Diễn đàn Lê Quý Đôn
Cấm đăng tin quảng cáo các lớp học, khoá học, hội thảo, tìm học sinh... Các bài quảng cáo sẽ bị xoá.


Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 41 bài ] 

Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải

 
Có bài mới 18.09.2018, 17:05
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5388 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
THIỀN SƯ DỰNG NƯỚC
(tập đầu tiên bộ sách 4 tập Tám triều vua Lý)


images

Tác giả: Hoàng Quốc Hải
Nhà xuất bản: Phụ nữ
Năm xuất bản: 2010
Nguồn ebook: tve-4u.org
Chuyển text và tạo ebook: Caruri


Đây là cuốn đầu tiên trong 4 tập viết về triều Lý của Hoàng Quốc Hải, bối cảnh từ sau khi Lê Long Đĩnh qua đời, Lý Công Uẩn nắm được ngôi, trải qua đời Lý Thái Tổ rồi kết thúc khi Lý Thái Tông mới lên ngôi, vừa dẹp được loạn Tam vương.

Tác phẩm đã phản ánh được sự thịnh trị trong đời đầu tiên của nhà Lý, kết hợp những chi tiết lịch sử có nhắc tới với những sáng tạo của riêng mình.

Bộ “TÁM TRIỀU VUA LÝ” gồm 4 tập:

Thiền sư dựng nước
Con ngựa nhà Phật
Bình Bắc dẹp Nam
Con đường định mệnh

Tác giả

Hoàng Quốc Hải sinh năm 1938 tại huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, nhà văn nổi tiếng trong lĩnh vực tiểu thuyết lịch sử. Năm 1957-1960, là học sinh Trường phổ thông cấp 3 Ngô Quyền (Hải Phòng); là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1962-1966, ông công tác ở Báo Vùng Mỏ (tờ báo của ngành Than, tiền thân của Báo Quảng Ninh hiện nay), nhưng làm nghề viết văn chứ không phải làm phóng viên. Hiện nay, ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

***

Tác phẩm này nhằm tôn vinh các bậc tiên hiền, tiên liệt thuộc về thời đại nhà Lý – Một thời đại đã đặt cơ sở vững chắc cho nền văn hiến và xây dựng một nước Đại Việt văn minh, giàu thịnh và hùng mạnh vào bậc nhất trong lịch sử nước nhà.
(HQH)

Kính dâng hương hồn Thày Mẹ tôi
(HQH)

Thành Đại La, ở giữa khu vực trời đất, có thế rồng cuộn hổ ngồi, ở giữa nam bắc đông tây, tiện hình thế núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng, vật rất thịnh mà phồn vinh, xem khắp nước Việt, chỗ ấy là nơi hơn cả. Thật là chỗ tụ hội của bốn phương, là nơi thượng đô của kinh sư muôn đời…
(Trích Chiếu dời đô của vua Thái tổ Lý Công Uẩn)

“Nước ta non sông gấm vóc, nhân tài tuấn kiệt, đất nước anh linh, châu ngọc bảo bối, không cái gì là không có. Nước khác không thể nào bì được. Con hãy nên giữ nước cẩn thận”.
(Lý Anh Tông)
(Lời dặn thái tử lúc lâm chung)

Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cối xuân tươi, thu não nùng
Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi
Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông
(Thiền sư Vạn Hạnh)



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 21.09.2018, 09:47
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5388 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
Lời nhà xuất bản

Bộ tiểu thuyết lịch sử Tám triều vua Lý của nhà văn Hoàng Quốc Hải đã cho người đọc thấy được bức tranh của thời đại nhà Lý từ khi nó ra đời tới khi kết thúc kéo dài 216 năm (1010-1225).

Triều đại nhà Lý là triều đại đầu tiên đưa Đại Việt trở thành một quốc gia văn hiến. Bởi nó có tôn giáo, triết học, luật pháp, văn chương và lịch sử.

Việc tổ chức chính quyền đã hoàn chỉnh từ hương ấp, trấn, lộ đến triều đình, đặc biệt việc tổ chức quân đội với chính sách “Ngụ binh ư nông” là một sáng tạo vô cùng to lớn của Thái tổ Lý Công Uẩn. Hình thức này duy trì suốt cả thời đại nhà Lý và nhà Trần vẫn tiếp nối.

Một vấn đề khác có giá trị tư tưởng và sáng tạo của nhà Lý là ở chỗ dung hợp được cả ba tôn giáo: Phật – Nho – Đạo và khai thác ở mỗi tôn giáo một tính chất ưu việt nhất để làm định hướng cho sự xây dựng và phát triển xã hội. Đó là:

Xã hội Nho.

Tâm linh Phật.

Thiên nhiên Đạo.

Nhà Lý đã đưa đạo Phật vào đời sống một cách ngọt ngào, đưa văn hóa Phật giáo hòa vào văn hóa dân tộc. Vì vậy đã giải thích vì sao hàng ngàn năm qua trong mọi bước thăng trầm của lịch sử, Phật giáo luôn đồng hành với dân tộc.

Ngay việc dời đô, chọn Đại La là nơi trung tâm cho sự phát triển dài lâu của đất nước, vua mở nghiệp của nhà Lý đã có một nhãn quan thấu thị, do đó Thăng Long xưa và Hà Nội nay vẫn là một trung tâm chính trị, văn hóa và kinh tế không nơi nào trong nước có thể thay thế được.

Tác giả đã công phu nghiên cứu lịch sử và văn hóa thời Lý khá kỹ lưỡng, nên đã tái hiện được lịch sử một cách trung thực. Trong đó từ sinh hoạt đời thường đến lễ hội và phong tục từ gia đình đến cung đình đều được khắc họa một cách sinh động và hợp lý.

Toàn bộ tác phẩm xuyên suốt các triều vua kéo dài 216 năm đều bám sát lịch sử nhưng không phụ thuộc vào lịch sử. Tác giả đã sử dụng các hoàn cảnh lịch sử, nhân vật lịch sử và sự kiện lịch sử một cách đúng mức chứ không lạm dụng. Ví dụ thời Lý vào các giai đoạn suy thoái nảy sinh nhiều hiện tượng dị đoan kỳ quái, nhưng tác giả chỉ điểm xuyết chứ không sa đà.

Phần hư cấu từ nhân vật đến tính cách và hoàn cảnh khiến tác phẩm mang tính chân thực hơn. Về điểm này, tác giả đã khai thác thế mạnh của bút pháp tiểu thuyết lịch sử khi viết bộ tiểu thuyết lịch sử Bão táp triều Trần.

Với kiến thức sâu rộng, tác giả đã cung cấp cho người đọc mang tính liên thông của cả một thời đại mà từ xưa tới nay dường như chưa có một tác giả nào làm được.

Cái khó của tác giả là tài liệu tham khảo về thời đại nhà Lý vô cùng ít ỏi. Đại Việt sử ký toàn thư là bộ sử lớn nhất của nước ta, ghi chép suốt 216 năm của thời đại này cũng chỉ vẻn vẹn gần 200 trang sách. Tác giả đã phải tìm kiếm nhiều trong các truyện dân gian, các truyền thuyết, các gia phả, thần phả, hoành phi, câu đối và bi ký tại các nơi thờ tự. Hơn hết, tác giả có so sánh đối chiếu với lịch sử của nhà Tống là thời đại song song với nhà Lý, nên cung cấp được nhiều thông tin hai chiều, khách quan; tránh được những kết luận võ đoán do thiếu tư liệu, điều rất dễ xảy ra khi viết tiểu thuyết lịch sử.

Có thể nói, Tám triều vua Lý là một bộ tiểu thuyết đồ sộ xứng đáng với việc tri ân các bậc tiên liệt đã làm rạng rỡ non sông Đại Việt cách đây đúng một ngàn năm. Và nó ra đời đúng dịp cả nước làm lễ đại kỷ niệm Một ngàn năm Thăng Long – Hà Nội.

Phải nói đây là tấm lòng thành kính và sự nỗ lực phi thường của tác giả, đáng được trân trọng.

Nhà xuất bản Phụ nữ xin giới thiệu tác phẩm với bạn đọc.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 21.09.2018, 10:07
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5388 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
Lời tựa

Có thể nói, giới đại trí thức Phật giáo có ý thức xây dựng một nước Đại Việt độc lập tự chủ với một nền Việt Phật đã manh nha từ thời Đinh, Lê.

Vai trò tham dự triều chính trong cương vị quốc sư hoặc cố vấn cho nhà vua như Đỗ Pháp Thuận, Ngô Chân Lưu, Định Hương, Vạn Hạnh v.v… đã hướng cho các vị hoàng đế đi vào con đường tâm linh Phật.

Khi nhà Lê tụt dốc suy thoái tới cùng cực, với Ngọa triều Lê Long Đĩnh là hiện thân cho cái ác ra đi, triều thần tôn phò Lý Công Uẩn là bề tôi của Long Đĩnh lên ngôi nước.

Vậy là nhà Lý lấy ngôi nước bằng con đường nhân ái chứ không phải bằng bạo lực.

Lý Công Uẩn được nuôi dưỡng nơi cửa Phật từ ba tuổi. Khi sáu tuổi về ở với thiền sư Vạn Hạnh.

Ai cũng biết Vạn Hạnh là bậc thiền sư lỗi lạc, ngoài hiểu thông tam giáo, sư còn quán thông các khoa lý số, ngài là bậc tiên tri đại giác, không việc gì ở đời sư không biết trước.

Lý Công Uẩn được một bậc thầy siêu việt dạy dỗ và dẫn dắt vào đời. Thông thường các bậc đại sư nuôi đệ tử là để kế tổ truyền đăng. Nhưng Vạn Hạnh sau khi truyền dạy cho Lý Công Uẩn đủ sức giúp đời, thì ông tiến cử người học trò của mình vào giữ một chức quan võ trong triều đình nhà Lê.

Vì sao Vạn Hạnh lại đào tạo Lý Công Uẩn trở thành một chính khách, chứ không khiến ông trở thành một thiền giả. Ấy là bởi lần đầu tiên nhác thấy Lý Công Uẩn ở chùa Kiến Sơ với sư Khánh Văn, thiền sư Vạn Hạnh đã thốt lên: “Đứa bé này không phải là người thường, sau này lớn lên tất có thể giải quyết được mọi việc khó khăn, làm vua giỏi trong thiên hạ”. (Đại Việt sử ký toàn thư Bản kỷ, quyển II).

Vậy là từ lâu, các bậc đại trí thức trong giới Phật giáo đã có hoài bão phù giúp một bậc vua anh minh, đủ tài đức xây dựng nước Nam trở thành một nước cường thịnh cùng với một nền Phật giáo đậm sắc thái văn hóa Việt.

Vạn Hạnh đã chẳng mách cho hoàng đế Lê Hoàn xuất quân phá Tống, bình Chiêm vào thời điểm nào thì toàn thắng đó ư.

Khuông Việt đã chẳng lên núi Vệ Linh lập đàn cầu thần trợ lực cho quân dân Đại Việt phá Tống đấy ư. Khuông Việt cũng từng giúp Đinh Tiên Hoàng việc nội trị và ngoại giao được nhà vua phong giữ chức tăng thống, tựa như một bậc quốc sư.

Lê Hoàn khi được ngôi nước thường băn khoăn không biết vận số vắn dài ra sao, liền đem ý đó hỏi thiền sư Đỗ Pháp Thuận.

Đỗ Pháp Thuận khuyến cáo nhà vua bằng bài kệ:

Quốc tộ như đằng lạc,

Nam thiên lý thái bình.

Vô vi cư điện các,

Xứ xứ tức đao binh.

Nghĩa là ngôi nước phải chắc vững như một bụi mây với những sợi mây quấn quýt vào với nhau, ý nói phải đoàn kết muôn dân mới trở thành sức mạnh của cả dân tộc. Và nơi điện các, tức bộ máy triều đình phải vô vi thanh tịnh, đây ám chỉ sự trong sạch, tận tâm vì dân vì nước. Và như vậy thì ngàn dặm trời Nam đã yên hưởng thái bình, nhà vua còn phải lo gì đến việc binh đao nữa.

Thiền sư Pháp Thuận giúp Lê Hoàn hoạch định chính sách buổi sơ triều rất đắc dụng. Khi đất nước đã yên trị, Lê Hoàn phong chức tước gì sư cũng từ khước cả.

Rõ ràng là các bậc thiền sư đã tận tâm phù giúp các bậc quốc vương, nhưng chưa vị nào đáp ứng được sự đòi hỏi của lịch sử.

Nay ngôi nước đã vào tay Lý Công Uẩn, một người xuất thân từ cửa Phật, được đào tạo hết sức bài bản và xuất hiện đúng lúc mà lịch sử cần.

Vậy là vương triều Lý nảy sinh từ khát vọng lâu đời của giới trí thức Phật giáo, và người đạo diễn thiên tài lại chính là thiền sư Vạn Hạnh.

Trong hoàn cảnh lịch sử nước nhà vào giai đoạn ấy, ngoài giới trí thức Phật giáo ra, chưa xuất lộ một tầng lớp nào đủ tư cách và trí tuệ dẫn dắt dân tộc ta đi vào con đường tự cường.

Chính thể Thuận Thiên của Lý Công Uẩn tuyên cáo một đường lối chính trị hết sức công khai và minh bạch. Đó là: Tam giáo đồng nguyên.

Bởi trong xã hội đương thời đang tồn tại ba tôn giáo. Ấy là Nho – Phật – Đạo.

Thực ra mỗi tôn giáo này đều có một vị giáo chủ:

- Phật do đức Thích Ca Mâu Ni sáng lập.

- Nho, do đức Khổng Tử hoàn thiện học thuyết.

- Đạo, do Lão Tử chủ trương.

Sở dĩ nói “đồng nguyên” là bởi mục tiêu tối thượng của cả ba tôn giáo này đều hướng tới tính thiện, tính nhân văn. Và nhà Lý chiết xuất ra ở mỗi dòng đạo những điều ưu việt nhất làm định hướng căn bản cho việc xây dựng xã hội. Đó là: Xã hội Nho – Tâm linh Phật – Thiên nhiên Đạo.

Vì rằng muốn tổ chức một xã hội có kỷ cương trật tự, có lễ luật chặt chẽ thì không thể không dựa vào sự ràng buộc của tam cương[i], ngũ thường[ii] của Nho giáo.

Nhưng điểm yếu nhất của Nho giáo là vị kỷ, là phân chia đẳng cấp, là trọng giàu khinh nghèo, trọng nam khinh nữ sẽ tạo ra nhiều nhân tố bất ổn cho xã hội.

Vậy muốn điều chỉnh nó thì con người phải biết tôn trọng lẫn nhau, sống trong hiếu hòa, hiếu thiện và từ bỏ lòng tham lam ích kỷ, sân hận cố chấp, để tiến tới giác ngộ mà giải thoát ra khỏi cám dỗ vật chất của đời thường, và để đạt tới sự tiến hóa ấy thời phải lấy tâm linh Phật làm cứu cánh.

Lại nữa con người cùng với muôn loài được sinh ra dưới ánh mặt trời kể cả các loài thấp sinh, noãn sinh và thảo mộc đều bình đẳng. Vì vậy Lão Tử chủ trương muôn loài phải nương tựa vào nhau, cùng tồn tại chứ không loài nào được chèn ép loài nào. Con người cũng như các loài khác phải tôn trọng thiên nhiên, như Thượng đế đã an bài. Do đó, cái thiên nhiên sinh tồn phải là thiên nhiên Đạo.

Tam giáo đồng nguyên là như vậy, và nó chính là triết lý nhân sinh cũng đồng thời là định hướng chính trị cho xã hội thời đại nhà Lý.

Nhân sinh quan đó bắt nguồn từ truyền thống văn hóa Việt tộc, và nó được thăng hoa khi gặp tính minh triết nguyên thủy của giáo lý Phật, tự khắc có một sự dung hợp kỳ lạ, như là một sự trợ duyên để dân tộc ta đến với Phật giáo. Cũng từ đó Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc.

Nhà Lý tôn đạo Phật làm quốc đạo. Song không vì thế mà ức chế các dòng đạo khác. Ví dụ việc tổ chức bộ máy cai trị, vị trí của Nho giáo đã biến thành các định chế pháp luật. Còn để quản trị các tôn giáo khác, nhà nước bổ nhiệm một vị Tăng quan gọi là Hữu nhai tăng thống, một vị Đạo quan gọi là Tả nhai đạo lục.

Khi xây dựng kinh thành, ngoài các cung điện là nơi coi chầu và nơi làm việc thì biểu tượng cho tôn giáo cũng được xây cất một cách tương ứng. Ví như bên hữu là chùa Vạn Tuế, bên tả là quán Thái Thanh, ở giữa là lầu Ngũ Phượng Tinh. Sự cất nhắc quan lại là ở nơi tài đức, chứ không có sự phân biệt nguồn gốc tôn giáo. Tuy nhiên đã là quan lại của triều đình thì phải hiểu thông tam giáo (Phật – Nho – Lão). Việc đó về sau trở thành định chế quốc gia. Nghĩa là khi các thí sinh đã đỗ Minh kinh bác sĩ (Tiến sĩ), còn phải thi qua tam giáo. Nếu trúng tuyển mới được bổ nhiệm.

Nên nhớ cùng đồng đại với ta thời đó thì Châu Âu sa đà vào chiến tranh tôn giáo triền miên, kéo cả Châu Âu ngập chìm trong đêm trường trung cổ…

Việc tổ chức bộ máy nhà nước thời Lý thể hiện tính dân chủ, bình đẳng và chân thực của giáo lý Phật. Còn như tính bác ái, nhân văn lại được thể hiện trong chính sách cai trị của nhà Lý.

Vừa giữ ngôi nước, việc đầu tiên Lý Công Uẩn làm là bãi bỏ tất cả các hình thức xử tội man rợ của các triều đại trước như ném người vào vạc dầu, nhốt tội nhân vào các chuồng hổ, báo cho thú dữ ăn thịt, đẩy tội nhân xuống hầm rắn độc, tuốt xác người bằng các thân cây nứa già đập dập, trói người có tội vào cọc đóng bên mép sông khi nước cạn, chờ khi nước lên ngập, dìm người đó chết dưới nước sâu, hoặc các tội như voi giày, ngựa xé v.v

Việc thứ hai là cấp tiền gạo cho dân lưu tán, vì không chịu nổi ách áp bức của cường hào, phải bỏ quê hương đi tha phương cầu thực, nay được trở về quê cũ làm ăn.

Việc thứ ba đại xá tô thuế cho cả nước trong ba năm liền.

Việc thứ tư là định ra sáu sắc thuế đánh vào các sản vật quý khai thác từ nguồn lợi của rừng và biển như: sừng tê, ngà voi, trầm hương, ngọc trai, đồi mồi, muối.

Việc thứ năm là thiên đô từ Hoa Lư về Đại La và đổi tên đô thành mới là Thăng Long.

Thăng Long là thế rồng bay lên. Quả nhiên suốt bốn trăm năm trải hai thời đại Lý – Trần, kinh đô đóng tại Thăng Long thì Đại Việt đều ở thế phát triển về mọi mặt, thế nước trở nên giàu thịnh và cả cường thịnh. Cho tới nay, khắp Đại Việt không nơi nào có thế đất đẹp nằm trong sự phát triển hài hòa và trường cửu như Thăng Long. Và đó chính là tầm nhìn xuyên thiên niên kỷ của vị vua khởi nghiệp nhà Lý.

Lý Thái tổ là bậc minh quân, đồng thời là người ái dân, được thể hiện ra bằng các hành vi cụ thể, chứ không ở lời nói suông.

Thương dân nghèo không có ruộng cày cấy, nhà nước khuyến khích nông dân khai hoang vỡ hóa các đất bãi bồi, đất bìa rừng, đất hoang hóa tùy theo công sức bỏ ra mà tha tô thuế cho từ ba, năm hoặc bảy năm, và cho làm chủ luôn đất ấy.

Hàng năm vào mùa giáp hạt, dân nghèo thường phải bán lúa non cho bọn người cho vay nặng lãi, thành thử hai sương một nắng mà người nông phu vẫn không dứt được đói nghèo.

Nhà nước đã có lệnh cấm, nhưng xem ra không có hiệu lực, bởi dân đói vẫn cứ phải bán và bọn nhà giàu đe dọa nếu kẻ nào tố cáo sẽ bị chúng cho tay chân trừng trị. Thành thử lúa đã vào mẩy, chắc ăn rồi thì nhà giàu mới mua, với giá chưa đầy một phần mười giá trị thực.

Nhà vua vi hành biết được tình trạng đó, liền cho lập các kho lúa của nhà nước trong các vùng nhân dân thường thiếu lương thực vào kỳ giáp hạt. Đúng dịp đó kho lúa nhà nước sẽ cho dân vay, tới khi mùa vụ gặt hái phơi phóng xong, dân lại đem tới kho nộp trả.

Làm như vậy có hai điều lợi: một là dân không còn bị người giàu bóc lột nữa. Hai là việc đổi hạt, lúa trong kho không còn bị mối mọt vì để lâu.

Có một việc các sử gia đời Lê, Nguyễn là các thời đại thượng tôn Nho học, bài xích Phật giáo đã có những phê phán bất công với Lý Thái tổ. Rằng nhà vua đã cấp độ điệp cùng lúc tới cả ngàn người vào học trong các đạo tràng để đào tạo sư tăng, lại cho xây cất cả ngàn ngôi chùa gây tốn của nhà nước và hại sức dân.

Các sử gia đâu có biết việc dựng các ngôi chùa làng vào thời đó, ở các vùng nông thôn thì chùa tranh vách đất, chứ lấy đâu ra gạch ngói. Vào thời ấy, nước ta rừng chiếm tới chín phần mười đất đai cả nước thì việc khai thác tre gỗ chẳng có gì gây tốn kém. Chắc chắn chỉ các ngôi chùa lớn trong kinh thành được xây dựng bằng gạch gỗ theo một quy mô phù hợp với kinh thành mới tạo lập.

Vả chăng các sư tăng trụ trong các chùa làng, ngoài nhiệm vụ tu trì và hướng dẫn tâm linh cho dân chúng, nhà sư còn kiêm vai trò của một thầy giáo để dạy chữ cho trẻ, lại nữa thầy chùa còn kiêm cả thầy thuốc vừa trị bệnh cho dân, vừa hướng dẫn cho dân biết sử dụng các loại cây, lá để tự chữa trị các bệnh thông thường.

Việc nhà chùa khai trí cho dân lúc này là cần thiết, bởi phần lớn các chức dịch nơi hương thôn và một phần các châu, quận đều không biết chữ. Họ phải nộp sổ bộ thuế má và các việc chi thu bằng các cuộn dây thừng, với các nút thắt buộc thay cho các chữ số.

Vì vậy nếu nhà nước có mở trường học sẽ gặp khó khăn, vừa không có thầy dạy vừa không có người học. Do đó buổi sơ triều nhà Lý cho lập nhiều chùa làng, và thầy chùa kiêm nhiệm cả ba chức năng là phù hợp với hoàn cảnh xã hội vào thời điểm lịch sử đó.

Nhà Lý chủ về Phật, nên mọi việc làm đều xuất phát từ lợi ích của muôn dân, tức là vị tha chứ không vị ngã. Vì vậy mọi việc chi tiêu đều sẻn kiệm, kể cả việc quân.

Việc tổ chức quân đội chủ yếu là quân hộ giá, quân bảo vệ kinh thành và quân trấn biên thùy, vì vậy số thường binh (quân thường trực) không nhiều. Song lại dùng chính sách “Ngụ binh ư nông”. Tức là không bứt người nông phu ra khỏi ruộng đồng, mà hàng năm huy động tất cả các tiểu hoàng nam (18 tuổi) đến đại hoàng nam (20 tuổi) đều phải đi học từ một đến hai tháng vào lúc nông nhàn, để biết sử dụng các loại binh khí và kỹ xảo chiến đấu, do các đô tướng của triều đình cử về huấn luyện. Vì vậy khi nước có giặc ngoại xâm hoặc có biến động gì, huy động vài ba chục vạn quân là điều không khó. Việc tổ chức binh bị theo cách này, nhà nghiên cứu văn hóa người Pháp, ông Pierre Pasquier trong L’Annam d’autrefois (Nước An Nam xưa) đã từng nhận xét: “L’Annam a connu le soldat laboureur avant la Rome antique”[iii]. Và về sau nhà Tống còn phải học.

Trong Vân đài loại ngữ Lê Quý Đôn viết: “Thái Diên Khánh làm quan ở đất Hoạt, thường theo phép hành binh của An Nam. Bộ đội chia làm các hạng chính binh và phiên binh từ cách tổ chức, huấn luyện đến tác chiến chia thành từng môn loại, biên chép tỉ mỉ thành sách, dâng lên vua Thần tông (nhà Tống) được vua khen”. (Tống Thần tông 1068-1091).

Trong mười tám năm trị vì, Lý Thái tổ đã ba lần tha tô thuế cho dân, trong đó có hai lần, mỗi lần tha ba năm, lần thứ ba cũng tha ba năm nhưng chỉ tha cho nửa số tô thuế, gộp lại là bảy năm rưỡi dân không phải nộp tô, không phải đóng thuế. Xét ra trong lịch sử cổ kim từ khi có tổ chức nhà nước, thì chưa có một nhà nước nào đã làm được một việc phi thường như triều Thuận Thiên của Lý Công Uẩn.

Lý Công Uẩn không chỉ gần dân, lo nỗi lo của dân mà ông còn dạy các hoàng tử cũng phải tự cày ruộng, trồng lúa thơm để lấy gạo đồ xôi dâng cúng tổ tiên trong các ngày giỗ, tết.

Triều Thuận Thiên đã có định hướng chính trị để xây dựng xã hội rất minh bạch, và đã xây được nền móng vững chắc cho các triều đại sau kế tiếp.

Nhìn nhận về vị vua khởi nghiệp của nhà Lý, cụ Phan Bội Châu vinh danh: “Lý Công Uẩn là vị Tổ Trung hưng thứ nhất của nước ta”.

Tiếp sang triều Lý Thái tông, nhà vua phát triển lên một bước nữa, tức là cai trị đất nước phải tuân theo luật pháp. Vì vậy vua sai triều quan san định bộ Hình luật được hoàn thành vào năm Nhâm ngọ (1042). Đây là bộ Hình luật sớm nhất của nước ta. Nhưng cơ sở cho sự ra đời của bộ Hình thư năm Nhâm Ngọ, là do nhà vua thấy việc xử kiện ở các cấp không theo một chuẩn mực thống nhất, đôi khi tùy thuộc vào tình cảm của người xử, nên có sự thiên vị. Trong dân chúng, nhất là những người nghèo thường kêu bị quan xử oan ức. Vì vậy nhà vua sai san định luật văn dựa trên sự công bằng và trên quyền lợi của số đông dân chúng, chứ không phải luật san định ra chỉ nhằm bảo vệ lợi ích cho người cầm quyền và người giàu, mà gây thiệt hại cho dân chúng thì đó chính là đầu mối của sự loạn.

Vì vậy khi luật ban ra, triều đình cử các xuất nạp quan[iv] về tận nơi thôn cùng xóm vắng nghe ngóng, thu thập qua các vụ xét xử. Nếu điều nào dân cho là tiện (tức phù hợp với lợi ích của người dân) thì giữ nguyên, điều nào dân cho là bất tiện (không công bằng) thì nhà vua sai tu chính lại.

Trong hai mươi sáu năm cầm quyền, Lý Thái tông đã thúc đẩy đất nước phát triển về mọi mặt. Sự đạo cũng như sự đời đều phát triển lành mạnh. Ấy là đối nội còn đối ngoại phía bắc khiến nhà Tống phải nể trọng, phía nam khiến Champa phải kính phục. Các chính sách đối với các đầu mục là dân tộc thiểu số miền biên địa ở phía bắc, nơi thường xảy ra tranh chấp đất đai với người Tống, nhà vua cư xử rất độ lượng, và cố kết họ thành phên giậu để bảo vệ từng tấc đất chốn biên thùy. Thậm chí, nhà vua đem cả con gái mình gả cho đầu mục. Ví như việc gả công chúa Bình Dương cho châu mục châu Lạng là Thân Thiệu Thái, hoặc công chúa Kim Thành gả cho châu mục châu Phong là Lê Thuận Tông, cũng như việc tha cho Nùng Trí Cao khi y làm phản. Các việc trên sử gia đời sau không hiểu nổi ý đồ của tiền nhân, nên đã hạ bút phê phán mang tính áp đặt theo quan điểm nho học thiển cận, bất chấp hoàn cảnh lịch sử làm nảy sinh các sự kiện từ mấy trăm năm trước đó.

Lý Thái tông là một vị vua rất trọng thị việc nông tang. Nhà vua tự mình tìm ra phương pháp dệt gấm. Ngài bắt các cung nữ cũng phải trồng dâu, chăn tằm và dệt lụa. Chính ngài dạy cho cung nữ biết dệt gấm, và tự mình mặc loại gấm nội ấy để thiết triều. Tiếp đó, ngài mở kho lưu trữ các loại gấm mua của nhà Tống thường để may triều phục cho các quan, nay phát hết cho mọi người đem về cho gia đình vợ con. Và từ đây tất cả các quan đều phải mặc triều phục may bằng gấm nội.

Chính nghề dệt lụa và dệt gấm lại từ trong cung cấm phổ cập cho dân chúng. Nay tại chùa Kim Liên phường Nghi Tàm còn thờ công chúa Thiều Hoa, là con gái vua Lý Thần tông đã đem nghề trồng dâu, chăn tằm và dệt lụa về dạy cho dân làng. Để nhớ ơn, khi bà viên tịch, dân lập tự thờ bà.

Gần dân và yêu dân là đường lối bất biến của các vua nhà Lý, đó chẳng phải là Phật tính trong các vị vua thiền sư nhà Lý sao?

Tuy nhiên, xây dựng cho bằng được một quốc gia văn hiến, một quốc gia giàu thịnh, một quốc gia độc lập, tự chủ sánh ngang với quốc gia hùng mạnh phương bắc cũng là mục tiêu của các vị vua thiền sư nhà Lý mà sức mạnh trí tuệ đã được các bậc thiền sư lỗi lạc khai minh từ thuở Lý Công Uẩn còn là một chú tiểu tăng núp bóng thầy Vạn Hạnh nơi chùa Lục Tổ, chùa Tiêu Sơn.

Tiếp sang thế hệ thứ ba, tức triều đại Lý Thánh tông. Vị vua này không chỉ chăm lo đến việc phát triển kinh tế (trong đó có khai mỏ: đồng, bạc, vàng) mà còn chăm lo đến việc học. Tới Lý Thánh tông các điều kiện cần và đủ cho một nền giáo dục bậc cao mới tròn đầy. Vì vậy ông sai lập Miếu văn thờ Khổng Tử và mở Quốc học viện cho các quốc tử sinh và nho sinh vào học, để chuẩn bị cho các kỳ thi đại khoa (tiến sĩ).

Hơn hết, nhà vua lo việc binh bị để chuẩn bị đối phó với âm mưu xâm lược của Tống Thần tông và Vương An Thạch đang ngày một hiển lộ.

Lý Thánh tông có hai người bề tôi kiệt xuất. Việc nội trị có Thái sư Lý Đạo Thành, việc binh bị có Thái úy Lý Thường Kiệt. Ngoài ra các nhân tài văn võ nhiều không kể xiết.

Còn như bên giáo hội thì các cao tăng giúp vua, giúp nước cũng khá nhiều như Huệ Sinh, Bản Tịch, Viên Chiếu v.v…

Lý Thánh tông là người cầm cương chính hết sức quyết đoán, nhưng biết lắng nghe và thấu hiểu lòng dân. Ông là người có trí tuệ siêu việt, và cũng là một vị vua có lòng nhân ái và tôn trọng nhân phẩm con người một cách kỳ lạ.

Sử cũ chép, có lần nhà vua xử kiện ở điện Thiên Khánh. Khi ấy công chúa Động Thiên ngồi hầu bên cạnh, vua chỉ vào công chúa bảo ngục lại rằng: “Ta yêu con ta cũng như lòng ta làm cha mẹ dân. Nhân dân nhiều người vô tình mà phạm tội, không biết mà mắc vào hình pháp, ta rất lấy làm thương xót. Từ nay về sau không cứ gì tội nặng hay nhẹ, đều nhất loạt khoan giảm”.

Lại một lần khác trời rét, vua nói với tả hữu: “Ta ở trong cung mặc áo cừu, lò sưởi ngự mà còn thấy rét. Vậy những người tù quần một manh, áo một mảnh lại phải ăn đói nữa. Vả chăng việc quan lại xét xử liệu có được công minh”. Rồi vua sai phát chăn áo ấm và cho tù ăn no, và cấm ngục lại không được bắt tù làm việc riêng cho nhà mình.

Thông thường việc xử kiện do Thẩm hình viện phụ trách. Nhưng vua vẫn băn khoăn việc xét xử đôi khi oan ức gây tan nhà nát cửa cho những người dân thấp cổ bé họng, nên Lý Thánh tông sai lập Đô hộ phủ sĩ sư để xử lại (nay gọi là xử Giám đốc thẩm) các vụ án còn gây ngờ vực.

Song để những người làm việc trong Đô hộ phủ sĩ sư giữ được sự liêm chính, vua cho bổng mỗi người một năm là 50 quan tiền, 100 bó lúa và các thứ cá khô và muối; ngục lại mỗi người một năm 20 quan tiền và 100 bó lúa để giữ thanh liêm.

Đến đây ta có thể nói pháp luật nhà Lý có yếu tố tôn trọng nhân quyền rất cao.

