Diễn đàn Lê Quý Đôn


Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 15 bài ] 

Truyện ngắn Ernest Hemingway - Ernest Hemingway

 
Có bài mới 14.12.2018, 15:32
Hình đại diện của thành viên
☆~ Số 15 ca ~☆
☆~ Số 15 ca ~☆
 
Ngày tham gia: 14.10.2015, 23:36
Bài viết: 2952
Được thanks: 2074 lần
Điểm: 7.52
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tập truyện ngắn] Truyện ngắn Ernest Hemingway - Ernest Hemingway - Điểm: 10
Rặng đồi tựa đàn voi trắng
Rặng đồi vắt qua thung lũng Ebro dài và trắng. Sườn bên này không có bóng mát, không cây cối, trong ánh nắng, nhà ga nằm giữa hai tuyến đường xe lửa. Ngay sát cạnh ga, một ngôi nhà đang tỏa bóng mát và bức rèm tre, được kết bằng nhiều chuỗi hạt, treo ngang cửa để giữ ruồi. Một người Mỹ cùng với một cô gái đang ngồi ở chiếc bàn đặt trong bóng mát, bên ngoài tòa nhà. Trời nóng. Chuyến tàu tốc hành từ Barcelona sẽ đến trong vòng bốn mươi phút nữa. Đoàn tàu dừng ở ga hai phút rồi sẽ đi Madrit.

"Ta uống gì nhỉ?" cô gái hỏi. Nàng tháo mũ và đặt nó lên bàn.

"Tròn hơi bức", người đàn ông nói.

"Chúng mình đi uống bia đi".

"Dos cervezas" 1 người đàn ông gọi với vào trong bức rèm.

"Cốc lớn chứ?" từ ngưỡng cửa, một người đàn bà hỏi.

"Vâng. Hai cốc lớn".

Người đàn bà mang ra hai cốc bia và hai miếng đệm nỉ. Bà đặt đệm lót với bia lên bàn rồi nhìn người đàn ông và cô gái. Cô gái đang ngắm rặng đồi. Chúng trắng lên dưới ánh nắng còn miền quê thì chuyển sang màu nâu và khô ráo.

"Trông chúng tựa đàn voi trắng", nàng nói.

"Anh chẳng từng thấy con nào cả", người đàn ông uống bia đáp.

"Đúng, anh chẳng thấy".

"Anh có thể thấy", người đàn ông nói. "Nhưng nếu em bảo là anh không nhìn thấy thì cũng chẳng sao".

Cô gái nhìn bức rèm tre: "Người ta vẽ hình gì nhỉ?" nàng nói. "Có nghĩa gì vậy?"

"Anis del Toro. Một loại rước giải khát".

"Chúng mình uống thử nhé?"

Người đàn òng gọi qua bức rèm "Bà chủ". Người đàn bà bước ra.

"Bốn xu".

"Chúng tôi muốn hai cốc Anis del Toro".

"Có dùng nước không?"

"Em muốn uống với nước chứ?"

"Em không biết". Cô gái đáp. "Pha thêm nước có ngon không?"

"Ngon".

"Ông bà muốn dùng với nước chứ?" người đàn bà hỏi.

"Vâng, với nước".

"Vị của nó giống như mùi cam thảo", cô gái nói rồi đặt cốc xuống.

"Mọi thứ đều có vị ấy".

"Vâng" cô gái nói. "Mọi thứ đều có vị cam thảo. Đặc biệt là tất cả những thứ khiến người ta chờ đợi quá lâu, chẳng hạn như absinthe".

"Thôi, đừng nói nữa".

"Anh gợi ra mà", cô gái nói. "Em chỉ đùa chơi. Em đang có những phút giây thoải mái".

"Ừ, chúng mình hãy cố có thời gian thoải mái".

"Được rồi. Em đang cố. Em bảo những ngọn đồi trông giống những con voi trắng. Điều ấy chắng vui sao?"

"Ý tưởng vui đấy".

"Em muốn nếm thử thức uống mới này. Đấy là tất cả những gì chúng mình làm, nó chẳng - ngắm quang cảnh và nếm những loại nước giải khát mới hay sao?"

"Anh nghĩ thế".

Cô gái nhìn xuyên về phía rặng đồi.

"Chúng là những quả đồi đáng yêu", nàng nói. "Thực ra trông chúng chẳng giống những con voi trắng. Em chỉ muốn nói đến màu da của chúng toát lên qua rừng cây".

"Chúng mình uống thêm chứ?"

"Được thôi".

Làn gió ấm đưa bức rèm tre lại gần bàn.

"Bia ngon và mát", người đàn ông nói.

"Đáng yêu thật", cô gái nói.

"Thực ra, đó chỉ là một ca phẫu thuật cực kỳ đơn giản thôi mà, Jig", người đàn ông nói. "Thậm chí cũng chẳng phải là một ca phẫu thuật nữa".

Cô gái nhìn xuống đất, chỗ chân bàn đặt lên.

"Anh biết, em đừng nên bận tâm, Jig. Nó chẳng hề gì đâu. Chỉ để không khí vào thôi".

Cô gái không nói lời nào.

"Anh sẽ đi với em và lúc nào anh cũng ở bên em. Họ chỉ để không khí vào và rồi tất cả sẽ trở lại bình thường".

"Sau đó ta sẽ làm gì?"

"Ta sẽ thoải mái, như trước đây".

"Cái gì khiến anh nghĩ như vậy?"

"Đấy là điều duy nhất làm phiền chúng ta. Điều duy nhất khiến chúng ta bất hạnh".

Cô gái nhìn bức rèm tre, rồi đưa tay nắm hai sợi rèm.

"Rồi anh nghĩ sau đó chúng ta sẽ ổn và hạnh phúc?"

"Anh biết chúng ta sẽ. Em không phải sợ. Anh biết rất nhiều người đã làm điều đó".

"Em cũng thế", cô gái nói. "Rồi sau đó tất thảy họ đều hạnh phúc?"

"Ừ", người đàn ông nói, "Nếu em không muốn thì em không cần phải. Anh không ép nếu em không muốn. Nhưng anh biết nó cực kỳ đơn giản.

"Và anh thực sự muốn?"

"Anh nghĩ đấy là giải pháp tốt nhất. Nhưng anh không muốn em thực hiện nếu em thực sự không muốn".

"Nhưng nếu em làm điều đó thì anh sẽ hạnh phúc, mọi thứ sẽ như trước. Và anh sẽ yêu em chứ?"

"Bây giờ anh yêu em. Em biết anh yêu em".

"Em biết. Nhưng nếu em làm điều đó, rồi mọi chuyện tốt đẹp trở lại, nếu em nói những chuyện giống chuyện voi trắng, thì anh có thích không?"

"Anh sẽ thích. Bây giờ anh thích điều đó song anh chỉ không thể nào nghĩ về nó. Em biết, khi lo lắng thì anh như thế nào rồi".

"Nếu em làm điều ấy thì anh sẽ chẳng bao giờ lo lắng nữa chứ?"

"Anh không lo về điều ấy, bởi nó cực kỳ đơn giản".

"Vậy thì em sẽ làm. Bởi vì em không quan tâm đến bản thân mình".

"Em nói gì vậy?"

"Em không quan tâm đến bản thân mình".

"Chẳng sao, anh sẽ chăm sóc em".

"Ồ, vâng. Nhưng em không nghĩ về bản thân mình. Em sẽ làm điều đó rồi sau đấy mọi chuyện sẽ tốt đẹp".

"Anh không muốn em làm điều ấy nếu em nghĩ như thế".

Cô gái đứng dậy, đi đến cuối nhà ga. Đằng kia, cánh đồng ngũ cốc và rừng cây trải dọc theo bờ của dòng Ebro. Cách dòng sông một khoảng khá xa là những ngọn núi. Bóng của đám mây bồng bềnh trên cánh đồng ngũ cốc; nàng thấy dòng sông xuyên qua rừng cây.

"Lẽ ra chúng ta có thể có tất cả cái kia", nàng nói "Chúng ta có thể có tất cả nhưng mỗi ngày chúng ta lại khiến nó càng không thể".

"Em nói gì vậy?"

"Em nói chúng ta có thể có mọi thứ".

"Chúng ta có thể có mọi thứ".

"Không, chúng ta không thể".

"Chúng ta có thể có cả thế giới".

"Không, chúng ta không thể".

"Chúng ta có thể đi mọi nơi".

"Không, chúng ta không thể. Nó chẳng còn là của chúng ta nữa rồi".

"Nó là của chúng ta."

"Không nó không. Một khi người ta phá bỏ nó thì anh sẽ chẳng bao giờ có nó nữa."

"Nhưng họ không bỏ nó".

"Chúng ta hãy chờ xem".

"Quay vào trong bóng râm đi", hắn nói. "Em chớ nghĩ như thế".

"Em chẳng nghĩ gì cả", cô gái đáp. "Em chỉ biết thế".

"Anh không muốn em làm bất kỳ việc gì mà em không muốn".

"Chẳng phải điều ấy không tốt cho em", nàng nói. "Em biết. Ta gọi thêm bia nữa chứ?"

"Ừ, nhưng em phải biết".

"Em biết", cô gái nói. "Nhưng chẳng nhẽ chúng ta không thể ngừng nói được nữa sao?"

Họ ngồi vào bàn rồi cô gái nhìn ra phía những ngọn đồi bên cạnh thung lũng khô ráo, còn người đàn ông thì hết nhìn nàng rồi lại nhìn cái bàn.

"Em phải hiểu", hắn nói, "rằng anh không muốn em làm điều ấy nếu em không muốn. Anh sẽ hoàn toàn vui lòng với chuyện đó nếu nó có ý nghĩa gì đấy đổi với em".

"Vậy nó không có chút ý nghĩa nào với anh sao? Chúng ta có thể thỏa thuận".

"Dĩ nhiên là có. Nhưng anh không muốn bất kỳ ai ngoài em. Anh không muốn bất kỳ một ai khác. Vả lại anh biết nó cực kỳ đơn giản".

"Vâng, anh biết nó cực kỳ đơn giản".

"Nói thế chỉ có tốt cho em, bởi anh quá hiểu nó".

"Bây giờ anh có thể làm gì đó cho em được không?"

"Anh sẽ làm bất cứ việc gì vì em".

"Em xin anh xin anh xin anh xin anh xin anh xin anh xin anh im đi có được không?"

Hắn chẳng nói lời nào nữa mà chỉ nhìn mấy chiếc túi đặt tựa vào tường nhà ga. Nhiều nhãn đính lên chúng từ tất cả các khách sạn họ đã ngủ lại.

"Nhưng anh không muốn em", hắn nói, "anh chẳng quan tâm chút nào về chuyện đó".

"Tôi sắp hét lên đây", cô gái nói.

Người đàn bà bước ra khỏi tấm rèm. Bà mang hai cốc bia rồi đặt chúng lên những miếng đệm nỉ đã ướt. "Năm phút nữa tàu sẽ đến", bà nói.

"Bà ta nói gì vậy?" cô gái hỏi.

"Rằng tàu sẽ đến trong vòng năm phút nữa".

Cô gái mỉm cười rạng rỡ với người đàn bà rồi cảm ơn bà ta.

"Tốt hơn là anh mang mấy cái túi đến đằng kia nhà ga", người đàn ông nói. Nàng mỉm cười với hắn.

"Anh làm đi, rồi quay lại và chúng ta sẽ cạn cốc".

Hắn nhấc hai chiếc túi nặng, mang chúng vòng qua nhà ga, đi đến tuyến đường kia. Hắn nhìn theo đường ray nhưng không thấy tàu. Hắn đi tắt qua quán bar, nơi những người đợi tàu đang ngồi uống, để quay trở lại. Hắn uống một cốc Anis ở quầy và nhìn mọi người. Tất cả bọn họ đang bình thản đợi tàu. Hắn bước qua bức rèm, ra ngoài. Nàng đang ngồi bên bàn và mỉm cười với hắn.

"Em cảm thấy đỡ hơn chứ", hắn hỏi.

"Em thấy dễ chịu", nàng đáp. "Ổn rồi. Em cảm thấy dễ chịu".

Lê Huy Bắc dịch

--- ------ ------ ------ -------
1     "Hai bia".

Những kẻ giết người
Cửa quán Henry mở, hai người đàn ông bước vào. Họ ngồi cạnh quầy.

"Thưa, các ông dùng gì?" George hỏi.

"Tau không biết", Al nói. "Tau chẳng biết mình muốn ăn gì?"

Bên ngoài trời dần tối. Đèn đường bật sáng ngoài cửa sổ. Cạnh quầy, hai gã đàn ông đọc thực đơn. Đằng cuối quầy, Nick Adams quan sát chúng. Cậu đang nói chuyện với George lúc chúng bước vào.

"Cho tau đĩa thân lợn quay với nước sốt táo và khoai tây nghiền", gã thứ nhất nói.

"Món ấy chưa có".

"Thế thì bọn mày đưa vào thực đơn chết tiệt này để làm gì?"

"Đấy là món tối", George giải thích. "Ông có thể gọi vào lúc sáu giờ".

George ngước ra sau quầy nhìn đồng hồ tường.

"Mới năm giờ".

"Đồng hồ chỉ năm giờ hai mươi rồi đó", gã thứ hai nói.

"Nó nhanh hai mươi phút".

"Hả, cái đồng hồ chết rấp", gã thứ nhất nói. "Bọn mày có gì ăn đấy?"

"Tôi có thể phục vụ các ông bất cứ loại bánh sandwich nào", George nói. "Các ông có thể gọi giăm bông-trứng, thịt lợn muối trộn trứng, gan với thịt lợn muối, hoặc bít tết".

"Mang cho tau mấy chiếc bánh rán nhồi thịt gà với đậu xanh, nước sốt kem và khoai tây nghiền".

"Đấy là món tối".

"Những món bọn tau gọi đều là món tối cả sao, hả? Đấy là cách chúng mày phục vụ hả?"

"Tôi có thể phục vụ ông giăm bông trộn trứng, thịt lợn muối với trứng, gan".

"Tau sẽ ăn giăm bông và trứng", gã tên Al nói. Hắn đội mũ quả dưa, vận áo khoác đen cài nút đến tận cổ. Mặt hắn choắt và tái, môi mím chặt. Hắn quàng khăn lụa và đeo găng.

"Mang cho tau thịt lợn muối và trứng", gã khác nói. Khổ người hắn bằng Al. Nét mặt tuy khác nhau, nhưng chúng ăn mặc tựa cặp song sinh. Hai chiếc áo khoác quá chật đối với chúng. Chúng ngồi chồm tới trước, khuỷu tay đặt lên quầy.

"Có gì uống?" Al hỏi.

"Bia Silver, bevo, nước gừng", George đáp.

"Ý tau là mày có thứ gì uống?"

"Chỉ mấy loại tôi vừa nói".

"Đây là một thị trấn nóng", gã kia nói. "Họ gọi nó là gì nhỉ?"

"Summit".

"Đã từng nghe thấy chưa?" Al hỏi bạn gã.

"Chưa", gã bạn đáp.

"Buổi tối người ta làm gì ở đây?" Al hỏi.

"Họ ăn tối", bạn gã đáp. "Tất cả bọn kéo đến đây chén bữa tối ê hề".

"Đúng đấy", George nói.

"Mày nghĩ việc ấy đúng à?" Al hỏi George.

"Chắc rồi".

"Mày là anh chàng khá thông minh đấy, có phải không?"

"Hẳn rồi".

"Ồ, mày không", gã quắt người nói. "Cái thằng nhóc đó, Al?"

"Hắn là đồ ngu xuẩn", Al đáp. Gã quay sang Nick. "Tên mày là gì?"

"Adams"

"Một chú nhóc thông minh nữa", Al nói. "Hắn có phải là đứa thông minh không hả Max?"

"Thị trấn này đầy rẫy những thằng thông minh", Max đáp.

George đặt hai đĩa thức ăn lên quầy, một đựng giăm bông trộn trứng, đĩa kia là thịt lợn muối với trứng. Nó để thêm hai đĩa khoai tây rán ăn kèm xuống rồi đóng cánh cửa thông sang bếp.

"Đĩa nào của ông?" nó hỏi Al.

"Mày chẳng nhớ sao?"

"Giăm bông và trứng".

"Đúng là anh chàng thông minh", Max nói. Gã cúi tới trước lấy đĩa đựng giăm bông và trứng. Hai gã vẫn đeo găng tay trong khi ăn. George nhìn chúng ăn.

"Việc gì mày để ý đến nó?" Max nhìn George.

"Chẳng sao cả".

"Đồ chết tiệt. Mày quan sát tau".

"Có lẽ thằng nhóc tưởng đó là trò đùa, Max", Al nói.

George cười!

"Mày không được cười", Max bẳo nó. "Mày phải ngậm miệng lại, hiểu chưa?"

"Được rồi", George đáp.

"Như thế hắn nghĩ chuyện ấy được". Max quay sang Al. "Hắn nghĩ chuyện ấy được, thằng bé khá đấy".

"Ồ, hắn là một triết gia", Al nói. Chúng tiếp tục ăn.

"Tên đứa thông minh đằng kia quầy là gì?" Al hỏi Max.

"Này anh chàng thông minh kia", Max gọi Nick. "Đi vòng qua quầy lại chỗ bạn mày đi".

"Để làm gì?" Nick hỏi.

"Chẳng để làm gì cả".

"Tốt hơn là mày qua đi, anh chàng thông minh", Al nói. Nick đi vòng ra sau quầy.

"Để làm gì vậy?" George hỏi.

"Không phải việc của mày", Al nói. "Ai ở trong bếp?"

"Anh da đen".

"Mày nói thằng da đen là có nghĩa gì?"

"Anh da đen làm bếp".

"Gọi hắn ra đây".

"Để làm gì?"

"Gọi hắn ra đây".

"Các ông nghĩ mình ở đâu đấy?"

"Bọn tau biết rõ tiệt nơi bọn tau ở", gã tên Max nói. "Trông bọn tau đần lắm sao?"

"Mày nói vớ vẩn", Al bảo gã. "Mày tranh luận với thằng nhóc này làm cái quái gì? Nghe đây", gã bảo George, "bảo thằng mọi kia ra ngay đây".

"Các ông sẽ làm gì anh ấy?"

"Chẳng làm gì. Hãy dùng đầu của mày. Anh chàng thông minh. Bọn tau sẽ làm gì với thằng mọi đen kia chứ?"

George mở cánh cửa thông sang bếp. "Sam", nó gọi. "Lên trên này một lát". Cảnh cửa trổ vào bếp mở ra, gã da đen bước vào. "Chuyện gì vậy?" hắn hỏi. Hai gã đứng cạnh quầy nhìn hắn.

"Chẳng gì cả, thằng đen. Mày đứng ngay đó", Al nói.

Sam, anh da đen đang vận tạp dề đứng nhìn hai gã ngồi bên quầy. "Vâng, thưa ngài", anh nói. Al ngồi xuống ghế của gã.

"Tau sẽ vào bếp với thằng da đen và một anh chàng thông minh", gã nói. "Quay trở lại bếp, thằng đen. Mày đi cùng hắn, anh chàng thông minh", gã quắt người bước sau Nick và Sam đầu bếp, đi vào bếp. Cánh cửa đóng lại sau lưng họ. Gã tên Max ngồi bên quầy, đối diện với George. Gã không nhìn George mà nhìn vào tấm gương treo phía sau quầy. Tiệm ăn Henry được cải tạo từ một quán rượu.

"Này, anh chàng thông minh", Max gọi lúc đang nhìn vào gương. "Sao mày không nói điều gì đi?"

"Rốt cuộc thì chuyện này là thế nào?"

"Ê, Al", Max gọi, "anh chàng thông minh muốn biết rốt cuộc chuyện này là thế nào".

"Sao mày không kể cho hắn nghe?" Giọng của Al vọng ra từ bếp.

"Mày nghĩ là chuyện gì?"

"Tôi không biết".

"Mày nghĩ gì?"

Max vẫn dán mắt vào gương lúc đang nói.

"Tôi sẽ không nói".

"Ê, Al, anh chàng thông minh bảo hắn sẽ không nói ra điều hắn đoán về vụ này".

"Được rồi. Tau có thể nghe rõ mày", Al nói từ trong bếp. Hắn dùng chai nước sốt cà chua chống ô cửa nhỏ dùng để chuyển bát đĩa vào bếp. "Nghe này, anh chàng thông minh", từ bếp hắn nói với George. "Đứng nhích ra một tí dọc theo quầy. Mày dịch sang trái một chút, Max". Gã như thể tay thợ ảnh đang bố trí chụp một bức ảnh tập thể.

"Nói tau nghe, anh chàng thông minh", Max nói. "Mày nghĩ chuyện gì sắp xảy ra?"

George không mở miệng.

"Tau sẽ kể cho mày", Max nói. "Bọn tau sẽ khử một gã Thụy Điển. Mày có biết gã Thụy Điển cao to tên là Ole Andreson không?"

"Biết".

"Buổi tối hắn đều đến ăn ở đây phải không?"

"Thỉnh thoảng ông ấy đến".

"Hắn đến vào lúc sáu giờ phải không?"

"Nếu ông ấy đến".

"Bọn tau biết cả, anh chàng thông minh này", Max bảo. "Hãy nói chuyện khác đi. Từng đi xem phim chứ?"

"Đôi khi".

"Mày nên thường xuyên đi xem phim. Phim ảnh rất bổ ích cho những chú nhóc thông minh như mày".

"Các ông giết Ole Andreson để làm gì? Ông ấy đã từng gây chuyện gì với các ông sao?"

"Hắn chẳng có cơ hội để làm bất cứ điều gì với bọn tau. Thậm chí hắn chưa hề biết mặt bọn tau".

"Và duy nhất hắn sẽ chỉ gặp bọn tau một lần", Al nói từ trong bếp.

"Vậy thì làm sao các ông lại giết ông ấy?" George hỏi.

"Vì một người bạn, bọn tau sẽ giết hắn. Chỉ vì bổn phận với bạn bè, anh chàng thông minh".

"Câm miệng", Al nói từ trong bếp. "Mày phun quá nhiều chuyện hay hớm đấy".

"Ồ, tau phải làm thằng bé vui chứ. Phải không, anh chàng thông minh".

"Mày nói thật quá nhiều", Al nói. "Thằng đen và anh chàng thông minh tự trêu đùa lấy. Tau để chúng ôm nhau như thể một đôi bạn gái trong tu viện".

"Tau nghĩ mày đã từng ở tu viện nữ".

"Mày biết cái quái gì?"

"Mày đã sống trong tu viện ăn kiêng của lũ Do Thái. Đó là nơi mày từng ở".

George ngước nhìn đồng hồ.

"Nếu bất kỳ ai đến mày bảo họ đầu bếp đi vắng, và nếu họ cứ đòi ăn thì mày bảo họ, tự mày sẽ ra sau bếp nấu. Mày làm được việc ấy chứ hả anh chàng thông minh?"

"Được", George đáp. "Sau đó các ông sẽ làm gì bọn tôi?"

"Chuyện ấy còn tùy", Max đáp. "Đấy là một trong những điều mày chẳng bao giờ biết vào thời điểm ấy".

George ngước nhìn đồng hồ. Lúc ấy đã sáu giờ mười lăm. Cánh cửa hướng ra đường mở ra. Tay tài xế xe điện bước vào.

"Chào George", anh ta nói. "Tôi có thể ăn tối chứ?"

"Sam đi vắng", George đáp. "Độ nửa giờ nữa anh ta mới về".

"Tốt hơn là tôi lên phố trên", tay tài xế nói. George nhìn đồng hồ, đã sáu giờ hai mươi.

"Đối đáp khá đấy, anh chàng thông minh", Max nói. "Mày quả là một quý ông lịch sự đúng mực".

"Hắn biết tau sẽ bắn vỡ sọ hắn", Al nói từ trong bếp.

"Đừng", Max nói. "Đừng làm thế. Anh chàng thông minh này cừ đấy. Hắn là cậu bé dễ thương. Tau thích hắn".

Lúc sáu giờ năm mươi làm. George nói: "Ông ấy sẽ không đến".

Hai người nữa vào quán. Một lần George xuống bếp làm bánh sandwich "mang đi" theo yêu cầu của ông khách. Trong bếp, nó thấy Al hất mũ quả dưa ra sau, đang ngồi trên cái ghế gần cửa, họng của khẩu súng cưa nòng đặt trên gờ tường. Nick và tay đầu bếp mồm bị nhét khăn, người bị trói áp lưng vào nhau ở góc bếp. George làm chiếc sandwich, quấn trong tờ giấy dầu, đặt vào túi mang vào; người đàn ông trả tiền, đi ra.

"Anh chàng thông minh có thể làm mọi việc", Max nói. "Hắn có thể nấu và làm mọi thứ. Này, anh chàng thông minh, mày có thể chim một cô gái xinh xắn nào đó để cưới làm vợ".

"Vậy à?" George nói. "Bạn các ông, Ole Andreson, sẽ không đến".

"Bọn tau sẽ đợi hắn thêm mười phút nữa", Max nói.

Max nhìn tấm gương rồi nhìn đồng hồ. Kim đồng hồ chỉ bảy giờ, rồi bảy giờ năm.

"Đi thôi, Al", Max nói. "Tốt hơn là đi thôi. Hắn đếch đến đâu".

"Cứ đợi thêm năm phút nữa", Al nói từ trong bếp.

Trong năm phút ấy một người đàn ông bước vào, và George giải thích rằng đầu bếp bị ốm.

"Tiên sư nhà anh, sao lại không thuê đầu bếp khác?" người ấy nói. "Anh không quản lý nổi cái quán này à?" Ông ta bỏ đi.

"Đi thôi, Al", Max giục.

"Còn hai đứa thông minh và thằng đen thì sao?"

"Để chúng yên".

"Mày nghĩ thế à?"

"Đứt rồi. Bọn mình chấm dứt chuyện này".

"Tau không muốn", Al nói. "Thật bất cẩn. Mày nói quá nhiều".

"Ồ, chuyện nhảm ấy", Max nói. "Bọn mình chỉ đùa chơi thôi mà, có phải không?"

"Dẫu sao thì mày cũng đã nói quá nhiều", Al nói. Gã đi ra khỏi bếp. Nòng súng bị cưa gợn vết nhỏ nhỏ phía dưới hông của chiếc áo khoác quá chật. Hắn dùng đôi tay đeo găng kéo thẳng chiếc áo.

"Tạm biệt, anh chàng thông minh", hắn chào George. "Mày có nhiều may mắn đấy".

"Thật đấy", Max nói. "Mày nên chơi cá ngựa, anh chàng thông minh".

Hai đứa bước ra khỏi cửa. Qua cửa sổ, George thấy chúng đi dưới ánh đèn cao áp, băng qua đường. Mặc áo khoác chật và đội mũ quả dưa, trông chúng như thể đội tạp kỹ. George quay ra sau, qua cánh của tự đóng, vào bếp cởi trói cho Nick và tay đầu bếp.

