Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 41 bài ] 

Tấn bi kịch X - Ellery Queen

 
Có bài mới 10.10.2018, 16:30
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35386
Được thanks: 5254 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Trinh thám] Tấn bi kịch X - Ellery Queen - Điểm: 10
HẬU TRƯỜNG

Giải Thích Sự Việc


Lâu Đài Hamlet
Thứ Tư, Ngày 14 Tháng 10
4 Giờ Chiều


Và vẫn khung cảnh ngày nào, dòng Hudson xa xa bên dưới, một cánh buồm trắng lướt trên sông, con tàu hơi nước thản nhiên bì bạch. Cũng giống năm tuần trước, giờ đây ngược theo con dốc một chiếc ô tô nhấn ga đều đều tăng tốc, cõng trên lưng thanh tra Thumm và công tố viên Bruno tiến về người đẹp ngủ trong rừng: lâu đài Hamlet, nằm sau cánh rừng giờ sang thu lá đang thay sắc.

Năm tuần!

Xa xa phía trước, những ngọn tháp canh in trên nền trời mây, những thành lũy bằng đá, bức tường chắn mái có lỗ châu mai khoét theo hình răng cưa, đỉnh nhọn như mũi kim của chóp nhà thờ… Rồi cây cầu nhỏ kiểu cổ và túp lều tranh hiện ra, cùng một lão già nhỏ nhắn lẳng lặng chỉ vào tấm bảng hiệu bằng gỗ treo đu đưa của lão… Chiếc cổng cũ kỹ kêu cót két, cây cầu bắt ngang, con đường rải sỏi quanh co ngược đầu dốc, khu rừng sồi nay đã ngả sang màu nâu đỏ, bức tường đá nằm quanh chân lâu đài…

Họ đi qua chiếc cầu rút và được Falstaff đón sẵn nơi hai cánh cửa bằng gỗ sồi, vào bên trong một đại sảnh đường của thời rất xa xưa, dưới những thanh rầm trần nhà cũ kỹ khô cứng, bên hàng giáp trụ của các hiệp sĩ và những món đồ ghép mộng đồ sộ của nước Anh thời Elizabeth. Đang ngồi dưới hai chiếc mặt nạ đặc biệt và cái chân nến chùm khổng lồ là lão Quacey với cái đầu hói cùng bộ mặt râu ria thậm thượt…

Trong không khí ấm áp thân tình ở dãy phòng riêng của ngài Drury Lane, hai vị khách ngồi thư thái, đầu ngón chân khoan khoái hướng về phía lò sưởi. Lane khoác chiếc áo comple bằng vải nhung, nhìn ông thật thanh tú và trẻ trung trong ánh phản chiếu của ngọn lửa bập bùng. Quacey rít lên những tràng cót két khó hiểu vào một dụng cụ thu tiếng nho nhỏ gắn trên tường và chỉ thoáng chốc Falstaff hiện ra trong dáng dấp hồng hào béo tốt, mặt tươi cười rạng rỡ, trên chiếc khay là những chiếc ly rót đầy rượu mùi được pha chế thơm ngát; còn có cả những chiếc bánh canapé nhỏ nhắn vừa hiện ra đã biến mất chỉ sau vài lần tấn công chớp nhoáng không phải giữ ý của thanh tra Thumm.

Khi mọi người, sảng khoái và no nê, cùng nhau quây quần trước lò sưởi, phần Falstaff đã lui về khu hang động bếp núc của lão, ngài Drury Lane nhận xét: “Tôi cho rằng các ngài đây muốn được làm sáng tỏ về những lời khoa ngôn lộng ngữ, mà tôi đã có phần tùy tiện nói ra bằng sự vô tư của mình vào những tuần vừa qua. Vì ngay lúc này đây chúng ta chưa phải bận tâm về vụ án mạng nào khác nữa!”

Bruno nhã nhặn: “Chắc là không, nhưng ngài có thể chắc chắn, xét những gì tôi đã thấy trong ba mươi sáu giờ qua, tôi sẽ không ngần ngại mà hỏi ngay ý kiến của ngài nếu xét thấy cần thiết. Có một chút phức tạp, nhưng ngài hiểu ý tôi muốn nói gì. Ngài Lane này, cả ngài thanh tra đây cùng tôi đều mãi mãi hàm ơn về… ôi quỷ bắt tôi đi nếu tôi biết mình nên diễn đạt sao cho phải.”

“Nói cách khác,” Thumm nói bằng một điệu cười càu nhàu, “ngài đã cứu lấy công việc của bọn tôi.”

“Khách sáo, cường điệu và quá lời.” Lane khẽ xua tay lái chủ đề. “Báo chí đăng tin Stopes đã thú tội. Không biết vì sao bọn họ biết được tôi đã tham gia vào vụ việc, vậy là tôi bị vây hãm suốt ngày bởi đám ký giả không bao giờ chịu thỏa mãn ấy… Thế có điểm gì lý thú từ lời thú tội của Stopes chăng?”

“Với chúng tôi thì lý thú,” Bruno nói, “nhưng tôi cho rằng… hừ, lại không biết nói thế nào đây - tôi cho rằng ngài đã nắm được đại ý của lời thú tội rồi còn gì?”

“Ngược lại.” Lane mỉm cười. “Có một số chi tiết liên quan đến Martin Stopes tôi đây vẫn hoàn toàn mơ hồ.”

Hai vị khách đều tỏ vẻ nửa tin nửa ngờ. Lane không giải thích gì; ông chỉ giục Bruno thuật lại câu chuyện mà người tù đã kể. Khi Bruno bắt đầu từ đầu - từ thời y là nhà địa chất học trẻ tuổi tràn đầy nhiệt huyết và chưa hề có lấy chút tiếng tăm nào tại Uruguay vào năm 1912 - Lane không bình luận gì. Tuy vậy, ông chừng như tò mò về những chi tiết nhất định, và bằng cách đặt câu hỏi khéo léo, đã làm sáng tỏ những thông tin còn thiếu từ cuộc nói chuyện lần trước giữa ông cùng viên lãnh sự Uruguay là Juan Ajos.

Ông được biết vào năm 1912, Martin Stopes chính là người đã tìm ra được mỏ mangan giữa lúc y cùng đối tác là Crockett lang thang đây đó ở vùng nội địa hoang dã để thăm dò khoáng sản. Do hai người lúc bấy giờ không ai còn xu nào mà lại đang lúc cần vốn để khai thác mỏ, họ đã gọi thêm hai kẻ thăm dò vào hùn hạp với phần trăm ăn chia nhỏ hơn - đấy là Longstreet và DeWitt, do Crockett giới thiệu với chàng trai trẻ Stopes. Trong lời thú tội của mình, Stopes đau đớn nói rằng tội lỗi mà y bị gán ghép và khép tội - giết vợ bằng con dao rựa - là do chính Crockett gây ra. Vào một đêm trong cơn say điên cuồng, chính Crockett đã nổi cơn thú tính và tấn công người vợ của Stopes trong khi Stopes đang ở khu mỏ gần đấy; bị kháng cự, hắn ra tay giết chết cô. Longstreet, kẻ đầu sỏ khốn nạn, đã chộp lấy cơ hội này và bày ra một kế hoạch theo đó cả ba tên cùng vu cáo Stopes tội giết người; và, do khu mỏ bấy giờ chưa đăng ký và không ai biết rằng nó thuộc về Stopes, chúng sẽ chiếm luôn khu mỏ thành tài sản của mình. Crockett khi ấy bảo sao nghe vậy; hắn quá hoảng vì tội lỗi mình gây ra và hối hả bấu víu vào âm mưu đó. DeWitt, theo lời Stopes, là kẻ tính tình ôn hòa hơn; nhưng hắn bị Longstreet lấn át và bị ép buộc bằng những lời đe dọa phải dự phần vào âm mưu đó.

Sốc vì cái chết của người vợ, lĩnh trọn sự gian hiểm tàn độc của những kẻ đang cùng chung sức làm ăn với mình, nhà địa chất trẻ bị rơi vào tình trạng bấn loạn tâm thần. Mãi đến khi đã bị kết án và bị tống giam vào nhà lao, Y mới bình tâm tỉnh trí mà dần hồi phục lại; và rồi nhận ra rằng mình đã ở vào hoàn cảnh hoàn toàn tuyệt vọng. Thế là, từ giây phút ấy trở đi, mọi suy nghĩ của y, bao thôi thúc về hoài bão và khát vọng của y, đã biến thành một nỗi niềm khao khát đắng cay là phải báo thù. Y, theo lời thú tội, quyết chí dành hết phần đời còn lại của mình làm sao thực hiện bằng được mưu toan vượt ngục và giết bằng được ba tên côn đồ vô lại ấy. Đến lúc đào thoát được khỏi nhà tù, y đã là một kẻ khá luống tuổi, chịu bao khắc nghiệt trong nhà lao đã phá hoại nét mặt của y, dù cơ thể y vẫn giữ được sức mạnh ngày nào. Bằng lý trí, y chắc rằng đến lúc thích hợp để báo thù thì những nạn nhân sẽ chẳng còn nhận ra y là ai nữa.

“Tuy vậy, những chuyện đấy,” Bruno kết luận, “ngài Lane ạ, giờ đã gần như chẳng còn nhiều ý nghĩa với chúng tôi - ít ra là với tôi - bằng cái cách gần như siêu phàm mà ngài đã giải quyết vụ án. Chính xác thì, quả thực làm thế nào mà ngài lại đi đến một đáp án lạ thường như thế chứ?”

“Siêu phàm ư?” Lane lắc đầu. “Tôi đâu tin vào những điều huyền diệu, và hẳn nhiên tôi chưa hề thi thố bất cứ điều gì gọi là huyền diệu ở đây. Nói theo cách nào đấy, những thành công mà tôi có thể đạt được trong cuộc điều tra hấp dẫn này đều hoàn toàn dựa vào lối tư duy theo quan sát trực tiếp mà ra. Có lẽ tôi nên bắt đầu bằng một cách khái quát thế này. Chẳng hạn, ở ba vụ án mạng chúng ta phải đương đầu vừa rồi, vụ đơn giản nhất chính là vụ đầu tiên. Các ngài lấy làm lạ đúng không? Nhưng chính các chi tiết chung quanh cái chết khó hiểu của Longstreet lại cho ra một logic mạch lạc không ngờ. Có lẽ các ngài còn nhớ rằng, tôi được biết đến những chi tiết ấy rất thụ động - ấy là nghe theo lời kể lại. Vì không có mặt tại hiện trường án mạng, tôi đành phải cân nhắc sự việc trong thế bất lợi của người không được quan sát trực tiếp. Ấy vậy mà,” - nói đến đây ông lịch sự nghiêng mình về phía viên thanh tra - “tường thuật của ngài Thumm đây đã rõ ràng và chi tiết đến mức tôi hoàn toàn có thể hình dung ra những yếu tố cấu thành vở kịch rành rành như đích thân tôi đã có mặt ở đấy.”

Đôi mắt của Drury Lane sáng bừng lên. “Ở vụ án mạng trên xe điện, có một tình tiết suy luận thật hiển nhiên không thể tranh cãi; nó đã gây sự chú ý tức thì, và cho đến lúc này đây tôi vẫn chưa hiểu được vì cớ gì sự việc rõ ràng đến vậy lại thoát khỏi sự am tường của cả hai quý ngài. Nói hẳn ra, chính bản chất của cái thứ hung khí ấy tự nó đã cho thấy thật rõ ràng rằng không ai có thể cầm nắm được nó bằng tay trần mà không bị những đầu gai nhọn tẩm độc của nó đâm thủng tay dẫn đến thương tích gây chết người. Chính ngài, ngài Thanh tra, đã thận trọng không để tay mình chạm vào cái nút bần có gai ấy - kỹ đến mức ngài phải dùng đến một cái nhíp để gắp nó ra, rồi sau này ngài đã dùng một cái lọ thủy tinh để đựng nó. Ngài đã mang cái hung khí ấy ra cho tôi xem, và tôi thấy ngay rằng, tên sát nhân chắc hẳn phải dùng đến sự bảo vệ nào đấy cho bàn tay và ngón tay của hắn, cả lúc đưa cái hung khí ấy lên xe và lúc tìm cách làm sao đấy để thả nó vào trong túi của Longstreet. Tôi nói là tôi đã thấy ra điều này ngay tức thì; thực sự là vậy, ví dầu tôi có không thấy cái nút bần ấy chăng nữa, thì ngài cũng đã mô tả nó chính xác từng li, đến nỗi tôi khó có thể bỏ sót điểm rõ ràng ấy.

“Vậy thì nó tất sẽ nảy sinh câu hỏi: Hình thức thông thường của vật bao bọc bảo vệ cho bàn tay ấy là cái gì? Và câu trả lời tất sẽ là: Một chiếc găng tay, hẳn rồi. Thế điều này đã thỏa mãn yêu cầu của tên sát nhân ra sao? A, một chiếc găng tay ắt là cơ bản phù hợp cho mục đích của hắn - nó có kết cấu bề mặt bền chắc, đủ khả năng bảo vệ hoàn toàn, đặc biệt nếu nó được làm bằng da; và, vốn là một thứ đồ trang bị phổ dụng, nó lại càng ít gây chú ý hơn một thứ đồ dùng bao bọc bàn tay khác thường nào đấy. Ở một tội ác đã được tính toán kỹ, người ta hoàn toàn có lý do để tin rằng, tên sát nhân chẳng việc gì phải làm ra một thứ bao bọc bảo vệ khác lạ khi mà một chiếc găng tay thông thường đã thỏa mãn nhu cầu của hắn, thậm chí còn tốt hơn; và, hơn thế nữa, lỡ ra có bị ai đó thấy hoặc phát hiện, thì nó vẫn ít gây chú ý và không bị ngờ vực gì. Thứ đồ duy nhất mang công dụng như một chiếc găng tay mà không cần phải làm ra hoặc gây nghi ngờ, sẽ là một chiếc khăn tay; nhưng lấy một chiếc khăn tay để bọc quanh một bàn tay thì thật vướng víu, dễ gây chú ý và, quan trọng hơn, không đủ để bảo vệ ở một mức độ nhất định trước những mũi kim tẩm độc ấy. Tôi cũng nảy ra ý cho rằng, tên sát nhân đâu chừng cũng có thể dùng đến cách giống như thanh tra Thumm đã làm - đấy là, dùng nhíp gắp để di chuyển cái nút bần có gai ấy. Nhưng nghĩ lại thì tôi thấy cách ấy, dù giúp được tên sát nhân tránh không bị những đầu kim tẩm độc ấy đâm vào da, thì xét về phương diện khác nó vừa đòi hỏi phải có sự khéo léo trong thao tác di chuyển lại vừa rất không chắc chắn vào hoàn cảnh lúc bấy giờ - một khoang xe chật kín khách, rất ít khoảng trống dành cho các thao tác bằng tay, và thời gian ra tay thì nhất định là vô cùng ngắn ngủi. Thế là, tôi tin chắc rằng lúc tên sát nhân lén bỏ cái nút bần có gai ấy vào túi Longstreet, hắn chắc hẳn đã mang một chiếc găng tay.”

Thumm và Bruno nhìn nhau; Lane nhắm mắt và tiếp tục bằng thanh điệu trầm đều. “Ta biết rằng cái nút bần ấy được thả vào túi sau khi Longstreet lên xe. Điều này đã xác định được bằng cách dựa vào lời khai. Ta cũng biết rằng từ lúc Longstreet đặt chân lên xe, các cửa đi và cửa sổ xe vẫn luôn ở tình trạng đóng kín, trừ hai trường hợp ngoại lệ mà tôi sẽ đề cập ngay đây. Có một điều cũng rõ ràng không thể tranh cãi ấy là, tên sát nhân hẳn là kẻ nằm trong số những người có mặt trên xe mà sau đó đã được ngài thanh tra khám xét; vì từ lúc Longstreet và nhóm người của gã lên xe, không ai rời khỏi xe ngoại trừ một người duy nhất, và người này ra khỏi xe bằng chính mệnh lệnh của trung sĩ Duffy rồi sau đó đã quay trở lại.

