Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 13 bài ] 

Máu của Hoa - Anita Amirrezvani

 
Có bài mới 14.09.2018, 16:00
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35161
Được thanks: 5242 lần
Điểm: 9.59
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tâm lý XH] Máu của Hoa - Anita Amirrezvani - Điểm: 10
Chương 2

(1)


Chúng tôi tỉnh dậy vào sáng ngày hôm sau vì tiếng ồn ào của những người buôn chuyến đang chất đồ lên lưng những con la cho chuyến đi trong ngày. Bộ quần và áo chẽn màu đen của tôi cứng quèo với bụi và mô hôi vì tôi đã mặc suốt hơn một tuần rồi. Bằng những đồng tiền cuối cùng, bầm tôi trả tiền vào tắm ở nhà tắm hơi công cộng, tại đó chúng tôi gột rửa bụi bẩn trên người và gội đầu thật sạch cho đến khi tóc vuốt xuống nghe chít chít. Khi đã sạch bụi bặm, chúng tôi hành lễ Rửa tội lớn, cùng ngâm mình trong một bể nước rộng chỗ đủ cho hai mươi người phụ nữ. Người phục vụ lễ tắm rửa tội kỳ cọ lưng và bắp chân cho tôi đến khi tôi cảm thấy những dấu vết tê mỏi của chuyến đi dài đều tan biến hết. Lúc bà ấy kỳ lưng cho tôi, tôi liếc nhìn qua những cái xương sườn hiện lên trên thân thể gầy gò của mình, cái bụng lép kẹp, những ngón tay khẳng khiu, cẳng chân và cẳng tay loằng ngoẵng như cái dây. Mơ ngủ giữa ban ngày, tôi hình dung mình là một phụ nữ phổng phao, mông và đôi vú tròn trùng trục như dưa hấu. Nhưng chẳng được tích sự gì sất: chẳng có gì thay đổi, chỉ trừ sắc mặt và da tay, mà tôi thấy hơi buồn là đã bị sạm đen vì nhiều ngày đi đường.

Khi đã sạch sẽ lắm rồi, chúng tôi mặc đồ đen mới, khăn vấn đầu màu đen và đi tìm kiếm bác Gostaham ở khu Hình hài Thế giới mà quốc vương Abbas đã cho xây dựng sau khi Người đặt tên cho thủ đô là Isfahan.

Chúng tôi vào quảng trường qua một cánh cổng hẹp, nó chẳng hề mang tín hiệu báo trước độ rộng mênh mông của quảng trường, khi vào trong chúng tôi mới sững sờ đứng giữa đường đi.

– Cả cái làng mình…! - Tôi bắt đầu nói.

Bầm tôi nói nốt phần câu còn lại, vì bà cũng nghĩ đúng y như tôi.

Có thể nằm gọn đến hai lần trong cái quảng trường này ấy chứ lị. Chẳng thế mà người ta gọi Isfahan là một nửa thế giới.

Quảng trường rộng đến nỗi mà người ở đầu này nhìn người đầu kia bé tí tẹo như trong một bức tranh bé. Đỉnh chóp tháp Hồi giáo của Thánh đường thứ Sáu dài, mảnh dẻ và cao ngất khi chúng tôi nhìn lên, tôi cảm thấy chóng cả mặt vì dường như chúng cao quá như đang bị nuốt vào bầu trời. Mái vòm ngọc lam khổng lồ trông cứ như treo lơ lửng trên không gian; chắc hẳn bàn tay con người phải có đức chúa Trời trợ giúp mới làm cho đất sét trông nhẹ tênh như thế! Đường vào cổng chợ cao ngất, được trang hoàng bằng một bức bích họa - lần đầu tiên trong đời tôi nhìn thấy - tranh vẽ hoành tráng một trận đánh, trông cứ y như thật, những người đàn ông đang giao chiến ngay trước mắt chúng tôi. Mọi thứ ở cái quảng trường này dường như không tuân theo bất cứ quy luật thông thường nào.

– Thưa bà, xin bà tiến lên đi ạ! - Một người đàn ông phía sau chúng tôi dùng ngôn từ lịch sự thưa gửi với người phụ nữ đã có chồng.

Chúng tôi xin lỗi và tránh dạt sang bên. Vừa đi vừa quay mặt lại nhìn, người kia nở một nụ cười:

– Lần đầu tiên à? Tôi rất khoái ngắm nhìn vẻ bâng khuâng của khách lạ.

Bâng khuâng là đúng. Phía cạnh ngắn của quảng trường, lâu đài màu xanh ngọc và màu vàng của quốc vương Abbas xoay mặt đối diện với Thánh đường mái vòm vàng của riêng Người, chói chang như một mặt trời thứ hai. Phía cạnh dài của quảng trường là cổng dẫn vào Chợ Lớn đối diện là Thánh đường thứ Sáu - nhắc nhở những nhà buôn biết sợ đức chúa Trời là họ cần phải chân thật.

– Quyền năng, tài lực, và đức chúa Trời tất cả đều tụ hội một chỗ nơi đây. - Bầm tôi nhận xét, mắt nhìn khắp lượt những tòa nhà xung quanh quảng trường.

– Và cả môn bóng chày quần ngựa nữa. - Tôi đáp lời, để ý thấy mấy cột gôn ở cuối quảng trường, rất dài đủ để tổ chức những trận thi đấu.

Từ đỉnh một ngọn tháp, giáo sĩ đạo Hồi bắt đầu gọi giờ cầu nguyện, tiếng ông xuyên thấu qua khoảng không gian quảng trường bằng chất giọng mũi:

– A-la-hu-ắc-ba, hỡi đức chúa Trời vĩ đại. - Ông kêu to, tiếng vang vang trên đầu chúng tôi.

Khi đi trong quảng trường tôi để ý thấy phần lớn các tòa nhà đều lát màu trong sáng nhất của bầu trời và mặt trời. Mái vòm của Thánh đường thứ Sáu trông là màu ngọc bích từ xa xa, nhưng đến gần hơn thì trông tươi tắn với những sọc dây leo uốn éo màu trắng và vàng. Những vòm cụm ngọc bích và trắng nhỏ nở như hoa trên mái vòm của thánh đường quốc vương với màu vàng chanh tổng thể. Cổng vào thánh đường chìa ra những hoa văn trang trí lát đá trắng lấp lánh như sao trời trong buổi bình minh xanh lơ. Mỗi bề mặt của từng tòa nhà đều lấp lánh hoa văn trang trí. Cứ như thể một người thợ cả chuyên châu báu tài ba đã chọn được thạch bích không tì vết, những viên sa-phia xanh màu nước biển, hoàng thạch vàng tươi, và những viên kim cương trong vắt nhất, rồi sắp đặt tất cả những cái đẹp đó vào vô cực của những mẫu hình lung linh tỏa màu và ánh sáng.

– Con chưa từng bao giờ thấy những gì tuyệt vời như thế này! - Tôi nói với bầm tôi, trong chốc lát quên đi nỗi buồn là nguyên nhân đưa chúng tôi đến đây.

Bầm tôi vẫn chưa quên.

– Tất cả đều quá vĩ đại. - Bầm đáp, chìa cánh tay ra dấu về khoảng mênh mông của quảng trường, tôi hiểu rằng bầm đang nhớ cái buôn làng bé nhỏ của chúng tôi nơi bầm tôi quen biết từng người bầm gặp.

Quảng trường đầy người. Bọn trai trẻ xúm quanh chúng tôi, tay nâng những cái tách nhỏ có chất nước màu đen nóng, miệng liên tục hò hét: “Cà phê đây! Cà phê nào!” cái thứ chất lỏng mà tôi chưa từng bao giờ được nếm vị, nhưng ngửi mùi ngon ngon. Hai người nghệ sĩ kia thì đang tung hứng những quả bóng cho nhau miệng kêu gọi mọi người hãy hào phóng những đồng xu lẻ cho họ. Những người bán rong có đến chục lần chặn chúng tôi lại mời chào xem vải này, phấn đánh mắt này, và cả ngà voi, con thú khổng lồ chỉ có ở Ấn Độ mà theo truyền thuyết nó có trí nhớ đầy uy lực.

Sau một lát đi bộ, chúng tôi đến được lâu đài của quốc vương. So với Thánh đường thứ Sáu kia thì lâu đài ở mức khiêm nhường. Lâu đài chỉ cao vài tầng, được bảo vệ bằng hai cánh cổng gỗ chạm khắc, tám khẩu thần công bằng đồng, và một dãy lính đứng gác gươm dáo sáng lòa.

Bầm tôi đi đến gần một người lính gác và hỏi xem làm thế nào để gặp được người có tên là Gostaham, thợ dệt thảm lành nghề.

– Bà có việc gì với ông ấy? - Người lính gác ấy nheo mắt hỏi.

– Ổng ấy bảo tôi tìm ổng ấy. - Bầm tôi nói.

Người lính gác mỉm cười diễu cợt cái chất giọng quê mùa của bầm tôi.

– Ông ấy mà mời bà đến à?

– Ổng ấy là người nhà gia đình chồng tôi mà.

Người lính gác trông như thể nghi ngờ lời nói của bầm tôi.

– Gostaham là thợ cả trong xưởng dệt hoàng gia của quốc vương, nằm phía sau lâu đài này. - Người ấy nói. - Tôi sẽ báo cho ông ấy là bà chị đang ở đây.

– Con cắn rơm cắn cỏ lạy ổng giúp cho. - Bầm tôi nói. Và chúng tôi quay lại phía quảng trường chờ đợi.

Gần đó có cái chợ sắt, và chúng tôi đứng ngắm nhìn các bác thợ rèn đang quai búa đập những hình thù chim chóc, thú vật để rèn thành nồi niêu, chén bát và thìa dĩa.

Chẳng mấy chốc, người lính gác kia đã gọi chúng tôi lại gặp Gostaham đang đứng đợi gần cửa lâu đài. Tôi ngạc nhiên thấy bác và tía tôi ít nét giống nhau. Đúng là tía tôi và bác là anh em cùng tía, nhưng tía tôi thì cao và đường nét vuông chữ điền sắc cạnh, còn bác Gostaham thì lùn và tròn như củ khoai tây, mắt sùm sụp, mũi khoằm như mũi chim kền kền, bộ râu to rậm màu xám. Bác chào đón chúng tôi vẻ hiền hậu và chúc mừng chúng tôi đã đến Isfahan. Tươi cười rạng rõ nhìn tôi, bác nắm bàn tay tôi giữa hai tay của bác:

– Ôi thế là đây! - Bác thốt lên. - Vậy cháu là con gái của Ismail đây à. Cháu có nước da màu hạt dẻ của anh ấy, tóc dài thẳng và đen, và bác nhận biết ra ngay đôi bàn tay hoàn hảo xinh xắn này bất cứ ở đâu.

Bác cúi xuống ngắm nhìn đôi bàn tay của tôi, làm tôi cười, rồi lai đem so với đôi bàn tay bác ấy. Những đôi tay nhỏ bé so với những bàn tay đàn ông khác, nhưng giống y như tay tôi, bàn tay hẹp ngón tay dài.

– Họ hàng máu mủ giống nhau rõ quá rồi. - Bác nói. - Cháu có dệt thảm không?

– Tất nhiên rồi. - Bầm tôi nói ngay. - Nó là người dệt giỏi nhất buôn làng đấy.

Và thế là bà kể ngay câu chuyện mà chúng tôi đã bán tấm thảm màu ngọc bích từ lúc nó còn đang ở trên khung cửi như thế nào.

– Chúc cho cháu luôn mãi có bàn tay của thiên sứ Ali. - Gostaham nói, trông dáng bác có vẻ ấn tượng lắm.

Bác hỏi thăm bầm tôi về quê nhà. Lúc chúng tôi theo bác đi khỏi quảng trường, bầm tôi bắt đầu kể lể cho bác nghe về tía tôi. Lời nói trong lòng bầm cứ thế tuôn trào ra như thể bị đậy nút quá lâu, và bầm kể câu chuyện về cái chết của tía bằng quá nhiều cảm xúc làm cho nước mắt ngấn đầy đôi mắt bác.

Chúng tôi rời khu Hình hài Thế giới qua một cái cổng hẹp và đi bộ mấy phút qua một quận gọi là quận Tứ vườn đến nhà của Gostaham. Quận này được chia thành hai vườn hoa, bây giờ trơ trọi cành vì là mùa Đông. Một cây tuyết tùng đánh dấu dãy phố có nhà của Gostaham. Nhìn từ phía ngoài, tất cả những căn nhà ở đây trông giống như những pháo đài. Những mái nhà nép sau những bức tường cao dày che chắn cư dân trong đó khỏi những con mắt tọc mạch.

Gostaham đưa chúng tôi đi qua một cánh cổng gỗ đầy ấn tượng, chúng tôi có đứng lại giây lát ngắm nhìn phía ngoài ngôi nhà. Nhà quá to đến mức mà chúng tôi không biết là phải đi về chỗ nào trước. Gostaham đi vào một hành lang hẹp, lên mấy bậc thang dẫn vào một sảnh ngoài gọi là bi-ru-ni nơi bác tiếp bạn bè cánh đàn ông. Phòng khách lớn của bác có những cánh cửa kính to, vẽ hình hai con thiên nga xanh đang uống nước trời từ cả hai phía của một đài phun nước. Hoa trắng và những cành nho trang điểm cho trần và tường nhà. Thảm trải màu hồng ngọc, nút thắt trông chắc khỏe kỳ lạ mà tôi từng thấy, được đỡ bằng đệm dày có tông màu đỏ ấm. Thậm chí trong cái ngày mùa đông lạnh này, căn phòng dường như cũng tỏa ra hơi thở ấm áp.

Gostaham nâng cửa sổ lên, mở nhìn suốt ra cái sân, và chúng tôi cùng nhau bước ra cái sân nhà rộng. Sân có một bể non bộ, được hai cây tuyết tùng che bóng. Tôi nghĩ đến cái cây duy nhất trong buôn làng tôi, một cây bách lớn. Đối với cách hiểu của tôi, một gia đình có được bóng râm của chỉ cần một trong những loài cây này là sang trọng ghê gớm lắm rồi.

Chúng tôi gặp Gordiyeh, người vợ của Gostaham trong sân nhà. Bác gái là một phụ nữ đẫy đà, hông to tròn và bộ ngực to sù, từ từ tiến đến chỗ chúng tôi và hôn lên cả hai má. Một người hầu đã đun sôi nước và tôi trông thấy anh ta pha trà bằng lá chè đã dùng. Thật lạ kỳ khi một nhà vương giả như thế này lại đi pha chè lá đến hai lần. Chà nhạt phèo như nước lã, nhưng tôi cũng cám ơn Gordiyeh và nói:

– Chúc cho đôi bàn tay bác gái không bao giờ bị đau.

– Cháu mấy tuổi rồi? - Bác gái hỏi tôi.

Mười lăm tuổi.

– A! thế là cháu cần phải gặp Naheed. Nó cũng mười lăm tuổi, con gái một bà hàng xóm nhà giàu gần đây.

Quay sang phía bầm tôi, bác gái nói:

– Naheed là con gái một nhà khá lắm. Lúc nào em cũng hy vọng nhà ấy đặt làm thảm ở nhà em, nhưng chưa đặt tấm nào.

Tôi phân vân tự hỏi vì sao bác gái lại hy vọng bán được nhiều thảm trong khi, với con mắt của tôi, bác gái đã có đủ mọi thứ mà một gia đình hằng mong ước. Nhưng trước khi tôi có thể hỏi thêm câu hỏi nữa thì Gordiyeh gợi ý rằng chắc hẳn chúng tôi đã mệt nên dẫn chúng tôi đi qua sân nhà, đến một căn phòng bé tẹo nằm dúm dó giữa nhà kho và chuồng xí. Chẳng có gì trong phòng cả ngoài hai tấm đệm giường, chăn chiên và mấy cục đệm làm ghế ngồi.

– Em xin lỗi vì căn phòng này không xứng tầm lắm. - Gordiyeh nói. - Nhưng mà tất cả các phòng khác đều có người ở hết rồi.

Bầm tôi ngọ ngoậy cố giấu không để vẻ uể oải thể hiện trên khuôn mặt. Tường nhà thì cáu bẩn, sàn nhà thì nứt nẻ cáu đầy bụi đất. Nhà của Gostaham thì như một tòa lâu đài khi so với ngôi nhà bé nhỏ của chúng tôi trong buôn làng, nhưng căn phòng bé tẹo này thì chắc chắn tồi tàn hơn nhà chúng tôi.

– Không sao! - Bầm tôi lịch sự đáp. - Lòng hào phóng của bác vượt quá mức mong đợi rồi.

Gordiyeh bỏ đi để chúng tôi nghỉ ngơi buổi chiều. Tôi căng lại nệm giường và phủi bụi, làm tôi ho sặc sụa một hồi. Một lát sau, tôi nghe thấy một người hầu trong nhà này đi vào căn phòng bên cạnh, còn một người hầu khác thì mở cửa chuồng xí ngay cạnh phòng tôi, thả ra một mùi nồng nặc, thậm chí còn thối khắm hơn cả mùi phân con lạc đà hôm nọ.

– Bây giờ chúng ta là người hầu trong nhà này ạ? - Tôi cảnh tỉnh hỏi bầm tôi.

Bầm đang nằm thẳng cẳng trên nệm giường, đôi mắt mở to.

– Chưa đâu. - Bầm đáp.

Nhưng tôi có thể thấy là bầm đang lo lắng về chính câu hỏi đó.

Sau giấc ngủ chiều, chúng tôi tỉnh dậy đi gặp Gordiyeh và Gostaham ở phòng khách để ăn tối. Đúng là một bữa tiệc thịnh soạn bày ra trước mắt tôi trên tấm vải! Tôi chưa từng bao giờ nhìn thấy nhiều đồ ăn như vậy, ngay cả ở đám cưới trong buôn, vậy mà đối với Gordiyeh và Gostaham thì dường như chỉ là một bữa thường ngày. Có súp sữa chua lạnh này, với thì là, rau húng bạc hà, nho kho xanh, hạnh nhân, cánh hoa hồng, mát lạnh trên lưỡi; gà hầm với dâu, quả hành liên ngọt, cà tím nấu với tỏi và váng sữa, cơm nghệ vàng với vỏ bánh mỳ; pho mát làm từ sữa cừu; bánh mì nóng ròn, và một đĩa của cải đỏ, rau thơm tươi, rau xanh cho dễ tiêu hóa. Tôi ăn quá nhiều vào cái bữa tối đầu tiên đó, cứ như thể để bù lại những ngày ở buôn làng khi chúng tôi chẳng bao giờ ăn đủ.

Khi chúng tôi đã ngang dạ, bầm tôi bắt đầu nói:

– Gia chủ cao quý. - Bầm nói. - Tôi rất hân hạnh là bác đã nhận chúng tôi vào gia đình này và cho chúng tôi ăn uống, cứ như thể ta mới chỉ xa nhau ngày hôm qua. Lại nữa, tôi đã lâu không gặp bác Gostaham đáng kính, đã hơn hai mươi lăm năm rồi còn gì. Trong thời gian đó, bác đã vươn cao như một vì sao. Bác đã làm thế nào để đến được đây, trong căn nhà cao sang này bằng tất cả vận may mà người ta có được?

Gostaham mỉm cười và đặt bàn tay lên cái bụng to tròn của mình nói:

– Thực ra đôi lúc em tỉnh giấc vào buổi sáng và nhìn quanh mình, bản thân em cũng không tin được nữa là. Và rồi em thấy Gordiyeh bên cạnh em, em mới biết là giấc mơ của em chính là hiện thực, ơn đức Chúa Trời đã cho em nhiều lộc.

– Cầu cho mãi luôn tràn lộc như thế. - Bầm tôi nói tiếp.

– Không phải lúc nào cũng được thế này đâu. Từ cái hồi trước khi cháu ra đời cơ. - Bác Gostaham nói với tôi. - Tía cháu đã hiểu rằng, nếu ông cứ ở trong buôn làng ấy, ông sẽ mãi mãi nghèo đói. Biết rằng ở đó sẽ có ít của thừa kế, ông anh đã đến Shiraz để thử vận may. Cả hai anh em nghèo lắm, mà bác phải giúp việc dệt thảm. Đến khi bác mười hai tuổi, bác hiểu rằng bác có thể thắt nút dệt thảm nhanh hơn bất cứ ai khác.

– Y như con gái chị bây giờ. - Bầm tôi chen lời vẻ tự hào.

– Nhà ở chật chội không có chỗ mà đặt khung cửi. Khi trời đẹp, bác lắp khung cửi ngoài trời, chắc cũng giống như kiểu cháu đã làm. - Gostaham nói với tôi. - Một hôm bác đang thắt dệt một tấm thảm nhanh tay đến mức có một đám người tụ lại để xem. Vận may của bác là trong số những người qua xem ấy có một ông chủ cửa hàng bán thảm ở Shiraz. Ông này chẳng bao giờ thuê thợ ngoài làm - vì sao mà phải đi thuê cơ chứ khi ông có thể rèn tay nghề cho thợ dệt của mấy cậu con trai. Nhưng khi trông thấy bác thắt nút dệt, ông ta đề nghị bác làm cho ông ấy vì tốc độ dệt của bác có thể tăng lợi nhuận cho ông ta. Mấy năm tiếp sau đó là những năm tháng vất vả nhất đời bác. Ông chủ cửa hàng thảm giao việc theo khả năng của mỗi người chứ không theo lứa tuổi. Bởi vì bác làm nhanh, ông chủ bắt bác phải làm xong thảm của mình thời gian ngắn hơn bất cứ của ai khác. Có lần, ông chủ bắt gặp bác không ngồi bên khung dệt, ông ta liền sai tay chân ném tôi ngã ngửa và lấy roi đánh vào gan bàn chân bác cho đến lúc bác đau quá khóc thét lên. Chẳng có kẻ nào, họa chỉ có đứa ngu mới làm hỏng bàn tay người thợ móc dệt thảm, nhưng ông ta thì có thèm để ý gì nếu bác không thể đi lại được?

Câu chuyện bác kể làm tôi sợ run cả người. Tôi có nghe chuyện có trẻ con còn bé hơn tôi, phần lớn là trẻ con mồ côi, thường bị bắt ngồi dệt thảm nhiều tiếng đồng hồ liên tục. Đôi lúc, vào cuối ngày làm việc, bọn trẻ không co gối lên được nữa để đứng dậy, và thế là người chăm sóc phải cõng chúng về nhà. Sau nhiều năm ngồi gập chân như vậy bên khung dệt, xương của bọn trẻ này phát triển biến dạng và đầu thì hóa ra to hơn thân mình. Khi cố đi được, bọn trẻ con này đi lọm khọm như người già. Tôi mừng vì mình đã lớn lên ở một làng quê nơi mà không có ai để cái khung dệt thảm làm hỏng thân hình đang phát triển của trẻ con. Cho dù tình hình ở buôn làng tôi có tốt như vậy, thực tình khi đang dệt bên khung cửi vào những ngày xuân ấm áp, tôi vẫn thường ghen tị với lũ chim và thậm chí cả những con chó gầy trơ xương, tự do lang thang đó đây theo sở thích riêng của mình. Còn trẻ tuổi và phải ngồi yên lặng làm việc, khi dòng máu sức trẻ đang sôi chảy, còn bạn thì đang mong được chuyện trò cười đùa - điều đó sẽ làm cho một đứa trẻ chóng già.

– Sự thật là người chủ cửa hàng đã đúng. - Gostaham tiếp tục nói. - Hồi đấy là bác cố tình nhác việc, thoái thác nhiệm vụ bởi vì bác không muốn cả đời làm thợ. Cứ mỗi khi có thể, bác liền dành thời gian bên ông trùm chuyên thiết kế và bên ông trùm chuyên pha màu của chính tay chủ cửa hàng. Ông trùm thiết kế cho phép bác sao chép mấy mẫu của ông ấy, còn ông trùm pha màu thì còn dẫn bác ra chợ để chỉ dẫn cho bác xem cách ông ấy chọn màu thế nào. Bác bí mật học hỏi tất cả những gì bác có thể học được.

Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng lại có thể trở thành hơn mức một người thợ. Mặc dầu tôi buồn ngủ sụp cả mắt sau bữa ăn no nê, tôi cẩn thận chăm bác lắng nghe chuyện của bác.

– Chồng tôi có cần phải ai dạy bảo nhiều lắm đâu. - Bác gái Gordiyeh xen vào. - Con mắt nhìn màu của anh ấy tốt hơn tất cả mọi người.

Bác Gostaham ngả người tựa vào chiếc đệm lưng, nụ cười mỉm, khoan khoái thưởng thức lời khen của vợ.

– Bác đầy tham vọng tới mức bác nói với ông trùm thiết kế rằng bác muốn tự làm tấm thảm cho riêng mình. Ông ta liền cho bác một bản thiết kế trên giấy mà ông ấy không còn dùng nữa và cho phép bác sao chép lại. Thu gom tất cả những đồng tiền kiếm được, bác ra chợ mua loại len tốt nhất có thể mua được. Bác dành nhiều thời gian để chọn màu, đứng xăm xoi nhìn ngắm quá lâu đến nỗi người ta phải hét lên là mua gì thì mua, không thì ra khỏi cửa hàng của họ. Nhưng mà bác phải bảo đảm chắc chắn hơn mức cần chắc chắn là phải chọn cho được đúng tông màu. Hồi đó bác mười bảy tuổi, và phải mất gần một năm trời dệt tấm thảm đó, tranh thủ ngoài giờ ấy mà. Đó là tấm thảm đẹp nhất mà bác đã từng làm được. Mẹ bác - tức là bà của cháu ấy, rất hài lòng với bác, vì nó sẽ mang tiền đến nhà cho bà và bác. Nhưng rồi bác đã quyết định làm một vận may lớn nhất trong đời, mà đó chính là lý do mà mẹ con cháu thấy bác ở đây hôm nay trong căn nhà đẹp này, với người vợ này đẹp hơn bất cứ ngôi sao nào trên đời.

Tôi ngồi thẳng lưng dậy, mong ngóng lắng nghe xem bác đã làm thế nào để có được vận may.

– Bác nghe người ta đồn quốc vương Abbas đại đế đang trên đường đến Shibaz và người sẽ gặp hạ dân lắng nghe ý kiến của trăm họ vào những buổi chầu chiều. Bác đã dệt xong tấm thảm ấy, cuộn thảm lại và cõng thảm đến lâu đài chỗ quốc vương ở. Chìa cho mấy bác lính gác xem tấm thảm, bác giải thích cho họ rằng đó là quà biếu quốc vương. Người lính gác mở tung tấm thảm ra xem, để bảo đảm không có kẻ ám sát nào lẩn trốn bên trong, không có thú vật gì, thuốc độc gì hoặc những thứ đại loại như thế giấu ở bên trong tấm thảm, rồi sau đó người lính hứa sẽ chuyển cho quốc vương xem. “Sao con lại dám bỏ đi cả một gia tài lớn như vậy hả con!” Bà nói với bác thế đấy. Cháu biết không, tấm thảm được trình cho quốc vương xem ngay sau khi Người vừa nghe lời cung khai của một người hầu mắc tội trộm cắp và người tuyên phạt đánh đòn tên đó. - Gostaham tiếp tục nói. - Bác đoán là quốc vương lúc ấy hẳn đang mong đợi một chuyện vui hơn. Khi tấm thảm của bác được mở ra trước mắt người, người lật đi lật lại một góc thảm kiểm tra độ chắc của các múi nút. Bác lo rằng người sẽ đơn giản là hô quân hầu bê tấm thảm cất đi, nhưng lúc đó người lại ra lệnh ai là chủ nhân tấm thảm thì hãy lên tiếng.

Nhìn thẳng vào mắt bác, và dường như Người thấu hiểu hết cái đói nghèo của bác, và thấu hiểu hết cả cái ý chí của bác, quốc vương phán: “Hàng ngày, các vị vua chúa cung tiến cho ta bạc vàng châu báu, nhưng không có thứ nào sánh được với biểu hiện hy sinh này của ngươi vì ta”.

– Cũng là vận may cho bác thật, vì lúc ấy quốc vương vừa mới mở một xưởng dệt thảm của hoàng gia ở thủ đô Isfahan, để dệt nên những tấm thảm đẹp nhất cho những tòa lâu đài của Người và để bán cho những người giàu có. Người rất thích tấm thảm của bác và mời bác đàng hoàng đến thử việc tại xưởng dệt hoàng gia trong thời gian một năm. Bà hồi đấy suýt đánh cho bác một trận vì nghe người ta nói bác đã cho đứt tấm thảm. Khi bác kể cho bà vận may của bác chuyển đổi như thế, như thế, thì bà liền cất tiếng ca ngợi tên tuổi của quốc vương ngay.

– Chuyện hay thế! - Bầm tôi nói.

– Ấy nhưng con đường trước mặt còn dài lắm chị ạ. - Gostaham nói. - Khi em làm ở xưởng dệt hoàng gia hồi đó, em là hạng thấp nhất trong những hàng thợ cấp thấp. Em rất may mắn vì được trả lương hàng năm, cho dù lương của em hồi đó là thấp nhất, cũng đủ tiền cho em sống và gửi về nhà. Điều kiện làm việc tại xưởng dệt hoàng gia cũng tốt hơn ở Shiraz. Bọn chúng em làm việc từ sáng sớm tinh mơ đến trưa, nhưng rồi sau đó được tự do làm việc riêng của mình. Buổi chiều, em được phép của quốc vương tự do học hỏi các bác thợ cả.

– Vậy là bác đã quen biết quốc vương rồi ạ? - Tôi hỏi bâng quơ, vì quốc vương chỉ đứng sau đức Chúa Trời thôi mà.

– Bác chỉ là một bày tôi mọi của Người thôi cháu ạ. - Gostaham nói. - Quốc vương là người đam mê thảm và bản thân người cũng biết dệt thảm. Thường xuyên Người đứng lại bên xưởng dệt, âu cũng là vì, xưởng nằm gần ngay cạnh lâu đài của Người để xem tiến độ dệt đến đâu, thỉnh thoảng cũng trao đổi vài câu. Thôi, ta quay lại câu chuyện của bác nhé, một trùm chuyên pha màu của quốc vương khoái bác lắm và rèn giũa cho bác cách làm chủ tông màu cần pha trên thảm. Đó đã là nghề của bác gần mười hai năm rồi, và khi một sư phụ của bác ra đi gặp đức Chúa Trời, bác trở thành trợ lý cho trùm pha màu.

– Tức là chỉ sau các bậc sư phụ thôi. - Bác gái Gordiyeh tự hào nói. - Và có lẽ, có ngày anh ấy sẽ trở thành sư phụ đầu lĩnh xưởng dệt hoàng gia luôn.

– Chuyện ấy thì không chắc đâu. - Gostaham nói. - Bác có đối thủ cạnh tranh rất mạnh ở Afsheen, viên trợ lý của ông trùm thợ cả thiết kế, mà bác biết quốc vương lại có ấn tượng nhiều hơn với nghệ nhân thiết kế so với nghệ nhân pha màu. Vẫn thế thôi, bác thà đừng thay đổi gì con đường số phận. Bởi vì chính người nghệ nhân trùm thiết kế đó - người đã nhận bác để truyền nghề - người đã dạy cho bác tất cả những gì bác biết, và người cũng giao phó cho bác cô con gái của mình, là bác gái đây này, vợ bác.

Nói đến đây, bác mỉm cười nhìn Gordiyeh, đôi mắt đầy yêu thương gợi tôi nhớ đến cách nhìn của tía tôi với bầm. Bầm tôi cũng nhận thấy điều đó và thoáng lát thấy mắt bầm ngấn lệ.

– Thế bác làm loại thảm gì trong xưởng dệt hoàng gia? - Tôi hỏi nhanh, hy vọng bác Gostaham thôi đừng có mỉm cười kiểu ấy với bác gái nữa.

– Tất cả các loại thảm đẹp nhất thế gian. - Bác nói. - Những tấm thảm cần đến cả đội quân chuyên gia tinh nhuệ. Có những tấm thảm mà quốc vương cuộn tròn lại, lưu cất trong kho để ánh nắng không hủy hoại được. Những tấm thảm mà những bậc đế vương các nước khác đặt hàng, có biểu tượng hoàng tộc, quốc gia mà sợi dệt còn được xe bằng sợi bạc. Những tấm thảm mãi là những kho báu tồn tại mãi mãi rất lâu sau khi tất cả chúng ta đã về với cát bụi.

– Nguyện xin đức Chúa Trời mưa móc vận may nhiều nữa cho Quốc vương Abbas! - Gordiyeh thốt lên.

– Nếu không vì Người thì bác vẫn là một anh chàng thợ dệt ở thành Shiraz. - Gostaham tán thành. - Người không chỉ là nguyên nhân dẫn đến vận may cho bác, mà trên hết người còn đề cao mỹ nghệ nghề dệt thảm.

Lúc đó đã muộn, bầm tôi và tôi chào cáo lui và chúng tôi về ngủ trong căn phòng bé tẹo. Lúc tôi kéo chăn lên quấn quanh mình, tôi tự hỏi vì sao đối với một số gia đình, vận may cứ mưa móc hoài mãi không dứt. Phải chăng bây giờ chúng tôi đang ở Isfahan cùng một gia đình đầy vận may, và may mắn cuối cùng sẽ đổi đời chúng tôi, bất chấp những gì sao chổi đã tiên tri.

Ngày hôm sau Gordiyeh nhắn tin đến mẹ Naheed kể rằng tôi bằng tuổi con gái bà ấy, từ miền nam Iran ra chơi nhà bác gái. Mẹ Naheed chuyển lời mời chúng tôi đến thăm họ vào buổi chiều. Lúc Gordiyeh bảo với tôi đến lúc phải đi rồi, tôi vuốt tóc lại vấn sau khăn quàng cổ và tuyên bố rằng tôi đã sẵn sàng.

– Cháu không được phép ra khỏi nhà như thế đâu! - Bác gái nói giọng cáu tiết.

Tôi nhìn xuống quần áo của mình. Tôi khoác chiếc áo choàng dài tay, áo chẽn dài và quần phùng, tất cả đều màu đen vì tôi vẫn còn đang để tang. Tôi vuốt vuốt tóc mai bên thái dương, nhét dây buộc còn lủng lẳng ở ngoài vào bên trong khăn quàng. Cách ăn mặc của tôi như thế này ở buôn làng tôi luôn được coi là lịch lãm rồi.

– Sao lại không được ạ?

– Ở thành phố nó khác, - Bác gái đáp. - Phụ nữ từ gia đình có giáo dục ăn mặc phải kín đáo!

Tôi im re. Gordiyeh kéo tay tôi dẫn tôi vào phòng bác gái. Bác gái mở một cái rương chất đầy quần áo và lục lọi một lúc cho đến khi bác gái tìm thấy thứ bác gái cần. Lôi tôi đến trước tấm thân hộ pháp của bác gái, bác gái tháo khăn trùm đầu của tôi ra và chải tóc cả hai bên thái dương thật mượt. Tóc tôi cũng bù xù thật, tôi biết thế. Rồi bác gái quấn một chiếc khăn trắng muốt mỏng tang quanh đầu tôi và buộc chặt lại quanh cằm.

– Thế chứ! - Bác gái nói. - Bây giờ cháu mới giống Naheed và những bé gái khác khi cháu đến thăm nhà người ta.

Bác gái giơ lên một cái gương đồng để tôi có thể soi mình. Tấm vải đã che hết tóc và cổ của tôi, nhưng tôi không thích kiểu phô cái bộ mặt đầy thịt của mình như thế. Những ngày đi trong sa mạc đã làm cho da mặt tôi đen hơn, đặc biệt lại nổi bật hơn trên nền khăng trắng tinh.

Tôi quay mặt đi không nhìn vào gương nữa, cám ơn bác gái và chực định đi.

– Ấy ấy, gượm đã nào! - Gordiyeh không cho đi. - Để bác làm xong đã nào.

Bác gái giũ một cái mũ chụp đầu có mạng và điêu luyện ụp lên đỉnh đầu tôi. Mặc dù mũ chụp này màu trắng nhưng bên trong thì tối và kín khí.

– Cháu chẳng nhìn được. - Tôi phàn nàn cự lại.

Gordiyeh chỉnh lại cái mũ để mấy cái dây tua khỏi che mắt tôi. Lại nhìn được cả thế giới rồi, nhưng chỉ như nhìn qua một cái lưới mà thôi.

– Đây là mũ nhận dạng của cháu. - Gordiyeh nói. - Cháu phải luôn đội mũ này khi đi ra ngoài.

Bên trong mũ chụp thở rất khó, nhưng một lần nữa tôi lại cảm ơn bác gái, thở phào vì rồi cũng xong.

– Ô kìa, mà sao mà cái con bé này buồn cười thế hả! - Gordiyeh nói. - Nhỏ thó nhanh như thỏ, lại sốt ruột sốt gan thế à. Cháu vội gì nào? Đợi bác gái tìm cho đủ thứ cháu cần đã.

Bác gái rất lề mề, lục lọi tiếp đám quần áo vải vóc mãi đến khi tìm được một dải vải trắng dài. Bác gái vấn vải quanh đầu tôi và bày cách cho tôi giữ một đầu trong nắm tay ngay dưới cằm.

– Bây giờ cháu trông đúng là phải như thế, tất cả gọn gàng xin xắn trong tấm áo choàng này. - Bác gái nói.

Tôi tìm đường đi ra khỏi phòng của bác gái, cứ như thể mình đang khoác trên mình cả một cái lều của dân du mục. Mặc dầu tôi nhìn qua tấm mạng được khá tốt nếu nhìn thẳng đường đi, nhưng nhìn bên cạnh thì không được. Tôi không quen khoác cả cái áo choàng to sù chỉ trừ phi ở thánh đường, tôi cứ giẫm phải viền gấu và cố mãi mới nâng áo để mức gấu dưới ngang với mắt cá chân.

Lúc tôi đi không lập khập xuống lối cửa chính, Gordiyeh liền nói:

– Bây giờ thì ai cũng có thể bảo rằng cháu không phải là dân thành thị. Nhưng chẳng bao lâu nữa, cháu sẽ học cách đi nhẹ và êm như một cái bóng thôi.

Lúc chúng tôi cùng đến phòng khách, bác Gostaham chúc mừng tôi có diện mạo mới, và thậm chí bầm tôi còn nói rằng nếu mà gặp tôi ngoài đám đông thì không khéo bầm không nhận ra tôi mất. Gordiyeh và tôi cùng đến nhà Naheed chỉ cách khu Tứ vườn địa đàng vài phút đi bộ. Đường đi bộ cũng thoải mái vì quốc vương đã cho xây dựng một đại lộ lớn xuyên qua quận này, hai bên đường có vườn cây và kênh đào dẫn nước. Đường rộng thênh thang đủ cho đến hai mươi người đi hàng ngang cùng một lúc, nhiều cây cối tỏa bóng, đến mùa xuân và mùa hè thì vươn lá ra như những bàn tay. Con đường dẫn thẳng đến sông Vĩnh hằng và cầu vòm Tam thập tam, tại đó nhìn được toàn cảnh dãy núi Zagros, mà những đỉnh nhọn hoắt của nó phủ đầy tuyết trắng. Bên đường chúng tôi đi qua những ngôi nhà, nhà nào cũng có vườn tược rộng như công viên, và trông như những lâu đài khi đem so với chỗ trú ngụ túm tụm, bé tí bé tẹo của chúng tôi trong buôn làng.

Giấu đôi mắt sau mạng che mặt tôi cảm thấy được tự do ngắm nghía những khuôn mặt quanh mình, vì chẳng ai biết tôi đang nhìn vào đâu. Một ông già cụt một phần chân đang ăn xin dưới một tán cây bách diệp gần nhà Gostaham. Một đứa con gái nô giỡn chẳng đâu vào đâu, mắt phóng đi phóng lại cứ như thể đang tìm kiếm cái gì đó để trêu chọc. Phía bên trái tôi, mái vòm của Thánh đường thứ Sáu lơ lửng trên thành phố trông cứ như nhẹ hơn không khí.

