Diễn đàn Lê Quý Đôn


Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 6 bài ] 

Năm Người Đàn Bà Si Tình - Ihara Saikaku

 
Có bài mới 19.08.2018, 15:22
Hình đại diện của thành viên
☆~ Số 15 ca ~☆
☆~ Số 15 ca ~☆
 
Ngày tham gia: 14.10.2015, 23:36
Bài viết: 2962
Được thanks: 2075 lần
Điểm: 7.53
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Văn học Nhật - Tập truyện ngắn] Năm Người Đàn Bà Si Tình - Ihara Saikaku - Điểm: 10
Chuyện về vị phu nhân đa tình

Cuộc tranh luận về mỹ nhân
Kinh đô, có vị phu nhân của viên quan làm lịch[9] mà tên tuổi được nhắc đi nhắc lại trong nhiều chuyện tình tai tiếng. Nhan sắc nàng tuyệt vời: khuôn mặt như nụ hoa đào sắp nở, làn môi mượt mà như lá cây phong mùa thu. Nàng sống ở Muro-machi-dori, khu quý tộc sang trọng, nơi có những phụ nữ đua đòi nhất Kinh đô.

Lúc đó vào cuối xuân, hoa tử đinh hương phủ cả một làn mây tím ngát lên khắp vùng Yasui. Người ta vui đùa đi hội ở Higashi-yama đông như nêm cối. Ở kinh thành có một nhóm bốn chàng công tử không bao giờ rời nhau, được mọi người biết đến nhiều, nhờ có dáng vẻ khôi ngô và cuộc sống phóng đãng xa hoa. Vì có tài sản lớn lao của cha ông để lại nên quanh năm họ chỉ biết vui thú trụy hoan. Suốt đêm cho đến tận sáng, họ có thể vui thú ở chốn Bình khang này, rồi đến ngày hôm sau lại đến truy hoan ở chốn Thanh lâu nọ. Ngày cũng như đêm, nữ cũng như nam, đều lấy lạc thú làm vui ở đời của họ.

Một tối, sau khi vãn hát, họ quây quần nơi một trà thất, một chàng nhận xét: “Đệ chưa bao giờ gặp được nhiều thiếu nữ ưa nhìn như ngày hôm nay. Chư huynh có nghĩ rằng tối nay chúng ta còn có thể gặp những cô nương khác cũng yêu kiều diễm lệ như vậy không?”

Ba chàng kia bảo là có thể và họ quyết định ngồi quan sát các mỹ nữ trong đám người đi xem hoa tử đinh hương nở, bây giờ đang lục tục trở về nhà. Họ bầu một người đầu nhóm và cuộc tranh luận về mỹ nhân bắt đầu.

Thoạt tiên họ thất vọng vì mấy cô gái đi ngang qua đều ngồi trong xe nên khuất mặt. Rồi đến một đám thiếu nữ nhún nhảy đi qua. “Không tệ, không tệ lắm!” – Họ bảo, nhưng không cô gái nào trong đám đó thỏa mãn tiêu chuẩn của họ. Bút mực được đem ra sẵn trên bàn để ghi lại danh sách các mỹ nhân đi ngang, họ thống nhất với nhau, chỉ ghi tên cô gái được công nhận là đẹp nhất.

Một người phụ nữ trạc hăm ba, hăm bốn đi ngang qua, sắc đẹp hiếm có, cặp mắt tinh anh, chiếc cổ thon thả yêu kiều. Sống mũi quả có hơi cao một tí, nhưng điều này có thể dung thứ được. Bên trong, nàng mang bộ đồ lụa trắng, ngoài là lớp lụa màu xanh, toàn thứ đắt tiền, sang trọng. Khăn cột theo kiểu ca nhi, bít tất màu nhạt cũng bằng lụa. Nàng bước đi uyển chuyển nhịp nhàng, hông lắc lư một cách rất tự nhiên.

Một trong mấy chàng trai kêu lên: “Ôi, thật đáng giá ngàn vàng!,” nhưng lời nói chưa kịp thốt ra hết thì vị phu nhân quay đầu lại nói điều gì đó với người theo hầu, vừa hé môi ra đã lộ chiếc răng sún, làm cho bốn chàng tan hết cả ảo mộng.

Theo sau nàng là một cô gái độ mười lăm, mười sáu. Bên trái cô là một phụ nữ – có lẽ là mẹ cô – còn bên phải là một ni cô áo nâu sồng. Có nhiều đầy tớ trai, gái theo hộ tống. Thoạt mới nhìn thì tưởng như cô gái sắp lấy chồng, nhưng nhìn kỹ lại thì hẳn đây là một phụ nữ đã có chồng. Nàng ta rất đẹp: mặt tròn, mắt sáng, da trắng như ngà. Y trang thì sang trọng thanh nhã, bên trong thì áo lụa nền vàng điểm chấm tím, ngoài thì lụa sa-tanh xám thêu hình chim chóc, chiếc khăn màu hoàng yến càng tôn thêm vẻ yêu kiều. Nhưng dưới chiếc nón đẹp, họ bỗng chú ý thấy một vết sẹo dài một bên gò má. Hẳn không phải mới sinh ra nàng đã bị như vậy. Bốn chàng phóng đãng cười ồ, một chàng nhận xét: “Chắc nàng ta phải hận bà vú nuôi vì lơ đễnh mà làm nàng mang sẹo!”

Một cô gái khác, trạc độ hăm mươi, mặc một bộ áo vải bông tự dệt lấy, tà rách tả tơi tung bay theo gió xuân. Khăn choàng thì lấy từ một chiếc áo cũ cắt ra trông rất tội nghiệp, tất sờn, dép rơm thô sơ, làn tóc bù rối như thể từ lâu rồi không có một cái lược nào chải qua.

Dầu nghèo nàn, không chưng diện, nhưng trông nàng lại rất vui tươi và càng nhìn kỹ khuôn mặt không son phấn, các chàng trai lại càng thấy quyến rũ.

“Các huynh có bao giờ thấy một vẻ đẹp tự nhiên như vậy chưa?”

“Nếu có y trang đẹp đẽ, điểm tô son phấn, cô gái này hẳn hút hồn nhiều chàng trai nhỉ? Tiếc thay, nàng phải sinh ra trong gia cảnh nghèo hèn.”

Họ thấy thương tiếc nàng hết nỗi, và một chàng đã theo gót nàng về nhà, trở lại báo: “Đó là vợ của người xắt thuốc lá ở cuối chợ.” Thật tiếc, lại một hy vọng nữa tan thành mây khói.

Rồi một phụ nữ trạc hăm sáu, hăm bảy đi qua, áo ba lớp tà bằng lụa đen viền đỏ thắm, khăn bằng lụa quý dệt từ Trung Hoa, tóc bới cao sang trọng, dáng đi kiêu kỳ, thanh thoát. Mọi người nhao nhao.

“Chính là mỹ nhân đây rồi, không sai vào đâu được nữa.”

“Yên lặng nào, để xem cho kỹ đã nào.”

Khi nàng lại gần, họ thấy theo sau có ba người hầu, mỗi người ẵm một đứa bé.

“Hẳn ba năm ba đứa.”

Đằng sau nàng, mấy đứa trẻ kêu la om sòm: “Má ơi, má!,” trong khi thiếu phụ vẫn ngẩng cao đầu bước đi, giả vờ không nghe tiếng chúng.

“Chắc con nàng, nhưng nàng không muốn người ta biết. Sinh đẻ nhiều làm gì nhan sắc chẳng chóng tàn phai, miệng đời nói có bao giờ sai đâu.” Các chàng cười lớn chế nhạo, khiến người thiếu phụ uất lên đến chết được.

Cuối cùng, trên một chiếc cáng sang trọng, xuất hiện một người con gái trạc mười ba, tóc chải mượt, phía trước chải rẽ như một cậu con trai. Khuôn mặt nàng đẹp tuyệt trần. Mặc áo lụa đen, tay cầm một bó tử đinh hương giơ cao lên, càng làm tôn nhan sắc nàng.

Nhìn thật kỹ, các chàng trai thấy rõ hiển nhiên đây là đệ nhất mỹ nhân mà họ gặp trong ngày hôm nay.

“Cô nương diễm lệ kia quý danh là gì thế nhỉ?” Một chàng tiến lại gần, lễ phép hỏi một người theo hầu.

“Đó là tiểu thư Muro-machi. Người ta gọi tiểu thư là Tân-Komachi[10] đấy.”

Phải, nàng quả là một đóa hoa. Chỉ về sau người ta mới hiểu ra rằng biết bao tai ương ẩn giấu dưới sắc đẹp yêu kiều ấy.

Kẻ ngủ nhầm chỗ
Đời sống của người độc thân cũng có chỗ quyến rũ, nhưng đàn ông mà đêm đêm nằm một mình thì cũng cô đơn lắm. Có một viên daikyoji sống như thế trong nhiều năm. Không thiếu phụ nữ tài sắc ở Kinh đô này, nhưng vì ông quyết tâm tìm cho được một người đàn bà đẹp ngoại hạng, mà điều đó đâu có dễ dàng gì, cho nên ông vẫn ở không. Cuối cùng, thấy sống đơn độc buồn bã quá ông mới nhờ kẻ quyến thuộc tìm cho ông một người vừa ý, và họ đã thu xếp để ông gặp người con gái mà thiên hạ gọi là Tân-Komachi, chính là người đẹp cầm bó hoa tử đinh hương mà bốn chàng phóng đãng đã gặp trong khi đang tranh luận ai là mỹ nhân của buổi chiều xuân hôm ấy.

Gặp nàng, viên quan say đắm ngay và không chần chờ gì nữa, lo thu xếp việc cưới xin. Osan – nàng Tân-Komachi – được đón về nhà mới.

Say đắm vợ và miệt mài trong việc gối chăn, viên quan làm lịch chẳng còn biết đến thứ gì khác, chẳng biết đến những đêm mùa xuân ngát hương đồng nội hay ánh trăng non mùa thu. Trong suốt ba năm liền, ngày đêm Osan chu toàn trách vụ của một người vợ hiền, siêng năng dệt cửi, coi sóc kẻ ăn người làm trong nhà, chăm chút cách ăn mặc của chồng, cần kiệm vun vén tài sản gia đình. Quả nàng là người đàn bà mà ai cũng muốn lấy làm vợ.

Công việc đang đến hồi phát đạt thì một hôm chồng có việc phải đến Edo. Chia tay thì buồn nhưng biết làm sao được. Từ giã vợ xong, viên quan làm lịch bèn ghé đến thăm cha Osan ở Muno-machi để báo cho nhạc phụ biết chuyến đi của mình. Phụ thân Osan rất lo lắng cho tình trạng sức khỏe của con gái khi chồng nàng đi vắng, giao hết công việc coi sóc ở nhà cho nàng. Ông bèn nghĩ đến việc kiếm một người tháo vát đến phụ giúp cho Osan trong công việc quản lý. Ông chọn Moemon – một chàng trẻ tuổi – đã phục vụ trung thành cho ông trong nhiều năm, gửi đến nhà con rể.

Chàng Moemon này là một chàng trai chân thật, chất phác và thanh đạm. Anh cần kiệm đến nỗi ăn mặc cẩu thả, áo ngắn quá khuỷu tay. Trán thì hẹp, tóc bù xù và anh thì chẳng bao giờ dám bỏ tiền ra mua một chiếc nón để che đầu. Anh đi ra ngoài chẳng mang gươm và ngủ thì gối đầu lên cái bàn tính. Chẳng hiểu ngủ như thế anh có nằm mơ thấy giàu sang phú quý hay không.

Lúc đó vào mùa thu, Moemon bị một trận mưa làm cảm lạnh và anh chữa trị bằng mogusa – dùng một loại cỏ đặt lên trên da rồi đốt cỏ đó để chữa bệnh. Anh mời người tớ gái tên là Rin vốn thạo cách điều trị này đến chữa cho anh. Cô vê cỏ bông thành những viên nhỏ bảo Moemon cởi áo nằm dài trên bàn, đặt những viên cỏ lên người anh rồi bắt đầu đốt.

Mới nhát đầu mà anh đã đau đớn chịu không nổi. Phu nhân Osan cùng các người hầu gái vây quanh xem thấy thú vị. Đột nhiên, một tàn bông cỏ bung ra cháy dọc theo xương sống anh, khiến bắp thịt anh giật giật và người co quắp lại nhưng thấy phu nhân và đám con gái đang vây quanh chỉ trỏ, anh cắn răng, nhắm mắt chịu đựng cơn đau, không kêu một tiếng.

Rin thấy tội nghiệp anh, nhấc lửa ra và xoa bóp cho anh đỡ đau. Rin có biết đâu sự đụng chạm vào thân thể Moemon khiến nàng bỗng thấy thèm muốn chàng trai. Thoạt đầu cô cố che giấu cảm xúc đó nhưng rồi mọi người cũng thấy và tiếng xì xào lọt đến tai phu nhân.

Không chịu đựng nỗi giày vò ham muốn Moemon, Rin cố tìm cách liên lạc với anh, nhưng cô thất học, không sao viết nổi lá thư, cô định nhờ một anh đầy tớ khác là Kynobichi viết hộ cô, nhưng cái anh đầy tớ ma mãnh này chỉ toan lợi dụng cơ hội đó để chiếm đoạt cô.

Những ngày dài trôi qua trong cơn mưa rả rích, trong ánh hoàng hôn vàng vọt, mùa thu là mùa của hoàng hôn thầm lén, vụng trộm. Ngày nọ, sau khi viết thư cho chồng ở Edo xong, Osan vui vẻ tự nguyện viết hộ lá thư tình cho Rin. Nàng vung tay hạ bút viết nên những lời yêu thương dịu ngọt, xong, đề gửi ông Moemon, của một người yêu ông, rồi vui vẻ trao lá thư cho Rin.

Rin rất mừng, tìm dịp trao lá thư. Gặp lúc vắng người, cô đưa lá thư cho Moemon.

Moemon xem thư, cũng không để ý là nét chữ của phu nhân, chỉ đơn giản xem Rin là một cô gái bạo dạn dễ chinh phục. Anh viết lại một lá thư lời lẽ xỏ lá cho Rin, và tất nhiên cô này không đọc được, đem lên nhờ phu nhân đọc hộ.

“Trả lời bức thư bất ngờ của cô ngỏ bày tình cảm với tôi, tôi cũng xin thú thật rằng, vì tôi còn trẻ nên những đề nghị như vậy cũng không làm tôi khó chịu gì đâu. Có điều, tôi phải nhắc cô rằng những cuộc gặp gỡ mà cô đề nghị có thể sinh ra những phức tạp, có khi phải phiền đến các bà mụ đấy. Nhưng nếu cô sẵn sàng chịu hết tất cả phí tổn do hậu quả của cuộc tình mang lại thì tôi tiếc gì mà không làm hết năng lực của tôi chứ.”