Tương tự như vậy mãi đến ngày mùng 10 tháng 12 năm 1948, nhân loại mới ra được bản Tuyên ngôn nhân quyền, trong đó điều 11 khoản 1 có nội dung gần giống với luật hình nhà Lý năm Nhâm ngọ (1042) và được thể hiện trong cách ứng xử của Lý Thánh tông.

Nội dung điều 11 khoản 1 như sau: “Phàm ai bị cáo dưới tội danh gì đều được coi là vô tội cho đến khi tội danh ấy được chứng minh rõ rệt trong một vụ xét xử công khai có đủ bảo đảm cho bị cáo về quyền bào chữa”.

(Nguyên văn bản tiếng Pháp: Toute personne accusée d’un acte délictueux est présumée innocente jusqu’à ce que sa culpabilité ait été l’également établie au cours d’un procès public où toutes garanties nécessaires à sa défense lui auront été assurées).

Một điều nữa có thể làm sửng sốt hậu thế, ấy là khi Lý Thánh tông băng hà vào năm 1072, bà nguyên phỉ Ỷ Lan tức Linh nhân hoàng thái hậu nhiếp chính, đã lãnh đạo quốc gia này trong đó có hai cuộc chiến tranh. Một cuộc sai Lý Thường Kiệt đem mười vạn quân sang phá tan các sào huyệt, mà tại đó nhà Tống chuẩn bị các phương tiện hậu cần và một số quân lực mưu toan xâm lược nước ta. Tiêu diệt hoàn toàn các căn cứ hậu cần của nhà Tống rồi rút quân về mà quân Tống không dám truy đuổi. Đó là vào năm 1075. Biết nhà Tống thế nào cũng trả thù, bà Ỷ Lan lại sai Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến ngăn giặc tại sông Như Nguyệt (sông Cầu) và hiệu triệu toàn dân tham gia kháng chiến.

Quân Tống kéo sang bị cầm chân tại bờ bắc sông Như Nguyệt, và bị tiêu diệt tới sáu bảy phần. Chúng không chịu nổi phải chấp nhận giảng hòa rồi lui quân về Bắc vào tháng 3 năm 1077.

Tới đây có thể nói Đại Việt đã trở thành một quốc gia văn hiến, một quốc gia cường thịnh, một quốc độ Phật. Và như vậy là tâm nguyện và hoài bão của các bậc tiền bối như Pháp Thuận, Ngô Chân Lưu, Vạn Hạnh, Định Hương, Đa Bảo và xa hơn nữa là thiền sư Định Không đã viên thành, cũng tức như các vị đã tròn đầy đạo quả.

Nhân kỷ niệm Một ngàn năm về thời đại huy hoàng vào bậc nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, tôi chỉ xin khái lược đôi nét rút ra từ tinh thần tự cường dân tộc được thể hiện trong nội dung bộ tiểu thuyết lịch sử TÁM TRIỀU VUA LÝ mà tôi dốc cả tâm lực và trí tuệ ra viết gần hai chục năm trời; trước hết là để tri ân các bậc tiền nhân và sau đó là cống hiến cho hết thẩy quý vị độc giả mang dòng máu Việt tộc.

Hà Nội, tháng 5 năm 2010

HOÀNG QUỐC HẢI


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 21.09.2018, 10:09
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5388 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 8
Sơ giản phả hệ nhà Lý

Thái tổ Lý Công Uẩn lên ngôi năm 1010, băng năm 1028.

Thái tổ Lý Công Uẩn sinh các con:

- Lý Phật Mã còn có tên là Đức Chính nối ngôi, miếu hiệu là Lý Thái tông.
- Dực Thánh vương
- Khai Quốc vương
- Đông Chinh vương
- Vũ Đức vương

Lý Thái Tông sinh các con:

- Lý Nhật Tôn. Nhật Tôn nối ngôi miếu hiệu là Lý Thánh tông.
- Lý Nhật Trung

Lý Thánh Tông sinh các con:

- Lý Càn Đức. Càn Đức nối ngôi miếu hiệu là Lý Nhân tông.
- Minh Nhân vương

Lý Nhân Tông không có con, phải lấy con của người em trong họ là Sùng Hiền hầu Lý Dương Hoán, lập làm hoàng thái tử và cho nối ngôi.

Dương Hoán lên ngôi lấy miếu hiệu là Lý Thần tông.

Lý Thần Tông sinh các con:

- Lý Thiên Lộc – tuy sinh trước nhưng là con người nàng hầu nên không được lập.
- Lý Thiên Tộ được nối ngôi, miếu hiệu là Lý Anh tông.

Lý Anh Tông sinh các con:

- Lý Long Xưởng
- Lý Long Cán

Long Xưởng làm rối cương thường không được lập. Em là Long Cán được nối ngôi, miếu hiệu là Lý Cao tông.

Lý Cao Tông sinh các con:

- Hoàng thái tử Sảm, nối ngôi miếu hiệu là Huệ tông.
- Hoàng tử Thầm

Lý Huệ Tông sinh các con:

- Công chúa Thuận Thiên
- Công chúa Chiêu Thánh


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 21.09.2018, 10:12
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5388 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
I

Hoang dâm vô độ, Lê Long Đĩnh kiệt sức mà chết. Tả Điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn cùng Hữu điện tiền chỉ huy sứ Nguyễn Đê, mỗi người coi 500 quân Tuỳ long[1] canh giữ thi hài nhà vua, phòng nội loạn.

Dân trong nước hẳn còn nhớ, cách đây đúng bốn năm, khi hoàng đế Lê Hoàn vừa băng; hoàng thái tử đã lập là Lê Long Việt (tức Trung tông) lên kế vị. Lập tức các hoàng đệ là Đông Thành vương và Trung quốc vương nổi binh chống lại, nhằm tranh giành ngôi báu, kéo dài tới tám tháng mới dẹp yên.

Ba ngày sau khi tức vị[2], Lê Long Đĩnh đang đêm đột nhập vào nội tẩm, giết chết anh mình là Lê Trung tông, tự lập làm vua.

Quan Tả điện tiền chỉ huy sứ nhìn gương mặt xám ngắt như miếng thịt trâu ôi của Lê Long Đĩnh, và cả thân hình ông ta teo tóp như xác một con mèo hen chết cóng, nằm bất động trên long sàng, được phủ tấm vóc điều. Ngay cả tấm vóc điều hầu như cũng tối đen lại.

Lý Công Uẩn kinh hoàng thấy những hành vi bạo ngược của nhà vua khi còn sống đang diễn ra trong óc não ông. Ông đem lòng hoài nghi: chẳng nhẽ trong cái túi da[3] thối tha kia, chỉ chứa thuần một thứ tội ác đã được chọn lựa một cách kĩ càng của tạo hoá sao? Quan điện tiền đẩy cái nhìn vào sát gương mặt hốc hác bất động của Lê Long Đĩnh, cái gương mặt được tôn vinh là hoàng đế ấy mới có hai mươi tư tuổi đời, với bốn năm chấp chính; bằng những hành vi hung hiểm hơn cả loài dã thú, ông ta tự làm mình già đi tới cả trăm tuổi; và làm cho cả đất nước cũng già theo, xác xơ, héo úa, hoang rỗng đến kiệt cùng. Nhớ khi con người kia lén giết Lê Long Việt, ta ôm xác vua mà khóc ròng ròng.

Long Đĩnh trợn đôi mắt trắng dã nhìn ta với con dao nhọn ngoen máu trong tay, vẫn tưởng y sẽ xông vào đâm ta như y vừa đâm chết người anh ruột – hoàng đế Lê Trung tông. Nhưng chẳng biết tại sao y lại “hừm” lên một tiếng, liền đó vứt phịch con dao máu xuống thềm điện rồi bỏ đi. Và cũng không hiểu tại sao khi lên ngôi, Long Đĩnh không giết mà lại còn khen ta có lòng trung, rồi vẫn cho ta ở chức này.

Trong khi quan Điện tiền còn đang suy nghĩ mông lung về tội ác của nhà vua, thì tại triều đình, các quan đã tề tựu nhóm họp. Lê Ngọa triều[4] mất không kịp viết di chiếu, không có cô mệnh. Nhẽ đương nhiên, các quan cứ đặt ấu chúa lên ngai vàng, rồi sụp lạy mà tôn lên ngôi thiên tử. Còn chính sự, đã có các quan tả hữu phụ bật coi sóc.

Trái với điển lệ, quan Thái bảo Đào Thạc Phụ dõng dạc tuyên cáo trước triều hội:

- Bớ các quan! Hôn quân đã thác! Con nối còn thơ ấu, lại chẳng biết nhân cách sau này thế nào, mà lòng dân đã từ lâu chất chứa oán hờn. Lòng dân trái lìa, các động, sách lại luôn luôn làm phản; bên ngoài thì nhà Tống nhòm ngó. Để yên thế nước, các bậc trong hàng tam công[5] chúng tôi đã xét suy cạn nhẽ, lại tham bác thêm với các bậc khanh, sĩ và cũng đã có nhời với các bậc tăng thống, ai ai cũng thấy chỉ có tôn quan Thân vệ tả điện tiền đô chỉ huy phó sứ Lý Công Uẩn, là người có đức độ, có tài năng, lại có uy nghi cốt cách thánh thần lên ngôi thiên tử, thì đất nước mới hưng vượng lên được. Chẳng hay ý trăm quan thế nào?

Quan Thái bảo vừa dứt lời, cả triều đình đều tung hô: Vạn tuế! Vạn vạn tuế!

Mọi người nhìn trước nhìn sau, không thấy Lý Công Uẩn đâu cả. Chợt có người nhớ ra, quan Điện tiền còn đang coi sóc thi hài nhà vua trong nội tẩm. Lập tức kiệu rồng được phái đi rước ông.

Kiệu chưa ra khỏi sân rồng, thì đám quân Tuỳ long đã lấy thân làm kiệu, rước Lý Công Uẩn tới trước thềm điện. Trăm quan lạy mừng. Tả, hữu dìu Lý Công Uẩn lên ngự ngai vàng. Ông hai ba lần từ chối rồi mới gượng ngồi. Các quan dâng mũ miện, áo long cổn, đai ngọc, kiếm báu cùng ngọc tỉ truyền quốc.

Lý Công Uẩn cảm động rơm rớm nước mắt; ông đứng lên chắp tay vái hai vái để tỏ lòng biết ơn bá quan.

Trăm quan cúi đầu sụp lạy nhà vua bốn lạy, rồi dâng tôn hiệu: “Phụng thiên chí lý ứng vận tự tại thánh minh long hiệu duệ văn anh vũ sùng nhân quảng hiếu thiên hạ thái bình…”

Vua mới lên ngôi liền cho phá bỏ hết các vạc dầu cùng chuồng hổ, báo, rắn, rết, voi, ngựa là các giống vật để hành hình người có tội. Trước đây, từ thời nhà Đinh đã lập ra hình phạt này. Trong nước, hễ ai có tội, tùy theo nặng nhẹ mà bỏ nấu trong vạc dầu sôi sình sịch suốt đêm ngày. Hoặc ném vào chuồng cho hổ, báo ăn thịt, rắn rết hành hạ, hoặc voi giày, hoặc tứ mã phanh thây…

Lại ban chiếu, từ nay ai có việc tranh kiện nhau, nha lại đã xử nhưng nỗi oan chưa tỏ cho đến triều tâu bày, vua thân xét xử.

Khắp nước, dân chúng hồ hởi mở hội ăn mừng. Cờ phướn với hàng chữ lớn: “Thiên hạ thái bình” giăng mắc khắp nơi.

Trong dân gian đồn đại rộn lên về lời sấm loan từ mấy năm nay. Như trước đây trong thành Đại La có người khách thương thường đem hàng hóa về bán buôn tại châu Cổ Pháp, tò mò hỏi người bạn hàng về lời sấm ấy như thế nào. Ông chủ cũng là người nhanh nhẹn, cởi mở, nghe hỏi đến chuyện vùng quê mình thì lấy làm hãnh diện lắm, bèn mời khách đi xem. Ông dẫn khách tới chỗ cây gạo bị sét đánh ở đầu hương Duyên Uẩn, chỉ vào chỗ chạc ba, nơi hiện lên lờ mờ những nét chữ, mà thiền sư Vạn Hạnh đã chắp nối lại thành bài sấm ký như sau:

Thụ căn diểu diểu,
Mộc biểu thanh thanh.
Hòa đao mộc lạc,
Thập bát tử thành.

Vừa giải nghĩa, vừa chiết tự đại ý:

Vua thì non yếu,
Tôi thì cường thịnh.
Họ Lê mất,
Họ Lý nổi lên.

Lời ấy đồn khắp hang cùng ngõ hẻm, từ làng nọ sang làng kia. Lời thơ ấy trở thành lời sấm được trẻ chăn trâu hát đồng dao tại các chợ búa làng quê. Chẳng bao lâu khắp cả nước đều biết. Việc ấy cũng đã đến tai Lê Ngọa triều. Nhà vua còn bán tín bán nghi. Bỗng một hôm có người dâng quả khế ngọt, vua ăn thấy chiếc hạt mận[6] mới thật sự tin vào lời đồng dao. Ngài bèn cho truy tìm khắp cõi để giết người họ Lý, giết cả những kẻ hát đồng dao. Nhưng đồng dao thì cả nước hát, giết sao thấu, khiến cả bọn quan quân đi săn bắt cũng phải khiếp sợ; không biết trời sẽ giáng hoạ ra sao, mà lời sấm vĩ cứ đồn thổi như một vết dầu loang, không thể nào ngăn chặn được. Còn nghe nói ở chùa Ứng Thiên có con chó mẹ đẻ ra con chó trắng, xoáy lông trên lưng có vằn vàng đọc ra chữ Thiên tử. Có người giảng, chó là Tuất; điềm này ứng vào năm Tuất ắt có vua mới.

Các chuyện đều đến tai, nhà vua đứng ngồi không yên, ăn ngủ không được, càng lao vào việc bắt bớ, tàn sát. Khắp các làng quê kẻ chợ, trẻ con bị bắt về triều kể có hàng trăm. Ngọa vương đã sai phanh thây, mổ bụng hàng chục trẻ nhỏ trước mặt ông, vì tội hát đồng dao. Ông cũng cho treo cổ hàng chục người họ Lý. Bữa nọ, thiền sư Vạn Hạnh vào triều kiến, nhà vua mừng lắm nhưng không đứng dậy được, vẫn cứ ngọa trên long sàng, tiếp sư.

- Ta mong hoà thượng như con mong mẹ về chợ – Vua nói.

- Để bệ hạ phải trông chờ, tăng này thật có lỗi. Chẳng hay bệ hạ mong bần tăng tới có việc gì sai bảo?

Được lời như cởi tấm lòng, nhà vua nói hết các điều chất chứa ám ảnh bấy lâu nay, như lời trẻ hát đồng dao, ăn khế có hạt mận, trên mình chó xuất hiện hai chữ “Thiên tử”…

Thiền sư vén vạt áo cà sa ngồi tĩnh tâm rồi thong dong hỏi:

- Chẳng hay bệ hạ có còn cái hạt mận ấy không? Có bắt được kẻ làm đồng dao không? Có bắt được con chó có xoáy lông, có hai chữ đó không?

Vua thở dài:

- Trẻ hát đồng dao, sứ đi rình nấp nơi chợ búa đồng quê đã giết được mấy chục đứa, lại bắt về đầy triều. Cái hạt mận thì quả thực ta sai vứt đi rồi. Ta cũng sai người về chùa Ứng Thiên bắt con chó con kia, nhưng tới nơi nó đã chết, nhà chùa chôn đi rồi.

- Thế bệ hạ đã giết bao nhiêu người họ Lý?

- Ta mới giết có vài chục đứa. Trông chúng như những thằng khờ.

- Chính bệ hạ biết đấy, việc đời như nước chảy như mây bay, có cái gì ngưng kết lại đâu mà lo. Con chó đã chết, cái hạt mận không còn, lời đồng dao cũng bay theo gió. Chỉ tiếc là bệ hạ đa sát quá. Nỗi oán vọng của các hồn oan ngày một chất chứa, thì bệnh tật bệ hạ ngày càng nặng thêm. Thiền sư vừa nói vừa chỉ ngón tay vào nhà vua.

Ngọa vương co rúm người lại, rồi phát cơn đau quằn quại. Nhà vua giãy giụa, mặt tái xám như không còn một hạt máu, xin thiền sư cứu mạng. Vua vốn biết sư là bậc cao tăng, đến tiên đế xưa còn phải kính phục. Mỗi khi xuất quân hay quyết việc gì lớn, đều hỏi ý sư. Nay thấy sư có ý không vui vì các việc mình làm, nên nhà vua lo lắm. Hai ba lần cầu khẩn xin sư cứu mạng.

Thiền sư khẽ chụm năm đầu ngón tay đặt nhẹ lên huyệt bách hội của nhà vua. Chừng nhai dập miếng trầu, bệnh chỉ ngay, vua ngồi bật dậy, vái sư lia lịa.

Thiền sư bèn nói:

- Bệ hạ đừng tin vào những lời đồn đại hoang đường mà giết người dân vô tội. Nếu bắt tội thì phải bắt kẻ làm đồng dao, chớ sao lại đi giết kẻ hát đồng dao? Chúng trong trắng như thiên thần. Giết chúng ắt trời bắt phải đền tội.

- Nhưng ta không bắt được kẻ làm ra đồng dao.

- Bệ hạ bắt làm sao được người làm ra đồng dao. Bởi đó là lời của thần xui trẻ hát. Vì thế không ai dạy mà chúng đều thuộc nằm lòng. Nếu không, tại sao bệ hạ ăn quả khế lại có hạt mận. Đó chẳng phải là cơ trời sao. Thế mà lại đi bắt người dân vô tội về giết.

Nhìn chòng chọc vào mắt nhà vua giây lát, thiền sư lại hỏi:

- Bệ hạ có biết quan Tả điện tiền đô chỉ huy phó sứ của ngài họ gì không?

Nhà vua oằn người chịu cơn đau vừa ập đến, đáp lời qua hơi thở gấp:

- Công Uẩn họ Lý. Sư còn lạ gì mà phải hỏi ta. Nhưng y là người tận trung. Điều này ta biết từ sau vụ Trung tông bị hại. Chính mắt ta thấy y ẵm xác Trung tông vừa chết, máu me đầy người. Y khóc Trung tông trước mặt ta.

- Vậy chớ bao giờ thì bệ hạ trừ khử quan Điện tiền? – Vạn Hạnh hỏi rồi đưa mắt nhìn xoáy sâu vào gương mặt hốc hác của nhà vua.

- Không đâu! Không đâu! Ta không ngu dại đến mức đi giết người bề tôi trung dũng như quan điện tiền của ta.

- Vì sao lại thế?

- Ta nói rồi, y là bề tôi trung của ta. Vả lại, vợ Công Uẩn là nghĩa nữ của tiên đế. Ta với y ngoài nghĩa vua tôi còn có tình huynh đệ. Hơn nữa, y là đệ tử của đại sư, hóa nên các người đều là thân tín, là ân nhân của ta. Cớ sao ta còn hoài nghi nữa.

Nhà vua lại ôm bụng kêu rống lên:

- Ối đau quá! Đau quá! Xin đại sư mở lượng cứu mạng! Cứu mạng!

Vạn Hạnh nhìn vào đáy mắt nhà vua, ôn tồn khuyên bảo:

- Bệ hạ muốn sinh mệnh được dài lâu, cơ đồ được trường cửu, phải lo làm việc thiện, trồng cây đức thì mới mong chuyển nghiệp được. Chỉ khi nào dân của bệ hạ không bị chết thảm, không còn cảnh đói rét cơ hàn, lòng bệ hạ tự nhiên thanh thản, bệnh tật trong người ắt tiêu tan.

Lạ thay, thiền sư vừa dứt lời, nhà vua lập tức hết cơn đau.

Thiền sư từ giã nhà vua về sơn tự.

Vua vừa mừng rỡ, vừa khiếp sợ oai lực của thiền sư. Thật ra, thiền sư còn nghe được nhiều chuyện lạ kỳ nữa, nhưng sư không muốn kể cho hôn quân nghe. Chẳng hạn đêm nọ sư đang tham thiền lại nghe như rót vào tai từ bốn phía ngôi mộ của thân phụ Lý Công Uẩn đều có tiếng người thần ngâm thơ.

Nguyên do ngôi mộ cha Công Uẩn có nhiều sự lạ, là bởi câu chuyện về hai người đàn ông, đàn bà, làm công quả bị đuổi ra khỏi chùa. Vì rằng cái người làm vãi tự nhiên có chửa, không giấu được ai nữa, thị khai là một bữa đang làm việc sau chùa, thấy mệt và buồn ngủ, bèn ngả lưng lên phiến đá nằm nghỉ. Rồi thiếp ngủ lúc nào không biết, và trong giấc ngủ mơ thấy có người thần đến giao cấu. Từ ấy trong người cứ rạo rực, rạo rực hoài, và bụng thì cứ mỗi ngày mỗi phình to ra, chẳng biết thế nào.

Thế nhưng tăng chúng lại nói y thị ăn nằm với cái người đàn ông kia.

Hai người bị đuổi, kéo nhau ra dựng một túp lều bên bìa rừng làm nơi trú ngụ, và sống với nhau như vợ chồng. Ban ngày họ tỏa vào trong làng xóm làm thuê làm mướn. Một bữa nọ trời đã sẩm chiều, người đàn ông đi làm về tới giếng nước gần nhà, bỗng dừng lại định uống vì khát quá. Từ đâu đó xuất hiện mấy người đàn ông đến gây sự. Lời qua tiếng lại, xô đi đẩy tới, người đàn ông nọ hững chân tụt xuống giếng. Mấy kẻ lạ mặt sợ quá bỏ đi. Người đàn ông quờ quạng dưới đáy giếng sâu thăm thẳm, được một lúc rồi chìm xuống mà chết.

Người đàn bà bụng mang dạ chửa đi làm về, lại vào bếp hí húi thổi cơm. Nấu xong, chờ mãi không thấy chồng về, sốt ruột, nàng bèn đốt đuốc đi tìm chồng và réo gọi lạc cả giọng. Trong đêm tối chỉ có tiếng vọng của núi rừng đáp lời nàng, nghe ghê rợn như tiếng của loài ma quái giỡn nạt. Mãi quá nửa đêm, không biết thần linh xui khiến thế nào nàng lại soi đuốc vào lòng giếng. Thấy xác người nổi, nhận đúng là chồng, nàng hét lên một tiếng rồi ngất đi.

Sớm hôm sau vừa tỉnh dậy, nàng toan ngó xuống giếng nhìn mặt người quá cố một lần nữa, rồi vào trong xóm, trong làng nhờ người mai táng. Lạ thay! Nàng không thấy cái giếng đâu nữa và chợt nhận ra mình đang nằm trên một gò đất cao. Nàng bước đi vài bước, thấy đất dưới chân mát lạnh và sụt lún. Định thần nàng mới nhận ra là mối vừa đùn đắp đêm qua. Người đàn bà bất hạnh vừa thương chồng, vừa thương đứa con trong bụng, lại tủi cho thân phận của chính mình, cứ ngồi khóc tức tưởi tới quá chiều. Bỗng có một người đi qua thấy tiếng khóc than thảm thiết, biết rằng thiếu phụ này chồng vừa chết, và cái gò mối đùn kia chính là ngôi mộ Trời táng cho chồng chị ta.

Thương tình, khách bèn khuyên:

- Nhà chị kia, phúc trời ban cho lớn vậy mà không biết tạ đi, sao lại còn khóc. Mộ ấy là kết phát đế vương đấy. Liệu mà tu nhân tích đức.

Chưa kịp nhìn xem ai dạy bảo, chưa kịp hỏi han vài lời thì khách đã biến đi đằng nào mất tăm.

Rồi người đàn bà ấy cũng kiếm được miếng ăn, sống cho qua ngày đoạn tháng. Sinh nở mẹ tròn con vuông, gắng nuôi được đến khi con lên ba tuổi khỏe mạnh. Lại nghĩ đến tương lai của thằng bé lớn lên phải có người dạy bảo, phải được học hành. Người mẹ đành liều đem con đến chùa Kiến Sơ hương Phù Đổng, nhờ nhà sư Khánh Văn nuôi giùm và nhờ Phật Đà che chở. Nhìn đứa bé tướng mạo khác thường, sư bèn nhận lời và đặt cho cái tên là “Công Uẩn”, lại cho mang họ Lý của sư để đăng vào sổ bộ của thiền môn. Tới năm Công Uẩn sáu tuổi, nhân một bữa sư Vạn Hạnh ghé thăm sư Khánh Văn bên chùa Kiến Sơ, hương Phù Đổng; vừa chợt nhìn thấy trên đầu Công Uẩn như có vầng hào quang, Vạn Hạnh bèn vẫy lại xem kỹ từ đầu mày khoé mắt. Sư vui lắm. Một lát sau, nhân vừa uống trà vừa đàm đạo về Phật sự và cả thế sự nữa với sư Khánh Văn, hai người trò chuyện rất là tâm đầu ý hợp.

Vạn Hạnh ra về. Khánh Văn theo tiễn mãi tới cổng chùa mà vẫn còn lưu luyến. Chợt sư Vạn Hạnh nhìn thẳng vào mặt Khánh Văn nói, giọng hết sức nghiêm trang:

- Thằng bé mà sư đệ nuôi đó có tướng lạ lắm. Thật là kỳ tướng. Vậy chớ sư đệ kiếm đâu ra đứa bé này?

Khánh Văn bèn thuật lại chuyện ba năm về trước. Lại kể từ khi trở thành người nhà Phật, thằng bé ngoan ngoãn và sáng dạ như thế nào.

- Mới có sáu tuổi chữ nghĩa đã làu thông. Chép kinh văn, tự hiểu được nghĩa, không cần đệ phải giảng giải.

Vạn Hạnh bèn nắm lấy tay Khánh Văn nói nhỏ:

- Ta nói điều này sư đệ phải giữ kín, lộ ra có kẻ biết, nó sẽ sát hại thằng bé mất. Ban nãy ta nói thằng bé có kỳ tướng là ta còn giảm đi mấy bậc đấy. Thực ra nó có tướng đế vương. Đây đích thị là bậc minh vương thánh đế trời ban cho nước ta, ban cho Đạo ta, để gỡ cho thế nước đang lâm vào trì bế, nát rối. Sư đệ phải bảo trọng tài sản cho nước. Nói xong thiền sư toan quay bước.

Nghe Vạn Hạnh nói, Khánh Văn vừa mừng rỡ, vừa lo sợ, sư bèn kéo vạt áo cà sa của sư Vạn Hạnh lại và nói một cách chân tình:

- Việc quốc gia đại sự lớn lắm, mà Phật sự cũng lớn lắm, đệ không kham nổi cả hai việc được đâu. Sư huynh đạo cao vọng trọng, oai lực như thần, đến quốc vương còn phải kính nể, đệ giao thằng bé này cho sư huynh nuôi dạy thành tài, đệ hứa sẽ giữ kín mồm miệng, xin sư huynh yên lòng.

- Thiện tai! Thiện tai!

Và từ bữa ấy, Công Uẩn theo hầu thầy Vạn Hạnh. Thiền sư Vạn Hạnh từ khi thâu nhận Công Uẩn làm đệ tử, ngài để hết cả tâm lực và trí lực của mình vào việc giáo dưỡng một chân tài, mà ngài hy vọng là để dùng vào việc chấn hưng đất nước, chấn hưng Phật Đạo.

Lại nói đến chuyện đêm đêm thiền sư Vạn Hạnh nghe như rót vào tai mình từ bốn phía ngôi mộ cha của Công Uẩn, có tiếng người thần ngâm thơ. Sư ghi lại được tất cả, rồi viết vào ván gỗ, sai người đem đóng vào bốn hướng mộ. Sư lại đến tận mộ kiểm xét cẩn thận, thắp hương trò chuyện với sơn thần, thổ địa. Trước khi về, sư còn đọc một bài kệ, như là một sự trấn yểm, cũng là nhời nhắn bảo con cháu sau này, nếu có sự di đáo thất lạc, thì cứ theo lời kệ mà tìm, ắt sẽ thấy phần mộ tổ tông. Lời kệ như sau:

Đông hữu Vũ Long hạng
Nam hữu Vũ Long pha.
Tây hữu Hạc Lâm quán,
Bắc hữu Trấn Hải trì.[7]

Đại loại những chuyện như thế nhiều vô kể. Và cũng từ bữa ấy, Ngọa vương lâm trọng bệnh, việc giết người vì thế không xảy ra nữa.

Kíp khi Ngọa triều mất, Lý Công Uẩn được tôn lên ngôi hoàng đế. Cả nước, ai cũng bảo lòng trời tựa họ Lý. Vì vậy dân chúng đều đem lòng ngưỡng mộ sùng kính vua mới. Những nơi xa kinh thành, dân còn lập hương án bái vọng về triều.

Lý Công Uẩn còn tuyên dụ trước bá quan rằng: Nhờ có các khanh, ta mới được vẻ vang như thế này. Vậy ai giữ chức nào ở triều trước vẫn cho ở nguyên chức ấy lại ban nhất loạt mỗi người tước năm tư. Và khuyến dụ mọi người phải gắng sức hoàn thành trách phận để đem phúc hạnh đến cho muôn nhà. Vua còn đặc cách thăng thưởng cho những người có công lớn, và cất nhắc người trong thân tộc, như đem con gái trưởng là công chúa An Quốc gả cho Đào Cam Mộc, lại phong Mộc làm Tín nghĩa hầu. Đào Cam Mộc vốn là Chi hậu hầu cận Ngọa triều Lê Long Đĩnh, được nhỡn tiền thấy không biết bao nhiêu tội ác của nhà vua khiến lòng ông đau đớn khôn nguôi. Ông cũng được chứng kiến cả hành vi trung nghĩa của Lý Công Uẩn, khi Lê Long Đĩnh giết anh mình là Lê Trung tông. Công Uẩn đã ôm xác vua cũ mà khóc lóc tỏ lòng trung. Rồi khi về với vua mới, Công Uẩn không a dua xu phụ vào các tội ác cùng các việc làm thất đức của Ngọa triều hoàng đế.

Cảm mến tấm lòng trung nghĩa ấy của Công Uẩn, kịp khi Ngọa vương vừa mất, Đào Cam Mộc nhân lúc vắng người liền ngỏ ý:

- Mới rồi chúa thượng ngu tối, bạo ngược, làm nhiều điều bất nhân bất nghĩa, nên trời trách phạt, không cho hưởng hết tuổi thọ. Con nối lại thơ ấu, sao cáng đáng được việc nước trong tình thế khó khăn này. Đình thần chán ghét. Bách tính ngong ngóng mong tìm chân chúa. Sao ông không nhân lúc vận dụng mưu cao, trên thuận mệnh trời, dưới theo lòng dân lấy nước mà cứ khư khư giữ mãi tiểu tiết làm gì. Lý Công Uẩn nghe Đào Cam Mộc nói đã tin tới tám chín phần, nhưng vẫn còn một chút hơi ngờ vực, bèn giả vờ nạt:

- Sao ông lại nói những lời diệt tộc như thế, tôi phải bắt ông nộp quan trên.

Không chút nao núng, Đào Cam Mộc thẳng thắn đáp:

- Tôi thấy cơ trời, vận nước, lòng dân bày xếp ra như vậy thì nói vậy. Nay ông lại muốn đi cáo giác tôi, vậy thì xin nói để ông biết, Mộc này không phải là đứa ươn hèn, sợ chết.

Biết Đào Cam Mộc thật lòng, Lý Công Uẩn lựa lời an ủi:

- Ông đã có lòng như thế, tôi là hạng người nào lại nỡ đi cáo giác. Chỉ sợ rằng mình đức mỏng chẳng xứng ở ngôi cao, lại nữa chuyện chưa đi tới đâu mà đã tiết lậu ra thì chết cả lũ, nên muốn răn ông đó thôi.

Trong khi ấy các quan vừa bàn tán vừa nghe ngóng. Xem ra không có ai nghĩ đến việc đưa con của Ngọa vương lên nối dòng đại thống nữa.

Lựa lúc thuận tiện, Đào Cam Mộc lại nói với Lý Công Uẩn:

- Từ lâu trẻ con hát đồng dao lời sấm khắp trong nước. Ai cũng bảo họ Lý sẽ phát. Việc ấy tưởng ông còn lạ gì. Sự thể đã lộ ra như thế rồi. Hoạ đây, phúc đấy; quyền biến thì chuyển họa thành phúc chỉ là chuyện trong gang tấc.

Đào Cam Mộc ngừng lời, đoạn nhìn thẳng vào mắt Lý Công Uẩn và với vẻ quả quyết ông giục:

- Việc gấp lắm rồi, ông sớm liệu quyết đi, bỏ lỡ vận hội lại suốt đời ôm hận.

Lý Công Uẩn rưng rưng cảm động nói:

- Giã ơn ông đã đặt kỳ vọng vào ta. Quả thật lòng ta đang rối, lại chẳng biết ý tứ các quan trong triều ra làm sao, ý tứ bách tính ra làm sao. Xin ông hãy vì ta mà dò xét, có như thế nào thì ta mới dám quyết.

Đào Cam Mộc cũng thấy sự băn khoăn của Lý Công Uẩn là xác đáng nên ông tìm cách gặp quan Hữu điện tiền đô chỉ huy sứ Nguyễn Đê. Nhân lúc sẩm chiều, trời như tối lại, ông kéo Nguyễn Đê vào một góc khuất nói:

- Tôi có điều tâm huyết muốn bày tỏ cùng ông.

- Có chuyện gì đấy quan Chi hậu. Phải chăng ông gần gũi hoàng thượng, có di chiếu hay cố mệnh hoàng thượng ký thác nơi ông chăng?