Vừa thoáng thấy dáng cầu vòm Tam thập tam, chúng tôi đã rẽ vào một dãy phố rộng dẫn đến nhà Naheed. Ngay khi chúng tôi bước vào trong sau tấm cửa, tôi tháo bỏ cái áo choàng và mũ chụp có mạng che mặt và đưa cho một người hầu. Tôi cảm thấy nhẹ cả người sau bỏ những thứ đó ra.

Naheed làm tôi nhớ đến những công chúa trong các câu chuyện thần tiên mà bầm tôi thường kể. Cô bé mặc một cái áo dài bằng tơ nõn, bên trong có bộ màu da cam chìa ra ở cổ áo, cánh tay và mắt cá chân. Cô bé cao và gầy trông như cây giấy gió, và quần áo đung đưa lúc cô bé chuyển động.

Mắt cô bé màu xanh lá cây - món quà gien của bà mẹ gốc Nga, tên là Ludmila, và cả mái tóc dài nữa, một phần che khuất sau tấm khăn đội đầu màu trắng, tóc bồng làn sóng. Hai bím tóc lủng lẳng trước ngực. Phía sau lưng tóc cô bé tết đuôi sam thẳng dài dễ đến tận đầu gối. Đầu đuôi sam tóc buộc dây lụa màu da cam. Tôi muốn nói chuyện với nó lắm nhưng cả hai phải ngồi im lặng trong khi người lớn nói chuyện chào hỏi. Mẹ Naheed để ý thấy vẻ hăm hở của chúng tôi nên quay sang nói:

– Cứ tự nhiên đi con yêu, cho bạn xem công trình mới của con đi nào.

Naheed mở một cái hòm chất đầy giấy trên có những cái mặt nạ đen và nó lôi ra một tờ giấy đưa cho tôi. Tôi nhìn chăm chăm vào tờ giấy một lát trước khi tôi hiểu Naheed làm được cái gì.

– Lạy Chúa tôi! - Tôi nói. - Cậu biết viết cơ à?

Naheed không chỉ xinh đẹp mà cô bạn này còn là một học giả nữa. Hầu như chẳng có ai trong buôn làng tôi biết đọc biết viết; còn tôi thì chưa từng bao giờ gặp cô gái nào biết cách cầm bút.

– Cậu có muốn tớ bày cho cậu viết chữ không?

– Có chứ.

Naheed nhúng bút vào lọ mực đen và gạt bớt mực thừa. Lấy ra một tờ giấy trắng, nó viết những chữ to một cách thoải mái vì được luyện tập nhiều.

– Đó! - Nó chìa cho tôi xem tờ giấy. - Cậu có biết nó nói lên điều gì không?

Tôi búng lưỡi một cái.

– Đây là tên của tớ. - Naheed nói.

Tôi nhìn chăm chăm vào những chữ duyên dáng ấy. Nó có một dấu chấm ở trên và một nét gạch ở dưới. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi từng thấy tên người được ghi lại bằng mực.

– Cầm lấy đi, tớ cho cậu đấy. - Nó nói.

Tôi ép tờ giấy vào ngực, không hình dung trước được là một vết đen sẽ thấm vào bộ đồ tang màu trắng của tôi.

– Cậu đã học thế nào vậy?

– Tía tớ dạy tớ. Mỗi ngày ông dạy tớ một bài. - Nó mỉm cười nhắc đến tía, và tôi hiểu nó rất thân thiết với tía nó, tôi cảm thấy một tiếng choang trong tim mình và thế là tôi quay mặt đi.

– Có chuyện gì thế? - Naheed hỏi.

– Tôi kể cho nó nghe lý do vì sao chúng tôi đến Isfahan từ một nơi xa xôi như vậy.

– Tớ xin lỗi, vận may của cậu lại tăm tối đến thế. - Nó nói. - Nhưng giờ thì cậu đã ở đây, tớ chắc rằng mọi thứ sẽ thay đổi tốt cho cậu.

– Ý đức Chúa Trời là vậy.

– Chắc hẳn cậu nhớ bạn bè ở quê lắm hả? - Nó hỏi mắt nhìn tôi chăm bác.

– Chỉ nhớ Goli thôi. - Tôi đáp. - Chúng tớ biết nhau từ bé, tớ sẵn sàng làm bất cứ điều gì cho nó!

Naheed có một câu hỏi hiện lên trên ánh mắt:

– Nếu Goli bảo cậu giữ bí mật, cậu có giữ im lặng không?

– Yên lặng cho đến lúc xuống mồ. - Tôi đáp.

Naheed trông hài lòng lắm, dường như mối quan tâm quan trọng của nó về lòng trung thành của tôi đã được giải quyết.

– Tớ hy vọng chúng mình là bạn bè tốt. - Nó nói.

Tôi mỉm cười ngạc nhiên về lời đề nghị kết giao bè bạn nhanh nhảu của nó.

– Tớ cũng vậy. - Tôi đáp. - Liệu tớ có thể xem thêm cậu viết thế nào được không?

– Tất nhiên. - Nó nói. - Đây, cậu tự cầm lấy cây bút này đi.

Naheed bày cho tôi một vài đường nét chữ viết cơ bản. Tôi lóng ngóng làm giây mực ra giấy, nhưng nó nói rằng ai lúc đầu cũng bị thế. Sau khi tôi luyện được một lát, Naheed đậy lọ mực lại và cất đi.

– Viết thế đủ rồi! - Nó hách dịch nói. - Chúng mình nói chuyện khác đi.

Nó mỉm cười mơn trớn, tôi đoán ngay ra nó muốn nói chuyện gì.

– Nói xem nào: cậu đã đính hôn chửa?

– Chưa. - Tôi rầu rĩ nói. - Bầm và tía tớ đang tìm chồng cho tớ thì tía tớ…

Tôi không tài nào tiếp tục luồng suy nghĩ ấy nữa.

– Thế còn cậu? - Tôi hỏi nó.

– Vẫn chưa. - Nhưng tớ đã lên kế hoạch sớm thôi.

– Ai là người tía và bầm cậu chọn cho cậu?

Nụ cười của Naheed đầy vẻ đắc thắng.

– Tớ tự tìm cho mình.

– Làm sao mà cậu làm thế được? - Tôi kinh ngạc hỏi.

– Tớ không thích con dê già nào đó mà tía và bầm tớ biết, khi tớ đã gặp một anh chàng đẹp trai nhất thành Isfahan này.

– Thế cậu tìm ra anh ấy ở đâu? - Tôi hỏi.

– Hứa là không được kể cho ai đi.

– Tớ xin hứa.

– Cậu phải thề rằng cậu sẽ không thở ra một lời, nếu không tớ sẽ nguyền rủa cậu.

– Tớ thề trên Kinh Ko-ran. - Tôi nói, hãi hùng vì ý nghĩ bị nguyền rủa, tôi không cần thêm vận rủi nào nữa đâu.

Naheed thở phào khoan khoái.

– Anh ấy là người phi ngựa giỏi nhất môn bóng chày quần ngựa[2] mỗi khi có thi đấu tại khu Hình hài Thế giới. Cậu nên xem anh ấy phi ngựa như thế nào!

Nó đứng dậy, bắt chước dáng bộ ghì cương chinh phục một con ngựa bất kham, làm tôi buồn cười quá.

– Nhưng mà này Naheed ơi! - Tôi nói với vẻ quan tâm. - Nếu mẹ cậu phát hiện ra thì sao?

Naheed ngồi phịch xuống, vẻ hết hơi.

– Mẹ tớ không được biết chuyện này. - Nó nói. - Vì mẹ tớ sẽ từ chối dứt khoát người đàn ông tớ chọn.

– Thế thì cậu sẽ giăng bẫy anh ta thế nào đây?

– Tớ sẽ phải hết sức thông minh. - Nó nói. - Nhưng không lo, tớ luôn biết cách lái tía và bầm tớ làm những gì tớ muốn. Và hầu như lần nào cũng thế, các cụ cứ nghĩ rằng đó là ý tưởng riêng của các cụ.

– Cầu cho thánh Ali giúp cậu thực hiện mọi hy vọng! - Tôi đáp, kinh ngạc vì lòng dũng cảm của nó.

Ít đứa con gái nào tuổi chúng tôi tự tin về tương lai của mình như Naheed. Tôi thán phục nó về niềm tin chắc chắn, cũng như tôi hoa mắt vì nước da trắng mịn của nó, vì đôi mắt xanh lá cây của nó mới hiếm chứ, bộ đồ chẽn tơ nõn và trình độ viết chữ tài ba nữa.

Tôi không thể nào hiểu nổi vì sao nó lại thích tôi làm bạn nó, vì tôi chỉ là đứa con gái quê nghèo, còn nó thì là con gái thị thành có học. Nhưng hình như Naheed là một trong loại con gái biết làm ra luật, biết phá luật theo ý mình.

* * *

Vào ngày hôm sau. Ngày thứ Sáu, bầm tôi và tôi dậy sớm trước lúc mặt trời mọc, và đi vào bếp tìm đồ ăn sáng. Một cô hầu xinh xắn tên là Shamsi đưa bánh mỳ nóng cho chúng tôi, và cốc cà phê đầu tiên trong đời tôi. Vị đượm của cà phê làm tôi thấy ngon chảy cả nước mắt. Khỏi phải nghi ngờ gì nữa khi ai ai cũng nói về vị tuyệt vời của thứ hạt trông giống hạt đậu này! Nếu như chè làm khuấy động con tì con vị để ăn cho ngon, thì cà phê lại đủ độ đượm để quyện thức ăn lại mà tiêu hóa cho khoái. Cốc cà phê đã ngọt rồi, nhưng tôi vẫn khuấy thêm một thìa đầy đường vào nữa khi không ai để ý. Tôi bắt đầu nói líu la líu lô với bầm tôi về những chuyện chẳng ra đâu vào đâu. Đôi má bầm tôi ửng hồng và tôi thấy rằng bầm mình cũng nhí nha nhí nhảnh như bác chim khuyên.

Trong khi đang ăn, Gordiyeh tạt qua dừng lại và bảo với chúng tôi rằng, mấy cô con gái của bác qua chơi mang theo các cháu ngoại của bác gái, như họ vẫn làm thế vào những ngày chủ nhật, cho nên cần tất cả mọi người giúp tay làm bữa ăn thịnh soạn. Đây là nhiệm vụ lớn, vì ngôi nhà này thậm chí còn lớn hơn vẻ bề ngoài của nó. Có tất cả sáu người hầu trong nhà: chị Cook này, anh Ali-Asghar gia chuyên phụ trách việc giết mổ gia súc này; hai cô hầu gái tên là Shamsi và Zohreh chuyên lau chùi, cọ rửa, làm vệ sinh này; một cậu choai choai tên là Samad với nhiệm vụ duy nhất là pha cà phê và pha chè này; và một cậu bé chạy việc vặt nữa, Taghee. Tất cả những người này cũng được ăn, cộng với bầm tôi và tôi này, Gordiyeh và Gostaham, mấy cô con gái và các cháu nữa này và bất cứ ai tình cờ đến thăm nhà nữa chứ.

Ali-Asghar, anh chàng nhỏ thó nhưng dẻo dai, đôi bàn tay to sù như cái đầu, đã sát sinh xong một con cừu trong sân nhà sáng hôm đó và đang treo ngược nó lên để dốc lấy tiết. Trong khi chúng tôi dùng dao sắc thái lát cà tím thì anh chàng lột da cừu và pha chặt xương thịt thành từng phần. Chị Cook, người phụ nữ gầy gò nhưng luôn chân luôn tay, lẳng những khúc thịt vào dàn mắt cáo sắt trên bếp lò, rắc muối và hành lên thịt. Bầm tôi và tôi thái lát cà tím ướp muối để làm món cà rán đen.

Gordiyeh xuất hiện liên tục coi sóc việc chuẩn bị trong bếp. Nhìn vào đám cà tím mới chỉ bắt đầu lên men ngọt, bác gái nói với bầm tôi:

– Thêm muối nữa đi!

Tôi có thể cảm nhận những lời nói sau nếp môi của bầm tôi, nhưng bầm không nói ra. Bầm rải thêm muối vào rồi dừng lại.

– Thêm nữa! - Gordiyeh nói.

Lần này bầm tôi đổ thêm muối cho đến khi đám cà gần ngập hết trong muối, Gordiyeh mới bảo bầm thôi.

Sau khi để nước chua của cà rò thoát hết, chúng tôi tráng cà tím đã thái lát bằng nước lạnh, và bầm tôi rán cà trong một cái chảo dầu rán sôi lục sục. Khi từng miếng cà đã được rán xong, tôi lấy giẻ thấm từng miếng một cho sạch dầu, sau đó đặt sang một bên. Cà tím sẽ được đặt lên trên thịt cừu trước khi ăn để cà ngấm nước thịt.

Vì còn mấy tiếng đồng hồ nữa mới đến bữa ăn, Gordiyeh bảo chúng tôi làm món nộm rau, loại đồ ăn thêm hương vị với cơm. Công thức của chị Cook cần có cà tím, cà rốt, cần tây, củ cải đỏ, cây mùi tây, rau thơm, và tỏi để trộn trong rổ, tất cả những thứ đó cần được rửa sạch, gọt và thái nhỏ. Rồi chị Cook đo lượng dấm cần thiết và trộn tất cả vào với nhau. Đến lúc làm xong thì tay tôi rã rời và đơ ra.

Hai cô con gái của bác gái Gordiyeh, tên là Mehrabanoo và Jahanara, đến và sà luôn vào bếp để xem chúng tôi đang nấu món gì. Mehrabanoo - cô chị cả năm nay hai mươi hai tuổi có hai con gái, trông hai đứa ăn mặc chải chuốt như hai con búp bê, đồ chẽn màu vàng, màu da cam, đeo khuyên tai bằng vàng và vòng cổ tay bằng vàng. Jahanara trẻ hơn một tuổi và có một cậu con trai, tên là Mohammad, năm nay ba tuổi nhưng trông nhỏ hơn so với tuổi, mũi thì thò lò mũi xanh. Cả hai cô con gái đều sống với gia đình nhà chồng nhưng thường đến thăm tía và bầm ít nhất một tuần một lần. Tôi được giới thiệu với họ là con gái của ông bác cùng tía khác mẹ, “chị họ hàng xa”, Gordiyeh nói thế.

– Nhà ta có bao nhiêu giống này? - Mehrabanoo hỏi mẹ nó, bằng một điệu cười khả ố, phô ra mấy cái răng sâu. - Dễ có đến hàng trăm ạ?

– Quá nhiều nên không đếm xuể. - Bác gái Gordiyeh nói.

Tôi sững sờ vì cái kiểu xí xóa xập ngầu này. Cứ như thể để giải thích, Gordiyeh nói với bầm tôi:

– Gia đình chúng ta quá đông người nên các cháu nhà em chưa kịp quen biết hết.

Lúc đó, Shamsi đi vào bếp và nói với Gordiyeh:

– Người chồng tôn kính của bác đã đến rồi.

– Kìa các con, đi ra nào, tía con luôn đói bụng sau mỗi buổi cầu kinh Ko-ran thứ Sáu đấy. Gordiyeh nói, thúc giục mấy đứa con cháu đi ra khỏi phòng.

Cả nhà bếp nhộn nhạo hẳn lên.

– Mau lên đi! - Chị Cook rít lên, dúi ngay cho tôi mấy tấm vải bông. - Cháu trải ngay lên thảm trong phòng lớn nhé. Làm ngay đi đừng có mà lề mề đấy.

Tôi đi theo sau bác gái Gordiyeh và hai cô con gái bác, các cô ngồi xuống đệm ghế của mình và nói chuyện với nhau, chẳng thèm để ý tí gì đến tôi. Tôi mong ngóng được ngồi và cùng ăn với họ lắm, nhưng chị Cook gọi tôi quay lại bếp và đưa cho tôi một khay bánh mì nóng, đĩa pho mát sữa dê và rau bạc hà thơm bưng lên; chị tiếp cho tôi bê thêm một đĩa bự đầy rau thơm và cà tím, trong khi cô bé Zohreh thất thểu bê đĩa cơm nặng. Bầm tôi xuất hiện mang ra một vò nước mát mà bà tự làm từ cánh hoa hồng và lá bạc hà.

Quay lại bếp, chị Cook nói:

– Chúng ta bắt đầu rửa bát thôi.

Mặc dầu chúng tôi vẫn chưa ăn tí gì.

Chị đưa cho tôi một cái giẻ rửa bát và một cái nồi đầy mỡ bám vỏ cà tím bám cáu ngàu. Tôi cứ đứng trân trân mắt ngó nhìn mọi người, đầu tự hỏi khi nào thì được mời ăn tối đây. Bầm tôi vuốt một lọn tóc nhét vào khăn quàng cổ và bắt đầu rửa nồi cơm. Chắc chắn thế nào mà chúng tôi chẳng được mời ăn cùng với gia đình! Tôi đưa mắt nhìn bầm, nhưng đầu bầm cúi xuống lau lau rửa rửa và có vẻ như bầm chẳng mong đợi điều gì cả.

Sau khi chúng tôi đã rửa bát đĩa xong xuôi, chị Cook phái tôi quay lại phòng lớn mang theo vò nước ấm để cả gia đình rửa tay. Mọi người đã ăn xong và khoan khoái ngả mình tựa lưng vào các tấm đệm, phễnh bụng no tròn. Cái dạ dày của tôi tru tréo lên, nhưng chẳng ai thèm chú ý.

Zohreh và Sahmsi thu nhặt đĩa bát và rồi chị Cook chia số thức ăn thừa còn lại thành cho sáu người hầu và hai mẹ con chúng tôi. Ali-Asghar, Taghee và Samad cùng ăn với nhau bên ngoài sân, trong khi đám phụ nữ ăn trong bếp.

Mặc dầu đã phục vụ xong bữa ăn, Cook dường như chưa thôi công việc. Chị cắn nếm cái này, lao ra rửa cái thìa nọ, đậy nắp vào cái bình kia. Hương vị thức ăn của chị quyện vào nhau ngon tuyệt, nhưng cái vẻ hồi hộp của chị làm nhạt đi nhiều cảm khoái. Lúc chúng tôi đã xong xuôi, Cook bảo từng người chúng tôi làm từng việc để hoàn tất vệ sinh dọn dẹp. Lúc bếp đã sạch bong, chị giải tán chúng tôi để nghỉ buổi chiều.

Tôi thả mình xuống đệm giường, chân tay đau nhức. Căn buồng của chúng tôi quá là chật hẹp tới nỗi mà hai mẹ con nằm dính mũi dính chân vào nhau.

– Con chẳng còn chỗ nữa. - Tôi nói miệng ngáp dài.

– Bầm cũng vậy. - Bầm tôi đáp. - Con có thích các món ăn không cưng?

– Các món sơn hào hải vị cỡ vương giả. - Tôi nói, rồi vội vã nói thêm: - Nhưng chẳng ngon bằng các món của bầm làm.

– Ngon hơn nhiều chứ. - Bầm đáp. - Ai lại dám nghĩ rằng tuần nào cũng ăn thịt! Người ta có thể chỉ có ăn cơm mà sống cũng được.

– Ơn Chúa. - Tôi đáp. - Dễ có đến hơn một năm nay mới được ăn thịt cừu.

Ít ra thì cũng đã được ăn.

– Thật là sảng khoái được ăn uống thả phanh hai ngày liền.

Bầm à? - Tôi nói. - Thế món cà tím thì sao ạ? Mặn chát!

– Bầm nghi là bác gái Gordiyeh đã nhiều năm nay không nấu nướng. - Bầm đáp.

– Sao bầm không bảo với bác gái là quá nhiều muối rồi?

Bầm nhắm hai mắt lại.

– Con gái ơi, con nhớ rằng chúng ta chẳng có nơi nào đi nữa đâu.

Tôi thở dài. Safa đã nói đúng, chúng tôi bây giờ không phải là người của mình nữa.

– Con nghĩ rằng Gordiyeh sẽ lại mời mẹ con mình dùng cơm nữa. - Tôi nói.

Bầm tôi nhìn tôi ái ngại.

– Ô, con gái ơi, cục cưng ơi! - Bà nói: - Gia đình như thế này chỉ biết đến riêng họ thôi con ạ.

– Nhưng mà chúng ta đã cùng ăn với gia đình mà.

– Đúng vậy, và nếu mẹ con mình đến đây cùng với tía con, mang theo quà cáp và vận may, thì sự thể sẽ khác cơ. - Bầm nói. - Nhưng là họ hàng cùng tía khác mẹ, chúng ta đâu phải là tin mừng đối với họ.

Cảm thấy mệt mỏi hơn, tôi nhắm mắt lại và ngủ say như chết. Ngủ mãi cho đến khi chị Cook gõ cửa gọi ra giúp chị một tay. Cả nhà sẽ tỉnh giấc và sắp dậy đến nơi, chị nói, và họ cần cà phê, quả tươi và bánh ngọt.

– Cuộc sống này mới đầy vị ngọt làm sao! - Tôi lầm bầm qua hơi thở, nhưng bầm tôi không nói gì.

Bầm đang ngái ngủ, mắt díp vào, trông đầy vẻ âu lo. Tôi không muốn gọi bầm dậy, nên tôi nói với chị Cook là tôi làm việc bằng cả hai người.

* * *

Cứ mỗi năm hai lần, cái chợ Lớn của thành Isfahan không cho đàn ông vào để các cung nữ quý bà công nương hoàng tộc có thể tự do đi mua sắm. Tất cả đàn bà, vợ, con gái của các ông chủ cửa hàng đều ra sạp bán hàng liền trong ba ngày, và tất cả đều là phụ nữ, người mua, người bán được phép đi lại khắp chợ mà không phải đội mũ, đeo mạng che mặt nặng trịch.

Gostaham có một hốc tường làm sạp trong chợ trưng bày vài tấm thảm, không nhiều để bán mà chỉ để nhắc nhở người ta rằng nghệ nhân hoàng gia như vậy là bác, luôn sẵn sàng ký kết hợp đồng. Vì những dịp như thế này đầy công việc béo bở, và cũng để nuôi dưỡng những mối quan hệ với hậu cung, bác luôn trưng những mặt hàng đẹp nhất ra cho những cung nữ, quý bà.

Thường thì Gostaham hay cử con gái mình là Mehrabanoo trông coi hàng lúc người bên hậu cung đến xem, nhưng đêm trước cô con gái bị ốm. Bác gái Gordiyeh đến bán thảm thay, và tôi van nài bác Gostaham cho đi theo giúp việc bác gái. Tôi đã có nghe người ta nói nhiều chuyện về những cung nữ hoàng gia, toàn những người đẹp như hoa được người ta gom từ muôn nẻo vùng đất nước về cho quốc vương.

Tôi muốn xem họ đẹp đến nhường nào, và chiêm ngưỡng những bộ xiêm y bằng tơ nõn lụa là của họ. Tôi phải hứa là sẽ câm như thóc[3] khi bác gái Gordiyeh bán hàng.

Vào ngày đầu tiên mở hàng, chúng tôi đi tới Hình hài Thế giới ngay trước lúc bình minh. Cái quảng trường mênh mông này, lúc thường đông nghịt người mua kẻ bán, nghệ sĩ hát rong, dân mãi võ, nghệ sĩ gánh xiếc thì bây giờ được quy là một tỉnh lỵ của đàn bà con gái và lũ chim bồ câu. Tất cả những ai là đàn ông thì đã bị ra lệnh cấm bén mảng đến đây, mà ai vi phạm thì bị phạt đến mức án tử hình, nếu họ dám nhìn dung nhan của những phụ nữ không che mạng ở đây. Quảng trường trông dường như rộng lớn mênh mang hơn trước. Tôi tự hỏi không hiểu làm thế nào mà hoàng gia của quốc vương lại có thể đi từ lâu đài và thánh đường riêng của họ ngang qua quảng trường đến phía bên kia. Trông đoạn đường rất dài đối với cả hoàng gia phải đi giữa bao con mắt nhìn của công chúng.

– Bác ơi, làm sao mà hoàng gia lại có thể đi cầu nguyện được? - Tôi hỏi Gordiyeh.

– Mày không thể tưởng tượng ra à? - Bác gái hỏi lại, tay chỉ xuống mặt đất. Trông theo hướng tay thì chỉ là đất thường đối với tôi, và tôi phải suy luận một lúc.

– Có đường ngầm hả bác? - Tôi hỏi, vẻ hoài nghi, và bác hất cằm xác nhận. Đó chính là tài ba của những người kỹ sư xây dựng của quốc vương, họ đã nghĩ đến mọi chuyện để thuận tiện cho ngài.

Khi mặt trời lên, những lính gác chợ lổn nhổn đi ra mở cổng và cho phép chúng tôi vào chợ. Chúng tôi chờ gần cánh cổng cho đến khi những cô gái bên hậu cung lũ lượt đi vào, ngồi ngất ngưởng chễm chệ diễu hành trên lưng những con ngựa trang điểm giàu có. Một tay họ cầm chặt rèm mạng che mặt, tay kia cầm cương ngựa. Mãi đến khi lũ ngựa và mấy kỵ sĩ đã đi khuất, thì họ mới dỡ bỏ mạng và mũ che mặt, vẻ khoan khoái và phù phiếm quẳng những thứ đó đi. Những cung nữ này sống trong mấy lâu đài gần đó chỉ cần đi bộ vài phút nhưng họ không được phép đi bộ bao giờ.

Có hàng nghìn cửa hàng trong chợ để đáp ứng hàng nghìn nhu cầu, bất kể đó là thảm, đồ vàng bạc nữ trang, vải vóc, lụa là, đồ thêu thùa, giầy, nước hoa, quai đeo thồ hàng buộc ngựa, đồ da, sách truyện, giấy viết, những thứ dùng hàng ngày và cơ man là đồ ăn thức uống. Chỉ riêng nhóm hai trăm thợ đóng dép lê đã chiếm mất khối thời gian của đám cung nữ. Mặc dù chúng tôi có thể nghe tiếng họ cười đùa ríu ra ríu rít, mãi đến cuối ngày chúng tôi mới gặp mặt họ.

Tôi trước đây đã hình dung rằng tất cả những cung nữ này của hậu cung phải là đẹp lắm, nhưng tôi đã lầm. Bốn bà hoàng chính của quốc vương đã ở độ tuổi năm mươi, sáu mươi năm cuộc đời. Rất nhiều cung nữ khác đã ở hậu cung nhiều năm trời và không còn xinh đẹp nữa rồi. Phần lớn bọn họ không còn dư dả nữa. Có một cô gái trẻ lọt vào mắt tôi vì tôi chưa bao giờ trông thấy màu tóc kiểu ấy, tóc màu hoàng hôn đỏ lửa. Cô gái lọt thỏm vào giữa đám cung nữ, nhưng dầu dù vậy tôi cũng nhận ra rằng cô ta không nói thứ tiếng của chúng tôi. Tôi cảm thấy thương hại cô cung nữ này, chắc hẳn là bị người ta bắt được trong chiến tranh.

—Nhìn kìa. - Bác gái Gordiyeh nói với chất giọng kinh ngạc. - Nàng Jasmileh đấy.

Nàng chính là ái nữ của quốc vương. Nàng có làn tóc đen sóng lượn quanh khuôn mặt trắng trẻo và đôi môi như những nụ hồng. Nàng mặc yếm chẽn bám suốt từ cổ xuống rốn làm nổi bật những đường cong của ngực vào eo của nàng. Áo ngoài là loại lụa dài tay nhuộm màu vàng nghệ. Khoác bay phấp phới là chiếc áo choàng lụa đỏ mở ra trước cổ lộ với họa tiết cong cong hình những cánh hoa ở mặt sau áo. Nàng thắt một khăn quàng màu vàng nghệ ngang hông, vẫy lượn thướt tha lúc nàng bước đi. Trên trán là vành bờm bằng vàng đính ngọc bích, hồng ngọc mỗi khi nàng quay đầu nhìn thì bắt nắng lấp lánh.

– Nàng là hình ảnh của cô gái mà quốc vương yêu thương khi ngài còn trẻ. - Gordiyeh nói. - Người ta đồn rằng nàng dành những ngày đời mình trong hậu cung của quốc vương để khảo vấn những cung nữ già về những ái phi tiền nhiệm đã chết.

– Tại sao lại thế ạ?

– Để chài quốc vương mà. Nàng cấu véo vào má mình để cho đỏ hồng lên vì những cung nữ khác luôn rạng rỡ má đào.

Đến lúc Jasmileh và hội nhóm của nàng đến sạp hàng nhà chúng tôi. Bác gái Gordiyeh hồi hộp nhấp nha nhấp nhổm như con mèo. Bác gái cúi rạp mình xuống đất, kính mời các cung nữ uống đồ giải khát. Tôi bưng cà phê lên, vội cuống cuồng, những mong không bỏ sót một ai. Lúc tôi quay lại, nàng Jasmileh với đôi má trắng bệch đang búng búng vào góc mấy tấm thảm bằng ngón tay trỏ của mình và xem xét từng nút thắt.

Sau khi tôi mời nàng cà phê, nàng ngồi xuống giải thích rằng nàng đang thay đồ đạc cho căn phòng lớn trong hậu cung. Nàng muốn có mười hai tấm thảm để ốp tường bên. Mỗi tấm phải dài bằng cả giang tay của tôi và phải làm bằng len và lụa.

– Để làm cho ngài thoải mái, em có biết không? - Nàng nói đầy vẻ ý nhị.

Thuê Gostaham thiết kế thảm ốp thì khác nào trả tiền cho bậc sư phụ kỹ sư thiết kế một cái am làm bằng bùn, ấy nhưng Jasmileh lại muốn những người giỏi nhất cơ. Một tràng tán dương những tấm thảm của bác tôi tuôn trào từ đôi môi nàng. “Ấy là luồng ánh sáng chiếu rọi trong xưởng dệt hoàng gia, nói kiểu cách gì cũng vậy thôi”

Gordiyeh, dẫu dù đã miễn dịch với những kiểu nịnh như vậy, cũng cúi sụp xuống mềm nhũn người ra y như là một tấm băng đá tan chảy dưới ánh sáng mặt trời. Khi hai người bắt đầu mặc cả, thì tôi biết ngay là bác gái bị úm rồi. Ngay cả khi giá lúc đầu bác đưa ra cũng đã quá thấp so với công việc. Tôi tính toán rằng việc đó phải mất ba tháng công dệt những tấm thảm ốp, đấy là chưa tính đến công thiết kế. Nhưng cứ mỗi khi Jasmileh dướn đôi lông mày tuyệt đẹp của nàng lên, hay cấu véo vào đôi má trắng bệch của nàng thì bác gái Gordiyeh lại nhún đi một chút và đưa ra một giá thấp hơn.

Vâng, bác sẽ làm thêm mấy nút bằng chỉ bện với sợi bạc cho cô. Không, những tấm thảm của bác sẽ không giống tí nào với với những tấm của các cung nữ trước đã từng ở đó. Dạ vâng, thảm trong ba tháng sẽ xong ngay. Đến lúc chuyện mặc cả đã xong xuôi, thoáng một vẻ gian trá trong ánh mắt của nàng Jasmileh, có một thoáng nàng trông giống một cô gái thôn quê mà nàng có thời đã từng như thế. Khỏi phải nghi ngờ cái chuyện nàng sẽ làm cho cả đám cung nữ trong hậu cung cười đến nôn ruột về câu chuyện nàng đã làm nên một món hời đến thế nào cái ngày hôm ấy.

Một hoạn quan của quốc vương viết hai bản hợp đồng, đóng dấu và gắn xi có những họa tiết rất phức tạp của quốc vương vào đó. Vụ giao dịch thế là xong.

Khi hoàng hôn buông xuống, chúng tôi trở về nhà và bác gái Gordiyeh lao thẳng vào giường kêu la bị nhức đầu. Căn nhà tĩnh lặng một cách quái lạ cứ như thể là đang đợi chờ một thảm họa. Thực tế là khi bác Gostaham về đến nhà và đọc tờ biên nhận, bác lao thẳng vào phòng bác gái và quát ầm lên vì kêu rằng bác gái làm thế khác gì bẻ gãy lưng bác trai.

Ngày hôm sau, Gordiyeh trả đũa bằng cách nằm ỳ trên giường, mặc kệ bác trai lo việc nhà và tự mà tiếp khách. Phiền muộn, bác trai đành cử bầm đi ra sạp hàng và tôi cùng đi. Bác chẳng thể có lựa chọn nào tốt hơn thế: bầm tôi biết giá trị của từng mối thêu. Và việc này đã làm cho mấy cô cung nữ trẻ ít tiền của hậu cung ngạc nhiên vì họ đã nghe được món hời thắng lợi của Jasmileh. Suốt cả ngày hôm đó, bầm mặc cả rao giá rất rắn với những nữ cung này, họ rên rỉ vì giá cả cứng nhắc của bầm tôi, nhưng rồi cũng đồng ý mua bởi vì họ cũng muốn được những tấm thảm do cùng một nghệ nhân vốn đã được hoàng gia dùng.

Tối hôm đó, khi Gostaham đọc tập biên lai, bác khen ngợi bầm tôi vì có kỹ năng mặc cả.

– Thím đã kiếm cho chúng tôi khá nhiều lãi, cho dù bị cô cung nữ Jasmileh lỡm. - Bác nói. - Bây giờ thì thím muốn thưởng gì cho phải công đây?

Bầm tôi nói muốn có một đôi giày mới, vì giày của bầm đã sờn rách và bẩn sau chuyến đi xuyên qua sa mạc.

– Vậy thì hai đôi giày mới, mỗi người một đôi nhé. - Gostaham tuyên bố.

Tôi vẫn đang chờ đợi mãi cơ hội xin bác Gostaham thứ mà tôi thực sự muốn có, và đây dường như là cơ hội đầy triển vọng tốt đẹp nhất.

– Giầy rất đẹp. - Tôi nêu bật ý kiến của mình. - Nhưng thay vì thế bác cho cháu thăm quan xưởng dệt hoàng gia nhé?

Gostaham rất ngạc nhiên.

– Bác chưa bao giờ nghĩ rằng một cô gái trẻ lại từ chối một đôi giày mới, nhưng không sao. Bác sẽ đưa cháu đi thăm xưởng sau khi chợ trở lại bình thường.

Bầm và tôi đêm ấy đi ngủ lòng tràn đầy phấn khởi. Lúc nằm duỗi thẳng cẳng trên nệm giường, chúng tôi bắt đầu thì thào về những chuyện lạ của ngôi nhà mà chúng tôi theo số phận đang phải tá túc ở đó.

– Bây giờ bầm mới hiểu vì sao bác gái Gordiyeh không dùng lại lá chè. - Bầm tôi nói.

– Vì sao ạ? - Tôi hỏi.

– Bác ấy là người quản lý kém. - Bầm nói. - Bác ấy tự làm mất mặt trong một tình huống rồi cố bù lại trong một tình huống khác.

– Bác ấy cần phải dùng lại nhiều chè nữa để bù lại cho những mất mát của vụ thảm với cung nữ Jasmileh. - Tôi nói. - Bác ấy đến là buồn cười.

– Buồn cười không phải là từ dùng đúng trong trường hợp này. - Bầm đáp. - Chúng ta cần phải tỏ rõ cho bác gái Gordiyeh biết rằng, bầm và con làm việc chăm chỉ chứ không rút ruột gia đình bác ấy. Dẫu sao thì bác Gostaham vẫn chưa nói chúng ta được tá túc ở đây bao lâu.

– Nhưng mà họ có nhiều của cải thế cơ mà.

– Họ có đấy. - Bầm nói. - Nhưng thế có ý nghĩa gì khi người ta có bảy con gà trong chuồng nhưng luôn chỉ tin rằng mình chỉ có một con.

Tía và bầm tôi luôn có cách suy nghĩ đối lập. “Hãy tin vào Chúa trời chở che ban phát cho tất cả”. - Tía tôi thường vẫn nói thế. Đời có thể luôn không chắc chắn, nhưng cách sống như thế thú vị đáng yêu hơn biết bao nhiêu.

Vài tuần sau đó, sau khi tôi che mình trong mạng và áo choàng, Gostaham và tôi rời nhà đi đến xưởng dệt của bác gần khu Hình hài Thế giới. Hôm ấy là ngày dịu trời, những tín hiệu của mùa xuân phảng phất lấp lánh đâu đây trên quận Tứ vườn. Cây cối trổ lá trổ lộc xuân xanh rờn, những chùm hoa bèo hoa cỏ màu tím hoa cà, màu trắng bừng nở trong các khu vườn. Chỉ còn một tuần nữa thì đến ngày đầu tiên của năm mới. Chúng tôi sẽ đón mừng năm mới vào ngày Xuân phân khi mặt trời đi ngang qua đường xích đạo.

Gostaham mong ngóng tân niên lắm vì lúc đó bác và thợ sẽ được nghỉ hai tuần. Bác bắt đầu kể với tôi về những dự án mới nhất. “Chúng ta sẽ bắt đầu làm một tấm thảm có bảy mươi nút dệt trên một tấc.” Bác nói đầy vẻ tự hào.

Tôi bỗng dưng đứng sững lại, bất thình lình đến nỗi một người đánh xe la chở nồi đồng phải hét váng lên kêu tôi đứng sang bên nhường đường cho họ. Một tấc dài khoảng bằng ngón tay giữa của tôi. Những cái thảm tôi làm có nhiều lắm thì chỉ đến ba mươi mối nút trên một tấc, không hơn. Tôi không thể nào tưởng tượng được loại tơ nõn nào mịn đến mức có thể thắt nút được dày như thế và đầu ngón tay nào nhỏ để nút được đến thế.

Gostaham cười vào vẻ kinh ngạc của tôi. “Một số chi tiết khác còn tinh xảo hơn cả như thế cơ.” - Bác nói thêm.

Xưởng dệt hoàng gia nằm ở trong một tòa nhà thoáng khí gần Chợ Lớn và lâu đài của Quốc vương. Xưởng dệt rất lớn, trần cao và ánh sáng ngập tràn chan hòa. Hai, bốn, tám người thợ đang bận rộn làm việc bên khung dệt. Nhiều tấm thảm chắc là dài lắm nên người ta phải cuộn lại vào trục cuốn ở cuối khung dệt, để thợ tiếp tục dệt.

Mấy người đàn ông trông vẻ ngạc nhiên khi thấy con gái đến xưởng dệt của mình, nhưng rồi khi họ trông thấy tôi đi cùng với bác Gostaham thì họ lại lảng ánh mắt ra chỗ khác. Phần lớn số thợ dáng nhỏ bé - ai cũng biết rằng những người thợ dệt giỏi thường là những người nhỏ bé - nhưng tất cả bọn họ đều có bàn tay to hơn bàn tay của tôi, ấy vậy mà họ móc đan múi nối nhanh thoăn thoắt rất khó mà nhìn rõ. Tôi tự hỏi không hiểu mình có học được cách móc đan những múi nút nhỏ hơn không.

Tấm thảm đầu tiên tôi xem gợi cho tôi nhớ đến khu Tứ vườn, quận đẹp như công viên gần nhà bác Gostaham. Tấm thảm mô tả bốn khu vườn của quảng trường được những con kênh xen chia cắt, có hoa hồng, hoa tuy líp, hoa thủy tiên và hoa tím chung thủy, trông tươi đẹp như thật. Nổi lên trên toàn cảnh đó là cây đào đơn chiếc đang nở hoa rắc đời xuống những cây con trong bốn khu vườn. Trông như thiên nhiên đang sống động, chăm chút, nuôi dưỡng cái đẹp của chính mình.

Tiếp khung dệt khác chúng tôi dừng lại ngắm, tấm thảm dày đến nỗi đường mẫu lúc đầu làm mắt tôi không thể nào theo dõi được. Bản thiết kế dễ nhìn thấy nhất là mầu đỏ chóe, làm nền nuôi những bông hoa đang nở nhỏ xíu màu ngọc lam, viền trắng. Tuy nhiên, thật không tin được, những nghệ nhân dệt ở đây đã làm được một lớp thân dây nho uốn cong cong vòng, thanh tú nhẹ nhàng như hơi thở. Mặc dù mẫu tinh xảo như thế, không cái nào mang dáng dấp cái nào, và những tấm thảm dường như có nhịp đập của cuộc sống.