"Tôi chẳng muốn bị trói như thế này thêm chút nào", Sam, đầu bếp nói. "Tôi chẳng khoái chuyện này tí nào".

Nick đứng dậy. Trước đây cậu chưa từng bị nhét khăn vào mồm bao giờ.

"Nói đi", cậu giục. "Chuyện quái quỷ gì vậy?" cậu đang cố hiểu sự việc.

"Chúng sẽ giết Ole Andreson", George nói. "Chúng sẽ bắn khi ông ấy bước vào quán".

"Ole Andreson?"

"Đúng".

Tay đầu bếp dùng mấy ngón cái sờ hai bên khóe miệng.

"Chúng đi cả chưa?" anh ta hỏi.

"Rồi", George nói, "Giờ thì chúng đi rồi".

"Tau ngán chuyện này", tay bếp nói. "Tau ngán đến tận cổ".

"Nghe này", George bảo Nick. "Cậu đến gặp Ole Andreson thì tốt hơn".

"Được rồi".

"Tốt hơn là chúng mày đừng có dây vào việc đó", đầu bếp Sam nói. "Chúng mày nên tránh xa thì tốt hơn".

"Đừng đi nếu cậu không muốn", George nói.

"Nhúng mũi vào chuyện này rồi cũng chẳng đến đâu đâu", tay bếp nói. "Chúng mày quên nó đi".

"Mình sẽ đến gặp ông ấy". Nick bảo George. "Ông ta sống ở đâu?"

Tay bếp quay đi.

"Bọn nhóc mày phải hiểu chúng muốn gì", anh ta nói.

"Ông ấy ở nhà trọ của Hirsch", George bảo Nick.

"Mình sẽ đến đấy".

Bên ngoài, đèn cao áp chiếu xuyên qua đám cành của cái cây trụi lá. Nick bước trên lề con phố lớn, đến cột đèn cao áp kế theo, cậu rẽ xuống con đường hẹp. Ba ngôi nhà vươn cao cạnh đường là nhà trọ của Hirsch. Nick bước lên hai bậc thềm và kéo chuông. Một người đàn bà ra cửa.

"Thưa Ole Andreson có ở đây không?"

"Cháu muốn gặp ông ấy hả?"

"Vâng, nếu ông ấy có nhà".

Nick theo người đàn bà lên cầu thang tầng hai rồi đi đến cuối hành lang. Bà ta gõ cửa.

"Ai đấy?"

"Có người cần gặp, thưa ngài Andreson", người đàn bà nói.

"Cháu là Nick Adams".

"Mời vào".

Nick mở cửa đi vào phòng. Ole Andreson vận nguyên áo quần nằm trên giường. Từng là võ sĩ quyền Anh hạng nặng, ông ta quá dài so với cái giường. Ông ta nằm gối đầu lên hai chiếc gối, không nhìn Nick.

"Chuyện gì vậy?" ông ta hỏi.

"Cháu từ quán Henry đến đây", Nick đáp, "hai gã vào trói cháu với đầu bếp rồi chúng bảo chúng sẽ giết bác".

Cách diễn đạt của cậu nghe thật ngớ ngẩn. Ole Andreson không nói lời nào. "Chúng đẩy bọn cháu vào bếp", Nick tiếp tục. "Chúng sẽ bắn bác lúc bác đến ăn tối".

Ole Andreson nhìn bức tường, không nói lời nào.

"George nghĩ tốt hơn cả là cháu đến đây báo cho bác biết".

"Bác chẳng thể xoay xở được gì nữa về việc này", Ole Andreson nói.

"Cháu sẽ tả chúng cho bác".

"Bác không muốn biết diện mạo chúng", Ole Andreson nói. Ông ta nhìn vào tường. "Cám ơn vì đã đến báo tin".

"Có gì đâu bác".

Nick nhìn người đàn ông to lớn đang nằm trên giường.

"Bác không muốn cháu đi báo cảnh sát sao?"

"Đừng", Ole Andreson đáp, "chẳng ích gì".

"Cháu chẳng thể làm một việc gì nữa ư?"

"Chẳng còn. Không còn gì để làm nữa đâu".

"Có thể đấy chỉ là trò đùa".

"Không, chuyện này không đùa đâu".

Ole Andreson dịch người về phía bức tường.

"Khốn nỗi là", ông ta nói, giọng hướng về phía bức tường, "bác chỉ không thể có đủ nghị lục để ra ngoài. Suốt ngày bác ở trong này".

"Bác chẳng thể trốn khỏi thị trấn này hay sao?"

"Chẳng thể", Ole Andreson đáp. "Bác phát ngấy đến tận cổ với việc lẩn trốn rồi".

Ông ta nhìn bức tường.

"Giờ thì chẳng còn bất cứ điều gỉ nữa để làm".

"Bác không thể nghĩ ra cách nào đó hay sao?"

"Không, bác đã cùng đường". Ông ta nói bằng một kiểu giọng đều đều. "Chẳng còn gì để làm. Lát nữa bác sẽ lấy lại tinh thần để ra ngoài".

"Tốt hơn là cháu về gặp George", Nick nói.

"Tạm biệt", Ole Andreson nói. Ông ta không nhìn Nick. "Cám ơn vì đã đến", Nick bước ra. Khi khép cửa, cậu thấy Ole Andreson vẫn mặc nguyên áo quần, nằm trên giường, nhìn bức tường.

"Ông ấy ở lỳ trong phòng suốt ngày", bà chủ nhà nói lúc xuống cầu thang. "Cô chắc ông ấy không được khỏe. Cô khuyên: ‘Ông Ole Andreson ơi, ông nên ra ngoài đi dạo vào một ngày thu đẹp như hôm nay’, nhưng ông ấy không thích".

"Ông ấy chẳng muốn ra ngoài đâu".

"Cô buồn vì ông ấy không được khỏe", người đàn bà nói. "Ông ấy là một người đàn ông cực kỳ dễ mến. Cháu có biết ông ấy đã từng lên đài?"

"Cháu biết".

"Cháu chẳng bao giờ biết ngoại trừ quan sát khuôn mặt của ông ấy", người đàn bà nói. Họ đứng nói chuyện ngay bên trong cánh cửa mở ra đường. "Ông ấy thực tử tế".

"Thôi tạm biệt bà Hirsch", Nick nói.

"Cô không phải là bà Hirsch", người đàn bà nói. "Bà ấy là chủ nhân. Cô chỉ trông nhà cho bà ấy. Tên cô là Bell".

"Vâng, chào bà Bell", Nick nói.

"Tạm biệt", người đàn bà đáp.

Nick đi trên đường tối đến góc phố dưới ánh đèn cao áp rồi bước dọc theo con phố lớn về quán ăn Henry, George ngồi sau quầy trong quán.

"Cậu gặp Ole rồi chứ?"

"Rồi" Nick đáp. "Ông ta ở trong phòng, không ra ngoài".

Tay bếp mở cửa khi nghe giọng Nick.

"Tau chẳng nghe thấy gì đâu nhé", anh ta nói rồi dập cửa lại.

"Cậu đã kể hết cho ông ấy rồi phải không?" George hỏi.

"Rồi. Mình kể nhưng ông ấy đã biết trước".

"Ông ấy định làm gì?"

"Chẳng làm gì cả".

"Chúng sẽ giết ông ấy".

"Mình chắc thế".

"Hẳn ông ấy có liên quan đến vụ gì đó ở Chicago".

"Mình nghĩ thế", Nick nói.

"Thật nghiêm trọng," Nick nói.

Chúng lặng im. George với tay lấy cái khăn lau quầy.

"Mình không rõ ông ấy đã làm gì nhỉ?" Nick nói.

"Phản lại ai đó. Đấy là lý do để bọn chúng tìm giết".

"Mình sẽ đi khỏi thành phố này", Nick nói.

"Ừ", George nói. "Đấy là điều tốt để làm".

"Mình chẳng thể chịu đựng nổi khi nghĩ lại cảnh ông ấy đợi trong phòng và biết sẽ bị giết. Cảnh tượng ấy thực tồi tệ".

"Thôi nào", George nói. "Tốt hơn là cậu đừng nghĩ về nó".

Tổ quốc nói gì với mày?
Vào lúc sáng sớm, con đường cứng, phẳng lì, chưa có bụi. Bên dưới, những ngọn đồi phủ đầy cây sồi và cây hạt dẻ, biển thấp mãi tận dưới xa. Phía bên kia là những ngọn đồi phủ đầy tuyết.

Chúng tôi xuống đèo, chạy qua rừng. Bên đường, những bao than củi chất thành đống, nhìn qua những thân cây, chúng tôi thấy lều của mấy người đốt than. Hôm nay Chủ nhật, còn con đường, hết dốc lên lại lượn xuống, nhưng luôn giảm độ cao so với con đèo, chạy vào truông rậm rồi xuyên qua nhiều ngôi làng.

Nhiều cánh đồng nho bao quanh các khu làng. Những cánh đồng màu nâu, còn nho thì mọc chằng chịt, rậm rì. Những ngôi nhà quét vôi trắng, trên đường, cánh đàn ông trong trang phục ngày Chủ nhật đang chơi ki. Sát tường của vài ngôi nhà, mấy cây lê tỏa cành lên những bức tường trắng. Khóm lê được phun thuốc và hơi thuốc đã làm những bức tường lốm đốm nhiều vệt xanh lơ, óng ánh. Những cánh đồng rộng bao quanh các khu làng đều được trồng nho, tiếp đấy là rừng.

Tại một làng nọ cách Spezia chừng hai mươi kilômét, có một nhóm người đang đứng trên bãi đất, một người trẻ tuổi xách va-li bước đến cạnh xe và đề nghị chúng tôi đưa hắn tới Spezia.

"Chỉ còn hai chỗ nhưng đã có người ngồi rồi" tôi nói. Chúng tôi đang đi chiếc Ford cũ, loại có hai cửa.

"Tôi sẽ bám ở bên ngoài".

"Anh sẽ không thoải mái".

"Chuyện vặt ấy mà. Tôi phải đến Spezia".

"Bọn mình cho hắn đi không?" tôi hỏi Guy.

"Dầu sao thì hắn cũng dường như đã sẵn sàng" Guy đáp. Gã trai trẻ đút bọc hành lý qua cửa sổ.

"Trông hộ cái này", hắn nói. Hai người đàn ông buộc va-li của hắn vào sau xe, bên trên va-li của chúng tôi. Hắn bắt tay từng người và giải thích rằng đối với một thành viên phát xít và đối với người thường đi đó đi đây như hắn thì chẳng có gì là bất tiện, rồi hắn leo lên bậu cửa phía bên trái xe, choàng cánh tay phải qua cửa xe đã hạ kính, bám vào bên trong.

"Các anh có thể đi", hắn nói. Nhóm người kia vẫy tay. Hắn đáp lại bằng cánh tay còn rảnh.

"Hắn nói gì vậy?" Guy hỏi tôi.

"Rằng bọn ta có thể đi".

"Hắn nói đễ thương nhỉ?" Guy nói.

Con đường men theo dòng sông. Bên kia sông là những ngọn núi. Mặt trời làm sương đọng trên cỏ tan đi. Trời trong vắt và lạnh, gió lùa vào xe qua cửa kính đã hạ xuống.

"Mày nghĩ hắn có bất tiện khi bám ngoài đó không?" Guy đang nhìn đường. Tầm nhìn của Guy bị vị khách của chúng tôi che mất một phía bên xe. Gã trai trẻ bám chặt vào một bên xe như thể một biểu tượng hình người bằng gỗ gắn đầu mũi tàu. Hắn đã dựng cổ áo lên, kéo sụp mũ xuống nhưng cái mũi của hắn lạnh ngắt bởi những cơn gió thốc vào.

"Có lẽ hẳn sẽ lãnh đủ", Guy nói. "Bên ấy là phía lốp xe hơi xẹp".

"Ồ hắn sẽ bỏ ta nếu xe bị nổ lốp", tôi nói. "Hắn sẽ không chịu để bẩn bộ quần áo du lịch kia đâu".

"Hừ, tao chẳng bận tâm đến hắn", Guy nói, "trừ lúc hắn nghiêng người qua mỗi khúc cua".

Rừng đã hết; con đường tách khỏi dòng sông, xe leo dốc, bộ phận tản nhiệt sôi sùng sục; gã trai trẻ trông có vẻ khó chịu và nghi hoặc khi nhìn nước rỉ và hơi nước bốc lên; tiếng động cơ rít mạnh. Cả hai chân Guy dận lên bàn ga, chiếc xe trườn lên, cứ nhích dần, tròng trành tới lui rồi bò lên, rốt cuộc cũng lên đến đỉnh dốc. Tiếng rú của động cơ không còn, trong bầu không khí yên tĩnh, tiếng vỡ của bong bóng nước sôi trong bầu tản nhiệt kêu xèo xèo. Chúng tôi đã lên đỉnh của ngọn đồi cuối cùng án ngự giữa Spezia và biển. Con đường đổ dốc với những khúc cua ngắn, khúc khuỷu. Vị khách của chúng tôi lệch người sau mỗi khúc cua khiến cho đầu xe càng nặng thêm, suýt lật nhào.

"Mày không thể bảo hắn đừng làm như thế sao", tôi nói với Guy.

"Đấy là bản năng tự vệ của hắn".

"Bản năng tự vệ vĩ đại của người Italy".

"Bản năng vĩ đại nhất của dân tộc Italy".

Chúng tôi đi xuống, qua nhiều khúc lượn, thụt xuống lớp bụi dày, bụi bốc cao, phủ đầy lên các cây ô liu. Phía dưới, Spezia trải dài dọc theo bờ biển. Bên ngoài thành phố, con đường đỡ dốc. Vị khách của chúng tôi thò dầu vào cửa.

"Tôi muốn dừng lại".

"Dừng xe", tôi bảo Guy.

Chứng tôi từ từ tạt xe vào mé đường. Gã trai trẻ bước xuống, đi về phía sau xe tháo cái va-li.

"Tôi xuống đây, để các anh khỏi gặp rắc rối vì chở hành khách", hắn nói. "Cái túi của tôi".

Tôi đưa hắn túi đồ. Hắn thò tay vào túi.

"Tôi trả các anh bao nhiêu đây?".

"Không cần".

"Tại sao lại không?"

"Tôi không biết", tôi nói.

"Vậy thì cảm ơn", gã trai trẻ nói, mà không nói theo kiểu, "xin cảm ơn các anh", hoặc, "cảm ơn các anh rất nhiều," hoặc "ngàn lần cảm ơn các anh," tất cả các cụm từ này thường được người Italy trang trọng sử dụng để cảm ơn người đã đưa giúp họ băng giờ tàu hay chỉ đường cho họ. Gã trai trẻ chỉ lí nhí thốt ra từ "cám ơn" rồi nghi ngờ nhìn theo chúng tôi lúc Guy lái xe đi. Tôi vẫy tay từ biệt hắn. Hắn quá cao quý để vẫy tay chào lại. Chúng tôi đi vào Spezia.

"Thằng nhãi ấy sẽ tiến xa ở Italy này đấy", tôi nói với Guy.

"Dẫu sao", Guy nói, "hắn cũng đã đi cùng bọn ta hai mươi kilômét".

BỮA ĂN Ở SPEZIA Chúng tôi vào Spezia tìm quán ăn. Đường phố rộng rãi, nhà cửa cao vút, quét vội vàng. Chúng tôi men theo đường xe điện vào trung tâm thành phố. Trên tường của những ngôi nhà, nhiều bức chân dung của Mussolini mắt lồi được tô đậm kèm theo dòng chữ "Muôn năm" viết bằng tay với hai chữ "M" từ chữ "Muôn’' và mấy giọt sơn đen rỏ lem nhem ra cả bức tường. Mấy con phố đâm ngang dẫn xuống biển. Trời sáng sủa, mọi người đều ra khỏi nhà vào ngày Chủ nhật. Lề đường lát đá được phun nước, nhiều vệt nước còn đọng trong các kẽ đá. Chúng tôi nép sát vào lề đường để tránh tàu điện.

"Bọn ta ăn ở nơi nào đơn giản thôi", Guy nói.

Chúng tôi dừng trước mặt hai biển hiệu nhà hàng. Chúng tôi đứng phía bên này đường. Tôi mua mấy tờ báo. Hai tiệm ăn sát vách nhau. Một người đàn bà đứng trên ngưỡng cửa của một tiệm ăn mỉm cười với chúng tôi, chúng tôi qua đường, vào quán.

Trong quán, trời tối; đằng cuối phòng, ba cô gái đang ngồi với một bà già bên cái bàn. Đối diện với chúng tôi, ở bàn kia, là tay thủy thủ. Gã chỉ ngồi, không ăn cũng không uống. Đằng xa hơn, một người đàn ông trẻ vận đồ màu xanh đang cúi viết trên bàn. Tóc y chải sáp bóng nhẫy, cách ăn mặc của y thật bảnh bao.

Ánh sáng rọi qua cửa ra vào và cửa sổ nơi rau, quả, bít tết, sườn được bày trong tủ kính. Một cô gái bước đến ghi các món gọi còn cô khác thì đứng trên ngưỡng cửa. Chúng tôi thấy thân hình cô ta tồng ngồng sau lần váy mặc trong nhà. Còn cô gái, người đang ghi các món ăn, thì choàng tay qua cổ Guy trong lúc chúng tôi đọc thực đơn. Cả thảy có ba cô, họ thay phiên nhau ra đứng trấn nơi cửa. Bà già, ngồi cạnh cái bàn đằng cuối phòng, cất tiếng gọi, mấy cô gái quay lại ngồi bên bà ta.

Căn phòng không còn cửa nào khác, trừ cửa dẫn ra bếp. Một tấm rèm treo ngang cánh cửa ấy. Cô gái ghi món ăn của chúng tôi, mang món mì ống từ bếp bước vào. Cô ta đặt xuống bàn, lấy một chai vang đỏ rồi ngồi luôn vào bàn. "Này", tôi bảo Guy, "mày muốn ăn ở nơi đơn giản đấy".

"Quán này chẳng đơn giản tí nào. Nó thực rắc rối!"

"Các anh nói gì vậy?" Cô gái hỏi, "Các anh là người Đức à?"

"Người Nam Đức", tôi đáp. "Người miền Nam nước Đức rất lịch sự và đáng yêu".

"Em không hiểu gì cả", cô gái nói.

"Cách phục vụ của tiệm ăn này là như vầy ư?" Guy hỏi. "Tao phải để cho cô ta cứ quàng tay mãi qua cổ thế này à?"

"Chắc thế", tôi nói. "Mussolini đã quét sạch các nhà chứa. Nhưng đây lại là nhà hàng".

Cô gái vận chiếc váy một mảnh. Cô ta cúi người tì vào bàn, đặt tay lên vú và mỉm cười. Nụ cười của cô ta nhìn từ phía bên này đẹp hơn ở phía bên kia, cô ta quay cái phía tử tế ấy sang chúng tôi. Sức hấp dẫn của phía tử tế được tôn lên bởi chất liệu gì đó mà nó làm bẹp phía mũi bên kia của cô ta, tựa như sáp nóng, có thể nắn. Mũi của cô ta, dĩ nhiên, không giống như sáp chảy. Nó lạnh và rắn, chỉ có điều là lõm vào.

"Anh thích em chứ?" cô ta hỏi Guy.

"Anh ấy tôn thờ em đấy", tôi nói, "nhưng không nói được tiếng Italy".

"Thì em nói tiếng Đức vậy", cô ta nói, rồi vuốt tóc Guy.

"Các anh từ đâu đến? Cô gái hỏi.

"Từ Potsdam".

"Và bây giờ các anh sẽ nghỉ lại đây một lát chứ?"

"Trong thành phố Spezia thân thương này ư?" tôi hỏi.

"Bảo cô ấy bọn ta phải đi", Guy nói. "Bảo cô ta tụi mình ốm lắm và không có tiền".

"Anh bạn của tôi đây là người ghét đàn bà", tôi nói, "một gã Đức già ghét đàn bà".

"Nói với anh ấy rằng em yêu anh ấy".

Tôi nói lại cho hắn.

"Mày có câm miệng rồi bọn ta ra khỏi đây ngay không?" Guy nói.

Cô gái quàng luôn cánh tay kia lên cổ Guy.

"Nói với anh ấy rằng anh ấy là của em", cô gái nói. Tôi thuật lại.

"Em có tha cho bọn anh không?"

"Các anh đang cãi nhau", cô gái nói. "Các anh chẳng yêu thương nhau".

"Bọn anh là người Đức", tôi tự hào nói, "những người Đức cổ ở miền Nam".

"Nói với anh ấy, anh ấy là một chàng trai xinh xắn", cô gái nói. Guy đã ba mươi tám và thỉnh thoảng tỏ vẻ tự hào bởi ở Pháp người ta tưởng nhầm hắn là một nhân viên giao dịch thương mại.

"Anh là một chàng trai xinh xắn", tôi nói.

"Ai bảo thế?" Guy hỏi, "mày hay cô ta?"

"Cô ta. Tao chỉ là người phiên dịch. Đấy chẳng phải là lý do để mày gọi tao đi chuyến này à?"

"Tao lấy làm mừng bởi đấy là lời của cô ta", Guy nói. "Tao không muốn phải bỏ mày ở lại đây".

"Tao cũng chẳng hiểu nữa. Spezia là một thành phố đáng yêu".

"Spezia", cô gái nói. "Các anh đang nói về Spezia".

"Một nơi đáng yêu", tôi nói.

"Quê em đấy", cô ta nói. "Spezia là nơi chôn nhau cắt rốn của em, còn Italy là tổ quốc của em".

"Cô ta bảo Italy là tổ quốc của cô ta".

"Nói với cô ta nó như thể là tổ quốc của cô ấy", Guy nói.

"Em có món gì tráng miệng?" Tôi hỏi.

"Hoa quả", cô ta nói. "Bọn em có chuối"

"Chuối được đấy," Guy nói. "Chúng có vỏ".

"Ôi, anh ấy gọi chuối", cô gái nói. Cô ta ôm chầm lấy Guy.

"Cô ta bảo gì vậy?" hắn hỏi lúc ngoảnh mặt đi.

"Cô ta hài lòng bởi lẽ mày gọi chuối".

"Bảo cô ta tao không ăn chuối đâu".

"Quý ông đây không ăn chuối?".

"À", cô gái tiu nghỉu nói, "anh ấy không ăn chuối".

"Nói với cô ta là tao sáng nào cũng tắm nước lạnh", Guy bảo.

"Sáng nào quý ông đây cũng tắm nước lạnh".

"Chẳng hiểu gì cả", cô gái nói.

Trước mặt bọn tôi, tay thủy thủ cô đơn ngồi im. Không một ai trong quán chú ý đến anh ta.

"Bọn anh muốn thanh toán", tôi nói.

"Ồ, không. Các anh phải ở lại đã".

"Này," người đàn ông trẻ ăn vận bảnh bao cất tiếng nói từ cái bàn nơi y đang ngồi viết, "Để họ đi. Hai vị này chẳng đáng phải bõ công đâu".

Cô gái nắm tay tôi. "Anh sẽ không đi chứ? Anh hãy đề nghị anh ấy ở lại nhé?"

"Bọn anh phải đi", tôi nói. "Bọn anh phải đến Pisa hoặc có thể thì sẽ đến Firenze tối nay. Vào buổi tối bọn anh mới có thể vui chơi trong những thành phố ấy, còn ban ngày, bọn anh phải đi".

"Này", anh chàng bảnh bao nói. "Đừng có phí thời gian kèo nài mấy vị ấy. Tao đã bảo mày họ chẳng đáng đâu, tao quá biết".

"Mang hóa đơn cho chúng tôi", tôi nói. Cô gái mang hóa đơn thanh toán từ bà già đến rồi quay lại ngồi xuống bàn. Cô gái khác từ bếp bước vào. Cô ta bước qua phòng, ra đứng trấn ở cửa.

"Tao bảo đừng phí nhời với mấy vị ấy", anh chàng bảnh bao, nói với vẻ mệt mỏi. "Đi chén thôi. Chẳng nước non gì đâu".

Chúng tôi trả tiền rồi đứng dậy. Mấy cô gái, bà già và gã bảnh bao cùng nhau ngồi vào bàn. Tay thủy thủ đưa tay ôm đầu gối ngồi im. Chẳng ai nói tới anh ta suốt cả thời gian chúng tôi ăn trưa. Cô gái mang trả chúng tôi số tiền thừa từ bà già rồi trở lại chỗ ngồi của mình bên bàn. Chúng tôi để lại ít tiền boa rồi bước ra. Lúc hai đứa đã ngồi trong xe và chuẩn bị khởi hành, một cô gái bước ra đứng trấn bên cửa. Chúng tôi rời đi, tôi vẫy tay chào tạm biệt. Cô ta không đáp lại, chỉ đứng đấy nhìn theo.

SAU CƠN MƯA Trời mưa lớn khi chúng tôi đi qua vùng ngoại ô xứ Genoa, chiếc xe bò rất chậm sau mấy chiếc xe điện, xe tải; bùn lỏng bắn tung tóe lên lề đường nhiều đến nỗi mọi người bước ra cửa nhìn khi thấy chúng tôi đi qua. Ở San Pier d’Arena, vùng ngoại ô công nghiệp bên ngoài Genna, con lộ mở rộng với hai làn đường, chúng tôi lái xe ra giữa đường để tránh vấy bùn vào những người đang trở về nhà từ nơi làm việc. Bên trái chúng tôi là Địa Trung Hải. Mặt biển bao la đang chuyển động, sóng tung bọt và gió mang hơi nước phả vào xe. Lòng sông rộng đầy đá cuội và khô ráo khi chúng tôi băng qua để vào đất Italy này đã chuyển thành dòng sông vàng nhờ, mênh mông sắp tràn bờ. Dòng nước vàng ấy làm phai màu nước biển; khi những con sóng dồn đến, yếu dần rồi mất hẳn, ánh sáng chiếu qua làn nước màu vàng và, bọt sóng bị gió cuốn đi, đưa vào bờ, tràn qua con đường.

Một chiếc xe lớn rồ ga vượt qua, dải nước bùn tung lên rơi trúng kính chắn gió và cả bộ tản nhiệt trên xe chúng tôi. Cái gạt nước tự động gạt qua gạt lại chùi sạch chỗ bùn vấy lên kính. Chúng tôi dừng lại ăn trưa ở Sestri. Nhà hàng không có lò suởi nên hai đứa mặc nguyên áo khoác và đội mũ. Qua cửa sổ, hai đứa có thể nhìn thấy chiếc xe đỗ bên ngoài. Chiếc xe bị bùn phủ đầy, đỗ cạnh mấy chiếc thuyền được kéo lên để tránh sóng. Trong nhà hàng, người ta có thể thấy luồng hơi thở của mình.

