng ngoài Wagner ra, thú vui lớn nhất đời ông chính là xây cung điện.

Kiệt tác đầu tiên của Ludwig II là cung điện Linderhof* mà các thế hệ sau đã nhất trí coi như một công trình mô phỏng phong cách kiến trúc của vương triều Bourbon*. Linderhof xây đấu lưng vào núi, tôi nghĩ rằng chỉ cần đẩy cửa đá xoay ra, tiến sâu vào đường hầm nóc cao của nó thì bất kì ai cũng sẽ phát hiện ra rằng cung điện này có điểm độc đáo riêng, không thể đơn giản xếp vào dạng mô phỏng thuần túy.

Ở đó, xuất hiện trước mắt chúng ta là một hang động nhân tạo hùng vĩ, mặt hồ đen lung linh nhẹ nâng con thuyền khổng lồ hình vỏ sò. Ánh đèn đủ màu chập chờn, bên bờ nước là chiếc bàn đan kết từ cành san hô nhân tạo, những bức tranh kì ảo tô điểm cho vách tường. Khung cảnh này có thể kích thích trí tưởng tượng của bất kì ai*.

Sau khi Wagner yêu quý bị trục xuất*, nghe nói Ludwig II thường giam mình dưới lòng đất tăm tối của Linderhof, vừa ăn cơm bên bàn san hô vừa nhung nhớ nhà soạn nhạc.

Ở Âu Mỹ không thiếu công trình kiến trúc hay nhà cửa đặc sắc như các trường hợp trên. Song nhìn lại Nhật Bản thì thật đáng tiếc, chẳng mấy khi phát hiện ra ví dụ nào tương tự.

Nhà ninja có thể coi như một điển hình nổi bật của kiểu nhà cửa có cài đặt hệ thống bên trong, nhưng để phục vụ các mục đích thực tế hơn là vì nghệ thuật.

Còn một ví dụ nữa, là Nhị Tiếu Đình* ở Fukagawa (Tokyo), xây lên sau trận động đất Kanto*. Ngôi nhà kì quặc này cũng tương đối nổi tiếng. Theo tài liệu còn lưu lại, thang trong nhà chạy suốt lên nóc, các lỗ nhỏ trên cửa đều lắp kính để làm mắt thần, cửa sổ mặt tiền trổ hình ngũ giác.

Ngoài những công trình nêu trên, rất có thể Nhật Bản cũng có một lâu đài Cheval của ai đó, tiếc rằng tôi chưa được thấy nhiều, chưa có dịp nghe nói đến. Tuy nhiên tôi biết một công trình khác: Nhà nghiêng Hokkaido.

Ở mũi Soya xa tít tắp, trên một mỏm cao trông xuống biển Okhotsk tại Hokkaido cực Bắc Nhật Bản, có xây cất một công trình dị thường mà người trong vùng gọi là ‘nhà nghiêng’.

Công trình ấy gồm một ngôi nhà ba tầng mang phong cách Phục Hưng phương Tây với tường trắng cột chạm, và một ngọn tháp tròn mô phỏng tháp nghiêng Pisa nằm ở mé Đông nhà.

Tuy mô phỏng, tháp này vẫn khác Pisa ở chỗ thân ốp toàn thủy tinh. Mặt trong thủy tinh phủ một màng nhôm chân không mà người ta thường gọi là phim tráng bạc, mỗi khi nắng ráo, phong cảnh bốn bề lại phản chiếu rõ rệt trên thân tháp tròn.

Cách mỏm cao một quãng có một quả đồi, đứng bên đồi nhìn sang sẽ thấy khối thủy tinh hình trụ tròn khổng lồ ấy kết hợp với ngôi nhà phương Tây tạo ra một cảnh quan vô cùng kì ảo.

Xung quanh không có ai sinh sống, phóng hết tầm mắt cũng chỉ thấy đồng hoang và cỏ khô lắt lay theo gió. Muốn đến được chỗ có làng mạc phải ra khỏi nhà, xuống khỏi mỏm cao rồi cuốc bộ thêm chừng mười phút.

Khi mặt trời chìm xuống đằng Tây, ngọn tháp giữa thảo nguyên lạnh buốt này sẽ đón ánh chiều vàng, tỏa sáng lấp lánh trên nền xanh u uất của biển cả phương Bắc.

Trước mặt ngôi nhà là một khuôn viên rộng rãi lát đá bày rải rác vài tác phẩm điêu khắc, còn có một cái ao nhỏ với các bậc đá dẫn xuống tận mép nước. Nơi chân tháp có một khoảnh đất hình quạt xòe dường như là bồn hoa. Nói ‘dường như’ là vì thiếu bàn tay người chăm sóc, bây giờ nó đã tiêu điều không ra bộ dạng gì nữa rồi.

Ngày nay, ngôi nhà và ngọn tháp đều rơi vào tình trạng hoang phế, rao bán đã lâu mà chẳng ai ướm hỏi, không chỉ vì vị trí quá hẻo lánh, mà còn vì nơi này từng xảy ra án mạng.

Án mạng ấy vô cùng lắt léo, cũng hết sức khác thường.

Để cho rõ ràng, sau đây tôi xin thuật lại câu chuyện Hokkaido mê trận án.

Thú thật, tôi chưa bao giờ nghe đến cách gây án nào lại kèm theo nhiều đạo cụ kì lạ như vậy. Hiện trường vụ án dĩ nhiên là ngôi nhà nghiêng trên mỏm cao gió hú ấy.

Xét về khí thế, nhà nghiêng gần gũi với các cung điện của Ludwig II hơn là lâu đài của Ferdinand Cheval. Vì người xây dựng nó cũng là một kiểu quốc vương của thời hiện đại, có cả tài sản lẫn quyền lực.

Người ấy tên là Hamamoto Kozaburo, chủ tịch hội đồng quản trị Công ty Diesel Hamamoto. Trừ tiền và quyền ra, ông ta không còn gì chung với người có tâm hồn khác lạ như Ludwig II, càng không có gì chung với người mơ mộng như Cheval. Chẳng qua thuộc dạng thích chơi bời, lại lắm tiền nhiều của nên mức độ đam mê và thử nghiệm điên rồ hơn hẳn người thường mà thôi.

Suy đến cùng, người ở địa vị cao hay buồn tẻ và u uất, chắc hẳn Hamamoto cũng vướng mắc nhiều điều phiền muộn. Đầu đội một đống tài sản kếch xù, tinh thần không tránh khỏi bị đè nén nên ít nhiều méo mó, hiện tượng này có thể xảy ra với bất cứ ai, không phân biệt vùng miền chủng tộc.

Cấu trúc của ngôi nhà và ngọn tháp đều không có điểm gì đặc biệt đáng ngạc nhiên. Tuy rằng bên trong có một số thiết kế kiểu mê cung, nhưng không đến nỗi rối rắm, chỉ cần nghe giải thích một lần là không bao giờ lạc lối được. Cũng không có tường xoay, hang ngầm, hay trần nhà di động. Công trình này sở dĩ thu hút sự chú ý của người ta chính là vì, như dân trong vùng vẫn nói, nó được xây nghiêng ngay từ đầu, tháp thủy tinh quả thật là ‘tháp nghiêng’ theo nghĩa đen. Còn ngôi nhà, cứ đặt một hộp diêm trên bàn với mặt quẹt quay xuống, đưa ngón tay đẩy nhẹ cho nó nghiêng đi là tưởng tượng được ngay. Chỉ nghiêng chừng 5-6 độ, nhìn từ bên ngoài hầu như không nhận ra, song bước vào trong thì sẽ phải choáng váng.

Ngôi nhà nghiêng về phía Nam. Cửa sổ hai mặt Nam-Bắc dĩ nhiên là giống nhà cửa bình thường, vấn đề nằm ở hai mặt tường Đông-Tây. Cửa sổ của hai tường này vẫn trổ song song với mặt đất, vì thế khi mắt đã quen với đường nét trong nhà rồi mà thả quả trứng xuống sàn, tự dưng sẽ có cảm giác quả trứng đang lăn lên dốc. Cảm giác đó, chỉ người đã sống vài ba ngày trong nhà mới hiểu được. Nếu ở lâu dài, đầu óc không khỏi có phần rối loạn.

Hamamoto Kozaburo là một người có tài nhưng tính tình ấu trĩ, thú vui của ông ta là xem khách khứa bối rối vì mắc lỡm. Biết được điều đó rồi, chúng ta sẽ hiểu hơn về lý do tồn tại của nơi chốn trái khoáy này. Có điều cũng phải công nhận, ấu trĩ kiểu ông ta quả là tốn kém.

Tuổi sắp bảy mươi, vợ đã mất từ lâu, Kozaburo chuyển đến cực Bắc ẩn cư, mang theo danh tiếng vất vả một đời gây dựng.

Ông ta thích nghe nhạc cổ điển, thích tiểu thuyết trinh thám, tìm vui bằng việc nghiên cứu con rối, hình nộm và đồ chơi cổ gắn máy móc của phương Tây. Số tiền ông ta vung ra tiêu pha cho những món đồ ấy nhiều ngang ngửa vốn đầu tư thành lập một doanh nghiệp cỡ vừa. Bộ sưu tập của ông ta được trưng bày ở phòng số 3 nhà nghiêng, tường treo đầy mặt nạ Tengu*, nên căn phòng còn được gọi là phòng Tengu.

Ở đây cũng cất giữ một hình nộm tên là Golem hoặc Jack, kích thước bằng người thật, từ đầu thế kỉ 15 đã lưu hành một truyền thuyết rằng, vào những đêm mưa gió nó sẽ đi lung tung. Sự thật là Golem đóng một vai trò rất quan trọng trong vụ án mạng bí hiểm xảy ra ở ngôi nhà nơi đất Bắc này.

Tuy có nhiều thú vui khác thường, nhưng Hamamoto Kozaburo không phải loại người quái đản lánh xa xã hội. Hễ tiết trời dễ chịu, sang mùa cảnh đẹp là ông lại mời khách khứa đến nhà ăn uống chơi bời, chủ yếu là muốn tập hợp những người cùng sở thích. Song mục đích đó hoàn toàn không đạt được.

Tại sao lại thế?

Các bạn sẽ tìm thấy câu trả lời nhanh thôi, vì vở kịch của chúng ta sắp mở màn rồi.

Án mạng bắt đầu vào đêm Giáng sinh năm 1983. Bấy giờ nhà nghiêng, tên chính thức là Lưu Băng Quán*, đã được quét dọn gọn gàng sạch sẽ nhờ sự tận tụy tỉ mỉ của vợ chồng quản gia Hayakawa. Cây cối ngoài khuôn viên lát đá cũng được sửa sang xén tỉa tinh tươm, chỉ khác là trĩu đầy những tuyết.

Bốn bề mềm mại trắng toát, khiến người ta thật khó mà tin được đây là kết quả của gió càn bão quét. Mặt đất màu cỏ úa im lìm ngủ say bên dưới. Nếu muốn tìm một công trình nhân tạo giữa thế giới tự nhiên mịn màng băng tuyết trông như trải đệm flanen này, thì chắc là quay tới quay lui cũng chỉ thấy mỗi ngôi nhà nghiêng mà thôi.

Mặt trời lặn dần, băng trôi trên biển Okhotsk âm u trông như lá sen từ nơi trời nước giao nhau đằng xa chen chúc xô lại, mỗi lúc một dày. Vòm trời nhuộm tối liên tục đẩy đưa tiếng gió, lúc riết róng lúc dịu êm.

Lưu Băng Quán bắt đầu lên đèn.

Tuyết lại ào ạt rơi.

Quang cảnh khiến cho bất cứ ai trông thấy cũng buồn não nuột.

HỒI 1
Nếu trên đời có một điệu vũ đủ sức xua tan sự buồn tẻ,

thì đó hẳn là điệu vũ của người chết.

Cảnh 1

Tiền sảnh Lưu Băng Quán

Giữa màn tuyết li ti rơi vọng lại tiếng rê của xích chống trượt lốp*, rồi một chiếc Mercedes-Benz từ dưới dốc bò lên, chở theo những người khách được mời đến dự tiệc.

Hamamoto Kozaburo đứng trước cánh cửa tiền sảnh mở rộng, miệng ngậm tẩu thuốc. Cổ ông đeo nơ, tóc bạc trắng, mũi cao, từ đầu xuống chân không có lấy một gam mỡ thừa, trông rất khó đoán tuổi. Ông nhấc tẩu ra, phả một làn khói mờ, mỉm cười nhìn sang bên cạnh.

Cô con út Eiko đứng sóng vai ông, không ngại gì lạnh giá trong bộ đồ dạ hội lộng lẫy phô bờ vai trần. Tóc búi cao, xương gò má cao, sống mũi cũng cao di truyền của cha, nhưng khuôn mặt vẫn rất nhẹ nhàng nữ tính, toát ra đầy đủ hương sắc của một mỹ nhân. Vóc dáng cao ráo, thậm chí còn cao hơn Kozaburo một chút.

Cô trang điểm rất hợp với tiệc tối, đậm nhạt hài hòa, khóe miệng mím chặt như một người chủ đang lắng nghe cán bộ công đoàn đấu tranh.

Chiếc Mercedes-Benz chạy dọc lối vào, tiến đến cửa chính ngập ánh đèn vàng thì dừng lại, gần chỗ cha con Hamamoto. Xe chưa đỗ hẳn, cửa đã bật ra, một người đàn ông đầu to tóc thưa nôn nóng bước xuống, giậm giậm chân trên tuyết.

“Ngại quá, để anh phải ra tận nơi đón nữa!”

Kikuoka Eikichi cất giọng oang oang. Người đàn ông này hễ mở miệng là vô thức nói to. Kiểu người bẩm sinh phù hợp với việc giám sát hiện trường. Có lẽ là nhờ cái cổ bò mộng, giọng lão đặc biệt vang rền.

Chủ nhân Lưu Băng Quán lịch sự gật đầu, Eiko nói, “Vất vả cho chú quá!”

Một cô gái nhỏ nhắn yêu kiều ló ra sau lưng Eikichi, gây ngạc nhiên cho cả hai vị chủ nhà, hoặc ít nhất là cho Eiko. Cô ta mặc đồ tây màu đen, vai phủ áo khoác da báo, cúi mình xuống xe với bộ điệu duyên dáng. Cha con Hamamoto chưa gặp cô gái này bao giờ. Khuôn mặt cô mềm mại đáng yêu, vẻ nũng nịu như con mèo.

“Để tôi giới thiệu. Đây là cô Aikura Kumi, thư kí của tôi. Đây là chủ tịch Hamamoto!” Eikichi đã chủ định kiềm chế, nhưng trong giọng nói vẫn lợn cợn đôi chút khoe khoang.

Aikura Kumi nở nụ cười tươi, cất tiếng chào bằng âm sắc ngọt ngào trong trẻo, “Hân hạnh.”

Eiko không màng đáp lễ, vì cô đang bận nghiêng người về phía ghế lái, dặn anh tài xế Ueda Kazuya về chỗ đỗ xe.

Hayakawa Kohei đã đợi sẵn đằng sau chủ nhân, lúc này tiến ra dẫn hai vị khách vào phòng sinh hoạt chung. Hamamoto Kozaburo vẫn giữ nguyên vẻ tươi cười, nhưng Eiko thì tỏ ra đăm chiêu. Aikura Kumi là thư kí thứ mấy của Eikichi? Nếu không liệt kê ra giấy có khi chẳng thể nhớ được. Sau đây chắc cô ta sẽ tìm cách ngồi vào lòng sếp tổng, dắt tay lão dung dăng dung dẻ ở Ginza*, tập trung làm ‘nhiệm vụ’ của một thư kí, đặc biệt là tích lũy tài sản cá nhân.

“Ba ơi!” Cô gọi.

“Ừ?” Kozaburo bập bập chiếc tẩu.

“Ba đừng đợi nữa. Chỉ còn Togai và vợ chồng Kanai là chưa đến thôi, đúng không ạ? Ba không phải cất công ra tận đây đón họ đâu, con và dượng Hayakawa là đủ rồi. Ba vào tiếp chú Kikuoka đi ạ.”

“Ừ, nghe con vậy. Nhưng con ăn mặc thế này liệu có lạnh không? Cẩn thận kẻo cảm mạo đấy.”

“Cũng phải ạ. Thế ba nói với dì một tiếng, nhờ lấy giúp con áo khoác lông chồn nhé. Chiếc nào cũng được. Ba bảo dì đưa cho Kusaka mang ra đây. Đằng nào thì Togai cũng sắp tới, Kusaka cùng ra đón anh ấy là phải rồi.”

“Ừ. Kohei ơi, Chikako đâu?” Kozaburo ngoái ra sau hỏi.

“Bà ấy ở trong bếp…”

Hai người vừa nói vừa đi vào nhà.

Chỉ còn lại một mình Eiko, cô bất giác ôm lấy hai cánh tay trần. Một lát sau, tiếng nhạc của Cole Porter tuôn ra, vai đột nhiên ấm lên nhờ một lớp lông phủ.

“Cảm ơn!” Eiko hơi xoay mình lại nhìn Shun, một thanh niên trắng trẻo khá đẹp trai.

“Sao Togai chậm trễ thế nhỉ?” Shun nói.

“Chắc là tại tuyết. Anh ấy lái xe dở tệ.”

“Có thể.”

“Lúc anh chưa đến, em cứ chờ mãi đấy.”

“Ừ…”

Im lặng một lúc. Cuối cùng Eiko bình thản chuyển đề tài, “Vừa rồi, anh có trông thấy thư kí của chú Kikuoka không?”

“Có.”

“Khẩu vị nặng quá!”

“?”

“Đối với con người ta, cái gu là rất quan trọng…” Eiko nhận xét tiếp, vẫn không bộc lộ cảm xúc gì. Vẻ thản nhiên này thường tạo nên hiệu ứng thu hút bí ẩn, nhất là đối với những chàng trẻ tuổi xoắn xuýt quanh cô.

Một chiếc xe van Nissan từ từ bò lên dốc, động cơ rền rĩ như nhịp thở phì phò.

“Đến rồi kia thì phải.”

Xe quay đầu chạy dọc thềm rồi dừng lại, kính cửa sổ trượt xuống, phô bày đôi kính gọng bạc cùng khuôn mặt hồng hào đầy đặn. Đáng ngạc nhiên là, trời đang rét căm căm nhưng khuôn mặt đó lại lấm tấm mồ hôi. Kính chưa hạ hết, người trong xe đã hấp tấp lên tiếng cảm ơn Eiko vì lời mời.

“Sao bây giờ anh mới tới?”

“Ừ, đi đường tuyết mệt mỏi quá đi mất! Hamamoto à, tối nay em còn đẹp hơn bình thường nữa đấy, đây là quà Giáng sinh anh tặng em.” Cậu ta đưa ra một bao nhỏ dài.

“Cảm ơn anh.”

“Ồ, Kusaka, anh đấy à?”

“Ừ, sắp đóng thành băng rồi, đỗ xe nhanh đi.”

“Được.”

Khi ở Tokyo, thi thoảng hai người vẫn hẹn gặp uống một chầu.

“Mau đi đỗ xe đi. Cậu biết rồi mà phải không? Vẫn chỗ cũ.”

“Ừ, đã hiểu.” Chiếc xe van rung lắc chuyển hướng ra sau trong màn tuyết lất phất. Shun chạy bước nhỏ theo sau.

Liền đó lại xuất hiện một chiếc taxi. Cửa xe mở ra, một người đàn ông rất gầy bước xuống tuyết. Đó là Kanai Michio. Anh cúi mình. Trông dáng vẻ cam chịu chờ đợi cô vợ yêu quý ấy, người ta sẽ bất giác liên tưởng đến con hạc cô độc bay tới bình nguyên tuyết phủ. Khó khăn lắm mới lách ra được khỏi băng ghế sau chật chội là một thân hình phì nộn, hoàn toàn đối lập với anh chồng, chị vợ Hatsue.

“Chào cô Hamamoto. Thật ngại quá, lại đến làm phiền cô rồi.”

Người chồng gầy gò mỉm cười. Nói ra lại mang tiếng săm soi, nhưng anh Kanai Michio này quen thói cười thớ lợ thì phải, đến nỗi cơ mặt đã định hình thành nụ cười đó luôn rồi. Đây có lẽ cũng là một thứ bệnh nghề nghiệp.

Chỉ cần hơi nhúc nhích cơ mặt thì bất kể suy nghĩ trong lòng ra sao, bộ mặt anh ta đều dâng tràn vẻ bợ đỡ. Không, có khi muốn làm biểu cảm khác trừ tươi cười thì anh ta mới cần vận dụng đến cơ mặt ấy.

Sau mỗi lần gặp, hễ hồi tưởng hình dáng của người đàn ông này, Eiko lại nhận ra mình không thể tái hiện được diện mạo bình thường của anh ta. Đến chân dung thái tử Shotoku* mà cô chưa gặp bao giờ còn dễ tưởng tượng hơn vẻ mặt của Michio. Anh ta luôn nhe răng, mắt tít lại hiện rõ nếp nhăn. Eiko trào phúng nghĩ, chắc không phải anh ta mang bộ dạng đó từ khi chào đời đấy chứ.

“Mọi người đều đang đợi anh. Chắc anh chị mệt lắm?”

“Đâu có. Chủ tịch của chúng tôi đến chưa ạ?”

“Chú ấy đến rồi.”

“Gay go to, chúng tôi muộn quá.”

Đứng vững trên tuyết rồi, Hatsue lập tức quét từ đầu xuống chân Eiko bằng ánh mắt sắc lẻm thuộc loại hiếm thấy ở một người phục phịch như chị ta. Và đúng một tích tắc sau, khuôn mặt chị nở nang ra:

“Ôi, trang phục đẹp quá đi mất!”

Chỉ khen quần áo!

Thế này chắc là hết khách rồi đây. Đợi hai vợ chồng Kanai khuất dạng sau cánh cửa tiền sảnh, Eiko cũng quay ngoắt mình lại bằng dáng vẻ hơi kiểu cách, đi vào phòng sinh hoạt chung trong nhà. Tiếng nhạc Cole Porter dần dần áp tới gần. Bước chân cô khoan thai như một nữ diễn viên vừa rời phòng hóa trang, đang băng qua hành lang tiến về sân khấu, phấn khích vừa phải, tự tin đầy tràn.


Cảnh 2

Phòng sinh hoạt chung
của Lưu Băng Quán

Trần phòng treo một chùm đèn pha lê lộng lẫy. Tuy ông bố cho rằng món đồ này không hài hòa với ngôi nhà, Eiko vẫn khăng khăng treo nó lên.

Ở mé Tây phòng có một lò sưởi hình tròn, mặt sàn cạnh đấy chất đống cành khô và củi. Trên lò có ống khói màu đen, hình dáng giống chiếc phễu lớn úp ngược. Bệ lò bằng gạch đỏ, ai đó bỏ quên ở đây một cốc cà phê bằng kim loại. Trước lò kê chiếc ghế bập bênh yêu thích của Kozaburo.

Mặt dưới chùm đèn pha lê lắp đầy bóng điện hình nến, trông tua tủa như cánh rừng nho nhỏ trên không. Khách khứa đã ngồi quanh chiếc bàn dài hẹp. Nhạc nền chuyển thành giai điệu Thánh ca.

Do sàn nghiêng, bàn ghế đều bị gọt vát một bên chân để bề mặt được cân bằng.

Trước mặt khách khứa đã bày sẵn rượu vang và nến. Mọi người nhìn nhau, đợi Eiko lên tiếng. Nhạc nhỏ dần, khớp với thời điểm nữ hoàng xuất hiện.

“Cảm ơn mọi người cất công từ xa đến.”

Giọng nói thánh thót của nữ hoàng trẻ tuổi vang khắp căn phòng rộng rãi.

“Khách ở đây, cả người còn trẻ lẫn các bậc cao niên, có lẽ đều thấy mệt rồi. Nhưng cái giá phải trả cũng xứng đáng thôi. Hôm nay là Giáng sinh, Giáng sinh dĩ nhiên cần có tuyết, mà nên là tuyết thật chứ không phải bông vụn hay giấy trắng, vì thế chọn biệt thự ở Hokkaido để ăn mừng là chí lý lắm đấy. Đêm nay chúng tôi cũng chuẩn bị cho các vị một cây thông Giáng sinh rất đặc biệt nữa đây.”

Cô làm hiệu lệnh, ánh đèn pha lê bỗng chốc tối hẳn đi, rồi tan biến. Đầu bếp Kajiwara Haruo ở chỗ nào đó vừa tắt công tắc. Nhạc nền chuyển sang giai điệu hợp xướng nghiêm trang.

Quá trình này là do Eiko lên kịch bản và đạo diễn, cũng đã tập thử từ trước rất nhiều lần. Tác phong cầu toàn của cô quả là đáng để quân đội cắp cặp đến học tập.

“Mời mọi người nhìn ra cửa sổ.”

Khách khứa cùng ồ lên kinh ngạc. Vườn sau trồng một cây thông thật, thân giăng chi chít bóng đèn, lúc này từng bóng một đang bật sáng, sặc sỡ, nhấp nháy, nhuộm màu cho tuyết trắng chất nhiều lớp trên cây.

“Đèn!”

Giống như một hiệu lệnh được cả thế giới tuân theo, công tắc lại bật. Nhạc nền quay về giai điệu Giáng sinh.

“Một lát nữa các vị có thể thỏa sức chiêm ngưỡng cây thông kia. Nếu chấp nhận cắn răng chịu đựng gió lạnh mà ra đứng dưới gốc cây, sẽ nghe thấy tiếng băng trôi nghiến xuống mặt biển Okhotsk nữa. Một Giáng sinh đúng nghĩa, không thể nào tìm thấy ở Tokyo đâu. Tiếp theo đây, có lẽ nên mời người mang Giáng sinh tuyệt vời đến cho chúng ta lên phát biểu nhỉ! Người cha đáng tự hào của con, mời ba nói với các vị đây vài lời.”