“Ta cũng biết từ việc lục soát kỹ lưỡng toàn bộ những người đi xe, kể cả nhân viên lái xe và nhân biên bán vé, đều không tìm thấy có chiếc găng nào trong người họ dù là trên xe hoặc ở các gian phòng nơi những người này sau đó được thẩm vấn ở nhà đậu xe; và các ngài hẳn còn nhớ rằng suốt đoạn đường từ chỗ ra khỏi xe đến những gian phòng đó họ đều phải đi giữa hai hàng rào cảnh sát và thám tử, và những nhân viên này sau đó đã lục xét đoạn đường này mà vẫn không thấy gì. Ngài thanh tra, có lẽ ngài vẫn còn nhớ rằng sau khi nghe ngài tường thuật xong sự việc tôi đã hỏi ngài cụ thể là liệu có tìm ra chiếc găng nào giữa những thứ khác hay không; và câu trả lời của ngài là không.

“Nói cách khác: Mặc dù tên sát nhân vẫn còn trên xe điện, đã có chuyện bất thường xảy ra với một đồ vật, mà chắc hẳn đã được dùng để thực hiện tội ác, nhưng lại không bị tìm thấy sau khi thực hiện tội ác đó. Nó không thể nào bị ném qua cửa sổ; không cửa sổ nào được mở ra ngay cả trước khi nhóm người Longstreet lên xe. Không thể nào nó bị ném qua cửa đi, vì sau khi án mạng xảy ra Duffy đã đích thân mở, đóng các cửa đi khi sử dụng chúng và đã chú ý không thấy xảy ra chuyện gì đại loại như thế, bằng không ông ấy hẳn đã đề cập đến rồi. Chiếc găng cũng không thể bị tiêu hủy hoặc cắt vụn, vì nếu vậy đã sót lại vài tàn tích nào đấy. Cho dù nó có được chuyền sang một kẻ đồng lõa chăng nữa, hoặc bí mật nhét vào túi một người vô can chẳng hạn, thì nó ắt đã được tìm thấy rồi; vì kẻ đồng lõa cũng chẳng có lối nào thủ tiêu nó tốt hơn tên sát nhân, hoặc ở trường hợp nó nằm trong mình một người vô can thì cũng đã bị phát hiện trong quá trình khám xét diễn ra sau đấy.”

“Vậy thì cái găng tay ma quái ấy biến đi đường nào?” Drury Lane khoan khoái nhấp một ngụm cà phê từ chiếc cốc tỏa hơi nghi ngút, vừa được Falstaff mang ra phục vụ chủ nhân cùng các vị khách. “Thật tình mà nói trí tò mò của tôi lúc ấy đã bị kích thích thật sự. Nói đến sự huyền diệu, ngài Bruno ạ, vậy thì đây quả là điều huyền diệu với tôi; nhưng vốn là kẻ có phần hoài nghi, tôi tiếp tục lý giải sự biến mất tăm này là do có người làm bằng cách thức nào đấy. Vì tôi đã loại trừ tất cả, chỉ còn một cách thức thủ tiêu duy nhất; theo quy luật logic thông thường, cái cách thức còn lại cuối cùng này vì thế phải là biến mất bằng trung gian. Nếu chiếc găng ấy không thể nào bị ném ra khỏi xe điện, ấy thế mà nó đã ra khỏi chiếc xe điện ấy, vậy thì nó chỉ có thể nằm trên người kẻ nào đấy đã ra khỏi chiếc xe điện ấy. Mà lúc ấy chỉ có một người rời khỏi xe mà thôi. Đó là gã nhân viên bán vé, Charles Wood, được trung sĩ Duffy phái đi gọi cảnh sát Morrow và thông báo cho trụ sở cảnh sát về tấn bi kịch. Khi Cảnh sát Sittenfield từ vị trí trực giao thông đại lộ Thứ Chín chạy đến, đích thân Duffy mở của cho anh ta, và anh ta đã ở yên trong xe. Cảnh sát Morrow cũng vậy, khi anh ta cuối cùng đã có mặt theo thông báo khẩn cấp của nhân viên bán vé Wood. Nói khác đi, trong khi hai yếu tố con người, đều là cảnh sát, lên xe sau khi án mạng xảy ra, không còn ai khác ngoài Charles Wood xuống xe sau khi án mạng xảy ra. Tất nhiên, việc gã quay trở lại thì không liên quan gì đến quá trình lập luận này.

“Vậy nên tôi buộc phải đi đến kết luận: Nghe ra vừa vô lý, vừa điên rồ lại vừa nóng vội, chính Charles Wood, gã nhân viên bán vé trên xe điện, đã mang chiếc găng ấy ra khỏi hiện trường tội ác và thủ tiêu nó. Cố nhiên lúc đầu tôi đã cho đây là một ý nghĩ kỳ quặc; nhưng mạch lý lẽ càng lúc càng vững chắc và quả quyết đến mức tôi buộc phải chấp nhận kết luận này.”

“Thật vô cùng tuyệt diệu,” ngài công tố viên thốt lên.

Lane cười nói tiếp. “Thế thì Charles Wood, người mang chiếc găng tay ra khỏi xe điện và thủ tiêu nó, hoặc là thủ phạm sát nhân, hoặc là kẻ đồng lõa của tên sát nhân đang lẩn khuất trong đám đông hành khách, và đã nhận lấy chiếc găng từ tên này để thủ tiêu.

“Có lẽ các ngài còn nhớ rằng lúc kết luận câu chuyện của thanh tra Thumm, tôi có nói rằng phương thức hành động thì đã rõ ràng, nhưng lại tránh không nói rõ. Lý do là bấy giờ tôi không thể biết chắc liệu Wood có đúng là tên sát nhân hay không; bao giờ cũng tồn tại khả năng gã là kẻ đồng lõa. Nhưng dù là theo khả năng nào chăng nữa, tôi vẫn tin chắc về sự phạm tội của gã, vì giả như Wood bị tên sát nhân lén bỏ chiếc găng tay vào túi mà gã không hề hay biết - nghĩa là, nếu Wood quả thực vô can với tội thông đồng cố ý - thì lúc khám xét người ta lẽ ra đã tìm thấy chiếc găng tay ấy trên người gã, hoặc Wood lẽ ra đã tự mình phát hiện và báo với cảnh sát rồi. Nói khác đi: Vì chiếc găng tay không hề được gã nói ra hoặc tìm thấy trên người gã, vậy nghĩa là gã đã cố tình thủ tiêu nó lúc rời xe điện đi gọi cảnh sát Morrow. Đây là sự phạm tội, dù là gã thủ tiêu chiếc găng ấy cho chính mình hay cho kẻ nào khác.”

“Rất - rất rõ ràng.” Thumm khẽ nói.

Lane từ tốn nói tiếp, “Có một kiểm tra về khía cạnh tâm lý cần thực hiện đối với biểu hiện phạm tội của Wood xét về mặt logic. cố nhiên là gã không thể nào dự liệu trước việc mình được biếu không một cơ hội để rời khỏi chiếc xe điện và thủ tiêu chiếc găng. Không, gã chắc hẳn đã đặt lên bàn cân những cơ may của mình và chấp nhận khả năng người ta có thể tìm thấy chiếc găng trên người gã nếu như có một cuộc khám xét diễn ra, và rằng gã chẳng có cơ hội để ném nó đi. Nhưng đây là một trong những yếu tố quỷ quyệt nhất trong ý đồ của tên sát nhân! Vì cho dù chiếc găng có được tìm thấy trên người Wood chăng nữa, hoặc ngay như trường hợp chẳng có chiếc găng nào khác được tìm thấy trên xe, như thực tế điều này đã diễn ra, gã vẫn hoàn toàn yên tâm chẳng sợ nghi ngờ gì; lý do là, người ta xem chuyện một nhân viên bán vé trên xe điện dùng đến găng tay để thực hiện nhiệm vụ của mình là điều bình thường, kể cả đang lúc mùa hè nóng nực, khi những người bình thường khác không ai lại mang găng hoặc mang găng theo bên mình. Ở vị trí là người bán vé, suốt ngày phải cầm tiền, gã có lợi thế tâm lý vì biết rằng việc gã có một chiếc găng trên người là lẽ đương nhiên. Mạch lập luận củng cố thêm này cũng giúp tôi tin rằng, ý kiến ban đầu của mình về chiếc găng tay là tuyệt đối chắc chắn; vì nếu Wood đã không thể liệu trước cơ hội để thủ tiêu vật bao bọc bàn tay, gã hẳn là sẽ dùng đến thứ bình thường nhất, một chiếc găng tay. Nếu dùng khăn tay thì sẽ bị phát hiện có chất độc dính vào.

“Một điểm nữa, Wood không lý gì lại sắp đặt tội ác của gã phải lúc trời mưa, một điều kiện thời tiết mà sẽ buộc gã phải đóng hết cả cửa sổ lẫn cửa lên xuống xe; thay vào đó gã hẳn phải lập kế hoạch ra tay lúc trời tạnh ráo. Thời tiết khô ráo sẽ cho phép gã có thừa cơ hội để thủ tiêu chiếc găng tay chỉ bằng cách ném qua một ô cửa sổ hay cửa lên xuống đang mở, và cảnh sát chắc chắn sẽ lập luận - gã có thể yên chí điều này - rằng chiếc găng tay có thể là do ai đó trên xe ném xuống. Thời tiết khô ráo cũng là điều kiện mà hành khách sẽ lên xe và có lẽ xuống xe dọc đường thường xuyên, vì vậy cảnh sát sẽ phải xét đến khả năng tên sát nhân đã thoát đi từ trước. Vậy thì, cớ gì gã lại chọn lúc trời mưa để giết Longstreet, khi mà thời tiết khô ráo sẽ giúp hành động của gã diễn ra suôn sẻ hơn? Điều này nhất thời khiến tôi bối rối; nhưng sau một chút tập trung, tôi đã thấy cái buổi tối đặc biệt hôm ấy dù mưa hay không, thì cũng đã ban tặng cho tên sát nhân một cơ hội gần như có một không hai; đấy chính là việc cùng đi với Longstreet còn có cả đám đông bạn bè, nghĩa là bất cứ ai trong số họ cũng đều có thể bị trực tiếp nghi ngờ. Có lẽ cái vận may khó tin của hoàn cảnh này trong một thoáng đã khiến hắn quên tính đến những rắc rối mà thời tiết khắc nghiệt sẽ mang đến.

“Là người bán vé, hẳn nhiên gã có đến hai lợi thế mà một tên sát nhân nào khác hẳn là không có. Thứ nhất, như ai nấy đều biết, chiếc áo mặc ngoài của nhân viên bán vé có những chiếc túi lót da để chứa tiền lẻ; và một trong những chiếc túi ấy là đủ để vừa đảm bảo an toàn tuyệt đối cho chính gã vừa cất giữ cái món hung khí ấy thật tiện lợi cho đến khi gã sẵn sàng dùng đến. Có lẽ dễ đến hàng tuần liền, gã đã cất giữ cái nút bần có gai tẩm độc ấy thường xuyên trong túi. Thứ nhì, là người bán vé trên xe điện nên gã có thể chắc chắn sớm muộn gì cũng có dịp thả cái món hung khí ấy vào túi nạn nhân, vì đối với những xe điện thuộc loại xe chạy tuyến Crosstown phố Thứ Bốn Mươi Hai, người nào lên xe đều cũng phải đi ngang qua nhân viên bán vé trên xe cả. Việc này thậm chí càng thuận lợi hơn vào giờ cao điểm khi có rất đông hành khách chen lấn nhau ở sàn lên xuống phía sau. Khi xem xét về sự phạm tội của Wood, xem ra với tôi còn có thêm hai điều củng cố bổ sung thêm xét về bản chất tâm lý…”

“Thật phi thường,” ở điểm này Bruno thốt lên. “Hoàn toàn phi thường, ngài Lane ạ. Vì lời thú nhận của Stopes giống hệt với lý giải của ngài đến từng chi tiết, và tôi biết chắc ngài chẳng hề có lấy một cuộc đàm luận với y. Cụ thể là ở chỗ, Stopes cho biết y đã tự mình chế ra cái nút bần có gai ấy, rồi mua độc tố đúng như cách mà bác sĩ Schilling đã giả định hết sức thông minh trong biên bản pháp Y của ông ấy - nghĩa là từ một loại thuốc trừ sâu bày bán phổ biến ngoài thị trường rồi làm bay hơi cho đến khi chỉ còn lại một khối kết dính chứa tinh chất nicotine đậm đặc; lúc ấy y chỉ việc nhúng những đầu mũi kim vào cái chất kết dính ấy và thế là y đã có thứ mình cần. Y bỏ cái thứ hung khí ấy vào túi Longstreet đang lúc Longstreet bị kẹt ở sàn lên xuống phía sau, chờ trả tiền vé cho nhóm của gã và nhận tiền thối lại. Y cũng nói để xác nhận thêm rằng, thực ra y có ý giết người này vào một buổi tối thời tiết tốt đẹp nào đấy, nhưng khi thấy Longstreet xuất hiện cùng với cả nhóm với nhau như vậy, y không thể cưỡng lại sự ham muốn lôi kéo những bạn bè lẫn kẻ địch của Longstreet thành nghi can, bất chấp lúc ấy trời đang mưa.”

“Sự chiến thắng của ý thức quyết định vật chất, theo cách giáo sư người ta nói vậy.” Thumm xen vào.

Lane mỉm cười. “Quả là lời khen tặng phong nhã từ một người vốn nhận mình đứng về vật chất, thưa ngài thanh tra…Ta tiếp nhé. Vậy nên, các ngài thấy đấy, rằng kết thúc câu chuyện các ngài thuật lại với tôi, tôi đã chắc chắn về tội a tòng của Wood, nhưng nếu hỏi liệu gã có phải là tên sát nhân hay chỉ là một kẻ đồng lõa mà thôi, hay là một công cụ cho kẻ thứ hai vô danh nào đấy thì tôi không biết. Tất nhiên, đấy là chuyện trước khi xuất hiện lá thư nặc danh.

“Nói đến lá thư, điều không may là không ai trong chúng ta biết được Wood là tác giả lá thư ấy, và đến khi nhờ so sánh nét chữ mà chúng ta thực sự khám phá ra việc này thì lúc ấy đã là quá muộn để ngăn ngừa tấn bi kịch thứ nhì. Lúc nhận được lá thư, nó có vẻ như đấy là sự thông tin của một nhân chứng vô can, người đã tình cờ biết được sự việc dù quan trọng nhưng nguy hiểm ấy và có ý định báo cảnh sát bất chấp rủi ro đối với mạng sống của mình. Khi sau này tôi thấy rằng chính Wood, người mà tôi biết không phải là một nhân chứng vô can, đã viết lá thư ấy, việc đưa lá thư ra phân tích chỉ có thể mang ý nghĩa: Một, nếu gã chính là tên sát nhân, gã đang cung cấp cho cảnh sát một dấu vết giả để đánh lạc hướng khỏi chính gã bằng cách ngụ ý mình là người vô can; hai, nếu chỉ là kẻ đồng lõa, thì hoặc là Wood có ý khai báo tên sát nhân thực sự, hoặc là gã làm theo sự xúi bẩy của tên sát nhân thực sự ấy, với ý đồ đổ tội cho một người vô can nào đấy.”

“Thế nhưng có điều không ổn ở đây. Chính Wood đã bị giết.” Lane chạm những đầu ngón tay vào nhau rồi lại nhắm mắt. “Vì sự đảo lộn này, tôi đành phải xóa bỏ những gì đã suy luận và phân tích lại từ đầu hai lý giải vừa nêu về lá thư. Rắc rối lớn nhất ở đây là: Nếu Wood là tên sát nhân giết Longstreet (không phải là kẻ đồng lõa), vậy thì cớ gì chính gã cũng bị giết chết trên con phà Mohawk ấy, và ai là người đã giết gã?” Lane mỉm cười nhớ lại. “Vấn đề này đã làm nảy sinh nhiều suy nghĩ thú vị. Vì tôi thấy ngay có ba khả năng: Một, Wood là tên sát nhân, nhưng gã cũng có tòng phạm và kẻ tòng phạm ấy đã giết gã - ở trường hợp này, kẻ tòng phạm ấy sợ Wood hoặc là có ý định đổ cho hắn tội giết chết Longstreet, hoặc tiết lộ ra hắn chính là kẻ chủ mưu dù không trực tiếp giết người. Hai, Wood hành động một mình không có tòng phạm, gã đang có ý định đổ lỗi cho một người vô can, và bị người vô can này giết chết. Ba, Wood bị một kẻ vô danh giết chết vì những lý do không dính dáng gì đến vụ án mạng Longstreet.”