- Không, không phải thế đâu. Xưa nay tôi với ông là chỗ tâm phúc, có điều gì mà phải giấu nhau. Tình thế này không thể đặt thằng nhãi ranh ba tuổi lên ngôi tôn được đâu. Họ Lê mạt rồi, nòi giống ấy phản phúc không gây dựng lại làm gì.

Dứt lời, Đào Cam Mộc nhìn thẳng vào mắt Nguyễn Đê và tiếp:

- Chắc tướng quân còn nhớ các việc diễn ra năm Canh thìn (980) do Lê Hoàn tư thông với Dương thị đã lập mưu giết cha con Đinh Tiên Hoàng rồi vu cho Đỗ Thích, lại tự phong cho mình làm nhiếp chính.

Thấy cơ đồ nhà Đinh có nguy cơ mất về tay kẻ khác, nên Đinh quốc công cùng phụ thân của tướng quân phối cùng các tướng nổi lên định trừ Lê Hoàn. Chẳng may sự việc không thành, các vị đều rơi vào tay y và thất lộc. Nhờ có hai vị cao tăng là Pháp Thuận và Vạn Hạnh nên tướng quân không những không bị trả thù mà còn được đặt vào chỗ then máy, hiện nắm trong tay toàn bộ quân cấm vệ cùng với vị phó của ông là Tả điện tiền đô chỉ huy phó sứ Lý Công Uẩn. Bây giờ mới là lúc ông phải ra tay, phải dùng quân cấm vệ chặn ngay các đường hiểm yếu nội bất xuất ngoại bất nhập, phòng có biến. Rồi bàn bạc trong triều chọn lấy người đức độ tài cán biết đường chăn dắt muôn dân, làm vững thế nước mà lập. Chớ có hấp tấp đặt lũ cáo cầy hùm sói lên ngôi tôn, ắt chúng sẽ hút hết máu mủ của dân lành, chẳng chóng thì chày sẽ dẫn đến cái hoạ tiêu vong cả đất nước chỉ vì sự ngu hèn và tham ác của chúng.

Nắm chặt lấy bàn tay Nguyễn Đê, Chi hậu Đào Cam Mộc thì thầm:

- Ông có nhớ mấy ngày trước đây nhà vua đau đớn dữ dội, bèn triệu đại lão hoà thượng Vạn Hạnh vào triều chữa trị không? Đấy, chính cái bữa ấy, sau khi ở điện Trường Xuân ra thì Hoà thượng gặp tôi, người dặn lại: “Trong bảy ngày nữa, tức là ngày Ất Tỵ, bệnh nhà vua ắt tái phát. Đau trong bảy ngày rồi cứ thế mà đi. Nhà vua đi vào giờ Dậu ngày Tân Hợi”. Ông đã thấy nhà vua phát bệnh đúng vào ngày Ất Tỵ chưa, còn hôm nay là ngày gì?

Nhìn trừng trừng vào mắt Đào Cam Mộc, Hữu điện tiền đô chỉ huy sứ Nguyễn Đê nói:

- Hôm nay chẳng là ngày Tân Hợi sao mà ông Chi hậu còn phải hỏi.

- Vậy thì quả như nhời đại lão hòa thượng Vạn Hạnh đã nói. Lúc này là giờ gì rồi, nếu đúng như hòa thượng nói thì giờ Dậu nhà vua tắt thở. Thì giờ chẳng còn mấy nữa, quân cấm vệ đang ở trong tay ông, xoay chuyển thế cuộc thế nào cũng ở một tay ông, nhược bằng bỏ lỡ dịp này, tay chân của Long Đĩnh độc chiếm ngôi tôn, liệu ông và những người chính trực có còn đất sống?

- Ta rất cảm kích những điều ông nói. Bấy lâu ta rất băn khoăn, đôi lúc cũng muốn ra tay trừ khử hôn quân, ngặt vì chưa tìm được người tâm phúc. Thật ra, hôn quân không chỉ là kẻ thù của dòng họ Nguyễn nhà ta, mà y còn là kẻ thù của cả nước. Mấy bữa nay thấy bệnh tình của hôn quân ngày một trầm trọng, các quan trong ngoài đã xôn xao. Ta với vài người đã có tính tới chuyện tôn ai lên ngôi báu. Trước kia khi hôn quân còn hung hãn tàn ác, mọi người đều nghĩ, cứ trừ được hôn quân thì ai đứng đầu trăm họ cũng được, miễn không phải đứa hôn quân này. Nay thì khác, mọi người đã bình tâm xét định, việc đưa người lên nắm giữ ngôi tôn là trao mệnh nước vào tay họ, nên không thể để cho đứa ngu hèn, hung hiểm, tư kỷ, bè đảng nắm giữ được; mà phải tìm cho được người đức độ khoan dung, người có đầu óc thông tuệ nhìn xa thấy rộng, kiến thức hơn đời, lại phải là người có lòng vị nhân chứ không vị kỷ.

Được, được, ông khỏi lo, quyền chỉ huy quân cấm vệ vẫn nằm trong tay ta, kẻ nào ho he ta bóp chết. Ta sẽ phái Tả điện tiền chỉ huy phó sứ nắm một nửa số quân Tùy long, còn ta giữ một nửa. Ta sẽ đóng chặt bốn cửa thành, các điện Trường Xuân, Cực Lạc, Bách Bảo Thiên Tuế… cùng cả khu cấm thành đến một cánh chim cũng không lọt vào được. Nhưng điều ta cùng mọi người quan hoài nhất trong lúc này là đặt ai lên ngôi báu, ông đã có dự liệu gì chưa, thử nói ta nghe.

Đào Cam Mộc ra vẻ suy tư, trầm ngâm một lát rồi đáp:

- Tôi nói chỉ sợ ông cho là thiên vị, là thiển cận.

- Trời ơi, lúc này mà ông còn so đo, còn không tin nhau nữa thì việc lớn hỏng mất.

- Thì xem các quan lớn trong triều đây, ai có đức thì tôn lên. Ông thử cân nhắc xem quan Tri khu mật viện Trần Cảo, quan Thái bảo Đào Thạc Phụ, hai người ấy liệu có ai xứng đáng không?

- Các ông ấy là người tốt, chứ chưa phải là người tài đức mà cả nước tìm kiếm.

- Thế thì còn một người nữa, người này thì đức độ có, trí tuệ có, cương dũng có, xứng đáng để dân nước tôn thờ nhưng có hai nhược điểm.

- Nhược điểm thế nào, ông nói mau ta nghe.

- Thứ nhất là tuổi còn trẻ. Thứ nhì là quan cấp chưa cao.

Nguyễn Đê vồ ngay lấy cái người mà Đào Cam Mộc vừa nói:

- Sao ông thiển cận thế, người như vậy đất nước đang cần. Tuổi trẻ là cần thiết cho đất nước. Tuổi trẻ có sức nghĩ sức làm, dám nghĩ dám làm các việc lớn việc lạ mà lớp người già e ngại. Còn quan chức chưa cao thì có gì lạ. Từ lâu ta đã nghiệm thấy một điều tưởng như vô tình mà hóa ra chủ ý rằng triều đình đã hoàn tất được các cơ quan then máy để loại bỏ người tài. Bởi thế, sao nó còn dám sắp đặt người tài vào các cơ quan then máy để có chức trọng quyền cao. Vậy người đó là ai, ông nói mau ta nghe.

Đào Cam Mộc mỉm cười nhìn thẳng vào đôi mắt hau háu chờ đợi của Nguyễn Đê, buông một câu hỏi lửng:

- Ông thử nghĩ, cái người như tôi vừa nói có lẩn khuất trong triều đình không?

- Tôi sao có óc bao quát và có mối quan hệ rộng được như ông mà biết.

- Người đó ở cạnh ông đấy. Ông thử bình tâm nhìn lại xem có đúng như nhời tôi nói không?

Nguyễn Đê reo lên:

- Đúng rồi! Tả điện tiền đô chỉ huy phó sứ Lý Công Uẩn. Quả con người này hội được cái đức mà ông vừa nói. Thôi được, ta phải đi đây. Nói xong Nguyễn Đê đi liền.

Thật ra thì từ bữa thiền sư Vạn Hạnh ghé thăm Lê Ngọa triều tại cung Bách Bảo Thiên Tuế vừa bước ra khỏi cửa khuyết gặp ngay Chi hậu nội nhân Đào Cam Mộc cũng vừa tới.

Đào Cam Mộc từ lâu nghe danh đại lão thiền sư trong lòng rất cảm phục, bèn cúi rạp xuống xá thiền sư một xá, miệng nói:

- Nam mô A-di-đà Phật! Con kính chào đại lão hòa thượng.

Thiền sư Vạn Hạnh không đáp lời mà nhìn thẳng vào gương mặt Đào Cam Mộc, bỗng ngài vẫy Cam Mộc đi theo về chùa Thiên Phúc. Phân ngôi chủ khách xong, sư nói:

- Thấy ông là người hiền lành phúc hậu, nên ta không nỡ không cứu. Đoạn sư chỉ vào ấn đường Đào Cam Mộc nói: – Hung khí tụ ở đây. Điềm này ứng vào sinh mệnh nhà vua, vì ông là người trông nom việc hầu hạ trong cung. Không cẩn thận trước cái chết sắp tới của nhà vua, ông phải lãnh án tru di.

Đào Cam Mộc mặt mày tái xám, sụp lạy:

- Con cắn cỏ con lạy đại lão hòa thượng, ngài là Bồ tát tại thế, xin ngài cứu mạng cho con.

Sư lim dim đôi mắt như người xuất hồn, giây lâu ngài mở bừng đôi mắt sáng chói như có hào quang chiếu rọi vào gương mặt Đào Cam Mộc, khiến người Mộc nóng bừng lên, mặt đỏ gay.

Sư thong thả nói:

- Được! Ta sẽ cứu ông, nhưng phải làm đúng các điều ta dặn.

Đào Cam Mộc nói líu cả lưỡi:

- Con xin nhất nhất nghe theo lời đại lão Bồ tát dạy bảo.

- Ta chưa đạt tới cõi của chư vị Bồ tát. Nhưng nghe ta nói đây.

- Dạ! Dạ con đang nghe.

- Nhà vua sẽ tắt thở vào giờ Dậu ngày Tân Hợi tháng Hợi này.

Đào Cam Mộc nhẩm tính: – Vậy là chỉ còn mười bốn ngày nữa, nhưng nhà vua đã có triệu chứng gì nguy kịch đâu mà có thể chết?

Đọc được ý nghĩ của viên Chi hậu cục nội nhân, thiền sư nói:

- Trong bảy ngày nữa, tức ngày Ất Tỵ, nhà vua ắt phát bệnh. Đau dữ dội trong bảy ngày rồi cứ thế mà đi. Lúc nhà vua không kêu ca gì nữa, ấy là lúc tắt thở. Ông nhớ kỹ điều ta dặn đây. Thiền sư nhìn một lần nữa gương mặt Đào Cam Mộc, xem có thể nói ra được điều tối mật thuộc về thiên cơ không. Dường như yên tâm, sư nói: – Khi nhà vua phát bệnh, thế nào cũng cho đòi quan thái y. Nhưng trước khi mời thái y, ông phải cấp báo cho hai quan Tả Hữu điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn và Nguyễn Đê biết, để họ giám sát. Nếu không, ông sẽ can tội giết vua đấy!

Đào Cam Mộc cụng đầu xuống đất vái tạ thiền sư lia lịa.

Quả nhiên, đúng đầu giờ Mão, ngày Ất Tỵ, Đào Cam Mộc cho bê nước ngũ vị hương vào nội tẩm dâng nhà vua rửa mặt, Ngọa triều vung tay hất tung chậu nước đổ lênh láng ra thềm ngọc, ướt cả long sàng, liền lúc kêu thét lên vì đau đớn. Hỏi đau ở đâu, nhà vua chỉ lung tung. Thấy ứng lời của đại lão thiền sư, trong lòng Cam Mộc hết đỗi run sợ bèn cho triệu gấp hai viên Tả Hữu điện tiền, nắm giữ toàn bộ cấm binh canh phòng nội tẩm và cấm thành.

Một lát sau Lý Công Uẩn, Nguyễn Đê có mặt. Hai quan tả hữu điện tiền chỉ huy sứ nhìn gương mặt nhà vua, đều cảm thấy có điều gì nghiêm trọng sắp xảy ra. Hai vị liền chia quân canh gác bốn cửa hoàng thành, canh gác các cung thất, nghiêm cấm sự ra vào của tất cả mọi người. Còn trong nội tẩm, thì đến cả hoàng hậu cũng không được lui tới. Cắt đặt canh phòng các ngả, rồi hai quan điện tiền mới cho triệu thái y ty và thái y chức đến chẩn bệnh cho vua.

Các thái y xoay trở đến toát mồ hôi, vẫn không tìm ra được căn bệnh đang hành hạ nhà vua. Bệnh gì mà bạo liệt thế này, sờ vào bất cứ chỗ nào trong ngọc thể, nhà vua cũng rú gào lên thật là đau đớn. Tâm thần nhà vua mỗi ngày một hoảng loạn, suy sụp. Các thái y đã xoay đủ tứ chứng, nhưng cứ mỗi lần đổ thuốc, nhà vua lại nôn oẹ ra cả mật xanh mật vàng.

Nhà vua phát bệnh đến ngày thứ ba thì khắp các chợ trong thành Hoa Lư, trẻ con cứ thập thò từng tốp, từng tốp rồng rồng rắn rắn, lúc chúng xuất hiện chỗ này, lúc thì chỗ khác, chúng hát đồng dao. Những câu hát rất lạ, nghe kỹ rồi chắp nối được bài hát như sau:

Tật Lê trầm bắc thuỷ,
Lý tử thọ nam thiên.
Tứ phương can qua tịnh,
Bát biểu hạ bình an.[8]

Nghe thì nghe, nhưng ít người hiểu. Bỗng có cụ già râu tóc bạc phơ đi tới, mọi người xúm lại hỏi. Cụ bảo họ đọc lại từng câu rồi giảng giải: “Đây là điềm họ Lê mất, họ Lý lên. Can qua hết, thiên hạ thái bình”. Nói xong cụ biến mất.

Ai nấy đều lấy làm sung sướng vì sắp thoát khỏi cảnh đầu rơi máu chảy hàng ngày do hôn quân tác ác. Vì vậy họ nô nức hát theo lũ trẻ, dường như cả chợ, dường như cả phố phường đều hát theo lũ trẻ. Chẳng mấy chốc, lời đồng dao bay khắp kinh thành cùng với tin Ngọa triều đã chết.

Quan Tri khu mật viện Trần Cảo hấp tấp vào triều, bị cấm quân gạt lại, ông bèn rẽ vào nhà quan Thái bảo Đào Thạc Phụ bàn chuyện cơ mật.

Hai ông trù liệu việc phò ấu chúa lên ngôi hay đi tìm chân chúa. Băn khoăn mãi Trần Cảo mở lời:

- Sinh thời nhà vua tàn ác quá. Dân chúng cả nước còn oán giận sâu sắc lắm. Nay lại đưa ấu chúa lên ngôi, ắt loạn to.

Đào Thạc Phụ hỏi lại:

- Vậy theo ông thì tìm người ấy ở đâu bây giờ?

- Ông có nghe trẻ hát đồng dao rồi chứ. Điềm trời đã chỉ ra như thế, tưởng không theo không được.

- Ý ông muốn nói đến việc tôn Tả điện tiền đô chỉ huy phó sứ Lý Công Uẩn lên ngôi quân trưởng.

- Phải! – Trần Cảo đáp gọn lỏn.

Thế là hai ông liền nhóm họp các quan đầu triều để bố cáo lập vua mới.

Đầu đuôi câu chuyện là như vậy. Cho nên khi thấy Lý Công Uẩn còn phân vân, Đào Cam Mộc đã đem ý mình đi tỏ bày, bàn thảo với những người tâm phúc. Ai cũng bảo việc nên làm. Hóa nên việc thành, công bày xếp của Đào Cam Mộc lớn lắm. Vì thế Lý Công Uẩn vừa gả con gái vừa phong tặng tước cho Đào Cam Mộc, phần là để đáp cái ơn tri ngộ, phần là để cố kết vây cánh.

Nhưng trước hết nhà vua truy phong cho cha mình là Hiển Khánh vương, mẹ sinh là Minh Đức thái hậu. Lại phong cho anh của mình là Vũ Uy vương. Con của Vũ Uy vương là Lý Trưng Hiền được phong làm Thái uý. Hoàng thúc (chú vua) được phong là Vũ Đạo vương. Trần Cảo làm tướng công. Ngô Đinh làm Khu mật sứ. Đào Thạc Phụ có công xướng xuất việc phù lập nên vẫn được giữ chức Thái bảo. Đặng Văn Hiếu làm Thái phó. Phí Xa Lỗi làm Tả kim ngô. Vệ Trúc làm Hữu vũ vệ. Đặc biệt đưa Nguyễn Đê vào giữ chức Khu mật viện chánh chưởng. Hết thảy các quan triều trước đều được lưu dụng, phần đông được giữ nguyên chức cũ, bổng lộc phân chia theo thứ bậc khác nhau. Nhưng vì nước còn nghèo, kho tàng trống rỗng nên đặt ra bổng lộc cũng chỉ là sự hư đãi thôi. Và cùng một lúc nhà vua lập năm bà hoàng hậu. Hoàng hậu đích tức Lê hoàng hậu thì gọi là hoàng hậu lập giáo.

Ngoài ra nhà vua còn cử viên ngoại lang Lương Nhậm Văn và Lê Khánh Tài, là những người có sức học rộng, lại biện bác giỏi sang sứ nước Tống để kết mối bang giao.

Vua đích thân căn dặn hai vị sứ giả, và cho thêm vàng bạc để tiện việc dò tìm tin tức sâu nông, về mưu đồ của nhà Tống đối với nước ta, cùng các việc họ bài bố binh lực trên vùng biên ải hai nước.

Tạm yên công việc triều chính, nhà vua bèn xa giá trở lại gia hương tại làng Dịch Bảng, châu Cổ Pháp. Dân chúng hoan hỉ đón chào vị vua mới là người làng mình. Từ các cụ già đầu tóc bạc phơ, vận quần áo đỏ, chống gậy trúc đến các trẻ nhỏ mới lẫm chẫm biết đi, đều ra khỏi làng tới hơn một dặm để cung nghinh. Họ đem theo tất cả các thứ cờ quạt, tàn lọng hiện có trong các đền chùa, và cả trống đồng cùng chiêng, mõ khiêng vác hàng dàn. Thỉnh thoảng các nhạc công lại dừng lại đánh bài nhã tụng thật là tưng bừng, khiến không khí làng quê sôi động hẳn lên chẳng khác gì ngày hội.

Vua chẳng phải ai xa lạ, chính là chú tiểu tăng ba chục năm trước, theo hầu thiền sư Vạn Hạnh tại chùa Lục Tổ của hương ấp này. Sự thân tình gần gũi ấy khiến các bậc từ trung niên tới lão niên, không ai là không có đôi chút gọi là kỷ niệm hoặc hoài niệm về tuổi ấu thơ của nhà vua. Và rồi những lời đồng dao, những huyền thoại, những bí ẩn về thân thế đức vua vẫn ngấm ngầm truyền tụng từ mấy chục năm nay, bỗng oà vỡ như là một sự báo ứng, sự linh ứng của Trời Phật.

Kiệu vua vừa tới, các bô lão, theo phong tục của hương ấp, đội ra dâng vua bảy mâm bánh giầy làm bằng gạo nếp thơm trắng phau. Nhà vua xuống kiệu, nâng các cụ đứng dậy. Và vua tự dìu cụ Mốc xóm Đông, là người cao tuổi nhất làng trở về ngôi miếu thờ thần.

Sau khi tạ thần linh tại ngôi miếu cổ, vua thân vào chùa Lục Tổ tạ ơn Phật.

Ai nấy đều ngơ ngác vì không thấy thiền sư Vạn Hạnh ra tiếp vua. Nhà chùa cho hay thiền sư mới vân du cách đây hai ngày, và ngài có dặn thế nào cũng diện kiến đức vua trong dịp nhà vua trở lại gia hương.

Trước khi về thăm lại ngôi nhà nhỏ bé của mình, vua ban lộc cho các bô lão trong hương ấp.

Trời vừa sẩm tối, cả hương Dịch Bảng bừng sáng như một đêm hội hoa đăng. Tiếng kèn, tiếng trống, tiếng đàn, tiếng phách sênh điểm nhịp cho các giọng hát cất cao, vang âm khắp các hang cùng ngõ hẻm.

Các cụ già bảo nhau: Từ tiền cổ tới giờ làng Dịch Bảng chưa bao giờ vui như thế. Cũng từ tiền cổ tới giờ, dân Dịch Bảng chưa bao giờ được ân tứ vua ban rộng khắp như thế.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 21.09.2018, 10:13
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5388 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
II

Vừa xong khoá lễ đêm, thiền sư Vạn Hạnh thong dong bước ra sân chùa. Ông ngửa mặt nhìn bầu trời đầy sao, hít một hơi thật sâu vào trong lồng ngực rồi đi bách bộ.

Đêm mùa xuân tĩnh mịch. Đâu đó tiếng nước suối tuôn róc rách. Xa xa tiếng nai gộ, tiếng mang tác, tiếng tắc kè từ vách núi sau chùa thả từng nhịp chắc nịch vào rừng đêm. Dưới ánh sao xanh mờ, thiền sư dừng bước trước cội thông già bên phiến đá to ước nửa chiếc chiếu trải giường, nằm khuất phía sau vườn chùa. Thiền sư cúi xuống rờ đôi bàn tay dăn deo với cả mười ngón khum khum trên phiến đá, như rờ một vật báu. Khí đá lạnh như một con hàn xà len lỏi khắp huyết quản ông. Nhà sư rùng mình ớn lạnh.

Vừa lúc chú tiểu Bảo khoác lên lưng thiền sư tấm áo kép, rồi chắp tay lễ phép thưa:

- Bạch thầy, đêm lạnh, khí núi cây rừng lam chướng, con mời thầy vào nhà nghỉ.

- Ờ, ờ, nhà sư già lơ đãng đáp. Dường như trong tâm não ông đang đeo đuổi nghĩ suy về một điều gì đó.

Với phận sự kẻ bề dưới, tiểu Bảo lại nài nỉ:

- Bạch thầy, con mời thầy vào tăng đường.

- Thôi được, con để ta ở ngoài này một lát. Các việc ta khiến, con đã làm xong chưa?

- Bạch, con đã làm đúng như thầy dạy.

- Ta cho con về đi ngủ. Đêm nay ta có việc bận.

Không dám trái ý thầy, tiểu Bảo ghé qua trai đường, xem lại các vật đã bày biện: Bộ đồ trà men ngọc, lau chùi sạch sẽ, đặt ngay ngắn giữa sập gụ trải chiếu trơn, mép viền vải nâu. Chiếc ấm giỏ sơn then. Hộp trà cúc làm bằng trúc đằng ngà lên màu sáng bóng. Chiếc siêu đất đổ đầy nước giếng mạch, đặt trên bếp lò chất than hoa có chêm củi nòm, chỉ việc châm lửa, một loáng là sôi.

Chừng như chưa yên tâm, tiểu Bảo lại mở nắp đỉnh trầm xem đã bỏ đủ trầm chưa. Tiểu cũng không quên đảo mắt vào đĩa đèn, dầu đã rót đầy ắp. Bảy ngọn bấc mới tinh nằm quanh miệng đĩa, đều ngóc đầu lên như lũ tằm đói dâu.

Tiểu Bảo tự nhủ: lát nữa thầy ta vào, chỉ ném một mẩu đóm là đỉnh trầm kia sẽ nghi ngút toả hương thơm. Lại huơ chiếc đóm lửa một vòng, bảy ngọn bấc kia sẽ biến thành bảy ngôi sao lung linh toả sáng.

Đặt hộp đèn nhỏ xuống chiếc ghế đẩu, tiểu Bảo khép cửa lui về phòng tăng, lòng băn khoăn tự hỏi:

“Mười năm hầu hạ thầy, ta chưa bao giờ thấy thầy tiếp khách đêm đượm vẻ trang nghiêm, huyền bí như thế này”. Chàng tự hẹn: “Nhất định ta phải thức để rình xem khách là bậc cao tăng nào mới hạ sơn”.

Thiền sư Vạn Hạnh vén vạt áo cà sa tĩnh tọa trên phiến đá. Toàn thân nhà sư lạnh cóng như ngồi trên tảng băng. Sư toan vận khí cho cơ thể ấm nóng lên, nhưng ông đã không làm thế. Và từ đâu đó hiện về trong óc não thiền sư cảnh huống đã diễn ra cách đây đúng ba mươi sáu năm. Ờ, có nhẽ vào tháng hai năm Giáp Tuất (974), nay là tháng hai năm Canh Tuất (1010). Năm ấy Lý Công Uẩn chào đời. Ta đang ở chùa Lục Tổ hương Dịch Bảng, theo học Đạo với Thiền Ông đạo giả. Nghe nói ở hương Thái Bình có người đàn bà họ Phạm, đi cắt cỏ trâu phía sau chùa Tiêu này, gặp người thần giao cấu trên một phiến đá, sinh ra Công Uẩn. Công Uẩn được ba tuổi, Phạm thị đem đến nhờ sư Lý Khánh Văn chùa Kiến Sơ hương Phù Đổng nuôi giùm. Lại cũng nghe nói cha mẹ Công Uẩn là hai kẻ cùng làm công quả trong chùa, đầu mày cuối mắt lén vụng rồi có chửa nên phải ra khỏi chùa… Lại còn… Lại còn… Ôi thế gian thật là nhiễu sự. Sinh hoá là chuyện thường hằng. Cũng may mà ta mang họ Nguyễn, nếu không việc ta nuôi dạy Công Uẩn đời lại chẳng ngờ ta cũng là cha nó không chừng. Sự thực, ta với Công Uẩn chỉ là một sự túc duyên.

Lại như chuyện nhà chùa đón nhận một đứa trẻ do thế gian trao gửi, là việc làm hết đỗi bình thường nơi cửa Phật. Huống hồ Khánh Văn vốn là một người đạo hạnh, thì chẳng thể nào chối bỏ một sinh linh. Việc như thế, chẳng cần phải so đo tính toán đối với một bậc chân tu. Thế nhưng miệng tiếng thế gian lại chẳng thế nào mà che bịt được. Vì vậy khắp vùng này, người ta đồn ầm lên rằng, đứa bé ấy chính là con đẻ của Khánh Văn. Và người ta đặt vè giễu nhạo:

Con ai đem bỏ chùa này?
A-di-đà Phật, con thầy thầy nuôi!

Ta biết, sớm muộn rồi đứa bé cũng tìm được cha nó. Nhưng dù có tìm được hay không, người đời vẫn thiên về những điều rắc rối. Và vì thế lịch sử sẽ lao theo những dấu vết mù mờ, rồi để lại cho hậu thế một mối tơ vò rối, nối đời không thể dò tìm.

Từ ngày Khánh Văn ký thác Công Uẩn cho ta, trong mấy chục năm liền, ta đã bỏ không biết bao nhiêu tâm lực và sức lực trong việc giáo hoá cũng như khai mở tâm tuệ cho Công Uẩn, để Công Uẩn trở thành đấng bậc chăn dân. Nói cho đúng thì Khánh Văn đã trao cho ta trách phận bảo trọng một vật báu quốc gia. Nếu quả như nhời đồn thì nhà vua đã được hoài thai trên phiến đá này. Hoá nên phải coi phiến đá này như vật báu truyền gia của dòng họ Lý. Thì Công Uẩn đã chẳng mang họ Lý là gì. Thiền sư lấy ngón tay trỏ miết nhẹ lên trên mặt phiến đá bốn chữ mà ông thầm đọc ở trong đầu: “LÝ GIA LINH THẠCH”[9].

Hàng chữ ấy lõm xuống như người ta dùng đục tạc vào đá. Đây cũng là một sự kỳ lạ nữa!

Thiền sư đứng dậy đi vòng về phía nhà tăng, thấy vẳng ra tiếng ngáy từ trong phòng tiểu Bảo. Sư nói nhỏ: “Này con, tâm con còn vọng động nhiều lắm”.

Thiền sư nói nhỏ, nhưng nội lực của ngài thâm hậu, nên tiếng nói của ngài như tiếng chuông rót từng lời vào tai tiểu Bảo. Chàng giật mình kinh sợ, bàng hoàng thụp lạy theo tiếng vọng của bước chân thiền sư: “Lạy thầy, đệ tử trót dại, xin thầy đại xá”.

Tiểu Bảo vẫn nghe người đời đồn đại, cách đây chừng ba chục năm, thiền sư đã giúp hoàng đế Lê Hoàn được nhiều việc quốc gia trọng đại. Như việc phá Tống, bình Chiêm.

Năm ấy khi quân Tống sắp tràn sang, hoàng đế Lê Hoàn vời thiền sư đến hỏi sự thể cuộc chiến sẽ ra sao. Thầy ta đáp: “Chỉ trong bảy tám ngày là nhà vua phá xong giặc”. Quả nhiên khi quân Tống vào cõi, vua tự mình ra trận, giết chết Hầu Nhân Bảo trên ải lũy Chi Lăng. Bắt tướng giặc là Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân, đem về Hoa Lư cầm tù; đuổi lũ Tôn Toàn Hưng chạy như vịt trên sông Bạch Đằng, khiến vua tôi nhà Tống run sợ phải chấp nhận nền tự chủ của nước Nam.

Lại như khi vua toan khởi binh chinh phạt Chiêm Thành liền vấn kế thiền sư. Thầy ta lại nói: “Thời cơ đang thuận, tiến binh gấp thì thắng, để lâu ắt bất lợi”.

Quả nhiên các việc diễn ra đều đúng như sư nói. Vì vậy nhà vua sùng kính sư như bậc thầy. Khắp dân gian đều tôn sư như một bậc tiên tri đại giác. Chính vì vậy mà trong giới đạo sĩ[10] có người tên gọi Đỗ Ngân đem lòng ghen ghét, toan ám hại sư. Dù âm mưu chưa hiển lộ, nhưng thiền sư tiên tri biết được, bèn gửi đến tặng người đó một bài thơ tứ tuyệt:

Thổ mộc sinh ra cấn cạnh câm (kim)
Thù ta toan định sẵn mưu ngầm
Tăng này biết chuyện lòng buồn dứt
Cả đến mai sau chẳng oán thầm.[11]

Nhận được bài thơ, Đỗ Ngân giật mình run sợ, cho thiền sư là bậc chân nhân; tự hổ thẹn mà bỏ lòng ác. Đến đây, tiểu Bảo thừa nhận lời đồn đó là có thực. Xét như bản thân chàng, ý nghĩ tò mò vừa chợt nảy ở trong đầu, mới cách đây chừng một khắc; và tiếng ngáy vờ kia tưởng có thể lừa được sư phụ. Ai ngờ thầy biết hết cả những việc thầm kín trong não tâm ta.




Lại nói, vua Thuận Thiên[12] về thăm gia hương, làm lễ bái tạ tổ tiên và yên ủi dân hương ấp xong, xa giá định quay về động Hoa Lư thì trời nổi sấm chớp, mây đen che kín bầu trời. Mới tháng hai mà đã có sấm, nhà vua lấy làm lạ, bèn khấn: “Tôi là người kém đức, bất tài gặp lúc giang sơn chao đảo, quần thần tôn phò lên đứng đầu trăm họ, chưa kịp canh cải xã tắc. Không biết đã phạm lỗi lầm gì mà Trời ra oai trách giận. Nếu như chỉ là việc tuần hoàn âm dương thì xin Hoàng thiên xua tan mây mù, tôi xin ở lại qua đêm nơi thôn ổ. Nhược bằng có tội, không xứng đức ở ngôi, xin trời trừng phạt, tôi không dám hối trách”.

Lạ thay, khi nhà vua vừa dứt lời khấn thì có cơn gió mạnh ập đến cuốn hết mây mù, bầu trời lại lộ ra trong xanh như không hề có chuyện cơn cớ, sấm chớp. Nhà vua tự hỏi: “Trời thương ta chăng?”, “Trời răn ta chăng?”.

Tối đến, nhà vua đi ngủ. Quân cận vệ canh phòng nghiêm cẩn, tưởng một cánh chim bay cũng khó lọt. Bỗng cuối giờ hợi, nhà vua giật mình choàng tỉnh, đeo gươm xốc áo ra đi như một kẻ mộng du. Quân canh bốn mặt mà không một ai hay biết. Vua đi một mạch đến chùa Ứng Thiên Tâm, tức Tiêu Sơn tự. Đức vua xộc thẳng vào nhà khách tăng đẩy cánh cửa khép hờ, thấy thiền sư Vạn Hạnh đang tĩnh tọa giữa thiền sàng. Đĩa đèn rực sáng. Hương trầm ngào ngạt. Tiếng siêu nước đang réo sôi o o.

Thiền sư vừa ngoái đầu lại, đúng lúc nhà vua sụp lạy:

- Bạch thầy, con về vấn an thầy.

Thiền sư Vạn Hạnh vội đỡ nhà vua và mời ngồi, rồi ông đứng chắp tay vái:

- Sự thể đã đổi thay, nhà vua là bậc thiên tử, đứng đầu trăm họ, bần tăng có lời mừng.

Lý Công Uẩn liền đứng bật dậy, dìu thiền sư ngồi vào thiền sàng. Nhà vua cởi bỏ thanh bảo kiếm dựng nơi góc cột rồi nói:

- Sư phụ cứ coi con như một đứa tiểu tăng hồi tấm bé, theo hầu thầy nơi chùa Lục Tổ. Nay con về vấn an sư phụ, để bày tỏ lòng con biết ơn thầy đã dạy dỗ, và tạo nghiệp quả cho con ra gánh vác việc đời.