Eiko duyên dáng vỗ tay. Mọi người cũng vội vàng vỗ theo.

Hamamoto Kozaburo đứng lên, vẫn cầm cái tẩu nơi tay trái.

“Eiko, lần sau con thôi tâng bốc ba đi nhé, được không? Làm ba nhột nhạt hết cả người đây. (Khách khứa cười ồ lên). Mà cũng khiến mọi người khó xử nữa.”

“Ôi chà, làm gì có chuyện đó. Mọi người đều cảm thấy tự hào vì được tiếp xúc với ba ấy chứ. Phải không, mọi người?”

Đám ‘con chiên’ nghe vậy đều gật đầu lia lịa. Người gật đầu hăng hái nhất chắc là Kikuoka Eikichi. Bởi vì tiền đồ của công ty lão đều nằm trong tay Hamamoto.

“Mọi người đến chơi ngôi nhà quái gở của lão già điên này chẳng phải lần đầu, vì thế chắc cũng đã quen với cái sàn nghiêng, không đến nỗi ngã lăn lê bò toài nữa, thật khiến tôi cụt hứng đấy nhé. Xem ra tôi phải xây một ngôi nhà dị dạng khác thôi.”

Ai nấy đều phá lên cười, lần này là tự nhiên.

“Giáng sinh nói chung là một ngày chen chúc đông đúc, các khách sạn nước Nhật thì kiếm bẫm vô cùng*. Mọi người đến chỗ thoáng đãng tôi đây, coi như là một quyết định sáng suốt đấy. À phải rồi, chúng ta nên nâng ly cái nhỉ, nếu không rượu vang hết lạnh mất. Nhưng không sao, cho dù không đủ lạnh, chỉ cần đem ra ngoài trời năm phút là được. Tôi bắt đầu trước nhé, nào…”

Kozaburo nâng ly lên, tức thì ai nấy cũng cầm lấy rượu của mình. Đợi Kozaburo nói “Merry Christmas!” xong, mọi người cũng rào rào đáp lại, “Mong được giúp đỡ nhiều!” Căn phòng tràn ngập bầu không khí của dân kinh doanh.

Hớp cạn rượu rồi, Kozaburo đặt ly xuống, nói:

“À phải, đêm nay cũng có khách tới đây lần đầu. Có người còn trẻ, cũng có người tóc đã hoa râm, tôi nghĩ cứ nên giới thiệu qua cho tiện sinh hoạt. Còn cả những người sống ở đây để lo liệu công việc giúp tôi nữa, mọi người làm quen với nhau nhé. Đây là Eiko, Kohei và Chikako…”

Eiko lập tức giơ tay phải lên, nói bằng giọng rành mạch dứt khoát:

“Để con. Không cần ba phải giới thiệu đâu. Kusaka, nhờ anh gọi Kajiwara và dì dượng Hayakawa lên đây.”

Khi người giúp việc và đầu bếp đã lục tục tập hợp lại, cô chủ trẻ bèn bảo họ đứng thành hàng sát tường.

“Chú Kikuoka và anh Kanai từng ghé qua đây hồi mùa hè, hẳn vẫn nhớ khuôn mặt những người này, nhưng nhiều người khác chắc là gặp lần đầu nhỉ? Để tôi giới thiệu lần lượt nhé. Bắt đầu từ hàng trên, mong mọi người chú ý, nhớ tên cho kĩ, tuyệt đối đừng nhầm. Trước tiên là trang hiệp sĩ có thân hình vạm vỡ này. Chúng ta đều biết, đây là chủ tịch Kikuoka Eikichi của công ty Trục quay Kikuoka. Chắc phải có người xem tiểu sử của chú ấy trên tạp chí rồi nhỉ. Nhân cơ hội này mọi người hãy nhìn nguyên bản cho kĩ đi.”

Kikuoka Eikichi đã từng lộ diện hai lần trên tuần san. Một lần là khi ly dị vợ, vì phí chia tay không thỏa thuận được nên lôi nhau ra tòa, còn lần thứ hai là theo đuổi một nữ diễn viên nhưng bị người ta từ chối.

Eikichi giàu kinh nghiệm tình trường, bụng ngày càng phệ tóc ngày càng thưa, ngồi gà gật bên bàn, lại cúi đầu lần nữa với Kozaburo.

“Chú nên phát biểu một lời đi ạ.”

“Ồ, cháu nói phải. Xin chào mọi người. À, ngôi nhà này vẫn đẹp đẽ, cảnh quan vẫn tuyệt vời không thể chịu nổi, có dịp ở đây, ngồi với anh Hamamoto và uống rượu ngon, tôi lấy làm vinh dự vô cùng.”

“Cô gái xinh đẹp vận đồ tây bên cạnh chú Kikuoka là thư kí đắc lực của chú ấy, cô Aikura. Tên cô là gì nhỉ?”

Dĩ nhiên Eiko vẫn nhớ tên Kumi, nhưng cô đoán đây là tên giả. Song đối phương chẳng phải dạng vừa, khuôn mặt vẫn thản nhiên, không thấy dấu hiệu nào là phật ý, cô ta cất giọng ngọt ngào:

“Tôi tên là Kumi*, hân hạnh làm quen.”

Ả này ghê gớm thật, Eiko thầm nghĩ. Chắc đã từng làm tiếp viên quán xá nào đây.

“Ôi, tên hay quá, khác hẳn tên người ‘bình thường’.” Eiko cố ý trầm ngâm một lát mới bình luận, “Cứ như nghệ danh trong giới giải trí ấy.”

“Đúng là mệt vì cái tên!” Aikura Kumi tiếp tục bằng chất giọng mật ngọt chết ruồi, “Người tôi nhỏ nhắn thế này nên thành ra mờ nhạt. Chứ nếu thân hình nở nang nổi bật một chút thì chắc chẳng ai bận tâm đến tên tuổi ngay từ đầu cả. Ví dụ to con như chị Hamamoto Eiko thì tốt biết bao!”

Eiko vốn dĩ miệng lưỡi sắc bén, mà nghe đến đây tự nhiên nín lặng, không biết phải đối đáp thế nào. Cô cao 1m73, đi giày cao gót vào nữa thì thành khổng lồ, phải đến 1m80, bởi thế bình thường chỉ đi giày đế bằng.

“Người ngồi cạnh cô Aikura là anh Kanai Michio, đương kim chủ tịch hội đồng quản trị Trục quay Kikuoka.” Eiko vẫn mải suy nghĩ nên buột miệng nói ra một câu kì quái. Ngay cả khi nghe thấy Eikichi đùa cợt cấp dưới “Ế, chú thành chủ tịch từ bao giờ vậy?”, cô cũng chưa hiểu ra vấn đề ở chỗ nào.

Michio đứng lên, mỉm nụ cười làm hàng, nồng nhiệt tán thưởng Kozaburo, tiện thể cũng tế nhị tâng bốc sếp mình một hồi, nói năng rất uyển chuyển. Anh ta leo lên được vị trí hôm nay, tất cả là nhờ khôn khéo.

“Quý bà có thân hình cân đối ngay cạnh đấy là Hatsue, vợ quản lý Kanai.” Đến giờ Eiko mới nhận ra sơ suất của mình.

“Vì bận đến đây, hôm nay tôi không đi spa hay aerobic gì cả.” Hatsue đáp tỉnh bơ. Kumi nheo mắt nhìn sang, rõ ràng là rất khoái chí.

“Tôi đang béo thế này, hi vọng có thể thanh mảnh đi nhờ hấp thu không khí nhà ta.” Hatsue không thèm né tránh, tiếp tục phụ họa chủ đề mà Eiko khơi ra.

Khi màn giới thiệu chuyển sang các chàng quý tộc độc thân, Eiko lập tức lại lấy lại vẻ ung dung thường ngày.

“Thanh niên đẹp trai vừa trắng vừa sáng này là Kusaka Shun. Hiện giờ anh ấy đang học năm thứ sáu trường Đại học Y-Dược Tokyo Jikei, sắp dự kì thi sát hạch quốc gia để lấy bằng bác sĩ, nhân dịp nghỉ đông nên đến xả hơi, tiện thể làm cố vấn sức khỏe cho ba tôi.”

Chà, giới thiệu đàn ông nhẹ nhàng thật, Eiko nghĩ.

Shun cười, “Ở đây đồ ăn ngon, bầu không khí trong lành, lại không có tiếng chuông điện thoại phiền phức. Sống ở nhà này mà còn sinh bệnh thì dân Y chúng tôi rất muốn đem ra làm đối tượng nghiên cứu đấy.”

Hamamoto Kozaburo nổi tiếng là chúa ghét điện thoại, vì thế ở Lưu Băng Quán không lắp máy điện thoại nào cả.

“Người cạnh đó là bạn của Kusaka, anh Togai Masaki tương lai rỡ ràng. Cha anh ấy là nghị sĩ Togai Shunsaku, chắc mọi người đều đã nghe danh?”

Khách khứa trong phòng khẽ xôn xao. Đây là tiếng cảm thán thuần túy theo bản năng tự nhiên của con người ta khi trông thấy một mỏ vàng.

“Có thể ví anh ấy với ngựa nòi thuần chủng. Lên nào, anh ngựa nòi, nói vài câu đi.”

Thanh niên hồng hào đứng dậy, trước tiên đẩy nhẹ gọng kính.

“Hôm nay được mời, vinh dự vô cùng. Tôi kể với ba xong, ba cũng lấy làm mừng.” Masaki chỉ nói thế rồi ngồi xuống.

“Cạnh anh ấy, chàng trai trẻ trượt tuyết đến đen cháy cả ra, là cháu trai tôi. Miêu tả chính xác là cháu nội của bác tôi, tên là Hamamoto Yoshihiko. Rất tuấn tú phải không? Năm nay 19 tuổi, tân sinh viên Đại học Keio, các kì nghỉ đông đều sang ở với chúng tôi.”

Thanh niên mặc áo len trắng, da ngăm đen do trượt tuyết đứng dậy. Cậu ngượng nghịu ấp úng chào các vị khách, rồi hấp tấp ngồi xuống.

“Thế thôi à? Không được, Yoshihiko, phải nói thêm mấy câu nữa.”

“Nhưng cháu chẳng biết nói gì.”

“Cháu xem, ngại đám đông đến thế à. Ví dụ kể về sở thích của cháu, việc học ở trường, chắc có nhiều điều để tâm sự chứ. Không được, cháu phải nói đi.”

Nhưng vẫn vô ích.

“Thôi được, thế là phần khách khứa giới thiệu xong cả rồi. Tiếp sau đây mời các vị làm quen với những người giúp việc của gia đình. Trước hết là người đứng ở đầu kia, quản gia Hayakawa Kohei, đến nhà Hamamoto từ khi chúng tôi còn ở Kamakura, làm việc với nhau cũng gần hai mươi năm rồi. Dượng ấy kiêm cả lái xe nữa. Dì đứng bên cạnh là Hayakawa Chikako, phụ trách đủ mọi khâu trong nhà, các vị cần gì cứ nói với dì ấy. Cuối cùng là người đứng ở đầu này, anh bếp trưởng mà cả gia đình tôi đều lấy làm tự hào khi mời được, Kajiwara Haruo. Hồi mới ngoài hai mươi tuổi tay nghề đã lên hạng nhất, bấy giờ khách sạn Ohara không chịu buông anh ấy ra, chúng tôi phải dùng đến những biện pháp cực mạnh mới kéo về được đấy. Tay nghề của anh ấy thế nào, mời các vị dùng lưỡi thẩm định. Được, xong rồi, bây giờ dì, dượng và anh có thể quay lại làm việc. Màn giới thiệu đến đây là hết. Các vị khách đang có mặt đều là tinh hoa của xã hội, tôi nghĩ việc ghi nhớ tên họ và ngoại hình hẳn không thể làm khó được các vị. Tiếp theo, trong khi đợi bữa tối được dọn lên, mời các vị chuyện trò với nhau và chiêm ngưỡng cây thông Giáng sinh. Yoshihiko, Kusaka và cả Togai nữa, nhờ các anh thắp nến trên bàn được không? Thắp xong nến thì sẽ tắt đèn điện. Nào, mọi người, hãy thong thả tận hưởng.”

Hamamoto Kozaburo lập tức được bao bọc giữa mấy người đàn ông trung niên. Cuộc trò chuyện của họ bắt đầu, nhưng hầu như chỉ có người của Trục quay Kikuoka là nói và cười hô hố, Kozaburo trước sau vẫn bận ngậm nõ tẩu.

Vừa rồi Eiko đã phạm một lỗi giao tiếp. Cô quên bẵng không giới thiệu lái xe Ueda Kazuya. Một phần là tại anh ta quá chìm lỉm bên vẻ khôi ngô của Togai. Phần nhiều là tại Kumi đã làm cô phân tâm. Nhưng rồi cô lập tức cho rằng chẳng sao, đằng nào cũng chỉ là một lái xe nhỏ nhoi mà thôi.

Đến giờ ăn tối, qua bữa tiệc linh đình với gà tây nhồi, quả nhiên đúng như Eiko quảng cáo, bằng cái lưỡi của mình, khách khứa phương xa đã phải thừa nhận rằng tài nghệ của nhà hàng bậc nhất Tokyo đã vươn tới tận vùng đất hẻo lánh nơi cực Bắc này.

Ăn xong, mọi người dùng trà đen, Kusaka Shun đứng dậy, một mình thơ thẩn đến bên cửa sổ ngắm cây thông Giáng sinh. Cái cây cô độc vẫn nhấp nháy trong đêm.

Ngắm một lúc, cậu phát hiện ra một vật kì lạ trên tuyết.

Phía trước cửa lớn lắp kính ngăn giữa phòng sinh hoạt chung và sân, ngoài giọt gianh* chừng 2 mét, có cắm một cây gậy rất mảnh.

Ai cắm nó xuống tuyết vậy? Phần lộ ra bên trên nhiều nhất chỉ chừng 1 mét, trông có vẻ là thứ cành khô dùng cho lò sưởi ở phòng sinh hoạt chung, ai cắm thì chắc là đã cố ý chọn một cành khá thẳng. Ngày hôm nay bận rộn lo trang hoàng cây Giáng sinh, cậu không hề nhận thấy vật này.

Để nhìn rõ xem là gì, Shun đưa tay xoa lớp hơi nước bám trên mặt kính cửa sổ, chong mắt quan sát. Bởi thế cậu phát hiện ra còn một cây gậy nữa, lờ mờ dưới màn tuyết âm u, cắm ở mãi góc phía Tây của Lưu Băng Quán. Do quá xa, lại quá tối nên nhìn không rõ, nhưng hình như cũng là cành khô làm củi giống đằng này, cũng lộ ra chừng 1 mét trên tuyết.

Từ cửa sổ phòng sinh hoạt chung trông ra thì chỉ thấy hai cây gậy đó, không còn cây nào khác trong tầm nhìn.

Shun vốn muốn gọi Masaki lại để xem cậu bạn nhận định thế nào, song Masaki đang trò chuyện sôi nổi với Eiko. Yoshihiko thì ở trong nhóm đàn ông không nói chuyện vui cũng không bàn việc nghiêm chỉnh của Kozaburo, Eikichi và Michio. Haruo và Kohei hình như đã trở vào bếp, không thấy bóng dáng họ đâu.

“Chàng trai trẻ này, cứ ngồi tiếp chuyện mấy lão già chúng tôi chắc chán lắm hả? Sao cháu không gợi ra đề tài nào thú vị để tất cả cùng hứng khởi lên?”

Shun không nhìn cây gậy kì lạ ngoài tuyết nữa, cậu quay lại chỗ ngồi bên bàn ăn, đúng lúc nghe Kozaburo hỏi Yoshihiko như thế.

Kozaburo đã phát chán trước màn thao thao bất tuyệt của mấy người vây quanh, ông bắt đầu thấy bực. Chính vì muốn thoát khỏi mấy trò thù tiếp xã giao, ông mới dọn tới ngôi nhà có phong cách kì quái xây dựng ở cực Bắc hoang vu. Song những kẻ này vẫn dai dẳng băng qua quãng đường mấy trăm cây số, ào ạt xô đến chỗ ông. Ngôi nhà nghiêng lạ lùng, đồ cổ đồ quý bày đầy trước mặt, họ chẳng buồn liếc mắt qua một lần đã xuýt xoa khen ngợi. Xem ra chỉ cần trên mình ông vẫn còn hơi tiền, thì có lẽ bọn họ còn bám theo quấy rầy đến tận chân trời góc bể.

Ông đành đặt hi vọng vào mấy cậu thanh niên.

“Mọi người có thích tiểu thuyết trinh thám không?” Kozaburo hỏi, “Tôi thích lắm. Để tôi ra một đề nghe thử nhé. Khách khứa tụ tập ở đây hôm nay toàn là người thông minh tốt nghiệp những trường đại học hạng nhất cả. Ví dụ như, mọi người biết câu chuyện này không? Có một đứa bé ngày nào cũng đạp xe chở các túi cát vượt qua biên giới đoạn gần khu đào vàng Mexico để sang Mỹ. Hải quan Mỹ đâm nghi, cho rằng nó là dân buôn lậu, bèn dốc hết các túi ra kiểm tra, nhưng bên trong đúng là cát thật. Xin hỏi đứa bé đó buôn lậu cái gì bằng cách gì? Mọi người nghĩ sao? Thế nào, chú Kikuoka, chú đoán được không?”

“Không, em đoán thế nào được.”

“Em cũng không đoán được.” Michio nói. Hai cái con người này, thậm chí không buồn tỏ ra là đã thử suy nghĩ nữa.

“Yoshihiko, cháu đoán được không? Thật ra câu này không hề khó. Đứa bé buôn lậu xe đạp đấy.”

“Ha ha ha ha…” Cười sằng sặc. Chính là Kikuoka Eikichi.

“Thì ra là buôn xe đạp, thì ra là thế.” Michio mau chóng phụ họa.

“Đây là đề bài do Perry Mason* đặt ra để đố cậu bạn Drake và cô thư kí Della. Rất hay, đúng không? Muốn buôn lậu xe đạp thì phải chọn vùng gần khu đào vàng. Tôi lại ra một đề nữa. Lần này tôi sẽ không cho biết đáp án đâu. Để nghĩ xem, nên ra đề nào nhỉ? À, đây là chuyện xảy ra với một người bạn của tôi hồi trước, tôi nhớ là vì khâm phục quá, nên đã kể lại chuyện này không biết bao nhiêu lần trong các sự kiện hoặc các bài phát biểu ở công ty.

“Ngày nay, dù là đường sắt quốc doanh hay tư nhân, mỗi khi tuyết xuống đường ray sẽ bắn ra một đốm lửa nhỏ, phòng ngừa tuyết rơi xuống quá nhiều hoặc thậm chí đóng băng luôn trên đấy. Nhưng vào thời của câu chuyện này, nước Nhật còn rất cơ hàn, không có bất cứ một thiết bị đường sắt nào như thế. Một ngày mùa đông năm Chiêu Hòa thứ 30 (1955), tuyết đổ ào ạt ở Tokyo, chập tối đã chất dày đến 50 phân, sáng hôm sau các đường sắt tư nhân và quốc doanh của Tokyo đều phải ngừng vận hành.

“Hiện nay người ta làm thế nào tôi không biết, nhưng hồi ấy chẳng mấy khi Tokyo có tuyết, lẽ dĩ nhiên không sẵn xe ủi xe cào, đành huy động tất cả các cán bộ công nhân viên đang sốt sắng đi làm ra xúc tuyết, mất bao nhiêu công sức mà vẫn không kịp xong xuôi cho giờ cao điểm buổi sáng. Duy có công ty Xe điện Hamakyu do bạn tôi quản lý, chỉ trừ chuyến đầu tiên hơi chậm trễ một chút, còn lại đều hoạt động bình thường, vào giờ cao điểm cũng vẫn vận chuyển thông suốt. Mọi người có biết anh ấy dùng cách gì không? Theo ngôn ngữ của tiểu thuyết trinh thám thì đây là do bạn tôi đã dùng một thủ pháp. Nhưng mà, bấy giờ chức vụ của anh ấy chưa đủ lớn để huy động được đông đảo sức người đi xúc tuyết, anh ấy cũng không hề sử dụng công cụ đặc biệt nào. Anh ấy chỉ dựa vào sự cơ trí và khả năng ứng biến linh hoạt để giải quyết vấn đề, về sau công ty cũng nhờ đó mà trở nên nổi tiếng.”

“Ôi có cả chuyện như thế cơ à, khó tin thật đấy!” Eikichi nói.

“Chà chà, quả thật là không thể tin nổi…” Michio cũng thốt lên bằng giọng vô cùng cảm thán.

“Điều không thể tin nổi là đáp án chứ. Tôi đang đợi các vị cho biết đáp án đây.”

“A, đúng, nói cũng phải.” Eikichi gật gù.

“Có phải là trên chuyến xe điện đầu tiên của buổi sáng đã lắp rào gạt tuyết chăng?” Sáng kiến của Michio.

“Lấy đâu ra, rào thế nào lắp vào đâu mà gạt được tuyết. Cứ cho là có đi thì các hãng tàu xe khác cũng làm rồi. Không phải cái gì đặc biệt cả, anh ấy chỉ dùng những thứ có sẵn thôi.”

“Nhưng đã là bạn của anh Hamamoto thì nhất định phải là nhân tài khác thường chứ ạ.”

Michio bắt đầu đi lệch chủ đề. Kozaburo đã chán, chẳng buồn đến ý đến anh ta nữa.

“Cháu biết rồi,” Shun cười, Masaki để lộ một vẻ mặt khó diễn tả. “Có phải trước đó, bắt đầu từ lúc sập tối là ông ấy đã để xe không chạy suốt đêm không?”

“Ha ha ha, cháu nói đúng rồi. Bạn tôi lường trước rằng trận tuyết sẽ rất dữ dội, nên cứ mười phút lại để xe điện không chạy một vòng. Nghe thì đơn giản, nhưng để làm được như thế cũng cần khá nhiều năng lực phán đoán lẫn khả năng quyết đoán, vì ở đâu cũng có dạng lãnh đạo dốt nát lại ngoan cố không chịu hiểu vấn đề. Nhưng phải nói là nhờ thế mà bây giờ anh ấy mới ngồi lên ghế chủ tịch hội đồng quản trị được. Sao, còn muốn tôi ra đề không?”

Nghe Kozaburo hỏi như vậy, Masaki vì muốn cứu vãn vị thế thua sút của mình nên im lặng gật đầu thật mạnh.

Kozaburo ra thêm vài ba câu đố ông yêu thích, nhưng Kusaka Shun vẫn là người lần lượt giải được hết. Mỗi lần nghe cậu mau chóng đưa ra đáp án, Masaki lại giống cây thông ngoài sân, mặt thoạt xanh thoạt đỏ.

Hamamoto Kozaburo liếc mắt qua là nhận ra. Ông hiểu cơn cao hứng nhất thời của mình bây giờ đã tạo nên cục diện thế nào. Nói cách khác, đề nghị giải trí tùy hứng của ông đã biến thành cuộc thi đố vui có thưởng. Hai thanh niên này, hoặc ít nhất là thanh niên Togai Masaki này, hiển nhiên muốn dùng trận đấu trí óc để tranh đoạt Eiko. Nếu thuận lợi giành chiến thắng thì sẽ được làm một chuyến du lịch vòng quanh thế giới với danh nghĩa hưởng tuần trăng mật, ăn chơi phủ phê trở về còn có cơ hội ẵm lấy giải thưởng kếch xù là tài sản thừa kế của nhà Hamamoto.

Kozaburo cũng tính trước được là sự thể rồi sẽ thành ra thế này. Vì thế ông đã có chuẩn bị. Nói thẳng ra, đây còn là một vố chơi khăm ông đã cất công nghiền ngẫm nhiều năm.

“Kusaka, cháu thật giỏi giang. Nếu tôi lại ra một đề khó hơn nữa thì sao?”

“Cháu nóng lòng chờ nghe đây.”

Giành thắng lợi liên tiếp, Shun đã trở nên bạo dạn hơn. Đúng lúc ấy, Kozaburo đột nhiên nói ra một câu không liên quan, khiến mọi người còn tưởng mình nghe nhầm.

“Eiko, con đã chọn được ai phù hợp để kết hôn chưa?”

Dĩ nhiên Eiko cũng giật bắn mình.

“Ba bảo gì ạ? Ba đúng là, tại sao tự dưng lại kéo chằng sang chuyện này?”

“Nếu con chưa chọn được, lại muốn chọn trong số các anh chàng có mặt ở đây hôm nay, vậy thì kết hôn với người trả lời đúng câu tiếp theo đi, được không?”

“Ba thích nói đùa thật đấy!”

“Ba không nói đùa đâu. Lưu Băng Quán, rồi cả bộ sưu tập đồ cổ ở phòng 3 đều là trò đùa, riêng chuyện hôn nhân của con thì không đời nào. Hai anh đây là những thanh niên tuấn tú tài năng. Con chọn ai đi nữa ba đều không phản đối, mà cũng chẳng có hơi sức đâu phản đối. Nếu con thấy khó quyết định, thì đừng ngại ngần làm gì, cứ để người làm cha này quyết định thay. Ba sẽ chọn hộ con, thông qua cách thức giải đố. Để phục vụ cho ngày hôm nay, ba đã dồn tâm huyết chuẩn bị một đề bài.”

Như thế là hay nhất, Kozaburo nghĩ, chỉ trong chốc lát tình thế sẽ rõ ràng.