Lane lại tiếp. “Tôi đặt từng khả năng ra phân tích hết mọi lẽ. Trường hợp đầu tiên - khó thể xảy ra. Vì nếu kẻ tòng phạm ấy sợ Wood có ý đổ tội cho hắn là đã giết Longstreet, hay sợ Wood tiết lộ hắn là kẻ chủ mưu của tội ác đó, việc để Wood sống vẫn có lợi hơn cho hắn; vì ở đây tôi đang giả định Wood chính là kẻ ra tay giết người. Giả sử có bị âm mưu đổ tội, kẻ tòng phạm vẫn có thể đá ngược sự phạm tội trở lại cho Wood; xét rằng, nếu hắn giết Wood, vô hình chung hắn đang biến chính mình thành tên sát nhân, ngoài việc đang là kẻ tòng phạm vào vụ giết người ban đầu, và trong trường hợp này sẽ vừa ít có cơ may hơn cho việc thoát khỏi trừng phạt vừa không còn dịp nào để biện lời khai trước tòa hòng được giảm án hoặc thoát tội.

“Trường hợp thứ hai - tượng tự, khó có thể xảy ra. Vì trước hết, đương sự vô can có lẽ không làm sao biết trước chuyện Wood có ý định đổ tội cho ông ta bằng thủ đoạn báo cảnh sát rằng đương sự vô can là kẻ giết Longstreet; và thứ hai, dẫu có biết chăng nữa, ông ta không lý nào giết người để bảo vệ mình không bị vu khống tội giết người.

“Trường hợp thứ ba, rằng Wood bị một kẻ vô danh giết vì những lý do không được biết, là có thể xảy ra. Thế nhưng đây là một trường hợp khác biệt, vì nó sẽ kéo theo một sự trùng hợp lạ lùng - sự kề cận nhau giữa những động cơ chẳng liên quan gì đến nhau.”

“Ở đây đã xảy ra một sự việc khác thường, thưa các ngài.” Lane nhìn vào lò sưởi một lát, rồi lại nhắm mắt. “Từ sự phân tích này, và do tôi đang đeo đuổi công việc điều tra theo đường lối logic tuyệt đối, tôi buộc phải kết luận rằng lý giải này là sai - rằng Wood bản thân không phải là tên sát nhân giết Longstreet. Ba khả năng mà tôi đã xem xét đều là khó có thể xảy ra - hầu hết đều không thỏa đáng.

“Vậy là tôi cho phép mình quay lại chiều hướng lập luận ban đầu của mình. Tôi kiểm tra sự giải thích khả dĩ thứ nhì - rằng Wood không phải là tên sát nhân đã giết Longstreet mà là kẻ đồng lõa của tên sát nhân, rằng bằng vào lá thư ấy gã có ý định khai báo tên sát nhân thực sự. Theo phỏng đoán này thì sự việc Wood bị mưu sát sau đó là có thể hiểu được. Nó lý giải rằng tên sát nhân thực sự ấy đã phát hiện ý định phản thùng của Wood, và giết Wood để bịt miệng không cho gã hé lộ nhân dạng của hắn. Một suy luận logic hoàn hảo, và không có điểm nào cho thấy tôi bị mắc lỗi ở đây.

“Thế nhưng tôi vẫn chưa thoát khỏi cái mớ bùng nhùng giữa những lý lẽ; quả tình tôi đang trở nên ngày càng bị sa vào vũng lầy của sự lập luận. Vì, nếu giả thiết này là đúng, tôi sẽ phải tự đặt ra câu hỏi khác: Tại sao Wood, một kẻ đồng lõa và vì vậy có tiếp tay vào án mạng Longstreet, lại tìm đến cảnh sát với câu chuyện phản bội của gã? Nếu tiết lộ nhân dạng tên sát nhân, gã cũng không mong gì che giấu được phần tham gia của chính mình trong vụ việc; hoặc là gã buộc phải khai ra việc này khi cảnh sát thẩm vấn, hoặc tự tên sát nhân do bị bắt sẽ khai ra để trả thù. Vậy thì tại sao, vì lý do gì, bất chấp nguy hiểm nhất định đối với chính mình, Wood lại chọn tiết lộ nhân dạng tên sát nhân? Câu trả lời duy nhất - dù hợp lý nhưng không thỏa đáng về mặt nào đấy - là, do hối hận hoặc e sợ hậu quả của tội đồng lõa của mình trong vụ án mạng Longstreet mà gã có ý định tự bảo vệ mình bằng cách khai báo với hy vọng sẽ được giảm hoặc xóa tội.

“Tại điểm này của sự theo đuổi dòng lập luận, đã không có vấn đề gì về sự chọn lựa giữa các khả năng có thể xảy ra. Giải thích hợp lý nhất đối với vụ án mạng của Wood, bất chấp lá thư của gã gửi đến cảnh sát và sự phạm tội của chính gã liên quan đến vụ án mạng Longstreet, đấy là gã bị tên sát nhân thực sự giết chết vì đã có ý định trở mặt phản bội.”

Lane thở dài rồi duỗi chân gần hơn đến vỉ lò. “Ở trường hợp nào chăng nữa, phương thức hành động của tôi vậy là đã rõ, thực ra cũng chẳng còn cách nào khác; tôi phải điều tra về cuộc sống và lai lịch của Wood mong tìm ra một manh mối nào đấy về nhân dạng của kẻ mà gã đã làm đồng lõa cho hắn - kẻ mà bản thân hắn chính là tên sát nhân, nếu như ở đây có hai tên tội phạm tham gia vào chứ không phải một.

“Cuộc điều tra này đã mang đến một bước ngoặc cho vấn đề khúc mắc của tôi. Rõ ràng đầu tiên là không có kết quả, gần như tình cờ một lĩnh vực mới đã mở ra, và tôi kinh ngạc với những gì… Nhưng thôi, để tôi bắt đầu câu chuyện theo đúng trình tự của nó. Ngài thanh tra, chắc ngài còn nhớ rằng tôi đã mạn phép làm một điều đáng trách là đóng giả ngài đi đến ngôi nhà ở trọ của Wood tại Weehawken. Tôi không có ý làm Machiavelli; chỉ là khoác lên mình thân phận và thẩm quyền của ngài, tôi có thể theo đuổi đường lối điều tra mà không bị ngăn trở bởi sự cần thiết phải đưa ra lời giải thích. Tôi đã không biết thực sự mình cần phải tìm kiếm cái gì và tìm ở đâu, tôi khám xét kỹ lưỡng gian phòng, mọi thứ tôi tìm thấy đều hợp lý đến độ hoàn hảo, từ những điếu thuốc lá xì gà, mực và giấy viết, cuốn sổ tiết kiệm. À, thưa các ngài, quả là đã có điểm tinh quái của Wood! Gã thực sự để lại một cuốn sổ tiết kiệm và hy sinh cái chắc hẳn với gã là một món tiền đáng kể, chỉ cốt sao góp phần vào sự tráo đổi của gã. Tôi đến ngân hàng; số tiền là có ở đấy, chưa hề đụng gì đến, mức gửi tiền là đều đặn như nhau và hoàn toàn không bộc lộ bất cứ điều gì đáng ngờ. Tôi hỏi thăm những người bán hàng trong vùng, cố gắng tìm ra điều gì đấy, bất cứ gì mà có thể tiết lộ chí ít là manh mối về một sự bí mật có thể có liên quan đến cuộc sống của gã đàn ông này, hay về ai đó mà có thể đã thấy gã. Không có gì, hoàn toàn không có gì. Tôi tìm đến những bác sĩ và nha sĩ trong vùng, và điểm này đã khiến tôi chú ý. Rõ ràng gã đàn ông này chưa bao giờ đến khám bệnh ở bất cứ ông thầy thuốc nào. Tôi tự hỏi tại sao, rồi nhớ rằng gã có thể khám bệnh đâu đó bên New York - một chủ hiệu thuốc đã gợi ý khả năng này - tôi tạm thời gạt bỏ sự hoài nghi thoáng qua ấy.

“Khi tôi đến gặp viên giám đốc nhân sự của công ty xe điện, vẫn là truy tìm dấu vết của điều mà tôi không biết là cái gì, thì hoàn toàn tình cờ tôi phát hiện ra một sự việc kỳ lạ, không thể nào tin được, nhưng lại là một sự việc gây tò mò ngày càng nhiều hơn. Các ngài chắc còn nhớ trong biên bản pháp y về thi thể của người đàn ông bị giết trên phà Mohawk, kẻ được nhận dạng là Wood, có đề cập đến chi tiết là một vết sẹo ruột thừa hai năm tuổi. Thế nhưng, lúc kiểm tra hồ sơ công ty về quá trình làm việc của Wood và nói chuyện với viên giám đốc, tôi phát hiện rằng Wood làm việc vào tất cả những ngày làm việc trong suốt năm năm qua cho đến lúc bị án mạng, mà không hề có lấy một dịp nghỉ nào cả.”

Giọng của Lane rung lên dồn dập; Bruno và Thumm ngả người về phía trước, bị cuốn hút vào sự hân hoan hiện trên nét mặt của người kịch sĩ. “Mà nhân danh những vị thánh bảo hộ sân khấu kịch, làm thế nào có thể có chuyện Wood được phẫu thuật ruột thừa đã hai năm tính đến thời điểm cái chết của gã mà lại đi làm đều đặn hàng ngày vào tất cả những ngày làm việc suốt năm năm qua trước khi chết? Ai cũng biết rằng một ca phẫu thuật ruột thừa đòi hỏi bệnh nhân phải nằm viện ít nhất mười ngày - mà thực tế thông thường bao giờ cũng lâu hơn thế, hầu hết người bệnh đều phải nghỉ ngơi trong thời gian từ hai đến sáu tuần.

“Câu trả lời cũng cương quyết chẳng khác gì tham vọng của phu nhân Macbeth - một sự trái ngược mà chứng minh hai năm rõ mười rằng cái xác mà người ta tìm thấy và cho là xác của Wood - cái xác có vết sẹo mổ ruột thừa hai năm tuổi hoàn toàn không phải là của Wood. Nhưng điều này có nghĩa - và mắt tôi đã trố lên đến mức nào trước sự tình vừa khám phá ra ấy - rằng Wood không bị giết, rằng một nỗ lực có tính toán đã được thực hiện để làm nó có vẻ như gã đã bị giết; nói cách khác, rằng Wood vẫn còn sống.”

Giữa sự im lặng như tờ tiếp theo, Thumm thở phào với vẻ phấn khởi giả tạo đến kỳ quặc; và Lane mỉm cười tiếp tục trong sự đeo đuổi dòng suy tưởng. “Ngay lập tức, toàn bộ những yếu tố của vụ án mạng thứ nhì đã tự chúng sắp xếp lại thành hàng trật tự. Sự việc không thể chối cãi rằng Wood vẫn còn sống cho thấy, lá thư mà gã gửi đi bằng bút tích của mình là một trò che mắt; rằng ý đồ của nó là để chuẩn bị trước cho cảnh sát về vụ án mạng rành rành của Wood; rằng ngay từ đầu nó không hề có ý định tiết lộ nhân dạng của bất cứ ai với tư cách là tên sát nhân đã giết Longstreet; rằng cảnh sát, tìm thấy Wood đã chết sau khi gã hứa tiết lộ nhân dạng tên giết người, chỉ có thể tin rằng tên sát nhân này đã giết Wood để vĩnh viễn bịt miệng gã; vậy là theo cách này Wood tự xóa mình ra khỏi hiện trường tội ác, làm cho mình trông như một kẻ vô can bị giết bởi một tên sát nhân cho đến giờ vẫn không biết là ai. Lá thư và sự lừa gạt về nhân dạng của xác chết ở dưới nước vì thế là cách thông minh để khiến cho cảnh sát hoàn toàn bị mất dấu kẻ tội phạm thực sự, chính là Wood.

“Vậy thì điều luận ra vô cùng quan trọng này đã mở ra những kênh nào khác cho sự suy đoán! Lý do gì Wood tự xóa mình ở vụ án mạng thứ hai, đấy là: gã phải biến mất. Điều này sẽ trở nên rõ ràng khi chúng ta tiến đến vụ án mạng thứ ba, ở đó gã tiên liệu khả năng mình được gọi làm nhân chứng trong vai Edward Thompson. Đồng thời ở vụ án mạng thứ nhất gã cũng được gọi làm nhân chứng cùng với nhiều người khác với tư cách là Charles Wood - vậy thì thế nào gã lại có thể khoác hai thân phận cùng một lúc và ở cùng một nơi? Một điểm khác: Kế hoạch tự xóa mình của Wood thực ra là một phát trúng hai đích - gã không chỉ tự giết mình trong vai Charles Wood, gã còn giết cả một kẻ vô danh nào đấy - người mà xác của hắn ta được tìm thấy ở bến phà trong y phục của Wood.

“Tiếp tục theo mạch cuối cùng này. Cái cơ thể được cho là của Wood có vết sẹo khác thường ở một bên bắp chân, và có mái tóc đỏ; những nét đặc biệt khác thì đã bị cắt vụn và dập nát đến mức không còn nhận diện được nữa. Chúng ta biết rằng Wood có mái tóc đỏ và, theo lời của nhân viên lái xe điện Guiness, Wood có một vết sẹo như thế trên chân của gã. Nhưng cái xác được tìm thấy không phải là của Wood. Mái tóc đỏ còn có thể là một sự trùng hợp, song những vết sẹo về lý là không thể. Vết sẹo của Wood vì vậy chắc hẳn là sẹo giả - và đã được làm giả như thế suốt thời gian ít nhất đến năm năm, là khoảng thời gian mà gã làm việc cho công ty xe điện, vì ngay sau khi gã đi làm trên xe điện gã đã khoe vết sẹo ấy với Guiness. Nghĩa là gã sắp đặt cho mình giống hệt vẻ bề ngoài của người mà gã sẽ giết chết trên con phà Mohawk, ít nhất là ở hai đặc điểm - mái tóc và vết sẹo - để khi cái xác được tìm thấy, nó xem ra là xác của Wood mà không bị thắc mắc gì. Nghĩa là kế hoạch của tội ác trên con phà chắc hẳn đã được trù liệu cách đó ít nhất là năm năm. Nhưng vì tội ác trên con phà là kết quả từ vụ án mạng Longstreet, vậy nghĩa là vụ án mạng của Longstreet chắc hẳn cũng đã được mưu tính trước đó năm năm hoặc lâu hơn.

“Một kết luận khác: Vì Wood lên phà có người thấy và, như suy luận, không phải là kẻ bị giết, gã chắc hẳn đã thoát khỏi phà bằng cách hóa trang. Gã đâu chừng có thể là một trong những người đã xuống phà trước khi Thumm ra lệnh phong tỏa hành khách, hoặc…”

“Trên thực tế,” Bruno ngắt lời, “giả thiết tương ứng của ngài đã đúng. Thực ra thì y nằm trong số những người đã được giữ lại trên phà. Stopes bảo y chính là Henry Nixon, người bán đồ kim hoàn.”

“Nixon à?” Lane nói khẽ. “Rất thông minh. Người này lẽ ra phải là một nghệ sĩ diễn kịch mới phải - gã quả có một năng khiếu bẩm sinh về việc giả dạng thành thân phận của người khác. Tôi vốn không hề biết sau khi gây án liệu Wood có còn trên phà hay không, nhưng giờ đây ngài cho biết gã sắm vai Nixon người bán hàng, các tình tiết bỗng ráp nối vào nhau thật rõ ràng. Trong vai Nixon người bán hàng gã mang khỏi phà chiếc túi xách rẻ tiền mà gã đã mang lên phà với tư cách là Wood nhân viên bán vé xe điện. Gã cần chiếc túi xách ấy vì cần phải mang theo đồ hóa trang làm người bán hàng, một vật cùn để đánh nạn nhân bất tỉnh, những hòn chặn để nhấn chìm quần áo của nạn nhân xuống lòng sông…. Quả thực rất thông minh. Là người bán hàng lưu động, nhỡ có bị điều tra sơ lược, việc gã không có địa chỉ cố định và chuyện gã vắng mặt vào những giờ giấc bất thường sẽ được chấp nhận vì đấy là chuyện thường tình ở nghề nghiệp như gã. Hơn nữa, bằng cách giữ lại cái túi xách, bên trong cũng đã đựng sẵn đồ nữ trang rẻ tiền - phần gã thì mặc y phục người bán hàng, sau khi đã ném đi áo quần của nạn nhân cùng những hòn chặn và cả vật cùn dùng để đánh người - gã đã làm vai diễn của mình thật tự nhiên và đầy sức thuyết phục. Gã thậm chí đã đi xa đến mức, theo tôi nhớ lại, có cả những đơn hàng để trắng in sẵn cái tên ngụy tạo của gã, và chuẩn bị sẵn một chỗ trọ, nơi gã được biết đã thi thoảng dừng chân trong quá khứ. Thân phận Nixon của gã cũng lý giải chuyện Wood vừa mua một cái túi xách mới, vì dưới cái lốt người bán hàng gã không thể mang khỏi phà cái túi xách cũ, mà khi nhìn vào tất có người dễ dàng nhận ra đấy vốn là túi xách của Wood. Gã thậm chí còn tinh vi đến độ làm cái túi xách cũ thành sứt quai để mẹo lừa trở nên hoàn hảo. Xét cho cùng, phải nói rằng đây quả là một cách thức kỹ lưỡng tài tình, mà gã chuẩn bị cho trường hợp không thể thoát ra khỏi con phà trước khi cảnh sát phong tỏa mọi người; vì tất nhiên gã không thể thấy trước cơ hội chuồn đi trước khi sự việc được tri hô, hoặc không muốn mạo hiểm việc này trong kế hoạch của mình.”

