Diễn đàn Lê Quý Đôn


Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 122 bài ] 

Bản đồ mây - David Mitchell

 
Có bài mới 13.09.2018, 16:19
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35929
Được thanks: 5308 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Giả tưởng - Phiêu lưu] Bản đồ mây - David Mitchell - Điểm: 10
Sloosha's Crossin' & mọi chuyện về sau

(2)


Chún’ ta đến tòa nhà thứ hai và ta ngồi uể oải tron’ lúc Người Tiên Tri cố gắn’ mở cánh cửa. Ôi, mặt trời bỏn’ rát đó làm đầu ta trốn’ rỗn’. Cô ta là một kẻ khôn ngoan, khôn’ nghi ngờ gì nữa, Zachry! Một con chim đan’ đậu trên tượn’ đá của Truman Napes Thứ ba. Meronym thậm chí còn khôn’ nghe thấy lão. Cậu tin cô ta hay người thân của mình? lão gọi ta, giọn’ ai oán. Sự thật của cậu chỉ là khôn’ khí loãn’ và đầy hơi nước thôi sao? Ta có thế khôn’? Ôi, ta cảm thấy nhẹ nhõm vào giây tiếp theo khi cửa đài thiên văn mở ra. Nhữn’ hồn ma và sự thật như mũi giáo của họ khôn’ thể theo chún’ ta vào tron’, thế đấy, ta cho rằn’ Trí Thôn’ Minh đã chặn họ lại bên ngoài.

Tình hình diễn ra như thế suốt cả buổi chiều, đún’ vậy. Hầu hết các đài thiên văn đều giốn’ cái đầu tiên. Người Tiên Tri mở cửa ra, khám phá từn’ nơi với orison, và gần như quên mất sự hiện diện của ta ở đó. Về phần mình, ta chỉ ngồi hít thở khôn’ khí Thôn’ Minh đó cho đến khi cô ta làm xon’. Nhưn’ trên đườn’ đi giữa các tòa nhà, nhữn’ tượn’ đá vặn vẹo lặp đi lặp lại với ta, Judas! và Thân lừa ưa nặn’! và Nô lệ cho tàu Tiên Tri! Nhữn’ hồn ma của Dân Thun’ Lũn’ van nài ta qua nhữn’ đôi môi đón’ băn’ dính chặt, đún’ vậy, Cô ta khôn’ phải bộ tộc của cậu! Ngay cả màu da cũn’ khác! và hỡi ơi, đã có lúc ta phải thừa nhận nhữn’ lý lẽ đán’ sợ của họ.

Sự hoài nghi giày xéo tim ta.

Chưa có Người Tiên Tri nào từn’ thẳn’ thắn với bất kỳ Dân Thun’ Lũn’ nào và ngày hôm đó ta biết Meronym cũn’ khôn’ ngoại lệ. Các tượn’ đá biến bầu trời xanh thành màu xám lo âu và khô khốc khi chún’ ta đến tòa nhà cuối cùn’. Meronym bảo rằn’ đó khôn’ phải là đài thiên văn mà là một máy phát điện làm ra được phép màu Thôn’ Minh gọi là điện giúp cho toàn bộ nơi này hoạt độn’, như trái tim làm cho cơ thể hoạt độn’ vậy. Cô ta đan’ trầm trồ trước các loại máy móc nhưn’ ta chỉ cảm thấy thật ngu ngốc và bị phản bội vì đã bị Nữ Tiên Tri làm cho mờ mắt từ ngày cô ta chui vào nhà ta. Ta khôn’ biết nên làm gì hoặc cách nào để ngăn chặn kế hoạch của cô ta nhưn’ Georgie có kế hoạch của lão, mẹ kiếp lão.

Bên tron’ chiếc máy phát điện này khác với các tòa nhà khác. Nữ Tiên Tri hớn hở trôn’ thấy khi chún’ ta bước vào nhữn’ căn phòn’ có tiến’ van’ nhưn’ ta thì khôn’. Là thế này, ta biết tron’ đấy khôn’ chỉ có chún’ ta mà thôi. Nữ Tiên Tri khôn’ tin ta, tất nhiên rồi, nhưn’ tron’ khôn’ gian rộn’ nhất nơi một quả tim sắt khổn’ lồ đứn’ lặn’ im là một chiếc ngai vàn’, xun’ quanh là nhữn’ chiếc bàn có nhữn’ cánh cửa sổ nhỏ và số trên đó, trên ngai vàn’ này là một cha cố Người Xưa đã chết gục dưới một cửa sổ hình vòm. Người Tiên Tri nuốt nước bọt khó nhọc rồi ghé sát để nhìn. Một người đứn’ đầu các nhà thiên văn, tôi nghĩ vậy, cô ta nói khẽ , ôn’ ta hẳn đã tự sát ở đây khi Sụp Đổ xảy đến, và khôn’ khí khép kín đã giúp bảo toàn cơ thể ôn’ ấy khỏi bị thối rữa. Một ôn’ vua cha cố chứ khôn’ phải một tù trưởn’, ta đoán vậy, tron’ một cun’ điện thật là nguy nga. Cô ta phải ghi nhớ từn’ chút một căn phòn’ tận thế này vào orison tron’ lúc ta tiến đến gần hơn ôn’ vua cha cố đó từ thế giới của Văn minh hoàn hảo. Mái tóc ôn’ ta rối nùi, món’ tay thì con’ vút, năm thán’ đã làm khuôn mặt teo lại và chảy xệ nhưn’ bộ quần áo Thôn’ Minh của ôn’ ta vẫn còn mới và tốt, tai ôn’ ta xỏ hạt lam ngọc và ôn’ ta khiến ta nhớ đến Chú Bees, cũn’ có cái mũi khoằm giốn’ vậy.

Nghe ta đây, cậu trai làn’, ôn’ vua cha cố tự tử nói, phải rồi, nghe cho rõ đây. Người Xưa chún’ ta quá chán ngán với Trí Thôn’ Minh rồi và Sụp Đổ là liều thuốc của chún’ ta. Người Tiên Tri khôn’ biết là cô ta mắc bệnh, nhưn’, hỡi ôi, cô ta mắc bệnh thật sự rồi. Qua vòm con’ của nhữn’ ngọn són’ thủy tinh tuyết đan’ rơi lả tả và nhấn chìm mặt trời. Cho cô ta yên ngủ đi, Zachry, nếu khôn’ cô ta và đồn’ bọn sẽ đưa hết quân ngoại ban’ mắc bệnh đó đến Thun’ lũn’ xinh đẹp của cậu. Ta sẽ canh chừn’ Linh hồn cô ta cẩn thận ở nơi này, đừn’ lo. Nữ Tiên Tri đan’ đi tới đi lui với orison tron’ tay, ngân nga một bài hát ru trẻ con của Người Tiên Tri mà cô ta đã dạy cho Catkin và Sussy. Suy nghĩ của ta gõ nhịp từn’ giây. Giết cô ta khôn’ phải là hành độn’ dã man và mọi rợ sao?

Khôn’ có đún’ hay sai, ôn’ vua thiên văn học bảo ta, chỉ là bảo vệ bộ lạc của cậu hoặc phản bội bộ lạc của cậu mà thôi, đún’ thế, chỉ là một ý chí mạnh mẽ hay một tinh thần yếu đuối. Giết cô ta đi, người anh em. Cô ta khôn’ phải thánh thần, cô ta chỉ là người trần mắt thịt như cậu và ta tiến hóa từ Người Xưa chún’ ta mà thôi. Cậu giết cô ta, đó là bổn phận của cậu cậu biết chứ.

Ta nói mình khôn’ thể, thiên hạ sẽ gọi ta là kẻ sát nhân và Trưởn’ lão sẽ triệu tập cuộc họp để trục xuất ta khỏi Thun’ lũn’.

Ôi, suy nghĩ đi, Zachry, ôn’ vua mỉa mai ta. Suy nghĩ mà xem! Làm sao thiên hạ biết được? Thiên hạ sẽ nói, “Kẻ ngoại ban’ cái gì cũn’ biết đó đã xem thườn’ mọi truyền thuyết và tục lệ của chún’ ta và xâm phạm đến Mauna Kea và Zachry dũn’ cảm đã đi theo để cố gắn’ canh chừn’ cô ta nhưn’ hóa ra cô ta khôn’ quá thôn’ minh như cô ta nghĩ.”

Nhiều khoảnh khắc trôi qua. Thôi được, cuối cùn’ ta trả lời với vẻ trịnh trọn’, tôi sẽ đâm cô ta khi chún’ tôi bước ra ngoài. Ôn’ vua – cha cố mỉm cười, hài lòn’, và khôn’ nói gì thêm nữa. Cuối cùn’ nạn nhân của ta hỏi thăm ta . Ổn thôi, ta đáp, dù ta rất hồi hộp, thế đấy, thứ to nhất ta từn’ giết là dê và lúc này ta vừa thề sẽ giết một con người Tiên Tri. Cô ta nói chún’ ta nên lên đườn’ trở về vì khôn’ muốn bị kẹt lại tron’ bão tuyết trên này, rồi dẫn đườn’ chún’ ta quay trở ra khỏi máy phát điện.

Bên ngoài, các tượn’ đá đã im lặn’ tron’ lớp tuyết phủ đến gót chân. Một trận bão tuyết đã qua nhưn’ một trận khác lớn hơn đan’ đến, ta thầm nghĩ.

Chún’ ta đi về phía cánh cổn’ thép, cô ta đi trước, ta siết chặt ngọn lao của Jonas và thử độ sắc của nó trên ngón tay cái của mình.

Làm ngay đi! từn’ tản’ đá khát máu trên Mauna Kea ra lệnh.

Trì hoãn sẽ chẳn’ được gì. Rất khẽ, ta ngắm vào phần trên cùn’ của cổ Người Tiên Tri và cầu Sonmi phù hộ linh hồn, ta dùn’ hết sức bình sinh cắm phập mũi nhọn run rẩy ấy.

Khôn’, ta đã khôn’ giết cô ta, số là tron’ khoảnh khắc tích tắc giữa ngắm và đâm, Sonmi đã phù hộ linh hồn ta, phải, bà đã thay đổi đích ngắm của ta và mũi lao ấy bay cao qua khỏi cánh cổn’ thép. Meronym thậm chí khôn’ nhận ra là cô ta suýt bị đâm thủn’ xươn’ sọ nhưn’ ta biết chắc chắn rằn’ mình đã bị con quỷ của Mauna Kea phù phép, phải, tất cả chún’ ta đều biết tên lão, ta nguyền rủa lão.

Cậu thấy cái gì ở trên đó à? Meronym hỏi sau khi ta phón’ ngọn lao.

Đún’ rồi, ta nói dối , nhưn’ chẳn’ phải người nào cả, khôn’ hề, chỉ là nhữn’ trò đánh lừa ở nơi này thôi.



Chún’ ta sắp về rồi, cô ta nói , chún’ ta sẽ về ngay.

Già Georgie đã bị qua mặt, thế đấy, không có cách nào để ta giết cô ta nhanh chón’ mà khôn’ cần dùn’ đến vũ khí, nhưn’ ta biết lão khôn’ chỉ nằm xuốn’ nhìn chiến thắn’ của ta, khôn’ hề, ta biết lão già ranh mãnh quỷ quyệt đó.

Khi ta leo lên đoạn dây thừn’ với túi vật dụn’, Mauna Kea hít một hơi đầy căn’ rồi rốn’ khạc một màn tuyết xối xả vì thế ta khôn’ thể nhìn thấy rõ mặt đất, hàn’ chục cơn gió xé toạc mặt ta, các ngón tay ta cứn’ đơ vì lạnh và khi lên được nửa đườn’ ta lại bị tuột xuốn’ một nửa, sợi dây thừn’ đó làm tay ta đau rát nhưn’ cuối cùn’ thì ta cũn’ đã leo lên được đến đỉnh và lôi chiếc túi vật dụn’ lên với đôi tay đau buốt tận xươn’. Meronym khôn’ nhanh như vậy, nhưn’ cô ta cũn’ khôn’ còn xa đỉnh tườn’, khi đó, đột nhiên thời gian... dừn’ lại.

Thời gian dừn’ lại, phải, các con đã nghe đún’. Vì Toàn Thế giới trừ ta và một tên ác quỷ ma mãnh, phải, các con biết con quỷ nào đan’ bò lên theo bức tườn’, thời gian chỉ đơn giản là... dừn’ lại.

Hoa tuyết treo lơ lửn’ lấp lánh tron’ khôn’ khí. Già Georgie hất chún’ san’ một bên. Ta đã cố gắn’ nói lý lẽ với cậu, Zachry, cậu bé bướn’ bỉnh ạ, giờ đây ta buộc phải dùn’ đến cảnh cáo, tiên báo và ra lệnh rồi. Rút dao ra và cắt đứt sợi dây thừn’ này đi. Bàn chân lão chạm vào sợi dây thừn’ đan’ giữ Meronym bị đón’ băn’ thời gian. Khuôn mặt mệt mỏi qua làn bão tuyết, các cơ bắp của cô căn’ ra để leo lên sợi dây thừn’ đó. Sáu mét bên dưới khôn’ có gì cả. Nếu ngã, cô ta có thể khôn’ chết khi ta cho thời gian trôi trở lại, Già Georgie đọc được suy nghĩ của ta, nhưn’ nhữn’ tản’ đá dưới đó sẽ làm gãy chân và cột sốn’ cô ta và cô ta sẽ khôn’ sốn’ nổi qua hết đêm nay. Ta sẽ để cô ta nghiền ngẫm về sự ngu xuẩn của mình.

Ta hỏi lão tại sao lão khôn’ tự tay giết Meronym đi.

Tại sao – tại sao – tại sao? Già Georgie mỉa mai. Ta muốn cậu làm điều đó, và đây là lý do tại sao – tại sao – tại sao. Này nhé, nếu cậu khôn’ cắt sợi dây thừn’ đó, thì tron’ vòn’ ba con trăn’ gia đình thân yêu của cậu sẽ chết, ta thề! Ta thề đấy. Vì vậy cậu có thể chọn. Một bên là bà Mẹ Dũn’ Cảm, Sussy Mạnh Mẽ, Jonas Thôn’ Minh, Catkin Đán’ yêu, tất cả chết hết. Zachry hèn nhát sẽ sốn’ tiếp và giày xé lươn’ tâm đến ngày chết. Một bên là chỉ có một kẻ ngoại ban’ chết mà chẳn’ ai thèm nhớ đến. Bốn người cậu thươn’ yêu với một người cậu khôn’ màn’ đến. Ta thậm chí còn có thể làm phép để đưa Adam trở về từ tay bọn Kona đấy.

Khôn’ còn đườn’ thoát. Meronym phải chết.

Phải, khôn’ còn đườn’ thoát, chàn’ trai ạ. Ta sẽ đếm đến năm...

Ta nắm lưỡi dao. Một hạt giốn’ nảy mầm từ lớp đất khô cằn tron’ trí nhớ của ta, và hạt giốn’ đó là một từ mà Georgie vừa nói khi nãy,“tiên báo”. Ta lập tức ném lưỡi dao xuốn’ cùn’ ngọn lao và nhìn vào đôi mắt đán’ sợ của con quỷ đó. Lão lộ vẻ tò mò ngạc nhiên và nụ cười héo úa của lão chứa đựn’ một bồ tâm địa đen tối. Ta nhổ vào mặt lão nhưn’ nước bọt của ta văn’ ngược trở lại ta. Tại sao? Chẳn’ lẽ ta đã phát điên và mất trí?

Già Georgie đã phạm một sai lầm nghiêm trọn’, số là, lão nhắc ta nhớ đến tiên báo dành cho ta tron’ Đêm Báo Mộn’. Bàn tay bỏn’ cháy, chớ cắt dây thừn’. Quyết định của ta đã rõ ràn’, thì đấy, tay ta đan’ bỏn’ cháy, vậy đây chính là sợi dây thừn’ mà Sonmi bảo ta đừn’ cắt.

Lưỡi dao của ta cắm xuốn’ đất và thời gian tiếp tục trôi, hàn’ triệu bàn tay và tiến’ gào thét từ trận bão tuyết của con quỷ đó quăn’ quật ta túi bụi nhưn’ khôn’ thể xô ngã ta, bằn’ cách nào đó ta đã kéo Meronym lên rồi giúp cô xuốn’ mặt bên kia của tườn’ mà khôn’ bị gãy chiếc xươn’ nào. Chún’ ta ngược cơn bão tuyết trắn’ điên cuồn’ mịt mờ để quay về làn’ thiên văn, lê lết, vấp ngã và đứn’ dậy lạnh cón’ nhưn’ nhờ hồn’ ân của Sonmi một căn phòn’ khô ráo đợi sẵn và ta đã tìm cách nhóm được lửa, ta thề ngọn lửa ấy đã cứu sốn’ cuộc đời chún’ ta một lần nữa. Chún’ ta nấu băn’ thành nước rồi sưởi ấm từn’ đốt xươn’ và hon’ khô quần áo lôn’ thú. Chún’ ta chẳn’ nói với nhau lời nào bởi đã quá lạnh và kiệt sức. Ta có hối hận vì đã hất Già Georgie xuốn’ đất khôn’?

Khôn’ hề, khi đó khôn’, và đến giờ vẫn khôn’. Bất kể Meronym leo lên ngọn núi bị nguyền rủa này vì lý do gì, ta khôn’ tin cô đã phản bội bất kỳ Dân Thun’ Lũn’ nào, khôn’ hề, lòn’ ta thực sự khôn’ hề nghĩ vậy, và dù sao đi nữa, khôn’ sớm thì muộn bọn Kona cũn’ sẽ làm nhữn’ điều mà chún’ làm với Thun’ lũn’. Đó là tươn’ lai của đêm đầu tiên đó trên đỉnh núi. Bạn ta đưa nhữn’ viên thuốc cho cả hai sau khi ăn lươn’ khô và chún’ ta ngủ khôn’ mơ thấy gì về ôn’ vua thiên văn.

Bây giờ, quay về Thun’ lũn’ cũn’ chẳn’ dễ dàn’ tí nào, nhưn’ tối nay khôn’ phải là lúc để dài dòn’ về nhữn’ chuyến mạo hiểm đó. Meronym và ta khôn’ nói gì nhiều với nhau trên đườn’ đi xuốn’, một thứ như lòn’ tin và sự thấu hiểu giờ đây đã buộc chặt chún’ ta. Mauna Kea đã cố hết sức để giết chún’ ta nhưn’ chún’ ta đã cùn’ nhau sốn’ sót vượt qua. Ta nhận ra cô đan’ ở rất rất xa gia đình họ hàn’ và tim ta đau buốt khi nghĩ đến sự cô đơn của cô. Abel chào đón chún’ ta tron’ căn nhà được làm thành chốt canh gác của ôn’ ta ba đêm sau đó và nhắn tin đến Nhà Bailey rằn’ chún’ ta đã trở về. Mọi người đều có cùn’ một câu hỏi, Cậu đã thấy gì ở trên đấy? Ở đó rất vắn’ vẻ và tĩnh mịch, ta nói với họ, có nhiều đền đài của Trí Thôn’ Minh và xươn’ cốt. Nhưn’ ta khôn’ hé môi về ôn’ vua thiên văn hay nhữn’ gì Meronym đã nói với ta về Sụp Đổ và đặc biệt khôn’ đả độn’ gì đến cuộc vật lộn với Già Georgie, khôn’ hề, khôn’ một lời cho đến khi rất nhiều năm đã đến và đi.

Ta hiểu tại sao Meronym khôn’ nói toàn bộ sự thật về Đảo Tiên Tri và bộ lạc của cô. Người ta tin rằn’ thế giới này được xây dựn’ như thế và nói với họ rằn’ nó khôn’ như thế sẽ làm sụp đổ mái nhà trên đầu họ và có thể trên đầu cả các con nữa.

Ma Lắm Điều loan truyền tin tức rằn’ Zachry trở về từ Mauna Kea khôn’ còn là Zachry trước khi leo lên đó và ta cho rằn’ điều đó cũn’ đún’, khôn’ có hành trình nào khôn’ làm các con ít nhiều thay đổi. Em họ Kobbery của ta xác nhận rằn’ các ôn’ bố bà mẹ ở khắp nơi trên Chín’ Thun’ Lũn’ cảnh cáo con gái họ khôn’ được giao du với Zachry ở Nhà Bailey vì họ nghĩ rằn’ ta hẳn đã đổi chác gì đó với Già Georgie mới thoát được cái chốn rừn’ thiên’ nước độc đó mà linh hồn vẫn còn nằm tron’ hộp sọ, và dù cho đó khôn’ phải là toàn bộ sự thật, nó cũn’ khôn’ hoàn toàn sai sự thật. Jonas và Sussy khôn’ còn đùa giỡn với ta như trước nữa. Nhưn’ Mẹ thì nước mắt lưn’ tròn’ khi thấy chún’ ta trở về và ôm chầm lấy chún’ ta, Zach-man bé bỏn’ của ta, đàn dê thì vui mừn’ còn Catkin thì chẳn’ có gì thay đổi. Con bé và các anh em ở trườn’ học đã nghĩ ra một trò chơi mới, Zachry và Meronym trên Mauna Kea, nhưn’ Trưởn lão bảo chún’ khôn’ được chơi trò đó vì có lúc nhữn’ trò giả vờ lại có thể trở thành sự thật. Catkin nói trò đó hay ơi là hay, nhưn’ ta khôn’ muốn biết luật lệ hay kết cục của nó.

Chẳn’ mấy chốc mà con trăn’ cuối cùn’ của Meronym ở Chín Thun’ Lũn’ cũn’ đã căn’ tròn và lại đến lúc tổ chức Hội chợ Honakaa, phiên họp chợ lớn nhất của các dân tộc ở Windward, mỗi năm một lần duy nhất vào mùa thu hoạch, vì thế tron’ nhiều ngày liền chún’ ta cật lực làm việc, đan nhữn’ tấm chăn bằn’ len dê, là món hàn’ được ưa chuộn’ nhất của nhà chún’ ta. Kể từ khi bố bị sát hại, chún’ ta luôn đi bộ đến Honokaa thành từn’ nhóm mười người hoặc hơn, nhưn’ năm đó số người nhiều gấp đôi nhờ nhữn’ món quà Tiên Tri đặc biệt có được vì đã cun’ cấp chỗ ăn ở cho Meronym. Có xe thồ và lừa thồ hàn’ để chở tất tần tật các món thịt khô, da, phô mai và len. Wimoway và Roses sẽ trao đổi nhữn’ loại thảo dược khôn’ mọc gần các Thun’ lũn’, dù Roses và Kobbery lúc đó đan’ mê tít nhau son’ ta cũn’ chẳn’ bận tâm. Ta chúc em họ ta may mắn vì may mắn là thứ cậu ấy cần, và một tấm lưn’ khỏe.

Băn’ qua Sloosha’s Crossin’ ta phải chứn’ kiến cảnh nhữn’ người đi đườn’ đặt nhữn’ hòn đá mới lên mộ Bố, theo phon’ tục thế nghĩa là Bố ta có rất nhiều bạn bè anh em thật sự yêu quý ôn’. Ở trên Mauna Kea con quỷ đó đan’ mài nhọn món’ tay trên một hòn đá mài để chuẩn bị chén đứa nói dối hèn nhát này. Sau Sloosha’s là đến con đườn’ khúc khuỷu dẫn lên Kukuihaele. Một chiếc xe thồ bị gãy đổ tun’ tóe nên mọi người đi rất chậm và khát nước, mãi đến chiều tối chún’ ta mới đến được ngôi làn’ nhếch nhác nằm ở tít phía bên kia. Đám thanh niên trai trán’ trèo cây dừa hái quả và mọi người đều chấp nhận món nước dừa đó khôn’ kêu ca gì. Tiến về phía nam trên con đườn’ của Người Xưa về hướn’ Thị trấn Honokaa, gió biển trở nên tron’ lành và tinh thần chún’ ta lại phấn chấn vì thế mọi người kể chuyện để rút ngắn khoản’ cách, người kể chuyện ngồi quay lưn’ lại trên con lừa dẫn đầu để mọi người đều nghe thấy. Rod’rick kể Chuyện về Rudolf Tên trộm dê đeo nhẫn đỏ và Mũi giáo ghê tởm của Iron Billy, còn Wolt thì hát một bài sướt mướt về Nàn’ Sally của Thun’ lũn’ mặc cho chún’ ta dùn’ gậy đánh tới tấp vì giọn’ hát lạc nhịp chói tai của cậu ta. Sau đó Chú Bees nhờ Meronym kể cho chún’ ta một chuyện của Người Tiên Tri. Cô đắn đo một lúc rồi nói nhữn’ câu chuyện của Người Tiên Tri đều thấm đượm tiếc nuối và mất mát và khôn’ phải là một chuyện đán’ làm vào buổi chiều nắn’ đẹp trước Ngày Họp Chợ, nhưn’ cô có thể kể cho chún’ ta một câu chuyện mà cô nghe được từ một người đốt đất ở một điểm rất rất xa tên là Panama chăng? Chún’ ta đều đồn’ ý và thế là cô leo lên con lừa dẫn đầu rồi kể một câu chuyện ngắn dễ thươn’ mà ta sẽ kể cho các con nghe sau đây, nên tất cả hãy im lặn’, ngồi ngay ngắn và đứa nào đi lấy cho ta một tách rượu tươi ngon để ta uốn’ thấm giọn’ xem nào.

Vào thời mà Sụp Đổ đan’ diễn ra, con người quên mất cách tạo ra lửa. Hỡi ôi, bao nhiêu là chuyện tệ hại xảy ra, đún’ vậy. Khi trời tối, người ta khôn’ còn nhìn thấy gì, khi mùa đôn’ đến, họ khôn’ thể sưởi ấm được gì, ban ngày họ khôn’ nấu nướn’ được gì.

Thế là người dân bộ lạc đến gặp Người Thôn’ thái và hỏi, Thưa Người Thôn’ thái, hãy giúp chún’ tôi, số là chún’ tôi đã quên cách tạo ra lửa, và hỡi ôi, chún’ tôi thật là khổ sở quá đi.

Thế là người Thôn’ thái gọi Con Quạ đến và bảo nó như sau:

Hãy bay qua đại dươn’ điên cuồn’ tron’ nháy mắt để đến Núi lửa Vĩ đại, và trên sườn núi rậm rạp, hãy tìm một cành cây dài. Hãy ngậm cành cây ấy trong’ miện’ của mi rồi bay vào miện’ Núi lửa Vĩ đại, nhún’ nó xuốn’ hồ lửa đan’ sôi sục trào dân’ ở nơi nguy hiểm đó. Sau đó hãy đem cành cây còn cháy về lại đây ở Panama để loài người nhớ lại lửa một lần nữa và nhớ lại cách tạo ra nó.

Con Quạ làm theo lời dặn của Người Thôn’ thái, nó bay qua đại dươn’ điên cuồn’ tron’ nháy mắt cho đến khi nhìn thấy Núi lửa Vĩ đại nghi ngút khói từ xa. Nó lượn vòn’ xuốn’ sườn núi rậm rạp, nhón vài quả dâu rừn’, uốn’ một ngụm nước suối, nghỉ ngơi đôi cánh mệt rã rời một chốc, rồi lùn’ sục khắp nơi để tìm một cành thôn’ dài. Một, hai, ba và Con Quạ bay vút lên, ngậm cành cây tron’ miện’, rồi con chim dũn’ cảm lao vụt xuốn’ cái miện’ sôi sục của Núi lửa Vĩ đại, phải, nó bay vọt lên từ cú lao xuốn’ đó vào khoảnh khắc cuối cùn’, lôi theo cành thôn’ qua ngọn’ lửa nón’ rực có thể làm tan chảy mọi thứ, vútttttt, nó bốc cháy! Con Quạ bay lên ra khỏi miện’ núi lửa nón’ như thiêu đốt, lúc này nó bay với cành cây đan’ cháy tron’ miện’, đún’ vậy, nó tiến về nhà, cánh đập mạnh, cành cây cháy, nhiều ngày trôi qua, mưa đá trút xuốn’, mây đen vần vũ, hỡi ôi, ngọn lửa đã liếm gần hết cành cây đó, mắt mờ khói, lôn’ cháy sém, mỏ bị bỏn’,... . Đau quá! Con Quạ kêu lên. Đau quá! Vậy, nó có làm rơi cành cây hay khôn? Chún’ ta có nhớ cách tạo ra lửa hay là khôn’ nào?

Vậy là, Meronym nói, ngồi quay lưn’ trên con lừa dẫn đầu, câu chuyện khôn’ phải về Con Quạ hay ngọn lửa, mà về cách con người chún’ ta có được nghị lực như thế nào. Ta khôn’ nói câu chuyện đó có ý nghĩa cho lắm nhưn’ ta luôn nhớ về nó, và đôi khi ít ý nghĩa lại man’ nhiều ý nghĩa hơn. Nói tóm lại ngày sắp tàn tron’ nhữn’ đám mây mùa hè và chún’ ta vẫn còn cách Honokaa vài dặm nữa, vì vậy chún’ ta dựn’ lều để nghỉ lại đêm rồi đổ xúc xắc để chia nhau canh gác, do tình hình khôn’ được tốt và chún’ ta khôn’ muốn bị tập kích. Ta đổ được hai con sáu nên có lẽ vận may đã trở lại, và ta nghĩ, ta thật là một kẻ khờ của số mệnh, phải, tất cả chún’ ta đều thế.

Honokaa là thị trấn nhộn nhịp nhất ở đôn’ bắc Windward, số là, Người Xưa đã xây nó đủ cao để sốn’ sót trước nước biển dân’, khôn’ như một nửa Hilo hoặc phần lớn Kona hầu như thán’ nào cũn’ ngập lụt. Người Honokaa chủ yếu làm nghề buôn bán và sản xuất, ô hô, họ thờ Sonmi nhưn’ khôn khéo không muốn đặt hết vận mệnh vào đó nên cũn’ thờ các vị thần Hilo nữa, vì vậy Dân Thun’ Lũn’ chún’ ta nghĩ họ là nhữn’ người bán-dã-man. Tù trưởn’ của họ được gọi là Trưởng Tộc, ôn’ ta có nhiều quyền lực hơn Trưởn’ lão của chún’ ta, đún’ vậy, ôn’ ta có một quân đội từ mười đến mười lăm người tinh nhuệ, có giáo mác sắc bén, nhiệm vụ của họ là thực thi mệnh lệnh của Trưởng Tộc, và khôn’ ai được chọn ra Trưởng Tộc, khôn’ hề, đó là một vị trí cha truyền con nối kiểu nguyên sơ. Honokaa là điểm trun’ chuyển tươn’ đối tốt cho người Hilo và Honomu, Dân Thun’ Lũn’ và người Mookini trước khi họ bị biến thành nô lệ, và các bộ tộc trên núi ở miền thượn’. Các bức tường’ thành Người Xưa đã được xây lại mới, nhữn’ mái nhà bị thổi tun’ đã được sửa chữa nhiều lần nhưn’ các con vẫn có thể đi dạo quanh nhữn’ con đườn’ nhỏ hẹp quanh co, tưởn’ tượn’ đến nhữn’ chiếc thuyền kayak và nhữn’ chiếc xe thồ khôn’ có ngựa kéo lăn bánh đây đó. Cuối cùn’ là khu trao đổi hàn’ hóa, một tòa nhà vô cùn’ rộn’ rãi mà Trưởn’ lão nói từn’ được gọi là nhà thờ, nơi một vị thần cổ đại được thờ nhưn’ hiểu biết về vị thần đó đã mất trong Sụp Đổ. Nhà thờ có tườn’ chắc chắn và kính màu rất đẹp nằm giữa một khoản’ khôn’ xanh tươi có rất nhiều chuồn’ đá cho cừu, dê, lợn. Tron’ suốt hội chợ, lính của Trưởng Tộc canh gác các cổn’ tháp, nhà kho, khóa lại bằn’ thanh sắt. Nhưn’ khôn’ lính canh nào đánh nhau với người bán hàn’ trừ phi kẻ đó ăn cắp hoặc phá rối trật tự trị an. Ta nghĩ Honokaa có nhiều luật hơn bất kỳ nơi nào trên Đảo Lớn trừ Thun’ Lũn’ Chín Dải, dù luật và Văn minh khôn’ phải lúc nào cũn’ đi chun’, khôn’ hề, đấy bọn Kona có luật Kona nhưn’ chún’ khôn’ có một xíu xiu Văn minh nào.

Buổi họp chợ đó, Dân’ Thun’ Lũn’ chún’ ta trao đổi được rất nhiều hàn’ hóa cho chún’ ta và Cộng đồng. Hai chục bao gạo từ các bộ lạc trên núi đổi được vải dầu Tiên Tri, còn thịt bò và da bò từ nôn’ trại Parker thì đổi được đồ kim loại. Chún’ ta khôn’ nói với ai về chuyện Meronym là người ngoại ban’, khôn’ hề, chún’ ta đặt tên cô là Ottery của Nhà Hermit từ Thun’ lũn’ Pololu ở thượn’ nguồn, Ottery là thầy thuốc và là một kẻ sinh ra dị dạn’ may mắn sống, chún’ ta nói thế, để giải thích về làn da đen và hàm răn’ trắn’ của cô. Chún’ ta nói vật dụn’ của Nhà Tiên Tri là đồ tìm được từ một kho cất giấu, dù chẳn’ có ai hỏi, Vậy cậu lấy món đồ này từ đâu ra? rồi chờ đợi một câu trả lời thành thật. Ma Lắm Điều ngậm chặt miện’ ở bên ngoài Chín’ Thun’ lũn’, vì vậy khi một người kể chuyện tên là Lyons hỏi ta có phải là Zachry từ Thun’ lũn’ Elapaio, người từn’ leo Mauna Kea vào con trăn’ trước hay khôn’, ta đã hết sức bất ngờ. Phải, ta đáp , tôi chính là Zachry của Thun’ lũn’ đó nhưn’ tôi khôn’ chán ghét cuộc sốn’ này đến nỗi bén mản’ đến gần đỉnh ngọn núi ấy làm gì, khôn’ hề. Ta nói ta chỉ đi tìm rễ và lá thuốc quý với Cô Ottery của mình nhưn’ chún’ ta khôn’ đi đâu cao hơn nơi cây cối ngừn’ mọc, khôn’ hề, và nếu ôn’ ta nghe chuyện khác như vậy thì đây, ta ở đây để nói rằn’ ôn’ ta đã nghe sai. Lyons nói chuyện với ta vẫn thân thiện nhưn’ khi người anh em Harrit kể với ta cậu ấy thấy Lyons và Leary Râu Rậm to nhỏ với nhau ở cuối một con hẻm cụt ám khói, ta nghĩ mình sẽ nói lại với Trưởn’ lão khi chún’ ta trở về nhà để xem bà nghĩ thế nào. Ta luôn ngửi thấy mùi môn’ chuột thối tỏa ra từ Leary, và ta sắp sửa biết tron’ chỉ vài giờ nữa thôi rằn’, hỡi ôi, ta đã nghĩ quá đún’.

Meronym và ta đã trao đổi hết da dê và chăn từ khá sớm, ta được một túi cà phê Manuka thượn’ hạn’, vài cái ốn’ nhựa có khấc, yến mạch béo ngon và nhiều túi nho khô từ một cô gái Kolekole da ngăm, và còn nhiều vật dụn’ nữa mà bây giờ ta khôn’ nhớ. Ta nghĩ người Kolekole khôn’ quá hoan’ dã, dù họ chôn người chết dưới nhà của người sốn’ vì họ tin làm thế người chết sẽ ít cô đơn hơn. Sau đó ta đến phụ giúp trao đổi hàn’ ở chợ của chún’ ta một lúc rồi đi dạo loanh quanh, hỏi thăm người đến trao đổi hàn’ từ khắp nơi, thổ dân khôn’ phải lúc nào cũn’ là người xấu, khôn’ hề. Ta được biết người Mackenzymen đã nghĩ ra thần cá mập và hằn’ năm vẫn làm lễ tế bằng cách ném nhữn’ con cừu bị cắt cổ chặt chân xuốn’ vách đá. Ta cũn’ nghe được nhữn’ chuyện quen thuộc rằng bọn Kona đan’ xâm lấn san’ phía đôn’ khu vực săn bắn quen thuộc của chún’ và tin này phủ bón’ đen lên đầu óc và tâm trí tất cả chún’ ta. Ta tìm thấy một đám đôn’ đan’ vây quanh một người nào đó, khi tiến lại gần ta thấy đó là Meronym, hay là Ottery, đan’ ngồi trên một chiếc ghế và vẽ khuôn mặt mọi người, đún’ vậy! Cô đổi nhữn’ bức vẽ đó để lấy các vật tran’ trí nhỏ hoặc một món ăn và tất thảy mọi người đều hân hoan thích thú, đứn’ xem đầy vẻ kinh ngạc khi khuôn mặt họ hiện ra trên tờ giấy, người kéo đến mỗi lúc một đôn’, họ nói, Tới lượt tôi nhé! Tới lượt tôi nhé! Mọi người hỏi cô học cái này ở đâu và câu trả lời của cô vẫn như mọi khi, Đây khôn’ phải là học, người anh em à, chỉ là vẽ nhiều thành quen thôi. Người xấu thì cô vẽ cho đẹp hơn một chút, nhưn’ các họa sĩ tron’ lịch sử đều làm như thế, Ottery thầy thuốc biết vẽ nói, Đún’ vậy, khi nói đến mặt mũi, thì nhữn’ lời nói dối đẹp đẽ luôn tốt hơn sự thật xấu xa.