Món pasta asciuta (canh miến) thật ngon, nhưng rượu vang có vị phèn, chúng tôi pha thêm nước. Tiếp đó, người bồi mang ra món bít tết bò và món khoai tây rán. Một người đàn ông và một người đàn bà ngồi phía cuối nhà hàng. Ông ta ở vào độ tuổi trung niên, người đàn bà còn trẻ, vận đồ đen. Suốt cả bữa ăn, chị ta cứ thở mạnh vào bầu không khí lạnh, ẩm ướt. Người đàn ông ngồi nhìn và lắc đầu. Họ không trò chuyện khi ăn rồi người đàn ông nắm tay chị ta ở dưới bàn. Chị ta trông xinh xắn, hai người có vẻ buồn. Họ mang theo một cái túi du lịch.

Chúng tôi mang báo theo, tôi đọc to bài tường thuật trận đánh ở Thượng Hải cho Guy nghe. Sau bữa ăn, Guy đi cùng người bồi tìm cái nơi mà không có trong nhà hàng, còn tôi thì dùng giẻ, lau kính chắn gió, đèn và biển số. Guy quay lại, chúng tôi lùi xe ra rồi lên đường. Người bồi đã đưa Guy băng qua đường vào một ngôi nhà cũ. Người trong nhà tỏ vẻ nghi ngờ, còn anh bồi thì cứ đứng đấy trông chừng đồ đạc kẻo sợ Guy đánh cắp.

"Tao chẳng phải là kẻ cắp và dẫu sao thì tao cũng chẳng biết đường ăn cắp mà họ lại cứ sợ tao thó mất cái gì đó", Guy nói.

Khi chúng tôi leo lên đỉnh ngọn đồi bên ngoài thành phố, một cơn gió cuốn mạnh, suýt làm xe lật nhào.

"Nó có thể thổi phăng chúng ta xuống biển", Guy nói.

"Ừ", tôi đáp, "chúng làm Shelley chết đuối đâu đấy dọc đây thôi".

"Ở dưới kia, gần Viareggio cơ", Guy nói. "Mày còn nhớ mục đích của bọn ta đến đây là để làm gì chứ?"

"Nhớ", tôi trả lời, "nhưng bọn ta vẫn chưa làm được?"

"Tối nay bọn ta sẽ vượt qua nơi đó".

"Nếu ta có thể đi quá Ventimiglia".

"Ta sẽ thử xem. Tao không thích lái xe suốt đêm dọc bờ biển như thế này đâu". Mới đầu giờ chiều nhưng mặt trời đã khuất hẳn. Bên dưới, biển xanh sẫm, nhấp nhô những con sóng bạc đầu nối đuôi nhau trườn về hướng Savona. Bên kia mũi đất, mặt nước đen sẫm nơi hai dòng nước vàng và xanh hòa vào nhau. Tít đằng kia, một chiếc tàu chở hàng đang hướng mũi vào bờ.

"Bọn ta còn có thể nhìn thấy Genoa nữa không?" Guy hỏi.

"Ồ, thấy chứ".

"Mỏm đất lớn kế tiếp hẳn sẽ che khuất Genoa?"

"Bọn ta sẽ còn thấy nó một lúc lâu nữa. Tao có thể trông rõ mỏm Portofino đằng sau nó".

Lát sau, chúng tôi không nhìn thấy Genoa nữa. Tôi quay nhìn khi chúng tôi đi khuất thì chỉ thấy mặt biển, bên dưới, phía trong vịnh những chiếc thuyền câu được xếp thành hàng trên bờ, còn phía trên là thị trấn men theo sườn đồi và những mỏm đất từ bờ vươn dài ra.

"Giờ thì nó khuất hẳn rồi", tôi nói.

"Ồ, nó đã khuất từ lâu rồi chứ".

"Nhưng bọn ta không thể dám chắc cho đến lúc khuất hẳn".

Có một biển hiệu mang hình chữ S và dòng chữ Svolta Pericolosa (có nghĩa: Đường vòng nguy hiểm). Con đường lượn quanh ngọn đồi, gió thổi qua khe hở cửa kính chắn gió. Phía dưới, mỏm đất bằng phẳng trải dọc theo biển. Gió thổi khô bùn, bánh xe bắt đầu tung bụi. Trên con đường bằng phẳng, chúng tôi vượt qua gã phát xít đang đi xe đạp, khẩu súng lục nặng, đút trong bao, đeo bên hông. Gã cứ đạp xe đi chính giữa đường, chúng tôi phải vòng xe tránh. Gã ngước mắt nhìn khi chúng tôi vượt qua. Phía trước là đường tàu cắt, khi chúng tôi đến, đường bị chắn lại.

Chúng tôi đợi, gã phát xít đạp xe đến. Tàu chạy qua, Guy khởi động xe.

"Đợi đã", gã đi xe đạp hét từ phía sau. "Số xe các anh bị bẩn".

Tôi cầm giẻ lau bước ra. Biển số đã được chùi lúc trưa.

"Ông có thể đọc được", tôi nói.

"Anh tưởng thế sao?"

"Thì cứ đọc đi".

"Tôi không thể nào đọc được. Nó bị bẩn".

Tôi lấy giẻ chùi sạch.

"Giờ thì thế nào?"

"Hai mươi lăm lire".

"Cái gì?" tôi hỏi. "Ông có thể đọc được nó cơ mà. Nó bẩn chỉ tại tình trạng đường sá".

"Các anh không thích đường sá Italy hả?"

"Nó bẩn lắm".

"Năm mươi lire". Gã khạc nhổ lên đường. "Xe của các anh bẩn và bản thân các anh cũng bẩn thỉu nốt".

"Thôi được. Cho tôi xin giấy biên lai có tên ông".

Gã móc cuốn biên lai, gồm những tờ giấy kép có đục lỗ để có thể xé một nửa đưa cho người nhận còn nửa kia được giữ lại như cuống phiếu. Chẳng cần có giấy các-bon để ghi đúng tiêu chuẩn như yêu cầu của một tờ biên lai.

"Đưa tôi năm mươi lire".

Gã viết bằng bút chì không thể tẩy, xé ra rồi đưa cho tôi. Tôi đọc.

"Biên lai chỉ viết hai mươi lăm lire".

"Nhầm đấy", gã nói, rồi chữa hai mươi lăm thành năm mưo8i.

"Còn nửa kia. Ghi đúng năm mươi lire vào phần giấy ông giữ".

Gã nở một nụ cười Italy thật quyến rũ rồi viết gì đó lên cuống biên lai trong lúc che để tôi không thể nhìn thấy.

"Cứ đi đi", gã nói. "Trước lúc biển số của các anh lại bẩn".

Sau khi trời tối, chúng tôi đi thêm hai tiếng đồng hồ nữa rồi ngủ lại Menton. Thành phố dường như nhộn nhịp, sạch sẽ, vui vẻ và đáng yêu. Chúng tôi đã đi từ Ventiniglia qua Pisa đến Florence, vượt Romagna tới Rimini; rồi quay về theo lối Forli, Imola, Bologna, Parma, Piacenza đến Genoa rồi lại về Ventiniglia. Toàn bộ hành trình chỉ mất có mười ngày. Thực ra, đấy chỉ là một chuyến đi ngắn, chúng tôi không có cơ hội để tìm hiểu xem xứ ấy và con người của xứ ấy ra sao.





Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 14.12.2018, 15:34
Hình đại diện của thành viên
☆~ Số 15 ca ~☆
☆~ Số 15 ca ~☆
 
Ngày tham gia: 14.10.2015, 23:36
Bài viết: 2952
Được thanks: 2074 lần
Điểm: 7.52
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tập truyện ngắn] Truyện ngắn Ernest Hemingway - Ernest Hemingway - Điểm: 10
Năm mươi ngàn dollar
"Mày sao rồi, Jack?" tôi hỏi hắn.

"Mày thấy gã Walcott này chưa?" hắn nói.

"Chỉ mới ở phòng tập".

"Ừ", Jack nói, "tao sẽ cần nhiều may mắn với gã đó".

"Nó không thể đấm được mày đâu, Jack", Soldier nói.

"Giá mà hắn không thể".

"Hắn không thể hạ mày bằng những cú móc nhẹ tênh như thế".

"Cú móc nhẹ thì chẳng sao", Jack nói. "Tao chẳng đếm xỉa đến những cú móc ấy tí nào".

"Trông hắn dễ hạ đấy", tôi nói.

"Hẳn rồi", Jack nói, "hắn sẽ chẳng trụ lâu nổi đâu. Hắn không dẻo dai như mày và tao, Jerry. Nhưng hiện tại, hắn có mọi thứ".

"Mày đấm chết hắn bằng cú tay trái".

"Có thể", Jack đáp. "Có thể. Tao có cơ hội".

"Quần hắn như mày đã quần Lid Lewis."

"Kid Lewis", Jack nói.

"Cái đồ Do Thái!"

Cả ba đứa, Jack Brennan, Soldier Barlett và tôi đang ngồi trong tiệm Hanley. Hai ả điếm ngồi canh bàn bọn tôi. Chúng đang uống. "Mày ám chỉ gì với từ Do Thái ấy?" một đứa hỏi.

"Do Thái, mày nói vậy là có nghĩa gì hả cái đồ bị thịt Ai Len kia?"

"Tất nhiên". Jack nói. "Thế đấy".

"Đồ Do Thái", ả ấy vẫn tiếp tục nói. "Lũ bị thịt Ai Len này luôn chì chiết người Do Thái. Mày nói, đồ Do Thái là có nghĩa gì vậy?"

"Biến. Bọn mình đi khỏi đây thôi".

"Đồ Do Thái", ả ấy vẫn tiếp tục. "Đã có ai từng thấy mày đãi rượu người khác chưa? Mỗi buổi sáng, con vợ mày khâu hẳn hầu bao của mày lại. Quân Ai Len này và cả đám Do Thái của chúng mày thật là! Giá mà Ted Lewis tẩn cho mày một trận".

"Đương nhiên", Jack nói. "Còn mày thì luôn cho không mọi thứ có phải không?"

Bọn tôi bước ra. Jack ấy mà, hắn có thể nói bất kỳ thứ ngôn ngữ nào nếu hẳn muốn.

Sau đó, Jack tập luyện tại trại của Danny Hogan ở Jersey. Nơi ấy thật dễ chịu nhưng Jack không thích lắm. Hầu hết thời gian, Jack bực bội và cáu kỉnh bởi hắn không muốn sống xa vợ con. Hắn thích tôi bởi từ lâu hai đứa đã là bạn của nhau; hắn thích Hogan, còn Soldier Bartlett thì thỉnh thoảng làm hắn cáu. Một người ưa châm chọc sẽ trở thành cái gai ở trại một khi hắn quá trớn. Soldier thường xuyên trêu Jack. Lúc nào hắn cũng có thể đùa. Như thế, với Jack nó không còn là chuyện đùa và chẳng còn hay hớm gì nữa. Kiểu đùa tựa như: Lúc Jack ngừng tập tạ, đấm bao rồi đeo găng vào.

"Mày muốn dượt chứ?" hắn đề nghị Soldier.

"Chắc rồi. Mày muốn tao đấu thế nào đây?" Soldier hỏi. "Muốn tao tẩn nhừ mày ra như Walcott hả? Muốn tao cho mày nốc ao vài bận chứ gì?"

"Được rồi", Jack đáp. Nhưng hắn chẳng thích tí nào.

Sáng nọ cả bọn ra đường. Bọn tôi chạy khá xa rồi quay lại. Bọn tôi cứ chạy nhanh trong vòng ba phút, đi chậm một phút rồi lại chạy nhanh ba phút. Jack không phải là típ người mà bạn có thể gọi là người chạy nước rút. Nhưng lúc thượng đài, vào thế bắt buộc thì hắn lại có khả năng di chuyển rất nhanh, còn trên đường thì hẳn không thể chạy nhanh được. Hễ lúc nào bọn tôi đi chậm thì Soldier trêu hắn. Bọn tôi đi lên ngọn đồi, về trại.

"Này", Jack nói, "tốt hơn là mày trở về thành phố đi, Soldier".

"Mày muốn nói gì vậy?"

"Mày quay lại thành phố và ở đó thì tốt hơn".

"Chuyện gì vậy?"

"Tao phát ngấy khi nghe mày nói".

"Thật sao?" Soldier nói.

"Thật", Jack đáp.

"Mày sẽ ngấy hơn nữa một khi bị Walcott hạ".

"Đúng thế", Jack nói, "Có thể tao sẽ. Nhưng tao biết mình đang phát ốm vì mày".

Thế là sáng hôm ấy, Soldier đáp tàu lửa về thành phố. Tôi tiễn hắn lên tàu. Hắn tử tế và tỏ vẻ buồn.

"Tao chỉ đùa chơi thôi", hắn nói. Bọn tôi đang đợi trên sân ga. "Hắn không thể xử sự như thế với tao, Jerry".

"Hắn căng thẳng và cáu bẳn", tôi nói. "Hắn là đứa tốt đấy, Soldier".

"Đồ khốn nạn thì có. Mẹ kiếp, hắn chưa bao giờ là đứa tốt".

"Thôi", tôi nói, "tạm biệt Soldier".

Tàu đã đến. Hắn mang túi xách leo lên.

"Tạm biệt Jerry", hắn nói. "Mày sẽ đến thành phố trước trận đấu chứ?"

"Tao không nghĩ thế".

"Tạm biệt".

Hắn vào toa, người soát vé phất tay, tàu chuyển bánh. Tôi trở lại trại bằng xe ngựa. Jack ngồi ngoài hiên viết thư cho vợ. Bưu phẩm tới, tôi nhặt mấy tờ báo mang đến đầu hiên đằng kia đọc. Hogan bước ra cửa, đi về phía tôi.

"Hắn cãi nhau với Soldier à?"

"Không phải cãi", tôi đáp. "Hắn chỉ bảo anh ta quay về thành phố".

"Tao đã đoán trước chuyện này", Hogan nói. "Hắn chẳng ưa gì Soldier lắm".

"Đúng. Hắn không ưa nhiều người".

"Hắn là người khá lạnh lùng", Hogan nói.

"Ừ. Hắn chỉ luôn tử tế với tao".

"Cả tao nữa", Hogan nói. "Tao chẳng hề trêu hắn. Nhưng dẫu sao thì hắn cũng là kẻ lạnh lùng".

Hogan bước qua rèm cửa, tôi ngồi xuống hiên đọc báo. Đã chớm thu, cả miền quê Jersey tươi đẹp trải dài đến tận những ngọn đồi, đọc xong tờ báo, tôi ngồi ngắm miền quê và con đường men theo bìa rừng bên dưới nơi xe cộ qua lại, tung bụi mù. Thời tiết thật đẹp, cả vùng quê trông thực tuyệt vời. Hogan ra cửa, tôi nói, "Hogan này, ở đây có gì để săn không?"

"Không", Hogan đáp. "Chỉ có chim sẻ thôi".

"Đã đọc báo chưa?" tôi hỏi Hogan.

"Có tin gì vậy?"

"Hôm qua Sande thắng ba trận".

"Tối qua tao đã nhận được tin đó qua điện thoại".

"Mày theo dõi chúng sát sao nhỉ, Hogan?" tôi hỏi.

"Ồ, tao luôn theo sát chúng", Hogan đáp.

"Còn Jack thì sao?" tôi nói. "Hắn vẫn đánh chứ?"

"Hắn ấy hả?" Hogan nói. "Mày thấy hắn đang chơi à?"

Ngay lúc ấy, Jack cầm bức thư bước qua góc nhà. Hắn vận áo thun, quần cộc và đi giày đấm bốc đã cũ.

"Có tem không, Hogan?" hắn hỏi.

"Đưa thư đây", Hogan nói. "Tao sẽ gửi giùm cho".

"Này Jack", tôi nói. "Mày thường đánh cá ngựa phải không?"

"Đúng đấy".

"Tao biết mày chơi. Tao nhớ đã thường gặp mày tại Sheepshead".

"Sao mày không chơi nữa?" Hogan hỏi.

"Mất tiền".

Jack ngồi xuống cạnh tôi trên hiên. Hắn tựa lưng vào cột. Trong ánh nắng, hắn nhắm mắt lại.

"Ngồi ghế không?" Hogan hỏi.

"Không", Jack đáp. "Thế này thoải mái rồi".

"Một ngày tuyệt đẹp", tôi nói. "Miền quê thật tuyệt vời".

"Tao muốn ở lại thành phố với vợ hơn".

"Ồ, mày chỉ còn mỗi một tuần nữa".

"Ừ," Jack nói. "Thế đấy".

Bọn tôi ngồi ngoài hiên. Hogan vào văn phòng.

"Mày nghĩ gì về phong độ của tao?" Jack hỏi tôi.

"Ừ, khó nói đấy", tôi đáp. "Mày còn một tuần để lấy lại phong độ".

"Đừng quanh co nữa".

"Ừ", tôi nói, "Mày không được khỏe".

"Tao mất ngủ", Jack nói.

"Vài hôm nữa mày sẽ ngủ được".

"Không", Jack nói, "Tao bị bệnh mất ngủ".

"Mày vương vấn gì trong đầu vậy?"

"Tao nhớ vợ".

"Gọi cô ấy đến".

"Không. Tao quả già với chuyện ấy".

"Bọn mình sẽ dạo quanh trước lúc mày đi ngủ để cơ thể mệt mỏi và thần kinh thư giãn".

"Mệt mỏi ư!" Jack nói. "Lúc nào tao cũng mỏi mệt".

Hắn sống trong trạng thái ấy suốt cả tuần nay. Buổi tối hắn không ngủ được nên lúc ra khỏi giường vào sáng hôm sau hắn có cảm giác ấy, bạn biết đó, cảm giác sẽ xuất hiện khi bạn không tự chủ được.

"Hắn nhăn nhó như thể ngoạm phải miếng bánh ôi", Hogan nói. "Hắn chẳng còn gì".

"Tao chưa bao giờ gặp Walcott", tôi nói.

"Nó sẽ giết hắn", Hogan nói. "Nó sẽ xé xác Jack ra làm hai mảnh".

"Ừ", tôi nói, "trong đời ai rồi cũng sẽ gặp chuyện đó".

"Dẫu sao thì không giống trường hợp này", Hogan nói. "Họ sẽ nghĩ là hắn đã không được tập luyện. Điều đó gây tai tiếng cho trại".

"Mày có nghe cánh nhà báo bình luận gì về hắn?"

"Lại còn nghe nữa! Họ bảo hắn mất phong độ. Họ bảo lẽ ra ban tổ chúc không nên cho hắn đấu".

"Ồ", tôi nói, "bọn chúng thì thường nói sai có phải không?" "Phải", Hogan đáp. "Nhưng lần này thì họ đúng".

"Làm cái quái nào mà chúng biết được một người còn phong độ hay mất".

"Này", Hogan nói, "Họ chẳng phải là lũ ngốc cả đâu".

"Những gì chúng làm là chế giễu Willard ở Toledo. Cái gã Lardner ấy mà, giờ thì hắn đã sáng mắt ra rồi, hãy hỏi hắn về việc giễu Lardner ở Toledo".

"Ồ, hắn chẳng đến đâu", Hogan nói. "Hắn chỉ viết về những trận đấu lớn".

"Tao không quan tâm chúng là ai", tôi nói. "Chúng biết quái gì? Chúng có thể bình luận, được thôi, nhưng chúng biết cái cóc xái gì?"

"Mày không cho là Jack còn phong độ phải không?" Hogan hỏi.

"Không. Hắn chỉ chán nản. Trạng thái ấy sẽ hết khi Corbett chọn hắn, hắn chỉ cần thế".

"Ừ, Corbett sẽ chọn hắn", Hogan nói.

"Là cái chắc. Lão ta sẽ chọn hắn".

Tối hôm đó, Jack chẳng chợp mắt được tí nào. Hôm sau là ngày cuối cùng trước lúc trận đấu diễn ra. Ăn sáng xong, bọn tôi lại ra hiên.

"Khi không ngủ được mày nghĩ về chuyện gì hả Jack?" Tôi hỏi.

"Ồ, tao sợ", Jack đáp. "Tao lo về khoản tài sản tao có ở Bronx, tao lo về tài khoản ở Florida. Tao lo cho bọn trẻ. Tao lo về vợ. Đôi khi tao nghĩ về các trận đấu. Tao nghĩ về gã Do Thái Ted Lewis rồi tao thấy nhức nhối. Tao có vài cổ phần và tao lo về chúng. Tao chẳng còn biết nghĩ về cái quái nào khác".

"Ừ," tôi bảo "tối mai mọi chuyện sẽ chấm dứt".

"Dĩ nhiên", Jack nói. "Ý nghĩa đó sẽ hữu ích nhiều phải không? Tao nghĩ nó sẽ làm dịu đi mọi chuyện. Đúng rồi".

Hắn uể oải suốt cả ngày. Bọn tôi chẳng làm gì. Jack chỉ chạy vài vòng để thư giãn. Hắn đấm vài hiệp trước gương. Trông hắn chẳng hào hứng gì ngay cả khi thực hiện các động tác đó. Hắn nhảy dây một lát. Hắn không thể đổ mồ hôi.

"Tốt hơn là hắn đừng làm gì cả", Hogan nói. Bọn tôi đang đứng nhìn hắn nhảy dây. "Hắn không đổ một tí mồ hôi nào nữa sao?"

"Hắn không thể ra mồ hôi".

"Mày có nghĩ hắn đang giờ trò gì đây chăng? Hắn chẳng hề gặp rắc rối với số cân phải không?"

"Không, hắn chẳng hề giờ bất kỳ mánh lới nào. Hắn chỉ chẳng còn bụng dạ tập tành gì nữa thôi"

"Hắn cần phải ra mồ hôi", Hogan nói.

Jack vừa nhảy dây vượt qua. Hắn đang nhảy trước mặt bọn tôi, tiến tới rồi lùi lại, cứ ba bước nhảy, hắn lại chéo cánh tay.

"Này", hắn nói. "Bọn mày đang nói chuyện gì đó?"

"Tao nghĩ mày đừng nên tập nữa", Hogan nói. "Mày sẽ bị mệt đấy".

"Bất lợi phải không?" Jack nói và nhảy qua, sợi dây đập mạnh xuống sàn.

Chiều hôm ấy, John Collins đến trại. Jack đang ở trong phòng. Chiếc xe từ thành phố đưa John đến. Hắn có mấy gã bạn đi cùng. Xe dừng lại, chúng bước ra.

"Jack đâu?" John hỏi tôi.

"Đang nằm trên phòng".

"Nằm sao?"

"Ừ", tôi đáp.

"Hắn thế nào?"

Tôi nhìn hai gã đi với John.

"Chúng là bạn hắn", John nói.

"Hắn hơi kém", tôi nói.

"Chuyện gì vậy?"

"Hắn không ngủ được".

"Trời đất", John nói. "Thằng Ai Len đó có thể không cần ngủ".

"Hắn kém phong độ", tôi nói.

"Ối dào", John nói. "Hắn chưa hề khỏe. Suốt mười năm làm việc với hắn tao chẳng hề thấy hắn khỏe bao giờ".

Hai gã đi cùng hắn cười vang.

"Giới thiệu với anh đây là ông Morgan và ông Steinfelt", John nói. "Còn đây là ông Doyle, người đang huấn luyện Jack".

"Hân hạnh được làm quen", tôi nói.

"Bọn ta lên gặp hắn đi", gã tên Morgan nói.

"Chúng ta thăm hắn xem", Steinfelt nói.

Cả đoàn lên gác.

"Hogan đâu?" John hỏi.

"Trong phòng tập với hai khách hàng của hắn", tôi đáp.

"Dạo này có nhiều người tập ở đây không?" John hỏi.

"Chỉ hai đứa".

"Khá yên tĩnh chứ nhỉ?" Morgan nói.

"Ừ" tôi đáp. "Trại khá yên tĩnh".

Chúng tôi đứng bên ngoài phòng Jack. John gõ cửa. Không có tiếng trả lời.

"Có lẽ hắn ngủ", tôi nói.

"Hắn ngủ ngày làm cái quái gì cơ chứ?"

John vặn nắm đấm, cả bọn đi vào. Jack đang nằm ngủ trên giường. Hắn nằm sấp, mặt vùi trong gối. Hai cánh tay choàng qua gối.

"Này Jack!" John gọi.

Đầu Jack hơi nhúc nhích trên gối.

"Jack!" John cúi người xuống gọi.

Jack vùi sâu đầu vào gối. John sờ vai hắn. Jack ngồi dậy nhìn bọn tôi. Râu hắn không cạo, trên người vận chiếc áo thun cũ.

"Lạy Chúa! Sao bọn mày không để tao ngủ?" hắn bảo John.

"Đừng nóng", John nói. "Chẳng phải vô cớ mà tao thức mày dậy".

"Ồ không", Jack nói. "Dĩ nhiên là không".

"Mày biết Morgan và Steinfeit", John nói.

"Hân hạnh được làm quen". Jack nói.

"Mày cảm thấy thế nào hả Jack?" Morgan hỏi.

"Ổn", Jack đáp. "Trông tao tệ lắm sao?"

"Trông mày khỏe đấy", Steinfelt nói.

"Ừ, đúng thế". Jack nói. "Này". hắn gọi John. "Mày là ông bầu của tao. Mày đã vớ bẫm. Tại sao mày không ló mặt đến đây khi bọn nhà báo đến? Mày muốn Jerry và tao nói chuyện với chúng sao?"

"Tao kẹt Lew đấu ở Philadelphia", John nói.

"Việc đó quan hệ quái gì đến tao?" Jack nói. "Mày là ông bầu của tao. Mày đã vớ bẫm phải không? Mày chẳng kiếm cho tao một xu nào ở Philadenphia có phải không? Tại sao mày không ló mặt ở đây lúc tao cần mày?"

"Có Hogan rồi".

"Hogan", Jack nói. "Hogan cũng đần như tao".

"Thỉnh thoảng Soldier Batlett đến đây đấu tập với mày chứ?" Steinfeit nói để đổi để tài.

"Ừ, hắn có đến". Jack đáp. "Đúng là hắn đã đến đây".

"Này, Jerry", John gọi tôi. "Mày vui lòng đi tìm Hogan và bảo hắn bọn tao cần gặp hắn sau nửa tiếng nữa được chứ?"

"Được" tôi đáp.

"Tại sao hắn không ở lại đây?" Jack nói. "Ở lại đây, Jerry".

Morgan và Steinfelt nhìn nhau.

"Bình tĩnh nào, Jack", John bảo hắn.

"Tốt hơn là để tao đi tìm Hogan", tôi nói.

"Nếu mày muốn đi thì chẳng sao". Jack nói. "Nhưng đếch thằng nào có quyền bắt mày phải đi cả".

"Tao sẽ đi tìm Hogan", tôi nói.