“Ngài Lane à,” Thumm nói khẽ. “Hồi nào giờ tôi mà nghe được chuyện gì đại loại như vầy thì cứ bảo tôi đừng là tôi nữa. Thú thật với ngài, ban đầu tôi cho rằng ngài chẳng qua chỉ là lão già hết thời đang tự huyễn hoặc lấy mình. Nhưng thế này thì… Lạy chúa tôi, đây quả không phải là người thường!”

Bruno liếm cặp môi mỏng. “Tôi đồng tình với anh, Thumm ạ, vì như tôi giờ đã biết toàn bộ câu chuyện, mà tôi vẫn chưa hình dung được làm thế nào ngài Lane lại đến được thành công với vụ án mạng thứ ba ấy.”

Lane đưa một bàn tay trắng ngà lên trời; ông cất tiếng cười thật sảng khoái. “Làm ơn đi, các ngài làm tôi bối rối đấy. Về vụ án mạng thứ ba - tôi vẫn còn chưa xong với vụ thứ nhì! Vì đến điểm này tôi tự hỏi: Phải chăng Wood vẫn chỉ là một kẻ đồng lõa, hay y đích thị là tên sát nhân? Trước khi khám phá ra cái thi thể ở bến phà không phải là của Wood, các dấu hiệu đều chỉ vế đầu. Giờ thì con lắc lại đánh ngược sang vế sau.

“Về phương diện tâm lý, có ba lý do rõ rệt giải thích cho giả định cũ bây giờ được xét lại, rằng chính Wood là người đã giết Longstreet.

“Thứ nhất: Suốt năm năm trời Wood đã làm cho mình mang những đặc điểm nhất định của một kẻ vô danh nào đó để chuẩn bị cho việc gây án mạng với người này - rõ ràng đây là hành động của một tên sát nhân trực tiếp, không phải một công cụ đơn thuần.

“Thứ nhì: Việc gửi lá thư cảnh báo và sự lừa gạt cố ý về nhân dạng dẫn đến việc tự xóa bỏ mình của Wood càng cho thấy đây là những dấu hiệu về âm mưu của một tên sát nhân hơn là của một quân tốt thí.

“Thứ ba: Hết thảy mọi sự kiện, hoàn cảnh, mánh khóe đánh lừa đều được sắp đặt rõ ràng là để đảm bảo sự an toàn của Wood - một lần nữa hiển nhiên đều là những hành động có chủ ý của một nhân vật trung tâm hơn là của một kẻ tiếp tay.

“Trong bất cứ trường hợp nào, hoàn cảnh lúc kết thúc vụ án mạng thứ nhì là như sau: Wood, kẻ đã giết Longstreet và một người vô danh nào đấy, đã tự xóa mình biến mất bằng cách sắp đặt như chính gã bị giết chết, nhưng thực ra thì vẫn còn sống sau khi cố ý để cho DeWitt bị dây dưa vào vụ án này.”

Drury Lane đứng lên kéo sợi dây chuông bên cạnh mặt lò sưởi. Falstaff hiện ra giữa phòng và được lệnh mang thêm một bình cà phê nóng. Lane lại ngồi xuống. “Rõ ràng, câu hỏi kế tiếp là: Tại sao Wood lẽ ra đã gài tội DeWitt với điếu xì gà sau khi nhử gã này lên phà? Vì theo lý thì do Wood là kẻ thủ mưu, bằng cách nào đấy thông qua phương tiện của gã mà DeWitt đã bị lừa lên con phà ấy. Hoặc, vì động cơ mạnh mẽ của DeWitt đối với Longstreet khiến trong mắt cảnh sát gã trở thành nghi can hiển nhiên nhất, hoặc - và đây là điều quan trọng - vì động cơ của Wood đối với Longstreet cũng là động cơ đối với DeWitt.

“Ở trường hợp sau, nếu sự đổ tội thành công và DeWitt bị bắt, xét xử nhưng trắng án, tên sát nhân nhiều khả năng sẽ cố hoàn thành âm mưu đặt ra từ đầu của hắn, đấy là tấn công DeWitt.” Lane vừa đón lấy cốc cà phê mới từ bàn tay mũm mĩm của Falstaff, vừa ra hiệu về phía các vị khách, “Đây là lý do vì sao tôi sẵn lòng để DeWitt bị đưa ra tòa xét xử, dù tôi biết gã vô tội. Chừng nào DeWitt còn nằm trong nguy cơ kết án bởi cách thức pháp lý, gã vẫn sẽ an toàn không sợ gặp phải một cú tấn công nào đó từ Wood. Dễ thấy rằng lúc ấy các ngài đã bối rối vì thái độ kỳ quặc của tôi; đây quả là nghịch lý, đẩy DeWitt vào một nguy hiểm để tạm thời tránh cho gã khỏi một nguy hiểm khác và hiển nhiên hơn. Đồng thời, tôi muốn dành cho mình lợi thế về một sự tạm nghỉ, một khoảng thời gian yên tĩnh để tôi có thể nghiền ngẫm những suy nghĩ của mình, hòng tìm ra được bằng chứng dẫn đến việc tóm cổ tên sát nhân. Đừng quên tôi chưa hề mảy may biết được Wood đang khoác lên mình hình dạng gì…. Còn có một lợi thế nữa; tôi hy vọng rằng tính chất nghiêm trọng của hoàn cảnh DeWitt đang lâm vào - việc bị đưa sinh mệnh ra trước tòa xét xử - sẽ buộc gã tiết lộ những sự việc mà tôi biết gã đang giấu kỹ, những sự việc mà rõ ràng có liên quan đến gã đàn ông tự gọi mình là Wood ấy, và liên quan đến cả cái động cơ bị che giấu, cái động cơ vẫn còn tăm tối mơ hồ đứng đằng sau tất cả những chuyện này.

“Tuy nhiên, thấy rằng vụ tố tụng đang diễn ra đối với DeWitt đang đẩy sinh mệnh gã vào chỗ hiểm nghèo, tôi buộc lòng phải xen vào và bày ra lý lẽ liên quan đến ngón tay bị thương của DeWitt, dù lúc ấy tôi vẫn chưa tiến triển được gì xa hơn so với trước đó. Thiết nghĩ ở đây cần nói rõ, nếu không có trong tay những tình tiết liên quan đến vết thương của DeWitt, hẳn tôi sẽ không đời nào để ngài truy tố gã; còn nếu ngài khăng khăng cố chấp, ngài Bruno ạ, tôi đành phải nói hết những gì tôi biết mà thôi.”

“Được tuyên trắng án, mối đe dọa đến DeWitt trở thành điều trước mắt cần phải tính đến.” Gương mặt Lane bỗng u ám và giọng nói của ông trở nên bồn chồn. “Từ cái đêm ấy, tôi đã nhiều lần cố tự nhủ rằng mình không có lỗi về cái chết của DeWitt, rõ ràng là tôi đã cẩn thận với mọi chi tiết. Tôi đã sốt sắng nhận lời tháp tùng về tư gia của gã ở Tây Englewood, thậm chí còn dự tính nghỉ lại đêm ở đấy; tôi đã không thể lường trước mình lại có thể hoàn toàn bị qua mắt như thế nào. Để bản thân phần nào nhẹ nhõm, tôi phải thú nhận mình đã không ngờ trước là Wood sẽ tấn công DeWitt vào ngay cái đêm gã đàn ông đáng thương ấy vừa mới được tha bổng trong ngày. Suy cho cùng, vì bấy giờ không biết cái nhân dạng mới mà Wood đang khoác vào, hoặc gã đang ở đâu, tôi cho rằng gã còn phải đợi hàng tuần hoặc thậm chí hàng tháng để có dịp ra tay với DeWitt. Nhưng Wood hóa ra lại là một kẻ cơ hội hơn nhiều so với những gì tôi biết. Gã đã phát hiện dịp may để ra tay vào ngay đêm đầu tiên DeWitt được trắng án, và gã nắm ngay lấy nó. Bằng dịp may này Wood đã lanh trí hơn tôi, và làm một việc hoàn toàn bất ngờ. Lúc Collins tiếp cận DeWitt tôi không thấy ra được điều gì bất ổn, vì tôi biết Collins không phải là Wood. Nói sao mặc lòng…” - một chút biểu hiện tự trách hiện lên trong đôi mắt sáng của ông - “tôi dứt khoát không thể tự cho là mình đã chiến thắng trong vụ này. Tôi đã không đủ nhạy bén, không hoàn toàn đủ nhận thức trước những hành động tiềm tàng của tên sát nhân. Tôi e rằng mình vẫn là gã săn người nghiệp dư. Nếu tôi còn có cơ hội để điều tra thêm vụ khác …” Ông buông tiếng thở dài rồi lại tiếp. “Một lý do khác nữa mà tôi ưng thuận lời mời của DeWitt đêm ấy, là vì gã hứa sẽ kể ra những thông tin quan trọng với tôi vào sáng hôm sau. Lúc ấy tôi ngờ - và giờ thì tôi chắc chắn - rằng gã cuối cùng đã có ý muốn kể ra câu chuyện thực về lai lịch của mình, câu chuyện mà Stopes đã kể cho các ngài trong lời thú tội của y, câu chuyện mà, bằng cách lần theo dấu vết của vị khách người Nam Mỹ của DeWitt - tôi cược là ngài thanh tra chưa hề nghe đến người này - đằng nào thì tôi cũng tìm hiểu. Dấu vết ấy đến lượt nó đã dẫn đến Ajos, viên lãnh sự Uruguay …”

Bruno và Thumm trố mắt nhìn ông kinh ngạc. “Vị khách người Nam Mỹ? Viên lãnh sự Uruguay?” Thumm lắp bắp. “Lạ thật, tôi thậm chí còn chưa hề nghe đến họ nữa là!”

“Hãy khoan thảo luận việc ấy lúc này, ngài thanh tra ạ,” Lane nói. “Thực ra thì kết quả quan trọng từ việc tôi khám phá rằng, Wood đã biểu diễn sự đánh tráo nhân dạng và vẫn còn sống đấy là, nó vừa thay đổi về những khả năng có thể xảy ra, từ việc Wood chỉ là một kẻ đồng lõa chuyển sang chính gã thực ra lại là tên sát nhân, vừa xoay chuyển những phân đoạn phức tạp về một chuỗi án mạng đã được mưu tính từ nhiều năm trước theo cách giàu tưởng tượng, táo tợn và gần như không chút sơ hở. Mặt khác, tuy đã tin chắc về điều này tôi lại không có lấy ý niệm nhỏ nhất là phải tìm kiếm gã ở đâu. Charles Wood, ở nhân dạng của Charles Wood tôi biết chắc là đã bị xóa ra khỏi bề mặt thế gian này; kế tiếp hắn sẽ xuất hiện ở thân phận nào thì tôi chỉ có thể đoán mò một cách tuyệt vọng. Nhưng có điều tôi chắc rằng hắn sẽ xuất hiện, và đấy chính là điều tôi đang chờ đợi. Là điều đã đưa chúng ta đến vụ án mạng thứ ba.”

Lane tự giải lao bằng chiếc cốc tỏa hơi nghi ngút. “Chính sự chóng vánh của vụ án mạng DeWitt, kết hợp cùng những yếu tố nhất định khác, đã chỉ ra rõ rệt rằng đây cũng là tội ác đã được trù liệu kỹ lưỡng từ trước - rất có thể đã được trù liệu cùng lúc với hai tội ác trước đó.

“Đáp án của tôi về vụ án mạng của DeWitt gần như hoàn toàn xoay quanh tình tiết rằng, DeWitt đã mua một cuốn sổ vé năm mươi chuyến mới trước sự có mặt của Ahearn, Brooks và cả tôi trong khi mọi người đang ở bên trong phòng chờ của đường sắt Bờ Tây để chờ chuyến tàu của đêm ấy. Giả sử DeWitt không làm như vậy, không nói được liệu vụ án có bao giờ được đưa đến một kết cục thỏa đáng hay không. Vì, cho dù tôi biết được nhân dạng tên sát nhân giết Longstreet chăng nữa, tôi cũng không bao giờ biết Stopes sẽ mang cái lốt nào để ra tay giết DeWitt.”

“Điểm cơ bản là vị trí của cuốn sổ vé này trên người của DeWitt. Ở nhà ga gã để nó vào túi trên bên trái của áo gilê, cùng với những chiếc vé rời gã mua cho những người khác trong nhóm, Khi gã cùng Collins sau đó đi ra toa xe phía đằng sau, gã lấy ra từ cùng túi trên bên trái ấy của áo gilê những tấm vé rời trao cho Ahearn; và tôi thấy gã không rút cuốn sổ vé mới ra khỏi túi áo gilê ấy. Nhưng khi xác của DeWitt được ngài thanh tra của chúng ta đây lục soát, tôi kinh ngạc để ý rằng, cuốn sổ vé mới ấy không còn ở túi trên bên trái của áo gilê nữa, mà lại nằm ở túi ngực phía trong của áo khoác ngoài.” Lane nhăn nhó mỉm cười. “DeWitt đã bị bắn qua tim. Mũi đạn đâm xuyên qua áo ngoài bên trái, túi trên bên trái áo gilê, áo sơmi và áo lót. Kết luận là sơ đẳng: Tại lúc gã bị bắn cuốn sổ không có ở túi trên bên trái của áo gilê, vì nếu có ở đấy, nó đã có ngay một lỗ đạn bắn, trái lại khi chúng ta tìm thấy thì cuốn sổ vé không bị xuyên lỗ, và quả thực không bị bất cứ dấu vết gì.

“Lập tức tôi đã thắc mắc: Làm thế nào lý giải sự thực rõ ràng rằng cuốn sổ vé đã bị di chuyển từ túi nọ sang túi kia trước khi DeWitt bị bắn?

“Hãy nhớ lại tình trạng của cái xác nhé. Bàn tay trái của DeWitt làm thành một dấu hiệu nào đấy bằng cách ngoắc ngón giữa lên ngón trỏ của gã. Bằng vào sự quả quyết của bác sĩ Schilling rằng DeWitt đã chết tức thì, những ngón tay xếp chồng ấy chỉ ra ba kết luận vô cùng quan trọng: Thứ nhất, DeWitt đã làm dấu hiệu ấy trước khi bị bắn - vì đã không có sự quằn quại giãy chết. Thứ hai, vì gã thuận tay phải mà dấu hiệu ấy lại làm trên tay trái, vậy nghĩa là tay phải của gã đã bận làm gì đấy vào lúc mà gã muốn làm dấu hiệu ấy. Thứ ba, vì dấu hiệu ấy trên tay gã muốn làm được phải dùng sức có sự chú ý, ắt hẳn nó được làm với mục đích rõ ràng có liên quan như thế nào đấy với tên sát nhân.

“Giờ hãy xét kỹ điểm thứ ba. Nếu DeWitt là người mê tín, những ngón tay ấy có lẽ là dấu làm phép để chống lại mắt quỷ dữ, nó có thể ám chỉ một nhận thức rằng gã sẽ bị giết chết, và đấy cũng là một cử chỉ mê tín mang tính bản năng để ngăn ngừa ‘quỷ dữ’. Nhưng con người DeWitt không hề có lấy một tí gì gọi là mê tín. Cái dấu hiệu này, vì thế, được làm ra bằng sự cố ý hẳn hoi, và chắc hẳn không liên quan đến bản thân của gã mà là tên sát nhân đã giết gã. Việc này rõ ràng là hậu quả từ cuộc trò chuyện giữa DeWitt, Brooks, Ahearn và tôi đã xảy ra chỉ vài khắc trước khi DeWitt rời đi cùng Collins. Cuộc đàm luận xoay quanh những ý nghĩ cuối cùng của người sắp chết, và tôi liên hệ đến câu chuyện về một người bị sát hại, trước khi chết đã để lại một dấu hiệu về nhân dạng kẻ sát nhân. Vì thế, tôi cảm giác chắc chắn rằng DeWitt, gã nạn nhân đáng thương, đã chớp lấy hồi ức vừa mới có này và để lại một dấu hiệu cho tôi - ý tôi là cho chúng ta - để ám chỉ nhân dạng tên sát nhân đã giết gã.”