“Bây giờ dĩ nhiên không phải là thời phong kiến nữa. Ba không có ý ép gả con cho ai, mà chỉ nói rằng nếu có người đủ thông minh trả lời đúng câu này, thì ba sẽ không bao giờ phản đối nhân duyên của con với người ấy. Còn lại là tùy ý con. Ý của ba là vậy đó.”

Hai thanh niên đều sáng mắt lên, cảm giác như hàng núi giấy bạc đang chất trước mặt. Kozaburo cười khẩy trong bụng. Khi câu đố này được giải ra, vố chơi khăm của ông mới đạt đến hiệu quả cao nhất, nghiệt ngã nhất.

“Chưa tính tới chuyện em Hamamoto vội, cháu đang hứng thú với câu đố đây.” Shun nói.

“Cũng cho Togai một cơ hội cứu vãn danh dự luôn nhỉ! Đời tôi từng trải bao nhiêu sóng gió, thân này bây giờ coi như bấc khô củi mục rồi. Những tính toán tranh đoạt vô vị của nhân gian, tôi đã chán. Những khoe khoang nhạt nhẽo về dòng dõi này khác, mắt mờ chẳng buồn nhìn. Quan trọng vẫn là tâm hồn. Đây tuy là câu cửa miệng của nhiều người, nhưng họ nói mà không thấm thía. Càng có tiền hoặc càng có địa vị, người ta càng vô tình quên mất câu nói cũ kĩ quen thuộc này. Vì thế tôi quyết định, đề bài cuối cùng, không chỉ Togai và Kusaka, mà cả Ueda và Kajiwara cũng có quyền tham gia giải đáp.”

“Cho dù có người trả lời đúng mà không phải là người con thích thì con cũng không cưới đâu.”

“Dĩ nhiên rồi. Ba có chỉ định đi nữa thì con cũng không ngoan ngoãn vâng theo ba kia mà.”

“Nếu là chuyện khác, con có thể nghe lời.”

“Không, đây là di truyền hoặc tập tính gia đình đấy, về khoản nghe lời con còn cứng đầu hơn cả ba kia. Vì thế ba đã chuẩn bị tinh thần rồi.”

“Nếu em trả lời đúng thì cũng có cơ hội cưới cô nhà chứ?” Người hỏi là chủ tịch Kikuoka Eikichi.

“Ừ, chỉ cần con bé đồng ý là được.”

Kozaburo dễ tính đáp, làm Eikichi cười phá lên.

Ngay sau đó, Kozaburo lại nói ra những lời khiến người ta kinh ngạc.

“Được rồi, gọi luôn cả Kajiwara tới đi, tôi dẫn mọi người lên tham quan phòng tháp của tôi.”

“Ba nói sao?” Eiko ngạc nhiên. “Lên đấy làm gì?”

“Câu đố nằm trên đỉnh tháp,” Kozaburo nói và đứng lên. Sau đó, như sực nhớ ra điều gì, ông bổ sung, “Mà lại còn là kiệt tác đầy tâm huyết của ba nữa.”



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 09.06.2019, 01:51
Hình đại diện của thành viên
☆~ Số 15 ca ~☆
☆~ Số 15 ca ~☆
 
Ngày tham gia: 14.10.2015, 23:36
Bài viết: 2964
Được thanks: 2075 lần
Điểm: 7.53
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Trinh thám - Văn học Nhật] Hokkaido Mê Trận Án - Soji Shimada - Điểm: 10
Cảnh 3

Tháp

Trong lúc dẫn khách về phía cầu thang của phòng sinh hoạt chung, Kozaburo nói, “Đề bài này, nói thẳng ra thì cũng chẳng có gì khác thường, mà chính là một khâu chuẩn bị đặc biệt cho ngày hôm nay, được thực hiện ngay trong quá trình xây nhà. Mọi người có để ý thấy bên cạnh ngôi nhà chính, dưới chân ngọn tháp nghiêng nơi đặt phòng riêng của tôi ấy, có một bồn hoa với hình dáng và hoa văn rất kì lạ không? Đề bài của tôi chính là, mời mọi người đoán ý nghĩa của hình dáng và hoa văn đó. Và tại sao bồn hoa lại ở đó? Đơn giản thế thôi.”

Cầu thang càng đi càng hẹp, cuối cùng kết thúc ở một cánh cửa sắt đen khổng lồ như cánh cửa đóng lại tận cùng thế giới. Cánh cửa đen kịt ấy có một bề mặt với các gờ lồi xen khía lõm, khiến người ta liên tưởng đến một tấm bia tưởng niệm đồ sộ và kiên cố, điêu khắc theo phong cách nghệ thuật avant-garde* của các điêu khắc gia.

Mọi người đợi xem Kozaburo làm thế nào, thì thấy ông tra chìa vào một ổ khóa trên tường. Khóa lồi ra thành một cái vòng, bắt đầu có tiếng xích sắt chạy ròng rọc, rền rĩ và ầm ĩ, rồi một cảnh tượng không ai ngờ tới xuất hiện.

Tất cả đều tưởng rằng, cửa sắt dĩ nhiên là mở sang trái hoặc sang phải, hoặc cả hai bên trái phải, cuối cùng hóa ra không phải như vậy, cửa sắt lại từ từ đổ ra phía đối diện.

Mặt tường bên tay phải mọi người ngả xiên vào phía cầu thang, chắc là để khớp với phần dốc của mái nhà ngay bên ngoài, cầu thang cũng nghiêng xuống mé phải, ai nấy phải đứng thành hàng một dọc không gian chật hẹp đó, mặt mũi đều lộ vẻ bất an.

Cửa sắt chầm chậm đổ xuống, trông như mũi kim giây rời khỏi vị trí 12 giờ đúng. Sau đó mọi người lại được một phen giật thót.

Cánh cửa sắt - như họ tưởng ban nãy khi nhìn từ bên trong - hóa ra chỉ là phần nhỏ ở cuối một tấm kim loại vươn cao chót vót. Đầu kia của tấm kim loại chìm trong màn trời xa xôi tăm tối, hệt như xuyên tới tận cao xanh.

Cửa ngả xuống, tách khỏi tường tạo ra một khoảng hở, bắt đầu nghe được tiếng gió đêm rít khe khẽ, những vạt tuyết tới tấp bay vào.

Tiếng ròng rọc chói tai của xích sắt vẫn chưa ngưng. Đến khi cánh cửa sắt ngả rộng hơn, cuối cùng mọi người mới hiểu vì sao xích sắt phải dài như vậy.

Bởi vì đó là một cây ‘cầu’ dẫn thông lên tháp. Các gờ lồi khía lõm trên mặt cầu cũng không phải là điêu khắc kiểu avant-garde, mà mang một ý nghĩa thực tế hơn, là ‘bậc thang’. Từ nhà chính đến đây, mọi người đã trèo khá nhiều cầu thang, vậy mà đỉnh tháp vẫn còn ở trên cao nữa.

‘Cầu’ đã gần như nằm thành phương ngang, không gian mù mịt tuyết bay xuất hiện qua khung cửa trống hình thang mà ban nãy còn bị bịt kín. Ở phía đối diện chính là phần đỉnh tháp lừng lững, gợi cảm giác trang nghiêm như đang ngắm một bức tranh thờ, hoặc đang nghe một bản nhạc nghi lễ.

Bề ngoài của đỉnh tháp hơi giống tháp Pisa, ở giữa là một phòng hình tròn, bao quanh là hành lang hình vành khuyên. Lờ mờ trông thấy tay vịn và vài cây cột tròn. Từ rìa mái của phòng tròn rủ xuống mấy nhũ băng* to tướng, trông như những chiếc răng nanh của mùa đông hung bạo nơi cực Bắc này.

Cảnh tượng khiến người ta liên tưởng đến một vở nhạc kịch sắp mở màn của Richard Wagner. Sân khấu nguy nga hoành tráng làm khán giả choáng váng. Phông nền của tháp nghiêng giống một tấm màn tối thẫm, nhưng ở đằng sau tấm màn ấy có lẽ là biển Okhotsk lổn nhổn băng trôi. Mọi người đều có cảm giác thời gian chảy ngược, lại còn bị đưa đến một vùng đất lạ lẫm cách xa Nhật Bản. Qua khung cửa hở hình thang, họ nín thở ngắm những biểu hiện như địa ngục của mùa đông.

Cuối cùng, như con thuyền cập bến, cầu cũng chạm tháp cùng một tiếng ‘két’ rợn người.

“Được, bắc cầu xong rồi. Hơi nghiêng, mọi người đi cẩn thận.”

Kozaburo quay mình lại dặn dò mọi người sau lưng. Cho dù ông ta không lưu ý, ai nấy cũng đã bám cứng lấy tay vịn cầu từ trước, giờ thì thấp thỏm theo nhau bước ra trời tuyết.

Mặt cầu nghiêng sang phải, khiến người ta có cảm giác một lát nữa mà quá nhiều người giẫm lên, mặt cầu sẽ xoay hẳn xuống dưới, hất tất cả đi. Ngộ nhỡ như thế thật, nếu vẫn bám được tay vịn thì ít ra còn có cơ sống sót, vì thế ai cũng vô thức siết mạnh tay vịn.

Khi nhìn xuống dưới, do độ cao ở vị trí này còn trên cả ba tầng nhà, ai nấy đều có cảm giác hoảng hốt. Họ bám nghiến vào tay vịn, bất chấp chất sắt lạnh thấu xương cốt, lạnh hơn cả băng.

Kozaburo là người đầu tiên lên tới đỉnh tháp, tiện tay cố định cầu vào mé bên tháp. Bao quanh đỉnh tháp là một hành lang vành khuyên rộng hơn 1 mét, do không có mái che nên sàn hành lang đọng đầy những tuyết.

Đầu cầu dẫn thẳng đến cửa sổ phòng Kozaburo, đi hết cầu thì rẽ phải ở đây, men theo hành lang ước chừng 2 mét sẽ tới cửa lớn. Trên cửa sổ không thấy ánh đèn. Kozaburo mở cửa lớn, nhanh nhẹn đi vào phòng, bật đèn rồi lập tức trở ra. Ánh đèn hắt qua cửa sổ chiếu sáng hành lang, tạm thời giải tỏa được nỗi bất an của mọi người về hiểm họa dưới chân. Kozaburo không vào phòng nữa, tiếp tục đi vòng sang phải theo hành lang rộng rãi. Mọi người bước theo sau, thận trọng để ý đến lớp tuyết đọng.

“Câu đố của tôi chính là muốn hỏi hoa văn trang trí cho bồn hoa dưới chân tháp này có ý nghĩa gì. Đơn giản thế thôi, nhưng do bồn hoa quá lớn, nếu đứng ở trong nó không thể nhìn toàn cảnh, chẳng dễ gì mà bao quát được hết đường nét.”

Kozaburo dừng chân, đưa tay phủi nhẹ tuyết bám trên lan can rồi tì người lên đó.

“Vậy nên, phải tới đâu mới thấy được toàn cảnh? Chính là đây.”

Mọi người bước đến gần ông, đứng bên nhau thành một hàng, thận trọng nhìn xuống dưới. Mãi dưới kia, cách họ hơn ba tầng nhà quả thật có một bồn hoa, nhờ hệ thống chiếu sáng của sân sau, nhờ đèn trang trí của cây thông Giáng sinh và cả ánh điện lai láng chảy ra từ phòng sinh hoạt chung nơi tầng trệt, đúng như Kozaburo nói, có thể trông thấy toàn cảnh bồn hoa. Bồn hoa phủ đầy tuyết trắng, giống như kem trải trên chiếc bánh ngọt Giáng sinh. Các đường nét của nó, quả nhiên thể hiện một hình dạng gì đó.(#)

“A, hóa là hình như thế này!” Kusaka Shun buột miệng thốt, tựa mình vào cột tròn bên cạnh hòng tránh gió mạnh và hơi lạnh.

“Ôi, tuyệt vời thật!” Kikuoka Eikichi rống lên.

“Bây giờ bị tuyết vùi lấp hết rồi, không thể thưởng ngoạn màu sắc của hoa lá, nhưng chỗ có trồng cây thì cao gồ lên, nhìn rất rõ. Vì không có những thứ thừa thãi làm nhiễu tầm nhìn.”

“Hình quạt.” Masaki nhận xét.

“Ừ, là hình quạt, nhưng chắc không thể nào chỉ đơn thuần nhằm miêu tả một cái quạt, đúng không?” Shun hỏi.

“Ừm, không phải là cái quạt hay có mục đích miêu tả hình quạt đâu.” Kozaburo xác nhận.

“Bởi vì xây vòng quanh tháp nên mới thành hình như vậy thôi, phải không ạ?”

“Đúng thế.”

“Không có bất cứ một đường thẳng nào.”

“Ừ, Kusaka, quả nhiên cháu đã nắm được trọng điểm, mấu chốt có thể nói là ở đấy.” Nói xong, Kozaburo nhìn sang mọi người, thấy có cả đầu bếp Kajiwara Haruo trong đó, bèn hỏi, “Kajiwara, cháu có cách nào giải được câu đố bồn hoa này không?”

Haruo chẳng buồn ngẫm nghĩ, đáp ngay, “Cháu không giải được. Xin lỗi.”

“Thì thôi. Suy đến cùng đây là cái gì, mang đặc tính gì, ai nghĩ ra được thì cho tôi biết. Có một điều phải nhắc mọi người, do nằm ở ‘vị trí này’ của công trình Lưu Băng Quán nên bồn hoa lạ lùng đó mới có ý nghĩa. Nếu không xây ở đây, nó chẳng chứa đựng một ý nghĩa nào hết. Hãy giải đố với gợi ý thứ nhất là công trình. Gợi ý thứ hai, sở dĩ công trình hơi nghiêng, một phần là để phục vụ cho bồn hoa này. Hi vọng mọi người sẽ suy luận trên cơ sở kết hợp hai dữ kiện.”

“Lưu Băng Quán xây nghiêng là tại cái bồn hoa ư?”

Shun kinh ngạc hỏi lại. Kozaburo im lặng gật gù.

Đường nét kì lạ của bồn hoa và độ nghiêng của ngôi nhà… Những bông tuyết rơi thẳng xuống bồn hoa như bị hút vào đấy, Shun vừa nhìn chúng vừa nghiền ngẫm các khả năng. Nhìn lâu tự nhiên có ảo giác trước mắt mình là một bức tường trắng chạm khắc muôn vàn hình thù kì lạ. Hoa tuyết giống như mưa tên lao thia lia vào bia bắn, dần dần khiến người ta mất ý thức về thăng bằng, tưởng chừng sắp ngã nhào xuống bồn hoa. Có lẽ là tại ngọn tháp này và ngôi nhà chính giống nhau, đều nghiêng về hướng bồn hoa.

Từ từ đã, Shun nghĩ. Cậu mang máng nhận ra một điều. Rất bất an. Chắc là ‘nó’ rồi. Trạng thái nghiêng của tháp gây cảm giác sắp đổ, có lẽ là liên quan đến điều bất an này.

Song le, nếu quả thật như vậy thì e rằng rất khó giải được câu đố. Sự vật mơ hồ trừu tượng ấy có thể giúp phân tích ra thứ gì chứ? Có khi nào lại là một lời giải theo dạng vấn đáp về Thiền không?

Quạt, tượng trưng cho Nhật Bản. Đứng trên tháp trông xuống mà tưởng như mình sắp ngã. Đó là tại tháp nghiêng, tháp tượng trưng cho một chủ thể. Chắc là câu đố dạng này chăng?

Không, không thể nào như vậy được, cậu lập tức tự phủ nhận. Tính cách của Hamamoto Kozaburo hơi giống người phương Tây, so với dạng đáp án mơ hồ và cảm tính cậu vừa nghĩ tới, thì ông ta sẽ thích những điều dứt khoát hơn, tức là sẽ chờ đợi một câu trả lời rõ ràng mạch lạc mà khi xướng lên ai nấy đều hiểu được ngay và phải tấm tắc ngợi khen. Suy ngược lại, câu đố ông đặt ra cũng sẽ có nội dung theo hướng cụ thể, vật lý, Shun xác định thế.

Ở bên cạnh, Masaki còn tỏ ra nhiệt tình với câu đố hơn cả Shun.

“Cháu muốn vẽ lại hoa văn này…” Cậu háo hức.

“Thoải mái, nhưng bây giờ e là không thể nào thực hiện ngay được.” Chủ nhân Lưu Băng Quán đáp.

“Lạnh quá!” Eiko cằn nhằn.

Khách khứa cũng run cầm cập.

“Được rồi, mọi người, ở đây mãi lại cảm lạnh thì gay go to. Togai, tôi cứ để cầu mở nhé, cháu về lấy giấy bút xong quay lên mà vẽ. Tôi rất muốn tiếp đãi các vị trong phòng tôi, nhưng đông quá. Chúng ta vẫn nên xuống phòng sinh hoạt chung thưởng thức cà phê nóng của Kajiwara thì hơn.”

Ai nấy đều đợi cơ hội này nên không mảy may phản đối, bèn đi vòng theo hành lang để ra cầu bậc thang.

Bước từng bước rón rén xuống cầu, đến gần nhà chính, quay về thế giới quen thuộc, mọi người mới lấy lại được cảm giác an tâm.

Tuyết, dĩ nhiên vẫn tiếp tục rơi.


Cảnh 4

Phòng 1

Tuyết đã ngớt. Hình như trăng mới ló ra, hồi tối tham quan đỉnh tháp không thấy trăng sao nào cả, nhưng lúc này lại có ánh trăng nhàn nhạt lọt vào qua rèm cửa mong manh. Không gian tĩnh mịch.

Aikura Kumi lên giường đã mấy tiếng đồng hồ rồi, nhưng không tài nào chợp được mắt. Nguyên nhân lớn nhất khiến cô trằn trọc hiển nhiên là Hamamoto Eiko. Cứ nghĩ đến Eiko, cô lại thấy căng thẳng như võ sĩ giác đấu chuẩn bị lên đài.

Nằm thức lâu đến nỗi cô bắt đầu chuyển hướng chú ý đến sự tịch mịch bất thường bên ngoài. Phòng 1 nơi cô nghỉ thuộc tầng ba, cảnh quan đẹp (nhưng phòng 2 của Eiko trông thẳng ra biển, cảnh quan còn đẹp hơn), cô cảm thấy tầng trệt mới dễ chịu, ít nhất thì cũng được ở gần đủ mọi âm thanh của thiên nhiên.

Đối với những người đã quen cuộc sống thành phố, sự yên tĩnh hoàn toàn có khi khiến họ khó an giấc không kém gì tạp âm ở công trường xây dựng. Bất kể là lúc nào, là mấy giờ nửa đêm, ở Tokyo đều có âm thanh.

Tự dưng Kumi liên tưởng đến giấy thấm dầu. Tuyết đọng phủ kín mặt đất bên ngoài nhà càng nhấn mạnh ấn tượng đó. Chắc chắn tuyết đọng đã ác ý hút đi tất cả âm thanh. Hút cả tiếng gió. Đúng là một đêm khiến người ta bồn chồn.

Bất thình lình, cô nghe thấy một tiếng động quái lạ. Ở rất gần, như thể ngay trên trần nhà. Mà nghe gai cả người, như tiếng móng tay cào lên mặt tường thô. Kumi nằm cứng đơ trên giường, vô thức dỏng tai lên. Song không nghe thấy gì nữa. Tiếng động lạ đã tan biến.

Có thể là gì đây? Kumi vội vàng suy nghĩ. Bây giờ là mấy giờ? Cô mò tìm đồng hồ đeo tay đặt trên chiếc bàn cạnh giường. Đồng hồ nữ khá nhỏ, lại trong đêm tối, không nhìn rõ chữ số, nhưng có lẽ là hơn 1 giờ.

Tiếng động lại vọng tới, nghe giống tiếng cua bò ở đáy hũ sứ. Kumi co mình lại trong bóng tối. Trên trần nhà! Trên trần nhà có gì đó!

Tiếng động lại vọng tới. Lần này rất to, làm Kumi thót cả tim, suýt nữa hét váng lên. Không phải trên trần nhà mà là bên ngoài. Cảm giác giống tiếng càng cua khổng lồ đang bò men theo mặt tường, nhích từng bước tới cửa sổ tầng ba. Kumi buột miệng rên rỉ trước liên tưởng đó.

Tiếng động lại vọng tới. Nghe như hai vật cứng chà xát vào nhau, chà liên tục. Xem chừng càng lúc càng gần. Cứu tôi với, cứu tôi, Kumi lầm bầm khấn nguyện.

Lòng cô ngập tràn khiếp đảm, cổ họng như bị một bàn tay vô hình bóp chặt đến ngạt thở, cô phát hiện ra mình bắt đầu muốn khóc thút thít.

Tôi không muốn! Bất kể mày là cái gì, cũng đừng có lại gần tao. Nếu muốn bò trên tường, thì bò đến đây rồi quay đầu đi, hoặc là đi tìm người khác đi.

Tiếng động lại vọng tới. Lần này cụt ngủn, đanh như kim loại va nhau, gọn như tiếng chuông, nhưng rõ ràng không phải chuông lẫn kim loại. Hiển nhiên là tiếng vật cứng đập vào mặt kính.

Tuy không muốn, Kumi vẫn không kìm được mình đưa mắt về phía cửa sổ, và lập tức hét lên một tiếng chói tai khiến chính bản thân cô cũng phát hoảng. Tiếng hét vang vọng khắp ngôi nhà, dội vào tường. Tay chân Kumi muốn long cả ra. Tiếng hét mau chóng chuyển thành tiếng khóc thút thít, nhưng Kumi vẫn không khỏi kinh ngạc, làm sao mình lại có sức mạnh tạo ra âm thanh inh ỏi đến thế.

Thật không thể tin được! Ở đây rõ ràng là tầng ba. Bên dưới cửa sổ không làm bệ đỡ hay mái che, mặt tường nhẵn lì. Thế mà lại có người ngoi lên áp mặt nhìn trộm vào phòng qua khe rèm.

Khuôn mặt đó! Rõ ràng không phải khuôn mặt bình thường. Đôi mắt điên loạn mở trừng trừng, không hề chớp lấy một cái. Làn da sạm sụa lạ thường. Chóp mũi trắng bệch như bị bỏng lạnh, chót cằm lơ thơ ít râu, đôi má có vết sẹo bỏng, lại có mảng máu bầm rợn người, không rõ bị chém hay bị đốt, khiến người ta không dám nhìn thẳng vào. Trên môi hắn nở nụ cười mất trí, chẳng khác nào một kẻ tâm thần đang mộng du, dưới ánh trăng lạnh lẽo, hắn chằm chằm quan sát bộ dạng khóc mếu của Kumi.

Tóc tai cô dựng đứng hết cả lên. Thời gian dằng dặc tưởng chừng làm tê liệt cả đầu óc, thực tế chỉ kéo dài khoảng hai, ba giây. Đến khi Kumi chớp mắt nhìn lại, khuôn mặt lạ đã biến khỏi khung cửa.

Nhưng cô không còn bình tĩnh được nữa, cứ tiếp tục gào thét. Một lát sau, bỗng có tiếng rú thảm thiết của đàn ông, ở ngoài ngôi nhà mà như từ rất xa vọng về, vì không thể xác định phát ra từ đâu. Cả Lưu Băng Quán như rung chuyển vì tiếng rú ấy. Ngay Kumi cũng bất giác ngừng bặt.

Đợi xung quanh yên tĩnh trở lại, tựa hồ sực nhớ ra, cô tiếp tục gào thét. Rốt cuộc là tại sao, vì lẽ gì, và mình đang làm gì, cô hoàn toàn không phân tích được, cô chỉ cảm thấy cứ tạo ra tiếng động thế này thì có thể cứu bản thân thoát khỏi cơn sợ hãi.

Bên ngoài vang lên tiếng gõ cửa dữ dội.

“Cô Aikura! Cô Aikura! Cô sao thế? Mau mở cửa! Cô không sao chứ?”

Giọng nữ cao vút. Kể cũng lạ, Kumi lập tức ngưng la hét.

Cô từ từ ngồi dậy, chớp chớp mắt, chậm chạp tụt xuống khỏi giường, đi ra mở cửa.

“Có chuyện gì thế?” Eiko đứng đó, mình choàng áo ngủ.

“Có người, có một gã đàn ông đứng ngoài cửa sổ dòm trộm tôi.”

“Dòm trộm? Đây là tầng ba mà.”

“Đúng, tôi biết. Nhưng có người dòm trộm tôi thật đấy.”

Eiko đi vào phòng, dũng cảm bước tới khung cửa vừa được cho biết là có vấn đề, kéo dạt tấm rèm đang buông hờ hững sang hai bên rồi mở cửa.

Để chống rét, cửa sổ Lưu Băng Quán hầu như đều có hai lớp. Tháo chốt mở cửa phải mất công chút ít. Cuối cùng khi đẩy toang được hai cánh, khí lạnh ùa vào phòng, khiến tấm rèm rung loạt soạt.

Eiko nhoài mình ra, ngó nghiêng khắp trên dưới trái phải rồi rụt đầu vào.

“Chẳng có gì cả. Cô tự nhìn xem.”

Kumi trở về giường, bắt đầu run lên từng chặp. Nhưng có vẻ không phải vì lạnh. Eiko vươn tay đóng hai lớp cửa lại.

“Tôi nhìn thấy thật mà!” Kumi bướng bỉnh nói.

“Người ngợm như thế nào? Cô có trông rõ mặt mũi không?”

“Một gã đàn ông. Trông rất kinh tởm. Mặt mũi không bình thường. Ánh mắt rồ dại, da đen nhẻm, trên má hình như có bớt hay vết bỏng. Còn để râu nữa…”

Đúng lúc này, có tiếng động ròng rọc ầm ĩ vọng vào. Kumi hoảng hồn co rúm lại, run bần bật. Nếu người đứng trước mặt cô không phải là Eiko, chắc chắn cô đã khóc òa lên rồi.