Màn đêm buôn’ xuốn’, chún’ ta quay trở về gian hàn’ của mình và rút thăm canh gác, sau đó tiệc tùn’ bắt đầu ở nhữn’ quán rượu nổi tiến’. Sau khi kết thúc ca gác sớm, ta dẫn Meronym đi xem một vài nơi với Wolt và Chú Bees trước khi nhữn’ người chơi nhạc kéo chún’ ta trở về Nhà thờ. Đó là một đêm hào hứn’ với banjo, đàn thùn’, một cây đàn ghita bằn’ thép quý hiếm, và nhiều thùn’ rượu mà mỗi bộ lạc đem theo để thể hiện sự sun’ túc của mình và nhữn’ túi cỏ sun’ sướn’, vì ở đâu có Hilo thì tất nhiên ở đó có cỏ sun’ sướn’. Ta rít một hơi thật sâu từ ốn’ tẩu của Wolt và bốn ngày đi từ Windward đến Kona Leeward đối với ta xa như bốn triệu ngày, phải, nhữn’ em bé của cỏ sun’ sướn’ ru ta ngủ tối hôm đó, rồi tiến’ trốn’ van’ dồn, số là mỗi bộ lạc đều có một loại trốn’ riên’. Foday từ Nhà Ao Sen và hai-ba Dân’ Thun’ Lũn’ chơi trống tom-tom bằn’ da dê và gỗ ping, nhữn’ người Hilo râu quai nói vỗ trốn’ phồm-phồm, một gia đình Honokaa đánh sash-krranger, tộc Honomu lắc xắc chuỗi vỏ sò. Lễ hội trốn’ tuyệt vời này gảy lên nhữn’ dây đàn tươi trẻ của đám thanh niên và của cả ta nữa, còn cỏ sun’ sướn’ sẽ đưa các con từ chỗ lắc lư, vỗ tay, nhịp chân đến nện chân thình thịch và máu chảy rần rật, năm thán’ ào ào trôi qua và cứ mỗi một nhịp trốn’ thì một cuộc đời của ta rơi xuốn’, ta nhìn tất cả nhữn’ cuộc đời mà linh hồn ta từn’ đi qua lùi dần mãi cho đến khi trước Sụp Đổ, đún’ vậy, như nhìn từ trên lưng ngựa phi nước đại tron’ cơn cuồn’ phon’, nhưn’ ta khôn’ thể mô tả chún’ vì từ ngữ đã tiêu biến mất, rồi ta nhớ cô gái Kolekole da ngăm với hình xăm bộ lạc, phải, cô ta là một cái cây nhỏ con’ oằn còn ta là trận cuồn’ phon’ đó, ta thổi cô ấy con’ oằn, ta thổi mạnh hơn, cô ấy con’ nhiều hơn và gần hơn, rồi sau đó ta là Con Quạ đập cánh còn cô là ngọn lửa liếm láp và khi cành cây non Kolekole đan nhữn’ ngón tay liễu rủ quanh cổ ta, đôi mắt cô ánh lên như thạch anh và cô thì thầm vào tai ta, Phải, em sẽ làm, một lần nữa, phải rồi, chún’ ta sẽ làm, một lần nữa.



Dậy đi nhóc, bố đánh lên người ta vẻ sốt ruột, sán’ nay khôn’ phải là lúc để con trúng lời nguyền chiếc giườn’ lười đâu. Giấc mơ bon’ bón’ đó vỡ tan và ta thức dậy dưới lớp chăn Kolekole ngứa ngáy. Cô gái da ngăm và ta đan’ quấn lấy nhau, đún’ vậy, như một đôi thằn lằn bón’ nhờn nuốt lấy nhau. Nàn’ có mùi rượu nho và tro nham thạch, hai bầu ngực màu ô liu của nàn’ nhô lên hạ xuốn’, và khi ngắm nhìn nàn’, ta có cảm giác như nàn’ là đứa con đan’ nằm cuộn mình cạnh bên ta. Cỏ sun’ sướn’ vẫn còn làm ta mơ màn’ và ta nghe tiến’ la hét gần xa của bữa tiệc tùn’ điên loạn dù một buổi bình minh đẫm sươn’ đã đến, đún’ vậy, chuyện này vẫn hay xảy ra ở nhữn’ chợ phiên mùa thu hoạch. Vậy là ta vươn vai ngáp, nhức mỏi và cảm thấy tinh thần thật sản’ khoái phấn chấn, các con biết cái cảm giác khi cưa đổ một cô gái đẹp là thế nào mà. Bữa ăn sán’ bốc khói đan’ được nấu gần đó nên ta mặc quần và khoác áo vào, và cô gái Kolekole mở mắt ra, nàn’ thì thầm, Chào buổi sán’, chàn’ mục đồn’, ta bật cười nói, Ta sẽ quay lại cùn’ thức ăn, nhưn’ nàn’ khôn’ tin ta nên ta định bụn’ sẽ chứn’ minh là nàn’ sai và thấy lại nụ cười của nàn’ khi ta đem bữa sán’ quay về. Bên ngoài nhà kho Kolekole là một con đườn’ sỏi chạy qua Tườn’ Thành, nhưn’ ta khôn’ nhận ra nó dẫn về phía bắc và phía nam, ta đan’ lần tìm đườn’ đi ở đó thì một lính canh Honokaa rơi phịch xuốn’ từ thành lũy và suýt nữa thì đè chết ta.

Ruột gan ta thắt lên lộn xuốn’.

Một cán tên thò ra từ mũi anh ta còn phần mũi tên thì xuyên ra sau đầu. Mũi sắt của nó làm chấn độn’ buổi sán’ hôm đó và biến mọi thứ thành một chốn kinh hoàn’.

Tiến’ tiệc tùn’ hoang dại khi gần khi xa đó chính là tiến đánh đấm, đún’ vậy! Bữa sán’ bốc khói đó chính là mái rạ bị đốt cháy, đún’ vậy! Lúc này suy nghĩ đầu tiên của ta là người dân thun’ thũn’ nên ta vội lao về phía gian hàn’ của Dân Thun’ Lũn’ tron’ trun’ tâm thị trấn và hét lên, KONA! KONA! Đôi cánh đen tối của hai từ đán’ sợ đó hoản’ hốt xuyên qua Hokonaa, ta nghe một tiến’ vỡ rền van’ và một tiến’ thét rùn’ rợn phát ra, ta nhận ra cổn’ thành đã bị đổ. Lúc này ta đến quản’ trườn’ nhưn’ đám đôn’ hoản’ hốt chặn đườn’ ta và nỗi sợ, phải, nỗi sợ và mùi hôi hừng hực từ nó đã xoay lưn’ ta lại. Ta chạy qua nhữn’ con đườn’ nhỏ hẹp nhưn’ tiến’ gầm của bọn Kona ngày một gần, nhữn’ con ngựa và roi da tràn vào ở nhữn’ con hẻm mù sươn đang bốc cháy như són’ thần, ta khôn’ biết đã qua đườn’ nào hay sắp đi đườn’ nào và ầm! ta bị hất xuốn’ con mươn’ bởi một bà già ốm yếu đan’ quật túi bụi vào khôn’ khí bằn’ một cây cán bột, Đừn’ hòn’ đặt đôi tay bẩn thỉu của mi lên người ta, nhưn’ khi ta lồm cồm bò dậy thì đã thấy bà đứn’ bất độn’, xanh như tàu lá, bà bị một mũi tên bắn xuyên qua ngực và đột nhiên ối một ngọn roi quấn chặt hai chân ta và ối ta bay vút lên cao và ối đầu ta chúc xuốn’ đất và aaaa nền đá đập vào sọ ta, mạnh hơn cả cú chặt từ một cái đục lạnh lùn’.

Khi ta tỉnh lại, cơ thể trai trán’ của ta đau như dần, đầu gối bị vỡ, một cùi chỏ bị trật cứng ngắc và bầm tím còn xươn’ sườn thì gãy, mất hai chiếc răn’, hàm khôn’ khớp lại được nữa và cục u trên đầu to như cái đầu thứ hai vậy. Ta bị trùm đầu như con dê trước khi bị giết thịt, tay chân bị trói thô bạo và nằm thõng thượt trên và dưới nhữn’ cơ thể đán’ thươn’ khác, đún’ vậy, ta đau như chưa từn’ biết đau trước đây, chưa từn’! Xe thồ kêu kẽo kẹt, tiến’ vó sắt lộc cộc và cứ mỗi lần lúc lắc thì đau đớn lại ọc lên tron’ sọ ta.

Kỳ thực, chẳn’ có gì bí ẩn cả. Chún’ ta đan’ bị bắt làm nô lệ và bị chất lên xe đưa về Kona hệt như người anh trai Adam đã biến mất của ta. Ta khôn’ đặc biệt vui mừn’ vì vẫn còn sốn’, ta chẳn’ cảm thấy gì ngoài đau đớn và bất lực như một con chim bị treo lên và chảy máu do cái móc. Một bàn chân ngọ nguậy đè lên hòn bi ta, vì thế ta thì thầm, Có ai còn sốn’ ở đây khôn’? Thế đấy, ta nghĩ có thể mình vẫn còn có thể tìm cách thoát ra khỏi cái hố đó, nhưn’ một giọn’ Kona thô lậu quát lên chỉ cách đó vài tấc, Câm mồm đi, lũ trai bị trói, nếu khôn’ ta thề trên lưỡi dao của mình ta sẽ cắt lưỡi từn’ đứa chó ỉa chún’ bây! Một làn nước ấm thấm vào cánh tay ta, một người nào đó nằm trên ta vừa đái ra quần, nó từ từ biến thành nước lạnh khi từn’ khoảnh khắc trôi qua. Ta đếm thấy năm giọn’ Kona, ba con ngựa và một cái chuồn’ gà. Nhữn’ kẻ bắt chún’ ta làm nô lệ đan’ bàn tán về nhữn’ cô gái mà chún’ đã xé toạc quần áo và cưỡn’ hiếp tron’ trận Honokaa, nên ta biết ta đã bị trùm đầu nửa ngày hoặc hơn rồi. Ta khôn’ đói nhưn’ hỡi ôi, ta khát khô cả cổ. Một tron’ nhữn’ giọn’ Kona nghe quen mà không biết vì sao. Cứ một lúc lâu sau lại có một tiến’ vó ngựa chiến rền van’ dọc đườn’ và dậy lên câu Chào chỉ huy trưởn! và Vân’, thưa ngài và Trận chiến thắn’ lợi! nhờ đó ta biết bọn Kona khôn’ chỉ tấn côn’ vào Honokaa mà còn đánh chiếm toàn bộ miền bắc của Đảo Lớn, đún’ vậy, và điều đó đồn’ nghĩa với Thun’ Lũn’. Thun’ Lũn’ Chín Dải của ta. Sonmi ơi, ta cầu nguyện, Sonmi lòn’ từ, xin hãy chở che cho gia đình và người thân của con.

Cuối cùn’ cơn buồn ngủ lôi tuột ta đi và ta mơ thấy cô gái Kolekole nhưn’ bộ ngực và cái hôn’ của nàn’ làm từ tuyết và đá nham thạch, khi tỉnh lại trên chiếc xe thồ đó, ta thấy một nô lệ đã chết nằm ở phía dưới và đan’ hút hết hơi ấm khỏi người ta. Ta hét lên, Này, Kona, có một người chết ở đây này, chắc là con ngựa thồ sẽ cám ơn các người nếu được dỡ bớt gánh nặn’. Một đứa con trai nằm phía trên ta kêu toán’ lên khi tên Kona đánh xe thồ quất roi vào nó để thưởn’ cho nó vì sự quá-ư-tử tế của ta, chắc nó là đứa đã đái ra quần. Qua tiến’ chim ta biết trời gần tối, và chún’ ta đã bị chất trên xe cả ngày.

Một lúc lâu sau xe dừn’ lại, ta bị lôi ra khỏi chiếc xe thồ ấy và bị một mũi giáo đâm vào. Ta hét lên ngọ nguậy, nghe một tên Kona nói, Thằn’ này vẫn còn sốn’ đấy, rồi bị nhấc lên và dựa vào một tản’ đá to bằn’ cái chòi, ngay sau đó bao trùm đầu của ta được tháo ra. Ta ngồi dậy nheo mắt trước ánh chạn’ vạn’ thê lươn’. Chún’ ta đan’ ở trên đườn’ Waimea ngoằn ngoèo và ta nhận ra chính xác đây là đâu, phải, ngay bên cái ao dốc và tản’ đá to bằn’ cái chòi mà chún’ ta đan’ tựa lưn’ vào chính là tản’ đá mà Meronym và ta đã gặp Già Yanagi chỉ một con trăn’ trước.

Lúc này ta nhìn bọn Kona ném ba nô lệ đã chết cho bọn chó hoan’ và diều hâu, và ta biết tại sao ta nhận ra một giọn’ quen thuộc trước đây, khi thấy một tron’ nhữn’ kẻ bắt bớ chính là Lyons người kể chuyện, em trai của Leary. Người kể chuyện và kẻ tai mắt, cầu cho Già Georgie nguyền rủa hắn đến xươn’ tủy. Khôn’ có Dân Thun’ Lũn’ nào khác ngoài ta tron’ số mười người còn sốn’, ta nghĩ hầu hết là người Honomu và Hawi. Ta cầu nguyện một tron’ ba người bị ném đi khôn’ phải là Kobbery em họ của ta. Tất cả chún’ ta đều là thanh niên, vậy là chún’ đã giết nhữn’ người già ở Honokaa rồi, ta nghĩ như vậy, cả Meronym nữa, vì ta biết cô sẽ khôn’ sốn’ sót hoặc trốn thoát khỏi một cuộc tấn côn’ tàn bạo như vậy. Một người tron’ bọn Kona đổ một dòn’ nước ao lên mặt chún’ ta, chún’ ta mở miện’ ra để hứn’ từn’ giọt nước nhưn’ chừng ấy khôn’ đủ để thấm ướt đôi môi nứt nẻ. Tên tù trưởn’ ra lệnh cho cậu chăn ngựa dựn’ lều rồi nói với nhữn’ kẻ bị bắt đan’ run bần bật. Kể từ sán’ nay, tên khốn nạn vẽ người chằn’ chịt nói, cuộc đời các người, phải, thân thể các ngươi là tài sản của Kona, và các ngươi càn’ sớm chấp nhận sự thật này thì càn’ có khả năn’ sốn’ sót để làm nô lệ của nhữn’ hậu duệ thực sự của Đảo Lớn và một ngày khôn’ xa là toàn Ha-Why. Tên tù trưởn’ nói cuộc đời mới của chún’ ta phải học nhữn’ luật lệ mới, may mắn là nhữn’ luật lệ này rất dễ nhớ. Quy tắc thứ nhất, nô lệ làm theo lệnh của các ôn’ chủ Kona, nhanh chón’ và khôn’ được nhưn’ nhị gì cả. Nhưn’ quy định này và ôn’ chủ của các ngươi sẽ răn đe các ngươi ít hay nhiều, tùy thuộc vào ý thích của ôn’ chủ, cho đến khi các ngươi học cách phục tùn’ tốt hơn. Quy định thứ hai, nô lệ khôn’ nói chuyện trừ khi ôn’ chủ hỏi. Vi phạm quy tắc này, ôn’ chủ sẽ cắt lưỡi các ngươi và ta cũn’ sẽ cắt. Quy tắc thứ ba, đừn’ lãn’ phí thời giờ lập mưu bỏ trốn. Khi các ngươi bị bán vào con trăn’ sau các ngươi sẽ được đón’ dấu tên ôn’ chủ mình trên ngực. Các ngươi sẽ khôn’ bao giờ được trở thành người Kona thuần chủn’ bởi vì các ngươi khôn’ phải là người Kona, thật tình mà nói tất cả đám dân Windward các người đều là nhữn’ cục cứt quái thai. Vi phạm quy tắc này, ta thề là khi các ngươi bị bắt, ôn’ chủ của các ngươi sẽ chặt tay chặt chân, cắt con giốn’ nhét vào miện’ các ngươi, rồi ném các ngươi bên lề đườn’ để ruồi muỗi chuột bọ đến gặm nhấm các ngươi. Nghe thì tưởn’ là được chết nhanh lắm, nhưn’ ta đã ra tay vài lần rồi và thật sự là lâu đến khôn’ ngờ đấy, tin ta đi . Tên tù trưởn’ nói tất cả nhữn’ ôn’ chủ tốt thỉnh thoản’ lại giết một tên nô lệ hư hỏn’ hoặc lười biến’ để nhắc nhữn’ kẻ khác nhớ chuyện gì sẽ đến với nhữn’ kẻ lộn xộn. Cuối cùn’, hắn hỏi có ai than phiền gì khôn’.

Khôn’ có một lời than phiền nào, khôn’ hề. Người Windward hiền hòa chún’ ta đan’ cảm thấy thân thể rã rời vì bị thươn’, đói khát, tâm trí đau đớn vì cảnh giết chóc chún’ ta chứn’ kiến và tươn’ lai nô lệ trước mắt. Khôn’ gia đình, khôn’ tự do, chỉ có làm việc và đau đớn và làm việc và đau đớn cho đến lúc chết, và linh hồn chún’ ta sẽ đầu thai ở đâu khi đó? Ta tự hỏi liệu ta có gặp được Adam hay anh đã chết rồi. Một cậu bé Hawi ốm yếu bắt đầu khóc thút thít nhưn’ nó chỉ mới chín hay mười tuổi nên chẳn’ ai suỵt nó bảo im đi, thực chất nó rơi lệ cho tất cả chún’ ta, đún’ thế. Jonas hẳn cũn’ đã bị bắt làm nô lệ, cả Sussy và Catkin nữa, nhưn’ thật đau lòn’ khi nghĩ đến, hai em đều từn’ là nhữn’ cô bé xinh đẹp. Mẹ thì già rồi... Bọn Kona sẽ thấy ích lợi gì ở bà? Ta khôn’ muốn nghĩ đến bà già cầm cây cán bột ở Honokaa đã hất ta xuốn’ mươn’ nhưn’ khôn’ thể dừn’ suy nghĩ của mình. Lyons bước đến, Hù! cậu bé ốm yếu khiến nó khóc thảm thiết hơn và Lyons cười khoái trá, rồi hắn giật đôi ủn’ Tiên Tri của ta. Hắn đi ủn’ vào rồi ngắm nghía. Hết còn chuyến thám hiểm trên Mauna Kea cho Chàng mục đồn’ Zachry rồi, kẻ phản bội nói , vậy là đâu cần đôi ủn’ này nữa, nhỉ.

Ta khôn’ nói gì nhưn’ Lyons khôn’ thích cách ta khôn’ nói gì nên hắn đá vào đầu và hán’ ta bằn’ chính đôi ủn’ của ta. Ta khôn’ chắc lắm nhưn’ nghĩ hắn là kẻ có quyền lực thứ hai sau tên tù trưởn’, vì chẳn’ thấy ai đòi hắn đôi ủn’ của ta cả.

Màn đêm dần buôn’, bọn Kona nướn’ gà trên lửa và bất kỳ ai tron’ bọn ta cũn sẵn sàn’ đánh đổi linh hồn mình để được một giọt mỡ gà đó nhỏ lên đầu lưỡi. Lúc này bọn ta rất lạnh, và dù bọn Kona khôn’ muốn chún’ ta ngã ốm trước khi đến chợ nô lệ, nhưn’ chún’ vẫn muốn để cho chún’ ta yếu ớt và mất sức vì chún’ ta có mười người còn chún’ chỉ có năm. Chún’ mở một thùn’ rượu rồi nốc rượu tù tì, xé thịt con gà thơm ngon đó, rồi lại nốc rượu tiếp. Chún’ to nhỏ với nhau một chút rồi nhìn về phía bọn ta, sau đó một tên Kona được cử đến chỗ chún’ ta với một cây đuốc. Hắn giơ nó lên trước mặt từn’ người chún’ ta tron’ khi nhữn’ kẻ cùn’ bộ lạc với hắn rú lên Được! hoặc Khôn’! Cuối cùn’ hắn cởi trói chân cậu bé Hawi rồi đỡ cậu cà nhắc tiến về đốn’ lửa. Ở đó chún’ sưởi ấm, cho cậu ăn thịt gà và uốn’ rượu. Nhữn’ tên nô lệ bị bỏ quên chún’ ta đã kiệt sức vì đói và đau và bầy muỗi từ cái ao nên chún’ ta vô cùn’ ganh tị với cậu bé Hawi đó, cho đến khi với cái gật đầu từ Lyons chún’ tuột quần cậu bé xuốn’, giữ chặt nó rồi nhét vào môn’ thằn’ bé, lấy mỡ chim bôi trơn lỗ đít nó trong khi chờ đến lượt một tên khác.

Lyons đan’ thịt cậu bé đán’ thươn’ thì ta nghe thấy một tiến kssssss rồi hắn khụy xuốn’. Bốn gã còn lại phá ra cười, rõ ràn’ chún’ tin rằn’ Lyons đã uốn’ căn’ một bụn’ rượu nhưn’ rồi ksss-ksss, hai chấm đỏ hiện ra giữa hai con mắt một tên Kona khác và hắn cũn’ ngã xuốn’ chết tốt. Một tên Kona đội mũ giáp mặc áo choàn’ tiến vào bãi đất trốn’ cầm một thứ giốn’ như ốn’ xươn’ và chĩa vào ba kẻ còn lại. Một tiến’ kssss nữa và tên Kona trẻ ngã xuốn’. Lúc này tên tù trưởn’ nắm lấy mũi giáo rồi phón’ nó về phía sát thủ đội mũ giáp, người này hụp xuốn’ và gần như lăn trên bãi đất trốn’ nên cây giáo chỉ xé rách áo choàn’ chứ khôn’ trún’ người anh ta. Một tiến’ ksssSSSsss xé toạc một vết dài trên thân người tên tù trưởn’ khiến hắn gần như bị chẻ đôi. Hi vọn’ dân’ trào tron’ lòn’ ta nhưn’ rắc! Tên Kona cuối cùn’ quất roi quanh khúc xươn’ ốn’ sát thủ đó và rắc! Đồ bắn lập tức rời khỏi tay vị cứu tinh và lọt vào tay tên Kona như phép màu. Lúc này tên Kona cuối cùn’ chĩa vũ khí vào vị cứu tinh của chún’ ta và tiến lại gần để khôn’ bắn hụt, ta thấy bàn tay hắn bóp còi và KSSSS! Đầu tên Kona cuối cùn’ đã biến mất, cây sakê sau lưn’ hắn bốc cháy và nứt toác, bốc khói giữa trời mưa.

Thi thể hắn đứn’ lẻ loi một lúc như một đứa bé tập đi, rồi... ầm! Thế đấy, hắn đã nhầm phần miện’ với phần đuôi của đồ bắn và làm nổ tun’ cái đầu của chính mình. Vị cứu tinh Kona bí ẩn của chún’ ta ngồi dậy, xoa nhẹ hai cùi chỏ, tháo mũ giáp ra và nhìn năm kẻ đã chết đầy thươn’ cảm.

Ta đã quá già để làm việc này, Meronym nói, buồn bã chau mày.

Chún’ ta cởi trói cho nhữn’ nô lệ còn lại và để họ ăn thức ăn của bọn Kona, Meronym có đủ thức ăn cho bọn ta tron’ túi treo bên yên ngựa và nhữn’ kẻ được giải thoát đã có đủ nhữn’ gì họ cần. Thứ duy nhất chún’ ta lấy lại từ năm tên đã bỏ mạn’ là đôi ủn’ của ta từ chân Lyons. Tron’ chiến tranh, Meronym dặn \, đầu tiên cậu phải lo cho đôi ủn’ của mình, kế đến mới lo đồ ăn thức uốn’. Một lúc lâu sau đó, vị cứu tinh kể lại cho ta toàn bộ câu chuyện khi chún’ ta ở tron’ ngôi nhà bỏ hoan’ của Người Xưa nằm giữa nhữn’ lùm cây um tùm khôn’ có đườn’ mòn trên Leeward Kohala và nhóm một đốn’ lửa nhỏ.

Chuyện cũn’ khôn’ dài lắm đâu. Meronym khôn’ ở tron’ gian hàn’ của Dân Thun’ Lũn’ khi bọn Kona tấn côn’ Honakaa, lúc đó cô đan’ ở trên tườn’ thành vẽ cảnh biển cho đến khi một mũi tên bốc cháy hất văn’ quyển sách vẽ ra khỏi tay cô. Cô quay về gian hàn’ của Dân Thun’ Lũn’ trước khi cổn’ thành bị côn’ phá, nhưn’ Chú Bees hét lên với cô rằn’ ta mất tích rồi nên cô đi tìm ta, và đó là lần cuối cùn’ cô nhìn thấy người dân của ta. Con ngựa và mũ giáp cô lấy được từ một tên tù trưởn’ Kona, hắn lao vào một con hẻm và khôn’ lao ra nữa. Mặc đồ của Kona và ngụy tran’ thành một chiến binh, Meronym tìm đườn’ thoát ra khỏi thị trấn đan’ bốc cháy và đổ máu. Đó khôn’ phải là một trận chiến, khôn’ hề, chỉ là một cuộc bố ráp, rõ ràn’, quân đội của Trưởng Tộc đã đầu hàn’ nhanh hơn bất kỳ ai. Đầu tiên Meronym cưỡi ngựa về phía bắc hướn Thun’ lũn’, nhưn’ bọn Kona đan’ tụ tập dày đặc quanh Kuikuihaele để chuẩn bị tràn vào Thun’ Lũn’, vì thế cô đã quay về hướn’ đất liền dọc đườn’ Waimea, nhưn’ con đườn’ đó bị canh gác rất dày đặc và nếu bị chặn lại cô lộ ngay khôn’ phải dân Kona. Meronym quay về hướn’ nam, định sẽ đến Hilo xem vùng ấy còn tự do hay khôn’. Nhưn’ Sonmi đã giữ chân cô đủ lâu để kịp nhìn một chiếc xe thồ chạy qua, và thò ra từ chiếc xe đó là hai bàn chân, trên hai bàn chân đó là đôi ủn’ của Người Tiên Tri, và chỉ có một người Windward duy nhất cô biết có đi ủn’ Tiên Tri. Cô khôn’ dám cứu ta giữa ban ngày và có lúc đã mất dấu chiếc xe vì gặp phải một đàn ngựa, và nếu khôn’ nhờ tiến’ hò reo khi chún’ ngấu nghiến cậu bé Hawi thì cô hẳn đã khôn’ nhìn thấy bọn ta tron’ đêm tối và cưỡi ngựa đi qua mất. Hỡi ôi, cô đã trải bao mạo hiểm để cứu ta! Sao cô khôn’ trốn đi để giữ mạn’ cho mình? ta hỏi.

Cô làm vẻ mặt thật là một câu hỏi ngu ngốc.

Phải, nhưn’ chún’ ta sẽ làm gì? Đầu óc của ta đan’ bấn loạn sợ hãi.

Thun’ lũn’ đã bị tấn côn’ và đốt cháy, có lẽ thế... và nếu Hilo chưa thất thủ, thì nó cũn’ sẽ thất thủ sớm thôi...

Bạn ta băn’ bó vết thươn’ cho ta bằn’ băn’ gạc và các thứ rồi đưa một tách thuốc lên môi ta. Cái này sẽ giúp cậu chữa lành cơ thể thươn’ tích, Zachry ạ. Hãy im lặn’ và ngủ đi.

Tiếng đàn ôn’ thì thầm đánh thức ta dậy tron’ một nơi ẩn nấp dột nát của Người Xưa với lá cây xào xạc ngoài ô cửa sổ. Người ta ê ẩm hơn một chục chỗ nhưn’ khôn’ đến nỗi xé thịt. Buổi sán’ có mùi hanh khô và khuất gió, nhưn’ ta nhớ thời đại tuyệt vọn’ mới đan’ bủa vây Windward và, hỡi ôi, ta rên rỉ trong đầu khi cố ngồi thức dậy. Ở phía kia của căn phòn’, Meronym đan’ nói chuyện qua orison với Người Tiên Tri nghiêm khắc từn’ bắt quả tan’ ta lục lọi đồ của Meronym lần đầu tiên đó. Ta nhìn chăm chú một lúc và bị mê hoặc một lần nữa, nhữn’ màu sắc sinh độn’ và tươi sán’ hơn trong các cửa sổ orison. Ôn’ ta nhanh chón’ nhìn thấy ta ngồi dậy và chào ta ta bằn’ một cái hất đầu. Meronym cũn’ quay lại hỏi thăm sức khỏe của ta.

Đỡ hơn hôm qua rồi, ta bước đến để xem Trí Thôn’ Minh đặc biệt đó. Xươn’ cốt ta rên rỉ một chút. Meronym nói ta đã gặp Người Tiên Tri này rồi, ôn’ ta tên là Duophysite, ta đáp ta chưa quên vì ôn’ ấy quá đán’ sợ. Người Tiên Tri tron’ cửa sổ đan’ nghe chún’ ta và khuôn mặt xươn’ xẩu của ôn’ ta giãn ra một chút. Ôi, tôi ước gì chún’ ta khôn’ gặp nhau tron’ nhữn’ thời điểm đen tối thế này, Zachry ạ, Duophysite nói, nhưn’ tôi mon’ cậu hãy đưa Meronym đi một chuyến cuối cùn’, đến Ngón tay Ikat. Cậu biết nó chứ?

Có, ta có biết nó, nằm ở phía bắc của Thun’ Lũn’ cuối cùn’ qua cây cầu Pololu, một dải đất dài chĩa về phía đôn’. Chiếc Tàu đan’ thả neo ở Ngón tay Ikat để đón Meronym hay sao?

Hai Người Tiên Tri trao nhau ánh nhìn và một lúc sau Duophysite lên tiến’. Chún’ tôi có tin xấu từ thị trấn của chún’ tôi, rất tiếc phải nóinhư thế. Các orison trên Đảo Tiên Tri và Chiếc Tàu khôn’ trả lời tín hiệu tron’ nhiều ngày rồi.



Tín hiệu là gì? tôi hỏi .



Một thôn’ điệp, Meronym đáp, một cửa sổ, một cuộc họp orison như cách chún’ ta đan’ bàn bạc với Duophysite lúc này.

Tôi hỏi, Các orison đó bị hỏn’ à?



Có thể còn tệ hơn thế nữa, người tron’ cửa sổ nói , số là tron’ vài con trăn’ gần đây, một bệnh dịch xảy ra gần Đảo Tiên Tri, ở phía tây của Ank’ridge, phải, một căn bệnh khủn’ khiếp mà Trí Thôn’ Minh của chún’ ta khôn’ thể chữa được. Chỉ một tron’ số hai trăm người mắc dịch bệnh này sốn’ sót, phải. Người Tiên Tri chún’ tôi trên Ha-Why phải tự lực cánh sinh vì Chiếc Tàu có thể sẽ khôn’ đến.

Nhưn’ còn Anafi, con trai của Meronym thì sao? Khuôn mặt của Meronym khiến ta ước gì mình đã cắn đứt lưỡi trước khi hỏi.

Tôi phải sốn’ mà khôn’ biết, bạn ta đáp, thật u sầu đến nỗi ta muốn khóc. Tôi khôn’ phải là người đầu tiên từn’ sốn’ nên tôi cũn’ sẽ khôn’ phải là người cuối cùn’.



Câu chuyện đó làm bùn’ lên niềm hi vọn’ mà trước đó ta chưa nhận ra. Ta hỏi Duophysite có bao nhiêu người Tiên Tri trên toàn Ha-Why.

Năm, ôn’ ta đáp.

Năm trăm à? ta hỏi.

Duophysite nhìn thấy sự thất vọn’ của ta và hiểu nó ngay. Khôn’, chỉ có năm. Mỗi người trên một đảo chính tron’ quần đảo. Toàn bộ sự thật của chún’ tôi có thể kể một cách đơn giản và bây giờ đã đến lúc cậu biết về nó. Chún’ tôi sợ dịch bệnh này sẽ đến Đảo Tiên Tri và dập tắt tia sán’ cuối cùn’ của nền Văn minh. Chún’ tôi đã tìm vùn’ đất tốt để gieo thêm Văn minh ở Ha-Why, và chún’ tôi khôn’ muốn làm kinh độn’ người dân đảo các cậu bằn’ cách ào ạt đổ bộ.



Vậy là cậu thấy rồi đó, lúc này Meronym nói , nỗi sợ của cậu về mục đích thật sự của tôi khôn’ hoàn toàn sai đâu.

Ta khôn’ còn quan tâm đến điều đó nữa. Ta nói, nếu Người Tiên Tri mà giốn’ như Meronym thì dù năm nghìn người Thun’ Lũn’ chún’ ta cũn’ sẵn sàn’ chào đón. Duophysite sa sầm nét mặt, nghĩ đến số lượn’ Người Tiên Tri ít ỏi có thể còn sốn’ đến lúc này. Người chỉ huy của bộ lạc tôi ở Maui nơi tôi đan’ nói chuyện với cậu đây là một nhà lãnh đạo thân thiện cũn’ như Trưởn’ lão của cậu vậy. Ôn’ ta đã ra lệnh cho hai chiếc thuyền chiến kayak vượt eo biển Maui và sẽ đến Ngón tay Ikat vào trưa ngày mốt.

Ta hứa với ôn’ ta sẽ đưa Meronym đến nơi an toàn kịp lúc.

Vậy thì tôi có thể cám ơn cậu vì đã trực tiếp giúp đỡ cô ấy. Duophysite nói thêm rằn’ sẽ có chỗ trên kayak nếu ta muốn trốn khỏi Đảo Lớn với cô.

Điều đó khiến ta yên tâm. Cảm ơn, ta nói với Người Tiên Tri mắc cạn, nhưn’ tôi phải ở lại và tìm kiếm gia đình mình.

Chún’ ta ẩn nấp tron’ căn nhà đổ nát đó thêm một đêm nữa để cơ bắp và các vết bầm trên người ta lành lại. Thật khó chịu khi khôn’ thể khẩn trươn’ trở về Thun’ Lũn’ để chiến đấu hoặc nghe ngón’ tình hình nhưn’ Meronym đã nhìn thấy ngựa và xạ thủ Kona ồ ạt tiến về Thun’ Lũn’ qua Kukuihaele, cô trấn an ta, đó khôn’ phải là trận chiến dai dẳn’ và nó chắc chắn đã kết thúc sau vài giờ chứ khôn’ phải vài ngày.

Ngày hôm đó thật ảm đạm và ám ảnh. Meronym dạy cho ta cách dùn’ đồ bắn hình xươn’ ốn’ đặc biệt đó. Chún’ ta thực tập trên quả dứa rồi trên nhữn’ viên đá mài lớn rồi trên quả đấu cho đến khi khả năn’ ngắm của ta thật nhạy bén. Ta canh gác tron’ lúc Meronym ngủ, rồi cô canh gác tron’ lúc ta ngủ. Đốn’ lửa nhanh chón’ làm bẩn làn sươn’ chạn’ vạn’, chún’ ta ăn khẩu phần của bọn Kona với thịt cừu muối và ron’ biển cùn’ quả lilikoi mọc tron’ khu đổ nát đó. Ta đổ đầy thức ăn vào túi ăn của ngựa, vỗ về nó và đặt tên cho nó là Wolt vì trôn’ nó xấu xí hệt như anh họ của ta vậy, rồi cảm thấy đau buồn khôn xiết, khôn’ biết giờ này còn ai tron’ số bà con họ hàn’ của mình còn sốn’. Thật sự thì khôn’ biết về điều tồi tệ nhất còn tệ hơn là biết về điều tồi tệ nhất.

Một ý nghĩ lóe lên tron’ đầu, ta hỏi Meronym tại sao một Nữ Tiên Tri lại biết cưỡi ngựa giỏi như người Kona. Cô thừa nhận hầu hết Người Tiên Tri khôn’ biết cưỡi con vật nào nhưn’ cô từn’ sốn’ với một bộ lạc tên là Swannekke ở phía bên kia dãy Ank’ridge và bên kia cả Far Couver. Người Swannekke nuôi ngựa như Dân Thun’ Lũn’ nuôi dê vậy, trẻ con ở đó biết cưỡi ngựa trước cả khi biết đi, và cô đã học tron’ thời gian ở với họ. Meronym dạy cho ta rất nhiều về nhữn’ bộ lạc mà cô từn’ sốn’ cùn’ nhưn’ lúc này ta chẳn’ còn thời gian cho nhữn’ chuyện đó, đã muộn rồi. Chún’ ta nói về lộ trình ngày mai đến Ngón tay Ikat, thế này, có một cách là đi theo đườn’ gập ghềnh của Kohala phía trên Chín Thun’ Lũn’, nhưn’ có một cách khác là đi theo dòn’ Waipio xuốn’ Chốt canh gác của Abel trước rồi thăm dò tình hình. Chún’ ta khôn’ biết bọn Kona có chém giết và đốt sạch Thun’ Lũn’ như đã làm ở Mookini hay chún’ chỉ nhắm đến chinh phục và khốn’ chế nhà cửa của chún’ ta rồi giam chún’ ta tron’ chính nhà mình. Ta đã hứa sẽ đưa Meronym an toàn đến Ngón tay Ikat, mà thăm dò kị binh của Kona là chuyện khôn’ an toàn chút nào, nhưn’ Meronym nói chún’ ta sẽ thăm dò Thun’ Lũn’ trước vì thế đườn’ đi ngày mai đã được thốn’ nhất.

Bình minh phủ một màn sươn’ đặc quánh. Khôn’ dễ để dẫn ngựa trèo đèo vượt non trên Kohala đến suối Waipio, khôn’ biết có toán quân Kona nào đan’ chờ đợi ở bên kia lũy tre trúc hay khôn’ nên chún’ ta cố gắn’ khôn’ tạo tiến’ độn’ nào. Chủ yếu chún’ ta đi bộ và dắt theo con ngựa nhưn’ cuối cùn’ thì trưa hôm đó chún’ ta vẫn đến được suối và buộc nó vào một khe núi rồi bò trườn’ quãn’ đườn’ còn lại đến Nhà Abel dọc theo vết vó ngựa. Sươn’ mù biến từn’ lùm cây thành một tên lính canh Kona lù lù, nhưn’ ta vẫn cảm tạ Sonmi vì nó đã giúp ngụy tran’ cho chún’ ta. Chún’ ta ló nhìn qua miện’ vực xuốn’ gác canh. Cảnh tượn’ đau buồn, đún’ thế. Chỉ còn cổn’ Nhà Abel đón’ kín, các bức tườn’ và nhà xây bên ngoài đều đã bị đốt thành than và phá nát. Một người đàn ôn’ trần truồn’ bị treo trên xà cổn’, cổ chân buộc ngược lên theo kiểu bọn Kona vẫn làm, có thể đó là Abel, cũn’ có thể khôn’ phải, lũ quạ đã moi ruột ôn’ ta và hai con chó hoan’ đan’ nhặt nhạnh nhữn’ món rơi vãi xuốn’ đất.

Tron’ lúc chún’ ta quan sát, một nhóm ba mươi-bốn mươi người Dân Thun’ Lũn’ bị bắt làm nô lệ đan’ bị lùa ra về hướn’ Kuikuihaele. Ta sẽ nhớ cảnh tượn’ đó đến ngày nhắm mắt và cả sau đó. Vài người đan’ kéo nhữn’ chiếc xe thồ chở đồ đạc dụn’ cụ cướp được. Bọn Kona quát mắn’, ra lệnh om sòm và quất roi vun vút. Sươn’ mù quá dày nên ta khôn’ thể nhìn rõ nhữn’ khuôn mặt người dân của bộ lạc mình nhưn’, hỡi ôi, dán’ hình họ thật thảm thươn’, lê lết ra phía Sloosha’s Crossin’. Nhữn’ hồn ma. Nhữn’ hồn ma sốn’. Hãy chứn’ kiến vận mệnh của bộ lạc văn minh cuối cùn’ trên Đảo Lớn, ta nghĩ , phải, kết quả của trườn’ học và Biểu Tượn’ Tháp của chún’ ta, chỉ để làm nô lệ cho các cánh đồn’, nhà ở, chuồn’ trại, giườn’ ngủ của bọn Kona và nhữn’ cái lỗ trên đất Leeward.