Bruno tỏ vẻ đắc thắng. Thanh tra Thumm nói giọng hồ hởi: “Quả đúng với những gì Bruno và tôi đã hình dung!” Thế rồi gương mặt ông xịu xuống. “Thế nhưng,” ông tiếp, “dù là vậy chăng nữa… thế quái nào cái đó lại trỏ vào Wood? Gã là kẻ mê tín à?”

“Ngài Thanh tra, cái dấu hiệu ấy của DeWitt không chỉ vào Wood, hay Stopes, theo ý nghĩa mê tín,” Lane trả lời. “Đúng ra tôi nên bảo các ngài rằng tôi chưa bao giờ tán thành sự giải thích cái dấu hiệu ấy theo ý nghĩa dị đoan vì nó hoàn toàn vượt quá sự hoang đường. Nó nghĩa là gì thì lúc ấy tôi không nghĩ ra. Thực ra thì điều cần thiết ở đây là tôi phải giải quyết xong vụ án trước khi làm rõ mối quan hệ giữa tên sát nhân và cái dấu hiệu của DeWitt - mối quan hệ mà tôi muối mặt thừa nhận đã ở ngay trước mắt tôi…

“Dù thế nào chăng nữa, lý giải hợp lý duy nhất về những ngón tay chồng chéo là chúng ám chỉ thế nào đấy về nhân dạng tên sát nhân. Nhưng hãy nghĩ mà xem! Việc để lại một manh mối về nhân dạng tên sát nhân chứng tỏ DeWitt biết kẻ đó là ai, và biết đến sự tấn công của hắn đủ đến mức để lưu lại một ký hiệu mô tả đích thị về cá nhân này.

“Về mối quan hệ này có một suy luận thậm chí càng mang sức thuyết phục hơn. Vì cho dù bản thân cái dấu hiệu ấy mang ý nghĩa gì chăng nữa, việc nó xuất hiện trên tay trái chứng tỏ bàn tay phải mà gã thường dùng làm mọi việc, như tôi vừa nói, đã bận việc khác ngay trước khi án mạng. Thế thì việc ấy là việc gì? Hiện trường không có dấu hiệu về một trận ẩu đả; gã có thể dùng tay phải để ngăn đỡ tên sát nhân, nhưng khả năng này khó xảy ra khi gã vừa làm vậy bằng tay phải lại đồng thời làm một dấu hiệu trên tay trái - một dấu hiệu đòi hỏi phải dùng sức có sự chú ý. Vậy thì còn giải thích nào tốt hơn? Tôi đã tự hỏi mình như vậy. Liệu trên cơ thể có bất cứ gì khác mà tự nó gợi lên một giải thích về sự bận rộn của tay phải? Quả là có! - Vì tôi biết rằng cuốn sổ vé đã được di chuyển từ túi này sang túi kia.

“Tôi nhanh chóng xem xét các khả năng có thể xảy ra. Chẳng hạn, ta có thể hiểu rằng chính tay DeWitt di chuyển cuốn sổ lúc nào đấy trước khi án mạng - nghĩa là, sự di chuyển cuốn sổ vé từ túi này sang túi kia không liên quan gì đến bản thân vụ án mạng. Nhưng nếu vậy thì vẫn không lý giải được bàn tay phải của gã đã bận vào việc gì giữa lúc án mạng diễn ra. Tuy nhiên, nếu dùng giả định rằng cuốn sổ vé đã được di chuyển tại lúc án mạng, tôi đã lý giải tất cả trong một, trực tiếp làm rõ lý do vì sao tay phải đã bị sử dụng vào việc khác, và tại sao tay trái được dùng để làm cái dấu hiệu mà thông thường nó lẽ ra phải làm bằng tay phải. Đây dường như là một giả định giàu ý niệm; nó đã thực sự bao trùm mọi sự việc. Để có kết quả, giả định này đòi hỏi sự xem xét kỹ lưỡng; vậy thì nó dẫn đến đâu?

“Vì một lẽ, nó dẫn đến sự suy đoán như sau: Tại sao cuốn sổ vé lại nằm trong tay của DeWitt vào lúc gã bị sát hại? Chỉ một lý giải khả dĩ biện minh được - gã đang định dùng nó. Chúng ta giờ đều biết rằng cho đến lúc Collins rời khỏi DeWitt, người soát vé hay viên trưởng tàu vẫn chưa đến chỗ họ để thu vé bấm lỗ, bằng chứng là Collins vẫn còn giữ chiếc vé chưa bấm lỗ của gã khi bị các ngài bắt giữ tại nhà riêng vào tối hôm ấy. Nếu nhân viên tàu đã đến chỗ họ thì chiếc vé của Collins đã được lấy đi rồi. Vậy thì khi DeWitt đi vào toa tàu tối nhân viên tàu vẫn chưa tiếp cận gã để xem vé. Tất nhiên, ngài thanh tra ạ, lúc ở trên tàu tối hôm ấy tôi không biết chuyện này; mãi đến lúc ngài bắt Collins thì chuyện gã còn giữ chiếc vé mới tòi ra. Khi ấy chỉ là theo lập luận mà tôi cân nhắc sự việc này như một phỏng đoán mà thôi.

“Dựa vào giả thuyết mà sau này đã thành sự thực ấy, rằng lúc DeWitt vào toa tàu tối nhân viên tàu chưa tiếp cận đến chỗ gã, vậy thì phải giải thích sao cho hợp lẽ với giả định rằng ngay lúc trước khi chết gã đã lôi cuốn sổ vé ra giữ trên tay phải? Câu trả lời là đơn giản: vì đó chính là lúc nhân viên tàu đã tiếp cận đến nơi. Thế nhưng cả hai người nhân viên đều khẳng định rằng họ chưa hề đến chỗ có DeWitt. Vậy chẳng lẽ lý thuyết của tôi đã sai? Không nhất thiết. Bởi vì, nếu một trong hai người nhân viên ấy chính là tên sát nhân, và đã đến chỗ DeWitt, nhưng nói dối là chưa đến vì gã là tên sát nhân.”

Cả Bruno lẫn Thumm đều đang ngả hẳn người về phía trước, hoàn toàn bị hấp dẫn bởi lối phân tích khác thường mà Lane đang bình thản dẫn dắt, lại có phần phong phú bởi giọng nói ngân nga uyển chuyển của ông.

“Giả định này có đề cập giải quyết hợp lý tất cả những sự việc đã biết không? Rõ ràng là có.

“Vì, thứ nhất, nó lý giải tại sao cái dấu hiệu ấy được làm bằng tay trái.

“Thứ hai, nó lý giải tại sao bàn tay phải đã bị dùng vào việc khác và đấy là việc gì.

“Thứ ba, nó lý giải vì sao trang vé không bị bấm lỗ. Vì giả sử một nhân viên tàu là tên sát nhân và sau khi giết DeWitt đã phát hiện cuốn sổ vé nằm trong tay DeWitt, gã không thể bấm lỗ được; dấu bấm lỗ sẽ là bằng chứng trực tiếp rằng gã có lẽ là người cuối cùng thấy DeWitt còn sống và vì vậy chỉ ra sự phạm tội của gã, hay chí ít đặt gã vào hoàn cảnh bị điều tra về vụ án mạng - một hoàn cảnh không mong muốn đối với bất kỳ tên sát nhân có chủ ý nào, hẳn nhiên là vậy.

“Bốn, nó lý giải tại sao cuốn sổ vé được phát hiện nằm ở túi ngực bên trong của áo khoác ngoài. Nếu một nhân viên là tên sát nhân, gã cố nhiên không thể để cảnh sát phát hiện cuốn sổ vé vẫn còn nằm trên tay DeWitt, lý do cũng hệt như việc gã không thể bấm lỗ lên trang vé - sự hiện diện của nó tại thời điểm của cái chết tức khắc sẽ chỉ ra chính cái điều gã muốn tránh - rằng DeWitt biết đấy là người soát vé đang tiến đến và đã bị giết chết liền ngay đó. Mặt khác, người soát vé cũng không muốn thủ tiêu cuốn sổ vé đi nơi khác, vì tính chất còn mới của nó được thể hiện bằng ngày bấm lỗ trên bìa đã hàm ý khả năng có thể xảy ra đó là, ai đó đã nhìn thấy nó được mua vào chính đêm ấy, và sẽ phát hiện ra là nó đã mất; và nếu như nó bị phát hiện là đã mất thì không khó để cảnh sát liên tưởng một cách nguy hiểm về ‘vé - soát vé’. Không, cách giải quyết tốt nhất của gã đấy là phải làm cho chính mình và mọi nghi ngờ về mình không hề tồn tại ở vụ án mạng này.

“Vậy thì, gã nhân viên sẽ làm gì về việc bỏ lại cuốn sổ vé trên người DeWitt, vì phương thức an toàn nhất của gã là không mang nó đi? Gã sẽ bỏ nó trở vào một trong những chiếc túi của DeWitt - hợp lý, đúng không? Túi nào? À, hoặc gã biết chỗ DeWitt thường cất cuốn sổ vé, hoặc gã sẽ xem xét các túi để biết ra DeWitt thường cất nó ở túi nào. Tìm thấy cuốn sổ vé cũ, hết hạn ở túi ngực bên trong, còn gì tất nhiên hơn là gã nên bỏ cuốn mới vào cùng với cuốn cũ. Cứ giả như gã biết rằng DeWitt đã cất cuốn sổ mới này ở túi áo gilê chăng nữa, gã không thể cho nó trở lại vào cái túi ấy vì chiếc túi áo gilê là nằm trên tuyến trực tiếp với đường đi của viên đạn trong xác của DeWitt, và việc bỏ cuốn sổ vé không thủng lỗ đạn vào trở lại túi áo gilê sẽ chỉ rành rành ra rằng cuốn sổ đã được bỏ vào sau án mạng, lại là một kết luận của cảnh sát mà gã nhân viên muốn tránh.

“Thứ năm, dựa vào điểm thứ tư - giả định này cũng lý giải lý do cuốn sổ vé không bị lỗ đạn bắn. Gã trưởng tàu không thể nã thêm phát nữa vào cuốn sổ với mong muốn là nó ghim đúng vào cái điểm mà cuốn sổ lẽ ra đã bị thủng lỗ nếu nó vẫn còn nằm yên chỗ túi ấy lúc bắn ra phát đạn đầu. Ngoài ra, còn có nguy hiểm là khi bắn lần thứ hai phát đạn có thể bị nghe thấy. Và nếu bắn phát thứ hai trong toa xe viên đạn sẽ nằm đâu đó mà có thể bị tìm thấy sau này. Và, kết cục là, cách làm như thế chỉ tổ nhiêu khê, phức tạp, mất thì giờ và nhìn chung bề ngoài là ngu ngốc. Không, xét mọi lẽ, gã theo phương thức tự nhiên nhất và điều dường như là an toàn nhất.”

“Đến đây,” Drury Lane tiếp tục, “giả định này đã được xem xét mọi khía cạnh. Liệu có lý lẽ nào củng cố thêm rằng tên sát nhân là một gã nhân viên nào đó trên đoàn hỏa xa ấy không? Một sự củng cố lý lẽ về mặt tâm lý rất rõ ràng. Vì nhân viên tàu trên một đoàn hỏa xa là hầu như vô hình; nghĩa là, việc ông ta có mặt khắp nơi trên một đoàn tàu được xem như là chuyện hoàn toàn đương nhiên; và không ai việc gì phải chú ý hay ghi nhớ gì đến chuyện đi lại và hiện diện của ông ta. Trong khi sự đi lại và hiện diện của những thành phần khác phụ trách đoàn tàu thì có khả năng, và ở vài trường hợp là chắc chắn, bị quan sát - người soát vé lại có thể đi qua lại giữa các toa khách và đi vào toa tối, như gã này đã thực tế làm vậy, mà không gợi lại một ký ức hay lưu lại dấu vết gì. Trên thực tế, chính tôi đây đã không quan sát gì đến gã, trong khi tôi có thể nói là đang trong trạng thái cảnh giác. Gã chắc hẳn đã đi ngang qua tôi vào toa tàu tối ấy sau khi Collins đã rời đi; ấy vậy mà cả lúc này đây tôi cũng không có hồi ức gì về việc đó.

“Một điều củng cố khác. Sự biến mất và cuối cùng tìm lại được của hung khí. Khẩu súng lục đã không được tìm thấy trên tàu - nó được tìm thấy ở một con suối mà đoàn tàu đã chạy qua chừng năm phút sau khi án mạng xảy ra. Phải chăng đấy chỉ là tình cờ mà năm phút sau án mạng khẩu súng mới bị vứt đi - đến nỗi nó gần như vô tình rơi xuống một con suối dọc tuyến đường tàu chạy, liệu có phải đây hoàn toàn là chuyện ngẫu nhiên? Lẽ ra sẽ là an toàn hơn nếu tên sát nhân ném khẩu ru-lô ấy ra khỏi tàu ngay sau khi gây án. Thế nhưng gã đã đợi - tại sao?”

“Cái giả định rằng gã biết, dù trong đêm trời tối như mực, vị trí chính xác của con suối - nơi che giấu tốt nhất cho vật hung khí ném đi từ đoàn tàu - cho thấy người ném - đã chờ sau năm phút và đã biết về vị trí của con suối, chắc hẳn là vô cùng quen thuộc với địa hình nơi đây. Mà trong số những người ở trên tàu, ai mới là người phù hợp để có sự quen thuộc đến vậy? Chắc chắn phải là một nhân viên làm việc trên tàu, người đêm nào cũng theo đoàn tàu đi qua cùng một tuyến đường vào cùng một khoảng thời gian. Kỹ sư, người gác phanh, trưởng tàu… Một nhân viên tàu, tất nhiên rồi! Điều này càng củng cố hơn về giả định người soát vé, dù đây hoàn toàn là giả định về khía cạnh tâm lý.

“Vấn còn có một lý lẽ củng cố khác, lý lẽ thuyết phục nhất, lý lẽ mà dứt khoát chỉ ra kẻ phạm tội. Nhưng điểm này tôi sẽ sớm đề cập sau.

“Dĩ nhiên tại thời điểm tội ác, tôi suy nghĩ lập luận về hung khí theo hướng đảo ngược lại. Tôi đặt cho mình câu hỏi: Ở vào vị trí tên sát nhân - người soát vé, tôi sẽ thủ tiêu khẩu ru-lô thế nào? Theo cách sao cho khả năng nó bị tìm thấy là nhỏ nhất? Tôi sẽ loại trừ những nơi rõ ràng hiển nhiên - bên đường ray dọc theo nền đường, hoặc ngay trên mặt nền đường - vì đây là những nơi cảnh sát sẽ tìm kiếm trước tiên. Nhưng, tôi sẽ nói rằng, tuyến đường này có nơi che khuất tự nhiên, nó không chỉ thủ tiêu hung khí, nó còn khuất hẳn tầm mắt mà tôi không phải tốn thêm công sức gì. Con suối… Tôi kiểm tra bản đồ hệ thống đường tàu, xác định ra những con sông dòng suối trong phạm vi khu vực có thể dùng làm nơi thủ tiêu, và dẫn đến sự tìm kiếm thành công hung khí.”

Giọng của Lane đổi sang cao độ mới. “Vậy thì, ai trong hai người nhân viên tàu đã phạm tội - Thompson hay Bottomley? Biết rằng thực tế phần toa này của đoàn tàu là thuộc về phận sự của Thompson, nhưng hoàn toàn không có bằng chứng trực tiếp nghiêng về bất cứ ai giữa hai người.

“À, nhưng hãy khoan! Vì tôi vốn đã suy diễn rằng tên sát nhân ở tội ác thứ ba này là một nhân viên tàu, mà tên sát nhân ở tội ác thứ nhất cũng là một nhân viên bán vé trên xe điện. Phải chăng cả hai người cùng làm nhiệm vụ kiểm soát, bán vé này là giống nhau và chỉ là một - đó là Wood? Đúng thế, một khả năng rất dễ xảy ra. Vì những vụ án mạng đối với Longstreet, kẻ vô danh ở bến phà và DeWitt rõ ràng đều là tác phẩm của cùng một bàn tay.