“Ba dậy!” Eiko nói.

Bấy giờ Kumi mới nhớ ra, đây là tiếng cầu bậc thang hạ xuống khi Kozaburo rời tháp.

“Chắc không phải cô nằm mơ đấy chứ?” Eiko cười nhạt.

“Không. Tôi nhìn thấy thật mà, không sai đâu.”

“Nhưng đây là tầng ba. Cửa sổ không có bệ, cửa sổ tầng hai thì không có mái che, đất tuyết bên dưới không in dấu chân, cô cũng thấy đấy.”

“Nhưng…”

“Trong nhà tôi không có ai bị bỏng hết. Làm sao mọc ra một người mặt mũi đáng sợ như thế được. Tôi nghĩ chắc cô chiêm bao đấy. Gặp ác mộng. Nhất định là thế. Chắc là do lạ nhà nên ngủ không ngon?”

“Không phải. Ít nhất tôi còn phân biệt được mơ và thực. Đó rõ ràng là hiện thực.”

“Tôi thấy không phải đâu.”

“Tôi còn nghe thấy âm thanh nữa. Chị không nghe thấy à?”

“Âm thanh thế nào?”

“Giống như tiếng mài xát cái gì ấy.”

“Tôi không nghe thấy.”

“Vậy tiếng rú thảm thiết?”

“Có. Tiếng thét chói tai của cô, tôi đã được trải nghiệm rồi.”

“Không phải, là giọng đàn ông cơ. Giống kiểu gầm rú ấy.”

“Như thế nào?”

Nghe hỏi, Eiko ngoái lại, thấy Kozaburo đã đứng ngay chỗ cửa lớn đang mở. Trên mình không bận đồ ngủ mà là jacket, quần dài trong nhà, còn mặc áo len nữa. Nhưng bên trong chắc là áo ngủ.

“Cô ấy bảo gặp phải con dê già.”

“Không phải. Không phải dê già. Có người dòm trộm tôi từ cửa sổ.”

“Cửa sổ? Cái cửa sổ kia ấy hả?” Kozaburo nghe thế cũng giật mình. “Nhưng đây là tầng ba mà.”

“Con cũng nói thế đó ba, nhưng cô ấy cứ khăng khăng là trông thấy thật.”

“Tôi trông thấy thật.”

“Không phải cô nằm mơ chứ?”

“Không phải.”

“Thân hình hẳn chắc phải cao lắm đây, vì đây là tầng ba mà.”

Lúc này lại có tiếng gõ cửa. Kanai Michio xuất hiện sau lưng Kozaburo, dùng nắm đấm đập khẽ lên cánh cửa đang mở.

“Chuyện gì đấy ạ?”

“Cô này gặp ác mộng hay sao ấy.”

“Không phải mộng đâu. Anh Kanai, anh không nghe thấy giọng đàn ông gầm rú ư?”

“Hừm, hình như tôi có nghe thấy gì đó.”

“Ừ, trong lúc nằm mơ tôi cũng có nghe thấy gì đó thì phải…” Kozaburo nói. “Vì thế tôi mới trở dậy.”


Cảnh 5

Phòng sinh hoạt chung

Sáng tinh mơ ở vùng cực Bắc này, tuy bầu trời hưng hửng, nhưng vặn máy sưởi tới nấc cao nhất vẫn lạnh, vẫn cần đến củi lửa cháy bùng bùng trong lò sưởi.

Dù loài người vắt óc nghĩ ra bao nhiêu thiết bị giữ ấm, kết quả vẫn không bằng mấy thứ dụng cụ đơn giản cho phép nhìn tận mắt ánh lửa thế này. Chứng cứ rõ ràng nhất là xung quanh lò sưởi chen chúc những người, khách khứa hễ ra khỏi giường là theo bản năng tìm đến chỗ có lửa, kết quả là ai nấy lục tục tụ tập cả về bên thành gạch đỏ của cái lò sưởi tròn.

Tạm gác gã râu dê quái dị sang một bên, Kumi không tin lại có người ngủ say mê mệt đến mức không hề nghe thấy tiếng đàn ông gầm rú sởn gai ốc và tiếng hét chói lói của cô sau đó, lại càng không tin nghe thấy rồi mà mọi người vẫn tiếp tục ngủ ngon lành cho được. Nhân khi Eiko không có mặt, Kumi bèn kích động kể lại những chuyện khủng khiếp xảy ra với mình đêm qua.

Shun, Yoshihiko và vợ chồng Kanai nghe cô kể, song đều lộ vẻ không tin. Thấy không ai hình dung được sự choáng váng của mình, Kumi đâm nản. Tuy vậy cô cũng hiểu tâm lý của họ, trong ánh sáng ban ngày rỡ ràng, ngay bản thân cô còn cảm thấy nỗi sợ hãi đêm qua hình như không thật. Hatsue thậm chí còn cười giễu. Yoshihiko thì hỏi, “Tiếng đàn ông gầm rú, như chị kể, là của gã nhìn trộm quái dị kia hả?”

“Tôi… tôi nghĩ là đúng.”

Kumi ấp úng đáp, giờ mới phát hiện ra mình chưa hề nghĩ đến mối liên quan giữa hai đối tượng này.

“Nhưng không có dấu chân.” Tiếng Shun vọng lại, mọi người ngoảnh ra nhìn, thấy cậu đã ra đứng tựa vào cửa sổ, nghiêng người ngó xuống sân sau. “Đằng kia chính là khoảnh đất bên dưới cửa sổ của cô, nhưng không hề có dấu chân, tuyết rất mịn màng.”

Nghe Shun nói thế, Kumi cũng bắt đầu cho rằng chuyện đêm qua chỉ là ác mộng. Cô im lặng. Suy cho cùng là sao đây? Bộ mặt kinh khủng không giống người đó…

Masaki ngủ dậy, mang theo hình bồn hoa tự vẽ một mình trên tháp đêm qua, tiến vào phòng sau Hamamoto Kozaburo.

Tiếp đó, “Hôm nay trời đẹp quá!”, Kikuoka Eikichi với giọng ồn ào như đốc công xây dựng cũng xuất hiện ở phòng sinh hoạt chung. Xem ra mọi người đã tề tựu đủ.

Đúng như Eikichi nói, trời rất đẹp, vầng dương bên ngoài chói lọi, khi nó lên cao, mặt đất phủ tuyết như biến thành một tấm gương phản chiếu khổng lồ, sáng lấp lóa, khiến người ta nhìn mà nhức cả mắt.

Chủ tịch Kikuoka Eikichi hình như không hề hay biết việc Kumi bị quấy rối đêm qua. Tại uống thuốc an thần, lão giải thích. Kumi đã đoán trước được phản ứng của lão, nên cũng không kể.

“Được rồi, các vị, đến lúc dùng bữa sáng rồi, mời mọi người vào bàn nào.”

Giọng nói đặc biệt trong trẻo của nữ chủ nhân vang lên.

Ai nấy ngồi xuống, đều rôm rả bàn tán chuyện của Kumi. Chỉ mình Eikichi để ý thấy Ueda Kazuya vắng mặt.

“Tên oắt ở công ty chúng ta chưa dậy hả?” Chủ tịch hỏi.

“Hừ, thật hết cách với gã, muốn ra vẻ xếp sòng thì có lẽ còn sớm mười năm đó.” Quản lý phụ họa.

Bấy giờ Eiko mới nhận ra, nhưng cô không biết nên bảo ai đi gọi Kazuya.

“Để tôi đi cho.” Shun nói.

Cậu mở cửa sổ phòng sinh hoạt chung, nhẹ nhàng nhảy xuống lớp tuyết mịn màng, đi vòng ra phía phòng 10 của Kazuya.

“Này, món ăn nguội ngắt rồi, chúng ta bắt đầu thôi.”

Nghe nữ chủ nhân giục, mọi người lục tục dùng bữa.

Shun đi quá thời gian dự kiến mới chậm chạp trở về.

“Anh ấy dậy chưa?” Eiko hỏi.

“Hừm…” Shun ngập ngừng. “Hình như có điều không ổn.”

Biểu hiện bất thường của Shun khiến mọi người đều buông dao dĩa xuống, ngoảnh ra nhìn cậu.

“Tôi gọi mãi mà chẳng ai trả lời cả.”

“Hay anh ấy ra ngoài rồi?”

“Không, cửa khóa trái mà.”

Eiko xô mạnh ghế, đứng bật dậy. Masaki cũng đứng lên theo, Eikichi và Michio đưa mắt nhìn nhau. Tiếp đó mọi người chạy theo Eiko ra ngoài. Lúc này họ trông thấy, trong màn tuyết nhỏ lất phất, chỉ có dấu chân đi và trở về của Kusaka Shun.

“Không ai trả lời thì đúng là lạ, nhưng kì lạ hơn là…” Shun nói rồi trỏ về hướng Tây của Lưu Băng Quán, tức là hướng phòng 10. Ở đó có một bóng người đen đen nằm sõng soài.

Ai nấy phát run. Nằm sấp trong tuyết lâu như thế thì chắc là mất mạng rồi. Cũng có nghĩa, đây là xác chết. Liệu có phải là Kazuya không?

Mọi người cùng ném ánh mắt nghi ngờ vào Shun. Chuyện lớn như vậy sao không nói sớm? Vì sao cậu ta điềm tĩnh thế?

Tuy nhận ra ngay ánh mắt của họ, nhưng Shun chỉ nói, “Cơ mà…”

Không ai đủ kiên nhẫn đợi xem anh chàng trẻ tuổi này muốn nói gì, thấy cậu ngập ngừng, họ vội vã chạy luôn đến chỗ cái xác.

Càng đến gần, càng thấy không khí ngột ngạt dị thường. Xung quanh cái xác đang nằm này vương vãi đủ thứ kì lạ, vừa như vật dụng tùy thân, lại vừa như không phải.

Mà không, nói nghiêm túc thì ‘vật dụng tùy thân’ cũng là cách miêu tả chính xác. Mấy người như Hayakawa Kohei hay Aikura Kumi đột nhiên còn có linh tính chẳng lành, bất giác cùng dừng bước.

Đến tận nơi rồi, không ai tin nổi vào cảnh tượng trước mắt, tất cả đều thầm hét lên trong đầu. Đây là cái gì chứ? Hoang đường quá đỗi! Nhưng nói chung họ đã hiểu được tâm trạng của Shun.

Hamamoto Kozaburo rú lên và khuỵu xuống, vươn tay về cái thứ trông như hình người đang nằm trên tuyết ấy. Thì ra đó là hình nộm cao bằng người thật thuộc bộ sưu tập của ông.

Ông kinh ngạc không chỉ vì món đồ đáng lẽ ở yên lành trong phòng 3 - phòng đồ cổ nay lại lăn lóc ngoài sân, mà còn vì tay chân nó văng tung tóe. Chỉ có một chân vẫn dính liền với thân, hai tay và chân còn lại đều nằm vung vãi xung quanh. Tại sao chứ?

Shun, Masaki, Eikichi, Michio, thậm chí cả những người giúp việc đều không phải lần đầu nhìn thấy hình nộm này, cho dù nó mất đầu họ cũng biết đây là hình nộm mà Kozaburo mua ở Tiệp Khắc về, vốn dĩ được đặt tên là Jack, nhưng từ thời ở châu Âu nó đã có biệt hiệu là Golem.

Ngoài chân tay, Golem có một phần thân làm bằng gỗ nổi rõ cả vân. Bây giờ mỗi phần một nơi, vùi lấp trong tuyết, Kozaburo lom khom nhặt nhạnh, cẩn thận phủi tuyết đi.

Shun thầm nghĩ nên bảo quản y nguyên hiện trường thì tốt hơn, nhưng cậu không nói ra miệng. Chí ít thì cho đến lúc này, các chi tiết chưa đủ để cấu thành cái gọi là tội ác.

“Không thấy đầu đâu!” Kozaburo hét lên tuyệt vọng.

Mọi người vội vàng chia nhau đi tìm, nhưng nhìn quanh quất chẳng thấy thứ gì na ná như đầu cả.

Tay chân và thân thể hình nộm được chủ nhân nhặt lên, để lại trên tuyết những vệt lõm theo đúng hình dáng. Điều này cho thấy nó đã bị vùi ở đây từ khi tuyết còn rơi rất dày.

Kozaburo nói, “Đợi tôi đưa nó vào phòng sinh hoạt chung đã.”

Nói đoạn quay mình đi lên nhà, ôm theo món đồ sưu tập quý giá. Mọi người không đợi Kozaburo trở ra, tự đi trước lên cầu thang bằng bê tông dẫn đến phòng 10 và phòng 11 ở tầng hai. Ở đó cũng có dấu chân đi và về của Shun.

Đến cửa phòng 10, chủ tịch Kikuoka Eikichi gõ thật lực.

“Ueda! Này, tôi đây! Ueda!”

Lão hét ông ổng. Bên trong không mảy may động tĩnh.

Mọi người nhìn cửa sổ. Kính cửa sổ là loại kính mờ, bên trong gắn lưới kim loại, không thể nhìn rõ tình hình trong phòng thế nào, bên ngoài lại lắp khung sắt kiên cố, luồn tay qua khung sờ soạng cửa kính thì thấy cửa sổ chốt trong. Hình như còn kéo cả rèm che.

“Phá cửa vào đi vậy.”

Nghe tiếng ngoái lại nhìn, thì thấy Kozaburo đã đứng sau lưng.

“Đây là cánh cửa mở ra ngoài phải không?” Eikichi hét.

Lúc này mọi người bắt đầu tin chắc ở trong kia đã xảy ra chuyện gì kinh khủng rồi.

“Đúng, nhưng không kiên cố lắm đâu. Chú thử xô xem sao.”

Eikichi huých thân hình đồ sộ của mình vài lần, nhưng cánh cửa không hề nhúc nhích.

“Kanai, chú thử xem sao?” Kikuoka châm chọc.

“Em thử sao được. Em nhẹ hều mà.”

Michio sợ sệt thụt lui. Nghĩ cho kĩ, người thích hợp với nhiệm vụ này nhất chính là người ở bên kia cánh cửa.

“Ai trong các anh thử xem.” Eiko kiên quyết nói.

Masaki muốn thể hiện trước mặt nữ hoàng, bèn quả cảm lấy thân mình xô cửa, kết quả thứ bị bật ra chính là kính của cậu ta.

Shun không được, đầu bếp Haruo cũng không, điều lạ lùng là, họ lại không hề nghĩ đến việc hợp sức. Mãi cho đến khi Hatsue và Eiko cùng dùng thân mình xô cửa, ‘bình’ một tiếng, cuối cùng kì tích đã xảy ra. Nửa trên cửa hơi nghiêng vào trong, xô lần nữa, cuối cùng cửa cũng bật tung.

Hatsue tiến vào trước nhất, mọi người tuy đã tưởng tượng đủ chuyện, nhưng cảnh tượng trước mặt vẫn làm họ kinh hãi.

Ueda Kazuya nằm ngửa, nơi tim nhô lên chuôi một con dao leo núi, quanh chỗ dao cắm, máu thấm ra áo ngủ đã tím đen và bắt đầu khô.

Kumi rú lên lao vào lòng Eikichi. Eiko và Hatsue vẫn im lặng. Trong đám đàn ông chỉ có Kozaburo khẽ thốt lên kinh ngạc, có lẽ là vì tư thế của Kazuya quá đỗi quái dị.

Anh ta không nằm trên giường mà nằm ngửa trên thảm trải bên chân giường, cổ tay phải thắt một sợi dây trắng, bị kéo giằng ngược lên vì đầu kia sợi dây buộc vào cái giường kim loại. Vị trí chiếc giường vẫn như mọi hôm, xem ra chưa hề suy suyển.

Tay trái anh ta tuy không bị trói, nhưng cũng vươn về phía đầu, nói cách khác, một tay chằng dây, một tay để tự do, nhưng hai tay đều giơ lên cao như tư thế tung hô vạn tuế.

Kì lạ hơn nữa là chân của anh ta. Giống như vặn mình để nhảy múa, hai chân gần như bẻ sang phải (phải của anh ta). Nếu muốn mô tả chính xác hơn một chút, thì chân trái tạo với thân hình một góc 90 độ, chân phải hơi chếch xuống một chút so với chân trái, tạo với thân thể một góc khoảng 100 đến 120 độ.

Trên nền nhà gần bên sườn trái Kazuya có một vòng tròn màu đỏ thẫm đường kính khoảng 5 phân, rõ ràng là vẽ bằng tay. Các ngón bên tay trái, trừ ngón cái, thì bê bết những máu và đất. Suy ra Kazuya đã dùng bàn tay trái không bị buộc để nhúng máu vẽ vòng tròn. Và vẽ xong còn thu sức tàn cố duỗi tay trái lên cạnh đầu. Điều này có ý nghĩa gì?(#)

Điều lạ lùng chưa dừng ở đó. Trên thi thể còn có một dấu hiệu khiến người ta thấy thắc mắc hơn. Ở cuối chuôi con dao leo núi cắm trên ngực Kazuya, không biết vì lý do gì, có buộc sợi dây trắng dài độ 1 mét, trông rất nổi, làm ai nấy đều chú ý. Sợi dây rũ xuống chừng 10 phân thì chạm tới áo ngủ, thấm máu nên đổi thành màu nâu nhạt. Nạn nhân không có vẻ đau đớn mấy, máu chảy ra cũng không nhiều.

Tuy rằng không cần kiểm tra thêm nữa, viên bác sĩ tương lai Kusaka Shun vẫn ngồi xổm xuống bên xác chết, chạm nhẹ vào vài chỗ rồi nói, phải báo cảnh sát.

Hayakawa Kohei bèn lái xe đi độ một cây số, đến một tiệm tạp hóa trong cái làng nào đó dưới chân núi để gọi điện.

Không lâu sau, các cảnh sát mặc đồng phục rầm rộ kéo tới Lưu Băng Quán, bắt đầu các công đoạn ồn ào nhộn nhạo, hết chăng dây quanh phòng 10 lại vạch phấn xuống nền nhà…

Không biết là trục trặc ở khâu truyền tin nào mà có cả một chiếc xe cứu thương bánh ràng xích sắt ò e chạy lên, dù xác Ueda Kazuya đã lạnh cứng từ lâu. Thế là, giữa những viên cảnh sát mặc đồng phục đen lẫn vào bóng áo trắng lăng xăng của các nhân viên y tế, Lưu Băng Quán xưa nay cách biệt với đời chẳng mấy chốc đã chìm trong bầu không khí rối ren phàm tục.

Khách khứa, người giúp việc và chủ nhà đều đợi ở phòng sinh hoạt chung, bồn chồn lắng nghe những âm thanh hỗn tạp ấy.

Mới sáng ngày ra. Đa số khách khứa mới ở tới ngày thứ hai. Tính chi li thì nhóm đến muộn như Eikichi hay vợ chồng Kanai thậm chí ở Lưu Băng Quán chưa đầy mười hai tiếng. Tình hình sau đây thế nào, bọn họ đại khái đều đã hình dung ra. Bữa tối thịnh soạn cho vào bụng tối qua kiểu gì cũng tiêu tan bằng sạch trong quá trình ‘hợp tác’ với cảnh sát. Nếu thuận lợi thì sẽ mau chóng được thả về nhà, còn trục trặc, chắc sẽ bị giam chân ở đây dài dài.

Trong số cảnh sát có một người thoáng trông khá là hình sự, vóc dạc to cao, cằm bành bạnh, má đỏ hồng hào, giọng điệu ngạo mạn, tự giới thiệu là Okuma của Phòng Cảnh sát thành phố Wakkanai. Tiếp đó đặt câu hỏi với mọi người đang ngồi quanh bàn ở phòng sinh hoạt chung, nhưng dường như chỉ hỏi lấy lệ, không có nội dung trọng điểm gì.

Đến lúc gần hỏi xong, Okuma bỗng nói.

“Hình nộm ấy đâu?”

Ngoài cái đầu ra thì Golem đã được Kozaburo lắp lại đầy đủ, vẫn đặt ở phòng sinh hoạt chung.

“Ồ, đây hả? Bình thường thì nó được để ở đâu?”

Do gã ta đã nói như vậy, Kozaburo bèn ẵm Golem, dẫn viên cảnh sát lên phòng 3, phòng đồ cổ.

Tham quan xong, Okuma quay lại phòng sinh hoạt chung với bộ dạng khá kinh ngạc, thổ lộ một loạt cảm tưởng đơn thuần của dân ngoại đạo đối với bộ sưu tập, tiếp đó có vẻ nghĩ ra điều gì, gã đăm chiêu mất một lúc, rõ là dáng vẻ chuyên gia tội phạm học đang cần tập trung. Cuối cùng gã khum tay vào miệng, hỏi Kozaburo bằng giọng gần như thì thầm, “Nói như vậy, thì đây là một vụ án mạng trong phòng kín đấy nhỉ?”

Tưởng sao, điều này thì mọi người ở Lưu Băng Quán đã biết ngay từ đầu rồi.

Do các biểu hiện không mấy chuyên nghiệp của phó thanh tra Okuma, đến tận 4 giờ chiều, khi một cảnh sát hình sự đứng tuổi là Ushikoshi Saburo và một cảnh sát hình sự trẻ tuổi là Ozaki xuất hiện ở Lưu Băng Quán theo sự điều động của Sở Cảnh sát thành phố Sapporo, mọi người mới cảm thấy tình hình bắt đầu có vẻ giông giống cuộc điều tra một vụ mưu sát.

Ba viên cảnh sát hình sự ngồi cạnh nhau ở một phía bàn ăn, dùng vài câu vắn tắt giới thiệu với mọi người ở phía bên kia. Giới thiệu xong, người đàn ông tự xưng là Ushikoshi nói với các đồng nghiệp bằng giọng ôn tồn:

“Đây đúng là một ngôi nhà kì lạ.”

Bên cạnh một Ozaki trẻ tuổi sắc sảo, trông Ushikoshi có vẻ bình thường hơn, không khác biệt nhiều lắm so với Okuma.

“Nếu không quen thì chắc là sẽ trượt ngã trên sàn này mất.” Ushikoshi nhận xét, Ozaki trẻ tuổi vẫn giữ im lặng, nhìn lướt một lượt quanh phòng bằng ánh mắt khinh khỉnh.

“Được rồi, thưa các vị.” Ushikoshi Saburo ngồi xuống ghế sau màn chào hỏi, “Chúng tôi đã tự giới thiệu xong. Như hậu quả của một thứ bệnh nghề nghiệp, chúng tôi là những con người nhạt nhẽo nhất trên đời này. Ngoài tên ra chẳng còn gì hay ho để giới thiệu với mọi người cả. Vì thế, bây giờ đến lượt các vị cũng cho biết về mình đi. Tối thiểu hãy nói rõ bình thường sống ở đâu, làm nghề gì, vì sao lại đến đây vân vân. Còn về những chi tiết cụ thể hơn, ví dụ có quan hệ thế nào với anh Ueda quá cố, thì lát nữa chúng tôi xin được trò chuyện riêng sau.”

Tuy Ushikoshi là một con người đúng như ông ta tự miêu tả, mình vận bộ cảnh phục nhạt nhẽo, giọng điệu đều đều đúng mực, nhưng ánh mắt kiểu trời sập cũng không biến sắc kia đã ít nhiều gây tác dụng uy hiếp, khiến ai nấy căng thẳng líu cả lưỡi lại.

Khách khứa lần lượt giới thiệu về mình. Thi thoảng Ushikoshi ngắt lời, thận trọng đặt thêm vài câu hỏi, nhưng không ghi chép gì cả. Khi mọi người luân phiên giới thiệu xong, ông bắt đầu một bài diễn thuyết bằng chất giọng thật-ra-bây-giờ-mới-đến-chuyện-chính-này, cuối mỗi câu đều nhấn âm rất mạnh.

“Vâng, có lẽ tôi buộc phải nói thẳng với các vị những chuyện đúng ra cũng khá khó nói. Người bị hại, Ueda Kazuya, như các vị đều biết, không phải là người ở đây. Anh ta đến Lưu Băng Quán, à không, đến Hokkaido, cộng cả lần này nữa, theo tìm hiểu thì mới là lần thứ hai. Liệu trong vùng có người quen nào của Ueda, cất công đến thăm anh ta không, chúng tôi cho rằng không. Vậy thì là kẻ cướp chăng? Điều này cũng không thể. Anh ta mang theo mình 246.000 yên, để trong túi áo khoác, muốn tìm là tìm thấy ngay, nhưng tiền vẫn y nguyên. Phòng anh ta ở là phòng khóa từ bên trong, nếu có người lạ đến gõ cửa, chắc không thể nào tùy tiện mở ra được. Cho dù mở cửa, người ta vào phòng rồi, chẳng may xảy ra mâu thuẫn, kiểu gì cũng sẽ lớn tiếng cãi cọ xô xát. Nhưng trong phòng tuyệt nhiên không có dấu vết ẩu đả. Ueda từng công tác trong Lực lượng Phòng vệ* Nhật Bản, thể lực tốt hơn người bình thường, chẳng dễ gì bị đánh ngã, điều này cũng thật khó hiểu.

“Như thế, phạm vi hung thủ khoanh lại ở người quen, à không, người gần gũi. Nhưng tôi cũng vừa nói, không cư dân nào trong vùng quen biết Ueda Kazuya cả. Theo lời kể vừa rồi của các vị, và bản thân chúng tôi cũng đã điều tra, thì Ueda Kazuya sinh ra ở Okayama, lớn lên ở Osaka, 25 tuổi tình nguyện gia nhập Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản, từng sống và làm việc ở Tokyo và Gotemba. Ba năm sau anh ta xin rút. 29 tuổi vào làm ở Trục quay Kikuoka cho đến bây giờ, chết vào lúc 30 tuổi. Hồi ở Lực lượng Phòng vệ anh ta hạn chế giao tiếp, không có bạn bè, như thế thì kiếm đâu ra người quen ở tận Hokkaido, mà cũng đừng hi vọng có thân bằng cố hữu nào ở Kanto hay Kansai kín đáo cất công đến tận đây gặp anh ta. Như vậy, người thân thiết với Ueda Kazuya… ngoài ‘các vị đang có mặt ở đây’ ra, thì không còn ai nữa.”