Thiền sư mỉm cười. Người giơ ngón tay trỏ lên khua khua, như ra hiệu cho nhà vua không nói nữa, phòng có kẻ rình mò nghe ngóng.

Thiền sư định nhãn phát ra một luồng ánh sáng soi tỏ gương mặt nhà vua. Rồi hai thầy trò im lặng đi vào cuộc nhãn tâm đàm.

Nhà vua như nghe được từ ánh mắt thiền sư:

- Ta đã biết hết các việc vừa xảy ra tại Hoa Lư và đã báo cho các vị huynh đệ, thúc bá của nhà vua đầy đủ cả rồi.

Nhà vua tỏ lòng khâm phục tài tiên tri của sư, bèn đưa mắt hỏi:

- Bạch sư phụ, các việc cần kíp phải làm lúc này là gì?

Thầy Vạn Hạnh phát nhãn quang đáp:

- Làm ngược lại tất cả những gì ác vương Lê Long Đĩnh đã làm. Trước hết phải cứu lấy đám lê dân đang ngắc ngoải vì đói.

Nhà vua toan hỏi thiền sư về việc có nên dời đô vào lúc này, việc mở mang xây cất chùa chiền, hoằng dương Phật pháp cùng các việc canh cải xã hội, nhưng chưa kịp phóng nhãn tâm thì sư vụt đứng dậy xách siêu nước sôi vào pha trà.

Đưa mời nhà vua ly trà cúc, thiền sư nói như một sự tình cờ:

- Các việc nhà vua đã có chủ tâm, chủ kiến phải được khai triển sớm chừng nào hay chừng đó. Nhà vua nên nhớ, làm việc thiện, việc đem lại lợi ích cho dân bao nhiêu vẫn cứ là ít, huống hồ bệ hạ mới chân ướt chân ráo vào triều. Ta già rồi không giúp gì được nữa đâu. Vả lại nhà vua đủ sức lực và trí tuệ gánh vác việc nước. Ta chỉ lưu ý nhà vua vài việc nhỏ:

- Lo cho dân được đủ ăn, đủ mặc.

- Lo cho việc binh đủ mạnh để giữ gìn quốc thổ, bảo đảm sự yên bình cho dân, cho nước.

- Lo mở mang sự học, khai trí cho dân.

- Lo khuyến thiện nhưng chớ quên trừ ác.

- Lo cho Phật sự phát khởi để nuôi dưỡng nguồn tâm và chăm sóc tâm linh cho bách tính.

- Thiên đô cũng là việc cấp bách đó.

Muốn cho dân chúng được hưởng ân huệ này thì mỗi hương ấp phải có một ngôi chùa. Dân nước còn nghèo, chớ ham xây cất chùa lớn, chuông to khiến dân phải oằn lưng đóng góp mà oán Phật. Chỉ cần một mái tranh úp trên bốn bức tường đất với pho tượng Phật vừa phải để có nơi chốn cho người dân gửi gắm niềm tin. Điều đáng nói là phải được vị chân tu dẫn dắt. Mỗi vị tăng trụ trì ngoài chức năng tu hành và dẫn dắt tâm linh, còn phải là một thầy giáo dạy chữ cho con em trong hương ấp và giáo hoá cho dân về nội điển, khai phóng cho dân về đường trí tuệ. Nếu để dân chỉ biết cúi đầu lễ bái mà không hiểu gì về giáo lý Phật, về giác ngộ, giải thoát khiến mọi người sa vào u minh thì đó là con đường trị nước của những kẻ bạo chúa, cốt ở sự ngu dân.

Sư Vạn Hạnh ngừng lời, dường như ngài còn muốn nói thêm một điều gì.

Nhà vua vẫn im lặng lắng nghe, ghi tâm khắc cốt từng lời sư nói.

Một lát, thiền sư lại tiếp:

- Đa Bảo thiền sư là một bậc cao tăng, đạo cao, đức trọng, nhà vua nên thỉnh ngài làm quốc sư mà vấn kế. Nên nhớ, nhà vua xuất thân từ cửa Phật, gắng đưa quốc gia trở thành quốc độ Phật.

Thiền sư im lặng, ló nhìn vào trời đêm, lát sau sư lại chậm rãi:

- Mọi việc đều thuận cả. Nhà vua về đi kẻo trời sắp sáng rồi. Sư vừa dứt lời, con trống mã mật ngoài chuồng đã cất tiếng gáy vang. Rồi cả lũ gà nhà, gà rừng cùng cất cao tiếng gáy, làm vang âm cả một vùng núi rừng khe động. Tiếng gà gáy như thôi thúc nhà vua mau nhịp bước chân trở về hương Dịch Bảng.

Qua các việc xảy ra từ mấy chục năm nay, Lý Công Uẩn băn khoăn tự hỏi: “Chẳng nhẽ thầy ta đã quán thông thiên địa đến bực này ư?”. Nhà vua nghiệm thấy trăm việc, việc gì thiền sư cũng tiên liệu được cả. Mấy năm nay thiên hạ đồn ầm lên về lời sấm vĩ mà trẻ nhỏ hát đồng dao. Sấm ấy, chẳng phải từ nơi thầy ta sao?

Sự việc sớm tỏ lộ, có kẻ tố giác, chính ta đã khuyên thầy về lánh trụ tại chùa Tiêu Sơn là một ngôi chùa tĩnh mịch, nằm khuất lấp tận rừng sâu.

Lại gần đây, khi Lê Ngọa triều vừa mất, triều đình đang phân tâm, ta đã thấy có lời sấm vĩ chiêu an bá tính qua lời trẻ hát đồng dao khắp các phố, chợ kinh thành[13].

Lời chiêu an này không phải của thầy ta còn của ai nữa. Lời chiêu như lời hịch, cuốn hút các bậc khanh, sĩ đến thứ dân quy về họ Lý. Vì vậy mới có việc tôn ta lên ngôi hoàng đế. Vậy là dạy dỗ ta nên người, không ai ngoài thiền sư Vạn Hạnh. Lại tạo lập ra triều đại mới này cũng vẫn là Vạn Hạnh thiền sư. Phải chăng Trời Phật đã sai ông bày xếp. Nam mô A-di-đà… Nhà vua kêu hồng danh đức Phật. Rồi ngài bước thẳng vào nhà hậu đường mà đám quân canh phòng vẫn không hay biết.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 21.09.2018, 10:15
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5388 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
III

Trên đường về Hoa Lư, vua Thuận Thiên và đoàn tuỳ tùng đi bằng đội long thuyền. Con đường nhà vua đã đi lại quen thuộc nhiều năm. Khi thuyền tới vùng đất Đại La, vua sai dừng lại để ngài ngắm cảnh. Nhà vua nhớ khi còn làm một chức quan nhỏ tại Lê triều, có lần ông tháp tùng thiền sư Vạn Hạnh khi qua đất này, sư cũng lên bờ ngắm thế đất, hình sông, bóng núi. Rồi sư nói, như nhắc bảo: “Linh khí nước Nam tụ kết nơi đây”.

Lý Công Uẩn, nhìn bề ngoài, người ta ngỡ ông chỉ thiên về nghiệp võ hoặc việc nông tang. Ông có dáng người to, cao, gương mặt vuông chữ điền, vầng trán rộng, cặp mắt sáng, tóc dày, cứng, đen nhức; chân tay to; ngón tay cái cao quá đốt thứ hai của ngón tay trỏ. Đó là biểu hiện của một thứ quyền tinh vô thượng. So với các tiểu tăng cùng trang lứa, Lý Công Uẩn hơi khác thường ở chỗ học đâu nhớ đấy, học một biết hai. Bởi không chỉ tiếp nhận các điều thầy giảng, hoặc các điều sách nói, mà ông còn biết suy nghiệm để tìm nhẽ phải quấy, đục trong từ phía sau những lời kinh sách dạy. Ông thường tìm đọc rộng, vượt ra ngoài khuôn khổ của nội điển[14]. Bởi thế, ông thông hiểu cả Bách gia chư tử, tìm tới chỗ rốt ráo của y, lý và thuật số, phong thuỷ. Đúng là không điều gì ông không xem xét, không việc gì là ông không để tâm, để mắt tới.

Thấy ông là người vừa có cái tâm thiện, vừa có cái chí lớn, nên thiền sư Vạn Hạnh mới thâu nhận ông làm đệ tử và sư hết lòng truyền dạy cho.

Nhà vua ngửa mặt nhìn trời. Bầu trời mùa xuân trong xanh. Mặt trời đang chính ngọ. Ánh nắng tươi vàng trải khắp bốn phương. Từ đâu đó một đàn sếu ào tới vắt ngang bầu trời, như một dải lụa khổng lồ, dài tới cả mấy chục trượng. Xa kia, hồ Dâm Đàm vẫn ùn ùn bốc lên khí sương trắng đục. Nhà vua kinh ngạc, bởi chưa một lần nào qua vùng Đại La này mà ngài không thấy khí hồ bốc lên; ngay cả vào ngày hè nắng nóng hoặc mùa thu mát dịu cũng vậy thôi. Tân quân đảo mắt nhìn dòng sông chảy dài từ thượng lưu xuống hạ lưu, có dáng cong cong như hình một lưỡi kiếm, che chắn nửa phía bắc của Đại La trải rộng. Xa xanh tít tắp về phía trời tây kia, dãy núi Tản bọc lấy phần còn lại như một bức trường thành vĩ đại, tạo cho Đại La một thế đứng uy nghi, lẫm liệt. Và hồ Dâm Đàm, chính là nơi kết tụ tú khí của thế núi, mạch sông của miền đất thiêng liêng này.

Khi thuyền ngự vừa cập bến Hoa Lư, triều thần và chúng dân trăm họ với cờ, tán, xa giá, nghi trượng đã sẵn sàng nghênh đón đức vua hồi cung.

Vua Thuận Thiên vừa bước chân lên bờ, dòng người xô lấn nhau để chiêm bái dung nhan ngài. Và tiếng hô: “Đức vua thiên tuế!”, “Đức vua vạn vạn tuế!” nổi lên ầm ầm như tiếng sấm rền. Âm vang lay động cả một vùng sơn động. Triều quan và dân chúng động Hoa Lư có lạ gì quan điện tiền đô chỉ huy sứ Lý Công Uẩn. Song họ muốn tận mắt bày tỏ tấm lòng ưu trọng đối với bậc vua hiền, mà từ lâu họ khát khao mong đợi. Thật khác xa với Lê Ngọa triều. Sinh thời ông vua này cứ xa giá ra khỏi hoàng cung, là dân chúng chạy dạt đi, y hệt như một bầy dê chợt trông thấy con cọp dữ. Khốn nạn cho kẻ nào không chạy kịp, nhà vua sai bắt lấy nhốt trong xe tù. Nếu cuộc đi săn ấy phải trở về tay không, thì chiếc xe tù được ném xuống sông Hoàng Long. Nếu đó là cuộc đi du ngoạn mà nhân lúc dòng sông cạn nước, vua sai đóng cọc dưới sông rồi trói người “tù” ấy vào cọc, để cho khi nước lên sẽ dìm chết họ trong lòng sông. Nhà vua nghĩ ra đủ trò ác hiểm để giết dân. Đối với vua Ngọa triều, bất cứ người dân nào mà ông ta trông thấy đều trở thành tội nhân, và nhà vua đều nghĩ ra cách giết họ một cách thật là khủng khiếp, để thoả lòng hiếu sát của ông.

Bởi thế, khi vua Thuận Thiên vừa lên ngôi đã cho phá bỏ hết các loại hình phạt man rợ, lại xuống chiếu cho ai có nỗi oan mà quan xét chưa tỏ thì được phép vào tận trong cung để tâu bày. Phương sách gần dân phát xuất từ cái tâm thiện của nhà vua, khiến từ buổi sơ triều, dân đã yêu kính vua như cha mẹ mình vậy.

Nhà vua vừa bước vào sân rồng, đã thấy một vị hoà thượng đầu đội mũ hoa sen, hai tay nâng một tờ sớ. Nhìn gương mặt vị sư già, vua thấy ngờ ngợ. Tay đỡ tờ sớ, mắt nhà vua lại lướt trên gương mặt sư, chợt vua nhìn thấy bên tai trái nhà sư bị cụt. Vua “à” lên một tiếng:

- Quách thiền sư!

- A-di-đà Phật! Chúc thánh thượng vạn an.

Vua Thuận Thiên đỡ vị thiền sư đi vào trong cung. Cảnh tượng hãi hùng mấy năm trước hiện rõ trong óc não nhà vua. Bữa ấy Ngọa triều cho vời Thiền sư Quách Ngang vào cung. Vua bày các trò chơi như bắt nhà sư kể về sự tích Phật. Liền đó sai bọn hề nhại nhà sư đến trơ trẽn, tiếp đến là tiệc ăn mía. Vua sai đem dao sắc và mía đen vào để ngài tự róc lấy. Nhìn bên phải bên trái không thấy có gì để làm đòn kê. Vua bèn kéo áo sư đang ngồi hàng ghế dưới:

- Hoà thượng ngồi nhích lại đây cho ta mượn cái đầu. Rồi vua dùng chiếc đầu trọc của sư làm đòn kê. Vua giả vờ trượt tay, lưỡi dao sắc hớt cụt mất một bên tai của nhà sư, máu chảy ròng ròng. Vua thản nhiên vừa ăn mía vừa cười ha hả.

Sư không nói gì, bước ra khỏi hoàng cung vẻ mặt vẫn thanh thản. Trong khi đó quan điện tiền đô chỉ huy sứ Lý Công Uẩn lòng buồn rượi. Ông lo cho số phận của hàng triệu sinh linh của đất nước này đang bị tên quỷ vương đe doạ.

Vua xem xong tờ sớ, lòng bần thần quay hỏi thiền sư:

- Vậy chớ hoà thượng định làm lễ cầu siêu cho vong linh của Ngọa triều?

- Tâu hoàng thượng, đó là cái tâm của bần tăng.

- Hoà thượng giữ được cái tâm vô nhiễm thế là tốt. Cầu sao Phật độ cho chúng sinh hồi tâm tĩnh trí. Vua phê vào tờ sớ rồi đưa lại cho thiền sư Quách Ngang. Lại sai quan nội hầu ban cho thiền sư mười đĩnh bạc để sư làm lễ cầu siêu cho Lê Ngọa triều.

Tin hòa thượng Quách Ngang, người bị Lê Ngọa triều khi sinh thời đã róc mía trên đầu sư và phạt cụt một bên tai, nay lại đứng ra lập trai đàn cầu siêu cho kẻ bạo ngược ấy thì quả là một sự lạ. Lại còn chuyện vua Thuận Thiên ban cho sư mười đĩnh bạc thêm vào việc lập trai đàn cầu siêu cho Ngọa triều, cũng là một sự lạ được đồn thổi khắp trong ngoài thành Hoa Lư. Như thế có nghĩa rằng đức Thuận Thiên và người nhà Phật cùng có chung một tính thiện, hành xử theo cách “dĩ đức báo oán” tức là lấy ân mà trả oán để giải thoát cho chúng sinh. Thì vua chúa cũng là một chúng sinh, bởi Ngọa triều cũng là một con người chứ có khác gì. Mà với Ngọa triều thì y còn là một chúng sinh đầy trọc trược, chưa tiến hoá.

Ở xóm đông kinh thành Hoa Lư có cư sĩ Mạnh Giác thờ Phật tại gia, ông là bậc thiện trí thức, thông tỏ mọi sự ở đời. Nghe nói, ông biết khá nhiều về lai lịch của vua Thuận Thiên. Ông nói với những người bà con xóm giềng đến dự khoá lễ chiều rằng: “Đức vua ta vốn là con Trời. Nghe nói mẫu thân ngài đi cắt cỏ trâu ở phía sau chùa Tiêu Sơn, gặp người thần giao cấu rồi sinh ra ngài. Ngài có uy nghi thiên tử từ lúc mới bẩm sinh. Đúng là Trời sai ngài xuống cứu nhân độ thế. Từ nay nước Nam ta mở mặt được rồi chứ không khốn đốn như thời hôn quân Ngọa triều nữa…”. Mọi người cứ há hốc mồm nghe ông Mạnh Giác kể về vị vua mới như kể truyện cổ tích.

Từ ngày Lý Công Uẩn được quần thần tôn phù lên ngôi cửu ngũ[15], nhà vua lúc nào cũng lo lắng như người mặc áo cỏ khô ngồi bên đống lửa.

Ngài lo cho dân sớm thoát cảnh lầm than. Lo sao cho đất nước yên ổn, không có trộm cướp, không có giặc giã. Lo sao cho việc hình án được rõ ràng, khoan giảm, để người dân không mắc vào vòng tội lỗi. Nhưng ngài cũng muốn thiên đô tới một nơi thoáng đãng. Kinh đô, theo ngài phải là nơi trung độ quy tụ được các vùng miền trong cả nước. Muốn vậy, kinh đô phải ở vào vị thế thuận tiện cho đường giao thông thuỷ bộ. Lại phải là nơi đông dân, sung túc, trù phú tiện cho việc nông việc công, việc thương và nhất là việc binh. Thế thì không đâu bằng vùng đất Đại La.

Nhìn lại, động Hoa Lư vừa nhỏ hẹp, vừa không thuận cho việc giao lưu. Đất chật, dân nghèo, thật không xứng làm đất đế đô. Vả lại nhà Đinh, nhà Lê vừa lập nước, thế còn yếu lại luôn bị nhà Tống xâm lăng doạ nạt, nên phải dựa vào núi non, hang động hiểm trở cho dễ bề phòng bị. Nay thế nước đã khác xưa rồi. Ta khoan nới sức dân. Nhất định sức người sức của sẽ do đấy mà giàu thịnh lên. Còn như nhà Tống hiện đang lâm vào mạt thế. Cứ như biểu tâu trình của đoàn sứ giả ta cho sang Biện Kinh trở về, thì phía bắc nước Tống, đang bị quân Liêu uy hiếp nặng nề. Mà nội tình nước họ cũng lục đục, lo giữ nhà không xong, sao còn dám dòm ngó đất ta. Chính lúc này mới là lúc cần phải dời đô ra giữa vùng trời đất bao la, để tỏ với thiên hạ sức mạnh của triều đại ta.

Nhà vua xăm xăm mở tráp lấy ra bức hoạ đồ do ngài tự hoạ về vùng đất Đại La. Nom hình vẽ, vua hình dung rất rõ nơi mà ngài có ý lựa chọn để dời đô. Nhà vua thầm nhủ: “Đây mới đúng là đất đế đô của muôn đời. Vả chăng ta lên ngôi, vừa thuận mệnh Trời, vừa hợp lòng dân. Nay Trời lại ban cho miền thắng địa này để định đô. Thế chẳng phải là THIÊN-ĐỊA-NHÂN đều dung hợp cả sao?”.

Vua đem ý định dời đô tham bác ý tứ các quan. Lại sai tòa khâm thiên giám thử chiếu trong hoạ đồ với phân dã của các sao, xem kinh đô của ta sẽ nằm trong khu vực của sao nào sao nào, để còn xem xét sự vần xoay của vũ trụ mà lường biết hoạ phúc của người.

Qua dò thăm ý tứ các quan mấy lần, vua bèn nhóm một buổi thiết triều. Mở đầu, vua nói:

- Trẫm muốn nhân địa lợi của thành Đại La mà dời đô, như đã nhiều lần nói với các quan. Chẳng hay ý các quan thế nào? Vả chăng, vua Vũ nhà Chu xưa đã từng dạy, chọn đô phải: “Chọn ở nơi bằng phẳng thì vô sự”.

Vậy chớ Đại La không phải là đất bằng phẳng sao? Vua đưa mắt hỏi quần thần.

Quan Thái phó Đặng Văn Hiếu bước ra khỏi ban tâu:

- Bệ hạ vì thiên hạ mà lập kế dài lâu, để trên cho công nghiệp to lớn được thịnh vượng, dưới cho dân được giàu của, nhiều người, việc lợi như thế, ai không dám không theo.

Quan Thái phó vừa dứt lời, quan Thái bảo Đào Thạc Phụ liền tiếp:

- Bệ hạ anh minh xét suy sau trước, định đô nơi linh địa ấy, dân sẽ được hưởng phúc muôn đời. Vả chăng triều đình của một nước, không thể cứ úi xùi ở nơi sơn động như thế này mãi được. Lại như việc dụng binh thì Đại La là nơi đất bằng mà rộng rãi. Phía đông bắc có sông Cái ngăn cách, thời thanh bình thì nom nó như một dải lụa hồng đào xen giữa rừng xanh và đồng lúa bạt ngàn; thời tranh chiến với giặc ngoại xâm, thì nó là một lưỡi gươm thần chém thẳng vào đại binh của giặc. Phía tây nam có dãy núi Tản làm bức trường thành, tiến lui, công thủ hai đường đều ưu thế cả.

Bệ hạ đã có chủ kiến, tưởng nên kíp sai người về Đại La, lo xây cất cung điện, dinh thự sớm đi, để việc lớn mau thành.

Quan lệnh thư gia là Lương Thức, người của triều trước còn được lưu dụng, bước ra khỏi ban tâu:

- Bệ hạ tính kế trường tồn như vậy là chí phải, song thần trộm nghĩ, nhà Đinh dựng nước, nhà Lê mở mang, công ấy không phải là nhỏ. Hiềm vì Ngọa vương thất đức, nên trời bắt tuyệt diệt. Nay bệ hạ vì đức lớn mà được nước. Khắp bốn phương dân chúng đều như gà phải cáo, run sợ trông chờ ơn mưa móc của bệ hạ. Sợ rằng dời đô trong lúc này chưa thuận lòng người. Vì rằng dưới triều Lê Long Đĩnh, dân đã bị sưu cao thuế nặng, phu phen tạp dịch vắt đến kiệt sức. Vả lại các điện Phong Lưu, Tứ Hoa, Trường Xuân, Đại Vân… đã thật là sang quý. Còn như điện Bách Bảo Thiên Tuế tưởng đã đạt tới sự cùng xa cực xỉ. Vậy theo thiển ý của thần, chưa nên dời đô trong lúc này, xin bệ hạ lượng xét.

Phần nhiều các quan đều dựa vào ý của quan Thái phó, Thái bảo mà bàn rộng ra. Vua mừng lắm, nhưng vẫn chưa quyết. Lại một bữa khác, vua tuyên triệu đại triều hội, và cung thỉnh vài vị tăng thống đạo cao đức trọng về triều tham vấn.

Lâm triều, vua ban ý:

- Nhà Đinh, nhà Lê đã có công nhất thống thiên hạ, giang sơn thu về một mối, khiến nhà Tống cũng phải nể phục, và không dám dòm dỏ đất nước ta nữa.

Các triều đại ấy đều mở nghiệp và dựng nghiệp tại đất Hoa Lư này. Nơi đây, đã tạo lập biết bao lầu son gác tía, cung vàng điện ngọc nguy nga, muôn đời sau còn ghi nhớ. Nhưng sao đức nghiệp các triều đại ấy không tỏa sáng, truyền nối không được dài lâu. Trong nước thì các chúa động người Man không phục, đó đây vẫn nổi lên chống lại triều đình. Cõi xa như Lão Qua, Lâm Ấp, Chân Lạp không thần phục. Việc tiến cống họ đã lơ là, lại còn đem quân quấy nhiễu miền biên viễn, làm cho biên dân ta vô cùng điêu háo. Phải chăng đất này không thuận cho việc trị bình, không hội đủ anh linh tú khí, không phải là nơi chốn tiêu biểu cho một quốc gia hùng cường. Lòng ta vẫn muốn thiên đô về Đại La, như nhiều lần đã bàn bạc với các khanh. Bởi Đại La đất vừa rộng vừa bằng phẳng, vừa thuận tiện đường xe thuyền vào ra thuỷ bộ, vừa là nơi trung độ của cả nước. Tuy việc dời đô là rất tốn kém, vậy ý các khanh thế nào?

Ngừng một lát, như để dò thăm ý tứ các quan, xem việc thiên đô có làm cho họ phật lòng, có gây xáo trộn không. Nhìn khắp lượt, không thấy có dấu hiệu gì tỏ ra khác thường, nhà vua lại nói:

- Việc này, ta cầu lời nói thẳng, các khanh thử xem xét, cân nhắc lợi hại, cứ thực ý tỏ bày. Đây là việc quốc gia trọng đại, có quan hệ đến vận mệnh dài lâu của nước, chứ không phải việc riêng của nhà ta. Cũng không phải là việc riêng của một triều đại nào, mà nó chính là rường mối trường cửu, có quan hệ đến sinh mệnh toàn dân tộc; bởi vậy các khanh cứ bàn thảo cho ra nhẽ.

Nếu lần này, ý các khanh đều cho là chưa nên thiên đô, thời ta lập tức bỏ ý định thiên đô, vì rằng ta lấy sự hiệp thông trên dưới làm trọng, lấy xã tắc làm trọng. Nào, các khanh nói đi, không việc gì phải tìm ý lựa lời để làm đẹp lòng ta.

Triều hội im phăng phắc. Không khí bỗng chốc trở nên nặng nề khiến nhà vua có vẻ lo lắng.

Quan Ngự sử Phạm Khiêm Ích bước ra khỏi ban tâu:

- Muôn tâu bệ hạ, cứ như cái nhẽ nông sâu bệ hạ vừa phân tỏ, thời ý bệ hạ đã muốn dời đô tới tám chín phần rồi. Nhưng bệ hạ cho nói, thần cứ thực bụng tâu bày. Đúng là đất Hoa Lư nhỏ hẹp, đường bộ hiểm trở, đường sông thì ngắn, đường biển phải qua cửa Phúc Thành sóng nước dữ dằn, không năm nào không có tai hoạ. Quả thật đất này chỉ hợp với nước nhỏ, thế yếu phải dựa vào nơi sơn động để thủ thế, để ẩn tránh. Bởi thế việc dời đô là cần, nhưng theo ý thần, ta chưa nên làm vào lúc này.

- Vì sao vậy? – Vua hỏi.

- Tâu bệ hạ, Lê Ngọa triều tuy hoang dâm và tàn bạo, nhưng công nghiệp của Đại hành[16] hoàng đế lớn lắm. Kể từ nhà Ngô đánh đuổi quân Nam Hán lấy lại nước, đến nhà Đinh dẹp yên loạn thập nhị sứ quân, giang san thu về một mối, làm cho non sông rạng rỡ, rửa được mối nhục mất nước cả ngàn năm. Nhưng thử hỏi không có Đại hành hoàng đế chém tướng giặc Hầu Nhân Bảo trên vùng ải bắc Chi Lăng, đuổi lũ Trần Khâm Tộ, Tôn Toàn Hưng chạy như vịt, bắt bọn Quách Quân Biện, Triệu Phụng Hưng đưa về Hoa Lư cầm tù ra uy với nhà Tống sao có thể giữ yên bờ cõi. Tiến vào nam, cũng chỉ một trận là đạp đổ thành trì, quét sạch vua tôi nước Champa hỗn hào, lập lại kỷ cương, khiến quân kia không dám xâm phạm cõi giới nước ta nữa. Võ công hiển hách ấy, tưởng đến Hán Cao tổ, Đường Thái tông cũng không hơn được. Chỉ tiếc các con của Đại hành không nối được chí cha, làm các điều càn rỡ khiến đế nghiệp tan tành, non sông nghiêng ngả. Ta vừa lấy nước của con cháu người ta, lại xoá sạch cả cơ đồ người ta tạo dựng, e có gì sái với huân nghiệp mà đức Đại hành đã cung hiến cho đất nước chăng?

Quan Ngự sử vừa dứt lời, quan Hữu điện tiền chỉ huy sứ Nguyễn Đê bị quan Tả tham tri huých nhẹ vào mạng sườn, ghé tai nói nhỏ:

- Ông là người đồng quân ngũ với nhà vua, lại cũng gần gũi với Lê Ngọa triều, ý tứ ông thế nào cứ nói huỵch toẹt ra có được không. Vả lại như vua Bàn Canh nhà Thương, khi ông ta đã quyết dời đô, thì dù cả giới quý tộc có chống lại, ông ta vẫn cứ dời. Và sau đó nhà Thương trở nên cường thịnh suốt hai trăm năm sau không phải dời đô nữa.

Thế là Điện tiền chỉ huy sứ bước ra khỏi ban:

- Tâu bệ hạ, thưa các đồng liệt, quan ngự sử nói về huân nghiệp của đức Đại hành tỏ sáng như ban ngày, ai mà không kính giữ. Công ấy sẽ được ghi vào sử sách, muôn đời sau không mảy may phai nhạt. Nhưng nói vậy, vẫn là nói theo đạo lý, chứ cứ thực như tôi với đức vua ta đây nắm giữ quân cận vệ, gần gũi hôn quân, thời tôi thấy tội ác của chế độ bạo trị Lê Ngọa triều gieo rắc trong muôn dân, gieo rắc cả trong triều nội, thì đến trời cũng không dung, mà đất cũng không tha được, huống chi lòng người. Cho nên thiên đô là phải. Ngoài cái lợi như bệ hạ đã bày tỏ, tôi còn muốn đi cho khuất mắt, sớm ngày nào hay ngày ấy. Nói xong ông vái nhà vua hai vái, lại quay ra xá các quan một xá. Ai cũng khen ông ta bộc trực mà nho nhã như một bậc văn thần.

Lý Công Uẩn lại đảo mắt nhìn xem các quan có ai còn muốn nói. Trong lòng nhà vua vừa mừng vừa lo, thật tình tân quân không muốn làm điều gì thất đức. Nhưng việc ổn định cương thống của một triều đại không thể không làm sớm. Chợt thấy quan Thái phó Đặng Văn Hiếu đang nhấp nhổm, vua bèn vẫy tay cho nói. Hiếu bước ra khỏi ban:

- Tâu bệ hạ, đô thành là bộ mặt của một quốc gia. Nước Việt ta hiện đủ mạnh để rời khỏi miền sơn động. Ý của bệ hạ là sáng suốt, tưởng không nên khư khư giữ lấy cái đức nhỏ mà bỏ mất cái đạo lớn của một nước. Nếu để tỏ lòng kính ngưỡng với huân nghiệp của đức Đinh Tiên hoàng và Lê Đại hành, không gì bằng lập đền thờ hai vị ngay tại cung điện này, sau khi triều đại mới đã dời đổi đi nơi khác. Và đặt chức lễ quan cùng một ngàn mẫu ruộng dùng vào việc nối đời thờ tự các vị. Nói xong, quan Thái phó lui về ban ngồi.

Các quan đều xem lời quan Thái phó hợp lòng người, thuận theo đạo trời nên không ai bàn bạc gì thêm nữa.

Vua Thuận Thiên cũng lấy làm đẹp ý. Thực tình nhà vua không ngờ mọi việc lại êm xuôi, mau lẹ đến thế. Vốn kính trọng Đa Bảo thiền sư, và cũng cho việc dời đô là việc hệ trọng của một triều đại, nên trong cuộc luận bàn có tính xác quyết này, nhà vua cho thỉnh thiền sư đến tham vấn. Từ lúc khai triều tới giờ, thiền sư vẫn an toạ trên chiếc thái sư ỷ mà nhà vua cho kê bên tả chỗ ngài ngồi, tức là chiếc ghế cầu hiền. Thiền sư ngồi kiết già, đôi mắt khép hờ như người thiếp ngủ. Thiền sư vận áo cà sa màu vàng, đầu đội mũ hoa sen, cây thiền trượng dựng cạnh ghế. Gương mặt ngài an nhiên siêu thoát, nom ngài như một đức Phật sống. Nhà vua chợt nhớ hồi còn là một chú tiểu tăng gặp ngài về kiết hạ ở chùa Khai Quốc. Vừa trông thấy, ngài gọi lại gần dạy:

- Ta trông người cốt cách tuấn tú phi phàm, mai sau tất sẽ đứng đầu thiên hạ.

Lý Công Uẩn cả kinh sụp lạy:

- Bạch hoà thượng, đấng thánh minh hiện đang ở ngôi, thiên hạ thái bình, cớ sao đại sư lại dạy bảo những lời diệt tộc như vậy.

Hòa thượng mỉm cười đáp:

- Mệnh trời đã định, trốn tránh sao được. Nếu quả như nhời bần tăng, mai này xin nhớ đến nhau.

Đến đây lời tiên đoán của Đa Bảo thiền sư cũng như của Vạn Hạnh thiền sư đều đã ứng nghiệm. Nhà vua không thể không nhớ đến con mắt nhìn suốt tám cõi của các bậc đại lão thiền sư.

Lạ thay, nhà vua vừa dừng ý nghĩ, đại sư mở bừng mắt nhìn mọi người, nhìn vua. Mắt thiền sư phát ra một thứ ánh sáng dịu mát, khiến mọi người đều có chung một cảm giác hoà ái. Vua Thuận Thiên đứng bật dậy vái đại sư hai vái, và nói:

- Kính thỉnh đại lão hoà thượng, xin hoà thượng ban cho trẫm đôi lời.

Hoà thượng với tay nắm lấy cây thiền trượng ung dung đứng thẳng người dậy, gõ cây thiền trượng xuống nền điện ba lần, đi lại vài bước, chợt dừng trước ghế, vái đáp lễ nhà vua hai vái, ngài nói:

- Tâu bệ hạ, việc dời đô cũng như việc thay áo. Áo cũ đã rách vá, lại chật, thì phải may áo mới, có phải không thưa chư vị. Câu nói khôi hài của đại sư khiến mọi người cười ồ. Và vì thế mọi sự trở nên nhẹ nhàng. Sư nói tiếp: – Họ Hồng Bàng từ khi lập nước Văn Lang[17] kế tiếp các đời vua Hùng đều đóng đô ở đất Phong Châu, kể tới hơn hai ngàn sáu trăm năm.