“Nhưng đặc điểm cơ thể con người Wood là những gì? Bỏ qua mái tóc đỏ và vết sẹo, mái tóc làm giả chẳng khó gì, vết sẹo thì rõ ràng cũng như vậy - ít ra tôi cũng biết rằng Wood là người cao lớn và lực lưỡng. Viên trưởng tàu già Bottomley, thì nhỏ con và yếu ớt. Thompson thì to con và vạm vỡ. Vậy thì, Thompson là người ta cần tìm.

“Tại điểm này tôi đến được kết luận: DeWitt đã bị cố sát bởi Thompson, người mà tôi có mọi lý do để tin là Charles Wood. Nhưng cái gã Wood-Thompson này thực ra là ai? Rành rành cả ba vụ án mạng đều bị thúc đẩy bởi cùng động cơ và động cơ ấy được nuôi dưỡng ít nhất đã năm năm thậm chí còn lâu hơn. Bước kế tiếp vì vậy dễ hiểu - kiểm tra quá khứ trước đây của DeWitt và Longstreet để cố gắng tìm hiểu xem ai là kẻ có đủ lý do để ước muốn hai người này phải chết và đã sắp đặt kế hoạch nhiều năm trời cho kết cục đó.

“Giờ thì các ngài đã biết Stopes là ai, nhưng hãy nhớ rằng tại lúc ấy tôi đã không biết được chút gì về quá khứ trước đây. Tôi quả biết được từ việc hỏi han quản gia của DeWitt là Jorgens, rằng cách đây không lâu có một vị khách bí ẩn từ Nam Mỹ đến nghỉ tại nhà DeWitt - có một manh mối, ngài thanh tra ạ, ở đó ngài phải thú nhận là đã bị qua mắt… Đó dường như là một dấu vết hữu ích, và tôi lặng lẽ tìm kiếm trong số những viên lãnh sự Nam Mỹ, cuối cùng khám phá ra câu chuyện từ Juan Ajos, lãnh sự Uruguay tại New York. Câu chuyện ấy giờ thì các ngài đã biết cả, nhưng vào lần đầu tiên ấy với tôi nó đã kết nối Longstreet và DeWitt vào hai người khác, đấy là Martin Stopes, người tù vượt ngục, và William Crockett, người hóa ra là đối tác thứ ba thầm lặng của liên doanh DeWitt & Longstreet. Trong hai người này, Stopes hẳn phải là Wood-Thompson. Động cơ của hắn không lấy gì làm khó hiểu - trả thù, và được thôi thúc như nhau với cả ba người kia. Vậy là, tôi kết luận, Stopes chính là người soát vé; và Crockett là người đàn ông bị giết ở bến phà - kẻ mà Stopes đã chuẩn bị cho việc giết hại từ suốt năm năm qua bằng cách giả trang mái tóc đỏ và vết sẹo nơi bắp chân của gã để mà, khi xác Crockett được tìm thấy, mọi dấu hiệu nhận dạng nào khác đều không còn do tình trạng bị nghiến nát của cái xác và người ta sẽ cho đấy là xác của Wood.

“Lý do hồi ấy tôi yêu cầu các báo cáo từ Cục điều tra mất tích - sau khi tôi luận ra cái xác ấy không phải là của Wood và một thời gian dài trước khi tôi nghe được câu chuyện Ajos kể - đấy là Wood đã giết một kẻ chưa biết là ai, và những báo cáo này có thể sẽ cho manh mối gì đấy về nhân dạng kẻ vô danh đó. Tuy nhiên, sau khi đã nghe chuyện kể của Ajos thì tôi biết người đó là Crockett. Kẻ vô danh này ắt không thể chỉ là một công cụ con người đơn thuần không liên quan gì đến những vụ án mạng kia và đơn giản chỉ dùng để tráo xác cho Wood, vì suốt năm năm qua gã ít nhất đã chuẩn bị bằng cách giả trang vết sẹo và mái tóc của người đàn ông đó. Nhưng bằng cách nào Stopes dẫn dụ được Crockett đến vị trí đã được sắp đặt để giết chết thì tôi không biết và đến giờ vẫn chưa biết. Stopes có giải thích không hở ngài Bruno?”

“Có,” ngài công tố viên khàn khàn cất tiếng. “Stopes không hề gửi cho Crockett bất cứ lá thư đe dọa nào vì lý do rất rõ là y vừa muốn để Crockett không biết gì về bút tích của mình, vừa giữ cho mình không bị nghi ngờ; và y giả danh là một kế toán viên bị sa thải của DeWitt & Longstreet để liên lạc với Crockett, viết thư nói rằng mặc dù gã nhận đều đặn mỗi năm hai lần những tờ séc giá trị lớn từ hai người kia, thực chất gã vẫn bị lừa một số tiền lớn từ khoản chia một phần ba lãi ròng của công ty mà gã có quyền được hưởng. Phần vì Crockett, ngay từ khi cả ba chân ướt chân ráo về Mỹ, đã khăng khăng đòi chung phần vào bất cứ thành công nào hai gã kia đạt được; phần vì muốn bịt miệng không để thứ người liều mạng, thô bỉ, vô trách nhiệm như Crockett xì ra âm mưu hại người ở Uruguay, Longstreet và DeWitt đã nhất trí để gã đầu tư một phần ba vốn mở công ty và ăn chia một phần ba lợi nhuận. Tôi hiểu rằng nhiều năm nay chỉ DeWitt là kiên quyết ngăn không để Longstreet nuốt lời. Dù gì đi nữa, lá thư tiếp tục nói rằng y, kế toán viên, đang nắm bằng chứng về sự lừa đảo này và sẵn sàng bán bằng chứng này cho Crockett nếu gã chịu đến New York. Y úp mở rằng có chuyện kinh khủng sắp xảy ra - rõ ràng để Crockett tin rằng hai gã đồng bạn đang trù tính phản bội gã về tội giết người trong quá khứ. Y bảo Crockett khi đến nơi thì xem trên cột rao vặt nhắn tin đăng trên tờ Thời Báo. Crockett đã bị cắn câu, gã đến New York tâm trạng vừa giận lại vừa sợ, tìm thấy lời nhắn để lại trên tờ Thời Báo - nội dung bảo gã âm thầm trả phòng khách sạn và gặp tác giả lá thư ở chuyến phà sang Weehawken lúc 10 giờ 40, boong tầng thượng, mạn bắc, lưu ý nấp kín vào chỗ. Vụ án mạng tất nhiên đã xảy ra ở đó.”

“Không chỉ vậy,” thanh tra Thumm xen vào, “Stopes, con quỷ man trá, còn kể chúng tôi cách y lừa DeWitt. Vì Stopes là người gọi điện thoại cho DeWitt vào sáng thứ Tư hôm ấy, mạo xưng là Crockett, và buộc DeWitt phải có mặt tại boong tầng dưới của chuyến phà 10 giờ 40 tối với lý do có chuyện gấp, kèm theo đó là những lời đe dọa. Y cảnh báo DeWitt phải ‘cẩn thận’ không để ai trông thấy - mục đích tránh khỏi nguy cơ DeWitt và Crockett chạm mặt nhau, do y cũng đã dặn dò Crockett điều tương tự.”

“Quả là thú vị,” Lane hạ giọng, “vì điều này làm sáng tỏ vì sao DeWitt không chịu nói ra gã có cuộc hẹn với ai; gã phải câm lặng về Crockett vì sợ rằng, Crockett trong cơn hốt hoảng sẽ làm lộ ra những chi tiết xấu xa của cái quá khứ ở Uruguay; và Stopes biết rõ điều này - một chi tiết khôn ngoan đối với hàm ý của y về DeWitt.”

“Thành thực mà nói,” Lane trầm ngâm nói tiếp, “tôi luôn phải giật mình vì sự đa tài và táo bạo tột cùng của người tên Stopes này. Nên nhớ rằng đây không phải crimes passionels, là những vụ phạm tội thực hiện một cách vội vàng và hoàn toàn bị chi phối vì cảm xúc; chúng là những hành động phạm tội lạnh lùng và có tính toán, được thúc đẩy bằng một động cơ đã hun đúc qua nhiều năm vật vã.

“Người đàn ông này sở hữu những khả năng to lớn. Hãy xem xét y đã phải làm gì trong hành động phạm tội thứ nhì ấy. Y phải gặp Crockett trên boong tầng thượng dưới cái lốt là Wood; lừa gã đến gần ngăn buồng ấy, quật gã bằng vật cùn trong túi xách; đổi y phục bằng cách lấy áo quần trên người mặc cho Crockett, rồi lấy từ túi xách áo quần mới - của Nixon - để mặc vào; thủ tiêu y phục của Crockett xuống sông bằng vật nặng mang theo; chờ đến khi chiếc Mohawk vào bến Weehawken mới lẳng cái thây bất tỉnh của Crockett qua mạn tàu, để nó bị chà và nghiến vào hàng chân cầu cặp mạn; hối hả xuống boong tầng dưới, âm thầm không ai biết, dưới lốt là Nixon, rồi nhập vào đám người nháo nhác kêu la ‘Có người rơi xuống nước!’; tất cả những hành động này đều là tác phẩm của một kẻ can đảm, người biết suy nghĩ theo thứ lớp và là kẻ trù liệu khôn ngoan. Tất nhiên, công việc thay đổi y trang đầy mong manh rủi ro ấy đã được y đơn giản hóa bằng cách ở liền bốn chuyến phà, đi qua rồi đi lại ở trên sông; để phạm tội, có lẽ y dùng ba chuyến đầu cho việc đánh Crockett bất tỉnh, thay y phục, quăng thây Crockett, vân vân; kết hợp hoàn cảnh đó là vào đêm khuya tăm tối và mù sương; cùng thực tế rằng trên con phà phố Thứ Bốn Mươi Hai - Weehawken ấy, hành khách hiếm khi leo lên boong tầng thượng vì chỉ là chuyến phà qua sông ngắn ngủi, cùng thực tế rằng y có thể hành động chậm bao nhiêu tùy ý, vì nếu cần y có thể ở qua tám chuyến phà, mà cảnh sát thì vẫn cứ đang chờ đợi ở bờ bên phía Weehawken.”

Lane sờ lên cổ mình một cách giễu cợt. “Tôi tự thấy mình lỗi thời quá đỗi; có một thời gian tôi có thể trình diễn hùng biện liên tục trong nhiều giờ mà không cảm thấy ấn tượng… Để tiếp tục lại với việc lập luận.” Một cách vắn tắt, Lane kể về những điều đã phát hiện ở Tây Englewood, vào cái đêm xảy ra vụ án mạng của DeWitt, một trong những lá thư đe dọa Stopes đã gửi DeWitt trước đó vài tháng. Lane lấy ra lá thư trao cho các vị khách.

“Dĩ nhiên,” ông nói, “tôi đã giải quyết vụ án trước khi tìm thấy lá thư này; nếu không tìm thấy nó tôi vẫn tìm ra đáp án cho mình, vì tôi vốn đã biết Wood và Thompson chỉ là một. Nhưng xét từ một quan điểm pháp lý nào đấy thì lá thư này là vật quan trọng. Chỉ nhìn qua là đủ để thấy rằng nét chữ của Stopes là giống hệt của Wood, mà tôi nhớ đã xem từ nội dung và chữ ký của Wood viết trên tấm thẻ nhân viên xe điện của gã. Ở đây tôi cần nhắc lại việc chữ viết trùng nhau không hẳn là nhất thiết về mặt giải pháp suy luận; nó chỉ là sự củng cố về mặt pháp lý mà thôi.

“Nhưng giờ thì tôi phải thỏa mãn khía cạnh của công tố viên đối với đáp án của mình, vì biết Wood, Stopes và Thompson đều cùng là một người là một chuyện, nhưng chứng minh điều này thì lại là chuyện khác. Vì vậy tôi đã yêu cầu Juan Ajos đánh điện tín về chính phủ ông ấy yêu cầu gửi ảnh phóng lớn dấu tay của Stopes. Lúc Thompson bị bắt, việc đầu tiên tôi bảo ngài Thanh tra là lấy ngay dấu tay của gã. Ngài đã làm vậy, và dấu tay của Thompson khớp một cách chính xác với dấu tay Stopes trên ảnh phóng lớn. Vậy là tôi có bằng chứng pháp lý rằng Thompson là Stopes, và căn cứ vào chữ viết giống nhau, Wood cũng là Stopes. Như vậy, bằng kết luận mang tính đại số sơ đẳng, Thompson cũng là Wood. Vụ án kết thúc.”

Ông lại hào hứng nói tiếp. “Tuy nhiên, vẫn còn lại một số vấn đề chưa sáng tỏ. Stopes đã sắp đặt ba thân phận Wood, Nixon và Thompson của mình ra sao để y có thể khiến chúng hoàn toàn biệt lập lẫn nhau? Thú thực ở mức độ nào đấy tôi vẫn mơ hồ về điểm này.”

“Stopes cũng đã làm sáng tỏ điểm ấy,” vị công tố viên nói. “Thật ra, nó không khó như vẻ bề ngoài của nó. Là Wood, y làm việc từ 2 giờ 30 chiều đến 10 giờ 30 tối, và là Thompson thì từ 12 giờ khuya đến 1 giờ 40 sáng theo ca làm việc đường sắt tuyến ngắn, một công việc đặc biệt. Trong vai Wood y sống ở Weehawken để tiện thay đổi y trang và biến thành Thompson trước khi vào ca trên tàu hỏa; trong vai Thompson y sống ở Tây Haverstraw, là điểm dừng cuối cùng của tuyến tàu chạy. Hết ca trực y về ngủ lại ở đấy rồi lại biến thành Wood trở về Weehawken bằng chuyến tàu cuối buổi sáng. Thân phận Nixon thì linh hoạt, và y hiếm khi dùng đến vai này. Về cái đêm của vụ án mạng trên phà, Stopes chọn đúng thời gian ấy vì đó là đêm y được nghỉ trực trong thân phận Thompson! Chỉ đơn giản có thế… Thêm vào đó, cái công việc hóa trang này cũng không quá phức tạp gì cho lắm. Y bị hói, ngài cũng biết rồi. Khi là Wood thì y đội tóc giả màu đỏ. Khi là Thompson thì y trở về chính là y. Thân phận Wood thì đây đó có thêm sơ vài chi tiết hoàn thiện… Nhưng tự ngài biết nó dễ mức nào rồi. Khi khoác áo quần giả trang Nixon, y có thêm nhiều thời gian và có thể làm điều y muốn. Như tôi vừa nói, chỉ khi nào thật cần thiết y mới dùng đến thân phận Nixon của y.”

“Thế Stopes có giải thích,” Lane tò mò, “làm thế nào y lại xoay xở có được điếu xì gà mà y lén bỏ vào xác của Crockett để đổ tội cho DeWitt vậy?”

“Gã đó,” Thumm càu nhàu, “đã giải thích tất cả. Không kể cách ngài đã giải quyết những vụ phạm tội quái quỷ thế này, đến giờ tôi vẫn khó có thể tin được. Y nói không lâu trước cái chết của Longstreet, DeWitt có cho y - ở thân phận là Thompson, trưởng tàu soát vé trên tàu lửa - một điếu xì gà. Cái cách mà những kẻ lắm tiền này hay làm ấy mà. Đâu nghĩa lý gì với bọn họ - họ chỉ tiện tay đưa ra, điếu xì gà một đô cũng thế thôi. Thế là Stopes đã mang về để dành.”

“Tất nhiên là,” Bruno nói thêm, “có nhiều điều Stopes không lý giải được. Chẳng hạn, nguyên do những cãi vã triền miên giữa Longstreet và DeWitt.”

“Tôi thiết nghĩ,” Lane nói, “lý giải xác đáng về việc này thì không khó gì. DeWitt là một nhân vật khá tăm tiếng nhưng trên bộ giáp đạo đức của gã lại dính phải một tỳ vết. Thời trai trẻ gã có lẽ đã bị Longstreet chi phối, và trở nên hối tiếc về sự thông đồng hãm hại Stopes mà gã bị ép buộc tham gia vào. Tôi đoán DeWitt nhất quyết tìm mọi cách tuyệt giao với Longstreet, kể cả trong làm ăn lẫn quan hệ xã giao; và rằng Longstreet - có lẽ vì thói xấu xa của kẻ vốn mang tâm độc hiểm, và bởi vì DeWitt là nguồn thu nhập đáng tin cậy - đã không chịu như vậy, và thường xuyên trưng cái âm mưu thông đồng đáng buồn ấy ra trước mặt DeWitt. Tôi không lấy làm lạ nếu Longstreet tỏ ý đe dọa tiết lộ chuyện cũ ấy với Jeanne, cô con gái được cha rất mực cưng chiều. Dẫu sao thì điều này rõ ràng lý giải về sự bất hòa giữa hai gã này, về việc DeWitt phải bỏ tiền cho sự chơi bời tiêu pha của Longstreet, và về việc DeWitt phải im lặng những lúc bị Longstreet mạ lỵ ra mặt.”