Hogan ở trong phòng thể dục của nhà tập. Hai võ sinh của hắn đang đeo găng. Chẳng đứa nào dám đấm bởi sợ phải nhận cú đòn đấm trả.

"Thế nhé", Hogan nói khi thấy tôi bước vào. "Các anh có thể nghỉ, đi tắm rồi Bruce sẽ xoa bóp".

Chúng leo qua dây thừng, Hogan đi về phía tôi. "John Collins đưa hai gã bạn đến gặp Jack", tôi nói.

"Tao thấy chúng trong xe".

"Hai gã đi với John là ai vậy?"

"Chúng là hạng mà mày có thể gọi là những thằng lọc lõi". Hogan nói. "Mày không biết hai đứa đó à?"

"Không", tôi đáp.

"Đấy là Happy Steinfelt và Lew Morgan. Chúng có một trung tâm cá độ".

"Tao đã đi vắng khá lâu", tôi nói.

"Hèn chi", Hogan nói. "Thằng Happy Steinfelt là kẻ cá độ thứ thiệt".

"Tao mới nghe tên hắn", tôi nói.

"Hắn là đứa thủ đoạn", Hogan nói. "Cả hai hợp thành một cặp ranh ma lắm".

"Thảo nào", tôi nói. "Họ muốn gặp bọn mình sau nửa tiếng nữa".

"Mày bảo là chúng không gặp ta trong vòng nửa giờ nữa à?"

"Thế đấy".

"Ta vào văn phòng đi", Hogan nói. "Mặc thây mấy thằng xỏ lá ấy".

Chừng ba mươi phút sau, Hogan và tôi lên gác. Bọn tôi gõ cửa phòng Jack. Chúng đang nói chuyện bên trong.

"Đợi một lát", ai đó nói.

"Vứt mẹ cái việc ấy đi", Hogan nói. "Khi nào bọn mày cần gặp, tao ở văn phòng".

Bọn tôi nghe tiếng khóa xoay. Stemfelt mở cửa.

"Vào đi, Hogan", hắn mời. "Bọn mình sẽ uống một chầu".

"Ừ", Hogan nói. "Được đấy".

Bọn tôi vào. Jack đang ngồi yên trên giường. John và Morgan ngồi trên hai chiếc ghế. Steinfeit đứng.

"Chào những con người đầy bí mật". Hogan nói.

"Xin chào Danny", Morgan nói và bắt tay.

Jack không mở miệng. Hắn ngồi yên trên giường. Hắn xa lạ với mấy gã đó. Hắn cô độc. Hắn đã vận quần dài, áo len màu xanh cũ, chân đi giày đấm bốc. Hắn cần phải cạo râu. Steinfeit và Morgan ăn vận diêm dúa, John cũng khá bảnh bao. Jack ngồi đó, trông rất Ai Len và bứt rứt.

Steinfeit lấy chai rượu ra, Hogan tìm ly rồi cả bọn cùng uống. Jack và tôi chỉ uống một ly. Jack không nhấp thêm tí nào nữa. Hắn đựng dậy, nhìn bọn chúng. Morgan ngồi xuống giường, chỗ Jack vừa đứng lên.

"Thêm ly nữa, Jack", John nói rồi đưa hắn chai rượu và cái ly.

"Không", Jack nói, "Tao không hề có ý noi gương bọn mày".

Cả bọn cùng cười. Jack không cười.

Bọn chúng vui vẻ khi chia tay. Jack đứng ngoài hiên lúc cả bọn lên xe. Chúng vẫy tay chào hẳn.

"Tạm biệt", Jack nói.

Chúng tôi ăn bữa ăn muộn. Suốt bữa Jack chẳng nói gì ngoại trừ, "Chuyển hộ tao cái này" hay "Đưa giùm tao cái kia". Hai võ sinh của trại ngồi ăn cùng bàn với chúng tôi. Chúng rất ngoan. Ăn xong bọn tôi ra hiên. Trời chóng tối.

"Muốn đi dạo không Jerry?" Jack hỏi.

"Đi", tôi đáp.

Bọn tôi mặc áo khoác, bước ra. Chặng đường nối với con lộ chính khá dài, lúc đến lộ, bọn tôi đi thêm một dặm rưỡi nữa. Nhiều chiếc xe chạy qua, bọn tôi phải tránh lên lề đợi chúng. Jack không nói lời nào. Mãi đến khi bước vào lùm cây để tránh chiếc xe tải lớn, Jack nói, "Vứt mẹ cái cuộc đi dạo này. Về trại Hogan thôi".

Bọn tôi men theo con đường đi tắt qua ngọn đồi, băng qua cánh đồng về trại Hogan. Bọn tôi có thể nhìn thấy ánh đèn của khu trại trên đồi. Hai đứa vòng ra phía trước, Hogan đang đứng trên ngưỡng cửa.

"Dạo chơi thoải mái chứ". Hogan hỏi.

"Ồ, tốt", Jack đáp. "Này. Hogan. Có rượu không?"

"Có", Hogan đáp. "Uống hả?"

"Đưa lên phòng", Jack nói. "Tối nay tao sẽ ngủ’'.

"Mày là bác sĩ chắc", Hogan nói.

"Lên phòng tao nghe Jerry", Jack nói.

Đến phòng, Jack ôm đầu ngồi xuống giường.

"Đời chó má thật!" Jack nói.

Hogan mang một chai lít với hai cái ly vào.

"Có muốn uống ginger ale 1 không?"

"Mày nghĩ gì đấy, tao ốm à?"

"Tao chỉ thử đề nghị thôi".

"Uống chứ?" Jack mời.

"Không, cảm ơn", Hogan đáp. Hắn bước ra.

"Mày uống không Jerry?"

"Tao sẽ uống với mày một ly", tôi đáp.

Jack rót ra hai ly. "Xin mời", hắn nói, "tao muốn uống từ từ thôi".

"Pha thêm ít nước vào", tôi nói.

"Ừ", Jack nói. "Tao nghĩ như thế ngon hơn".

Bọn tôi uống cạn hai ly rượu, không chuyện trò, Jack sắp rót ly nữa cho tôi.

"Đừng", tôi nói, "tao chỉ uống chừng ấy".

"Thôi được", Jack nói. Hắn rót cho mình một ly đầy, pha thêm nước. Hắn vui lên một chút.

"Lũ hồi chiều đến đây khá đấy", hắn nói. "Chúng chẳng dám liều, hai cái thằng đó".

Rồi lát sau, "Ừ", hắn nói, "chúng đúng. Tốt lành cái gì khi mạo hiểm?"

"Mày không muốn uống thêm nữa sao Jerry?" hắn hỏi. "Lại đây uống với tao".

"Tao chẳng muốn uống, Jack", tôi nói. "Tao cảm thấy đủ rồi".

"Chỉ một cốc nữa thôi mà." Jack nói. Rượu đang làm hắn dịu đi.

"Thôi được", tôi nói.

Jack rót cho tôi một ly và ly nữa cho hắn.

"Mày biết không", hắn nói, "Tao rất thích uống. Nếu tao không đấm bốc thì hẳn đã túy lúy suốt ngày".

"Chắc thế", tôi nói.

"Mày biết đấy", hắn nói. ‘‘Tao đã mất nhiều thứ, chỉ còn đấm bốc".

"Mày kiếm được nhiều tiền".

"Đương nhiên. Đấy là điều tao theo đuổi. Mày thấy đấy, tao mất nhiều thứ Jerry à."

"Mày muốn nói gì vậy?"

"Ừ", hắn nói, "Chẳng hạn như vợ. Và cảnh sống xa gia đình quá nhiều. Nó chẳng tốt lành gì với các con gái tao. "Bố em là ai?" mấy thằng ranh sẽ hỏi đúng như thế, "Bố em là Jack Brennan". Cái tên đó chẳng mang lại điều gì tốt lành cho chúng".

"Mặc kiếp", tôi nói. "Chẳng hề hấn gì đâu nếu chúng có tiền".

"Ừ", Jack nói, "tao đã để dành tiền cho chúng".

Hắn rót thêm ly nữa. Chai rượu gần cạn.

"Cho thêm nước vào", tôi nói. Jack rót vào ít nước.

"Mày biết đấy", hắn nói, "mày chẳng thể nào hiểu nổi cảm giác nhớ vợ của tao".

"Đương nhiên".

"Mày không thể hiểu. Mày chẳng thể nào có được cảm giác như thế".

"Hóa ra ở vùng quê thì lại tốt hơn là ở thành phố".

"Bây giờ với tao", Jack nói, "sống ở đâu cũng chẳng có gì khác. Mày không thể hình dung nổi nó như thế nào đâu".

"Uống nữa đi".

"Tao đang say à? Tao nói năng có buồn cười không?"

"Mày vẫn tỉnh đấy".

"Mày chẳng thể hình dung được nó như thế nào đâu. Chẳng một ai có thể hình dung nổi nó đâu".

"Ngoại trừ vợ mày", tôi nói.

"Cô ấy biết". Jack nói. "Cô ấy biết rõ. Cô ấy biết. Mày biết cô ấy biết".

"Cho thêm nước vào đi", tôi nói.

"Jerry", Jack nói, "mày chẳng tưởng tượng nổi nó sẽ như thế nào đâu?"

Hắn đã say và rất thành thật. Hắn đang chằm chằm nhìn tôi. Mắt hắn không chớp.

"Mày sẽ ngủ ngon", tôi nói.

"Nghe này, Jerry", Jack nói. "Mày muốn kiếm tiền không? Mày đặt cược vào Walcott".

"Cái gì?"

"Nghe này, Jerry", Jack đặt ly xuống. "Giờ thì tao không say đâu, hiểu chứ? Mày biết tao đặt cược vào hắn bao nhiêu không? Năm mươi ngàn dollar".

"Số tiền lớn đấy".

"Năm mươi ngàn", Jack nói, "với hai ăn một. Tao sẽ có được hai mươi lăm ngàn đô. Hãy cược tiền vào hắn, Jerry".

"Nghe hấp dẫn đấy", tôi nói.

"Tao làm sao thắng được nó chứ?" Jack nói. "Đâu phải chuyện đùa. Làm sao tao hạ được nó? Vậy thì sao không đặt tiền vào đó?

"Thêm nước vào", tôi nói.

"Sau trận này tao sẽ giải nghệ", Jack nói. "Tao đã phát ngấy với nó. Tao phải chịu một trận. Sao tao lại không đặt tiền vào đấy?"

"Tất nhiên".

"Cả tuần nay tao không ngủ được", Jack nói. "Suốt đêm tao mở mắt nằm lo về trách nhiệm của mình. Tao không thể ngủ, Jerry. Mày chẳng thể hình dung nổi cảm giác như thế nào khi người ta không thể ngủ."

"Chắc thế".

"Tao chẳng thể ngủ. Thế đấy. Tao chỉ không ngủ được. Khi người ta không thể ngủ được thì việc giữ gìn sức khỏe suốt bao tháng năm ròng phỏng có ích lợi gì?"

"Tệ thật".

"Mày chẳng thể hình dung nó ra sao đâu, Jerry, một khi người ta không thể ngủ".

"Cho thêm nước vào", tôi nói.

Đến khoảng mười một giờ, Jack say mèm, tôi đặt hắn lên giường. Rốt cuộc thì lúc say hắn không thể cưỡng lại cơn buồn ngủ. Tôi giúp cởi áo quần, đỡ hắn nằm xuống.

"Mày sẽ ngủ ngon đó Jack", tôi nói.

"Chắc thế", Jack đáp, "tao ngủ ngay đây".

"Tạm biệt Jack", tôi nói.

"Tạm biệt Jerry", Jack nói. "Mày là thằng bạn duy nhất của tao".

"Thôi ngủ đi", tôi nói.

"Mày là thằng bạn duy nhất của tao", Jack nói, "tao chỉ có mỗi mình mày".

"Ngủ đi", tôi bảo.

"Tao sẽ ngủ", Jack đáp.

Hogan ngồi đọc báo bên bàn trong văn phòng ở tầng dưới. Hắn ngẩng đầu lên. "Thế nào, thằng bạn mày đã ngủ chưa?", hắn hỏi.

"Ngủ rồi".

"Như vậy thì tốt cho hắn hơn là không ngủ được", Hogan nói.

"Đúng thế".

"Dẫu sao thì mày cũng đã mất thì giờ giải thích chuyện ấy cho cánh nhà báo", Hogan nói.

"Ừ, tao đi ngủ đây", tôi nói.

"Tạm biệt", Hogan nói.

Khoảng tám giờ sáng hôm sau, tôi xuống ăn sáng. Hogan và hai võ sinh của hắn đang tập thể dục trong phòng. Tôi đến xem.

"Một! Hai! Ba! Bốn!" Hogan đang đếm cho chúng. "Chào Jerry", hắn nói. "Jack dậy chưa?"

"Chưa. Hắn hãy còn ngủ".

Tôi trở lên phòng thu xếp đồ đạc chuẩn bị về thành phố. Khoảng chín giờ ba mươi, tôi nghe Jack thức dậy ở phòng bên cạnh. Khi nghe hắn xuống cầu thang, tôi xuống theo. Jack ngồi vào bàn ăn điểm tâm. Hogan vào, đứng cạnh bàn.

"Mày cảm thấy thế nào, Jack?" tôi hỏi hắn.

"Không quá tệ".

"Ngủ ngon chứ?" Hogan hỏi.

"Tao ngủ bí tỉ", Jack đáp. "Lưỡi tao bị rộp nhưng không đau đầu".

"Tốt", Hogan nói. "Rượu ấy cực kỳ đấy".

"Ghi cả vào hóa đơn", Jack bảo.

"Bọn mày về thành phố vào lúc mấy giờ?" Hogan hỏi.

"Trước bữa trưa", Jack đáp. "Chuyến tàu mười một giờ".

"Ngồi xuống đi, Jerry", Jack nói. Hogan đi ra.

Tôi ngồi xuống bàn, Jack đang ăn bưởi. Khi gặp hạt, hắn nhằn ra thìa rồi gạt vào đĩa.

"Tối qua tao say quá phải không?" hắn bắt đầu.

"Mày uống nhiều rượu".

"Tao chắc đã nói nhiều điều ngớ ngẩn".

"Mày chưa say lắm".

"Hogan đâu?" hắn hỏi. Hắn đã chán món bưởi.

"Hắn ở văn phòng phía trước".

"Tao có nói gì về chuyện cá độ trong trận đấu không?" Jack hỏi. Hắn đang cầm cái muỗng chọc chọc vào quả bưởi.

Cô giúp việc mang trứng và giăm bông vào rồi bưng đĩa bưởi đi.

"Cho tôi ly sữa nữa", Jack bảo cô ta. Cô bước ra.

"Mày bảo mày cược năm mươi ngàn dollar vào Walcott", tôi nói.

"Đúng đấy", Jack nói.

"Một món tiền lớn".

"Tao không cảm thấy hoàn toàn yên tâm về nó", Jack nói.

"Vẫn có thể xảy ra chuyện gì đó".

"Không", Jack nói. "Hắn điên lên vì danh vọng. Họ sẽ thu xếp cho hắn được".

"Mày không thể nói trước được đâu".

"Được chứ. Hắn khao khát cái danh. Với hắn đấy là cả gia tài lớn".

"Năm mươi ngàn dollar là khoản tiền lớn", tôi nói.

"Một phi vụ làm ăn". Jack nói. "Tao chẳng thể thắng. Dẫu sao cũng không có khả năng giành chiến thắng".

"Nếu mày đấu được, mày còn cơ hội".

"Không", Jack nói. "Tao hết thời rồi. Bây giờ chỉ còn chuyện kiếm chác".

"Mày cảm thấy thế nào".

"Khá tốt", Jack đáp. "Một giấc ngủ là những gì tao cần"

"Có thể mày sẽ đấu tốt đấy".

"Tao sẽ trình diễn cho khán giả một trận ngoạn mục", Jack nói.

Ăn sáng xong, Jack gọi điện đường dài cho vợ. Hắn đang ở trong buồng điện thoại.

"Kể từ lúc đến đây, đây là lần đầu tiên hắn gọi cho vợ" Hogan nói.

"Hắn viết thư cho cô ấy mỗi ngày".

"Dĩ nhiên", Hogan nói, "gởi thư chỉ mất có hai xu".

Hogan chào tạm biệt bọn tôi lúc Bruce - tay da đen xoa bóp - đưa chúng tôi đến ga bằng xe ngựa.

"Tạm biệt ông Brennan", Bruce nói trên sân ga. "Tôi rất hy vọng ông sẽ quật ngã thằng cha đó".

"Tạm biệt", Jack nói. Hắn đưa Bruce hai dollar. Bruce đã vất vả nhiều với hắn. Anh ta lộ vẻ thất vọng. Jack thấy tôi nhìn Bruce cầm tờ hai dollar.

"Hóa đơn đã tính cả rồi", hắn nói. "Hogan tính luôn tiền xoa bóp".

Jack im lặng trên đoạn đường về thành phố. Hắn ngồi thu người trong góc ghế. Vé đút vào dây băng mũ, mắt nhìn qua cửa sổ. Chỉ duy nhất một lần hắn nói với tôi.

"Tao bảo vợ, tối nay tao thuê phòng ở Shelby", hắn nói. "Nó chỉ cách Garden một góc phố. Sáng mai tao có thể đi thẳng về nhà".

"Tính vậy đúng đó", tôi nói. "Vợ mày chưa bao giờ xem mày đấu phải không Jack?"

"Chưa", Jack đáp. "Cô ấy chẳng hề xem tao đấu".

Nếu hắn không muốn trở về nhà ngay sau trận đấu, tôi nghĩ, thì hẳn hắn đang tính chuyện nhận một trận ra trò. Vào thành phố, bọn tôi đón taxi đến Shelby. Người phục vụ ra mang túi xách, chúng tôi đến bàn đăng ký.

"Giá phòng bao nhiêu?" Jack hỏi.

"Chúng tôi chỉ có phòng đôi", người trực nói. "Tôi có thể dành cho các ông một phòng đôi xinh xắn giá mười dollar.

"Quá đắt".

"Tôi có thể cho ông thuê một phòng đôi giá bảy dollar".

"Có phòng tắm chứ?"

"Dĩ nhiên".

"Mày có thể ở với tao, Jerry", Jack nói.

"Thôi", tôi nói, "tao định ngủ ở nhà ông anh rể".

"Tao không có ý bắt mày chia tiền đâu", Jack nói. "Tao chỉ muốn tiêu cho đúng giá trị của đồng tiền".

"Các ông sẽ ở chứ?" tay trực hỏi. Gã nhìn vào sổ đăng ký. "Phòng số 238, thưa ông Brennan".

Bọn tôi lên bằng thang máy. Căn phòng đẹp, rộng, có hai giường và cửa thông sang phòng tắm.

"Nơi này được đấy", Jack nói.

Tay bồi đưa bọn tôi lên, kéo rèm rồi mang hành lý vào. Jack đứng yên, thế là tôi trả cho anh ta hai lăm xu. Rửa ráy xong, Jack bảo tốt hơn là hai đứa nên ra phố ăn.

Bọn tôi ăn trưa tại tiệm Jimmy Hanley. Có nhiều người quen ở đó. Chúng tôi ăn được nửa bữa thì John vào ngồi cùng. Jack không nói nhiều.

"Số cân của mày sao rồi Jack?" John hỏi hắn. Jack đang chén một bữa trưa ngon lành.

"Tao có thể mặc áo quần để cân", Jack nói. Hắn chẳng bao giờ phải lo vượt quá số cân. Bẩm sinh hắn là võ sĩ hạng lông, hắn chẳng bao giờ béo. Nhưng hắn đã giảm cân lúc ở trại Hogan.

"Phải, đấy là điều mày chẳng bao giờ phải lo", John nói.

"Đúng thế". Jack nói.

Sau bữa trưa, bọn tôi đến Garden cân. Trận đấu sẽ diễn ra vào lúc ba giờ chiều với mức cân quy định là một trăm bốn mươi bảy pound. Jack bước lên cân, cái khăn quấn quanh lưng. Cán cân không di chuyển. Walcott vừa mới cân xong và đang đứng giữa đám người vây quanh.

"Để tao xem số cân của mày Jack", ông bầu của Walcott là Freedman nói.

"Được thôi, cân hắn sau", Jack hất hàm về phía Watcott.

"Bỏ khăn ra", Freedman nói.

"Bao nhiêu?" Jack hỏi mấy gã đang cân.

"Một trăm bốn mươi ba pound", gã béo xem cân nói.

"Mày sụt ký đó Jack", Freedman nói.

"Cân hắn đi", Jack bảo.

Walcott bước đến. Mái tóc hắn màu vàng, vai rộng, cánh tay của đám võ sĩ hạng nặng. Chân hắn thấp. Jack cao hơn hắn nửa cái đầu.

"Chào Jack", hắn nói. Mặt hắn nhiều sẹo.

"Xin chào", Jack nói. "Khỏe chứ?"

"Khỏe", Walcott đáp. Hắn bỏ chiếc khăn choàng quanh hông rồi đứng lên cân. Vai và lưng hắn được xếp vào loại rộng nhất mà người ta từng thấy.

"Một trăm bốn mươi sáu pound, mười hai ounce".

Walcott bước xuống ngạo nghễ cười với Jack.

"Này" John bảo hắn. "Jack sẽ chấp mày chừng bốn pound".

"Anh bạn, số cân sẽ tăng thêm khi tôi quay lại", Walcott nói. "Bây giờ tôi đi ăn đây".

Bọn tôi quay lại, Jack vận đồ. "Hắn khá nóng nảy đấy", Jack bảo tôi.

"Trông hắn như thể đã bị tẩn nhiều lần rồi".

"Ừ, đúng đấy" Jack nói. "Hắn không khó đấm đâu".

"Mày định đi đâu?" John hỏi lúc Jack vận xong áo quần.

"Về khách sạn", Jack đáp. "Mày thu xếp mọi thứ xong cả rồi chứ?"

"Rồi", John đáp. "Mọi thứ đã xong".

"Tao sẽ đi nằm một lát". Jack nói.

"Tao sẽ đến phòng mày vào khoảng bảy giờ kém mười lăm rồi chúng ta đi ăn tối".

"Được".

Về đến khách sạn, lên phòng, Jack cởi giày, áo khoác và nằm nghỉ một lát. Tôi viết thư. Một đôi lần, tôi liếc nhìn, Jack vẫn không ngủ. Hắn nằm yên nhưng thỉnh thoảng lại mở mắt ra. Cuối cùng hắn ngồi dậy.

"Chơi bài đi Jerry?" hắn nói.

"Ừ".

Hắn đến va-li lấy ra bộ bài kipbi và bàn chơi. Bọn tôi chơi, hắn ăn ba dollar của tôi. Jonh gõ cửa bước vào.

"Làm vài ván kipbi đi John?" Jack đề nghị hắn.

John đặt mũ xuống bàn. Nó ướt sũng. Áo khoác hắn cũng ướt.

"Trời đang mưa hả?" Jack hỏi.

"Mưa như trút", John đáp. "Chiếc taxi tao thuê bị kẹt nên tao phải cuốc bộ đến đây".

"Nào, ta chơi đi", Jack nói.

"Mày nên đi ăn đi chứ".

"Khoan đã", Jack nói. " Tao chưa muốn ăn".

Thế là họ chơi bài thêm nửa tiếng nữa và Jack ăn của hắn một dollar rưỡi. "Thôi, bọn mình đi ăn đi", Jack nói. Hắn đến cửa sổ, nhìn ra.

"Vẫn còn mưa hay sao?"

"Ừ"

"Bọn mình ăn ở khách sạn vậy", John nói.

"Cũng được". Jack nói. "Tao và mày chơi ván nữa để xem ai phải trả tiền ăn".

Lát sau Jack đứng dậy nói, "Mày trả đấy, John"; chúng tôi xuống tầng dưới, ngồi ăn trong phòng ăn rộng.

Ăn xong bọn tôi lên phòng. Jack lại chơi kipbi với John và thắng hai dollar rưỡi nữa. Jack đang hưng phấn. John mang theo chiếc túi dựng dụng cụ đấu. Jack mở nút cổ, cởi sơ-mi, mặc áo thun và áo len vào để không bị lạnh khi ra ngoài; rồi đút quần áo võ sĩ và áo choàng vào một cái túi.

"Sẵn sàng chưa?" John hỏi hắn. "Tao bảo chúng gọi taxi".

Ngay sau đó chuông reo, nhân viên khách sạn báo taxi đã đến.

Bọn tôi xuống bằng thang máy, qua hành lang, vào taxi đến trường đấu Garden. Trời mưa lớn nhưng đường phố vẫn đông người. Vé vào cửa Garden đã bán hết. Trên đường đến phòng thay quần áo, tôi thấy khán đài chật ních. Cả nửa dặm người dồn quanh đấu trường. Tất cả chìm trong bóng tối. Đấu trường sáng trong ánh đèn.

"Mưa thế này hóa ra lại tốt, họ chẳng thể nào bố trí trận đấu ngoài công viên được", John nói.

"Họ có nhiều người hâm mộ". Jack nói.

"Trận đấu này thu hút lượng khán giả lớn ngoài sức chứa của Garden".

"Người ta không đoán trước được thời tiết", Jack nói.

John bước đến cửa phòng thò đầu vào. Jack vận áo choàng ngồi đó, khoanh tay nhìn sàn nhà. Hai chăm sóc viên đi cùng John. Họ nhìn qua vai hắn. Jack nhìn lên.

"Hắn ra chưa?" hắn hỏi.

"Hắn vừa ra", John đáp.

Bọn tôi đến đài. Walcott vừa mới thượng đài. Khán giả vỗ tay hoan hô hắn. Hắn chui qua hai sợi dây thừng, nắm hai tay lại với nhau, mỉm cười và lắc lắc tay trước mặt khán giả, đầu tiên là phía bên này đài, sau đó là phía bên kia rồi ngồi xuống. Jack cũng nhận sự hoan hô từ phía khán giả. Jack là người Ai Len mà người Ai Len thì luôn được cổ vũ. Một người Ai Len thì không được hâm mộ ở New York bằng một người Do Thái hay Italy nhưng họ luôn nhận được sự khích lệ. Jack leo lên, cúi xuống lách qua mấy sợi dây và từ góc ngồi của mình, Walcott bước đến đè sợi dây xuống để Jack chui qua. Khán giả nghĩ hành động đó thực tuyệt vời. Walcott đặt tay lên vai Jack, chúng đứng như thế một lát.

"Thế là mày sắp trở thành một trong những nhà vô địch lừng danh theo kiểu ấy", Jack bảo hắn. "Cất cái bàn tay chết tiệt của mày ra khỏi vai tao".

"Bình tĩnh", Walcott nói.

Với khán giả, tất cả hành động đó thật là tuyệt vời. Hai võ sĩ mới lịch sự làm sao trước trận đấu. Họ đang chúc nhau may mắn.