Ta làm được gì? Đuổi theo bọn chún’? Khoản’ hai mươi kị sĩ Kona đan’ áp tải họ ra khỏi Leeward. Ngay cả với đồ bắn của Meronym ta cũn’ chỉ có thể hạ gục năm tron’ số hai mươi tên lính gác, có thể nhiều hơn nếu ta may mắn, nhưn’ rồi sau đó thì sao? Người Kona sẽ đâm chết từn’ Dân Thun’ Lũn’ từ khoảnh khắc giao tranh đầu tiên. Đây khôn’ phải là Zachry Hèn Nhát đan’ đấu tranh với Zachry Dũn’ Cảm, khôn’ phải, mà là Zachry Liều Chết đan’ đấu tranh với Zachry Sốn’ Sót và ta khôn’ xấu hổ khi nói Zachry nào thắn’. Ta ra dấu cho Meronym quay trở về nơi buộc con ngựa dù nước mắt tuôn rơi.

Môn’ ngắn, lấy một củ khoai nướn’ cho ta nào. Nhớ lại chuyện đó khiến ta đói cồn cào.

Bây giờ trở về bãi cỏ Kohala, sươn’ mù trôi xuốn’ phía dưới và Mauna Kea hiện lên từ biển mây phía nam, rõ và gần đến nỗi có thể nhổ nước bọt vào và ta đã làm thế, phải, ta nhổ nước bọt thật mạnh. Linh hồn ta có thể bị hóa đá, vận may của ta có thể bị mục rữa nhưn’ chí ít ta vẫn có thể buôn’ ra một câu nguyền rủa. Từ Chín Dải Thun’ Lũn’ nhữn’ con rắn khói đen ngòm bay lên, ta nghĩ mọi loài độn’ vật có cánh có chân trên Đảo Lớn đan’ ăn uốn’ moi móc tron’ Thun’ Lũn’ của chún’ ta vào sán’ hôm đó. Trở về bãi cỏ, chún’ ta thấy nhữn’ con dê lạc đàn, một số con của ta, một số con của Kaima, nhưn’ chún’ ta chẳn’ gặp một mục đồn’ nào. Ta vắt sữa mấy con và chún’ ta uốn’ phần sữa dê tự do cuối cùn’ của Dân Thun’ Lũn’. Qua Đèo Vert’bry chún’ ta đi xuốn’ về phía Đá Ngón Cái nơi Meronym vẽ bản đồ năm con trăn’ trước, phải, qua chỗ đất phủ cây thạch nam từn’ ôm trọn Roses nằm bên dưới ta sáu con trăn’ trước. Mặt trời làm bốc hơi sươn’ khói và đằng sau dải cầu vồn’ năm lớp ta nhìn thấy trườn’ học đã bị đốt phá, bấy giờ chỉ còn là một cái vỏ đen ngòm, nhữn’ quyển sách cuối cùn’ và chiếc đồn’ hồ cuối cùn’. Chún’ ta cưỡi ngựa xuốn’ dòn’ Elapaio và xuốn’ ngựa ở đó, Meronym đeo mũ giáp lên, trói hờ tay ta lại để nếu chún’ ta bị phát hiện thì trôn’ như cô đã vừa được một tên nô lệ tìm cách trốn thoát và nhờ đó chún’ ta thoát phút hiểm nghèo. Chún’ ta đi như thế đến nhà Cluny, là nhà ở cao nhất trên núi. Meronym xuốn’ ngựa rồi nắm chặt đồ bắn tron’ lúc chún’ ta nín thở bò trườn như hai con chuột qua nhữn’ căn nhà, nhưn’ tim ta thì khôn’ yên một chút nào. Một trận đánh lớn đã quét qua đó, đồ đạc bị nghiền nát và phá vỡ, nhưn’ khôn’ có thi thể nào nằm đó cả. Chún’ ta lấy một ít thức ăn tươi cho hành trình sắp tới, ta biết Cluny sẽ khôn’ trách đâu. Rời khỏi cổn’ nhà Cluny, ta thấy một quả dừa bị cắm trên một cái cột dính máu, ruồi bay vo ve xun’ quanh, lấy làm lạ chún’ ta nhìn gần hơn và phát hiện ra đó khôn’ phải là một quả dừa, mà là đầu của Macca Cluny, miện’ vẫn còn ngậm ốn’ tẩu.

Bọn Kona sơn vẽ đầy mình thực sự là nhữn’ kẻ ác ôn mọi rợ. Có kẻ chết rồi mới tin được chúng. Đầu của Macca khiến ta sôi sục lòn’ căm hận khi chún’ ta đi xa hơn xuốn’ Nhà Bailey.

Một thùn’ sữa dê đã vón cục nằm ở chỗ vắt sữa và ta khôn’ thể khôn’ hình dun’ đến cảnh Sussy bị lôi đi khỏi chiếc ghế ngồi vắt sữa đã vỡ nát đó và nhữn’ gì chún’ đã làm với con bé, hỡi ôi, đứa em gái thân yêu đán’ thươn’ của ta. Một vòn’ dấu chân ngựa giẫm đạp lên sân bùn. Đàn dê đã bị lùa đi hết, đàn gà bị bắt. Thật tĩnh mịch. Khôn’ tiến’ khun’ dệt lách cách, khôn’ tiến Catkin hát, khôn’ còn Jonas. Dòng suối và con chim hét ở mái hiên và chẳn’ còn gì hết. Khôn’ có cảnh tượn’ rùn’ rợn trên cột cổn’, ta cảm tạ Sonmi vì điều đó rất nhiều. Bên tron’, trứn’ và quả mơ rơi vãi từ chiếc bàn bị lật úp. Ở từn’ phòn’ ta lo sợ trước điều sẽ tìm thấy nhưn’ khôn’, nhờ ơn Sonmi phù hộ dườn’ như gia đình ta chưa bị giết...

Cảm giác tội lỗi và buồn đau nhấn chìm ta.

Tội lỗi vì ta đã luôn sốn’ sót và trốn thoát dù cho linh hồn ta đã vấy bẩn và hóa đá. Buồn vì tàn tích cuộc đời cũ bị phá nát của ta nằm la liệt khắp nơi. Đồ chơi của Jonas do Bố làm nhiều năm trước. Khun’ dệt của mẹ nằm ở cửa, lắc lư trong hơi gió nhẹ cuối cùn’ của mùa hè. Cá khô và cỏ sun’ sướn’ treo trên trần. Vở viết bài của Catkin ở trườn’ vẫn nằm trên bàn nơi con bé hay ngồi học. Khôn’ biết phải nghĩ hay nói gì. Tôi phải làm gì? Ta hỏi bạn ta như tự hỏi mình. Tôi phải làm gì?

Meronym ngồi trên một chiếc hộp gỗ do Jonas làm, mẹ gọi đó là kiệt tác đầu tiên của nó. Một lựa chọn khó khăn và tăm tối, Zachry ạ, cô đáp . Ở lại tron’ Thun’ Lũn’ đến khi cậu bị bắt làm nô lệ. Trốn đi và nán lại cho đến khi bọn Kona tấn côn’ rồi bị giết hoặc bị bắt làm nô lệ. Sốn’ chui nhủi tron’ rừn’ như một tên cướp cho đến khi bị bắt. Vượt eo biển đến Maui với tôi và có thể khôn’ bao giờ quay lại Đảo Lớn nữa. Phải, đó là tất cả nhữn’ lựa chọn ta có, khôn’ bàn cãi, nhưn’ ta khôn’ thể chọn cái nào, tất cả nhữn’ gì ta biết là ta khôn’ muốn bỏ chạy khỏi Đảo Lớn mà chưa báo thù cho nhữn’ gì đã xảy ra nơi đây.

Đây khôn phải là nơi an toàn nhất để ngồi nghĩ ngợi, Zachry ạ, Meronym nói, thật dịu dàn; đến nỗi cuối cùn’ nước mắt ta cũng trào ra.

Leo lên lưn’ ngựa để rời khỏi nơi này, ta nhớ nhữn’ biểu tượn’ của gia đình mình tron’ am thờ. Lúc này, nếu ta để họ ở tron’ đó để bị lấy ra làm củi đốt dần thì sẽ chẳn’ còn gì để chứn’ minh dòn’ họ Nhà Bailey từn’ tồn tại. Thế là ta một mình chạy về để lấy lại. Tron’ lúc chạy trở vào nhà ta nghe tiến’ chén bát rơi xuốn’ từ kệ nhà bếp. Ta đứn’ im.

Từ từ ta quay lại nhìn.

Một con chuột béo đan’ khệnh khạn’ đứn’ đó, nheo mắt nhìn ta và nhúc nhích nhữn’ sợi râu mũi. Ta cá là cậu đan’ hối tiếc vì đã khôn’ cắt sợi dây thừn’ đó trên bức tườn’ ngày đó, phải khôn’ Zachry? Cậu đã có thể tránh được hết nhữn’ tổn thất đau khổ này rồi.

Ta khôn’ thèm nghe nhữn’ lời nói dối của lão. Đằn’ nào bọn Kona cũn’ sẽ tấn côn’, ta chẳn’ việc gì phải tranh cãi với Kẻ Ác Ôn đó. Ta nhặt lên một chiếc nồi để ném Già Georgie nhưn’ khi ta đan’ nhắm vào nó thì con chuột béo biến mất, và từ căn phòn’ trốn’ ở bên trái ta phát ra một tiến’ thở nhẹ từ chiếc giườn’ mà ta chưa kiểm tra lúc nãy. Lẽ ra ta nên bỏ chạy, phải, ta biết như thế nhưn’ ta đã khôn’ làm, mà rón rén đi vào và thấy một lính gác Kona nằm đó trên đốn’ chăn mềm mại, chìm đắm tron’ mớ cỏ sun’ sướn’ của Thun’ Lũn’ Mormon. Rõ ràn’ hắn chủ quan cho rằn’ tất cả Dân Thun’ Lũn’ đều đã bị lùa nhốt và biến thành nô lệ nên đã nằm vật ra ngủ tron’ lúc làm nhiệm vụ.

Vậy kẻ thù đán’ sợ là đây. Khoản’ chừn’ mười chín-hai mươi tuổi. Một mạch máu đập tron’ trái khế của hắn, chỗ còn để trắn’ giữa hai hình xăm con thằn lằn. Mi đã tìm thấy ta, phải, vậy thì hãy cắt ta đi, chiếc cổ ấy thì thầm. Cắt đi.

Lời tiên báo thứ hai của ta, hẳn các con còn nhớ, và ta cũn’ thế. Kẻ thù đan’ ngủ, chớ rạch họn’ hắn. Đây là khoảnh khắc ứng nghiệm, khôn’ cần bàn cãi. Ta ra lệnh cho tay ta làm điều đó nhưn’ chẳn’ hiểu sao chún’ đã bị khóa chặt. Ta đã đánh đấm đủ nhiều rồi, ai mà chẳn’ thế?, nhưn’ ta chưa từn’ giết ai cả. Đấy, luật Thun’ Lũn’ cấm giết người, nếu các con cướp sinh mạn’ của một người thì chẳn’ còn ai trao đổi gì với con hoặc gặp con hoặc làm bất cứ gì với con vì linh hồn con đã quá độc hại rồi, con có thể khiến họ bị ốm. Dù sao thì ta đứn’ đó, bên chiếc giườn’ của mình, lưỡi dao cách cổ họn’ trắn’ nhởn ấy chỉ vài centimet.

Tiến’ con chim hét đan’ van’ lên nhanh và to hơn. Tiến’ chim nghe như nhữn’ lưỡi dao đan’ mài, ta nhận ra lần đầu tiên tại nơi đó vào lúc đó. Ta biết tại sao ta khôn’ nên giết tên Kona này. Làm thế sẽ khôn’ lấy lại được Thun’ Lũn’ cho người dân. Nó sẽ hóa đá linh hồn bị nguyền rủa của ta. Nếu ta đầu thai làm một tên Kona tron’ kiếp này thì hắn có thể là ta và ta có thể sẽ giết chính mình. Nếu giả sử như Adam được nhận nuôi và biến thành người Kona, thì người ta giết sẽ là anh trai ta. Già Georgie muốn ta giết hắn. Nhữn’ lý do này đã đủ để ta bỏ mặc hắn nằm đó và lặn’ lẽ trốn đi chưa?



Khôn’ đủ, ta trả lời kẻ thù của mình, và ta cắm lưỡi dao qua cổ họn’ hắn. Màu đỏ dị kỳ phồn’ lên và xịt ra thấm ướt hết chăn lôn’ cừu, đọn’ thành vũn’ trên sàn đá. Ta lau sạch lưỡi dao trên áo của người chết. Ta biết từ từ ta sẽ trả giá cho điều này nhưn’, như ta nói khi nãy, tron’ thế giới đổ nát của chún’ ta, điều đún’ đắn khôn’ phải lúc nào cũn’ khả dĩ.

Khi bước ra ngoài, ta đâm sầm vào Meronym đan’ chạy đến, Kona! cô rít lên. Khôn’ còn thời gian để giải thích ta đã làm gì tron’ đó và tại sao. Ta vội vã nhét các biểu tượn’ gia đình vào túi đeo yên ngựa và cô kéo ta lên lưn’ ngựa. Ba- bốn con ngựa đan’ phi tới từ hướn’ nhà Thím Bees. Chún’ ta lao ra khỏi Nhà Bailey lần cuối như bị Già Georgie đớp phải môn’. Ta nghe tiến’ người phía sau và quay lại nhìn, thậm chí còn thấy áo giáp của chún’ lóe lên qua vườn cây sun’ nhưn’ lạy Sonmi Lòn’ Lành, chún’ khôn’ nhìn thấy chún’ ta đan’ biến mất. Một lúc sau chún’ ta nghe thấy tiến’ còi đinh tai nhức ócvan’ vọn’ Thun’ Lũn’, ba tiến’ tất cả, và ta biết bọn Kona hẳn đã tìm thấy tên lính canh mà ta cắt cổ và đan’ gửi cảnh báo đi, Dân Thun’ Lũn’ chưa bị bắt làm nô lệ hoặc bị giết chết hết. Ta biết mình sẽ phải trả giá sớm hơn mình đặt cược vì đã phớt lờ lời tiên báo thứ hai, và Meronym cũn’ thế.

Nhưn’ vận may của chún’ ta vẫn chưa lụi tàn. Một tiến’ tù và đáp lại tiến’ còi đầu tiên, phải, chún’ đang ở sâu phía dưới, chúng ta cưỡi ngựa trở lại qua Đèo Vert’bry tron’ tâm trạn’ lo lắn, nhưn’ khôn’ bị tấn côn’. Đó là một cuộc trốn thoát suýt soát, đún’ vậy, nấn ná một giây nữa thôi ở nhà ta là bọn kị sĩ Kona đã có thể thấy và đuổi theo chún’ ta. Tránh rặn’ núi và bãi cỏ Kohala, chún’ ta băn’ qua khu rừn’ để nấp và đến lúc đó ta mới thú nhận với Meronym về điều mình đã làm đối với tên lính gác ngủ quên đó. Ta khôn’ biết tại sao nhưn’ nhữn’ bí mật khiến các con cảm thấy mục nát như răn’ bị sâu nếu khôn’ được chải sạch. Cô ta chỉ lắn’ nghe, và khôn’ phán xét gì ta cả.

Ta biết một cái han’ kín cạnh thác Mauka và ta đưa cả hai đến đó để Meronym nghỉ lại đêm cuối cùn’ trên Đảo Lớn nếu mọi việc diễn ra đún’ kế hoạch. Ta đã hi vọn’ Wolt hoặc Kobbery hoặc một mục đồn’ khác có thể đã trốn thoát và đan’ ẩn náu ở đó, nhưn’ khôn’, chẳn’ có ai, chỉ có vài chiếc chăn mà mục đồn’ chún’ ta cất ở đó để ngủ. Cơn gió mậu dịch đan’ mạnh lên choáng váng, ta lo ngại cho nhữn’ người chèo thuyền kayak sẽ rời Maui vào bình minh, nhưn’ trời cũn’ khôn’ lạnh lắm nên ta khôn’ dám đánh liều nhóm lửa, khôn’ nên làm thế khi đan’ ở quá gần kẻ thù. Ta rửa vết thươn’ tron’ ao và Meronym tắm rửa rồi chún’ ta ăn thức ăn lấy được từ nhà Cluny với lá cây sun’ mà ta hái từ nhà mình khi trở về để lấy các biểu tượn’.

Ta khôn’ thể ngừn’ nhớ lại mọi chuyện và nhắc đến tron’ lúc ăn, về gia đình ta, cả Bố và Adam nữa, cứ như nếu họ sốn’ tron’ từ ngữ thì họ sẽ khôn’ chết tron’ hình hài. Ta biết mình sẽ nhớ Meronym da diết khi cô đi, rõ ràn’ ta chẳn’ còn anh em nào khác chưa bị bắt làm nô lệ trên Đảo Lớn. Bà Trăn’ lên cao và ngắm nhìn Thun’ Lũn’ xinh đẹp bị tàn phá của ta với đôi mắt bạc thươn’ cảm, còn đàn chó hoan’ hú rên ai oán cho nhữn’ người xấu số. Ta tự hỏi linh hồn nhữn’ người dân của bộ lạc ta sẽ đầu thai ở đâu khi mà giờ đây phụ nữ ở Thun’ lũn’ khôn’ còn sinh con đẻ cái ở đây nữa. Ta ước gì Trưởn’ lão có ở đó để cho ta biết vì ta khôn’ thể trả lời mà Meronym cũn’ khôn’. Người Tiên Tri chún’ tôi, cô đáp, sau một lúc, tin rằn’ chết là hết, chẳn’ có quay lại gì cả.

Nhưn’ còn Linh hồn cô thì sao? ta hỏi.

Người Tiên Tri khôn’ tin Linh hồn có tồn tại.

Nhưn’ cái chết khôn’ phải là lạnh lẽo đến rợn người hay sao nếu chẳn’ còn gì sau đó?

Phải, cô gần như cười nhưn’ miện’ khôn’ nở nụ cười, sự thật của chún’ tôi đún’ là lạnh lẽo đến rợn người.

Đó là lần duy nhất ta cảm thấy tội nghiệp cho cô ta. Đôi khi các linh hồn băn’ qua bầu trời thời gian như mây băn’ qua bầu trời của thế giới, Trưởn’ lão từn’ nói thế. Sonmi là phía đôn’ và phía tây, Sonmi là bản đồ và là cạnh của bản đồ và là phía bên ngoài của cạnh. Nhữn’ vì sao lấp lánh chiếu sán’, ta gác phiên đầu tiên nhưn’ ta biết Meronym khôn’ ngủ, khôn’ hề, cô đan’ thao thức trằn trọc dưới lớp chăn cho đến khi cô chịu khôn’ nổi nữa và ngồi dậy cạnh ta để ngắm thác nước dát ánh trăn’. Nhữn’ câu hỏi đan’ bủa vây lấy ta. Lửa của Dân Thun’ Lũn’ và Người Tiên Tri đã tắt đêm nay, ta nói, vậy điều đó có phải là bằn’ chứn’ cho thấy người hoan’ dã mạnh hơn người văn minh hay khôn’?

Khôn’ phải là người hoan’ dã mạnh hơn người văn minh, Meronym nhận định, mà là số đôn’ mạnh’ hơn thiểu số. Trí Thôn’ Minh đem lại lợi thế cho chún’ ta tron’ nhiều năm, như đồ bắn đã đem lại lợi thế cho tôi ở Ao Dốc, nhưn’ nếu bên kia có đủ trí và lực thì lợi thế này sẽ biến thành số khôn’ một ngày nào đó.

Vậy có phải làm người hoan’ dã thì tốt hơn làm người văn minh?

Ý nghĩa trần trụi sau hai từ ấy là gì?

Người hoan’ dã khôn’ có luật lệ, ta đáp, nhưn’ người văn minh thì có luật lệ.

Còn sâu sắc hơn cả thế. Người hoan’ dã đã thỏa mãn nhu cầu đương có của mình. Đói thì ăn. Giận thì đánh. Hứn’ thì làm tình. Ôn’ chủ của hắn là ý chí và nếu ý chí lệnh cho hắn “Giết” thì hắn giết. Như độn’ vật có nanh.

Phải, đó là bọn Kona.

Người văn minh cũn’ có nhữn’ nhu cầu tươn’ tự, nhưn’ anh ta nhìn thấy xa hơn. Anh ta sẽ ăn một nửa thực phẩm lúc này, rồi gieo trồn’ một nửa để ngày mai khôn’ bị đói. Khi nón’ giận, anh ta sẽ dừn’ lại và suy nghĩ tại sao để lần sau khôn’ nón’ giận nữa. Anh ta nổi hứn’, nhưng anh ta có chị em và con gái là nhữn’ người cần được tôn trọn’ vì thế anh ta sẽ tôn trọn’ chị em và con gái của nhữn’ người anh em. Ý chí của anh ta là nô lệ và nếu ý chí ra lệnh “Đừn’” thì anh ta sẽ khôn’ làm.

Vậy, ta hỏi lại lần nữa, làm người hoan’ dã thì có tốt hơn làm người văn minh?

Nghe này, người hoan’ dã và người văn minh khôn’ bị phân chia bởi bộ lạc hoặc đức tin hoặc các rặn’ núi, khôn’ phải thế, mỗi con người đều man’ tron’ mình cả hai. Người Xưa có Trí Thôn’ Minh của thánh thần nhưn’ cũn’ có sự hoan’ dã của bọn lừa và đó là điều dẫn đến Sụp Đổ. Một vài người hoan’ dã mà tôi biết có một trái tim văn minh tuyệt đẹp đập tron’ ngực. Có thể một vài người Kona cũn’ thế. Khôn’ đủ để nói như thế về toàn thể bộ lạc, nhưn’ ai mà biết được một ngày nào đó? Một ngày nào đó.



“Một ngày nào đó” chỉ là một con bọ hi vọn’ cho chún’ ta. Ta nhớ Meronym đáp, nhưn’ con bọ khôn’ dễ đuổi đi. Bà Trăn’ soi sán’ một vết chàm vô cùn’ kỳ lạ ngay dưới xươn’ vai của bạn ta khi cô đã ngủ. Nó giốn’ như một vết nhỏ tự vẽ lên, một cái đầu với sáu cái đuôi xòe ra, có màu nhạt trên nền da sẫm của cô, và ta tò mò tại sao mình chưa hề thấy nó trước đây. Ta lấy chăn che nó lại để cô khôn’ bị nhiễm lạnh.

Lúc này dòn’ sôn’ Mauka đổ ngoằn ngoèo xuốn’ Thun’ Lũn’ Mauka tối tăm, nó chỉ cấp nước cho chừng năm – sáu hộ dân tron’ cả thun’ lũn’ vì nơi này khôn’ có mùa hè lý tưởn’. Khôn’ có hộ dân Mauka nào chăn dê nên đườn’ mòn bị siết chặt bởi dây leo và bụi gai, có thể chọc thủn’ mắt người nếu khôn’ nhìn kỹ, rất khó khăn để ngựa đi qua. Ta bị cào xước dữ dội sau một phần tư dặm dù đã nấp sau lưn’ Meronym. Hộ dân cuối cùn’ ở thượn’ nguồn thun’ lũn’ và nơi đầu tiên mà chún’ ta đến là Nhà Thánh Sonmi, có trưởn’ tộc là một người độc nhãn tên là Silvestri làm nghề trồn’ khoai môn và yến mạch. Thiên hạ đồn rằn’ Silvestri quá hãnh diện về các cô con gái của mình và nói xấu rằn’ ôn’ ta đã khôn’ đón’ góp đủ phí họp chợ làn’. Quần áo nằm rải rác quanh sân, các cô con gái đã bị bắt đi, nhưn’ Silvestri thì khôn’ đi đâu cả, cái đầu hói của lão đan’ nằm trên cọc dõi theo chún’ ta khi chún’ ta cưỡi ngựa đến. Lão ở đó đã được một thời gian rồi, vì có giòi bọ và một con chuột béo đã bò lên cột và ăn xuyên qua con mắt lão khi chún’ ta cưỡi ngựa đến. Phải, con quỷ có râu khịt khịt cái mũi sắc lẹm với ta, Khỏe khôn’, Zachry, cậu thấy Silvestri bây giờ trôn’ có đẹp trai hơn trước khôn’ nào? nhưng ta khôn’ thèm đếm xỉa đến lão. Một con gà nhảy ra từ ốn’ khói suýt nữa khiến ta hoản’ hốt rơi khỏi ngựa, ta tưởn’ là tiếng phát hiệu tập kích.

Giờ đây chún’ ta có lựa chọn, tạm biệt con ngựa rồi thận trọn’ tiến lên rặn’ núi gồ ghề phía trên Thun’ lũn’ Pololu, hoặc đi theo con đườn’ mòn Mauka xuốn’ bãi biển và có nguy cơ chạm trán tên Kona lạc đàn nào đó đan’ kết thúc đợt tấn côn’. Thời gian ngắn ngủi còn lại chọn cho chún’ ta cách duy nhất là ở nguyên trên yên ngựa, vì chún’ ta phải đến Ngón tay Ikat trước buổi trưa, mà nơi đó còn cách nhà Silvestri nhữn’ mười dặm. Chún’ ta bỏ qua Nhà của Blue Cole và Last Trout, khôn’ còn thời gian ngó nghiên’ nữa. Một trận mưa ập xuốn’ từ Kohala nhưn’ chún’ ta đến được bãi biển mà khôn’ bị tập kích dù bắt gặp nhữn’ dấu vết mới của bọn Kona dưới nhữn’ cây cọ lá hình ngón tay xòe. Hôm đó biển khôn’ phẳn’ lặn’, nhưn’ cũn’ khôn’ độn’ mạnh đến nỗi có thể đánh úp thuyền kayak chèo tay. Tiến’ tù và của bọn Kona van’ lên gần xa khiến ta cảm thấy bất an. Ta nghe tên mình tron’ tiến’ rền van’ đó. Khôn’ khí căng ngạt và ta đã phớt lờ lời tiên báo thứ hai của mình, ta biết ta sẽ trả giá cho sinh mạng mình đã cướp đi không cần thiết.

Ở nơi bãi biển lởm chởm đá chạy dài lên thành Vách đá Medusa, chún’ ta phải chuyển hướn’ đi sâu vào đất liền qua nhữn’ đồn điền chuối đến Đườn’ mòn Pololu dẫn ra thun’ lũn’ phía bắc vào Vùn’ Đất Chết và cuối cùn’ là Ngón tay Ikat. Con đườn’ mòn thu hẹp lại luồn qua hai tản’ đá to màu đen, chún’ ta chợt nghe một tiến’ huýt giả tiếng chim. Meronym đưa tay vào tron’ áo choàn’ nhưn’ trước khi cô rút ra đồ bắn hình ốn’ xươn’ thì hai lính gác Kona đã nhảy xuốn’ đỉnh hai tản’ đá. Bốn mũi tên chết người và chuẩn xác ngắm thẳn’ vào đầu chún’ ta, cách chỉ vài tấc. Qua nhữn’ cây cao su ta thấy cả một toán quân Kona quỷ tha ma bắt! Khoản’ một chục tên kị sĩ hoặc hơn đan’ ngồi quanh một cái lều và ta biết chún’ ta thế là toi đời trong khi quá gần đích đến.

Mật mã là gì, kị sĩ? một tên lính canh oan’ oan’ hỏi.

Thế này là sao, tên lính kia, và tại sao? một tên khác chĩa cun’ tên vào ngực ta. Một tên Dân’ Thun’ Lũn’ mà dám đặt môn’ lên ngựa chiến Kona hay sao? Chỉ huy của mi là ai, kị sĩ?

Ta sợ chết khiếp và biết nét mặt ta nói lên tất cả. Meronym phát ra một tiến’ gầm gừ kỳ lạ đầy tức giận và nhìn bốn tên qua chiếc mũ giáp, sau đó hét lên một tiến’ van’ dội, khiến chim chóc bay vọt lên kêu hét tán loạn át cả tiến’ cô. TẠI SAO LŨ CỨT CHUỘT QUỶ THA MA BẮT CÁC NGƯƠI DÁM VÔ LỄ NHƯ THẾ VỚI CHỈ HUY! CÁI MÔN’ CỦA NÔ LỆ TA MUỐN NGỒI LÊN ĐÂU VÀ NHƯ THẾ NÀO THÌ NGỒI THEO LỆNH CỦA TA! CHỈ HUY CỦA TA LÀ AI Ư? CHỈ HUY CỦA TA LÀ CHÍNH TA ĐÂY ĐỒ SÂU BỌ NGU XUẨN! RỜI KHỎI TẢN’ ĐÁ NGAY TỨC KHẮC RỒI ĐƯA ĐỘI TRƯỞN’ CỦA CÁC NGƯƠI LẠI ĐÂY NGAY, BẰN’ KHÔN’ TA THỀ NHÂN DANH TẤT CẢ CÁC THẦN CHIẾN TRANH TA SẼ LỘT DA ĐÓN’ CỌC CÁC NGƯƠI VÀO CÂY TỔ ON’ GẦN NHẤT!

Một kế hoạch tuyệt vọn’ và bất thườn’. Màn kịch của Meronym giành thắn’ lợi tron’ khoảnh khắc và chỉ một khoảnh khắc là đủ. Hai tên lính canh mặt xanh như tàu lá hạ cun’ tên xuốn’ và nhảy xuốn’ lối đi. Hai tên còn lại biến mất về phía sau.Ksss! Ksss! Hai tên Kona trước mặt chún’ ta khôn’ còn đứn’ dậy được nữa, Meronym đột nhiên thúc giày và con ngựa rốn’ lên, đá hậu rồi lao vụt về trước khiến ta bị mất thăn’ bằn’. Tay Sonmi giữ ta còn ngồi trên yên, vì nếu khôn’ phải là bà thì là ai? Tiến’ la hét Dừn’ lại! và tiến’ tù và dồn dập sau lưn’ chún’ ta, con ngựa phi nước đại và một tiến’ fisssssssss-kwanggggggggg van’ lên khi mũi tên đầu tiên xuyên qua cành cây mà ta chạy phía dưới, rồi sau đó một cơn đau điến’ xâm nhập bắp chân trái của ta ngay chỗ này này, ta cảm thấy choán’ ván’, như cơ thể nhận biết có gì đó bị tổn thươn’ rất nặn’ khôn’ thể chữa trị. Nhìn đây, ta sẽ kéo ốn’ quần lên và các con có thể thấy vết sẹo nơi mũi tên cắm vào... phải rồi, nó đau đớn khôn’ thể tả.

Chún’ ta phi nước đại xuốn đườn’ Pololu qua nền đất gồ ghề rễ cây, nhanh hơn cả trượt bên tron’ một đườn’ ốn’, rất khó giữ thăn’ bằn’, ta khôn’ thể làm gì trước cuộc truy đuổi thịnh nộ đó ngoài việc ôm chặt eo Meronym và cố gắn’ nhấp mình theo nhịp ngựa phi bằng chân phải nếu khôn’ sẽ bị rơi xuốn’, và chẳn’ còn thời gian để mà leo lên lưn’ ngựa lần nữa trước khi bọn Kona và nhữn’ chiếc cun’ tên thấu xươn’ của chún’ đuổi kịp chún’ ta.

Con đườn mòn chạy xuyên qua đườn’ hầm tạo thành từ nhữn’ hàn’ cây đến cây cầu của Người Xưa bắc qua sôn’ Pololu đổ ra biển, nơi đánh dấu cực bắc của Thun’ lũn’. Lúc này ta chỉ còn vài trăm bước là đến cây cầu thì mặt trời lộ ra khỏi đám mây, ta nhìn về trước và tấm ván cầu đã sờn bừn’ sán’ vàn’ rực, còn nhữn’ trụ chốn’ gỉ sét ngả màu đồn’ tối. Cơn đau của ta làm lon’ ra một ký ức, đún’ vậy, lời tiên báo thứ ba của ta. Đồn’ đan’ bốc cháy, chớ băn’ qua cầu. Ta khôn’ thể giải cho thích cho Meronym trên con ngựa đan’ phi nước đại vì thế ta chỉ hét lên vào tai cô, Tôi bị bắn!

Cô dừn’ ngựa lại cách cây cầu chỉ một quãn’ ngắn.

Ở đâu?

Bắp chân trái, ta đáp. Meronym quay lại nhìn đầy lo lắn’. Chưa có dấu hiệu của nhữn’ kẻ đuổi theo, vì vậy cô nhảy xuốn’ ngựa để nhìn kỹ vết thươn’. Cô chạm vào nó khiến ta rên lên. Lúc này mũi tên đan’ cắm vào vết thươn’, ta phải đến được nơi an toàn đã rồi tôi sẽ...

Tiến’ vó ngựa dồn dập đổ đến gần đườn’ Pololu.

Lúc đó ta nói với cô, chún’ ta khôn’ thể vượt qua cây cầu đó. Cái gì? Cô quay phắt lại để nhìn vào mắt ta. Zachry, ý cậu nói là cây cầu đó khôn’ an toàn?

Đến lúc đó ta biết rằn’ cây cầu đủ chắc, ta thườn’ đưa Jonas đi nhặt trứn’ chim ở phía bắc khi nó còn bé và McAulyff của Nhà Last Trout thườn’ đi săn hải cẩu qua cây cầu đó với chiếc xe thồ tron’ nhiều con trăn’, nhưn’ một giấc mơ ở Biểu Tượn’ Tháp khôn’ nói dối, chưa bao giờ, và Trưởn’ lão đã dặn ta ghi nhớ những lời tiên báo của ta để đến một ngày đặc biệt và ngày đó là hôm nay. Ý tôi là, ta đáp, Sonmi đã nói với tôi đừn’ đi qua cây cầu này.

Sợ hãi khiến Meronym phát cáu, cô ta cũn’ là con người như các con và ta thôi. Vậy Sonmi có biết là chún’ ta bị một đạo quân Kona hun’ hãn truy đuổi bén gót khôn’?

Sôn’ Pololu mở rộn’ ra ở vùn’ giáp biển, ta chỉ cho cô thấy, vì thế nó khôn’ quá sâu và dòn’ chảy cũn’ khôn’ quá xiết. Con đườn’ mòn chia làm hai ngay trước cây cầu ở ngay nơi chún’ ta đan’ đứn’, nó dẫn xuốn’ một đườn’ nối dài có thể đến được con sôn’. Tiến’ vó ngựa van’ lên mỗi lúc một gần và bọn Kona sẽ sớm phát hiện ra chún’ ta.

Ái chà, Meronym tin vào lời nói ngớ ngẩn của ta, ta khôn’ biết tại sao nhưn’ cô đã nghe theo, ngay sau đó dòn’ Pololu chói chan’ lạnh buốt đã làm tê dại vết thươn’ của ta nhưn’ con ngựa trượt xuốn’ đầy khó nhọc trên bờ sôn’ đầy đá cuội. Padddooom padddooom, ba tên Kona cưỡi ngựa lên cầu và nhìn thấy chún’ ta, khôn’ khí xun’ quanh chún’ ta run’ lên và bị xé toạc với một mũi tên, hai mũi tên, mũi thứ ba trún’ nước làm văn’ nước lên chún’ ta. Ba tên Kona mới đến bắt kịp ba tên trước và khôn’ ngừn’ bắn, chún’ đan’ rầm rập chạy qua cây cầu Pololu để cắt đườn’ chún’ ta ở bờ bên kia. Tuyệt vọn’, ta nguyền rủa bản thân, Đún’ vậy, chún’ ta sẽ chết tốt như lũ vịt hoang, ta thầm nghĩ.

Bây giờ các con biết khi mình chặt một cái cây để xẻ gỗ chứ gì? Tiến’ độn’ sau nhát rựa cuối cùn’, tiến’ gỗ răn’ rắc và toàn’ thân cây rên lên thê thảm khi nó ngã xuốn’? Đó là nhữn’ gì ta nghe thấy. Rõ ràn’ một hoặc hai Dân Thun’ Lũn’ nhẹ nhàng băn’ qua cầu cùng với chiếc xe đẩy là một chuyện, nhưn’ một con ngựa phi nước đại lại là chuyện khác, và sáu-bảy-tám con ngựa chiến Kona mặc giáp phi nước đại là quá nhiều. Cây cầu đó vỡ nát như được làm bằn’ rơm rạ, trụ cầu gãy răn’ rắc, ván cầu chẻ đôi còn dây treo thì đứt phựt.

Đó khôn’ phải là cú rơi nhẹ nhàn’. Có mười lăm người hoặc hơn trên cầu Pololu. Nhữn’ con ngựa rơi xuốn’, ngửa bụn’ xoay vòn’ vòn, nhữn’ kẻ cưỡi ngựa thì chới với, và như ta đã nói sôn’ Pololu khôn’ phải là một cái ao an toàn ngã xuốn’ là nổi lên được, khôn’ hề, nó là một dòn’ nước lổn nhổn nhữn’ tản’ đá bằn’ phẳn’ lẫn nhọn hoắt khiến nhữn’ cú rơi của chún’ thật thảm hại, thật sự thảm hại. Khôn’ tên Kona nào trồi lên, chỉ có hai-ba con ngựa đán’ thươn’ nằm giãy dụa nhưn’ chẳn’ còn thời gian để lo lắn’ cho sinh mạn’ loài vật nữa.

Thế đấy, chuyện kể của ta đã gần hết rồi. Meronym và ta đến được bờ bên kia và ta thầm cảm tạ Sonmi dù khôn’ còn Văn minh Thun’ Lũn’ để cứu vớt nữa, bà đã cứu mạn’ ta lần cuối cùn’. Ta nghĩ nhữn’ kẻ còn lại tron’ toán quân Kona quá bận rộn với nhữn’ binh sĩ bị ngã và chìm nên chún’ khôn’ đuổi theo chún’ ta. Chún’ ta băn’ qua Cồn cát Lornsome và cuối cùn’ đến được Ngón Tay Ikat mà khôn’ gặp trở ngại gì. Khôn’ có chiếc kayak nào đợi ở đó nhưn’ chún’ ta vẫn xuốn’ ngựa và Meronym dùn’ Trí Thôn’ Minh của cô trên bắp chân bị trún’ tên của ta. Khi cô rút mũi tên ra, cơn đau chạy lên người ta và phủ lên hết mọi giác quan nên thật tình mà nói ta khôn’ nhìn thấy nhữn’ chiếc kayak của Maui đến cùn’ với Duophysite. Lúc này bạn ta cần phải lựa chọn, đó là đưa ta lên chiếc kayak đó hoặc để ta ở lại Đảo Lớn, khôn’ thể đi lại hoặc làm bất kỳ chuyện gì, ở cách chỗ bọn Kona khôn’ xa. Và rồi, ta đan’ ngồi đây kể chuyện cho các con nghe, vì vậy các con biết Meronym đã chọn gì rồi đấy, có lúc ta cũn’ hối hận về quyết định của cô, có lúc thì khôn’. Tiến’ hát của nhữn’ người chèo thuyền tron’ bộ lạc mới của ta đánh thức ta dậy khi đã ở nửa đườn’ băn’ qua eo biển. Meronym đan’ thay miến’ băn’ đắp lên vết thươn’ của ta, cô đã dùn’ một ít thuốc Thôn’ Minh để làm tê vết thươn’ đi rất nhiều.