Đọc hết thư cho Rin nghe, Osan kêu lên phẫn nộ: “Gã này quả thật trơ tráo. Thế giới này đâu thiếu đàn ông và Rin cũng đâu phải hạng ma chê quỷ hờn gì. Thứ đàn ông hạng Moemon, lúc nào mà chẳng có.”

Vì giận, nàng quyết giúp Rin chinh phục cho được Moemon, bắt gã làm nô lệ tình yêu cho cô ta. Nàng viết rất nhiều lá thư thương tâm, mời gọi, lay chuyển Moemon từ thương hại qua ham muốn. Cuối cùng, bỏ giọng xấc xược trong lá thư trước, Moemon hồi âm, hẹn đêm mười bốn tháng Năm, theo tập tục mọi người thức chờ trăng tròn, anh sẽ đến gặp cô.

Kế hoạch của Osan là nàng sẽ thay thế Rin đêm đó, nàng mặc áo vải mùa hạ mỏng manh, nằm trên giường của Rin. Nàng cũng sắp đặt sẵn mấy người hầu gái cầm đèn và gậy gộc, khi nghe nàng kêu thì chạy đến ngay.

Mọi thứ đều sẵn sàng vào thời điểm đã ước định, nhưng Osan bỗng buồn ngủ quá và ngủ thiếp lúc nào không hay, còn đám nữ tỳ, suốt buổi chiều bận rộn nên mệt nhoài, chẳng bao lâu cũng ngáy khò khò.

Khoảng canh một, Moemon – chỉ mang một bộ đồ lót mỏng manh – theo bóng tối mò đến. Rồi anh trần truồng leo lên giường, tim rộn rã nhưng miệng lặng câm. Khi đã thỏa, anh ngửi thấy mùi thơm thoang thoảng ngọt ngào từ xiêm y của người phụ nữ. Anh nhổm dậy nhón bước đi ra.

“Hóa ra, cô nàng đã biết đời hơn mình tưởng. Mình tưởng cô nàng còn ngây thơ, chưa biết đàn ông, té ra đã có người trước mình rồi?” – Anh tự nhủ – “Mình phải bỏ cuộc thôi.”

Lát sau, Osan thức giấc. Nàng ngạc nhiên thấy chăn nghiêng gối lệch, xiêm y hở hang, nhàu nát. Nàng hiểu ra, hổ thẹn vô cùng. Tự nghĩ: “Không có cách gì che giấu ai được. Từ nay, mình phải từ bỏ thân phận, liều thân, hủy hoại danh tiếng. Mình phải chọn Moemon làm bạn đường đời cho đến chết.”

Nàng gặp Moemon, thổ lộ hết sự tình và Moemon, mặc dù đêm qua mới tự hứa là sẽ bỏ cuộc, giờ thấy lòng bắt đầu rung động. Anh bèn đêm đêm lén gặp nàng, bất cần miệng tiếng thế gian. Thế là, đôi tình nhân bắt đầu chơi trò chơi sinh tử – trò chơi nguy hiểm nhất trong tất cả các trò chơi.

Trầm mình trong hồ nước
Chẳng bao giờ lý luận được gì với tình yêu. Thế là, giữa đám người đông đúc đi hành hương, xiêm áo rực rỡ, Osan và Moemon cũng cùng đi. Số phận họ thật như những đóa hoa: Chẳng ai biết bao giờ sẽ rụng. Cũng chẳng ai biết liệu họ có còn thấy lại được cảnh hồ Biwa nước xanh ngắt như lần này nữa hay không.

Họ thuê chiếc thuyền nhỏ đi dạo trên hồ, lấy sóng làm gối, cùng ước ao tình họ sẽ dài như chiếc Đại kiều bắc ngang qua thành phố, dầu cho hoan lạc của họ có thể ngắn ngủi đi nữa. Trong tiếng cười, niềm vui, thỉnh thoảng là bóng tối trong ánh mắt Osan. Bởi tình họ hiểm nghèo như đi qua vực sâu muôn trượng. Tim họ bỗng nhảy dựng lên. Bỗng nhiên bên bờ hồ có tiếng ai gọi thuyền: Họ tưởng có người từ Kinh đô theo truy nã.

Dầu cho đang sống nhưng họ cảm thấy chung cục của mình có thể tính từng ngày. Thế là họ nhỏ lệ rồi đưa tay áo quệt nước mắt, họ đến cung điện Shiga – xưa là thủ đô, giờ chỉ còn là chứng tích của một thời đã qua – rồi khi ánh đèn lồng được thắp lên, họ lâm râm cầu Trời khấn Phật, nhưng càng cầu họ càng buồn hơn bao giờ hết, ý thức được số phận mong manh của mình.

Osan bảo: “Dầu sao sống lâu thì chỉ khổ nhiều mà thôi. Thôi chúng ta hãy trầm mình xuống hồ để cùng nhau sống mãi ở cõi Tịnh độ còn hơn.”

Nhưng Moemon, dầu thấy đời sống này thật khổ nhọc, cũng không dám chắc là có đời sau hay không. Anh bèn bảo: “Ta nghĩ có thể tìm ra lối thoát. Mình hãy gửi thư về Kinh đô, bảo rằng hai ta sẽ trầm mình tại hồ này. Rồi chúng ta trốn xa khỏi đây, đến nơi nào nàng muốn, và chúng ta sẽ sống hết đời tại đó.”

Nàng nghe thế, mừng rỡ vô cùng, “Khi rời nhà, em cũng đã có ý định như thế. Vì vậy, em mới mang theo năm trăm đồng tiền vàng trong nải đây.”

Với chừng đó tiền, đủ để bắt đầu một cuộc đời mới. Họ bèn thận trọng viết thư cho nhiều người quyến thuộc ở Kinh đô, bảo: “Bị quỷ nhập, hai chúng tôi đã phạm tội yêu nhau nên không thể tránh khỏi bị Trời Phật trừng phạt. Trên đời này không còn chỗ dung thân, cho nên hôm nay chúng tôi quyết định từ giã cõi trần này.”

Osan tháo chiếc tượng Phật xưa nay vẫn đeo trong người. Moemon thì cởi bỏ thanh gươm chuôi có nạm rồng mà khi đi hành hương chàng đã mang theo. Họ cố để những di vật đó lại để cho người xem sẽ nhận ra là cả hai đã chết. Cuối cùng, cẩn thận hơn, họ cởi áo và dép ra, để lại bên gốc cây liễu bên bờ hồ.

Đêm đó, đôi tình nhân chuẩn bị sẵn sàng. Họ mở cánh cửa tre nơi quán trọ họ trú ngụ, hát to cho mọi người nghe. “Vì những lý do chỉ có chúng ta biết với nhau, chúng ta quyết định từ bỏ cõi đời.” Họ chạy ra khỏi nhà, và lát sau, người ta nghe thấy tiếng niệm A Di Đà Phật nơi ghềnh đá, sau đó là tiếng hai thân người rơi xuống nước. Mọi người thương cảm vô cùng.

Nhưng thật ra thì Moemon cõng Osan trên lưng, mang nàng chạy theo chân núi, qua khu rừng rậm đến một làng hẻo lánh, trong khi đó hai ngư phủ mà anh thuê nhào xuống nước giả làm hai kẻ trầm mình rồi lặn đi một đỗi xa, nhô lên một bãi khác không hề ai hay biết.

Mọi người đổ xô tìm kiếm nhưng không thấy gì. Đến sáng mai, khi thấy di vật của họ để lại bên gốc cây liễu, mới tin chắc hai người đã chết. Những di vật ấy liền được gói lại gửi về Kyoto cho gia đình Osan.

Gia đình Osan giữ kín chuyện, không làm rùm beng lên, nhưng rồi chuyện cũng lọt ra và miệng tiếng không ngớt xì xào. Quả thật tai ương mà hai kẻ tạo ra vẫn không chấm dứt được.

Trên đường bắt đầu lại cuộc sống
Tay trong tay, hai người lặn lội xuyên qua vùng hoang dã ở Tamba. Họ băng qua bờ bụi, tự tạo lấy đường đi chứ chẳng có đường mòn. Cuối cùng, họ leo lên một đỉnh núi cao, quay đầu nhìn lại những dặm dài gian khổ đã trải qua. Đây là con đường chính họ chọn, thế nhưng đóng vai người đã chết thì thật có thú vị gì! Họ chỉ là những linh hồn lạc lõng, bất hạnh, trong một lộ trình chưa hề mang dấu chân người. Osan lách người đi, bước chân lảo đảo tưởng như sắp thở hơi cuối cùng, mặt nhợt nhạt như xác chết, Moemon cố sức hồi phục cho người yêu, chàng lấy lá hứng nước từ hốc đá đem về cho nàng uống. Nhưng Osan yếu quá không còn đi nổi nữa. Mạch nàng đập thưa thớt, tưởng như sắp ngừng.

Chẳng có thuốc men gì cho nàng uống, Moemon chỉ còn biết ngồi chờ nàng chết, rồi đột nhiên anh cúi xuống thì thào vào tai nàng. “Nàng cố ráng lên một đỗi nữa, gần đây có một ngôi làng ta có người quen. Ở đó, chúng ta sẽ quên đi nỗi bất hạnh dọc đường, chúng ta lại tiếp tục cuộc tình, bên nhau mãi mãi.”

Nghe thế, Osan như khỏe lại, kêu lên: “Nghe chàng nói mới vui làm sao! Ôi, chàng thật đáng cho em hiến cả cuộc đời!”

Thế là Moemon lại xốc nàng lên vai, khập khiễng bước. Cuối cùng, họ đến được một ngôi làng nhỏ. Ngôi làng này nằm bên con đường núi dẫn đến Kinh đô, con đường hẹp, cheo leo đến nỗi ngựa chỉ có thể đi từng con một. Bên đường có một chiếc quán mái rơm, vách làm bằng cây dại kết lại. Quán bán một thứ bột gạo mốc cũ vàng khè, mấy tách trà nguội, vài con búp bê bằng đất sét, dẫu sao cũng là nơi nghỉ chân của người đi đường.

Hai người mừng quá đến nỗi khi nghỉ ngơi xong, ra đi họ trả cho chủ quán một đồng tiền vàng. Nhưng chủ quán lắc đầu đòi thứ tiền khác và họ buồn cười khi nghĩ rằng cách Kinh đô có mười lăm dặm có một nơi người ta chưa hề nghe nói đến tiền vàng bao giờ.

Rồi hai người đi đến Kayabara, nơi đó có một người cô của Moemon đã lâu anh không biết tin tức, cũng có thể đã chết rồi. Đến nơi mới biết bà vẫn còn sống. Moemon kể lể về gia đình gốc gác, bà cô mừng quá đón cháu rất thân tình. Mắt nhòa lệ, bà nói mãi về cha của Moemon, nhưng khi ngày rạng, thấy Osan và sắc đẹp rực rỡ của nàng, bà bỗng ngờ vực.

“Thế cô gái này là ai vậy?”

Moemon chưa chuẩn bị sẵn câu trả lời về điều này. Anh bèn thưa: “Đây là em gái cháu. Nó đi làm cho một nhà quyền quý ở Kinh đô nhiều năm, nhưng sau không hợp và nó cũng chẳng thiết đời sống nhộn nhịp ở Kinh thành. Thế nên nó cho đây là dịp tốt để theo cháu đến một vùng yên tĩnh ở miền sơn cước như vùng này. Nó muốn ở đây làm việc nhà, vườn tược. Tiền nong tiêu phí thì cô chẳng lo, nó dành dụm được cả mấy trăm đồng tiền vàng cơ đấy.”

Không ngờ chuyện anh kể làm động lòng bà cô tham lam. Bà cho rằng bà có thể dính dáng được đến số tiền này.

Bà bèn kêu lên: “Ô, thế thì thật may. Con trai ta chưa vợ, em gái cháu lại là bà con với nó, sao ta không gả em gái cháu cho nó[11]?”

Đề nghị đó làm họ đau lòng hết sức. Osan khóc thầm, nguyền rủa định mệnh cay nghiệt.

Rồi tối đến, con trai của bà cô về nhà. Trông dáng người hắn, Osan đã thấy hoảng hồn: cao lớn dị thường, đầu như đầu sư tử, cổ như cổ tê giác, chân tay như cây gỗ thông, râu ria lồm xồm, ánh mắt dữ tợn, và đỏ ngầu tia máu. Tay hắn cầm giáo, tay kia cầm thòng lọng, giỏ hắn chứa đầy chồn, thỏ… Hắn là thợ săn, tên là Zetazo.

Ở làng ai cũng biết hắn là kẻ tồi tàn, hèn mọn. Nghe mẹ nói chuyện cưới một tiểu thư ở Kinh đô làm vợ, hắn vui lòng ngay.

“Được chứ mẹ. Thế thì đừng phí thời giờ. Ngay tối nay đi.” Nói rồi, hắn vớ lấy gương soi mặt mình, “Trông ta cũng đẹp trai đấy chứ” – hắn bảo vậy. Thế là bà mẹ nghe lời, sửa soạn lễ hợp cẩn ngay. Hai ly rượu, một con cá ướp muối, một chiếc bình vỡ cổ đựng rượu, lấy tấm màn cũ che một góc làm nơi động phòng hoa chúc cho đêm tân hôn!

Trong lúc đó, Osan nuốt lệ, Moemon thì chau mày nghiến răng. Anh rủa mình sao dại dột nói nàng không phải vợ mình để sinh ra cơ sự này. Anh đã rút gươm tự sát, nếu Osan không kịp ngăn lại.

“Chàng không nên nóng nảy. Vẫn còn có lối thoát. Rạng ngày mai ta sẽ trốn đi khỏi đây. Cứ để mọi việc cho thiếp.”

Đêm đó, khi uống rượu hợp cẩn, Osan cố gượng vui lưu ý Zetazo: “Thiếp mạng hỏa, lại sinh năm Ngọ, sợ có tướng sát phu đấy.”

Zetazo đáp: “Ngươi có sinh năm Ngựa hay Chó Sói hay gì gì ta cũng bất chấp. Ta chẳng dễ chết đâu. Thật ra, ta chẳng thích lấy một con đàn bà thành thị như ngươi làm vợ đâu, nhưng vì ngươi là bà con với ta, nên ta cũng vui lòng dung nạp.” Nói rồi hắn nằm xuống, gối đầu vào người Osan mà ngủ.

Sau đó, Osan và Moemon đợi hắn ngủ say, lẻn đi. Họ lại trốn vào nơi hang hốc của vùng núi Tamba. Rồi mấy ngày sau họ mới lên đường đi Tango.