Solly Freedman đi về góc chúng tôi lúc Jack quấn vải bàn tay, còn John thì đi lại góc của Walcott. Jack đút ngón tay cái vào cuộn vải rồi quấn bàn tay gọn gàng, đẹp đẽ. Tôi quấn vải quanh cổ tay và cuộn hai vòng qua các kẽ tay.

"Này, Freedman", Jack hỏi. "Thằng Walcott quốc tịch gì vậy?"

"Tao không biết", Solly nói. "Hình như nó là người Đan Mạch".

"Nó là người Bohemian", gã mang găng nói.

Trọng tài gọi họ ra giữa đài, Jack bước ra. Walcott vừa đi vừa mỉm cười. Họ gặp nhau, trọng tài đặt tay lên vai hai gã.

"Chào người hùng", Jack nói với Walcott.

"Bình tĩnh".

"Walcott có nghĩa gì?" Jack nói. "Mày không biết đấy là tên của thằng mọi đen à?"

"Nghe đây", trọng tài mở miệng rồi lão thao thao với chúng những quy chế thi đấu cũ rích. Một lần Walcott ngắt lời lão. Hắn chộp cánh tay Jack, và nói, "Tôi có thể đánh khi hắn nắm như thế này không?"

"Bỏ tay khỏi tao", Jack nói. "Chẳng cần phải diễn kịch ở đây đâu".

Họ trở về góc của mình. Tôi cởi tấm choàng khỏi người Jack, hắn trằn người vào dây, nhún gối vài lần rồi miết đế giày vào nhựa thông. Tiếng cồng vang lên, Jack trở nên nhanh nhẹn, bước ra. Walcott tiến về phía hắn, chúng chạm găng và ngay khi Walcott hạ tay xuống thì lập tức Jack vung tay trái đấm vào mặt hắn hai cú. Chưa từng có bất kỳ võ sĩ nào đấm giỏi hơn Jack. Walcott bám vào hắn, đầu chúi về trước, cằm quặt chặt xuống ngực. Hắn giỏi đấm móc, hắn giữ tay hơi thấp. Hắn hiểu đấu pháp là tiếp cận và tung cú móc. Nhưng hễ khi nào hắn đến gần, Jack đều đấm tay trái vào mặt hắn. Cú đấm như thể hoàn toàn tự động. Jack chỉ vung tay trái lên thì Walcott liền nhận ngay một quả vào mặt. Ba hoặc bốn lần Jack đấm tay phải nhưng hoặc Walcott cúi đầu tránh hoặc quả đấm rơi vào vai. Hắn đấu giống tất cả các võ sĩ đấm móc khác. Điều duy nhất hắn sợ là giao đấu với cùng kẻ đấm móc. Hắn thủ kín mọi chỗ để tránh bị thương. Hắn không quan tâm đến cú tay trái vào mặt.

Gần hết hiệp bốn, Jack đấm hắn chảy máu đầm đìa, mặt hắn bị đấm nát, nhưng mỗi lần Walcott xáp gần, hắn đấm mạnh đến nỗi ngay dưới xương sườn Jack, hai lằn đỏ hiện lên hai bên. Mỗi lần hắn xáp vào, Jack khóa hắn lại, bằng một tay, tay kia tự do đấm vào hắn, nhưng khi Walcott gỡ ra được, hắn đấm vào người Jack mạnh đến nỗi ngoài phố cũng nghe thấy tiếng. Hắn là võ sĩ đấm móc.

Ba hiệp tiếp theo, tình thế trận đấu vẫn giữ nguyên. Chúng chẳng mở miệng. Chúng mải miết đấm. Giữa hai hiệp, bọn tôi cũng chăm sóc Jack cẩn thận. Trông hắn không thật khỏe, hắn chẳng vận động nhiều trên đài. Hắn không di chuyển lung tung còn bàn tay trái thì hệt như cái máy. Như thể nó được gắn với mặt Walcott còn nếu Jack muốn đấm thì chỉ cần nảy ra ý định bất cứ lúc nào. Jack luôn bình tĩnh khi xáp vào, hắn không lãng phí sức. Hắn nắm mọi kỹ xảo khi đánh gần và hắn có rất nhiều thế để thoát ra. Trong lúc chúng dịch về góc bọn tôi, tôi quan sát thế hắn khóa Walcott; buông chùng tay phải, xoay lại đấm bằng sống găng, thực hiện một cú bào qua mũi Walcott. Walcott đang mất nhiều máu, hắn dụi mũi vào vai Jack để người Jack cũng dính đầy máu, rồi Jack làm một động tác hất vai, hích vào mũi hắn rồi hạ tay phải thực hiện cú đấm lần nữa.

Walcott đã điên tiết. Lúc đấu xong năm hiệp, hắn đã lộn ruột lên vì Jack. Jack không cáu, bởi lẽ hắn chẳng thể nào cáu hơn bản chất cáu kỉnh của hắn. Nhưng chắc chắn hắn sử dụng đòn ấy để khiến những gã đấu với hắn phải kiềng món đấm bốc. Đó là lý do để hắn ghét Kid Lewis nhiều đến thế. Hắn không hề trêu gan được Kid. Kid Lewis luôn sử dụng ba mẹo vặt mà Jack không thể chấp nhận. Nếu Jack khỏe thì hắn sẽ đứng vững trên đài như một tòa thánh đường. Chắc chắn hắn sẽ tẩn nhừ xương Walcott. Điều buồn cười trông Jack như thể một võ sĩ thời xưa. Nói điều này bởi hắn đã phối hợp sử dụng thành thạo các kỹ xảo thượng đài cổ điển.

Sau hiệp bảy, Jack nói, "Tay trái của tao đang nặng dần".

Từ lúc đó hắn bắt đầu bị đánh. Cục diện trận đấu không còn như trước. Thay vì hắn điều khiển thì bây giờ Walcott điều khiển, thay vì luôn che chắn kín kẽ thì nay hắn đang gặp rắc rối. Hắn không thể sử dụng tay trái để đẩy gã kia ra. Trận đấu trông vẫn như trước duy chỉ thay vì những quả đấm của Walcott thường trượt thì nay lại trúng hắn. Hắn bị tẩn tơi tả.

"Hiệp mấy rồi?" Jack hỏi.

"Mười một".

"Tao không trụ nổi nữa", Jack nói. "Chân tao bắt đầu yếu".

Walcott vẫn tiếp tục tẩn hắn mãi hồi lâu. Cảnh tượng như thể một người bắt bóng chày, tạt quả bóng và nhận sự va chạm. Từ bấy giờ Walcott làm chủ trận đấu. Hắn như thể một cái máy đấm. Hiện tại, Jack chỉ còn biết cố che chắn mà thôi. Nhưng hắn chưa nhận cú nào nguy hiểm cả. Giữa hai hiệp, tôi xoa bóp chân hắn. Những múi cơ giần giật dưới tay tôi. Hắn đau quá.

"Thế nào?" hắn quay lại hỏi John, khuôn mặt sưng vù.

"Trận đấu là của hắn".

"Tao nghĩ mình có thể trụ được". Jack nói. "Tao không muốn bị thằng Bohemian này hạ".

Sự việc diễn ra theo hướng hắn chờ đợi. Hắn biết hắn chẳng thể hạ nổi Walcott. Hắn đâu còn khỏe nữa. Hắn đã thực sự chấm hết. Món tiền của hắn đã chắc ăn rồi và giờ thì hắn muốn kết thúc ngay trận đấu để thân xác đỡ nhọc nhằn. Hắn không muốn bị nốc ao.

Tiếng còng vang lên, bọn tôi đẩy hắn ra. Hắn từ từ bước tới. Walcott xông vào ngay. Jack vung tay trái, Walcott bị dính ngay vào mặt; rồi hắn cúi xuống, bắt đầu bổ vào người Jack. Jack cố kìm hắn lại, động tác ấy như thể ai đó đang cố hãm một cái cưa tròn đang chạy. Jack bị hất văng, tay phải hắn đấm trượt. Walcott tung cú móc tay trái. Jack ngã xuống. Hắn chống tay, khuỵu gối nhìn bọn tôi. Trọng tài bắt đầu đếm. Jack nhìn bọn tôi và lắc đầu. Đến tám, John ra hiệu cho hắn. Người ta chẳng thể nào nghe rõ bởi số khán giả đông ngần ấy. Jack đứng dậy. Trọng tài đưa tay giữ Walcott trong lúc đếm.

Khi Jack đứng lên, Walcott tiến về phía hắn.

"Cẩn thận Jimmy", tôi nghe Solly Freedman thét.

Walcott bước tới. Jack đang nhìn hắn. Jack đấm một cú tay trái vào mặt hắn. Walcott chỉ lắc lắc đầu. Hắn dồn Jack vào sát dây, đo, móc nhẹ một cú tay trái vào bên đầu Jack rồi lấy hết sức tống một cú tay phải vào người Jack, ngay điểm thấp nhất mà cánh tay có thể. Hắn đấm dưới thắt lưng Jack độ năm inch. Tôi ngỡ đôi mắt sắp bật khỏi Jack. Nó lồi hẳn ra ngoài. Mồm hắn há hốc.

Trọng tài chộp tay Walcott. Jack bước về phía trước. Nếu hắn ngã, năm mười ngàn dollar sẽ đi tong. Hắn bước như thể cả lục phủ ngũ tạng sắp tung bắn ra ngoài.

"Không thấp đâu", hắn nói. "Chỉ sơ ý thôi".

Khán giả thét gào lớn đến nỗi chẳng ai nghe được gì cả.

"Tôi không sao", Jack nói. Chúng đứng ngay trước mặt bọn tôi. Trọng tài nhìn John rồi lắc đầu.

"Lại đây, đồ Ba Lan thối thây kia". Jack nói với Walcott.

John đang chồm lên dây thừng. Hắn cầm sẵn khăn để ném cho Jack. Jack chỉ đứng cách vòng thừng một tí. Hắn bước một bước về phía trước. Tôi thấy mồ hôi tràn trên mặt hắn như thể ai đó đang vắt đầu hẳn. Một giọt mồ hôi lớn chảy xuống mũi.

"Tiếp tục đấu", Jack bảo Walcott.

Trọng tài nhìn John và vẫy tay cho Walcott.

"Lại đây, thằng đểu", hắn nói.

Walcott tiến đến. Hắn không biết phải làm gì. Hắn chẳng thể nào hình dung Jack lại chịu nổi cú đòn đó.

Jack đấm tay trái vào mặt hắn. Tiếng hò hét điên cuồng vẫn tiếp tục. Chúng đến trước mặt bọn tôi. Walcott đấm lại hắn hai cú. Mặt Jack là cả khối méo mó kinh dị nhất mà tôi từng chứng kiến - khủng khiếp quá! Hắn đang cố gượng đứng, mặt hắn biểu lộ điều đó. Suốt cả thời gian suy nghĩ và gượng đứng, cơ thể hắn như sắp nổ tung ra.

Rồi hắn bắt đầu đấm móc. Mặt hắn vẫn giữ vẻ kinh hoàng. Tay hạ thấp bên sườn, hắn tung cú móc vào người Walcott. Walcott co người tránh, Jack điên cuồng bổ vào đầu hắn. Rồi hắn vung tay trái đấm vào hàm Walcott, tay phải giáng một cú vào ngay nơi Walcott đấm hắn. Bên dưới thắt lưng. Walcott đổ sụp xuống, ôm bụng quằn quại trên sàn.

Trọng tài giữ Jack lại, đẩy về góc hắn. John nhảy lên đài. Tiếng gào thét vẫn tiếp tục. Trọng tài nói gì đó với giám khảo rồi một gã xướng ngôn xách loa lên đài, tuyên bố. "Walcott bị phạm lỗi".

Trọng tài nói gì đó với John và hắn bảo, "Tôi còn biết làm gì nhỉ? Jack không chịu nhận đã bị kẻ khác chơi sai luật. Rồi sau đó đến lượt hắn lại phạm lỗi với kẻ đã phạm lỗi với hắn".

"Dầu sao thì hắn cũng đã thua", John nói.

Jack ngồi xuống ghế. Tôi tháo găng, hắn ôm bụng cúi xuống. Khi tựa lên vật gì đó, nét mặt hắn không còn quá khủng khiếp nữa.

"Đến xin lỗi đi", John nói vào tai hắn. "Sẽ tốt hơn đấy".

Jack đứng dậy mồ hôi tứa khắp mặt. Tôi khoác áo choàng vào người hắn, một tay ôm bụng trong tấm choàng, hắn đi qua sàn đấu. Họ đỡ Walcott dậy và chăm sóc hắn. Có nhiều người ở phía góc của Walcott. Chẳng một ai mở miệng với Jack. Hắn cúi xuống Walcott.

"Tao xin lỗi" Jack nói. "Tao không cố ý phạm lỗi với mày".

Walcott chẳng nói gì. Trông hắn quá đau đớn.

"Này bây giờ mày đã là nhà vô địch rồi đó", Jack bảo hẳn. "Tao hy vọng nó sẽ mang lại cho mày vô khối niềm vui".

"Để nó yên", Solly Freedman nói.

"Chào Solly". Jack nói. "Tao biết là đã chơi xấu thằng bé của mày".

Freedman chỉ nhìn hắn.

Jack quay về góc của mình bằng những bước đi giần giật trông thực buồn cười, bọn tôi dìu hắn qua dây, xuyên qua dãy bàn phóng viên, xuống lối đi. Nhiều người muốn vỗ vào lưng Jack. Hắn khoác áo choảng đi qua đám đông đến phòng thay áo. Một trận thắng oanh liệt cho Walcott. Đấy là cách tiền được đặt cược ở Garden.

Ngay khi bọn tôi vào phòng thay đồ, Jack nằm xuống nhắm mắt lại.

"Chúng ta phải về khách sạn và gọi bác sĩ", John nói.

"Bụng tao bị nát cả rồi", Jack nói.

"Tao ân hận quá Jack", John nói.

"Ổn cả rồi". Jack nói.

Hắn nhắm mắt nằm im.

Chúng đã cố thực hiện một quả lật lọng", John nói.

"Hai thằng bạn Morgan và Steinfelt của mày đấy", Jack nói. "Mày có mấy thằng bạn quý hóa quá".

Bây giờ đang nằm, hắn mở mắt ra. Nhưng khuôn mặt vẫn hằn nỗi đau vô cùng tận.

"Thực buồn cười, con người ta tư duy mới nhanh làm sao khi dính đến món tiền lớn như thế". Jack nói.

"Mày cừ đấy Jack", John nói.

"Không", Jack nói. "Chẳng nghĩa lý gì đâu".

Lê Huy Bắc dịch

--- ------ ------ ------ -------
1     Nước gừng.

Cuộc thẩm vấn đơn giản
Ngoài trời, tuyết rơi thành đống cao hơn cửa sổ. Ánh mặt trời xuyên qua cửa sổ, chiếu lên tấm bản đồ treo trên vách gỗ thông của căn lều. Mặt trời đã lên cao, ánh nắng rọi lên đỉnh tuyết. Một con hào chạy dọc theo sườn để trống của căn lều, trời mỗi ngày một sáng, ánh nắng rọi lên vách, phả hơi nóng vào tuyết và tỏa rộng ra con mương. Đó là giai đoạn cuối tháng Ba. Ngài thiếu tá ngồi bên chiếc bàn kê sát vách. Viên sĩ quan phụ tá của ngài ngồi bên chiếc bàn khác.

Quanh mắt thiếu tá có hai hình tròn màu trắng - dấu vết của chiếc kính tuyết bảo vệ cho khuôn mặt của ông khỏi ánh nắng mặt trời phản chiếu từ lớp tuyết. Phần còn lại của khuôn mặt ông rám nắng đen sạm và bắt đầu chuyển sang màu nâu vàng. Mũi ông sưng tấy, hai bên cánh mũi - nơi bị sưng rộp lên - da nhão nhoẹt. Ông vừa xem xét đống giấy tờ vừa châm hai ngón tay trái vào đĩa dầu và thoa khắp lên mặt. Với hai đầu ngón tay, ông sờ lên mặt một cách nhẹ nhàng. Ông thận trọng chấm hai ngón tay khô ráo lên mép đĩa - nơi chỉ có một lớp dầu mỏng. Sau đó, ông xoa lên trán, má và khéo léo xoa lên mũi bằng hai đầu ngón tay. Khi mọi việc đã xong, ông đứng dậy, cầm đĩa dầu đi vào gian phòng nhỏ của căn lều, nơi ông dùng làm phòng ngủ.

- Tôi sẽ chợp mắt một chút. - Ông nói với sĩ quan phụ tá. Trong quân đội đó, sĩ quan phụ tá không phải là sĩ quan đặc nhiệm - Anh cũng nghỉ được rồi đấy. - Thiếu tá khuyên viên sĩ quan dưới quyền.

- Vâng thưa thiếu tá - Viên sĩ quan phụ tá trả lời. Anh ngả lưng vào chiếc ghế của mình và ngáp. Anh lấy từ trong túi áo khoác của mình quyển sách được bọc cẩn thận, mở ra, đặt xuống bàn rồi châm tẩu thuốc. Anh chui người xuống bàn để đọc và rít thuốc thật sâu. Sau đó, anh gập sách lại và đút vào túi. Viên sĩ quan này đã làm công việc giấy tờ quá lâu. Anh chẳng còn đủ xúc cảm để đọc cho đến hết. Bên ngoài, mặt trời đã ở sau dãy núi, chỉ còn chút ánh sáng yếu ớt hắt lên vách lều. Một người lính đi vào, tay cầm vài khúc gỗ thông dài ngan khác nhau và đút vào lò.

- Nhẹ tay thôi Pinin - Viên sĩ quan phụ tá nói với người lính - Thiếu tá đang ngủ.

Pinin là cần vụ của thiếu tá. Cậu có khuôn mặt của một chú bé với nước da ngăm đen. Cậu sửa sang lại lò sưởi rồi cẩn thận cho thêm củi thông vào. Sau đó, cậu đóng cửa và đi vào phía sau căn lều. Viên sĩ quan phụ tá cũng trở lại với đống giấy tờ của anh ta.

- Tonani. - Thiếu tá gọi.

- Thưa ngài, có việc gì ạ?

- Bảo Pinin vào đây cho tôi.

- Pinin! - Viên sĩ quan phụ tá gọi. Pinin bước vào phòng.

- Thiếu tá cần gặp anh. - Viên sĩ quan phụ tá nói với Pinin.

Pinin rảo bước qua gian chính của căn lều và đi về phía cửa buồng thiếu tá. Cậu gõ lên cảnh cửa đã hé mở.

- Thưa, ngài cần tôi?

- Vào đi, - Viên sĩ quan phụ tá nghe tiếng thiếu tá nói - và đóng cửa lại.

Trong phòng, thiếu tá đang nằm trên giường. Pinin đến đứng bên giường của thiếu tá. Thiếu tá tựa đầu lên chiếc ba lô được nhồi căng bằng vải vụn để làm gối. Khuôn mặt ông như chảy dài ra, đen sạm nhưng ông nhìn Pinin với vẻ hài lòng. Ông đặt hai tay lên đống chăn.

- Cậu mười chín tuổi à? - Ông hỏi.

- Vâng, thưa thiếu tá.

- Cậu đã từng yêu chưa?

- Ý của ngài là thế nào, thưa thiếu tá?

- Tình yêu - với một cô gái?

- Tôi đã từng với vài cô.

- Tôi không hỏi về điều đó. Tôi hỏi giả sử anh đã từng yêu - một cô gái.

- Vâng, thưa thiếu tá.

- Hiện tại cậu đang yêu một cô gái phải không? Cậu không viết thư cho cô ấy. Tôi đã đọc tất cả những lá thư của cậu.

- Tôi yêu có ấy - Pinin trả lời - Nhưng tôi không viết thư cho cô ấy.

- Cậu có dám chắc điều này không?

- Chắn chắn.

- Tonani, - Thiếu tá vẫn giữ nguyên giọng - anh có nghe tôi nói không?

Ở phòng bên không có tiếng trả lời.

- Anh ta không thể nghe được. - Thiếu tá nói - Cậu hoàn toàn chắc chắn rằng cậu yêu một cô gái chứ?

- Vâng, chắc chắn như vậy.

- Và, - Thiếu tá nhìn lướt qua Pinin - rằng cậu không hủ hóa chứ?

- Tôi không hiểu ý ngài, hủ hóa ư?

- Thôi được - Thiếu tá nói - Cậu không cần phải làm cao như thế. - Pinin nhìn xuống nền nhà. Thiếu tá nhìn khuôn mặt màu nâu của cậu. Nhìn từ dưới lên và dừng lại ở đôi tay của Pinin. Thiếu tá thôi mỉm cười và tiếp tục nói. - Cậu thật sự không muốn... - Thiếu tá tạm ngừng. Pinin vẫn nhìn xuống nền nhà - rằng dục vọng mãnh liệt của cậu thực sự không là... - Pinin vẫn nhìn xuống nền nhà. Thiếu tá tựa đầu vào ba lô và mỉm cười. Ông cảm thấy vô cùng thanh thản: cuộc sống trong quân ngũ quả thật quá phức tạp. - Cậu thật tuyệt vời - Ông nói - Cậu rất tuyệt vời, Pinin. Nhưng đừng làm cao và hãy cẩn thận hơn nữa kẻo một ai đó sẽ không chịu đựng nổi và tóm lấy cậu.

Pinin vẫn đứng bên giường của thiếu tá.

- Đừng sợ. - Thiếu tá nói. Hai tay ông khoanh lại trên đống chăn.

- Tôi sẽ không động đến cậu đâu. Cậu có thể trở về trung đội của mình nếu cậu muốn. Nhưng cậu cứ ở lại đây phục vụ tôi thì tốt hơn. Cậu sẽ ít có cơ hội bị giết.

- Ngài muốn gì ở tôi, thưa ngài thiếu tá?

- Không. - Thiếu tá trả lời - Hãy đi và tiếp tục công việc mà cậu đang làm. Cứ để cửa mở khi cậu ra khỏi đây.

Pinin bước ra và cửa vẫn để ngỏ. Viên sĩ quan phụ tá nhìn Pinin loạng choạng đi qua gian giữa để ra ngoài. Pinin đỏ bừng mặt, bước chân của cậu vụng về hơn cả khi cậu mang củi vào lò. Viên sĩ quan phụ tá nhìn theo cậu và mỉm cười. Pinin mang thêm mấy thanh củi nữa để cho vào lò. Thiếu tá vẫn nằm trên giường, ông nhìn chiếc mũ sắt bọc vải và chiếc kính tuyết của mình treo trên một cái đinh đóng trên vách, trong lúc lắng nghe tiếng bước chân của người cần vụ đi qua gian phòng. Quái quỷ thật, ông nghĩ, không hiểu cậu ta có nói dối mình không.

Phạm Ngọc Thưởng dịch

Mười người da đỏ
Hết ngày mồng bốn tháng bảy 1 , từ thành phố, Nick trở về nhà muộn trên chiếc xe lớn của chú Joe và gia đình, vượt qua chín người da đỏ trên đường. Cậu nhớ chỉ có chín bởi chú Joe lúc đang đánh xe trên con đường bụi, vội dừng ngựa, nhảy xuống kéo một anh chàng Da Đỏ ra khỏi lòng đường. Người Da Đỏ ấy ngủ úp mặt xuống cát. Chú Joe lôi anh ta vào bụi rồi quay lại leo lên xe.

"Hèn chi chỉ có chín", chú Joe nói, "chỉ mới từ đây đến bìa thành phố".

"Cái quân Da Đỏ này", cô Garner nói.

Nick ngồi ghế sau với hai cậu bé nhà Garner. Từ chỗ ấy, cậu nhìn ra quan sát anh chàng Da Đỏ được chú Joe kéo vào lề đường.

"Có phải Billy Tabeshaw đấy không?" Carl hỏi.

"Không".

"Quần của anh ta trông giống hệt như của Billy".

"Những người Da Đỏ đều mặc cùng một kiểu quần".

"Em chưa kịp nhìn anh ta", Frank nói. "Bố bước xuống đường rồi quay lên xe trước lúc em kịp hiểu ra chuyện gì. Em cứ tưởng bố xuống giết một con rắn".

"Tối nay, rất nhiều người Da Đỏ sẽ giết rắn, bố chắc thế", chú Joe nói.

"Cái quân Da Đỏ này", cô Garner nói.

Họ đi tiếp. Con đường rời khỏi lộ chính, leo lên rặng đồi. Lũ ngựa rất mệt nên bọn trẻ xuống đi bộ. Con đường đầy cát. Trên đỉnh đồi cạnh trường học, Nick quay nhìn lại. Cậu thấy mấy ngọn đèn ở Petoskey và ánh sáng từ cảng Springs hắt qua vịnh Little Traverse. Chúng lại leo lên xe.

"Lẽ ra người ta nên rải sỏi con đường này" chú Joe nói. Chiếc xe chạy theo con đường xuyên qua rừng. Trên chiếc ghế trước, chú Joe và cô Garner ngồi cạnh nhau. Nick ngồi giữa hai đứa trẻ. Con đường đổ ra vùng đất trống.

"Bố đã cán một con chồn hôi ngay chính chỗ này đây".

"Ở đằng kia kìa".

"Chỗ nào thì cũng chẳng có gì khác", chú Joe nói, không quay đầu lại. "Khi cán chết một con chồn thì chỗ này cũng như chỗ kia mà thôi".

"Tối qua tớ thấy hai con chồn", Nick nói.

"Ở đâu?"

"Bên cạnh hồ. Chúng đang tìm cá chết dọc hồ".

"Có lẽ chúng là lũ gấu trúc", Carl nói.

'"Chồn đấy. Tớ biết giống chồn mà".

"Có lẽ cậu đúng", Carl nói: "Cậu đã chim được một cô nàng Da Đỏ".

"Đừng nói năng theo kiểu đó, Carl", cô Garner bảo.

"Với lại, mùi của chúng thì gần như nhau".

Chú Joe cười lớn.

"Anh đừng cười nữa, Joe", cô Gamer nói. "Em không muốn Carl ăn nói theo kiểu ấy",

"Cháu quen một cô gái Da Đỏ hả Nick?" Chủ Joe hỏi.

"Dạ không".

"Anh ấy có đó, bố", Frank nói "Bạn gái anh ấy là Prudence Mit cheir.

"Cô ta không phải".

"Ngày nào anh cũng đi gặp cô ấy".

"Anh không". Ngồi giữa hai cậu bé trong bóng tối, Nick cảm thấy hơi giả dối và rồi hạnh phúc trào dâng trong hồn khi cậu được trêu về Prudence Mitchell. "Cô ấy không phải là cô gái của tớ", cậu nói.

"Nghe cậu ta nói kìa", Carl nói. "Con thấy họ ngày nào cũng xoắn xuýt lấy nhau".

"Carl thì chẳng có bạn gái", mẹ cậu ta nói, "Thậm chí chỉ là một thiếu nữ Da Đỏ".

Carl lặng im.