– Làm sao mà họ có thể làm đẹp đến thế được ạ? - Tôi hỏi.

Bác Gostaham cười nhạo tôi, nhưng đấy là nụ cười đầy bác ái.

– Cháu sờ vào cuộn len này đi. - Bác nói.

Tôi kiễng chân lên với tay chạm vào một cuộn len tròn treo lủng lẳng trên một khung dệt. Mỗi sợi len đều mảnh mai hơn, mềm mại hơn thứ len tôi vẫn dùng ở nhà.

– Đây là lụa ạ? - Tôi hỏi.

– Đúng rồi.

– Lụa ở vùng nào đấy ạ?

– Xưa kia có hai thày tu dòng Thiên chúa những muốn cầu cạnh những vị chinh phạt Mông Cổ đang thống trị nước ta đã mang lậu những kén tằm vào đất I-ran. Bây giờ tơ tằm là thứ hàng xuất khẩu lớn nhất của đất nước ta. Bây giờ chúng ta bán được nhiều tơ tằm còn hơn cả người Trung Hoa. - Bác kết thúc với tiếng cười khùng khục.

Iraj, thợ cả phụ trách tấm thảm có màu đỏ chóe, ới gọi thợ của mình về chỗ tiếp tục làm việc. Khi họ yên vị trên những ghế đệm, bác thợ cả ngồi dúm dó đằng sau khung dệt và bắt đầu đọc trình tự màu cần cho bông hoa xanh lơ viền trắng. Bởi vì tấm thảm là hình chiếu cân đối, thợ có thể dệt một bông hoa giống nhau ở hai đầu khung dệt hướng đối diện với nhau. Cứ mỗi lần Iraj gọi đổi mầu, hai bàn tay của hai thợ gần như cùng đồng thời với lấy tơ và thắt nút dệt. Mấy người thợ cầm lỏng dao trong tay, để cắt chỉ khỏi cuộn chỉ treo trên khung.

Abdullar-Araj bất thình lình nói:

– Thắt lại đi, cậu vừa lỡ mất một nút màu trắng rồi.

Abdullar chửi thề một câu và tháo vài nút thắt bằng lưỡi dao của mình. Người thợ ngồi đối diện kia duỗi chân tay nghỉ một lát đợi khi người kia sửa lỗi. Rồi tiếng đọc ê a lại tiếp tục và họ cứ thế làm.

Tôi thấy Araj cứ liên tục phải cúi nhìn vào một tờ giấy để nhắc anh ta nhớ màu tiếp sau là màu gì.

– Tại sao lại dùng thiết kế trên giấy mà không dùng ngay trong đầu? - Tôi hỏi.

– Bởi vì đó là bản hướng dẫn chính xác nhất màu gì xuất hiện ở đâu. - Gostaham đáp. - Kết quả là không sai sót tí nào hết và ai cũng có thể đạt được.

Trong bản làng của chúng tôi, tôi luôn dệt bằng trí nhớ, thi thoảng cũng sáng tạo ra chút chi tiết lúc đang dệt. Tôi vẫn thường tự nghĩ mình là người thợ dệt thảm hoàn chỉnh lắm, cho dù những tấm thảm của tôi chưa cân đối đều, còn những đường cong như chim, thú, hoặc hoa lá thì trông vuông nhiều hơn là tròn. Nhưng giờ đây tôi đã trông thấy những gì mà nghệ nhân tiểu thủ công thực sự có thể làm được, tôi muốn học hỏi mọi thứ mà họ biết.

Trước khi về nhà, Gostaham quyết định kiểm tra lượng bán hàng ở sạp trong chợ. Lúc chúng tôi đi ngoằn ngoèo trong những con đường uốn lượn ở chợ, chúng tôi đi qua những nhà tắm hơi, giáo đường, lều trại, trường học, giếng nước công cộng, và chợ bán mọi thứ mà con người đã làm ra và sử dụng. Mùi vị nói cho tôi biết chúng tôi đang đi qua khu nào, khi có mùi sức vào mũi ấy là lúc đi qua khu bán gia vị có mùi quế cay, rồi lại đến khu có mùi da thuộc ấy là chỗ người ta bán dép lê, rồi đến chỗ có mùi tiết ấy là khu chợ bán thịt cừu, rồi qua chỗ có mùi hương hoa ấy là nơi chưng cất và bán nước hoa. “Ta làm ở cái Chợ Lớn này đã hai mươi năm nay rồi”, - một lái thương thảm dệt có lần nói với tôi. - “Ấy vậy mà có những khu chợ mà ta chưa từng đặt chân tới”. Tôi không nghi ngờ những lời ông ấy nói.

Sau khi Gostaham thu thập những hóa đơn biên lai, chúng tôi nhìn vào thảm trưng bày của các cửa hàng khác. Bỗng dưng tôi để ý một tấm thảm làm tôi bất chợt thốt lên.

– Nhìn kìa. - Tôi nói. - Đó chính là tấm thảm mà cháu đã bán cho lái thương mà mẹ cháu kể với bác đấy.

Tấm thảm được treo ở lối vào cửa hiệu. Gostaham đến gần và nhìn ngắm bằng những ngón tay điêu luyện.

– Nút dệt đẹp và chắc chắn đấy. - Bác nói. - Đây là một tấm thảm đẹp cho dù tự nó thể hiện là hàng gốc gác từ buôn làng.

– Thiết kế hơi gồ ghề. - Tôi thừa nhận. Những lỗi của tấm thảm giờ đây tôi trông thấy rõ ràng vì tôi đã nhìn thấy những đồ khác tốt đẹp hơn.

Gostaham đứng trơ nhìn tấm thảm một lúc.

– Cháu đã nghĩ gì khi cháu chọn màu? - Bác hỏi.

– Cháu muốn khác thường. - Tôi nói. - Phần lớn thảm dệt trong buôn đều dùng màu lạc đà, đỏ hoặc trắng.

– Ra là thế. - Bác nói.

Cái nhìn trên khuôn mặt của bác làm tôi e sợ rằng tôi đã không chọn màu khôn ngoan.

Gostaham hỏi người bán hàng đặt giá cho tấm thảm. Nghe câu hét giá của lái thương đó xong, một lát lâu tôi không thốt lên lời.

– Sao thế hả?

Đắt quá, giá cứ như là cắt cổ[4] người ta ấy. - Tôi nói phát cáu lên. - Có lẽ cả nhà cháu có thể sống khỏe ngay trong buôn nếu được người ta trả khoản tiền lớn như vậy.

Bác Gostaham buồn bã lắc đầu:

– Cháu còn xứng đáng hơn thế nữa cơ.

– Cám ơn bác. - Tôi nói. - Nhưng bây giờ cháu đã được xem xưởng của bác, cháu hiểu là cần phải học hỏi nhiều hơn nữa.

– Cháu vẫn còn rất trẻ. - Bác đáp.

Máu chảy ngược lên đầu tôi, vì tôi biết chính xác tôi muốn điều gì và hy vọng rằng bác Gostaham sẽ hiểu.

– Bác sẽ dạy dỗ cho cháu chứ ạ? - Tôi hỏi bác.

Bác trông rất đỗi ngạc nhiên:

– Ô, thế cháu còn muốn biết điều gì thêm nữa cơ chứ?

– Mọi điều. - Tôi nói. - Bác đã làm những thiết kế đẹp ấy như thế nào? Và bác đã pha màu trông như thiên đường như thế nào?

Gostaham cân nhắc một lát.

– Ta chẳng có con trai để dạy cho nó tiếp tục nghề của ta. - Bác nói. - Chẳng đứa con gái nào của ta lại cần học cái nghề này. Thật đáng tiếc rằng cháu không phải là con trai! Cháu đúng tuổi được nhận vào học nghề trong xưởng dệt rồi đấy.

Tôi biết rằng không có cơ hội làm việc trong đám con trai ấy rồi.

– Có lẽ cháu giúp bác làm những hợp đồng dự án ở nhà được không ạ? Nếu bác thấy cháu đủ tầm. - Tôi nói.

– Thôi được, để ta xem xét đã. - Bác đáp.

Câu trả lời của bác không có vẻ động viên lắm như tôi đã hy vọng. Chính bản thân bác cũng đã có lần phải cầu xin người thợ cả cho mình học nghề, nhưng dường như bác đã quên mất cái cảm xúc ấy rồi.

– Thế cháu có thể xem bác thiết kế thảm cho cung nữ Jasmileh không? - Tôi nhắc. - Cháu hứa với bác, thậm chí bác không cảm nhận thấy cháu ở gần đó làm phiền bác. Cháu sẽ pha cà phê cho bác khi bác mệt và giúp những việc gì cháu có thể giúp mà.

Khuôn mặt của bác Gostaham dịu lại thành một nụ mỉm cười, làm đuôi mắt của bác duỗi dài thêm đầy vẻ tốt bụng.

– Nếu như cháu thực sự quan tâm, cháu phải xin phép bác gái Gordiyeh xem có thời gian ngoài nhiệm vụ giúp việc nhà không. - Bác đáp. - Và đừng cảm thấy quá buồn về những tấm thảm của mình đã làm. Mọi thứ ở thành thị đều đắt đỏ hơn mà. Hãy nhớ rằng đó là tín hiệu người ta đánh giá tốt khi đặt giá cao như vậy, và tấm thảm ấy được người ta trưng bày đầy uy lực đấy chứ.

Lời của bác làm tôi dịu bớt và thoáng nở một ý nghĩ. Tôi có thể làm một tấm thảm khác để bán, và có thể tôi sẽ kiếm được tất cả số tiền mà gã lái thương Hassan đã bỏ túi.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 14.09.2018, 16:02
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35161
Được thanks: 5242 lần
Điểm: 9.59
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tâm lý XH] Máu của Hoa - Anita Amirrezvani - Điểm: 10
Chương 2

(2)


Buổi chiều hôm ấy, tôi gặp bác gái Gordiyeh trong nhà đang rà soạn những bó sợi tơ mượt như nhung mà một lái thương đã mua. Tất nhiên, người lái thương này chưa bao giờ gặp bác gái; ông ta chuyển hàng qua người hầu của mình và đợi ở ngoài lúc bác gái đang lựa chọn.

Ngón tay bác gái nấn ná dừng lại trên một bó tơ dùng làm mẫu lá cây mùa thu đỏ và vàng.

– Nhìn này! - Bác gái nói. Cái này mà làm dải dây áo dài vào mùa lạnh thì đẹp lắm.

Nhìn vào đồ tang màu đen của tôi, tôi chỉ có thể hình dung mình sẽ cảm thấy thế nào khi mặc đồ đẹp. Sau khi tấm tắc khen ngợi chỗ lụa dày đẹp ấy, tôi kể cho bác gái Gordiyeh về chuyến thăm xưởng dệt hoàng gia của mình và xin phép liệu tôi có được ngó xem khi bác Gostaham làm việc ở nhà hay không. Đã được chứng kiến bác gái Gordiyeh mềm nhũn người như thế nào trước những lời nịnh hót của cung nữ Jasmileh, tôi gia giảm các loại gia vị vào lời đề nghị của mình bằng sự kính phục thiên tài dệt thảm của bác Gostaham.

– Tại sao mày lại muốn dành thời gian để làm việc ấy hả? - Gordiyeh hỏi, miễn cưỡng bỏ bó sợi sang một bên. - Mày sẽ không bao giờ được phép học nghề trong cái xưởng dệt đầy bọn đàn ông ấy, và mày cũng sẽ không bao giờ làm được kiệt tác nếu không có cả một đội quân chuyên nghề đâu.

– Nhưng mà cháu vẫn muốn học nghề. - Tôi ương bướng nói, cảm thấy hai hàm răng nghiến vào nhau. Bầm tôi vẫn hay thường nói rằng tôi trông như con la tai to mỗi khi không được theo ý mình.

Gordiyeh trông có vẻ nghi ngại. Nhớ lời bầm tôi có nói mấy đêm trước đó, tôi bồi thêm mấy lời nữa rất nhanh:

– Có lẽ ngày nào đó cháu sẽ giỏi để giúp bác Gostaham việc dệt nhỏ để làm hàng hợp đồng. Như thế, cháu sẽ đỡ gánh nặng cho bác và cả gia đình.

Ý tưởng đó có vẻ như làm bác gái Gordiyeh hài lòng, nhưng bác chưa sẵn sàng để trả lời “ừ”.

– Việc trong bếp còn rất nhiều mà chưa đủ tay làm. - Bác gái nói.

Tôi đã sẵn sàng một câu trả lời rồi.

– Cháu hứa làm bất cứ việc gì cho chị Cook mà cháu luôn làm. Sẽ không có gì thay đổi lượng công việc cháu giúp đỡ.

Bác gái Gordiyeh quay lưng lại tiếp tục công việc với bó lụa.

– Trong trường hợp đó. - Bác gái nói. - Vì chồng bác đã đồng ý, thì mày có thể học, nhưng với điều kiện mày không được lảng tránh những nhiệm vụ khác.

Tôi sung sướng quá tới mức tôi đã hứa làm việc chăm chỉ hơn bình thường mặc dù tôi tin rằng tôi đang làm việc rất nhiều như bất cứ người hầu nào khác trong nhà.

Suốt cả tuần tiếp sau, tôi làm việc nhiều tiếng đồng hồ cùng với bầm tôi, Shamsi, Zohreh và chị Cook để chuẩn bị đón năm mới. Chúng tôi kì cọ nhà cửa từ trên xuống dưới và giặt rũ tất cả chăn đệm. Chúng tôi nhấc những tấm thảm giường, làm vệ sinh lau và cọ rửa phía dưới thảm. Chúng tôi chuẩn bị nhiều lọ hoa trong nhà và rất nhiều hạt dẻ, hoa quả và bánh ngọt. Chúng tôi rửa cả một đống những đĩa bát cho năm mới và chuẩn bị các món cá nấu với bạc hà, trứng cá và đại mạch.

Vào ngày đầu năm mới, bầm tôi và tôi bừng tỉnh trong bóng đêm vì nghe tiếng nổ vang vang trong nhà. Khi pháo nổ ầm trời, chúng tôi ôm hôn nhau và chúc mừng năm mới bằng cà phê và bánh ngọt hương vị hoa hồng. Gostaham và Gordiyeh cho con cái họ những đồng tiền bằng vàng và cho mỗi thành viên trong hộ này một món quà tiền mừng tuổi. Tôi cầu nguyện cảm ơn đức Chúa Trời đã cho chúng tôi sống được qua năm và đã dẫn đường chỉ lối cho chúng tôi tới được căn nhà có nhiều điều dạy dỗ tôi.

* * *

Xưởng dệt của Gostaham ở nhà nằm phía ngoài sân. Đó một nơi giản dị có thảm và đệm ở sàn và những kệ đựng giấy, mực, bút, và sách vở. Bác vẽ những bản thiết kế của mình khi ngồi bắc chân bằng tròn trên một tấm kệ bên cái bàn gỗ sát đùi bác. Tôi đến bên bác vào cái ngày bác bắt đầu thiết kế thảm ốp tường cho cung nữ Jasmileh, và tôi theo dõi bác phác họa một lọ hoa tuy luýp một phần bao quanh bằng cành của những loài hoa khác. Tôi kinh ngạc thấy những bông hoa của bác nhìn mới tự nhiên làm sao và nó nở bung dưới ngòi bút của bác nhanh tới mức nào.

Gostaham quyết định rằng những bông hoa nở sẽ là màu hồng và vàng, có những cái lá màu xanh nhạt nổi bật trên nền đen. Những nét sợi lụa bọc bạc sẽ làm viền cho những bông hoa nở, như lời hứa của bác gái Gordiyeh. Lúc tôi nhận xét bác thiết kế thảm nhanh thế, bác chỉ nói:

– Đây là một hợp đồng mà nó đã tiêu tốn của bác nhiều công sức hơn là giá trị đáng có.

Ngày hôm sau, bác đặt một tờ giấy đã được kẻ sẵn những đường chấm chấm do một người giúp việc của bác làm. Rất cẩn thận, bác kéo bản thiết kế hoa tuy luýp đã làm xong lên trên đường chấm chấm và tô vào đó bằng màu nước. Những đường chấm phía dưới không trông thấy được, chia bảng thiết kế thành hàng nghìn ô vuông có màu li ti, mỗi một ô vuông là một thắt nút dệt. Có bản hướng dẫn này trong tay, người thiết kế có thể lấy màu hoặc người thợ dệt có thể tự động, giống như một bản đồ chỉ đường cho du khách đi.

Khi bác làm xong, tôi xin bác cho tôi tập tự làm. Việc đầu tiên bác dậy tôi là vẽ một bản có đường chấm chấm. Tôi cầm một cái bút và lọ mực vào phòng nhỏ của mình và tập sự trên sàn. Lúc đầu tôi gặp khó khăn kiểm soát mực chảy. Mực đọng thành giọt và nhòe, và những đường chấm chấm của tôi bị gẫy khúc và không đều. Nhưng chẳng bao lâu, tôi đã học được cách nhúng bút vào mực chính xác, gạt bớt mực thừa, và vẽ lên được một đường vạch, thẳng, thường khi nào tôi nín thở. Đó là một công việc tẻ nhạt; một tờ giấy vẽ như thế tôi phải mất công làm cả một buổi chiều, và khi tôi đứng dậy, chân tôi cứng đơ và tê rúm ró lại.

Khi tôi đã có thể vẽ được một đường chấm chấm hoàn hảo, bác Gostaham đã thưởng cho tôi một cây bút riêng của mình. Cây bút này là một thân cây sậy cắt ra từ những bụi sậy vùng đầm lầy gần biển Caspi. Mặc dù nó nặng hơn một cái lông ngỗng, đối với tôi nó còn giá trị hơn là món quà bằng vàng. Từ đó trở đi, Gostaham tin tưởng giao phó cho tôi vẽ những đường chấm chấm mà bác sử dụng để làm nên những bản thiết kế hoàn chỉnh cho những hợp đồng thiết kế riêng. Bác cũng bắt đầu giao cho tôi một số nhiệm vụ để nâng tầm kỹ năng vẽ của tôi. Bác thỉnh thoảng quẳng cho tôi những bản sơ thảo vẽ những bông hoa, cành lá, sen nở, mây trời và những con thú rồi bảo tôi sao chép lại một cách chính xác. Tôi đặc biệt thích thú công việc sao chép những họa tiết phức tạp trông như những bông hoa nằm lẫn giữa những bông hoa bên trong những bông hoa.

Rồi sau đó khi tôi cảm thấy tự tin hơn, bác Gostaham cho tôi một mẫu vẽ mà bác đã thiết kế cho bộ thảm ốp của cung nữ Jasmileh và bảo tôi đảo lại bản vẽ, sao cho bó hoa tuy luýp tựa vào phía bên phải thay vì tựa vào phía bên trái. Những tấm thảm lớn thường có những mẫu vẽ đầu tiên theo cùng một hướng, rồi sau đó theo hướng ngược lại, cho nên một người thợ thiết kế cần phải biết cách vẽ cả hai hướng. Cứ mỗi buổi chiều, vào những giờ mọi người trong nhà ngủ trưa, tôi lại tập vẽ. Tôi hát những bài dân ca thường hát hồi ở buôn làng lúc tôi làm việc, lòng tràn trề hạnh phúc vì mình đang được học thứ gì đó mới mẻ.

* * *

Cứ mỗi khi nào tôi có thời gian, tôi lại đến thăm Naheed. Chúng tôi trở thành bạn thân với nhau rất nhanh, giờ thì chúng tôi có thể chia sẻ với nhau không chỉ một bí mật mà là hai bí mật.

Sau lần đầu tiên tôi được nhìn thấy tên của nó viết bằng mực, tôi đã đề nghị Naheed dạy tôi viết. Nó dạy cho tôi cách viết trong phòng của nó cứ mỗi khi tôi đến thăm nó. Nếu như có ai đến nói chuyện, tôi phải giả vờ là mình đang vẽ. Chuyện một cô gái từ dân dã buôn làng học viết không phải là chuyện phổ biến ở đây.

Chúng tôi bắt đầu bằng chữ Nư. Đó là một nét vẽ đơn giản, một nhịp tim đập và thế là chữ đã viết xong.

Trông nó dài và loằng ngoằng như sợi mì - Naheed, nó luôn nghĩ tới những hình thù nào đó để giúp cho tôi nhớ mặt chữ.

Nư. Nét chữ đầu tiên trong chữ của thánh Ala. Khởi nguồn của mọi thứ.

Tôi viết đầy vào một trang giấy những đường nét vạch thẳng dài, còn mắt kia thì ngó nhìn Naheed. Thỉnh thoảng tôi thêm một nét cong vào đỉnh chữ để cho nó một âm thanh trầm dài trong cổ họng. Khi những cố gắng của tôi được Naheed phê duyệt, nó dạy cho tôi chữ Ơc, trông cong như một cái bát có một dấu chấm bên trên. Chữ này rất là quái quỷ. Chữ Ơc của tôi trông chẳng duyên dáng chút nào và có vẻ nghệch ngoạc trẻ con so với chữ Ơc của nó. Nhưng khi ngó nhìn vào công sức lao động của tôi, nó hài lòng.

– Bây giờ cậu đặt hai chữ với nhau, chữ Nư và chữ Ơc, và thế là cậu đã làm xong được một điều đáng mong ước nhất trên trái đất này. - Naheed nói.

Tôi xếp hai chữ vào với nhau và đọc to từ NƯỚC: thủy.

– Viết chữ cứ y như là dệt thảm ấy nhỉ. - Tôi nói.

– Cậu nói thế nghĩa là gì? - Naheed hỏi với chất giọng khinh khỉnh. Nó chưa bao giờ dệt một tấm thảm.

Tôi đặt bút xuống và bắt đầu giải thích:

– Các từ và chữ này được làm thành từ nhiều chữ cũng y như cách mà những tấm thảm được hình thành bằng nhiều nút đan dệt. Nếu cậu kết hợp những chữ khác nhau, chúng trở thành những từ khác nhau, và cũng đúng như thế khi bạn kết hợp màu với nhau để làm nên những mẫu vẽ khác nhau. - Tôi nói.

– Nhưng viết là việc của Chúa trời ban cho. - Naheed cự lại.

– Người đã ban cho chúng ta 32 chữ cái. - Tôi đáp, cảm thấy tự hào rằng bây giờ tôi đã biết việc này, - nhưng làm sao cậu có thể lý giải rằng người ban cho chúng ta nhiều màu sắc hơn mà chúng ta có thể đến.

– Tớ cho là đúng. - Naheed nói, với một chất giọng chứng tỏ rõ ràng rằng nó suy nghĩ những nét chữ ở cấp độ siêu việt hơn, giống như đại đa số mọi người vẫn nghĩ.

Naheed hít một hơi sâu và thở dài.

– Tớ nên luyện tập viết nhiều hơn. - Nó nói.

Tía nó cho nó một cuốn sách luyện chữ viết mà đáng ra nó phải chép lại trước khi đặt bút viết một con sư tử có dạng chữ như tên Alabu: Chúa Trời thật là vĩ đại.

– Nhưng mà tớ không thể ngồi lâu được nữa. - Nó nói thêm, đôi mắt xanh lục của nó đảo khắp phòng. - Đầu óc tớ bây giờ đầy việc.

– Hay là việc này có chuyện liên quan tới anh chàng đẹp trai chơi bóng chày? - Tôi nói.

– Tớ tìm được tên của anh ấy rồi: Iskandar. - Naheed nói, nó phát âm cái tên đó rõ ràng đầy niềm vui.

– Thế gia đình của anh ấy thì sao?

Nó quay mặt đi.

– Tớ không biết.

– Thế anh ấy có biết cậu là ai không? - Tôi hỏi nó, cảm thấy ghen tị.

Naheed mỉm cười với nụ cười xinh tươi nhất của nó.

– Tớ nghĩ rằng anh ấy bắt đầu biết rồi đấy. - Nó nói.

– Bằng cách nào?

– Tuần trước, tớ đến khu Hình hài Thế giới cùng với con bạn tớ để xem một trận đấu bóng chày mà Iskandar ghi rất nhiều bàn thắng cho đội của anh ấy tới mức mà khán giả phấn trấn hò reo ầm ĩ. Sau trận thi đấu, tớ đi đến chỗ cầu thủ đang được chào đón và giả vờ nói chuyện với bạn tớ đến lúc tớ cảm thấy chắc chắn rằng anh ấy đã để ý đến chúng tớ. Rồi sau đó, tớ hất mạng che mặt ra giả vờ điều chỉnh và để anh ấy trông thấy mặt tớ.

– Cậu không làm như vậy đấy chứ.

– Tớ đã làm thế đấy. - Naheed nói vẻ đắc thắng.

Anh ấy nhìn chăm chăm vào tớ, và trông cứ như thể trái tim anh ấy biến thành một con chim đã tìm đúng chỗ đậu để làm tổ cho mình. Anh ấy cứ trâng trâng nhìn tớ, thậm chí cả lúc tớ đã che mạng mặt lại rồi.

– Thế bây giờ làm sao mà anh ấy tìm được cậu?

– Tớ sẽ phải đi xem thi đấu nữa cho đến khi nào anh ấy biết tớ là ai.

– Cẩn thận đấy nhé. - Tôi nói.

Naheed nhìn tôi với đôi mắt hơi nheo nheo, cứ như thể nó không chắc là nó có thể tin tưởng vào tôi hay không.

– Cậu sẽ không kể cho ai chuyện này đấy chứ?

– Tất nhiên là không rồi. Tớ là bạn của cậu cơ mà!

Naheed trông có vẻ không tin. Bỗng dưng, nó quay mặt đi và gọi một người hầu, người này quay lại bưng theo đồ ăn thêm. Naheed mời tôi cà phê và một đĩa chà là. Tôi từ chối vài lần, nhưng vì cứ khăng khăng như thế là không lịch sự, tôi chọn lấy một quả nhỏ và ném tỏm vào mồm. Tôi phải lấy hết tinh thần để đừng biểu lộ một bộ mặt trẻ con chán ăn. Tôi nuốt quả chà là rất nhanh và nhả hạt ra.

Naheed nhìn chăm chú theo dõi tôi rất sát.

– Có ngon không?

Một lô những lời nói như muốn bật lên từ đôi môi tôi “Lòng hiếu khách của cậu làm tớ áy náy quá đi mất, tớ chỉ là kẻ tôi tớ thôi mà.” Nhưng tôi không thể nào nói lên lời đó. Tôi ngọ ngoậy trên ghế và nhấp cà phê lấy thêm thời gian để suy nghĩ điều cần nói.

– Quả chua quá. - Cuối cùng tôi nói.

Naheed cười vang tới nỗi thân hình mảnh mai của nó rung lên như cây giấy gió trong trận cuồng phong.

– Cậu đúng là cậu! - Nó nói.

– Nhưng mà tớ có thể nói được điều gì khác sự thật cơ chứ?

– Quá nhiều điều tớ đã phát hiện ra. - Nó đáp. - Hôm qua tớ cũng mời lũ bạn chính mấy quả chà là này mà, kể cả đứa con gái tớ dẫn đến xem bóng chày nữa nhé. Nó ăn một quả và nó nói “Chà là của thiên đường chắc hẳn phải là những quả như thế này thôi” và một đứa khác lại còn nói thêm “Những quả chà là này còn ngọt hơn ấy chứ lị”. Tớ đã nếm một quả sau khi mấy đứa con gái ấy về và tớ đã phát hiện ra sự thật.

Naheed thở dài.

– Tớ phát chán với những kẻ xu nịnh như thế. - Nó nói. - Tớ ước gì con người ta luôn chân thật.

– Người dân trong buôn làng của tớ có một truyền thống nói thẳng - tôi đáp lại, không biết nói gì nữa.

– Đó là một trong những phẩm cách mà tớ thích cậu đấy. - Nó đáp.

Ngay trước khi tôi đứng dậy đi, Naheed hỏi liệu tôi có thể làm ơn giúp cho nó một việc đặc biệt được không.

– Ấy là chuyện những trận đấu bóng chày. - Nó nói. - Cô bạn của tớ quá e ngại đi cùng với tớ lâu hơn, liệu cậu sẽ đi thay nó được hay không?

Tôi hình dung rằng những trận đấu bóng chày này sẽ đầy những chàng thanh niên trẻ tuổi thường đi thành những hội nhóm tụ tập và la hét ủng hộ đội bóng của mình. Mặc dù tôi là người mới đến thành phố này, tôi cũng biết rằng đấy không phải là nơi để cho hai đứa con gái ở độ tuổi cập kê như chúng tôi đến đó một mình.

– Thế cậu không sợ cha mẹ cậu phải suy nghĩ à?

– Cậu không hiểu thật à? - Tớ phải đi đến đấy. - Nó nói với vẻ mặt cầu khấn.

– Nhưng làm sao mà ta đi được khi gia đình không biết?

– Tớ sẽ nói rằng tớ đến chơi với cậu, còn cậu thì nói rằng cậu đến chơi với tớ. Chúng mình choàng áo và mạng che mặt cho kín. Thế là chẳng ai biết khi chúng mình đi khỏi nhà.

– Tớ chẳng biết nữa. - Tôi nói vẻ hồi nghi.

Một vẻ dè bỉu u ám lên đôi mắt Naheed, tôi nghĩ lúc ấy người tôi nhũn ra chẳng còn xương sống nữa. Tôi không muốn nó coi khinh tôi như thế, thế là tôi đồng ý đi cùng nó và giúp nó đánh bẫy người tình.

Naheed đã làm tôi kinh ngạc về lòng quả cảm của nó dám để hình bóng mình lộ cho người đàn ông mà mình ngưỡng mộ. Chỉ vài ngày sau đó tôi cũng để lộ mặt mình cho một người đàn ông mà tôi chưa bao giờ quen biết. Đó là một buổi chiều thứ Năm, tôi đang trên đường từ nhà tắm hơi công cộng về nhà, tóc vẫn còn ướt.

Ngay lúc tôi đi qua cánh cổng cao nặng nhà bác Gostaham, tôi liền cởi áo choàng, mạng che mặt, khăn vấn tóc và xổ tóc ra. Tôi không để ý thấy một người lạ mặt đang đợi vào gặp Gostaham; một người hầu trong nhà hẳn đã vào báo cho bác biết. Ông ta vấn một chiếc khăn vấn nhiều màu sắc có sọc vàng, áo choàng lụa xanh da trời bên ngoài chiếc áo chẽn màu da cam. Tôi thoáng ngửi thấy luồng hơi mùi cỏ và ngựa. Tôi giật bắn mình thốt lên: “Giời ạ Lạy thánh Ali!”.

Nếu người lạ kia là người lịch sự, ông ta đã quay mặt đi. Thay vì thế ông ta dán mắt nhìn vào mặt tôi, thưởng thức từng giây phút vẻ kinh ngạc và lúng túng trên khuôn mặt tôi.

– Này đừng có mà đứng đó mà nhìn. - Tôi nói đốp lại và nhanh chân đi vào khu nữ bộ, khu phụ nữ có thể an toàn tránh được những con mắt tò mò của đàn ông.

Sau lưng tôi nghe tiếng ông ta cười hô hố. Gã này là ai mà lại dám xấc láo thế nhỉ? Không có ai quanh đó để hỏi cho ra nhẽ. Để biết gã này là ai tôi chạy nhanh lên gác hai, chỉ cách sân thượng một đoạn cầu thang. Chúng tôi hay đi lên đó để ra ngoài trời và phơi quần áo. Giống như đám đàn bà con gái trong nhà, tôi đã phát hiện ra một hõm nhỏ chỗ ngoặt cầu thang nơi tôi có thể nấp và quan sát những hoạt động trong sảnh lớn. Chùm hoa và dây leo giả trang trí cho bức tường tạo thành một mạng che kiểu mắt cáo mà xuyên qua đó tôi có thể nhìn thấy và nghe thấy mọi thứ.

Hé mắt nhìn vào phòng, tôi thấy người đàn ông lạ mặt sang trọng kia ngồi ở chỗ khách sang và tôi nghe thấy Gostaham đang nói đoạn sau câu chuyện: “…. rất vinh dự được làm công cụ cho ham muốn của ngài.”

Tôi chưa từng bao giờ nghe thấy bác nói một cách tôn trọng như thế với bất cứ ai, đặc biệt với một người chỉ bằng nửa tuổi bác. Tôi hy vọng mình chưa lăng mạ ai đó quá là quan trọng. Tôi nhìn kỹ vị khách ấy hơn. Eo lưng mảnh mai, dáng hình cương trực, da sạm nắng làm tôi nghi rằng ông ta làm nghề chăn tuyển ngựa. Lông mày ông ta rậm xịt, khớp ngay phía trên cái mũi, đôi mắt đầy vẻ thống trị trông như nửa vầng trăng. Mũi lõ dài quặp xuống môi, mà môi thì cứng dày nhưng rất hồng đỏ. Ông để một bộ râu xén cắt sát da. Ông ta không đẹp trai, ấy nhưng ông ta có vẻ đẹp huyền ảo của sức mạnh, kiểu như một con báo đen vậy.

Trong khi Gostaham nói chuyện, người đàn ông kia hút tẩu thuốc lào, mắt nheo nheo khoan khoái lúc rít thuốc. Ngay cả chỗ tôi đang đứng, tôi cũng ngửi thấy mùi lá thuốc thơm tẩm vị hoa quả làm sống mũi tôi cay cay.

Gostaham bảo đảm rằng vị khách của mình cảm thấy được chào đón bằng cách hỏi thăm về những chuyến đi của khách.

– Anh ạ, cả thành phố này đang bàn tán về cướp bóc của quân đội ở miền bắc. - Bác nói. - Tôi rất hân hạnh nếu chính anh kể cho nghe những chuyện đã xảy ra?

Vị khách kể lại chuyện một trăm ngàn quân Thổ đã công kích pháo đài phòng thủ ở biên cương phía tây bắc đất nước như thế nào. Nấp trong hầm hào xung quanh, chúng đã nã pháo vào cổng thành.

– Nhiều ngày qua đi, chúng tôi đã nghĩ rằng Chúa đã chọn trao phần chiến thắng cho đối phương. - Ông ta nói.

Từ bên trong pháo đài, chính ông ta đã dẫn một đội cảm tử đánh xuyên qua trận tuyến quân Thổ, chở đồ tiếp tế vào thành giúp đội quân bên trong cầm cự cuộc bao vây. Sau hai tháng rưỡi, quân Thổ bắt đầu đói. Khoảng bốn mươi ngàn quân Thổ bị tiêu tính đến lúc chúng phải rút lui.

– Quân ta trong thành cũng đói. - Vị khách nói. - Vào thời gian cuối chiến cuộc, chúng tôi chẳng còn gì mà ăn ngoài bánh mì làm bằng thứ bột đã có mọt bò lổm ngổm. Sau chiến dịch tiếp tế sáu tháng ấy, tôi luôn cảm thấy biết ơn Chúa cứ mỗi lần tôi được ăn bánh mì nướng từ lò nhà mình.

– Ai ai cũng biết ơn Người. - Gostaham nói.

Vị khách dừng lại rít một hơi thuốc lào.

– Tất nhiên rồi, người ta chẳng bao giờ biết chuyện gì sẽ xảy ra ngoài chiến trường. - Ông khách nói. - Tôi có con gái lên ba tuổi, còn quý giá hơn cả chính đôi mắt mình. Cháu bị thổ tả lúc tôi đi và chỉ có nhờ ơn Chúa thì cháu mới sống sót đấy.

– Thánh Ala lòng thành!

– Là cha của cháu, tôi buộc phải có nghĩa vụ làm từ thiện để cảm ơn Người đã để lại cháu cho tôi.

– Đó mới chính là hành động của người theo đạo Hồi chân chính. - Gostaham đồng tình.

– Lần cuối tôi đến thăm trường dòng đạo Hồi ở khu Tứ Vườn. - Vị khách nói. - Tôi để ý thấy gạch lát nền trường ở đó đã sủi sờn mòn hết cả.

Ông khách mút vào tẩu thuốc và hút chầm chậm, trong khi chúng tôi chờ đợi và hy vọng.

– Nhưng thậm chí lúc tôi xem xét đặt một tấm thảm để vinh danh Đức Chúa, tôi vẫn có một ham muốn đặc biệt. - Ông khách tiếp tục nói. - Tấm thảm này là để gửi lời cảm tạ vì sức khỏe của cô con gái tôi, và tôi muốn tấm thảm có bùa để bảo vệ nó trong tương lai.

– Có Chúa lòng thành, - Gostaham nói. - Con gái ngài sẽ mãi không bị ốm đau.

Đúng lúc ấy tôi nghe thấy tiếng bác gái Gordiyeh gọi tên tôi, thế là tôi phải đi. Tôi hy vọng bác gái có thể kể thêm cho tôi. Tôi thấy bác gái ở sân đang xem xét mấy con lừa lưng chở đầy mấy túi quả hồ trăn từ vùng Kerman, mà anh Ali-Asghar đang dỡ xuống để chất vào nhà kho. Họ cần thêm người giúp sức.

– Bác ơi khách nhà mình là ai đấy ạ?

– Ông Fereydoon, con trai của một nhà buôn ngựa giàu có. - Bác gái nói. - Ta chẳng có thể làm gì tốt hơn cho tương lai của mình bằng cách lấy lòng ông ấy.

– Ông ta chắc hẳn… là… giàu lắm ạ? - Tôi hỏi, cố gắng định lượng tầm quan trọng của ông khách.

– Ừ. - Bác đáp. - Người cha chăn những con ngựa nòi hay nhất dòng A-rập trong những trang trại miền bắc. Trước đây chỉ là nông dân bình thường, nhưng bây giờ ông ta kiếm được rất nhiều tiền đến nỗi ai ai cũng muốn có được một con ngựa nòi có tên có tuổi.

Chẳng ai trong buôn làng tôi lại có nổi một con ngựa nòi có tên có tuổi, vì một chú ngựa nòi con thôi giá đã quá cao rồi không ai đủ tiền mà mua. Tôi đồ rằng bác gái muốn nói đến những gia đình tầng lớp cao của thành Isfahan.

Nhà Fereydoon đi mua ngựa khắp nước, và mỗi con ngựa đều cần có nhiều tấm thảm. - Gordiyeh tiếp tục nói. - Nếu ta làm vui lòng Fereydoon, chỉ cần từ gia đình ông ấy thôi ta đã có thể kiếm được khối tiền rồi.

Bác gái Gordiyeh cho tôi mấy hạt hồ trăn để ăn lúc đang dỡ các bao tải nặng xuống. Tôi khoái ăn hồ trăn lắm, nhưng trong lòng cảm thấy không được thoải mái. Quá nhiều lần cái lưỡi của tôi nhảy ra trước bản ngã của tôi. Giờ đây tôi đang ở trong một thành phố mới lạ, tôi phải học cách ăn nói cẩn thận hơn, vì tôi còn khó phân biệt nổi một người đầy uy lực với một kẻ chỉ có thân phận làm tôi làm tớ.

Sau đó, Gordiyeh có bảo với tôi rằng Fereydoon đã đặt hàng một tấm thảm và hứa trả giá hậu hĩnh. Tôi thở phào nhẹ nhõm đến nỗi tôi hứa ngay với bác Gostaham sẽ giúp bác hết sức mình. Để chào mừng vận may ngày hôm đó, bác gái Gordiyeh để tôi tự do không phải làm việc nhà và tôi liền đến chơi nhà Naheed.

* * *

Sau lần đến thăm ấy của Fereydoon, Gostaham gạt tất cả những hợp đồng khác sang một bên và bắt đầu ngay thiết kế mới, tôi tham gia vào công việc với bác và xem bác phác thảo. Tôi những mong bản thiết kế nổi lên dễ dàng như bản thiết kế bác đã làm cho đệm ốp của cung nữ Jasmileh, nhưng giờ đây cứ như thể là có quỷ nhập vào cây bút của bác. Bác ngồi làm việc hàng giờ trên bản thiết kế trước khi lật trang giấy sang và bắt đầu lại. Khi bác không thích bản thiết kế vừa làm xong, thấy nó không hơn gì, bác vo tròn tờ giấy và quẳng ngang xuống đất.