Nhưng khi Thục An Dương vương[18] lập ra nhà nước Âu Lạc, lại dời đô về đất Phong Khê tức Cổ Loa thành. Rồi đến Trưng nữ vương[19] đánh đuổi bọn đô hộ nhà Hán, lại thiên đô về Mê Linh. Và đến nhà tiền Lý, nhà Triệu[20] khôi phục đất nước, đóng đô ở Long Biên. Tới khi nhà Ngô[21] đuổi bọn đô hộ nhà Hậu Tấn, lại đem đô về đóng tại Cổ Loa thành. Kíp khi Đinh Bộ Lĩnh[22] dẹp yên mười hai sứ quân, nhất thống sơn hà, đô thành được đưa về Hoa Lư. Khi nhà Lê[23] tiếp nối, đức Đại hành hoàng đế vẫn giữ đất này làm kinh sư và bây giờ, đương kim hoàng thượng có dời đô về Đại La, là miền đất bằng phẳng ở giữa quốc gia, thời cũng là việc đương nhiên như các triều đại trước đã làm. Ngu ý của bần tăng, việc gì mà lợi cho dân cho nước, thì khó mấy cũng nên làm, còn việc gì thiệt dân, hại nước để thu lợi về cho một số người, thì dễ mấy cũng cứ nên bỏ.

Nếu nhìn sang láng giềng, thì nhà Ân từ đất Bặc đã chuyển đô tới bốn lần đi nơi khác mà vẫn còn muốn chuyển nữa. Nhà Chu[24] cũng thiên đô từ phía tây về phía đông. Như Chu Công nói: “Tìm đất dựng đài thành ở chỗ giữa thiên hạ, đã là vị vua sáng của dân rồi, còn phải bàn thêm gì nữa”. Huống chi Đại La là thắng địa, là linh địa, phương Bắc thèm rỏ rãi ra mà không nuốt được. Cao Biền đào, khơi biết bao ngòi, hồ những mong đứt long mạch làm cho đất này tuyệt diệt. Thế nhưng âm mưu cơ hiểm của một nhúm người, sao chống lại được mệnh trời. Vậy chứ ta còn gì nữa để bàn? – Nói xong Hoà thượng ngồi xuống ghế, mắt khép hờ. Nom hoà thượng như mơ như thực.

Tới đây, vua Thuận Thiên bèn quyết việc dời đô về Đại La. Điều cốt yếu là công việc xây cất, bao giờ hoàn tất, triều đình sẽ dời chuyển.

Lại nói về đám cầu siêu cho Ngọa vương Lê Long Đĩnh do hoà thượng Quách Ngang đứng ra lo lễ lạt đàn chay, và đích thân thiền sư làm chủ lễ. Hành vi quảng độ lấy ân trả oán của sư, khiến không chỉ dân chúng đem lòng kính ái, mà ngay giới tu hành, giới quan lại, thế gia cũng suy tôn sư như một vị Bồ tát tại thế[25].

Mặc dù kính trọng thiền sư Quách Ngang, song không vì thế mà dân chúng kinh thành Hoa Lư có thể tha thứ cho Ngọa vương Lê Long Đĩnh.

Bởi vậy đám cầu siêu vắng ngắt. Ngoài vài chục nhà sư chay đàn, với ít chú tiểu tăng dùng vào việc sai vặt, dân chúng tịnh không một người lai vãng tới chốn đàn chay. Ngay những người hành khất cũng không thèm tới lấy đồ bố thí. Dân chúng cho đây cũng là một sự lạ chưa từng thấy.

Thiền sư Quách Ngang biết nghiệp căn của Lê Long Đĩnh quá nặng. Nhà vua đã gây biết bao tội ác, vì vậy việc trì tụng phải kéo tới bảy ngày đêm.

Lễ cầu siêu cho Ngọa vương vừa dứt, chợt có người nhớ ra từ lâu không gặp lão thi nhân (mà dân chúng thường gọi là “ông đồ gàn”) Phạm Tổ Thu ở đâu cả.

Bỗng ai đó nói, nhà thơ bị tống giam từ cách đây hai tháng. Thật ra thì suốt đời ông là một kiếp lưu đày. Ông sống trong triều đình của Lê Long Đĩnh như sống giữa một bầy hổ, mà con hổ thọt ác hiểm nhất lại chính là nhà vua.

Mọi người đổ xô về phía các chuồng nuôi nhốt ác thú để tìm nhà thơ. Nhưng các chuồng cũi nhốt ác thú để hành hình tội nhân đã được vua Thuận Thiên sai tháo cũi, sổ chuồng cho chúng về lại chốn sơn lâm ngay từ bữa ngài mới đăng quang. Bởi vậy, chỉ còn trơ lại những dãy chuồng rỗng không.

Biết thế, nhưng mọi người vẫn cứ ngơ ngác kiếm tìm. Chợt có ai đó reo lên:

- Đây kia còn một chuồng nữa. Đó là một gian chuồng nằm khuất lấp vì có mỏm núi nhô ra che chắn. Gian chuồng nhốt những con khỉ đít đỏ to cao ngang với thân người. Trong thoáng lát, mọi người đã kéo đến vây kín gian chuồng khỉ. Chỉ thuần khỉ là khỉ, không hề thấy bóng dáng nhà thơ. Những con khỉ đột, lông lá bù xù, quần tụ nhau ở một góc chuồng. Đây là gian chuồng thú bỏ sót, không có ai phá cửa cho chúng ra. Và cũng chẳng có ai cho chúng ăn uống gì. Vì sao chúng còn sống được tới nay, kể cũng là một sự lạ nữa.

Ai nấy đang bàn tán, chắc nhà thơ bị nhốt chung vào chuồng hổ, báo nên bị chúng ăn thịt lâu rồi.

Trời không có gió mà các ngọn cây rung động ào ào. Mọi người ngước nhìn, thấy cơ man nào là khỉ ở trên đỉnh các lùm cây. Và chúng trút xuống gian chuồng khỉ những trái cây đỏ mọng, những bắp ngô vàng ươm, những củ khoai, những bông lúa… Các thứ củ, quả, hoa trái làm đồ ăn do bọn chúng trút xuống, rơi bắn tứ tung cả vào đầu vào mặt những người đứng vây quanh chuồng khỉ, khiến họ phải chạy dạt ra để bọn khỉ tiếp lương nuôi nhau.

Những con khỉ đang ngồi buồn ủ rũ túm tụm vào nhau kia, chạy ùa đi tranh thức ăn, để lộ ra hình một mô đất cao, nom từa tựa một nấm mồ.

Tới lúc này mọi người mới vỡ lẽ vì sao bầy khỉ bị nhốt chuồng, không có ai chăm sóc, cho ăn cho uống mà chúng vẫn sống được. Thì ra khỉ cũng là một loài vật có tình thương đồng loại.

Bỗng có ai đó lấy con dao quắm chặt vào những sợi mây song khoá buộc cổng. Cánh cổng mở bung ra. Nhưng không một con khỉ nào chịu rời đàn để về lại chốn sơn lâm.

Thấy vậy, mọi người hò la, ném đất, ném cây que vào chuồng, nhằm đuổi đàn khỉ ra phía cổng đã mở toang. Nhưng chúng chống trả quyết liệt. Chúng cũng lượm đất, lượm đá ném lại đoàn người.

Mãi sau mọi người lấy củi đốt xung quanh khu chuồng trại, chỉ chừa lối cổng ra vào. Thấy lửa, đàn khỉ hoảng sợ, kêu thét chí choé, chạy lung tung, và cuối cùng thì cả đàn cũng ào chạy vào rừng như một đàn ong bốc bay vì mất ong chúa.

Đoàn người ùa vào trong lồng trại, trước họ là một gò đất do mối đùn nom giống hình một người nằm ngửa, chân co chân duỗi. Ai nấy đều cho là một sự lạ, đang cố đoán xem đấy là điềm gì. Và có cái gì nằm trong gò mối này. Đang chưa hết ngạc nhiên thì ai nấy đều nhận ra, gò mối đang mỗi lúc một dâng cao, cao tới quá đầu, khiến người đứng bên này không nhìn thấy người đứng bên kia gò nữa. Mọi người hoảng hốt toan bỏ chạy, thì thấy chú hề cũ của Lê Ngọa triều từ đâu chạy xộc vào, tay cầm một bó hương đang bốc cháy đùng đùng. Chú hề vừa cắm bó hương vào gò mối vừa nói: “Hãy dừng lại, ông đồ gàn!”.

Một sự kì lạ nữa lại xảy ra trước mắt mọi người. Tức là khi lời nói của chú hề vừa dứt thì gò mối thôi không đùn lên nữa.

Chú hề miệng méo xệch, nước mắt chảy ròng ròng khấn: “Ông đồ gàn Phạm Tổ Thu sống dại chết thiêng, chứng giám cho tấm lòng thành của thằng bạn hề này, trước sau vẫn tôn kính ông như một bậc thánh, như một người bạn vong niên…” – Lời khấn lầm rầm mỗi lúc mỗi nhỏ đi không còn nghe được nữa. Khi chú hề vừa dừng lời, mọi người hỏi ngay:

- Cứ theo như nhời chú khấn thì gò mối này chính là ngôi mộ của lão thi nhân Phạm Tổ Thu?

- Phải! – Chú hề xác nhận.

- Sao lại là như vậy, xin chú nói cho rõ ngọn ngành? – Một người hỏi.

Chú hề nắn lại cho xô lệch vuông khăn đội đầu, sửa lại cho xộc xệch thêm hàng khuy áo, rồi nói với giọng điệu nghiêm trang không có vẻ hề một chút nào.

- Hề tôi làm trò suốt đêm, ngày cũng không đủ cho cố hoàng thượng giải khuây. Vì thế, nhà vua cho vời lão thi nhân Phạm Tổ Thu đây, mà dân thường gọi yêu ông là “ông đồ gàn” vào cung, để đọc thơ cho vua nghe. Có khi còn làm thơ theo ý muốn của vua. Hoặc vua chỉ vào các đồ vật ra đề, bắt lão thi nhân phải vịnh thơ. Hoặc nhặt đâu được vế câu đối, bắt lão thi nhân phải đối. Thật ra nhà thơ được vời vào cung cấm, cũng tựa như ông bị trói buộc, giam cầm.

Hề tôi bèn hỏi: “Có phải lão thi nhân coi việc ở triều như ở tù không?” Ông cười khẩy đáp: “Cả cái xã hội này là một nhà tù vĩ đại. Vả lại lòng ta đã thành nhà tù rồi. Nhà tù trong lòng đã không xoá được thì thân ta ở đâu mà chẳng như ở tù”.

Lại một hôm vua chỉ vào chiếc lu đựng rượu, rồi hất hàm bảo lão thi nhân:

- Mày vịnh cái này tao xem.

Nhà thơ ứng khẩu đọc luôn:

Cái lu mày dở quá chừng,

Bụng to mồm bé ăn dưng ở rồi.

Bao nhiêu của cải trên đời,

Mình mày nuốt sạch dân thời đói so.

Vua vỗ đùi đen đét khen: “Hay chả là hay!”.

Nhưng rồi tên hề nịnh, vít cổ vua xuống nói thầm: “Lão thi nhân xỏ xiên nhà vua đấy. Nó ám chỉ vua ăn hết của dân. Thế mà không trị tội lại còn khen hay”.

Lập tức nhà vua đập long án quát:

- Lôi cổ nó ra đánh một trăm trượng.

Các quan xúm vào khuyên can không được. Nhà thơ xin được nói, vua không cho. Nhưng ngài cho đổi hình phạt. Tức là sai lột hết quần áo rồi lấy bàn chông sắt chà khắp người. Đau quá, nhà thơ la hét, rồi réo gọi tên bố vua ra chửi.

Vua thích chí cười sằng sặc. Lại sai chà xát thật đau cho nhà thơ luôn miệng chửi bố mình. Trò chơi man rợ ấy kéo dài mãi rồi vua cũng chán, cũng mệt. Vua sai đem nhốt lão thi nhân vào chuồng hổ.

Bữa ấy bọn lính hổ bôn được vua cho uống say, nhẽ ra chúng phải nhốt nhà thơ vào chuồng hổ, thì chúng lại nhốt nhầm ông vào chuồng khỉ. Nói đến đây, chú hề liền thả ra một điệu cười hích hích. Rồi lại ôm mặt khóc hu hu. Một lát chú nói tiếp: – Hề tôi vốn phục tài lão thi nhân. Bởi chỉ có lão thi nhân mới dám chửi thẳng vào mặt vua bằng những vần thơ hóc hiểm như thế. Thật ra, vua của tôi ngu lắm, có biết biện biệt hay dở thế nào đâu mà khen chê thưởng phạt, nếu không có mấy tên cận thần khuyển mã nịnh hót mách bảo cho.

Thương tình cùng là cánh áo ngắn, đi hầu hạ chốn cung đình, chẳng may mắc nạn, tôi bèn tìm đến mấy dãy chuồng hổ, thử xem có còn sót lại chiếc xương nào thì lượm về mai táng cho bác ấy. Nhưng chẳng thấy một dấu vết gì. Tôi thầm nghĩ: “Thế là nó ăn hết cả xương rồi”. Tôi vừa khóc vừa đi lang thang về phía này. Bỗng nghe văng vẳng tiếng người ngâm thơ. Giọng giống hệt giọng “ông đồ gàn”. Thế là tôi chạy như bay như biến lại phía chuồng khỉ này. Cảnh tượng diễn ra thật lạ lùng. “Ông đồ gàn” ngồi vắt vẻo giữa chạc cây trong gian chuồng, cao giọng đọc thơ. Còn lũ khỉ ngồi tất cả dưới mặt đất như một lũ học trò ngoan ngoãn nghe thầy giảng kinh sách thánh hiền. Nhiều con nước mắt chảy hoen đầy mặt. Chắc là chúng nó xúc động bởi lời thơ. Chú hề ghìm trong họng một tiếng thở dài. Ngừng một lát, hề lại nói: – Lạ thật, đến lũ khỉ còn cảm nhận được cái hay của thơ “ông đồ gàn”, thế mà đức vua của tôi thì không chịu nổi, lại giết ông cũng bởi các vần thơ ấy. Tôi cứ đứng nghe mãi tới khi đàn khỉ đánh hơi thấy người lạ, chúng chạy dạt về một phía, khiến lão thi nhân nhìn thấy tôi. Ông mừng quá, reo lên:

- Chú hề, chú đến đây làm gì vậy?

- Tôi đi tìm bác. Vẫn nghĩ bác bị hổ ăn thịt rồi.

- Khốn nạn thân tôi, lũ lính say rượu dẫn tôi vào đây chứ không tống tôi vào chuồng cọp, nên lại phải sống.

- Thế lũ khỉ có làm phiền gì bác không?

- Lúc đầu thì có đấy. Mấy con khỉ đực đầu đàn xúm vào nạt nộ. Tôi mặc kệ chẳng thèm nói gì, chỉ cất giọng ngâm thơ. Không ngờ khi nghe thơ, mặt chúng dịu lại, rồi chúng nằm phủ phục ngay dưới chân tôi. Những con khác cũng ngoan ngoãn kéo nhau đến nằm kề.

Nghe nhà thơ nói chú hề cười ngặt cười ngoẹo:

- Thế thì tôi cam đoan với bác, cụ tổ của loài khỉ này nhất định phải là một đại thi hào.

Người đứng trong chuồng kẻ ngoài chuồng nói chuyện mãi. Tôi thấy gương mặt lão gợn lên niềm vui sướng, mà những năm tháng sống trong triều đình, chưa bao giờ lão có niềm vui ấy.

Chú hề lúc lắc cái đầu, nói tiếp: – Hôm sau tôi đến thì thấy lũ khỉ trên rừng kéo nhau về nghe lão thi nhân ngâm thơ, bu kín cả gian chuồng. Vừa thấy tôi, cả bọn tức giận, chúng xô đuổi tôi chạy bán sống bán chết. Sợ quá, hôm sau tôi không đến nữa. Qua mấy ngày được biết lũ lính hổ bôn đã tìm ra ông, định đem ông vứt sang chuồng hổ. Nhưng lũ khỉ xúm vào cắn xé đám lính để cứu nhà thơ. Bọn lính tức giận rút gươm chém chết nhà thơ, rồi bỏ đi.

Chắc là lũ khỉ lôi ông về đặt nằm trên doi đất này. May ông chết gặp giờ linh, nên quan thổ thần sai âm binh đắp mả cho ông, mà người trần ta quen gọi là mối xông.

Sau này dân chúng Hoa Lư thương quý ông, đem đá xếp bao quanh gò mối ở chân núi Mã Yên. Các nhà gom góp gạch ngói đem đến xây ngôi miếu trước gò thờ ông. Mấy người có chữ nghĩa bàn nhau nên đặt tên miếu như thế nào. Người bảo nên đặt là “Trung liệt miếu”, với cớ rằng lão thi nhân Phạm Tổ Thu xứng đáng đứng vào hàng những người trung liệt. Người khác lại bác ngay, bởi nhà thơ đâu phải đứa ngu trung. Lập tức có người bảo thế thì phải đặt là “Văn Thánh linh miếu”… Nhiều tên lắm, tên nào hề tôi nghe cũng thấy hay cả. Chợt có người như sực nhớ ra bèn nói: “Phải nên tránh cái tên “văn”, tên “thơ” vì sinh thời Lê Ngọa triều vốn ghét loại người này lắm. Nhỡ tái kiếp, ông ta lại đập miếu nhà thơ mất. Chi bằng ta cứ lấy một cái tên dung dị như “Thổ thần linh miếu” chẳng hạn. Vả lại, đây chỉ là một ngôi miếu nhỏ cho người đời hương khói, chứ nhà thơ có bao giờ sống nơi đền miếu”. Ai nấy đều cho là phải, vì chẳng biết thời thế đổi thay thế nào.

Kể xong, chú hề lấy tay áo chùi nước mắt. Mọi người hỏi:

- Bây giờ hề có được vào điện hầu vua mới nữa không?

- Không. Đức Thuận Thiên bảo triều đình là chốn trang nghiêm, là nơi bàn quốc sự, không thể để cho hề tôi vào đấy nói leo, pha trò nhại các quan như thời vua Ngọa triều được. Nhà vua đã cắt đất, lại phong tước lộc và ban cho tôi ba chữ “HOAN LẠC NHÂN”, chắc vua bảo tôi là kẻ suốt đời vui vẻ, nay mai tôi phải về quê quán. Chợt hề buông một tiếng thở dài: – Chỉ tiếc không được ở lại với lão thi nhân cùng ngôi miếu này.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 21.09.2018, 10:19
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5388 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
IV

Đêm tịch mịch, khí núi xông vào tận long sàng, khiến vua Thuận Thiên vừa chợp mắt đã lại tỉnh giấc. Tấm chăn độn lông chim nhẹ bẫng đã tụt xuống cuối giường. Nhà vua không kéo chăn đắp mà ngồi nhỏm dậy. Ngài tĩnh toạ giữa long sàng, tựa như khi ngồi kiết già hồi còn là một sa môn theo học thiền sư Vạn Hạnh nơi chùa Lục Tổ. Nhà vua nghe rõ từng hơi thở của mình, nghe rõ cả tiếng thì thầm của rừng cây ngay sát dưới chân hoàng thành. Tiếng mang tác rõ mồn một. Tiếng từng đàn lợn rừng chạy ào ào rung chuyển cả rừng cây, vách núi. Loáng đã bặt vắng, chỉ còn tiếng côn trùng rỉ rả như tiếng ti, tiếng trúc thoảng vương từ đâu đó. Đêm tĩnh lặng khiến nhà vua có cảm giác mơ hồ, như ngài đang sống trong một thế giới hư ảo, nơi tầng trời Đâu suất của ba ngàn Thế giới Phật. Phải tới mấy giây sau nhà vua mới nhớ lại buổi thiết triều sớm nay. Những tưởng vẫn còn những cựu thần nhà Lê, vì lòng luyến nhớ chủ cũ, không muốn rời khỏi nơi sơn động này. Ai ngờ việc lại sớm êm thuận. Có đúng mọi người cũng thấy ở đây là bất tiện cho một quốc gia đang trong vận hội mở mang; hay vì các quan ngại ta, sợ oai ta nên cũng dâng lời tán dương cho qua chuyện. Rồi họ lại ngấm ngầm phản bác lại ta. Nhà vua tự hỏi. Và tự trả lời: – Ta đã dò thăm ý tứ từng người, sâu nông đều có cả, rồi mới bày tỏ sự lợi hại của việc dời đô qua mấy buổi thiết triều cho các quan bàn bạc.

Nói cho đúng thì cung điện Hoa Lư không phải là không đẹp. Bách Bảo Thiên Tuế là điện coi chầu, đức Lê Đại hành cho dựng rất nguy nga, các cột đều dát vàng dát bạc rực rỡ, thềm cao chín bậc lát đá huyền. Mái điện lợp ngói hoàng lưu ly. Rồi các điện Phong Lưu, điện Tử Hoa, điện Bồng Lai, điện Cực Lạc, lầu Đại Vân… Điện, lầu nào cũng lộng lẫy không kém điện Bách Bảo Thiên Tuế. Nhất là điện Trường Xuân – nơi Lê Đại hành ngủ nghỉ thì cột dát bằng vàng, ngói lợp bằng bạc. Cách ăn ở này đã đạt tới tột cùng của sự xa hoa. Nay phải rời bỏ những cung điện, những lầu các đình tạ như thế này, sao ta không tiếc. Nhưng không thể không rời bỏ chúng. Vả lại, tâm nguyện của bá quan và trăm họ khi tôn ta lên ngôi cửu ngũ là mong ta đem lại cho dân, cho nước sự an lạc và giàu thịnh, chớ đâu họ có ý đặt ta vào ngôi vị ấy để ta thụ hưởng dục lạc.

Mặc dù nhiều cung điện sang quý, nhưng Hoa Lư cũng chỉ là nơi xó rừng, góc núi, không thể là bộ mặt của một quốc gia.

Dời đô, việc lớn đó coi như đã tạm yên. Cái còn lại trong lúc này là công việc của đám thợ sơn tràng, thợ mộc, thợ chạm, thợ hồ, thợ sơn vẽ… Tất cả đều phải gấp gáp nhưng lại phải làm đúng như bản hoạ mà thiền sư Vạn Hạnh đã dụng công bày xếp theo Thái cực đồ.

Mặc dù từ lâu Đại La đã là một lỵ sở, một đô thị, nhưng để trở thành quốc đô thì còn phải sắp xếp lại, phải xây cất thêm nhiều lắm. Vì vậy, từ mấy tháng nay ta đã cho xây đắp hoàng thành, xây cất các nơi đồn đóng quân cơ, các kho tích chứa quân lương, khí giới. Các đường đi lối lại, một phần làm mới, nhưng chủ yếu là ta sửa và mở rộng đường cũ sao cho xe song mã, xe tứ mã có thể tránh nhau, cho kiệu có thể quay đòn không vướng mắc. Và hệ thống đường thuỷ như kênh lạch nối từ trong thành ra hồ Dâm Đàm, ra sông Tô Lịch, sông Cái để thuyền bè ra vào được thuận tiện.

Các việc bây giờ phải dồn sức vào là dựng điện thiết triều, nhà thái miếu[26], điện chí kính[27], điện kính thiên[28] cùng các cung thất.

Trù liệu việc dời đô xong, nhà vua nhẩm tính các việc phải làm tiếp để phân phái về cho các đài, sảnh, viện. Chẳng hạn như việc cấp phát tiền gạo cho dân lưu tán dưới thời Lê Ngọa triều trở về quê cũ làm ăn. Đành rằng ngân khố, quốc khố đều trống rỗng, ta đã có chiếu kêu gọi các nhà hào phú cho vay và họ đã ứng hợp ngoài sự mong đợi của ta. Cái chính lúc này là phải kiểm xét sự cấp phát gạo tiền đó có đến tay người dân không, hay vẫn bị bọn nha lại, bọn hào lý ăn chặn như ở thể chế cũ. Lại nữa để cho dân khỏi thiếu đói, thời phải khích lệ dân chúng khai khẩn đất hoang hoá, bãi bồi. Ai khai khẩn được bao nhiêu, cho giữ làm tư điền, lại miễn thuế từ ba đến năm năm, gặp chỗ khó khăn gai góc hoặc đất bạc màu thì miễn thuế từ bảy đến mười năm. Rồi những người quan, quả cô đơn thì ai cứu giúp, ai nuôi nấng? Chẳng nhẽ triều đình bỏ mặc họ đói rét, lang thang cơ cực lúc tuổi già, khi đau yếu? Lại việc học hành của con cái các nhà lương dân thì ai dạy, và chúng học ở đâu? Nhẽ nào triều đại mới không làm được việc gì để người dân nhìn thấy và sờ thấy được ư? Nhà Lý hay nhà Lê đối với người dân, rốt cuộc vẫn chỉ là miếng cơm manh áo. Tất cả các việc đó cùng với việc triều đình tha tô thuế trong ba năm liền, kể từ năm Canh Tuất (1010) này, nhà vua đã trao cho Trung thư sảnh thảo chiếu và đã bố cáo cho toàn thiên hạ biết chính sách mới của triều đình. Không những thế, nhà vua còn băn khoăn về bộ máy của triều đình, nhất là các xã quan, đôi khi cả quan châu, quan lộ nhiều người còn chưa biết chữ, sổ sách xuất nhập là những cuộn dây thừng với các nút buộc thắt khác nhau. Vì vậy phải đẩy nhanh việc học thời mới có người có học vấn tham gia vào bộ máy cai trị quốc gia.

Nhà vua chợt nhớ bữa gặp thiền sư Vạn Hạnh gần đây, thầy lại răn: “Nhà vua hãy sẻn kiệm việc ban phát cho dân chúng các lời hay ý đẹp, mà họ thường coi như các đồ xa xỉ, không dùng vào việc gì được đâu. Hãy gắng lo cho họ những cái nhỏ nhất nhưng họ cần trong cuộc sống hàng ngày”.

Và nữa, việc giáo hoá chính các con ta, sao cho chúng giữ được cái tâm thiện, giữ được bản tính cần cù, kiệm ước, không vì được ở chốn quyền môn mà tác yêu tác quái, coi dân như cỏ rác. Hoặc giả kéo bè kết cánh với đám con cái nhà thế gia vọng tộc, mà phè phỡn, đàng điếm. Ta được quần thần cảm mến, người trong nước yêu trọng mà cho ở ngôi cao. Thật là đại phúc. Nhưng biết đâu cái hoạ chẳng đang rình rập ta từng bước. Ta không biết làm gì để chống lại các điều bất hạnh, cũng chẳng có pháp thuật gì để giữ mình ngoài các việc lo cho dân, cho nước để dân no ấm và họ tự giữ lấy nhà, giữ lấy nước. Ngoài việc giáo hoá nghiệp thiện cho dân và hoằng dương Phật pháp, để dân giữ Đạo, ta chẳng biết làm gì hơn nữa. Nhà vua đang miên viễn với những suy tư chất chứa, thì từ đâu đó ném ra một tiếng gáy gà rừng, rồi lũ gà nhà khắp kinh thành eo óc gáy theo. Đêm tĩnh lặng, tiếng gà gáy như tiếng nhạc cầm canh. Tiếng gà gáy, như gợi lại ký ức nhà vua những năm thơ trẻ trong tuổi hàn vi, nơi chùa Kiến Sơ, rồi chùa Lục Tổ. Khổ làm, khổ học lúc nào cũng bận mải với công việc cấy cày đồng áng, lúc nào cũng cặp kè quyển sách lời kinh. Rồi những năm mất mùa đói kém, thầy trò suốt ngày lần mò trong rừng báng. Hết củ báng lại đến củ mài, vừa ăn cầm hơi, vừa cứu dân tứ tán. Khá khen cho thầy ta – đức Vạn Hạnh đã không tiếc công tiếc sức rèn dạy ta đến chỗ rốt ráo của Đạo. Ngoài giáo lý Phật, thầy còn cho ta tham bác kỹ càng kinh sách của Nho gia[29], Đạo gia[30]. Các sách về y lý, về thuật số, về phong thuỷ, thầy cũng sai đọc. Thầy luôn kiểm xét cách nghĩ cách hiểu của ta. Khi lớn, ra gánh vác việc đời, việc nước, thầy lại kiểm xét cách tri, cách hành của ta. Khuôn thước đo lường của thầy là biết biện biệt phải quấy, thiện ác, là phá chấp, là đại giác, là giải thoát.

Mãi gần sáng nhà vua mới chợp mắt được một lúc, thì trà nô đã dâng nước rồi nội hoả thực lại dâng đồ điểm tâm. Bữa nay nhà vua không ra thiết triều mà ngài sai đòi các hoàng tử vào cung để răn dạy. Năm hoàng tử thong dong đi vào cùng với năm ông sư phó. Nhà vua miễn lễ cho các thầy trò và cho ngồi quây quần trên hai bộ kỷ. Vua Thuận Thiên có nhiều con, chỉ tính riêng con gái đã có tới mười ba người. Trưởng công chúa là An Quốc vừa gả cho Đào Cam Mộc, để đáp cái ơn tri ngộ. Trưởng nam của nhà vua là Lý Đức Chính sinh năm Canh Tí, nay là năm Canh Tuất vừa tròn mười tuổi. Cả năm hoàng tử, nhà vua chưa chọn lập ai bởi tuổi còn nhỏ, và nữa cũng chưa có ai tỏ lộ một khiếu năng gì khác lạ. Riêng về phần Lý Đức Chính thì nhà vua rất bằng lòng, vì chàng có đầu óc thông tuệ, học đâu nhớ đó, lại biết biện biệt nông sâu. Chàng ưa phần thâm sâu nhất trong Phật điển, mà đức giáo chủ Thích Ca Mâu Ni đã chỉ ra là phần giải thoát. Thật ra Lý Đức Chính hiểu được giáo lý Phật là nhờ ở tâm cảm, trực cảm hơn là lĩnh hội qua lý trí. Bởi với mười tuổi đời làm sao chàng có thể thấu hiểu được những điều sâu xa trong các kinh điển nhà Phật.

Nhà vua yêu quý Đức Chính cũng bởi tính hồn nhiên, nhân hậu của con trai, ngài muốn sau này hoàng tử sẽ là một đệ tử thuần thành của Phật để cùng giáo hội hoằng dương Phật pháp.

Khi cả năm ông sư phó và năm hoàng tử đã an toạ, nhà vua liền phán:

- Ta trao con ta cho các ông dạy dỗ. Việc học nho là học chữ để vào học Phật, chứ không phải cho các con ta chuyên chú vào Tứ thư[31], Ngũ kinh[32]. Đành rằng rồi cũng học Nho, nhưng phải khai tâm bằng học Phật để nuôi dưỡng nguồn tâm.

Các vị sư phó đều chăm chú lắng nghe, để rồi việc hầu giảng các hoàng tử được đúng như lời răn dạy của nhà vua.

Một lát hoàng thượng nói tiếp:

- Các ông sư phó nên biết, việc giáo huấn con trẻ chủ ở sự nuôi dưỡng nguồn tâm. Cái tâm của con trẻ trong trắng như tờ giấy, như tấm vải mộc. Viết hoặc vẽ gì lên giấy, nhuộm màu gì lên vải là tuỳ thuộc ở người thầy. Con ta có nên người hay không là ở nơi các ông. Nếu các con ta nên người, công các ông lớn lắm. Nếu các con ta không thành người, tội các ông cũng lớn lắm.

Các ông là những người học rộng hẳn đã rõ: Phàm làm người là phải biết kính cẩn, tức là phải biết lễ nghĩa đó. Phàm làm người đều phải biết liêm sỉ. Người biết liêm sỉ thì không làm các việc trái với đạo lý, trái với lương tâm. Kẻ nào đã không biết liêm sỉ cũng không đủ tư cách làm người. Phàm làm người đều phải biết cần lao. Kẻ nào không biết cần lao chỉ là vật ăn bám, sống nhờ như loài tầm gửi, sao có thể gọi là người được.

Vậy là Kính cẩn – Liêm sỉ – Cần lao, thiếu một trong ba điều đó không đủ tư cách làm người.

Đối với một con người, đức thiện và lòng nhân là điều căn cốt nhất, các ông phải lưu tâm truyền dạy cho các con ta. Các ông phải ăn ở, cư xử như những điều các ông từng rao giảng. Nếu thầy dạy một đằng, thầy cư xử một nẻo thì các con ta sẽ có cách sống giả dối, che đậy.

Phải nói kỹ để các ông biết vì sao ta phải hướng toàn xã hội đi vào con đường thiện, là bởi nước ta từ khi Ngô vương Quyền lấy được nước, chưa kịp yên vị thì ngài đã băng, các con thì còn nhỏ. Dương Tam Kha tiếm quyền làm cho triều chính rối nát dẫn đến loạn Mười hai sứ quân. Sau đó nhà Đinh lập, tiếp đến nhà Lê, rồi quân Tống xâm lăng bờ cõi. Lê Hoàn đại định, con nối là Lê Long Đĩnh bạo tàn. Vậy là trong bảy chục năm qua, nước ta trải hai cuộc xâm lăng, một cuộc nội chiến cùng một quỷ vương tàn phá. Lòng người quen với máu lửa, bạo tàn. Nay ta phải hoá giải tội đồ đó cho toàn dân, bằng cách dấy lên đức thiện, vun đắp nghiệp thiện. Ta đã nghĩ suy tới cạn nhẽ, muốn làm được việc đó, không gì bằng hoằng dương Phật pháp. Các con ta trước khi được giữ quyền bính, phải là các sa môn nơi cửa Phật. Nay mai khi chúng đã cứng cáp, đã biết ít nhiều chữ nghĩa, ta sẽ gửi cho các thiền sư giáo hóa. Ở đây, con ta cũng như các sa môn khác: “bất tác bất thực”[33].