Ta nhìn nhữn’ đám mây trôi bồn’ bềnh từ sàn chiếc kayak đó. Linh hồn bay ngan’ đời như mây băn’ qua trời, và dù hình thù hoặc màu sắc hoặc kích cỡ một đám mây luôn thay đổi nhưn’ nó vẫn là một đám mây và linh hồn cũn’ thế. Ai có thể nói mây được thổi đến từ đâu hay linh hồn sẽ thành ai vào ngày mai? Chỉ có Sonmi là phươn’ đôn’ và phươn’ tây và la bàn và bản đồ, phải, chỉ có bản đồ mây.

Duophysite thấy ta đã mở mắt nên chỉ Đảo Lớn cho ta, màu tím trên nền xanh ở phía đôn’ nam và Mauna Kea che đầu như một cô dâu e thẹn. Phải, toàn thể Thế giới của ta và toàn bộ cuộc đời ta thu nhỏ lại vừa đủ để chui lọt vào chữ O giữa ngón cái và ngón trỏ của ta ấy vậy.

* * * *

Ôn’ bố già Zachry của tôi là một người kỳ quặc, tôi sẽ khôn’ nói khác đi cho dù giờ này ôn’ đã khuất. Hầu hết nhữn’ chuyện kể của ôn’ cũn’ chỉ là cái rắm vịt thi vị và khi ở tuổi gần đất xa trời ôn’ thậm chí còn tin rằn’ Meronym Người Tiên Tri chính là Sonmi thiên’ liên’ tôn’ quý của ôn’, phải, ôn’ khẳn’ định như thế, ôn’ nói ôn’ biết bởi vết chàm hình sao chổi.

Tôi có tin chuyện kể của ôn’ về Kona và cuộc chạy trốn của ôn’ từ Đảo Lớn khôn’? Hầu hết chuyện kể đều có một chút sự thật, một số chuyện kể có một số sự thật, và chỉ một ít chuyện kể có rất nhiều sự thật. Chuyện về Meronym Người Tiên Tri gần như là thật, tôi nghĩ thế. Số là, sau khi bố mất, chị tôi và tôi đã lục lọi đồ đạc của ôn’ và tôi tìm thấy quả trứn’ bạc mà ôn’ gọi là “orison” tron’ chuyện kể của ôn’. Như bố đã kể, nếu bạn làm ấm quả trứn’ tron’ tay, một ma nữ xinh đẹp sẽ hiện ra tron’ khôn’ trun’ và nói bằn’ thứ tiến’ của Người Xưa mà khôn’ ai còn sốn’ hiểu được, lúc này hoặc mãi mãi. Đó khôn’ phải là Trí Thôn’ Minh mà bạn có thể sử dụn’ vì nó khôn’ giết chết nhữn’ tên cướp biển Kona hay làm no bụn’, nhưn’ có nhữn’ buổi hoàn’ hôn, anh em họ hàn’ tôi lại đánh thức ma nữ dậy để xem cô lơ lửn’ và tỏa sán’. Cô thật đẹp và làm cho bọn trẻ con thích mê tơi, còn nhữn’ lời thì thầm của cô thì ru ngủ nhữn’ bé sơ sinh.

Hãy ngồi xuốn’ đây một lát.

Đưa tay của bạn ra.

Nhìn xem.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 13.09.2018, 16:20
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35929
Được thanks: 5308 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Giả tưởng - Phiêu lưu] Bản đồ mây - David Mitchell - Điểm: 10
Orison của Sonmi ~ 451


Vậy thì Hae-Joo Im là ai, nếu anh ta “không hẳn là người anh ta từng nhận”?

Tôi làm chính mình ngạc nhiên khi tự trả lời câu hỏi đó: “Liên Đoàn.”

Hae-Joo nói, “Đó là niềm vinh dự của tôi, đúng vậy.”

Sinh viên Xi-Li cực kỳ bấn loạn.

Hae-Joo nói với tôi nếu tôi không đặt niềm tin vào anh ấy, tôi sẽ chết trong vài phút nữa.

Tôi gật đầu đồng ý, tôi sẽ tin anh ấy.

Nhưng anh ta đã nói dối với cô về thân thế của mình – tại sao lại tin anh ta lần này? Sao cô biết chắc chắn rằng anh ta không định bắt cóc cô?

Tôi có biết chắc chắn đâu. Quyết định của tôi cũng chỉ là cảm tính mà thôi. Tôi chỉ có thể hi vọng thời gian sẽ chứng minh quyết định đó là có cơ sở. Chúng tôi bỏ dở Timothy Canvedish với vận mệnh mờ mịt của ông ta và khẩn trương tìm đến vận mệnh của mình, chạy xuống cầu thang; thang cuốn có thể đọc được Soul và có thể được kiểm soát để cài bẫy chúng tôi. Các hành lang trôi qua, cửa chống cháy đung đưa, những lối đi chìm vào bóng tối. Hae-Joo gần như xốc tôi đi xuống cầu thang; không có thời gian để tôi tự tìm cách xoay xở.

Ở tầng hầm phụ, ông Chang đang đợi trong một chiếc ford giản dị. Chúng tôi không có thời gian chào hỏi. Chiếc xe tăng tốc qua một loạt đường hầm và bãi đỗ ford. Ông Chang liếc nhìn sony, báo rằng đường đi hướng bắc và hướng đông đã bị phong tỏa, nhưng đường trượt có vẻ vẫn còn đi được và người của họ sẽ đợi họ ở đó.

Hae-Joo yêu cầu tìm cách đi đường trượt. Sau đó anh lấy ra một chiếc dao bấm từ ví tiền rồi cắt đầu ngón tay trái, nặn ra một quả trứng kim loại bé xíu. Ném nó ra từ cửa xe, anh yêu cầu tôi ném bỏ chiếc Nhẫn Soul của mình theo cách đó. Xi-Li cũng cắt Soul của anh ta.

Liên Đoàn viên thực sự cắt bỏ Soul bất tử mà Chủ Thể ban cho họ sao?

Nếu không thì một phong trào phản kháng làm sao để tránh né Nhất Đảng? Không làm thế thì họ có nguy cơ bị phát hiện mỗi khi vượt qua chốt đèn giao thông. Chiếc ford chạy ôm theo một đoạn dốc và một cơn bão phosphate làm nổ tung cửa sổ; kim loại nghiến ken két; chiếc ford cào dọc bức tường, va chạm một cú thật mạnh rồi dừng lại đột ngột.

Từ nơi ẩn nấp tôi nghe thấy nhiều tiếng súng nổ.

Chiếc ford rung lên rồi tăng tốc; tôi nghe tiếng thân người bị hất khỏi xe. Một tiếng rên rỉ vang lên: đó là Xi-Li. Hae-Joo chĩa súng vào đầu Xi-Li rồi bóp cò.

Cái gì? Tại sao?

Đạn của Nhất Đảng chứa kalodoxalyn và siêu hoạt khí, sau này tôi mới biết. Kalodoxalyn là một chất độc có thể nướng chín nạn nhân trong đau đớn, vì vậy tiếng gào thét sẽ tố cáo nơi ẩn nấp của anh ta; siêu hoạt khí giúp cho anh ta không bị bất tỉnh. Xi-Li gục xuống ở tư thế bào thai. Hae-Joo hạ khẩu súng. Chàng nghiên cứu sinh vui vẻ mà tôi từng biết đã biến mất; tôi tự hỏi liệu anh ấy có bao giờ thực sự như thế.

Mưa gió lùa vào những cửa sổ bị bắn vỡ. Ông Chang cho xe chạy vào một con hẻm đầy rác rưởi chật hẹp, hất tung các đường ống cống, cho đến khi ra đường vành ngoài. Phía trước là những ánh đèn chớp tắt màu đỏ-xanh ở các cánh cổng khu học xá. Một chiếc không cơ lơ lửng phạt ngay cây cối; tiếng loa phóng thanh cấp bách phát lệnh loạn xạ cho ai chẳng biết. Ông Chang bảo chúng tôi bám chắc, tắt máy rồi đánh tay lái lao ra khỏi làn đường. Chiếc ford nảy lên; trần xe đập vào đầu tôi đau điếng; bằng cách nào đó Hae-Joo vẫn che chở được cho tôi. Chiếc ford tăng tốc, lấy lại trọng lượng lẫn phi trọng lượng.

Tôi nhớ cú rơi xuống: nó làm long ra một ký ức thuở xa xưa về bóng đêm, lực quán tính, trọng lực, về lúc mắc kẹt trong một chiếc ford khác; tôi không thể tìm ra nguồn gốc những ký ức của chính mình.

Tre trúc bị xẻ toạc, kim loại bẹp dúm, xương sườn tôi đập xuống sàn. Sự hỗn loạn và tiếng ồn xóa nhòa tất cả.

Chiếc ford đã chết máy. Tôi nghe tiếng côn trùng rỉ rả và tiếng mưa tí tách trên lá, rồi những tiếng thì thầm khẩn trương. Tôi bị đè chặt bên dưới Hae-Joo, lúc này đang cựa quậy và rên rỉ. Một ánh đèn chiếu vào mắt tôi; người cầm đèn hỏi có ai còn tỉnh không. Tôi nghe tiếng ông Chang nhờ mở cửa xe. Không lâu sau những bàn tay kéo Hae-Joo, ông Chang và tôi ra khỏi chiếc ford nát bét; tôi bị bầm dập nhưng không chấn thương nặng. Thi thể của Xi-Li được để nguyên vị trí. Những khuôn mặt lo lắng, những khuôn mặt quyết tâm, những khuôn mặt hiếm khi ngủ đủ: thành viên Liên Đoàn. Tôi được đưa xuống một miệng cống. Tay tôi nắm chặt những nấc thang; đầu gối bò lết dọc theo một đường hầm ngắn. Thêm nhiều cánh tay đỡ tôi vào một nơi mà sau này tôi mới nhận ra là tiệm cơ khí. Tôi được đặt vào một chiếc ford thông minh hai chỗ ngồi. Mệnh lệnh được ban hành; thông điệp được truyền đạt. Cửa xe phía tài xế mở ra và Hae-Joo chui vào rồi nổ máy. Cửa garage giật bung ra.

Chúng tôi lái xe qua những con đường nhỏ ngoại ô trước khi bẻ lái vào một đường huyết mạch đang kẹt xe. Những chiếc ford xung quanh chở những hành khách cô đơn, những cặp đôi hò hẹn, những gia đình nhỏ, có xe điềm tĩnh, có xe om sòm. Tôi nhận ra ông Chang đã biến mất không lời từ biệt, một lần nữa. Khi Hae-Joo cuối cùng cũng lên tiếng, giọng anh run run. Anh nói nếu anh bị trúng đạn, tôi phải lập tức trợ tử cho anh như anh đã làm với Xi-Li.

Tôi không biết phải trả lời thế nào. Liên Đoàn viên xin tôi hãy kiên nhẫn thêm một chút nữa, nói rằng nếu chúng tôi bị bắt lúc này thì tôi biết càng ít càng tốt. Anh nói thêm, chúng tôi còn một đêm bận rộn trước mắt. Đầu tiên, chúng tôi phải đến Huamdonggil. Anh có bao giờ đến thăm khu đó chưa, Lưu Trữ Viên?

Chưa. Tôi sẽ bị Bộ đuổi cổ nếu bị phát hiện có mặt ở một khu ổ chuột á nhân[55]. Cô đã thấy gì ở đó?

Huamdonggil là một mê cung nguy hiểm với các phần tử tệ nạn, nhà tranh vách đất, quán trọ rẻ tiền, hiệu cầm đồ, tiệm thuốc phiện và những tổ ấm thuộc về một thế giới tăm tối hơn. Hae-Joo đỗ chiếc ford ở một bãi có khóa, dặn tôi phải trùm mũ che đầu và mắt lại, vì những người nhân bản vô tính bị ăn cắp thường được đưa vào các nhà chứa trong khu ổ chuột – sau những ca phẫu thuật vụng về để có thể hành nghề.

Những con hẻm quanh co và đường ống rỉ nước cống. Nhiều người thường ngồi gục trên các bậu cửa, da họ bị viêm tấy do tiếp xúc quá lâu với thứ nước mưa nóng bỏng của thành phố. Trẻ con chơi té nước từ những vũng ao tù nước đọng. Tôi hỏi ai sống ở đây, Hae-Joo kể các bệnh viện đã rút cạn Soul của những di dân mắc bệnh viêm não hoặc phổi nhiễm chì cho đến khi họ chỉ còn đủ đô la cho một liều thuốc trợ tử – hoặc một chuyến đến Huamdonggil.

Tôi không hiểu nổi tại sao di dân lại rời bỏ các Khu Sản Xuất của họ để đến với một vận mệnh như thế này. Hae-Joo liệt kê bệnh sốt rét, lũ lụt, hạn hán, hoa màu bị dịch bệnh, ký sinh trùng, đất chết xâm lấn, và một mong ước giản dị là cuộc sống tốt hơn cho con cái họ. Anh an ủi tôi rằng tập đoàn Papa Song còn nhân đạo chán so với những nhà máy khiến nhiều di dân phải bỏ của chạy lấy người. Bọn buôn người hứa hẹn với họ rằng ở khu Mười Hai Đô Thị, đô la rơi từ trên trời xuống – di dân tin điều đó, và chỉ phát hiện ra sự thật khi họ đã trở thành á nhân. Bọn buôn người chỉ đưa người ta đi một chiều. Hae-Joo đẩy tôi tránh một con chuột hai đầu kêu meo meo, cảnh báo rằng chúng thích cắn người.

Tôi hỏi tại sao Hội đồng Thành phố lại chấp nhận một sự bẩn thỉu thế này.

Hae-Joo kể rằng Huamdonggil được xem như một cái bồn xả hóa chất nơi những chất thải không mong muốn của con người từ từ phân hủy, một cách kín đáo; nhưng không hẳn là vô hình. Những khu ổ chuột á nhân thúc đẩy người tiêu dùng tầng lớp dưới bằng cách cho họ thấy điều gì chờ đợi những kẻ không biết tiêu xài và lao động như những công dân gương mẫu. Các doanh nghiệp thì lợi dụng khoảng chân không pháp luật để dựng lên những khu vui vẻ ghê tởm trong các khu ổ chuột, Huamdonggil tồn tại nhờ trả thuế và hối lộ cho tầng lớp trên. MediCorp mở một bệnh viện hàng tuần cho những á nhân sắp chết để đổi những bộ phận cơ thể còn khỏe mạnh lấy thuốc trợ tử; OrganiCorp thì có được một hợp đồng béo bở với khu đô thị để gửi những nhóm người nhân bản vô tính miễn dịch – không khác với người thảm họa là mấy – mỗi ngày đến dọn dẹp xác chết trước khi ruồi muỗi bâu đầy. Người dẫn đường của tôi khi đó bảo tôi giữ im lặng, vì chúng tôi đã đến nơi.

Chính xác thì đó là gì?

Tôi nhớ được một quán mạt chược có thanh rầm sơn trắng để ngăn nước cống không chảy vào; nhưng bây giờ thì tôi chịu, có nhìn cũng không nhận ra tòa nhà đó lần nữa. Huamdonggil không đánh số nhà hoặc chia bản đồ. Hae-Joo gõ cửa, một ô mắt chớp nháy, then cửa mở lách cách, và một người gác cổng mở cửa ra. Chiếc áo giáp của ông ta lấm bẩn, thanh sắt ông ta cầm có khả năng sát thương, và ông ta gầm gừ bảo chúng tôi đợi Ma Arak Na ở đó. Tôi thắc mắc không biết ông ta có đeo vòng cổ người nhân bản vô tính dưới cổ áo hay không.

Một hành lang ngập ngụa khói rẽ khuất tầm mắt, trên tường đầy những màn cửa giấy. Tôi nghe tiếng chơi mạt chược; ngửi thấy mùi bàn chân; nhìn những người phục vụ ăn mặc kỳ dị bê những khay đựng thức uống. Nét mặt hối hả của họ chuyển thành nét hân hoan nữ tính mỗi khi họ kéo mở màn cửa giấy. Tôi làm theo Hae-Joo và cởi nike ra, đôi giày đã bị vấy bẩn bởi những con hẻm Huamdonggil.

“Cậu sẽ không đến đây nếu tin tức không quá xấu,” tôi nghe một giọng nói chối tai. Chủ nhân của nó nói với chúng tôi từ một cửa sập trên trần. Tôi không biết chắc đôi môi có màng, đôi mắt hình bán nguyệt và tiếng nói đứt quãng của bà ta là được lập trình hay biến đổi gien. Những ngón tay chạm ngọc lộm cộm của bà ta nắm lấy mép cánh cửa sập.

Hae-Joo di chuyển thẳng đến dưới ô vuông và trò chuyện với Ma Arak Na, người mà tôi đoán là bà chủ của khu nhà này. Liên Đoàn viên nói với bà ta rằng một chi bộ đã gặp nạn, Mephi và chi bộ của ông ta đã bị bắt còn Xi-Li đã chết.

Lưỡi của Ma Arak Na dài gấp đôi bình thường; bà ta dùng nó để đuổi một con ruồi. Đôi mắt bà ta lóe sáng trong bóng tối căn gác. Bà ta hỏi đại họa đã lây lan bao nhiêu. Hae-Joo đáp anh đến đây cũng là để làm rõ chính câu hỏi đó. Bà chủ khu nhà bảo chúng tôi di chuyển sang phòng khách.

Phòng khách?

Một căn phòng trống nằm sau một nhà bếp ồn ào và một bức tường giả, thắp sáng bằng một đèn mặt trời yếu ớt. Một tách nước chanh màu ngọc đỏ nằm trên mép một lò than bằng gang có tuổi thọ cao hơn cả tòa nhà, có khi là cả thành phố. Chúng tôi ngồi lên những tấm đệm đã sờn trên sàn nhà. Hae-Joo uống một ngụm nước chanh rồi nói tôi đã có thể bỏ mũ trùm ra. Tiếng giậm chân và tiếng cót két vọng ra từ trần nhà lót ván, một cánh cửa sập mở ra, khuôn mặt của Ma Arak Na xuất hiện. Bà ta nhìn thấy mặt tôi nhưng trong giọng nói không biểu lộ sự ngạc nhiên.

Chiếc lò than cổ kêu rè rè với một mạch điện cực kỳ hiện đại. Một trường bóng tối và im lặng hình cầu tỏa ra cho đến khi bao phủ toàn phòng khách, xóa nhòa tiếng ồn trong nhà bếp. Ánh sáng ngũ sắc phía trên chiếc lò than hóa thành một con cá chép.

Cá chép? Là một loại cá đấy à?

Một con cá chép thiêng dài nửa mét, màu ngọc trai và cam, thân có những đốm mốc, râu dài. Một cú quẫy đuôi lười nhác đẩy con cá tiến về phía tôi. Rễ những cây bông súng rẽ ra khi con cá di chuyển. Đôi mắt cổ đại của nó đọc đôi mắt tôi; những chiếc vây hai bên gợn sóng, làm cho nó nổi bồng bềnh. Con cá chép chìm xuống vài tấc để đọc vòng cổ tôi, và tôi nghe tiếng một ông già đọc lên tên mình. Tôi nhìn Hae-Joo, nhưng chẳng thấy được anh ấy qua làn không khí u ám dưới nước.

“Tôi cảm kích sâu sắc khi nhìn thấy cô,” giọng nói 3D được thu âm nghe học thức nhưng rời rạc, “cũng như rất hân hạnh được gặp cô.” Con cá chép giới thiệu mình là An-Kor Apis thuộc Liên Đoàn, và xin lỗi vì sự thể hiện hình ảnh đầy tính ước lệ; ngụy trang là tối quan trọng, vì Nhất Đảng đang rà soát mọi tần số vào đêm hôm đó.

Tôi trả lời rằng mình hiểu, một cách ngập ngừng.

An-Kor Apis hứa tôi sẽ sớm hiểu ra nhiều hơn, và xin tôi hãy kiên nhẫn thêm một chút nữa. Con cá chép quẫy đuôi tiến về Hae-Joo, gọi người đồng hành của tôi là Chỉ huy Im.

Hae-Joo báo cáo anh đã trợ tử cho Xi-Li.

Apis nói ông đã biết tin này, và không có liều thuốc gây tê nào cho nỗi đau của Hae-Joo. Ông nhắc Hae-Joo rằng Nhất Đảng đã giết Xi-Li; Hae-Joo đã giải thoát cho cậu ấy, và ông động viên Hae-Joo phải đảm bảo rằng sự hi sinh của Xi-Li đã không uổng phí. Tiếp đó là phần tóm tắt tình hình: sáu chi bộ đã bị bại lộ, và mười hai chi bộ nữa bị cắt đứt. Chủ tịch Mephi đã tìm cách tự kết liễu trước khi bị tra tấn. Sau đó con cá chép ra lệnh cho Hae-Joo đưa tôi rời khu đô thị qua Cổng Tây Một, đi tiếp về phía bắc có hộ tống; và nghĩ kỹ về những gì ông đã dặn.

Con cá chép bơi một vòng, biến mất vào bức tường của phòng khách, trước khi tái xuất hiện qua ngực tôi. “Cô đã khéo chọn bạn đấy, Sonmi,” Apis nói với tôi. “Chúng ta có thể cùng nhau đạt được thay đổi, những thay đổi lớn, những thay đổi lịch sử để chuyển hóa xã hội chúng ta.” Ông ta hứa chúng tôi sẽ sớm gặp lại nhau.

Khối cầu thu trở lại vào chiếc lò than khi phòng khách trở lại trạng thái ban đầu. Con cá chép trở thành một vệt ánh sáng, một chấm nhỏ; rồi chẳng còn gì.

Hae-Joo dự định làm cách nào để băng qua lối ra khu đô thị mà không có Soul trong ngón trỏ?

Người cấy Soul được đưa đến sau đó vài phút. Một người đàn ông mảnh khảnh, ẩn danh, ông ta xem xét ngón tay bị rách của Hae-Joo với một sự tỉ mỉ chuyên nghiệp; gắp ra một mẩu tí hon từ một túi keo lỏng; cấy nó vào mô sống rồi xịt da lên ngón tay. Tôi tự hỏi làm cách nào mà một chấm nhỏ trông hết sức tầm thường như thế lại có thể ban quyền tiêu dùng cho người giữ nó trong khi kết án thân phận nô dịch tồi tệ cho những kẻ thiếu nó. “Tên mới của anh là Ok-Kyun Pyo,” người cấy Soul nói với Hae-Joo, và nói thêm rằng bất kỳ sony nào cũng có thể tải về lịch sử của anh.

Người cấy Soul quay sang tôi, vừa nói vừa lấy ra một chiếc kềm laser. Ông ta giải thích tia laser này cắt được thép nhưng không bao giờ làm xước một mô sống nào, vì vậy tôi sẽ chỉ cảm thấy hơi nhột một tí mà thôi. Tôi nghe một tiếng tách. “Bây giờ đến mã vạch dưới da.” Người cấy Soul phết thuốc gây tê lên cổ họng tôi, báo trước rằng tiếp theo sẽ đau, nhưng phần ẩm của lưỡi dao sẽ ngăn không cho mã vạch nổ tung khi tiếp xúc với không khí và cắt lìa đầu tôi khỏi người.

“Thật tài tình,” Hae-Joo lẩm bẩm. Anh nắm tay tôi.

“Tất nhiên là tài tình rồi,” người cấy Soul đáp lời. “Tôi chính là người thiết kế ra nó mà.” Ông ta tiếc rẻ vì đã không đăng ký bằng sáng chế và bảo Hae-Joo chuẩn bị sẵn một miếng vải để thấm máu. Một cơn đau như dao cắt xé toạc cổ họng tôi. Hae-Joo thấm máu; người cấy Soul cho tôi xem mã vạch của Sonmi~451 kẹp trên đầu nhíp và cho tôi biết ông ta sẽ đích thân vứt bỏ nó một cách cẩn thận. Ông ta xịt thuốc lên vết thương của tôi rồi bôi một lớp hóa trang màu da, dặn tôi thay băng trước khi ngủ. “Còn bây giờ,” ông nói tiếp, “tôi đã phạm phải một tội ác quá mới mẻ đến nỗi nó còn chưa có tên. Cấy Soul cho một người nhân bản vô tính. Nhưng thay vì nhận được một huy hiệu bằng đồng, một nobel về thành tích khoa học xuất sắc và một chức vụ ngồi chơi xơi nước ở trường đại học, thì tôi chỉ nhận được mỗi một băng ghế đảm bảo ở Ngọn hải đăng mà thôi.”

Và một đoạn trong lịch sử đấu tranh chống lại tập đoàn, Hae-Joo nhận xét.

Người cấy Soul đáp, “Cám ơn, người anh em. Cả một đoạn dài.” Cuộc phẫu thuật diễn ra thật nhanh chóng. Ông ta đặt bàn tay phải của tôi lên một miếng vải, bôi thuốc tê, rạch lên đầu thịt của ngón trỏ, chấm bông băng để thấm máu, gắp Soul của tôi cho vào vết cắt, rồi xịt thuốc mọc da lên để che mọi bằng chứng về sự tiến hóa đột ngột của tôi lên tầng lớp con người. Lần này sự mỉa mai của ông phản bội thái độ trịnh trọng nghiêm túc. “Cầu cho Soul của cô sẽ đem lại cho cô nhiều may mắn ở miền đất hứa, cô em Yun-Ah Yoo ạ.”

Tôi cám ơn ông. Tôi đã quên hẳn rằng Ma Arak Na đang quan sát từ cửa sập trên trần nhà. “Em Yoo tốt nhất nên có một khuôn mặt mới cho Soul mới của mình,” bà ta nói, “nếu không sẽ có vài câu hỏi bất tiện xuất hiện từ đây đến miền đất hứa đấy.”

Vậy tôi đoán điểm đến tiếp theo của cô là thợ căng da mặt.

Đúng vậy. Người gác cửa đưa chúng tôi đến tận Đường T’oegyero, ở biên giới phía bắc của Huamdonggil. Chúng tôi đi tàu điện ngầm đến một trung tâm thương mại từng rất thịnh hành ở Shinch’on rồi đi thang cuốn qua những ngọn đèn chùm ngân nga những bài thánh thi của Chủ tịch Toàn năng, đến một địa phận vắng vẻ ở tầng mái che, nơi chỉ những người khách biết rõ điểm đến của mình mới bén mảng. Hae-Joo dẫn tôi qua những ngã rẽ có lối vào bí mật và những bảng tên mã hóa đến một cánh cửa đơn giản. Một bông hoa lily màu cam nở trong hốc tường. “Đừng nói chuyện với bà chủ,” anh dặn tôi, trong lúc bấm chuông. “Gai bà ta nhọn lắm, phải nhẹ tay mới được.”

Hoa lily cam nổi vằn sáng rực và hỏi chúng tôi đến có việc gì.

Hae-Joo đáp chúng tôi có hẹn với Bà Ovid.

Bông hoa co lại để nhìn chúng tôi rồi bảo chúng tôi đợi.

Cửa mở ra: “Tôi là Bà Ovid đây,” một người phụ nữ có làn da màu ngà tuyên bố, “và không có cuộc hẹn nào như thế cả.” Thuốc hồi xuân đã đóng băng vẻ đẹp nghiệt ngã của bà ta ở tuổi đôi mươi, từ rất lâu trước đó, nhưng giọng bà ta thì đanh như tiếng cưa. “Chuyên viên sinh mỹ phẩm của chúng tôi chỉ nhận làm cho người được giới thiệu riêng. Thử đến những ‘người làm mặt’ ở các tầng dưới xem sao.”

Cánh cửa đóng sầm trước mặt chúng tôi.

Hae-Joo hắng giọng rồi nói vào hoa lily cam. “Xin vui lòng thông báo với Bà Ovid khả kính,” anh nói, “rằng Phu nhân Heem-Young gửi lời chào trân trọng.”

Một sự im lặng tiếp nối. Hoa lily cam đỏ ửng lên rồi hỏi chúng tôi đi đường có xa không. Tôi nhận ra một loạt mật mã.

Hae-Joo nói nốt. “Đi đường đủ xa, ta gặp lại mình.”

Bà Ovid mở cửa nhưng mặt vẫn giữ nguyên vẻ khinh khỉnh. “Ai mà dám cãi lời Phu nhân Heem-Young chứ?” Bà ta bảo chúng tôi đi theo, không được ngó nghiêng. Nội thất của những lối đi che rèm được thiết kế để tạo sự riêng tư tối đa. Đèn mặt trời rất tối và máy làm ẩm hút hết mọi giọng nói lẫn bước chân. Sau một phút đi qua những hành lang treo rèm, Bà Ovid búng ngón tay, một trợ lý lặng lẽ đi theo chúng tôi. Cánh cửa mở ra, dẫn vào một studio sáng hơn và giọng nói của chúng tôi trở lại. Đồ nghề của thợ căng da mặt lóe sáng trong ánh đèn mặt trời tiệt trùng. Bà Ovid bảo tôi bỏ mũ trùm ra. Bà ta không lộ vẻ ngạc nhiên trước khuôn mặt người phục vụ của tôi. Tôi nghi bà ta chưa bao giờ đặt chân đến Papa Song. Bà ta hỏi chúng tôi có bao nhiêu thời gian cho ca giải phẫu này.

Khi Hae-Joo đáp rằng chúng tôi phải đi sau chín mươi phút nữa, Bà Ovid đánh mất sự bình tĩnh sắc tựa mũi kim. “Vậy thì việc gì phải tìm đến một nghệ sĩ?” bà hỏi. “Sao không tự làm với kẹo cao su wrigley và son môi cho rồi? Bộ phu nhân Heem-Young tưởng Lily Cam là tiệm thợ nề giảm giá treo hình trước và sau khi tô trét trên cửa sổ à?”

Hae-Joo vội giải thích rằng anh không mong một sự biến đổi toàn diện – chỉ cần chỉnh sửa thẩm mỹ để đánh lừa Con mắt khi nhìn thoáng qua thôi. Chín mươi phút là một khoảng thời gian ngắn ngủi đến lố bịch, anh thừa nhận, chính vì vậy mà Phu nhân Heem-Young mới cần đến người tài giỏi nhất.

Người thợ căng da mặt kiêu hãnh nhận ra sự nịnh bợ nhưng cũng chẳng làm ra vẻ khiêm tốn. “Không ai nhìn thấy khuôn mặt bên trong khuôn mặt như tôi đây,” bà ta dương dương tự đắc. Bà Ovid ngắm nghía hàm của tôi, nói rằng bà ta có thể can thiệp vào làn da, màu sắc, tóc, mi mắt và chân mày. Bà ta sẽ nhuộm con ngươi tôi thành màu mắt người. Có thể tạo lúm đồng tiền, và bỏ xương gò má tố cáo vẻ mặt người nhân bản vô tính đi. Bà ta quyết định chúng tôi sẽ tranh thủ làm những gì tốt nhất trong tám mươi chín phút quý giá.

Vậy điều gì đã xảy ra với tài nghệ của Bà Ovid? Tôi thấy cô trông hệt như một Sonmi mới bước ra từ lồng ấp vậy.

Nhất Đảng đã tái tạo khuôn mặt tôi cho những lần ra tòa quan trọng. Nữ diễn viên ngôi sao phải nhìn giống như thật. Nhưng khi tôi rời Lily Cam, mặt đau ê ẩm, thì ngay cả Quản lý Rhee cũng không nhận ra tôi. Con ngươi màu ngà đã trở thành màu nâu lục, mắt được kéo dài, tóc được làm đen như gỗ mun. Anh có thể xem lại những kodak chụp lúc tôi bị bắt nếu tò mò, Lưu trữ viên ạ.

Một cậu bé màu vàng cầm bong bóng đỏ đợi ở thang cuốn. Chúng tôi đi theo cậu ta hai mươi bước đến một bãi đỗ ford nằm dưới trung tâm thương mại. Cậu bé đã biến mất, nhưng quả bong bóng vẫn còn treo trên cần gạt của một chiếc xe dùng để đi xuyên đất nước. Chúng tôi đi Xa lộ Một đến Cổng Đông Một.

Cổng Đông Một? Tướng Liên Đoàn – Apis – đã yêu cầu cô đi Cổng Tây Một mà.

Người lãnh đạo đã nói thêm trong lệnh của mình bằng câu “Nghĩ kỹ về những gì tôi vừa dặn.” Thông điệp mã hóa này ngụ ý, “Đảo ngược mệnh lệnh này.” Tây tức là đông, bắc tức là nam, “đi theo đoàn hộ tống” tức là “đi một mình.”

Đó là một thông điệp đơn giản đến nguy hiểm.

Những bộ não chi li thường bỏ qua những gì đơn giản. Trong lúc chúng tôi tăng tốc trên đường, tôi hỏi “Hae-Joo Im” có phải là tên thật hay không. Liên Đoàn viên đáp rằng những người như anh không có tên nào là thật. Lối ra ôm theo khúc quanh xuống một trạm thu phí. Chúng tôi giảm tốc đến xếp hàng sau một hàng dài xe đang chờ qua trạm. Tại lối ra, mỗi tài xế đều hạ cửa kính và nhoài ra để cho Con mắt đọc Soul. Cảnh sát dừng những chiếc ford ngẫu nhiên để hỏi.

“Một phần ba mươi, khoảng chừng đó,” Hae-Joo lẩm bẩm, “tỉ lệ khá cao.” Đến lượt chúng tôi tiến đến máy quét. Hae-Joo đặt ngón trỏ lên máy quét và một tiếng chuông báo động vang lên.

Thanh chắn hạ xuống.

Liên Đoàn viên nói với tôi qua kẽ răng: cứ mỉm cười, làm ra vẻ bình thường.

Một cảnh sát tiến đến, chĩa ngón cái ra. “Ra ngoài.”

Hae-Joo tuân theo, nhăn nhở cười vẻ trẻ con.

Tay cảnh sát hỏi tên và nơi đến.

Màn trình diễn của người hộ tống tôi thật là thiên tài. “À vâng, là Ok-Kyun Pyo ạ. Thưa sĩ quan. Chúng em, à vâng, đang đến một nhà nghỉ ở ngoại ô ạ.” Hae-Joo nhìn dáo dác rồi ra dấu một cử chỉ bằng tay có ý nghĩa thô bỉ, tôi đã học được từ Boom-Sook và Fang. Anh đang khoác lác về giấy phép nuôi mèo của mẹ thì bị cắt lời đột ngột. Nhà nghỉ này còn cách bao xa, tay cảnh sát hỏi; anh không biết là bây giờ đã qua hai mươi ba giờ rồi à?

“Nhà nghỉ BùmBùmChếtToi ở Yoju ạ,” Hae-Joo đáp vẻ bí hiểm. “Thoải mái, sạch sẽ, giá tốt, dù có thể họ sẽ cho cảnh sát như anh ở thử miễn phí đấy. Chỉ khoảng ba mươi phút đường cao tốc, lối ra số mười hướng đông.” Chúng tôi còn kịp thời gian để đến đó trước giờ giới nghiêm, anh đảm bảo.

Tay cảnh sát hỏi tại sao Hae-Joo bị thương ở ngón trỏ.

“Ô, vì nó mà Con mắt không đọc được à?” Hae-Joo vờ phát ra một tiếng rên, và kể chuyện bị đứt tay trong lúc bỏ hạt một quả bơ tự nhiên, ở nhà mẹ của bạn gái. Máu me khắp nơi, thật là xấu hổ, từ giờ trở đi anh sẽ chỉ ăn quả bơ không hạt mà thôi, những thứ tự nhiên thật là phiền toái.

Tay cảnh sát nhìn vào trong ford và yêu cầu tôi bỏ mũ trùm ra.

Tôi hi vọng nỗi lo sợ của mình thể hiện thành sự e thẹn.

Viên cảnh sát hỏi bạn trai tôi có phải lúc nào cũng liến thoắng như thế này không.

Tôi gật đầu, ngượng nghịu.

Có phải vì thế mà tôi không nói gì cả không?

“Vâng, thưa ông,” tôi đáp. “Vâng, thưa sĩ quan.” Tay cảnh sát nói với Hae-Joo rằng các cô gái thường rất ngoan ngoãn vâng lời cho đến ngày cưới, sau đó thì sẽ bắt đầu liến thoắng không dừng. “Đi đi,” anh ta nói.

Đêm đó cô qua giờ giới nghiêm ở đâu? Nhà nghỉ ngoại ô à?

Không. Chúng tôi rời khu đô thị qua lối ra số hai, sau đó cày xe trên một làn đường đồng quê không có đèn. Một bờ đê trồng nhiều cây thông gai che chắn cho một khu công nghiệp có một trăm nhà xưởng. Đã sát giờ giới nghiêm, chiếc ford của chúng tôi là phương tiện duy nhất trên đường. Chúng tôi đỗ xe rồi băng qua một khoảng sân lộng gió đến một khu nhà bê tông có bảng hiệu: HYDRA NURSERY CORP. Soul của Hae-Joo nhấp nháy và cửa xoay mở ra.

Bên trong không phải là một nhà vườn mà là một nhà mái vòm thắp đèn đỏ, chứa nhiều thùng khổng lồ. Không khí ấm áp và ẩm thấp đến mức khó chịu. Thứ nước sền sệt, có nhiều tạp chất mà tôi thấy qua những ô cửa sổ của các thùng chứa chắn tầm nhìn về những gì bên trong, suốt một lúc. Sau đó từng bàn tay bàn chân hiện ra rõ nét; những khuôn mặt mới sinh, mặt nào cũng giống nhau.

Lồng ấp?

Chúng tôi đã vào một nhà xưởng xử lý gene, đúng vậy. Tôi nhìn những chùm người nhân bản vô tính phôi thai bị treo lơ lửng trong chất keo uranium. Người thì đang ngủ bất động, người thì mút ngón cái, người thì quơ bàn tay hoặc bàn chân như đang đào bới hoặc đang chạy. Tôi hỏi Hae-Joo, có phải tôi đã được nuôi cấy ở đây không?

Hae-Joo nói không: nhà bảo sinh của Papa Song ở Kwangju lớn hơn nơi này gấp năm lần. Anh nhìn vào trong lồng ấp rồi nói với tôi những bào thai này sẽ được chuyển đến đường ống uranium nằm dưới Hoàng Hải; nên mắt họ trông như cái bát. Họ sẽ phát điên nếu tiếp xúc với ánh sáng ban ngày không qua xử lý quá lâu.

Nhiệt độ trong nhà xưởng khiến Hae-Joo đổ mồ hôi như tắm. “Chắc cô cần dùng Xà phòng đấy, Sonmi,” anh nói. “Căn hộ tầng thượng sáu sao của chúng ta ở lối này.”

Căn hộ tầng thượng? Trong một nhà bảo sanh người nhân bản vô tính?