Mọi người ngồi quanh bàn đưa mắt nhìn nhau với vẻ mặt đớn đau sâu sắc.

“Vụ án mạng của Ueda, nếu xảy ra ở những thành phố lớn như Sapporo hay Tokyo thì không có gì đáng để nói cả. Nhưng ở nơi hoang vu thế này, người ngoài hễ xuất hiện là bị dân trong vùng trông thấy ngay. Thôn làng bên dưới chỉ có một quán trọ, lại đang mùa băng tuyết nên vắng vẻ lắm, đêm qua không có bất cứ người khách nào đến nghỉ ở quán trọ đồng quê đó cả.

“À, nói đến đây mới nhớ, có một điều quan trọng hơn. Chính xác là có một vấn đề quan trọng hơn. Đó chính là ‘dấu chân’. Theo lý thì cảnh sát chúng tôi sẽ không dễ dàng cho người dân biết dạng thông tin này, nhưng bây giờ tôi xin nói thật. Nói thật điều gì, chính là thời gian tử vong của Ueda Kazuya, được phán đoán là từ 0 giờ đến 0 giờ rưỡi đêm qua. Tức là trong ba mươi phút đó, hung thủ đâm dao vào tim Ueda, và trong ba mươi phút đó, dĩ nhiên hung thủ đang ở phòng Ueda.

“Nhưng kể ra cũng thật đau đầu, đêm qua tuyết rơi ồ ạt đến 11 giờ rưỡi thì ngưng, vào thời gian tử vong phỏng đoán này, tuyết đã ngừng rơi rồi. Không hiểu tại sao trên nền tuyết không in dấu chân hung thủ. Dấu đi vào không thấy đã đành, mà dấu đi ra cũng không. Các vị cũng biết, phòng 10 có mỗi một cửa lớn trổ ra sân, muốn vào được phòng 10 phải ra khỏi nhà rồi đi vòng ra đằng sau. Bấy giờ hung thủ ở trong phòng 10 thật chăng? Nếu thế, chí ít cũng phải có dấu chân trên sân, nếu không thì chẳng hóa Ueda tự đâm dao vào ngực mình à? Vấn đề là, không thể có cách tự sát như vậy. Mà không tự sát, thì dấu chân hung thủ đâu, đúng là đau đầu.

“Tôi xin nói rõ một điều, các vị đừng cho rằng chúng tôi đang khổ sở nghĩ cách lý giải vấn đề dấu chân hay là phương pháp giết người phòng kín. Dấu chân có thể quét đi, bằng chổi hoặc bằng nhiều dụng cụ khác, phòng kín cũng vậy thôi, các nhà văn trinh thám đã nghĩ ra đủ mọi khả năng giúp chúng ta từ lâu rồi.

“Nhưng, cứ giả định là có người ngoài xâm nhập thật, thì người đó phải tẩy xóa dấu chân mình suốt dọc đường cho đến tận ngôi làng dưới chân núi, một chuyện không dễ dàng chút nào. Chưa kể chỉ cần điều tra kĩ càng thì tiểu xảo dù nhỏ nhặt đến đâu chăng nữa cũng phải để lại vết tích trên tuyết. Nhưng ban nãy các chuyên gia của chúng tôi đã điều tra cặn kẽ và cho biết không hề có vết tích nào thuộc dạng ấy cả. Tuyết ngừng vào lúc 11 giờ rưỡi đêm, và không hề rơi lại. Từ phòng 10 đến ngôi làng dưới chân núi hoặc đến bất cứ hướng nào đi nữa cũng không có dấu hiệu gì chứng tỏ ai đó tìm cách xóa dấu chân. Các vị đã hiểu ý tôi chưa? Tình hình là như thế đấy, nên tôi cũng cảm thấy rất khó khăn khi nói thế này. Tóm lại, suy đoán hiện giờ như sau: hung thủ đã qua lại phòng 10 bằng một trong ba lối là phòng sinh hoạt chung, tiền sảnh, và cửa sau bếp của nhà chính.”

Ai nấy đều cảm thấy rát mặt. Câu nói của viên cảnh sát chẳng khác nào một lời tuyên chiến với bọn họ.

“Nhưng…” Shun lên tiếng thay mọi người. “Vừa rồi ông nói ba lối. Vậy mặt đường trên ba lối ấy có dấu vết gì chứng tỏ có người đã giở trò tẩy xóa dấu chân nọ kia không?”

Quả thật là câu hỏi hay, tất cả đều lắng tai nghe.

“À, từ phòng sinh hoạt chung đến phòng 10 dấu chân rất lộn xộn, vì thế không thể xác nhận đầy đủ. Hai lối còn lại, và mặt sân dưới tất cả các cửa sổ của tầng trệt đều sạch sẽ tinh tươm. Tổng hợp vài đặc trưng, có thể xác định, tình trạng tuyết trên đất vẫn nguyên vẹn kể từ khi nó nhẹ nhàng đáp xuống.”

“Thế thì đâu đã đủ chứng cứ củng cố việc người trong nhà là hung thủ? Chẳng phải đang rất giống lý lẽ ông vừa dùng để bác bỏ việc có người bên ngoài thâm nhập hay sao?” Shun phản biện vô cùng chặt chẽ.

“Bởi vậy, chúng tôi không chỉ căn cứ trên mỗi điểm này, mà còn xem xét cả các điều kiện vừa trình bày nữa.”

“Trong nhà chính cũng không có dụng cụ gì kiểu chổi quét đâu.”

“Vâng, cậu nói có lý.” Ushikoshi thừa nhận. “Lúc trước tôi cũng đã hỏi anh Hayakawa rồi.”

“Vậy tại sao lại không có dấu chân?”

“Nếu hôm qua gió to thì không cần phải bàn cãi, vì tuyết rất tơi và mịn. Nhưng hôm qua lặng gió…”

“Lúc 0 giờ đêm còn chẳng nghe thấy cả tiếng gió cơ.”

“Ngoài ra chắc là vẫn có rất nhiều điểm nghi vấn khác.”

“Đúng, ví như sợi dây buộc trên con dao, rồi tư thế nhảy múa kì quái của cái xác.”

“Chết trong bộ dạng như thế, chúng tôi cho rằng cũng chẳng phải chuyện gì quái lạ. Bị dao đâm dĩ nhiên là đau, chắc chắn Ueda Kazuya cũng rất đau đớn. Trong các vụ án tôi từng biết, có những người còn chết với tư thế kì quái hơn kia. Chuyện sợi dây cũng vậy, ví dụ mùa hè, quần áo mỏng quá không mổ túi, cần nhét đồ không có chỗ, người ta sẽ dùng sợi dây buộc luôn nó vào người.”

Mọi người đều lập tức nghĩ rằng: Nhưng bây giờ đang là mùa đông…

Shun tiếp tục hỏi, “Thế còn sợi thừng buộc cổ tay phải vào giường thì…”

“Hừm, chi tiết đó quả là một phần rất đặc trưng của vụ án này.”

“Đã có tiền lệ chưa?”

“Thôi được rồi, các vị…” Okuma xen ngang, xem chừng thấy rách việc vì Ushikoshi lại mất công đi tranh cãi với dân thường. “Xác minh nghi vấn là công việc của chúng tôi. Mong các vị hãy tin tưởng điều này, chỉ cần lo hợp tác cho tốt với chúng tôi trong khả năng của mình là được rồi.”

Khả năng của mình? Khả năng quy cho mình là kẻ đáng ngờ ấy hả? Shun nghĩ thầm. Nhưng dĩ nhiên chỉ gật đầu.

“Đây là sơ đồ.” Ushikoshi nói và trải một trang giấy ra. “Khi mọi người phát hiện được xác chết, thì tình trạng là thế này phải không?”

Chủ nhà, khách khứa và những người giúp việc đều đứng dậy, chụm đầu nhìn vào.(#)

“Ở đây có một vòng tròn vẽ bằng máu nữa.” Masaki nói.

“À, vòng tròn máu.” Ushikoshi buột miệng, giọng lơ đãng, hiển nhiên coi nó như trò lừa trẻ con.

“Đại khái đúng là thế này đó.” Eikichi khàn khàn đáp.

“Bình thường cái ghế đặt ở đây à, ông Hamamoto?”

“Đúng. Vì không với được đến các tầng trên của cái giá, nên mới kê ghế để đứng cho cao hơn.”

“Thì ra là thế. Còn về cửa sổ, phía này, tức là mé Tây, có lắp khung sắt, nhưng mé Nam lại không có khung mà là kính trong suốt. Đồng thời, khác với các phòng khác, nó chỉ có một lớp chắn.”

“Đúng. Đó là vì cửa sổ mé Nam là ở tầng hai, cho dù không lắp khung sắt, kẻ trộm cũng không thể vào được. Còn cửa sổ mé Tây chỉ cần tháo ra là dễ dàng đột nhập, vì thế phòng 10 mới không để đồ vật nào quý giá cả.”

“Quả tạ đẩy dưới đất, bình thường cũng đặt đúng ở đây ư?”

“À, tôi không để ý lắm.”

“Thế bình thường đều đặt trên cái giá ở đằng này à?”

“Không, cũng tùy lúc.”

“Hai quả tạ đẩy đều chằng dây thừng xung quanh, mỗi cái treo một thẻ gỗ phải không?”

“Đúng, tạ đẩy có hai loại 4 cân và 7 cân, lúc mua đã treo sẵn thẻ gỗ ghi rõ trọng lượng. Mua rồi nhưng đã dùng đến đâu. Đĩa ném cũng thế, toàn đặt ở đó thôi.”

“Có vẻ thế thật, nhưng sợi thừng buộc thẻ gỗ 7 cân hình như bị dài quá.”

“Thế ư? Bị tuột ra à? Tôi cũng không để ý lắm.”

“Không, như chúng tôi phán đoán thì chắc là cố ý tháo cho dài ra. Từ tạ đẩy đến thẻ gỗ chiều dài dây tổng cộng là 148 phân.”

“Ừ, đó là do hung thủ làm ư?”

“Chắc thế. Còn nữa, cái thẻ gỗ viết 7 cân này, dài 5 phân rộng 3 phân, dày khoảng 1 phân. Trên đó ở chỗ hơi gồ có dán mẩu băng dính dài 3 phân. Trông qua miếng băng còn khá mới.”

“Hở?”

“Ông có ấn tượng gì không?”

“Không, tôi không biết.”

“Dấu hiệu này có liên quan đến bẫy rập chăng? Hung thủ dán cái đó lên có tác dụng gì?” Shun hỏi.

“Cũng khó nói. Ngoài ra, ở đây có lỗ thông hơi mỗi chiều khoảng 20 phân. Nó trổ ra phía cầu thang phải không?”

“Phải. Nhưng đứng ở hành lang trong nhà thì không thể nào nhìn trộm vào phòng 10 qua cái lỗ này được. Chỉ cần đứng trước phòng 12 là biết, lỗ thông hơi của phòng 10 nằm rất cao trên tường. Nếu là phòng khác, ví dụ ngay phòng 12, chỉ cần dùng cái gì kê lên thì có thể nhìn trộm qua lỗ thông hơi phòng này, nhưng phòng 10 thì…” (#)

“Đúng, điều này tôi biết. Vừa nãy chúng tôi đã kiểm tra rồi.”

“Kiểu gì thì kiểu, đây cũng không phải là phòng kín hoàn toàn. Đã không có dấu chân thì chỉ còn cách giở trò với cái lỗ thông hơi thôi.” Masaki nói.

“Một là, cái lỗ rộng dài có 20 phân, thò đầu qua không vừa. Hai là, buộc dây cổ tay người bị hại, lại còn thay đổi quả tạ đẩy. Xét hai điểm này, nếu không vào phòng thì không thể thực hiện được.” Shun nói.

“Thế dấu chân đi đâu rồi?”

“Tôi cũng không hiểu nổi, nhưng muốn làm ra vẻ đây là vụ án phòng kín thì cũng rất đơn giản.”

“Hở?” Ushikoshi Saburo phật ý ra mặt. “Nói tôi nghe xem nào.”

“Tôi xin phép giải thích nhé?” Shun nói. “Thực hiện rất đơn giản. Bình thường phòng 10 dùng làm phòng để đồ tập thể dục, khóa ngoài. Khi có người đến nghỉ, muốn khóa trong cho kín đáo thì cũng chỉ có cách hạ cái chốt thép xuống chân đỡ như thế này thôi. (#). Sau khi xây xong nhà, căn phòng mới được cải tạo để thêm chức năng nghỉ qua đêm, nên có mỗi một loại khóa đơn giản như vậy. Hung thủ sẽ nâng cái chốt lên, như người ta vẫn nâng thanh barrier chỗ đường ray lên sau khi tàu hỏa đã chạy qua ấy, nhồi tuyết vào cho nó kẹt ở đấy rồi bỏ đi. Được một lúc, nhiệt độ phòng sẽ làm tuyết tan, cái chốt tự động rơi trở lại chân đỡ.”

Thì ra là thế! Mấy người ở Trục quay Kikuoka cùng thốt lên khâm phục.

Nhưng Ushikoshi lại nói, “Chúng tôi cũng đã nghĩ như cậu. Vấn đề là, đế chốt và đế chân đỡ đều làm bằng gỗ. Nếu dính tuyết thì đế gỗ phải thấm ướt, nhưng chúng tôi đã kiểm tra kĩ, gỗ khô cong. Hơn nữa, cái chốt cũng không lỏng đến mức dễ rơi như vậy. E rằng hung thủ không áp dụng cách đó đâu.”

“À? Không phải dùng cách đó ư?”

“Xem ra không phải.”

Mọi người đều tỏ ra tư lự.

Ushikoshi tiếp tục, “Tôi cảm thấy không cần đi sâu vào thủ pháp giết người phòng kín ở đây. Tôi cho rằng trên thực tế không có gì đáng kể cho lắm. Vì thật lòng, có một chuyện còn đau đầu hơn kia.”

“Chuyện gì?”

“Hừm… chuyện là thế này. Chắc chắn phải từ tốn nghiền ngẫm, cũng cần sự hỗ trợ của các vị nữa, bây giờ cho dù có coi tất cả là nghi phạm rồi lôi ra thẩm vấn cũng chẳng mấy tác dụng, vì thế tôi bèn dứt khoát nói thẳng. Theo phán đoán của chúng tôi, hung thủ không nằm trong số các vị.”

Mọi người bật cười khẽ.

“Điều này kể ra mâu thuẫn với điều tôi nói ban nãy, nhưng hung thủ có lẽ không nằm trong số các vị thật, vì thế chúng tôi đang đau đầu buốt óc đây. Mấu chốt là ở động cơ, trong số các vị không nhiều người quen biết Ueda Kazuya. Không tính các thành viên của Trục quay Kikuoka thì ông Hamamoto, cô Hamamoto, cậu Hamamoto, vợ chồng anh Hayakawa, cậu Kajiwara cùng các cậu Togai, Kusaka, đều chỉ đến mùa hè năm nay mới gặp Ueda lần đầu, tổng cộng là hai lần, đúng không? Mà gặp trong thời gian rất ngắn, con người Ueda thì gần như trầm lặng kiệm lời, chắc không thể quen biết ai đến mức có người nảy ra ý định sát hại anh ta.”

Lại một tràng cười khan.

“Mà giết người thì phiền phức to rồi. Giết người là phải đền tội, phải ngồi tù. Tôi nghĩ chẳng ai đang có địa vị danh tiếng nhất định hoặc chí ít đang sống cuộc đời yên ổn lại có can đảm đi làm chuyện đó. Chủ tịch Kikuoka, cô Aikura hay vợ chồng anh Kanai chắc cũng thấy thế thôi. Nói thế này hơi quá đáng, nhưng một lái xe tầm thường như Ueda Kazuya, giết đi chỉ mất công chứ có ý nghĩa gì đâu. vì thế tôi mới cảm thấy rất khó nghĩ.”

Thì ra là thế, nói cũng đúng. Shun, Masaki và Eiko đều nghĩ như vậy. Ueda Kazuya là một người đàn ông không mấy nổi bật. Nếu anh ta khôi ngô hơn, đủ để khuấy động lên một hai vụ tranh chấp vì tình thì sự việc dễ giải quyết hơn rồi, đáng tiếc nói một câu thất lễ, anh ta chỉ là một kẻ tép riu, không cần phải giết làm gì. Anh ta không có cả tiền lẫn địa vị, thậm chí cũng không có đủ tính cách sôi động hung hăng để người ta muốn gây thù kết oán.

Ushikoshi Saburo quan sát nét mặt mọi người, đột nhiên nghĩ, rõ ràng là thế rồi. Có lẽ hung thủ muốn giết một kẻ khác, kết quả là giết nhầm, khiến Ueda Kazuya biến thành kẻ thế mạng.

Nhưng Kazuya lại được xếp ở phòng 10 ngay từ đầu, những người nghỉ lại Lưu Băng Quán đều biết điều đó, không hề có một người nào ban đầu ở phòng 10 và về sau đổi phòng với anh ta cả. Mà phòng 10 này đặc biệt ở chỗ chỉ có thể đi từ ngoài nhà vào. Muốn vào phòng 9 mà đi nhầm sang phòng 10 là chuyện hoàn toàn không thể xảy ra.

Thật là khó hiểu! Ueda Kazuya không phù hợp làm người bị hại chút nào. Ushikoshi luôn cảm thấy còn có kẻ khác đáng giết hơn.

“Nếu hung thủ nằm trong số các vị, hi vọng hắn ta sẽ tẩu thoát luôn trong đêm nay, như thế mọi việc dễ giải quyết hơn.” Ushikoshi nói bằng giọng hoàn toàn không đùa cợt. Tiếp đó lại như nói cho mình nghe, ông ta lẩm bẩm, “Nhưng nếu không có nguyên nhân thì không thể xảy ra việc gì được, càng không có chuyện thiếu động cơ mà đi giết người bừa bãi. Suy đến cùng, chúng ta vẫn phải làm rõ động cơ. Trước khi gọi các vị vào một màn thẩm vấn không vui vẻ gì, tôi còn một câu phải hỏi: Trước và sau thời điểm giết người đêm qua, có ai trông thấy hay nghe thấy gì kì lạ, khả nghi không? Ví dụ như tiếng kêu thảm thiết của nạn nhân, bất kể cái gì cũng được, nhỏ nhặt đến đâu cũng được. Có điểm nào khác với bình thường không? Một số chi tiết trông qua vô cùng lặt vặt nhiều khi lại có tác dụng lớn cho việc phá án. Các vị có phát hiện gì không?”

Một vài tích tắc trôi đi, rồi có người nói, “Có.” Dễ dàng nhận ra đó chính là Aikura Kumi. Cô không trả lời ngay, vì cô cảm thấy những điều mình sắp trình bày tương đối khác về chất so với vấn đề mà viên cảnh sát đang đặt ra. Nói cách khác, cô không cho rằng có thể dùng mấy từ ‘nhỏ nhặt’ hay ‘trông qua vô cùng lặt vặt’ để mô tả trải nghiệm hồi đêm của mình.

“À, cô là Aikura phải không? Cô có chuyện gì muốn nói?”

“Tôi có một đống chuyện muốn nói.” Kumi cảm thấy, cuối cùng cũng gặp được người sẵn lòng nghe cô kể rồi.

“Ừ, cô trông thấy cái gì?” Viên cảnh sát miền quê thắc mắc nhìn khuôn mặt đáng yêu của Kumi.

“Tôi trông thấy, và cũng nghe thấy.”

“Xin cô nói rõ hơn.”

Không cần ông ta phải nhắc, Kumi cũng định bụng sẽ làm thế. Thoạt tiên do dự chưa biết nên kể từ đầu, cuối cùng cô quyết định, bắt đầu từ chỗ nghe có vẻ bình thường nhất.

“Nửa đêm hôm qua, tôi nghe thấy tiếng rú thảm thiết. Giọng đàn ông. Chắc là giọng anh Ueda khi bị giết. Nghe vô cùng đau đớn, như thể bị bóp ra vậy.”

“Ừ, ừ.” Viên cảnh sát lộ vẻ hài lòng, “Cô biết là mấy giờ không?”

“Rất tình cờ, tôi có xem đồng hồ, lúc đó là 1 giờ 5 phút.”

Ushikoshi bỗng lộ vẻ hoang mang, khiến ai nấy không khỏi liếc ông ta.

“Cô nói sao? 1 giờ 5 phút? Cô chắc chắn chứ? Không lầm lẫn chứ?”

“Lầm sao được. Tôi vừa nói đấy, tôi có xem đồng hồ.”

“Nhưng…”

Viên cảnh sát xê xích chiếc ghế, làm nó chao nghiêng sang một bên, suýt chút nữa thì đổ. Trong căn phòng này, cử động dù nhỏ cũng phải cẩn thận.

“Nhưng… làm sao lại có chuyện đó được? Đồng hồ không chết chứ?”

Kumi tháo đồng hồ ra khỏi tay phải. Cô là người thuận tay chiêu.

“Tôi chưa hề động vào nó kể từ lúc ấy.”

Ushikoshi cẩn thận đón lấy chiếc đồng hồ nữ, so sánh với đồng hồ của mình. Dĩ nhiên là so thời gian. Giờ trên đó giống hệt nhau.

“Loại này rất chính xác, cả tháng cũng không muộn đến một giây.”

Kumi bổ sung. Kikuoka Eikichi từng quảng cáo như thế. Nói cách khác, Kikuoka Eikichi - người tặng cô chiếc đồng hồ - từng quảng cáo như thế.

Ushikoshi cẩn thận trả chiếc đồng hồ đắt tiền cho Kumi.

“Được rồi. Nhưng mà… thế này thì càng phức tạp hơn đây. Khỏi nói chắc các vị cũng hiểu. Thời gian tử vong của Ueda Kazuya cũng chính là thời gian gây án của hung thủ. Vừa nãy tôi đã cho biết, thời gian đó là từ 0 giờ đến 0 giờ rưỡi, trong khi tiếng rú thảm thiết có khả năng là của người bị hại mà cô nghe thấy lại muộn hơn cả nửa tiếng đồng hồ. Từ đây trở đi, thông tin mới này thành ra lại khiến chúng tôi bối rối thêm. Những người khác thì sao? Còn ai nghe thấy tiếng đàn ông rú nữa không? Xin lỗi, người nào nghe thấy thì giơ tay lên được không?”

Vợ chồng Kanai, Eiko và Kozaburo đều giơ tay. Kumi liếc thấy Eiko cũng giơ tay thì rất không vui.

“Bốn người… ừ, thêm cả cô Aikura là năm người. Cậu Togai, cậu không nghe thấy âm thanh đó sao? Cậu ngủ ngay bên dưới hiện trường cơ mà.”

“Tôi không để ý.”

“Cậu Kusaka thì sao?”

“Tôi cũng thế.”

“Anh Kanai ngủ ở tầng ba, phòng 9, đúng không? Xem ra chưa chắc là người phải ngủ gần phòng 10 mới nghe thấy hả. Vậy thì, có ai chắc chắn về thời gian không?”

“Tôi không xem đồng hồ. Chỉ là nghe thấy tiếng hét của cô Aikura nên vội vàng chạy ra khỏi phòng.” Kozaburo nói.

“Anh chị Kanai thì sao?”

“À… tôi không chú ý đến giờ giấc.” Anh chồng nói.

“Quá 1 giờ 5 phút, nói chính xác là 1 giờ 6 phút.” Hatsue quả quyết.

“Tôi hiểu.” Ushikoshi chua chát nói, “Rầy rà ghê cơ. Được rồi, còn ai nghe thấy hay trông thấy gì không?”

“Xin đợi một lát, tôi chưa kế hết.” Kumi lên tiếng.

“Còn nữa ư?” Ushikoshi cảnh giác hỏi.

Kumi đột nhiên thấy thương cho viên cảnh sát. Chỉ tiếng kêu thảm thiết đã đủ khiến ông ta biến thành bộ dạng này, nếu lại nói ‘chuyện kia’ cho ông ta biết, không hiểu tình hình sẽ ra thế nào? Song không thể nương nhẹ, cô bèn kể tường tận mọi chuyện đã gặp đêm qua. Nghe xong, quả nhiên Ushikoshi trợn tròn mắt, miệng trễ xuống.

“Ông tưởng chỉ tiếng thét của người đàn ông mà đủ làm tôi la lối ư?” Kumi lẩm bẩm.

“Đó là sự thật ư? Nhưng, có khi đó chỉ là…”

“Nằm mơ thì sao?”

Không ai bảo ai, hai người cùng bật ra. Do đoán được viên cảnh sát sẽ nói gì, Kumi đã chen vào hớt nốt nửa câu sau.

“Ông muốn nói thế chứ gì?”

“Có thể nói thế.”

“Tôi đã bị mọi người cười nhạo cả ngày rồi. Nhưng đó hoàn toàn là sự thật. So với nó thì hiện thực bây giờ còn giống mơ hơn ấy.”

Ushikoshi bối rối, “Quanh đây có người như thế không? Tức là da đen nhẻm như người Brazil, trên mặt có vết sẹo bỏng to tướng…”

“Mà còn có dấu hiệu bị mộng du nữa.” Okuma đứng bên chõ vào, “Có lẽ là một quái vật, thấy trời có trăng thì ló ra, đi dạo trên tuyết.”

“Hoàn toàn không có ai như vậy cả.” Eiko dứt khoát phủ nhận, như thể bị chạm tự ái.