Một đêm, khi ngủ lại miếu thờ đức Mạn Thù, Ngài hiện ra trong giấc mơ bảo Osan:

“Các ngươi đã phạm phải những tội lỗi xấu xa nhất. Dầu trốn đi đâu cũng không thoát khỏi nghiệp quả của chúng. Nhưng bể khổ quay đầu lại là bờ, nếu ngươi biết từ bỏ con đường vô vọng, thí phát quy y. Một khi các ngươi xa nhau, mỗi các ngươi sẽ diệt được dục và bước vào con đường Chứng ngộ. Có thế thì mạng các ngươi mới được cứu thoát.”

Đó là con đường đúng đắn, nhưng Osan nghe chính mình trả lời: “Xin Ngài đừng lo lắng về những gì sẽ xảy ra cho chúng con. Chúng con sung sướng trả giá bằng mạng sống cho mối tình của mình. Đức Mạn Thù có thể hiểu được tình yêu giữa người và người, nhưng Ngài chẳng biết gì về tình yêu của người phụ nữ.”

Vừa lúc đó thì tỉnh giấc chiêm bao, nghe gió thông thổi từ bờ biển lại, mang theo những đám bụi trần.

“Chẳng có gì không vướng bụi trần” – nàng tự nhủ – “và mất tất cả hy vọng cứu thoát mình.”

Nhớ chốn cũ, lẻn về Kinh

Trên đời, đàn ông thường giấu kín bất hạnh của mình, như người đánh bạc thua phải đành cắn răng không hé môi. Vì thế chồng của Osan xử sự với Osan như với một người vợ hiền đã khuất. Mặc dầu khi nhớ đến những năm chung sống, ông không khỏi ngậm ngùi chua chát. Ông vẫn gọi các nhà sư đến tụng kinh siêu độ cho nàng. Ông còn chọn chiếc áo lụa của Osan làm khăn trải bàn thờ của nàng, và đặt bàn thờ nơi phía bên nhà, oái oăm thay, chính là chỗ trước kia Osan lén tình tự trong đêm với Moemon.

Còn Moemon, vốn trước đây là người cẩn thận, nhưng trốn ở vùng xa ít lâu, nhớ nhà quá đỗi, anh không cưỡng được, bèn lén về Kinh thành. Ăn mặc tồi tàn, đội nón sụp xuống tận mắt, anh từ giã Osan. Sau khi nhờ người trong làng coi sóc nàng hộ mình, anh liều lĩnh đi về Kinh đô.

Anh đến nơi thì chập choạng tối, ánh trăng vừa lên chiếu xuống mặt nước dưới cầu, làm anh nghĩ đến Osan, bồi hồi nhỏ lệ. Anh vượt qua công viên Narutabei, đi về trung tâm. Càng tiến sâu, nỗi sợ càng tăng. Chỉ cái bóng anh trên mặt đường cũng làm anh lạnh cứng cả người.

Đến khu quen thuộc của nhà chủ cũ, anh nép mình nghe trộm. Anh nghe người ta bàn tán đủ thứ chuyện, từ chuyện kinh doanh buôn bán, đến chuyện thời trang y phục. Và như thường lệ, khi mọi đề tài đã cạn, là người ta lại nói về chuyện Moemon.

“Cái thằng vô lại Moemon, người như nó mà cướp được một đệ nhất mỹ nhân của Kinh đô. Dầu cho sau đó hắn phải chịu mất mạng, hắn cũng có lời chán, được chết cùng với một người đẹp như vậy!”

Nhưng một giọng đàn ông khác khắc nghiệt hơn, lên tiếng: “Hắn chết như thế cũng chưa đáng tội. Tôi chưa thấy một tên nào bại hoại như hắn, vừa lừa chủ, vừa cướp vợ người ta nữa.”

Nghe thế, Moemon nghiến răng, giận điên người. “Đây là giọng thằng vô lại Kisuke chứ ai, hắn thật là vô lương mới dám nói xấu mình. Trước đây, mình cho hắn mượn tám mươi đồng Momme bạc mà hắn chưa trả. Mình mà gặp được hắn thì thế nào cũng phải đòi tiền cho được.”

Đang giận thì nghe một tiếng khác tiếp lời: “Moemon chưa chết đâu. Nghe đồn hắn đang sống sung sướng với phu nhân Osan ở đâu đó quanh vùng Ise.”

Nghe vậy, Moemon thấy lạnh khắp người. Anh nhón gót bỏ chạy, đến thuê tạm một căn phòng bên phố, không kịp tắm rửa, anh nhờ một người hành khất mua giùm hai cây nến và một bó nhang, trước khi lên giường ngủ, anh lâm râm cầu khẩn cho đừng ai khám phá ra anh. Nhưng Thần Phật nào giúp đỡ cho anh khi anh phạm vào những tội lỗi dường kia?

Sáng hôm sau, muốn giữ lại một kỷ niệm cuối cùng trước khi từ giã Kinh đô, anh lần xuống khu hát kịch ở Shijo-gawara. Có người bảo anh hôm nay là ngày khai trương vở Kabuki ba hồi do Fujita dựng.

“Mình phải xem rồi về kể lại với Osan mới được.” Anh mua một vé ngồi khuất đằng sau, lòng vẫn lo lắng bồn chồn sẽ có ai nhận ra mình. Vở kịch diễn cảnh một người cha bị cướp mất đứa con yêu, làm Moemon thấy lương tâm cắn rứt. Anh nhìn lại những hàng ghế trước, thấy chồng của Osan. Moemon sợ thất thần, anh cảm thấy mình như con người đã bước một chân vào địa ngục, mồ hôi đầm đìa trên trán anh. Anh vùng chạy ra khỏi rạp, trở về ngôi làng ở Tango, và không bao giờ nghĩ đến chuyện lén về Kinh đô lần nữa.

Lúc đó gần đến ngày lễ hội tháng Chín. Hàng năm cứ đến độ này, một người bán trái lật thường về Kinh đô. Ghé bán lật tại nhà chồng Osan, trong khi nói chuyện, anh ta hỏi phu nhân đâu, nhưng thấy đám gia nhân chung quanh quay đi, không ai trả lời.

Cuối cùng, chồng Osan bảo: “Nàng chết rồi.” Người bán lật bảo: “Lạ thật, tôi có thấy một người trông giống phu nhân từng li từng tí, bên cạnh cô ta là một chàng trai trẻ. Họ sống trong làng Kirito ở Tango.”

Người bán lật rong đi rồi, chồng Osan lập tức gọi người đi kiểm tra lại điều ông vừa nghe thấy. Khi biết chắc quả thật Moemon và Osan còn sống ở đó, ông bèn tập trung một đám gia nhân khỏe mạnh, lên đường đến bắt họ.

Chẳng còn chỗ nào để có thể khoan hồng cho tội lỗi của họ. Khi pháp đình tuyên án xong, đôi tình nhân cùng với người đầy tớ gái là Tama, trước đây có dính líu đến việc tư thông giữa hai người, bị giải đi diễu qua đám đông dân chúng, đến tận Awadaguchi, nơi đó sinh mạng họ rơi xuống như những giọt sương mai rụng trên lá cỏ.

Câu chuyện về họ được lan truyền khắp nơi, và cho đến ngày hôm nay, cái tên Osan vẫn gợi lên hình ảnh yêu kiều diễm lệ của nàng trong bộ y trang màu xanh nhạt mà nàng mặc khi bước lên đài giảo hình.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 24.10.2018, 15:17
Hình đại diện của thành viên
☆~ Số 15 ca ~☆
☆~ Số 15 ca ~☆
 
Ngày tham gia: 14.10.2015, 23:36
Bài viết: 2962
Được thanks: 2075 lần
Điểm: 7.53
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Văn học Nhật - Tập truyện ngắn] Năm Người Đàn Bà Si Tình - Ihara Saikaku - Điểm: 10
Chuyện nàng Osen đa tình

Người đàn ông si tình bất hạnh
Kiếp người thì ngắn, tình yêu thì dài.

Có một người thợ mộc chuyên đóng thùng, trong khi tự tay đóng chiếc quan tài cho mình, bỗng nhận ra rằng cuộc sống vô thường biết chừng nào. Anh làm việc vất vả mà chỉ kiếm được ít ỏi đủ để thuê một túp lều tranh, sống đạm bạc với giới nghèo khổ trong khu Temma ở Osaka.

Có một cô gái tên là Osen ở làng quê xa, vượt hẳn lên những cô khác trong làng nhờ nhan sắc. Da trắng như bông, gót chân đi như không chấm đất. Năm mười ba tuổi, cha mẹ cô không đủ tiền đóng thuế – tiền thuế lên đến một phần ba số tiền kiếm được hàng năm của họ – nên đứa con gái phải đi ở mướn cho một phu nhân giàu có, sống trong một cơ ngơi đồ sộ gần khu Temma.

Ở được một thời gian, mọi người trong nhà đều yêu thích cô, vì cô khéo léo lanh lợi. Phu nhân hài lòng, người khác cũng thế. Cô được phu nhân tin cậy cho phép lui tới phòng riêng của phu nhân – nơi cất những đồ quý giá. Cô tháo vát, ai cũng quý trọng cô. Phu nhân bảo: “Nếu không có Osen trông coi thì không biết nhà này ra sao nhỉ?” Ấy là bởi Osen thông minh, chăm chút đó thôi.

Osen chưa hề biết yêu đương. Nhan sắc như thế mà đêm đêm vẫn ngủ một mình, thật phí cả xuân xanh. Một lần có gã đàn ông nhẹ dạ đã kéo vạt áo cô bỡn cợt, cô đáp lại bằng một tiếng thét thất thanh rồi bỏ chạy, để lại phía sau cô gã đàn ông si tình đứng sững sờ. Từ đó, không còn ai dám trêu ghẹo cô. Tất nhiên, đàn ông có thể chỉ trích Osen về đức tính này, nhưng đối với các bậc cha mẹ, nếu mọi cô con gái đều xử sự như Osen thì cũng là một điều hay chứ sao.

Nhưng câu chuyện của chúng ta bắt đầu vào tiết lập thu, vào ngày lễ hội Tanabata, khi mà xiêm y lụa là mới tinh được xếp thành chồng cao ngất dành cho các cô các bà dự lễ. Thật vui mắt khi nhìn những người phụ nữ thượng lưu mừng lễ bằng cách treo những bài thơ lên cành đỗ tùng, những người nghèo thì trang hoàng nhà bằng những cành hoa hoặc những trái hồng trước cửa theo phong tục ngày ấy.

Ngày lễ này là một dịp đặc biệt cho xóm giềng quen nhau bởi vì mọi người cùng tham dự vào việc vét giếng chung. Những người sống ở những ngôi nhà thuê phía bên kia đường làng đều tham dự, đàn bà thì nấu nước sôi pha trà cho thợ vét giếng. Khi làn nước bẩn ở đáy giếng được vét hết đi, nhiều đồ vật linh tinh hiện ra lẫn với cát, sỏi: con dao bếp này, một bó rong trong có cây kim xuyên qua[12] này. Vét thêm lần nữa, lại gặp nhiều thứ khác: một con búp bê mất đầu, một chuôi gươm hoen rỉ, một núm vú cao su trẻ em…

Thế rồi, trong khi vét giếng, một chiếc thùng gỗ bị bứt niềng, họ bèn đem đến người thợ đóng thùng nghèo khổ mà ta đã nói ở đầu chuyện, nhờ anh đóng niềng lại. Anh ta đóng niềng xong, bỗng thấy một người đàn bà già đang ngồi gần đó, lưng còng, tay vuốt ve một con kỳ nhông còn sống.

Anh hỏi là con gì vậy, mụ ta trả lời: “Đây chính là một con kỳ nhông vừa mới được vớt từ giếng lên. Cậu không biết đây là con kỳ nhông à? Nếu cậu bỏ con kỳ nhông này vào trong ống tre rồi đốt cháy đi, đem tro đó rắc lên mái tóc người mà cậu yêu thì người đó sẽ yêu lại cậu ngay.” Mụ ta nói vẻ rất chắc chắn.

Mụ này vốn là một người làm nghề phá thai ở hồ Myoto, sau bị cấm, mụ bỏ cái nghề độc ác đó và làm nghề xay bột kiếm ăn. Nghề này tay làm hàm nhai, mụ làm việc vất vả suốt ngày, không còn đâu thì giờ nghe kinh nghe kệ. Tuy vậy, càng tụt dần trong nấc thang xã hội thì mụ càng hiểu về nghiệp chướng và càng nghĩ đến kiếp sau nhiều hơn.

Khi mụ giảng cho anh thợ đóng thùng nghe về nhân quả, thiện ác đáo đầu gì gì đó, anh ta chẳng thèm nghe. Anh chỉ gặng hỏi mụ chuyện đốt cháy con kỳ nhông có thực giúp cho người ta trong việc chiếm đoạt tình yêu hay không mà thôi.

Thấy anh hỏi hết sức hăm hở, mụ có cảm tình với anh, cuối cùng hỏi anh: “Thế người cậu yêu là ai vậy? Cứ nói đi, tôi không lộ cho ai biết đâu.”

Anh ta quên cả giữ gìn, tuôn hết nỗi lòng ra cho mụ nghe: “Người tôi yêu sống không xa đây đâu. Tôi yêu Osen, người hầu gái trong nhà kia kìa. Tôi gửi cho nàng đến một trăm lá thư mà không có một chữ trả lời.”

Mụ già gật đầu bảo: “Cậu cũng chẳng cần đến con kỳ nhông làm gì. Tôi sẽ khơi dòng suối tình cho cậu. Tôi sẽ vén mây, bắc cầu cho cậu thỏa nguyện mà không phải chờ lâu đâu.”

Anh ta đâm ngại khi thấy mụ nói dễ dàng như thế: “Nếu bà đòi nhiều tiền, tôi sợ tôi không đủ sức trả, mặc dầu tôi muốn chết đi được. Mùa này tôi vất vả quá, kiếm chẳng được gì. Chứ tôi mà có tiền thì tôi đâu tiếc gì. Tôi chỉ có thể hứa cho bà một bộ áo bông mặc Tết và một bộ áo hạng vừa mặc vào dịp giáp hạ. Thế được không?”

“Tình yêu nói theo kiểu đó chỉ là vị kỷ. Tôi không có ý đòi cậu những thứ đó. Cậu biết đó, làm cho một người yêu cậu là cả một nghệ thuật lớn lao. Trong đời tôi đã giúp hàng ngàn người và lúc nào cũng thành công. Được rồi, tôi sẽ tìm cách cho cô ta gặp cậu trước ngày lễ hội tháng Chín này.”