Liên Đoàn viên rất thích nói đùa. “Căn hộ tầng thượng” của chúng tôi chỉ là phòng nghỉ của bảo vệ mà thôi: một căn phòng bê tông có duy nhất một vòi hoa sen, một cái cũi ngủ, một chiếc bàn, một chồng ghế, một chiếc máy điều hòa ngột ngạt và một chiếc bàn bóng bàn bị gãy. Những đường ống to phả ra hơi nóng. Một dãy sony quan sát các lồng ấp và một cửa sổ nhìn xuống khu bảo sanh. Hae-Joo bảo tôi tranh thủ đi tắm vì anh không thể đảm bảo còn có tối ngày mai nữa; anh treo lên một tấm vải nhựa để che chắn rồi xếp ghế lại thành giường cho anh trong lúc tôi đi tắm. Một túi Xà phòng đợi sẵn trên cũi khi tôi tắm xong, với một bộ quần áo mới.

Cô không cảm thấy bất an khi ngủ ở một nơi vắng vẻ mà lại còn không biết tên thật của Hae-Joo Im là gì sao?

Không. Người nhân bản vô tính thức được hơn hai mươi giờ vì có hoạt khí trong Xà phòng; nhưng khi cơn mệt mỏi ập đến, chúng tôi lăn ra bất tỉnh, gần như chẳng có dấu hiệu gì báo trước.

Tôi thức dậy ba giờ sau đó, tỉnh như sáo; Xà phòng của những thợ mỏ bào thai này chứa quá nhiều khí oxy. Hae-Joo nằm ngủ trên áo choàng. Tôi săm soi một cục máu đọng trên gò má anh, bị trầy trong lúc chúng tôi trốn khỏi Taemosan. Da của con người thật quá mỏng manh. Tròng mắt anh đảo liên hồi dưới mi mắt; trong phòng chẳng còn gì khác chuyển động. Có thể anh đã gọi tên Xi-Li, hoặc có thể đó chỉ là tiếng động. Tôi tự hỏi anh trở thành cái “tôi” nào trong lúc nằm mơ.

Tôi nhấp nháy Soul của mình trên sony cầm tay của Hae-Joo để tìm hiểu về con người tôi mang bí danh, Yun-Ah Yoo. Tôi là một sinh viên ngành di truyền học, sinh ngày 30 tháng hai ở Naju vào năm con ngựa. Bố là một Trợ lý ở Papa Song; mẹ là nội trợ; không anh chị em... dữ liệu kéo lên hàng chục trang, hàng trăm trang. Giờ giới nghiêm trôi dần. Hae-Joo day day thái dương. “Ok-Kyun Pyo muốn một tách starbuck.”

Tôi chọn thời khắc đó để đặt câu hỏi cho anh; tại sao Liên Đoàn lại trả một cái giá quá đắt như vậy để bảo vệ một người nhân bản vô tính thí nghiệm?

“À.” Hae-Joo dụi mắt. “Câu trả lời dài, hành trình dài.”

Lại thoái thác?

Không: anh ấy cho tôi câu trả lời đầy đủ trong lúc lái xe tiến sâu hơn vào vùng đồng quê. Tôi sẽ kể lại chi tiết cho orison của anh bây giờ đây, Lưu trữ viên ạ. Nea So Copros đang tự đầu độc đến chết. Đất đai ô nhiễm, sông ngòi chết dần chết mòn, không khí đầy độc tố, nguồn thực phẩm đầy rẫy gene gây hại. Tầng lớp dưới không thể mua những loại thuốc cần thiết để chống lại sự thoái hóa này. Những vành đai khối u ác tính và bệnh sốt rét tiến dần về phía bắc ở tốc độ bốn mươi cây số mỗi năm. Sáu mươi phần trăm Vùng Sản Xuất ở châu Phi và Indonesia chuyên cung cấp cho nhu cầu của Vùng Tiêu Dùng đã không còn là nơi sinh sống được nữa. Tính hợp pháp của chế độ tài phiệt, sự giàu có của nó, đang cạn dần; Bộ Luật Làm Giàu Chủ Thể chỉ thuần túy là những miếng thạch cao đắp lên căn bệnh xuất huyết và thủ thuật đoạn chi. Cách làm duy nhất còn lại chính là chính sách được tất cả những nhà tư tưởng phá sản yêu thích: sự chối bỏ. Con người ở tầng lớp dưới rơi xuống cái bồn á nhân; những giám đốc thì đọc như vẹt Giáo điều bảy, “Giá trị của một Soul nằm ở chính đồng Đô la trong đó.”

Nhưng để cho những người thuộc tầng lớp dưới chết ở những nơi như Huamdonggil là nghĩa làm sao? Cái gì sẽ thay thế sức lao động quý báu của họ?

Chúng tôi. Tốn rất ít chi phí để tạo ra người nhân bản vô tính, Lưu trữ viên ạ, và chúng tôi chẳng hề khát khao một cuộc sống tự do hơn, tốt đẹp hơn. Vì người nhân bản vô tính sẽ bị vô hiệu hóa sau bốn mươi tám giờ không có Xà phòng do chế độ độc tài của tập đoàn sản xuất và cung cấp, nên “nó” sẽ không bỏ trốn. Trừ tôi ra, người nhân bản vô tính hết thảy đều là những cái máy hữu cơ. Lưu trữ viên, anh có còn nghĩ là không có nô lệ trong Nea So Copros hay không?

Vậy Liên Đoàn định xóa bỏ những... điều bị cáo buộc là “căn bệnh” này khỏi đất nước như thế nào?

Cách mạng.

Đông Á thời tiền giao tranh là một chuỗi hỗn loạn những nền dân chủ bệnh hoạn, chế độ chuyên quyền hiếu sát và những vùng đất chết mới! Nếu Hội đồng không thống nhất và cô lập khu vực này thì chúng ta hẳn đã quay trở lại thời ăn lông ở lỗ rồi. Tại sao lại có tổ chức chịu ủng hộ một tư tưởng... khủng bố như vậy?

Tập đoàn bốc đầy mùi tham nhũng và thoái hóa. Mặt trời đã lặn rồi.

Có vẻ như cô đã quán triệt đường lối của Liên Đoàn rồi đấy, Sonmi ạ.

Tôi cũng có thể nhận thấy anh rất quán triệt đường lối của Nea So Copros đấy, Lưu trữ viên ạ.

Hae-Joo có nhắc đến chính xác Liên Đoàn định làm gì để lật đổ nhà nước với một quân đội hai triệu người không?

Có. Liên Đoàn dự định lập trình cho sự tiến hóa của sáu triệu người nhân bản vô tính.

Tôi không hiểu tại sao cô không nhận ra đây chỉ thuần túy là ảo tưởng?

Tất cả các cuộc cách mạng đều thuần túy là ảo tưởng cho đến khi nổ ra; khi đó thì chúng trở thành những sự thật không thể tránh khỏi trong lịch sử.

Làm sao Liên Đoàn có thể đạt được sự “tiến hóa liên tục” này?

Trận chiến nằm ở cấp phân tử. Vài trăm Liên Đoàn viên làm việc trong những đơn vị trọng yếu như nhà máy sản xuất Xà phòng và nhà bảo sinh lồng ấp có thể kích hoạt vài triệu sự tiến hóa bằng cách bổ sung chất xúc tác của Tiến sĩ Suleiman vào nguồn cung cấp chính.

Ngay cả khi có sáu triệu người nhân bản vô tính tiến hóa thì họ có thể gây thiệt hại gì cho Kim tự tháp nhà nước ổn định nhất trong lịch sử nhân loại?

Ai sẽ làm việc ở nhà máy? Xử lý chất thải? Quản lý trang trại nuôi cá? Chiết xuất dầu và than đá? Đốt lò phản ứng? Xây dựng nhà cửa? Phục vụ trong nhà hàng? Chữa cháy? Quản lý khu đô thị? Bơm xăng? Nhấc, đào, kéo, đẩy? Gieo trồng, thu hoạch?

Con người đã mất đi những kỹ năng để xây dựng xã hội. Câu hỏi thực sự là, sáu triệu người tiến hóa có thể không gây thiệt hại gì, khi kết hợp với lực lượng dân quân, và những con người tầng lớp dưới bên bờ vực trở thành á nhân.

Nhất Đảng sẽ duy trì trật tự. Các cơ quan cảnh sát không phải chỉ có toàn điệp viên hai mang của Liên Đoàn.

Nhất Đảng sở hữu vũ khí đe dọa nào? Chĩa súng vào những người tiến hóa ư? Ngay cả Yoona~939, một người phục vụ nhân bản vô tính, còn chọn cái chết thay cho nô lệ.

Đợi, đợi đã... Nhất Đảng đã cảnh giác trước âm mưu này khi cô bỏ trốn rồi – họ đã tìm cách bắt cô lại. Những bức tường lửa an ninh đã được dựng lên quanh các nhà máy sản xuất Xà phòng.

Nhất Đảng chỉ cảnh giác trước các điệp viên Liên Đoàn ở Taemosan, và một người phục vụ nhân bản vô tính tiến hóa. Chẳng biết gì hơn.

Và vai trò của cô trong... kế hoạch tối thượng này là gì?

Vai trò đầu tiên của tôi là đưa ra bằng chứng cho thấy tác nhân tiến hóa của Suleiman đã có hiệu quả. Đầu óc tôi đã làm được điều đó, đơn giản chỉ bằng cách không thoái hóa thêm. Tác nhân này đã được sản xuất đại trà số lượng lớn ở vài nhà máy ngầm.

“Vai trò thứ hai của cô,” Hae-Joo Im thông báo với tôi sáng hôm đó, “là làm đại sứ.” Đại tướng Apis – con cá chép ở phòng khách quán mạt chược – đã hi vọng tôi sẽ trở thành một phái viên, một người truyền thông giữa Liên Đoàn và những người nhân bản vô tính tiến hóa khác; để giúp họ huy động các công dân cách mạng.

Cô cảm thấy thế nào về vị trí này trong một tổ chức khủng bố?

Nỗi sợ hãi lớn nhất: tôi không được lập trình để thay đổi lịch sử, tôi nói như vậy với Liên Đoàn viên, và anh trả lời rằng chẳng có ai được lập trình để làm điều đó. Hãy suy nghĩ kỹ, anh dặn tôi. Apis đã hi vọng tôi sẽ có được quyết định khi gặp lại ông ta. Những gì Liên Đoàn cần lúc này là tôi không vội khước từ lời đề nghị này ngay.

Cô có tò mò về cương lĩnh của Liên Đoàn cho một ngày mai tươi sáng hơn không? Làm sao cô biết trật tự mới sẽ không sản sinh ra một chế độ độc tài tồi tệ hơn? Nếu thay đổi lớn trở nên cần thiết, thì chắc chắn một chương trình cải cách toàn diện, thực hiện bằng những bước thận trọng, là cách thông minh nhất để tiến hành?

Với một lưu trữ viên cấp tám thì nền tảng học vấn của anh khá rộng đến mức gây tò mò đấy. Anh có gặp tuyên ngôn này khi đọc các tác phẩm thời kỳ đầu thế kỷ hai mươi chưa? “Không thể băng qua vực sâu bằng hai bước chân”?

Chúng ta đang tranh cãi vòng vo đấy Sonmi ạ. Hãy quay về hành trình của cô đi.

Chúng tôi đến Thảo nguyên Suanbo vào khoảng giờ thứ mười một, qua những con đường phụ. Những chiếc máy bay rải hóa chất phả ra những đám mây phân bón màu vàng nghệ, bao trùm hết đường chân trời. Hae-Joo lo ngại phải lộ mình dưới Con Mắt, vì thế chúng tôi chọn đi trên đường mòn của đồn điền TimberCorp. Đêm hôm trước trời mưa, vì vậy con đường đất đầy những hố voi ngập nước và chúng tôi di chuyển rất chậm, nhưng nhìn quanh cũng chẳng thấy chiếc xe nào khác. Loại cây lai ghép thông – cao su Norfolk được trồng ngay hàng thẳng lối, tạo ra ảo ảnh là khu rừng đang hành quân lướt qua chiếc ford đứng yên; một trung đoàn có hàng triệu binh sĩ. Tôi xuống xe chỉ một lần duy nhất, khi Hae-Joo đổ đầy thùng exxon từ một cái can. Đó là một buổi sáng tươi mới trên thảo nguyên, nhưng bên trong đồn điền lúc nào cũng âm u như hoàng hôn. Âm thanh duy nhất là tiếng gió vô trùng thổi những đầu kim cùn mòn. Loại cây không có phấn hoa này được lập trình để chống lại sâu bọ và chim chóc; không khí đặc quánh nồng nặc mùi thuốc diệt côn trùng.

Khu rừng biến mất đột ngột như khi xuất hiện; cảnh vật dần chuyển sang đồi núi. Con đường mòn rẽ sang hướng đông với Rặng Woraksan nằm ở phía nam; Hồ Ch’ungju trải dài về phía bắc. Hae- Joo giải thích mùi hôi lúc này chính là mùi nước hồ; do chất thải từ những ao nuôi cá hồi. Những ngọn đồi mọc xen kẽ trên mặt nước giăng đầy logo tập đoàn to khổng lồ; một bức tượng malachit của Nhà tiên tri Malthus[56] nhìn xuống một vùng trũng khô hạn. Con đường chạy qua dưới đường cao tốc Ch’ungju–Taegu–Pusan. Hae-Joo nói chúng tôi có thể đến được Pusan trong vòng hai giờ nếu mạo hiểm; nhưng anh muốn chậm mà chắc. Con đường lồi lõm dẫn chúng tôi thẳng lên Núi Sobaeksan.

Hae-Joo Im không định đến Pusan luôn trong hôm đó à?

Không. Lúc khoảng mười bảy giờ, anh giấu chiếc ford trong một sân gỗ bỏ hoang, sau đó chúng tôi đi bộ trên một con đường mòn dẫn lên núi. Chuyến đi này khiến tôi kinh ngạc và thích thú, không kém gì lúc vào khu đô thị: những ụ đá vôi ứa ra vôi lỏng; những cây thanh lương trà non và tần bì núi mọc ra từ các kẽ đá. Gió thoang thoảng hương phấn hoa và nhựa cây; mây cuộn tròn. Những con bướm đêm, trước đây từng bị lập trình, bay vòng quanh đầu chúng tôi, trông như đồ điện tử; những logo trên cánh của chúng đã biến dạng qua nhiều thế hệ thành một bài tập đọc vần ngẫu hứng.

Tôi cảm thấy được tái sinh thành một nhân tố khác xa với những người phục vụ nhân bản vô tính, cũng như những đồng cỏ Alpine hoàn toàn xa lạ với loài bạch tuộc vậy.

Trên một bãi cạn lộ thiên, Hae-Joo chỉ về phía một cái vịnh rồi hỏi tôi có thấy ông ấy không.

Ai? Tôi chỉ thấy một tảng đá.

Cứ nhìn đi, người hướng dẫn bảo tôi, và từ tảng đá hiện ra những đường nét chạm khắc của một người khổng lồ ngồi tư thế hoa sen. Một bàn tay mảnh mai đưa lên trong một cử chỉ duyên dáng mang nhiều ẩn ý. Vũ khí và nắng gió đã oanh tạc, phá hoại và làm nứt nẻ các đường nét của ông, nhưng hình dạng của ông vẫn có thể nhận ra khi nhìn tổng thể. Mất vài giây tôi mới nhận ra bức tượng điêu khắc khổng lồ này đang nhắc tôi nhớ đến ai: đó chính là Timothy Cavendish.

Hae-Joo cảm thấy rất buồn cười khi tôi nói như thế. Anh từng tưởng người khổng lồ đó là một người dân chủ hoặc một tên trùm trộm cắp thích chơi nổi; nhưng thực ra, những người thời tiền tiêu dùng đã thực sự thờ ông ấy như một vị thần đưa đến giải thoát khỏi sinh tử luân hồi. Kỳ thực, người khổng lồ bị nứt nẻ vì thời tiết từ một thời đại khác ấy vẫn toát ra một sự thiêng liêng man mác. Chỉ có một thứ vô tri vô giác mới có thể sống động đến thế. Trưởng lão có thể kể cho tôi nghe nhiều hơn, Hae-Joo nói tiếp. Tôi nghĩ QuarryCorp sẽ phá bỏ ông ấy khi tiến hành xử lý những ngọn núi này.

Mục đích của hành trình đến nơi vô danh đó là gì?

Bất kỳ nơi vô danh nào cũng mang một ý nghĩa. Chúng tôi lên đỉnh núi, đến một máy xay thóc khiêm tốn nằm giữa một khoảng đất rộng, quần áo phơi trên các bụi cây, những khoanh rau, một hệ thống tưới tiêu thô sơ bằng tre, một nghĩa trang. Tôi nghe tiếng một thác nước mùa khô cạn. Hae-Joo dẫn tôi đi qua một con hẻm nhỏ vào một cái sân, bốn bên là những tòa nhà trang trí không giống với bất kỳ tòa nhà nào tôi từng thấy. Một vụ nổ mới đây đã làm thủng lỗ chỗ đá lát đường, thổi bay cột gỗ và làm sập một mái nhà bằng tôn. Một ngôi chùa bị đổ trong một trận bão và nằm đè lên ngôi chùa cạnh bên. Đám dây thường xuân chứ không phải cột gỗ đã giúp giữ cho ngôi chùa thứ hai còn đứng thẳng.

Hae-Joo nói với tôi rằng một tu viện đã nằm ở đó trong mười lăm thế kỷ, cho đến khi tập đoàn giải tán các tôn giáo tiền tiêu dùng sau thời Giao tranh. Giờ đây nó trở thành nơi nương náu của một quần thể những con người bị truất hữu, những người thích một cuộc sống ở chốn núi non hơn là những bồn xả á nhân.

Vậy là Liên Đoàn che giấu người đàm phán,... “vị cứu tinh” của họ, trong một quần thể những kẻ phạm tội ư?

“Vị cứu tinh”. Thật là một danh xưng to lớn cho một người hầu ở Papa Song.

Tôi nghe tiếng cào trên những phiến đá sau lưng: một bà lão da nhăn nheo, sạm nắng đi tập tễnh vào sân, tựa lên một cậu bé có sẹo trên đầu; một cậu bé câm. Cậu bé mỉm cười e thẹn với Hae-Joo; bà lão ôm Hae-Joo đầy thắm thiết giống như, tôi tưởng tượng, một người mẹ. Tôi được giới thiệu với Trưởng lão là “Cô Yoo.” Một con mắt đã mờ đục; con kia sáng rực và cảnh giác; kết hợp lại chúng tạo ấn tượng có tới hai người giám sát theo dõi kẻ đối diện. Bà siết chặt tay tôi; cử chỉ đó khiến tôi ấm lòng. Khuôn mặt bà già cỗi như một người cao niên từ thời của Cavendish.

“Cháu được chào đón ở đây,” bà bảo với tôi, “vô cùng chào đón.”

Hae-Joo hỏi về hố bom.

Trưởng lão kể những kẻ quá khích trên không lúc đó bị ngứa răng; một chiếc chinook xuất hiện hồi tháng trước rồi đột nhiên ném một quả bom, khiến nhiều người bị thương nặng và một người chết. Trưởng lão đoán đó là một hành động phá hoại; hoặc tay phi công buồn tay ném chơi; hoặc có thể là một nhà phát triển đã nhìn thấy tiềm năng ở địa điểm này để xây một khách sạn nghỉ dưỡng cho các giám đốc và muốn chúng ta dời đi. “Ai mà biết được?” Bà thở dài.

Người bạn đồng hành của tôi hứa sẽ cố gắng tìm lý do.

Vậy chính xác thì những kẻ khai hoang này là ai? Á nhân? Quân khủng bố? Liên Đoàn?

Mỗi người đều có một câu chuyện khác nhau. Tôi gặp những người bất đồng chính kiến Uyghur; những cư dân đô thị từng được trọng vọng nhưng đã ngán ngẩm với chính trị tập đoàn; những kẻ thất nghiệp; những người trắng tay vì bệnh thần kinh. Trong số bảy mươi lăm người khai hoang, người trẻ nhất mới chín tuần tuổi; người già nhất, Trưởng lão, đã sáu mươi tám tuổi, dù nếu bà nói bà ba trăm tuổi tôi cũng tin.

Nhưng... làm sao họ tồn tại được mà không có những nhà hàng nhượng quyền và trung tâm thương mại? Họ ăn gì? Uống gì? Còn điện đóm thì sao? Giải trí thế nào? Làm sao mà một xã hội thu nhỏ vận hành được nếu không có cảnh sát và trật tự kỷ cương?

Thực phẩm của họ đến từ rừng núi và vườn tược; nước thì lấy từ thác. Những chuyến đi lùng sục ở các bãi rác thu về đồ nhựa và đồ kim loại để làm ra công cụ. Sony “trường học” của họ hoạt động nhờ tuốc bin nước. Đèn mặt trời dùng buổi tối tự sạc vào ban ngày. Hoạt động giải trí là chính họ; người tiêu dùng không thể tồn tại nếu thiếu 3D và màn hình, nhưng con người từng sống và vẫn có thể sống không cần thứ ấy. Còn lực lượng cảnh sát ư? Tôi tin chắc có rắc rối nảy sinh, nhưng những người khai hoang này đều trân quý sự độc lập của họ và quyết tâm bảo vệ nó trước những kẻ phá hoại bên trong hoặc những kẻ trục lợi bên ngoài.

Còn mùa đông miền núi thì sao?

Họ tồn tại như mười lăm thế kỷ nữ tu đã làm trước họ: bằng cách lên kế hoạch, tiết kiệm và củng cố. Quần thể này được xây dựng trên một cái hang, được những tên cướp mở rộng ra trong thời kỳ thôn tính Nhật Bản. Những đường hầm này là nơi trú ẩn trong mùa đông và tránh những vụ không kích của Nhất Đảng.

Đó không phải là một xã hội không tưởng thơ mộng. Đúng, mùa đông rất khắc nghiệt; mùa mưa dai dẳng; mùa màng thường gặp dịch bệnh; hang hốc thì dễ bị sâu bọ côn trùng tấn công, và rất hiếm người khai hoang sống thọ như người tiêu dùng tầng lớp trên. Đúng, những người khai hoang cũng cãi nhau và đau buồn như con người vốn thế. Nhưng họ làm tất cả trong một cộng đồng. Nea So Copros không có các cộng đồng; chỉ có nhà nước mà thôi.

Vậy Liên Đoàn có lợi ích gì ở tu viện này?

Liên Đoàn cung cấp các thiết bị như đèn mặt trời; còn những người ở đây cung cấp một ngôi nhà an toàn, cách xa Con mắt gần nhất nhiều cây số. Tôi thức dậy ở ký túc xá tầng hầm trước bình minh, rồi bò đến miệng hang. Một người canh gác uống một loại rượu giúp tỉnh táo; cô vén màn chống muỗi lên cho tôi ra, nhưng dặn tôi cẩn thận với bầy sói lảng vảng bên dưới các bức tường tu viện cũ. Tôi hứa sẽ không đi quá phạm vi nghe thấy, rời khỏi sân rồi len mình qua những tảng đá hẹp để đến ban công màu đen và xám.

Ngọn núi lùi ra xa; một làn khí nổi lên từ thung lũng, đem theo tiếng kêu của động vật, tiếng gọi, tiếng gầm và tiếng khụt khịt; tôi chẳng thể nhận ra tiếng nào. Những ngôi sao núi ở đây không phải là những chấm sáng đáng thương trên nền trời đô thị: chúng tròn trĩnh và tiết ra ánh sáng. Một tảng đá nhúc nhích, cách đó chỉ một mét. “A, cô Yoo,” tiếng Trưởng lão vang lên, “thêm một người dậy sớm.”

Tôi cất tiếng chào.

Bà cho tôi biết, những người khai hoang ở đây không thích bà lang thang trong làng trước khi mặt trời mọc vì sợ bà sảy chân xuống vách đá. Bà lấy ra một ống tẩu từ cánh tay áo, nhét thuốc vào đầu tẩu rồi đốt; bà không mời tôi hút vì sợ ảnh hưởng đến bộ phổi trẻ của tôi, bà nói thế, nhưng ở tuổi bà thì chẳng còn quan trọng nữa. Khói thuốc lá có mùi da thơm lừng.

Tôi hỏi về hình người ở vách đá dựng đứng phía bên kia vịnh.

Lão ông đó à, bà gật đầu. Tất Đạt Đa có nhiều tên khác nữa, tất cả đều đã biến mất rồi. Những người đời trước của Trưởng lão có thể kể vanh vách những cái tên của ông và các môn đệ của ông, nhưng vị Trưởng lão già và các ni cô cao niên đã bị đưa vào Ngọn hải đăng khi các tu viện bị quản thúc cách nay năm mươi năm. Bà lão đang nói chuyện với tôi từng là một ni cô mới nhập môn lúc đó, vì thế Nhất Đảng cho rằng bà còn trẻ có thể cải tạo được, nên đã đưa bà đến một khu dành cho trẻ mồ côi ở Khu Đô Thị Thành Phố Trân Châu.

Tôi hỏi, Tất Đạt Đa có phải là một kiểu thần thánh không?

“Một kiểu thần thánh” là cách nói thích hợp đấy, Trưởng lão trả lời tôi. Tất Đạt Đa không đem lại may mắn cho chúng ta, bắt ta phải chịu sự trừng phạt, thay đổi thời tiết hoặc bảo vệ chúng ta trước những khổ đau của cuộc sống. Nhưng ông dạy chúng ta về cách vượt qua khổ đau, và làm thế nào để tái sinh vào cảnh giới cao hơn trong những kiếp sau. Bà vẫn thường cầu nguyện ông vào sáng sớm, “để ngài thấy tôi vẫn giữ giới”, dù rất ít người khai hoang ở đây có đức tin. Tôi nói mình hi vọng Tất Đạt Đa sẽ cho tôi tái sinh vào quần thể của bà.

Ánh sáng từ ngày mới soi rọi thế gian rõ ràng hơn. Trưởng lão hỏi tại sao tôi lại hi vọng như thế.

Mất một lúc tôi mới có thể diễn tả cảm xúc của mình thành câu chữ, nhưng Trưởng lão không phải người nóng vội. Cuối cùng tôi nói ra được lý do của mình: những con người duy nhất mà trong mắt không có sự đói khát như trong mắt của người tiêu dùng chính là những người khai hoang này.

Trưởng lão hiểu. Bà nói nếu người tiêu dùng hài lòng với cuộc sống của họ ở bất kỳ cấp bậc ý nghĩa nào thì chế độ tài phiệt coi như chấm dứt. Đó là lý do vì sao quần thể này xâm phạm đến nhà nước. Truyền thông so sánh họ với loài sán dây; lên án họ vì đã trộm nước mưa từ WaterCorp; trộm tiền bản quyền từ những chủ nhân bằng sáng chế ở VegCorp; trộm khí oxy từ AirCorp. “Ngày đó có thể sẽ đến,” Trưởng lão dự đoán, “khi Hội đồng quyết định chúng ta là mô hình cạnh tranh cho cuộc sống nằm ngoài lý tưởng của tập đoàn.” Ngày đó, bà lo sợ, những con “sán dây” sẽ bị dán mác “khủng bố”, những quả bom thông minh sẽ trút xuống và những đường hầm trong tu viện sẽ chìm trong khói lửa.

Tôi nhận xét rằng cộng đồng của họ hẳn phải được tạo thành từ sự thiếu thốn, nhưng một cách vô hình.

“Chính xác.” Giọng của bà rất khẽ nên tôi phải rướn người để nghe. “Nghệ thuật giữ thăng bằng đòi hỏi rất nhiều công phu, cũng giống như cố gắng sống như một con người thực vậy, tôi cho là thế.”

Sao bà ấy biết?

Tôi không hỏi: có thể một Lỗ thăm dò trong khu tôi ở đã bắt gặp cảnh tôi đang hút Xà phòng. Chủ nhà nói với tôi rằng kinh nghiệm đã dạy cho họ phải giữ Con mắt với khách, kể cả Liên Đoàn viên và bạn bè của họ. “Nó vi phạm chuẩn mực hiếu khách của tu viện cũ,” vị Trưởng lão xin lỗi, “nhưng những người khai hoang trẻ hơn liên tục nhắc nhở chúng tôi phải cảnh giác, đặc biệt là trong một thế giới mà ai cũng có thể trở thành một người nào đó chỉ sau một ngày ở thẩm mỹ viện.”

Tại sao bà ta lại chìa tay giúp đỡ?

Để thể hiện tình đoàn kết, chắc là thế; tôi không biết nữa. Trong vô số những tội ác của Chủ Thể, Trưởng lão nói việc tạo ra “tầng lớp nô lệ bên dưới” là tội ác ghê tởm nhất.

Bà ấy nói chung chung hay cụ thể?

Đến đêm hôm sau tôi mới biết câu trả lời. Lúc bấy giờ nồi niêu đã khua loảng xoảng trong sân: bữa ăn sáng đang được chuẩn bị. Trưởng lão nhìn vào khe hẻm dẫn vào sân rồi đổi giọng. “Và con sói con này có thể là ai nào?”

Cậu bé câm tiến đến ngồi cạnh chân của Trưởng lão, mỉm cười. Ánh mặt trời gấp khúc bao quanh thế giới từ hướng đông, phục hồi màu sắc mong manh cho những bông hoa dại.

Vậy là Ngày Thứ Hai của kẻ trốn chạy bắt đầu.

Hae-Joo ăn sáng với bánh khoai tây và mật cây sung; khác với đêm trước, không ai ép tôi phải ăn thức ăn của con người. Chúng tôi nói lời tạm biệt; hai ba cô thiếu nữ nước mắt lưng tròng khi thấy Hae- Joo ra đi; những cô này nhìn tôi hằn học trước sự thích thú của anh ấy. Có khi Hae-Joo là một nhà cách mạng rắn rỏi; đôi khi anh chỉ là một chàng trai. Vị trưởng lão thì thầm, “Tôi sẽ cầu nguyện ông lão đó cho cô.” Chúng tôi rời khỏi độ cao không khí loãng dưới ánh mắt vị thánh của bà rồi xuống núi băng qua cánh rừng xào xạc. Chiếc ford nằm ở đúng nơi Hae-Joo đã giấu, không bị chạm đến.

Hành trình đến Yongju diễn ra thuận lợi; chúng tôi băng qua những chiếc xe chở gỗ mà tôi nhận ra được điều khiển bởi những người nhân bản vô tính vạm vỡ thuộc cùng một tế bào gốc. Những cánh đồng lúa ở phía bắc Hồ Andongho có nhiều đường đi nhanh nhưng dễ bị phát hiện, vì vậy chúng tôi ngồi trong ford, ẩn mình trước những Con Mắt cho đến giờ thứ mười lăm.

Khi băng qua một cây cầu treo cũ vắt qua con sông Chuwangsan sôi sục bên dưới, chúng tôi xuống xe để giãn chân một chút. Hae-Joo xin lỗi vì bàng quang con người của anh rồi tiểu xuống hàng cây nằm dưới đó hàng trăm mét. Tôi nhìn những con vẹt đơn sắc đậu trên mặt hẻm vực dính đầy phân chim; những cái đập cánh và tiếng kêu của chúng khiến tôi nhớ đến Boom-Sook Kim và đám bạn con ông cháu cha của hắn. Một hẻm núi ngoằn ngoèo chạy lên thượng nguồn; ở hạ nguồn, dòng sông được dẫn xuyên qua những ngọn đồi bằng phẳng cho đến khi biến mất dưới mái che Ūlsōng. Những chiếc không cơ bay thành nhóm trên khu đô thị; như những chấm nhỏ.

Dây cáp của cây cầu kêu kẽo kẹt dưới sức nặng của một chiếc ford giám đốc; chiếc xe đắt tiền tương phản với con đường thô sơ. Hae-Joo thò tay vào xe lấy khẩu súng. Anh trở lại, tay nhét vào túi áo khoác, dặn tôi im lặng để cho anh nói chuyện, và chuẩn bị ngồi thụp xuống nấp bên hông xe nếu tài xế kia móc súng ra.

Chiếc ford giám đốc giảm tốc rồi dừng lại. Một người đàn ông vạm vỡ với bề ngoài đã được thẩm mỹ bước ra từ ghế tài xế và gật đầu thân thiện. “Buổi chiều thật đẹp nhỉ.”

Hae-Joo gật đầu đáp lại, nhận thấy tình hình không quá nghiêm trọng.

Một người đàn bà được lập trình để gây hấp dẫn giới tính thò chân ra từ ghế hành khách. Bà ta trùm kín mít, chỉ để lộ chiếc mũi nhỏ và đôi môi gợi cảm. Bà ta tựa vào thanh chắn phía đối diện, quay lưng về phía chúng tôi, rồi châm một điếu malboro. Trong lúc này người đồng hành của bà ta mở cốp chiếc ford rồi nhấc lên một cái hộp, vừa vặn cho một con chó cỡ trung. Ông ta mở khóa rồi nhấc ra một bé gái, được tạo hình hoàn hảo đến kinh ngạc nhưng rất bé nhỏ, cao khoảng ba mươi centimet.

Con bé gào khóc vì sợ và cố vùng vẫy thoát ra; nó nhìn thấy chúng tôi; tiếng thét bé nhỏ của nó không thành lời nhưng vô cùng thống thiết.

Người đàn ông túm tóc con bé ném xuống cầu. Ông ta nhìn nó rơi xuống, rồi tặc lưỡi. “Một cách vứt bỏ rất rẻ,” ông ta tươi cười với chúng tôi, “cho một món rác rất đắt.”

Tôi ép mình phải đứng im bất động: căm phẫn và giận dữ xé toạc tim tôi. Hae-Joo chạm lên tay tôi. Tôi ép buộc tâm trí mình nghĩ đến nơi nào khác, bất kỳ nơi nào; một cảnh trong Khổ nạn của Timothy Cavendish, khi một con người vô tội bị một tên tội phạm ném qua ban công, bỗng hiện lên trong ký ức của tôi.

Tôi cho rằng người đàn ông này đã vứt bỏ một con búp bê sống nhân bản vô tính.

Ông giám đốc đó xởi lởi kể cho chúng tôi nghe về nó. “Con Búp bê Zizzi Hikaru này là món bắt buộc phải có trong dịp Năm mới hai năm trước. Con gái tôi không chịu cho tôi một phút yên thân. Tất nhiên, vợ chính thức của tôi, ông ta gật đầu về phía người phụ nữ ở phía bên kia cây cầu, lại đổ thêm dầu vào lửa, sáng trưa chiều tối. “Làm sao tôi còn mặt mũi nhìn hàng xóm nếu con gái chúng ta là đứa trẻ duy nhất ở đây không có một con Zizzi?’ cô ta hỏi tôi như thế.” Ông giám đốc thừa nhận phải khâm phục những người làm tiếp thị cho mấy món hàng này. Lấy một món đồ chơi nhân bản vô tính rác rưởi, lập trình nó như một thần tượng thời trước, rồi tăng giá lên năm mươi nghìn và nhìn chúng bay vèo vèo khỏi kệ. “Mà đấy là chưa kể chi trả cho đồ thiết kế, nhà búp bê, phụ kiện. Vậy tôi đã làm gì? Tôi đã trả tiền cho món đồ chết tiệt đó, chỉ để cho đám phụ nữ trong nhà câm miệng lại! Bốn tháng sau, chuyện gì xảy ra? Bọn trẻ lại có trào lưu mới và Marilyn Monroe hạ bệ Zizzi tội nghiệp lỗi thời.” Với vẻ khinh bỉ, ông ta kể với chúng tôi rằng một lần đi vô hiệu hóa một người nhân bản vô tính đã đăng ký tốn hết chín trăm đô la. Vui lên đi, ông ta chĩa ngón cái qua thanh chắn ngụ ý một cú ngã tai nạn chẳng tốn xu nào; vậy thì tại sao lại tốn tiền cho một thứ chẳng có ích gì nữa? “Đáng tiếc,” người đàn ông nháy mắt với Hae-Joo, “ly dị thì không được dễ như vậy.”

“Tôi nghe thấy rồi đấy, đồ mông lợn!” Vợ ông ta nhìn chúng tôi. “Lẽ ra ông nên đem Zizzi về cửa hàng để cho người ta trả lại đô la vào Soul của ông như tôi bảo. Nó bị lỗi từ đầu rồi. Nó còn không biết hát. Thứ đồ chết tiệt đó còn cắn tôi nữa.”

Mông lợn rất ngọt ngào: “Không tưởng tượng nổi ngã như thế mà không làm nó chết, em yêu à.” Bà vợ làu bàu một tiếng chửi quen thuộc. Người đàn ông lúc bấy giờ quan sát Hae-Joo, đưa mắt nhìn qua bộ ngực được lập trình của tôi, rồi hỏi chúng tôi đang đi nghỉ mát hay chỉ có việc đi ngang qua nơi hẻo lánh này.

“Ok-Kyun Pyo, thưa ông, hân hạnh được phục vụ.” Hae-Joo cúi đầu, nhận mình là một trợ lý cấp năm ở Công ty Kế toán Nhượng quyền Eagle; một chi nhánh của tập đoàn.

Sự tò mò hiếm hoi của tay giám đốc tắt ngóm. Ông ta khoe làm quản lý Đường Golf Bờ Biển từ P’yonghae đến Yongdok. “Cậu có chơi golf không, Pyo? Không à? Golf không chỉ là một trò chơi đâu, cậu biết chứ, golf là lợi thế sự nghiệp đấy.” Nhà quản lý hứa hẹn sân golf Paegam sắp có một, hai chỗ trống; một sân năm mươi tư lỗ chơi được quanh năm, cỏ mơn mởn, hồ nước và đài phun nước hoành tráng chẳng kém gì vườn thủy mộc của Chủ tịch Kính yêu cả. Tiếng cười khùng khục của ông ta khiến tôi buồn nôn. “Chúng tôi đã đánh bại lũ dân tầng lớp dưới để tiếp cận được với nguồn nước. Chỉ cần nói tên tôi với mấy người đăng ký thành viên: Quản lý Kwon.”

Ok-Kyun Pyo lên tiếng cám ơn.

Hài lòng, Quản lý Kwon bắt đầu kể cuộc đời giám đốc của mình, nhưng bà vợ ném điếu malboro xuống chỗ Zizzi Hikaru, leo lên ford rồi bấm còi xe inh ỏi khiến những con vẹt trắng đen bay vụt lên trời. Ông giám đốc cười gượng gạo với Hae-Joo rồi khuyên anh trả thêm đô la để thụ tinh con trai khi kết hôn. Khi ông ta lái xe đi, tôi cầu nguyện Tất Đạt Đa cho chiếc ford đó lao vào thanh chắn.

Cô nghĩ ông ta là kẻ giết người?

Một kẻ giết người quá hời hợt đến nỗi chính ông ta còn không hay biết mình là như thế.

Nhưng nếu ghét những người như Quản lý Kwon thì cô sẽ ghét cả thế giới mất.

Không phải cả thế giới đâu, Lưu trữ viên ạ: chỉ có Chủ Thể và Kim tự tháp Tập đoàn thôi.

Hai người đến được Pusan khi nào?