"Anh Carl không giỏi tán gái", Frank nói.

"Mày im đi".

"Chẳng sao đâu con Carl," chú Joe nói: "Lũ con gái thiếu con trai còn dầy rẫy ra đó. Cứ nhìn bố mày đây này".

"Vâng, ông đã nói hết chưa", cô Garner dịch sát vào chú Joe khi chiếc xe nảy lên. "Này, hồi còn trai trẻ, ông có cơ man nào là bạn gái".

"Con nghĩ chắc bố không bao giờ có bạn gái là người Da Đỏ".

"Cháu đừng tin như thế", chú Joe nói. "Tốt hơn là cháu nên để mắt đến Prudie, Nick à".

Vợ chú thì thầm gì đó rồi chú Joe bật cười.

"Bố cười gì vậy?" Frank hỏi.

"Anh chớ nói, Garner", vợ chú đe. Joe lại cười.

"Nick, có thể có Prudence", chú Joe nói. "Còn tôi thì đã có một cô tử tế".

"Nói thế mà cũng nói", cô Garner nói.

Lũ ngựa nặng nhọc kéo xe trên cát. Chú Joe vươn tay vút roi vào đêm tối.

"Cố lên, cố lên nữa nào. Ngày mai bọn mày còn phải kéo nặng hơn".

Chúng chạy xuống sườn đồi dài, cỗ xe xóc xóc. Đến trại, mọi người bước xuống. Cô Garner mở khóa cửa vào nhà mang ra cây đèn. Carl và Nick tháo đồ xuống từ phía sau xe. Frank ngồi lên ghế trước đánh xe đến chuồng buộc ngựa. Nick bước; lên bậc cấp và mở cửa bếp. Cô Garner đang nhóm lửa trong lò. Cô ngoảnh lại lúc đang tưới dầu lên củi.

"Tạm biệt cô Garner", Nick nói. "Cảm ơn cô vì đã cho cháu đi nhờ".

"Không có chi, Nickie".

"Chuyến đi thật tuyệt vời".

"Chúng tôi vui khi có cháu đi cùng. Cháu ở lại ăn tối với cô?"

"Cháu về thì tốt hơn. Bố cháu hẳn đang đợi ở nhà".

"Thôi được, cháu về đi. Bảo Carl vào đây hộ cô được chứ?"

"Dạ được".

"Thôi chào Nickie".

"Tạm biệt, cô Garner".

Nick ra sân, đi đến chuồng ngựa - chú Joe và Frank đang vắt sữa.

"Tạm biệt chú và em", Nick nói. "Cháu đã có một chuyến đi tuyệt vời".

"Tạm biệt cháu, Nick", chú Joe nói. "Sao cháu không ở lại ăn tối cùng gia đình?"

"Cảm ơn chú, cháu không thể. Chú bảo Carl vào gặp cô giùm cháu với?"

"Được rồi, Nick, tạm biệt".

Nick đi chân trần theo lối mòn vắt qua đồng cỏ bên dưới chuồng ngựa. Lối mòn bằng phẳng, sương bám lạnh đôi chân. Cậu leo qua hàng rào cuối đồng cỏ, vượt qua cái khe, đôi chân vấy bùn nhão rồi leo lên bờ đi qua rừng sồi khô ráo cho đến lúc nhìn thấy ánh đèn trong ngôi nhà tranh. Cậu leo qua hàng rào, đi vòng ra cửa trước. Nhìn qua cửa sổ, cậu thấy bố đang ngồi bên bàn, đọc sách dưới ánh sáng của ngọn đèn bàn Lớn. Nick mở cửa bước vào.

"A, Nick đó hả con", bố cậu nói, "Đi chơi vui chứ?"

"Vui lắm bố à. Ngày mồng bốn tháng bảy tuyệt vời".

"Con đói phải không?"

"Đúng đó bố".

"Giầy đâu rồi?"

"Con quên trên xe chú Garner".

"Vào bếp đi con".

Bố Nick cầm đèn đi trước. Ông dừng lại mở nắp thùng đá. Nick vẫn bước vào bếp. Bố cậu lấy ra miếng thịt gà ướp lạnh đặt trên đĩa, bình sữa rồi mang đặt lên bàn, trước mặt Nick. Ông để cây đèn xuống. "Có cả bánh nữa", ông nói. "Con thấy thế nào?"

"Thực tuyệt bố à".

Bố cậu ngồi xuống ghế bên cạnh cái bàn trải vải dầu. Bóng ông in lớn lên tường bếp.

"Đội bóng nào thắng hả bố?"

"Đội Petoskey. Tỷ số năm ba".

Bố cậu ngồi nhìn cậu ăn rồi lấy bình rót đầy ly sữa cho cậu. Nick uống rồi chùi miệng bằng khăn ăn. Bố cậu với tay lên giá lấy bánh. Ông cắt cho Nick một miếng lớn. Đây là cái bánh nhân dâu tây.

"Bố đã làm gì hả bố?"

"Buổi sáng bố đi câu".

"Bố có bắt được con nào không?"

"Mỗi một con cá rô".

Ông ngồi nhìn Nick ăn bánh.

"Thế chiều nay bố làm gì?" Nick hỏi.

"Bố đi dạo cạnh khu trại Da Đỏ".

"Bố có gặp ai không?"

"Người Da Đỏ đã đổ hết xuống thành phố ăn nhậu túy lúy cả mà"

"Bố chẳng gặp một ai cả sao?"

"Bố gặp bạn con, Prudie ấy mà".

"Cô ấy ở đâu?"

"Ở trong rừng với Frank Washburm. Bố đi qua chúng. Chúng chơi với nhau khá lâu".

Ông không nhìn cậu.

"Chúng đang làm gì?"

"Bố không đứng lại xem".

"Nói cho con hay chúng đang làm gì?"

"Bố không biết", bố cậu nói. "Bố chỉ nghe tiếng chúng thôi".

"Thế làm sao bố biết đấy là chúng nó?"

"Bố nhìn thấy".

"Bố đã bảo với con là bố không thấy chúng mà".

"À, ừ, bố thấy chúng".

"Cô ấy với ai?" Nick hỏi.

"Với Frank Washburn".

"Chúng có - chúng có"

"Chúng có gì?"

"Chúng có vui không?"

"Bố cho là thế".

Bố cậu rời bàn đứng dậy ra khỏi cửa bếp có rèm che. Khi ông quay lại, Nick nhìn đĩa thức ăn. Cậu đang khóc.

"Ăn thêm tí nữa đi con?" bố cậu lấy dao cắt bánh.

"Đừng", Nick nói.

"Tốt hơn là con ăn thêm miếng nữa".

"Không, con không muốn ăn".

Bố cậu chùi bàn.

"Chúng ở đâu trong rừng vậy?" Nick hỏi.

"Phía sau trại" Nick nhìn đĩa của mình. Bố cậu nói. "Tốt hơn là con nên đi ngủ đi Nick".

"Vâng ạ"

Nick vào phòng mình, cởi đồ leo lên giường. Cậu nghe tiếng chân bố loanh quanh trong phòng khách. Nick nằm trên giường, úp mặt xuống gối.

"Tim mình tan vỡ", cậu nghĩ. "Nếu mình cảm nhận theo cách này thì trái tim chắc tan vỡ mất".

Lát sau cậu nghe bố tắt đèn rồi đi qua phòng riêng. Cậu nghe tiếng gió luồn qua rặng cây bên ngoài rồi cảm thấy nó len qua rèm che vào căn phòng lạnh lẽo. Cậu nằm vùi mặt trong gối hồi lâu rồi sau đó không còn nghĩ về Prudence nữa, cuối cùng cậu chìm vào giấc ngủ. Khi thức giấc trong đêm, cậu nghe tiếng gió trong rừng sồi cạnh nhà và cả tiếng sóng hồ đang vỗ vào bờ rồi cậu lại chìm vào giấc ngủ. Vào buổi sáng, cơn gió mạnh ào đến, sóng hồ dựng cao xô vào bờ và, cậu tỉnh dậy hồi lâu trước lúc chợt nhớ rằng trái tim mình đã tan vỡ.

Lê Huy Bắc dịch

--- ------ ------ ------ -------
1     Ngày quốc khánh của Hoa Kỳ.

Chim bạch yến cho ai
Tàu hỏa chạy rất nhanh qua ngôi nhà xây bằng đá màu đỏ với vườn cây, qua bốn cây cọ rậm rạp tỏa bóng mát lên những dãy bàn bên dưới. Phía bên kia là biển. Rồi một con đường cắt ngang qua vùng đá đỏ và đất sét; biển chỉ còn thấp thoáng mãi xa bên dưới bờ đá.

"Tôi mua nó ở Palermo", phu nhân người Mỹ nói. "Vào buổi sáng Chủ nhật đó, chúng tôi chỉ được ở trên bờ trong vỏng một tiếng đồng hồ. Gã đàn ông muốn trả bằng đô-la và tôi đã trả hắn một đô rưỡi. Nó hót rất hay".

Xe lửa rất nóng và ngay cả toa dành cho khách quý cũng hầm hập. Không có lấy một chút gió nhẹ thổi qua ô cửa sổ để ngỏ. Phu nhân Mỹ hạ rèm cửa sổ xuống, chúng tôi không còn thấy biển nữa, ngay cả thấp thoáng. Phía bên kia là tấm kính, tiếp đến là hành lang, ô cửa sổ để ngỏ và bên ngoài là rừng cây phủ đầy bụi bặm, một con đường rải nhựa, những cánh đồng nho bằng phẳng trải dài đến những ngọn đồi đầy đá xám.

Khói tuôn lên từ những ống khói cao - đang chạy vào Marseilles, xe lửa giảm dần tốc độ, chạy trên tuyến đường xuyên qua nhiều tuyến đường khác vào sân ga. Xe lửa đỗ lại ga Marseilles hai mươi lăm phút, phu nhân Mỹ mua một tờ "The daily Mail" và nửa chai nước Evian. Bà ta đi dạo trên sân ga nhưng chỉ quanh quẩn bên toa xe bởi vì ở Cannes, nơi tàu dừng lại mười hai phút rồi rời đi mà không báo hiệu khởi hành và bà ta may còn kịp bám lên cửa toa. Phu nhân Mỹ hơi bị điếc nên bà ta nghĩ rằng có lẽ người ta đã kéo còi hiệu khởi hành nhưng bà ta lại không nghe thấy.

Tàu hỏa rời sân ga Marseilles, quay nhìn lại ta thấy không chỉ những tuyến đường nối toa, cả xưởng đang tỏa khói mà còn cả thị trấn Marseilles, bến cảng với những đồi đá phía sau và ánh hoàng hôn đang đọng trên mặt nước. Khi trời dần tối, tàu vượt qua một ngôi nhà đang bốc cháy trên cánh đồng. Ô-tô bị nghẽn lại dọc theo con đường, ổ rơm, đồ đạc từ trong nhà được khuân quẳng khắp nơi trên cánh đồng. Nhiều người đang đứng xem ngôi nhà cháy. Sau khi trời tối, tàu đến Avignon. Hành khách lên và xuống tàu. Tại quầy báo, một người Pháp đang mua mấy tờ báo bằng tiếng Pháp phát hành trong ngày hôm đó. Trên sân ga có nhiều binh lính da đen. Họ mặc đồng phục màu nâu, vóc người cao, gương mặt sáng bóng do đứng sát ánh đèn cao áp. Da mặt họ rất đen và chiều cao của họ khiến người ngồi trên toa khó có thể nhìn thấy mặt. Tàu rời Avignon, toán lính da đen vẫn đứng đó. Một trung sĩ người da trắng thấp hơn đang đứng với họ.

Bên trong toa dành cho khách quý, nhân viên phục vụ kéo ba chiếc giường tựa sát vách xuống, chuẩn bị cho hành khách ngủ. Trong đêm, phu nhân người Mỹ nằm, không ngủ được bởi đây là chuyến tàu tốc hành, chạy rất nhanh mà bà ta lại sợ tốc độ trong đêm tối. Giường của phu nhân người Mỹ gần cửa sổ. Chim bạch yến mua từ Palermo được phủ khăn treo bên ngoài khu vực hành lang dẫn vào buồng vệ sinh. Bên ngoài toa, ánh đèn màu xanh đang tỏa sáng, suốt đêm tàu chạy rất nhanh còn bà ta thì cứ thức nơm nớp sợ tàu trật bánh.

Đến sáng, tàu tới gần Paris, sau khi phu nhân người Mỹ ra khỏi buồng vệ sinh, trông bà ta rất tươi tắn, rất đứng đắn và rất Mỹ dẫu suốt đêm không ngủ, bà ta gỡ chiếc khăn khỏi lồng chim, treo nó ra chỗ có ánh nắng rồi đến toa ăn để ăn sáng. Khi bà ta trở lại toa dành cho khách hạng một, mấy chiếc giường đã được đẩy vào sát vách để lấy chỗ ngồi, chim bạch yến đang rũ lông trong ánh mặt trời chiếu qua cửa sổ, tàu đến gần Paris hơn.

"Nó thích mặt trời", phu nhân người Mỹ nói. "Chỉ lát nữa thôi nó sẽ hót". Chim bạch yến rũ lông rồi đưa mỏ rỉa. "Tôi rất thích loài chim", phu nhân nói. "Tôi mang nó về cho con gái út. Đấy - nó sắp hót đấy".

Bạch yến hót líu lo, lông trên cổ nó dụng lên, sau đó nó hạ mỏ xuống rồi lại rỉa lông. Đoàn tàu băng qua một con sông và từ từ hướng tới cánh rừng. Tàu đi qua nhiều cánh rừng bên ngoài Paris. Có nhiều xe điện trong thành phố, nhiều quảng cáo đồ sộ cho Belle Jardinirène. Dubonnet và Pernod trên những bức tường chạy ngược với tàu hỏa. Hình như tàu hỏa đã chạy qua những vùng ấy trước bữa ăn sáng. Trong vài phút, tôi đã không lắng nghe lời của phu nhân người Mỹ đang nói chuyện với vợ tôi.

"Chồng chị là người Mỹ à?" bà ta hỏi.

"Vâng", vợ tôi đáp. "Cả hai chúng tôi đều là người Mỹ".

"Tôi cứ nghĩ chị là người Anh cơ chứ?"

"Ồ, không".

"Có lẽ là bởi vì tôi mang dây đeo quần", tôi nói. Tôi định nói là dây treo quần nhưng khi mở miệng lại nói thành dây đeo quần, theo cách diễn đạt sặc mùi Anh của tôi. Phu nhân người Mỹ không nghe rõ. Bà ta thực sự hơi điếc; bà ta hiểu bằng cách quan sát môi của người đối thoại, tôi không nhìn bà ta nữa. Tôi nhìn ra cửa sổ. Bà ta tiếp tục nói chuyện với vợ tôi.

"Tôi rất lấy làm mừng vì các bạn là người Mỹ. Đàn ông Mỹ là những người chồng tốt nhất", phu nhân Mỹ tiếp tục nói. "Đó là lý do tại sao chúng ta rời bỏ châu Âu. Chị biết không, con gái tôi đã phải lòng một gã ở Vevey". Bà ta dừng một lát. "Chúng đang phát điên lên vì yêu", bà ta dừng lại. "Tôi đã tách cháu ra, tất nhiên".

"Cô bé có chịu đựng nổi không?" vợ tôi hỏi.

"Tôi không cho là thế", phu nhân người Mỹ đáp. "Nó chẳng ăn, chẳng ngủ gì cả. Tôi cố hết sức xoay xở nhưng dường như nó không quan tâm gì cả. Nó chẳng quan tâm đến bất kỳ thứ gì nữa. Tôi không thể để nó lấy một người ngoại quốc được". Bà ta nghỉ một lát. "Một người, một người bạn rất tốt có lần đã bảo tôi chẳng có thằng cha ngoại quốc nào lại có thể trở thành một người chồng tốt cho một cô gái Mỹ".

"Không" vợ tôi nói. "Tôi không cho là như thế?"

Phu nhân người Mỹ tỏ ý thán phục chiếc áo khoác du lịch của vợ tôi và hóa ra là đã hai mươi năm nay, phu nhân người Mỹ đã đặt mua quần áo tại một cửa hiệu ở đại lộ Sam Honoré. Họ giữ số đo của bà ta rồi một thợ may khéo tay, người biết và hiểu sở thích của bà ta đã cắt may quần áo rồi gửi sang Mỹ. Số quần áo ấy được chuyển đến bưu điện gần nơi bà ta sống, ở khu dân cư của New York. Thuế má chẳng phải là cao quá bởi vì chúng được mở ra ở bưu điện để người ta định giá, các kiểu quần áo ấy luôn đơn giản, không viền đăng ten bằng vàng, không dính những đồ trang sức có giá trị để làm cho chúng trông sang trọng hẳn lên. Trước cô thợ may bây giờ, tên là Thésèse, đã có một người khác, tên là Amélie. Tới lui chỉ có hai người đó trong suốt gần hai mươi năm trời nay. Mẫu mã thì cũng chỉ bấy nhiêu thôi.

Giá cả thì dù sao cũng nhỉnh chút ít. Nhưng chuyển qua hối đoái thì chẳng hơn được một xu so với trước đây. Bây giờ họ cũng giữ số đo của con gái bà. Cô ta đã trưởng thành nhưng mẫu mã quần áo của họ đến nay cũng chẳng thay đổi nhiều.

Bây giờ đoàn tàu đang đi vào Paris. Hệ thống phòng thủ đã được san phẳng nhưng cỏ chưa mọc lên. Có rất nhiều toa xe đang đỗ trên đường ray - những toa xe bán đồ ăn bằng gỗ màu nâu, những toa dùng để ngủ cũng màu nâu sẽ đi Ý vào lúc năm giờ tối hôm ấy, nếu chuyến tàu đó vẫn khởi hành vào lúc năm giờ; những toa có kẻ chữ Paris - Rome và những toa có chỗ ngồi trên nóc, vào những giờ nhất định, sẽ khởi hành về các vùng ngoại ô, chở đầy hành khách trên các dãy ghế và cả trên nóc - nếu hiện tại người ta vẫn duy trì cách phục vụ ấy - sẽ vượt qua nhiều bức tường trắng và cửa sổ của những ngôi nhà. Bữa sáng thì chẳng có gì để ăn.

"Đàn ông Mỹ là những người chồng tốt nhất", phu nhân người Mỹ nói với vợ tôi. Tôi đang lấy những chiếc túi xuống. "Trên thế gian này đàn bà chỉ nên lấy đàn ông Mỹ".

"Chị đã rời Vevey bao lâu rồi?" vợ tôi hỏi.

"Hai năm trước cuộc tình này. Chị hiểu chứ, tình yêu của con gái tôi ấy mà, tôi mang chim bạch yến về cho nó".

"Con gái chị yêu một anh chàng Thụy Sĩ á?"

"Vâng", phu nhân người Mỹ đáp. "Thằng bé ấy là con của một gia đình gia giáo ở Vevey. Nó sắp trở thành kỹ sư. Chúng quen nhau ở Vevey. Hai đứa thường đi dạo với nhau".

"Tôi biết Vevey", vợ tôi nói. "Chúng tôi đã hướng tuần trăng mật ở đó".

"Thật vậy sao?" Chuyện này thật kỳ diệu. Ý tôi là, dĩ nhiên, không phải nói chuyện con bé nhà tôi phải lòng thằng bé".

"Đó là một nơi rất dễ thương", vợ tôi nói.

"Đúng đấy", phu nhân người Mỹ nói. "Nó mà chẳng dễ thương sao? Anh chị đã ở đâu?"

"Chúng tôi ở Trois Couronnes", vợ tôi đáp.

"Một khách sạn cổ xưa và đẹp tuyệt vời", phu nhân người Mỹ nói.

"Vâng", vợ tôi đáp. "Chúng tôi đặt một phòng rất xinh xắn, vào mùa thu miền ấy thật tuyệt vời".

"Anh chị đã ở đó vào mùa thu ư?"

"Vâng", vợ tôi đáp.

Chúng tôi vượt qua ba toa xe hỏng. Chúng vỡ tung, nóc lún hẳn vào.

"Nhìn kia", tôi nói. "Một vụ đâm tàu".

Phu nhân người Mỹ nhìn ra chỉ thấy toa xe cuối cùng.

"Tôi đã sợ điều đó suốt cả đêm", bà ta nói. "Đôi khi tôi có linh cảm về những điều khủng khiếp. Tôi sẽ không bao giờ đi du lịch bằng tàu tốc hành vào ban đêm nữa. Hẳn có những chuyến tàu khác đầy đủ tiện nghi mà không chạy quá nhanh".

Khi tàu đi vào trong bóng tối của ga Lyons, dừng lại rồi những phu khuân vác đến bên cửa sổ. Tôi chuyển mấy cái túi xách qua cửa sổ rồi chúng tôi ra sân ga rộng rãi mờ mờ tối, phu nhân người Mỹ đang hoạnh họe một trong số ba nhân viên hỏa xa, anh ta nói: "Thưa bà, chỉ một lát thôi, tôi sẽ tìm ra tên bà ngay".

Người phu khuân vác đẩy chiếc xe kéo tới, chất hành lý lên, vợ tôi và tôi chào tạm biệt phu nhân người Mỹ, tên bà đã được anh nhân viên tìm thấy trên tờ giấy đánh máy nằm trong tập giấy mà anh ta đã đút nhầm vào túi.

Chúng tôi đi theo người phu kéo chiếc xe dọc hành lang dài đúc bằng xi-măng bên cạnh con tàu. Cuối cùng hành lang là cổng ra vào, một nhân viên đứng ở đấy thu vé.

Chúng tôi quay lại Paris để thu xếp sống mỗi đứa một nơi.

Đào Thu Hằng dịch




Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 14.12.2018, 15:36
Hình đại diện của thành viên
☆~ Số 15 ca ~☆
☆~ Số 15 ca ~☆
 
Ngày tham gia: 14.10.2015, 23:36
Bài viết: 2952
Được thanks: 2074 lần
Điểm: 7.52
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tập truyện ngắn] Truyện ngắn Ernest Hemingway - Ernest Hemingway - Điểm: 10
Câu chuyện tình thơ mộng miền sơn cước
Ngay từ sáng sớm, cái nóng đã tràn xuống thung lũng. Mặt trời làm tuyết bám trên thanh trượt bọn tôi đang mang, tan đi và hong khô cánh rừng. Thung lũng hãy đang là mùa xuân nhưng thời tiết rất bức. Chúng tôi bước dọc con đường về Galtur, vai mang thanh trượt và ba lô. Khi chúng tôi đi qua sân nhà thờ, một đám tang vừa mới được cử hành xong. Tôi nói "Chào ngài" với vị linh mục lúc ông vượt qua chúng tôi, ra khỏi sân nhà thờ. Linh mục cúi đầu.

"Thực tức cười, linh mục chẳng buồn mở miệng đáp lại cậu", John nói.

"Cậu nghĩ họ thích chào theo lối ‘Chào ngài’ ư?"

"Họ không bao giờ tỏ thái độ", John nói.

Chúng tôi dừng bên đường, xem người trông nghĩa địa xúc đất. Gã nông dân có chòm râu đen, đi ủng da cao, đứng cạnh nấm mồ. Người trông nghĩa trang ngừng xúc, đứng thẳng lên. Gã nông dân đi ủng cao cổ, cầm xẻng, tiếp tục đắp. Gã rải đất đều như thể người ta bón phân trong vườn. Vào một buổi sáng tháng Năm rực rỡ, việc đắp mộ trông cứ như là trong mơ. Tôi chẳng thể hình dung nổi cảnh ai đó vừa qua đời.

"Thử tưởng tượng được mai táng vào một ngày giống hôm nay", tôi bảo John.

"Tớ không thích".

"Ừ", tôi nói, "chính mình không nên nghĩ về điều đó".

Chúng tôi tiếp tục bước trên đường, vượt qua nhiều ngôi nhà trong thị trấn, đến quán rượu. Suốt cả tháng, bọn tôi trượt tuyết ở Silvretta, và bây giờ, thời tiết đủ ấm để xuống thung lũng. Ở Silvretta, trượt tuyết rất tuyệt, nhưng đã sang xuân, tuyết chỉ rắn vào lúc sáng sớm và lúc gần tối. Thời gian còn lại trong ngày mặt trời làm hỏng lớp tuyết. Hai đứa đã chán ánh nắng. Bạn chẳng thể lẩn trốn được mặt trời. Mấy bóng râm duy nhất được tạo nên từ các rặng đá hoặc từ căn lều dựng dưới bóng của phiến đá cạnh dòng sông băng. Trong bóng mát, mồ hôi đông thành đá dưới đồ lót của bạn. Bạn không thể ngồi ngoài lều mà không đeo kính râm. Thực dễ chịu khi da dẻ sạm nắng, song mặt trời sẽ làm bạn mỏi mệt. Bạn không thể nghỉ ngơi dưới ánh nắng. Mình muốn về xuôi, tránh xa những ngọn đồi tuyết. Đã quá muộn vào mùa xuân để ở mãi Silvretta. Mình hơi mệt vì trượt tuyết. Bọn mình ở lại quá lâu. Mình đã nếm vị tuyết từ chiếc hộp đặt trên mái lều. Mùi vị ấy là một phần trong ký ức của mình cảm nhận về tuyết. Mình mừng vì có nhiều thú vui khác bên cạnh việc trượt tuyết, mình sung sướng vì đã rời xuống, đi xa những ngọn núi cao, trải rộng, không thực; để về thung lũng vào buổi sáng tháng Năm này.

Chủ quán ngồi trước cổng vòm, ghế ông ta tựa vào tường. Tay đầu bếp ngồi cạnh ông.

"Xin chào những vận động viên trượt tuyết", chủ quán nói.

"Xin chào!" bọn tôi đáp rồi dựng thanh trượt vào tường và bỏ ba lô xuống.

"Trên ấy thế nào?" chủ quán hỏi.

"Rực rỡ, nắng hơi gắt".

"Ừ, thời điểm này trong năm, trời rất nóng".

Tay đầu bếp vẫn ngồi trên ghế. Chủ quán theo chúng tôi bước vào, mở khóa phòng ông, mang thư từ của chúng tôi ra. Có cả một bó thư và vài tờ báo.

"Bọn mình gọi bia đi", John nói.

"Được đấy. Chúng ta sẽ uống trong này".

Chủ quán đưa đến hai chai, bọn tôi uống trong lúc đọc thư.

"Bọn mình nên uống thêm mấy chai nữa", John nói.

Lần này, cô phục vụ mang bia ra. Cô mỉm cười lúc mở bia.

"Nhiều thứ quá", cô nói.

"Vâng, khá nhiều".

"Xin mời", cô nói rồi xách mấy chiếc vỏ đi.

"Tớ đã quên bẵng mùi bia".

"Tớ thì không", John nói. "Lúc nằm trong lều ở trên ấy, tớ luôn nghĩ về nó".