Tay bác Gostaham đen màu mực, và chẳng mấy chốc căn phòng ngổn ngang những cục giấy vẽ thiết kế đã bỏ đi. Khi Shamsi định dọn đống giấy lộn đó đi, bác gầm lên:

– Làm sao tôi có thể làm xong việc khi cô cứ quấy rầy tôi thế hả?

Thỉnh thoảng bác đứng dậy và lục trong đám giấy lộn các bản thiết kế ấy, nhặt lấy một tờ giấy đã bỏ, lục lọi tìm ý tưởng.

Lý do bác chịu đựng được sự có mặt của tôi là vì tôi biết im lặng. Khi bác cần thêm giấy, tôi đã chuẩn bị ngay một tờ đúng kích cỡ, khi mực trong lọ vơi đi, tôi đổ thêm mực vào lọ. Nếu bác trông có vẻ mệt mỏi, tôi bưng cà phê và chà là đến cho bác.

Vài ngày sau, khi Gordiyeh trông thấy đám giấy lộn, bác gái liền mở một chiến thuật mới, phàn nàn về việc tốn kém tiền mua giấy.

– Đàn bà ơi là đàn bà. - Gostaham rống lên. - Tránh xa chỗ này ra! Đây không phải là bất cứ tấm thảm nào cho bất cứ ông bà nào đâu.

Trong khi Gostaham ngộp trong những bản vẽ, tôi nghĩ đến cái bùa mà Fereydoon đã đề nghị làm trong tấm thảm của ông.

Trong buôn làng tôi, chúng tôi thường dệt đan các kiểu hình biểu tượng khác nhau; như biểu tượng con gà trống để gợi cho người ta mắn con mắn cháu, biểu tượng cái kéo để bảo vệ người ta chống lại những linh hồn quỷ dữ. Nhưng những biểu tượng làng quê ấy trông kỳ cục trên một tấm thảm ở nơi đô thị, và bất cứ trường hợp nào thì một tấm thảm thiết kế cho trường dòng thì không được thể hiện sinh vật, ngoại trừ cỏ cây hoa lá để người ta tránh tôn thờ người hùng.

Một buổi chiều, khi Gostaham gạt bỏ thêm một tờ giấy nữa và để căn phòng tả tơi đầy giấy, tôi sờ tay lên cổ và chạm vào một vòng nữ trang mà tía tôi đã cho tôi để ngăn ngừa những con mắt ma quỷ. Đó là một mảnh bạc hình tam giác có một viên đá thần gắn chính giữa, và tôi thường chạm vào viên đá ấy để cầu may. Cho dù tôi biết rằng tôi không nên, nhưng tôi vẫn cầm lấy cây bút của bác Gostaham lên cùng tờ giấy và bắt đầu vẽ. Tôi không nghĩ suy gì lắm, chẳng qua là khoái cái cảm giác ngòi bút trượt trên mặt giấy, và tôi thấy bút chạy thành hình tam giác với một vòng tròn chính giữa, y như cái bùa ở vòng đeo cổ của tôi. Ở đáy tam giác, tôi gắn thêm một số viên cầu tròng treo lủng lẳng, những đồng xu và đá quý.

Gostaham quay lại phòng, trông dáng vẻ mệt mỏi.

– Cháu đang làm gì thế này? - Bác hỏi, lúc ấy tôi đang nhúng bút vào lọ mực.

– Chỉ nghịch chơi thôi ạ. - Tôi nói đầy vẻ cáo lỗi, tay đặt cây bút làm bằng cọng cây giang xuống kệ đựng bút.

Khuôn mặt bác Gostaham trông bừng phùng lên dưới vành khăn vấn đầu, trông như thể sắp nổ tung.

– Bố mày là đồ chó à! - Bác quát ầm lên. - Không ai được chạm vào bút của tao mà không được phép.

Gostaham giằng lấy cây bút và lọ mực, mặt rất cáu. Tôi ngồi trâng trâng im re như khung dệt, sợ bác thét lác tiếp vào mặt mình. Bác lại say sưa quay về với chuyện thiết kế của mình, nhưng tôi thấy qua hàng lông mày nhăn hằn nhiều nếp nhăn rõ là bác không thích phần thiết kế vừa xong ấy. Thở dài não nề, bác đứng dậy, đi đi lại lại trong căn phòng, ngang qua chỗ tôi ngồi. Bác chộp lấy tờ giấy mà tôi đã vẽ, lẩm bẩm rằng có thể dùng lại mặt sau tờ giấy đó.

Rồi bác nhìn chăm chăm vào trang giấy đã vẽ của tôi:

– Cái gì đây hả? - Bác hỏi.

Mặt tôi đỏ bừng lên lúc bác quay về chỗ ngồi.

– Bùa hộ mệnh ạ. - Tôi nói. - Như ông Fereydoon muốn.

Gostaham nhìn chăm chú vào mặt giấy ấy rất lâu, lúc ấy tôi cảm thấy yên lòng. Lúc lâu sau nữa, bác cuốn hút vào một bản vẽ mới, ngòi bút của bác trông như múa lượn trên tác phẩm. Tôi thấy bác uốn hình vẽ thô kệch đơn giản của tôi thành một bức hình tuyệt đẹp. Bác tô điểm các cạnh tam giác bằng những hạt tràng, đồng xu, đá quý và kết nối chúng với nhau thành một hình thiết kế tầng tầng lớp lớp hài hòa thanh tú. Hình vẽ trông xinh xinh và đẹp dễ thương, chính là hình ảnh của cô con gái nhà Fereydoon tôi đã hình dung trong trí tưởng tượng của mình.

Khi làm xong, Gostaham trông đầy vẻ hài lòng lần đầu tiên sau bao nhiêu tuần nay.

– Phác thảo tốt rồi. - Bác nói.

Nhưng tôi vẫn thấy vẻ bực mình trong mắt bác.

– Để bác nói lại cho sáng tỏ hơn ban ngày nhé, cháu không được bao giờ chạm vào bút của bác lần nữa.

Cúi nhìn xuống thảm, tôi xin bác tha thứ vì thói liều lĩnh của mình. Về sau, tôi kể lại với bầm tôi rằng mình đã góp phần vào bản thiết kế, không kể chính xác là cụ thể như thế nào, vì tôi e rằng bầm cho là tôi phát ngôn bừa bãi.

Sau đó chẳng mấy bận, Gostaham mang bản thiết kế đến chỗ Fereydoon để phê duyệt. Ông này chưa từng trông thấy một thiết kế như thế bao giờ và muốn biết ý tưởng từ đâu đến. Gostaham đủ cẩn thận trong nghề chỉ để tiết lộ rằng một người bà con họ hàng đã đóng góp ý tưởng về những hạt đá quý treo tòng teng.

– Trông thanh tú y như con gái tôi vậy. - Fereydoon đáp.

– Thực ra là. - Gostaham nói. - Nó được dựa vào đồ trang sức của phụ nữ miền Nam.

Fereydoon liền nhái giọng miền Nam và Gostaham cười vang và kể với ông ta rằng ông ta nhái giọng nghe y như là giọng cô cháu gái mới ra thăm. Nhớ lại lần tôi quát Fereydoon bằng cái chất giọng ấy, tôi hiểu rằng ông ta đã biết chính xác tôi là ai rồi. Tôi tự an ủi mình ông ấy sẽ không tự ái những lời bật lại của tôi vì ông ấy đã chấp nhận bản thiết kế.

Sau lần gặp gỡ ấy với Fereydoon, bác Gostaham khen ngợi tôi và bảo với bầm rằng tôi là một người giúp việc rất đắc lực. Để thưởng công cho tôi, bác hứa sẽ đưa tôi đến xem một tấm thảm đặc sắc nhất mà bác mô tả là một trong những ánh sáng kỷ nguyên.

Bởi vì hợp đồng với Fereydoon quan trọng quá, Gostaham quyết định len để dệt tấm thảm này phải được nhuộm theo cách đặc biệt của mình. Bác ưa chuộng một người thợ nhuộm có tên là Jahanshah, người có cửa hiệu bên bờ Vĩnh Hằng giang, và bác cho phép tôi cùng đi vào một buổi sáng để xem bác giao dịch hợp đồng nhuộm thế nào, những màu sắc mà người ta thèm muốn nhất, mà công thức được bí mật cất kỹ trong tủ.

Jahanshah có đôi lông mày trắng rậm, chòm râu trắng phau, đôi má hồng hào. Ông chào đón chúng tôi bên chảo nhuộm đầy nước. Vì các chảo nhuộm đều lạnh tanh, tôi nghĩ rằng ông ấy đã quên mất chuyến đến thăm của bác tôi rồi.

– Cô bé này lần đầu đến đây à? - Jahanshah hỏi Gostaham.

– Vâng.

– À ra thế. - Ông đáp cùng một tiếng cười sảng khoái. - Nhìn xem cho kỹ nhé.

Ông nhấp nước vào mấy cuộn len rồi thả nhẹ nhàng vào một chảo nhuộm. Nước trong chảo là lạ, hơi có màu xanh lá cây, khi tôi ngó nhìn vào len, len vẫn không đổi màu.

Chúng tôi cùng ngồi trên những chiếc ghế đẩu hướng nhìn xuống dòng sông. Lúc hai người nói chuyện về giá cả lông cừu dạo này đang tăng, tôi ngắm nhìn những người đi bộ qua chiếc cầu Shahrestan cổ kính, có những trụ cầu dày sụ, được xây dựng trước khi tôi ra đời đến bốn thế kỷ. Già cỗi hơn cây cầu là rặng núi Zagros dựng đứng như những lưỡi gươm, chĩa thẳng lên thiên đường cứ như thể muốn khắc họa cái gì đó vào bầu trời. Chưa có ai từng leo lên những đỉnh núi cao huyền bí đó, thậm chí cả những người chăn cừu cũng thế.

Một cơn gió mạnh giật làm bắn văng nước lên, chỉ chực thổi bay khăn vấn đầu của tôi. Tôi giữ chặt một đầu khăn kiên trì chờ đợi Jahanshah đổ thứ chất nhuộm ma thuật vào, nhưng hình như ông ấy không vội vàng. Chúng tôi uống trà trong khi ông uể oải khoắng những cuộn len sợi trong chảo.

Gần đó, một thợ nhuộm khác đang làm việc chăm chú bên chảo nhuộm đang sôi. Anh ta đổ một gói hoa phi yến vàng khô, cuốn hòa quyện vào nước nhuộm thành những luồng nước màu vàng. Tôi quan sát anh ta thả mấy cuộn len trắng vào. Những cuộn len liếm ngay lấy dòng nước màu, chuyển biến sang màu vàng mặt trời.

Tôi muốn quan sát gần hơn nữa, nhưng Jahanshah đã đưa cho tôi một thanh công cụ bằng xốp và nói:

– Nhấc một bó len ra.

Tôi nhúm công cụ đó vào chảo nhuộm và khoắng lên cho đến khi tôi chạm vào một cuộn len và tôi nâng nó lên khỏi chảo nhuộm. Cuộn len đã biến thành một màu xanh lá cây, trông giống như màu phân ngựa ốm.

Tôi quay sang phía Jahanshah, bối rối hỏi.

– Bác sắp cho thêm chất nhuộm vào à? - Tôi hỏi.

Ông cười ầm lên, bà Gostaham cười theo trong lúc tôi đứng đó tay giơ cuộn len đang nhỏ giọt tong tong. Tôi không hiểu lý do gì để cho họ cười vui vẻ đến thế.

– Đừng rời mắt khỏi cuộn len. - Gostaham nói.

Vì một lý do nào đó, cuộn len trông không bợt màu như trước đó. Tôi chớp mắt, cảm giác như một người hành hương mệt mỏi tưởng tượng thấy màu xanh trên sa mạc. Nhưng chuyện chớp chớp mắt không thay đổi những gì tôi nhìn thấy. Cuộn len giờ đây đã mang màu ngọc lục. Xong một lát, len biến thành màu xanh lá cây đậm tươi giống như những mầm lá đầu xuân, sắc màu có dáng xanh lơ, có lẽ giống như biển Caspi, và sau đó lại còn đậm hơn giống như màu đáy hồ. Tôi dúi thanh xốp về phía Jahanshah và thốt lên:

– Lạy Chúa che chở cho chúng con khỏi trò đùa nghịch này của Chúa!

Jahanshah lại cười vang và nói.

– Đừng lo, đây chỉ là một trò đùa nghịch của con người thôi.

Cuộn len giờ đây lại trông màu xanh lơ đậm mang lại niềm vui cho con mắt ai nhìn cùng với độ sâu và mênh mông của nó. Tôi ngắm nghía, kinh ngạc, và rồi tôi thốt lên:

– Lại nữa kìa!

Jahanshah để tôi kéo một cuộn len nữa ra và quan sát nó biến màu từ màu xanh cầu vồng và màu xanh da trời cho đến khi trở thành màu ngọc bích.

– Làm sao lại thế được cơ chứ? - Tôi hỏi vẻ đầy kinh ngạc.

Nhưng Jahanshah chỉ mỉm cười.

– Đó là bí mật gia bảo đã hơn nghìn năm nay. - Ông nói. - Kể từ khi đấng tiên tri Mohamat dẫn những tín đồ của mình đến Medina, quê hương của tổ tiên ta.

Gostaham muốn loại len này có màu vàng chanh đậm hơn một chút, thế là Jahanshah lại dìm len vào lần nữa cho đến khi Gostaham hài lòng. Rồi sau đó, ông cắt một dải len đưa cho Gostaham, và giữ lại một mẩu cho mình, để cả hai người sau này có thể cùng nhau xác minh màu của đơn đặt hàng.

Khi chúng tôi về đến nhà, tôi dỡ bỏ mũ mạng đi đường rất khó khăn trước khi tôi hỏi Gostaham mình có thể làm được việc gì sau đó.

Bác trông ngạc nhiên.

– Thế cháu không muốn nghỉ ngơi à?

– Không muốn nghỉ một chút nào hết. - Tôi nói vì mắt vẫn hình dung thấy ma thuật của thuốc nhuộm làm cho tôi cảm thấy hăng hái.

Gostaham mỉm cười và giao cho tôi một bản vẽ nét chấm chấm khác.

Từ đó trở đi, tôi càng cầu xin Gostaham cho phép tôi giúp bác bao nhiêu, thì bác càng muốn tôi ở bên bác bấy nhiêu. Lúc nào cũng có một việc gì đó để làm: những đường kẻ chấm chấm cần được vẽ, màu sắc cần được pha, giấy cần được xén đúng cỡ. Chẳng bao lâu, bác cho phép tôi sao chép những phần đơn giản nhất của những hình thiết kế chấm chấm của bản chính gốc. Đôi khi, bác thậm chí còn lôi kéo tôi đi làm mà không phải tham gia việc bếp núc nữa. Tôi khoan khoái thưởng thức những giây phút đó, vì tôi chán ngấy những giờ dài lê thê rửa bát đĩa và băm thịt thái rau. Khi bác gọi tôi đi, tôi xếp con dao hoặc cối và chày lại gọn gàng để cùng đi với bác. Những người hầu khác lầu bầu bực mình sau lưng tôi, đặc biệt là chị Cook, chị ta hỏi một cách mỉa mai xem con hươu và con vượn mà tôi đang học vẽ ấy có làm cho bụng tôi no vào bữa tối hay không. Gordiyeh cũng không thích chuyện này:

– Quá nhiều miệng ăn, mọi người đều phải giúp tay vào làm chứ.

Có lần bác gái nói như vậy, nhưng Gostaham tảng lờ bác gái đi. Cùng có tôi là trợ thủ, bác trai bắt đầu hoàn thành các hợp đồng nhanh hơn, và tôi nghĩ rằng bác thích tôi làm việc cùng bác trong những giờ thiết kế đằng đẵng, vì chẳng ai lại có thể sắc sảo và quan tâm tới công việc hơn là tôi.

Sự việc lại không dễ dàng ở thành Isfahan đối với bầm tôi. Bầm vẫn làm việc trong bếp dưới giám sát của bác gái Gordiyeh, và phải làm những việc mà tôi bỏ dở. Bác gái Gordiyeh luôn bắt na bắt nét bầm tôi cứ như thể bác khinh bỉ cách làm quê mùa của chúng tôi. Tôi tin rằng bác cảm nhận được ý nghĩ chống đối của bầm đối với bác, và cố tình muốn bẻ gẫy ý chí chống đối đó cứ mỗi khi nào bác có thể làm. Bầm phải tráng gạo sáu lần, không hơn không kém để rửa sạch cám bã; phải cắt củ cải đường theo chiều dọc thay vì cắt theo chiều ngang để có cánh hoa hồng; phải làm bánh ngọt bằng đậu xanh với bột khoai tây bao bên ngoài; phải dùng ít hoa quả hơn và nhiều nước hoa hồng hơn để làm bánh tráng. Bầm tôi, người luôn là chủ của gia đình mình kể từ ngày bầm ở độ tuổi như tôi, bị người ta ra lệnh sai phái như trẻ con.

Một hôm vào lúc nghỉ buổi chiều, bầm tôi chạy đổ xô vào căn buồng nhỏ vẻ bực mình tới nỗi tôi có thể cảm nhận được tim bà đập thình thịch dưới làn áo.

– Trời đất ạ. - Bà nói - Cầu xin Chúa Trời lòng thương, bầm không thể chịu hơn được nữa!

– Chuyện gì đấy ạ? Chuyện gì đã xảy ra đấy?

– Bà ấy không thích loại bánh mà bầm làm. - Bầm đáp. - Bà ấy muốn bánh vuông chứ không phải bánh hình bầu dục ô van! Bầm đã đổ hết bánh đấy cho chó ăn rồi và phải làm lại bánh.

Thái độ lãng phí thực phẩm đó sẽ không có ai dám tưởng tượng được trong buôn làng tôi, nhưng mà Gordiyeh đã đòi hỏi phải làm hoàn hảo.

– Con xin lỗi. - Tôi nói, lòng cảm thấy ân hận.

Tôi đã dành cả ngày làm việc cùng với Gostaham, và công việc của tôi thì đầy thú vị và niềm vui.

– Không chỉ chuyện những cái bánh, - Bầm tôi nói tiếp - Bầm phát mệt phải làm người hầu rồi. Giá như tía con còn sống, bầm và con đã có thể ở nhà riêng của mình, làm những việc theo cách riêng của mình!

Tôi cố gắng an ủi bầm, vì tôi yêu thích những việc tôi đang học.

– Ít ra thì bây giờ con và bầm được ăn ngon và không sợ chết đói.

– Trừ phi bà ấy quẳng chúng ta ra ngoài đường.

– Vì sao mà bà ấy phải làm thế cơ chứ?

Bầm bật nói:

– Bầm không có ý nghĩ rằng Gordiyeh lại muốn tống khứ chúng ta đi đến như vậy. - Bầm nói.

Bầm hơi quá lời phóng đại rồi, tôi nghĩ.

– Nhưng bầm ơi hãy nhìn nhận xem chúng ta làm được gì cho gia đình này.

Bầm đá văng giầy ra và lăn phịch người xuống đệm giường. Đôi chân của bầm đỏ lự vì đứng quá lâu khi làm bánh.

– Ôi trời ơi đau chân quá! - Bầm rên rỉ. Tôi ngồi dậy và đẩy một chiếc đệm kê dưới chân cho người.

Trong não của Gordiyeh, chúng ta đang làm thất thoát của cải của gia đình này, vậy mà bầm và con lại không phải được người ta thuê cho nên bà ấy có thể tống khứ ta đi bất cứ lúc nào bà ấy muốn. Hôm nay bà ấy bảo với bầm rằng có đến hàng tá người ở thành Isfahan ngóng việc được thuê làm trong cái bếp này. Những người này là thanh nữ trẻ tuổi, có thể làm việc nhiều giờ và chăm chỉ mà không biết kêu ca phàn nàn. Chứ không phải là những người đàn bà chỉ muốn dành thời gian làm bếp quý báu để đi học dệt thảm.

– Nhưng mà chúng ta có thể làm được gì hơn? - Tôi hỏi.

– Chúng ta chỉ có thể khẩn cầu con có được một người chồng để con có thể bắt đầu một căn nhà riêng của chính mình. - Bầm nói. - Một chàng rể tốt bụng sẽ biết xem xét nhiệm vụ của mình để chăm sóc cho bầm của con.

Tôi đang nghĩ đến những cuộc thảo luận về chuyện cưới xin của tôi đã chấm dứt rồi, vì rằng chúng tôi chẳng có gì làm của hồi môn.

– Không có của hồi môn, làm sao mà con có thể kiếm được người chồng như vậy?

Bầm tôi duỗi thẳng chân ra để bớt đau.

– Ôi dào, ngôi sao chổi mới xấu số làm sao, đã lấy mất đi ông ấy trước khi con thành gia thất! - Bầm phàn nàn. - Bầm đã quyết định là sẽ pha chế thuốc thảo mộc dân tộc và bán cho hàng xóm để tích tiền làm của hồi môn cho con. Chúng ta không được cứ chờ đợi kiểu này lâu hơn nữa. - Bầm nói thêm với một chất giọng cảnh báo.

Đúng là tôi bắt đầu thêm tuổi lớn. Mọi đứa ở độ tuổi tôi mà tôi biết thì đã lấy chồng trước 16 tuổi hết rồi, và nhiều đứa khác còn lấy chồng sớm hơn.

– Con sẽ bắt đầu dệt một tấm thảm khác cho chính của hồi môn của con. - Tôi hứa.

– Cưới chồng cho con là cách duy nhất bầm và con có thể hy vọng để tự sống. - Bầm nói.

Bầm quay mặt đi và ngủ thiếp gần như ngay lập tức. Tôi ước mong có được một cách nào đó để làm cho cuộc sống của bầm tôi ngọt ngào hơn. Tôi ngoảnh mặt về phía Thánh địa Mecca và cầu nguyện sao cho tác động quái quỷ của sao chổi mau chóng chấm dứt.

Vào một buổi tối, khi tôi không có việc gì để làm, tôi nhặt một tờ giấy to mà bác Gostaham đã vứt đi mang nó vào phòng mình chìa ra cho bầm tôi xem. Cúi gò lưng dưới ánh đèn dầu, tôi bắt đầu vẽ một bản thiết kế cho một tấm thảm mà tôi hy vọng trông duyên dáng với phòng khách của một người đàn ông giàu có và để làm nổi bật những tấm thảm khác của ông ấy lên. Bản thiết kế của tôi chứa đầy những kiểu dáng mà tôi đang học. Tôi cố gắng khớp nó vào với nhau. Tôi phác họa một con công đang nhảy có cái đuôi đầy màu sắc, những con linh dương lang thang trên thảm cỏ, những cây giấy gió vươn cành dài ra, những lọ hoa tô màu, ao nước, những chú vịt đang bơi, những con cá bạc, tất cả được kết nối bằng những nhành cây nho, lá và hoa. Lúc tôi đang vẽ thế, tôi suy nghĩ về một tấm thảm không thể nào quên được mà tôi đã được nhìn thấy ở trong chợ. Nó thể hiện một cái cây hoành tráng, nhưng thay vì những chiếc lá trổ lộc, cuối cành của nó kết thúc bằng đầu những con linh dương, sư tử, cừu rừng và gấu. Người lái thương gọi nó là cây thần, tấm thảm minh họa một bài thơ trong đó muông thú nói chuyện với con người theo những cách bí mật của chúng. Tôi nghĩ rằng một cái cây như vậy có thể là chủ để đàm tiếu suốt đêm về những bí mật của một gia đình mới.

Tôi chờ đợi đến lúc Gostaham ở một tâm trạng vui vẻ trước khi hỏi xin phép chìa cho bác xem bản thiết kế ấy. Bác dường như kinh ngạc bởi lời đề nghị đó, nhưng bác vẫy tay bảo tôi đi theo bác vào xưởng dệt của mình. Chúng tôi ngồi trên đệm, và bác giở cuộn giấy to ấy trải xuống sàn ngay trước mắt tôi. Không khí trong phòng im lặng tới nỗi tôi có thể ngay thấy tiếng cầu nguyện từ Thánh đường thứ Sáu. Tiếng rao giảng buổi tối, của người ngồi trong phòng tháp cao nhất, có chất giọng rõ ràng, ngọt ngào luôn làm tôi tràn trề hạnh phúc và hy vọng. Tôi nghĩ rằng tiếng gọi cầu Chúa của người đó có thể là một điềm lành.

Gostaham liếc nhìn bản thiết kế chỉ một lát thôi.

– Ý nghĩa của bản vẽ này là gì? - Bác hỏi, mắt nhìn thẳng vào tôi.

– À à, dạ. - Tôi nói ấp úng - Cháu chỉ muốn làm cái gì đó rất đẹp, cái gì đó mà à à …

Căn phòng trở nên im lặng đến khó chịu. Gostaham gạt tờ giấy sang một bên, tờ giấy tự uốn tròn lại và lăn đi.

– Nghe này cháu gái. - Bác nói. - Cháu có thể nghĩ rằng thảm chỉ là những thứ… những thứ để mua, để bán, và để ngồi. Nhưng một khi cháu bắt đầu làm nghề dệt thảm, cháu sẽ hiểu rằng mục đích của thảm lớn hơn như thế rất nhiều, cho những ai biết nhìn nhận.

– Cháu biết điều đó. - Tôi nói, mặc dù tôi không nắm bắt được ý của bác là gì.

– Cháu nghĩ rằng là cháu hiểu à? - Gostaham nói - Vậy thì cháu hãy nói cho bác tất cả những mẫu này có nét gì chung nào?

Tôi cố suy nghĩ điều gì đó, nhưng tôi không thể nghĩ ra. Tôi đã vẽ ra những mẫu đó bởi vì để trang trí cho đẹp thôi.

– Chẳng có cái nào giống nhau cả. - Cuối cùng tôi thừa nhận.

– Đúng thế. - Gostaham nói, bác thở dài đánh sượt cứ như thể bác chưa bao giờ phải làm việc vất vả đến thế bao giờ.

Bác kéo một bên khăn trùm đầu của tôi như muốn lôi ra từ đó một ý nghĩ.

– Khi bác ở tuổi cháu, - Bác nói - Bác học được một câu chuyện ở vùng Shiraz, chuyện đó đã tác động rất sâu sắc tới cuộc đời bác. Câu chuyện về vua Tamerlane, vị hoàng đế Mông Cổ, kẻ chinh phục đã lê lết đến thành Isfahan cách đây hơn hai trăm năm và ra lệnh buộc dân thành phải đầu hàng nếu không sẽ bị hủy diệt. Thậm chí bị đe dọa như vậy, mà thành phố của chúng ta vẫn vùng lên chống lại bàn tay sắt của kẻ thống trị. Đó là một cuộc khởi nghĩa nhỏ, không có binh lính hỗ trợ đằng sau, nhưng để trả thù, vua Tamerlane đã cho quân dùng gươm đâm chết năm mươi ngàn người vô tội. Chỉ có một nhóm người là không bị giết: đó chính là những người dệt thảm, vì giá trị của họ thì quá lớn chúng không thể hủy diệt đi được. Thậm chí sau thảm họa đó, cháu có nghĩ rằng những người thợ dệt thảm lại dệt nên những cảnh chết chóc, tàn phá và hỗn loạn vào những tấm thảm của họ không?

– Không ạ! - Tôi nói nhẹ nhàng.

– Không bao giờ, không một lần nào! - Gostaham đáp, giọng bác cất cao. Trong mọi hoàn cảnh và bất cứ điều gì, người thiết kế thảm vẫn luôn tạo ra những hình ảnh của một cái đẹp hoàn hảo hơn. Đây là cách, chúng ta, những người thợ dệt thảm, thể hiện ý chí phản đối tất cả những gì là quỷ dữ. Câu trả lời của chúng ta đối với thói độc ác, đối với nỗi thống khổ và buồn đau là phải nhắc nhở cho cả cái thế gian này biết rằng cuộc đời có mặt đẹp thật, có thể phục hồi thế giới bình tâm của con người, gột rửa trái tim tội lỗi của con người, và dẫn dắt con người bước hẳn lên con đường của sự thật. Tất cả những người thợ dệt thảm biết rằng cái đẹp là một chất không giống những chất khác. Nhưng nếu không thống nhất, thì không thể có cái đẹp. Nếu không toàn vẹn, sẽ không có cái đẹp. Bây giờ cháu hiểu ra chưa?

Tôi nhìn lại bản thiết kế của tôi lần nữa, và nó hiện ra y như là tôi đang nhìn bản thiết kế qua đôi mắt của Gostaham. Đó là một bản thiết kế đang cố che lấp đi mảng dốt nát của nó qua những mẫu hình đậm, mà chỉ có thể bán được cho những kẻ vô công rồi nghề không hiểu biết gì hơn.

– Bác sẽ giúp cháu sửa lại cho đúng được không ạ? - Tôi hỏi bác với một thứ giọng nhu mì.

– Bác sẽ sửa ngay. - Gostaham nói, tay vớ lấy cây bút.

Những phần sửa của bác rất nghiêm khắc tới nỗi hầu như chẳng còn gì trên bản thiết kế của tôi nữa. Dùng một tờ giấy mới, bác chọn và chỉ lấy một kiểu dáng mẫu hình trong đám tôi đã chọn, họa tiết hình giọt nước chè gọi là mẹ-và-con gái vì bên trong có chủ đề đó. Bác vẽ đường nét gọn gàng, thoáng rõ, dự tính cho ba khối ngang tấm thảm và bảy khối dọc tấm thảm. Tất cả chỉ có thế, nhưng đã đẹp hơn bản thiết kế của tôi nhất nhiều rồi.

Đó là một bài học buồn đau. Tôi cảm thấy như mình còn phải học hỏi nhiều hơn cả thời gian còn lại trên trái đất này. Tôi tựa lưng vào tấm thảm đệm ngồi, mệt mỏi rã rời.

Bác Gostaham cũng tựa lưng ngồi.

– Bác chưa bao giờ thấy đứa nào lại hám học như cháu. - Bác nói.

Tôi nghĩ có lẽ bác đã nói về chính mình. Vậy mà tôi cảm thấy xấu hổ; đây đâu phải là phẩm chất cần có ở đàn bà. Cái kiểu hám danh đam mê ấy, tôi biết lắm chứ.

– Mọi thứ đã thay đổi khi tía cháu…

– Thật ra đó chính là bất hạnh lớn nhất đối với cháu và bầm cháu, thím Maheen. - Gostaham từ tốn nói. Có thể chưa chắc đã dở khi cháu sao nhãng chính mình để học hỏi.

Tôi thì hơn cả mức sao nhãng trong tâm trí.

– Cháu hy vọng nếu bác cho phép, cháu có thể làm tấm thảm mà bác thiết kế để dùng làm của hồi môn, … khi cháu cần được không ạ?

– Đó không phải ý kiến dở. - Gostaham nói. - Nhưng cháu sẽ làm thế nào mà có được len?

– Cháu phải vay tiền. - Tôi đáp.

Gostaham cân nhắc một lát.

– Mặc dầu chuyện này đơn giản so với những tấm thảm ta làm ở xưởng dệt hoàng gia, nhưng chắc chắn đáng giá hơn rất nhiều lần so với chi phí mua len.

– Cháu sẽ chăm chỉ . - Tôi nói. - Cháu hứa cháu sẽ không làm bác thất vọng.

Gostaham nhìn tôi chăm chăm, một lúc lâu bác không nói gì. Bỗng thình lình, bác nhảy dựng lên từ tấm thảm như bị thất thần.

– Cái gì đấy ạ? - Tôi phát hoảng hỏi.

Gostaham thở mạnh một hơi, ngồi trở lại vào chỗ.

– Thoáng một lát, - Bác nói - Bác có cái cảm giác cực kỳ lạ lùng là bác đang ngồi cạnh chính bác hồi còn trai trẻ.

Tôi mỉm cười, nhớ lại câu chuyện bác đã kể.

– Anh chàng đã biếu không món đồ quý nhất của mình cho quốc vương phải không ạ?

– Chính là gã đó.

– Nếu là cháu thì cháu cũng làm như thế.

– Bác biết lắm chứ. - Gostaham nói. - Và thế là như một vật hiến tế cho tất cả những vận may ập đến cửa nhà bác. Bác sẽ cho phép cháu là thảm. Sau khi xong, cháu có thể giữ lại những gì cháu kiếm được sau khi trả lại bác tiền len. Nhưng cháu phải nhớ rằng cháu vẫn phải chịu trách nhiệm làm việc nhà với bác gái Gordiyeh đấy nhé.

Tôi cúi phục mình hôn chân bác trước khi tôi đi kể với bầm tin mừng đó.

* * *

Naheed không phải lo lắng về chuyện phải tự làm lấy cho nó của hồi môn, nhưng nó lại có những vấn đề riêng của nó. Khi nó gõ cửa nhà Gostaham và mời tôi đến nhà nó chơi, tôi đã biết chính xác nó muốn làm gì. Thỉnh thoảng tôi đến nhà nó và tiếp tục những bài tập viết chữ có nó giám sát. Những lúc khác, thay vì đi đến chỗ mà chúng tôi hẹn nhau, chúng tôi đi tắt đến khu Hình hài Thế giới và đến chỗ bờ đá gần chợ nơi Naheed lần đầu lộ mặt mình cho Iskandar. Tôi theo dõi vẻ say sưa của những người đi quanh quanh chỗ thi đấu - những người lính sạm nắng đeo gươm dài, thầy tu đạo Hồi tóc tai tả tơi tay cầm bát ăn xin, đoàn ca sĩ hát rong lê bước, mấy người Ấn Độ mang theo những chú khỉ đã được huấn luyện, có cả mấy con chiên đạo Thiên chúa sống bên kia cây cầu Julfa cũng kéo sang, mấy lái thương đến để bán hàng, mấy người phụ nữ choàng mạng đi theo chồng đến xem. Chúng tôi cố tách khỏi đám đông để làm như thể chúng tôi có gia đình quanh đây. Khi cuộc thi đấu bắt đầu, Naheed đã phát hiện ngay ra đấu sĩ bóng chày mình yêu dấu và thế là mắt cứ dán vào anh ấy như những khán giả khác dán mắt vào quả bóng, cả thân hình nó cứ dướn theo hướng anh chàng.

Iskandar đẹp trai y như chàng Yusuf, người trong những câu chuyện thần tiên mãi mãi giữ cái đẹp làm cho bao nhiêu phụ nữ mất hồn. Tôi nhớ lại một lời thơ mà bầm tôi thường hay nói “Mù lòa vì cái đẹp của chàng trai, những cô gái Ai Cập vui vẻ cắt những ngón tay của mình, để máu đỏ rỏ giọt vào những quả mận tím”. Họ cũng phải làm như thế thôi đối với Iskandar, tôi nghĩ. Tôi đặc biệt bị cuốn hút bởi cái đẹp nở trên môi của chàng. Hai hàng răng trắng bóng lấp lánh như sao trên trời mỗi khi chàng mỉm cười. Tôi tự hỏi sẽ cảm giác thế nào đây đối với một đứa con gái như Naheed, kẻ đang dành trái tim của mình trao cho một người đàn ông như vậy và để chinh phục chàng. Tôi không có được những hy vọng như thế cho riêng mình.

Một buổi chiều, chúng tôi đến quảng trường ngay trước khi trò chơi bắt đầu. tôi để ý thấy rằng mọi người đang ngóng nhìn về phía tòa lâu đài của Quốc vương với vẻ phấn kích. Bỗng nhiên, tiếng kèn của Hoàng gia vang lên và Quốc vương xuất hiện trên chiếc ban công chìa ra từ tòa lâu đài cao hơn chỗ quảng trường. Người mặc một chiếc áo choàng nhung màu xanh da trời sẫm được thêu những bông hoa vàng nhỏ, áo chẽn trong màu xanh lá cây và khăn quàng cổ có nhiều lớp dải màu xanh lá cây, xanh da trời và màu vàng. Khăn vấn đầu của người màu trắng, chính giữa có viên lục ngọc; râu của người dài và xám; và cho dù đứng ở khoảng cách khá xa tôi cũng có thể tinh mắt thấy rằng người đã bị mất hết răng.

– Ô kìa! - Tôi thốt lên kinh ngạc vì lần đầu được thấy Quốc vương. Naheed cười tôi, vì nó sinh ra ở thành phố này.

Quốc vương ngồi xuống một ngai vàng thấp đặt ở chính giữa một tấm thảm vàng xanh. Khi Người đã yên vị, quan lại trong hoàng cung ngồi quỳ xung quanh người theo hình bán nguyệt. Quốc vương giơ tay cao lên ra hiệu và trận đấu bắt đầu.

Khi tôi đã nhìn no mắt mọi người qua những kẽ mạng che mặt, tôi bỏ Naheed đấy để đi xem mấy tấm thảm đang bày bán ở chợ. Tôi không khoái xem thi đấu bóng chày lắm, toàn đất, bụi, bùn mà do những con ngựa đá hất lên vào mặt, và mọi người thì rướn mình lui tới để được nhìn cho rõ hơn, rồi hò hét cổ vũ đội mình ưa thích. Tôi đi kiểm tra xem tấm thảm mà tôi đã làm còn đó hay không và phát hiện rằng tấm thảm đó không còn treo ở trong cửa hàng ấy nữa. Người lái thương bảo với tôi rằng một người nước ngoài đã mua tấm thảm đó. Khi tôi quay trở lại chỗ Naheed để thông báo với nó về tin tức ấy, phản ứng của nó cụt là cụt lủn. Nó đang đeo mạng che mặt và mũ nên không ai nhận ra nó, ấy nhưng nó không nên đứng ở đó, và khi người ta thấy nó đứng một mình thì còn tồi tệ hơn. Nó cần có tôi ở bên cạnh.

Naheed quay trở lại với cuộc chơi bóng chày. Nó hy vọng một tín hiệu của Iskandar, mặc dù quảng trường đầy ắp khán giả. Làm sao mà chàng có thể nhận ra hình dáng bé nhỏ của nó trong đám hàng trăm người phụ nữ khác cơ chứ? Nó đang đứng ở chính cái góc nơi mà nó đã để lộ mặt cho chàng thấy. Buổi chiều hôm ấy, chúng tôi thấy chàng ghi được ba bàn trong một hiệp và làm cho khán giả phát rồ lên vì sung sướng. Sau khi kết thúc trận đấu, người ta gọi tên ầm lên và chàng phi ngựa tới từng góc sân, chào đám đông. Khi chàng đến gần chỗ chúng tôi, chàng sờ tay vào thắt lưng và rút ra một quả bóng bằng da và tung vào không khí. Bóng bay cao lên và rơi thẳng vào cánh tay đang dang rộng của Naheed. Nó trông như thể là giao tú cầu, như trong chuyện thần tiên quả bóng bay thẳng tới chỗ nó.

Chúng tôi nán lại lúc các cầu thủ bóng chày được người ta chúc mừng và đám đông thưa dần. Naheed vẫn giữ quả bóng trong lòng bàn tay. Sau một lát, một cậu bé con sún răng xuất hiện phía trước mặt chúng tôi và chìa ra một mảnh giấy cậu giấu trong tay áo. Naheed cầm tay cậu bé một cách kín đáo và lướt ngón tay vớ lấy lá thư thả vào ống tay áo mình trước khi thưởng cho nó một đồng xu. Sau khi giấu quả bóng da dưới lớp áo của mình, nó chìa tay túm lấy tay tôi qua ống tay áo và chúng tôi bắt đầu đi về. Nó bóc lá thư khi chúng tôi đã đi xa đám đông, và tôi ngó nhìn qua vai nó, lòng ước ao có thể đọc hiểu được.

– Thư nói gì đấy hả cậu? - Tôi hỏi một cách sốt sắng.

– Chỉ có mỗi một dòng chữ, viết thì loắng. - Nó nói - “Trong đám đông hàng ngàn con người này, anh thấy không ai rực rỡ như em, ngôi sao chói sáng nhất trong trái tim anh” thư kết bằng dòng: Kẻ tôi đòi đang yêu của em, Ký tên Iskandar.

Tôi không thể nhìn được mặt Naheed, vì mặt nó được che kín hoàn toàn đằng sau mũ và mạng che mặt, nhưng tôi có thể nghe thấy chất giọng phấn khởi của nó.

– Có lẽ số phận của cậu và chàng đã bén quện với nhau rồi. - Tôi nói với nó vẻ kinh ngạc.