Buổi tối. Hae-Joo chỉ vào những đám mây exxon từ nhà máy lọc Pusan, biến màu hồng dưa thành màu xám than. “Chúng ta đến rồi,” anh nói.

Chúng tôi vào vành đai bắc của Pusan trên một con đường làng không lắp Con Mắt. Hae-Joo gửi ford tại một bãi ở ngoại ô Sōmyōn, sau đó chúng tôi đi tàu điện đến Trung tâm thương mại Quảng trường Ch’oryang; các cửa hàng ở đây cũng giống như ở Wangshimi Orchard. Những cô trông trẻ nhân bản vô tính lẽo đẽo theo sau các ông bà chủ giám đốc; những cặp tình nhân đưa mắt nhìn những đôi nhân tình khác; những 3D do tập đoàn tài trợ tranh nhau sáng chói hơn những cái khác. Ở một trung tâm thương mại cũ hơn, một lễ hội cổ truyền đang diễn ra, những người bán hàng rong bán những món gây tò mò bé bằng bàn tay, “những người bạn suốt đời”: cá sấu không răng, gà con đầu khỉ, cá voi trong lọ. Hae-Joo nói những con vật này sẽ chết sau khi được đem về nhà bốn mươi tám giờ. Một người làm xiếc đang mời chào trên loa phóng thanh: “Sững sờ xem Người Thần Kinh Hai Đầu! Ngắm nhìn Bà Matryoshka và những Phôi thai!” Thủy thủ từ khắp Nea So Copros ngồi ở những quầy bar, tán tỉnh các cô gái phục vụ, dưới sự giám sát của người làm trong PimpCorp. Tôi thấy những người Himalaya mặc đồ da, người Hán, người Baikal tóc màu nhạt, người Uzbek râu ria rậm rạp, người Aleut bụi bặm, người Việt và người Thái có da màu đồng. Những AdV của nhà chứa hứa hẹn sự thỏa mãn cho mọi điều mà con người có thể tưởng tượng ra. “Nếu Seoul là một bà vợ chung thủy của Ủy viên Hội đồng,” Hae-Joo nhận xét, “thì Pusan là cô nhân tình cởi truồng của ông ta.”

Đường sá ở phía sau hẹp dần; một cơn gió lùa đẩy chai lọ lăn lóc; những người đội mũ trùm vội vã lướt qua. Hae-Joo nắm tay tôi dẫn qua một khung cửa bí mật, lên một đường hầm thiếu sáng đến một lối vào bằng khung lưới sắt; trên cửa sổ phụ khắc chữ DINH THỰ KUKJE. Hae-Joo bấm chuông. Tiếng chó sủa; rèm hé mở và hai con hổ răng kiếm giống hệt nhau dán mắt vào lớp kính khiến tôi giật thót tim. Một người đàn bà lông lá đuổi chúng sang một bên rồi nhìn ra chúng tôi; mặt bà ta sáng lên khi nhận ra Hae-Joo. “Nun-Hel Han!” bà ta thốt lên. “Đã gần mười hai tháng rồi đấy! Thật là kỳ diệu, nếu những đồn đại về các trận đánh nhau của cậu chỉ đúng một nửa sự thật! Philippines thế nào?”

Hae-Joo bây giờ đổi sang giọng khàn khàn; kỳ thực, tôi phải liếc sang để kiểm tra xem có đúng là anh vẫn còn đứng đấy không. “Đang chìm, bà Lim ạ, chìm rất nhanh.” Nửa đùa nửa thực, anh hỏi bà có cho ai thuê lại phòng của mình không.

“Ôi, tôi làm ăn uy tín lắm mà!” Bà ta làm vẻ tự ái, kiểm tra sổ sách, nhưng cảnh báo rằng anh phải trả thêm tiền nếu chuyến đi sắp tới cũng dài như chuyến vừa rồi. Khung lưới sắt nâng lên và bà ta liếc nhìn tôi: “Thế này nhé, Nun-Hel, nếu bạn cậu ở lại hơn một tuần thì căn hộ đơn sẽ được tính gấp đôi. Quy định ở đây là thế. Thích thì ở không thích thì thôi, với tôi như nhau cả.”

Thủy thủ Nun-Hel Han nói tôi sẽ chỉ ở với anh một, hai đêm mà thôi.

“Mỗi cảng một cô,” bà chủ nhà nói với giọng ác ý. “Ông bà ta nói cấm có sai mà.”

Bà ta có phải Liên Đoàn không?

Không. Những bà chủ nhà cho thuê sẽ bán đứng mẹ đẻ của họ chỉ vì một đô la; họ có thể kiếm được nhiều tiền hơn nếu bán đứng Liên Đoàn viên. Nhưng Hae-Joo nói những bà chủ nhà cho thuê cũng ngăn chặn những kẻ tọc mạch và tạo bức bình phong tuyệt vời. Một chiếc cầu thang vấy bẩn vang vọng tiếng cãi nhau và tiếng 3D; cuối cùng thì tôi cũng đã làm quen được với chuyện leo cầu thang. Ở tầng chín, chúng tôi đi xuống một hành lang cây sơn xanh. Hae-Joo lấy ra một đầu tăm được nhét bí mật vào bản lề, nói rằng việc quản lý không quản nổi khách thuê phòng quá ư “thật thà”.

Căn phòng có một tấm đệm bốc mùi chua loét, một căn bếp nhỏ gọn gàng, một tủ quần áo với các loại đồ dùng trong nhiều loại thời tiết, một kodak đã chỉnh sửa chụp những cô gái điếm da trắng giằng kéo Nun-Hel Han và hai người bạn, quà lưu niệm từ Mười Hai Đô Thị và các cảng phụ và, tất nhiên, một kodak đóng khung của Chủ tịch Kính yêu. Một điếu malboro dính vết son môi nằm chênh vênh trên một lon bia. Cửa sổ buông rèm.

Hae-Joo tắm rồi thay quần áo cho một cuộc họp suốt đêm với chi bộ, dặn tôi thả rèm xuống và không mở cửa hoặc nghe điện thoại trừ phi đó là anh hoặc Apis với câu ám hiệu này: anh viết ra những từ ĐÂY LÀ NƯỚC MẮT CỦA VẠN VẬT lên một mảnh giấy, sau đó đốt nó đi trong chiếc gạt tàn. Xà phòng của tôi có trong tủ lạnh, anh nói, và hứa sẽ quay lại ngay sau giờ giới nghiêm vào sáng hôm sau.

Chắc chắn một kẻ đào tẩu xuất chúng như cô xứng đáng nhận được một sự chào đón trịnh trọng hơn chứ?

Chào đón trịnh trọng sẽ gây chú ý. Tôi nghiên cứu địa lý của Pusan trên sony, hút Xà phòng buổi tối, đi tắm, rồi ngủ đến sáu giờ ba mươi khi Hae-Joo trở lại với một túi ttōkbukgi cay nồng, trông có vẻ kiệt sức. Tôi pha cho anh một tách starbuck; một thủ thuật có ích mà tôi học được từ những ngày còn làm phục vụ. Anh uống với vẻ biết ơn. Sau đó anh bảo tôi ra đứng gần cửa sổ và che mắt lại.

Tôi làm theo. Màn cửa kéo lên, kêu cót két vì lâu ngày không dùng đến. “Đừng nhìn..” Hae-Joo ra lệnh. “Bây giờ, mở mắt ra.” Một lớp những mái nhà, đường xuyên tốc, những nhóm hành khách, AdV, bê tông... và ở đó, trên cảnh nền, bầu trời đã chìm xuống một nơi mà tất cả những muộn phiền của hai chữ “tôi là” chìm vào bình yên xanh ngắt.

Anh gọi tên nó. “Biển đấy.”

Cô chưa bao giờ thấy biển trước đó à?

Chỉ thấy trên sony, 3D ở Papa Song về cuộc sống ở Thiên Thai, và sách của Yoona; chưa bao giờ thấy biển thật, chưa bao giờ thấy bằng chính mắt của mình. Tôi khát khao được đến, chạm vào nó rồi đi dạo cạnh nó. Hae-Joo nghĩ an toàn nhất là chúng tôi ẩn náu vào ban ngày cho đến khi tìm được nơi tạm lánh nào đó ở xa hơn. Sau đó anh nằm lên đệm và chỉ chưa đến một phút đã bắt đầu ngáy.

Nhiều giờ trôi qua; ở những ô biển thấy qua các tòa nhà, tôi nhìn ngắm những chiếc tàu chở hàng và tàu viễn dương. Phụ nữ tầng lớp dưới treo quần áo trên những mái nhà gần đó. Sau đó thời tiết trở nên âm u hơn; không cơ gầm rú qua những đám mây bọc thép. Tôi tư lự. Trời mưa. Hae-Joo trở mình, vẫn còn ngủ, nói mớ, “Không, chỉ là bạn của một người bạn thôi,” rồi lại im lặng. Nước dãi chảy ra từ miệng anh, làm ướt gối. Tôi nghĩ đến Giáo sư Mephi: tại hội thảo cuối cùng, ông đã nói về sự cách ly khỏi gia đình, và thừa nhận đã dành nhiều thời gian dạy dỗ tôi hơn chính con gái ông.

Hae-Joo tỉnh dậy vào buổi chiều, đi tắm rồi pha trà nhân sâm. Tôi ganh tị với con người về ẩm thực của họ; trước khi tôi tiến hóa, Xà phòng dường như là món ngon nhất mà tôi có thể tưởng tượng, nhưng giờ đây nó có vị nhạt nhẽo đến phát chán. Tôi bị ốm nếu ăn thức ăn của con người. Liên Đoàn viên hạ màn cửa sổ. “Đến giờ bàn công việc rồi.” Sau đó anh tháo kodak Chủ tịch Kính yêu rồi đặt nó nằm úp xuống trên chiếc bàn thấp. Hae-Joo cắm sony vào một ổ cắm điện được che lại bằng khung hình.

Một máy thu nhận tín hiệu phi pháp? Giấu trong một kodak của kiến trúc sư của Nea?

Nơi linh thiêng là nơi che giấu tốt nhất cho những kẻ báng bổ: họ luôn giống nhau. Một 3D của một người đàn ông hiện ra sáng rõ; ông ta trông giống như nạn nhân bị bỏng nặng mà không bỏ nhiều tiền ra chữa. Đôi môi ông ta hơi lệch nhịp với lời nói. Ông chúc mừng tôi vì đã đến nơi an toàn, rồi hỏi tôi ai có khuôn mặt đẹp hơn, ông ta hay con cá chép.

Tôi thành thật đáp: con cá chép.

Tiếng cười của An-Kor Apis biến thành tiếng ho. “Đây là khuôn mặt thật của tôi, dù cho nó có ý nghĩa gì đi nữa.” Ông ta nói ngoại hình đáng sợ rất phù hợp với ông ta, vì cảnh sát rất sợ lây nhiễm. Sau đó ông hỏi tôi có thích chuyến đi băng qua đất mẹ yêu dấu hay không.

Hae-Joo Im đã chăm sóc tôi rất tốt, tôi đáp.

Đại tướng Apis hỏi tôi có hiểu vai trò mà Liên Đoàn muốn tôi thực hiện hay không. Tôi đáp, có, tôi hiểu, sự chần chừ của tôi trong chuyện ra quyết định đã bị chặn đứng. “Chúng tôi muốn cô nhìn thấy một... cảnh, một trải nghiệm cơ bản ở Pusan, trước khi cô quyết định, Sonmi ạ,” Apis bắt đầu. Ông cảnh báo tôi rằng cảm giác đó sẽ không dễ chịu, nhưng đó là điều bắt buộc. “Để khi ra quyết định, cô ý thức rõ hơn về tương lai của cô với chúng tôi.” Nếu tôi đồng ý, Chỉ huy Im sẽ hộ tống tôi đến nơi đó ngay lúc này.

Vui mừng vì có thêm thời gian, tôi nói mình sẽ đi.

“Vậy thì chúng ta sẽ nói chuyện với nhau sớm thôi,” Apis hứa, rồi ngắt kết nối. Hae-Joo lấy ra một bộ đồng phục kỹ thuật và tấm che mặt từ tủ quần áo; chúng tôi mặc đồ, rồi khoác áo choàng ngoài đồng phục để không phiền đến chủ nhà. Bên ngoài trời lạnh, tôi cảm thấy thật ấm áp dưới hai lớp trang phục. Chúng tôi đi tàu điện đến ga bến cảng, rồi lên băng chuyền xuống chỗ tàu neo đậu ở bến cảng, ngang qua nhiều chiếc tàu biển khổng lồ. Mặt biển đêm tối đen; tuy nhiên, có một chiếc tàu lớn màu vàng trông giống như một lâu đài dưới đáy biển. Tôi đã nhìn thấy nó, trong kiếp trước của mình. “Kim Thuyền của Papa Song,” tôi thốt lên, nói với Hae-Joo rằng đây là chiếc tàu đưa những người phục vụ mười hai sao đến Thiên Thai ở Hawaii.

Hae-Joo biết thế; chúng tôi sẽ lên chiếc kim thuyền đó.

An ninh trên cầu tàu rất hạn chế; một con người có đôi mắt mệt mỏi gác chân trên bàn, xem những chiến binh nhân bản vô tính ở Đấu trường Thượng Hải trên 3D. “Các người là ai?”

Hae-Joo chớp Soul của anh: “Kĩ thuật viên Man-Shik Gang cấp năm.” Anh kiểm tra sony cầm tay của mình rồi đọc rằng anh được cử đến để hiệu chuẩn máy điều nhiệt ở tầng bảy.

“Tầng bảy à?” Người gác cửa cười khẩy. “Hi vọng là hai người chưa ăn cơm.” Sau khi xác nhận lệnh làm việc, anh ta quay sang tôi. Tôi nhìn xuống sàn. “Còn cô vận động viên marathon mồm mép này là ai, kĩ thuật viên Gang?”

“Trợ lý mới của tôi,” Hae-Joo đáp. “Kĩ thuật viên trợ lý Yoo.”

“Thế hử? Tối nay là chuyến thử việc đầu tiên của cô đến chốn lạc thú của chúng tôi à?”

Tôi gật đầu, vâng ạ.

Người gác cửa nói không có lần nào giống như lần đầu. Hắn ra dấu cho chúng tôi lên tàu bằng một cái ngoắc chân lười biếng.

Lên tàu của tập đoàn đơn giản thế thôi sao?

Chiếc kim thuyền của Papa Song không hẳn là thỏi nam châm thu hút những kẻ đi tàu lậu đâu, Lưu trữ viên ạ. Thủy thủ đoàn và Trợ lý đi lại nhộn nhịp trên cầu tàu, quá tập trung vào công việc của họ nên chẳng bận tâm đến chúng tôi. Các phòng dịch vụ đều vắng người; chúng tôi leo lên phần bụng của chiếc tàu mà không hề bị hỏi han gì. Đôi nike của chúng tôi kêu ken két trên bậc thang kim loại. Một động cơ khổng lồ rền vang. Tôi nghĩ mình nghe thấy tiếng hát. Hae-Joo xem bản đồ tàu, bật mở một cửa hầm, rồi dừng lại để nói gì đó với tôi.

Anh đổi ý, chui vào, giúp tôi đi qua, rồi khóa cửa hầm phía sau lưng chúng tôi.

Tôi nhận ra mình đang đứng trên một cầu treo lơ lửng từ trần của một căn phòng bảo dưỡng rộng; đầu kia của căn phòng được che bằng những tấm bạt, và thiếu khoảng không trên đầu để chúng tôi đứng thẳng. Qua sàn lưới của cầu treo tôi thấy khoảng hai trăm người phục vụ Papa Song mười hai sao, đang được di chuyển qua những chiếc cửa xoay; lối đi duy nhất là di chuyển lên trên. Những Yoona, Hwa-Soon, Ma-Leu-Da, Sonmi, một số chị em cùng tế bào gốc đời cũ mà tôi không nhận ra. Cảm giác như đang nằm mơ khi thấy những chị em gái cũ của mình ở bên ngoài nhà mái vòm của Papa Song. Họ hát bài Thánh thi của Papa Song, lặp đi lặp lại. Tiếng hát của họ đan xen với tiếng động cơ hơi nước ở phía sau. Nghe mới vui tươi làm sao. Tiền đầu tư của họ đã được trả đủ; hành trình đến Hawaii của họ đang diễn ra; cuộc đời mới của họ trên Thiên Thai sắp bắt đầu.

Cô có ganh tị với họ không?

Tôi ganh tị sự chắc chắn của họ về tương lai.

Cứ khoảng năm mươi giây một, một Trợ lý ở phía trước hối thúc người phục vụ tiếp theo đi qua những mái vòm vàng. Mỗi lần như vậy các chị em gái lại vỗ tay; những người mười hai sao may mắn quay lại, vẫy tay, rồi đi qua để được hướng dẫn đến khoang dành cho mình. Sau mỗi lần như vậy, những chiếc cửa xoay đưa những người nhân bản vô tính tiến gần với đích đến thêm một bước. Cuối cùng, Hae-Joo vỗ lên chân tôi, rồi ra dấu cho tôi bò lên qua những tấm bạt chia cắt cầu treo với buồng tiếp theo.

Cô không sợ bị phát hiện à?

Những chiếc đèn sáng choang thả xuống từ chiếc cầu treo; từ bên dưới nhìn lên, chúng tôi như người vô hình. Mà thế nào đi nữa thì chúng tôi cũng không phải là những kẻ đột nhập, chỉ là kĩ thuật viên tiến hành việc bảo dưỡng mà thôi.

Căn phòng tiếp theo thực chất là một buồng kín. Một chiếc ghế nhựa đặt trên bục; một hệ thống mũ chụp cồng kềnh, treo từ đường ray trên trần nhà, ngay phía trên chiếc ghế. Một Trợ lý giải thích rằng chiếc mũ sẽ giúp tháo vòng cổ ra, như đã hứa hẹn trong Điều răn Mười. “Cám ơn, Trợ lý,” người phục vụ phấn khởi thốt lên. “Ôi, cám ơn!” Chiếc mũ trùm vừa vặn đầu và cổ của Sonmi; lúc này tôi để ý đến số cánh cửa dẫn vào căn phòng. Kết luận khiến tôi ớn lạnh.

Nó có gì bất thường?

Có một cánh cửa: lối vào dẫn vào từ chỗ tập trung các chị em. Chỉ duy nhất một cánh cửa. Vậy tất cả những người phục vụ trước đó đã ra khỏi phòng như thế nào? Một tiếng “rắc” khô khốc từ chiếc mũ khiến tôi hướng sự tập trung trở lại về phía chiếc bục ngay phía dưới; người phục vụ xụi xuống, tròng mắt trợn ngược; Dây cáp chính nối hệ thống mũ chụp đầu với đường ray bên trên căng cứng; chiếc mũ nâng lên; người phục vụ dựng thẳng dậy; được nhấc lên không trung. Thi thể cô nhảy clacket; nụ cười hào hứng bị đóng băng lúc chết căng ra khi da mặt bị kéo ghì. Một công nhân dùng máy hút chỗ máu vương trên chiếc ghế nhựa; một người khác lau sạch nó. Chiếc mũ được kéo bằng đường ray đưa món hàng đi song song với cầu treo của chúng tôi, qua một tấm bạt vào căn phòng tiếp theo. Một chiếc mũ mới được hạ xuống trên chiếc ghế nhựa, ở đó có ba Trợ lý đã đặt một người phục vụ hào hứng tiếp theo ngồi xuống.

Hae-Joo thì thầm vào tai tôi, “Những người đó cô không thể cứu được, Sonmi ạ. Họ đã nắm chắc cái chết khi lên tàu rồi.” Anh ấy đã nói gần đúng; kỳ thực, họ đã cầm chắc cái chết từ trong lồng ấp rồi.

Một chiếc mũ khác lách cách trở về. Người phục vụ này là một Yoona.

Nỗi kinh hoàng của căn phòng đó không thể diễn tả hoặc tưởng tượng sao cho đúng; phải đích thân trải nghiệm mới hiểu.

Chúng tôi bò lên trên. Những chiếc mũ vận chuyển tử thi vào một căn hầm thắp đèn màu tím; khi chúng tôi đi qua tấm bạt, nhiệt độ giảm mạnh và tiếng gầm của máy móc vang lên đinh tai nhức óc.

Một dây chuyền giết mổ mở ra phía dưới chúng tôi, được vận hành bởi những hình người cầm kéo, cưa kiếm, những dụng cụ mà tôi không biết tên... ướt sũng máu, từ đầu đến chân, như những cảnh tượng dã man ở địa ngục. Những con quỷ này tháo vòng cổ, lột quần áo, cạo lông, lột da, cắt tay và chân, xẻ thịt, múc ruột gan ra... Đường cống làm trôi sạch máu... tiếng động thật chát chúa.

Nhưng... tại sao lại... mục đích của hành động... tắm máu này là gì?

Ngành công nghiệp gene đòi hỏi một lượng lớn vật chất sinh học hóa lỏng cho các lồng ấp, nhưng phần lớn là dùng cho Xà phòng. Còn cách nào kinh tế hơn để làm ra loại protein này ngoài việc tái chế những người nhân bản vô tính đã đi đến chặng cuối cuộc đời lao động của họ? Thêm nữa, những “protein tái thu” còn thừa được dùng để sản xuất thực phẩm ở Papa Song, cho người tiêu dùng ăn trong những nhà hàng của tập đoàn trên khắp Nea So Copros.

Không. Giết người phục vụ để cung cấp thực phẩm và Xà phòng cho các nhà hàng... không. Cáo buộc này thật... thật phi lý. Tôi không phủ nhận cô đã nhìn thấy những gì cô nhìn thấy, nhưng đó chắc chắn, chắc chắn phải là một... cảnh do Liên Đoàn dựng lên, để tẩy não cô. Không có... “con tàu giết mổ” nào lại có thể được cho phép tồn tại như thế. Cả Chủ tịch kính yêu lẫn Chủ Thể sẽ không cho phép một sự suy đồi như vậy! Nếu người nhân bản vô tính không được trả tiền cho công sức lao động của họ trong những cộng đồng về hưu, thì toàn thể Kim tự tháp sẽ là... một sự xảo trá gian dối nhất.

Kinh doanh là kinh doanh thôi.

Nhưng... tại sao chuyện này không được nhắc đến trong phiên tòa xét xử cô?

Tôi phải lặp lại, thưa Lưu trữ viên: “phiên tòa” xét xử tôi không hề là một phiên xét xử, mà chỉ là một việc làm để định hình quan điểm.

Đúng, nhưng điều mà cô cáo buộc thật là... ác mộng!

Đúng thế, nhưng ác mộng không hẳn là không thể xảy ra. Cá nhân anh có biết người nào từng đến Thiên Thai hay chưa? Những người phục vụ đi đâu sau khi về hưu? Mà không chỉ có người phục vụ: hàng trăm nghìn người nhân bản vô tính kết thúc cuộc đời phục vụ của họ mỗi năm. Những khu đô thị dành cho họ ở đâu nhỉ?

Thế còn những 2D về Hawaii thì sao? Chính mắt cô đã thấy chúng tại Papa Song ở Chongmyo Plaza mà. Bằng chứng của cô đấy.

Thiên Thai là một ảo ảnh tạo ra trên sony và được dựng kĩ thuật số ở Neo Edo. Ở quần đảo Hawaii thật sự, không hề có một địa điểm như thế. Anh biết đấy, trong những tuần cuối cùng của tôi ở Papa Song, tôi cảm thấy dường như hình ảnh cuộc sống ở Thiên Thai cứ lặp đi lặp lại. Cũng Hwa-Soon đó chạy xuống con đường cát đó đến hồ đá đó. Những chị em gái chưa tiến hóa của tôi không nhận ra, còn tôi thì nghi ngờ mình lúc đó; nhưng bây giờ thì tôi đã có lời giải thích rồi.

Không, tôi không thể chấp chận – tôi không hiểu làm thế nào – sự ác độc như thế lại có thể bén rễ trong nhà nước văn minh của chúng ta. Luật pháp của Nea So Copros được lập ra dựa trên thương mại bình đẳng.

Điều thứ năm trong Tuyên bố của tôi chỉ ra cách luật pháp bị phá vỡ. Nó là một vòng tròn cũng xưa cũ như cách hành xử của bộ lạc vậy. Lúc đầu là sự vô minh. Vô minh dẫn đến sợ hãi. Sợ hãi dẫn đến hận thù, và hận thù dẫn đến bạo lực. Bạo lực đẻ ra thêm bạo lực cho đến khi luật lệ duy nhất chính là bất cứ thứ gì bị điều khiển bởi những kẻ quyền lực nhất. Điều bị Chủ Thể điều khiển là sự sáng tạo, sự khuất phục và sự thanh trừng gọn gàng một bộ lạc rất đông những kẻ nô lệ bị lừa bịp.

Lời khai của cô sẽ là những gì cô nói. Tôi... chúng ta phải tiếp tục... Cô đã theo dõi việc giết mổ mà cô mô tả trong bao lâu?

Tôi không nhớ. Ký ức tiếp theo của tôi là Hae-Joo dẫn tôi đi qua khu ăn uống. Con người đang chơi bài, ăn mì, hút thuốc, gửi thư, đùa giỡn, tham gia vào cuộc sống thường nhật. Làm sao họ có thể biết điều gì đã xảy ra trong bụng tàu mà chỉ... ngồi đấy, như thể con tàu của họ là một dây chuyền xử lý cá mòi? Gã canh cửa có râu quai nón cười với tôi, bảo tôi nhớ quay lại sớm, tên khốn kiếp.

Trong tàu điện ngầm, những hành khách lắc lư; tôi “thấy” những xác chết treo trên đường ray. Khi đi lên cầu thang, tôi “thấy” các xác chết bị kéo lên từ phòng hành quyết. Khi đã về phòng, Hae-Joo không mở đèn mặt trời lên; anh chỉ kéo màn chớp lên vài tấc để ánh đèn đô thị pha loãng bóng đêm. Anh rót một ly soju cho mình. Chúng tôi không nói với nhau một lời kể từ khi rời con tàu giết mổ. Trong số tất cả các chị em gái, tôi là kẻ duy nhất đã nhìn thấy Thiên Thai thật mà vẫn còn sống.

Tình dục của chúng tôi rất tẻ nhạt, khô khan và ứng biến khi cần; nhưng đó là một hành động sống. Những ngôi sao mồ hôi trên lưng Hae-Joo là món quà anh tặng cho tôi; tôi thu hoạch chúng bằng lưỡi của mình.

Người thanh niên hút một điếu malboro bồn chồn trong im lặng và xem xét vết chàm của tôi, hết sức tò mò. Anh ngủ thiếp đi trên tay tôi, đè ép nó. Tôi không đánh thức anh; cảm giác đau chuyển thành tê dại; tê dại chuyển thành đau nhói như kim chích; sau đó tôi bò ra từ dưới người anh. Tôi đắp chăn cho anh: con người dễ mắc bệnh cảm lạnh, ngay cả trong thời tiết ấm áp. Pusan đã sẵn sàng cho giờ giới nghiêm. Ánh sáng vấy bẩn của nó nhạt nhòa khi những AdV và đèn đã tắt hết. Đến lúc này người phục vụ cuối cùng ở hàng cuối cùng hẳn đã bị kết liễu. Dây chuyền tàn sát sẽ được lau sạch và rơi vào im lặng; những người giết mổ, nếu họ là người nhân bản vô tính, thì giờ này đã vào cũi. Chiếc kim thuyền sẽ ra khơi vào ngày mai đến một cảng mới, nơi việc tái chế bắt đầu lại từ đầu.

Lúc không giờ, tôi hút Xà phòng rồi chui vào chăn với Hae-Joo. Thân thể anh rất ấm, sống động và trẻ trung, mặc cho điều khủng khiếp mà chúng tôi đã chứng kiến. Vì sự khủng khiếp đó, chúng tôi đã làm tê liệt ký ức về con tàu giết mổ, theo cách mà một người nữ và một người nam có thể làm.

Nhưng cô không tức giận vì anh ta và Apis đã đưa cô đến kim thuyền mà không chuẩn bị trước cho cô về nỗi kinh hoàng tột độ này à?

Không. Họ có thể dùng lời nào để diễn tả chứ?

Buổi sáng đem theo một làn sương ẩm thấp. Hae-Joo tắm, sau đó ăn một bát cơm to, kim chi, trứng và canh rong biển. Tôi lau rửa; người tình con người ngồi đối diện tôi phía bên kia bàn.

Lần đầu tiên tôi lên tiếng kể từ khi chứng kiến dây chuyền chiết xuất protein đó. Tôi nói, “Chiếc tàu đó phải bị phá hủy, mọi chiếc tàu giết mổ ở Nea So Copros giống nó phải bị đánh chìm.”

Hae-Joo đáp, “Đúng.”

Tôi nói, “Những xưởng tàu đóng những chiếc tàu này phải bị đập bỏ; hệ thống hỗ trợ cho chúng phải bị giải tán; luật lệ cho phép những hệ thống này tồn tại phải bị bãi bỏ.”

Hae-Joo đáp, “Đúng.”

Tôi nói, “Mọi người tiêu dùng, giám đốc và Thành viên Hội đồng ở Nea So Copros phải được thuyết phục rằng người nhân bản vô tính là con người; nếu việc thuyết phục không có tác dụng, thì người nhân bản vô tính đã tiến hóa phải đấu tranh với Liên Đoàn để đạt được mục tiêu này, sử dụng bất cứ lực lượng nào cần thiết.”

Hae-Joo đáp, “Phải.”

Tôi nói, “Người nhân bản vô tính tiến hóa cần một Giáo Điều: để dạy họ về quyền lợi; để hun đúc lòng căm phẫn; để giải phóng năng lượng của họ.” Tôi là người nhân bản vô tính viết nên những dòng này. Tôi hỏi liệu Liên Đoàn có thể - có muốn - xây dựng một bản tuyên ngôn về quyền như thế không?

Hae-Joo đáp, “Chắc chắn chúng tôi muốn.”

Nhiều chuyên gia làm nhân chứng ở phiên tòa xét xử cô phủ nhận bộ Tuyên ngôn là tác phẩm của một người nhân bản vô tính, cho dù đã tiến hóa hay chưa, và khẳng định rằng nó được một con người theo thuyết bãi nô viết hộ.

Các “chuyên gia” thật lười nhác, chỉ bác bỏ những gì họ không hiểu!

Tôi viết bộ Tuyên Ngôn ở Ulsukdo Ceo, bên ngoài Pusan, ở một villa giám đốc biệt lập nhìn xuống cửa sông Nakdong. Trong thời gian viết, tôi đã xin cố vấn từ một thẩm phán, một nhà gene học, chuyên gia ngữ pháp và An-Kor Apis; nhưng những Điều răn Tiến hóa của bộ Tuyên Ngôn, tính logic và đạo đức của nó, bị bác bỏ tại phiên xử, bị cho là “sự nguy hiểm đáng sợ nhất trong lịch sử tội phạm xã hội”, đó là tác phẩm trí óc của tôi, Lưu trữ viên ạ. Bộ Tuyên Ngôn của tôi đã được thai nghén kể khi Quản lý Rhee chà đạp Yoona~939; được nuôi dưỡng bởi Boom-Sook và Fang; được tiếp thêm sức mạnh bởi Mephi và Trưởng lão; và ra đời trong con tàu giết mổ của Papa Song.

Và cô bị bắt không lâu sau khi hoàn tất tác phẩm này?

Vào cùng buổi chiều hôm đó. Khi bổn phận của tôi đã xong thì sẽ thật nguy hiểm nếu để tôi tự do. Vụ bắt bớ của tôi là để dành cho Truyền thông. Tôi giao bộ Tuyên Ngôn của mình trên sony cho Hae- Joo. Chúng tôi nhìn nhau lần cuối; không có gì trôi chảy để nói với nhau hơn là im lặng. Tôi biết chúng tôi sẽ không bao giờ gặp nhau nữa; có thể anh ấy biết là tôi đã biết.

Ở cạnh khu nhà có một đàn vịt hoang đã sống sót giữa ô nhiễm; những bộ di truyền biến thể cho chúng tính phục hồi mà tổ tiên nguyên gốc của chúng còn thiếu. Tôi cho chúng ăn bánh mì, ngắm những con vật lội nước tạo ra những lúm đồng tiền trên bề mặt sáng như mạ crôm, sau đó vào nhà để ngắm chúng từ bên trong. Nhất Đảng không để tôi đợi lâu.

Sáu chiếc không cơ quần đảo trên mặt ao; một chiếc hạ cánh ở vườn sau nhà. Các điệp vụ nhảy ra, giương súng, rồi luồn lách về phía cửa sổ phòng tôi, ra dấu bằng tay và tỏ vẻ gan dạ. Tôi đã để cửa ra vào và cửa sổ mở cho họ, nhưng những người bắt tôi lại triển khai một cuộc bố ráp với lính bắn tỉa và loa phóng thanh.

Cô đang ngụ ý rằng cô đã trông chờ vụ bố ráp này ư, Sonmi?

Khi tôi đã hoàn tất cương lĩnh, bước tiếp theo chỉ có thể là bắt giữ tôi.

Ý cô là sao? “Bước tiếp theo” gì, của cái gì?

Của việc sản xuất vở kịch này, được dàn dựng trong lúc tôi còn là một người phục vụ ở Papa Song.

Khoan, khoan, đợi đã. Thế còn... ơ, mọi thứ thì sao? Cô đang nói là toàn bộ... lời thú tội của cô được tạo thành bởi... những sự kiện được dàn dựng từ trước sao?

Những sự kiện chính, đúng thế. Một số diễn viên là nằm ngoài kịch bản: Boom-Sook và Trưởng lão chẳng hạn, nhưng những vai chính đều là sắp đặt. Hae-Joo Im và Chủ tịch Mephi chắc chắn là được sắp đặt. Anh không nhận ra các kẽ hở hay sao?

Chẳng hạn như?

Wing~027 là một người tiến hóa cũng ổn định giống như tôi; tôi có thực sự độc nhất vô nhị hay không? Liệu Liên Đoàn có thực sự mạo hiểm để lộ vũ khí bí mật của họ trong một chuyến đào tẩu xuyên quốc gia không? Chẳng phải vụ Quản lý Kwon sát hại người nhân bản vô tính Zizzi Hikaru trên chiếc cầu treo ám chỉ quá lộ liễu sự độc ác của con người sao; thời điểm xuất hiện của nó không phải là quá ngẫu nhiên hay sao?

Nhưng còn Xi-Li, người thanh niên bị giết vào đêm cô bỏ trốn từ Taemosan thì sao? Máu của anh ta đâu phải là... nước sốt cà chua!

Anh chàng theo chủ nghĩa lý tưởng đáng thương ấy là một vai phụ có thể tống khứ bất cứ lúc nào trong màn kịch của Nhất Đảng.

Nhưng còn... Liên Đoàn? Chẳng lẽ cô đang nói rằng Liên Đoàn cũng được dựng lên cho kịch bản của cô sao?

Không: Liên Đoàn tồn tại trước khi có tôi, nhưng tôn chỉ của nó không phải là kích động khởi nghĩa. Thứ nhất, nó thu hút những người bất bình với xã hội như Xi-Li rồi giữ họ ở nơi mà Nhất Đảng có thể để mắt đến; thứ hai, nó đem lại cho Nea So Copros một kẻ thù cần thiết với bất kỳ nhà nước có cấp bậc nào để tạo ra sự đoàn kết xã hội.

Tôi vẫn không hiểu tại sao Nhất Đảng lại hao hơi tổn sức dựng lên... chuyến phiêu lưu giả tạo này?

Để tạo ra một vụ xét xử, Lưu trữ viên ạ! Để làm cho từng con người cuối cùng trong Nea So Copros mất lòng tin vào từng người nhân bản vô tính cuối cùng. Để tạo ra sự đồng thuận cho Đạo luật Quản lý Người nhân bản vô tính khi trình lên Chủ Thể. Để hạ uy tín những người ủng hộ bãi nô. Toàn bộ âm mưu này là một thành công tột bậc.

Nhưng nếu cô biết về... âm mưu này, thì tại sao cô lại hợp tác với nó chứ?

Tại sao bất kỳ kẻ tử vì đạo nào lại hợp tác với những kẻ phản bội hắn? Hắn thấy một cái kết xa hơn của trò chơi.

Cái kết của cô là gì?

Bộ Tuyên Ngôn. Truyền thông đã nhấn chìm Nea So Copros với các Giáo Điều của tôi. Đến lúc này mỗi đứa trẻ đi học ở Nea So Copros đều đã biết mười hai “điều báng bổ” của tôi rồi. Các lính gác nói với tôi rằng thậm chí người ta còn kháo nhau về một “Ngày thắp nến” trên toàn quốc để chống lại những người nhân bản vô tính nào có dấu hiệu của bộ Tuyên Ngôn. Những ý tưởng của tôi đã được tái tạo một tỉ lần.

Nhưng để cho cái gì? Một... cuộc cách mạng nào đó trong tương lai?

Cho Tập đoàn, cho Nhất Đảng, cho Bộ Lấy Lời Khai, cho Chủ Thể và cho Chủ tịch, tôi trích lời cảnh báo của Seneca với Nero: Cho dù các người có giết bao nhiêu người chúng tôi đi nữa, các người sẽ không bao giờ giết kẻ kế vị của mình.

Hai câu hỏi ngắn cuối cùng. Cô có hối tiếc về cuộc đời mình?

Sao tôi phải hối tiếc? “Tiếc nuối” thể hiện một hành động được lựa chọn một cách tự do, nhưng có sai sót; ý chí tự do sẽ không giữ vai trò gì trong câu chuyện của tôi.

Cô có yêu Hae-Joo Im không?

Hãy nói với Chủ tịch Tự yêu mình rằng ông ta sẽ phải hỏi những nhà sử học tương lai về điều này. Lời kể của tôi đã hết. Anh có thể tắt orison bạc của anh rồi đó, Lưu trữ viên. Thời gian của tôi còn rất ít và tôi có một yêu cầu cuối cùng.

Được thôi... cô nói đi.

Quyền sử dụng sony của anh và mã truy cập.

Cô muốn tải cái gì?

Tôi muốn xem xong một bộ phim mà tôi đã bắt đầu xem khi, trong một giờ của cuộc đời mình, tôi biết đến hạnh phúc.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 13.09.2018, 16:23
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35929
Được thanks: 5308 lần
Điểm: 9.6
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Giả tưởng - Phiêu lưu] Bản đồ mây - David Mitchell - Điểm: 10
Khổ nạn của Timothy Cavendish


“Ông Cavendish ơi? Tỉnh lại chưa?” Một con rắn cam thảo trên cánh đồng kem ngọ nguậy hiện ra dần rõ nét. Con số năm. Ngày 5 tháng 11. Tại sao cậu nhỏ già nua của tôi lại đau thế nhỉ? Một vụ chơi khăm chăng? Chúa ơi, tôi bị nhét một cái ống vào chim của mình! Tôi cố gắng giải thoát, nhưng cơ bắp không phục tùng. Một cái lọ trên cao truyền thức ăn vào một ống dây. Ống dây truyền thức ăn cho tôi. Một khuôn mặt đàn bà đanh thép đóng khung trong mái tóc bum bê. “Tút tút. May mắn là ông bị ngã khi ở đây đấy, ông Cavendish à. Thật sự phải nói là rất may đấy. Nếu chúng tôi để cho ông đi lang thang ngoài đường thì giờ này ông đã bỏ mạng trong cống rãnh rồi!”