Ngọn lửa tình bùng cháy dữ dội trong lòng anh thợ đóng thùng, anh ta kêu lên: “Bà ơi, tôi hứa là sẽ cung cấp củi cho bà dùng để nấu trà suốt đời, bà nhá.”

Trên đời này, làm sao mà ta có thể biết được một người có thể sống bao lâu, cho nên, thật là thú vị khi thấy ái tình đã khiến anh ta hứa một điều lớn lao như vậy.


Mụ phù thủy sau buổi dạ vũ
Có bảy điều bí mật tại khu Temma ở Osaka: Ngọn lửa hình cây dù trước chùa Daikyo; cậu bé không tay tại khu thanh lâu Shimme; người đàn bà ngược đầu ở Sonezaki; chiếc thòng lọng ma ở Đại lộ Thứ bảy; nhà sư khóc ở Kawasaki; con mèo cười ở Ikeda-machi và chiếc cối xay rực lửa ở Đồi cỏ. Nhưng thực ra, đó chỉ là những xảo thuật của những tên bịp, những người bán hàng rong thôi. Đáng sợ hơn nhiều chính là những con quỷ trong hình người hủy hoại mạng sống của những người ngu dại.

Hồn người thì cũng đen tối như đêm hai mươi tám tháng Bảy mà những chiếc đèn lồng nơi hiên nhà không đủ soi sáng. Trong buổi lễ hội này, nam nữ múa hát ngoài đường gần suốt đêm. Mãi đến gần sáng, họ mới chấm dứt cuộc vui, để về nhà ngủ.

Chính vào cái giờ khuya khoắt đó, Nanny – mụ già tinh ranh mà người thợ đóng thùng đã hết lòng nhờ cậy – chú ý thấy lối vào phủ đệ của vị tướng công, nơi Osen giúp việc, vẫn còn mở, mụ xông vào, đấm cửa thình thịch rồi khuỵu xuống trên nền nhà bếp, mồm la hổn hển: “Ối ối trời đất quỷ thần ơi, khủng khiếp quá, làm ơn cho tôi xin miếng nước.”

Người trong nhà thấy mụ có vẻ như sắp chết đến nơi, hối hả gọi mụ tỉnh, đưa nước cho mụ và chẳng mấy chốc mụ lại nói như sáo.

Phu nhân quan tâm hỏi mụ: “Mụ thấy cái gì mà trông khiếp hãi như vậy?”

“Thưa, tôi rất xấu hổ, nhưng phải thưa thật điều này, là tối nay tôi cũng ra đường nhảy múa. Hồi chiều, tôi đã cố đi ngủ, nhưng không cách gì chợp mắt được. Tiếng nhạc, tiếng trống mới rộn ràng làm sao. Thế là tôi đành nhổm dậy ra đường xem mọi người múa hát. Ôi hấp dẫn quá, tuyệt diệu quá, làm sao không mê được. Tôi đành rẽ đám đông đến chỗ người ta đang hát và múa. Tôi lấy quạt che mặt để đám đông không biết tôi là một mụ già. Thế mà chúng cũng biết ngay mới chán chứ. Tôi cũng lắc lư, uốn éo mình mẩy trong chiếc áo kimono trắng và chiếc khăn choàng đen này trông cũng lẳng lắm chứ, thế mà chẳng có đứa nào thèm kéo váy, trêu ghẹo gì cả.

Thế là tôi đành về nhà, lòng bồi hồi tưởng lại những ngày còn xuân sắc. Khi ngang cổng nhà này, đột nhiên gặp một chàng trai khoảng hăm bốn, hăm lăm tuổi réo gọi tôi. Anh ta đang tuyệt vọng vì tình, tưởng như chỉ còn sống nổi một hai ngày trên cõi thế nữa mà thôi. Anh bảo cho tôi biết chính vì cái cô nàng Osen độc ác mà con tim anh tan nát, rã rời. Anh ta thề rằng một tuần sau khi anh chết, hồn ma anh sẽ đến giết hết mọi người trong nhà này. Trời ơi, trông anh ta dễ sợ quá! Mặt anh ta đỏ bừng, ánh mắt rực lửa hệt như con tengu[13] đã nhập vào người anh ta vậy. Thế là tôi sợ hết hồn và chạy thẳng vào đây.”

Nghe mụ kể, mọi người đều thất kinh, còn người cha già của chủ nhân thì nhỏ lệ.

“Đau khổ vì tình,” cụ bảo, “cũng là chuyện thường tình xưa nay. Osen thì cũng đã đến tuổi lấy chồng. Chúng ta sẽ lưu ý xem cậu trai này có phải là người đàng hoàng không. Chỉ cần cậu ta không hoang đàng bậy bạ, cờ bạc, đĩ điếm, chứ thanh bần mà biết cần kiệm thì cũng tốt. Ta chưa hề biết cậu ta nhưng xem ra thì cũng đáng tội nghiệp.”

Nghe vậy, mọi người ngẫm nghĩ và rồi cũng thấy thương cho cậu ta. Mụ già tinh ma này thật rành việc mai mối lương duyên.

Lúc đó đã quá nửa đêm, người ta đỡ mụ đứng lên và mụ trở về túp lều của mình. Mụ nằm toan tính việc kế tiếp, thì ngày rạng nơi cửa sổ phía đông. Mụ nghe tiếng người hàng xóm lui cui nhóm bếp. Đâu đó, tiếng một đứa bé khóc, tiếng đập muỗi của một người còn ngái ngủ. Đâu đây vẫn còn thoảng tiếng sột soạt gối chăn của những đôi vợ chồng son còn luyến tiếc đêm trường. Nghĩ cho cùng, trong cuộc đời dâu bể vì lăn lộn mưu sinh, người ta còn có lạc thú nào hơn là chuyện lứa đôi!

Rồi cuối cùng, mặt trời cũng mọc lên trong một ngày thu hiu gió. Người đàn bà già nhổm dậy, buộc khăn lên đầu. Mụ thấy nhức đầu sau lễ hội hôm qua, bèn đi mua thuốc về uống. Đang sắc thuốc thì thấy Osen xuyên qua con hẻm đến thăm.

“Hôm nay, bà đã đỡ chưa?,” Osen vừa ngọt ngào hỏi vừa lấy dưới vạt áo ra nửa trái dưa gói trong lá sen và đặt trên bó củi ở góc nhà. “Chắc bà muốn dùng với nước chấm,” miệng nói, nàng quay mình đi lấy nước chấm, không đợi mụ già cảm ơn.

Nanny bèn hỏi cô: “Bởi vì cô mà đêm qua tôi suýt chết, và tôi cũng chẳng có con gái, nên cô phải cầu nguyện cho tôi sau khi tôi khuất núi đấy nhé.” Mụ với tay lên xà nhà, lấy ra một đôi bít tất tím có dải đỏ và một chiếc túi nhỏ đựng chuỗi hạt. Mụ trao cho Osen, dặn cô giữ gìn cẩn thận sau khi mụ chết đi.

Phụ nữ vốn cả tin, nghe vậy Osen khóc sụt sùi: “Nếu có người nào đó thực sự yêu cháu, tại sao người ta lại không nhờ cậy một người rành đời như bà làm mai? Nếu cháu biết rõ ý định của anh ta từ trước thì cháu đâu có cự tuyệt.”

Mụ già thấy rằng đã đến lúc nói hết cho Osen. “Giờ thì ta chẳng giấu gì cháu nữa. Thật ra, cậu ta đã đến gặp ta nhiều lần, cậu ta yêu cháu tha thiết chân thành lắm. Nếu cháu mà cự tuyệt cậu ấy thì chính ta cũng thù hận cháu đấy.” Mụ nói bằng tất cả sự khôn khéo của nhiều năm kinh nghiệm và đúng như dự đoán, Osen nhượng bộ. Cô thổn thức nói: “Thì cháu cũng muốn gặp anh ấy.”

Mụ già vui mừng thấy mình đạt được lời hứa với chàng si tình. Mụ thì thầm: “Ta vừa mới nghĩ được một dịp tốt để cháu gặp cậu ấy. Ngày mười một tháng Tám này cháu hãy bí mật đi lễ chùa ở Ise. Đi đường, hai cô cậu tha hồ mà tâm tình, cởi mở; tha hồ mà yêu đương.” Rồi mụ làm như tình cờ nhắc thêm: “Cháu sẽ biết, cậu ta đẹp trai lắm đấy nhé.”

Không cần mụ thuyết phục thêm, cũng không cần thấy mặt chàng trai, Osen đã thấy lòng rộn rã yêu đương rồi. “Anh ấy có thể tự viết thư lấy không nhỉ? Tóc anh có dài và đẹp không nhỉ? Trán anh có rộng không nhỉ? Cháu nghĩ, chắc lưng anh ấy hơi khòm vì suốt ngày phải cúi mình đóng thùng mà… Ờ, khi chúng cháu rời khỏi đây, cháu muốn buổi trưa dừng lại ở Moriguchi hoặc ở Hirakata.”

Cô còn đang nghĩ vẩn vơ đủ chuyện như thế thì nghe tiếng một người tớ gái khác gọi: “Phu nhân đòi cô” – Thế là Osen quay gót, chỉ còn kịp nói nhanh với Nanny: “Ngày mười một bà nhé…”


Đôi tình nhân lén gặp gỡ, dịu ngọt như nước ở Kyoto
Phu nhân định mở tiệc thưởng hoa trong vườn, vì thế bà dặn dò tôi tớ: “Sáng mai, các ngươi tưới và tỉa hoa thật sớm. Các ngươi đặt mấy cái đôn sứ sát bờ tường, xa nhà nhé. Đặt các chậu hoa rải rác ra, nhớ xếp bánh kẹo vào hộp giấy, đừng quên ấm trà. Ta sẽ tắm trước sáu giờ sáng và các ngươi nhớ cuốn tóc ta thành ba lọn. Chuẩn bị cho ta chiếc áo choàng trắng, tà rộng có thêu chỉ hồng này, ta sẽ mang chiếc khăn lụa có vẽ hoa này, ta muốn các ngươi lo chu tất mọi thứ bởi vì ta mở tiệc trong vườn, nên người ngoài đường có thể nhìn thấy chúng ta đấy. Còn các ngươi nhớ lấy quần áo mới mà mặc nhé. À, nhớ gửi thiệp mời cho mấy người chị em của ta ở Tenjinbashi nữa đấy.”

Phu nhân giao trách nhiệm coi sóc mọi việc cho Osen. Osen thì chờ phu nhân vào nghỉ, buông màn, đứng quạt hầu nhè nhẹ bên cạnh. Nghĩ cũng buồn cười, làm huyên náo cả bọn tôi tớ như thế chỉ vì mấy chậu hoa trong vườn!

Nhưng ham điều phù hoa đâu phải là nhược điểm riêng của đàn bà. Vào thời gian này thì vị tướng công – chủ nhà – cũng đang phung phí thời giờ và tiền bạc ở chốn Bình khang tại Osaka; mặc dầu ông bảo với cả nhà là ông đi lễ chùa Tsumura, tay có cầm một bó nhang lớn thật, nhưng ông đi thẳng đến hành viện Shimabara sang trọng, bao luôn hai cô ca kỹ thượng lưu trong một ngày.

Trước lúc ngày mười một tháng Tám chớm rạng, mụ già Nanny nghe tiếng gõ nhè nhẹ nơi cánh cửa chớp.

“Cháu là Osen đây,” rồi cô ném vào chiếc tay nải gói vội các thứ đồ linh tinh. Xong, tức khắc quay trở lại nhà chủ. Mụ già tinh ma không bỏ lỡ cơ hội, mở tay nải ra lục lọi xem có mang gì trong đó: mấy đồng tiền bạc, hai chiếc lược, một chiếc khăn quàng nhiều màu, một bộ quần áo mặc lúc mát trời, một chiếc áo choàng, bít tất, dép, một chiếc dù mà cô đã ngây ngô viết tên và địa chỉ mình lên đó. Mụ già khôn ngoan, vội chùi mấy chữ đó cho nhòa đi để không ai đọc được. Đang loay hoay thì trước cửa có người gọi: “Bà Nanny, tôi đi trước nhé” – người thợ đóng thùng nói, rồi đi ngay.

Lát sau, Osen trở lại, hơi hồi hộp: “Cháu xin lỗi đến muộn. Cháu bị kẹt chút việc ở nhà.”

Nanny khi đó mới lấy cái tay nải chứa hành lý cá nhân của mình đeo nơi tay. Mụ bảo Osen: “Dù cực nhọc, tôi cũng phải cố gắng đi lễ cùng cô đến Ise.”

Nghe vậy, Osen sững người, sợ cuộc đi lén với người yêu đảo lộn hết. Rồi nàng nói: “Bà lớn tuổi như vậy đi đường xa cực nhọc lắm. Sao bà không dẫn cháu đến gặp người ta rồi sau đó bà thuê thuyền đi đến Fushini có phải tiện hơn không?”

Nhưng khi họ ra đi đến cầu thì gặp ngay Kyushichi, người đầy tớ trai cùng làm trong phủ với Osen. Anh ta định đi xem lính đổi phiên gác trước lâu đài Osaka, nhưng gặp Nanny với Osen, anh ta tò mò hết sức. Khi biết họ đi lễ, anh bèn đi theo.

“Từ trước đến nay, tôi vẫn thường đi lễ chùa ở Ise, nay gặp bà và cô cùng đi thì còn gì bằng. Đưa hành lý đây tôi xách cho. Thiệt may là hiện trong túi tôi có khá tiền, đi đường có ăn gì tôi lo hết cho, bà với cô đừng ngại gì cả.” Thấy vẻ chăm sóc hăm hở quá đáng của anh ta, người ta có thể đoán ngay là anh chàng có tình ý với Osen chứ chẳng không, vì thế vẻ thù nghịch hiện ngay lên trong thái độ của Nanny.

“Ô, một cô gái trẻ cùng đi đường với một người đàn ông như anh coi sao được. Người ta dị nghị chết. Với lại, Thần Phật ở Ise cũng không chứng giám cho đâu. Thôi anh đừng đi theo chúng tôi nữa.”

“Ơ, thì tôi có làm gì trở ngại đâu nào. Tôi không có ý gì với cô Osen đâu, bà hãy tin tôi đi. Tôi đi chỉ vì đức tin thôi mà. Thần Phật chứng giám cho tôi, lòng tôi ngay thẳng như con đường mà chúng ta đi qua. Nếu thời tiết tốt và nếu cô Osen đây thích, chúng ta sẽ đi khắp nơi, có lẽ đến Kinh đô luôn. Chúng ta sẽ ở đó năm ngày, đi xem đền cẩm thạch ở Takao trong ánh sáng mùa thu, đi xem vườn hoa ở Saga. Tướng công nhà tôi mỗi khi lên Kinh đô đều ở tại khách sạn Kawara, nhưng tôi nghĩ chúng ta có thể tìm chỗ tốt hơn, như thuê mấy phòng tiện nghi ở dãy phía tây của Đại lộ Số ba, ở đó bà cụ đây có thể đi thăm đền Bản Nguyện rất gần.” Anh nói như thể mọi thứ đều ở trong tầm tay vậy.