– Tớ phải biết chứ nếu chuyện ấy có thể. - Naheed nói. - Chúng mình hãy đến chỗ bà Kobra xem bói đi!

Kobra là một bà hầu già của nhà Naheed, người trong khu xóm biết đến bà về những lời bói toán chính xác. Bà hầu già gợi nhớ cho tôi một số bà già trong buôn của tôi có thể nhìn lên bầu trời hoặc một nắm hạt đậu và bói được lúc nào tham vọng của bạn thành đạt. Da của bà sạm nâu màu chà là, và những nếp nhăn rất đẹp trên trán và má của bà làm bà có vẻ mặt khôn ngoan.

Naheed mời Kobra vào phòng riêng của mình một lát sau khi chúng tôi trở về đến nhà, và bà già đến liền, mang theo hai cốc cà phê và mời chúng tôi uống, mọi thứ im re. Chúng tôi uống ực luôn để cho bà già có thể bói từ chỗ cà phê thừa còn lại trong cốc. Đầu tiên bà già ngắm nghía cốc cà phê của Naheed và mỉm cười, hở cả hai hàng lợi hầu như chẳng còn chiếc răng nào. Bà già bắt đầu mô tả chuyện nhân duyên của Naheed với một chàng trai trẻ đẹp trai có nhiều tiền và một cơ thể khỏe mạnh như người anh hùng Rostam, một sự kiện theo sau đó tất nhiên là rất nhiều trẻ con ra đời không sao đếm xuể.

– Cháu sẽ phải mất rất nhiều thời gian chơi vơi đấy! - Bà nói.

Lời tuyên đoán chính xác điều mà cô bé của bà muốn nghe làm cho tôi phân vân về sự thật của nó.

Đến lượt tôi, bà Kobra ngắm nghía nhìn cốc cà phê của tôi một lúc rất lâu. Mấy lần, bà chợt định nói gì đó, nhưng rồi bà lại ngắm nhìn vào cốc cà phê lần nữa cứ như thể là thông điệp của nó có vẻ rắc rối lắm đây.

– Nó nói lên điều gì đấy? - Naheed nhắc.

Cúi nhìn xuống đất, Kobra lẩm bẩm rằng tương lai của tôi cũng y như của Naheed. Rồi thì bà già vơ lấy hai cái cốc và đi nhanh ra khỏi phòng, tuyên bố rằng bà có việc phải làm.

– Quái lạ thế. - Tôi nói. - Vì sao bà ấy không nói thẳng ra điều mà bà ấy đã thấy?

– Bà ấy nói rồi còn gì.

– Làm sao mà tương lai của tớ lại cũng giống tương lai của cậu được?

– Sao lại không. - Naheed nói. - Chính cậu, cũng có thể, cưới được một người đàn ông trẻ tuổi đẹp trai và có nhiều con cái.

– Nhưng nếu chuyện đơn giản như thế, vì sao bà ấy lại có vẻ sợ sệt?

– Ôi đừng để ý đến bà ấy. - Naheed nói. - Bà ấy già rồi. Bà ấy có thể cần phải đi vệ sinh.

– Tớ e rằng ngôi sao chổi quái quỷ vẫn còn đeo bám cuộc đời tớ. - Tôi thất vọng nói. - Có vẻ như là Kobra nghĩ rằng tương lai của tớ là một số phận đen tối!

– Chắc chắn là không phải thế đâu. - Naheed nói.

Nó lại cho gọi bà Kobra trở lại và hỏi bà nói thêm nữa cho chúng tôi biết về những gì bà ấy đã thấy. Bà Kobra chắp cả hai tay vào ngực mình, tay này chồng lên tay kia.

– Chẳng có gì hơn nữa mà bà có thể hiểu được từ cốt nền đấy. - Bà phản đối. - Nhưng bà có thể kể cho các cô một câu chuyện cổ bỗng chốc sực đến với đầu óc bà lúc bà nhìn vào những cái cốc, mặc dù bà không biết nó có ý nghĩa gì.

Naheed và tôi ngồi ngay ngắn xuống đệm và lắng nghe câu chuyện của bà Kobra.

Ngày xưa có một hoàng tử mà giấc ngủ của chàng đêm nào cũng bị quấy rối. Trong những giấc mơ, chàng trông thấy hình ảnh của một cô gái đẹp như trăng rằm. Mái tóc cong làn sóng của nàng ốp lấy khuôn mặt trắng như sữa. Dưới làn áo chẽn bằng lụa hồng, những nét đẹp nữ tính của ngực nàng hằn rõ như những quả dưa. Lúc hoàng tử ngủ mê sâu, chàng có thể thấy rằng nàng đang khóc, dang rộng cánh tay của mình lên bầu trời thể hiện thất vọng và vô nhân cứu giúp. Hoàng tử tỉnh dậy mồ hôi nhễ nhại, vì chàng không thể chịu được cảnh nàng đau khổ. Chàng ước mong được giúp nàng, nhưng trước hết chàng phải tìm thấy nàng ở đâu đã.

Một hôm hoàng tử lên đường ra trận đánh nhau với một tên chúa đất hay gây hấn hung dữ, y thường cướp bóc lữ khách hành hương khi họ mượn đường vượt qua cái cầu trong lãnh thổ của y. Hoàng tử và binh lính của mình đi qua chiếc cầu đó và bố trí phục kích, rồi đánh nhau với chúa đất và đội quân của y nhiều giờ liền giữa trưa nắng mặt trời. Đến một lúc, tên chúa đất xọc được mũi gươm vào một trong những người cận vệ thân tín của hoàng tử trước khi hất xác người đó xuống cầu. Gầm lên trong cơn giận dữ, hoàng tử nhảy bổ vào tên chúa đất, thề quyết trả thù cho người bạn mình. Hai người đấu gươm ác liệt, nhưng hoàng tử khỏe hơn và chàng đã đánh bật vũ khí khỏi đối thủ, đè y xuống đất và ngồi lên ngực mặc giáp trụ của y. Rồi chàng rút con dao găm định kết liễu đời kẻ vừa ném xác người bạn thân nhất của mình qua chiếc cầu rơi như chiếc lá xuống dòng sông kia.

– Hãy khoan! - Tên chúa đất cất tiếng kêu lên. - Ngươi không biết ta đã giết hại gì.

– Tất cả mọi người đều cầu xin tha mạng vào những giây phút cuối đời. - Hoàng tử nói. - Nhưng mày thì sẽ phải cầu xin Chúa Trời thôi. - Hoàng tử giơ cao con dao găm.

– Ít ra, ngươi hãy để cho ta cởi bỏ mũ áo giáp để ngươi có thể nhìn thấy ta là ai đã chứ.

Tên chúa đất vất bỏ mũ sắt, lộ ra một khuôn mặt mịn màng như con gái, tóc dài màu đen lượn sóng.

Hoàng tử kinh ngạc.

– Thật đáng tiếc cho một kẻ tuổi còn non và tuyệt đẹp như nhà ngươi sớm trở thành cát bụi! Ngươi đã chiến đấu rất quyết liệt, và ta cứ ngỡ rằng ngươi chắc hẳn phải là một gã đàn ông trưởng thành.

– Ta thậm chí chưa hề nhé. - Chúa đất nói. Y lột bỏ tấm giáp ngực, tuốt ngược chiếc áo chẽn lót bên trong ra, lộ bừng một eo bụng săn chắc và đôi bồng đào tuyệt đẹp như những nụ hồng chói chang ánh nắng, ôi chao ôi.

Chiếc dao găm của hoàng tử run rẩy và rơi xuống. Ham muốn giết người không còn nữa và thay vào đó là ham muốn tình dục. Chàng cúi xuống và hôn luôn vào đôi môi tuyệt đẹp của người con gái trẻ.

– Chuyện gì đã buộc ngươi phải mặc áo giáp ra trận?- Hoàng tử hỏi.

Khuôn mặt người con gái rắn sắt lại tới mức nàng lại trông giống như một chiến binh.

– Cha ta là một chúa đất, người đã nuôi dạy và luyện tập cho ta trở thành chiến binh. Sau khi cha ta bị hạ sát, ta đã thay cha tiếp tục nuôi dưỡng đội quân của người và bảo vệ lãnh địa của người.

Trong mấy ngày tiếp sau, hoàng tử hiểu biết thêm và cảm thấy ngưỡng mộ nữ chiến binh dữ dội trẻ tuổi này. Nàng có thể cưỡi ngựa giỏi như chàng, có thể đọ gươm với chàng đến lúc toát mồ hôi, và có thể chạy thi với chàng dốc ngược lên đỉnh đồi. Cơ bắp của nàng cứng chắc, và nàng nhanh thoăn thoát như một chú sơn dương. Nàng không giống một chút nào như người con gái mà chàng thường mơ mộng thấy, nhưng chẳng bao lâu chàng đã phải lòng nàng, và cưới nữ chiến binh làm vợ. Sau một năm hạnh phúc, hoàng tử đó lại bắt đầu bị những giấc mộng kia quấy rối. Người con gái đẹp như ánh trăng kia cứ đêm đêm lại xuất hiện trong giấc mơ, quỳ gối trước chàng, đầu cúi xuống, cứ như thể là số phận của nàng còn khắc nghiệt hơn. Một buổi sáng, sau một đêm rắc rối vì mộng mị, chàng hôn tạm biệt người vợ chiến binh của mình để lên đường.

– Chàng đi đâu vậy? - Người nữ chiến binh cự nự hỏi.

– Ta phải đi tìm kiếm một người. - Chàng nói. - Có thánh Ala chứng giám, chúng mình rồi sẽ lại bên nhau.

Chàng nhảy lên lưng ngựa và phóng đi không hề ngoái lại đằng sau để ngắm nhìn nét vẻ trên khuôn mặt vợ chàng.

Hoàng tử đi mãi, đi mãi hàng tháng trời, miệng miêu tả những gì mà chàng nhìn thấy trong mộng với bất cứ những ai biết lắng nghe, chỉ để được nghe thấy một câu trả lời “Chẳng có ai giống như thế trong thành phố này đâu”. Cuối cùng chàng đến được một thành phố lớn nơi người ta không thèm trả lời câu hỏi ấy của chàng nữa, và hoàng tử biết rằng chàng đã đến đúng nơi. Khi đêm đến, đó là một đêm trăng rằm, chàng lặng lẽ bước đến tòa lâu đài và náu mình bên ngoài tường thành. Chẳng mấy chốc, chàng đã nghe thấy một tiếng rên rỉ đau khổ. Chàng bám móng tay leo lên bức tường lâu đài, nhảy vào phía bên kia êm nhẹ như một con mèo và nhìn thấy cô gái mà trái tim chàng bấy lâu nay hằng mong đợi. Nàng đang quỳ trên một mái nhà, đôi cánh tay dang rộng chỉ lên hướng thiên đường, cả thân mình nàng đang run lên khóc thổn thức. Làn tóc đen lượn sóng của nàng lấp lánh trong ánh trăng, và bầu ngực căng tròn kia làm cho hoàng tử lòng tràn đầy khao khát. Chàng gọi nàng từ chỗ đứng ở tòa lâu đài.

– Hỡi kiều nữ đau khổ kia ơi, đừng để mây trời than khóc nữa. Ta vừa tới để giúp nàng đây.

Công chúa cô đơn của tòa lâu đài ngửng đầu lên và nhìn quanh, kinh ngạc.

– Hãy kể cho ta ngọn nguồn đau khổ của nàng, và ta sẽ đập tan nó, - Hoàng tử nói - Cơ bắp của chàng rung rung đầy cảm khoái với ý nghĩ đó.

– Chàng là ai vậy? - Nàng hỏi đầy vẻ nghi ngờ.

Hoàng tử tự bước ra giữa ánh trăng soi rọi, kể về gốc gác của mình và những chiến công của gia tộc mình và nhắc lại ham muốn giúp nàng công chúa thoát khỏi nỗi phiền muộn.

Nàng lau nước mắt:

– Một cung nữ của thiếp đã chế ngự đôi tai của vua cha rồi. - Nàng nói. - Ban ngày nó phục vụ thiếp; ban đêm nó ôm ấp cha thiếp. Đứa cung nữ này còn đe dọa sẽ nói với cha thiếp rằng thiếp đang cùng với quốc sư mưu đồ nổi loạn phản lại người. Thiếp đã phải cho nó tất cả đồ nữ trang và tiền bạc của mình. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu như cha thiếp tin vào những lời dối trá của nó? Thiếp sẽ bị lưu đày vĩnh viễn hoặc bị hành hình.

Vị hoàng tử kia liền leo lên mái nhà và đề nghị đưa cô gái đi. Chàng bày tỏ mối tình đã từng tồn tại dai dẳng mãi trong những giấc mộng của chàng qua nhiều năm nay, chàng hứa đối xử với công chúa đàng hoàng bằng cách cưới nàng. Họ cùng nhau bỏ trốn khỏi thành phố trên lưng một con ngựa và ngay lúc họ đến được một chỗ trú chân, hoàng tử đã cưới cô công chúa dưới mục kiến giáo pháp của một mục sư đạo Hồi. Hai người cùng nhau thưởng thức đêm đầu tiên của một người đàn ông và người vợ trong một chiếc xe ngựa kéo dành cho những bậc đế vương. Công chúa chính y như cô gái mà hoàng tử đã mường tượng, ngực tròn và thơm chín như quả đào hạ chí. Thế là cuối cùng, giấc mơ bao nhiêu năm của chàng đã được đền đáp.

Hoàng tử đưa cô dâu mới về ngôi nhà của người vợ cả, người nữ chiến binh, làm cô này tức nghiến răng nghiến lợi với người mới được nhập gia. Ấy nhưng, cả ba người vẫn cùng nhau trở về ngồi nhà của người cha hoàng tử. Sự thể đã thay đổi rất nhiều kể từ ngày chàng ra đi. Chàng bây giờ đã là một người đàn ông có vợ, một chiến binh đã qua trận mạc, chứ không còn là kẻ chỉ mơ màng tưởng tượng tới những cuộc chinh phạt dường như không bao giờ thực hiện được của những năm trước đây.

Vua cha của chàng mời hoàng tử ăn một bữa tối thịnh soạn mừng ngày trở về. Người nữ chiến binh vợ chàng mách với chàng hãy cẩn thận đừng ăn những gì mà người ta mời. Chàng nghe theo lời khuyên của nàng và cho một con mèo của vua cha xơi khẩu phần ăn của mình, con mèo ngay lập tức quằn quại và lăn ra chết. Vua cha của chàng hoàng tử, kẻ đã dã tâm muốn chiếm đoạt người nữ chiến binh kia làm vợ riêng, đã ra lệnh cho bọn cận thần móc hai mắt con trai mình và quẳng hoàng tử ra ngoài sa mạc.

Bị bỏ lại một mình ngoài sa mạc, hoàng tử lang thang nhiều giờ, đôi bàn tay ôm giữ lấy con ngươi mắt mình, thậm chí không thể khóc được nữa. Khi chàng nghe thấy tiếng suối nước chảy, chàng phải đập đập tay lên mặt đất cho đến khi cảm thấy chỗ đất thấm nước ẩm. Chàng uống cho no và ngồi xuống nghỉ. Lá cây rơi xuống người chàng, chàng vò nát những cánh lá trong lòng bàn tay và cọ vào hốc mắt mình, để đỡ đau thôi. Đôi mắt ngay lập tức hết đau. Hoàng tử rút trong túi ra từng cái mắt và nhét mắt vào hốc mắt mình. Chàng lại có thể nhìn thấy!

Hoàng tử quay trở về thành phố. Ở ngoại ô thành phố, chàng gặp có một trận ác chiến dữ dội. Thậm chí từ xa, lẫn trong đám lính mặc giáp trụ, chàng cũng nhận ra dáng hình nhỏ bé của người nữ chiến binh yêu thương của chàng, với thanh kiếm múa như bay trong không khí chém giết không hề thương tiếc. Thét vang lên một tiếng hò xung trận, chàng nhập cuộc vào trận đánh bên nàng và đập tan tành đội quân của vua cha.

Khi trận chiến kết thúc, hoàng tử và nữ chiến binh quay trở lại thành phố. Chàng trở thành quốc vương và đặt cho mỗi người vợ của mình ở một dinh thự riêng, luôn đảm bảo rằng chàng đến với họ công bằng và cho họ những món quà như nhau. Khi ở bên người vợ thứ nhất chàng cùng đi săn, cùng luyện tập và cùng đàm luận về những mưu đồ chiến trận; ở với người vợ thứ hai chàng cùng nàng khám phá nghệ thuật yêu đương và sống mãn nguyện cho đến những ngày cuối đời.

Khi bà Kobra kể hết câu chuyện, Naheed và tôi cả hai đều im lặng. Kobra đứng dậy và quay về với công việc của bà.

– Chuyện lạ lùng thật. - Tôi nói. - Tớ chưa bao giờ từng nghe một câu chuyện như thế bao giờ.

– Tớ cũng thế. - Naheed nói. - Hoàng tử có thứ bùa gì mà lạ thế, chàng được mọi thứ mình muốn!

Nó ngáp dài và duỗi thẳng cẳng nằm nghiêng trong một đống đệm dẹt, tay chống vào một bên má. Tôi cảm thấy rằng Naheed đang tự cho mình có số may mắn như hoàng tử. Tôi buồn bã nhớ lại tôi cũng cùng cảm giác đó với câu chuyện có một công chúa đã chối bỏ thẳng thừng tất cả những người làm mai mối cho mãi đến lúc đúng người đến ve vãn được nàng.

Đối diện với Naheed, tôi cũng nằm duỗi thẳng cẳng trên đệm, mặt đối mặt với nó, tay cũng chống vào má đối diện với thế nằm của nó.

– Cậu có nghĩ rằng anh chàng hoàng tử đó nói với người vợ thứ hai của mình rằng chàng đã có vợ không? - Naheed hỏi.

– Tớ hy vọng là có.

– Tớ ghét cái kiểu đó. - Vẻ cáu giận, Naheed nói.

– Ghét thân phận vợ hai à?

– Hay là vợ ba, vợ bốn thì cũng thế. - Nó nói. - Cha mẹ tớ sẽ không bao giờ để chuyện ấy xảy ra. Tớ sẽ phải là vợ đầu tiên hoặc chẳng là gì hết.

– Đó là cách duy nhất rất hay khi người ta đến từ một gia đình bình dân. - Tôi nói. - Đa số những người cầu hôn chỗ tớ không thể đủ tiền để kiếm vợ hai, thậm chí vợ hờ cũng khó.

Naheed dướn đôi lông mày của nó lên:

– Những người đàn ông giàu có dường như luôn muốn lấy vài bà vợ. - Nó nói. - Chồng tớ mà cưới một người đàn bà khác thì tớ nghĩ rằng tớ sẽ làm cho con bé đó khốn khổ khốn nạn cho mà xem.

Nụ cười mỉm của nó có nét cay độc.

Tôi nghĩ về những chuyện đã xảy ra trong gia đình mình.

– Sau khi ông nội tớ lấy vợ hai, ai là bà nội của tớ, hai gia đình sống tách xa nhau, tía của tớ và bác Gostaham hầu như chưa bao giờ gặp mặt nhau. - Tôi nói. - Nhưng đôi khi, sự việc lại không như vậy. Khi một thương gia giàu nhất buôn làng tớ lấy một cô gái trẻ hơn làm vợ hai, bà vợ cả ghét cô gái ấy đến kinh tởm. Nhưng rồi bà ấy bị ốm, và người vợ trẻ kia chăm sóc bà ấy rất tốt đến ngày hai người trở thành những người bạn rất thân với nhau.

Naheed nhún vai:

– Thề có thánh Ala, chuyện ấy sẽ không bao giờ xảy đến với tớ.

– Tớ cũng không muốn san sẻ chia bôi tình yêu như thế. - Tôi nói. - Nhưng chúng mình không biết chuyện gì đã xảy ra đối với những người vợ trong câu chuyện kể của bà Kobra. Bà đã không kể cho chúng mình nghe phần đó.

– Bởi vì câu chuyện không phải thực sự là chuyện hai người vợ ấy. - Điều mà đàn ông họ muốn không phải là một nữ chiến binh để cùng nhau cưỡi ngựa, mà là muốn cưỡi đệm thịt trên giường có phải không nào?

Chúng tôi cùng nhau cười phá lên, tự biết rằng mình kém diễn tả sự việc bằng ngôn ngữ khi chỉ có hai đứa với nhau.

Thế là tôi ở chơi với Naheed lâu hơn thời gian dự định. Vì lúc ấy đã tối rồi, cô bạn cứ nằng nặc đòi một chị hầu gái đưa tôi về. Khi về đền nhà, chị hầu gái đưa cho tôi một gói to, nói rằng đó là quà. Đó là một chiếc áo choàng bằng vải bông màu nghệ đỏ, có bao đỡ ngực để mặc luôn sát người, và chiếc quần nữ mà trông mới như chưa có ai mặc vào bao giờ. Một thứ long lanh nhất là chiếc áo choàng mận tím dày dài đến gối, có lông ở chỗ cổ tay, quanh đường viền, và chỗ đệm ngực. Tôi nhảy cẫng lên vì quần áo đẹp, và khi tôi chìa áo quần ấy cho bầm xem, bầm cho phép tôi thôi không phải vận đồ tang nữa, mặc dầu bản thân bầm thì đã có kế hoạch mặc đồ đen suốt quãng đời còn lại của bầm. Tôi sung sướng quá đi mất; tôi không thể nào tin được vận may của mình có Naheed là bạn.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 17.09.2018, 16:32
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35161
Được thanks: 5242 lần
Điểm: 9.59
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tâm lý XH] Máu của Hoa - Anita Amirrezvani - Điểm: 10
Chương 3

(1)


Tôi tỉnh dậy vào một buổi sáng mùa hè, sau khi chúng tôi đã sống ở thành Isfahan được nửa năm, đầu óc nghĩ đến một câu thơ mà bầm tôi thường ngâm nga, về một người thương yêu má rực rỡ như những đóa hoa hồng, tóc đen như than chì và núm đồng tiền vẻ đẹp kiêu sa kề bên đôi môi màu ngọc đỏ.

Hãy nhìn khuôn mặt người yêu,

Chính là anh đấy nét nhiều trong gương.

Người tôi yêu không phải là anh chàng chơi môn bóng chày trên lưng ngựa giỏi, cũng không phải một quốc vuơng già, cũng không phải hàng ngàn khuôn trang của những chàng trai mặt búng ra sữa, thường hay tụ tập trên những cây cầu của thành Isfahan, hút thuốc lá trong những quán cà phê, lang thang quanh quất ở khu Tứ Vườn. Người tôi yêu thật là khó biết, đa dạng lắm chứ, hoành tráng lắm chứ: đấy chính là cái thành phố này. Hàng ngày tôi bật dậy khỏi giường, mong ngóng khám phá. Không có đôi mắt nào lại có thể khao khát hơn đôi mắt tôi , vì đôi mắt tôi đã ghi nhớ những chái nhà, những con người, những muông thú trong buôn làng tôi và giờ thì tôi chỉ mong được nhìn những thứ gì mới lạ.

Những câu cầu của thành Isfahan chính là điểm khởi đầu hoàn hảo. Từ đó, tôi có thể nhìn thấy rõ những chỏm núi của rặng Zagros hùng vĩ, con sông xô nước chảy phía dưới chân tôi, và những mái vòm của thành phố lung linh như những vì sao trong đám nhà ở màu đất. Một trong những nơi tôi ưa thích đến nhất chính là cầu Vòm Tam thập tam, điểm đầu tiên tôi nhập địa thành phố này. Đứng dưới một trong ba mươi ba mái vòm của cầu, tôi tha hồ ngắm nhìn dòng người vào ra thành Isfahan. Một số người thì đến từ vùng Vịnh, có làn da đen như dầu lửa bóng, những người khác đến từ miền đông bắc có gốc gác Mông Cổ, đặc trưng bằng đôi mắt xếch và tóc thẳng màu đen. Đôi khi tôi còn bắt gặp những người du mục, chân cẳng như những khúc gỗ vì họ đi vào núi tìm cánh đồng cỏ cho đàn gia súc của họ, lưng họ địu con nhỏ.

Thành phố này cũng nuôi dưỡng cho tôi tình yêu với những tấm thảm dệt, bởi vì ngó mắt bất cứ đâu tôi cũng nhìn thấy mẫu mã. Tôi ngắm nhìn cây cối, cỏ hoa trong khu Tứ vườn và hiểu rằng thiết kế của các tấm thảm cũng là mô phỏng của vật thể thiên nhiên; bản thân quận trung tâm này đã là một tấm thảm hình vườn khổng lồ rồi mà. Cũng chính lý do đó, tôi tìm kiếm ra cho trò chơi với những con vật bày bán ở chợ: con lừa rừng đầy cơ bắp dẻo dai, con linh dương đầy khí phách, con sư tử hách dịch, mà vẽ bờm của nó thì rất khó.

– Người ta nói rằng cháu có thể vẽ được những con chiến mã hàng trăm năm trước khi chúng ra đời dưới ngòi bút của cháu. - Gostaham có lần nói.

Tôi cũng tỉ mẩn xem xét những tấm thảm được đưa về từ mọi vùng đất nước Iran, và học được cách nhận biết những nút dệt và mẫu dệt đại diện cho từng vùng. Thậm chí những tòa nhà trong khu Hình hài Thế giới cũng có điều gì đó để dạy cho tôi. Một hôm, tôi đang đi ngang qua thánh đường riêng của Quốc vương thì tôi thấy rằng những phiến đá lát gần chỗ cửa ra vào trông cũng giống như những tấm thảm của người cầu nguyện. Nó có màu chàm với những bông hoa vàng và trắng sinh động được bao quanh bởi một cánh đồng đầy những lá ba cạnh màu xanh. Tôi tự hứa với mình rằng một ngày nào đó mình sẽ học được cách làm nên bản thiết kế cũng phức tạp như thế.

Ở nhà, những tấm thảm hầu như choán ngợp những suy nghĩ của tôi. Tôi quyết tâm học được những gì Gostaham biết, và tôi chăm chỉ làm việc đêm ngày những phần việc mà bác giao cho tôi. Tôi mau chóng hoàn thành bản vẽ thiết kế sơ thảo và được bác đồng ý làm thảm. Một người thợ của bác dựng một khung dệt đơn giản trong sân nhà và tôi bắt đầu mắc sợi vào khung. Cầm tiền của Gostaham cho tôi vay để mua len, tôi ra chợ và mua sắm các loại len màu, y như là ngày xưa hồi bác còn trẻ đã làm. Tôi dự định mua những loại màu đơn giản giống những loại len màu mà chúng tôi dùng ở trong buôn làng mình, màu nâu lạc đà được làm từ vỏ quả hạt dẻ, màu tím được làm từ rễ của cây thiên thảo, màu đỏ được làm từ cánh kiến hay còn gọi là phẩm yên chi, và màu vàng được làm từ cánh hoa. Nhưng ở Chợ Lớn mới có sẵn cơ man màu sắc! Tôi mê mẩm vì nhìn thấy hàng nghìn cuộn len treo lủng lẳng như quả trên cây. Những cuộn len màu xanh da trời có đủ tông màu từ ngọc lam rực sáng như bầu trời xanh mùa hè cho đến màu xanh chàm đậm nhất. Và đấy mới chỉ là màu xanh thôi nhé! Tôi nhìn đăm đắm vào những dải len và hình dung những sắc màu khác nhau khi xếp chúng bên cạnh nhau trong một tấm thảm. Thế màu xanh lá cây nhạt có nét vàng thì sao nhỉ? Hay là màu rượu vang đặt cạnh màu xanh hoàng gia? Tôi chọn được mười hai tông màu làm đôi mắt tôi thích thú, nhiều màu sắc hơn là tôi đã từng sử dụng để dệt một tấm thảm. Tôi cảm thấy mình bị lôi kéo thiên sang những màu sáng: màu vàng tươi, màu xanh cỏ, màu da cam hoàng hôn, màu đỏ quả lựu. Cầm những cuộn len màu sắc rực rỡ về nhà, tôi móc lên phía trên khung dệt và bắt đầu vẽ thiết kế của mình bằng bột màu nước, để tôi có thể ra một bản hướng dẫn những nút dệt màu theo dự định. Tôi rất nóng lòng dệt tấm thảm này, ý thức được tầm quan trọng cần phải chứng minh giá trị của mình cho gia đình bác tôi. Trong khi mọi người khác đã đi ngủ trưa, tôi ngồi cặm cụi đan dệt, và tấm thảm mau chóng để lộ hình hài dưới những ngón tay của tôi.

Trong khi tôi mải mê cuốn hút với tấm thảm, bầm xoay sở thế nào cũng tách được mình khỏi tầm giám sát của bác gái Gordiyeh bằng cách làm thuốc thảo mộc. Thuốc thang thường rất đắt đỏ, và mặc dù bầm chưa bao giờ là một nhà bào chế thuốc lão luyện, bác Gordiyeh cũng đồng ý với lời thỉnh cầu của bầm, bởi vì bác hình như đinh ninh rằng gốc gác từ buôn làng miền núi của bầm chắc hẳn có thể giúp bầm có một quyền năng đặc biệt nào đó.

Bầm tôi cả ngày dài đi vào những vùng chân đồi của rặng núi Zagros, tại đó bầm nhặt nhạnh những loại cây thuốc, đào rễ cây thuốc lá rừng và bắt những con bọ rừng. Bầm cũng thôi miên những người bào chế thuốc ở trong chợ để dò biết thông tin về các loại thảo mộc thường dùng làm dược liệu ở thành Isfahan. Ở buôn làng tôi, Kolsoom đã cho bầm tôi một vài công thức bào chế loại thuốc chống sốt mỗi khi tôi bị ốm, bầm tôi vẫn còn nhớ những công thức này. Bầm cũng bắt đầu học về những loại thuốc chuyên trị nhức đầu và bệnh phụ khoa, và bầm đun nấu pha chế thuốc trên một bếp lửa trong sân nhà. Nước thuốc mà bầm nấu trông có màu đen và nhầy nhầy, nhưng bác gái Gordiyeh tin rằng loại thuốc đó có uy lực chữa bệnh. Mỗi khi bác gái đau đầu, bầm tôi lại cho bác một thìa chất lỏng đó để bác đỡ cơn đau và giúp bác ngủ.

Loại thuốc hay như thế này cần phải được sản xuất thật nhiều. - Bác Gordiyeh tuyên bố. Bác hứa với bầm rằng khi nào bầm chưng cất đủ thuốc cho gia đình dùng, bầm có thể bán chỗ còn lại và giữ lấy tiền để tiêu. Chuyện đó đã làm cho bầm tôi phấn chấn nhiều bởi vì giờ đây bầm có thể làm chủ một lãnh địa riêng của mình, lãnh địa mà bác gái Gordiyeh chẳng biết tý gì.

* * *

Naheed đến thăm tôi một hôm để xem tôi mặc quần áo cũ của nó trông như thế nào. Tôi khoác bộ áo và mặc quần của nó, mà bầm tôi đã phải lên gấu và khoác chiếc áo khoác màu mận chín.

– Cậu trông xinh quá! - Naheed nói. - Đôi má cậu đỏ như hoa hồng thế kia.

– Rất là vui được mặc những màu sáng sau hơn một năm tớ phải mặc bộ đồ đen. - Tôi đáp lời. - Cám ơn cậu rất hào phóng với tớ.

– Đấy là của cậu mà! - Nó đáp. - Và bây giờ tớ hy vọng tớ có thể tin cậy vào cậu. Cậu sẽ đi với tớ đến xem bóng chày chứ?

Tôi đã có kế hoạch hôm đấy đến khu Hình hài Thế giới bởi vì tôi có rất nhiều việc phải làm.

– Naheed thân yêu ơi, tớ ước gì được đi cùng với cậu, nhưng tớ có việc mất rồi. - Tôi đáp lại.

– Làm ơn đi mà! - Nó van nài. - Tớ cần cậu giúp đỡ lắm đấy.

– Thế để tớ làm xong việc của mình có được không.

– Gọi cái Shamsi vào đây. - Naheed nói với giọng ra lệnh.

Shamsi đến đội khăn vấn đầu màu da cam và đeo vòng cổ loại tràng hạt rẻ tiền mua ngoài chợ. Naheed đưa vào tay nó một vài đồng xu và thì thào rằng nó sẽ có thêm tiền nếu như nó làm việc thay cho tôi ngày hôm ấy. Con bé Shamsi bỏ đi tay lắc lắc mấy đồng xu, mặt nở một nụ cười tươi tắn.

– Tôi vẫn không muốn đi.

– Thế cậu không sợ rằng chúng mình bị người ta bắt quả tang à?

– Từ trước đến nay đã bao giờ chúng mình bị thế đâu. - Nó nói. - Thôi nào, chúng mình đi đi.

– Chỉ một lát thôi nhé. - Tôi nói mặc dù tôi cảm thấy chuyện cùng đi như thế này có gì đó không ổn.

Chúng tôi lẻn ra ngoài lúc bác gái Gordiyeh không để ý.

Mục đích của Naheed lần này là đưa một lá thư cho Iskandar thể hiện tình cảm của nó với chàng. Nó không đọc thư ầm lên, nói rằng nó muốn đôi mắt đầu tiên được đọc thư của nó phải là của chàng. Lá thư thú nhận tình yêu vĩnh cửu và lòng ngưỡng mộ đối với chàng bằng giọng rất tình cảm nghe như thơ ca, nó nói. Tôi biết rằng những nét chữ thanh nhã của nó sẽ đưa những lời yêu đương của nó đến thẳng trái tim chàng. Mặt trời soi rọi không hề thương tiếc lúc chúng tôi đi đến khu Hình hài Thế giới. Bầu trời là một vòm xanh lơ không có lấy đám mây nhỏ để che những ánh nắng chói chang. Thở đằng sau mạng che mặt không khác gì hít thở lửa, và tôi toát mồ hôi ướt đẫm cả áo. Khi chúng tôi đến, trận đấu đã bắt đầu. Khán giả đang hò hét ầm ĩ hơn mọi khi bởi vì chưa bên nào ghi bàn. Bụi mù treo lơ lửng trong không khí và rơi bám vào bộ quần áo khoác ngoài của chúng tôi. Tôi hy vọng trận đấu sẽ sớm kết thúc để tôi không bị người ta phát hiện là bỏ việc đi chơi. Nhưng trận đấu cứ kéo dài mãi cho đến khi các đấu thủ mệt bở hơi tai và cuối cùng người ta phải tuyên bố là hòa.

Naheed dường như không nhận thấy rằng đội bóng chày mã đáo của Iskandar đã không chiến thắng.

– Cậu có thấy chàng thi đấu thiện nghệ không? - Nó hỏi.

Giọng nói của nó nghe thánh thót và đầy phấn khởi, mà lúc nào chẳng như thế sau khi nó xem người yêu nó thi đấu. Lúc đám đông bắt đầu giải tán, nó phát hiện thấy cậu bé của Iskandar và cẩn thận dúi vào tay cậu ta lá thư của nó và một đồng tiền.

Rồi sau đó chúng tôi quay trở về nhà, chia tay nhau ngay sau khi rời khỏi trường. Bởi vì những con ngựa đấu đã tung chân đá một làn bụi phủ lên quần áo ngoài của tôi, tôi dự định phải che giấu việc này ngay khi tôi về đến nhà, nhưng Zohreh đang đợi tôi ở ngay cổng với mệnh lệnh là dẫn tôi đến thẳng chỗ bác Gordiyeh. Chuyện này trước đây chưa từng bao giờ xảy ra. Tim tôi đập thình thịch, tôi cởi bỏ quần áo ngoài và cuộn tròn quần áo trong tay lúc tôi vào buồng của bác, những mong rằng bác gái sẽ không để ý đến bụi. Bác gái đang ngồi trên một tấm thảm và đang bôi thuốc nhuộm lên mu bàn chân của mình. Không một lời chào hỏi, bác hỏi tôi giọng cáu bẳn.

– Mày vừa đi chơi đâu về?

– Cháu đến nhà Naheed. - Tôi nói mặc dù lời nói dối cứ dấp da dấp dính ở đầu lưỡi.

– Mày không ở nhà Naheed. - Gordiyeh nói. - Tao không thể tìm thấy mày, và tao đã cử Shamsi đến nhà nó để kiếm mày. Mày không có mặt ở đó.

Bác gái vẫy tôi đến chỗ bác bởi vì bác không muốn bỏ dở việc tô móng chân.

– Mày chìa tay ra xem nào. - Bác nói.

Tôi chìa tay tôi ra một cách ngây thơ, và bác đánh vào mu bàn tay tôi bằng thanh gỗ mỏng bác dùng để tô mu bàn chân. Tôi bật ngửa người ra phía sau, tay tôi đau điếng như có lửa. Tôi đã đủ lớn khôn để không bị người ta đánh như trẻ con thế này.

– Mày nhìn quần áo mày xem. - Bác nói. - Làm sao quần áo lại có thể bẩn như thế nếu như mày ngồi trong nhà hả?

Sợ rằng sẽ lại bị đánh tôi vội vàng thú nhận.

– Chúng cháu đi xem thi đấu bóng chày mã đáo.

– Con Naheed không được phép đi xem cái trò chơi đó. - Bác Gordiyeh nói. - Một đứa con gái như nó có thể mất hết mọi thứ nếu người ta bắt đầu đàm tiếu, thậm chí cho dù nó chưa làm được điều gì.

Có một tiếng gõ cửa và một người hầu xuất hiện báo là mẹ Naheed đến. Bà Ludmila bước vào phòng trông sầu muộn cứ như thể bà vừa bị mất một đứa con duy nhất.

– Tại sao cháu có thể? - Bà nói với tôi bằng một giọng trầm đầy thất vọng nghe thậm chí còn tệ hơn cái tát của Gordiyeh. Bà nói rất chậm rãi bằng tiếng Iran lơ lớ vì bà là gốc người Nga. Những gì cháu làm là rất sai trái. Cháu không hiểu một đứa con gái như Naheed có thể phải chịu đựng như thế nào nếu như bị người ta nhìn thấy ở những nơi không phải chốn của nó.

– Cháu rất lấy làm, lấy làm xin lỗi. - Tôi nói, cái tay bị đau giấu đằng sau lưng.

Cũng y như bầm và tôi, bà Ludmila là người từ nơi khác đến thành Isfahan này. Bà luôn gợi cho tôi hình ảnh một con chim thanh tú, nhảy nhót quanh ngôi nhà như thể bà không thuộc người ở đó, thậm chí sau hai mươi năm. Bởi vì những gì bà đã thấy trong những cuộc chiến tranh ở đất nước của bà, bà luôn có một ảo giác sợ hãi đối với đổ máu. Nếu như một người hầu bị đứt tay lúc chặt thịt, bà run rẩy và kiếm cớ đi nằm. Thỉnh thoảng Naheed có kể với tôi rằng trong lúc ngủ bà thét lên vì mơ thấy máu phun trào từ ngực và mắt của những người lính.

Khuôn mặt bà Ludmila trắng bệch.

Naheed bảo với bác rằng cháu rất mê môn bóng chày mã đáo và cháu thường nài nỉ nó đi xem thi đấu. Cháu như vậy là rất ích kỷ. Bác hy vọng rằng cháu hiểu được tính chất phá hoại của những hành động của cháu.

Chắc hẳn trông tôi có thoáng giật mình, bởi vì tôi không thể nào tin được rằng Naheed đã đổ lỗi của nó cho tôi. Nhưng tôi quyết định giữ im lặng, vì biết rằng nó sẽ gặp rắc rối to nếu như mẹ nó phát hiện ra lý do đã lôi cuốn nó đến xem thi đấu.

– Không phải lúc nào cháu cũng hiểu được cách sống ở nơi đô thị. - Tôi nói giọng nhu mì. - Cháu sẽ không bao giờ làm việc đó nữa.

– Để phạt mày, mày phải đi đổ cứt vào tất cả các buổi sáng, đến tất cả các phòng lấy bô cứt cho đến hết rằm tháng sau. - Gordiyeh nói.