Các ông sư phó hiểu chứ, ta muốn cả thiên hạ học điều thiện, làm việc thiện. Vậy trước hết ta phải làm điều đó, các con ta phải làm điều đó. Nếu các ông làm sai nhời ta uỷ thác, chắc các ông hiểu sự thể sẽ như thế nào. Nhà vua ngừng lời rồi gạn hỏi:

- Nào bây giờ các ông có điều gì cần bàn thảo, thử nói ta nghe.

Một vị cao tuổi nhất trong năm vị sư phó đưa tay sửa khăn áo rồi xin nói:

- Tâu bệ hạ. Các điều bệ hạ răn dạy như lời của các bậc thánh nhân, lời của các vị Bồ tát, chúng thần xin gắng hoàn thành trách phận.

Vua bằng lòng lắm. Ngài tươi cười nhìn các bậc sư phó, rồi nói với các hoàng tử:

- Các con!

Nghe vua cha gọi, cả năm vị hoàng tử bước ra khỏi chỗ, quỳ gối lắng nghe.

Vua nói:

- Ta đã uỷ thác các con cho các vị sư phó, vậy nhất nhất các con phải tuân lời thầy học. Nay mai học khá, ta sẽ gởi mỗi con tới một bậc thiền giả cao minh để tu học. Và cứ hễ đến tuổi mười lăm, ta cho các con về các vùng quê mở phủ, để có cơ hội gần dân.

Các hoàng tử dập đầu thưa:

- Chúng con xin vâng mệnh phụ hoàng.

Vừa tiễn các ông sư phó, thì cũng đúng lúc thiền sư Đa Bảo tới cáo từ nhà vua, để trở về sơn tự.

Thiền sư huơ cây thiền trượng xá nhà vua một xá, sư nói:

- Chúc nhà vua thành tựu viên mãn, thiền lão tôi xin bái biệt.

Vua Thuận Thiên nài nỉ tới hai ba lần, mời thiền sư nán lại để nhà vua xin đôi lời răn bảo, thiền sư mới tạm ghé ngồi bên mép kỷ.

Vua mở lời:

- Bữa trước Công Uẩn tôi có mời thiền lão dự buổi thiết triều, thiền lão đã có lời chỉ dẫn. Song chắc còn nhiều điều sâu kín mà bậc trưởng lão muốn răn dạy, nhưng không tiện nói nơi triều chính. Vậy bữa nay tôi muốn lưu trưởng lão lại để được nghe cao ý.

Đa Bảo thiền sư nhìn lại sắc diện nhà vua một lần nữa, lại nhìn vào cây thiền trượng, sư cười. Nụ cười tươi rói, gương mặt phúc hậu, nom Thiền sư có nét hao hao Phật Di Lặc, là người tu theo hỉ đạo. Sư nói:

- Bậc thiên tử ở ngôi cửu ngũ, đứng đầu trăm họ, tâm sáng vằng vặc, lũ thiền tăng chúng tôi ở nơi xó rừng vách núi như ếch ngồi đáy giếng, biết gì mà dám lạm bàn, lỡ trái ý bề trên thì vong mạng. Xin bệ hạ tha cho để bần tăng sớm trở lại chốn sơn môn. Bữa trước bệ hạ cho triệu, lại được bệ hạ cho nói, lão tăng đã nói cả rồi.

Ngừng lời, Đa Bảo thiền sư lại gõ đầu cây thiền trượng xuống đất ba lần như lấy đà đứng dậy sắp đi.

Nghe những lời nói khách khí, xa vời của đại lão hoà thượng, nhà vua cảm thấy buốt nhói ở trong lòng. Vua tự nghĩ, ta mới ở ngôi được vài tháng. Vậy ta đã làm gì để cho các bậc trí giả, các bậc thức giả, các thiền giả, đạo giả xa lìa, lạnh nhạt. Các bậc thiền lão còn như vậy, thế thì dân chúng với ta sẽ là nghìn trùng cách biệt. Ta là vua của ai đây? Liệu dân có hiểu ta hay cũng coi ta với Lê Ngọa triều đều là một lũ hôn quân.

Lòng đầy bối rối, nhà vua nói:

- Xin đại lão thiền giả hãy coi Công Uẩn này như một đứa tiểu tăng như hồi còn theo hầu sư phụ Vạn Hạnh bên chùa Lục Tổ để ngài răn dạy.

- Không dám! Không dám! Bệ hạ nói sai rồi.

- Công Uẩn tôi nhờ hồng phúc của nước, được triều thần tôn phù đứng đầu trăm họ. Biết rằng tài đức chẳng bằng ai, nên trong lòng lúc nào cũng run sợ như người sắp nhảy xuống vực sâu. Tôi trộm nghĩ, đại lão thiền sư là người có con mắt tinh đời, đã đoán biết sự việc ngày nay từ ba mươi năm về trước, tôi tự xem hoà thượng với thầy tôi là hai bậc minh sư thấu thị, hai bậc thầy tri âm tri kỷ, xin một lần nữa bái làm thầy, để được khai thị. Nói rồi Lý Công Uẩn quỳ xuống vái Đa Bảo thiền sư hai vái.

Thiền sư vội vàng đỡ nhà vua dậy, giọng nghiêm nghị, ngài nói:

- Dù khiêm nhường nhà vua cũng không được làm như vậy. Bệ hạ muốn hãm thiền lão tôi vào tội khi quân sao? Bệ hạ nên nhớ, bần tăng khi trước so với chú tiểu chùa Lục Tổ là cách nhau một trời một vực. Lại như ngày nay, bệ hạ so với bần tăng cũng là một trời một vực. Sự thể đã khác hẳn xưa rồi, ngôi bậc đã đổi thay rồi. Nói vậy nhưng trong lòng lão tăng hơi hối. Không phải thiền sư không tin vào sự thành thật của nhà vua, mà bởi người muốn gạn thử lòng vua đôi chút. Đoạn thiền sư đắn đo:

- Tâu bệ hạ, có một điều nếu bần tăng không nói ra e mắc lỗi với bệ hạ, nhưng nói ra sợ lại mắc tội với bệ hạ.

- Mong đại lão thiền sư phát tâm Bồ đề, chỉ giáo cho, Công Uẩn tôi xin sửa mình lắng nghe.

- Triều đại mới của bệ hạ các chức quan đều có cả. Nhưng sao bần tăng thấy số quan võ được cất nhắc nhiều hơn quan văn. Chắc bệ hạ đề phòng nội loạn chăng? Chức sử quan cũng chưa thấy cắt đặt. Một nước có văn hiến không thể không chăm lo đến quốc sử. Điều bần tăng băn khoăn nhất là bên Ngự sử đài, các chức quan Tả Hữu gián nghị cũng chưa thấy bệ hạ trao cho ai. Hay là bệ hạ tự tin mình đã đạt tới cõi minh triết rồi, không bao giờ có thể phạm vào điều sai quấy, nên không cần có ai can gián. Lão tăng thành thật khuyên bệ hạ không nên bỏ chức quan này. Tuy đôi lúc nó có làm cho bệ hạ khó chịu. Nếu bệ hạ muốn dân giàu nước thịnh, thì bệ hạ phải luôn luôn giữ cho mình được tỉnh táo, thông sáng. Chính các chức quan này sẽ giúp bệ hạ thắp sáng con mắt tuệ, cái tâm tuệ. Nhược bằng bệ hạ còn đang tìm người xứng đáng, còn cân nhắc mà bần tăng đã sớm có lời trách, thì xin bệ hạ tha tội cho nhãn giới của thiền lão đây hạn hẹp vì tuổi già.

Các điều mà thiền lão Đa Bảo lục vấn đều là các việc mà Lý Công Uẩn hoặc đã có chủ kiến, hoặc chưa nghĩ tới, hoặc chưa thấy hết ý nghĩa của công việc. Bởi triều đình mới, bộ máy mới, ông chưa kiếm tìm được những người có chân tâm để dùng vào các việc quan yếu ấy. Thật ra ở trong nước không phải là không có các bậc chân tài, như Vạn Hạnh, Đa Bảo đó. Ngặt vì các vị đã hiến mình cho Đạo, nên chỉ thấp thoáng chút phần đời.

Lý Công Uẩn tự nhủ, thiền lão có ý trách ta trọng võ hơn văn, ngầm răn ta không nên đi vào con đường chuyên chế, bạo tàn. Nghĩ vậy, nhà vua bèn nói:

- Đa tạ sự răn dạy của đại sư, Công Uẩn tôi xin làm theo các việc mà trưởng lão đã hằng tâm khuyên bảo. Nhân đây, Công Uẩn xin được thưa lại đôi điều để trưởng lão yên tâm. Đúng như trưởng lão đã nói, tôi cất nhắc tướng võ nhiều hơn tướng văn là để đề phòng sự trở lại của cái hoạ Mười hai sứ quân. Vả lại triều đại mới, lòng người chưa phục, các sách, động ở các vùng xa xôi, các miền biên viễn các đầu mục thường hay nổi loạn, mà bên ngoài thì nhà Tống lúc nào cũng lăm le thôn tính. Dạ thưa thiền lão, Công Uẩn tôi bất đắc dĩ phải làm việc răn đe đó để ổn cố xã hội. Mặt khác cũng phải tỏ cho nhà Tống biết, nếu họ xâm lăng ắt chuốc lấy tai hoạ. Triều đình cũng đã làm các việc khác để dân chúng đỡ khổ, để nhà nhà có bát ăn, tiến tới có cái để dành, phòng khi có biến cố bất ngờ. Bữa trước, triều đình đã xuống chiếu tha toàn bộ số tô thuế ruộng đất cho cả nước trong ba năm liền, bắt đầu từ năm Canh Tuất đến hết năm Nhâm Tí. Lại chẩn cấp tiền gạo cho dân lưu tán trở về quê cũ làm ăn. Soát lại các hình án tù ngục, ai bị triều trước bắt oan uổng, lại vì có kẻ cậy quyền cậy thế chèn ép bức bách người thấp cổ bé họng, tống vào giam cầm nơi ngục thất thì nhất đán được tha, được đưa về quê cũ.

Vua Thuận Thiên vừa nói vừa liếc nhìn thiền sư Đa Bảo, thấy gương mặt ngài rạng rỡ, vẻ bằng lòng lắm. Thật tình nhà vua chỉ nói những việc mình đã làm, những điều mình đang để tâm nghiền ngẫm nên nó bộc lộ được tính trung thực của bậc chính nhân quân tử, chứng tỏ vua là bậc thông sáng.

Thiền sư Đa Bảo đã hai ba phen gật đầu tỏ ý hài lòng. Đoạn sư huơ cây thiền trượng và nói:

- Bần tăng xin hỏi nhà vua, chế độ mới lập, triều đình tha tô thuế đất ruộng ba năm liền, thì lấy gì để nuôi vỗ quan lại, binh lính. Đành rằng việc làm đó là nhân, trước bệ hạ chưa ai dám tha tô thuế ba năm liền, sau bệ hạ chưa biết thế nào, bần tăng chỉ băn khoăn về nạn quốc khố cạn kiệt. Hay là để đỡ khó khăn cho triều đình, cứ cách một năm, tha tô thuế cho dân một năm có được không.

- Đa tạ, đại sư vừa có lòng thương dân, vừa có lòng cảm thông với những bức bách của triều đình. Công Uẩn tôi cũng đã có nghĩ đến cao ý của đại sư. Ngặt vì mấy năm dưới ách áp bức của Lê Long Đĩnh, dân chúng lầm than cơ cực quá. Người dân vừa đói vừa sợ sệt như gà phải cáo. Nay dù có tha tô thuế một năm, họ cũng chưa hồi phục được về đường kinh tế, còn về đường tinh thần, họ chưa đủ lòng tin vào bộ máy cai trị mới với các quan lại mới. Vì rằng, dưới con mắt của người dân, thời nào thì quan với dân cũng như cáo với thỏ, quạ với gà mà thôi. Quan thì tham, lại thì nhũng. Thế đây, thưa đại sư, việc sinh tử của triều đại mới lúc này là lo nuôi vỗ sức dân, lo gây dựng lòng tin với dân. Công Uẩn tôi thường nghĩ, phải thương dân như cha mẹ thương con thì mới có cơ may phục hưng được thế nước. Bạch đại sư, triều đình cũng có đánh thuế, nhưng chỉ quy về sáu sắc có liên quan đến nguồn lợi khai thác từ rừng và biển mà thôi.

- Bệ hạ nghĩ như vậy là niềm phúc hạnh cho dân, cho nước. Thì ra thầy Vạn Hạnh đã truyền cho bệ hạ cái tâm Bồ tát. Thế mà ta cứ lo hão. Thiền sư Đa Bảo thở dài, ngài có vẻ như tự hối vì đã xét nét nhà vua một cách thái quá. Như sực nhớ ra điều gì, thiền sư lại tiếp:

- Bệ hạ, bần tăng vẫn cứ băn khoăn, việc nuôi vỗ quan lại có thể sẻn kiệm lấy từ nguồn lợi thuế khoá nơi các sản vật của rừng, của biển như sừng tê, ngà voi, trầm hương, đồi mồi, ngọc trai, muối… hoặc thu tô ruộng quốc điền. Nhưng còn việc nuôi binh lính, sắm binh khí, mới là việc tốn kém, bệ hạ tính sao?

Vua Thuận Thiên mỉm cười vui vẻ, đoạn nhà vua quay ra nói với Đa Bảo thiền sư:

- Vậy là đại sư giám sát việc nước rất chặt, lòng tôi sung sướng như được cha mẹ vỗ về. Nếu các bậc đại trí, đại giác trong nước, ai ai cũng có lòng như đại sư thì lo gì dân không giàu, nước không mạnh.

Lý Công Uẩn bỗng hạ giọng nhưng từng lời nói nhà vua cố ý để cho ngài Đa Bảo nghe thật thấu, và còn mong được ngài chỉ giáo hơn nữa. – Việc quân, thưa đại lão thiền sư, nhà nước chỉ nuôi một đội quân tinh nhuệ rất nhỏ, gọi là chính binh. Ngoài ra, còn có đội thường binh lấy tất cả trai tráng trong nước từ mười tám đến ba nhăm tuổi, mỗi năm phải tập hợp về lộ, rèn luyện trong một hai tháng, chia làm hai kỳ nông nhàn vào tiết xuân, thu. Đội quân này phải mang lương thực từ nhà đi dùng đủ trong thời gian luyện tập. Triều đình chỉ cung cấp binh khí, cử người có võ học cao về huấn hỗ. Hết thời gian rèn tập, mọi người lại trở về nhà cày ruộng.

Thưa đại sư, mọi người dân đều được rèn tập, lúc thường là dân, lúc nước có hoạ biến, tất cả họ đều là lính. Vậy là nhà nước vừa đỡ tốn kém khi phải nuôi giữ một đội thường binh quá lớn, lại vừa nuôi vỗ được sức dân, và luôn luôn có một đội quân cực lớn thả về nơi ruộng đồng nhàn nhã.

- Hay, hay lắm! Thiền sư Đa Bảo gõ cây thiền trượng xuống đất ba lần, ngài nở một nụ cười sảng khoái như nụ cười của đức Di Lặc. – Đó, cái sách đó chính là ngụ binh ư nông đấy. Làm như thế, tức là bệ hạ gửi một việc nguy hiểm vào nơi nhàn nhã. Thành tựu này ngoài tầm nghĩ hiểu của bần tăng. Vậy chớ bệ hạ đã thực thi chưa?

- Dạ triều đình đã bắt đầu làm thử tại lộ Hải Đông, lộ Đà Giang, lộ Bắc Giang; nếu việc này mà thành tựu thì từ sang năm sẽ làm đại đởn trong cả nước.

- Thế còn việc giám tu quốc sử bệ hạ nghĩ sao?

- Dạ, việc này nhất định phải làm, nhưng triều đình chưa cử được ai xứng đáng, nên chức đó còn đang khuyết. Công Uẩn tôi cũng thấy việc này hệ trọng lắm. Nó không những chỉ hệ trọng đối với hiện tại, mà còn với cả quá khứ và mai hậu nữa, cho nên không thể hồ đồ cắt cử bất kể ai vào chức đó cũng được.

- Bệ hạ nghĩ vậy thì thiền giới chúng tôi cũng an tâm, vì đất nước đã phó thác vào tay một người đáng tin cậy. Thế nhưng thưa bệ hạ, còn chức tả hữu gián nghị thì sao.

- Việc này, nhà vua có vẻ hơi bối rối – thưa trưởng lão, việc này quả Công Uẩn tôi quên khuấy, mà các quan cũng không thấy ai xướng xuất, xin trưởng lão cứ yên tâm, Công Uẩn tôi sẽ cho bổ cứu ngay nay mai.

- Bệ hạ nên lưu tâm, khi nào người trên chỉ thích nghe lời nói êm tai, thì thói xu nịnh sẽ xuất lộ ngay lập tức. Và cũng ngay lập tức bọn sâu bọ tìm được cách che tai, bịt mắt người trên. Khi người trên không thích nghe lời nói thật, nói thẳng, nói trái tai, trái ý mình nữa, thì đó là triệu chứng bại vong của nước. Muốn xã hội ổn cố, người người trung hậu, thì người dân phải được đủ ăn, đủ mặc. Muốn dân chúng trung hậu thì bộ máy triều đình phải gần dân, thấu hiểu lòng dân, không đàn áp người lương thiện, không cấm đoán những người có ý nghĩ thẳng ngay, những việc làm mới lạ. Muốn như vậy, tâu bệ hạ, triều đình phải có cái tai nghe xa muôn dặm, phải có con mắt nhìn thấu nghìn tầm, và phải có tấm lòng bao dung như trời biển. Thiền sư chống cây thiền trượng đứng thẳng dậy vái nhà vua hai vái – Bữa nay ghé triều đình chào bệ hạ, được bệ hạ cho nói, có điều gì luống cuống xin bệ hạ đại xá, bần tăng xin cáo thoái.

Nhà vua hai ba lần lưu giữ, đại sư đều một mực chối từ.

Lý Công Uẩn ngùi ngùi nói: – Bạch đại lão hoà thượng, thực tâm Công Uẩn tôi muốn lưu đại sư làm quốc sư tại triều để vấn kế, xin đại sư mở lòng, để chúng sinh được nương nhờ.

Đa Bảo thiền sư xua tay: – Không nên, không nên. Kẻ tu hành này hết duyên tục rồi. Để thỉnh thoảng nghĩ được điều gì, bần tăng lại ghé thăm rồi dâng lên bệ hạ. Vả trong nước còn nhiều bậc đại trí lắm, nếu bệ hạ thực lòng thì kẻ thức giả, trí giả ắt sẽ mở tâm. Thiền sư cười độ lượng – lão tăng quen sống nơi rừng núi, am thanh cảnh vắng bất nhiễm trần. Xin bệ hạ đại xá, đại xá!

Nói rồi Đa Bảo chống thiền trượng sải bước không ngoái lại nữa.

Vua Thuận Thiên theo tiễn không kịp, đành đứng vái sau lưng thiền sư.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 21.09.2018, 10:20
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5388 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
V

Từ khi nhà Lý thay nhà Lê, dân chúng thấy dễ sống hơn. Người dân đi lại làm ăn không còn sợ gặp vua nữa. Như thời Lê Ngọa triều, người nào vô phúc gặp ông ta chỉ có mất mạng. Lê Long Đĩnh là kẻ hiếu sát. Ngày nào không sát sinh, ông ta không chịu nổi. Các vật nuôi như trâu, bò, dê, lợn…, các vật hoang dã như hổ, báo, gấu, lợn rừng, hươu, nai… ông đều tự tay chọc tiết rồi mới cho nhà bếp làm lông và chế biến. Có điều lạ, ông ta giết súc vật thuần thục hơn các tay đồ tể. Con dao bầu nhọn mũi, ông chỉ thọc một nhát đúng tim, con vật chưa kịp kêu rống thì dòng máu đỏ tươi đã phụt ra và chỉ còn nghe được xác con vật đổ xuống, cũng là lúc Lê Long Đĩnh lau dao máu vào đầu hoặc vào mặt các viên quan cận vệ đứng hầu cạnh ông.

Triều đại mới quả có chăm chút đến thân phận của người dân như tha bớt tô thuế, khuyên dân khai khẩn đất hoang, bãi bồi và cho họ làm chủ luôn đất ấy. Vì vậy trong dân chúng nô nức không khí làm ăn.

Nhưng với người dân trong thành Đại La thì lại khác. Đúng là người dân thành Đại La chưa được hưởng trọn vẹn niềm vui thì đã có lệnh đuổi nhà. Triều đình ban chiếu: “Bất cứ ai đang cư ngụ ở phía tây thành Đại La, đều phải dời đổi về phía đông, phía nam, phía bắc. Triều đình sẽ cắt đất mới hoàn trả, lại cho mỗi hộ ba mươi hai quan tiền cùng hai mươi phương lúa… Hạn cho việc dời đổi chỗ ở từ ngày… đến ngày… Ai trái lệnh…”

Đành rằng lệnh vua ai dám cưỡng. Đành rằng đền bù có thua thiệt, nhưng đất cha ông tổ nghiệp để lại đã bao nhiêu đời, nay phải dứt ruột bỏ đi, ai mà không tiếc nuối. Vả lại trong thành Đại La này chỉ có phía tây là cao ráo, nay chuyển tới nơi khác đất thấp, đầm hồ chằng chịt, mùa nước nổi đi một bước đã phải dùng thuyền, nước ăn toét cả hai bàn chân.

Đang lúc dân chúng còn phân tâm, thì xã trưởng Lương Minh Châu đốc thúc gia nhân dỡ nhà. Xã trưởng là người giàu có nhất trong làng, ba toà nhà ngói san sát. Vườn cây, ao cá quanh năm thu lợi, nhưng ông ta không kêu ca phàn nàn. Trước buổi dỡ nhà, ông mời các bậc cao niên cùng các chủ gia đình đến nhà ông xơi nước. Ông chỉ nói đến ngày ấy ngày ấy, nhà ông chuyển về mảnh đất mới ở phía đông La Thành – nơi định cư mới của cả làng. Ông nói cười vui vẻ. Có người nghi ông ăn chặn tiền triều đình ban. Vì vậy, ông phải nói lại điều ông đã bố cáo trước toàn dân, cùng là việc ông đã cho sao tờ “chiếu” dán tại chùa làng.

Dân làng tin ông. Mọi người uống nước, ăn trầu rồi ra về. Gia nhân ông lập tức dỡ nhà. Một tháng sau khi xã trưởng chuyển nhà, cả làng đều chuyển nhà. Chẳng mấy chốc ngôi làng mới đã hình thành. Nhà cửa xộc xệch, cây cối chưa kịp trồng, nom ngôi làng như một xóm dân tứ tán mới quy nhau lập ấp. Nhưng ở phía tây, tức những ngôi làng cũ mà dân đã rời đi, nhà cửa, cung điện mọc lên san sát, cứ mỗi ngày mỗi khác. Thực, mà ai cũng tưởng như mơ. Vì rằng thành Đại La từ trước tới nay, tuy đã có phố xá, có dinh thự nhưng chưa hề có cảnh nguy nga như thế này.

Công việc xây cất kinh thành đang vào lúc sắp hoàn tất, vua Thuận Thiên về thăm, và ngài kiểm xét lại từng ngôi nhà dùng vào việc gì, rồi ngài sai đặt tên.

Các quan thái bảo Đào Thạc Phụ, thái phó Đặng Văn Hiếu, Vũ Đạo vương hoàng thúc, viên ngoại lang Lý Nhân Nghĩa cùng đám thư nhi cắp tráp theo hầu lúi húi ghi chép. Cung điện ở phía trước dùng làm nơi coi chầu lấy tên quẻ Càn. Càn là Trời, là đức cương kiện, tự cường của một nước. Điện này đặt tên là điện Càn Nguyên. Bên tả điện Càn Nguyên là điện Tập Hiền, là nơi tụ hội các người hiền đức, người có văn chất cao trọng trong thiên hạ. Bên hữu điện Càn Nguyên là điện Giảng Vũ. Đây là nơi tập hợp các tướng tài, nơi huấn giảng về binh thư đồ trận của hoàng thượng và các bậc thượng trí.

Sau điện Càn Nguyên còn có hai cung làm chỗ nghỉ cho vua, đặt tên là Long An và Long Thuỵ. Bên tả có điện Nhật Quang, bên hữu có điện Nguyệt Minh. Phía sau hai điện đó có hai cung gọi là Thuý Hoa và Long Hoa làm chỗ ở cho cung nữ. Hướng chính nam còn có điện Cao Minh.

Đây mới chỉ là một số cung chính, còn nhiều cung khác nữa, và cả chùa Phật cũng được xây trong hoàng thành cho vua làm lễ, như chùa Hưng Thiên ngự. Lầu Ngũ Phượng tinh, xây cất theo hình ngũ giác, mà mỗi góc biểu thị một ngôi sao trong chòm sao Bắc Đẩu, lại ở vào vị trí chính giữa, cũng tức là trung cung. Bên tả lầu Ngũ Phượng là quán Thái Thanh, bên hữu là chùa Vạn Tuế. Các cung điện, chùa, quán đều làm mái cong có thềm rồng bao quanh bốn mặt. Các cửa và cột điện đều sơn son thếp vàng, thật là lộng lẫy. Các kho tàng đều dựng ở nơi kín đáo mà thuận tiện cho việc xuất nhập. Các thành, hào bốn mặt đều nghiêm cẩn. Bốn mặt thành mở bốn cửa chính. Phía đông là cửa Tường Phù, phía tây cửa Quảng Phúc, phía nam cửa Đại Hưng, phía bắc cửa Diệu Đức.

Xem ngắm sau trước tỏ tường cùng với việc đặt tên các điện, các cung, vua lấy làm bằng lòng. Trở về Hoa Lư, vua tự mình thảo chiếu và chọn ngày dời đô.

Đêm ấy nhà vua thức suốt đêm nghĩ suy về việc thảo chiếu. Vua trai giới đúng bảy ngày đêm và trì tụng mỗi ngày ba lần trước Phật đài. Khoảng canh ba đêm thứ bảy có một vị râu tóc bạc phơ, da dẻ hồng hào, chống gậy trúc, nom cốt cách như một bậc tiên thánh. Lão trượng cúi chào nhà vua rồi nói: “Tôi là thần Long Đỗ nơi thành Đại La đến chào bệ hạ. Đất Đại La là nơi tụ kết anh linh, tú khí, nhà vua chọn đất ấy định đô là hợp lắm. Nay cung điện đã xây xong, ngày lành tháng tốt đã đến, bệ hạ còn chờ gì nữa mà không dời đô”. Nói xong, ông lão gõ ba tiếng gậy trúc lên thềm điện chào từ biệt nhà vua. Đức Thuận Thiên giật mình tỉnh dậy mới biết mình vừa mơ. Vậy là việc dời đô hợp lòng người, hợp cả ý Trời và Thần linh, nên được thần mách bảo.

Vua thắp lên một tuần nhang rồi vào ngự thư phòng viết chiếu. Lạ thay, nhà vua viết một mạch, cứ như có người đọc cho vua chép vậy. Viết xong, vua đọc lại: “Ngày xưa nhà Thương đến Bàn Canh là năm lần dời đô. Nhà Chu đến Thành vương là ba lần dời đô, há phải là các vua đời Tam đại ấy, theo ý riêng mà dời đô bậy đâu. Là vì mưu chọn chỗ ở chính giữa làm kế cho con cháu ức muôn đời; trên kính mệnh trời, dưới theo lòng dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi. Bởi thế ngôi truyền dài lâu, phong tục giàu thịnh. Thế mà nhà Đinh nhà Lê lại theo lòng riêng, lơ là mệnh trời, không noi theo việc cũ nhà Thương, nhà Chu, yên ở nơi quê quán, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ hao tổn, muôn vật không nên. Trẫm rất xót thương không thể không dời đi nơi khác. Huống chi… thành Đại La, ở giữa khu vực trời đất, có thế rồng cuộn hổ ngồi, ở giữa nam bắc đông tây, tiện hình thế núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng, vật rất thịnh mà phồn vinh, xem khắp nước Việt, chỗ ấy là nơi hơn cả. Thật là chỗ hội họp của bốn phương, là nơi thượng đô của kinh sư muôn đời”.

Sáng ra vua sai thiết đại triều, các quan văn võ, các đài, đô, viện thảy đều có mặt. Vua cho tuyên đọc lời chiếu rồi ân cần hỏi:

- Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định đô, vậy ý các khanh thế nào?

Vì đã được vua hỏi nhiều lần, lại được bàn bạc kỹ, bây giờ nghe lời “chiếu” các quan đều nói:

- Bệ hạ vì thiên hạ mà lập kế dài lâu, để trên cho cơ nghiệp to lớn được thịnh vượng, dưới cho nhân dân được giàu của nhiều người. Việc lợi như thế ai không dám không theo.

Vua mừng lắm, lại đem kể chuyện thần Long Đỗ đêm về báo mộng.

Các quan đều hoan hỷ cho rằng, thế là việc dời đô được cả Trời – Thần đều phù trợ, còn lòng dân thì háo hức trông ngóng. Vua sai quan thái bốc chọn ngày lành để dời đô.

Cả bên toà Khâm thiên giám cùng bên Thái bốc đều đã trù liệu từ trước, nên tâu:

- Đã chọn được tháng bảy ngày mùng mười là ngày lành tháng tốt, xin vua thuận cho.

Nhân bên Khâm thiên giám và bên Thái bốc đều chọn được ngày mười tháng bảy là ngày lành, vua Thuận Thiên lấy làm mãn nguyện. Vì từ khi lên ngôi đã ban bố biết bao chính lệnh, làm biết bao việc cho dân chúng khắp nước. Phải nói, từ người già đến trẻ nhỏ, từ người tu hành đến người quan, quả, cô đơn cho cả tới kẻ mắc phải tội đồ bị giam cầm nơi ngục thất, không một ai là không được ơn mưa móc. Duy chỉ có những người chết qua mấy chục năm biến loạn từ thời Thập nhị sứ quân đến hôn quân Lê Long Đĩnh gây ra. Lại trải qua hai cuộc bình dẹp quân Nam Hán và quân Tống, biết bao người đã hiến dâng cả mạng sống của mình để bảo vệ non sông đất nước, cùng biết bao sinh linh oan khuất là chưa được hưởng ân tứ của triều đình.

Nay nhà vua muốn nhân dịp thiên đô làm một lễ đại cầu siêu cho tất thảy chúng sinh. Bởi nói cho cùng, trong cuộc sinh tồn của dân tộc từ thượng cổ tới nay, công lao mở mang bờ cõi, bảo tồn cương thổ, tạo lập văn hiến đâu phải ở lớp người đang sống, mà trọng yếu là sự nghiệp của những người đã chết. Do vậy, cái chí của ta là muốn lập một đại đàn tràng làm lễ cầu siêu cực lớn tại kinh thành mới dựng, nhằm đền đáp công ơn những người đã khuất trên toàn cõi. Lễ đàn diễn ra đúng dịp Vu Lan, coi như đây là lễ đàn báo hiếu.

Tại các lộ, các trấn, các châu thì các quan an phủ sứ, thông phán, thiêm phán, lệnh uý, chủ bạ phải phối cùng các bậc sư tăng, đạo nhân ở lộ, trấn, châu, phủ mình mà hành lễ.

Vua còn sai soạn đồ lễ để tế cáo trời đất và thần linh thành Hoa Lư trước ngày dời đô về Đại La.

Mọi việc sắp xếp xong xuôi, đúng giờ dần ngày mười tháng bảy năm Canh Tuất (1010) vua Thuận Thiên tạm biệt dân chúng thành Hoa Lư để về Đại La.

Không biết dân chúng dậy từ lúc nào mà đã xếp hàng kín hai bên vệ đường. Thôi thì hương án, cờ quạt, tàn lọng rợp trời như ngày hội lớn. Suốt từ kinh thành tới bến Hoàng Long, kiệu vua chen giữa hai dòng người và cờ quạt.

Tiếng hô: “Hoàng thượng thiên tuế!”, “Hoàng thượng vạn tuế!” như lay động cả kinh thành.

Ngồi trong kiệu rồng, vua Thuận Thiên lòng bồi hồi xúc động đưa tay vén rèm, ló đầu ra đáp lễ dân chúng.

Thấy nhà vua mỉm cười, dân chúng hồ hởi reo hò. Khi tới gần bến sông, đường hẹp người đông như vón lại, kiệu không thể nhích đi được. Lính cận vệ toan dẹp dường. Vua ngăn lại. Ngài xuống kiệu dẫn bộ để uý lạo trăm họ. Khi vua đi gần tới bến thì gặp một đoàn chừng non một trăm các cụ bô lão đã chờ sẵn. Các cụ gồm người trong kinh thành Hoa Lư và cả người ở các hạt lân cận. Cụ nào cũng mặc áo đỏ, quần đỏ, đội mũ đỏ.

Vua vừa toan nói đôi lời thì tất cả các cụ đều quỳ xuống, và hai cụ già nhất dâng lên bức trướng bằng vóc đại hồng, thêu chữ “TÂM” bằng chỉ dát từ vàng ròng. Khi hai cụ vừa mở bức trướng ra thì toàn thể các bô lão đồng thanh hô:

- Kính dâng hoàng thượng!