Mặt trời mùa thu đã mọc quá triền núi. Ba người lữ hành đi ngang qua bờ sông Yodo phủ đầy bóng mát, bỗng gặp một người đàn ông dáng kỳ quặc, ngồi dưới gốc liễu như đang đợi ai. Lại gần nhìn kỹ, mụ Nanny nhận ra đó chính là người thợ đóng thùng. Nhìn ánh mắt mụ, anh hiểu rằng có chuyện gì đó không hay, không xuôi chèo mát mái như dự định.

Mụ giả bộ nói: “Anh bạn, xem chừng anh cũng đi lễ ở Ise thì phải. Sao đi một mình? Xem chừng anh bạn cũng là người tử tế, vậy hãy cùng đi với chúng tôi, đến đêm trú ngụ một nơi nào đó cho có bạn đồng hành.”

Anh thợ đóng thùng tất nhiên vui mừng: “Quả thế thật, có bạn đồng hành tử tế thì đường đi ngắn hơn, như người ta thường nói. Tôi xin cám ơn bà.”

Còn Kyushichi thì tất nhiên là không bằng lòng: “Đi thế xem kỳ lắm. Trong đoàn chúng ta có một cô nương mà giờ lại thêm một người đàn ông lạ, không biết lai lịch thế nào cả.”

Nanny chận ngay: “Ô, không hề gì đâu. Có Thần Phật canh chừng. Với lại có một người khỏe mạnh như anh đây, còn ngại gì.”

Thế là đêm đến, cả bốn người cùng ngủ lại ở một quán trọ ven đường. Kyushichi luôn tìm cơ hội thỏa mãn dục vọng thầm kín của mình, luôn luôn rình mò người thiếu nữ. Đêm ngủ, khi bốn người nằm thành một hàng dài, anh ta duỗi tay, rình kéo thấp ngọn đèn cho ánh sáng yếu đi để dễ bề hành động.

Ánh đèn sắp tắt đi, bỗng anh thợ đóng thùng kêu lên: “Chà, sao nóng quá,” rồi ngồi dậy mở cửa sổ gần anh, khiến ánh trăng rọi vào cả bốn khuôn mặt đang ngủ.

Lại nữa, khi Osen đang giả vờ ngáy đều, Kyushichi rình gác chân lên người cô thì phải rút ngay lại liền, vì người thợ đóng thùng bỗng cất tiếng hát một bài hát tình, vừa nằm hát vừa lấy quạt gõ nhịp khe khẽ theo. Osen cũng thôi giả vờ ngủ và bắt đầu chuyện trò với Nanny.

“Cháu nghĩ rằng, sinh ra làm con gái thật là khổ. Cháu bỗng có ý nghĩ muốn xuất gia. Chắc năm tới cháu sẽ thành một ni cô ở chùa Kitano.”

Giọng ngái ngủ, mụ già trả lời: “Thế cũng hay, còn hơn sống trên cõi đời phiền lụy này.”

Thế là hai gã đàn ông, mỗi người một phía, trằn trọc suốt đêm. Kyushichi lúc mới đi nằm thì quay đầu về hướng tây, lần hồi đầu lăn về hướng nam; người thợ đóng thùng thì tay cầm sẵn một bình dầu đinh hương[14], nằm ngủ mà mặt nhăn như khỉ.

Sáng hôm sau, họ mướn một con ngựa và tiếp tục cuộc hành trình. Osen ngồi giữa, hai người đàn ông ngồi trước và sau cô. Người ngoài trông vào thật buồn cười, không biết họ cưỡi ngựa vì đi bộ mệt hay vì thích thú: Một phía thì Kyushichi mân mê ngón chân Osen, phía kia thì người thợ đóng thùng ôm siết lấy hông nàng. Mỗi người đều nuôi dưỡng ham muốn thầm kín của mình.

Chẳng có ai trong họ thật sự chú ý đến việc đi lễ cả. Đến Ise cũng chẳng thèm vào trong chùa, chỉ dừng lại ở ngoài chùa một lát để mua một ít nhang đèn cho có lệ.

Trên đường về, hai anh lại cùng canh chừng nhau, nên chẳng có chuyện gì xảy ra. Khi họ đến Kinh đô Kyoto, Kyushichi dẫn họ đến ở khách sạn mà anh biết. Người thợ đóng thùng nhẩm tính vừa qua Kyushichi đã trả tiền ăn ở dọc đường khá nhiều cho cả bốn người, nên đã cúi đầu cám ơn anh và từ giã ra đi. Chắc mẩm rằng từ đây sẽ chiếm được Osen, Kyushichi đi ra phố mua rất nhiều quà tặng cho cô. Tuy sốt ruột không đợi đến tối nổi, nhưng anh cũng tranh thủ đi thăm một vài người quen biết ở Kyoto cho qua thời giờ.

Chính trong lúc đó, Nanny cùng Osen rời khách sạn, làm bộ đi lễ chùa Kiyomizu. Họ đi thẳng đến một quán nhỏ bán thức ăn đựng trong hộp giấy và tìm thấy trên một chiếc hộp tấm thiếp đề hai chữ “Cưa - Đục,” dấu hiệu cho biết người đóng thùng có tại đó, Osen bèn lên lầu nhẹ nhàng không ai biết. Trên gác cô gặp người yêu ở đây, hai người cùng nhau uống rượu giao bôi, đính ước và thề non hẹn biển với nhau.

Trong lúc đó, Nanny ở lại dưới lầu, uống hết tách trà này đến tách trà khác, gật gù khen: “Nước ở Kyoto ngọt dịu thật.”

Gần gũi với Osen xong, người thợ đóng thùng tức khắc đi thuyền về Osaka. Còn Nanny và Osen về lại khách sạn, cũng tuyên bố rời Kyoto tức khắc, Kyushichi van nài họ ở lại thêm vài ngày ở Kinh đô để đi ngoạn cảnh kẻo phí, nhưng mụ già cương quyết từ chối.

“Phu nhân ở nhà sẽ nghĩ thế nào nếu biết Osen ở đây cho đàn ông tán tỉnh?” Thế là họ khởi hành đi ngay.

“Này, phiền cậu một tí, tay nải này nặng quá. Cậu xách hộ tôi một lúc được không Kyushichi?”

“Rất tiếc, lưng tôi mỏi nhừ rồi.” – anh ta trả lời.

Và, khi họ dừng nghỉ nơi quán bìa rừng tử đinh hương, trước tượng Phật ở Inari, hai người phụ nữ uống trà phải tự móc túi lấy tiền trả.


Lửa nung trong lò, lửa cháy trong tim
“Nếu ngươi thưa với chúng ta ngươi muốn đi lễ, chúng ta sẽ cho thuê cáng hoặc ngựa cho ngươi đi chứ có cấm đoán gì đâu. Nhưng ngươi đi lén lút như vậy, rồi trở về đây với một đống quà chẳng biết của ai cho ngươi. Thật là, thật là điều chẳng ai dám làm, lại cùng nhau đến Kinh đô, uống rượu và ngủ chung với nhau. Thật tày trời…”

“Osen là đàn bà, thật khó cưỡng lại sự thúc ép của Kyushichi. Còn Kyushichi là tên ranh ma, chắc đã dạy cho cô gái này nhiều điều…”

Phu nhân nổi cơn thịnh nộ. Kyushichi giãi bày thế nào cũng không nghe. Thế là anh đầy tớ trai vô tội, đáng thương này bị đuổi ngay tức khắc. Sau đó, anh ta làm đủ thứ nghề ở Kitano và lấy một ca nhi làm vợ. Hiện giờ, anh sống bằng nghề bán sushi[15] ở đường cây liễu, hoàn toàn quên hẳn Osen.

Osen thì trở lại công việc thường ngày trong nhà, nhưng cô làm sao quên được cuộc tình ngắn ngủi với anh thợ đóng thùng, cũng không thể xua được hình ảnh anh ra khỏi tâm trí. Cô bắt đầu biếng ăn, biếng mặc, nói năng cẩu thả, trễ nải công việc, người gầy và xanh. Cuối cùng, hết cả tự chủ, cô rên rỉ trong đêm như một hồn ma.

Cùng thời gian ấy, một loạt rủi ro xảy ra trong nhà. Chiếc nồi lớn tự nhiên bị thủng đáy, thức ăn để từ sáng tới chiều đã thiu, sét đánh trên mái nhà kho, bén lửa vào trần nhà. Tất cả những việc đó thường thì có thể xem là chuyện tự nhiên, nhưng trong trường hợp này người ta cho là có ý nghĩa đặc biệt. Có người bảo: “Đó chính là linh hồn của kẻ say mê Osen, gã thợ đóng thùng làm đấy.”

Tướng công và phu nhân nghe vậy, quyết định dùng quyền của mình làm mọi cách cho hai người lấy nhau. Nanny được gọi đến giúp ý kiến.

Mụ khôn khéo thưa: “Cô Osen thường bảo tôi là cô không muốn lấy một người thợ lam lũ làm chồng, và cô cũng không chắc là cái cậu đóng thùng đó có định lấy cô không nữa. Nhưng tôi chắc là cô ấy cũng không khước từ. Với lại, nếu sau này họ khấm khá lên, chắc cô ấy cũng hài lòng.”

Nghe thế, chủ nhân của Osen bèn cho gọi người thợ đóng thùng đến và gả Osen cho. Ngày lành tháng tốt, Osen che mặt, nhuộm răng về nhà chồng. Của hồi môn của cô có hai mươi ba món đồ, bao gồm: một chiếc rương rẻ tiền, một chiếc giỏ đựng quần áo, hai chiếc áo dài cũ phu nhân không dùng cho cô, một bộ đồ ngủ, một chiếc mùng, một chiếc khăn choàng cũ kỹ. Không có một đồng xu, cô chỉ được mang theo từng đó thứ về nhà chồng.

Đôi vợ chồng sống hòa hợp, hạnh phúc. Anh chồng vốn chân thật, siêng năng, suốt ngày cắm cúi đóng thùng, trong khi người vợ cũng chăm chỉ dệt cửi. Họ làm việc ngày đêm không phải thiếu nợ ai. Osen hết sức chăm sóc chồng. Mùa đông, khi anh về muộn, cô ủ cơm để khi về anh có cơm nóng ăn. Mùa hè, cô luôn luôn quạt cho anh. Khi anh đi vắng, cô khóa cửa nhà và chẳng bao giờ nhìn một người đàn ông nào khác. Nếu có dịp nói chuyện với một người nào thì y như rằng “Chồng tôi thế này, chồng tôi thế nọ,….” Sau nhiều năm tháng, khi đã sinh hai đứa con, cô cũng không vì lo cho con mà quên chăm sóc chồng.

Nhưng hỡi ôi, một vài người đàn bà đôi khi nhẹ dạ. Bị dụ dỗ bởi một câu chuyện tình lãng mạn, xiêu lòng trước một vở kịch diễm tình, linh hồn họ rất dễ bị lôi kéo xuống con đường sa đọa. Giữa những bông hoa đào đang rụng lả tả trong vườn tử đinh hương tím ngát, họ dễ dàng phủ phục xuống dưới gối một chàng trai tuấn tú. Và thế rồi, khi quay trở về nhà, họ thấy lòng chán ghét anh chồng vẫn đầu ấp tay gối bấy lâu.

Đã sa ngã một lần như vậy thì họ như điên rồ. Họ quên hết sự cần kiệm, thận trọng trước đây. Họ đốt lò rồi quên không tắt, khêu đèn thật sáng khi không cần thiết, và trong khi tài sản gia đình tiêu hao dần, họ chỉ nôn nóng chờ rỗi việc để họ có thể ra khỏi nhà. Cuộc sống vợ chồng như vậy thật đáng sợ thay!

Rồi nếu chồng chết, chỉ bảy ngày sau là những người đàn bà ấy lo kiếm chồng khác. Ly dị một lần, họ lấy chồng khác rồi lại ly hôn, có khi đến sáu bảy lần. Đàn bà đôn hậu suốt đời chỉ trao xương gởi thịt cho một người đàn ông mà thôi. Nếu có điều bất hạnh gì xảy ra khi cô ta còn trẻ thì thường phải đi tu, như nhiều phụ nữ xưa nay đã làm.

Tất nhiên, cũng có nhiều phụ nữ khác sống với những mối tình bí mật tội lỗi, nhưng khi bị khám phá, hoặc chồng họ chỉ lặng lẽ lôi về nhà mà không đem ra pháp đình vì sợ tai tiếng, hoặc gặp anh chồng tham tiền thì người ta hối lộ cho anh chồng bỏ qua. Thế là những người đàn bà tội lỗi thoát khỏi bị trừng phạt và việc ngoại tình vẫn cứ còn.

Nhưng mà còn Trời Phật nữa chứ, có tội lỗi nào mà không bị trừng phạt đâu!


Đời sống ngắn ngủi hơn lửa dăm bào
Chozaemon – làm nghề chế men rượu – cảm thấy ngày tháng trôi qua như giấc mộng. Đã đến lần giỗ thứ năm mươi của cha ông nên ông có lý do để làm giỗ linh đình cho cha mình. Theo người xưa dạy thì khi để tang cha đã được năm mươi năm thì trong ngày giỗ cha có thể ăn uống, chè chén, ca hát suốt buổi chiều, không phải cấm đoán ràng buộc gì nữa. Vì thế, Chozaemon không tiếc tiền để làm một buổi giỗ cho ra vẻ. Các bà vợ hàng xóm cũng tham gia sửa soạn. Họ mang qua những bát đĩa bằng gỗ quý chỉ dùng trong dịp đặc biệt, lau chùi và để sẵn trong chạn.

Vợ người thợ đóng thùng cũng là bạn của bà này, vì thế cô cũng ghé nhà Chozaemon giúp một tay: “Có việc gì trong bếp cần phụ không?”

Ai cũng biết Osen khéo tay nên người ta nhờ cô vào buồng ngủ lấy kẹo trưng bày trên khay.

Cô vừa bày kẹo bánh, trái cây sắp xong thì Chozaemon vào, với tay lên cái kệ cao để lấy một cái bát, nhưng ông vụng về làm rơi bát xuống ngay đầu Osen. Mái tóc chải đứng cao của cô bung ra. Ông rối rít xin lỗi.

Cô nói: “Không sao, tôi không bị thương chút nào,” cô buộc vội mái tóc và đi vào bếp.