"Ồ", tôi nói, "bây giờ chúng mình thưởng thức".

"Cậu không nên bỏ một món gì đó quá lâu."

"Đúng. Bọn mình ở trên ấy khá lâu."

"Rõ quá là lâu", John nói. "Chẳng tốt lành gì khi dốc hết thời gian để làm mỗi một việc".

Mặt trời chiếu qua khung cửa sổ để ngỏ, rọi đến mấy chai bia trên bàn. Chúng chỉ còn một nửa. Trong chai, bia sùi lớp bọt mỏng bởi được ướp rất lạnh. Nó sủi bọt nhiều hơn khi bạn rót ra những chiếc ly cao. Tôi nhìn qua cửa sổ xuống con đường trắng toát. Cây cối bên lề đường phủ đầy bụi. Đằng sau là cánh đồng xanh rờn và dòng suối. Dọc theo suối, rừng cây mọc dày và có cả nhà máy cưa với cái guồng nước. Nhìn qua đầu hồi để trống của nhà máy, tôi thấy một cây gỗ lớn và lưỡi cưa đang xẻ. Dường như chẳng có ai ở đó. Trên cánh đồng xanh biếc, bốn con quạ đang bước đi. Một con đậu trên cây quan sát. Ngoài cổng, tay đầu bếp nhổm dậy khỏi ghế, đi dọc hành lang, vào bếp. Trong quán, ánh nắng chiếu xuyên qua mấy chiếc cốc trên bàn. Joln gục đầu gối lên cánh tay.

Nhìn qua cửa sổ, tôi thấy hai người đàn ông bước lên bậc thềm phía trước. Họ đi vào gian giải khát. Một người là gã nông dân để râu, đi ủng cao cổ. Người kia là lão trông nghĩa địa. Họ ngồi vào bàn cạnh cửa sổ. Cô phục vụ bước đến, đứng cạnh bàn. Gã nông dân dường như không nhìn cô. Gã ngồi để tay lên bàn. Gã mặc bộ đồ lính đã cũ, khuỷu tay bị sờn.

"Gọi gì đây?" người trông nghĩa trang hỏi. Gã nông dân chẳng mảy may để ý. "Anh uống gì?"

"Schnapps" gã nông dân đáp.

"Và một phần tư lít vang đỏ", người coi nghĩa trang bảo cô gái.

Cô gái mang thức uống ra, gã nông dân uống ly schnapps. Gã nhìn qua cửa sổ. Người coi mộ quan sát gã. John gục đầu xuống bàn. Cậu ngủ say.

Chủ quán đi lại và bước gần bàn. Ông nói bằng tiếng địa phương, người coi mồ trả lời. Gã nông dân nhìn ra cửa sổ. Chủ quán bỏ ra khỏi phòng. Gã nông dân đứng dậy, lấy tờ bạc mười ngàn kronen ra khỏi ví da, trải nó ra. Cô gái bước đến.

"Thanh toán hả?" cô hỏi.

"Thanh toán", gã đáp.

"Để tôi trả tiền rượu vang", người coi mồ nói.

"Thanh toán", gã nông dân nhắc cô gái. Cô cho tay vào trong túi tạp dề, vốc ra một nắm tiền đồng, đếm trả số tiền thừa. Gã nông dân bước khỏi cửa. Ngay khi hắn đi, chủ quán lại vào phòng nói chuyện với người trông mộ. Ông ngồi cạnh bàn. Họ dùng tiếng địa phương. Người coi mồ có vẻ thích chí. Chủ quán thì ghê tởm. Người coi mồ đứng dậy - thân hình nhỏ bé, để ria mép, - chồm qua cửa sổ, cúi nhìn xuống đường.

"Đấy, hắn vào rồi", lão nói.

"Vào Lowen?"

"Ừ"

Họ nói chuyện trở lại, rồi chủ quán đi về phía bàn chúng tôi. Chủ quán cao và già. Ông nhìn John đang ngủ.

"Cậu ấy hơi mệt".

"Vâng, bọn cháu đi từ lúc sáng sớm".

"Các cậu muốn ăn ngay chứ?"

"Lúc nào cũng được", tôi đáp. "Bác có gì ăn?"

"Bất cứ món gì cậu thích. Cô phục vụ sẽ đưa thực đơn đến".

Khi cô gái mang thực đơn tới, John thức giấc. Thực đơn được viết bằng mực trên giấy cứng, lồng trong khung gỗ.

"Có món speise - karte", tôi bảo John. Cậu ta nhìn vào thực đơn nhưng hãy còn ngái ngủ.

"Bác có thể ngồi uống với bọn cháu chứ?" tôi mời chủ quán. Ông ngồi xuống.

"Đám nông dân ấy thật man rợ", chủ quán nói.

"Chúng cháu thấy một người dự đám tang trong thị trấn".

"Người quá cố là vợ gã".

"Ồ".

"Hắn là đồ súc vật. Cả lũ nông dân ấy cũng là đồ súc sinh".

"Chuyện gì vậy hở bác?"

"Các cậu không thể tưởng tượng được đâu. Cậu chẳng thể nào tin câu chuyện đã xảy ra với con người xấu số ấy".

"Kể bọn cháu nghe đi".

"Cậu chẳng thể nào tin được", Chủ quán nói với người coi mồ. "Franz đến đây". Lão bước đến, tay xách theo chai vang nhỏ và cái ly.

"Quý khách đây vừa mới từ Wiesbadenerhutte xuống", chủ quán nói. Chúng tôi bắt tay.

"Bác uống gì?" tôi hỏi.

"Không uống", Franz xua xua tay.

"Một phần tư lít nữa nhé?"

"Thôi cũng được".

"Cậu có hiểu phương ngữ không?" chủ quán hỏi.

"Dạ, không ạ".

"Chuyện gì vậy?" John hỏi.

"Bác ấy sắp kể cho chúng ta nghe chuyện của người nông dân bọn mình thấy đào đất đắp mộ lúc vào thị trấn".

"Nhưng, tớ không thể hiểu", John nói. "Nhanh quá".

"Gã nông dân đó", chủ quán nói, "hôm nay làm lễ tang cho vợ. Cô ta chết từ tháng Mười một năm ngoái".

"Tháng Mười hai", người trông mộ sửa lại.

"Chẳng có gì khác cả. Vậy thì cô ta chết vào tháng Mười hai năm ngoái, và hắn đã báo cho xã".

"Ngày 18 tháng 12", người trông mộ nói.

"Dẫu sao thì hắn cũng không thể mai táng cô ấy cho đến khi tuyết tan".

"Hắn sống ở khu bên kia Paznaun", người coi mồ nói. "Nhưng vẫn thuộc xứ đạo này."

"Anh ta chẳng thể nào xoay xở để an táng cô ấy ư?" tôi hỏi.

"Không thể. Hắn chỉ có thể đi lại từ nơi hắn ở đến đây bằng ván trượt cho đến lúc tuyết tan. Hôm nay, hắn đưa vợ đi chôn và linh mục, khi nhìn mặt cô ấy đã không muốn làm lễ mai táng. Chú kể tiếp đi", ông bảo người trông mộ. "Nói tiếng Đức chứ không dùng phương ngữ".

"Trông linh mục thực buồn cười", người coi mồ nói. "Theo báo cáo của xã, cô ấy chết vì bệnh tim. Chúng tôi biết cô ta mắc bệnh tim. Đôi lúc trong buổi lễ, mặt cô ta tái mét. Từ lâu, cô không đến nhà thờ. Cô không đủ sức leo núi. Khi linh mục mở tấm chăn che mặt cô ta ra, cha hỏi Olz, "Vợ con có đau đớn lắm không?" "Không", Olz đáp. "Lúc con về nhà cô ấy đã chết, nằm vắt qua giường".

"Cha nhìn mặt cô ấy lần nữa. Cha không muốn nhìn".

"Sao mặt vợ con lại ra nông nỗi này?"

"Con không biết", Olz trả lời.

"Tốt hơn hết con phải thành thật nói ra", cha khuyên rồi đắp tấm chăn trở lại. Olz im lặng. Cha nhìn hắn. Olz nhìn cha. "Cha thực muốn biết sao?"

"Cha phải biết", linh mục nói.

"Đây là đoạn hay hớm nhất", chủ quán nói, "Hãy lắng nghe. Kể tiếp đi Franz".

"Được", Olz nói. "Khi cô ấy mất con đã viết báo cáo gởi lên xã rồi con đặt cô ấy vào nhà kho, nằm vắt ngang trên đầu cây gỗ lớn. Lúc con bắt đầu dùng đến cây gỗ đó, cô ấy đã cứng, con dựng tựa vào tường. Miệng cô ấy há ra, rồi khi xuống kho vào buổi tối để cưa cây gỗ, con treo chiếc đèn lồng lên miệng cô ấy".

"Tại sao con lại làm như thế?" Cha hỏi.

"Con làm việc ấy nhiều lần có phải không?"

"Mỗi lần con phải làm việc trong nhà kho vào buổi tối".

"Việc làm đó thật tội lỗi", cha nói. "Con có yêu vợ con không?"

"Vâng con yêu cô ấy", Olz nói. "Con rất yêu cô ấy!"

"Các cậu nghe rõ cả chứ?" chủ quán hỏi. "Các cậu đã hiểu tất cả về vợ hắn chưa?"

"Cháu hiểu".

"Ăn gì đây?" John hỏi.

"Tùy cậu", tôi đáp. "Theo bác, chuyện ấy có thật không?" Tôi hỏi chủ quán.

"Chắc chắn thật", ông đáp. "Lũ nông dân ấy là đồ súc sinh".

"Bây giờ anh ta đi đâu?"

"Hắn đến uống ở Lowen - quán của đồng nghiêp bác".

"Hắn không thích uống với tôi", người coi mộ nói.

"Hắn không muốn uống với tôi, sau khi hắn hiểu chuyện đã xảy ra với vợ hắn", chủ quán nói.

"Nào", John nói. "Có ăn không đây?"

"Được rồi", tôi đáp.

Lê Huy Bắc dịch

Hôm nay thứ Sáu
Ba người lính La Mã ngồi trong quán rượu vào lúc mười một giờ tối. Nhiều chiếc thùng được xếp quanh tường. Tay bán rượu người Do Thái ngồi sau quầy gỗ. Ba người lính La Mã hơi say.

Lính La Mã thứ nhất - Mày đã thử vang đỏ chưa?

Lính thứ hai - Chưa, tao chưa thử.

Lính thứ nhất - Mày nên thử thì tốt hơn.

Lính thứ hai - Thôi được, George cho bọn tao một chầu vang đỏ.

Tay bán hàng người Do Thái - Xin mời quý ông. Các ông sẽ thích cho mà xem. (Y đặt cái bình gốm đã được rót đầy từ một trong mấy cái thùng xuống). Đây là loại vang nhẹ, tuyệt hảo.

Lính thứ nhất - Mời mày uống một ly. (Anh ta quay sang người lính La Mã thứ ba đang gục lên thùng rượu). Mày có chuyện gì vậy?

Lính La Mã thứ ba - Tao bị đau bụng.

Lính thứ hai - Mày đã uống phải nước lã rồi.

Lính thứ nhất - Nem tí vang đỏ xem.

Lính thứ ba - Tao không thể nào uống được cái thứ chết tiệt ấy. Nó khiến bụng tao bị chua.

Lính thứ nhất - Mày đã xa đây quá lâu.

Lính thứ ba - Mẹ kiếp, tao chẳng biết có phải thế không?

Lính thứ nhất - Này George, mày không thể kiếm cho quý ông đây thứ gì để xoa dịu cái dạ dày ấy được sao?

Tay bán hàng người Do Thái - Tôi có ngay đây.

(Người lính La Mã thứ ba nếm cốc nước mà tay bán hàng pha cho anh ta).

Lính thứ ba - Mày, mày pha cái gì trong này vậy, khoai tây rán vàng hả?

Tay bán hàng - Ông uống ngay đi, thưa trung úy. Cái ấy sẽ khiến ông hết đau.

Lính thứ ba - Nhưng, tao chưa từng nếm thứ nào tệ hơn.

Lính thứ nhất - Cứ thử xem. Hôm nọ, George đã chữa cho tao hết đau.

Tay bán hàng - Ông bị nặng lắm, thưa trung úy. Tôi biết cách chữa lành chứng đau dạ dày nặng này.

(Người lính La Mã thứ ba uống cạn cốc nước).

Lính thứ ba - Lạy Chúa. (Anh ta nhăn mặt).

Lính thứ hai - Thật khéo vờ!

Lính thứ nhất - Ồ, tao không biết. Hôm nay trông hắn rất cừ ở đấy đấy.

Lính thứ hai - Tại sao hắn không rời khỏi thập tự giá nhỉ?

Lính thứ nhất - Hắn chẳng muốn rời khỏi thập tự giá đâu. Bởi nơi khác không phải là cuộc chơi của hắn.

Lính thứ hai - Chỉ tao xem cái gã không muốn rời khỏi thập tự giá ấy nào.

Lính thứ nhất - À, mẹ kiếp, mày chẳng hiểu tí nào về chuyện ấy. Hỏi George xem. Hắn có muốn rời bỏ thập tự giá không hả George?

Tay bán hàng - Thưa ông, tôi không ra ngoài ấy. Vả lại, đấy là điều mà tôi chẳng quan tâm mảy may.

Lính thứ hai - Nghe này, tao đã từng thấy cả đám chúng nó - ở nơi này và nhiều nơi khác. Nếu mày chỉ cho tao cái đứa không muốn rời khỏi thập tự giá thì bất cứ lúc nào khi có cơ hội - khi cơ hội đến, ý tao là - tao sẽ leo tuốt lên đấy với hắn.

Lính thứ nhất - Tao nghĩ hôm nay hắn rất dũng cảm đấy.

Lính thứ ba - Hắn ta, rõ rồi.

Lính La Mã thứ hai - Bọn mày chẳng hiểu điều tao đang nói. Tao không bình luận hắn can đảm hay hèn nhát. Những gì tao muốn nói là nếu cơ hội đến. Khi bọn chúng đóng cái đinh đầu tiên vào hắn, thì chẳng một đứa nào trong đám ấy, dẫu có thể, cũng không tài nào dừng lại được.

Lính thứ nhất - Mày không nghe chuyện à George.

Tay bán hàng - Không, tôi chẳng quan tâm gì đến nó thưa trung úy.

Linh thứ nhất - Tao kinh ngạc bởi cách hắn xử sự.

Lính thứ ba - Món mà tao không thích là lúc chúng đóng đinh vào. Bọn mày biết đó, điều ấy hẳn làm người ta đau đớn lắm.

Lính thứ hai - Đấy chưa phải là điều quá tệ, cái làm người ta đau đớn nhất khi họ bắt đầu dựng cây thập tự lên. (Anh ta ngửa hai bàn tay phác điệu bộ bị kéo lên). Rồi trọng lượng bắt đầu kéo xuống. Hai bàn tay sẽ nhức nhối.

Lính La Mã thứ ba - Nó làm vài người trong số chúng đau lắm.

Lính thứ nhất - Tao mà không hiểu điều ấy sao? Tao đã từng chứng kiến cả lô cả lốc bọn chúng. Tao bảo mày, hôm nay hắn rất cừ ở đấy.

(Người lính La Mã thứ hai mỉm cười với tay bán hàng người Do Thái).

Lính thứ hai - Mày là một tín đồ Thiên Chúa giáo chính hiệu, anh chàng lớn xác à.

Lính thứ nhất - Đương nhiên, cứ tiếp tục giễu hắn đi. Nhưng hãy lắng nghe trong lúc tao đang nói cái gì đó. Hôm nay ở đấy hắn cừ thật.

Lính thứ hai - Ta dùng thêm tí rượu nữa chứ?

(Tay bán rượu nhìn với vẻ hy vọng. Người lính La Mã thứ ba ngồi gục đầu xuống. Trông anh ta không được khỏe).

Lính thứ ba - Tao chẳng uống nữa đâu.

Lính thứ hai - Chỉ hai suất, George.

(Tay bán rượu lấy ra một bình rượu vang, cỡ nhỏ hơn cái bình lần trước. Y cúi người qua quầy rượu bằng gỗ).

Lính La Mã thứ nhất - Mày đã thấy cô gái của hắn chưa?

Lính thứ hai - Tao không từng đứng cạnh cô ta rồi đó sao?

Lính thứ nhất - Trông cô ấy thực dễ thương.

Lính thứ hai - Tao quen cô ta trước lúc hắn quen (Anh ta nháy mắt với tay bán rượu).

Lính thứ nhất - Tao thường thấy cô ấy loanh quanh trong thành phố.

Lính thứ hai - Cô ta có nhiều tiền lắm. Hắn chớ nên bám cô ta, chẳng mảy may gì đâu.

Lính thứ nhất - Ồ, hắn xúi lắm. Nhưng đối với tao, hôm nay trông hắn rất cừ.

Lính thứ hai - Thế còn nhóm của hắn.

Lính thứ nhất - Ồ, cả một lũ chết rấp. Chỉ có phụ nữ mới chịu đựng được cùng hắn.

Lính La Mã thứ hai - Chúng là một lũ vàng như nghệ. Khi chúng thấy hắn lên đấy, chúng chẳng muốn tí nào.

Lính thứ nhất - Phụ nữ chịu đựng rất giỏi.

Lính thứ hai - Đuơng nhiên, họ chịu đựng giỏi lắm.

Lính La Mã thứ nhất - Mày có thấy tao đâm ngọn giáo cũ vào hắn không?

Lính La Mã thứ hai - Rồi có ngày mày sẽ gặp rắc rối vì hành động như thế.

Lính thứ nhất - Đấy là ơn huệ cuối cùng tao có thể làm cho hắn. Tao đã bảo mày, đối với tao hôm nay ở đây hắn cừ thật.

Tay bán rượu vang người Do Thái - Xin lỗi các ông, đã đến giờ tôi phải đóng cửa.

Lính La Mã thứ nhất - Bọn tao sẽ còn uống thêm một chầu nữa.

Lính La Mã thứ hai - Phỏng có ích gì? Cái thứ này chẳng đưa mày đến đâu đâu. Thôi nào, ta đi thôi.

Lính thứ nhất - Thêm một chầu nữa.

Lính La Mã thứ ba - (Đang rời thùng rượu đứng dậy). Thôi đừng uống nữa. Ta đi thôi. Tối nay tao cảm thấy tồi tệ quá.

Lính thứ nhất - Chỉ một chầu nữa thôi.

Lính thứ hai - Không, đi thôi. Bọn tao đi đây. Tạm biệt George. Ghi cả vào hóa đon.

Tay bán hàng - Tạm biệt các ông (Y có vẻ hơi lo lắng). Ông không thể trả tôi một ít được sao, thưa trung úy?

Lính La Mã thứ hai - Quái quỷ thật, George! Thứ Tư là ngày phát lương.

Tay bán hàng - Thôi được, thưa trung úy. Tạm biệt quý ông.

(Ba người lính La Mã ra khỏi cửa, xuống đường).

(Đứng trên đường).

Lính La Mã thứ hai - George là một tên Do Thái giống hệt như cả tập đoàn Do Thái nhà nó.

Lính La Mã thứ nhất - Ồ, George dễ thương đấy chứ?

Lính thứ hai - Tối nay với mày ai mà lại chẳng dễ thương.

Lính La Mã thứ ba - Đi thôi, bọn ta về trại đi. Tối nay tao cảm thấy tởm quá.

Lính thứ hai - Mày đã đi khỏi nơi này quá lâu.

Lính La Mã thứ ba - Không, không chỉ vì thế đâu. Tao cảm thấy tởm quá.

Lính thứ hai - Mày đã đi khỏi đây lâu quá. Tất cả chỉ có thế.

MÀN HẠ

Lê Huy Bắc dịch

Chuyện phiếm
Thế là anh ăn một quả cam, từ từ nhả hạt. Bên ngoài, tuyết đang chuyển thành cơn mưa. Trong nhà, lò sưởi điện dường như không còn nhiệt, anh rời bàn viết. Thật dễ chịu làm sao! Thế đấy, rốt cuộc rồi cuộc đời cũng chỉ là thế.

Anh lấy một quả cam nữa. Nơi Paris xa kia, Mascart đã đấm Danny Frush quay mòng mòng ở hiệp thứ hai. Còn ở Mesopotamia, bảy mét tuyết dày lở xuống. Phía bên kia địa cầu, tại nước Úc, Đội critkít của Anh đang cố giữ khung thành. Lại còn cả câu chuyện tình lãng mạn nữa chứ?

Những Mạnh Thường Quân cho văn học nghệ thuật xuất hiện trên tờ Diễn đàn anh đang đọc. Đấy là nhà nâng đỡ, bậc quân tử, bạn của những tài năng khốn đốn. Những truyện ngắn đoạt giải - liệu nay mai các tác giả ấy có viết những tác phẩm bestseller 1 .

Người ta sẽ thích những câu chuyện Mỹ đơn giản, xúc động này, những câu chuyện bao gồm các sự kiện trong đời sống thực của một nông trại thoáng đãng của một chung cư đông đúc hoặc một ngôi nhà đầy đủ tiện nghi, được kể bằng chất giọng châm biếm ngầm, bất tận.

Mình phải đọc chúng, anh nghĩ.

Anh tiếp tục đọc. Con của chúng ta - chúng là gì nhỉ? Chúng là ai? Nhiều giải pháp hẳn sẽ được đưa ra nhằm để kiếm đủ không gian cho nhân loại tồn tại dưới ánh mặt trời. Người ta sẽ giải quyết bằng chiến tranh hay bằng những giải pháp hòa bình?

Hoặc tất cả chúng ta phải chuyển đến Canada?

Niềm tin sâu sắc nhất của chúng ta? - Liệu khoa học sẽ làm rối tung lên? Nền văn minh của chúng ta - nó có làm ảnh hưởng đến trật tự của vạn vật đã tồn tại bền vững từ bao đời nay?

Và trong khi đó, tại những cánh rừng mưa ở Yuca tan xa xôi, âm thanh từ những chiếc rìu của các tay thợ sơn tràng đẵn gỗ bạch đàn không ngớt vang lên.

Chúng ta cần những con người to xác - hay cần tri thức của họ? Hãy nghĩ về Joyce. Nghĩ về Tổng thống Coolidge. Ngôi sao nào sinh viên đại học của chúng ta tôn làm thần tượng? Có Jack Briton. Có tiến sĩ Henry Van Dyke. Chúng ta có thể dung hòa được hai người chăng? Hãy nghĩ về Cánh Trẻ.

Và bằng cách nào để con gái chúng ta thực hiện Sự Thăm Dò của chúng? Nancy Hawthorne bị bắt buộc phải tiến hành Sự Thăm Dò của chính mình giữa biển đời. Can đảm và nhạy cảm, cô đương đầu trước những gian nan đến với các cô gái tuổi mười tám.

Đấy là một cuốn sách tuyệt vời.

Bạn có phải là một cô gái mười tám tuổi không? Chẳng hạn như trường hơp Joan of Arc. Chẳng hạn như Bernard Shaw. Chẳng hạn như Betsy Ross.

Hãy nghĩ về những vấn đề này vào 1925. Liệu có một trang suồng sã nào giữa những dòng lịch sử Thanh giáo không? Liệu Pocahontas có hai mặt không? Và bà ta có chiều thứ tư chứ?

Còn hội họa thơ nghệ thuật hiện đại? Có và không. Đơn cử Picasso.

Những kẻ lang thang có nguyên tắc kiếm sống chứ? Hãy để tâm trí bạn phiêu du.

Nơi nào cũng có những câu chuyện tình lãng mạn. Các nhà văn của tờ Diễn Đàn, bàn về điểm này, được sở hữu một gia tài châm biếm và thông thái. Nhưng họ không cố tỏ ra mình là người hiểu biết và chẳng bao giờ phát biểu một cách dài dòng, chán ngắt.

Hãy sống một cuộc đời đầy ắp những suy tư và hãy vui vì những ý tưởng mới, ngất ngây bởi những câu chuyện lãng mạn về những sự kiện lạ thường. Anh đặt cuốn sách xuống.

Và trong khi đó, nằm bẹp trên giường với ống cao su đút vào phổi trong căn phòng tối tại nhà mình ở Triana. Manuel Garcia Maera bị quật ngã bởi bệnh viêm phổi. Tất cả các tờ báo ở Andalucia đều ưu tiên đăng những sự kiện đặc biệt về cái chết được tính sẽ đến với anh ta trong vài hôm nữa. Cánh đàn ông mua những tấm hình chụp cả người anh ta để giữ làm kỷ niệm và in hình ảnh ấy vào ký ức bằng cách nhìn tờ in thạch bàn. Đám võ sĩ đấu bò rất buồn khi anh ta qua đời bởi trên trường đấu, anh thường xuyên thực hiện những động tác mà họ ít khi làm được sau quan tài anh rồi một trăm bốn mươi bảy đấu sĩ đưa anh đến nghĩa địa, nơi họ mai táng anh bên cạnh mộ Joselito. Sau tang lễ, mọi người ngồi tránh mưa trong tiệm cà phê, rồi rất nhiều tấm hình màu của Maera được đưa bán, họ mua, cuộn lại, hờ hững đút vào túi.

Lê Huy Bắc dịch

--- ------ ------ ------ -------
1     Sách bán chạy.

Bây giờ tôi nằm nghỉ
Đêm hôm đó chúng tôi nằm trên sàn, trong căn phòng và tôi lắng nghe tiếng tằm ăn. Những chú tằm ăn lá trong máng; cả đêm người ta có thể nghe thấy chúng gặm đều đều lên lá. Chính tôi không muốn ngủ bởi vì tôi phải sống trong một thời gian dài với ý nghĩ rằng - nếu bao giờ tôi phải nhắm mắt trong bóng đêm và nếu tôi không tự kiềm chế được thì linh hồn tôi sẽ rời bỏ thể xác. Tôi đã phải thức như thế trong một thời gian dài, kể từ khi bị bom vùi trong đêm và cảm thấy linh hồn đi ra khỏi thể xác mình, biến mất rồi sau đó quay trở lại. Tôi cố không nghĩ đến điều đó nhưng hằng đêm nó lại cứ chực ra đi, vào lúc giấc ngủ vừa thiu thiu đến và tôi chỉ có thể ngăn nó lại bởi một sự cố gắng phi thường. Đến bây giờ tôi đã hoàn toàn chắc chắn rằng linh hồn sẽ không ra đi nữa; nhưng lúc ấy, vào mùa hè đó, tôi chằng dại gì mà đi làm thí nghiệm về chuyện ấy.