Chuyện này cứ như thể tôi đã là người hầu hèn hạ nhất trong nhà. Để biết tình trạng nội tạng của mọi người, hàng ngày và phải đổ tất cả những thứ đồ loại thải vào một bể lớn thu gom phân và nước tiểu và rồi phải rửa sạch tất cả các bô, tôi khó có thể nghĩ tới nhiệm vụ ấy mà không cảm thấy như là mình có thể phải nôn ọe hết những gì có trong bụng.

Bác bảo tôi về phòng và thú nhận tội lỗi với bầm về những gì đã xảy ra. Bầm chẳng thương cảm tí nào.

– Bầm ơi bác ấy đã đánh con! - Tôi kêu ca.

– Vì sao con lại làm một cái điều không suy nghĩ như thế? - Bầm hỏi. - Con có thể hủy hoại thanh danh của Naheed chỉ trong một ngày, ấy là chưa nói gì đến thanh danh của chính con.

– Bầm biết rằng con có bao giờ thích bóng chày mã đáo đâu. - Tôi nói, những muốn bầm tôi đứng về phía mình - Naheed chính là đứa van nài con đi cùng với nó.

– Tại sao lại thế?

Tôi không muốn tiết lộ bí mật của Naheed, vì như thế sẽ mang lại phiền toái rất trầm trọng cho nó.

– Môn bóng chày làm nó thích thú. Cha mẹ nó giám sát quá chặt.

– Con có thể từ chối. - Bầm tôi nói. - Con hiểu biết nhiều hơn cơ mà!

– Con xin lỗi! - Tôi nói. - Con chỉ muốn hỗ trợ nó.

Bầm tôi nhẹ lời hơn.

– Bầm biết là con chỉ muốn giúp nó. - Bầm nói nhưng vì con đã sai, bầm cho rằng con phải chịu phạt mà không được kêu la phà nàn gì.

– Con sẽ chịu phạt. - Tôi đắng cay nói.

– Bây giờ con hãy đến đây.

Bầm xoa vào chỗ ửng đỏ trên mu bàn tay tôi bằng một loại thuốc làm từ mỡ cừu mà bầm tự pha chế từ công thức mà Kolsoom đã từng sử dụng. Thuốc mỡ ấy làm dịu cái đau.

– Đỡ nhiều rồi. - Tôi nói.

– Cuối cùng thì bầm cũng tìm ra được đúng loại thảo mộc - Bầm nói.

Bầm ngẫm nghĩ đăm chiêu một lát.

– Con nói thẳng cho bầm đi: có phải Naheed đã đổ lỗi của nó cho con không?

– Vâng. - Tôi nói.

– Bạn bè gì mà lại làm như thế?

– Con chắc là nó không có ý gì đâu.

– Bầm cũng hy vọng là thế. - Bầm nói giọng đanh lại.

– Chắc là nó bị bất ngờ. - Tôi đáp, nhưng ý nghĩ rằng nó đã hy sinh tôi để cứu lấy nó. Cứ làm tôi thẫn thờ mệt mỏi suốt mấy ngày liền.

Đó là lần cuối cùng Naheed và tôi đi xem thi đấu. Bởi vì hai tuần tiếp sau nó bị phạt không được phép ra khỏi nhà, cũng như tôi, tôi ở nhà, làm việc và đổ bô. Sau tất thẩy những chuyện đó, mỗi khi Naheed muốn đến chơi với tôi, một người hầu thường đi cùng với nó đến nhà tôi và đợi nó ở đó cho đến khi nó quay trở về nhà.

Thất vọng về chuyện không liên lạc được với Iskandar theo cách cũ trong thời gian chịu phạt, Naheed tâm sự với Kobra và cho tiền để nhờ nó giúp đỡ. Lần tiếp sau có một trận đấu, Kobra tự đi đến đấy và tìm đúng nơi Naheed và tôi thường đứng. Nó mang theo quả bóng chày bằng da mà Naheed đã bắt được, giơ quả bóng lên sau khi trận đấu đã tan, cậu bé nhà Iskandar khá thông minh, đủ tinh tường để hiểu rằng nó là người đưa tin của Naheed, vì ít ra đã cầm quả bóng trong tay lần đầu tiên nó gặp con bé. Từ đó trở đi, Kobra gặp cậu bé con gần chỗ chợ cứ cách vài ngày một lần và thế là hai kẻ yêu đương có thể trao đổi thư từ với nhau.

Sau khi Naheed và tôi chịu phạt xong, chúng tôi bắt đầu gặp lại nhau vào những buổi chiều thứ năm tại nhà tắm hơi công cộng mà những cư dân khá giả trong quận hay đến tắm. Để cẩn thận khỏi bị lạc, gia đình Naheed cảnh báo với nó rằng đôi khi nữ hầu sẽ được cử đi theo nó cả buổi chiều để đảm bảo chắc chắn là nó đi tắm ở đó.

Tôi đã đến cái nhà tắm hơi công cộng đó vài lần sau khi tôi vào thành Isfahan, nhưng mà đến đấy đều đặn thì rất tốn tiền, vậy nên Naheed trả tiền cho tôi. Tôi biết ơn nó, bởi vì tắm hơi là một trong những cảm khoái sung sướng nhất của chúng tôi. Chúng tôi dành cả buổi chiều ngâm mình, nói chuyện và kỳ cọ cho những người phụ nữ khác. Chính ở đó, chúng tôi được biết những tin tức về nhà nào có trẻ con mới sinh, chuyện những người già qua đời và những vụ ăn hỏi đính hôn trong khu ở, hoặc phát hiện ra rằng một bà cô nào đó đã có mang vì trông thấy bụng hơi to, hoặc mót lượm thông tin một cô dâu mới vừa mới hợp cẩn với người chồng của mình vào đêm trước, và thế là nó biến ngày đi tắm ấy trở thành một ngày đáng nhớ hơn những ngày thường.

Homa, trưởng phụ trách nhà tắm là một bà già tuyệt vời, có làn da đẹp như da của những người phụ nữ trẻ trong nhiều năm nay vì tắm hơi. Bà thường kỳ cọ cho tôi như một người bầm và bà luôn có những câu chuyện để kể về những gì sẽ đến và những gì đã đi của những người hay đến nhà tắm. Bà Homa là một người hỏi chuyện tài ba và thường thì tôi bộc toạch thông tin về mình khi tôi gần như đê mê ngâm mình trong nước nóng và được bà kỳ cọ. Cho nên, bà biết hết về cuộc đời của tôi ở nơi buôn làng, về cái chết của tía, về cái đói cái nghèo và về chuyện tất cả những thứ đó cộng lại đã hủy hoại những kế hoạch nhân duyên của tôi. Tôi thậm chí còn thì thào vào tai bà về những vất vả trong căn hộ mà tôi đang ở, và ham vọng của tôi cưới chồng vào một ngày nào đó, để có được căn nhà cho riêng mình.

– Cầu chúa ban cho con ước vọng đáng yêu. - Bà nói, nhưng đôi khi tôi nghĩ rằng tôi trông thấy trong đôi mắt của bà vẻ ái ngại.

Bà cô Homan phải xa Isfahan một vài tháng để về chăm sóc ông bác bị ốm. Lần đầu tiên tôi trông thấy bà sau khi trở về, là lúc bà đang đi vòng quanh phòng tắm hơi công cộng như thường lệ với bộ tóc trắng xõa, ngực xệ dài gần như chạm vào dải vải mỏng buộc quanh eo. Sau khi ôm hôn bà và chào hỏi hồ hởi, Naheed và tôi cởi áo choàng ra và đưa áo quần cho bà, bà ném ngay vào rổ quần áo cho gọn. Rồi thì bà cô Homan xoa lưng Naheed và kỳ bong vẩy gầu bám trên thân thể nó, rồi gội đầu cho nó, trong khi tôi nằm ngâm mình ở một bồn nước ấm của nhà tắm hơi.

Khi bà Homan kỳ cọ cho Naheed xong, đến lượt tôi, bà gọi to tên tôi. Khuôn mặt bầu và mái tóc trắng của bà được một luồng ánh sáng mặt trời soi rọi, xuyên qua từ những cánh cửa sổ hình ô van trên mái nhà tắm hơi. Khi tôi nhồng nhỗng đi ra từ chỗ tối tới chỗ vòi nước nơi cô ngồi xổm, đôi mắt của bà Homan mở to đầy ngạc nhiên.

– Làm sao cháu lại thay đổi nhiều thế này! - Bà nói.

– Mọi thứ trong thành phố này cũng khác đi nhiều quá. - Tôi lẩm bẩm.

– Không, đó không phải là ý của cô. - Homan nói. Bà lôi tôi ra chỗ ánh sáng. - Nhìn xem cháu tôi này! - Bà nói to.

Naheed ngước nhìn lên từ chỗ nó đang ngâm mình, và một vài người phụ nữ đang tắm gần đó cũng chòng chọc ngó nhìn tôi. Toàn bộ thân thể tôi lộ ra trong luồng ánh sáng mặt trời chiếu từ trên mái nhà xuống. Tôi cố gắng nghiêng mình sang phía bên sườn để tự mình che chắn, nhưng Homan không để tôi làm thế.

– Lần trước cô trông thấy cháu, cháu trông như con nhóc con. - Homan nói.

– Cháu hầu như chẳng còn những nét gì như thế ở đây nữa này. - Bà cô vừa nói vừa lấy ngón tay ấn ấn vào ti tôi - Còn chỗ này ngày trước thì làm gì có cái gì - vỗ vào hông tôi - Giờ thì này, hãy xem cái gì đã xảy ra chỉ trong có vài tháng qua!

Quả là đúng như vậy. Tôi vẫn lùn như thế, tay và chân vẫn là kích cỡ của một đứa trẻ. Nhưng từ cổ xuống hông, cơ thể tôi đã tròn lẳn theo những cách gì đó làm chính tôi ngạc nhiên. Ngực tôi, trước kia bé tẹo, giờ đây trông giống như hai quả táo tàu chín, hông tôi cong phình nở ra như quả dưa hấu.

– Lý do gì đây hả, cháu đã bí mật đính hôn rồi à?

– Không. - Tôi nói, mặt đỏ rực lên. Tất cả những gì tôi biết là tôi đã ăn nhiều thịt hơn, nhiều pho mát và nhiều bánh mỳ hơn trước đây.

– Hừ rồi cháu cũng sớm đính hôn thôi. - Bà cô nói với giọng tốt bụng bản tính tự nhiên của mình.

Homan xoay tôi đi, xoay tôi lại theo cách đó, ngắm nhìn từng đường cong. Tôi ngượng đỏ khắp cả mình. Trong cái nhà tắm hơi công cộng này, chẳng có chỗ nào mà trốn nấp.

– Cơ thể cháu tuyệt hảo như một bông hồng mới nở. - Homan tuyên bố chung cuộc. Cháu sẽ sớm được Chúa ban phước lành có một người chồng, theo ý Thánh nhân, người chồng biết nâng niu mỗi cánh hoa.

Homan bắt đầu ngâm nga một bài hát xa xưa về nhân duyên của vùng miền nam với cái giọng nghe trong trẻo, véo von như giọng sơn ca:

“Ô kìa, sơn nữ đắm mình trong khóm hoa.

Tóc lẫn trong sắc tím hoa cà,

đôi má tròn ửng đỏ,

đôi bồng đào cong cánh hoa tuy líp.

Thôi mà đừng, đừng

nghe chim hót làm chi, ơi sơn nữ.

Chàng chăn cừu kia

đang sắp cất lời ca tình khúc

cuốn hút cả hồn cô và tâm tình đi đấy.”

Một vài người phụ nữ trong nhà tắm công cộng cũng hát theo, và trước khi tôi ý thức được chuyện ấy, một nhóm phụ nữ đã đứng dậy giậm chân và vỗ tay theo làn điệu. Không biết làm gì nữa, tôi cũng bắt đầu hát theo. Những người phụ nữ kích động này khích lệ tôi cứ như thể là đang trong ngày cưới của chính tôi vậy. Lúc tôi hát, tôi đứng thẳng cao lên và quên cả ngượng ngùng.

Khi hết bài hát, lại còn nhiều tiếng cười và trêu chọc hơn.

– Ta có nghe thấy mấy chàng trai chăn cừu trẻ tuổi đẹp trai biết cách chăm sóc chiều theo lòng các bà vợ. - Một người phụ nữ vừa cười vừa nói giọng gượng gạo.

– Tại sao lại không nên làm thế cơ chứ, cả ngày đã phải chăm sóc trông nom đàn cừu rồi mà! - Một người khác ré lên.

Chính đó là món quà của bà cô Homan đã trao cho tôi để hát to chào mừng thể chất trưởng thành của tôi với tất cả những người phụ nữ có mặt trong nhà tắm hơi công cộng này, trong số họ có người hẳn đã biết thế nào là một người chồng thích hợp. Bà cô cũng cho tôi hiểu rằng tôi đã có thứ gì đó, đáng giá để chào mời.

– Bây giờ cháu là một phụ nữ như lũ chúng ta rồi. - Homan nói giọng kẻ cả xét duyệt. - Ngoại trừ một vài chuyện tỉ mẩn ấy mà, rồi cháu cũng sớm biết thôi.

Lúc những người phụ nữ trong nhà tắm hơi ngồi trở lại vào bồn tắm, bà cô lôi tôi tới sát gần mình và bắt đầu kỳ cọ lưng cho tôi bằng hòn đá kỳ. Bà ngước nhìn lên về phía Naheed với thân hình vẫn còn dài thượt gầy gò như cây cói.

– Cháu đang ăn gì thì Naheed cũng nên ăn những thứ đó. - Bà cô nói.

Naheed nhắm tịt mắt lại, nó không đáp lời. Tôi không thể nào biết là nó đang ngủ hay chỉ giả vờ.

Vì sao người ta lại cứ luôn nghĩ rằng những con gà nhà hàng xóm lại ngon thịt hơn những con ngỗng nhà ta? Thời gian còn lại của buổi chiều hôm đó đã không làm cho tôi phiền lòng về chuyện thực tế là làn da của Naheed rất trắng, mái tóc của nó rất cong, và đôi mắt của nó biếc xanh màu lục bảo.

* * *

Như một phần thưởng vì đã giúp bác dệt tấm thảm treo đính ngọc, Gostaham đã hứa cho tôi xem một tấm thảm rất hiếm và tuyệt vời, và một hôm bác dẫn tôi đến gặp bác tại xưởng Hoàng gia sau lần thỉnh chuông cuối cùng để được xem một tấm thảm được mong mỏi từ nhiều thế kỷ nay rồi. Tôi không thể tưởng tượng tới một vật báu như vậy: Những tấm thảm trong làng tôi đã được người ta sử dụng cho tới ngày chúng bị sờn trơ ra và tan biến thành bụi đất.

Tôi rảo bước qua khu Tứ vườn ngay sau lần thỉnh chuông cuối cùng. Mọi người đang túa ra từ khu Hình hài Thế giới, bởi vì lời thông báo đó đánh dấu chấm hết cho một ngày những người bán hàng rong trong quảng trường đó đã chất hàng của họ lên và sắp sửa đi về nhà. Tôi đi ngang qua một người đàn ông có một xe hàng hạnh nhân ương, cái món mà tôi rất thích. Múi quả hạnh nhân loại này mềm như pho mát, nhưng đậm vị hơn.

Tôi trông thấy Gostaham trong cửa hàng mà tôi đã thăm trước đó, cửa hàng có những khung dệt. Cửa hàng im ắng và chẳng còn người làm nào ở lại.

– Chào bác! - Tôi nói, mắt nhìn quanh - Mọi người đi đâu cả rồi bác?

– Về nhà hết rồi. - Gostaham nói. - Theo bác mau đi.

Bác dẫn tôi qua hết căn phòng này đến căn phòng khác chất đầy thảm ở những công đoạn hoàn chỉnh khác nhau.

Ở cuối đường hành lang dài chúng tôi đến một cánh cửa cài chốt có một chiếc khóa thép dày trông như một con bọ cạp. Nhìn quanh quất để đảm bảo chắc chắn không còn ai khác gần đó, Gostaham lôi ra một chiếc chìa khóa từ bộ trang phục của bác và mở khóa. Bác thắp sáng hai ngọn đèn dầu nhỏ và đưa cho tôi một đèn. Trong ánh sáng mờ ảo, tôi có thể nhìn thấy một tấm thảm lớn đang nằm trên khung dệt.

Chúng tôi cùng nhau đến gần tấm thảm, dang tay giơ đèn trước mặt.

– Nhìn cho kỹ vào nhé, - Bác nói, giơ ánh đèn sát bề mặt tấm thảm - tám người đã phải làm việc dệt tấm này gần một năm nay, và mới chỉ hoàn thành được một phần tư tấm thảm thôi đấy.

Tấm thảm đã cao bằng người tôi rồi, nhưng nó cần phải cao gấp bốn lần chiều cao của tôi khi hoàn thành. Nó có gần chín mươi nút thắt cho mỗi một tấc đường dệt, làm cho bản thiết kế chi tiết như là một bản vẽ tỉ mỉ. Những kị sĩ cưỡi ngựa trong binh phục màu xanh và màu vàng cam vải lụa, cuốn mũ vải trắng đan màu vàng, đang săn đuổi một con linh dương và một bác dê núi. Những con hổ lông màu sọc và mấy con lừa hoang đang vật lộn với nhau như là những anh em họ hàng. Một vài nhạc công đang thổi sáo. Mấy chú chim dòng thiên cầm đang rỉa lông, phô diễn những chiếc đuôi dài sặc sỡ như châu báu. Những sinh linh và hình người thật sống động, chúng chân thực như tự nhiên. Đó là tấm thảm đẹp nhất tôi đã từng trông thấy.

– Ai lại có thể đủ tiền mua một tấm thảm đắt giá như vậy cơ chứ. - Tôi hỏi.

– Đây là dành cho vị vua Ba Tư, để trang điểm cho những căn phòng riêng của người. - Gostaham nói. - Nó là biểu trưng cho tất cả những gì tốt đẹp nhất ở đất nước chúng ta: loại lụa mềm mại nhất, loại thuốc nhuộm đượm màu nhất, người nghệ sĩ thiết kế giỏi nhất và người dệt tài hoa nhất. Tấm thảm này sẽ tồn tại mãi mãi rất lâu sau khi cháu và bác, lũ con cháu chút chít của tất cả bác cháu ta đã về nơi tro bụi.

Tôi nhìn kỹ hơn vào tấm thảm, giơ ngọn đèn xa hơn một chút. Một bóng hình đang ngồi gần cây bách lọt vào mắt tôi.

– Làm sao mà họ có thể bắt được một hình người nét đến như vậy nhỉ? - Tôi hỏi.

Hình người đàn ông này vẫn chưa có gì đáng nói, mà là khuôn mặt của người đó, nó đòi hỏi một kỹ năng của một thứ bậc cao nhất - Gostaham nói - những thợ dệt thảm khác đã phải cúi rạp mình kính phục những chuyên gia khi đến lúc cần phải thắt nút dệt phần mắt của người này. Nếu không, một khuôn mặt có thể trông vô hồn trống rỗng, hoặc thậm chí lại có vẻ ác hiểm.

– Bác nghĩ thế nào về màu sắc? - Tôi hỏi Gostaham.

– Màu sắc chính là phần hay nhất trong một tấm thảm mà có thể vượt lên những tấm khác. - Bác nói với nụ cười mỉm chế giễu mà lúc đầu tôi không hiểu. Cháu hãy nhìn màu vàng lấp lánh soi rọi sáng mật độ của mẫu nền này. Hãy chú ý đặc biệt tới tông trầm; màu xanh phớt, màu be giản dị, màu xanh da trời nhạt - chúng nhấn mạnh cái đẹp của những màu sắc rực rỡ hơn, như là bác gà mái đứng cạnh tôn nền rực rỡ màu lông hoành tráng hơn của bác gà trống.

– Những cách chọn này đáng nể thật. - Tôi đáp lại. - Kiệt tác này của ai vậy?

– Của chính bác đấy. - Gostaham trả lời, và cả hai chúng tôi đều cười vang.

Sau đó, chúng tôi xem tấm thảm dệt cho Fereydoon, tấm thảm hầu như đã hoàn thành. Những nét điểm tô trong thiết kế của tấm thảm lung linh trong ánh đèn của chúng tôi cứ như thể là chúng là những viên ngọc từ đá quý thật. Gostaham đã đan móc từng nét dát ngọc đó bằng một sợi màu mảnh, như là cách thức của một người bán đá quý phân tách đá quý với vàng bạc. Tấm thảm trông rất thanh tú và có vẻ nữ tính, tôi nghĩ vậy, khi so sánh nó với tấm thảm về cảnh đi săn của vua Ba Tư.

– Nó thậm chí trông còn đẹp hơn là thiết kế của bác. - Gostaham nói, cứ như thể là chính tôi đã tự thiết kế làm ra tấm thảm đó vậy.

Sự hào phóng về lời khen của bác không biết tới giới hạn nào hết.

Khi chúng tôi rời phân xưởng, tôi cảm thấy nặng trĩu một nỗi buồn. Nếu như tôi là đàn ông, tôi đã có thể được làm việc như một thợ học nghề bên cạnh Gostaham, học hỏi tất cả những kỹ thuật mà bác đã nắm bắt quá rõ. Tôi nghĩ lại với vẻ ghen tị với những thợ dệt thảm trẻ tuổi mà tôi đã gặp trong xưởng dệt lần đến thăm trước đó. Họ có thể tận tụy cả ngày vào công việc và học tập, trong khi tôi lại phải làm việc bao nhiêu tiếng đồng hồ trong nhà bếp trước khi tôi chú ý tới công nghệ dệt thảm. Vậy mà tôi cũng biết rằng tôi có nhiều may mắn hơn nhiều cô gái, vì Gostaham cũng đã chăm sóc tới tôi và đã giúp tôi cải tiến tay nghề của mình. Vì điều đó hàng ngày tôi cảm thấy biết ơn.

* * *

Tôi trở về nhà lòng đầy phấn chấn. Gostaham đã cho tôi xem một viên ngọc quý mà chỉ có một vài đôi mắt mới được phép nhìn thấy; và chỉ một vài ngày trước thôi, Homan đã ca ngợi cái vẻ phụ nữ mới xuất hiện của tôi tại nhà tắm hơi công cộng. Lần đầu tiên kể từ ngày cha tôi dã từ chúng tôi ra đi, tôi cảm thấy lòng tràn đầy hy vọng.

Đi ngang qua sân nhà, tôi dừng lại ngắm nhìn tấm thảm của tôi và thấy được công trình của tôi trong một luồng ánh sáng mới. Thiết kế màu tương phản thật là đẹp: Gostaham đã thấy điều đó. Nhưng tôi cảm thấy lo rằng tôi chọn màu còn kém quá. Có lần tôi đã trông thấy Gostaham đang ngắm nhìn tấm thảm với một vẻ mặt kỳ cục, cứ như thể là bác ăn phải thứ gì chua loét. Mặc dầu bác vẫn chưa bình phẩm gì về cách chọn màu của tôi, bác đã nói với tôi một vài lần rằng bác sẽ giúp tôi chọn màu cho tấm thảm tiếp sau của tôi. Giờ đây, tôi mới chắc chắn mình biết lý do vì sao. Tôi đã chọn từng màu vì cái đẹp riêng của màu đó hơn là cách thức những màu đó đi cùng hòa hợp với nhau.

Vì sao tôi lại chưa đề nghị Gostaham giúp đỡ nhỉ? Tôi đã rất hăng hái để tiến bộ và cũng rất là sốt sắng phấn kích với tất cả những màu hiện có tới mức tôi đã nhảy vọt quá mức. Tôi vẫn chưa hiểu rằng một thiết kế phức tạp như vậy đòi hỏi một phương pháp cỡ bậc thầy đối với việc chọn tông phối màu. Đêm đó tôi không tài nào chợp mắt. Trong khi những vì sao vẫn còn đang chiếu lấp lánh trên trời, tôi tỉnh dậy và nhìn vào tấm thảm của mình lần nữa. Màu sắc không chỉ tồi tệ, màu sắc còn xung đột với nhau. Như có gì thôi thúc tôi muốn lột tấm thảm ra khỏi khung dệt và bắt đầu lại từ đầu.

Những cái gì đối với làng tôi cho là tốt lắm rồi thì ở đây bị người ta cười nhạo. Kể từ cái ngày chúng tôi đến Isfahan, người ta vẫn thường nhắc tôi về cái nguồn gốc hèn mọn của mình. Không giống như một đứa trẻ giàu có trong thành phố, tôi không được học đọc và học viết, không được nâng niu như một bông hoa hoặc được người ta cư xử trang nhã lịch sự. Tôi mong muốn được tỏa sáng như bất cứ ai ở vùng Isfahan này, thành phố duy nhất xứng đáng cái danh hiệu là “một nửa thế giới”. Nếu như tấm thảm đầu tiên của tôi thể hiện được cấp độ mà tôi đã học được, có lẽ tôi có thể thoát khỏi số mệnh đau khổ của ngôi sao đổi ngôi đã ám vào số mệnh tôi và đặt mình với bầm của mình lên con đường đầy hương thơm của may mắn.

Tôi chưa từng nghe tới có ai lại đi dệt lại một tấm thảm bao giờ. Tôi có thể hầu như nghe được giọng của cha tôi bảo với mình đừng làm như vậy, bởi vì tôi đã dệt xong hàng nghìn nút rồi. Nhưng rồi tôi nghĩ về việc tôi sẽ đến xưởng nhuộm Ibrahim để phát hiện ra bí mật của thứ thuốc nhuộm màu ngọc lam và làm được một tấm thảm có được ánh mắt sung sướng phấn khởi của những người lạ, thậm chí mặc dầu cha mẹ tôi lúc đầu đã không đồng ý. Tôi đã nghĩ về việc tìm cách mượn được cái bút của Gostaham và vẽ một bản thiết kế để giải quyết một vụ khó của bác, thậm chí mặc dầu bác thét mắng tôi vì động chạm vào vật dụng của bác ấy.

Lòng tràn đầy một ham muốn dữ dội, tôi đã rơi vào tâm trạng mà tôi đã vớ luôn lấy con dao sắc nhọn dùng để tỉa len và bắt đầu cắt dỡ tấm thảm khỏi khung dệt, từng sợi từng sợi một. Từng sợi len rã rời ra lúc tôi tháo nó. Hàng ngàn hàng ngàn nút dệt mà tôi đã kết móc bắt đầu rã rời ra; bề mặt của tấm thảm nhăn nhúm lại rúm ró. Khi Gostaham đến, tôi nghĩ, tôi sẽ chấp nhận lỗi của tôi trong việc chọn màu quá vội vàng. Tôi sẽ đề nghị bác giúp đỡ, và tôi sẽ làm nên một tấm thảm mà bác sẽ phải tự hào.

Trước khi ánh sáng bình minh đầu tiên đến tôi đã gỡ xong tấm thảm ra và đã bắt đầu nối sợi bông mạch chủ trên khung dệt. Gordiyeh là người đầu tiên nhìn thấy chuyện tôi đã làm. Bác gái ta đang khệ nệ bê một bình lớn đựng mứt chua bác đào từ nhà kho tới bếp thì trông thấy khung dệt trống rỗng và tấm thảm đã bị phá hủy. Bác gái hét toáng lên đánh rơi cả bình nước làm nứt bình và văng tóe mứt ra quanh chân, tạo ra một vũng nhày đỏ trông như máu. Chỉ loáng vài giây sau, tất cả những người hầu đều chạy túa vào sân nhà. Tôi đứng như trời trồng cạnh khung dệt, run rẩy.

– Điên rồi à! - Gordiyeh thét toáng lên. - Cái con này điên như thằng điên ở ngoài sa mạc, con rồ này, mày đang nghĩ gì vậy?

Mọi người đều rất choáng váng và cố hiểu xem chuyện gì đã xảy ra. Ali-Asghar ngả người sang hỏi Taghee, cậu bé giúp việc vặt, để biết thông tin. Shamsi chạy đến bên Gordiyeh để hỏi xem liệu bác gái ấy có cần sức nước hoa hồng để lấy lại bình tĩnh hay không. Chị đầu bếp ôm tay đầu cứ như thể nhà đang có đám ma. Gostaham vội vàng chạy ra sân và nhìn chằm chằm vào tấm thảm xếp nhăn nheo rã rượi trên đất trông như bị gẫy. Bác nhìn tôi, rồi lại nhìn tấm thảm, và rồi lại nhìn tôi không thể tin vào mắt mình.

Bầm tôi đến vẻ hoảng hốt, cuốn khăn vào đầu.

– Chuyện gì vừa xảy ra thế ạ? - Bà hỏi với giọng cầu khấn.

Chẳng ai thậm chí ngó nhìn bà.

– Cái con ngu đần nhà quê này. - Gordiyeh thét vào tai tôi.

Chỉ khi đó bác gái mới quay sang bầm tôi, đòi một lời giải thích, nhưng bầm tôi đứng im như người câm điếc khi bà chợt hiểu chuyện tôi vừa làm.

– Mày có nghĩ rằng mày vừa lãng phí bao nhiêu len không, bao nhiêu len hả? Và bao nhiêu công hả? Mày định cố tình hủy hoại cái gia đình này phải không hả? - Gordiyeh hỏi, xòe hai bàn tay vỗ bồm bộp vào ngực bác gái. - Chúng ta mang bọn họ vào đây, và rồi bọn họ lại cố tình hủy hoại chúng ta! Vì sao vậy? Vì sao Thánh thần lại chất đầy gánh nặng lên chúng con cơ chứ? Anh hãy nói cho tôi biết vì sao! - Gordiyeh quát hỏi chồng mình.

Giọng nói của bác gái xuyên thấu lạnh từng đốt xương tôi.

Gostaham quay sang phía tôi trong ánh mắt của bác đầy vẻ giận dữ.

– Cháu giải thích đi nào! - Bác ra lệnh.

Bác là một người mà tôi đã hy vọng để làm hài lòng. Tôi khó có thể cất lên được một lời từ cuống họng.

– Màu sắc tồi quá mà. - Tôi nói ấp úng. Tôi lấy tay che mặt đang bừng đỏ, cố gắng che giấu mình.

Gostaham đã không phủ nhận tôi.

– Mắt cô đã quá lóa sau đêm qua, chuyện thường xảy ra đối với những ai học việc mới vào nghề. Nhưng mà giờ thì cô đã hủy hoại hàng tháng công rồi đấy! Tại sao cô không hỏi tôi trước?

– Cháu thành thực xin lỗi bác! - Tôi nói giọng thì thà thì thào vì mất cả âm tiếng, vì tôi vẫn chưa lấy nổi giọng cho mình để nói. - Em đã làm ra thế bởi vì em nghĩ rằng em có thể làm được một cái tốt hơn.

– Tất nhiên là cô có thể làm được một cái tốt hơn. - Bác nói. - Nhưng vì sao cô không nghĩ rằng cô vẫn có thể bán tấm thảm thứ nhất đi và rồi làm tấm thảm thứ hai siêu hơn?

– Cái con này nó ngu thế đấy! - Gordiyeh thốt lên.

Tôi co rúm ró người lại vì lời nói đó. Họ nói đúng; tôi nên nghĩ tới chuyện đấy chứ, nhưng vì tôi đã quá phấn khích vào buổi sáng hôm ấy, bị ám ảnh bởi ý nghĩ rằng tôi có thể làm tốt hơn. Giờ đây tôi khó mà tin được tôi đã làm ra chuyện gì đây. Tôi đứng dớ da dở dẩn bên khung dệt chịu trận, thậm chí còn nhiều hơn dưới những cái nhìn tiếc của của đám người hầu trong nhà, những người này nhìn tôi đầy khinh bỉ và bực tức.

Bầm tôi quỳ xuống và đi đến hôn chân Gordiyeh, chiếc váy đen của bác gái quét lê trong mứt.

– Đứng dậy đi bà chị! - Gordiyeh nói, giọng bác gái có vẻ khó chịu.

Bầm tôi đứng dậy, bà giơ hai cánh tay ra phía trước van nài.

– Xin hãy tha thứ cho con gái tôi đi. - Bà nói. - Tôi sẽ trả tiền cho phần len bị mất. Tôi sẽ làm thêm thuốc và bán cho hàng xóm. Con gái tôi chẳng qua chỉ muốn điều gì đó để làm hài lòng mọi người. Tính nết cư xử của nó như thế, có lúc nó mất cả lý trí.

Tôi không biết được điều đó trước khi bà nói, nhưng điều đó là đúng. Tôi đứng đó cảm thấy hổ thẹn vì mình không có khả năng nhìn nhận được sự khác biệt giữa một ý tốt và một ý tồi.

– Nó mất trí à? Lý do là gì vậy? - Gordiyeh hỏi, hai tay đập thùm thụp vào ngực.

Gostaham cau mặt lại bóp tay vào nhau, cứ như thể là bác đang cố giữ mình lại.

– Hành động cẩu thả như vậy không thể bỏ qua mà không bị phạt được. - Bác nói cáu bẳn. - Từ tháng này cho đến tháng sau cháu sẽ không được rời căn nhà này. Cháu sẽ phải làm bất cứ việc gì mà bác gái sai bảo, cháu sẽ không được hé lời nếu như bác gái không cho phép.

Tôi biết là tốt hơn hết là đừng nói gì trừ phi bị hỏi một câu hỏi. Tôi vẫn giữ đôi mắt ráo hoảnh, mặt tôi nóng bừng vì bực.

– Đầu tiên thì nó đi đến chỗ chơi bóng chày mã đáo. - Gordiyeh nói. - Và bây giờ thì là chuyện này. - Vì sao người ta lại để cho những kẻ như thế trú ngụ ở đây cơ chứ? - Bác gái tiếp tục nói, cứ như thể đang tự nói với chính mình.

Bầm tôi run rẩy, nỗi sợ hãi nhất của bà là vấn đề cứ bị treo lơ lửng. Gordiyeh muốn bỏ đi nhưng không thể cử động được. Bác gái nhìn xuống hoảng hốt. Những đám mứt dấp dính đã dán chặt chân bác xuống đất. Bác gái rút chân khỏi giầy và đi chân không về phòng, mồm lẩm bà lẩm bẩm “Đồ ôn vật, đồ nhóc con, cứng đầu, đồ bướng bỉnh này!” lúc bác gái bỏ đi.

Gostaham đi theo, cố an ủi bác gái. Những người hầu bắt đầu dọn dẹp đám mứt và chiếc bình vỡ, thì thà thì thào về những thứ đồ bị lãng phí.

– Bao nhiêu là công sức. - Mụ đầu bếp Cook nói, vì chính tay mụ làm mứt.

– Khi nào thì bữa sáng mới lại ngon ngọt đây? - Ali-Asghar hỏi vu vơ một cách buồn rầu, bởi vì chúng tôi đều biết rằng Gordiyeh sẽ không mua bất cứ thứ gì nữa cho chúng tôi ăn kèm với bánh mì.

Tôi đi theo bầm tôi, đầu cúi gằm, đến khi chúng tôi đến phòng của mình.

– Đến củ khoai tây còn khôn hơn cái đầu nó. - Tôi nghe chị đầu bếp Cook nói vậy.

– Cái số kiếp nó thế. - Con bé Shamsi nói thêm.

Trong phòng tôi, bầm tôi chẳng thèm nhìn tôi hoặc chạm vào tôi, mặc dầu tôi biết bà nghĩ rằng tôi đã mất trí. Bà đội chiếc khăn của mình lên đầu và bắt đầu cầu khấn, chạm đầu vào cái bàn nhỏ bằng đất sét mà đã đặt ở dưới đất. Sau khi cầu khấn bà ngồi quỳ xuống và cầu xin giúp đỡ.

“Cầu xin Thánh thần che chở chúng con. Chúng con xin Thánh thần đừng để chúng con trở thành những người ăn mày trên phố. Con cầu khấn tới các ngài, Ya, Imam Hossein, Ya, Hazrat-E-Ali, các ngài hiểu điều đó có nghĩa như thế nào khi trở thành thánh tử vì đạo, kính xin các ngài cứu giúp con gái tôi, cháu vừa mới mắc một lỗi trẻ con.”

Tôi ước gì tôi hiểu được mối quan tâm của bầm tôi về tương lai trước khi tôi dỡ tấm thảm khỏi khung dệt. Cuối cùng khi bà kết thúc lời cầu khấn, tôi bò tới nơi bà đang ngồi, nhìn chăm chăm thẳng hướng.

– Bầm ơi, - Tôi nói chạm tay vào cánh tay bà. - Tâm nguyện này con xin bầm tha thứ. Nếu như con biết mọi người cáu giận như thế, con sẽ không bao giờ lại đưa ra một quyết định tồi tệ như vậy.

Cánh tay của bầm tôi cứng đuỗn ra, bà không nhìn vào tôi. Bà gỡ mình khỏi bàn tay tôi.

– Đã bao nhiêu lần tía của con và bầm đã bảo với con là đừng có vội vàng cơ mà? - Bà hỏi. - Đã bao nhiêu lần rồi hả?

Tôi thở dài.

– Con hiểu rồi bầm ạ. - Tôi nói.

Bầm tôi nhìn lên trần cứ như thể đang cầu xin Thánh thần trên trời cho bà một đứa con gái ngoan ngoãn hơn.

– Con không hiểu rằng con may mắn à. - Bà đáp. - Nhưng lần này, bầm chắc rằng con hết đường may mắn.

– Bầm ơi con chỉ muốn làm cho tấm thảm tốt hơn thôi mà. - Tôi vặn vẹo.

– Con có thể câm họng đi không.

Tôi quay mặt lại phía bức tường và ngồi ở đó, mắt tôi ráo hoảnh, mọi đau khổ dày vò đều lặn vào bên trong. Đáng ra tôi phải để cuộc đời này với những nhịp đập của trái tim mình giúp giảm bớt đi những nỗi khổ đau của bầm chứ. Bà đã quay lại với những lời cầu nguyện giờ đọc thì được to hơn, cứ như thể để những tràng âm thanh cầu nguyện có thể gột rửa đi sai sót của tôi.

* * *

Cái tháng mà tôi phải sống để chịu hình phạt của mình dường như rộng dài mênh mông như sa mạc. Mỗi sáng tỉnh dậy tôi bắt đầu đi thu gom và đổ những chiếc bô đầy cứt đái, làm cho tôi xanh gầy và lợm giọng. Rồi thì sau khi Gordiyeh họp với chị Cook và Ali-Asghar về nhiệm vụ cần làm, bác gái thường giao cho tôi những việc mà không có ai muốn làm. Tôi phải lau chùi sàn nhà bếp đầy mỡ, bám cặn, giặt những đồ dẻ lau bẩn thỉu trong một cái bồn và phải vắt khô cho đến khi cánh tay tôi thấy đau. Thậm chí vào những buổi chiều khi mọi người đã ngủ trưa, Gordiyeh vẫn chất đầy việc cho tôi. Bàn tay tôi trở nên khô ráp như sừng dê, tôi đổ mình xuống giường mỗi buổi tối, cảm thấy kiệt sức. Tôi cay đắng ân hận về chuyện đã làm, nhưng tôi cũng cảm thấy rằng hình phạt dành cho tôi nặng nề hơn là tội đáng phạt, và lại nữa Gordiyeh rất khoái trá được sử dụng quyền lực với tôi.

Một buổi sáng, khi tháng lao động khổ sai của tôi gần hết, một người hầu vời tôi và bầm tôi vào phòng làm việc để nghe lệnh của Gostaham. Đôi cẳng chân của tôi run run khi chúng tôi đi vào sân, bởi vì tôi chắc chắn rằng họ sắp sửa nói cho chúng tôi rằng chúng tôi không còn được chào đón trong căn nhà họ nữa. Trong phòng lớn, tôi ngạc nhiên thấy Gostaham ngồi ở chỗ danh dự gần đầu tấm thảm, cùng với Gordiyeh ngồi bên tay phải. Bác cúi mời bầm tôi ngồi cùng trên một tấm thảm đệm ở phía tay trái. Tôi ngồi một mình đối diện với họ từ phía kia của tấm thảm.

– Chị dạo này có khỏe không, thưa chị? - Gordiyeh hỏi bầm tôi, sử dụng những ngôn từ lịch lãm cho những người phụ nữ có chồng. - Sức khỏe của chị có tốt không?