Vợ của Chozaemon thấy đầu tóc cô, ngạc nhiên hỏi: “Hồi nãy chị chải mái tóc đứng rất đẹp, sao bây giờ xổ bung ra vậy?”

Osen, lòng trong sáng, nói: “Ông nhà với lấy mấy chiếc bát trên kệ, để rơi xuống nhằm đầu tôi đấy.”

Nhưng bà chủ nhà không thể tin điều đó: “Hừ! Chiếc bát rơi xuống! Rơi sao mà khéo thế! Cô rơi vào giường ông ta thì có. Rơi vào đúng ngày giỗ cha ông ta nữa chứ!”

Giận điên người, bà ta nhặt những lát cá vừa được cắt và bày cẩn thận trên đĩa gỗ, ném tung tóe khắp nhà bếp. Rồi rượu, rồi bột, thứ gì bà ta nhặt được bà đều ném vào Osen. Sau này, ai nghe chuyện này cũng phải lắc đầu. Có một bà vợ ghen tuông dữ dội như thế thật khổ.

Lúc đầu, Osen cố điềm đạm phân trần, mặc dầu cô rất bực mình. Về sau, càng nghĩ cô càng thấy chua cay. Cô tự bảo: “Khóc làm gì, đã trót mang tiếng nhơ, chẳng còn gì để mất nữa. Được rồi, mình sẽ ái ân với Chozaemon để cho con mụ đàn bà ấy một bài học.” Nuôi ý tưởng đó trong đầu, cô tự nhiên thấy ham muốn ông ta và thế là hai người hứa hẹn với nhau, chỉ chờ cơ hội thuận tiện để thỏa mãn lòng ham muốn.

Ngày lễ hội tháng Giêng là một dịp tốt cho họ, bởi ngày đó đàn bà trẻ con quanh xóm đều vui chơi, tham dự vào những cuộc đua tài, tranh giải. Từ suốt sáng cho đến tối, mọi người bị thu hút vào trò chơi. Kẻ thua ra, kẻ thắng tiếp tục, say sưa quên trời đất. Anh thợ đóng thùng về nhà, vặn nhỏ đèn rồi lên giường, mệt mỏi vì cuộc chơi suốt ngày nên ngủ ngay, có vẻ ai lay cũng chẳng dậy.

Chozaemon theo Osen về nhà. Ông thúc giục: “Đây là lúc ta thực hiện điều đã ước hẹn với nhau,” Osen không chối từ được, dẫn ông vào nhà mình.

Họ vừa chuẩn bị ái ân thì anh thợ đóng thùng thức dậy: “Đồ khốn nạn, ta bắt được ngươi rồi!” Anh hét to.

Chozaemon ném quần áo để chạy thoát thân, run như cầy sấy, ông co giò chạy đến nhà một người bà con để trú ẩn.

Osen thấy tình cảnh mình thật tuyệt vọng, bèn lấy lưỡi bào thợ mộc đâm ngập tim mình và chết. Thi thể cô bị bêu ngoài Cánh-Đồng-Tủi-Nhục cùng với xác của Chozaemon, khi tên vô lại này cuối cùng cũng bị bắt và hành hình. Tên họ được kể lại trong vô vàn bài hát, bài thơ truyền tụng tới các vùng rất xa, với lời cảnh báo: Thế giới này nghiêm khắc và tội lỗi không bao giờ thoát khỏi bị trừng phạt!



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 23.05.2019, 21:39
Hình đại diện của thành viên
☆~ Số 15 ca ~☆
☆~ Số 15 ca ~☆
 
Ngày tham gia: 14.10.2015, 23:36
Bài viết: 2962
Được thanks: 2075 lần
Điểm: 7.53
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Văn học Nhật - Tập truyện ngắn] Năm Người Đàn Bà Si Tình - Ihara Saikaku - Điểm: 10
Gengobei, núi tình

Điệu sáo chấm dứt bằng một nốt nhạc buồn

Cho đến bây giờ, những bài dân ca vẫn còn nhắc đến tên một người đàn ông là Gengobei – chàng vốn từ Kagoshima thuộc vùng Satsuma đến. Chàng có một sở thích đặc biệt trong tình yêu. Chàng để tóc dài theo kiểu quê chàng: Tóc buông xuống lưng với một chùm quấn ngược lên. Kiếm của chàng thì dài và kỳ quặc, nhưng vì đó cũng là theo phong tục nơi quê nhà chàng nên cũng chẳng ai dị nghị gì. Đặc biệt, Gengobei yêu thích các chàng trai trẻ. Không một lần trong đời chàng tỏ ra chú ý đến giới phụ nữ.

Gengobei được hai mươi lăm tuổi. Đã nhiều năm rồi, chàng say đắm một cậu thanh niên là Nakamura Hachijuro, người mà gặp lần đầu tiên chàng đã đem lòng yêu tha thiết và thề thốt. Hachijuro là một thiếu niên cực kỳ anh tuấn, có thể nói là như một nụ hoa đào đang chớm nở, một bông hoa dịu ngọt của ái tình vậy.

Một đêm mưa rả rích, hai chàng trai kề cận trong căn phòng nhỏ của Gengobei. Họ cùng thổi một điệu sáo, cùng lắng nghe những âm thanh bên ngoài vọng lại, cùng bị mê hoặc bởi vẻ đẹp quyến rũ của đêm vắng. Gió thổi qua cửa sổ, đem theo những hạt mưa bụi và hương thơm của cây mận, đọng lại trên tà áo dài của hai người.

Ngọn đèn dầu tắt, những điệu sáo cuối cùng lặng đi vào thinh không. Hachijuro trông quyến rũ hơn, nồng nhiệt hơn bao giờ hết. Mỗi lời nói ra đều trĩu nặng tình yêu. Gengobei sung sướng quá, ước chi Hachijuro cứ giữ như thế này mãi mãi, không thay đổi, vẫn là cậu thiếu niên tuấn tú với mái tóc lòa xòa trước trán như bây giờ. Một ước vọng bất khả, dại rồ ngay cả trong thế giới của những kẻ điên cuồng.

Ngày rạng ở chân trời, họ còn nằm bên nhau giữa đống gối chăn xô lệch. Gengobei vừa thiu thiu ngủ thì Hachijuro lay anh.

“Làm sao thệ huynh có thể phí mất một đêm quý giá dường này,” cậu nói với Gengobei, khi đó đang chưa tỉnh ngủ nên chỉ nghe một nửa lời cậu và chưa hiểu rõ cậu muốn nói gì. “Đây có thể là đêm cuối cùng chúng ta chuyện trò cùng nhau. Thệ huynh không nói những lời cuối cùng để từ biệt đệ ư?”

Gengobei giật mình, “Đệ đừng nói đùa thế làm ta đau lòng. Nếu có một ngày nào đó mà chúng ta phải xa nhau, khuôn mặt của đệ sẽ ám ảnh ta mãi mãi trong giấc mơ. Ích gì mà đùa cợt rồ dại vậy. Đệ bảo đêm nay có thể là đêm cuối cùng làm cho lòng ta thảng thốt.”

Nắm tay Gengobei, Hachijuro cười yếu ớt: “Nơi cõi Phù Đồ này có gì chắc chắn đâu huynh. Ai dám nói chắc khi nào thì đời ta chấm dứt?”

Như một lời tiên tri, cậu vừa nói xong thì mạch ngừng đập. Cái buổi chia tay mà cậu sợ hãi đã thành sự thật.

“Cái gì thế này!” – Gengobei kêu lên rồi từ bàng hoàng đến đau xót, chàng khóc nức nở, khóc hãi hùng cho đến khi mọi người nghe tiếng chạy đến.

Người ta đổ thuốc vào miệng Hachijuro, nhưng vô hiệu. Tất cả đã chấm dứt.

Cha mẹ Hachijuro nghe tin, đau lòng vô hạn. Họ biết rõ Gengobei trong nhiều năm nên không nghi ngờ gì chàng về cái chết của con trai mình.

Tất cả những di vật của cậu tìm được đều gom góp lại chôn theo với cậu. Mộ cậu nằm dưới bóng mát của những cây cỏ cao bên vệ đường.

Gengobei phủ phục trước nấm mồ, để tang cho người đã khuất, ước chi mình cũng có thể từ bỏ cõi đời.

“Hỡi ơi, sao kiếp đệ mỏng manh quá vậy? Ta sẽ để tang đệ ba năm. Đúng ngày này ba năm sau ta sẽ đến đây sum họp với đệ giữa hồn ma bóng quỷ.”

Nói rồi bèn rời mộ và cắt tóc đi tu. Chàng bạch hết chuyện đời mình từ đầu chí cuối cho Sư cụ chùa Saien nghe, sau đó nguyện hiến cuộc đời mình cho kinh kệ.

Vào mùa hạ, hàng ngày chàng nhặt hoa, thắp hương cắm trên mộ và thành tâm cầu nguyện cho linh hồn Hachijuro. Mùa thu tới, hoa nở trên hàng rào nhà chùa, những đóa hoa nhắc nhở đến vẻ đẹp hãi hùng, mong manh của cuộc sống.

Chàng nghĩ, “Cả giọt sương cũng không mong manh hơn kiếp người.” Chàng nhớ tới quá khứ, giờ đây đã mất đi vĩnh viễn. Hôm đó là ngày lễ đón linh hồn người chết trở về. Gengobei ngắt lá oải hương, lá gối rào trên sàn nhà, rồi rắc đậu lên trên – theo phong tục của ngày lễ. Dưới ánh sáng mờ mờ của ngọn đèn lồng, anh chăm chú tụng kinh trước bàn thờ người chết trong khi bên cạnh, một vòng lửa được đốt lên để đón chào linh hồn người chết.

Những buổi chiều ngày mười bốn không phải là một buổi chiều yên tĩnh ở chùa. Các chủ nợ vào dịp này thường đến đòi nợ các nhà sư. Ngoài cổng chùa thì một đám múa lễ đánh trống ồn ào.

Gengobei nghĩ thầm, “Cả ở đây cuộc sống cũng huyên náo quá,” thế là chàng quyết định lên đường đến núi Koya, nơi đây có một Sơn tự do Đại sư Kobo-Daishi xây dựng từ thế kỷ IX.

Sáng sớm ngày mười lăm, chàng khởi hành ra đi trong bộ áo nâu sồng loang lổ vì nước mắt và vạt áo sờn nhiều vì bao lần chùi cặp mắt sưng.



Đời sống của cậu bé bắt chim cũng ngắn ngủi như đời sống của chính con chim

Cả làng sẵn sàng đợi mùa đông. Củi đã được chẻ và bó lại. Người ta dựng hàng rào ngăn tuyết, đóng ván lên cửa sổ hướng bắc để cho chắc chắn, áo ấm thì đem ra rũ bụi sẵn để mặc. Gengobei đi ngang qua những cánh đồng bát ngát, trơ trụi. Chàng đang quan sát những con chim nhỏ bé xây tổ trong những tầng cây lá đỏ rực, bỗng chú ý thấy một cậu bé mười bốn hay mười lăm tuổi, mặc chiếc áo vải viền xanh nhạt, khoác chiếc khăn màu tím. Bên hông cậu đeo một thanh gươm chuôi nạm vàng. Tóc cậu buộc thành lọn. Trông cậu quyến rũ như một cô gái. Tay cậu cầm một mũi phi tiêu bằng tre, nhắm lui nhắm tới một chú chim rồi ném phi tiêu đi hàng trăm lần mà chẳng trúng được con nào cả, trông cậu thất vọng ra mặt.

“Mình chưa bao giờ thấy cậu bé đẹp như thế trên đời” – Gengobei vừa ngắm cậu vừa nghĩ – “Cậu này không lớn hơn Hachijuro, mà nhan sắc thì vượt xa.”

Mọi ký ức về cái chết của Hachijuro biến đi trong tâm trí, chàng đứng ngắm nhìn cậu bé cho đến chạng vạng. Cuối cùng, chàng tiến về phía cậu ta.

“Tôi là người xuất gia, thế mà tôi biết cách bắt chim hơn cậu đấy. Đưa cho tôi nào!”

Chàng cầm lấy cây tre nhọn trên tay cậu bé và chẳng mấy chốc hạ vô số chim khiến cậu bé vui sướng như điên.

“Tại sao mà người như huynh lại trở thành nhà sư vậy?” – Sau đó cậu bé hỏi Gengobei.

Gengobei bèn kể chuyện của mình từ đầu đến cuối, chìm đắm trong kỷ niệm đau thương khiến cặp mắt nhòa lệ.

Cậu thiếu niên thương cảm thốt lên: “Huynh xuất gia vào cửa Thiền vì lý do như vậy thật đáng thương, đáng kính biết nhường nào. Thế nào huynh cũng phải cùng về với đệ ở lại đêm nay.”

Hai người thành đôi bạn thân thiết trên đường về nhà cậu bé, một tòa nhà gỗ tráng lệ, ấm cúng, ngay giữa rừng. Nhìn bầy ngựa và đủ thứ võ khí treo trên tường, Gengobei biết đây là tư thất của một võ sĩ. Từ tiền sảnh rộng trông ra mái hiên có thể thấy những bực đá dẫn đến một chiếc cầu nhỏ. Bên kia cầu, trong vườn trúc là cả một chuồng chim lớn. Từ đây, anh có thể nghe thấy đủ thứ tiếng chim chóc ríu rít. Phía bên trái một chút là một căn phòng nhô ra có thể trông đủ mọi hướng. Vách đầy giá sách, trông ấm cúng và yên tĩnh.

“Đây là thư phòng của đệ” chàng – thiếu niên bảo Gengobei, đoạn mời anh ngồi, gọi người hầu: “Đại sư đây là khách của ta, là thầy dạy ta đọc sách. Các ngươi hầu hạ đại sư cho chu đáo.”

Họ trải qua cả đêm hàn huyên thân mật. Rồi họ thề ước huynh đệ với nhau. Họ ước chi đêm nào cũng là đêm như thế này. Sáng sớm, phải chia tay họ rất sầu thảm.

Thiếu niên bảo: “Thôi huynh lên đường đến Koya. Lúc trở về nhớ ghé lại thăm đệ.” Nói xong, lặng lẽ đi khuất. Gengobei ra khỏi rừng, hỏi thăm một người trong làng, biết thiếu niên đó là con một vị quan trong vùng, anh càng hãi hùng hơn về người bạn mới của mình.

Hành trình của Gengobei chậm chạp, lại càng thấy khó nhọc hơn bởi lòng cứ vương vấn nơi cậu thiếu niên. Suốt dọc đường tâm trí không nghĩ gì hơn là Hachijuro và cậu thiếu niên kia. Con đường chứng ngộ, giải thoát gì gì chẳng hề có trong đầu óc chàng nữa.