- Hoàng thượng vạn tuế!

Vua Thuận Thiên dang hai tay ra đỡ bức trướng rồi cúi đầu đáp lễ các cụ. Lòng dạt dào xúc động, vua nói:

- Vâng mệnh trời, thuận lòng dân, ta được ở ngôi cao. Hứa với trăm họ, ta sẽ lấy cái tâm của trăm họ làm tâm của mình. Vừa nói, nhà vua vừa áp bức trướng nơi có chữ “tâm” vào trước lồng ngực mình. Xúc động quá không nói được, hai hàng nước mắt vua cứ dàn ra.

Cả kinh thành lặng đi. Rồi từ đâu đó tiếng hô bật lên:

- Hoàng thượng vạn tuế!

Mọi người hô theo, tiếng hô vang vọng như tiếng sấm rền hoà cùng tiếng trống đồng khua, tiếng chiêng điểm, tiếng đàn, địch… Vua Thuận Thiên bước lên thuyền ngự trong tiếng nhạc thiều dìu dặt.

Đoàn thuyền nhổ neo, tiếng pháo nổ giòn hơn cả tiếng trống khua mau. Khói pháo dày đặc che kín vòm trời. Xác pháo bay đỏ tím mặt nước sông. Đoàn thuyền đi xa tắp, lá cờ hiệu trên nóc thuyền ngự đã bé tẹo như chiếc lá tre, mà lời đồng thanh cầu chúc của người dân thành Hoa Lư còn bay vào tới tận khoang thuyền:

- Chúc thánh thượng vạn a… a… a… a…n!

Và một lần cuối, đức Thuận Thiên hiện ra trên tầng lầu thuyền ngự, mặt hướng về dân chúng Hoa Lư, tay ngài cầm bức trướng mà trăm họ vừa dâng tặng giơ cao lên vẫy, vẫy.

Đoàn thuyền đã đi khỏi đất Hoa Lư tới mấy dặm mà chưa có cánh buồm nào bắt gió, nó vẫn cứ trườn đi với vẻ nặng nề. Vua Thuận Thiên cảm như không phải đoàn thuyền chở nặng các đồ thiết yếu của triều đình, mà nó khẳm nặng bởi tấm lòng dân chúng Hoa Lư.

Xế trưa ngày mười hai tháng bảy năm Canh Tuất đoàn thuyền ngự về tới bến sông dưới chân thành Đại La.

Tiết tháng bảy, trời thu trong vắt. Dân chúng thành Đại La đứng ken kín bờ sông và kéo dài tới mấy dặm đường bày hương án đón vua. Vua Thuận Thiên vừa bước ra khỏi khoang thuyền, chỉ mới đặt được một bàn chân xuống bến, trời đang quang đãng bỗng cuộn lên một áng mây vàng và sà xuống như chiếc tán che trên đầu vua. Bỗng một luồng gió ào đến, xoáy đám mây đó dài ra rồi vút lao đi như một con rồng. Mọi người bật hô: Rồng vàng! Rồng vàng!

Nhà vua ngước nhìn bầu trời cao và nhận thấy bóng rồng vàng đang dần khuất và để lại phía sau một lằn mây trắng vắt ngang bầu trời cao, xanh sẫm.

Đây đó òa vỡ tiếng reo vui của dân chúng kinh thành hòa cùng tiếng pháo nổ giòn tan, tiếng trống rộn rã. Và hội thả chim của kinh thành cùng lúc mở tới mấy trăm lồng, tung cả ngàn cánh chim bồ câu lên nền trời cao trong trẻo. Mỗi đàn chim của mỗi chủ chim bay theo một hình khối khác nhau. Dân chúng kinh kỳ năm ấy khâm phục nhất đàn chim đông đảo của một chủ chim phường Thái Hòa khi vừa vút thẳng lên trời cao, cả đàn tự xếp thành hai chữ “Thuận Thiên” cứ bay liệng mãi trên bầu trời Đại La. Hội thi thả chim trong lễ rước vua về thành Đại La năm ấy, phường Thái Hoà đoạt giải nhất, được một cặp bánh dầy và một quan tiền thưởng. Vua lại ban cho phường ấy một mỹ danh: “Mỹ tục khả phúng”.

Nhân chuyện có rồng vàng xuất hiện khi thuyền vua vừa cập bến sông, rồi rồng vàng ấy lại bay vút lên không, ai cũng bảo đó là Trời ứng điềm lành. Vua truyền sử quan phải chép việc này vào quốc sử, lại cho đổi tên thành cũ Đại La là kinh thành Thăng Long.

Chừng nửa tuần trăng trước khi nhà vua về ngự tại Đại La, người đã ban chiếu mở cửa kho phát cho dân chúng trong kinh thành mỗi đầu người năm đấu gạo và nửa quan tiền.

Quan sở tại tức tốc thi hành để dân chúng sớm được hưởng ơn vua, lộc nước. Lại ban khen cho các làng xóm, phường phố phải di chuyển khỏi phía tây để lấy đất xây dựng cung điện, mỗi nơi một đạo “sắc” khen, còn số tiền, số gạo thì được tăng gấp đôi so với dân khác.

Mọi người từ trẻ đến già đều hoan hỷ cho rằng vua mới có bụng thương dân. Vì thế, người ta đổ ra đường đón vua như đi trảy hội. Đường phố được quét dọn sạch sẽ, ở mỗi đầu cung đường lại kê một hương án, cờ quạt cắm la liệt. Phố nào, làng nào cũng chăng đèn, kết hoa. Trước ngõ mỗi nhà đều treo một đèn kéo quân chạy tích “Ngô Quyền đại phá Lưu Hoằng Tháo trên sông Bạch Đằng”, hoặc “Nhị nữ Trưng vương diệt thái thú Tô Định”… Những nhà giàu có, nhà buôn, nhà quan đều treo đèn kết hoa.

Mặt trời vừa khuất, cả kinh thành bừng sáng. Người ta có cảm giác như tất cả các vì sao trên dải Ngân hà đều sà thấp xuống bầu trời Thăng Long để mừng vua mới, mừng kinh thành mới.

Khắp các nẻo trong kinh thành đều vang âm lời hô của dân chúng “Hoàng thượng thiên tuế!”, “Hoàng thượng vạn tuế!”. Và pháo hoa nở rực sáng cả bốn phương trời Thăng Long. Không khí Thăng Long thật là rộn rã. Không một nơi chốn nào trong kinh thành lại không nghe thấy tiếng pháo, tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng hò reo của các đội múa lân, múa sư tử. Khắp kinh thành, chùa nào cũng dóng lên ba hồi chuông để chào mừng vua mới, kinh thành mới. Tiếng chuông trong trẻo toả lan khắp nơi nơi và dường như những thanh âm ấy ngưng đọng trên khắp các vòm cây, các mái nhà để rồi kết tụ lại trong lòng người. Đó là dấu ấn không thể phai mờ của đất Thăng Long, của một triều đại đang trong vận hội mở mang.

Mới rạng sáng ngày hôm sau, vua đã sai mở bốn cửa cấm thành, sai mở cửa các cung điện cho dân chúng Thăng Long vào xem.

Cũng từ sáng sớm cuộc thi bơi trải đã bắt đầu tại hồ Dâm Đàm. Vua thân hành ra tận bến đua thuyền để chia vui với dân chúng. Các phường Trích Sài, Hồ Khẩu, Võng Thị, Yên Hoa, Nhật Chiêu, Tây Tựu… đã đưa các đội đua của mình vào bến bãi.

Lại nói xóm Bãi, nơi có thuyền vua neo đậu, dân chúng trong hương ấp từ già chí trẻ đổ hết ra bến cung nghinh. Ai nấy đều ăn mặc đẹp. Người già thì áo dài, khăn, nón chỉnh tề, trai tráng thì đội nón chóp trên gắn trang kim, đóng khố điều, phô ra những thân hình tròn lẳn, những bắp vế săn chắc, con gái thì mặc váy thanh cát, áo dài mớ ba, chít khăn mỏ quạ, cô nào cũng môi thắm má hường xinh xinh như những tố nữ trong tranh.

Không nén được xúc động, nhà vua tiến về phía các cụ hỏi han dân tình nơi thôn ấp. Chợt vua hỏi:

- Chẳng hay làng ta đây tên gọi là gì?

Mọi người đồng thanh đáp: “Tâu hoàng thượng bản ấp thường gọi là xóm Bãi”.

Nhà vua nở nụ cười thân mật: – Xóm Bãi đúng rồi! Bởi đây là bãi đất bồi, dân ta tụ cư lập ấp, nên đặt tên đó, đúng không?

- Tâu hoàng thượng đúng thế ạ! Đúng thế ạ!

- Được rồi, cái tên mộc mạc ấy hay đấy. Nhưng để xem, ta sẽ ban cho hương ấp đây một cái tên chữ.

Một thoáng hiện trong đầu nhà vua hình ảnh dân xóm Bãi thành tâm nghênh đón với tấm lòng tri ân triều Thuận Thiên, buột miệng, vua phán rằng:

- Bái Ân! Ta ban cho dân xóm Bãi từ nay mang tên Bái Ân!

Lập tức dân làng hô vang:

- Cảm tạ hoàng thượng cho tên làng!

- Cảm tạ hoàng thượng cho tên làng!

- Hoàng thượng vạn vạn tuế!…

Tại nhà thủy đình, Ban giám thí đang phát lệnh cho các đội thuyền dàn hàng chữ nhất thì vua đến. Mọi người ùa ra đón vua. Vua vẫy tay cho ai nấy an toạ. Ngăn đám tuỳ tùng ở lại trên bờ, một mình vua ghé vào nhà thuỷ đình. Nhà vua thân mật ban lời:

- Các ngươi cứ điều hành công việc cho dân được vui chơi. Ta đến đây là để chia vui với dân chúng, chớ không phải làm đình hoãn cuộc vui.

Thấy nhà vua nói lời giản dị, dễ gần, Ban giám thí lại cho cuộc vui tiếp tục. Một trăm hai chục chiếc thuyền của mười hai phường dự thi. Thuyền nào cũng thon dài như hình chim én. Mũi và đuôi thuyền làm theo hình đầu và đuôi rồng cao vút, lại chạm trổ tinh vi, màu sơn đậm, nom rất nổi. Các thuyền đều có kiểu dáng giống nhau, nhưng màu cờ mỗi phường mỗi khác. Từ các màu của ngũ hành xanh, đỏ, đen, trắng, vàng lại biến sang các màu thiên thanh, diệp lục, hoàng thổ… Và các đội thuyền lại sơn thuyền theo màu cờ của phường mình để cho người chấm thi và cả người xem dễ theo dõi. Các thuyền đều đóng bằng gỗ de hoặc gỗ táu mật là loại gỗ vừa dẻo dai, vừa chắc bền. Mỗi thuyền có bốn mươi trải thủ, tuổi chừng mười tám, đôi mươi. Lại thêm một người giữ lái, hai người chấp lệnh. Các trải thủ đều cởi trần, đóng khố. Khố của các chàng trai đều nhuộm theo màu sơn của thuyền.

Các trải thủ, người săn chắc, da đồng hun, bắp thịt tay, chân nổi cuộn lên như đô vật. Riêng hai viên chấp lệnh trong các thuyền là đứng tuổi, cỡ ngoài ba mươi, họ là những người đã dạn dày kinh nghiệm qua nhiều cuộc thi tài, đọ sức. Việc thua được của các thuyền phải dựa vào sức mạnh của trải thủ, song quyết định cho việc thắng thua ấy lại thuộc về các viên chấp lệnh; họ chính là linh hồn của mỗi thuyền đua. Người cầm lái cũng góp phần không nhỏ vào cuộc đua. Hai viên chấp lệnh và tay chèo lái của các thuyền đều mặc áo chẽn xanh, quần đỏ, thắt lưng bằng dải lụa cùng màu với màu sơn của thuyền và đầu đội khăn chữ nhân màu chàm.

Khi pháo lệnh vừa phát, các thuyền lập tức lao vút đi như mũi tên vừa tách khỏi nỏ và đẹp như một đàn bướm màu vừa vỡ tổ. Hàng ngàn mái chèo khua nước, phải nói là các mái chèo băm trên mặt nước theo tiếng hò, nhịp trống của người chấp lệnh. Các cánh thuyền rầm rập lao đi tạo thành một khuôn tranh hoành tráng và hào hùng tựa như họ đang xông vào trận thuỷ chiến cam go.

Nheo mắt nhìn theo đoàn thuyền đua mỗi lúc mỗi xa dần, mặt nước hồ vừa cồn sóng đã tĩnh lặng, lòng nhà vua lại xao động. Quả thật Lý Công Uẩn không ngờ mình được dân chúng ái mộ đến thế. Ông đang lo phải làm gì để đem lại một nền thái bình trường cửu, cũng như đời sống ấm no cho mỗi người dân trên đất nước của ông. Đành rằng thế, nhưng ông vẫn cần có một đội quân dũng mãnh, để chặn đứng thói kiêu hỗn cùng âm mưu thôn tính của các triều đại phương Bắc. Chính hình ảnh các chàng trai trong hội đua thuyền và các thuyền đua vừa đây, đã gợi cho nhà vua nghĩ về một đội thuỷ binh hùng mạnh.

Vua cùng đoàn tuỳ tùng trở lại kinh thành được chứng kiến một cuộc vui tưng bừng. Trẻ con quây tụ thành vòng chơi trò bịt mắt bắt dê, con gái chơi trò chồng nụ chồng hoa. Lại từng đám chơi trò rồng rắn, trò phụ đồng ếch, đồng chổi. Lặng lẽ là đám trẻ chơi ô ăn quan. Nhưng phần nhiều trẻ em chạy theo các đám múa lân, múa rồng hoặc đứng vây trước nhà thuỷ đình của phường rối nước trên hồ Lục Thuỷ. Đó đây trống nổi inh ỏi, người quây vòng trong vòng ngoài, ấy là các xới vật đang đọ tài cao thấp. Cuộc vui cứ mỗi ngày mỗi náo nhiệt kéo dài đúng ba ngày ba đêm. Trong khi ấy thì tại các chùa, quán ở kinh thành và hầu khắp nước đều làm lễ cầu siêu như chiếu vua ban. Nhà vua cùng thiền sư Đa Bảo làm lễ cầu siêu tại chùa Vạn Tuế trong hoàng thành. Thiền sư thỉnh vua lên ngự ngôi chủ lễ đàn tràng.

Sớm hôm sau nhà vua thân tiếp các bậc tăng thống, các đạo gia tại điện Nhật Quang.

Cuộc gặp mặt diễn ra thật là vui vẻ. Nhiều vị thiền sư, đạo sư dâng tặng nhà vua những bài thơ, bài kệ viết trên giấy liễn hoặc thêu trên lụa. Phần nhiều các bài thơ, bài kệ nói về công đức của Phật, của vua, ca ngợi cảnh thiên hạ thái bình, hoà cốc phong đăng.

Riêng cư sĩ Công Trực là người xuất chúng về thơ, phú lại có hoa tay về thư pháp. Chữ của ông viết đẹp như một bức sơn thuỷ hoạ, không ai là không thán phục. Hôm nay nhân chuyện dời đô, ông đem đến dâng nhà vua một bài thơ của Đỗ pháp sư[34], do chính tay ông viết trên nền giấy điệp.

Quốc tộ như đằng lạc,
Nam thiên lý thái bình.
Vô vi cư điện các,
Xứ xứ tức đao binh.[35]

Đọc bài thơ của Đỗ pháp sư, ai cũng khen cư sĩ Công Trực là một người cao kiến. Bài thơ thật xứng hợp với cái đức của vua Thuận Thiên, lại cũng là lời chúc, lời mong cầu của muôn dân về một đất nước an lạc, một bậc minh quân đạo hạnh để phúc dài lâu cho trăm họ. Và rồi ai cũng nhớ đến Đỗ pháp sư, một bậc chân tài, chân tu, hết lòng vì nước, vì đạo pháp, nhất mực chối từ các chức tước, tiền bạc, đến cả hào quang mà vua Lê Đại hành ban thưởng ông cũng xin khước bỏ. Ông là một tài năng lớn, một nhân cách lớn của cả quốc gia này. Ông ra đi đã hơn hai chục năm, nhưng sao các bậc thức giả, các thiền gia, đạo gia vẫn cứ ngỡ như ông đang hiện hữu.

Nhân đại lễ, vua Thuận Thiên mặc hồng bào, thắt đai ngọc, đội mũ bình đính tứ phương, chân đi hia thêu rồng vờn mây; nơi mắt rồng dát những viên hồng ngọc, phát hào quang. Những tua mũ thả dài từng chuỗi ngọc lấp lánh, nom gương mặt nhà vua càng thêm rực rỡ, lẫm liệt oai phong, đúng là một bậc thiên tử.

Nhân ngày lễ trọng các thiền sư, đạo sư ăn vận đúng với bậc chức sắc của mình.

Các thiền sư vào hàng hoà thượng đều vận áo cà sa màu vàng nghệ, đội mũ hoa sen, đeo chuỗi một trăm linh tám hạt bồ đề, tay chống thiền trượng, chân đi dép cỏ. Các đạo sư mặc áo đạo sĩ, đội mũ màu vàng, chân đi hài gấm. Các cư sĩ mặc áo thụng xanh, đội mũ toàn hoa sắc xanh, chân đi hài vải.

Vua ban cho các thiền sư, đạo sư, cư sĩ mỗi vị một chung trà mạn ướp sen. Nước bốc hương thơm dịu.

Sau ba tuần trà cũng là lúc vua tôi chúc tụng thật là hoan hỷ.

Một lát sau, nhà vua ngỏ ý mời tất thảy chư vị đi thăm lầu Ngũ phượng tinh. Và vua sai quan hữu nhai tăng thống[36] Thẩm Văn Uyển thuộc đường vào ra cung cấm dẫn lộ.

Nhà vua cùng đi với các vị khách quý. Bước được vài bước, vua Thuận Thiên ngoái lại, thấy thiền sư Vạn Hạnh đi song hàng với thiền sư Đa Bảo. Tiếp đó là thiền sư Ma Ha, thiền sư Hương Nghiêm, đạo sĩ Huyền Linh, đạo sĩ Viên Sơn, cư sĩ Bảo Hoà, cư sĩ Công Trực… đó là những vị đạo cao đức trọng nổi tiếng trong cả nước, không ai không kính trọng. Bạo liệt đến như Lê Long Đĩnh mà còn không dám gây khó dễ cho việc hành đạo của các vị, cũng như sự an toàn tính mạng của các tu sĩ. Nhà vua đứng lại vái các thiền sư, đạo sĩ, cư sĩ để nhường đường mời các đại lão đi trước. Nhưng mọi người đều kính cẩn mời đức vua đi trước. Trong lúc vua Thuận Thiên còn ngập ngừng, thì thiền sư Vạn Hạnh bước dấn lên vài bước, ngang qua chỗ nhà vua đứng, sư ghé tai vua nói vừa đủ nghe:

- Nhà vua đang giữ thế nhân chủ, tại sao lại cứ phải nhường nhún như thế.

Thấy lời khuyên của thầy hữu lý, nhà vua bèn xăm xăm bước lên dẫn đầu đoàn người để leo lên lầu.

Đứng trên đỉnh lầu Ngũ Phượng tinh nhìn gần thì bao quát hết kinh thành, cả hồ Dâm Đàm, sông Nhĩ Hà[37], các hồ Lục Thủy, sông Tô Lịch, bến Hà Khẩu, các đền đài điện các, chùa quán, thảy thảy đều hiện ra trong tầm mắt. Xa xa về phía tây kinh kì sừng sững như bức tường thành là dãy núi Ba Vì, có đỉnh Tản Viên sơn cao chất ngất, quanh năm mây mù bao phủ. Đỉnh núi chìm trong mây mờ, tưởng như núi cao chạm trời, khiến cảnh trí trở nên u linh, hùng vĩ. Nhìn ngắm cảnh núi cao, sông dài, thành quách, cung điện huy hoàng, không ai không lấy làm phấn chấn về một viễn cảnh cường thịnh của giang sơn gấm vóc này.

Bỗng đạo sĩ Huyền Linh ngoái lại kéo tay thiền sư Vạn Hạnh, và ông chỉ xuống chân hoàng thành nói:

- Hoà thượng cứ nhìn cái đường bao quanh hoàng thành này, sẽ thấy toàn bộ khu cung điện trở nên hình Thái cực. Ông lại phảy tay ra xa, chỉ về phía hồ Dâm Đàm, nói tiếp: – Cái hồ sương mù kia là điểm tụ thuỷ nằm bên cạnh con sông Nhĩ Hà kia là điểm lưu thuỷ, tức là Lưỡng nghi[38]. Trong đó cái hồ là tượng âm, dòng sông là tượng dương. Giỏi! Cực giỏi! Ai xếp đặt việc xây cất đô thành này, phải xem là một bậc thầy về phong thuỷ.

Thiền sư Vạn Hạnh tủm tỉm cười. Ông tự hẹn: – Ta sẽ không nói hở ra điều gì hết, mặc cho thiên hạ tha hồ mà ức đoán. Đoạn thiền sư hỏi lại đạo sĩ:

- Chẳng nhẽ kinh thành này được xây cất chỉ nhằm có hai điểm Thái cực – Lưỡng nghi sao thưa đạo sĩ?

- Ồ không! Trưởng lão thư thư cho bần đạo phóng tầm mắt ra bốn phương, tám hướng xem sao đã. Nhìn ngắm một lát, đạo sĩ tiếp – Khi đứng dưới chân hoàng thành, nhìn mọi vật cứ lẫn vào nhau không phân biệt được. Nay hoàng thượng cho đứng trên đỉnh Ngũ Phượng tinh nhìn vật nào ra vật ấy, tỏ sáng lắm.

- Hay lắm! Hay lắm! Thưa đại lão hoà thượng. Đạo sĩ Huyền Linh nói như reo lên với sư Vạn Hạnh. – Đại lão nhìn cho kỹ nhé. Có phải hai điện Long An, Long Thuỵ kia nằm chính giữa hoàng thành không? Phải rồi, nó chính là cung hoàng đạo mà bốn mặt thành lại vuông vức đều nhau, thế chẳng phải là Tứ tượng sao. Lại chính giữa mỗi mặt thành về các hướng đông, tây, nam, bắc có các cửa Tường Phù, Quảng Phúc, Diệu Đức, Đại Hưng thế chẳng phải là Bát quái thì còn là cái gì nữa. – Chà chà! Đạo sĩ tặc lưỡi: – Người chủ trương dựng kinh thành này theo Dịch lý, mà sắp đặt như vầy thật là một bậc kỳ tài quán thế. Lại còn điều này nữa bần đạo không thể không nói ra. Tức là khi mới bắt đầu xây dựng kinh thành, nhà vua đã thể hiện ngay cái phương sách hòa đồng tam giáo. Này nhé, bên tả là quán Thái Thanh, bên hữu là chùa Vạn Tuế, trung cung là lầu Ngũ Phượng tinh. Đó chẳng phải là biểu tượng của các tôn giáo sao? Các tôn giáo đã hòa hợp, thử hỏi còn gì có thể làm cho xã hội không yên định.

Thiền sư Vạn Hạnh vẫn lắng nghe đạo sĩ nói, xem vị đạo sĩ khăn vàng đáng kính này có chỉ ra được điều gì hay dở để ông còn kịp tu chính. Kể ra thì Huyền Linh cũng có con mắt tinh đời. Nhưng còn biết bao ý tứ sâu xa ta gói ghém trong việc tạo dựng kinh thành này, đạo sĩ làm sao mà biết được. Đến ngay nhà vua cũng không phải đã biết hết hoài vọng của ta trong việc bày xếp này.

Đạo sĩ cùng mọi người sao biết được việc ta sắp đặt điện các, cung thất theo đủ tám hướng ứng với tám quẻ càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài theo trật tự bốn mùa hoà hợp, theo sự ứng hợp tâm linh giữa thần và người, giữa người với nhật nguyệt cùng hoà hợp mà tỏ sáng, giữa người với Trời, Đất hợp hoà mà hiển lộ ra cái đức lớn của mình. Và rồi, ở mỗi đầu cung ấy, ở mỗi phương vị ấy đều có một ngôi đền hoặc một ngôi chùa là nơi kết tụ anh linh, tú khí của kinh thành. Ta kỳ công sắp đặt kinh thành này đâu phải cho ta, ngay cả Công Uẩn, người mà ta chăm chút nuôi dạy với tất cả tâm lực và trí tuệ của ta, đâu có phải ta vì y. Y chẳng qua là hiện tướng đáng tin cậy của Việt tộc mà dân chúng kỳ vọng. Ta cũng kỳ vọng y sẽ mở đầu cho một triều đại, để từ đó xây đắp cho dân tộc này, đất nước này trở thành một quốc gia văn hiến, và đủ mạnh để không còn bị lép vế, bị bắt nạt và bị đe doạ thủ tiêu… Phải, chỉ có một nền văn hiến cao, thì kẻ cầm quyền mới có đầu óc thông sáng để mở mang đất nước. Còn như dân chúng đắm chìm trong ngu muội, thì kẻ cầm quyền đều là bọn vai u thịt bắp, bất quá lũ chúng có sức khoẻ hơn người cùng tính hiếu sát của loài dã thú, để bắt nạt dân đen. Ôi, một đất nước như vậy tránh sao khỏi kiếp tôi đòi. Ta ước mong sao cùng với kinh thành này, tâm đạo này, Công Uẩn sẽ mở ra một thời kỳ giàu thịnh, đạo đức, trí tuệ, sáng láng dài lâu cho dòng giống Lạc – Hồng.

Đạo sĩ Huyền Linh chỉ trỏ nói năng đầy khoái hoạt. Thiền sư Vạn Hạnh vẫn chú ý lắng nghe, và vẫn cứ triền miên nói những điều thầm kín trong tâm não ông.

Đạo sĩ vừa dừng lời, thiền sư chắp tay đáp lễ. Vừa lúc, vua Thuận Thiên bước tới. Vạn Hạnh vái nhà vua, vái các bậc thiền lão, đạo sĩ rồi kéo nhà vua ra góc lầu. Sư nói:

- Hoàng thượng nay đã là bậc đại trí đại giác rồi, bần tăng không cần phải nói thêm gì nữa. Duy có điều cần được hoàng thượng lưu tâm về cái hồ Dâm Đàm này. Nó là điểm tụ thuỷ, là nơi tích kết anh linh tú khí của kinh thành. Chính nó với dòng Nhĩ Hà tạo thành cái thế Lưỡng nghi, nhà vua biết cả rồi. Nhưng điều quan yếu của mọi thời đại là phải giữ lấy nó. Nếu vật đổi sao dời như động đất, sụt lở làm mất tiêu nó đi, thì đó là mệnh trời chẳng nói làm gì. Nhược bằng con cháu dại dột mà san lấp nó đi, thì đó là đại hoạ. Tất cả sẽ trở nên u mê ngu dại. Vì rằng nó chính là não thuỷ. Mất nó, là cả kinh thành này, cả đất nước này sống như một người không có óc não. Vậy ta nói để nhà vua lưu tâm mà truyền đời cho con cháu, phải giữ lấy cái não thuỷ này. Nên nhớ rằng: “DÂM ĐÀM TUYỆT THĂNG LONG DIỆT”. Còn như để yên long mạch, ta đã cho yểm trên Nùng sơn và trong hồ Trúc Bạch. Các thứ đó sẽ lặn chìm trong đất, trở thành mạch đất, không sợ xâm phạm. Nhà vua cứ yên tâm mà hành hoá.

Lý Công Uẩn xúc động, nói vừa đủ cho thầy nghe:

- Con xin nghiêm giữ lời sư phụ.

Xem ngắm xong, quan Hữu nhai tăng thống Thẩm Văn Uyển lại mời các thiền sư, đạo sư, cư sĩ trở về điện Tập Hiền – nơi nhà vua thết yến.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 21.09.2018, 10:43
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 31 Nữ
Bài viết: 35936
Được thanks: 5388 lần
Điểm: 9.61
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Thiền sư dựng nước [Tám triều vua Lý #1] - Hoàng Quốc Hải - Điểm: 10
VI

An vị tại kinh thành mãi, Lý Công Uẩn cảm thấy trong người bức bối đứng ngồi không yên. Ông cho rằng còn nhiều việc lớn chưa thể khai thông được. Nhà vua đã có chiếu cầu hiền, cầu kế sách an dân, hưng quốc.

Nhiều người có tâm huyết, đã dâng sớ tham bàn về quốc sách mà nhà vua đang cầu tìm. Nhưng nhà vua vẫn còn băn khoăn lắm. Người thì phỉnh mị dân quá, dân sẽ sinh kiêu bạc mà quên mất bổn phận của mình. Người thì khắc bạc quá, dễ dẫn tới khinh dân, khiến dân oán. Người quá thiên trọng về binh lực, đòi ta phải có một đội quân hùm sói, vừa giữ nhà vừa chinh phạt bốn phương để mở mang bờ cõi. Người lại nghĩ nhiều đến việc đạo, việc khai trí cho trăm họ…

Đúng là gom góp hết thảy phương lược của các bậc đại trí, đại giác lại, thời ta có phương sách hoàn hảo để dắt dẫn trăm họ đi vào cõi thiện. Thế nhưng, ta phải tận mắt thấy được cái gì trăm họ cần, đất nước cần, bởi hàng trăm việc, phải có việc làm trước, việc làm sau. Nếu lấy sau làm trước, chẳng khác người đi đầu xuống đất, thành thử muốn đạt mục đích lại trở nên mất phương hướng.

Vậy, phải gần dân thì mới hiểu được lòng dân. Gần dân thời không thể đi với nghi thức hoàng đế được. Phương sách tốt nhất là vi hành, vua nghĩ vậy.

Nhà vua bèn trao việc lưu thủ kinh sư cho hoàng thúc Vũ Đạo vương. Phụ tá là Thái phó Đặng Văn Hiếu, Tả Hữu kim ngô Phí Xa Lỗi, Vệ Trúc, Tả Hữu vũ vệ Đàm Thản, Đỗ Gián.

Vua vời Hữu nhai tăng thống Thẩm Văn Uyển, tướng công Trần Cảo, viên ngoại lang Lý Nhân Nghĩa, khu mật sứ Ngô Đinh và nội lệnh sử[39] Hoàng Thúc Phương lập thành đoàn vi hành dưới danh nghĩa là đi khuyến giáo. Vua sai hữu nhai tăng thống Thẩm Văn Uyển làm trưởng đoàn khuyến giáo; vua và các vị khác chỉ là cư sĩ hoặc Phật tử theo đoàn.

Tuỳ tùng phục dịch gồm có năm người theo hầu, kén trong đám quân thiên thuộc, thuần những tay võ sĩ thượng thặng, cùng với hai cỗ xe song mã để chở vua và các vật dụng tuỳ thân.

Vua sai đi về hướng đông, tức là miền đồng bằng trù phú nhất để xem sự thể binh tình dân chúng ra sao. Ra khỏi kinh thành Thăng Long ba mươi dặm, quan Hữu nhai tăng thống bèn tâu:

- Xin bệ hạ thử cho vào làng kia xem sao. – Vừa nói Thẩm Văn Uyển vừa chỉ vào ngôi làng trước mặt.

Vua y cho. Thế là xe ngựa và các đồ tuỳ thân để hết ở ngoài và cho hai võ sĩ ở lại trông nom. Tất cả đều đi bộ vào làng. Vua đóng giả nhà sư. Quan hữu nhai đóng làm hoà thượng. Các người khác giả làm cư sĩ và Phật tử.

Vừa hết đường cái quan thì rẽ vào đường làng. Lối đi quanh co, đường sống trâu gập ghềnh. Lúa hai bên vệ đường xanh tốt. Thảng có một hai cánh miễu rậm rạp như rừng, sừng sững giữa biển lúa xanh rờn.

Chợt nhìn thấy một lối mòn rẽ vào miễu cây um tùm, lại thấy mấy người tay giáo tay thừng vừa đi khuất vào trong miễu. Vua chỉ tay cho mọi người tiến theo hướng đó. Chỉ dăm sáu chục bước chân đã vào hẳn trong miễu, hiện ra một quang cảnh khác thường. Ấy là dưới gốc mấy cây đa cổ thụ, có một dãy nhà thấp lùn như một dãy chuồng thú. Chẳng biết ở trong chứa, nhốt cái gì. Nhưng điều làm mọi người sửng sốt, là xế phía đầu hồi dãy chuồng về bên hữu đang diễn ra cảnh tra khảo. Hai tên đồ tể mình trần, đóng khố đang lấy bàn chông vả vào mặt, vào miệng một thiếu phụ mặc váy, cởi trần. Máu chảy nhoè khuôn mặt người đàn bà, tràn xuống ngực, tuôn qua hai bầu vú, nom như hai dòng sữa máu. Không nom rõ mặt thiếu phụ, nhưng cứ nghe tiếng kêu khóc, van xin thì biết người bị tra tấn vào hạng nạ dòng. Đứng sát cạnh đó là một người đàn ông vạm vỡ mặc áo thụng xanh, thắt lưng lụa màu nâu, đội khăn chữ nhân. Người này dáng mặt cau có, vừa như lơ đãng, vừa như có để tâm vào vụ tra xét kia.

Trước cảnh tượng ấy, vua Thuận Thiên đi thẳng vào nơi tra khảo. Hai võ sĩ túm chặt cánh tay hai tên đồ tể như những gọng kìm thép, khiến chúng phải thả hai chiếc bàn chông rơi phịch xuống đất. Còn người đàn ông nom có vẻ hào hoa kia mắt tròn xoe, miệng há hốc ra vì kinh ngạc, và cả sợ hãi nữa.