“Đúng vậy,” Bruno thừa nhận.

“Đối với Crockett,” Lane tiếp tục, “những khác biệt tinh tế về sự sắp đặt của Stopes tự nó đã rõ ràng. Crockett hẳn là kẻ đã giết chết vợ của Stopes; vì với Crockett, Stopes đã dành cho gã một cái chết khủng khiếp nhất trong ba cái chết mặc dù quả thực điều cần thiết với Stopes là sắp đặt cho gương mặt của Crockett bị nghiến nát để làm ra vẻ rằng, cái xác là của chính y, hay nói khác đi là của Wood.”

“Ngài Lane này,” Bruno trầm ngâm, “còn nhớ lúc mấy tấm ảnh phóng lớn gửi đến lâu đài Hamlet chứ? Đấy là lần đầu tiên tôi nghe đến cái tên Martin Stopes, và tôi hỏi ngài là gã đàn ông ấy từ chỗ quái nào chui ra vậy. Ngài bảo Martin Stopes là kẻ chịu trách nhiệm về việc đã loại bỏ Longstreet, Wood và DeWitt, hoặc cái gì đấy đại loại thế. Nào, chẳng phải lúc ấy ngài đã đánh lạc hướng tôi khi ngài cũng bao gồm cả Wood vào đấy sao? Thế quái nào mà Stopes lại có thể giết Wood khi mà chính y là Wood?”

Lane khúc khích cười. “Ngài thanh tra thân mến, tôi đâu có nói Stopes đã giết Wood. Tôi nói y là kẻ chịu trách nhiệm về việc đã đưa Wood ra khỏi thế gian này, mà quả đúng thế rồi còn gì. Bằng việc giết Crockett và khoác lên gã bộ áo quần của Wood, y đã vĩnh viễn tự tống khứ cái thân phận Wood ra khỏi chính mình và thế giới này đấy thôi.”

Ba người cùng ngồi trong yên lặng, ai nấy đuổi theo những ý nghĩ riêng của mình. Ngọn lửa cháy cao hơn và Bruno thấy đôi mắt Lane nhắm lại thanh thản. Bất chợt bàn tay to lớn của Thumm vỗ đùi đánh đét khiến Bruno giật mình. “Chúa ơi!” Viên thanh tra kêu lên. Ông nghiêng người sang đập vào vai Lane; Lane mở mắt. “Tôi biết ngài đã bỏ sót gì đấy, ngài Lane à. Đúng thế! Có một việc tôi vẫn không thông và ngài chưa lý giải chỗ này, cái trò quỷ thuật trên mấy ngón tay của DeWitt ấy. Ngài vừa bảo mình không bao giờ tin chuyện những ngón tay bắt tréo vào nhau ấy dính dấp gì đến trò mê tín. Hừ, thế chúng nghĩa là cái gì?”

“Tôi mới thật bất cẩn làm sao,” Lane khẽ nói. “Nói chí lý, ngài thanh tra ạ, và tôi mừng là được ngài nhắc chuyện này. Quả là chí lý. Nói gì thì nói, đấy là yếu tố gây tò mò nhất của toàn bộ vụ việc.” Gương mặt trông nghiêng cân đối của ông toát lên vẻ tinh nhanh, và giọng của ông trở nên sôi nổi. “Mãi đến lúc tôi luận ra rằng Thompson đã cố sát DeWitt, tôi tuyệt không có lý giải riêng nào về những ngón tay bắt tréo lên nhau ấy, ngoại trừ một điều tôi chắc chắn: rằng DeWitt, nhớ đến câu chuyện của tôi về cái khoảnh khắc lóe sáng cuối cùng trong đời, đã chủ ý lưu lại dấu hiệu để làm manh mối về nhân dạng của tên sát nhân đã giết gã. Vì vậy cái dấu hiệu ấy chắc hẳn là điều gì đấy liên quan đến Thompson, bằng không thì cái cấu trúc logic bé nhỏ hay hay ấy của tôi xem như phá sản. Vả lại cũng không đợi đến lúc tự thỏa mãn chính mình bằng cách tìm ra ý nghĩa thực của dấu hiệu ấy tôi mới sắp xếp chuyện bắt giữ Thompson.”

Ông đứng lên khỏi ghế bành bằng động tác đặc trưng của mình - nhanh nhẹn, nhẹ nhàng, không lộ vẻ vận sức rõ rệt về đường cơ thớ thịt. Hai vị khách ngước mắt nhìn ông. “Nhưng trước khi giải thích, tôi muốn được biết liệu Stopes có kể lại cụ thể những gì xảy ra giữa y với DeWitt trước khi y nổ phát súng kết liễu cuộc đời của DeWitt chăng.”

“A,” Bruno nói, “lời thú nhận của y đã giải thích việc ấy khá rõ. Xem ra y đã để mắt theo dõi kể từ giây phút nhóm người của DeWitt đặt chân lên tàu. Lưu ý rằng, y đang tìm kiếm một cơ hội để ra tay khi DeWitt chỉ có một mình. Nếu cần, y thậm chí có thể đợi cả năm cho được cái hoàn cảnh như thế, để y có thể sát hại DeWitt mà không ai hay biết. Nhưng khi nhận ra Collins trở lại cùng DeWitt và thoáng thấy Collins, từ cánh cửa toa xe trước mặt, chuồn ra khỏi đoàn tàu, y biết rằng cơ hội của mình đã đến. Thế rồi y đi qua toa ngài đang ngồi rồi lập tức nhận ra DeWitt đang ngồi nơi ta tìm thấy gã, bên trong toa tàu tranh tối tranh sáng ấy. Y cứ vậy đi vào. DeWitt nhìn lên, thấy đấy là người soát vé liền cứ vậy rút cuốn sổ vé mới của gã ra; nhưng phải lúc ngàn năm có một ấy, Thompson đã không chú ý DeWitt rút cuốn sổ vé từ túi nào. Vả lại, nhận ra đây là lần ra tay trả thù cú chót, Thompson rút súng và, trước đôi mắt hoảng sợ của DeWitt, y hiện nguyên hình là chính mình - Martin Stopes. Y hả hê, hành hạ chửi rủa DeWitt, nói với gã rằng y sắp phải làm gì, giữa lúc ấy thì DeWitt - theo lời Stopes kể lại - chừng như hút hồn vào chiếc kìm bấm lỗ mạ kền đeo lủng lẳng bằng sợi dây da trên chỗ thắt lưng của Stopes (hoặc Thompson). DeWitt đã trở nên trắng bệch như xác chết, ngồi yên không cựa quậy, miệng ngậm tăm (hẳn gã đang suy nghĩ bằng tốc độ ánh sáng và để lại cái dấu hiệu vào khoảnh khắc ấy), thế rồi Thompson, giữa cơn cuồng nộ bùng phát không thể kiểm soát, đã siết cò. Sự co thắt của cơn giận điên cuồng trôi qua cũng nhanh chóng như khi nó kéo đến, và y nhận ra rằng trong tư thế cúi gục đầu về phía trước, DeWitt vẫn còn nắm cuốn sổ vé trong bàn tay phải của gã. Y lập tức quyết định là không thể lấy cuốn sổ vé ấy đi, nhưng y cũng không muốn để nó lại trong tay DeWitt; vậy là y lục tìm các túi áo trên người DeWitt rồi bỏ cuốn sổ mới ấy vào chung với cuốn sổ cũ ở túi ngực bên trong. Stopes quả quyết y đã không mảy may chú ý gì rằng DeWitt đã bắt tréo hai ngón tay của gã lại với nhau. Y rất đỗi kinh ngạc khi điều này được khám phá sau đó, sau khi án mạng đã xảy ra, và mãi đến lúc này y cũng bối rối như bọn tôi đây khi giải thích về chuyện này. Dù sao thì, tại Bogota, y mở cánh cửa của toa tàu tối lờ mờ ấy, nhảy ra ngoài, đóng cửa lại, dọc sân ga chạy tới rồi nhảy lên toa khách ở phía trước. Khẩu súng ngắn thì y đã sắp đặt ném vào con suối đúng như ngài vừa giải thích, và cùng những lý do giống như vậy.”

“Cảm ơn,” Lane trang trọng nói. Hình dáng cao lớn của ông in bóng đen nổi bật trên nền đỏ vằn vện hắt ra từ ánh lửa lò sưởi. “Vậy thì chúng ta cùng quay lại vấn đề đầy lôi cuốn của cái dấu hiệu ấy. Thompson và những ngón tay ấy, những ngón tay ấy và Thompson… Có gì quan hệ ở đây, tôi tự hỏi mình? Mãi cho đến khi nhớ lại một tình tiết ý nghĩa nhất tôi mới chợt thấy ra, trong tia chớp lòa của ánh sáng, câu trả lời khả dĩ duy nhất cho vấn đề đáng bận tâm này…” Lane lặng lẽ tiếp. “Ngoại trừ sự giải nghĩa mắt quỷ dữ, vốn là chuyện hoàn toàn vô lý, những ngón tay bắt tréo ấy còn có thể mang ý nghĩa gì khác? Nhất là, liên quan đến Thompson?

“Cho đến lúc này tôi đã gạt bỏ phương pháp tư duy mò mẫm về mối quan hệ này và áp dụng một cách tiếp cận hoàn toàn khác. Cái ý nghĩa thực thể của hai ngón tay xoắn vào nhau là gì; nghĩa là, những ngón tay ấy, bằng vị trí lạ lùng của chúng, có làm cho gần giống với một ký hiệu hình học nào đó hay không? Một ý nghĩ thoáng qua đã lộ ra một khám phá thú vị; ký hiệu hình học ấy làm bằng những ngón tay bắt tréo rõ ràng giống nhất là chữ X!”

Ông dừng lại một lát, và sự hiểu ra đang xuất hiện rõ dần trên vẻ mặt của các vị khách. Thumm bắt tréo hai ngón tay của mình vào nhau rồi gật gù.

“Nhưng X,” ngài Drury Lane cất giọng sang sảng tiếp, “X là ký hiệu chung chỉ số lượng chưa biết. Vậy là tôi lại sai. Vì rõ ràng DeWitt không hơi đâu mà bỏ lại sau lưng mình một câu đố!… Nhưng X, X… tôi không quên nó được, mơ hồ cảm thấy vì lẽ gì đấy tôi sắp tìm ra ý nghĩa của nó. Vậy là tôi kiểm nghiệm X với Thompson. Và, thưa các ngài, bức màn đã rơi ra khỏi đôi mắt chết tội nghiệp ấy, và tôi nhớ có một đặc điểm của Thompson, người soát vé, một đặc điểm rõ ràng và chắc chắn là một dấu nhận dạng của Thompson - một đặc điểm riêng biệt của người này chẳng khác gì dấu vân tay của gã vậy.”

Bruno và Thumm ngây người nhìn nhau. Ngài công tố viên nhăn tít đôi chân mày; những ngón tay của thanh tra Thumm thì hết mở ra lại tréo vào một cách tuyệt vọng. Ông lắc đầu. “Tôi bỏ cuộc vậy,” ông nói vẻ chán ngán. “Tôi đoán mình cũng chả sáng dạ gì lắm. Nó là cái gì thế, ngài Lane?”

Thay vì trả lời Lane lại lục tìm trong ví của mình, lần này ông lấy ra một mẩu giấy, ông nhìn nó bằng ánh mắt đầy hảo cảm, rồi bước nhanh ra phía trước lò sưởi đặt mảnh giấy vào tay Bruno. Hai vị khách va phải đầu vào nhau khi họ cùng cúi xuống nhìn mảnh giấy.

“Chỉ là một trong những tấm vé xé mảnh răng cưa bán trên tàu qua tay người soát vé Edward Thompson, thưa các ngài,” Drury Lane nói khẽ, “vào lúc mà ngài thanh tra thân mến của tôi đây trả tiền vé cho chúng ta trước khi hắn ta bị bắt.”

Và giữa lúc Lane vừa quay lưng trở về chỗ lò sưởi của mình vừa hít lấy mùi thơm của gỗ từ những cuộn khói bay lên, Thumm và Bruno chằm chằm nhìn vào cái hiện vật cuối cùng.

Chỗ hai chấm đen trên tờ giấy, bên cạnh dòng chữ in Weehawken và, thấp hơn về phía dưới, Tây Englewood - là lỗ bấm sắc nét, gọn gàng từ chiếc kìm bấm lỗ, dấu gạch chéo của gã soát vé Edward Thompson - dấu chữ X.

HẠ MÀN.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 10.10.2018, 16:32
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35386
Được thanks: 5254 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Trinh thám] Tấn bi kịch X - Ellery Queen - Điểm: 10
Chú thích


1.     Kiến trúc Elizabeth: Phong cách kiến trúc dưới thời Nữ hoàng Elizabeth I (1558 -1603), chịu ảnh hưởng của kiến trúc Phục hưng. Những tòa nhà xây dựng theo kiến trúc Elizabeth thường to lớn, với ống khói vuông vắn, sân vườn rộng, thoáng tầm nhìn, cửa sổ và nội thất chủ yếu bằng gỗ. Mô típ trang trí nổi bật nhất của phong cách kiến trúc này là họa tiết đan xen được chạm khắc đối xứng. (Trong tác phẩm gốc không có chú thích, mọi chú thích trong cuốn sách này đều do Ban Biên tập Huy Hoàng bookstore thực hiện).

2.     Nhân vật trong truyện “Hiệp sĩ xứ Connecticut trong triều đại vua Arthur” (1889) của Mark Twain. Trong truyện, một anh kỹ sư tình cờ du hành ngược thời gian về thời đại vua Authur vào thế kỉ VI. Ở đây nhân vật ám chỉ cảnh vật xung quanh rất cổ kính, gợi lại thời xa xưa.

3.     Hamlet: Một nhân vật trong vở kịch cùng tên của Shakespeare (1599-1602).

4.     Bộ (foot): một bộ Anh bằng 0,304m, 20 bộ bằng khoảng hơn 6m.

5.     Vallhalla: cung điện của những người tử trận trong thần thoại Bắc Âu, được vẽ theo trí tượng tượng của nhiều họa sĩ.

6.     Falstaff: Sir John Falstaff là nhân vật hư cấu trong ba vở kịch của đại văn hào Shakespeare (1564-1616). Trong vở Henry IV phần 1 và phần 2, ông là bạn đồng hành của hoàng tử Hal, sau này là vua Henry V.

7.     Quacey: đặt theo tên Quasimodo, nhân vật trong tiểu thuyết “Thằng gù nhà thờ Đức bà” (1831) của nhà văn Victo Huygo.

8.     Edgar Allan Poe (1809 - 1849): Là nhà văn, nhà viết kịch, nhà phê bình và nhà thơ người Mỹ.

9.     Mercutio: Là nhân vật hư cấu trong vở bi kịch Romeo và Juliet (1579) của Shakespeare.

10.     Modjeska: Helena Modjeska (1840 - 1909) là nữ diễn viên lừng danh chuyên về các vai diễn bi và các vai trong kịch của Shakespeare.

11.     Edwin Booth: Edwin Thomas Booth (1833 - 1893) là nam diễn viên người Mỹ nổi tiếng vào thế kỷ XIX, người đi lưu diễn khắp nước Mỹ và nhiều thủ đô ở các nước châu Âu để biểu diễn các vở kịch của Shakespeare.

12.     Ada Rehan (1859 - 1916): Là nữ diễn viên người Mỹ gốc Ai Len.

13.     Macbeth: Quý bà Macbeth là nhân vật trong vở kịch cùng tên của Shakespeare (1603 - 1607).

14.     Nguyên văn “phòng suite”: phòng sang trọng nhất trong một khách sạn.

15.     Frank Merriwell: Là nhân vật hiệp nghĩa hư cấu trong loạt truyện dài và những truyện ngắn của Gilbert Patten.

16.     Sốt-tô-vô: Sotto voce (tiếng Ý), nghĩa là “nói nhỏ giọng”.

17.     Di-a-lơ: Diable (tiếng Pháp), nghĩa là “quỷ bắt nó đi”.

18.     Nút bần: nút chai (rượu vang), thường được làm từ vỏ cây sồi và được xử lý qua nhiều công đoạn, mất nhiều thời gian.