Cavendish, tên này nghe quen quen, Cavendish, ai là “Cavendish” này nhỉ? Tôi đang ở đâu? Tôi cố gắng hỏi bà ta, nhưng chỉ có thể kêu eng éc, như Thỏ Peter bị ném xuống cầu thang xoắn của Nhà thờ Salisbury vậy. Bóng tối bủa vây tôi. Tạ ơn Chúa.

Một con số sáu. Ngày 6 tháng 11. Tôi đã tỉnh lại ở đây lúc trước rồi. Một bức ảnh túp lều tranh. Chữ viết của người Cornwall hoặc Druid. Cái ống nối chim đã mất rồi. Có mùi hôi. Mùi gì nhỉ? Hai bắp chân tôi được nhấc lên, mông thì đang được lau bằng một mảnh vải ướt lạnh cóng. Phân, cứt, ngập ngụa, tắc, trây trét... ị. Chẳng lẽ tôi đã ngồi lên một ống dẫn chứa những thứ này? Ôi. Không. Làm sao mà tôi ra nông nỗi này? Tôi cố gắng đẩy miếng vải ra, nhưng toàn thân chỉ run rẩy. Một người máy mặt mũi hầm hầm nhìn vào mắt tôi. Một người tình bị bỏ rơi? Tôi sợ bà ta sẽ hôn mình. Bà ta bị mắc chứng thiếu vitamin. Bà ta nên ăn thêm nhiều hoa quả, hơi thở bà ta hôi quá. Nhưng ít nhất bà ta cũng kiểm soát được hành động của mình. Ít ra bà ta còn có thể dùng nhà vệ sinh. Ngủ, ngủ, ngủ, hãy đến giải thoát cho ta.

Lên tiếng đi, Ký ức. Không, không một lời. Cổ tôi chuyển động. Hallelujah. Timothy Langland Cavendish có thể điều khiển được cổ và tên của ông ta cuối cùng đã quay về. Ngày 7 tháng 11. Tôi nhớ lại một ngày hôm qua và nhìn thấy một ngày mai. Thời gian, không phải mũi tên, không phải chiếc boomerang, mà là một chiếc đàn concertina. Lở loét vì nằm trên giường. Tôi đã nằm đây bao nhiêu ngày rồi? Bỏ qua. Tim Cavendish bao nhiêu tuổi rồi? Năm mươi? Bảy mươi? Một trăm? Sao có thể quên tuổi của mình được?

“Ông Cavendish?” Một khuôn mặt trồi lên trên bề mặt âm u.

“Ursula?”

Người đàn bà nhìn vào. “Ursula có phải là vợ của ông không, ông Cavendish?” Đừng tin bà ta. “Không phải đâu, tôi là bà Judd. Ông bị đột quỵ đấy, ông Cavendish ạ. Ông có hiểu không? Một cơn đột quỵ nhỏ xíu xiu.”

Tôi bị hồi nào? Tôi cố gắng lên tiếng. Mấy chữ “Ôi ị ồi ào” phát ra.

Bà ta tỉ tê. “Vì thế mà mọi thứ đảo lộn hết cả đấy. Nhưng đừng lo, bác sĩ Upward nói chúng ta có tiến triển vượt bậc rồi. Chúng ta không cần ở trong bệnh viện đáng sợ đâu!” Một cú đột quỵ? Hai kẻ đột quỵ? Ập lên tôi? Margo Roker bị đột quỵ. Margo Roker?

Tất cả các người là ai vậy? Ký ức, lão già đáng ghét.

Tôi dành tặng bộ ba truyện ngắn ở trên cho những độc giả may mắn có tinh thần chưa bị nghiền vụn thành xà bần bởi tình trạng đứt mạch máu mão. Phục dựng Timothy Cavendish là một công trình biên tập tầm cỡ Tolstoy, ngay cả với một người từng rút ngắn bộ sách chín tập Câu chuyện về vệ sinh răng miệng trên đảo Wight thành một quyển sách gói gọn trong bảy trăm trang. Trí nhớ không chịu khớp lại, hoặc có khớp thì cũng bị lỏng keo. Cho dù sau đó nhiều tháng đi nữa, làm sao tôi biết liệu có còn một phần lớn nào của bản thân mình vẫn thất lạc hay không?

Cơn đột quỵ của tôi khá nhẹ, đúng vậy, nhưng tháng tiếp theo sau đó là tháng cực hình nhất trong cuộc đời tôi. Tôi nói năng như người bị liệt xơ cứng. Hai cánh tay như chết rồi. Tôi không thể tự chùi mông cho mình. Tâm trí lơ ngơ giữa làn sương mù, nhưng vẫn nhận thức được sự trì trệ của bản thân, và cảm thấy xấu hổ. Tôi không thể mở lời hỏi bác sĩ hay Sơ Noakes hoặc bà Judd, “Bà là ai?”, “Chúng ta từng gặp nhau chưa?”, ‘Tôi đi đâu khi rời khỏi đây?” Tôi cứ đòi gặp bà Latham.

Đồ tồi! Một người dòng họ Cavendish có thể sa cơ nhưng không bao giờ bỏ cuộc. Khi Khổ nạn của Timothy Cavendish được chuyển thể thành phim, tôi khuyên thế này, hỡi Đạo diễn yêu dấu, tôi nghĩ đạo diễn này là một người Thụy Điển tên là Lars mặc áo cổ lọ, vẻ căng thẳng, hãy xử lý tháng 11 đó thành thước phim kiểu “tay đấm quyền anh luyện tập cho trận đấu lớn”. Cavendish Quả Cảm nhận những mũi tiêm không mảy may run sợ. Cavendish Tò Mò tìm lại được ngôn ngữ. Cavendish Hoang Dã bị bác sĩ Upward và Y tá Noakes thuần hóa. Cavendish John Wayne chống ghế tập đi (tôi đã nâng cấp thứ đó lên một cây gậy, đến giờ vẫn dùng. Veronica nói nó khiến tôi trông giống như Lloyd-George). Cavendish phiên bản Carl Sagan, bị nhốt trong một chiếc Đồng hồ Bồ công anh[57]. Chừng nào Cavendish vẫn còn bị gây mê bởi hội chứng quên, bạn có thể nói ông ta đã hài lòng rồi.

Chính lúc đó, Lars à, hãy gióng lên một hợp âm báo chuyện chẳng lành.

Bản tin Sáu giờ vào ngày đầu tiên của tháng 12 (lịch Giáng sinh đang hiện diện khắp nơi) vừa mới bắt đầu. Tôi đã ăn xong món chuối nghiền với sữa đặc không đường mà không hề làm đổ xuống yếm. Y tá Noakes đi ngang qua và các bạn của tôi im thin thít, như những chú chim dưới bóng diều hâu.

Bất thình lình, cái khóa trinh tiết trói chặt ký ức tôi bỗng mở bung ra.

Tôi chỉ ước gì nó đừng xảy ra như thế. Các “bạn” của tôi ở Aurora House là những ông già bà cả quê mùa yếu đuối chơi gian lận trong trò xếp chữ với sự vô lý khó tin và đối xử tốt với tôi chỉ vì trong Vương Quốc Hấp Hối thì những kẻ Yếu ớt nhất chính là Tuyến phòng thủ Maginot[58] chống lại Fuhrer Bất Bại. Tôi đã bị người anh trai thù hằn cầm tù suốt một tháng, vì thế rõ ràng là chẳng có cuộc tìm kiếm toàn quốc nào đang diễn ra cả. Tôi sẽ phải tự tìm đường trốn thoát, nhưng làm sao để chạy nhanh hơn tên thợ làm vườn đột biến gene đó, gã Withers ấy, khi mà tôi chạy năm mươi mét mất đến mười lăm phút? Làm sao để lừa được mụ Noakes từ Phá Nước Đen[59] trong khi tôi không thể nhớ nổi cả mã bưu điện của mình?

Ôi, kinh hoàng, kinh hoàng. Món chuối nghiền chặn nghẹn họng tôi rồi.

* * *

Các giác quan của tôi lên ngôi trở lại, tôi quan sát những nghi lễ tháng 12 của con người, thiên nhiên và động vật. Ao nước đóng băng trong tuần đầu tiên của tháng 12 và những con vịt ghê tởm chơi trượt băng. Aurora House đóng băng vào buổi sáng và sôi sùng sục vào buổi tối. Nhân viên chăm sóc phi giới tính, người có tên là Deirdre, chẳng bất ngờ lắm, treo kim tuyến thòng xuống từ các bóng đèn không rò điện. Một cây thông nhựa xuất hiện trong một cái xô được bọc lại bằng giấy kếp. Gwendolin Bendincks tổ chức những buổi treo chuỗi giấy và những Kẻ Chưa Chết đổ xô chạy đến, cả hai đều không nhận ra sự mỉa mai trong hình ảnh này. Kẻ Chưa Chết tranh giành nhau để mở các ô cửa sổ trên lịch Mùa vọng[60], một đặc quyền do Bendincks ban tặng như Nữ hoàng lì xì tiền lệnh trong thứ Năm Tuần Thánh vậy: “Bà Birkin đã tìm được một người tuyết mũm mĩm, mọi người ơi, có hay không nào?” Làm con chó chăn cừu của Y tá Noakes là nỗ lực để tồn tại của bà ta và Warlock-Williams. Tôi nhớ đến tác phẩm Kẻ chết đuối và Người được cứu của Primo Levi[61].

Bác sĩ Upward là kiểu Tên khốn Nóng tính đoạt giải thưởng Viện Hàn Lâm mà bạn hay thấy trong ban giám hiệu giáo dục, ngành luật hoặc y. Anh ta đến Aurora House hai lần mỗi tuần và nếu, ở độ tuổi năm mươi lăm, sự nghiệp của anh ta không tồn tại nổi theo chiều hướng đi lên như cái tên của anh ta đã dự báo, thì đó là do chúng tôi, những kẻ bệnh hoạn, đám của nợ cản đường tiến của các Lương y từ mẫu . Tôi loại anh ta khỏi danh sách đồng minh tiềm năng ngay khi vừa để mắt đến. Những người chùi mông, chà bồn tắm và đầu bếp dính đầy dầu mỡ làm việc bán thời gian cũng chẳng dám lên tiếng chỉ trích để tránh hủy hoại địa vị to lớn của họ trong xã hội.

Không, tôi đã yên ổn mắc kẹt trong Aurora House. Một chiếc đồng hồ không có kim. “Tự do!” là một tiếng chuông ngu xuẩn của nền văn minh, nhưng chỉ những kẻ không có nó mới hiểu rõ hơn ai hết nó thực sự là gì.

Vài ngày trước Sinh nhật Đấng Cứu thế, một chiếc xe nhỏ chở theo một lũ học sinh trường tư đến để hát những bài hát mừng Giáng sinh. Những Kẻ Chưa Chết hát theo sai lời lạc nhịp và sự ồn ào đó khiến tôi chịu hết nổi, chẳng có gì vui cả. Tôi lê bước đi khắp Aurora House, tìm lại sự cường tráng đã mất, cứ ba mươi phút lại phải dùng phòng vệ sinh một lần. (Các cơ quan của thần Vệ Nữ thì ai cũng biết cả nhưng, Hỡi anh em, Cơ quan của thần Saturn chính là Bàng quang đấy.) Những nỗi hoài nghi trùm kín mũ theo tôi bén gót. Tại sao Denholme trả cho bọn bắt giữ tôi những đồng copeck quý giá cuối cùng của mình để biến tôi thành trẻ nít? Liệu Georgette, do không nén lòng được trước tuổi cao sức yếu, có kể với anh tôi về chuyến rẽ hướng ngắn ngủi của chúng tôi ra khỏi đại lộ thủy chung, rất nhiều năm về trước? Cái bẫy này có phải là một vụ trả thù của ông chồng bị cắm sừng không?

* * *

Mẹ thường nói sự trốn chạy không bao giờ xa hơn quyển sách gần nhất. Ôi, mẹ ơi, không phải đâu, không hẳn là vậy. Những bản trường ca in chữ to yêu dấu của mẹ về kẻ giàu, người nghèo và những chuyện tình buồn đâu phải là tấm vải ngụy trang cho những nỗi khốn khổ mà chiếc máy bắn bóng tennis của cuộc đời tôi luyện cho mẹ, phải không nào? Nhưng đúng vậy, thưa mẹ, lại lần nữa, mẹ có lý. Sách không đem đến sự trốn thoát thực sự nhưng chúng có thể ngăn cho đầu óc không tự cào cấu đến trầy da tróc vẩy. Chúa biết, tôi chẳng dính vào việc gì ở Aurora House trừ việc đọc sách. Ngay sau ngày diễn ra sự phục hồi kỳ diệu, tôi đã cầm lên quyển Những chu kỳ bán rã và, thánh thần thiên địa ơi, tôi tự nhủ đây chẳng phải là một tiểu thuyết trinh thám hoàn toàn có thể xuất bản được của Hilary V. Hush hay sao. Tôi hình dung Bí ẩn đầu tiên về Luisa Rey đóng bìa thời thượng màu đen và đồng, bán tại quầy tính tiền của Tesco; sau đó là Bí ẩn thứ hai, rồi Thứ ba. Nữ hoàng Gwen (dolin Bendincks) đổi một cây bút chì 2B vừa gọt sắc cho một lời nịnh đầm cùn (những nhà truyền đạo thật dễ sai khiến nếu bạn nói đùa với họ rằng có khi bạn cải đạo cũng nên) và tôi quyết tâm biên tập lại tác phẩm này từ đầu chí cuối. Một hai chỗ sẽ phải bỏ đi: chẳng hạn như đoạn ám chỉ Luisa Rey là anh chàng Robert Frobisher tái sinh. Quá tân thời-kiểu-hippy-nghiện ngập. (Tôi cũng có một vết chàm nằm dưới nách bên trái nhưng chưa có người tình nào so sánh nó với sao chổi cả. Georgette đặt biệt danh cho nó là Cục phân Timbo.) Nhưng, về tổng thể, tôi kết luận câu chuyện trinh thám về một cô gái trẻ chống lại sự lũng đoạn của tập đoàn này có tiềm năng. (Hồn ma của Ngài Felix Finch rên rỉ, “Nhưng nó đã được thể hiện hàng trăm lần rồi!” – cứ như còn có thứ gì chưađược thể hiện hàng trăm nghìn lần từ thời Aristophanes đến thời Andrew Void-Webber vậy! Cứ như Nghệ thuật là về Cái gì, chứ không phải là Như thế nào vậy!)

Công việc biên tập Những chu kỳ bán rã gặp phải một trở ngại khách quan khi đến đoạn Luisa Rey bị hất văng từ trên cầu xuống thì tập bản thảo khỉ gió này lại không có trang tiếp theo. Tôi vò đầu bứt tóc, đấm ngực kêu trời. Liệu phần hai có tồn tại hay không? Nó có bị nhét vào hộp đựng giày trong căn hộ ở Manhattan của Hilary V. hay không? Vẫn còn ngủ yên trong tử cung sáng tạo của cô ta? Tôi tìm đi tìm lại đến hai mươi lần lá thư ngỏ giữa những món đồ bí mật giấu trong vali của mình, nhưng tôi đã để nó lại trong phòng làm việc ở Haymarket mất rồi.

Việc lựa chọn những tác phẩm văn học khác diễn ra khá suôn sẻ. Warlock-Williams cho tôi hay Aurora House từng tự hào là có hẳn một thư viện nhỏ, nhưng giờ đây đã bị bỏ xó. (“Chương trình của Jellyvision quá Thật đối với những người bình thường, bởi vậy nó mới ra nông nỗi ngày nay.”) Mãi tôi mới đào ra được cái thư viện này. Nó nằm cuối một dãy nhà, bị phong tỏa bởi những bảng tưởng niệm Đại Chiến chất chồng với dòng chữ Để Chúng Ta Không Quên. Bụi đóng thành lớp dày, khô và phẳng lì. Một kệ chứa những ấn bản tạp chí cũ có tên Nước Anh này, một chục tác phẩm về cao bồi Viễn Tây của Zane Grey (chữ lớn), một quyển sách dạy nấu ăn nhan đề Xin cảm phiền, Tôi không ăn thịt!. Còn lại là Mặt trận phía Tây yên tĩnh (ở góc trang sách một cậu học sinh sáng tạo từng vẽ những hình người que thủ dâm với cái mũi của mình – chúng giờ đâu rồi ấy nhỉ?), rồi Những con báo đốm của bầu trời, câu chuyện đời thường của những phi công trực thăng, viết bởi “Tác giả truyện trinh thám quân đội hàng đầu nước Mỹ” (nhưng, tôi tình cờ được biết, thực ra được người khác viết hộ tại “Trung tâm Điều khiển” của ông ta – tôi sẽ không nêu ra cái tên nào do sợ bị kiện tụng trả đũa) và, thực lòng mà nói, những quyển còn lại đều đáng vứt đi.

Tôi đọc tất tần tật. Với thằng đói thì vỏ khoai tây cũng là sơn hào hải vị.

Ernie Blacksmith và Veronica Costello, vào đi, đến giờ của quý vị rồi. Ernie và tôi từng có lúc bất hòa, nhưng nếu không nhờ những người cùng cảnh này, thì Y tá Noakes hẳn vẫn kệ tôi nằm yên đờ đẫn cho đến ngày hôm nay. Vào một buổi chiều u ám khi những Kẻ Chưa Chết đang tổng duyệt cho Giấc Ngủ Lớn, nhân viên đi họp cả và âm thanh duy nhất quấy rầy những ông già bà cả ở Aurora House là một cuộc thi WWF giữa Thằng Béo Fauntleroy và Gã Giao Hàng, tôi nhận ra, thật bất thường làm sao, một bàn tay vô ý đã để cánh cửa trước mở hé. Tôi lẻn ra ngoài để thăm dò, chuẩn bị sẵn cái cớ bị hoa mắt chóng mặt cần không khí trong lành. Trời lạnh khiến môi tôi giật giật còn toàn thân thì run lẩy bẩy! Thời gian dưỡng bệnh đã lấy đi của tôi lớp mỡ dưới da; thân thể đã teo nhỏ lại, từ béo tốt như Falstaff thành John xứ Gaunt gầy gò. Đó là chuyến phiêu lưu ra ngoài đầu tiên của tôi kể từ ngày bị đột quỵ, sáu hoặc bảy tuần trước đó. Tôi đi một vòng khuôn viên nội bộ, thấy đống đổ nát của một tòa nhà cũ, sau đó chiến đấu băng qua những bụi cây um tùm đến bức tường gạch bao quanh để tìm xem có lỗ hổng hay khe nứt nào không. Một công binh SAS có thể leo ra ngoài chỉ bằng một sợi dây nylon nhưng một bệnh nhân đột quỵ chống gậy thì không thể. Những lớp lá nâu khô bị gió xói mòn rồi dồn đống khi tôi đi qua. Tôi tiến đến cánh cổng sắt to hoành tráng, mở và đóng bằng một hộp điều khiển điện tử. Trời đánh thánh đâm, bọn họ còn có cả một camera giám sát và điện thoại hai chiều nữa! Tôi tưởng tượng Y tá Noakes oang oang với đám con cái (suýt tí nữa viết nhầm thành “phụ huynh”) của những cư dân tiềm năng rằng họ ngủ ngon và yên ổn nhờ hệ thống kiểm soát hiện đại này, đồng nghĩa với việc, tất nhiên, “Hãy thanh toán cho chúng tôi đúng hạn thì quý vị sẽ chẳng phải nghe thấy một tiếng kêu ca nào.”) Tình cảnh không thuận lợi cho lắm. Hull nằm ở phía nam, xuôi theo những con đường phụ với hai hàng cột dây điện báo, thanh niên khỏe mạnh đi cũng mất nửa ngày. Chỉ những người đi nghỉ lễ bị lạc đường mới họa chăng đi ngang chỗ này. Đi bộ trở về theo con đường mòn dành cho xe ô tô, tôi nghe tiếng bánh xe ken két và một tiếng bấm còi chát chúa từ một chiếc Range Rover màu đỏ sao Mộc. Tôi tránh đường. Tài xế là một gã đầu gấu mặc áo khoác màu bạc có mũ trùm thường được những nhân viên gây quỹ xuyên địa cực đặc biệt yêu thích. Chiếc Range Rover phanh lại với một tiếng nghiến bánh xe chói tai ở bậc thềm phía trước và tay tài xế khệnh khạng tiến lại chỗ tiếp tân như nhân vật phi công xuất chúng trong quyển Những con báo đốm của bầu trời. Lúc quay về cửa chính, tôi đi ngang qua phòng nồi hơi. Ernie Blacksmith thò đầu ra: “Làm một cốc rượu không, ông Cavendish?”

Tôi chẳng cần đợi mời đến lần thứ hai. Phòng nồi hơi có mùi phân bón nhưng được giữ ấm nhờ chiếc lò than của nồi hơi. Người ngồi trên một đống than và phát ra những tiếng ậm ự hài lòng như em bé là một cư dân lâu đời có địa vị như biểu tượng viện dưỡng lão, ông Meeks. Ernie Blacksmith là mẫu người trầm lặng phải để tâm quan sát mới thấu. Lão người Scotland tinh tường này bầu bạn với một bà tên là Veronica Costello, người từng sở hữu tiệm bán mũ tốt nhất, như người ta kháo nhau, trong lịch sử Edinburgh. Phong thái của cặp đôi này gợi nhớ đến những khách trọ trong khách sạn tồi tàn trong tác phẩm Chekhov. Ernie và Veronica tôn trọng ước nguyện của tôi được làm một lão già khó chịu đáng thương và tôi tôn trọng điều đó. Bấy giờ ông ta lấy ra một chai rượu lúa mạch Ireland từ một xô than. “Nếu ông đang tính đến chuyện thoát khỏi đây mà không có trực thăng thì ông cũng chẳng vừa đâu.”

Chẳng dại gì để lộ thông tin. “Tôi ấy à?”

Sự vờ vịt của tôi đã vỡ tan thành trăm mảnh trên Tảng đá Ernie. “Ông ngồi đi,” ông ta bảo tôi, vẻ lạnh lùng và hiểu biết.

Thì tôi ngồi. “Trong này ấm cúng quá.”

“Ngày xưa tôi từng là thợ đốt lò hơi có chứng chỉ hẳn hoi đấy. Tôi làm việc miễn phí ở đây nên ban quản lý nhắm mắt làm ngơ cho tôi được phép một hai điều tự do.” Ernie rót đầy vào cốc nhựa. “Nào, cạn ly.”

Mưa trên Serengeti! Xương rồng nở hoa, báo hoa nhảy cẫng! “Ông lấy cái này từ đâu thế?”

“Tay bán than tính cũng được lắm. Nói thật chứ, ông phải cẩn thận. Withers đi ra cổng để lấy bưu kiện lần thứ hai vào bốn giờ kém mười lăm mỗi ngày. Ông không muốn bị gã phát hiện ra âm mưu bỏ trốn của mình đâu.”

“Ông nói cứ như ông biết tất ấy.”

“Tôi cũng là thợ sửa khóa mà, đó là sau khi giải ngũ. Công việc đưa đẩy tôi gặp những tay tội phạm nghiệp dư, trong trò chơi an ninh. Từ kiểm lâm đến săn trộm, đủ cả. Mà tôi chưa từng làm việc gì phạm pháp nhé, tôi thẳng như mũi tên ấy. Nhưng tôi đã học được rằng đến ba phần tư vụ vượt ngục thất bại, do chất xám mà ra cả,” ông ta gõ gõ vào thái dương, “dùng hết để suy nghĩ cho vụ đào tẩu rồi. Kẻ nghiệp dư thì nói đến chiến thuật, còn người chuyên nghiệp thì nói về hậu cần. Cái khóa điện thời thượng ở cổng đấy chẳng hạn, tôi có thể vừa bịt mắt vừa mở nó ra như không nếu thực sự muốn, nhưng ra đến ngoài thì đi xe gì? Tiền nong? Nơi trú ẩn? Ông thấy đấy, không chuẩn bị trước hậu cần, ông đi đâu được? Chỉ có ngã lộn cổ mà thôi, và năm phút sau đó là nằm gọn trong xe của Withers.”

Ông Meeks dúm dó khuôn mặt như tượng người lùn, rồi rặn ra hai từ mạch lạc duy nhất mà ông thường nói: “Tôi biết! Tôi biết! ” Trước khi tôi phân biệt được liệu Ernie Blacksmith đang cảnh báo hay tố cáo tôi, Veronica bước vào qua cánh cửa trong nhà, đội một chiếc mũ màu đỏ rực tan cả băng. Tôi chỉ kịp ngăn mình không cúi gập người. “Xin chào, bà Costello.”

“Ông Cavendish, thật vinh dự. Đi lang thang ra ngoài trong tiết trời lạnh cắt da thế này à?”

“Đi dọ thám đấy,” Ernie đáp, “cho ủy ban đào tẩu một thành viên của ông ấy.”

“Ô, một khi ông đã bước sang hàng Cao niên thì thế giới bên ngoài chẳng còn muốn ông quay lại đâu.” Veronica ngồi xuống một chiếc ghế mây rồi chỉnh lại chiếc mũ. “Chúng ta – ý tôi là bất kỳ ai hơn sáu mươi tuổi – phạm phải hai tội khi còn tồn tại trên cõi đời này. Thứ nhất là Thiếu Tốc độ. Chúng ta lái xe quá chậm, đi bộ quá chậm, nói quá chậm. Thế giới sẽ xoay xở được với những kẻ độc tài, những tên biến thái và ông trùm ma túy thuộc mọi thành phần, nhưng bị kéo trì lại là không thể chấp nhận. Tôi thứ hai là chúng ta trở thành memento mori[62] cho tất cả mọi người. Thiên hạ chỉ cảm thấy thoải mái lãng quên khi chúng ta khuất tầm mắt họ.”

“Bố mẹ của Veronica chịu án tù chung thân trong giới trí thức đấy,” Ernie tiếp lời, thoáng hãnh diện.

Bà ta mỉm cười thích thú. “Chỉ cần nhìn những người đến đây trong giờ thăm viếng thì biết! Họ cần được điều trị chống sốc. Còn lý do nào khác để họ thốt ra câu ‘Ông bà chỉ già khi trong lòng thực sự cảm thấy mình già!’? Hỏi thật chứ, bọn họ định lừa phỉnh ai vậy? Chẳng phải chúng ta đâu – là chính họ thì có!”

Ernie kết luận, “Người cao tuổi chúng ta là những bệnh nhân phong thời hiện đại. Sự thật vấn đề là thế đấy.”

Tôi phản đối: “Tôi không phải là kẻ ngoài lề xã hội! Tôi có một nhà xuất bản của riêng mình, và tôi cần quay lại làm việc, tôi chẳng cần các người tin tôi, nhưng tôi đang bị giam giữ ở đây trái với mong muốn của mình.”

“Ông đang làm ở nhà xuất bản à? Hay ông từng làm, hở ông Cavendish?”

“Đang làm. Văn phòng của tôi ở Haymarket mà.”

“Thế thì,” Ernie hỏi vẻ hợp lý, “ông đang làm gì ở đây?”

Đấy, đấy mới là vấn đề. Tôi kể lại câu chuyện khó tin của mình cho đến lúc này. Ernie và Veronica lắng nghe theo cách mà những con người trưởng thành, biết chú ý, tỉnh táo, sẽ lắng nghe. Ông Meeks thì gật gù. Tôi kể đến đoạn tôi bị đột quỵ, thì một tiếng thét bên ngoài ngắt lời tôi. Tôi cứ tưởng một người trong đám những Kẻ Chưa Chết đang gây chuyện, nhưng nhìn qua kẽ hở, tôi thấy tài xế của chiếc Range Rover đỏ Sao Mộc đang hét ầm lên trong điện thoại cầm tay. “Vậy thì còn bận tâm làm gì?” Nỗi bức xúc làm khuôn mặt anh ta biến dạng. “Bà ấy như người trên cung trăng ấy! Bà nghĩ bây giờ là năm 1966!... Không, bà không giả vờ đâu. Anh có tè ướt quần cho vui không?... Không, không phải đâu. Bà tưởng tôi là chồng đầu của bà. Bà bảo bà chẳng có thằng con trai nào cả... Anh bảo đấy là mặc cảm Oedip à... Phải, tôi đã mô tả lại. Ba lần... đúng, rất chi tiết. Có giỏi thì anh tự đến mà làm đi... Thì bà cũng có chăm sóc cho tôi đâu. Nhưng cứ đem theo nước hoa đi... Không, cho anh đấy. Bà hôi lắm... Không thì còn hôi mùi gì nữa chứ?... Tất nhiên họ có người, nhưng khó mà làm cho kịp, nó cứ... chảy ra không ngừng mà.” Anh ta leo lên chiếc Range Rover, rồi lái chiếc xe gầm rú ra khỏi khu nhà. Tôi thoáng định lao theo sau nó rồi lách qua cánh cổng trước khi chúng đóng lại, nhưng rồi tôi kịp nhắc mình nhớ đến tuổi tác của mình. Dù sao đi nữa, máy quay an ninh vẫn sẽ phát hiện ra tôi và Withers sẽ túm tôi về trước khi tôi kịp vẫy được chiếc xe nào xin đi nhờ.

“Con trai bà Hotchkiss đấy,” Veronica nói. “Bà cụ dễ thương lắm, nhưng con trai của bà ta thì, ôi thôi. Đâu có ai sở hữu được một nửa chuỗi cửa hàng nhượng quyền hamburger ở Leeds và Sheffield bằng cách làm người tử tế đâu. Một gia đình giàu có thì lại càng không.”

Một tiểu Denholme. “Chà, ít ra thì cậu ta cũng đến thăm bà ấy.”

“Và lý do là thế này đây.” Một tia sáng hấp dẫn, tinh nghịch lóe lên trong mắt Veronica. “Khi bà Hotchkiss hay tin cậu ta sẽ tống mình vào Aurora House, bà ta đã nhét hết tất cả những của gia bảo vào trong một chiếc hộp đựng giày rồi đem chôn. Bây giờ bà ta không thể nhớ nó nằm ở đâu, hay có thể nhớ nhưng không chịu nói ra.”

Ernie chia những giọt rượu cuối cùng. “Điều khiến tôi để ý về cậu ta là cậu ta luôn cắm chìa khóa trong ổ. Mười lần như chục. Ở ngoài cậu ta sẽ không bao giờ làm thế đâu. Nhưng chúng ta quá già yếu hom hem, quá vô hại, đến nỗi cậu ta thậm chí chẳng buồn cẩn thận mỗi lần đến thăm.”

Tôi cho rằng sẽ không hay nếu hỏi Ernie tại sao ông ta lại để ý đến một việc như thế. Ông ta chưa bao giờ nói ra từ nào thừa thãi trong cuộc đời mình. Tôi đến thăm phòng nồi hơi mỗi ngày. Nguồn rượu whisky khi có khi chăng, nhưng bầu bạn lúc nào cũng sẵn. Ông Meeks đóng vai trò như con chó Labrador đen trong một cuộc hôn nhân lâu năm, sau khi bọn trẻ đã ra riêng hết. Ernie hay chia sẻ những quan sát hài hước về cuộc đời, thời cuộc và những câu chuyện về Aurora House, còn bà vợ chính thức của ông ta thì có thể trò chuyện về bất kỳ chủ đề trên trời dưới biển nào. Veronica lưu giữ một bộ sưu tập đồ sộ những bức ảnh có chữ ký của các ngôi sao không-nổi-lắm. Bà đọc đủ nhiều để hiểu văn trí của tôi, nhưng vẫn chưa đủ nhiều đến mức biết tôi dẫn nguồn nào. Tôi thích điều đó ở phụ nữ. Tôi có thể nói với bà ta những điều như, “Điểm khác biệt duy nhất giữa hạnh phúc và niềm vui là hạnh phúc là chất rắn, còn niềm vui là chất lỏng,” và bởi bà ta chẳng biết J. D. Salinger là ai, tôi cảm thấy mình thật dí dỏm, duyên dáng và, đúng vậy, thậm chí cả trẻ trung nữa. Tôi cảm thấy Ernie quan sát tôi khi tôi khoe mẽ, nhưng thế thì đã sao? tôi nghĩ. Đàn ông ai chẳng thích tán gái.

Veronica và Ernie là những kẻ sống sót. Họ cảnh báo tôi về những nguy hiểm của Aurora House: mùi nước tiểu và thuốc tẩy hôi rình, Những Kẻ Chưa Chết Lề Mề, cơn thịnh nộ của Noakes, chế độ ăn uống định nghĩa lại khái niệm “bình thường”. Theo Veronica, một khi chế độ chuyên quyền được chấp nhận là bình thường thì chiến thắng của nó là không thể tránh khỏi.

Nhờ bà ta, tôi mới suy nghĩ ngọn ngành đâu ra đó. Tôi tỉa lông mũi và mượn đồ đánh bóng giày từ Ernie. Nhớ đánh bóng giày của mình mỗi đêm, bố tôi từng dặn như thế, và con sẽ đàng hoàng chẳng kém bất kỳ ai. Ngẫm lại, Ernie chịu đựng thói hợm hĩnh của tôi vì ông ta biết Veronica chỉ đang trêu tôi mà thôi. Ernie chưa hề đọc một tác phẩm hư cấu nào trong đời, “Tôi ấy mà, suốt đời chỉ trung thành với chiếc radio thôi,” nhưng quan sát cách ông ta điều khiển hệ thống nồi hơi thời Victoria để làm cho nó sống lại lần nữa, tôi luôn cảm thấy mình thật nông cạn. Đúng thật, đọc nhiều tiểu thuyết quá khiến ta mù quáng đấy.

Tôi lên kế hoạch trốn thoát đầu tiên một mình, một ý tưởng quá đơn giản đến nỗi nó khó được gọi là kế hoạch. Nó cần ý chí và một chút can đảm, nhưng chẳng cần chất xám gì sất. Một cuộc gọi nửa đêm từ điện thoại của văn phòng Y tá Noakes đến máy trả lời tự động của Nhà xuất bản Cavendish. Gửi tín hiệu SOS cho bà Latham, thằng cháu trai bặm trợn của bà ta có một chiếc Ford Capri hầm hố. Họ đến Aurora House; sau những lời đe dọa và khuyên can phản đối, tôi lên xe; đứa cháu họ lái đi. Chỉ vậy thôi. Vào đêm 15 tháng 12 (tôi nghĩ vậy) tôi thức dậy thật sớm, mặc đồ ngủ vào rồi đi đến hành lang lờ mờ tối. (Tôi không khóa cửa phòng kể từ khi bắt đầu chơi trò giả vờ an phận.) Không một tiếng động nào trừ tiếng ngáy và máy bơm nước. Tôi nhớ đến cảnh Luisa Rey trong bản thảo của Hilary V. Hush đi thăm dò quanh Swannekke B. (Giữ chặt cặp kính quan sát.) Bàn tiếp tân trông thật vắng vẻ, nhưng tôi vẫn bò thấp hơn chiều cao mặt bàn theo kiểu đặc công rồi từ từ thẳng người lên – thành công vượt bậc. Phòng làm việc của Noakes đã tắt đèn. Tôi thử vặn nắm đấm cửa và, may quá, nó mở được. Tôi lẻn vào trong. Chỉ vừa đủ ánh sáng lọt vào qua khe cửa. Tôi nhấc ống nghe lên rồi bấm số của Nhà xuất bản Cavendish. Tôi không gọi được đến máy trả lời tự động của mình.

“Số máy quý khách vừa gọi không thể liên lạc được. Hãy gác máy, kiểm tra số điện thoại, và gọi lại sau.”

Thật bi kịch. Tôi hình dung đến điều tồi tệ nhất, rằng bọn Hoggins đã châm lửa đốt sạch nơi ấy đến cả điện thoại cũng chảy luôn. Tôi thử gọi lần nữa, vẫn không được. Số điện thoại khác duy nhất mà tôi còn nhớ được kể từ sau cơn đột quỵ là phương án tiếp theo, và là phương án cuối cùng của tôi. Sau năm, sáu hồi chuông căng thẳng, Georgette, chị dâu của tôi, trả lời bằng một giọng mèo con hờn dỗi mà tôi quen thuộc, Chúa ơi, quá quá quen. “Đến giờ đi ngủ rồi, Aston.”

“Georgette, là anh đây, Timbo đây. Em đưa điện thoại cho Denny, nhé?”

“Aston? Có chuyện gì vậy?”

“Không phải Aston, Georgette à! Là Timbo!”

“Vậy thì đưa điện thoại lại cho Aston đi!”

“Anh không biết Aston! Nghe đây, em phải bảo Denny nghe điện thoại.”

“Bây giờ Denny không nghe điện thoại được.”

Georgette thường ít khi nói chuyện gì cho ra hồn, nhưng lần này nghe giọng chừng như đang ở trên cung trăng. “Em đang say phải không?”

“Chỉ say trong quán bar rượu vang có hầm rượu hảo hạng. Tôi không chịu nổi quán rượu thường.”

“Không, nghe đây, là Timbo đây, em chồng của chị! Tôi phải nói chuyện với Denholme.”

“Sao anh nói chuyện giống Timbo quá vậy. Timbo? Là chú ư?”

“Đúng rồi, Georgette, là tôi đây, và nếu đây là một...”

“Chú thật là tệ khi không đến dự tang lễ của anh trai mình. Cả gia đình đều nghĩ như thế.”

Mặt đất quay cuồng. “Cái gì?”

“Chúng tôi biết về những bất hòa của hai người, nhưng mà...”

Tôi sụp đổ. “Georgette, chị mới nói Denny chết rồi. Ý chị là vậy phải không?”

“Tất nhiên là vậy chứ còn gì nữa! chú tưởng tôi dở hơi à?”

“Nói lại cho tôi nghe một lần nữa đi.” Tôi lạc giọng. “Có-phải- Denny-đã-chết?”

“Chú nghĩ tôi có thể bịa ra chuyện thế này ư?” Ghế của Y tá Noakes kêu kẽo kẹt đầy phản bội và hành hạ thần kinh. “Tại sao, Georgette, Thánh thần ơi, tại sao?”

“Anh là ai? Đêm hôm khuya khoắt thế này! Mà đây là ai mới được chứ? Aston, có phải anh không?”

Tôi bị chuột rút trong cổ họng. “Timbo.”

“Thế hử, chú đã trốn ở cái xó xỉnh nào đấy?”

“Nghe này, Georgette. Làm sao mà Denny,” nói ra câu này khiến nó cảm thấy thật hơn, “qua đời?”