Cuối cùng, khi đến Sơn Tự ở Koya, chàng chỉ ở lại thăm viếng qua loa các nhà sư tu ở đó trong một ngày, cũng chẳng buồn bận tâm đi thăm vị đại sư sáng lập chùa nữa. Xong, chàng vội vã quay về, đi thẳng đến khu rừng để gặp cậu thiếu niên như đã hứa.

Thiếu niên đón chàng trông không thay đổi mấy kể từ lần đầu họ gặp nhau, khi cậu đang săn chim trong rừng. Hai người lại cùng vào thư phòng, Gengobei kể cho cậu nghe chuyện dọc đường. Nhưng chàng mệt nhọc vì vất vả sau cuộc hành trình dài nên liền ngủ thiếp đi, không hay biết cậu thiếu niên biến mất.

Sáng sớm, cha cậu bé ngạc nhiên khi thấy một người khách lạ ngủ trong nhà, đến lay anh dậy. Gengobei giật mình thức giấc, vội vàng giải thích mọi điều, chàng trở thành nhà sư như thế nào và chuyện đêm qua khi đến đây. Chàng kể xong, chủ nhân dang tay như thể đột nhiên hiểu ra sự nhiệm màu.

“Kỳ lạ thay! Đứa con trai tuấn tú của ta! Đời sống nó ngắn ngủi quá. Cách đây hai mươi ngày thằng bé đã qua đời. Trước khi lâm chung, nó mê sảng gọi một nhà sư nào đó. Giờ thì tôi mới hiểu nhà sư đó chính là ngài.”

Cả hai cùng bi thương hết nỗi. Gengobei chỉ muốn quyên sinh. Chứng kiến hai người mình yêu thương hết mực đã chết trong một thời gian ngắn, làm sao chàng ham muốn sống ở đời nữa. Thế nhưng, ở đời chẳng ai sinh ra để mà muốn chết cả, chàng bèn xem nỗi bất hạnh vừa qua là nghiệp báo mà mình phải chịu và tiếp tục sống nốt kiếp tu hành.




Kỳ ngộ nơi thảo am
Con người là giống tàn nhẫn, đáng khinh nhất trong vạn vật. Nếu ta nhìn lại chính mình, ta sẽ thấy mọi người – cả ta và kẻ khác – luôn luôn đòi quyên sinh khi một điều đại bất hạnh xảy ra, chẳng hạn như khi chồng ta chết yểu giữa tuổi thanh xuân, hoặc khi người vợ mà ta thề cùng đầu bạc răng long bỗng bất ngờ khuất núi khi đang độ trăng tròn. Thế nhưng, dưới những dòng lệ thảm, những dục vọng ngấm ngầm vẫn ở trong ta. Con tim ta vẫn ngóc đầu lên tìm kiếm một thứ bảo vật trên đời hoặc nó nhượng bộ trước những cám dỗ bất ngờ.

Đó là trường hợp của người đàn bà mà chồng vừa thều thào thở hơi cuối cùng xong đã nghĩ đến một ông chồng khác – chưa lấy được thì cũng ngắm nghía, lắng nghe, dự trù – nàng ta có thể tái giá với người em chồng, nàng ta cũng có thể tìm kiếm một kẻ xứng đôi trong đám quyến thuộc mà quên lãng hoàn toàn kẻ mà bao năm nàng đầu ấp tay gối. Tất nhiên, nàng ta cũng phải đọc kinh, đọc kệ, phải cắm hương hoa trên bàn thờ chồng, để cho mọi người thấy mình là một tiết phụ chính chuyên.

Người ta sẽ khó mà nhận thấy nàng kín đáo thoa lớp phấn hồng trên mặt, bồn chồn chờ lúc cởi bỏ bộ tang phục phải mang trên người. Nàng lén chải lại tóc, xức dầu thơm. Và bên trong bộ áo tang khắc khổ, xấu xí thoáng hiện lên bộ đồ thêu viền nhiều màu, trông hết sức khêu gợi.

Cũng có người đàn bà, cảm thấy cuộc sống chán chường vô vị nên cắt tóc đi tu. Nơi chốn thiền môn, nàng ta chỉ còn những giọt sương sớm để dâng cúng người chồng đang ngủ giấc ngàn thu dưới mộ. Một trong những thứ mà nàng ta phải bỏ lại khi xuất gia là chiếc áo choàng thêu hoa sặc sỡ. Nàng sẽ bảo là mình không bao giờ cần đến những chiếc áo ấy nữa, rằng sẽ cắt chúng làm vải trải bàn thờ… nhưng trong thâm tâm thì luyến tiếc vô hạn.

Thế cho nên không có gì đáng sợ bằng đàn bà. Không có gì có thể ngăn cản nàng ta khi con tim nàng đã muốn. Chính vì thế mà các góa phụ biến đi khỏi thế gian này như những hồn ma, bởi vì chẳng bà nào có thể trung thành mãi với người đã chết. Thế cho nên có ai biết bao nhiêu đấng nam nhi phải lụy vì đàn bà.

Nhưng đó không phải là trường hợp của Gengobei. Chứng kiến hai người anh yêu thương yểu tử, thoát cõi tục lụy, ngày đêm anh miệt mài tìm con đường giải thoát cho kiếp sau.

Nơi vịnh Satsuma, gần đó có người con gái tên là Oman – tuổi mười lăm – dáng dấp yêu kiều, nhan sắc diễm lệ. Nhiều vương tôn, công tử ngấp nghé, muốn ngỏ ý với nàng. Nhưng mùa xuân năm rồi Oman đã đem lòng yêu cái bông hoa trong đám nam giới ấy là Gengobei. Nàng lén viết cho chàng bao lá thư, nhờ người bí mật đưa giùm, nhưng mãi vẫn chẳng thấy Gengobei hồi âm, bởi xưa nay chàng có bao giờ để ý đến phụ nữ đâu.

Oman đau đớn lắm, ngày đêm nàng tưởng nhớ tới anh, nàng cự tuyệt lời cầu hôn của các chàng trai khác. Rồi nàng đi đến chỗ ngã bệnh thình lình, nói năng bất thường khiến cho mọi người tưởng nàng điên. Trước nay, Oman vẫn chưa biết Gengobei đã xuất gia, mãi sau có người mới cho nàng hay. Thật như một ngọn roi khắc nghiệt quất lên nàng, nhưng rồi Oman cố trấn tĩnh, tự nhủ một ngày nào đó nàng sẽ thỏa được ước nguyện. Quả là một hy vọng hão huyền.

Nàng nghĩ: “Ôi ta thù ghét bộ áo nâu sồng của chàng. Ta phải đến gặp chàng để nói cho chàng biết ta thù ghét nó đến chừng nào!”

Nghĩ là làm, Oman giã từ bạn bè quyến thuộc như thể giã từ cõi trần để xuất gia vậy. Nàng bí mật buộc tóc lên, trông giống như một cậu con trai. Nàng đã chuẩn bị sẵn y phục để hóa trang thành một cậu thiếu niên anh tuấn. Lặng lẽ, âm thầm, nàng khởi hành đến Núi Tình – nơi có thảo am của Gengobei.

Oman đến núi vào tháng Mười. Theo lời người ta chỉ dẫn, nàng đi xuyên qua khu rừng bách hương, qua khỏi rừng là những mỏm đá lởm chởm nhọn hoắt, đến một dòng suối chảy dưới vực sâu thăm thẳm đến hút hồn. Chiếc cầu bắc qua suối là những thanh gỗ mục dường như không chịu đựng nổi thân thể mảnh mai của Oman. Vừa bước qua cầu, vừa nhìn xuống khe, nàng rùng mình tưởng chừng như sẽ tan xác dưới vực. Bên kia cầu là thảo am dựng nép bên bờ đá, mái hiên phủ dây leo, nước nhỏ thánh thót, trông rất thâm u tịch mịch.

Cửa sổ phía nam thảo am để hở. Oman đưa mắt nhìn qua, rõ là chỗ ở đơn sơ đạm bạc của người tu hành. Một chiếc lò ọp ẹp, trong là mấy thanh củi còn đang cháy dở. Có hai tách trà, nhưng chẳng thấy thìa, muỗng gì cả.

“Chàng sống đạm bạc thay” – nàng than thở khi quan sát khắp phòng – “Đức Phật hẳn hài lòng khi thấy một người tu hành thanh tịnh như thế này.”

Thấy nhà sư đi vắng, Oman rất đỗi thất vọng, “Chàng đi đâu nhỉ?” – nàng hỏi, nhưng chung quanh có ai đâu mà trả lời. Chung quanh nàng chỉ có những cây thông trơ trọi, nàng cũng chẳng biết làm gì ngoài việc chờ đợi, cô đơn, tiều tụy giữa những cây thông già cỗi.

Một lát sau, nàng thử đẩy cửa. Cửa mở, bước vào bên trong, thấy trên bàn có một cuốn sách. Đọc nhan đề thấy là cuốn “Chiếc giường chờ đợi” nói về nguồn gốc tình yêu của nam giới.

Nàng nhủ thầm: “Xem ra, chàng vẫn chưa từ bỏ được tình yêu.”

Nàng định đọc cuốn sách trong khi đợi chủ nhân về, nhưng trời đã tối không còn nhìn thấy chữ. Nàng không tìm thấy đèn để thắp nên phải chờ đợi trong bóng tối, càng lúc nàng càng thấy đơn độc. Tình yêu chân chính quả thật đã giúp người ta chịu đựng được tất cả.

Đến nửa đêm Gengobei mới trở về, soi đường nhờ một cây đuốc ánh lửa yếu ớt. Chàng đến gần thảo am – nơi Oman đang sốt ruột chờ, nàng thấy dường như có hai người trẻ tuổi từ bụi cây héo úa hiện ra tiến lại phía Gengobei. Hai cậu đều đẹp như nhau, người thì như kim chi, kẻ thì như ngọc diệp. Có vẻ hai thiếu niên ghen nhau, kẻ trừng người háy. Cả hai hăm hở tiến lại gần Gengobei, nhưng chàng chỉ có một mình biết chọn ai.

Thấy vẻ mặt đớn đau, giằng xé của Gengobei, Oman cảm thấy tội cho chàng quá. Nhưng đồng thời, cảnh ấy cũng làm cho nàng ngả lòng.

Nàng chua chát nghĩ: “Chàng có quá đủ người yêu rồi, mình làm sao chen vào được nữa. Mình chỉ gặp chàng để giãi bày hết tấm lòng rồi thôi.”

Oman bèn tiến về phía Gengobei, bước đi quả quyết khiến hai thiếu niên hoảng sợ và vụt biến vào đêm tối. Nàng đứng sững, ngạc nhiên vì việc hai người thoắt biến trong khi Gengobei thì ngạc nhiên vì sự hiện diện của nàng.

“Chàng trẻ tuổi kia, người là ai vậy?” – Chàng hỏi.

“Như ngài thấy, tôi là một kẻ vướng vào tình yêu. Thưa đại sư, tôi đã nghe nói rất nhiều về ngài nên tôi liều thân vượt bao dặm đường đến đây để gặp mặt ngài. Nhưng những tình nhân vừa rồi của ngài… tôi đâu có hay. Thế ra, tôi đã yêu ngài vô vọng. Tôi đã nhầm lẫn.”

Trong lúc nàng đang thổn thức thì Gengobei vỗ tay sung sướng: “Làm sao mà ta ghẻ lạnh với một mối tình như thế được.” Chàng kêu lên trong khi con tim yếu đuối của chàng như bật ra với nàng. “Hai cậu thiếu niên mà người thấy vừa rồi đã chết từ lâu, đó chỉ là ảo ảnh mà thôi.”

Oman khóc và chàng cũng khóc theo, “Hãy yêu tôi như yêu họ,” nàng van nài, “Xin đừng đuổi tôi đi.”

Chàng ôn nhu nói: “Khó mà vượt qua nổi tình yêu, ngay cả đối với kẻ xuất gia đi nữa.”

Chắc đức Phật cũng tha thứ cho chàng thôi. Nói cho cùng, Gengobei đâu biết người yêu của mình là gái.




Đa dạng là hương vị của tình yêu
“Khi huynh mới xuất gia, huynh đã phát thệ với đức Phật là huynh sẽ không yêu một người đàn bà nào. Nhưng huynh cũng biết rằng mình rất khó mà từ bỏ tình yêu đồng giới. Cho nên, huynh mới xin ngài hãy khoan dung cho huynh trong chuyện này. Thế là bây giờ không ai có thể cấm huynh việc này, vì ngay từ đầu huynh đã thẳng thắn trình bày với đức Phật rồi kia mà. Còn đệ, vì thương huynh mà đi suốt bao dặm đường tìm kiếm huynh, thì sau này đệ đừng bỏ huynh đấy nhé.”

Gengobei nói nửa thật nửa đùa. Oman véo đùi chàng, ôm ngực cố nén cười.

Oman nghiêm trang nói: “Bây giờ huynh hãy lắng nghe đệ nói đây. Đệ hết sức cảm thương cho những điều khổ tâm đã qua của huynh, và việc huynh phải thí phát thật là điều đau xót. Việc đệ đi đến đây chứng tỏ đệ quan tâm đến huynh nhường nào. Vì yêu huynh mà đệ đã phải liều thân. Bây giờ huynh phải hứa với đệ là từ đây huynh không được nghĩ đến một người đàn ông nào khác nữa. Ngay cả nếu những lời đệ nói không đúng với huynh hoàn toàn, huynh cũng phải nghe lời đệ nhé. Khi huynh đã thề ước với đệ xong, đệ sẽ hiến dâng cho huynh tất cả và hứa sẽ yêu huynh ngay cả sau khi đệ chết.”

Đối với Gengobei đó thật là một điều rồ dại, nhưng chàng vẫn trang trọng thề ước: “Đối với một con tim như thế này ta sẽ làm tất cả, ngay cả nếu như phải từ bỏ cửa Thiền ta cũng làm.”

Lòng rạo rực ham muốn, Gengobei luồn tay vào vạt áo Oman và cảm thấy tấm thân nàng… Lạ thật, người yêu của chàng không mang áo lót đàn ông với những sợi dây buộc quanh hông.

Vẻ kinh ngạc của Gengobei làm Oman vui thích, nhưng đến lượt nàng ngạc nhiên khi thấy chàng lấy một vật gì đó trong túi ra và bỏ vào mồm nhai.

“Huynh làm gì vậy?” – Nàng hỏi.

Gengobei không trả lời, giấu vật đó lại trong túi áo. Đó là một loại nigiri[16]. Oman cảm thấy buồn cười và nằm úp mặt xuống giường.