19.     Inch: đơn vị đo, bằng 2,54cm.

20.     Phố Wall (Wall Street) chỉ một khu phố ở New York, và nhiều sàn giao dịch lớn của Mỹ nằm ở khu phố này.

21.     Il Popolo Romano (tiếng Ý): Nghĩa là “Người La Mã”.

22.     Imperiale là người luôn tỏ ra cầu kì trau chuốt nên nói năng cũng dài dòng, dùng ngôn từ ra vẻ văn hoa.

23.     Madre de Dios! (tiếng Tây Ban Nha): Nghĩa là “Lạy mẹ đồng trinh!”

24.     Jack Dempsey: William Harrison “Jack” Dempsey (1895 -1983) là vận động viên đấm bốc chuyên nghiệp của Mỹ, đã trở thành một biểu tượng văn hóa của thập niên 1920.

25.     Huân tước Fauntleroy: Là danh hiệu của một nhân vật trong tiểu thuyết cùng tên (Lord Fauntleroy) của kịch tác gia kiêm nhà văn Pháp E. H. Burnett (1849 - 1924).

26.     Ê-tab-lích-sờ-măng: Établissement (tiếng Pháp) nghĩa là “cơ sở, tổ chức”.

27.     Broadway: Chỉ đại lộ Broadway, khu Manhattan, thành phố New York.

28.     Castilla: Vương quốc Castilla là một vương quốc rộng lớn và hùng mạnh trên bán đảo Iberia thời Trung cổ.

29.     Ma-đơ-rê: Madre (tiếng Tây Ban Nha), nghĩa là “bà mẹ”.

30.     Pound: đơn vị đo, bằng 0,454kg.

31.     Giăng-đam: Gendarme (tiếng Pháp), nghĩa là “sen đầm”.

32.     Napoléon: Napoléon Bonaparte (1769 - 1821) là Hoàng đế nước Pháp từ năm 1804 đến năm 1815, có đầu óc thiên tài, tham vong lớn, có vai trò quan trọng trong nền chính trị và quân sự Pháp, được cho là có vóc dáng thấp bé.

33.     Brobdingnag: tên miền đất của những người khổng lồ trong truyện giả tưởng “Gulliver du ký” của nhà văn Johnathan Swift.

34.     Nein (tiếng Đức): Nghĩa là “Không”.

35.     Ja (tiếng Đức): Nghĩa là “Rõ!”

36.     Brutus: Marcus Junius Brutus là chính trị gia dưới thời La Mã. Trong vở kịch Tấn thảm kịch của Julius Ceasar (The Tragedie of Julius Ceasar) của Shakespeare, ông bị thuyết phục phản bội và sau đó ám sát Ceasar. Trong vở này, Shakespeare viết cho Brutus nhiều thoại dài, thể hiện sự đấu tranh tư tưởng trước khi quyết định tham gia ám sát Ceasar.

37.     Paracelsus (1493 - 1541): Là bác sĩ, nhà thực vật học, nhà giả kim thuật, nhà chiêm tinh học người Đức gốc Thụy Sĩ.

38.     Ba mụ phù thủy: Là các nhân vật trong vở kịch Macbeth (c.1603 - 1607) của Shakespeare.

39.     Svengali: Là nhà thôi miên hiểm ác, nhân vật hư cấu trong tiểu thuyết Chiếc nón nỉ (Trilby, 1894) của George du Maurier (1834-1896).

40.     Mesmer: Franz Anton Mesmer (1734 - 1815) là thầy thuốc người Áo (có tài liệu ghi là người Đức) chủ xướng chữa bệnh bằng liệu pháp thôi miên.

41.     Merlin: Là một pháp sư huyền thoại nổi tiếng trong truyền thuyết vua Arthur.

42.     Minim: Là đơn vị đong chất lỏng bằng 1/6 dram (1 dram = 1,772 g).

43.     Caliban: Là nhân vật nô lệ có gương mặt xấu xí như quái vật trong vở kịch Giông tố (The Tempest, 1611) của Shakespeare.

44.     Belasco: David Belasco (1853 - 1931) là nhà sản xuất kịch sân khấu, người tổ chức biểu diễn, đạo diễn và kịch tác gia người Mỹ.

45.     Birnam Wood: Là khu rừng gần Birnam tại Perthshire, Scotland. Trong vở kịch Macbeth của Shakespeare, Macbeth được nói rằng chàng không bao giờ bại trận trừ khi rừng Birnam chạy đến vùng Dunsinane. Sau này, quân địch đi qua rừng Birnam đã chặt mỗi người một cành lớn để ngụy trang nên khi đoàn quân di chuyển nó trông giống như cả khu rừng đang đi. Macbeth thua trận và bị hạ sát.

46.     Kiến trúc Colonial: kiến trúc được lấy cảm hứng từ những vùng đất thuộc địa xa xôi

47.     Ménage (tiếng Pháp): Nghĩa là “gia đình”.

48.     Othello: Là nhân vật trong vở bi kịch cùng tên được William Shakespeare viết vào khoảng năm 1603. Othello cả ghen và có nước da đen nổi tiếng

49.     Comprendre (tiếng Pháp): Nghĩa là “Hiểu rồi chứ?”

50.     Nguyên văn: ipso facto (be the facitseli) tiếng La tinh, nghĩa là bởi tự bản thân điều đó.

51.     Quý bà xứ Sévigné: Tên thật là Marie de Rabutin Chantal, Hầu tước xứ Sévigné (1626 - 1696) là quý tộc người Pháp, nổi tiếng về giá trị văn chương của những bức thư bà viết, phần lớn gửi cho con gái.

52.     Dân cư tứ xứ đa ngôn ngữ: Nguyên văn: những người lính đánh thuê đa ngôn ngữ.

53.     Richard Burbage (1567 - 1619): Là kịch sĩ sân khấu và là chủ nhà hát người Anh.

54.     Sự thể là như vậy. Nguyên văn tiếng La tinh: Quod erat et cetera.

55.     Kozakủ (tiếng Nga cổ): Chỉ người lang thang, người Cô-zắc.

56.     Huân tước Gower: Lord Ronald Charles Sutherland Leveson Gower (1845 - 1916), được biết đến với cái tên Huân tước Ronald Gower, là chính trị gia, điêu khắc gia và văn sĩ người Scotland.

57.     Kiến trúc Rococo là một phong cách nghệ thuật và thiết kế nội thất của Pháp thế kỷ 18, đặc trưng là đường cong trang trí dạng vỏ và những đường nét họa tiết trang trí cầu kỳ, nội thất là các vật dụng lộng lẫy, vật phẩm điêu khắc nhỏ, gương trang trí, thảm thêu, tranh tường…, hay được sử dụng trong các nhà hát, cung điện… ở châu Âu.

58.     Lion nghĩa là sư tử (tiếng Anh).

59.     Rosalind: Là nhân vật nữ chính của vở kịch As You Like It (1600) của đại văn hào Shakespeare.

60.     Thi sĩ đạo thơ: Thi sĩ đạo thơ ở đây chỉ Ambrose Philips (1674 - 1749) là nhà thơ và chính khách người Anh. Mối quan hệ giữa Pope và Philips được mô tả là mỗi hiềm khích dai dẳng khôn nguôi.

61.     Pope: Alexander Pope (1688 - 1744) là nhà thơ Anh thế kỷ XVIII.

62.     Charon: Theo Thần thoại Hy Lạp, Charon là người lái đò đưa linh hồn người mới chết qua sông Styx và sông Acheron - là những con sông ngăn cách giữa dương gian và âm phủ.

63.     Pahjnutius: Là tên một vị thánh tử vì đạo của Giáo hội Thiên chúa.

64.     Duplex apartment: Căn hộ hai tầng, căn hộ được thiết kế có cầu thang ngay bên trong căn hộ dẫn lên gác trên

65.     Crême de cocoa (tiếng Pháp): Nghĩa là “Rượu mùi cacao”.

66.     Anisette (tiếng Pháp): Nghĩa là “Rượu hương vị hoa hồi”.

67.     Bei so grosser Gefahr kommt die leichteste Hoffnung in Anschlag (tiếng Đức); Nghĩa là “Giữa nghịch cảnh đừng buông xuôi bất cứ hy vọng nào dù nhỏ nhất.”

68.     Goethe: Johann Wolfgang von Goethe (1749 - 1832) là nhà thơ, nhà viết kịch, tiểu thuyết gia, nhà văn, nhà khoa học, họa sĩ của Đức.

69.     Ngày mai, ngày mai, lại ngày mai… về cõi chết: Trích Macbeth (Màn V, Cảnh 5) của văn hào Shakespeare; Câu đầy đủ: Ngày mai, ngày mai, lại ngày mai; chầm chậm trôi đi tận cuối đời; đường về cõi chết; cho những người khờ khạo ngu si.

70.     Harvard mười một: Đại học Harvard, thành lập năm 1636 tại Cambridge, Massachusetts. Trường được tổ chức thành mười một đơn vị hàn lâm riêng biệt.

71.     Sieyès: Emmanuel Joseph Sieyès (1748 - 1836), nhà chính khách, nhà lý luận chính trị và là giáo sĩ người Pháp.

72.     Triều đại Kinh hoàng: Thời kỳ 1793 - 1794 của cuộc Cách mạng Pháp, khét tiếng với làn sóng tử hình hàng ngàn người bị tình nghi là phản cách mạng.

73.     Ambrose Bierce: Ambrose Gwinnett Bierce (1842 - 1914?) là nhà báo Mỹ viết xã luận, truyện ngắn và bài châm biếm.

74.     Jettatore (tiếng Ý): Nghĩa là “Mắt quỷ dữ”, kẻ mang điềm gở.

75.     Sarah: Theo Kinh thánh, là vợ của Abraham và là mẹ của Isaac.

76.     Senor, (tiếng Tây Ban Nha) nghĩa là: Quý ngài.

77.     Sí, (tiếng Tây Ban Nha) nghĩa là: Đúng vậy.

78.     Cuộc chiến vĩ đại: Chỉ Chiến tranh thế giới lần I.

79.     Dios (tiếng Tây Ban Nha) nghĩa là: Chúa ơi.

80.     Mahatma Gandhi (1869 - 1948): Anh hùng dân tộc giành độc lập cho Ấn Độ từ chế độ thực dân Anh.

81.     Hoàng tử xứ Đan Mạch: ở đây chỉ Hamlet.

82.     Hệt những khúc gỗ: Nguyên văn “hệt những chiếc que thông nòng súng.”

HẾT.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 41 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Thành viên đang xem chuyên mục này: NEF6Bymn và 99 khách


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 148, 149, 150

2 • [Hiện đại] Cướp tình Tổng giám đốc ác ma rất dịu dàng - Nam Quan Yêu Yêu

1 ... 64, 65, 66

3 • [Hiện đại] Làm thế nào để ngừng nhớ anh - Mộng Tiêu Nhị

1 ... 34, 35, 36

4 • [Cổ đại] Kiêu Tế - Quả Mộc Tử

1 ... 46, 47, 48

5 • [Xuyên không] Cuộc sống nông thôn nhàn rỗi - Kẹo Vitamin C

1 ... 108, 109, 110

6 • [Xuyên không - Dị giới] Phế sài muốn nghịch thiên Ma Đế cuồng phi - Tiêu Thất Gia - New C876

1 ... 126, 127, 128

7 • [Xuyên không] Trôi nổi trong lãnh cung Khuynh quốc khí hậu - Hoa Vô Tâm

1 ... 75, 76, 77

8 • [Xuyên không] Vương phi thần trộm Hưu phu lúc động phòng! - Thủy Mặc Thanh Yên

1 ... 82, 83, 84

9 • [Xuyên không] Hỉ doanh môn - Ý Thiên Trọng

1 ... 105, 106, 107

10 • [Xuyên không - Cổ xuyên hiện] Ảnh hậu đối mặt hàng ngày - Ngã Yêu Thành Tiên

1 ... 37, 38, 39

11 • [Hiện đại] Hôn nhân giá ngàn vàng - Cẩm Tố Lưu Niên (103/104]

1 ... 181, 182, 183

12 • [Hiện đại] Xin chào Chu tiên sinh! Dạ Mạn

1 ... 27, 28, 29

13 • [Xuyên không] Khi vật hi sinh trở thành nữ chính - Tư Mã Duệ Nhi

1 ... 28, 29, 30

14 • [Hiện đại] Eo thon nhỏ - Khương Chi Ngư [NEW C64]

1 ... 23, 24, 25

[Cổ đại - Trùng sinh] Trọng sinh cao môn đích nữ - Tần Giản

1 ... 137, 138, 139

16 • [Hiện đại Thanh mai trúc mã] Đều Tại Vầng Trăng Gây Họa - 11 Giờ Phải Ngủ

1 ... 40, 41, 42

17 • [Hiện đại] Người cha nhặt được - Cát Tường Dạ

1 ... 26, 27, 28

18 • [Cổ đại - Trùng sinh] Đích nữ nhà nghèo Bán phở heo

1 ... 8, 9, 10

19 • [Hiện đại] Cục cưng lật bàn Con là do mẹ trộm được? - Ninh Cẩn

1 ... 87, 88, 89

20 • [Hiện đại] Anh Trai VS Em Gái - Trà Trà Hảo Manh

1 ... 10, 11, 12


Thành viên nổi bật 
Aka
Aka
Puck
Puck
PhongLangTB
PhongLangTB
Hàm Nguyệt
Hàm Nguyệt
THO THO
THO THO
Cà Ri Bơ
Cà Ri Bơ

Shop - Đấu giá: Tiểu Ly Ly vừa đặt giá 276 điểm để mua Mèo núp sau đám mây
Shop - Đấu giá: Tử Tranh vừa đặt giá 269 điểm để mua Cô gái và thần đèn
Shop - Đấu giá: Tử Tranh vừa đặt giá 582 điểm để mua Nữ thần rừng
Shop - Đấu giá: Aka vừa đặt giá 1180 điểm để mua Đá Peridot
Shop - Đấu giá: Phong_Nguyệt vừa đặt giá 553 điểm để mua Nữ thần rừng
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 1917 điểm để mua Hoa hồng xanh
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 356 điểm để mua Đá Peridot
Shop - Đấu giá: Tử Tranh vừa đặt giá 525 điểm để mua Nữ thần rừng
Shop - Đấu giá: Sư Tử Cưỡi Gà vừa đặt giá 248 điểm để mua Giày nâu nơ hồng
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 1824 điểm để mua Hoa hồng xanh
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 1736 điểm để mua Hoa hồng xanh
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 736 điểm để mua Chuột Mickey 5
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 250 điểm để mua PC LCD
Shop - Đấu giá: Tiểu Ly Ly vừa đặt giá 370 điểm để mua Guốc đỏ
LogOut Bomb: thuyvu115257 -> Nana Trang
Shop - Đấu giá: Tiểu Mỡ Mỡ vừa đặt giá 351 điểm để mua Guốc đỏ
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 1652 điểm để mua Hoa hồng xanh
LogOut Bomb: thuyvu115257 -> Yến My
Lý do: QUÀ GẶP MẶT HEHE
Shop - Đấu giá: Lãnh Thiên Nhii vừa đặt giá 700 điểm để mua Chuột Mickey 5
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 579 điểm để mua Chuột Mickey 5
Shop - Đấu giá: Tiểu Ly Ly vừa đặt giá 333 điểm để mua Guốc đỏ
Shop - Đấu giá: Tiểu Mỡ Mỡ vừa đặt giá 316 điểm để mua Guốc đỏ
Shop - Đấu giá: Lãnh Thiên Nhii vừa đặt giá 320 điểm để mua Dù thiên thần
Shop - Đấu giá: Lãnh Thiên Nhii vừa đặt giá 550 điểm để mua Chuột Mickey 5
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 417 điểm để mua Chuột Mickey 5
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 1572 điểm để mua Hoa hồng xanh
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 499 điểm để mua Nữ thần rừng
Shop - Đấu giá: Phong_Nguyệt vừa đặt giá 474 điểm để mua Nữ thần rừng
Shop - Đấu giá: Tư Di vừa đặt giá 400 điểm để mua Bánh sinh nhật hồng
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 1496 điểm để mua Hoa hồng xanh

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.