Vua sai mở cửa các gian chuồng, hoá ra đây là dãy nhà tù, giam người. Lùa ra được chín người. Trong đó có một bà già tóc bạc trắng, lưng còng, mắt nhoèn rỉ đỏ hoe; hai người đàn ông trạc gần năm mươi tuổi, sáu gã thiếu niên trạc tuổi từ mười lăm đến mười bảy. Đám thiếu niên mặt mũi bầm tím, hai người đàn ông phờ phạc, gầy ốm, nom như hai bộ xương khô.

Vua hỏi người đàn ông bảnh bao kia:

- Có phải đây là nhà nhốt tù không?

- Dạ phải. Người đàn ông nhìn sư (nhà vua) trả lời, giọng đã bớt run.

- Mong tôn ông bỏ lỗi, bần tăng tôi xin hỏi đây là nhà tù của lộ hay của châu[40].

- Dạ bẩm, đây là nhà tù của làng thôi ạ.

Lại đến lượt vua Thuận Thiên kinh sợ, ông rùng mình như thể sắp đến lượt ông bị tống giam vào dãy chuồng thú kia.

Cố nén ghìm, nhà vua hỏi tiếp:

- Vậy chớ nhà tù này các xã quan lập ra từ bao giờ?

- Dạ bẩm thiền sư, lâu lắm rồi ạ. Từ đời ông nội tôi làm xã trưởng, lại tới đời bố tôi làm xã trưởng.

- Bây giờ ai làm xã trưởng?

- Chính tôi. Nhưng các ông là ai, ở đâu đến đây mà tự tiện vào làng, lại nói năng kẻ cả làm vậy? Dường như viên xã trưởng đã hoàn hồn. Và y không chịu được cái lối hống hách tra xét của đám người lạ mặt này. Y tự trách hôm nay lại không cho gọi đội tuần đinh đi hộ vệ như mọi ngày.

- Không cần biết chúng ta là ai, nhưng phải nói cho rõ ràng những điều ta hỏi.

Trong khi vua đang nói, thì tên lính vũ vệ đã di nhẹ ngón tay trỏ vào mạng sườn viên xã trưởng, và ghé sát tai y nói thầm: “Tổ nội mày đấy. Mày mà nói láo là bị rút lưỡi con ạ”. Viên xã trưởng bị đau nảy bắn người lên như vừa bị ngòi châm của một con ong bò vẽ. Lại nghe nói bị “rút lưỡi”, y sợ tái mét mặt, như mặt gà rù.

- Ông nhớ lại xem, nhà tù này đã có từ mấy chục năm nay rồi, nhà sư gạn hỏi.

Nhẩm tính một lát, viên xã trưởng đáp:

- Bẩm thiền ông, như vậy là tổ nội lập ra từ năm Giáp tuất (974), tính tới nay vừa tròn ba mươi sáu năm.

Lý Công Uẩn giật mình, thì ra cái nhà tù này mọc lên cùng với năm ta ra đời, tức là năm thứ 5 niên hiệu Thái Bình thời Đinh Tiên hoàng đế. Qua ba mươi sáu năm, trải ba triều đại, nó vẫn tồn tại như chưa hề biết đến có sự thay đổi nào.

Nghĩ vậy, vua bèn hỏi:

- Vậy chớ ông có biết hiện nay đang sống ở triều vua nào không?

- Dạ thưa thiền ông, đang ở đời nhà Lê mà dân chúng cứ đồn đại ngài Ngọa[41] triều, chớ không toạ[42] triều được, có đúng thế không ạ? Chúng tôi xa kinh thành, chẳng biết thực hư thế nào. Nói vậy, y lại sực nhớ hồi nhỏ có nghe người ta đồn đại về một lời sấm, cũng xuất hiện đâu vào năm Giáp Tuất, tức cái năm khu nhà tù này mới lập ra.

Hồi ấy trẻ con vẫn hát:

Đỗ Thích thí Đinh Đinh,

Lê gia xuất thánh minh.

Cạnh đầu đa hoành tử,

Đạo lộ tuyệt nhân hành.

Thập nhị xưng đại vương,

Thập ác vô nhất thiện.

Thập bát tử đăng tiên[43]

Ngẫm ra thì hai phần trên đã nghiệm lời sấm, còn phần dưới, tức cái phần “Thập bát tử đăng tiên” ấy chẳng biết đã ứng chưa. Y lẩm nhẩm câu “Thập-bát-tử…”[44] khiến Lý Công Uẩn nghe thấy, nhà vua lại hỏi:

- Có phải ông nói đang sống trong triều đại nhà Lê?

- Dạ phải, xã trưởng đáp.

Lý Công Uẩn thở dài tự nghĩ: ta lên ngôi tới nay đã một năm tròn. Ta đã ban bao chính lệnh như phá nhà tù, tha tô thuế, cứu giúp người nghèo. Thế mà ở đây, ở cái nơi thuận tiện đường sá, gần gũi kinh thành này. Ừ thì cho rằng nếu so với Hoa Lư thì có xa thật, nhưng đã một năm rồi mà ân tứ của triều đình vẫn chưa đến được nơi thôn ấp sao. Dân vẫn chưa biết vị vua hung bạo đã qua đời, và hiện có một người trị vì hết đỗi xót thương cho thân phận của họ sao. Nhưng vừa rồi ta thấy y nói “Thập-bát-tử” chẳng phải y nói về nhà Lý đấy ư? Vua lại hỏi:

- Vậy chớ ông nói “Thập-bát-tử” là ý nói về cái gì đó?

Viên xã trưởng không dám giấu giếm, y đọc lại lời đồng dao và nói thực điều y thầm nghĩ trong bụng.

Vua lại hỏi:

- Người đàn bà đang bị tra xét đây có tội gì?

- Bẩm nó chửa hoang. Nó goá chồng đã sáu, bảy năm, bỗng dưng có chửa. Làng bắt nó phải nộp khoán một con trâu, nếu không có khoán thì nó phải nói ăn nằm với ai.

- Các ông muốn biết cái người ấy để làm gì?

- Bẩm, để bắt tên đó phải nộp khoán cho làng, và bắt nó phải có bổn phận nuôi đứa bé.

- Thế nó không có trâu nộp khoán, mà nó cũng không chịu khai hay sao mà các ông tra khảo?

- Bẩm nếu nhà nó có trâu, làng đã bắt trâu rồi chứ cần gì phải bắt nó. Bẩm cũng không phải nó không khai, mà nó khai láo ạ.

- Vậy nó khai cho ai?

- Dạ, nó khai cho con.

Nhà sư quay ra nói với thiếu phụ:

- Bần tăng biết nàng không có tội tình gì. Nhưng sao nàng lại đổ thừa cho xã trưởng để chịu đòn tra?

Nghe thiền sư nói, thiếu phụ oà khóc. Một lúc lâu sau nước mắt nàng đã ráo, nhìn thẳng vào mặt nhà sư, nàng quỳ lạy:

- Xin hoà thượng thương tình, con không dám nói sai. Con thân goá bụa. Ông xã trưởng cho sống được sống, bắt chết phải chết. Cả làng này không ai dám trái ý ông. Đêm đêm ông ập đến nhà, bắt con phải mở cửa rồi lại bắt con phải hát cho ông nghe. Ít lâu sau ông không nghe con hát nữa, mà bắt con phải làm việc trăng hoa đốn mạt, ngay trước mặt đứa con gái nhỏ của con. Ông còn đe, nếu không tuân theo ý ông thì ông bắt con gái của con về hầu ông. Cực chẳng đã, con phải đem thân cho ông làm điều chó ngựa. Nay ông lại chối phắt. Uy quyền trong tay ông, ông nói gì dân làng chẳng phải nghe. Nói xong, thiếu phụ lại bưng mặt khóc hu hu.

Đến nước này thì vua Thuận Thiên không còn kìm nén được nữa. Vua đã toan hạ lệnh cho võ sĩ trói gô tên xã trưởng, nhưng ngài bình tâm tra xét.

- Vậy chớ lão bà này có tội gì? – Vua quay hỏi bà lão đầu bạc.

Tên xã trưởng gục mặt không nói được điều gì nữa. Bà già hơi nặng tai không nghe được lời sư hỏi. Mấy người đàn ông nói đằm tiếng vào tai bà điều khách hỏi.

Gương mặt đau khổ của lão bà bỗng như rạng rỡ hẳn lên. Bà phủ phục xuống lạy nhà sư mà từ nãy bà vẫn cho là người tốt, và chắc quyền hành cao hơn ông xã trưởng. Bà nói:

- Bạch hoà thượng, thầy xã trưởng đòi lấy cả thửa vườn nhà con ở sát vườn nhà thầy, rồi đuổi bà cháu con ra mãi khu đồng không mông quạnh gần bãi sông. Con xin ông thương tình bà goá nuôi cháu mồ côi nghèo đói tha cho. Nhưng ông bảo ra vào trông thấy bà cháu con bẩn mắt ông, nên ông giam, bao giờ con chịu dời nhà đi thì ông tha cho.

Sư lại hỏi mấy người đàn ông có tội gì.

Người nói vì mẹ ốm phải phụng dưỡng, nên chưa làm đủ số công mà xã trưởng bắt phải làm không cho nhà ông. Người thì đi cày cho nhà ông để trâu lồng làm gãy mũi cày. Người thì tết có thịt ăn mà không trả nợ ông…

- Thế còn mấy trẻ nhỏ kia tội tình gì? Vua quay hỏi mấy gã thiếu niên.

- Bạch hoà thượng, chúng cháu chưa đến tuổi, ông xã trưởng đã bắt đi xâu. Làm lụng vất vả lại cho ăn đói, không chịu được, chúng cháu trốn về ạ.

Xem vua tra xét sự tình, quan hữu nhai tăng thống cùng các quan nội lệnh sử, tả thị lang, viên ngoại lang, khu mật sứ đều có chung một cảm giác xót thương cho thân phận của người dân. Triều đại mới trị vì một năm rồi mà xã trưởng vẫn chưa biết. Rồi tự tiện lập nhà tù ngay cửa ngõ kinh thành bắt người vô tội giam cầm, tra tấn. Quyền bính thì cha truyền con nối suốt ba đời nay, khiến người dân không ngóc đầu lên được.

Lòng bùi ngùi, vua phán:

- Tội trạng của ngươi ta sẽ xét sau. Bây giờ ngươi phải lập tờ bảo chứng.

- Không được vô cớ bắt giam người vô tội. Ai phạm tội chỉ được phép lập bản văn thưa lên châu, quận. Kẻ nào mắc trọng tội thì sai áp giải cùng bản văn tường trình lên quan trên nữa.

- Phải lập tức dỡ bỏ nhà giam và từ nay không được phép lặp lại.

- Tất cả những người đã bị bắt oan này phải được bồi thường, mỗi người ba mươi quan tiền. Riêng lão bà năm mươi quan, thiếu phụ hai trăm quan. Sau này thiếu phụ sinh nở, ngươi phải chăm sóc, nuôi nấng cả hai mẹ con cho tới khi đứa bé mười lăm tuổi.

Xã trưởng viết bảo chứng xong, vua sai quan khu mật sứ Ngô Đinh áp dấu rồng của triều đình vào.

Bảo chứng lập thành ba bản, cho xã trưởng giữ một. Y nhìn dấu son triều đình lại thấy đề: “Thuận Thiên nguyên niên, cửu nguyệt sơ nhị nhật, hoàng đế khâm thử”.

Y bàng hoàng nhìn vị hoà thượng mà bủn rủn hết cả tay chân, rồi quỳ xuống rập đầu lạy:

- Con cắn cỏ con lậy đức kim thượng. Con người trần mắt thịt, có mắt như mù, xin hoàng đế tha tội chết. Từ nay con không dám càn bậy nữa.

Vua không nói gì, sai đoàn tuỳ tùng tiếp tục lên đường.

Trong đợt vi hành, vua đi được ba lộ, mỗi lộ đi được mười hương. Không ở đâu là người dân không bị đè nén, bóc lột. Làng Xuân Phương không phải là làng độc nhất có nhà giam. Nhưng nó là nhà giam độc nhất tồn tại lâu dài tại một làng quê, và sự tàn bạo thì nó đứng hàng đầu. Hẳn trong thời Lê Ngọa triều, nó đã được triều đình có sắc phong tặng, vả lại Xuân Phương cũng chưa phải là làng độc nhất không biết đến tân quân, không biết đến triều đại mới. Thật ra không phải chiếu vua ban không đến nơi thôn ấp, mà lũ hương lý dìm đi không cho dân biết.

Vua sai mở đại triều hội cho các quan trong ngoài đều được dự bàn. Lại sai các quan trong đoàn vi hành bố cáo những điều mắt thấy tai nghe cho mọi người được biết.

Nghe xong, các quan đều lấy làm ngỡ ngàng. Các quan trị nhậm tại những nơi vua vi hành đến, trong lòng không khỏi run sợ.

Để giám sát và hạn chế sự lộng hành và tham nhũng của bộ máy triều đình từ xã thôn, châu quận trở lên, cùng việc bảo vệ tính mạng và cả quyền được sinh sống của người dân, vua cho các quan được phép tỏ bày các kế sách, các phương lược.

Viên ngoại lang Lý Nhân Nghĩa bước ra khỏi ban tâu:

- Chế độ mới đã tồn tại tới một năm mà ơn mưa móc của triều đình chưa tưới khắp. Người dân còn bị đè nén, áp bức, cả đến sinh mệnh và tài sản của họ đều phụ thuộc vào một tên xã trưởng hung đồ. Cách xa kinh thành mới có ba mươi dặm mà người dân còn bị kìm kẹp thế, thử hỏi tại các vùng miền khuất lấp xa xôi, thì người dân sống làm sao được. Chính lệnh của triều đình liệu có còn được tôn trọng. Nỗi oan khuất của người dân cứ chồng chất mãi không được gỡ bỏ, họ dễ rủ nhau làm loạn. Đám dân man dễ nổi lên hùng cứ, chống lại triều đình.

Vì sao vậy? Ấy là bởi từ khi Lê Long Đĩnh trị vì đã đem cái ác, cái hiếu sát gieo rắc trên toàn cõi. Lương tâm và cả lương năng của nhân quần đều bị đánh cắp. Người hiền, người tài rủ nhau đi ở ẩn. Vì vậy, lương dân không biết dựa vào đâu. Khắp nước không còn chỗ nào cho họ trú ngụ. Họ đành cam chịu. Nay bậc thánh minh ra đời, đem sự sống, đem ấm no lại cho dân. Ngặt vì triều đình chưa dứt hết bọn hùm beo rắn rết, từ thời Lê Ngọa triều vẫn còn nằm trong bộ máy quốc gia, từ xã phường đến châu quận. Hoá nên ân tứ vua ban vẫn chưa tới được người dân. Ấy cũng bởi một số kẻ có quyền chức muốn xã hội cứ ở mãi trong tình trạng mù mờ. Dân lúc nào cũng như gà sợ cáo thì bọn sâu mọt kia mới dễ bề lộng hành, đục khoét.

Ngừng một lát, vuốt lại khăn chầu và nếp áo, viên ngoại lang lại tiếp:

- Xin bệ hạ cho thanh trừ ngay bọn sâu dân mọt nước; nếu không, người dân sẽ không biết dựa vào đâu mà phân biệt sáng tối, ác thiện. Vì thế dân sẽ oán bệ hạ. Vả lại các chính lệnh của triều đình làm ra, nhất nhất người dân phải được biết, có thế bọn hào trưởng mới không lừa bịp được dân. Lý Nhân Nghĩa nói xong vái vua hai vái rồi lui về chỗ. Vua Thuận Thiên ban lời khen:

- Khanh nói rất hợp ý trẫm. Nào các người khác có điều gì phải, quấy cứ mạnh dạn nói ra. Ngay cả khi các khanh nói trái ý ta, thời đó cũng là điều để ta suy ngẫm, điều răn.

Nội lệnh sử Hoàng Thúc Phương mở chiếc túi hình kim ngư (cá vàng) lấy ra bản tâu đã được viết một số ý chính, ông giơ bản tâu lên xin nói. Vua gật đầu.

Sử gia bước ra khỏi ban, nhìn vào bản tâu lại ngửng nhìn các đồng liệt, đoạn ông quỳ xuống tâu:

- Thần là người chép sử, nên có tham bác sử các đời, từ “Chính sử” đến “Biên niên sử”, “Biệt sử”, “Tạp sử” cả “Kỷ truyện” và “Sử bình”[45] nữa, thần chưa hề thấy ở một thời nào, một chế độ nào dù khắc bạc bạo tàn như nhà Tần, cũng không có chế độ nhà tù tại các phường xã, do xã trưởng tự ý lập ra, để trừng trị lương dân. Và nó đã ngang nhiên tồn tại tới ba mươi sáu năm nay. Đây là tàn dư triều đại trước để lại, nếu bệ hạ không xoá bỏ ngay tức thì, nó sẽ là sản phẩm của triều đại mới. Vì thế dân sẽ oán bệ hạ, mà lịch sử cũng khó minh định được thiện tâm của bệ hạ, bởi các việc phi nhân tính đang tồn tại dưới triều đại Thuận Thiên. Nói xong, sử quan vái nhà vua hai vái rồi lui về chỗ.

Đến lượt quan Khu mật sứ Ngô Đinh bước ra khỏi ban:

- Muôn tâu, bệ hạ lấy đức thiện để chiêu hoá thiên hạ, giáo hoá thiên hạ nhằm phân biệt với Lê Ngọa triều lấy cái ác làm rường mối trị thiên hạ.

Hảo ý của bệ hạ chính là ân đức của bậc thánh quân. Song nhân thiện mà gieo xuống đất ác không bao giờ nảy mầm xanh. Vì vậy đi đôi với khuyến thiện phải trừ ác. Ngay Phật tổ cũng vậy, ngài vừa khuyến thiện vừa trừng ác, có như thế mới bảo vệ được chính pháp. Cho nên, theo ngu ý của hạ thần, triều đình phải ban hành luật pháp. Một nước có kinh đô giữa thanh thiên bạch nhật như thế này, không thể mọi sự cứ tuỳ tiện nơi người cầm quyền ở mỗi cấp, muốn hành hạ người dân thế nào cũng được, ví như xã trưởng xã Xuân Phương cha truyền con nối đã lập nhà tù tới ba mươi sáu năm để hãm hại người dân vô tội.

Lại nữa, một khi luật pháp đã có rồi, người làm quan cứ theo phép nước mà hành xử. Dù người phạm pháp đó là ai cũng không vì thế mà bẻ cong cán cân công lý.

Tâu bệ hạ, để các chính lệnh của triều đình đến thẳng được nơi thôn ấp, ngoài các chức dịch ra, dân còn phải được nghe, được biết, được thấu hiểu cũng như bệ hạ có thể nghe được lòng dân từ nơi thôn cùng xóm vắng, xin bệ hạ cho đặt thêm chức xuất nạp quan. Những người này có trách phận phải đem chính lệnh của triều đình phân phát bản văn, giảng giải lời văn đến tận nơi thôn ấp, theo đó nghe ngóng dân tình rồi tâu báo về triều các điều mắt thấy tai nghe. Làm được như vậy coi như tai mắt của triều đình có ở khắp mọi nơi mà bọn nha lại từ phường xã đến hương, châu, lộ không dám ngang nhiên làm các điều xằng bậy nữa.

- Phải, khanh nói chí phải, vua Thuận Thiên gật đầu tỏ vẻ hài lòng, ngài nói: – Quốc gia nào cũng phải có luật pháp. Vậy các khanh bên ngự sử đài, bên đăng văn viện khởi thảo gấp để rồi còn phải bàn thảo trong triều cho thấu đáo, sau đó mới ban bố được. Nhưng chớ có soạn luật văn chỉ có lợi riêng cho ta và các khanh mà để thiệt hại cho trăm họ, thì đây sẽ là đầu mối của mọi sự bất công. – Khanh bảo sao? – Vua Thuận Thiên nghiêng tai lắng nghe các quan nói rồi ngài phán: – Lợi quyền của ta và chư khanh phải hoà đồng vào lợi quyền của bách tính. Không có luật riêng cho một ai cả. Cho nên dù người phạm tội có là công chúa, là hoàng tử hay hoàng hậu cũng không tha. Có như thế mới gọi là công bằng. Nhà vua có vẻ hài lòng, ngài cười vui và nói tiếp: – Dù người mắc tội có là ta cũng không nhân nhượng. Nhà vua bỗng nghiêm sắc mặt nói: – Các khanh nhớ lấy lời ta. Sử quan ghi lại lời ta để nếu khi ta phạm phải bên thẩm hình viện có muốn châm chước, muốn bỏ qua thì ngự sử đài phải đàn hặc, sử quan phải đem bản văn ra để đối chứng. Nếu không như thế thì phép nước không nghiêm.

Vậy các khanh gắng chăm lo phận sự, chăn dắt dân lành đừng để ta phải phiền lòng trách phạt. Các khanh nên nhớ, ta không bao giờ xử dân theo luật, đại phu theo lễ đâu. Đó chỉ là sự điêu trá của lũ người có quyền chức mà tham bạo được che phủ bằng những lời lẽ hoa mỹ của luật văn. Ngừng một lát, nhà vua lại tiếp: – Để cận nhân tình, ta y cho việc đặt thêm chức xuất nạp quan. Nào các khanh, còn ai có điều gì bất như ý cũng nói ra để bàn bạc. Ta coi những lời nói thẳng trước ta, còn quý hơn vạn lần những lời tán dương nịnh hót ta.

Quan hữu nhai tăng thống Thẩm Văn Uyển, từ nãy vẫn loay hoay ghi chép các lời tâu vào kín hai tờ giấy để trong túi kim ngư. Thấy vua nhắc, ông liền bước ra khỏi ban xin nói:

- Muôn tâu bệ hạ, ở đời có ba việc lớn luôn nảy sinh sự bất như ý, cũng tức là sự đối nghịch nhau vậy. Ấy là sự quan hệ giữa người với tạo vật, giữa người với người, và nữa là giữa chính bản thân mỗi con người.

Hai sự đối nghịch trên hiện ở nước ta tạm thời yên ổn. Nhưng cái đối nghịch thứ ba ở nước ta hiện nay đang vô cùng rắm rối. Tức như người dân trong nước từ mấy chục năm nay bị xô đẩy vào vòng tao loạn. Các bậc cầm quyền khi sáng khi tối, thật là bất tường. Lại như mấy năm gần đây, Lê Long Đĩnh đã hoàn tất được cơ chế vận hành cái ác khiến nhân tâm con người trở nên rối rắm, bất định. Xã hội không định được là bởi cái tâm con người chưa định được. Muốn định cái tâm của xã hội không ai có thể làm được ngoài các tông giáo. Tức phải chiết tỏa được phần tâm linh đang trì bế trong lòng người. Nghĩa là phải khai mở được cái tâm tuệ cho mọi người, mọi nhà.

Bỗng nhà vua ngắt lời quan tăng thống:

- Hiện nước ta đang hội đủ ba tông giáo: Phật – Nho – Lão. Theo ý khanh thì nước ta nên theo về tông giáo nào?

- Muôn tâu, thần xin lần lượt phân giải, tăng thống nói tiếp: – Đúng là ba học thuyết đó hiện đang đua nhau nảy nở ở nước ta. Nhưng ta phải chọn lấy một tông giáo nào phù hợp nhất với tâm thức người dân trong nước, để tôn làm chính giáo, làm quốc giáo. Nho giáo ư? Nho giáo quá thiên trọng về phần hữu vi thế tục, dân dễ nảy sinh phân tư dục, tư kỷ. Lão – Trang ư? Lão – Trang lại quá thiên trong cái vô vi. Một xã hội hư ảo như thế, con người không có nơi nương tựa, bấu víu. Đành rằng nó có phần siêu việt.

Một đằng chấp hữu, một đằng chấp vô. Tựu trung cả hai đạo ấy đều thái quá, mà cái gì đã thái quá lại thường hay bất cập. Cho nên chỉ có Phật giáo. Vì Phật giáo vượt lên cả hữu (có) lẫn vô (không), mới thấu hiểu được nhẽ huyền vi sống chết. Đây mới chính là con đường giải thoát cho cái tâm linh trì bế của dân tộc ta hiện nay, xin bệ hạ cân nhắc.

Nhà vua lấy làm đẹp ý, ngài cứ gật gù mãi không thôi. Một lát, vua lại nhắc:

- Nào các khanh, cứ bàn đi. Bàn cho thật cạn nhẽ mới có quyết sách sát hợp với lòng dân.

Nhìn thấy Trần Cảo đang loay hoay sửa khăn, áo, vua phán:

- Tướng công[46] có điều gì nói thử ta nghe.

Trần Cảo người cao lớn, gương mặt hồng hào, đôi mắt sáng như phát hào quang, cặp môi đỏ như tô son, tam đình ngũ nhạc đăng đối thật là một người có quý tướng. Ông mặc áo thụng tía, đội mũ phốc đầu, hai dải trãi buông thõng quá ngang lưng, hai tay nâng chiếc túi kim ngư vái vua hai vái, quay lại vái các bạn đồng liệt một vái. Đoạn ông nói:

- Tâu bệ hạ, các bạn đồng liệt của thần đã dâng lên bệ hạ những lời tâm huyết và thông tuệ. Thần không có kế hay chước lạ gì để làm đẹp lòng bệ hạ. Tuy vậy, thần chỉ xin được thêm vài lời, nếu đây là chuyện vẽ rắn thêm chân, làm rườm tai bệ hạ thì xin được tha tội.

Điều thứ nhất thần muốn nói về tâm linh, tôn giáo thế tất phải dùng kế của quan Hữu nhai tăng thống. Song thần xin bệ hạ lưu tâm về các tín ngưỡng khác của nước ta hiện còn lưu tồn nhiều lắm. Trước hết là tục thờ Mẫu đã đời đời ăn sâu bén rễ vào từng nhà, từng người. Lại còn tục thờ tạp thần, dâm thần cùng nhiều loại thần linh khác, mà với đầu óc u mê, người dân tin thờ không thiếu một thứ gì. Vì vậy, trước hết phải khai phóng dân trí, để người dân có thể tiếp nhận được đạo Phật, tiến tới loại bỏ những tạp giáo ra khỏi đời sống xã hội.

Điều thứ hai thần muốn nói, hiện nay các bậc thiền sư đạo cao đức trọng trong nước không có nhiều, mà giới sa môn cũng chẳng đáng là bao nhiêu. Lại chùa đền cũng còn thưa thoáng lắm. Vì vậy, muốn dẫn dắt dân chúng vào con đường Đạo, phải mở nhiều đạo tràng để chiêu tập và rèn dạy tăng chúng. Có sa môn đoàn, có sư tăng rồi lại phải có chùa cho các vị ấy trụ trì. Sao cho cứ mỗi làng quê dựng được một ngôi chùa, có một vị sư thì việc hoằng dương Phật pháp mới có cơ phát khởi. Dân ta còn nghèo, chùa chỉ cần mái tranh vách đất là được, không cần xây cất nguy nga để hao tổn sức dân, hao tổn của dân.

Điều thứ ba thần mong rằng mỗi vị sư tăng trong làng xã, ngoài việc chăm sóc phần tín ngưỡng tâm linh cho dân chúng, còn là một hương sư dạy dỗ chữ nghĩa cho con cái các nhà. Sư không chỉ là người khai tâm, mà còn phải là người khai trí, là người giáo hoá cho dân, để cải đổi phong tục.

Điều thứ tư thần nghĩ rằng, tuy đạo Phật được coi là quốc đạo, nhưng vẫn phải coi trọng các đạo khác cùng các tín ngưỡng vốn có của người mình. Chỉ cần tước bỏ các phần dị đoan do bọn đồng cốt quàng xiên gieo rắc. Thần nghĩ phải dung hợp được tất cả các tông giáo, tín ngưỡng để có một xã hội Nho, tâm linh Phật và thiên nhiên Đạo. Lại nữa, phải cấm ngặt việc kỳ thị giữa các tông giáo, nếu không thì sẽ là một đại hoạ.

Tướng công nói xong lại vái vua hai vái rồi lui về chỗ. Nhà vua mặt mày rạng rỡ. Ông không ngờ các điều ông chủ trương lại được các đại thần nói ra. Rõ ràng là vua tôi đã tâm đầu ý hợp, việc lớn ắt mau thành. Bước ra khỏi ngai, vua nói:

- Những điều các khanh nói cũng chính là điều trẫm quan hoài. Nó sẽ phải trở thành quốc sách của ta. Nay mai các đài, sảnh, viện phải xem xét để ban thành chính lệnh của ta.

Các quan ai nấy đều vui và đều có chung một dự cảm đất nước đang bước vào thời thịnh.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 41 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Cổ đại - Trùng sinh] Thừa tướng yêu nghiệt sủng thê - Sương Nhiễm Tuyết Y

1 ... 29, 30, 31

2 • [Cổ đại - Trùng sinh] Sống lại làm ái thê nhà Tướng - Mặc Ngư Tử 1123

1 ... 9, 10, 11

3 • [Hiện đại] Mèo yêu - Hà Thư

1 ... 6, 7, 8

4 • [Xuyên không] Vương phi hắc đạo chiếm nhà giữa - Tiêu Tương Điệp Nhi

1 ... 8, 9, 10

5 • [Hiện đại - Trùng sinh] Đêm trước ly hôn - Thiên Sơn Hồng Diệp

1 ... 8, 9, 10

6 • [Hiện đại] Sở Sở - 099

1 ... 4, 5, 6

7 • [Hiện đại] Chọc vào hào môn Cha đừng động vào mẹ con - Cận Niên

1 ... 36, 37, 38

8 • [Hiện đại - Trùng sinh] Sủng yêu Bí mật của bà xã - Phi Yến Nhược Thiên

1 ... 8, 9, 10

9 • [Hiện đại - Trùng sinh] Yêu nghiệt trở về - Băng Lãnh Nữ Nhân

1 ... 14, 15, 16

10 • [Cổ đại - Trùng sinh] Đích nữ vô song - Bạch Sắc Hồ Điệp

1 ... 30, 31, 32

11 • [Xuyên không] Cuộc sống điền viên của Tình Nhi - Ngàn Năm Thư Nhất Đồng

1 ... 53, 54, 55

12 • [Hiện đại] Chúng ta ly hôn - Nha Thất

1, 2

13 • [Cổ đại - Trùng sinh] Hai kiếp làm sủng phi - Vu Tâm Yên

1 ... 4, 5, 6

14 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 57, 58, 59

15 • [Xuyên không - Cung đấu] Thế nào là hiền thê - Nguyệt Hạ Điệp Ảnh

1 ... 11, 12, 13

16 • [Hiện đại] Cưới lâu sẽ hợp - Minh Khai Dạ Hợp

1 ... 4, 5, 6

[Cổ đại - Trùng sinh] Tướng phủ đích nữ - Trầm Hoan

1 ... 28, 29, 30

18 • [Hiện đại] Hôn nhân bất ngờ Đoạt được cô vợ nghịch ngợm - Luật Nhi

1 ... 53, 54, 55

[Cổ đại - Trùng sinh] Ta là chính thê của chàng - Văn Nhất Nhất

1 ... 11, 12, 13

20 • [Hiện đại - Quân nhân] Hợp đồng quân hôn - Yên Mang

1 ... 37, 38, 39



Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 236 điểm để mua Giường bệnh tình yêu
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 250 điểm để mua Ốc sên khoe kẹo
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 250 điểm để mua Thiên Bình Nam
Shop - Đấu giá: Windyphan vừa đặt giá 299 điểm để mua Bé chơi thú nhún
Shop - Đấu giá: Công Tử Tuyết vừa đặt giá 250 điểm để mua Bé bò
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 328 điểm để mua Xe của cô bé Lọ Lem
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 250 điểm để mua Cúc trắng xoay tròn
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 295 điểm để mua Kún sủa
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 250 điểm để mua Heo vàng 2
༄༂Tuyền Uri༂࿐: Năm nay không thi miss hả ta ơi :)) :dance: alo alo miss đi má ơi :phone:
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 261 điểm để mua Gấu Pooh ôm hổ
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 244 điểm để mua Air Blade đen
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 250 điểm để mua Thỏ tai xanh
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 236 điểm để mua Áo thun xanh tay dài
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 248 điểm để mua Bánh Sandwich
Shop - Đấu giá: V.O vừa đặt giá 552 điểm để mua Mề đay đá Citrine 2
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 287 điểm để mua Bé nấm nhún nhảy
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 246 điểm để mua Xylyphon
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 244 điểm để mua Cây thông Noel
Shop - Đấu giá: ngocdung0 vừa đặt giá 368 điểm để mua Nữ hoàng
Shop - Đấu giá: Thanh Hưng vừa đặt giá 524 điểm để mua Mề đay đá Citrine 2
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 498 điểm để mua Mề đay đá Citrine 2
Tuyền Uri: Mơ đi cưng :no2: để đó cà khịa thiên hạ chơi
Shop - Đấu giá: Thiên Hạ Đại Nhân vừa đặt giá 250 điểm để mua Giường thỏ đen
LogOut Bomb: Hàn Tử Song -> Huyen Jenzy
Lý do: 22
Công Tử Tuyết: #giàu thì chia bớt cho em đi =))))
Tuyền Uri: Đậu, điểm nhiều để làm gì :lol:
Shop - Đấu giá: Tuyền Uri vừa đặt giá 250 điểm để mua Quà sinh nhật
Shop - Đấu giá: ღ_kaylee_ღ vừa đặt giá 304 điểm để mua Cún ăn chocolate
đêmcôđơn: xin ad đổi lại phông chữ cũ đi. Dùng giao diện mobi thì bình thường, chứ qua pc thì chữ vừa to khoảng cách vừa rộng.vuwafqua

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.