Vẻ trang nhã lịch sự bất ngờ của bác gái quả là chưa ai mong đợi.

– Sao cơ ạ? Vâng, - Bầm tôi nói cố gắng bắt chước được cùng tông chất giọng lịch sự. - Tôi rất khỏe thưa bác gái, xin cám ơn.

– Còn cháu, cháu gái bé nhỏ của tôi. - Gordiyeh tiếp tục nói - Cháu có khỏe không?

Tôi sởn gai da lên, kinh ngạc vì sự đon đả này, và tôi đáp lại rằng tôi vẫn khỏe. Tôi nhìn vào Gostaham để cố hiểu ý nghĩa của cuộc gặp gỡ này. Mặc dầu thường thì có thể ngồi khoanh chân bằng tròn hàng tiếng đồng hồ mà không cử động, lưng bác thẳng đứng như khung dệt, giờ đây bác cứ phải cựa mình và co ra xếp lại cẳng chân liên tục.

Khi người ta mang cà phê đến, Gordiyeh ra dáng mời mọc trịnh trọng chuyển cà phê đến chỗ chúng tôi và mời chúng tôi ăn quả chà là uống cà phê. Một không khí im lặng kệch cỡm bao trùm căn phòng lúc chúng tôi nhấm nháp cà phê.

– Chị ạ, - cuối cùng Gostaham hướng về phía bầm tôi nói - nghĩa vụ của tôi là muốn nói với chị về lá thư tôi nhận được sáng nay từ Fereydoon, nhà buôn ngựa ấy mà, ông khách đặt hàng một tấm thảm của chúng ta cách đây vài tháng.

Bầm tôi trông ngạc nhiên, bởi vì bà mới chỉ nghe đến cái tên đó một lần trước đó, hồi tôi có kể với bà về công sức đóng góp của mình vào bản thiết kế dát ngọc tòng teng đung đưa. Giờ thì tôi lại đã làm việc gì sai trái nữa đây? Tôi tự hỏi. Có điều gì trong bản thiết kế của tôi làm ông ấy phiền lòng chăng.

– Rõ ràng là ông Fereydoon rất hài lòng với tấm thảm, cứ suy từ những gì ông ta nói sau khi nhìn thấy thảm trên khung dệt. - Gostaham nói. - Nhưng lá thư ông ta viết lại ít nhắc tới điều đấy, thực tế ra hầu như chẳng nhắc gì cả.

Tay tôi run bắn lên tới mức tôi phải đặt tách cà phê xuống vì sợ rằng cà phê sẽ tóe văng lên tấm thảm lụa, để lại vết bẩn màu nâu mà sẽ không bao giờ giặt sạch được.

– Thực sự chỉ có một điều khác mà một người giàu có như thế mong mỏi. - Gostaham tiếp tục nói. - Và đó là con gái của chị.

Bác nói bằng chất giọng thẳng thắn giống như một thương gia, chất giọng tương tự như giọng bác thường nói lúc đàm phán giá cả của một tấm thảm.

Bầm tôi giang bàn tay áp vào hai má mình.

– Lạy Thánh thần, làm gì có chuyện. - Bà nói, cách bà thường vẫn hay nói mỗi khi bà ngạc nhiên.

Gostaham đặt cả hai tay vào háng quần và điều chỉnh chỗ dây lưng cứ như thể là bác không còn chịu được sức kéo nặng của nó. Tôi thấu hiểu bác rất rõ tới mức có thể đọc được dấu hiệu bồn chồn của nỗi đau khổ của bác. Nhưng tại sao vậy? Cái gì có thể hãnh diện hơn một lời đề nghị của một người giàu có? Gordiyeh nhảy vào, không còn giấu được vẻ phấn kích của bác gái.

– Ông ấy mong muốn con gái của chị làm vợ ông ấy. - Bác gái hổn hà hổn hển nói.

Gostaham lườm dằn mặt Gordiyeh, mà bầm tôi thì lại không trông thấy. Bà nhảy cẫng lên, tách cà phê sóng sánh và suýt nữa thì văng tung tóe ra.

– Thế là cuối cùng, lạy giời ạ! - Bà kêu lên dang rộng hai cánh tay hướng lên bầu trời. - Chuyện mối lái được đức Chúa Trời gửi xuống cho đứa con gái duy nhất của tôi! Sau tất cả những gì chúng con phải chịu đựng, số phận bấp bênh của chúng con cuối cùng đã thay đổi! Cảm ơn người Đức Mohammed! Cảm ơn người Đức Ali.

Gordiyeh trông khoái trá vì thái độ sảng khoái của bà, câu đáp của bác gái lại nghe rất là tốt bụng.

– Trái tim làm mẹ như em cũng hiểu được trái tim của chị rung cảm tới mức nào. - Bác gái nói. - Ít phụ nữ lại được trời ban cho vận may như vậy, cứ y như là mưa đúng lúc nắng hạn.

– Con gái của tôi, mùa xuân của trái tim tôi. - Bầm tôi khóc thật, dang tay về phía tôi. - Ngay từ lúc sinh con, con đã mang đến bao nhiêu điều kỳ diệu cho cái gia đình hèn mọn của chúng ta. Con là ánh sáng của đôi mắt bầm.

Tim tôi bắt đầu bừng nở với bao nhiêu hy vọng. Là vợ của một người giàu có, tôi sẽ trở thành một trong những bà lớn của làng tôi, những người đã trêu chọc tôi. Vào cái năm có sao chổi, vận may như vậy liệu có hay chăng?

Khi bầm tôi bình tĩnh trở lại, bà bắt đầu hỏi.

– Làm sao Fereydoon lại biết và ông ấy lại mong muốn con gái tôi cơ chứ? - Bà nói. - Đi ra ngoài nhà này, nó luôn trùm kín từ đầu đến chân cơ mà!

Tôi giữ im lặng; điều cuối cùng tôi muốn gia đình này biết là tôi có lần đã để lộ mặt mình cho một người lạ mặt.

– Em biết bà cô Homa đã hát ngợi ca cháu nhà mình ở nhà tắm hơi công cộng. - Gordiyeh hướng tới nói với tôi. - Một trong những nữ hầu của Fereydoon tình cờ có mặt ở đó, nó đã kể cho ông ta về những nét đẹp hấp dẫn của cháu.

Tôi thở phào nhẹ nhõm, ông ấy đã chờ đợi để đưa lời đề nghị đúng lúc ông tìm ra được một lý do thích hợp. Rồi thì tôi đỏ bừng mặt, phân vân tự hỏi không biết là cô nữ hầu ấy đã mô tả tôi như thế nào lúc tôi không mặc quần áo.

Bầm tôi chắc mẩm với giả định rằng sự im lặng của tôi đã vượt quá mức khiêm tốn cần thiết.

– Khi nào chúng ta sẽ tổ chức lễ cưới? - Bà hỏi Gordiyeh. - Càng sớm càng tốt phải không ạ?

– Em đồng ý, - Gordiyeh nói - mặc dầu em không tin ông ta sẽ cần một đám cưới lớn. Con gái chị và Fereydoon chỉ cần gặp nhau cùng với thầy tế để đăng hợp.

Tôi chưa dự một đám cưới nhà giàu nào, nhưng mà ở làng tôi những đám cưới người ta tổ chức ba ngày, nếu như không nói là nhiều hơn. Nhưng Gordiyeh lại mô tả cái gì đó nghe như là ký một giao ước.

– Chị không hiểu. - Bầm tôi nói.

– Em đã cầm lời cầu hôn ở đây này. - Gostaham, chìa cho chúng tôi xem một bức thư viết trang nhã, “Đây không phải là hợp đồng cưới xin suốt đời. Đây chỉ là một khế ước ba tháng”.

Tôi đã nghe thấy từ “khế ước”, nhưng không hiểu nghĩa là gì, ngoại trừ ý nghĩa là cái gì đó rất ngắn hạn.

– Một khế ước à. - Bầm tôi nói, vẻ mặt bối rối.

– Chị biết rằng những người hành hương đến vùng Qom có thể thỏa thuận dạng khế ước một tiếng đồng hồ hoặc một đêm, nhưng những chuyện này là việc thu xếp để giải khuây. Các người muốn con gái chị cưới loại đó ư?

Gordiyeh chắc hẳn đã đọc được vẻ sầu não trên khuôn mặt chúng tôi.

– Đúng là nó sẽ không kéo dài vĩnh viễn. - Bác gái nói. - Nhưng chẳng có thứ gì trên trái đất này lại bền vững theo đúng thiết kế riêng của đức Chúa Trời. Điểm quan trọng ở đây là chuyện này sẽ mang lại lợi ích tài chính cho các người mà các người không bao giờ có thể có được ở đâu khác.

Bản năng của bầm tôi như là một người buôn bán vẫn luôn sắc bén. Bà ngồi thẳng lưng lại, một vẻ ăn thua dữ dội lóe lên trong mắt bà. Bà trông cứ y như là vào cái ngày bà bóp giá những người phụ nữ làm công.

– Bao nhiêu? - Bà hỏi giọng lạnh tanh như thép.

Gostaham mở lá thư ra và đọc to khoản tiền. Nó bằng đúng với khoản tiền mà Fereydoon đã đề nghị trả để mua tấm thảm mà ông ta đã đặt Gostaham làm. Đó là một khoản tiền nhỏ nhoi cho chúng tôi, không đủ để mua được sự độc lập của chúng tôi.

Bầm tôi chép miệng.

– Như thế chưa đủ. Một khi trinh tiết của con gái tôi không còn, ai lại muốn cưới nó cơ chứ? Nó là phải lấy được một người chồng sống được cả đời thì tốt hơn nhiều.

Gostaham trông có vẻ như sắp đồng ý, nhưng bác gái Gordiyeh nói cắt ngang:

– Cô muốn nói là cô thà gả con gái cô cho thằng con trai nhà hàng bán bánh mỳ tóc xoăn tay đầy bột còn hơn là cho một người đàn ông giàu có chăng? - Bác gái hỏi vặn. - Đừng có quên rằng khế ước có thể ký tiếp. Nếu như con gái cô làm hài lòng ông Fereydoon, ông ấy có thể muốn giữ nó mãi mãi không hạn định. Mỗi lần ký lại, ông ấy sẽ trả món tiền đã nhất trí. Ông ấy cũng có thể có quà lễ là vàng bạc châu báu đồ trang sức cho con gái cô hoặc thậm chí cả một ngôi nhà. Nếu như con bé may mắn và thông minh, cái mối này có thể mang lại cả một vận may cho nhà chị đấy.

Gostaham lại ngọ nguậy trên gối đệm, trông kém phần lạc quan đi nhiều.

– Ta cũng đừng quên rằng chuyện đó cũng có thể kết thúc rất nhanh. - Bác nói. - Bảo đảm duy nhất là ba tháng. Sau đó hoàn toàn là quyết định của ông ấy.

Gordiyeh nói với bầm tôi với giọng ngọt như mía lùi làm lời của chồng bác gái nghe dường như nhẹ hơn:

– Một cô gái đẹp và ngoan như con gái chị làm gì mà chẳng làm hài lòng được ông Fereydoon cơ chứ? Khuôn trăng như thế này sẽ chiếu rọi lên ngài suốt đêm, đêm nào cũng chiếu ấy chứ lị!

– Vâng, cháu nó sẽ làm được mà. - Bầm tôi nói. - Nhưng nếu như ông ấy thích nó như vậy thì tại sao ông ấy lại không cầu hôn đúng kiểu?

– Không được! - Gordiyeh nói. - Vợ đầu của ông ấy đã mất, vì bệnh tả làm mất luôn cả đứa bé gái. Là con trai của một thương nhân giàu có, ông ấy phải lấy một phụ nữ quyền quý để sinh được con thừa kế.

Tôi biết rằng một gái quê như tôi đây thì đâu phải là quyền quý.

– Bà cô Homa đang đi lùng một quý cô thích hợp. - Gordiyeh nói. - Nhưng tôi đồ rằng Fereydoon đang khao khát lắm, tới mức mà vừa làm tang vợ đầu xong. Ông ta có thể vớ bất cứ cô nào để thỏa lòng - ấy thế là con gái chị được ông ấy chọn.

Tôi cảm thấy bỗng chốc phấn kích. Ông ấy đã để mắt đến tôi và lại còn đề đạt - Tôi á? Một con bé từ thôn làng ra, ngón tay sưng dài quê kệch chỉ biết dệt thảm và làm vệ sinh ư?

– Cái thảm ngọc treo tòng teng của cháu chắc hẳn đã làm ông ấy khoái cháu - Gordiyeh nói với tôi cứ y như là bác gái có thể nghe được tiếng lòng tôi - Trong cả đám phụ nữ, ông ấy chú ý đến mỗi mình cháu. Như thế thì hơn cả những gì mong đợi rồi còn gì? Lọt vào mắt một người giàu như thế!

– Dạ đúng. - Tôi nói mặt đỏ bừng.

– Thực sự, chẳng còn chỗ mà mắc sai lầm nữa nhé. - Gordiyeh nói. - Bất cứ đứa con nào của cháu cũng sẽ là con hợp pháp và sẽ được nuôi dưỡng. Không có đàn ông nào ở vị thế như ông ấy lại để mẹ của con mình bị đói cả. Và hãy tưởng tượng xem chuyện gì sẽ xảy ra nếu cháu làm ông ấy hạnh phúc và mãn nguyện!

Gostaham giơ tay lên như muốn chặn dòng lời nói của Gordiyeh lại.

– Chị nhớ cho, chị Khanoom ạ. - Bác nói với bầm tôi. - Dẫu rằng bất cứ đứa con nào rồi cũng sẽ là hợp pháp, nhưng sẽ không có được địa vị như con cái của các bà vợ chính thức của ông ấy đâu đấy.

Gordiyeh lấy tay chém chém băm băm cứ như thể muốn tung hê lời nói của chồng đi.

– Chỉ có Thánh thần mới biết chuyện gì sẽ xảy ra. - Bác gái nói. - Chúng ta đâu phải là người quyết định.

Gostaham nhìn bầm tôi.

– Chị Khanoom ạ, chuyện đề nghị này chị cần suy nghĩ cho thật kỹ càng. Chị không thể tiên lượng được ông ấy sẽ đi hay sẽ ở. Chị không biết liệu chị và con gái chị sẽ được sống trong xa hoa hay lại phải đi ăn xin. Và thậm chí con gái chị có con, cô bé cũng sẽ không được quyền thừa kế nào hết. Không được gì sất.

Gordiyeh thở dài đánh sượt một cái.

– Thiếu gì số phận quái dị có thể xảy ra nếu đi lấy một thằng làm bánh mì. - Bác gái nói. - Ngày này tiếp là ngày sau, lão bán bánh mì có thể bị ốm và chết. Quốc vương có thể quy cho gã tội cân lạng điêu toa ăn bớt trọng lượng bánh và nướng gã ngay trong lò bánh của gã. Người ta có thể lẳng gã lên lưng con la và gã sẽ bị gãy cổ.

– Chuyện ấy khỏi phải bàn đi. - Gostaham đáp lời. - Nhưng rồi cô bé sẽ có một gia đình hợp pháp để sống dựa vào… cha mẹ của người chồng, anh em người ta, họ hàng nhà người ta. Cô bé sẽ bớt cô đơn và bớt cảm thấy ân hận sau chỉ có ba tháng.

– Ân hận gì cơ ạ? - Tôi hỏi.

– Hừ, thực ra chẳng có gì phải lo lắng cả. - Gordiyeh nói - Một văn bản đã ký là một hợp đồng pháp vương rồi.

– Pháp vương á? Vâng, nhưng nhiều kẻ chẳng coi nó là cái quái gì sất. - Gostaham lại nói.

Mặt tôi thấy nóng ran một lát, mặc dù tôi không hiểu chính xác ý bác nói là cái gì.

Gostaham quay sang phía bầm tôi.

– Nếu ông ấy cầu hôn như bình thường chị ạ, tôi sẽ không do dự thúc giục chị chấp nhận ngay. - Bác nói.

– Thế nhưng vẫn là, - Gordiyeh nói nhanh - có nhiều lý do để ta ăn mừng. Tốt nhất là chị chấp nhận lời đề nghị này đi, và lấy đó làm một nguồn thu nhập nữa, đặc biệt là tình hình tài chính của chị ở đây đang rất bất ổn.

– Bất ổn á? - Bầm tôi nói, mắt nhìn quanh căn nhà gọn gàng.

Theo hướng ánh mắt bầm nhìn, tôi thấy những bó hoa hồng.

Hàng núi kẹo bọc mật đường, điểm tô xung quanh là dưa hấu và dưa chuột, một dãy những bát đầy hạt hồ trăn[5] nướng.

– Chị mà phải lo lắng về tiền bạc cơ á? - Bà hỏi.

– Tiền lương của chồng tôi từ xưởng dệt thảm Hoàng gia khó mà đủ chi trả những phần chi phí tiêu pha của chúng tôi. - Gordiyeh nói. - Quốc vương cho phép anh ấy được làm thêm vào thời gian của riêng mình, như thế mới làm cho chúng tôi khá dễ chịu được chút, nhưng mà khách hàng lúc thì đến lúc thì đi như gió ấy mà. Một chiếc thảm lụa mới là việc đầu tiên mà một gia đình có khó khăn về tài chính cần phải làm ngay.

Bác gái quay sang phía Gostaham.

– Và như thế không phải ư hả anh, thậm chí ta cũng không thể quá tin cậy vào gia đình Hoàng gia làm những người bảo trợ được? Em nhớ những câu chuyện cái thời quốc vương Tah-masp đã sa thải hàng trăm họa sĩ, thợ chạm khảm, thầy đồ và những người đóng sách như thế nào sau khi ông ta sùng tín theo đạo. Một thảm họa như vậy lại có thể xảy ra đấy chứ.

Gostaham bỗng chốc trông có vẻ khó chịu.

Quốc vương Abbas khác hoàn toàn với người ông nội của Người. Người không có lý do gì để chấm dứt việc hỗ trợ cho xưởng dệt thảm Hoàng gia, mà việc này cũng có lãi rất nhiều.

– Ấy nhưng mà, - Gordiyeh nói với vẻ sốt ruột - ai có thể tiên đoán trước chuyện gì sẽ xảy ra cơ chứ? Tất nhiên, một người mẹ và con gái mình bản thân cũng luôn phải nên cẩn trọng về tương lai tài chính của mình.

Bầm tôi giật cứng mình ngả người ra sau vì những lời nói đó, cứ như thể bị một cơn gió sa mạc dữ dội đập vào mình. Chẳng có gì lại có thể làm bà hoảng sợ hơn là cái ý nghĩ rằng chúng tôi lại phải tự thân một lần nữa, như chúng tôi đã phải làm trong nhiều tháng sau cái chết của cha tôi.

– Fereydoon và họ hàng ông ấy có hàng chục tòa nhà ở Isfahan và trên khắp đất nước này, - Gordiyeh tiếp tục nói - mỗi một căn nhà họ mua và mỗi một túp lều họ dựng lên trong sa mạc này đều cần có thảm, những tấm thảm loại tốt ấy. Một gia đình như thế thường đặt lại thảm hàng lụa, chứ không phải thảm hàng len.

Bác gái quay sang phía tôi.

– Cứ nghĩ xem một mối như vậy sẽ mang lại ích lợi gì cho gia đình chúng ta chứ!

Đây là lần đầu tiên tôi nghe thấy bác gái nói “gia đình chúng ta” theo chất giọng ý là muốn gộp cả bầm tôi và tôi vào đó. Mặc dầu số tiền ký kết theo khế ước đó sẽ do chúng tôi cầm, tôi bắt đầu hiểu ra rằng Gordiyeh có lý do riêng của bác gái để xúc tiến một khối liên hợp.

– Cháu sẽ chẳng làm được thứ gì để giúp đỡ cho gia đình chúng ta đâu. - Tôi đáp lời.

– Và tôi cũng vậy. - Bầm tôi nói thêm. - Thế ông ấy nói gì về việc cho con gái tôi một căn nhà không?

– Ông ấy chưa đề đạt một căn nhà đâu, - Gordiyeh nói - nhưng nếu như con cái chị làm người ta mãn nguyện và biết vâng lời thì chuyện ấy có thể đến chứ sao.

Bầm tôi thở dài.

– Thế thì chắc chắn không phải là một lời cầu hôn mà lúc đầu tôi nghĩ rằng đáng ra nó phải là như thế.

– Tôi hiểu ý chị. - Gordiyeh nói bằng chất giọng xoa dịu. - Tất nhiên là chị mong muốn điều tốt đẹp nhất cho con gái chị. Nhưng một người phụ nữ còn trẻ mà không có hồi môn thì còn mong đợi một lời cầu hôn nào tốt hơn thế cơ chứ?

Bầm tôi cau mày, tôi trông thấy ánh mắt vô vọng của bà.

– Mấy ngày nữa tôi sẽ trả lời cho chị. - Cuối cùng bà nói.

– Nhưng đừng để ông ấy ngồi đợi quá lâu nhé. - Gordiyeh đáp lời.

– Và đừng có hé lời nào về chuyện cầu hôn này với bất cứ ai đấy. - Gostaham bổ sung. - Chúng tôi muốn giữ chuyện này im lặng thậm chí dù con gái chị không cưới Fereydoon.

– Tại sao lại như thế? - Tôi hỏi.

Gordiyeh quay mặt đi.

– Nó hoàn toàn hợp pháp. - Bác gái nhắc lại, và rồi sau đó là một khoảng thời gian im lặng khó chịu rất lâu mà Gostaham cứ hắng giọng liên tục. Bầm tôi nhìn vào bác, đợi chờ câu trả lời.

– Đây không phải là loại chuyện mà một gia đình như chúng ta lại đem ra quảng cáo. - Cuối cùng bác nói.

Tôi có một mối quan tâm khác cháy bỏng trong mình.

– Thế còn chuyện học hành của cháu thì sao? - Tôi hỏi. - Gostaham vẫn đang dậy bảo cho cháu về việc dệt thảm.

Đây là lần đầu tiên buổi sáng hôm đó, Gostaham trông hài lòng, cứ như thể tôi thực sự là đứa cháu bé gái trong trái tim bác.

– Bất kể bầm cháu quyết định về chuyện cưới xin của cháu thế nào, bác sẽ vẫn tiếp tục hướng dẫn nghề cho cháu chừng nào cháu còn muốn học. - Bác nói.

Cứ như thể là có một luồng ánh sáng chuyển từ trái tim bác sang trái tim tôi.

– Cháu muốn tiếp tục học. - Tôi nói. - Nhưng nếu như cháu phải sống xa nơi đây thì sao?

– Vì Fereydoon chưa đề xuất một căn nhà, cháu sẽ vẫn ở đây. - Bác gái Gordiyeh nói.

– Thế ông ấy không đòi nhốt con bé lại tránh mắt người lạ ư? - Bầm tôi hỏi.

– Ông ấy giàu có, nhưng ông ấy không phải là một gia đình thứ bậc tao nhã dòng Isfaham. - Gordiyeh nói. - Những người phụ nữ duy nhất mà ông ấy chắc sẽ tách bạch ra là những bà vợ chính thức của ông.

Bác gái quay sang phía tôi.

– Đừng lo cô chắc chắn là không thành vấn đề gì với ông ấy đâu, ban ngày cháu muốn làm gì thì làm.

* * *

Sau cuộc gặp gỡ đó tôi trở về căn buồng nơi bầm tôi và tôi ngủ và nhìn quanh mà chẳng nhìn thấy cái gì, rồi lại trèo lên cầu thang tới mái nhà để kiểm tra quần áo phơi, mặc dù chẳng có cái nào trên đó, rồi lại đến gặp chị đầu bếp Cook để xem chị ấy có cần giúp đỡ gì không. Tôi thái hành được một vài phút cho đến lúc tôi đánh đổ bát cỏ cari đã thái rửa sạch lên sàn, sau đó tôi bị người ta đuổi cổ khỏi bếp và cấm cửa không cho quay lại.

Không phải là tôi phản đối cá nhân con người ông Fereydoon, cho dù ông ấy không đẹp trai như Iskandar, ông ta người cứng cáp thẳng đơ, cơ bắp cuồn cuộn, và lại còn có mùi vị mồ hôi ngựa rất hấp dẫn. Nhưng lời cầu hôn của ông ấy lại không phải là lời cầu hôn đáng tôn trọng mà tôi đã từng hy vọng nhận được từ bạn tình. Nếu như Fereydoon muốn tôi, vì sao ông ấy lại không đề nghị cưới tôi mãi mãi? Và nếu như ông ấy cần một người phụ nữ quyền quý cao sang để sinh cho ông ấy những đứa con thừa kế, vì sao lại không đi cưới người đó trước và rồi cầu hôn để tôi làm vợ hai?

Tôi cứ lăn ta lăn tăn những suy nghĩ cỏn con của mình, biết rằng những vận may của tôi có thể đổi thay chỉ vào một ngày. Nếu tôi cưới, tôi sẽ phải trao đi trinh tiết của mình, một lần và mãi mãi; và tôi có thể sinh con đẻ cái. Tôi sẽ có thể mãi mãi đổi thay. Tôi mường tượng tới những ngày nhàn hạ và những đêm tràn trề yêu đương, những bát mật và quả trà là ngọt ngào, những khúc dồi mọng thịt trên bụng mình. Nhưng nếu như tôi lại không còn là người có gia đình chỉ sau mỗi ba tháng thì sao? Tôi sẽ khó có thời gian béo tròn lên được.

Tôi ước gì tôi có thể đến nhà Naheed và hỏi nó và bầm nó xem họ nghĩ gì. Nhưng Gostaham đã bảo chúng tôi phải im hơi lặng tiếng về lời đề nghị cầu hôn này. Nếu như khế ước kết thúc sau ba tháng mà tôi không có mang, nếu như không ai biết chuyện thì sẽ tốt hơn đối với tiền đồ của tôi sau này. Chuyện này dường như hơi kỳ cục đối với tôi, bởi vì mọi cuộc hôn nhân mà tôi đã từng nghe, từng biết đều được người ta công bố đàng hoàng và tổ chức rất là vui cơ mà. Vì sao lại có một tấm màng bí mật che phủ lên cuộc hôn nhân này vậy?

– Con gái cưng của bầm. - Bầm tôi nói khi hai người gặp nhau trong buồng tối hôm đó. - Con đang vừa nghĩ gì vậy?

Có một quầng đen dưới mắt bầm, và chân bà lại đỏ rựng lên. Công việc làm trong nhà bếp hôm đó rất vất vả.

Tôi lấy một cái đệm và đặt dưới chân bà, lúc bà duỗi thẳng chân gác lên mép giường.

– Bầm và Baba luôn bảo với con là bầm sẽ cưới cho con một người đàn ông tốt. - Tôi nói. - Làm sao mà Fereydoon có thể lại là người đàn ông ấy được, nếu như ông ta chỉ muốn có con một vài tháng.

Bầm tôi thở dài.

– Từ tất cả những gì mà bầm và con đã nghe thấy, thì tiếng tăm của ông ấy là đàng hoàng. - Bà nói. - Chẳng có lý do gì mà ta lại phải tin khác đi được.

– Con cảm thấy như là ông ấy muốn mua con với giá rẻ. - Tôi đáp lại. - Bầm và tía nuôi dạy con để mong đợi điều tốt hơn cơ mà.

Bầm tôi nắm bàn tay tôi trong tay bà.

– Chúng ta không thể có cùng những hy vọng mà chúng ta đã từng có. - Bà nói. - Lời đề nghị này đã vượt qua những gì bầm nghĩ là có thể.

– Cái có thể ấy là điều gì khác ạ?

– Chẳng có gì cả. - Bầm tôi đáp lời. - Gordiyeh nói đúng. Làm sao mà hai người phụ nữ không một xu dính túi lại có thể mong đợi thứ gì hơn thế?

Tôi chỉnh lại khăn đội đầu màu trắng và dúi tay mình vào lòng bàn tay bầm ấm áp.

– Nếu như đây là quyết định của con, con sẽ nói không. Sau hết, Hajj Ali nói rằng hôn nhân trong giai đoạn này sẽ đầy tình yêu và xung đột ham vọng.

Bầm tôi rút bàn tay bà khỏi tay tôi.

– Đây không phải là quyết định của con. - Bà nói với chất giọng sắt thép.

– Con có quyền nói không với thầy đồ nếu con phản đối. - Tôi đáp lời bực bội, vẫn còn nhớ những gì Goli đã từng bảo tôi.

– Nếu con làm như thế con sẽ mãi mãi là một kẻ lạ mặt của gia đình này, và như thế là kể cả bầm.

Tim tôi se lạnh vì lời đáp của bà.

– Bầm muốn nói bầm sẽ để con cưới ông Fereydoon trái với ước nguyện của con ư?

– Tình thế của chúng ta trong căn hộ này là không có được lời ăn tiếng nói gì đâu. - Bà đáp.

– Con xin lỗi. - Tôi nói, biết rằng tôi đáng bị chê trách.

– Đó là lý do vì sao bầm đề nghị con lần đầu tiên trong đời đừng có bướng bỉnh như thế. - Bầm tôi nói nhẹ nhàng hơn - Quyết định này tốt nhất là để cho những người lớn tuổi hơn, những người có tâm, cảm nhận được quyền lợi của con.

Ảo ảnh đối với lỗi lầm của tôi làm tôi như muốn giấu mặt vì ngượng. Đã hành động vội vàng, tôi mong được tỏ ra rằng tôi có thể học được từ những cách cư xử sai trái của mình.

– Xin tuân lệnh! - Tôi ngoan ngoãn nói, sử dụng thuật ngữ phục tùng của lính khi người chỉ huy ra quân lệnh. - Xin chấp hành ngay. - Với những lời đó tôi cọ đầu vào đôi bàn chân sưng của bầm, nhất quyết sẽ làm bất cứ điều gì bầm sai phái.

Sáng ngày hôm sau, bầm tôi trao lời đồng ý với đề nghị. Gostaham viết một lá thư chấp nhận gửi cho Fereydoon và chúc mừng chúng tôi mà chẳng có chút phấn khởi gì. Gần như ngay lập tức, chúng tôi nhận được một thư trả lời từ Fereydoon đề nghị làm thủ tục nhất hợp ngay ngày hôm sau, ngày đầu tiên của tháng chay Ramazan[6].

Đêm đó chúng tôi ngủ say và sáng dậy muộn, bởi vì chúng tôi biết là sẽ phải tuân thủ tháng chay Hồi giáo cho khi nào đêm đến. Bầm tôi giúp chị Cook thái rau và rán thịt, còn tôi thì nhặt sạn và sâu bọ trong gạo và vo gạo. Thậm chí cả cái việc đơn giản ấy cũng phải làm lâu hơn bình thường vì tôi đói và miệng thì khô rang. Lúc đang làm, đầu óc tôi cứ lởn vởn ý nghĩ về Fereydoon. Vì đã mấy tháng nay tôi chưa thấy ông ấy, tôi tự hỏi không biết bây giờ trông ông ấy thế nào và tôi có nên ân hận vì đã chịu cúi đầu với quyết định của bầm tôi không.

Đến giữa giờ chiều thì lưỡi tôi cảm thấy như dính luôn vào vòm miệng trên, nói năng rất khó. Ngày thì trở nên nóng bức hơn, vì mọi người đều không được uống gì và lại phải gồng mình lên không được nghĩ đến nước. Ngày cũng dài đằng đẵng, cũng có nghĩa là việc chờ đợi không biết đến bao giờ đêm mới đến, lúc mà chúng tôi được phép ăn uống. Mỗi một giây đều cần đến sức mạnh của ý chí.

Chập tối, tất cả chúng tôi đều hết năng lượng vì không ăn không uống. Con cháu họ nhà Gordiyeh tụ tập hết trong nhà, lảo đà lảo đảo mong ngóng. Lúc mùi thơm của món cừu và gà hầm mà chị Cook nấu lan ngấm vào không khí, tôi vãi nước miếng tê mỏi cả lưỡi. Người lớn thì bắt đầu bón cho bọn trẻ con, những đứa quá bé không chịu đựng được hết hẳn thời gian của ngày tháng chay. Căng thẳng cứ dồn đầy căn nhà khi thời khắc của khoái cảm đến gần. Chị Cook đầu bếp, có vẻ hồi hộp đặc biệt, hô hào khẩu lệnh nghe như sủa, cứ coi chúng tôi y như là lính tráng vậy. Chị muốn tất cả đồ ăn sẵn sàng đúng giờ, nhưng lại không được bày ra sớm quá kẻo nguội. Tôi cảm thấy như muốn tợp đớp lấy những đám mây quánh vị mùi cảm xúc đang treo lơ lửng trong nhà.

Cuối cùng tiếng nổ khẩu lệnh tuyệt hảo khuấy động tất cả mọi người hoạt bát lại với đời. Tôi giúp Shamsi và Zohreh bê đồ ăn vào Sảnh Lớn. Gia đình nhà Gostaham ngồi xuống bữa ăn như những con báo đổ xô vào xé thịt hươu. Chẳng còn âm thanh nào khác ngoài tiếng nhai nuốt thức ăn. Gostaham thường hay nhồi cơm vào bánh mỳ rất khéo và đưa lên miệng cắn mà không hề rơi xuống một hạt, thế mà bây giờ để cơm rơi tứ tung. Không ai nói một lời cho đến khi mọi người đều no bụng và uống nước tráng miệng mát cổ.

Ở trong bếp, mẹ tôi và tôi cùng đám người hầu cũng im lặng ăn như thế. Bình thường thì chúng tôi đợi cho đến khi gia đình họ ăn xong, nhưng vào thời gian tháng Ramazan ăn chay thì không. Chúng tôi quá là đói. Tôi không thể nào quyết định là ăn hay uống trước, nhưng tôi khai vị bằng một chén nước quả đặc quánh của chị đầu bếp, là một món hổ lốn nước hoa quả, đường, dấm và tinh dầu hoa hồng. Món uống này ngọt và chua, nó làm người ta ăn ngon miệng hơn. Nhưng lúc tôi ngồi xuống ăn, tôi không thể nào nuốt nổi một thìa.

Trong khi chúng tôi đang uống trà, Fereydoon đến ngay chỗ cửa ra vào cùng với người thủ quỹ và thầy tế. Gostaham dẫn họ vào Sảnh Lớn và mời họ uống và ăn thịt tẩm đường trước khi gọi chúng tôi vào. Tôi che mạng kín như phải làm ở chỗ đông người. Tôi liếng mắt nhìn vào Fereydoon ăn mặc hào nhoáng trong chiếc áo choàng nhung màu nâu có những mảng vàng như những kỵ sỹ mà ông cũng là một. Gostaham đọc to bản hợp đồng hôn nhân để xác minh thời hạn và khoản tiền mà chúng tôi sẽ được trả. Khi thầy tế hỏi tôi có bằng lòng không, tôi trả lời ngay là có đúng như tôi đã hứa với bầm. Fereydoon ký vào văn bản, và đến lượt bầm tôi, Gostaham, thầy tế và người thủ quỹ của Fereydoon lần lượt là những người chứng kiến.

Fereydoon có dáng rất làm ăn về những thủ tục này, nhưng khi thấy không ai nhìn, ông ấy ngắm tôi chăm bác rất lâu dáng vẻ đang thẳng thắn định giá làm tôi run bắn lên. Cái nhìn của ông ấy làm cho cơ thể tôi cảm thấy nặng trĩu và chín nhũn, cứ như là một quả chà là chảy nhão ra trong chính thứ nước mật của chính mình. Tôi run bắn cả người với ý nghĩ rằng chuyện sẽ như thế nào đây nếu lần đầu tiên một mình ở với ông ấy. Tôi biết rằng tôi sẽ phải cởi bỏ quần áo ra, nhưng tôi biết rất ít chuyện gì sẽ xảy ra sau đó. Tôi hy vọng là tôi thích chuyện gì đấy, và tôi cầu nguyện rằng ông ấy sẽ thích tôi. Tôi lấy lại thanh thản bình tĩnh khi nghĩ tới lời của Goli “ai mà chẳng thích cơ chứ”, chị có lần đã nói vậy.

Bầm tôi thu một bị bọc tiền xu từ người thủ quỹ. Fereydoon và đoàn tùy tùng của ông cám ơn chúng tôi và ra về. Khi chúng tôi quay trở lại căn buồng, tôi nghe tiếng đồng bạc va lanh canh trong quần áo mẹ tôi, nó làm cho đám cưới của tôi dường như giống một chuyện thương mại hơn là một sự kiện cuộc đời.

Bởi vì cứ lẳng lặng mà ở trong nhà mình vào ngày cưới thì dường như không ổn, bầm tôi và tôi tối hôm đó đi đến nhà trưng bày Hình hài Thế giới để giải trí. Những người bán hàng ở đó trang trí hình của họ bằng đèn để mọi người có thể chiêm ngưỡng xem xét, mua bán suốt đêm. Những người làm xiếc tung hứng và những nhà kể chuyện, họ làm vui đám đông bằng những trò của mình, mấy cậu con trai bán hạnh nhân tẩm mật và đường phèn. Có những nhà đi cả gia đình, mua những thanh sườn cừu nướng và vừa đi vừa ăn từ hàng này sang hàng khác.

Nơi trưng bày trông rất sống động nhưng cảm thấy kỳ cục bị lạc lõng trong đám đông không tên tuổi này so với việc tổ chức hôn nhân như đáng ra tôi phải tổ chức ở phum mình. Mọi người sẽ chúc tụng những lời tốt đẹp xung quanh tôi cả ngày cả đêm. Chúng tôi sẽ cùng nhau nhảy múa, ca hát, kể chuyện và ngâm thơ, và sau khi tất cả cùng ăn cơm gà, bóc vỏ cam, ăn đường, người chồng của tôi sẽ đến để tuyên bố tôi là của anh ấy. Tôi nghĩ cha mình mới tự hào làm sao nếu như còn người, và tôi bỗng thấy nhớ người vô cùng.

Lúc đó là gần bình minh lúc chúng tôi trở về nhà. Bầm tôi và tôi ăn một bữa tào phớ váng đậu, rau thơm, hạt dẻ, kẹo và bánh mỳ thật no để giữ cho chúng tôi khỏe cả ngày. Tôi còn tổng kết bằng một cốc nước anh đào chua trước khi chìm vào giấc ngủ, cũng chẳng được lâu trong chốc lát thì những tia nắng đầu tiên của mặt trời xuất hiện. Lúc tôi kéo chăn trùm mình, tôi hy vọng tôi sẽ không tỉnh giấc trước khi mặt trời mọc ngang đường chân trời. Nhưng rồi tôi quẳng chăn lên giường, vì cơ địa tôi không quen với ngủ lúc có ánh nắng. Tôi cảm thấy choáng váng và bất ổn vì những đổi thay bỗng chốc xẩy ra như vậy. Nó gợi cho tôi nhớ lại cảm giác cái hồi tía tôi bỏ lại chúng tôi một mình cô đơn trên đời mãi mãi chỉ sau có mỗi một đêm. Nền đất nơi tôi đang đi lúc đấy dường như rung chuyển, cứ như thể là một trận động đất sắp sửa lắc rung phum làng của chúng tôi tan tành thành cát bụi.

Tôi không phải chờ đợi lâu để nhận được lời triệu tập đầu tiên của Fereydoon. Lời triệu tập đến vào ngày thứ thư của tháng Ramazan trong hình dạng một lá thư hướng dẫn tôi là phải tắm rửa này, ăn mặc đẹp này và sẵn sàng gặp ông ấy trước giờ khẩu lệnh ăn tối của tối ngày hôm sau. Thế là cuối cùng tôi sắp sửa trở thành một người đàn bà trưởng thành: giống như chị Goli, tôi sẽ biết hết mọi thứ ấy mà.