“Trong nhà này dĩ nhiên không có ai giống thế chứ?”

Câu hỏi của Ushikoshi càng chọc vào lòng tự tôn của Eiko. Cô phì mũi, “Dĩ nhiên!” Rồi khoặm mặt im lặng.

“Bình thường chỉ có ông Hamamoto, cô Hamamoto, vợ chồng anh Hayakawa và cậu Kajiwara sống ở đây hả?”

Kozaburo gật đầu.

“Điên mất. Cô Aikura, cô ngủ ở tầng ba. Cũng tức là, ờ, là phòng 1 nhỉ? Bên dưới cửa sổ phòng 1 không có chỗ đặt chân, mà nền sân phủ tuyết cũng không có dấu chân. Lẽ nào tên quái vật kia nổi trên không trung mà nhòm trộm vào phòng cô?”

“Tôi biết sao được. Mà tôi nào có đề cập đến quái vật gì đâu?”

“Có lẽ giữa tiếng rú thảm thiết và người đàn ông đáng sợ, cô chỉ nên chọn lấy một thôi.” Okuma lại chõ vào.

Kumi chán chẳng buồn cự nự, chỉ hắng giọng im lặng.

“Được rồi, còn người nào muốn chúng tôi đau đầu nữa không?”

Mọi người đều trưng ra vẻ mặt thật-không-hiểu-chuyện-là-thế-nào. Lúc này, một viên cảnh sát đứng gác ở cửa chạy vào phòng sinh hoạt chung, ghé tai Ushikoshi thì thào báo cáo. Nghe xong, cho rằng nói ra cũng không sao, ông ta bèn thông báo cho ông chủ nhà, “Ông Hamamoto, tìm thấy đầu hình nộm rồi. Hình như nằm trong tuyết, cách phòng 10 một quãng xa.”

“Ồ, tốt quá!” Kozaburo đứng lên ngay.

“Mời ông đi với cậu cảnh sát này. Chắc là phòng giám định sẽ tạm bảo quản nó một thời gian. Khi chúng tôi trả về thì ông định làm thế nào?”

“Dĩ nhiên là ráp vào với thân nó, đặt lại kho sưu tập ở phòng 3.”

“Tôi hiểu. Ông đi đi.”

Kozaburo cùng viên cảnh sát đi ra.

“Được rồi, còn ai phát hiện được chuyện gì bất thường nữa không? Cậu Togai, phòng cậu ở ngay dưới phòng Ueda.”

“Chậc… Khoảng 10 giờ rưỡi là tôi đã ngủ rồi.”

“Ngoài cửa sổ có hiện tượng gì lạ lùng không?”

“Tôi kéo kín rèm rồi mới đi nằm, mà đó còn là cửa hai lớp nữa.”

“Không hiểu vì lý do gì, hung thủ phải bê hình nộm kềnh càng như thế ra khỏi phòng 3, đem xuống sau nhà, cẩn thận tháo rời hết rồi quăng cái đầu đi rõ xa. Cái đầu mà chúng tôi bảo là vừa tìm thấy kia ấy, nằm trong tầm ném tính từ chỗ thân thể bị tháo rời. Nó bị vùi dưới tuyết, mà còn vùi rất sâu, xung quanh không có dấu chân. Tuyết ngừng rơi từ khoảng 11 giờ rưỡi, xét từ tình hình hình nộm, chắc hung thủ có mặt trước lúc tuyết ngưng, ngay ngoài cửa sổ phòng cậu Togai. Không biết cậu có để ý thấy âm thanh gì…”

“Hừm… 10 giờ rưỡi là tôi đã ngủ rồi, không hề nghe thấy tiếng kêu của anh Ueda.”

“Không ngờ các vị đi nằm sớm thế.”

“Đúng, bởi vì buổi sáng phải dậy sớm…”

“Á!” Shun đột nhiên kêu lên.

“Cậu sao vậy?” Ushikoshi hỏi, cố giữ vẻ mặt thản nhiên.

“Cây gậy. Trên tuyết cắm cây gậy. Hai cây. Chắc là mấy tiếng trước vụ giết người.”

“Cậu bảo sao? Mong cậu kể rõ hơn được không?”

Thế là Shun kể lại chuyện tối qua, lúc đứng ở cửa sổ phòng sinh hoạt chung nhìn ra, cậu phát hiện có hai cây gậy ở sân sau.

“Cậu trông thấy vào độ mấy giờ?”

“Bấy giờ đã dùng cơm xong, đang uống trà, nên tôi nghĩ chắc là khoảng 8 giờ đến 8 giờ rưỡi.”

“Ồ, cậu Kajiwara, ăn cơm xong dọn trà lên, đích xác là mấy giờ?”

“Tôi nghĩ chắc đúng là giờ đó đấy.”

“Ngoài Kusaka, còn ai chú ý thấy hai cây gậy không?”

Mọi người đều lắc đầu. Shun nhớ lại tình hình lúc ấy. Sớm biết thế này đã kêu ai đến cùng xem rồi.

“Bấy giờ có tuyết rơi không?”

“Có!” Shun đáp.

“Sáng ra cậu đi gọi Ueda, lúc ấy tình hình thế nào?”

“Ông hỏi cây gậy hả? Giờ ông hỏi thế tôi mới nhớ, gậy đã biến mất rồi.”

“Dấu vết của nó thì sao?”

“Không rõ, tôi nghĩ là không còn dấu vết gì nữa. Vì khu vực ấy là nơi ném hình nộm, sáng nay tôi đã đứng ở đó… Cây gậy là do hung thủ cắm xuống nhỉ?”

“Không biết, nhưng nhiều chuyện lạ thật đấy. Anh Hayakawa, anh có để ý thấy không?”

“Mấy hôm nay tôi hầu như đều không ra sân, nên không chú ý.”

“Gậy cắm rất thẳng à?” Ushikoshi lại hỏi Shun.

“Vâng.”

“Cũng tức là, vuông góc với mặt đất?”

“Đúng.”

“Chắc là cắm sâu xuống mặt đất dưới lớp tuyết?”

“Không, không thể nào, vì bên dưới mặt tuyết hai chỗ đó đều là đá tảng.”

“Ý của cậu là?”

“Nói cách khác, sân lát đá, giống như đường lát đá vậy.”

“Ừ, cậu có thể vẽ là khoảng nào được không?” Ushikoshi đưa giấy bút ra, chăm chú theo dõi. “Xem ra thú vị đấy.”

Shun vẽ xong, Ushikoshi hỏi, “Cây gậy này cắm cách viền nhà mấy mét?”(#)

“Khoảng 2 mét.”

“Cây cắm ở chỗ hình nộm cũng thế à?”

“Tôi nghĩ thế.”

“Nói như vậy là nếu nối hai điểm này lại, thì tạo thành một đường song song với ngôi nhà, cách viền nhà 2 mét?”

“Vâng, đại khái thế.”

“Hừm…”

“Thế là ý gì? Nếu có liên quan đến vụ án…”

“Tôi nghĩ thế là đủ rồi, cái này để sau hẵng nói, chưa biết chừng không mảy may liên quan đến vụ án. À, đêm qua người đi ngủ muộn nhất là ai?”

“Là tôi.” Hayakawa Kohei nói. “Vì buổi tối tôi phải đóng hết cửa nẻo mới đi nằm.”

“Bấy giờ là khoảng mấy giờ?”

“Sau 10 giờ rưỡi. Tôi nghĩ chắc là khoảng 11 giờ.”

“Anh có phát giác ra điều gì bất thường không?”

“Không, chẳng có gì khác bình thường cả.”

“Anh không phát hiện ra điều gì cả à?”



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 09.06.2019, 01:51
Hình đại diện của thành viên
☆~ Số 15 ca ~☆
☆~ Số 15 ca ~☆
 
Ngày tham gia: 14.10.2015, 23:36
Bài viết: 2964
Được thanks: 2075 lần
Điểm: 7.53
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Trinh thám - Văn học Nhật] Hokkaido Mê Trận Án - Soji Shimada - Điểm: 10
“Vâng.”

“Vừa rồi anh nói phải đóng hết cửa nẻo. Tôi muốn hỏi, cửa ra vào giữa phòng sinh hoạt chung với sân, cửa tiền sảnh, cửa hậu… các cửa này đều dễ dàng mở từ trong ra phải không?”

“Anh nói đúng. Nếu mở từ phía trong thì đúng là đều có thể…”

“Còn cả hình nộm ở góc nhà kia nữa. Phòng đặt hình nộm đó bình thường đều khóa phải không? Cô Hamamoto?” Lần này Ushikoshi chuyển hướng sang Eiko.

“Đều khóa. Nhưng cửa sổ trổ chỗ hành lang rất lớn, không chốt bao giờ, vì thế nếu muốn ăn trộm thì vẫn có thể dễ dàng mang nó ra qua lối đó. Tình cờ là hình nộm lại đặt ngay bên cửa sổ.”

“Tôi hiểu rồi. Tạm thời đến đây thôi. Lát nữa tôi sẽ hỏi chuyện từng người, phía cảnh sát cũng cần thảo luận đôi chút, có thể cho chúng tôi mượn một phòng trống không, phòng nhỏ thôi cũng được.”

“À, nếu thế thì mời các ông dùng thư viện, để tôi đưa các ông đi.”

“Vâng, cảm phiền. Giờ vẫn còn sớm, lát nữa chúng tôi gọi tên ai thì mời người đó đến thư viện nhé.”


Cảnh 6

Thư viện

“Sao trên đời có kẻ nhàn cư vi bất thiện đến thế? Lại cố ý xây ngôi nhà to đùng to đoàng với cái nền xiên xẹo này. Trong khi đó thì em, đến một căn hộ cho ra hồn cũng không mua nổi. Đúng là thần kinh. Lũ lắm tiền tiêu pha hoang đàng đến mức này, thật khiến người ta căm giận mà.”

Hayakawa Kohei rời đi rồi, viên cảnh sát trẻ bắt đầu rủa xả. Vầng dương đã lặn về Tây, ngoài cửa sổ vọng vào tiếng gió hun hút.

“Ozaki, cậu đừng nói năng thế.” Ushikoshi vỗ về, “Người lắm tiền vung tay quá trán hay chăm chỉ làm ăn cho giàu thêm, thì cũng đều chẳng liên quan gì đến dân đen chúng ta đâu.”

Ushikoshi đẩy một chiếc ghế vát chân sang cho Ozaki để cậu ta ngồi xuống.

“Mà, nếu từng con người trên đời cứ giống nhau như đúc một khuôn ra thì quá là nhạt nhẽo. Có triệu phú, rồi có cảnh sát nghèo như chúng ta, tôi cho rằng như thế cũng chẳng có gì không tốt. Kẻ nhiều tiền chưa chắc đã hạnh phúc đâu.”

“À, mấy cảnh sát kia thì nên làm sao?” Okuma xen vào.

“Bảo các cậu ấy về thôi.”

Ushikoshi đáp. Okuma bèn đi ra ngoài truyền đạt.

“Nhưng mà đây đúng là ngôi nhà tâm thần. Vừa rồi em đã nghiên cứu kĩ càng.” Ozaki tiếp tục nói, “Trước hết em vẽ một sơ đồ. Nó đây, anh xem qua đi.(#)

“Ngôi nhà kiểu phương Tây này có một cái tên rất tao nhã, là Lưu Băng Quán, gồm một tầng ngầm và ba tầng nổi, cùng một tháp cao mô phỏng tháp nghiêng Pisa ở mé Đông nhà. Điểm khác biệt giữa tháp này và Pisa là ngoài tầng cao nhất dành làm chỗ nghỉ ngơi cho Hamamoto Kozaburo, ở dưới không có một phòng nào, cũng không có cầu thang. Nghĩa là, bên dưới không có lối vào, không thể đi thẳng từ mặt đất lên tháp được.

“Vậy Hamamoto về phòng bằng cách nào? Từ nhà chính, cũng tức là từ ngôi nhà kiểu phương Tây này, ông ta kéo xích sắt, hạ một chiếc cầu bậc thang xuống để về phòng trên tháp. Về phòng rồi, ông ta lại kéo xích sắt thả chiếc cầu bậc thang đó lên. Đúng là bộ não rệu rã!

“Bên nhà chính thì có tổng cộng mười lăm phòng. Họ đánh số phòng theo thứ tự từ trên xuống dưới, từ Đông (tức là từ bên tháp) sang Tây. Phân bố các phòng như trên sơ đồ này. Phòng 3 là phòng đồ cổ, vốn là nơi đặt hình nộm bị tháo rời ngoài sân hồi đêm. Phòng 4 bên cạnh nó là thư viện, cũng là phòng chúng ta đang ngồi hiện giờ. Dưới phòng 3 và 4 là phòng 5, chính là phòng sinh hoạt chung ban nãy. Nhích sang phía Tây là phòng 10, nơi xảy ra án mạng, đó vốn là phòng để dụng cụ thể thao chứ không phải phòng ngủ. Phòng 11 sát vách nó, là phòng bóng bàn trong nhà.

“Ở đây em muốn nhấn mạnh một điều, ngoài năm phòng chúng ta vừa nêu ra, thì tất cả các phòng trong ngôi nhà này đều là phòng nghỉ dành cho khách, có công trình phụ khép kín, không khác gì phòng trong khách sạn hạng sang. Bởi thế có gọi Lưu Băng Quán là khách sạn miễn phí mười mấy phòng nghỉ và có đủ các loại phòng vui chơi giải trí cũng không ngoa.”

“Ừ, tôi hiểu rồi.”

Lúc này Okuma đã quay trở lại, ngồi xuống cùng nghe.

“Nói như vậy, Ueda không được xếp vào ở trong số mười phòng dành cho khách có công trình phụ khép kín? Phòng 10 vốn là phòng chứa đồ hở?”

“Đúng vậy. Nếu khách đến đông quá, phòng không đủ thì mới thu dọn lại phòng 10, căn phòng đó tương đối sạch sẽ, kê thêm cái giường vào là nghỉ qua đêm được.”

“Đêm qua cũng không đủ phòng?”

“Không, phòng thì đủ, vì phòng 15 vẫn bỏ trống. Cũng tức là…”

“Cũng tức là, lái xe chỉ có địa vị ngang đống dụng cụ thể dục. Ai xếp phòng vậy?”

“Eiko, con gái Hamamoto.”

“Ra vậy.”

“Nếu tính thêm tầng ngầm thì Lưu Băng Quán có cả thảy bốn tầng, chia làm hai nửa Đông-Tây. Mỗi bên có bốn phòng, tổng cộng là tám phòng. Sau đó chia tiếp tám phòng này làm hai nửa Nam-Bắc, thì biến thành mười sáu phòng, có điều phòng sinh hoạt chung khá rộng, diện tích tương đương hai phòng, nên coi như trừ mất một phòng, còn mười lăm phòng.”

“Ừ, tôi hiểu rồi.”

“Còn nữa, các phòng cánh Bắc rộng rãi hơn các phòng cánh Nam. Vì cầu thang phân bố bên Nam, nên diện tích phòng phải thu nhỏ lại.”

“Ra vậy.”

“Bởi thế khách đi theo cặp đều được xếp ở các phòng rộng, bên cánh Bắc. Ví dụ như hiện giờ có hai cặp vợ chồng, là vợ chồng Kanai và vợ chồng người giúp việc - Hayakawa. Nhà Kanai ở phòng 9, tầng ba. Nhà Hayakawa ở phòng 7, cánh Bắc tầng ngầm, nghe nói họ đã ở đấy từ khi xây xong ngôi nhà này rồi. Điểm đáng chú ý là hệ thống cầu thang. Nó rất quái đản, hai cánh Đông-Tây đều có. Cánh Đông là từ phòng sinh hoạt chung đi lên, dẫn tới phòng 1, phòng 2 và phòng tháp của Kozaburo. Vấn đề ở chỗ nó chỉ dẫn đến ba phòng đó thôi. Nó bỏ qua phòng 3 và 4 của tầng hai. Nếu đi cầu thang này thì không làm sao đến được tầng hai.”

“Ồ!”

“Vì sao lại có thiết kế kì quặc như vậy? Em nghĩ mãi không thông. Từ phòng sinh hoạt chung đi lên cầu thang là đến thẳng tầng ba. Còn cánh Đông lại không có cầu thang đi xuống tầng ngầm. Chẳng khác gì mê cung, em càng đi càng điên tiết.”

“Nói như vậy là muốn lên tầng hai và xuống tầng ngầm thì phải dùng cầu thang cánh Tây mà chúng ta vừa đi hả? Nhưng cầu thang này không chỉ dẫn đến tầng hai, có vẻ còn đi tiếp lên trên đấy.”

“Đúng. Muốn lên tầng hai và xuống tầng ngầm thì phải sử dụng cầu thang cánh Tây. Muốn lên tầng ba phải sử dụng cầu thang cánh Đông. Nghe thế, dĩ nhiên chúng ta sẽ cho rằng cầu thang cánh Tây chỉ dẫn đến tầng hai là xong, đúng không? Không ngờ cầu thang cánh Tây cũng dẫn đến tầng ba.”

“Ồ, nói như vậy là chỉ có người ở tầng ba là có thể dùng cầu thang cả hai cánh Đông-Tây?”

“Không đâu, phải ở phòng 8 và 9 mới đi được thang Tây. Cho dù cùng ở tầng ba, nhưng thang Đông chỉ có người ở phòng 1, 2 sử dụng được. Nói cách khác, tầng ba không có hành lang chạy thông. Vì thế người trong phòng 8, 9 muốn sang phòng 1, 2 cùng tầng chơi một lát cũng không xong. Nếu muốn sang, trước tiên phải theo cầu thang xuống tầng trệt, băng qua phòng sinh hoạt chung, lại theo cầu thang đi lên, đánh một vòng quanh mới tới nơi.”

“Phiền nhỉ!”

“Thế em mới nói là ngôi nhà tâm thần. Quá đỗi phức tạp. Vừa rồi em định lên phòng 1 nơi Aikura Kumi trông thấy tên quái thai kia, bèn đi theo thang Tây, kết quả loanh quanh luẩn quẩn mãi không tới, đành quay lại phòng sinh hoạt chung hỏi đường.”

“Tôi hiểu.”

“Lão Hamamoto Kozaburo có cái sở thích nhạt nhẽo là đùa bỡn người ta thì phải, nói nào ngay, sàn nhà thì nghiêng xẹo đi thế này này. Ban đầu không quen kiểu gì cũng có người ngã, đến khi quen rồi thì cứ nhìn cửa sổ hai mặt Đông-Tây lại sinh ảo giác không hiểu bên nào dốc lên bên nào dốc xuống.”

“Tưởng cửa sổ nghiêng tức là trúng kế ông ta đấy. Nhìn bên có bậu cửa sổ cách nền nhà xa hơn, rất dễ tưởng lầm là bên dốc lên.”

“Nhưng khi thả quả bóng xuống sàn nó lại lăn về chính cái bên dốc lên ấy.”

“Đúng là ngôi nhà đáng sợ. Nhưng các phòng cạnh nhau ở hai cánh Nam-Bắc, ví dụ phòng 8, 9 thì chắc có thể qua lại chứ?”

“Dĩ nhiên. Vì phía này là lên xuống bằng cùng một cầu thang. Còn nữa, với kiểu thiết kế của họ, thì cầu thang không thể nào bao quát được toàn bộ ngôi nhà. Ví như thang Đông bỏ qua tầng hai của cánh Đông, tương tự, thang Tây cũng bỏ qua tầng hai của cánh Tây. Tầng hai cánh Tây chính là phòng 10 nơi xảy ra án mạng và phòng 11 để chơi bóng bàn trong nhà. Bởi thế, không thể nào đi trong nhà mà tới được hai phòng này.”

“Ừ… đúng nhỉ!”

Ushikoshi vừa xem sơ đồ vừa trả lời rời rạc. Đúng là có những điểm khó lý giải thật.

Ozaki tiếp tục thuyết trình, “Nhưng đây là phòng tập và phòng để dụng cụ thể dục thể thao, dù chỉ có mỗi một cách đi từ ngoài sân vào thì cũng không sao hết.”

“Có lý. Suy xét kín kẽ lắm.”

“Đây là hai phòng duy nhất phải dùng cầu thang ngoài trời. Ở phòng 10 vào cái mùa lạnh giá này, muốn về ngủ phải đi ra khỏi nhà rồi co ro băng qua sân thì quá là cực thân! Nhưng ai bảo anh ta là lái xe chứ. Cũng đành thôi.”

“Làm tôi tớ cho người ta khổ nhục thật.”

“Phòng 10 sửa thành phòng ngủ xong, để chứa những thứ linh tinh như máy móc cày cấy, chổi, búa, cưa… họ làm thêm một chòi nhỏ ngoài sân. Chỗ đó do vợ chồng Hayakawa quản lý. Về các phòng khác, phải công nhận là cô Hamamoto đã biết tận dụng kết cấu đặc biệt của ngôi nhà chính để sắp xếp chỗ nghỉ phù hợp cho từng khách.

“Trước tiên chúng ta nói đến Aikura Kumi, cô gái có bộ mặt hồ ly tinh. Sáng sớm nay Sakuradamon* đã nhanh tay triển khai và gửi hồ sơ điều tra đến đây. Theo hồ sơ đó, thì trong tổng công ty Kikuoka đặt ở Otemachi Sendagaya, chắc chỉ có nhân viên sang năm mới vào mới không biết thư kí Aikura là vợ bé của chủ tịch. Nếu xếp hai người này gần nhau quá thì sẽ gây thị phi, cô Hamamoto bèn đẩy mỗi người về một đầu nhà. Aikura ở phòng 1, thuộc cánh Đông tầng ba. Kikuoka ở phòng 14, thuộc cánh Tây tầng ngầm. Nhưng lưu ý nhé, việc Kikuoka ở phòng 14 Lưu Băng Quán hình như là cố định. Ngay từ đầu, phòng này đã được thiết kế sẵn làm thư phòng của Hamamoto Kozaburo, cất giữ nhiều vật dụng cá nhân và giấy tờ quan trọng, lắp đủ các loại đèn chiếu sáng và đồ trang trí tường nhập từ Anh Quốc về, sàn trải thảm Ba Tư trị giá hàng triệu yên, tóm lại là đổ vào đây không biết bao nhiêu tiền. Tuy nhiên, do Hamamoto không thường xuyên ngủ ở phòng 14 nên giường rất hẹp, thật ra chỉ hẹp như một chiếc trường kỉ thôi, nhưng đệm nằm vô cùng êm ái dễ chịu. Trong số khách khứa lần này, Kikuoka thuộc loại VIP, bởi thế mới được vào ở căn phòng sang trọng nhất ấy. Hamamoto chọn chỗ này làm thư phòng bởi nó nằm dưới lòng đất, là nơi ấm áp nhất trong nhà chính. Các phòng nghỉ cho khách tuy đều có hai lớp cửa sổ nhưng ít nhiều vẫn lạnh, bởi gió vẫn lọt vào qua khe. Ngoài ra, phòng 14 không có cửa sổ, vì thế làm việc hay suy nghĩ ở đây sẽ không bị phân tâm. Đằng nào thì nếu muốn thưởng thức phong cảnh, ông ta chỉ cần quay lên tháp là có luôn tầm nhìn 360 độ hướng ra không gian đẹp tuyệt trần rồi.

“Về phía Aikura… Cô Hamamoto ở phòng 2, xếp Aikura ở phòng 1 sát sườn mình chắc là để giám sát. Cũng có thể với lý do tương tự, cô ta xếp cậu cháu còn non nớt vào phòng 8, thuộc cánh Tây tầng ba. Ban đầu em đã nhấn mạnh rồi đấy, cho dù cùng ở tầng ba, nhưng phòng 1 của cô Aikura và phòng 8 của cậu Hamamoto không thể nào qua lại với nhau, thậm chí còn cách nhau rất xa nữa. Không loại trừ khả năng cô chủ nhà sợ cậu cháu bị hồ ly tinh quyến rũ.

“Phòng 3, 4, 5 em đều đã điểm qua, không thể dùng để ngủ được. Phòng 6 dưới tầng ngầm là phòng của đầu bếp Kajiwara. Phòng 7 là phòng của vợ chồng giúp việc Hayakawa. Tuy khá ấm áp, nhưng vì thuộc tầng ngầm nên không có cửa sổ. Khách đến chơi mà để người ta ở đấy thì tẻ nhạt quá, nên từ khi xây xong nhà, hai phòng ở cánh Đông tầng ngầm đã được dùng luôn làm phòng cho người giúp việc.

“Tóm lại, phòng 8 thuộc cánh Tây tầng ba là phòng của Hamamoto Yoshihiko. Phòng 9 là của vợ chồng Kanai. Phòng 10 là Ueda. Phòng 12 tầng trệt là Togai, phòng 13 ngay cạnh cậu ta là Kusaka. Phòng 14 là Kikuoka. Phòng 15 để trống. Đó là tình trạng lưu trú hiện tại của tất cả các phòng trong nhà.”

“Lôi thôi thật đấy, chỉ nghe giải thích một lần thôi thì chưa thể nào nắm bắt ngay được. Ví dụ Aikura và Hamamoto Eiko cùng ở tầng ba, phòng 1 và 2, nếu họ muốn lấy hình nộm ra khỏi phòng 3 ở tầng dưới thì không dễ dàng gì, vì phòng 1, 2 không có cầu thang dẫn xuống tầng hai.”

“Đúng thế. Nếu là phòng 8, 9 thì xuống phòng 3 chẳng khó khăn gì, nhưng từ phòng 1, 2 bắt buộc phải trở ra phòng sinh hoạt chung rồi đi vòng qua cầu thang cánh Tây mới được, cho dù căn phòng muốn đến ở ngay dưới chân họ.”