Gengobei tháo chiếc khăn trên đầu Oman, loại khăn dùng cho các chàng trai, hẹp và buộc ở phía sau đầu. Chàng chợt nghĩ người yêu có thể bị lạnh vì không quen với khí hậu vùng núi, chàng vội trùm chiếc áo ngủ bằng bông lên người Oman.

“Nào!” – Chàng vừa nói vừa gối đầu lên cánh tay nàng.

Gengobei ngạc nhiên vô độ. Chàng cẩn thận ngắm nhìn và nhận thấy khuôn mặt dịu dàng của người yêu mình là khuôn mặt phụ nữ. Khám phá này làm cho chàng tê cứng người. Rồi chàng toan vùng dậy nhưng Oman đã ôm chặt lấy chàng.

“Vừa rồi, chàng đã hứa sẽ làm theo điều em nói, bất kể là điều gì. Chàng sớm quên vậy sao? Em là Oman, con gái của gia đình Ryukyu. Năm rồi, em gửi hết lá thư này đến lá thư khác thế mà chàng nhẫn tâm không trả lời. Em phải giấu nỗi đau trong lòng, em biết làm gì hơn là cải nam trang để đến gặp chàng ở đây? Chàng nỡ trách em vì điều đó sao?”

Vừa thủ thỉ, Oman vừa áp tấm thân thanh xuân diễm lệ của nàng vào người Gengobei. Chẳng mấy chốc Gengobei lại thấy rạo rực ham muốn nàng.

“Thế ra, yêu một người đàn ông hay một người đàn bà có khác gì đâu!” - Gengobei kêu lên trong nỗi đam mê điên cuồng, nỗi đam mê của tất cả chúng sinh trên thế giới này.

Đó là bể ái thường tình của chúng ta. Dầu có là cạm bẫy đi nữa, mấy ai có thể từ chối.




Người có quá nhiều vàng bạc
Phải một năm tóc mới mọc dài lại được. Khi vất bỏ bộ nâu sồng, chàng trở lại thành chàng thanh niên Gengobei anh tuấn ngày xưa.

Ở trên núi không có lịch, người ta biết mùa bằng cách xem hoa nở hoa rụng. Lúc đó là vào tháng Giêng, khi Gengobei từ bỏ con đường tu hành để trở lại với cuộc sống hoan lạc trần thế. Đầu tháng Hai, chàng đến gặp một người bạn cũ sống ở Kagoshima và xin thuê của bạn một mái nhà tranh nhỏ để cùng sống với Oman. Nhưng chẳng có phương tiện gì sinh sống, Gengobei phải đến nhà cha mẹ chàng, nhưng thấy nhà chàng đã bán vào tay người khác. Đứng trước cổng tòa nhà đồ sộ nguy nga, chàng thấy lòng đau như cắt.

Chàng hỏi một người lạ về cha chàng thì nghe bảo: “Tôi nghe nói trước đây ông ta giàu có và tốt bụng lắm. Ông ta có một đứa con trai tên là Gengobei, là một chàng trai khôi ngô nhất trong vùng này, nhưng cũng là một tên nô lệ của ái tình. Trong tám năm, Gengobei đã tiêu đi hết tám ngàn cân bạc trong hoan lạc, làm khánh kiệt gia sản của cha, đến nỗi ông ta phải bán nhà bán cửa, đi nơi khác. Người ta bảo rằng Gengobei đó xuất gia thành nhà sư, chẳng qua cũng do lụy vì tình. Anh có thể tưởng tượng nổi một con người như vậy không? Ai nói về hắn cũng bảo: “Tôi ước chi được gặp tên vô lại đó một lần để cho hắn biết tay.””

“Tên vô lại đó ở đây này,” Gengobei tự nhủ, chàng tủi hổ kéo chiếc nón rơm che khuất mặt.

Chàng lại trở về ngôi nhà tranh, ban đêm không có đèn để thắp và ban sớm lạnh không có củi để sưởi. Điều bi thảm nhất là vì đói kém đến như thế nên yêu nhau cũng không muốn nổi. Đôi tình nhân nằm chung trên một gối nhưng chẳng có điều gì để nói với nhau trước khi ngủ.

Đến ngày Lễ Tháng Ba, bên ngoài mọi người vui đùa, đá gà, múa lân và đủ các trò chơi khác thì trong nhà tranh, đôi tình nhân phải trải qua một ngày ảm đạm. Họ không còn một chút gì để có thể đặt lên khay cúng trên bàn thờ. Họ bèn bẻ một nhánh hoa đào dại và cắm vào chai rượu sa-kê rỗng vì từ lâu họ cũng hết sạch rượu rồi. Đêm xuống, họ lại đi ngủ cho đến ngày hôm sau.

Một hôm, đang nghĩ cách kiếm sống, họ chợt nảy ra ý nghĩ dựng một vở hát mà họ đã từng xem diễn ở Kyoto. Lập tức, Gengobei hóa trang mặt mình bằng một bộ râu giả, sắm vai nô lệ của Ái tình. Trông anh giống hệt hình ảnh của diễn viên nổi tiếng Arashi-Sanemon, ngoại trừ nghệ thuật anh còn vụng về vì anh mới tập sự. Thế là anh hát:

“Gengobei, ngươi đi đâu?

Đi đến những ngọn đồi ở Satsuma,

Với một bao gươm đáng giá ba xu,

Và chuôi gươm đáng giá hai xu,

Còn thanh gươm bên trong thì bằng gỗ trắc.”

Đi từ làng này sang làng khác, trong khi Gengobei hát lớn những lời như trên cho trẻ con nghe, thì Oman mặc những bộ áo bạc màu múa may làm điệu bộ theo điệu tuồng Kabuki[17]. Họ cùng nhau sống trong một thế giới mà nước mắt cũng đầy như sương sớm. Thật không dễ gì sống bằng tình yêu. Họ mất dần hết phẩm cách, càng ngày càng ăn mặc rách rưới hơn, cho đến khi nhan sắc ngày xưa của họ cũng tàn phai. Trong cõi đời bạc ác này, có ai thương hại họ đâu. Họ bất lực trước số phận như cành hoa tử đinh hương héo úa rồi tàn. Họ nguyền rủa bằng hữu, thương xót chính mình. Có vẻ như ngày chung cuộc đã đến với họ.

Thế rồi đột nhiên song thân Oman đến gặp, sau một thời gian dài quanh quất đi tìm con gái khắp nơi. Họ gặp được nàng, thật là đại đoàn viên. Thấy con gái yêu mê Gengobei, song thân Oman quyết định để họ thành vợ chồng và trao nhà cửa, gia tài cho hai người. Cả một đoàn kẻ hầu người hạ hộ tống hai người về đến nhà, mọi người đều hân hoan thấy Oman trở lại.

Ngày cưới được định và chìa khóa kho tàng gia đình được trao cho Gengobei. Khi căn hầm được mở ra, Gengobei chóa mắt vì thấy ngọc ngà, châu báu, vàng bạc không kể xiết. Hàng núi quần áo, lụa là, hàng trăm của quý vật lạ từ Trung Hoa, Ấn Độ, Ba Tư,… Tóm lại, như thể các kho tàng trên thế giới đều tích tụ tại đây.

Hạnh phúc quá, Gengobei bật khóc.

“Ta có thể mua tất cả những người đẹp ở Edo, Kyoto, ở Osaka. Ta có thể tài trợ cho tất cả các gánh hát. Ta biết làm gì đây vì cả đời ta cũng không tiêu hết nổi tài sản này.”


Chú thích

[1] Ueda Akinari, "Hẹn mùa hoa cúc", Nguyễn Trọng Định dịch, Nxb Kim Đồng, 2000, trang 83.

[2] "Tổng quan lịch sử văn học Nhật Bản", Nguyễn Nam Trân, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2011, trang 223.

[3] Ihara Saikaku, "Năm người đàn bà si tình", Phạm Thị Nguyệt dịch, Nhà xuất bản Tổng hợp Tiền Giang, 1988, trang 29.

[4] Ueda Akinari, "Hẹn mùa hoa cúc", Nguyễn Trọng Định dịch, Nxb Kim Đồng, 2000, trang 7.

[5] Kinh Pháp Cú, Lời Phật dạy, Thích Thiện Siêu và Thích Minh Châu dịch, Nxb Hồng Đức, 2014, trang 201.

[6] Một loại bột gạo dùng để làm bánh.

[7] Tác giả nhắc đến bài thơ của Narihira thế kỷ IX. Bị đày ải, Narihira khao khát được gặp người yêu và nhờ con chim miyako mang tin nàng đến cho chàng.

[8] Theo một tập tục xuất phát từ thời Trung đại ở Nhật, một người đàn ông thề nguyền yêu thương với một cậu trai nhỏ tuổi hơn. Người “thệ huynh” này hứa nuôi nấng và bảo vệ “người em”, ngược lại, người em phải vâng lời và thủy chung với người “thệ huynh”. Khi Kichisaburo yêu Oshichi thì anh đã phá hủy lời thề trung thành với người “thệ huynh” của mình trước kia. (Chú thích của bản Tiếng Anh).

[9] Daikyoji.

[10] Komachi là nữ thi sĩ và là một mỹ nhân nổi tiếng ở nước Nhật, có một thời gian là người yêu Hoàng đế Nimmyo (834 - 850), sau cự tuyệt tất cả mọi kẻ đến cầu hôn, cuối cùng hành khất và chết.

[11] Hôn nhân trong họ hàng kiểu này không cấm đoán, theo phong tục Nhật Bản.

[12] Do một người nào đó ném xuống giếng để trù ếm kẻ khác.

[13] Một quái vật mũi dài, có cánh – trong thần thoại dân gian Nhật Bản.

[14] Dùng làm nước rửa (Chú thích của bản tiếng Anh).

[15] Một thứ bánh được làm bằng bột gạo với cá, trứng.

[16] Loại sushi có nắm cơm hình bầu dục, được ép bằng tay, có thể được làm với rất nhiều loại thịt ở trên cùng.

[17] Kịch truyền thống của Nhật Bản với hát và múa, chỉ do nam tài tử biểu diễn.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 6 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
[Cổ đại - Trùng sinh] Đích trưởng nữ - Hạ Nhật Phấn Mạt

1 ... 87, 88, 89

[Xuyên không] Khuynh thế tuyệt sủng tiểu hồ phi - Thanh Canh Điểu

1 ... 62, 63, 64

3 • [Hiện đại] Tổng tài đừng tới đây! - Ăn quái thú

1 ... 40, 41, 42

[Hiện đại] Hào môn thịnh sủng bảo bối thật xin lỗi - Hạ San Hô

1 ... 49, 50, 51

5 • [Cổ đại] Sư phụ quá mê người đồ đệ phạm thượng! - Khinh Ca Mạn

1 ... 66, 67, 68

6 • [Hiện đại - Trùng sinh] Sống lại sinh em bé - Sâm Trung Nhất Tiểu Yêu

1 ... 15, 16, 17

7 • [Cổ đại - Trùng sinh] Thừa tướng yêu nghiệt sủng thê - Sương Nhiễm Tuyết Y

1 ... 94, 95, 96

8 • [Hiện đại] Ông xã cầm thú không đáng tin - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 73, 74, 75

9 • [Hiện đại] Người tình của tổng giám đốc đài truyền hình - Cơ Thủy Linh

1 ... 19, 20, 21

10 • [Xuyên không - Cung đấu] Thế nào là hiền thê - Nguyệt Hạ Điệp Ảnh

1 ... 41, 42, 43

11 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 192, 193, 194

12 • [Xuyên không] Cuộc sống điền viên của Tình Nhi - Ngàn Năm Thư Nhất Đồng

1 ... 180, 181, 182

13 • [Hiện đại] Vợ cũ quay lại Tổng tài biết sai - Vô Danh

1 ... 182, 183, 184

14 • [Hiện đại] Người tình hợp đồng của tổng giám đốc bạc tình - Hải Diệp

1 ... 113, 114, 115

15 • [Hiện đại] Cục cưng càn rỡ Tổng giám đốc dám cướp mẹ của tôi - Tả Nhi Thiển

1 ... 99, 100, 101

16 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 244, 245, 246

17 • [Hiện đại] Tổng tài yêu Thủy Tinh - Thiên Nhan

1 ... 10, 11, 12

18 • [Xuyên không - Dị giới] Thiên tài triệu hồi sư - Nhược Tuyết Tam Thiên

1 ... 179, 180, 181

19 • [Xuyên không] Hoàng gia tiểu kiều phi - Ám Hương

1 ... 135, 136, 137

20 • [Hiện đại] Hôn nhân bất ngờ Đoạt được cô vợ nghịch ngợm - Luật Nhi

1 ... 169, 170, 171



Shop - Đấu giá: |Thủy Nhi| vừa đặt giá 250 điểm để mua Bé mua sắm
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 468 điểm để mua Mèo đen lau nhà
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 444 điểm để mua Mèo đen lau nhà
Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 300 điểm để mua Bánh trung thu xanh
Shop - Đấu giá: |Thủy Nhi| vừa đặt giá 346 điểm để mua Nữ hoàng 2
LogOut Bomb: White Silk-Hazye -> Thiên Hạ Đại Nhân
Lý do: Tên hay
thuonglu: lâu ngày không đăng bài, phải mò cả buổi T.T
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 250 điểm để mua Giày teen
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 295 điểm để mua Princess 3
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 287 điểm để mua Thư tình
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 257 điểm để mua Nữ hoàng phù thủy
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 248 điểm để mua Bánh sinh nhật 5 đèn
Viễn Giả Lai Ni: viewtopic.php?t=412603&p=3450071#p3450071
Tuyền Uri: Cầm thú trả bà 10 điểm mau :slap: ai thiếu nợ em mau trả 1 năm dồi  :hixhix:
mymy0191: Hi
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 774 điểm để mua Mèo con ngủ trên trăng
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 450 điểm để mua Hổ ném bom
Shop - Đấu giá: V.O vừa đặt giá 712 điểm để mua Cặp nhẫn kim cương
Shop - Đấu giá: V.O vừa đặt giá 431 điểm để mua Bông tuyết
Shop - Đấu giá: Mai Tuyết Vân vừa đặt giá 427 điểm để mua Hổ ném bom
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 405 điểm để mua Hổ ném bom
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 312 điểm để mua Thiên thần 3
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 384 điểm để mua Hổ ném bom
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 250 điểm để mua Couple 7
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 3424 điểm để mua Anh bộ đội
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 364 điểm để mua Hổ ném bom
Shop - Đấu giá: Mai Tuyết Vân vừa đặt giá 345 điểm để mua Hổ ném bom
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 327 điểm để mua Hổ ném bom
Shop - Đấu giá: Mai Tuyết Vân vừa đặt giá 310 điểm để mua Hổ ném bom
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 294 điểm để mua Hổ ném bom

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.