Buổi chiều ngày hôm sau, bầm tôi và Gordiyeh đưa tôi đến một nhà tắm công cộng trang nhã trong huyện. Lần đầu tiên trong đời, bầm tôi chỉ đạo bà cô Homa đưa tôi vào một khoang tắm riêng. Cô xoa một thứ kem sền sệt có mùi chua làm từ thảo mộc mầu chanh lên cẳng chân và hố nách tôi. Sau một vài phút bà đổ một xô nước đầy lên người tôi và lông chân lông nách tan rã hết, đùi và cẳng chân và nách tôi trơn chu nhẵn nhụi như của con gái. Rồi thì bà bẻ ngả đầu tôi ra phía sau và vuốt chải lông mày, không có vẻ bắt ép cứng nhắc cứ như thể tôi đã là phụ nữ rồi, nhưng cũng vừa đủ để lông mày cong lên như trăng lưỡi liềm.

– Cháu trông ngày càng đẹp hơn thế này á. - Bà cô Homa nói. Tôi đỏ bừng mặt, vì tôi không quen với việc nghĩ về mình theo cách đó.

Khi tôi đã trơn tru xong, tôi lại nhập vào đám phụ nữ khác đang tắm ở sảnh chính nhà tắm. Tôi cảm thấy một cảm giác mới mẻ ở đôi chân nhẵn nhụi lông của mình khi họ thì thào với nhau lúc tôi đi vào đám người đang tắm. Quay trở lại chỗ bầm tôi và bác gái Gordiyeh đang ngồi nghỉ và cười ngả ngốn, tôi nằm duỗi thẳng ra bên cạnh họ. Họ pha một thứ nước sền sệt trong một cái bát để tắm, và bác gái Gordiyeh thoa vào lòng bàn tay tôi cho đến tận chỗ cổ tay và cho đến tận chỗ giữa những ngón tay. Bầm tôi thì thoa vào lòng bàn chân và nửa ngón chân. Sau đó mấy tiếng đồng hồ lúc họ dỡ chỗ bột sền sệt ra, ngón chân và ngón tay của tôi trông như đồ trang điểm. Họ không đùa với tôi và cũng chẳng chòng nghẹo tôi, mà chuyện này thì cũng bình thường đối với các cô dâu mới, bởi vì họ quyết tâm giữ kín chuyện hôn nhân của tôi.

Rồi cuối cùng cũng phải đến lúc tắm. Khi bà cô Homa kỳ cọ lưng tôi, bà nói:

– Tẩy lông tẩy vết này, cứ như là cháu sắp cưới chồng!

– Cô sẽ phải là người đầu tiên biết chứ, cô Homa thân yêu ạ! - Tôi nói với cái giọng mà tôi hy vọng nó mang chất giọng bâng quơ. Tôi không quen với chuyện nói dối, và những lời nói cứ dấp da dấp dính trong cuống họng tôi.

Cô Homa cười to và đổ một gáo nước lên đầu tôi để tráng người. Sau đó, chúng tôi vào phòng tắm hơi chỗ có cái vòi to nhất của nhà tắm công cộng. Hơi nước nóng thường hay làm cho tôi buồn ngủ và lơ đãng, nhưng lần này tôi khoan khoái thường thức mãi đến khi những người phụ nữ khác bảo tôi thôi đi thì mới thôi.

Khi tôi trở về nhà, bác gái Gordiyeh dẫn tôi và bầm tôi vào phòng trang điểm của bác gái, một phòng nhỏ trong chái nhà. Phòng chất đầy những thùng hàng hình trụ đựng quần áo cho những dịp đặc biệt khác nhau. Lúc họ lôi ra những tấm lụa quý, Gordiyeh hỏi chuyện bầm tôi về ngày cưới của bà.

– Tôi nghĩ tôi là đứa con gái may mắn nhất trong phum. - Bà mỉm cười đáp lời - bởi vì tôi đã cưới được người đàn ông đẹp giai nhất.

– Ồ thế à, nhưng cái đẹp nó đến rồi lại đi! - Gordiyeh đáp lời. - Em thời xưa có lần trông cũng đẹp xinh lắm ấy chứ lị, đâu có ục à ục ịch và xã xượi như em bây giờ.

Mẹ tôi thở dài.

– Tôi cũng sẽ không để ý nếu ông ấy nhà tôi mất đi vẻ đẹp giai, chỉ cần ông ấy còn sống trên đời! Nhưng nếu như đó là ý thánh thần, tương lai của con gái tôi chắc sẽ ngọt ngào thôi.

Sau khi tôi trút bỏ quần áo của mình ra, Gordiyeh giúp tôi mặc một bộ cánh lụa trong suốt màu trắng. Tôi run rẩy, tự hỏi mình sẽ cảm thấy như thế nào trong cái vẻ quyến rũ này đối với Fereydoon, bởi vì tôi không thể nào tưởng tượng mình sẽ thể hiện mình như thế nào với ông ấy.

Tiếp đó là bộ đồ lụa rộng, màu đỏ như màu táo chín, ăn khớp với quần dài và đôi dép màu vàng lóng lánh có mũi nhọn. Đồ trang sức bên ngoài là áo choàng vàng có tô điểm những bụi hoa hồng đỏ, trông đẹp như tranh vẽ. Mỗi một bụi hoa nở ra một chồi non, một cánh hồng mới nở, và một bông hoa hồng ở điểm rực rỡ nhất của nó. Một bác bướm đang dang cánh bay về phía bông hồng nở to nhất, nóng lòng hút nhị.

Bầm tôi dang rộng mở chiếc áo choàng cho tôi, và tôi lướt mình trượt vào đó khoác áo lên người.

– Con gái cưng của mẹ, con xem những cánh hoa hồng này không có gai đâu nhé. - Bà nói. - Hãy để nó dẫn dắt cho con biết cách cư xử khi ở cùng với chồng mình.

Bỗng dưng tôi cảm thấy hoa mắt chóng mặt, có lẽ là vì tôi chưa ăn tí gì kể từ lúc trước khi mặt trời mọc, do tôn trọng tháng ăn chay Ramazan. Tôi ngồi thụp xuống một chiếc ghế đẩu để định thần. Gordiyeh đã tô vẽ vào lông mi của tôi bằng bút chải mi và bôi đậm lông mày tôi. Rồi thì bác gái trát một chút phấn màu hoa hồng vào môi tôi, làm cho đôi môi trông nhỏ đi, tạo ra một vết nốt ruồi đen nho nhỏ xinh xinh ngay dưới đuôi mắt trái tôi. Bầm tôi trùm mạng trắng lên đầu, để rủ một vài sợi trang điểm cho khuôn mặt. Một sợi dây xỏ ngọc trai của Gordiyeh nằm ngay dưới cầm, làm tôi nổi bật khuôn mặt từ giữa hai thái dương. Bác gái Gordiyeh thắt chặt một dải ngọc trai nữa quanh đầu tôi. Tôi cảm thấy từng đồ trang sức chạm vào trán tôi, lạnh như nước suối.

– Đứng dậy đi nào, con gái yêu. - Bầm tôi nói. Tôi đứng dậy và họ nhìn vào tôi. Cả hai người dường như ngây ra, cứ như thể là họ đang ngắm nhìn chăm bác một kiệt tác của hội họa mà tôi chưa từng được xem.

Bầm tôi vỗ nhẹ lên má tôi.

– Con trông đẹp như trăng rằm vậy. - Bà nói.

Một khi đã diện vào xong, tôi sợ cử động vì e rằng sẽ làm hỏng công trình nghệ thuật của họ. Mẹ tôi dẫn tôi đến lư hương buộc tôi một chân vào chân lư hương để hương thơm ngấm vào quần áo.

– Và mọi thứ đều nằm dưới họ hết. - Bác gái Gordiyeh nói cùng với một điệu cười đầy dục vọng.

Mùi đượm của hương làm cho tôi lại thấy lú lẫn và lại một lần nữa làm cho tôi hoa mắt chóng mặt.

Tiếp đó, bác gái Gordiyeh lại phủ lên đầu tôi một mạng lụa màu trắng để cho sẽ không ai nhận ra tôi. Bầm tôi đặt tấm mạng che mặt màu đen của mình lên trên quần áo tang. Là vì tháng ăn chay Ramazan, nên ăn bây giờ thì quá sớm, họ không cho tôi ăn món hạnh nhân ngọt ngào mật chảy hoặc uống nước hương hoa hồng, mà thay vì thế họ bôi lên môi tôi và cầu chúc cho tôi một cuộc sống hôn nhân đầy trăng mật.

Bầm tôi và tôi được người ta dẫn đến gặp Fereydoon tại một trong nhiều căn nhà của ông, gần Thánh đường ngày thứ Sáu đạo Hồi. Chúng tôi rời nhà Gostaham và ra đi từ bờ sông theo hướng cửa Bắc của thành, đi dọc theo dãy chợ đến quảng trường cũ của thành phố. Từ đó, chúng tôi đi qua bốn bãi xe ngựa, ba nhà tắm hơi công cộng và hai trường Hồi giáo trước khi đến được Thánh đường ngày thứ Sáu đạo Hồi, thánh đường này được xây dựng trước đó hơn 500 năm. Thánh đường được xây dựng bằng gạch mà chẳng cần sơn hay lợp ngói. Trong khi quảng trường của quốc vương và Thánh đường ngày thứ Sáu đạo Hồi của người thật tráng lệ không gì so sánh được, khu vực này của thành phố lại có cái vẻ vương giả nhục nhằn âm thầm. Quân Nguyên cũng chưa tàn phá nó.

– Ta vào thánh đường một lát đi. - Tôi nói.

Chúng tôi đi qua cái cổng rộng thênh thang vào một hành lang tối, vách tường gạch đặc và có nhiều cột chống dày dặn. Tôi nghĩ đến tất cả những ai đã cầu nguyện ở đây trước tôi, đặc biệt là những cô gái mà một hôm vẫn còn trinh tiết và hôm sau thì đã hóa hôn nhân. Cứ y như là tôi giờ đây đang nằm trong đêm trường của tối ngu dốt nát này và sớm thôi, tôi sẽ cũng bước sang nơi ánh sáng của kiến thức trí tuệ kia. Tôi bước từ chỗ hành lang tối mờ vào khoảng không gian ngoài trời cầu nguyện, tràn ngập ánh sáng mặt trời. Tôi đứng lặng đi trong giây lát, ngập trong luồng ánh nắng chang chang, lẩm bẩm nguyện cầu, và bầm tôi cứ để mặc tôi cầu nguyện cho xong.

– Con cầu nguyện xong rồi - Tôi nói với bà.

Chúng tôi rời quảng trường và đi tạt xuống dãy phố hẹp nhỏ nơi mà chỉ có những cột cổng cao cao của nhà dân là dấu hiệu dễ nhìn thấy. Pháo lệnh báo giờ ăn sắp điểm, và phố xá rất đông người đang vội vã đi đến những nơi họ dự định ăn bữa tiếp. Những khuôn mặt của mọi người trông căng thẳng và đầy vẻ chờ đợi.

Bầm tôi hỏi đường một cậu bé đến nhà Fereydoon, và cậu ta dẫn chúng tôi tới một cánh cổng bằng gỗ trạm trổ. Chúng tôi dùng núm gõ cửa dành cho phụ nữ, mà khi gõ lên âm thanh có âm tần cao. Gần như ngay lập tức, một phụ nữ luống tuổi, người hầu trong nhà, mở cánh cửa và tự giới thiệu tên là Hayedeh. Tôi nhận ra bà ta, vì bà cũng đã tham gia vào lần tắm lễ hội ở nhà tắm hơi công cộng, cái hôm mà bà cô Homa đã tán dương tôi.

Chúng tôi bước vào bên trong và gỡ mạng che mặt. Bà thể hiện vẻ tôn trọng, ấy nhưng rõ ràng vẫn có vẻ trịnh thượng, bà nói với bầm tôi rằng từ giờ phút đó trở đi bà ấy sẽ chịu trách nhiệm về tôi. Tôi không ngờ lại phải nói lời chia tay nhanh thế. Bầm tôi áp lòng bàn tay của bà vào má tôi và thì thào:

– Con đừng quên là con đã được đặt tên của một người phụ nữ đầy sức mạnh và khôn ngoan. Bầm biết là con sẽ sống xứng đáng với cái tên của con.

Ngay lúc bà quay mặt ra đi, tôi trông thấy có những vết vằn máu hằn lên trong mắt bà, và nó cũng có những vết như thế trong mắt tôi. Tôi không nghĩ rằng mình lại từng cảm thấy cô đơn hơn thế vào giây phút đó. Nhận thấy nỗi đau khổ của tôi, Hayedeh nói bâng quơ:

– Cô sẽ thích ở đây cho mà xem.

Căn nhà này có bốn gian phòng được bố trí quanh một cái sân có một vòi nước ở giữa nhỏ xinh phun lên nghe như tiếng nhạc. Hayedeh thu xếp những thứ ngoài cửa và ngắm nghía kỹ những đồ áo quần trang điểm của tôi. Chắc hẳn bà ấy thấy là thích hợp, vì bà ấy đưa tôi vào một trong những căn buồng và bảo tôi cởi giầy ra và đợi.

Căn phòng này trông cứ như là một kho báu. Những bức tường có rất nhiều hốc tường, được người ta vẽ theo một thiết kế cây anh túc màu vàng cam và những bông hoa có màu ngọc lam. Trần nhà được trang trí bằng những nét vẽ mặt trời giống như là một tấm thảm được khắc nổi bật lên từ nền thạch cao trắng. Nó được đính những mảnh gương nhỏ bắt ánh nắng nhẹ trông như những vì sao. Một tấm thảm lụa đẹp có hoa văn là nền hoa trải trên sàn. Có hai chiếc thảm nhỏ hơn mang hình những con chim đang thi nhau hát trong một cành cây đầy hoa treo trên tường, hai tấm thảm này rất quý không thể để dưới đất mà giẫm chân lên được. Ngay gần đấy có những cái tô đầy dưa hấu, nho, dưa chuột, và có mấy cái chiếc bình cao cổ đựng nước lọc trong vắt và rượu vang đỏ.

Tôi chẳng có cảm giác về thời gian đã trôi qua bao nhiêu trước khi Fereydoon đến. Mỗi một phút dường như dài tới hàng năm, tôi không muốn cử động nhiều, vì sợ làm hỏng dáng bộ của mình. Tôi nghĩ mình chắc hẳn phải trông như là một công chúa đóng băng cứng đờ trong một bức tranh vẽ. Từng chi tiết đều là một sự hoàn hảo, vậy mà tôi không phải là chính mình. Tôi nhìn những ngón tay ngón chân của mình đã được nhuộm màu thảo mộc cứ như thể chúng là của ai đó, bởi vì từ trước tới nay tôi chưa bao giờ được trang điểm như thế. Tôi nghĩ tới cô bạn của mình, Goli, và mức độ mà mình mong đợi để biết được những bí mật mà bà chị đó đã được biết trước hàng năm nay rồi. Giờ đây tôi ước gì mình không phải biết đến những bí mật đó.

Đã đến lúc đó rồi đây, nhoáng một cái, cánh cửa vào phòng bật mở và Fereydoon phi vào, kéo theo sau là nửa tá người hầu bê những khay đầy đồ ăn đang bốc khói.

– Xin chào em. - Ông ta nói, ngồi ngay xuống một tấm thảm dày gần tôi.

Ông ta mặc một chiếc áo choàng màu hoa oải hương chùm lên một áo sơ mi dài tay màu xanh lá cây, đầu đội khăn trắng có những sợi bằng bạc. Hai người hầu mở nhanh tấm vải trải bàn và đặt nó trước mặt chúng tôi, trong khi những người kia bày đĩa đồ ăn dễ đủ no cho hai mươi người. Rồi sau đó tất cả bọn họ đầy vẻ kính cẩn lui ra.

Fereydoon dường như rất khoan khoái y như khi lần đầu ông ấy trông thấy tôi không che mạng mặt.

– Chắc hẳn em đang đói lắm đây. - Ông ta nói. - Anh và em chúng mình cùng nhau xả hơi sau ngày nhịn chay đi.

Ông xé một miếng bánh mì, kẹp lấy một miếng thịt cừu và cơm nấu với cây thì là và đưa mời tôi. Tôi nhìn thảng thốt. Tôi chưa bao giờ được một người đàn ông lạ mặt mời ăn như thế này cả.

– Em không cần phải e thẹn thế. - Fereydoon nói, tựa người về phía tôi.

– Anh và em bây giờ là một người đàn ông và một người vợ.

Khi tôi bật lại, ông ta cười.

– A ra thế à, còn trinh! - Ông ta nói cùng với một nụ cười sung sướng.

Tôi nhận lấy đồ ăn từ ngón tay của ông và đưa thức ăn vào miệng. Thức ăn ngon lành như tôi vẫn từng ăn theo con tì con vị của mình, và lại còn có cả núi đồ ăn kia nữa chứ. Chúng tôi còn có cả hai con gà hầm, một đùi cừu nướng, cơm độn với đậu đỏ và hành, một đĩa cơm gạo ngọt ướp nghệ vàng, quả hoàng liên gai, cam đã bóc vỏ, và đường. Tôi không thể tiêu hóa được nhiều, nhưng Fereydoon ăn ngấu nghiến mọi thứ, như ta có thể hình dung một người ở địa vị như ông. Đôi lúc, ông dừng lại và lại nhúm cho tôi một miếng. Cũng như khi ở nhà, chúng tôi không nói chuyện lúc đang ăn, một cách tốt nhất để thưởng thức vị ngon ngọt của thức ăn.

Khi chúng tôi ăn xong, Fereydoon gọi những người hầu và ra lệnh dọn dẹp đĩa đồ ăn đi. Tôi có thể thấy những người hầu đang ước lượng số thức ăn còn lại trên đĩa và đang tính toán liệu họ có được ăn no trong đêm đó hay không. Bản thân tôi cũng ngầm tính như họ, và tôi biết thừa là họ có quá đủ để ăn.

Đến lúc Fereydoon gọi người hầu mang lên một cái tẩu thuốc và gọi thêm một nhạc công. Một chiếc tẩu bằng thủy tinh có thuốc lá đang cháy đến cùng một lúc với một anh chàng nhạc công trẻ tuổi gầy mõ, thậm chí còn chưa có chút râu ria nào. Fereydoon rít một hơi thuốc rồi sau đó mời tôi hút, nhưng tôi từ chối, vì mình chưa hút thuốc tẩu bao giờ. Anh chàng nhạc công sắp đặt chỗ ngồi ngang mặt với Fereydoon và chờ đợi cho đến khi ông ta giơ tay lên hạ lệnh chơi một bài. Người nhạc công bắt đầu cúi xuống bên chiếc đàn nguyệt cầm, mà những làn điệu của nó nghe bứt rứt trái tim người ta. Lúc tôi xem hai người chơi đàn sóng đôi như thế, rất là hài hòa ăn nhịp với nhau, tôi cảm thấy một nỗi cô đơn đau đáu. Chiếc đàn nguyệt cầm và người nhạc công gợi đến cho tôi về một cuộc đời khép kín mà mình chưa từng được biết, và có lẽ sẽ chẳng bao giờ biết. Tôi bỗng dưng cảm thấy nhớ tía da diết. Tôi nín một nhịp thở để cố trấn tĩnh mình, nhưng dáng vẻ của tôi lọt ngay vào mắt Fereydoon.

– Có chuyện gì thế? - Ông nói.

Tôi không thể đáp lời vì tôi đang phải cố cưỡng lại những cảm xúc của mình. Người nhạc công vẫn cứ tiếp tục đánh đàn. Fereydoon ra hiệu cho anh ta dừng chơi đàn, nhưng anh này không nhận thấy. Cuối cùng, Fereydoon nói rất to:

– Đủ rồi! Cậu có thể đi đi.

Chàng trai trẻ tuổi chơi thêm mấy làn điệu một chút trước khi anh chàng sau cùng cũng ngửng mặt nhìn lên. Tôi để ý thấy một nụ cười tán tỉnh đến lạ trên mép anh chàng này, lúc anh ta cám ơn ông chủ và chia tay.

Tôi cảm thấy khổ sở, cứ như thể là mình vừa mới mắc phải một lỗi ngớ ngẩn đến kinh khủng. Nhưng thay vì nổi cáu, Fereydoon vươn mình tới.

Trong khi Fereydoon đang ngắm nhìn bàn tay tôi, tôi liếc nhìn khuôn mặt ông ta. Ông ta có một bộ ria màu đen rậm, một bộ râu được xén tỉa gọn gàng mà nó kéo dài như quai nón tới tận dái tai. Tôi có thể ngửi thấy mùi thuốc lá trên áo sơ mi của ông ấy. Tôi chưa bao giờ kề sát mặt một người đàn ông như thế bao giờ, ngoại trừ tía tôi, và chắc hẳn trông vẻ mặt tôi lúc đó rất sợ hãi.

– Vậy là. - Ông ta nói. - Đây chính là cô sơn nữ bé nhỏ của tôi từ miền Nam tới đây, rất bướng bỉnh và cứng rắn bề ngoài, ai dè trong lòng mà lại lập bập yếu đuối như con bướm vậy! Ai lại có thể nghĩ thế cơ chứ?

Tôi không mô tả mình theo cách đó, vậy mà chắc hẳn đó lại là sự thật. Sau cái chết của cha tôi, cái gọi là hiền lành yểu điệu đối với tôi dường như chỉ là một thứ tình cảm để những người khác thưởng thức.

– Từ cái hôm mà anh trông thấy em bỏ mạng che mặt, anh đã muốn có ngay em rồi. - Ông ta nói.

– Ấy vậy mà lúc ấy em lại còn dám bật lại anh cơ chứ. - Tôi đáp lời, nhớ lại cái lúc mà tôi nói cấm ông ta không được nhìn vào mình.

– Ừ, mà em cũng nên làm như thế!

– Tại sao anh lại phải đợi cho đến tận bây giờ mới hỏi gia đình để cưới em? - Tôi hỏi.

– Lúc đấy em chưa sẵn sàng mà. - Ông ta nói. - Nhưng rồi sự việc đã đổi thay khi bà Hayedeh nhìn thấy em ở nhà tắm hơi công cộng.

Tôi đỏ bừng mặt, và Fereydoon hôn lên trán tôi ngay phía dưới sợi dây treo ngọc. Cả thân thể tôi nóng bừng. Đó là cảm giác kỳ lạ làm một người có ý nghĩa lớn lao với một người, dẫu rằng chỉ là giây lát, hơn bất cứ ai khác.

Tôi muốn nói chuyện nhiều hơn, nhưng Fereydoon nắm lấy tay tôi và dẫn tôi tới hốc giường ngủ nhỏ nằm ngay sau một cánh cửa bằng gỗ trạm trổ. Ánh sáng bập bùng từ mấy ngọn đèn dầu đặt ở những hốc nhỏ trong tường. Một chiếc đệm giường to sù có kèm cái gối to đủ cho hai người gối đầu choán gần hết căn phòng. Đó là một căn buồng người ta làm ra chỉ để phục vụ mỗi hai việc: ngủ và yêu.

Chúng tôi ngồi trên chiếc đệm giường, nhịp tim tôi đập loạn xạ mà bản thân mình cũng còn nhìn thấy nó phập phồng dưới làn áo satanh. Fereydoon gỡ chiếc áo choàng màu vàng quý giá của Gordiyeh, quẳng ào chiếc áo sang bên theo cái dáng bộ của những người đã quen làm thế đối với những đồ giá trị. Sau đó, ông nhẹ nhàng nâng tuốt chiếc áo satanh trùm người qua đầu tôi. Tôi run rẩy trong bộ lót chỉ làm bằng lụa tơ tằm nguyên chất bám sát người, hầu như bộc lộ hết mọi thứ. Fereydoon sờ bóp vào eo lưng tôi một lát, và hơi ấm từ tay ông làm tôi trấn tĩnh lại, hết run. Và tôi cảm thấy ông đang đợi chờ chuyện ấy. Khi tôi thoải mái hơn, ông bắt đầu xoa nhẹ vào ngực và bụng tôi, nhẹ tới nỗi hầu như chỉ dùng bụng ngón tay mà qua lụa tơ tằm tôi cũng cảm thấy nóng rực.

Tôi là cứ muốn ông làm tiếp như thế, nhưng Fereydoon nhoàng một cái lột phăng bộ đồ lót trên ngực tôi và nhìn chăm chăm vào thân thể tôi, trong khi đó tôi cố cưỡng lại cái thế tự nhiên uốn éo quằn quoại của con sâu bị móc vào lưỡi câu. Mắt ông bừng lên vẻ sung sướng.

– Giời ạ, vú gì mà chắc như hai quả lựu thế này, mông tròn như hai hòn đảo thế này cơ à! Anh đoán trước chắc là phải như thế này mà.

Tôi đỏ rựng mặt lên vì lời khen của ông.

– Hoa hồng nở trên má em đấy. - Ông nói nhẹ nhàng.

Ông ném bộ đồ lót của mình sang bên, những thứ vải vóc đắt tiền bay lên tơ tướp như rẻ rách. Khi Fereydoon lần đầu tiên trước mắt tôi cởi bỏ khăn vấn đầu, tôi hít một hơi dài nín thở. Làn tóc của ông xả xuống vai như sóng đen bóng. Tôi muốn vuốt vào làn sóng tóc đó nhưng không dám làm thế.

Những sợi tóc đen bóng nổi bật trên cơ thể ông trông như mẫu vẽ nhung thêu trên gấm. Mặc dầu tôi không nhìn trực tiếp vào bộ giữa của ông, tôi cũng thoáng thấy thứ gì đó nhác trông giông giống bộ phận sinh tồn của con cừu đực bày ngoài chợ: bán lẫn với cật, gan và lưỡi.

Khi Fereydoon lôi tôi vào ôm trọn tôi trong vòng tay ông, lúc đó giữa hai làn da chúng tôi chẳng còn gì ngăn cách nữa, tôi ngửi thấy mùi thuốc lá sợi thơm mùi táo tươi nơi đôi môi ông và cảm được những sợi lông cưng cứng trên ngực và khuôn mặt ông. Cơ thể ấm áp ngon lành của ông miết vào cơ thể tôi. Tôi lúc ấy thì quá ư ngây thơ chẳng biết mình nên thưởng thức gì tiếp nữa. Tôi đã từng trông thấy bọn gia súc tơ nhau ngoài đồng rồi, tôi cũng đã đoán là đàn bà và đàn ông cũng làm tương tự như thế. Nhưng khi Fereydoon bập thân vào thân thể tôi, tôi cứ bám sát lấy tấm đệm giường, tự phanh mình lại vì động tác có vẻ như dữ dội. Lúc cảm khoái của ông bừng nở, tôi biết là do tôi đã gợi lên, nhưng tôi thì chưa thấy gì cả. Tôi, lúc đó như một công chúa đóng băng trong bức họa, chỉ biết giương mắt nhìn xem lúc ông nhai nuốt mình tôi. Lúc ông lên đến cực thiên đường thứ bảy, ông kêu lên a á đầy khoái cảm, tôi thì cứ hé nửa mắt tò mò quan sát ông. Sau khi ông lăn ra ngủ, tôi cảm thấy hụt hẫng và bâng khuâng. Tại sao cái thứ mà chúng tôi vừa trải qua lại có thể là nguồn gốc bao chuyện bông đùa của bọn đàn bà trong phum tôi cơ chứ, và khỏi phải nghi ngờ, của cả bọn đàn ông nữa? Tại sao con bé Goli trông sung sướng mê li khi nó kể về chuyện này?

Lúc gần sáng, Fereydoon lại tỉnh giấc, ôm tôi vào vòng tay ông. Có vẻ như ông muốn làm lại như thế lần nữa. Tôi tuân thủ, mặc dầu tôi cảm thấy đau. Động tác của ông gợi hứng, tôi lấy hông cọ cọ vào hông cứ như thể tôi đã thạo việc, tự làm cho tôi cố hơn khi tôi ngó thấy mắt ông chớp chớp như cánh bướm. Tôi cứ thế cọ xát, ông tụt ra khỏi bộ đồ ngủ, ôm chặp cứng lấy lưng tôi, xiết mạnh thân mình ông vào thân mình tôi cứ như thể muốn tự bóp bẹt thân mình. Sau một lúc cố gắng, cánh tay ông lỏng ra và ông lật mình lăn sang bên mép giường.

– Không gì sánh được! Hì hì! - Ông nói, đôi môi chúm chúm hôn vào nụ hoa tôi.

Trước khi ông đi ngủ, ông mỉm cười nhìn tôi, và tôi có cảm giác là mình cũng làm y như thế.

Đêm đó, tôi ngủ mê thấy trò phi ngựa chơi bóng chày. Các kỵ sĩ đấu thủ đua tranh săn đuổi quả bóng rất ác liệt, bắt chặn nhau. Khi một đấu sĩ cuối cùng quất quả bóng bay xuyên qua cọc gôn, tôi ngóng đợi đám đông sẽ nhảy cẫng lên và gào thét, nhưng chẳng có âm thanh nào phát ra từ cổ họng họ cả. Tôi giật mình tỉnh giấc, đầu óc cứ lởn vởn ý nghĩ về cú sút giữa hai đùi của Fereydoo và đùi tôi, và cứ băn khoăn mãi vì sao cảm giác thật của nó không khoan khoái như trước đó tôi vẫn hằng mong đợi.

Khi tôi đi bộ về nhà sáng hôm đó, mọi vật mà tôi trông thấy: Giáo đường Hồi giáo ngày thứ Sáu cổ kính, khu chợ nhộn nhịp, những hàng cây nép vào nhau bên con đường xuyên qua Khu Tứ vườn trông dường như mới sinh sôi nảy nở dưới ánh nắng mặt trời nóng bỏng. Làn da tôi vẫn còn vương vấn đâu đây cái ôm ấp của Fereydoon. Tim tôi như loạn nhịp, giống như cái ngày mà tôi đứng trên cầu nhìn vào đất Isfahan và mong mỏi mở ra những bí mật của thành phố này. Vậy mà tôi lại cảm thấy bên trong lòng trống rỗng cứ như thể bị mất hẳn đi cái gì đó, một cái gì đó mà tôi không thể gọi tên ra được.

Lúc tôi đi ngang xuyên qua khu Tứ vườn, mắt tôi nhìn thấy nơi đi dạo của những người nhà giàu, quanh đó người ta trồng hoa mõm chó hồng và thủy tiên xanh lơ. Tôi tự hỏi nếu như mình trốn vào những đám cỏ cây màu xanh dày đặc kia dưới những bóng cây đề mang theo bánh mì, hạnh nhân và pho mát cừu cùng với một người chồng như đi chơi dã ngoại thì sẽ ra sao nhỉ. Có hai gã thanh niên trông có vẻ hăm hở để ý thấy tôi liền bắt đầu tỏ ý khơi khơi chờ tín hiệu của tôi.

– Cô em trông như quả mận, ngọt ngào ngon vị như đào tơ. - Một gã thanh niên cố tình nói to với gã kia. - Chỉ cần nhìn dáng mắt cá chân cô nàng là tớ biết ngay mà.

Tôi quay về phía phố của nhà Gostaham, tảng lờ hai gã thanh niên kia đi, tôi bí mật tủm tỉm sau tấm mạng che mặt. Bây giờ tôi biết chính xác cái gì làm cho những gã thanh niên đại loại như thế phiền muội đến như vậy dưới những chiếc áo khoác ngoài của họ. Tôi nhìn quanh mình, nhìn vào những người phụ nữ khác, tôi nhìn thấu được vẻ khoái trá che ẩn đằng sau những mạng che mặt kia của bọn họ. Bọn đàn bà chúng tôi luôn là điều ngạc nhiên cho mọi người nếu được bóc từng lớp từng lớp một.

Vẻ hồ hởi của tôi không hề trong sáng. Có gì đó đã mất đi một cách trắng trợn trong cái đêm của tôi với Fereydoon; điều gì đó làm cho con người ta cứ phải hoài niệm mãi trong vô vàn bài ca, bài thơ, cứ nâng niu hoài và cứ trân trọng mãi.

Nó giống như là lửa bắt phải cỏ khô, khoái vị ngốn ngấu lép ba lép bép.

Có lần Goli nói thế. Nhưng thế có nghĩa là gì cơ chứ?

Khi tôi về đến nhà, bầm đón tôi đầy vẻ âu yếm và hỏi thăm sức khỏe của tôi. Tôi trả lời rằng tôi khỏe và nhờ ơn Trời.

– Đêm qua con thấy thế nào? - Bầm hỏi tôi, vẻ sốt ruột như muốn biết hết mọi chuyện ngay.

Tôi nằm duỗi thẳng cẳng trên nệm giường, bỗng cảm thấy bải hoải.

– Con tin rằng chuyện đã xảy ra như mọi chuyện vốn là như thế. - Tôi đáp.

– Lạy Chúa lòng thành. - Bà nói. - Thế ông Fereydoon có khoái không?

– Khoái quá đi chứ lị. - Tôi nói giọng ngang phè, trong đầu tâm niệm tầm quan trọng của cảm khoái của ông đối với tương lai của hai mẹ con tôi.

Bầm tôi hất lọn tóc đang che mặt tôi sang một bên.

– Con nói như vẻ là con chẳng khoái cảm gì hết à?

Bà nói cứ y như bà đã biết tỏng tâm địa tôi rồi.

– Sao bầm biết?

– Đừng lo, con gái ạ. Sẽ khoái dần lên sau nhiều lần nữa, hãy gắng kiên nhẫn.

– Tại sao lại sẽ phải khoái ạ?

– Các con sẽ quen dần với nhau và dần dần sẽ làm cho nhau cùng khoái chứ sao.

– Thật thế à?

– Bầm dám hứa mà.

Tôi chỉ ước gì được tâm sự với một người bạn đã có chồng, ai đó bằng trang lứa với mình như Goli chẳng hạn, nhưng tôi biết chẳng có ai như thế ở thành Isfahan này.

Naheed đến chơi với tôi chiều hôm đó và nó chẳng hay biết gì về chuyện đêm qua của tôi. Tôi đã không gặp nó đã hơn một tháng nay vì đó là thời gian tôi bị phạt, không được đi chơi đâu, không được tiếp đón ai. Khi nó đến, tôi đang ngủ. Tôi vươn người ngồi dậy chào nó, miệng ngáp dài. Nó khó mà để ý thấy vẻ mệt mỏi của tôi, và thậm chí cũng chẳng thèm hỏi han gì về cẳng chân cánh tay tôi đã được người ta tô màu. Naheed đang yêu, và nó không thể đủ sức để nghĩ đến bất cứ điều gì khác. Chúng tôi hôn nhau lên cả hai má, và cùng ngồi lên đệm giường khi bầm tôi xuống bếp pha trà.

– Tớ thích lắm cậu có biết không. - Naheed nói.

Má nó đỏ ửng, môi trông như mềm mọng hơn. Tôi chưa bao giờ trông thấy nó đẹp như thế bao giờ. So với nó, tôi biết mình trông tiều tụy, mắt có quầng vì không được nghỉ ngơi.

– Có chuyện mới à? - Tôi hỏi.

Tôi liếc nhìn vào lườn nó, trông có vẻ dày dày hơn bình thường. Nó đang giấu một lá thư của anh ấy, sau vạt áo trong cái túi vải đeo trễ xuống.

– Ừ. - Nó nói. - Tớ mang theo đây mấy lá thư mới nhất của anh ấy, tớ đọc đi đọc lại dễ đến nghìn lần rồi.

Nó rút thư từ túi vải ra.

– Cậu ạ, đầy tình cảm tuyệt đẹp, nhưng tớ chỉ đọc cho cậu đoạn quan trọng nhất thôi nhé.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 13 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Hiện đại] Làm thế nào để không nhớ hắn - Mộng Tiêu Nhị

1 ... 28, 29, 30

2 • [Hiện đại] Xin chào Chu tiên sinh! Dạ Mạn

1 ... 26, 27, 28

3 • [Hiện đại Thanh mai trúc mã] Đều Tại Vầng Trăng Gây Họa - 11 Giờ Phải Ngủ

1 ... 40, 41, 42

4 • [Xuyên không] Vương phi thần trộm Hưu phu lúc động phòng! - Thủy Mặc Thanh Yên

1 ... 82, 83, 84

5 • [Xuyên không - Cổ xuyên hiện] Ảnh hậu đối mặt hàng ngày - Ngã Yêu Thành Tiên

1 ... 37, 38, 39

6 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 140, 141, 142

7 • [Xuyên không] Hỉ doanh môn - Ý Thiên Trọng

1 ... 105, 106, 107

8 • [Hiện đại] Anh Trai VS Em Gái - Trà Trà Hảo Manh

1 ... 10, 11, 12

9 • [Hiện đại] Bó tay chịu trói - Thiên Thần Di Cô

1 ... 30, 31, 32

10 • [Hiện đại] Eo thon nhỏ - Khương Chi Ngư [NEW C59]

1 ... 21, 22, 23

11 • [Hiện đại] Cục cưng lật bàn Con là do mẹ trộm được? - Ninh Cẩn

1 ... 87, 88, 89

12 • [Xuyên không - Dị giới] Phế sài muốn nghịch thiên Ma Đế cuồng phi - Tiêu Thất Gia - New C804

1 ... 116, 117, 118

13 • [Hiện đại] Hôn nhân giá ngàn vàng - Cẩm Tố Lưu Niên (103/104]

1 ... 178, 179, 180

[Cổ đại - Trùng sinh] Đích trưởng nữ - Hạ Nhật Phấn Mạt

1 ... 80, 81, 82

[Cổ đại - Trùng sinh] Trọng sinh cao môn đích nữ - Tần Giản

1 ... 137, 138, 139

16 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 244, 245, 246

17 • [Hiện đại] Vui vẻ gặp lại - Miêu Diệc Hữu Tú

1 ... 24, 25, 26

18 • [Xuyên không] Cuộc sống nông thôn nhàn rỗi - Kẹo Vitamin C

1 ... 108, 109, 110

19 • [Xuyên không] Thú phi thiên hạ Thần y đại tiểu thư - Ngư Tiểu Đồng

1 ... 98, 99, 100

20 • [Xuyên không] Nịch sủng Chí tôn cuồng phi - Mặc Thập Tứ

1 ... 52, 53, 54



Shop - Đấu giá: Lavender - Blue vừa đặt giá 387 điểm để mua Chim cánh cụt
Shop - Đấu giá: Hoa Lan Nhỏ vừa đặt giá 1000 điểm để mua Cá voi xanh
Shop - Đấu giá: Hoa Lan Nhỏ vừa đặt giá 279 điểm để mua Mây Alway Happy
Shop - Đấu giá: Maria Nyoko vừa đặt giá 264 điểm để mua Mây Alway Happy
Shop - Đấu giá: Maria Nyoko vừa đặt giá 400 điểm để mua Trung thu Hằng Nga
Shop - Đấu giá: Maria Nyoko vừa đặt giá 300 điểm để mua Lồng đèn đỏ 2
Shop - Đấu giá: windchime vừa đặt giá 839 điểm để mua Cá voi xanh
Shop - Đấu giá: Libra moon vừa đặt giá 609 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Công Tử Tuyết: Re: 12 cung hoàng đạo và 12 con giáp
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 579 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 798 điểm để mua Cá voi xanh
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 736 điểm để mua Bé trứng gà
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 700 điểm để mua Bé trứng gà
Shop - Đấu giá: Minh Huyền Phong vừa đặt giá 303 điểm để mua Thư tình
Shop - Đấu giá: windchime vừa đặt giá 759 điểm để mua Cá voi xanh
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 550 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 522 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Shop - Đấu giá: Lãnh Nguyệt Dạ vừa đặt giá 287 điểm để mua Thư tình
Shop - Đấu giá: Mẹ Bầu vừa đặt giá 362 điểm để mua Xe hơi quà tặng
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 496 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Shop - Đấu giá: Hoàng Phong Linh vừa đặt giá 384 điểm để mua Nơ bông hồng
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 471 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 526 điểm để mua Bé trứng gà
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 721 điểm để mua Cá voi xanh
Shop - Đấu giá: Libra moon vừa đặt giá 447 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 500 điểm để mua Bé trứng gà
Shop - Đấu giá: Sam Sam vừa đặt giá 279 điểm để mua Lovely Bear 2
Shop - Đấu giá: luoicon27 vừa đặt giá 264 điểm để mua Lovely Bear 2
Shop - Đấu giá: luoicon27 vừa đặt giá 362 điểm để mua Bé trứng gà
Shop - Đấu giá: luoicon27 vừa đặt giá 424 điểm để mua Thỏ lực sĩ

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.