Tôi có nhiều cách khác nhau để chế ngự bản thân trong khi nằm thức. Tôi sẽ nghĩ về dòng suối cá hồi nơi tôi đã từng câu thuở còn là một chú nhóc và cá là toàn bộ những gì còn lại rất rõ rệt trong ký ức tôi; thận trọng câu cá bên dưới các khúc gỗ, quanh những bờ lượn cong, những vũng nước sâu, những dải đất nông sạch sẽ, đôi khi tôi bắt được cá hồi, nhưng thỉnh thoảng lại để mất. Đến trưa tôi ngừng câu để ăn trưa; thỉnh thoảng ngồi trên một khúc gỗ vắt trên dòng suối, có lúc lại ngồi trên bờ suối cao dưới một gốc cây, tôi thường ăn trưa rất chậm và trong khi ăn tôi ngắm dòng suối bên dưới. Tôi thường thiếu mồi bởi vì khi đi tôi chỉ mang theo có mười con giun đựng trong vỏ bao thuốc lá. Khi dùng hết số đó, tôi phải tìm thêm giun và đôi khi rất khó đào vào bờ đất của con suối, ở đó những cây tuyết tùng che khuất ánh mặt trời, không có cỏ mọc, chỉ có mặt đất trống không, ẩm nứt và tôi thường không kiếm được giun. Tuy thế, tôi vẫn hay tìm được vài loại mồi khác, vậy mà có dạo ở đầm lầy tôi đã không kiềm được chút mồi nào nên phải cắt nhỏ một chú cá hồi mà tôi đã bắt, để làm mồi câu.

Thỉnh thoảng tôi tìm thấy côn trùng ở trong đám cỏ đầm lầy, trong cỏ hoặc dưới những cây dương xỉ, và dùng chúng. Đó là những con bọ cánh cứng hay lũ côn trùng, có những cái chân như cong cỏ và những ấu trùng ở trong khúc gỗ cũ đã mục nát; đám ấu trùng trắng với những cái đầu màu nâu ngọ ngoạy đó không bám lưỡi câu bởi ruột chúng sẽ bị tan trong làn nước lạnh; cả những con ve gỗ ở dưới khúc cây nơi mà thỉnh thoảng tôi tìm thấy giun mồi nhưng chúng chui vào trong lòng đất ngay khi khúc gỗ vừa được nâng lên. Một lần tôi đã bắt một con kỳ giông ở dưới một khúc cây mục làm mồi. Chú kỳ giông đó rất nhỏ, sạch sẽ, linh lợi và có màu rất dễ thương. Chú đưa bàn chân bé xíu, cố giữ chặt lấy lưỡi câu, sau lần ấy tôi chẳng dùng mồi kỳ giông nữa mặc dù tôi thường xuyên tìm thấy chúng. Tôi không dùng dế bởi vì cái cách chúng cưỡng lại chiếc lưỡi câu.

Đôi chỗ, dòng suối chạy xuyên qua bãi cỏ rộng, trên bãi cỏ khô ráo ấy tôi bắt châu chấu và lấy chúng làm mồi nhưng thỉnh thoảng tôi bắt châu chấu để rồi ném xuống dòng suối, xem chúng bơi lềnh bềnh dọc theo con suối, xoáy tròn trên mặt nước khi dòng nước cuốn đi và sau đó biến mất bởi một chú cá hồi đã ngoi lên đớp. Thỉnh thoảng trong đêm, tôi còn đi câu ở bốn năm dòng suối khác nhau; bắt đầu từ nơi gần nguồn suối nhất, tôi câu cá xuôi theo dòng. Khi tôi đi hết đoạn suối và thời gian vẫn còn, tôi sẽ lại câu tiếp, bắt đầu từ nơi dòng suối đổ ra hồ rồi câu ngược lên, cố tìm lại số cá hồi mà tôi đã để tuột mất. Nhưng cũng có nhiều đêm, tôi mường tượng ra quá nhiều suối, vài con suối trong số đó rất sống động, nó như thể hiện lên giữa cảm giác thực và trạng thái mơ hồ. Tôi vẫn còn nhớ một trong số các dòng suối đó và nghĩ rằng tôi đã từng câu cá ở đấy, rồi những con suối lẫn lộn với các con suối khác mà tôi biết rõ. Tôi đã đặt tên cho tất cả những dòng suối và đi đến chỗ chúng bằng tàu hỏa, nhưng thỉnh thoảng tôi đi bộ nhiều dặm để đến đó.

Nhưng nhiều đêm tôi không thể câu cá, vào những đêm đó tôi thức trắng, đọc đi đọc lại bài kinh cầu nguyện cho mình và cố gắng cầu nguyện cho tất cả những người tôi quen biết. Điều đó chiếm một khoảng thời gian rất lớn, vì rằng nếu bạn cố nhớ tất cả những người mà bạn từng biết, trở lại với những kỷ niệm xa xưa nhất mà bạn còn nhớ - cái đó, đối với tôi, là căn phòng áp mái của ngôi nhà nơi tôi đã được sinh ra và cha mẹ tôi đặt bánh cưới trong chiếc hộp thiếc treo trên rui nhà, và, trong căn phòng đó, những chiếc bình đựng rắn, những mẫu vật thí nghiệm khác mà cha tôi sưu tầm từ khi hãy còn là một cậu bé và đã bảo quản chúng trong cồn, cồn được đổ đầy bình nên những cái lưng của các con rắn và những mẫu vật xét nghiệm bị chuyển sang màu trắng - nếu bạn nghĩ về khoảng thời gian xa xưa như thế thì bạn sẽ nhớ được rất nhiều người. Nếu bạn cầu nguyện cho tất cả bằng cách đọc lời kinh Hail Mary và Ouriather cho mỗi người, thì sẽ mất nhiều thời gian và cuối cùng trời sẽ sáng, rồi bạn có thể ngủ; nếu bạn ở một nơi mà có thể ngủ ngày.

Vào những đêm đó, tôi cố nhớ tất cả những gì đã xảy ra đối với tôi, bắt đầu từ trước khi tôi đi chiến đấu và hồi tưởng từ việc này tới việc kia. Tôi thấy tôi chỉ có thể nhớ lại đến cái phòng áp mái ở nhà ông nội tôi. Rồi tôi bắt đầu từ đó và nhớ lại những hình ảnh ấy một lần nữa cho tới khoảng thời gian tôi tham gia chiến đấu.

Tôi nhớ sau khi ông tôi mất, chúng tôi rời ngôi nhà đó, chuyển đến một ngôi nhà mới, được mẹ tôi thiết kế và xây dựng. Nhiều thứ ở đó không chuyển đi được đã được đốt ở sân sau và tôi còn nhớ những chai lọ ở căn phòng áp mái ấy đã được quẳng vào lửa, chúng nổ lốp bốp bởi hơi nóng và bốc cháy bởi cồn. Tôi còn nhớ cả những con rắn bị cháy trong lửa ở sân sau. Không có ai ở đó, chỉ có đồ đạc. Tôi không thể nhớ ai đã đốt những thứ đó, rồi tôi tiếp tục hồi tưởng cho đến con người và dừng lại, cầu nguyện cho họ.

Về nhà mới, tôi nhớ cách mẹ tôi luôn lau chùi đồ đạc và làm cho chúng sáng bóng lên. Một lần, khi cha tôi lên đường trong một chuyến đi săn, mẹ đã làm một cuộc tẩy rửa hoàn hảo bên trong tầng hầm và đốt tất cả những thứ không còn dùng được nữa. Khi cha tôi về đến nhà, bước xuống khỏi chiếc xe độc mã của ông và giật mạnh con ngựa, ngọn lửa vẫn còn đang cháy ở con đường bên cạnh nhà. Tôi đi ra đón ông. Ông đưa cho tôi khẩu súng săn của mình và nhìn vào đống lửa.

"Cái gì vậy?" ông hỏi.

"Em đã dọn dẹp tầng hầm đấy, anh yêu ạ", mẹ tôi nói từ hành lang. Bà đứng đó, mỉm cười đón ông. Cha tôi nhìn vào đống lửa và sững người vì cái gì đó. Rồi ông cúi xuống bới một vài thứ ra ngoài đống tro.

"Nick lấy cái cào ra đây", ông nói với tôi. Tôi vào tầng hầm, mang cái cào ra, cha tôi đã cào rất cẩn thận trong đống tro. Ông cào ra ngoài những chiếc rìu đá, những con dao lột da bằng đá, những dụng cụ để làm đầu mũi tên, những mẩu gốm và những đầu mũi tên. Tất cả đã bị xém đen và sứt mẻ vì lửa. Cha tôi cào những thứ đó ra ngoài rất cẩn thận và trải chúng lên bãi cỏ bên đường. Khẩu súng săn của ông trong bao da và mấy cái túi săn nằm trên cỏ, nơi ông đã để lại khi xuống xe ngựa.

"Nick cầm súng, túi vào trong nhà, và mang cho bố tờ báo nhé", ông nói. Mẹ tôi đã vào trong nhà. Tôi lấy súng - nó quả là nặng để mang và cứ đập vào chân tôi - và cầm cả chiếc túi săn đi về hướng ngôi nhà. "Mang mỗi lần một thứ thôi", cha tôi nói. "Đừng có mang quá nhiều trong một lần như vậy" Tôi đặt hai cái túi săn xuống, cầm súng vào và đem ra tờ báo từ chồng báo trong văn phòng của cha tôi. Cha tôi trải tất cả những dụng cụ bằng đá đã bị sém đen và sứt mẻ lên tờ báo rồi gói lại. "Những đầu mũi tên tốt nhất đã bị vỡ cả rồi", ông nói. Ông đi vào nhà với gói giấy ấy và còn tôi ở ngoài, trên bãi cỏ với hai cái túi săn. Lát sau tôi mang chúng vào. Trong dòng ký ức ấy, tôi nhớ ở đó chỉ có hai người nên tôi cầu nguyện cho cả hai.

Tuy vậy, có nhiều đêm, thậm chí tôi cũng không thể nhớ nổi những bài kinh của mình. Tôi chỉ có thể đọc được cho đến "trên mặt đất cũng như trên thiên đàng" rồi phải bắt đầu trở lại mà hoàn toàn không thể vượt qua được chỗ đó. Khi ấy tôi đành phải chấp nhận rằng mình không thể nhớ được và đành từ bỏ việc cầu nguyện của mình vào đêm đó và cố gắng nhớ những thứ khác. Cứ thế trong nhiều đêm, tôi cố nhớ tên của tất cả các loài vật trên thế giới, những loài chim, loài cá, rồi các quốc gia, thành phố, các loại thức ăn, tên của tất cả các đường phố ở Chicago mà tôi có thể nhớ được, và khi không thể nhớ thêm được một cái gì nữa, tôi chỉ lắng nghe. Và tôi không nhớ một đêm nào đó, người ta lại không thể nghe thấy gì. Nếu có một chút ánh sáng, tôi sẽ không sợ ngủ bởi vì tôi biết linh hồn tôi chỉ rời bỏ thể xác nếu tôi ngủ trong bóng tối. Tuy thế nhiều đêm, tất nhiên là tôi cũng có một chút ánh sáng và thế là tôi ngủ, bởi tôi gần như luôn luôn mệt mỏi và thường xuyên buồn ngủ. Và tôi chắc rằng, những lúc quá buồn ngủ tôi đã ngủ mà không biết đến điều đó, như đêm nay, tôi lắng nghe những chú tằm. Người ta có thể nghe tiếng tằm ăn rất rõ trong đêm, tôi nằm mở mắt chong chong và lắng nghe chúng ăn.

Chỉ có một người nữa ở trong phòng và anh ta cũng thức. Tôi nghe anh ta thức giấc đã lâu. Anh ta không thể nằm yên được như tôi, có lẽ bởi vì anh ta chưa có kinh nghiệm thức. Chúng tôi nằm trên tấm mền trải lên ổ rơm và khi anh ta trở mình, ổ rơm kêu lạo xạo, nhưng những chú tằm không hề sợ, nên bất cứ tiếng động nào chúng tôi gây nên, chúng vẫn ăn đều đều. Có những tiếng động bên ngoài của đêm hậu tuyến, cách mặt trận bảy kilômét nhưng chúng khác biệt với những tiếng động nhỏ trong phòng trong bóng đêm. Người đàn ông kia ở trong phòng đang cố nằm yên lặng. Sau đó anh ta lại trở mình. Tôi cũng trở mình, thế là anh ta biết tôi còn thức. Anh ta đã sống mười năm ở Chicago. Người ta gọi anh nhập ngũ năm 1914 khi anh về thăm nhà, rồi họ chuyển anh đến chỗ tôi để làm lính liên lạc bởi vì anh biết nói tiếng Anh. Tôi thấy anh lắng nghe nên tôi lại dịch người trong chăn.

"Anh không ngủ được sao, thưa trung úy?" anh ta hỏi.

"Phải".

"Tôi cũng không ngủ được".

"Anh cảm thấy ổn chứ?"

"Vâng, tôi thấy dễ chịu. Chỉ có điều là tôi không ngủ được".

"Anh có muốn nói chuyện một lúc không?" tôi hỏi.

"Có chứ. Anh nói đôi điều về cái nơi đáng nguyền rủa này đi".

"Nơi này thật dễ chịu", tôi nói.

"Chắc rồi", anh ta bảo. "Nó được lắm".

"Nói với tôi về Chicago đi", tôi bảo.

"Ồ", anh ta nói. "Tôi đã nói tất cả với anh một lần rồi".

"Kể tôi nghe chuyện anh lập gia đình đi".

"Tôi đã kể cho anh rồi".

"Lá thư anh nhận được vào thứ hai - của cô ấy phải không?"

"Phải. Cô ấy luôn viết thư cho tôi. Cô ấy kiếm bộn tiền với cái chỗ ấy".

"Anh sẽ có một nơi dễ chịu khi trở về".

"Chắc thế. Cô ấy điều hành tốt lắm. Cô ấy kiếm được rất nhiều tiền".

"Anh không nghĩ chúng ta nói chuyện sẽ làm họ thức giấc chứ?" Tôi hỏi.

"Không. Chúng chẳng nghe thấy đâu. Dẫu sao thì chúng cũng ngủ như lợn ấy". Tôi thì khác, anh ta bảo. "Tôi căng thẳng lắm".

"Nói khẽ thôi", tôi nói. "Có hút thuốc không?"

Chúng tôi hút một cách tài tình trong bóng tối.

"Anh đừng hút nhiều, trung úy ạ".

"Ừ. Tôi vừa mới bỏ bớt rồi".

"Đúng đấy", anh ta nói. "Nó không tốt chút nào hết, tôi cho rằng nếu bỏ được thì anh sẽ chẳng nhớ nó nữa đâu. Anh đã bao giờ nghe nói về người mù không hút được thuốc vì anh ta không thấy khói bay ra chưa?"

"Tôi không tin điều đó".

"Chính tôi cũng nghĩ đó là sự khoác lác", anh ta nói. "Tôi vừa nghe điều ấy ở đâu đó. Con người ta biết cách nghe mọi chuyện".

Cả hai chúng tôi cùng yên lặng và tôi lắng nghe tiếng tằm ăn.

"Anh có nghe thấy những con tằm chết tiệt ấy không?" Anh ta hỏi. "Anh có thể nghe thấy tiếng chúng nhai".

"Thật buồn cười", tôi nói.

"Nói đi thưa trung úy, có điều gì thực sự quan trọng làm anh không ngủ vậy? Tôi chưa bao giờ thấy anh ngủ cả. Anh chẳng hề ngủ đêm nào kể từ khi tôi ở đây với anh".

"Tôi không biết, John ạ", tôi nói. "Tôi rơi vào tình trạng khá tồi tệ suốt từ đầu mùa xuân trước và ban đêm nó làm tôi khó chịu".

"Tôi cũng vậy", anh ta nói. "Tôi không muốn lâm vào cuộc chiến tranh này. Tôi quá căng thẳng".

"Có lẽ điều đó sẽ tốt đấy".

"Hãy nói đi, thưa trung úy, anh tham dự cuộc chiến này để làm gì?"

"Tôi không biết, John à. Lúc ấy tôi muốn".

"Muốn gì", anh ta nói. "Đó là lý do tồi tệ".

"Chúng ta không nên nói to như thế", tôi nói.

"Chúng ngủ như lợn", anh ta bảo. "Dù sao chúng cũng không thể hiểu được tiếng Anh. Chúng có thể biết quái gì đâu. Anh sẽ làm gì khi hết chiến tranh và chúng ta trở về Mỹ?"

"Tôi sẽ làm nghề giấy bút".

"Ở Chicago?"

"Có thể".

"Anh đã bao giờ đọc cái gì của anh bạn Brisbane viết chưa? Vợ tôi cắt ra và gửi cho tôi đấy".

"Đọc rồi".

"Đã bao giờ anh gặp anh ấy chưa?"

"Chưa, nhưng tôi đã nhìn thấy anh ấy".

"Tôi thích gặp anh chàng đó. Anh ta là một tay viết khá. Vợ tôi không đọc được tiếng Anh nhưng cô ấy vẫn đặt báo như khi tôi còn ở nhà rồi cắt những bài xã luận, những trang thể thao gửi cho tôi".

"Sắp nhỏ của anh thế nào?"

"Chúng khỏe cả. Một trong mấy đứa con gái bây giờ đã học lớp bốn. Anh biết không, trung úy, nếu không có sắp nhỏ đó thì tôi sẽ không trở thành lính liên lạc của anh như bây giờ. Người ta luôn bắt tôi ở tuyến trước".

"Tôi rất mừng vì anh có sắp nhỏ đó."

"Tôi cũng thế. Chúng là những đứa bé dễ thương nhưng tôi muốn có một đứa con trai. Ba đứa con gái mà không có một thằng con trai nào cả. Đó là một điều tệ hại".

"Tại sao anh không cố ngủ đi?"

"Không, bây giờ tôi không thể ngủ được. Hiện tại tôi đang tỉnh táo, trung úy ạ. Này, dẫu sao thì tôi cũng lấy làm lo lắng về cái việc không ngủ của anh đấy".

"Có gì đâu, John".

"Thử tưởng tượng một anh chàng trẻ tuổi như anh mà lại không ngủ được".

"Chẳng sao đâu. Nó chỉ là chốc lát thôi".

"Anh sẽ phải ngủ. Một người đàn ông thì không thể cứ vương vấn mãi một điều gì đó để mất ngủ. Anh lo lắng điều gì vậy? Anh có điều gì bận tâm chăng?"

"Không đâu, John. Tôi không nghĩ thế".

"Anh nên cưới vợ đi, trung úy ạ. Rồi anh sẽ không phải lo lắng nữa".

"Tôi không biết".

"Anh nên cưới vợ. Tại sao anh không chọn vợ trong số mấy cô nàng người Ý xinh đẹp, lắm tiền. Anh có thể chọn bất cứ ai mà anh muốn. Anh là người trẻ tuổi, có nhiều huy chương và trông lại ưa nhìn. Anh đã bị thương đôi lần".

"Tiếng của tôi chưa đủ khá để nói".

"Anh nói tốt. Cần quái gì phải nói bằng lời. Anh không phải nói với họ. Hãy cưới họ".

"Tôi sẽ suy nghĩ về điều này".

"Anh có biết vài cô gái, phải không?"

"Phải".

"Vậy thì anh hãy cưới một cô nhiều tiền nhất. Với cái cách dạy dỗ ở đây, cô gái nào cũng sẽ trở thành một người vợ tử tế của anh".

"Tôi sẽ suy nghĩ về điều đó".

"Đừng nghĩ nữa, trung úy. Hãy làm đi".

"Được rồi".

"Đàn ông nên có vợ. Anh sẽ không bao giở phải hối tiếc điều đó. Tất cả đàn ông nên lấy vợ".

"Thôi được", tôi nói. "Ta sẽ cố ngủ đi một lát".

"Vâng, thưa trung úy. Tôi sẽ cố ngủ lại. Nhưng anh phải nhớ những gì tôi đã nói đấy nhé".

"Tôi sẽ nhớ", tôi nói. "Bây giờ ta hãy ngủ đi một lát, John ạ".

"Vâng", anh ta nói. "Tôi hy vọng anh cũng ngủ, trung úy ạ".

Tôi nghe anh cuộn trong tấm chăn của mình trên ổ rơm và rồi anh hoàn toàn yên lặng, tôi nghe anh thở đều đều. Rồi anh bắt đầu ngáy. Tôi nghe anh ngáy một hồi lâu và tôi ngừng nghe anh ngáy để nghe tiếng tằm ăn. Chúng ăn đều đều, gặm từng miếng vào lá. Tôi đã có một việc mới để nghĩ, tôi nằm trong bóng tối, mắt mở chong chong, nghĩ về tất cả các cô gái mà tôi từng biết và hình dung các kiểu vợ mà họ sẽ là. Đó là điều rất thú vị để nghĩ và trong một lát nó tiêu diệt toàn bộ việc câu cá hồi và gây trở ngại cho việc cầu kinh của tôi. Dù sao, cuối cùng tôi cũng trở lại với việc câu cá hồi, bởi tôi thấy rằng tôi có thể nhớ tất cả các con suối và luôn luôn có một điều gì đó mới về chúng, trong khi các cô gái, sau khi tôi đã nghĩ về họ vài phút, đã mờ đi và tôi không thể gợi họ lại trong tâm trí, rốt cục, tất cả họ nhòa đi, tất cả trở nên đúng như cũ, tôi không nghĩ gì về họ nữa. Nhưng tôi vẫn tiếp tục cầu kinh và cứ mãi cầu nguyện trong nhiều đêm cho John và nhóm của anh đã được giải ngũ trước cuộc tấn công vào tháng Mười. Tôi rất mừng bởi anh không có ở đấy bởi anh sẽ phải lo lắng nhiều về tôi. Anh đến bệnh viện Milan để gặp tôi vào tháng sau đó và rất thất vọng về việc tôi không cưới vợ và tôi chắc anh sẽ cảm thấy rất kinh khủng nếu biết rằng đến nay tôi vẫn chưa lấy vợ. Anh sắp trở lại Mỹ và rất tin tưởng ở hôn nhân bởi biết rằng nó sẽ làm mọi thứ dễ chịu.

Đào Thu Hằng dịch



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 15 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Xuyên không - Dị thế] Thiên tài cuồng phi - Băng Y Khả Khả

1 ... 83, 84, 85

2 • [Hiện đại] Làm thế nào để ngừng nhớ anh - Mộng Tiêu Nhị

1 ... 22, 23, 24

3 • [Hiện đại - Sắc] Cam tâm tình nguyện lên thuyền giặc - Mộc Tâm

1 ... 22, 23, 24

4 • [Hiện đại] Đại thần em muốn sinh 'khỉ con' cho anh - Hàn Mạch Mạch

1 ... 32, 33, 34

[Cổ đại - Trùng sinh] Tiểu độc phi khuynh thành - Bình Quả Trùng Tử

1 ... 129, 130, 131

6 • [Cổ đại] Buông gian thần của trẫm ra! - A Tiều

1 ... 117, 118, 119

7 • [Hiện đại] Đừng nói với anh ấy tôi vẫn còn hận - Lục Xu

1 ... 19, 20, 21

8 • [Hiện đại] Ngọt ẩn - Hứa Sâm Nhiên

1 ... 19, 20, 21

9 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 189, 190, 191

10 • [Hiện đại] Nhà có chồng ngoan - Kim Đại

1 ... 22, 23, 24

11 • [Hiện đại] Nhật ký theo đuổi Lâm cô nương - Kim Bính

1 ... 27, 28, 29

12 • [Hiện đại showbiz] Đẹp trai là số 1 - Lục Manh Tinh

1 ... 19, 20, 21

13 • [Hiện đại] Anh trai nhỏ - Phong Hà Du Nguyệt

1 ... 8, 9, 10

14 • [Hiện đại] Ông xã là trung khuyển - Thập Vĩ Thố

1 ... 31, 32, 33

15 • [Hiện đại] Cô dâu mười chín tuổi - Minh Châu Hoàn

1 ... 33, 34, 35

16 • [Hiện đại - Quân nhân] Hợp đồng quân hôn - Yên Mang

1 ... 126, 127, 128

17 • [Xuyên không - Điền văn - Tùy thân không gian] Sống lại thập niên bảy mươi - Mộ Thủy Chi Ngư

1 ... 25, 26, 27

18 • [Hiện đại - Trùng sinh] Hào môn Làm con dâu cả thật là khó! - Ân Ngận Trạch

1 ... 110, 111, 112

19 • [Xuyên không - Nữ tôn - Điền văn] Cuộc sống cầu nhỏ nước chảy - Lan Nhân Hiểu Nguyệt

1 ... 28, 29, 30

20 • [Xuyên không - Dị giới] Phế sài muốn nghịch thiên Ma Đế cuồng phi - Tiêu Thất Gia - New C1107

1 ... 133, 134, 135



Shop - Đấu giá: Thải Nhi vừa đặt giá 311 điểm để mua Tiên nữ hoa sen
Shop - Đấu giá: Tử Tranh vừa đặt giá 295 điểm để mua Tiên nữ hoa sen
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 999 điểm để mua Nhẫn kim cương xoay
vovanlocpro: Hello
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 838 điểm để mua Nhẫn kim cương xoay
Shop - Đấu giá: Thải Nhi vừa đặt giá 280 điểm để mua Tiên nữ hoa sen
Shop - Đấu giá: Nguyetvansuong vừa đặt giá 533 điểm để mua Bé Bean
Shop - Đấu giá: Melodysoyani vừa đặt giá 340 điểm để mua Garu và Pucca che dù
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 487 điểm để mua BMW
Shop - Đấu giá: ChieuNinh vừa đặt giá 503 điểm để mua Thiên thần vàng
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 342 điểm để mua Tiên xanh
Shop - Đấu giá: truong phi yen vừa đặt giá 1700 điểm để mua Ngọc xanh lá
Vũ Trung Anh: Trong truyện buông gian thần của trẫm ra
Vũ Trung Anh: Cho mình hỏi Lưu Chân là con của lưu lăng hay lưu ký vậy mn
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 250 điểm để mua Máy chụp hình
Shop - Đấu giá: heocon13 vừa đặt giá 279 điểm để mua Chiếc Ô màu xanh
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 1000 điểm để mua Ngọc xanh lá
Shop - Đấu giá: thu thảo vừa đặt giá 232 điểm để mua Cute Ghost
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 423 điểm để mua Chuột ham tiền
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 364 điểm để mua Bé sao vàng
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 345 điểm để mua Bé sao vàng
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 946 điểm để mua Ngọc xanh lá
Shop - Đấu giá: truong phi yen vừa đặt giá 900 điểm để mua Ngọc xanh lá
Shop - Đấu giá: Tư Di vừa đặt giá 250 điểm để mua Giỏ gấu tim
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 285 điểm để mua Mèo trắng ngủ gật
Shop - Đấu giá: cò lười vừa đặt giá 432 điểm để mua Beautiful blue candles
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 536 điểm để mua Hoa hồng 2
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 270 điểm để mua Mèo trắng ngủ gật
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 828 điểm để mua Ngọc xanh lá
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 244 điểm để mua Trâm hoa cài tóc

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.