“Tương tự, phòng 8, 9 cũng không thể đi thẳng xuống phòng 10 ngay tầng dưới. Quả là giống một mê cung nhỏ, cho dù chưa đến nỗi rối rắm. Ngoài ra còn phát hiện gì nữa không?”

“Sát vách chúng ta đang ngồi đây là phòng 3, nghe kể mọi người đều gọi nó là phòng Tengu. Anh sang xem thì sẽ hiểu ngay tại sao. Căn phòng la liệt đủ thứ đồ cổ phương Tây mà Hamamoto Kozaburo đã vung vãi hàng đống tiền để thu mua về từ khắp nơi trên thế giới, nhưng tường thì chỉ treo mặt nạ Tengu.”

“Ồ?”

“Đỏ lòe lòe ra ấy. Nhất là bức tường mé Nam, từ trần xuống sàn treo kín đặc mặt nạ Tengu. Tường mé Đông cũng không kém cạnh. Phòng 3 không trổ cửa sổ ra ngoài nhà, vì thế hai bức tường này không có cửa sổ, thay vào đó treo mặt nạ Tengu chẳng còn hở chỗ nào. Tường mé Tây tiếp giáp hành lang, có trổ cửa sổ. Mé Bắc thì tường nghiêng vào trong nhà, hẳn là treo không tiện, nên mặt tường hai mé Bắc, Tây không treo Tengu.”

“Vì sao ông ta lại chuyên sưu tập mặt nạ Tengu?”

“Cảnh sát Tokyo cũng đã dò hỏi nguyên nhân từ tổng công ty Diesel Hamamoto ở Yaesu (Chuo). Nghe nói trong một bài bút ký nào đó, Hamamoto Kozaburo từng tiết lộ rằng, hồi nhỏ ông ta rất sợ mặt nạ Tengu. Vào ngày Hamamoto mừng tuổi bốn mươi, anh ông ta đã cố ý tặng mặt nạ Tengu với mục đích chọc ghẹo ông em, nào ngờ từ đó Hamamoto lại bắt đầu sưu tập mặt nạ Tengu đắt tiền trên toàn quốc. Do ông ta là người có vai vế, nên bạn bè đối tác người quen biết tin đều tranh nhau mua tặng, chẳng mấy chốc đã thu thập được bao nhiêu là mặt nạ. Câu chuyện này rất nổi tiếng, vì được đăng trên tạp chí của giới kinh doanh mấy lần rồi, hễ là người quen của Hamamoto Kozaburo thì không ai không biết sự tích ấy cả.”

“Ừm, còn hình nộm mà bị tháo lung tung ra kia thì sao?”

“Đang tạm gửi ở phòng giám định, nhưng chắc là trả cho ông ta cũng không ảnh hưởng gì đâu.”

“Nếu trả cho ông ta, đầu và tay chân vẫn có thể khôi phục nguyên trạng chứ?”

“Đúng.”

“Tháo lắp dễ dàng à?”

“Vâng.”

“Thì ra không phải hỏng. Là hình nộm gì đấy?”

“Hình như là món đồ mua ở một tiệm hình nộm bên châu Âu. Đâu như là sản phẩm từ thế kỉ 18, ngoài ra không biết gì hơn. Lát nữa các anh có thể hỏi trực tiếp Hamamoto.”

“Vì sao hung thủ lại đem nó ra khỏi phòng đồ cổ? Đó là của quý mà Hamamoto rất nâng niu à?”

“Xem ra cũng không phải. Nghe kể còn khối thứ đáng tiền hơn.”

“Hừ, khó hiểu nhỉ! Vụ án này có nhiều điểm kì quái quá. Nếu thủ phạm là người nung nấu thù oán với Hamamoto thì chẳng giết lái xe của Kikuoka làm gì. À phải rồi, tuy phòng 10 là phòng kín, nhưng góc tường mé Đông có một lỗ thông hơi nho nhỏ, mỗi bề khoảng 20 phân, có phải là trổ ra phía thang Tây không?”

“Đúng.”

“Có thể giở trò gì qua cái lỗ ấy được không?”

“E rằng không. Anh cứ đi xem là biết. Cầu thang không đi qua cánh Tây tầng hai nơi có phòng 10. Nếu đứng ở hành lang chạy qua trước phòng 12 và 13, anh sẽ thấy lỗ thông hơi của phòng 10 nằm tít trên góc tường, cheo leo không có gì xung quanh cả. Vì phòng 10 nằm bên trên phòng 12 nên tường cao lắm, như tường nhà ngục ấy. Nói chung rất khó giở trò gì được.”

“Phòng nào cũng có lỗ thông hơi à?”

“Vâng. Mục đích là để lắp quạt thông gió thì phải, nhưng hiện giờ chưa lắp. Các phòng hướng ra phía cầu thang đều có lỗ thông hơi. Nhân nhắc đến lỗ thông hơi thì tiện đây em nói thêm lần nữa, các phòng 8, 10, 12, 7, 14 nằm chồng lên nhau như các khối xếp hình trên cùng một trục dọc ở cánh Tây ngôi nhà, lỗ thông hơi của chúng giống nhau, đều trổ ở góc trên phía Nam của bức tường mé Đông. Các phòng 9, 11, 13, 15 nằm chồng lên nhau trên cùng một trục dọc ở cánh Bắc ngôi nhà, vì cầu thang phân bổ bên cánh Nam nhà nên lỗ thông hơi của bốn phòng này đều trổ trên tường mặt Nam, gần trần nhà phía Đông.

“Nhìn sang cánh Đông nhà, sẽ thấy các phòng 1, 2, 3, 4 giống hệt bên Tây về mặt hình dáng. Phòng 1, 3 giống phòng 8, 10, 12, 14, lỗ thông hơi trổ ở góc trên phía Nam tường Đông. Phòng 2, 4 giống 9, 11, 13, 15, lỗ thông hơi trổ ở góc trên phía Đông tường Nam.

“Còn lại phòng 6, 7. Phòng 7 giống với phòng 2, 4 bên trên, lỗ thông hơi trổ ở góc trên phía Đông tường Nam. Phòng 6 tương đối đặc biệt, cả ngôi nhà chỉ có lỗ thông hơi của phòng này là trổ ở góc trên phía Nam tường Tây. Phòng 5 chính là phòng sinh hoạt chung, nếu thêm lỗ thông hơi thì về cấu tạo chắc là cũng ở mặt tường phía Tây, nhưng phòng sinh hoạt chung lại không hề có lỗ thông hơi. Trên đây là chú thích bổ sung của em, nhưng chuyện nhỏ như mấy cái lỗ thông hơi ấy chắc là không liên quan gì đến vụ án cả.

“Tiện thế điểm qua một chút về cửa sổ. Các mặt tường trổ lỗ thông hơi mà em vừa nhắc đến đều không có cửa sổ. Trừ phòng số 3, thì nguyên tắc trổ cửa sổ của nhà này là hướng ra ngoài, diễn tả chính xác hơn là đều hướng ra không gian bên ngoài ngôi nhà. Lỗ thông hơi và cửa lớn thì mở vào nhà, cửa sổ là mở ra ngoài, đây là nguyên tắc cơ bản trong thiết kế của Lưu Băng Quán. Các tường mặt ngoài ngôi nhà đều có cửa sổ, các tường trong nhà mà tiếp xúc với cầu thang đều trổ lỗ thông hơi và cửa lớn, cứ tâm niệm như thế là không sai vào đâu được. Còn lại sàn nhà, trần nhà, tường ngăn giữa các phòng, những mặt phẳng này mà trổ lỗ thì dĩ nhiên là quá buồn cười đi.

“Ví dụ thư viện chúng ta đang ngồi đây, xét tương quan với hành lang sẽ thấy vị trí cửa lớn khá khác lạ, hình dáng cũng hơi thay đổi, nhưng so với quy tắc thì cũng không phải ngoại lệ. Giống như em vừa miêu tả, thư viện tiếp xúc với không gian của thang Đông, ở góc trên phía Đông tường Nam, anh xem kìa, ở đó có lỗ thông hơi nhé, nhưng không có cửa sổ. Chính là tại mặt tường này tiếp giáp với không gian bên trong nhà, bởi thế cửa sổ lần lượt nằm ở tường Bắc và tường Đông, mở thẳng ra không gian bên ngoài nhà. Vị trí của cửa ra vào là ở mé Tây tường Nam, khác với phòng 2 tầng trên, phòng 7 tầng dưới và các phòng 9, 11, 13, 15, như em vừa nói đó. Có lẽ là tại vị trí của hành lang, nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc nhất quán là mặt tường nào đã trổ lỗ thông hơi thì sẽ trổ luôn cửa ra vào.”

Ushikoshi đưa tay đỡ trán, “Hừ, lôi thôi quá! Tôi chẳng hiểu gì cả.”

“Ngoại lệ duy nhất là phòng 3. Chỉ có phòng này là không trổ cửa sổ ở tường Nam tức là bức tường tiếp giáp với không gian ngoài nhà, trong khi đó ở tường Tây tiếp xúc với không gian trong nhà lại có một khung cửa sổ rất lớn. Tường Tây cũng có cửa ra vào, lỗ thông hơi nằm ở tường Đông, tường đối diện. Mục đích có lẽ là để tránh nắng rọi trực tiếp vào bộ sưu tập đồ cổ. Nhưng để thoáng khí nên cửa sổ phải trổ rộng hơn bình thường.”

“Đừng nói nữa. Cậu nghiên cứu tỉ mỉ quá, đi làm kiến trúc sư có khi cũng được đấy. Tôi nghe mà không tiêu hóa nổi một chữ, tóm lại cấu trúc đặc biệt này có liên quan gì đến cuộc điều tra của chúng ta?”

“Em nghĩ là chẳng liên quan gì.”

“Tôi chân thành mong sao không liên quan. Phức tạp muốn điên luôn. Hôm nay tôi mới đến ngôi nhà quái đản này là một, cũng còn lơ ngơ, dĩ nhiên sẽ chóng mặt nhức đầu, nhưng mấy vị khách kia chắc không phải là đến lần đầu chứ.”

“Không, cũng có người đến lần đầu đấy ạ, ví dụ Aikura Kumi và Kanai Hatsue. Kikuoka Eikichi và Kanai Michio từng nghỉ mát một lần hồi mùa hè rồi.”

“Ừ, nhưng phần lớn mọi người đều biết ngôi nhà này quái đản, nhỡ đâu có ai đó trong bọn lại muốn tận dụng cấu tạo điên rồ của nó để thiết kế một cách giết người khôn khéo. Nghe cậu mô tả xong, tôi cảm thấy lỗ thông hơi phòng 10 rất đáng ngờ đấy.” Nói đoạn, Ushikoshi Saburo ngẫm nghĩ một lúc mới hỏi tiếp, “Nó trổ ở vị trí tương đối cao trên tường. Cao là do đứng từ tầng trệt, à, đứng ở hành lang trước phòng 12 nhìn lên ấy hả?”

“Vâng.”

“Quên nữa, cầu thang chúng ta vừa dùng để đi lên đây là làm bằng kim loại phải không?”

“Vâng.”

“Chỉ có cầu thang từ phòng sinh hoạt chung đến góc ngoặt tầng 2 là làm bằng gỗ, trải thảm đỏ, trông rất lộng lẫy, các cầu thang khác đều làm bằng kim loại cả. Vì sao lại thế? Cầu thang của Sở Cảnh sát Sapporo cũng còn chất lượng hơn. Chỉ có mấy tòa nhà lắp ghép rẻ tiền mọc lên chi chít dạo gần đây mới dùng thứ cầu thang rởm như kim loại thôi, đi mạnh chân một chút là đủ gây ồn rồi. Nghe chừng không tương xứng lắm với sự bề thế của một ngôi nhà theo phong cách châu Âu thời Trung cổ.”

“Đúng, nhưng có lẽ là tại cầu thang tương đối dốc, nên mới làm bằng kim loại cho chắc chắn.”

“Phải, quả là rất dốc. Hay là tại thế thật. Còn cả chỗ ngoặt, hay chiếu nghỉ (?), của cầu thang, mà có lẽ nên nói là hành lang… Hành lang của các tầng hình như cũng làm bằng kim loại nốt?”

“Đúng.”

“Tầng này thì khác, nhưng tầng trệt và trên gác đều thế, và tất cả đều có hình chữ L.”

“Đúng, tầng ba bên Đông cũng thế. Chỉ có tầng này là ngoại lệ.”

“Ở hai đầu chữ L, cũng tức là ở hai mút hành lang, không biết là do thiết kế sai hay nguyên nhân gì khác mà đều không khít vào tường. Có một khe hở rộng gần 20 phân.”

“Đúng. Thật làm người ta rùng mình. Nếu áp đầu vào tường, nhìn qua khe hở xuống dưới, ví dụ nhìn qua khe hở ở cuối hành lang phòng 8 đi, sẽ có cảm giác cái khe sâu hút cỡ ba tầng, thông thẳng xuống hành lang tầng ngầm luôn. Tuy có lan can, nhưng vẫn không khỏi gai người.”

“Bởi thế, nói không chừng hung thủ đã tận dụng khe hở đó để luồn thừng hay dây thép vào lỗ thông hơi giở trò giết người. Suy cho cùng thì lỗ thông hơi phòng 10 trổ ở ngay bên dưới khe hở hành lang tầng ba phải không?”

“À, điều này em cũng đã nghĩ đến. Khe hở ở trước phòng 8 đúng không? Em đã thử nằm rạp xuống sàn hành lang và áp sát tường hết mức có thể, nhưng không sao với được tay đến lỗ thông hơi. Nó ở dưới hành lang xa lắm. Để em nhớ xem nào, khoảng cách phải đến 1 mét ấy. Trừ phi có hai người hiệp đồng tác chiến, bằng không thì khó đấy.”

“Có trông thấy tình hình bên trong phòng 10 không?”

“Không, không thể.”

“Vậy à? Đằng nào thì cũng chỉ là một cái lỗ rộng dài 20 phân, quả là rất nhỏ.”

“Vâng, muốn bày mưu tính kế gì đều khó khăn cả.”

Đến đây, cuối cùng Ozaki cũng kết thúc bài giới thiệu về ngôi nhà quái dị.

“Anh Okuma, anh có ý kiến gì không?” Ushikoshi hỏi người đồng nghiệp đang đăm chiêu.

“Không.” Okuma đáp ngay, thái độ cho thấy rõ là muốn né tránh sự vụ rắc rối này. Rồi tiếp tục nói, nhưng là một câu chẳng ăn nhập, “Tối nay chắc sẽ lại có bão tuyết.”

“Phải, gió to đấy.” Ushikoshi đồng ý, “Nơi này đúng là hẻo lánh thật, xung quanh vắng bóng nhà cửa, chẳng hiểu thế nào bọn họ lại nghĩ đến chuyện đi nghỉ ở đây. Đồng không mông quạnh, có xảy ra hung án thì cũng chẳng lấy gì làm lạ.”

“Đúng.”

“Thật, chẳng hiểu nghĩ gì mà đến nghỉ ở đây.” Ozaki tán đồng.

“Nhưng mà, người có tiền thường phải quay cuồng trong vòng vây tục lụy, nên chắc là muốn tạm thời lánh xa những vướng mắc trần ai.”

Ushikoshi tuy là người nghèo, nhưng lại nhận xét như thể rất thấu hiểu. Rồi ông nói, “Vậy thì, nên gọi ai vào trước nhỉ?”

Ozaki đề xuất, “Cá nhân em muốn hỏi chuyện ba người giúp việc đầu tiên. Người như bọn họ chắc là chất chứa trong lòng rất nhiều ấm ức với chủ nhân, ở nơi đông đúc thì lầm lì như khúc gỗ, nhưng hễ ngồi riêng với nhau thì thể nào cũng lải nhải đủ thứ. Mà nói chung hạng người ấy nhát gan lắm. Nếu thấy dền dứ thì cứ nắn gân đôi chút, chắc chắn họ sẽ phun ra hết sự thật cho coi.”

“Vợ chồng Hayakawa Kohei không có con à?”

“Có đấy ạ, nhưng nghe nói đã chết. Cụ thể ra sao thì chúng ta vẫn chưa điều tra ngọn ngành được.”

“Tức là bây giờ bọn họ không có đứa con nào?”

“Hình như thế.”

“Kajiwara thì sao?”

“Anh ta vẫn chưa kết hôn, còn trẻ mà, năm nay mới 27 tuổi. Gọi vào nhé?”

“Không, hỏi người giúp việc ngay từ đầu thì không tiện. Hãy gọi cậu sinh viên Y vào đã. Xin lỗi Okuma, nhờ anh nhắn Kusaka Shun nhé?”

Cảnh sát ngồi dàn hàng như ba ông phán quan dưới địa ngục, người được gọi vào thì ngồi đối diện bên kia bàn. Vừa buông mình xuống, Shun đã bông đùa, “Cứ như phỏng vấn xin việc ấy.”

“Đừng nói linh tinh, mời anh trả lời các câu hỏi của chúng tôi.” Ozaki nghiêm nghị nhắc.

“Cậu ở đây, ngoài việc nghỉ ngơi thì còn kiêm nhiệm cố vấn sức khỏe cho ông Hamamoto Kozaburo phải không?” Ushikoshi hỏi.

“Vâng.”

“Chúng tôi có ba câu hỏi. Một là, quan hệ giữa cậu và người bị hại, hai bên thân thiết đến mức nào. Điều này chỉ cần điều tra là biết, nhưng để tiết kiệm thời gian, hi vọng cậu nói thật cho nhanh.

“Câu hỏi thứ hai là về bằng chứng ngoại phạm của cậu. Tôi biết điều này rất khó, nhưng nếu cậu có thể chứng minh mình không có mặt trong phòng 10 từ 0 giờ đến 0 giờ rưỡi đêm qua, nói cách khác là có thể chứng minh cậu đang ở bất cứ nơi nào trừ phòng 10 trong khoảng thời gian đó, thì cậu hãy nói ra.

“Câu hỏi thứ ba, và cũng là câu hỏi quan trọng nhất, tương tự với chuyện cậu kể về cái gậy lúc trước ấy, đó là đêm qua cậu có bắt gặp hiện tượng nào khả nghi, khác thường, hoặc là trông thấy ai đó không. Chuyện này không tiện nói trước mặt đông người, chúng tôi sẽ không tiết lộ là ai khai đâu, nên có thế nào cậu cứ tự nhiên cho chúng tôi biết như thế. Đây là ba câu chúng tôi cần hỏi.”

“Vâng. Trước tiên, về câu thứ nhất, tôi nghĩ rằng tôi là người trong sạch nhất. Tôi và Ueda mới trao đổi với nhau tổng cộng hai lần, lần đầu là ‘Ông Kikuoka đâu?’, lần sau thì tôi quên mất từ ngữ cụ thể, nhưng nội dung vẫn na ná vậy thôi. Dĩ nhiên, ngoài Lưu Băng Quán, tôi và Ueda chưa gặp nhau ở Tokyo hay nơi nào khác, mà cũng không có cơ hội để chạm mặt nữa cơ, vì chúng tôi không quen biết hay liên quan theo bất cứ cách gì. So với anh ta, tôi còn thân các anh hơn ấy. Về câu thứ hai, bằng chứng ngoại phạm. Hơi khó nhỉ! 9 giờ tối tôi đã về phòng, vì sắp đến kì thi, tôi phải ôn bài suốt. Vào phòng rồi là không ra nữa, bởi thế về câu hỏi thứ ba, tôi không có gì để khai báo thêm cả.”

“Tức là sau khi về phòng, cậu không quay ra hành lang nữa?”

“Vâng, phòng nào cũng có nhà vệ sinh, chẳng cần ra ngoài làm gì cả.”

“Cậu ở phòng 13 phải không? Lẽ nào cậu không sang chơi với Togai ở phòng 12 ngay bên cạnh?”

“Lúc trước có qua, nhưng bây giờ cậu ấy đang tập trung suy nghĩ một chuyện, tôi cũng phải lo ôn thi. Nói chung là, tối qua tôi không gặp cậu ấy.”

“Cậu ta đang suy nghĩ chuyện gì?”

Shun bèn kể về câu đố bồn hoa của Kozaburo.

“Thì ra là thế.” Ushikoshi nói. Ozaki khinh miệt hừ một tiếng. “Kết quả là cậu ở trong phòng, không nghe thấy âm thanh gì khác lạ?”

“Không nghe thấy gì, tại cửa sổ có hai lớp.”

“Hành lang và cầu thang thì sao? Hung thủ vận chuyển hình nộm to tướng như thế ra khỏi phòng 3, chắc chắn phải đi qua phòng 13 chứ?”

“Tôi không để ý. Cơ bản là do không ngờ sẽ xảy ra chuyện như vậy ấy. Từ tối nay chắc tôi sẽ cẩn thận hơn.”

“Đêm qua mấy giờ cậu ngủ?”

“Khoảng 10 rưỡi.”

Không thu hoạch được gì ở Kusaka Shun. Tiếp theo là Togai Masaki, kết quả cũng không khả quan hơn. Có khác chăng, thì chỉ là quan hệ của cậu ta với Ueda Kazuya rạch ròi hơn, tức là, bọn họ thậm chí chưa từng trao đổi một lời nào.

“Người vừa rồi là con trai của chính trị gia Togai Shunsaku.” Ozaki cung cấp thông tin.

“Thế cơ à?”

“Sinh viên Đại học Tokyo, hẳn là thông minh lắm đây.” Okuma nhận xét.

“Hai người này, Kusaka và Togai, có thể nói là tình địch trong cuộc tranh đoạt Hamamoto Eiko.” Ozaki bổ sung.

“Thì ra thế. Chỉ dựa vào huyết thống thôi thì Togai đã chiếm ưu thế rồi.”

“Có thể lắm.”

“Tiếp theo, gọi người của công ty Kikuoka đến đi. Về mấy người này, có gì cần lưu ý trước không?”

“Anh đã biết quan hệ bồ bịch giữa Kikuoka và thư kí Aikura rồi. Còn Kanai, mười mấy năm qua một lòng trung thành quỵ lụy Kikuoka mới bò được lên vị trí quản lý như hôm nay.”

“Quan hệ giữa Trục quay Kikuoka và Diesel Hamamoto thế nào?”

“À, Trục quay Kikuoka vốn chỉ là công ty nhỏ, phát triển được đến quy mô hiện tại hoàn toàn là nhờ theo chân Hamamoto từ năm Chiêu Hòa thứ 44 (1969). Có Diesel Hamamoto mới có Trục quay Kikuoka. Gần một nửa số trục maniven cho xe kéo của công ty Diesel Hamamoto là do công ty Kikuoka chế tạo.”

“Hợp tác kĩ thuật à?”

“Phải. Chính vì thế ông ta mới được mời tới đây.”

“Gần đây quan hệ giữa hai công ty có vấn đề gì không?”

“Không hề thì phải. Hai công ty, nhất là về mặt nghiệp vụ xuất khẩu thì có thể nói là rất suôn sẻ.”

“Hiểu rồi. Aikura không lằng nhằng gì với Ueda chứ?”

“A, điều này thì không thể nào. Ueda là một người đàn ông mờ nhạt. Mặt khác, Kikuoka vốn đa nghi, lại ghen tuông kinh người, vì thế cô vợ bé coi tiền là lẽ sống này không thể nào phạm phải những hành vi dại dột đâu.”

“Hiểu rồi, gọi bọn họ vào đi.”

Tuy nhiên, người của công ty Kikuoka cũng chẳng khác Shun và Masaki bao nhiêu. Ngay như Aikura Kumi, đúng ra phải tiếp xúc với Kazuya trong công việc, nhưng cô khẳng định chưa trò chuyện với anh ta bao giờ. Về điểm này, những người khác ở công ty Kikuoka cũng xác nhận thêm, nói chung đúng là sự thật.

Vợ chồng Kanai hoàn toàn giống nhau, không giao thiệp cũng không hay biết nhiều về Kazuya. Đáng ngạc nhiên là chính bản thân Kikuoka Eikichi cũng vậy, lão chỉ biết Kazuya độc thân, không anh em, cha đã qua đời, còn mỗi hai mẹ con nương tựa vào nhau. Mẹ anh ta sống ở thành phố Moriguchi, tỉnh Osaka. Tất cả chỉ có thế. Trong suốt quá trình làm việc chung, lão và Ueda từng đi uống với nhau độ hai, ba lần, khó mà gọi là thân thiết.

Ngoài ba câu hỏi cơ bản, cảnh sát còn thêm một câu “Có đoán được ai đã giết Ueda không?”, nhưng vô ích. Chẳng ai bảo ai, tất cả đều trả lời rằng không đoán được.

“Anh Kanai, anh chạy đến phòng số 1 lúc mấy giờ?”

“Tôi nghe tiếng hét của cô Aikura vào khoảng 1 giờ 5 phút. Nhưng tôi còn vặn vẹo trong chăn mất độ mười lăm phút nữa.”

“Anh có nghe thấy tiếng đàn ông rú lên không?”

“Hừm, có nghe thấy.”

“Anh có kiểm tra ngoài cửa sổ không?”

“Không.”

“Mấy giờ thì anh trở về phòng?”

“Gần 2 giờ.”

“Trên đường trở về anh đi qua phòng sinh hoạt chung phải không?”

“Dĩ nhiên.”

“Trong lúc đi anh có gặp ai, hoặc trông thấy cái gì đáng ngờ không?”

“Không hề.”

Đây tạm coi là gặt hái duy nhất. Nói cách khác, nếu lời Kanai là đáng tin thì từ 1 giờ 15 phút đến 1 giờ 55 phút, trên tuyến đường giữa phòng 9 và phòng 1 không có ai khả nghi xuất hiện.

Bất kể thế nào, tất cả bọn họ đều không có bằng chứng ngoại phạm. Ăn cơm xong, khách khứa rút về nghỉ như gấu ngủ đông. Nhìn chung 9 giờ rưỡi là ai nấy đã yên vị trong phòng riêng, lập tức thay sang áo ngủ, sau đó không trở ra nữa, lịch thiệp tuân thủ quy tắc không mặc áo ngủ đi lang thang (trừ Kanai Michio).

Quả thật, tình trạng đó không có gì là lạ trong ngôi nhà như khách sạn, với mỗi phòng một công trình phụ khép kín thế này, nhưng đối với ba viên cảnh sát xuất thân nghèo khổ thì có hơi khó hiểu, nhất là hiện giờ họ đang ở kí túc xá của cơ quan, tối xuống ngoài hành lang còn náo nhiệt hơn cả phòng riêng. Bởi thế tiếp theo, khi đến lượt Hamamoto Yoshihiko, họ bèn hỏi cậu ta về nguyên nhân.

“Theo lời cậu vừa rồi, mọi người hầu như chưa từng nói chuyện với Ueda, về đến phòng là không ra nữa, vì thế chẳng nghe thấy gì, chẳng trông thấy gì, cũng không lấy đâu ra bằng chứng ngoại phạm. Nhưng vì sao mọi người về phòng xong là không trở ra ngoài nữa?”

“Dĩ nhiên là vì tuy mọi người có mang quần áo ngủ…”

“Ừ…”

“… Nhưng áo choàng ngủ thì không.”

Nghe Yoshihiko nói, các cảnh sát tuy gật gù theo, nhưng thật ra đều chẳng hiểu gì, chỉ chắc chắn được một điều rằng, mình thực sự đang ở trong ngôi nhà của toàn những kẻ sang chảnh cả. Và, bản thân mình đến quần áo ngủ cũng không mang, thì đêm nay biết ăn ở thế nào đây?

Tiếp theo là Hamamoto Eiko, các cảnh sát lặp lại ba câu hỏi với cô.

“Tôi không có bằng chứng ngoại phạm nào cả. Nếu là sau 1 giờ đến trước 2 giờ, thì tôi, ba tôi, cô Aikura và anh Kanai đang cùng ở phòng 1. Còn từ 0 giờ đến 0 giờ rưỡi, tôi quả thật không có cách nào chứng minh mình không có mặt ở hiện trường vụ án.”

“Hừm, vậy là ngoài anh Kanai, giờ đã xuất hiện thêm một người đi ra khỏi phòng riêng. Chứng tỏ là cô có áo choàng ngủ rồi.”

“Sao cơ?”

“À, tôi nói vớ vẩn thôi. Cô có quen biết Ueda Kazuya không?”

“Gần như chưa bao giờ trò chuyện.”

“Quả nhiên, tôi nghĩ cũng phải thôi.”

“Còn câu hỏi gì nữa không ạ?”

“Cô có trông thấy hiện tượng lạ lùng nào, ‘hãy nghe thấy âm thanh đáng ngờ nào không?”

“Tôi không trông thấy.”

“Hừm, sau khi về phòng rồi, chỉ nghe thấy tiếng kêu của Aikura rồi chạy sang phòng bên cạnh một lần đó thôi hả?”

“Đúng… à không, nói cho đúng thì còn một lần nữa.”

“Bao giờ vậy?”

“Vì lạnh quá nên có một lần trong đêm tôi choàng tỉnh. Tôi mở cửa ra ngoài, định đi xem cửa ra cầu bậc thang đã đóng chặt chưa.”

“Rồi sao?”

“Quả nhiên vẫn để hé.”

“Chuyện đó có hay xảy ra không?”

“Thi thoảng. Có lúc tại bên tháp thả chưa hết xích.”

“Vậy là cô đóng chặt lại?”

“Vâng.”

“Đó là lúc mấy giờ?”

“Không nhớ nữa. Chắc là độ hai ba mươi phút trước khi nghe tiếng cô Aikura. Tôi không xem đồng hồ.”

“Nói như vậy là khoảng 0 giờ rưỡi?”

“Có lẽ vậy. Mà muộn hơn một chút cũng chưa biết chừng.”

“Cô hãy kể cụ thể tình hình lúc nghe thấy tiếng kêu của cô Aikura.”

“Đóng cửa về phòng xong, đang khi chưa ngủ lại được, tôi chợt nghe tiếng hét thảm thiết, rất rùng rợn. Tôi vội vàng lắng tai nghe ngóng, lần này thì lại thành tiếng đàn ông rú lên. Vi vậy tôi ra khỏi giường, mở cửa sổ nhìn xem.”

“Cô có trông thấy gì không?”

“Không. Trên trời có trăng, dưới đất là tuyết trắng phau, tầm nhìn rất xa, nhưng tôi không trông thấy gì lạ lùng hết. Sau đó tiếng cô Aikura lại vang lên, vậy là tôi chạy sang gõ cửa phòng 1.”

“Rồi ba cô cũng xuất hiện?”

“Vâng, tiếp theo là anh Kanai.”

“Cô cho rằng cô Aikura trông thấy cái gì?”

“Tôi cho là cô ấy nằm mơ.” Eiko khẳng định.

Tới lượt Kozaburo được mời đến. Nghe xong ba câu hỏi của Ushikoshi, ông nói ra một câu hết sức bất ngờ, “Tôi đã nói chuyện thân tình với Ueda rất nhiều lần.”

“Hả? Vì sao vậy?” Ushikoshi và Okuma cùng lộ vẻ thắc mắc.

“Vì sao là vì sao? Chẳng lẽ tôi không được phép giao thiệp với Ueda?”

“Ha ha ha, dĩ nhiên không phải là không được, nhưng người như ông Hamamoto Kozaburo đây, có đem dựng tượng đồng cũng không phải chuyện lạ, tóm lại là rất tiếng tăm, rất lừng lẫy. Bởi thế nghe đến chuyện ông giao thiệp thân tình với một lái xe, ít nhiều cũng cảm thấy kì lạ.”

“Hừ! Cảnh sát gặp nhiều biết nhiều mà nhận xét như vậy mới là kì lạ đấy. Tôi với cậu ta chuyện trò rất hợp, chắc là vì tôi từng ở trong quân ngũ. Tôi muốn hỏi Ueda về tình hình của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản hiện giờ.”

“Thì ra là thế. Nhưng, mối giao thiệp giữa hai người chỉ giới hạn ở nhà này thôi phải không?”

“Dĩ nhiên, vì chúng tôi còn dịp nào khác mà gặp nhau đâu. Thật ra cũng là tại tôi không chịu rời khỏi Lưu Băng Quán. Ngôi nhà này xây xong đã được khoảng một năm, trước đấy tôi ở Kamakura, những khi chú Kikuoka đến thăm tôi, dĩ nhiên có Ueda đi theo, lái xe mà, nhưng bấy giờ chúng tôi chưa nói chuyện gì.”

“Kikuoka và Ueda mới đến đây hồi mùa hè và lần này thôi phải không?”

“Đúng rồi.”

“Hồi mùa hè họ ở bao lâu?”

“Một tuần.”

“Thế ư?”

“Về câu hỏi thứ hai, khoảng 10 giờ rưỡi tôi về phòng, bảo tôi trưng bằng chứng ngoại phạm ra, thì tôi không có đâu.”

“10 rưỡi? Muộn ghê nhỉ!”

“Vì tôi còn nói chuyện với Eiko. À, tôi không biết có nên coi đây là bằng chứng ngoại phạm không, nhưng các anh đều biết phòng tôi ở trên tháp, ngoài cầu bậc thang kiểu ván nhảy ra, không còn cách nào để sang bên ấy cả. Mà cái cầu bậc thang này, khi nâng lên hạ xuống đều kêu ầm ầm vang khắp cả nhà, bây giờ lại đang mùa đông, không thể nào hạ xuống bỏ đó không đóng được, sẽ làm nhà chính đóng băng mất. vì thế sau một lượt lên và xuống ầm ầm vào buổi tối hôm trước thì mãi sáng hôm sau mới thêm một lượt lên xuống nữa, đủ chứng minh là tôi không rời tháp lấy một bước.”

“Chúng tôi hiểu rồi. Dĩ nhiên chúng tôi không thể nghi ngờ ông. Người có địa vị và tiếng tăm như ông đây chẳng có lý do gì đi giết một lái xe nhỏ nhoi để phải thân bại danh liệt. Sáng sớm hôm nay, mấy giờ thì ông hạ cầu bậc thang xuống?”

“Khoảng 8 giờ rưỡi. Nếu dậy sớm quá thì sẽ đánh thức con gái tôi, nó sẽ cằn nhằn cho. Nhưng, cứ thế mà suy thì chắc hung thủ không ở trong nhà này đâu.”

“Vậy thì chỉ có thể phán đoán là cậu Ueda tự sát. Nhưng theo kinh nghiệm của tôi, trông tình trạng chết khó mà kết luận là tự sát. Và đã không phải tự sát thì, xin lỗi ông, hung thủ nhất định ở trong nhà này.”

“Rõ ràng là không có mà.”

“Chưa biết đâu. Ở Tokyo đang bắt đầu hành động rồi, nói không chừng thì sẽ tra ra một động cơ sâu kín đấy. À, tiếng động của cầu bậc thang khi lên xuống ấy, ai ở đây cũng đều nghe thấy phải không nhỉ?”

“Chắc thế, vì ầm ĩ lắm. Nhưng các phòng dưới tầng ngầm có nghe thấy không thì tôi không rõ. Xét theo tiêu chí yên tĩnh, phòng 14 của chú Kikuoka là phòng hảo hạng. Còn người trong phòng 1, 2, nếu chưa ngủ, chắc chắn sẽ nghe thấy rất rõ ràng.”

“Câu hỏi thứ ba thì sao?”

“Ý anh là câu có thấy ai hành động khả nghi không ấy hả? Phòng tôi ở trên đỉnh tháp, hoàn toàn tách biệt với mọi người, thực sự không thể biết được. Tôi chỉ nghe thấy tiếng rú thảm thiết của đàn ông và tiếng hét chói tai của cô Aikura, ngoài ra không nghe thấy cũng không nhìn thấy điểm nào khả nghi hết.”

“Hừm, về cảnh tượng mà cô Aikura trông thấy, ông cho rằng đó là gì?”

“Thú thật là tôi chịu chết. Tôi chỉ có thể đoán rằng cô ấy đã gặp ác mộng.”

“Nhưng ông nghe thấy tiếng đàn ông rú lên mà hả?”

“Tôi nghe thấy. Nhưng vì hơi nhỏ, tôi còn tưởng là ở làng xóm đằng xa có tên say rượu đang la lối om sòm cơ.”

“Thế ư? Còn nữa, tại sao phải đem cái thứ ở phòng 3 bên cạnh… gọi là cái gì ấy nhỉ?”

“Golem à?”

“Đúng rồi. Tại sao hung thủ lại phải mang Golem đi?”

“Tôi biết đâu được. Nhưng thằng nhóc ở ngay bên cửa sổ, có lẽ là tiện tay dễ lấy.”

“Nếu muốn giày vò ông, thì ăn cắp hình nộm là một cách hay phải không?”

“Cũng không hẳn. Vì còn có thứ nhỏ gọn hơn, quý giá hơn và được tôi yêu thích hơn. Vả lại, nếu mục đích của thủ phạm chỉ là làm tôi đau đớn thì hắn không dừng ở việc tháo rời Golem đâu, hắn phải hủy hoại nó mới đúng, và ra tay ngay trong phòng số 3 là được rồi, vác ra ngoài làm gì cho phiền.”

“Golem không quý giá ư?”

“Bình thường thôi. Tôi rước về do nổi hứng bất chợt.”

“Vì sao lại gọi là Golem?”

“Do ông chủ tiệm hình nộm ở Prague gọi thế. Golem là biệt hiệu của nó. Xoay quanh Golem còn có một sự tích kì lạ nữa, nhưng mà kể với cảnh sát thì cũng chẳng để làm gì.”

“Sự tích thế nào?”

“Nghe đồn nó có thể tự đi đến chỗ có nước.”

“Sao thế được?”

“Ha ha ha, tôi cũng không tin. Châu Âu thời Trung cổ chẳng thiếu gì những truyền thuyết khó lường.”

“Hình nộm thường khiến người ta mất tự nhiên. Vì sao ông lại mua nó?”

“Nên nói sao nhỉ?… Chỉ biết là tôi đặc biệt hứng thú với các mô hình kì lạ, hình nộm cũng nằm trong số đó.”

“À, ngôi nhà này cũng kì lạ nữa. Tôi vẫn định hỏi ông một chuyện, cầu thang, rồi cả hành lang các tầng, đều làm bằng kim loại à? Tay vịn cũng bằng kim loại luôn. Ngoài ra, tầng nào cũng bị hở hai đầu hành lang, hình chữ L không khít vào tường, rồi lại lắp thêm lan can. Tóm lại vì lý do nào mà làm thành như vậy?”

“À, sự tồn tại của các khe hở đơn thuần là do ‘sơ suất’. Năm kia các tấm sắt nền gửi tới không khớp với kích thước trên bản vẽ. Cậu kiến trúc sư trẻ tuổi đã định bắt làm lại, nhưng tôi bảo cũng chẳng sao, thế mà lại hóa hay, vì trông như hành lang treo, lơ lửng giữa trời. Nhưng để đảm bảo an toàn, tôi nhờ cậu ta lắp thêm lan can. Không hiểu vì sao tôi rất thích kiểu không gian gai góc thâm trầm như thế, cầu thang và lối đi đều làm bằng sắt thép, trông thô ráp lại gắn thêm khung lan can, cầu thang thì dốc, còn gỉ nữa. Chắc là tại ảnh hưởng của tranh khắc đồng của họa sĩ Ý Giovanni Battista Piranesi mà tôi yêu thích từ hồi đi học. Ông ta là một họa sĩ theo đuổi chủ đề nhà tù, trong số di sản để lại có rất nhiều tranh khắc đồng tù ngục âm u. Trần nhà của các tầng lầu cao ngất nghểu, thang bộ bằng sắt đen, ngọn tháp chót vót, hành lang chơi vơi, cầu bậc thang kiểu ván nhảy… đều là những hình ảnh thường xuất hiện trong tranh của ông ấy. Bấy giờ tôi rất muốn xây dựng Lưu Băng Quán sao cho đem lại được cảm giác tương tự. Tôi gần như muốn đặt tên ngôi nhà là Piranesi nữa kìa.”

Nhắc đến chủ đề ưa thích, giọng Kozaburo sôi nổi hẳn lên.

“Ha ha, tôi hiểu rồi.” Ushikoshi nói.

Đến lượt những người giúp việc.

Kajiwara Haruo là một người đàn ông chỉ hứng thú với nấu ăn và nằm trong phòng xem ti vi, chưa bao giờ nói câu nào với Ueda, tối qua không nhìn thấy gì khác thường đáng ngại.

Hayakawa Chikako cũng thế.

Chỉ Kohei là gây ấn tượng khác biệt. Ông ta tầm ngũ tuần, nhưng bộ dạng co ro lọm khọm, trông già hơn tuổi nhiều.

Do câu trả lời của Hayakawa Kohei chặt chẽ như chính trị gia, nói ra mà như muốn cho người ta biết điều mình nói không phải sự thật, nên cảnh sát lập tức cảm thấy ông ta có điều giấu giếm.

“Vậy là ông chưa nói chuyện với Ueda lần nào, sau 10 giờ rưỡi về phòng thì không ra ngoài nữa, vì thế không có bằng chứng ngoại phạm, cũng không trông thấy điều gì đáng ngờ. Ý của ông là như vậy phải không?” Ozaki cao giọng. Câu trả lời của những người trước quá đơn điệu, các cảnh sát bắt đầu sốt ruột.

Kohei sợ sệt cúi đầu. Ushikoshi vốn giàu kinh nghiệm, cảm nhận được rằng chỉ cần tăng sức ép thì người này sẽ buột ra điều gì đó. Gió bên ngoài càng thêm riết róng, hình như đã bắt đầu nổi bão tuyết.

Ushikoshi và Ozaki nghiền ngẫm xem trong ba câu trả lời của Kohei, câu nào là giả. Nếu đoán trúng thì có thể thừa thắng xông lên. Nhưng nếu đoán sai, có khi người đàn ông này sẽ hạ quyết tâm chết cũng không khai.

“Chúng tôi sẽ không tiết lộ cho ai biết những điều anh nói đâu.” Ushikoshi quyết định đánh cược. “Tối hôm qua anh có trông thấy cái gì đó bất thường phải không?”

Khuôn mặt già nua tức thì ngẩng phắt lên, “Không trông thấy gì hết.” Rồi mặc kệ cảnh sát hỏi han khai thác ra sao, ông ta cũng không đưa ra bất cứ câu trả lời cụ thể nào nữa. Xem ra mình đã phán đoán sai rồi, Ushikoshi chua chát đổi câu hỏi, “Vậy thì, anh Hayakawa, theo anh có khả năng là người ngoài đột nhập vào nhà đêm qua không?”

“Không thể nào. Cửa sau nhà bếp có Kajiwara giữ, cửa trước lắp kính dẫn vào phòng sinh hoạt chung thì ở ngay bên cạnh khách khứa, cửa lớn cửa sổ của tiền sảnh và các chỗ khác, ngày nào cũng khóa kĩ từ lúc chập tối rồi.”

“Cửa sổ phòng tắm thì sao?”

“Khóa cả ngày, lại còn có rào sắt nữa.”

“Ừ, nhưng chắc anh không quản lý đến cả cửa nẻo của các phòng khách chứ?”

“Các phòng khách thì mỗi lần có người đến nghỉ, chúng tôi đều không được phép lui tới, trừ phi bọn họ yêu cầu. Bù lại cô chủ luôn dặn khách khứa đóng khóa cẩn thận.”

“Hử, thế ư?” Ushikoshi nói.

Thật ra, hỏi về việc khóa cửa là câu hỏi thừa.

Giả sử có ai đó bên ngoài, vì muốn giết Ueda mà đột nhập Lưu Băng Quán thì đúng là mua việc vào thân. Phòng 10, căn phòng mục tiêu của hắn, có cửa lớn trổ ra sân, thừa sức đi thẳng từ ngoài vào, không cần cất công vào tận trong nhà làm gì.

Ngoài ra cũng cần xác nhận lại xem hôm qua lúc chập tối, Golem có còn ở phòng 3 không. Chắc phải đi hỏi Hamamoto Kozaburo cho chắc, viên cảnh sát nghĩ.

“Cảm ơn anh.” Ushikoshi nói xong thì cho Kohei ra.

“Bão tuyết nổi lên kìa.” Ozaki nhìn ra ngoài cửa sổ tối đen. “Xem chừng tối nay tuyết rơi ồ ạt đây, chúng ta không về được rồi.”

“Gió tuyết cũng đang muốn nói, tối nay không để chúng ta về.” Okuma buông câu đùa nhạt nhẽo.

“Dĩ nhiên, chúng ta cũng có dự định ấy.” Ushikoshi lơ đãng lẩm bẩm, đầu óc thầm điểm lại quá trình thẩm vấn vô ích. Những gì họ gặt hái được chỉ là: Kazuya không đủ giá trị để người ta lên kế hoạch giết; lúc 0 giờ rưỡi hoặc 0 giờ 40 phút, trên quãng đường đi về cầu bậc thang, Eiko không bắt gặp sự việc gì khác lạ, chứng tỏ không có ai loanh quanh khu vực phòng 1, 2; ngoài ra từ lúc 1 giờ 15 phút đến 1 giờ 55 phút Michio có đi qua phòng sinh hoạt chung để lên phòng 1 rồi lại đi qua phòng sinh hoạt chung để trở lại phòng 9, tuyệt nhiên không trông thấy ai đáng ngờ, suy ra lúc ấy hung thủ đã giết người xong và trở về phòng rồi. Có lẽ là hắn nghe tiếng bước chân, bèn vội vàng nấp vào đâu đấy chăng?

“Anh Ushikoshi, không biết sau đây còn xảy ra những chuyện gì nữa. Em nghĩ nên huy động thêm một thanh niên đến, đêm nay cùng trực với chúng ta, chưa chừng sẽ bắt được hung thủ đấy.”

Thế được thì lại tốt quá, Ushikoshi thầm nghĩ.

“Phòng Cảnh sát chúng tôi có một tên ngốc sức dài vai rộng, vừa may tối nay cậu ấy trực ban. Tôi gọi đến nhé.” Okuma tham gia.

“Cũng được, nếu anh cho rằng như thế là hay, vậy thì làm như thế đi.”

“Cá nhân tôi cho rằng như thế là hay, vậy thì làm như thế vậy.”


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 5 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
[Cổ đại - Trùng sinh] Đích trưởng nữ - Hạ Nhật Phấn Mạt

1 ... 87, 88, 89

2 • [Cổ đại - Trùng sinh] Thừa tướng yêu nghiệt sủng thê - Sương Nhiễm Tuyết Y

1 ... 94, 95, 96

[Xuyên không] Khuynh thế tuyệt sủng tiểu hồ phi - Thanh Canh Điểu

1 ... 62, 63, 64

4 • [Hiện đại] Ông xã cầm thú không đáng tin - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 73, 74, 75

5 • [Hiện đại] Tổng tài đừng tới đây! - Ăn quái thú

1 ... 40, 41, 42

[Hiện đại] Hào môn thịnh sủng bảo bối thật xin lỗi - Hạ San Hô

1 ... 49, 50, 51

7 • [Cổ đại] Sư phụ quá mê người đồ đệ phạm thượng! - Khinh Ca Mạn

1 ... 66, 67, 68

8 • [Hiện đại - Trùng sinh] Sống lại sinh em bé - Sâm Trung Nhất Tiểu Yêu

1 ... 15, 16, 17

9 • [Xuyên không] Cuộc sống điền viên của Tình Nhi - Ngàn Năm Thư Nhất Đồng

1 ... 180, 181, 182

10 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 192, 193, 194

11 • [Xuyên không - Xuyên sách] Vật hi sinh nữ phụ nuôi con hằng ngày - Danh Đường Đa Tiểu Tỷ

1 ... 8, 9, 10

12 • [Hiện đại - Trùng sinh] Đêm trước ly hôn - Thiên Sơn Hồng Diệp

1 ... 31, 32, 33

13 • [Hiện đại] Vợ cũ quay lại Tổng tài biết sai - Vô Danh

1 ... 181, 182, 183

14 • [Xuyên không - Cung đấu] Thế nào là hiền thê - Nguyệt Hạ Điệp Ảnh

1 ... 41, 42, 43

15 • [Hiện đại] Người tình của tổng giám đốc đài truyền hình - Cơ Thủy Linh

1 ... 20, 21, 22

16 • [Hiện đại] Cục cưng càn rỡ Tổng giám đốc dám cướp mẹ của tôi - Tả Nhi Thiển

1 ... 99, 100, 101

17 • [Hiện đại] Người tình hợp đồng của tổng giám đốc bạc tình - Hải Diệp

1 ... 113, 114, 115

18 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 244, 245, 246

19 • [Xuyên không - Dị giới] Thiên tài triệu hồi sư - Nhược Tuyết Tam Thiên

1 ... 179, 180, 181

20 • [Xuyên không - Dị thế] Thiên tài cuồng phi - Băng Y Khả Khả

1 ... 84, 85, 86



Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 398 điểm để mua Hoa hồng xám
Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 299 điểm để mua Nước hoa
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 781 điểm để mua Mèo đen lau nhà
Shop - Đấu giá: Snow cầm thú HD vừa đặt giá 742 điểm để mua Mèo đen lau nhà
Shop - Đấu giá: tiểu an nhi vừa đặt giá 242 điểm để mua Hoa cúc trắng
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 246 điểm để mua Xe hơi
Shop - Đấu giá: Mai Tuyết Vân vừa đặt giá 242 điểm để mua Cây bí halloween
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 705 điểm để mua Mèo đen lau nhà
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 250 điểm để mua Mề đay đá Citrine 4
Shop - Đấu giá: Snow cầm thú HD vừa đặt giá 670 điểm để mua Mèo đen lau nhà
Shop - Đấu giá: Mai Tuyết Vân vừa đặt giá 352 điểm để mua Happy day
Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 465 điểm để mua Ngôi sao đen
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 334 điểm để mua Hổ trắng
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 300 điểm để mua Giấy chứng nhận kết hôn
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 637 điểm để mua Mèo đen lau nhà
Shop - Đấu giá: Snow cầm thú HD vừa đặt giá 605 điểm để mua Mèo đen lau nhà
Shop - Đấu giá: Mai Tuyết Vân vừa đặt giá 344 điểm để mua Cô bé cưỡi châu
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 575 điểm để mua Mèo đen lau nhà
Shop - Đấu giá: Snow cầm thú HD vừa đặt giá 546 điểm để mua Mèo đen lau nhà
Shop - Đấu giá: ღ_kaylee_ღ vừa đặt giá 582 điểm để mua Tiên nữ
Shop - Đấu giá: ღ_kaylee_ღ vừa đặt giá 658 điểm để mua Hộp quà Hamster
Shop - Đấu giá: |Thủy Nhi| vừa đặt giá 349 điểm để mua Thiên thần
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 519 điểm để mua Mèo đen lau nhà
Shop - Đấu giá: Snow cầm thú HD vừa đặt giá 493 điểm để mua Mèo đen lau nhà
Shop - Đấu giá: White Silk-Hazye vừa đặt giá 250 điểm để mua Ice Cream
Shop - Đấu giá: |Thủy Nhi| vừa đặt giá 250 điểm để mua Bé mua sắm
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 468 điểm để mua Mèo đen lau nhà
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 444 điểm để mua Mèo đen lau nhà
Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 300 điểm để mua Bánh trung thu xanh
Shop - Đấu giá: |Thủy Nhi| vừa đặt giá 346 điểm để mua Nữ hoàng 2

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.