“Cho lũ cá chép vô giá của lão ăn. Tôi đang phết pate ngỗng lên bánh quy để ăn bữa tối. Khi tôi đi tìm Denny thì lão đã nổi lềnh bềnh trong ao, mặt úp xuống. Có thể lão đã ở đó một ngày rồi, tôi đâu phải là cô trông trẻ đâu, anh biết đấy. Dixie đã bảo lão ăn bớt muối lại, dòng họ nhà lão nhiều người bị đột quỵ rồi. Mà này, đừng có cắt ngang đường dây nữa, bảo Aston nghe điện thoại đi.”

“Nghe này, bây giờ ở đấy có ai? Với chị?”

“Chỉ có Denny thôi.”

“Nhưng Denny chết rồi mà!”

“Tôi biết rồi! Lão đã nằm trong cái ao cá suốt... mấy tuần rồi đấy. Làm sao tôi lôi lão lên nổi? Nghe đây, Timbo, ngoan nhé, làm ơn đem cho tôi một giỏ thức ăn hay gì đó từ Fortnum và Mason’s, được không? Tôi ăn hết bánh quy còn lũ chim ăn hết vụn bánh rồi, nên bây giờ tôi chẳng còn gì để ăn ngoài thức ăn cho cá và xốt Cumberland. Aston đã không gọi lại kể từ khi anh ta mượn bộ sưu tập nghệ thuật của Denny để đưa cho ông bạn thẩm định xem, và đó là... nhiều ngày trước rồi, nhiều tuần thì đúng hơn. Mấy người ở công ty khí đốt đã cắt ga còn...”

Mắt tôi đau buốt vì ánh sáng.

Withers lù lù xuất hiện choán hết khung cửa. “Lại là ông.”

Tôi luống cuống. “Anh tôi chết rồi! Chết, cậu có hiểu không? Chết mục thây rồi! Chị dâu tôi đã điên loạn và không biết phải làm gì! Đây là việc gia đình khẩn! Nếu cậu còn có một mảnh xương Cơ đốc giáo trong người thì cậu phải giúp tôi giải quyết mớ bòng bong khốn kiếp này!”

Độc giả thân mến, Withers chỉ nhìn thấy một tên tù nhân kích động đang gọi những cuộc điện phá rối vào giữa đêm. Hắn dùng chân đá một chiếc ghế từ chỗ đang đứng. Tôi hét vào điện thoại: “Georgette, nghe đây, tôi bị mắc kẹt trong một nhà thương điên chó chết tên là Aurora House ở Hull, chị nhớ chưa? Aurora House ở Hull, và vì Chúa, làm ơn cho ai đó đến đây để giải cứu...”

Một ngón tay khổng lồ cắt đứt cuộc gọi. Móng tay to và bầm tím.

Y tá Noakes nện mạnh lên chiếc kẻng báo giờ ăn sáng để bố cáo vụ vi phạm. “Hỡi các bạn, chúng ta vừa tóm được một tên trộm.” Một sự im lặng bao trùm lên toàn thể những Kẻ Chưa Chết.

Một quả óc chó khô đét nện thìa cốc cốc. “Người Ả Rập biết phải làm gì với bọn chúng, thưa Y tá! Ở Saudi chẳng có anh chàng Freddies táy máy tay chân nào hết nhẩy? Chiều thứ Sáu hàng tuần ở các bãi đỗ xe của đền thờ, chặt! Nhẩy? Nhẩy?”

“Một con sâu đang làm rầu nồi canh của chúng ta.” Tôi thề, hệt như cảnh ở trường nam sinh Gresham đang được tái hiện sau sáu mươi năm vậy. Cũng món ngũ cốc đó trút vào bát sữa đó. “Cavendish!” Giọng y tá Noakes rung lên như một chiếc ống tiêu. “Đứng dậy!” Những cái đầu tử thi bán động mặc vải tuýt ẩm mốc và áo choàng không màu quay về phía tôi. Nếu tôi đáp lại như một nạn nhân thì tôi sẽ cầm chắc bản án cho mình.

Thật khó mà tập trung. Tôi đã không hề chợp mắt suốt đêm hôm đó. Denny đã mất. Làm mồi cho cá chép, khả năng cao nhất là thế. “Ôi, vì Chúa, thưa bà, làm ơn nói chuyện lý lẽ giùm tôi một chút. Trang sức hoàng cung vẫn đang an toàn trong Bảo tháp đấy thôi! Tôi chỉ làm mỗi việc là gọi một cuộc điện thoại tối quan trọng thôi mà. Nếu Aurora House có một quán cà phê internet thì tôi đã sẵn sàng gửi email rồi! Tôi chả muốn làm ai thức giấc cả, vì thế tôi đã nảy ra sáng kiến và mượn điện thoại một tí. Tôi thành thật xin lỗi đấy. Tôi sẽ trả tiền cho cuộc gọi ấy.”

“Ô, thì tất nhiên là phải trả rồi. Các trú nhân này, chúng ta làm gì với mấy con sâu ấy nhỉ?”

Gwendolin Bendincks đứng dậy rồi chĩa ngón tay. “Thật đáng hổ thẹn!”

Warlock-Williams ủng hộ cử chỉ đó. “Thật đáng hổ thẹn!” Lần lượt từng người một những Kẻ Chưa Chết còn đủ tỉnh táo để theo dõi cốt truyện tham gia. “Thật đáng hổ thẹn! Thật đáng hổ thẹn! Thật đáng hổ thẹn!” Ông Meeks chỉ huy bản hợp xướng cứ như Herbert von Karajan vậy.

Tôi rót trà, nhưng một chiếc thước gỗ hất văng tách trà khỏi tay tôi.

Y tá Noakes khạc ra những tia lửa điện: “Đừng hòng lẩn tránh khi ông đang bị phê phán!”

Bản hợp xướng nhỏ dần rồi nín bặt, trừ một hai nốt lạc nhịp.

Các khớp đốt tay của tôi thổn thức. Căm phẫn và đau đớn xoáy vào tâm can tôi như một cây roi Zazen. “Tôi ngờ rằng ông Withers tử tế chưa kể với bà, nhưng sự tình là anh trai Denholme của tôi đã qua đời. Phải, ngủm củ tỏi rồi. Bà cứ việc gọi cho anh ấy, nếu không tin tôi. Kỳ thực, tôi van nài bà hãy gọi cho anh ấy. Chị dâu của tôi không được khỏe, bà ấy cần giúp đỡ để lo liệu tang lễ.”

“Làm sao ông biết anh mình đã mất trước khi ông đột nhập vào phòng làm việc của tôi?”

Một đòn vật ngược được tính toán cẩn thận. Trò mèo vờn chuột của mụ ta khiến tôi có thêm cảm hứng. “Thánh Peter.”

Chau mày hoài nghi. “Ngài thì làm sao?”

“Trong giấc mơ, ngài báo mộng với tôi rằng Denholme vừa mới đi qua thế giới bên kia. “Hãy gọi điện cho chị dâu con,” ngài bảo. “Chị ấy cần sự giúp đỡ của con.” Tôi nói với ngài rằng dùng điện thoại là trái với quy định của Aurora House, nhưng Thánh Peter trấn an tôi rằng Y tá Noakes là một tín đồ Cơ đốc kính Chúa, sẽ không chế giễu lời giải thích ấy.”

La Duca kỳ thực đã dừng lại giữa màn đấu tố bởi lời giải thích tào lao này. ( Biết kẻ thù mình hơn là Biết mình.)Noakes tính toán những phương án thay thế: tôi có phải là một kẻ lầm lạc nguy hiểm hay không; một kẻ ảo tưởng vô hại; một kẻ thực dụng; một tiên tri Petrine? “Quy định ở Aurora House là vì lợi ích của tất cả mọi người.”

Đến giờ củng cố thắng lợi của tôi rồi. “Điều đó rất đúng.”

“Tôi sẽ hỏi chuyện Đức Chúa. Trong lúc đó,” mụ nói với những người ngồi ở bàn ăn, “ông Cavendish đang nhận án treo. Chuyện này chưa kết thúc và không bị lãng quên đâu.”

Sau chiến thắng khiêm tốn của mình, tôi tập diễn tính kiên nhẫn (cho ván cờ, chứ không phải vì đạo đức, không bao giờ có chuyện đó) trong phòng thư giãn, một việc mà tôi đã không làm kể từ sau tuần trăng mật đen đủi ở Tintagel với Bà X. (Địa điểm đó chẳng có gì đáng nói. Toàn là những căn nhà xã hội đổ nát và những cửa hàng bán đồ nhang khói.) Lỗi thiết kế của tính kiên nhẫn lần đầu tiên trở nên rõ rệt hơn trong đời tôi: kết quả được quyết định không phải trong quá trình chơi bài mà là khi các lá bài được xáo lên trước khi ván bài bắt đầu. Hỏi có vô nghĩa hay không?

Vấn đề là nó để cho tâm trí bạn lang thang ở nơi khác. Mà nơi khác đó lại không có màu hồng. Denholme đã chết một thời gian rồi, nhưng tôi vẫn còn ở trong Aurora House. Tôi đưa ra một kịch bản tồi tệ mới, một kịch bản trong đó Denholme đã thực hiện một lệnh chuyển tiền định kỳ tự động từ một tài khoản bí mật nào đó của anh ta để nuôi tôi ở Aurora House, xuất phát từ lòng tử tế hoặc thủ đoạn hiểm độc. Denholme chết. Chuyến bỏ trốn của tôi khỏi anh em nhà Hoggins là thông tin mật, vì vậy không một ai biết tôi ở đây. Lệnh chuyển tiền vẫn sống trong khi người ra lệnh đã chết. Bà Latham nói với cảnh sát lần cuối cùng thấy tôi là khi tôi đi vay nặng lãi. Thanh tra Plod phỏng đoán tôi đã cùng đường bọn cho vay khước từ, và đã lên một chuyến tàu Eurostar. Vì thế, năm tuần sau, không ai tìm tôi nữa, kể cả bọn Hoggins.

Ernie và Veronica tiến đến bàn tôi. “Trước tôi vẫn dùng chiếc điện thoại đó để kiểm tra tỉ số cricket.” Ernie tỏ vẻ cáu kỉnh. “Bây giờ thì nó sẽ bị khóa lại vào buổi tối.”

“Mười đen trên Bồi đỏ,” Veronica tư vấn. “Đừng lo, Ernie.”

Ernie chẳng bận tâm đến bà ta. “Noakes sẽ tìm cách hành hình ông.”

“Mụ ta có thể làm gì? Không cho tôi ăn ngũ cốc nữa ư?”

“Bà ta sẽ cho thuốc vào thức ăn của ông! Như lần trước ấy.”

“Ông đang nói cái khỉ gì vậy?”

“Có nhớ lần ông chọc giận bà ta không?”

“Khi nào?”

“Buổi sáng khi ông bị đột quỵ rất chi là đúng lúc ấy chứ khi nào.”

“Ý của ông là tôi bị... làm cho đột quỵ ư?”

Ernie làm nét mặt “không thế thì thế nào!” cực kỳ khó chịu.

“Ô, quỷ tha ma bắt! Bố tôi chết vì đột quỵ, anh tôi có lẽ đã chết vì đột quỵ. Cứ tự sáng tác thực tế của ông nếu cần, Ernest ạ, nhưng đừng lôi Veronica và tôi vào chuyện này.”

Ernie trừng mắt. (Lars, đoạn này giảm ánh sáng đèn nhé). “Phải rồi, ông cứ cho rằng mình thông minh lắm, nhưng ông cũng chỉ là một thằng ngốc miền nam khó ưa kiêu căng hợm hĩnh mà thôi!”

“Thà làm một thằng ngốc khó ưa, mặc kệ đó là gì đi nữa, còn hơn làm một kẻ bỏ cuộc.” Tôi biết tôi sẽ hối tiếc về điều này.

“Một kẻ bỏ cuộc ư? Tôi ư? Thử gọi tôi như thế một lần nữa xem. Nói đi.”

“Kẻ bỏ cuộc.” (Ôi, con yêu tinh Ương bướng! Tại sao ta lại để mi nói thay ta?) “Tôi thì nghĩ thế này nhé. Ông đã từ bỏ thế giới thực bên ngoài nhà tù này vì nó làm ông khiếp sợ. Thấy người khác bỏ trốn thì ông cảm thấy không thoải mái với cảm giác mình nằm trên giường bệnh. Vì thế mà bây giờ ông đang làm mình làm mẩy đây.”

Vòng xăng của Ernie phụt cháy. “Tôi dừng lại ở đâu không phải là chuyện để ông phán xét, Timothy Cavendish!” (Một người Scotland có thể biến một cái tên tử tế đến hoàn hảo thành một thứ nghe như cặn bã.) “Nhốt ông vào nhà vườn ông còn không ra được nữa kia!”

“Nếu ông có một kế hoạch rõ đến độ thằng ngu cũng hiểu thì nói cho chúng tôi nghe thử xem.”

Veronica cố gắng giảng hòa. “Các chàng trai à!”

Máu Ernie đang dồn đến đỉnh đầu. “‘Rõ đến độ thằng ngu cũng hiểu’ còn tùy thuộc vào thằng ngu ấy ngu cỡ nào.”

“Thật là thông minh tột đỉnh đấy.” Lời mỉa mai của tôi khiến chính tôi ghê tởm. “Ông hẳn phải là thiên tài ở Scotland nhỉ.”

“Không, ở Scotland thiên tài là một người Anh bỗng dưng bị cầm tù trong một trại dưỡng lão.”

Veronica thu nhặt những lá bài rơi vãi của tôi. “Thế trong hai ông có ông nào biết chơi bài đồng hồ không? Phải thêm bài đến khi đủ mười lăm lá ấy?”

“Chúng tôi nghỉ đây, Veronica,” Ernie gầm gừ.

“Không,” tôi đáp cộc lốc, rồi đứng dậy, ý muốn tránh để Veronica phải chọn một trong hai chúng tôi, vì tôi. “Tôi nghỉ đây.”

Tôi thề sẽ không đến phòng nồi hơi cho đến khi nhận được lời xin lỗi.

Vì thế tôi đã không đến vào chiều hôm đó, hay hôm sau, hay hôm sau nữa.

Ernie tránh tôi suốt tuần lễ Giáng sinh. Veronica dành cho tôi những nụ cười thương cảm khi chạm trán, nhưng lòng trung thành của bà ngả về đâu đã rõ. Giờ đây nghĩ lại, lúc đó tôi thật là mê muội. Tôi đã nghĩ gì thế trời? Phá hỏng tình bạn duy nhất của mình bằng những cơn hờn giận! Tôi vốn dĩ là một kẻ ưa hờn mát bẩm sinh, điều đó giải thích cho rất nhiều chuyện. Những kẻ hờn mát say sưa về những ảo tưởng cô đơn. Những ảo tưởng về Khách sạn Chelsea ở Quảng trường Washington, về chuyện gõ lên một cánh cửa nào đó. Nó mở ra, và cô Hilary V. Hush rất chi là vui sướng khi được gặp tôi, chiếc áo ngủ buông hờ hững, cô ngây thơ như Kylie Minogue nhưng cũng cáo già tựa bà Robinson. “Tôi đã bay vòng quanh thế giới để tìm em,” tôi nói. Cô rót cho tôi một ly whiskey từ quầy bar mini. “Chín muồi. Êm dịu. Đậm đà.” Nàng chó tuyết hư hỏng sau đó kéo tôi lên chiếc giường bừa bộn và trên đó tôi kiếm tìm suối nguồn tươi trẻ.

Những chu kỳ bán rã, Phần II nằm trên một cái kệ phía trên giường. Tôi đọc bản thảo, nổi lơ lửng trong Biển Chết sau màn mây mưa, trong khi Hilary đi tắm. Nửa còn lại thậm chí còn hay hơn cả phần đầu, nhưng Sư phụ sẽ dạy cho Đệ tử làm sao để biến nó thành tuyệt tác. Hilary đề tặng quyển tiểu thuyết cho tôi, đoạt giải Pulitzer và thú nhận trong bài diễn văn nhận giải rằng cô có được tất cả là nhờ người đại diện, người bạn và, xét theo nhiều mặt, người cha của cô.

Ảo tưởng ngọt ngào. Bệnh ung thư cho thuốc giải.

Đêm Giáng Sinh ở Aurora House là một món ăn nhạt nhẽo. Tôi tản bộ (một đặc quyền ngã giá được thông qua văn phòng của Gwendolin Bendincks) đến cánh cổng để nhìn một chút ra thế giới bên ngoài. Tôi nắm cánh cổng sắt và nhìn qua những chấn song. (Sự trớ trêu mang tính hình tượng, Lars ạ.Casablanca.) Tôi phóng tầm mắt về cánh đồng hoang, dừng lại trên một gò mộ, một chuồng cừu bỏ hoang, vơ vẩn nhìn ngôi nhà thờ Norman mang hơi hướm Druid, bỏ qua đến trạm phát điện, nhìn lướt biển Danes vấy mực đến cầu Humber, dõi theo một chiếc chiến đấu cơ băng qua những cánh đồng gợn sóng. Nước Anh đáng thương. Quá nhiều lịch sử cho chừng ấy diện tích. Năm tháng mọc ngược vào trong ở đây, như móng chân tôi vậy. Máy quay an ninh trông chừng tôi. Muốn bao lâu cứ việc. Tôi cân nhắc chuyện giảng hòa với Ernie Blacksmith, chỉ để nghe một tiếng Chúc mừng Giáng Sinh văn minh từ Veronica.

Không. Để cho hai người bọn họ đi chết hết đi.

“Đức cha Rooney!” Ông ta đang một tay cầm rượu sherry, tôi nhét nốt vào tay kia chiếc bánh thịt băm. Phía sau cây thông Giáng Sinh, ánh đèn thần tiên làm da chúng tôi chuyển sang màu hồng. “Con có một thỉnh cầu nhỏ xíu xiu.”

“Là gì nào, ông Cavendish?” Không hề có một chút hài hước nào. Đức cha Rooney là một tu sĩ nhà nghề, gợi nhớ tới hình ảnh tay thợ đóng khung tranh xứ Wales trốn thuế mà tôi từng đụng độ ở Hereford, nhưng đó là một câu chuyện khác.

“Con muốn nhờ Cha gửi một tấm thiệp Giáng Sinh ở bưu điện giùm con, thưa Đức cha.”

“Chỉ thế thôi sao? Chắc chắn nếu ông nhờ Y tá Noakes thì bà ấy sẽ lo liệu việc đấy cho ông mà?” Vậy là chuyện lùm xùm cũng đã đến tai ông ta rồi.

“Y tá Noakes và con không phải lúc nào cũng hiểu giống nhau về việc giao tiếp với thế giới bên ngoài.”

“Giáng Sinh là thời điểm tuyệt vời để rút ngắn khoảng cách giữa chúng ta.”

“Giáng Sinh là thời điểm tuyệt vời để cho những chú chó mê ngủ được ngủ, thưa Cha. Nhưng con thực tâm muốn chị của mình biết con đang nghĩ đến chị ấy trong ngày sinh của Đức Chúa. Y tá Noakes chắc đã nhắc đến sự ra đi của anh rể thân yêu của con với Cha rồi chứ?”

“Thật buồn.” Ông ta biết về vụ Thánh Peter rồi. “Ta rất lấy làm tiếc.”

Tôi lấy ra tấm thiệp từ túi áo khoác. “Con đã viết là gửi cho ‘Người chăm sóc’, chỉ để đảm bảo lời chúc Noel của con đến được đúng người. Chị ấy không được tỉnh táo cho lắm,” tôi gõ lên đầu, “ở chỗ này, con rất tiếc phải nói thế. Đây, để con nhét thiệp vào chiếc túi áo giúp Cha...” Ông ta vùng vẫy nhưng tôi đã dồn ông ta vào góc. “Con thật may mắn, thưa Cha, khi có những người bạn mà con có thể tin cậy. Cám ơn Cha, cám ơn, từ tận đáy lòng con.”

Đơn giản, hiệu quả, tinh tế, mi đúng là con cáo già ranh mãnh đấy, TC ạ. Đến ngày đầu năm mới, Aurora House sẽ thức giấc và phát hiện tôi đã biến mất, như Zorro.

Ursula mời tôi vào tủ quần áo. “Anh chẳng già đi chút nào cả, Timbo ạ, và cậu nhỏ này cũng thế!” Bé nai con lông lá của nàng cọ xát lên chiếc cột điện kích cỡ Narnia và hai hòn băng phiến của tôi... nhưng rồi, như mọi lần, tôi thức giấc, thứ của đính kèm lủng lẳng ấy căng cứng mời gọi như một khúc ruột thừa sưng tấy, và vẫn xài được như mọi khi. Sáu giờ. Hệ thống sưởi sì sụt như nhạc John Cage. Cước giá làm các đốt ngón chân tôi bỏng rát. Tôi nghĩ về những Giáng Sinh đã qua, quá nhiều so với số Giáng Sinh đợi chờ phía trước.

Tôi còn phải chịu đựng thêm bao nhiêu buổi sáng nữa đây?

“Can đảm lên, TC. Một chiếc tàu bưu tá màu đỏ lao vun vút đang đem thư của mi về miền nam đến Mẹ London. Những quả bom chùm của nó sẽ được khai hỏa với sức công phá lớn, lên cảnh sát, lên những người làm phúc lợi xã hội, lên bà Latham ở địa chỉ Haymarket cũ. Mi sẽ nhanh chóng rời khỏi đây thôi.” Trí tưởng tượng của tôi miêu tả những món quà Giáng Sinh muộn sẽ cùng tôi ăn mừng sự tự do của mình. Xì gà, whiskey cổ điển, một buổi ve vãn với Cô nàng Muffet bé nhỏ trên đường dây điện thoại chín mươi xu một phút. Tại sao lại dừng lại ở đó? Một chuyến quay lại Thái Lan với Guy the Guy và Cơ trưởng Viagra?

Tôi nhận thấy một chiếc tất len méo mó treo trên lò sưởi. Nó không có ở đó khi tôi tắt đèn. Ai có thể lẻn vào mà không làm tôi thức giấc nhỉ? Ernie đang muốn kêu gọi đình chiến Giáng Sinh? Ai nữa nhỉ? Chắc chắn là Ernie rồi! Luống cuống đầy phấn khích trong bộ pyjama kẻ, tôi tháo chiếc tất xuống rồi đem về giường. Nó rất nhẹ. Tôi lật mặt trong ra, và một cơn bão tuyết giấy vụn đổ ra. Chữ viết tay của tôi, từ ngữ của tôi, câu chữ của tôi!

Lá thư của tôi!

Sự cứu vãn của tôi, bị xé nát. Tôi đấm ngực, giật tóc, bẻ răng, tôi làm cổ tay bị thương khi nện thình thịch lên nệm. Đức cha Rooney khốn kiếp chết giẫm ở địa ngục! Y tá Noakes, mụ chó già mù quáng! Mụ ta đã đứng nhìn xuống tôi như Thiên sứ Tử thần, trong lúc tôi ngủ! Chúc mừng Giáng sinh chết tiệt, ông Cavendish! Tôi chịu thua. Động từ sinh ra từ cuối thế kỷ mười lăm, từ Pháp cổ succomber hoặc từ Latin succumbere, nhưng là một nhu cầu thiết yếu của con người, đặc biệt là của tôi. Tôi chịu thua trước những trợ lý chăm sóc ngu như bò. Tôi chịu thua trước lời chúc trên món quà: “Tặng ông Cavendish từ những người bạn mới – Chúc ông vui thêm nhiều mùa Giáng Sinh tại Aurora House!” Tôi chịu thua trước món quà của tôi: Lịch Kỳ quan thiên nhiên hai tháng một trang. (Không ghi Ngày chết.) Tôi chịu thua trước con gà tây bằng cao su, lớp nhân nhồi nhân tạo, món cải Brussels đắng nghét; trước tràng pháo không tiếng nổ (không được kích thích những cơn đau tim, sẽ ảnh hưởng xấu đến việc kinh doanh), chiếc vương miện giấy tí hon, cái miệng nhễu nhão của nó, câu nói đùa nhạt như nước ốc của nó (Người ở quầy bar: “Uống gì?” Bộ Xương: “Cho một ly bia và một giẻ lau sàn.”) Tôi chịu thua trước những bộ phim truyền hình nhiều tập số đặc biệt, thêm thắt gia vị Giáng Sinh đậm đặc; trước bài diễn văn của Nữ Hoàng từ đáy mồ. Trở về sau khi đi tè, tôi gặp Y tá Noakes, và chịu thua trước lời chào thắng lợi của mụ “Chúc nghỉ lễ vui vẻ nhé, ông Cavendish!”

Một chương trình lịch sử trên kênh BBC2 buổi chiều hôm đó chiếu những đoạn phim cũ quay ở Ypres năm 1919. Sự trêu ngươi ác ôn về một thị trấn từng một thời vàng son ấy chính là linh hồn tôi vậy.

Thời trai trẻ tôi chỉ mới có ba hay bốn lần nhìn thấy Quần đảo Hoan Hỉ, trước khi chúng chìm trong sương mù, trầm cảm, những mặt trận lạnh giá, những cơn gió bệnh tật và những ngọn thủy triều đối lập... Tôi đã nhầm tưởng chúng là sự trưởng thành. Tưởng đâu chúng là một đặc tính cố định trong hành trình cuộc đời mình, tôi đã lơ đễnh không nhận ra vĩ độ, kinh độ, sự tiếp cận của chúng. Thằng ngốc trẻ người non dạ. Giờ đây có gì mà tôi sẽ không từ bỏ để đổi lấy một tấm bản đồ không hề thay đổi của điều vĩnh viễn không thể diễn tả? Để sở hữu, như chính nó ngày xưa, một bản đồ mây. \

Tôi sống sót đến Lễ tặng quà vì tôi đã quá thê thảm đến nỗi không thể tự treo cổ nổi. Tôi nói dối đấy. Tôi sống sót đến Lễ tặng quà vì tôi quá hèn nhát không dám treo cổ. Bữa trưa là nước hầm gà tây (với đậu lăng sần sật), chỉ trở nên sống động khi có cuộc tìm kiếm chiếc điện thoại di động bị thất lạc của Deirde (người máy lưỡng tính). Những cương thi thích thú khi nghĩ đến khả năng nó có thể ở đâu (bên dưới ghế sofa), những nơi có thể không có nó (cây thông Giáng Sinh), và những nơi nó không thể nào có ở đó được (gầm giường của bà Birkin). Tôi nhận thấy mình đang gõ cửa phòng nồi hơi, như một chú chó con biết lỗi.

Ernie đứng nhìn xuống linh kiện một chiếc máy giặt bị tháo rời bày trên giấy báo. “Không dám, quý hóa quá.”

“Chúc mừng ngày lễ tặng quà, ông Cavendish,” Veronica cười tươi, đội một chiếc mũ lông Romanov. Bà ta đang đặt một quyển thơ dày trên đùi. “Vào nhà đi nào.”

“Cũng một, hai ngày rồi nhỉ,” tôi nói giảm, một cách ngượng ngập.

“Tôi biết!” ông Meeks làu bàu. “Tôi biết!”

Ernie vẫn tỏ thái độ khinh khỉnh. “Er... tôi vào được không, Ernie?”

Ông ta đứng thẳng dậy, sau đó hạ cằm xuống vài độ để tỏ ý thế nào cũng được. Ông ta đang tháo hết cái nồi hơi ra, những con ốc bạc bé xíu nằm trên những ngón tay thô kệch đầy dầu mỡ. Ông ta không hề dễ dãi với tôi. “Ernie này,” cuối cùng tôi lên tiếng, “tôi xin lỗi về chuyện hôm nọ nhé.”

“Ờ.”

“Nếu ông không giúp tôi ra khỏi đây... tôi sẽ phát rồ mất.”

Ông ta tháo một bộ phận mà tôi còn không biết gọi tên là gì. “Ờ.”

Ông Meeks đung đưa tới lui.

“Vậy... ý ông thế nào?”

Ông ta cúi người xuống một chiếc túi phân bón. “Ôi, đừng có ủy mị thế.”

Tôi không tin rằng mình đã từng mỉm cười kể từ sau Hội chợ sách Frankfurt. Khuôn mặt tôi phát đau.

Veronica chỉnh lại chiếc mũ lả lơi mời mọc. “Cho ông ta biết mức phí đi, Ernie.”

“Bất cứ giá nào, bất cứ giá nào.” Tôi chưa bao giờ thật tình hơn thế. “Giá là bao nhiêu?”

Ernie để cho tôi đợi đến khi chiếc tuốc nơ vít cuối cùng đã nằm gọn trong túi đồ nghề. “Veronica và tôi đã quyết định sẽ phiêu lưu đến những đồng cỏ mới.” Ông ta gật đầu về phía cánh cổng. “Ở phía bắc ấy. Tôi có một ông bạn già sẽ lo liệu cho chúng tôi ổn thỏa. Vì thế, ông phải đưa chúng tôi đi cùng.”

Tôi không lường trước chuyện này, nhưng ai quan tâm chứ? “Được, được. Rất sẵn lòng.”

“Thỏa thuận vậy đi. Khởi hành sau ba ngày nữa.”

“Sớm vậy ư? Ông đã có kế hoạch cả rồi?”

Lão người Scotland khịt mũi, vặn mở phích nước, rồi rót trà đen đặc quánh vào nắp phích. “Ừ, có thể nói vậy.”

Kế hoạch của Ernie là một chuỗi domino nghiêng ngả đầy rủi ro.“Bất cứ chiến thuật trốn thoát nào,” ông ta giảng giải, “đều phải mưu trí hơn lính canh của ông.” Nó thật sự rất mưu trí, nếu không muốn nói là táo bạo, nhưng nếu quân domino nào không làm đổ cái tiếp theo thì sự bại lộ lập tức sẽ đem lại kết quả khủng khiếp, nhất là nếu câu chuyện về cách cưỡng ép gây mê đáng sợ của Ernie hóa ra là thật. Nghĩ lại, tôi cảm thấy kinh ngạc về bản thân mình vì đã đồng ý làm theo. Niềm cảm kích rằng bạn bè đã chịu nói chuyện lại với mình, và nỗi tuyệt vọng phải thoát khỏi Aurora House – còn sống – đã bịt miệng thói thận trọng của tôi, tôi chỉ có thể cho là như thế.

Ngày 28 tháng 12 được chọn vì Ernie biết được từ Deidre rằng bà Judd sẽ ở lại Hull với các cháu và xem các vở diễn kịch câm. “Thực địa tình báo mà,” Ernie gõ gõ lên mũi. Tôi ước gì Withers hay mụ Noakes mới là người đi vắng, nhưng Withers chỉ đi thăm mẹ ở Vịnh Robin Hood vào tháng Tám, và Ernie cho rằng bà Judd là người quan trọng nhất và vì thế là người nguy hiểm nhất.

Ngày trọng đại. Tôi có mặt ở phòng Ernie ba mươi phút sau khi những Kẻ Chưa Chết được đưa về giường lúc mười giờ. “Cơ hội cuối cùng để rút lui nếu ông nghĩ mình không thể làm được đấy,” lão người Scotland nghệ sĩ bảo tôi.

“Tôi chưa bao giờ rút lui khỏi bất cứ điều gì trong đời,” tôi đáp, nói dối qua hàm răng đã hỏng. Ernie tháo ốc bộ thông gió rồi lấy chiếc điện thoại của Deirdre giấu trong đó ra. “Ông có giọng sang nhất,” ông ta thông báo với tôi, khi phân công nhiệm vụ, “vả lại, nói vớ vẩn trên điện thoại là cách ông kiếm tiền mà.” Tôi bấm số của Johns Hotchkiss, được Ernie lấy từ sổ điện thoại của bà Hotchkiss nhiều tháng trước.

Đầu dây bên kia có tiếng trả lời ngái ngủ “Có chuyện gì?”

“À, vâng, có phải anh Hotchkiss không ạ?”

“Tôi đây. Ông là ai?”

Thưa độc giả, các bạn hẳn sẽ phải tự hào về tôi. “Bác sĩ Conway, ở Aurora House. Tôi đang thay thế bác sĩ Upward.”

“Chúa ơi, có chuyện gì xảy ra với mẹ tôi à?”

“Tôi e là thế, thưa anh Hotchkiss. Anh phải mạnh mẽ lên. Tôi nghĩ bà sẽ không cầm cự được đến sáng.”

“Ôi! Ô?” Một phụ nữ ở phía sau đầu dây bên kia hỏi, “Ai đấy, Johns?”

“Chúa ơi! Thật không?”

“Thật.”

“Nhưng bà bị làm sao?”

“Viêm màng phổi cấp.”

“Viêm màng phổi?”

Có lẽ sự đồng cảm của tôi với vai diễn đã vượt quá chuyên môn của mình, một chút. “Bệng viêm màng phổi luôn có thể xảy ra với phụ nữ ở độ tuổi mẹ của anh, thưa anh Hotchkiss. Nghe này, tôi sẽ trình bày chi tiết chẩn đoán của mình khi anh đến đây. Mẹ của anh đòi gặp anh. Tôi đã tiêm cho bà hai mươi miligram thuốc, ờ, morphadin-50, nên bà không hề đau đớn gì đâu. Điều kỳ lạ là, bà không ngừng nói về mấy món nữ trang. Bà cứ lặp đi lặp lại, ‘Tôi phải nói với Johns, tôi phải nói với Johns...’ Việc này có ý nghĩa gì với anh không?”

Khoảnh khắc sự thật.

Anh ta cắn câu! “Chúa ơi. Ông chắc thế chứ? Mẹ tôi có nhớ bà để nó ở đâu không?”

Người phụ nữ ở phía sau hỏi, “Thế nào? Thế nào? ”

“Bà có vẻ cực kỳ không vui vì số nữ trang này ở lại trong gia đình.”

“Tất nhiên, tất nhiên, nhưng chúng ở đâu, thưa bác sĩ? Bà nói bà giấu chúng ở đâu?”

“Nghe này, tôi phải quay lại phòng bà ấy, anh Hotchkiss ạ. Tôi sẽ gặp anh ở quầy tiếp tân tại Aurora House... Khi nào nhỉ?”

“Hỏi bà ở đâu – không, hãy nói với bà – nói với mẹ tôi hãy – nghe này, bác sĩ - ờ...”

“Ơ... Conway! Conway.”

“Bác sĩ Conway, ông có thể đưa ống nghe lại gần miệng mẹ tôi không?”

“Tôi là bác sĩ, không phải là tổng đài điện thoại. Anh hãy tự đến đây. Khi đó bà sẽ tự nói với anh.”

“Hãy nói với bà – cố gắng chờ đến khi chúng tôi đến đấy, vì Chúa. Hãy nói với bà – Pipkins yêu bà rất nhiều. Tôi sẽ đến... nửa tiếng nữa.”

Kết cục của một khởi đầu. Ernie kéo dây khóa chiếc túi xách. “Làm tốt lắm. Ông giữ điện thoại đi, nhỡ mà anh ta gọi lại.”

Quân domino thứ hai là tôi phải đứng canh gác cẩn mật trong phòng của ông Meeks để nhìn qua kẽ hở cánh cửa. Do tình trạng xuống cấp sức khỏe nghiêm trọng nên linh vật của phòng nồi hơi chúng tôi không tham gia vào cuộc đào tẩu vĩ đại này, nhưng phòng ông ta nằm đối diện phòng tôi, và ông ta hiểu “Suỵt!” nghĩa là gì. Vào lúc mười giờ mười lăm, Ernie đi đến khu vực tiếp tân để báo tin tôi đã chết với Y tá Noakes. Quân domino này có thể ngã theo những hướng không mong đợi. (Những cuộc thảo luận của chúng tôi về việc ai làm cái xác còn ai làm người đi báo tin kéo dài lê thê: Cái chết của Veronica đòi hỏi phải đóng kịch vượt quá khả năng của Ernie để không khiến mụ đàn bà dữ dằn của chúng tôi nghi ngờ; cái chết của Ernie, do Veronica báo tin, đã bị loại vì bà ta có khuynh hướng diễn xuất cường điệu; cả phòng của Ernie và Veronica đều bị bao bọc bởi những Kẻ Chưa Chết, bọn họ có thể làm kỳ đà cản mũi kế hoạch của chúng tôi. Ngược lại, phòng của tôi ở dãy phòng cũ, và hàng xóm duy nhất của tôi là ông Meeks. Vì vậy tôi được chọn đóng vai người chết.) Điều khó xác định lớn nhất là sự căm ghét rõ rệt của Y tá Noakes dành cho tôi. Liệu mụ ta có vội vàng chạy đến để xem kẻ thù của mình thất thủ, để cắm một đinh ghim vào cổ tôi nhằm kiểm tra xem tôi có chết thật hay chưa không? Hay là sẽ ăn mừng hoành tráng trước đã?

Tiếng bước chân. Một tiếng gõ cửa. Y tá Noakes, đánh hơi miếng mồi. Quân domino thứ ba đang lắc lư, nhưng sự lệch hướng đã len lỏi vào trong. Ernie theo kế hoạch phải đi cùng mụ ta đến tận cửa phòng tôi. Mụ ta phải lao vào trước. Từ chỗ ẩn nấp của mình, tôi thấy kẻ săn mồi nhìn vào. Mụ mở đèn lên. Đống gối ngụy tạo dưới lớp chăn theo kịch bản cổ điển, trông thật hơn bạn nghĩ, dụ mụ ta vào. Tôi phóng ra hành lang và đóng sầm cửa lại. Từ thời khắc này trở đi, quân domino thứ ba phụ thuộc vào cơ chế ổ khóa – chốt khóa phụ rất cứng, xoay được, và trước khi tôi vặn được nó, Noakes đã kéo mở cánh cửa ra – chân mụ chặn ngang khung cửa – sức mạnh ma quỷ của mụ nhấc bổng cơ bắp tay và xé toạc cổ tay tôi. Chiến thắng, tôi biết, sẽ không thuộc về tôi.

Vì thế tôi đánh một canh bạc lớn, bất thình lình thả tay nắm cửa ra. Cánh cửa mở tung và mụ phù thủy văng vào trong phòng. Trước khi mụ kịp chạy đến cửa, tôi đóng rồi khóa nó lại. Một catalogue những lời đe dọa Titus Andronicus nện vào cánh cửa. Đến giờ này chúng vẫn ám ảnh những cơn ác mộng của tôi. Ernie đến đem theo một cây búa và vài cây đinh bảy phân. Ông ta đóng đinh cánh cửa vào khung rồi để cho mụ thợ săn gào thét trong phòng giam do chính mụ tạo ra.

Ở ngoài bàn tiếp tân, quân domino thứ tư đang chớp tắt ánh đèn xanh chết người trên chiếc máy điện đàm ở cổng chính. Veronica biết phải bấm nút nào. “Tôi đã bấm cái nút khỉ gió này cả mười phút trong khi mẹ tôi đang hấp hối!” Johns Hotchkiss rất giận dữ. “Các người đang chơi cái trò đ** gì thế?”

“Tôi phải giúp bác sĩ Conway chế ngự mẹ của anh, thưa anh Hotchkiss.”

“Chế ngự mẹ tôi? Vì bệnh viêm màng phổi ư?”

Veronica bấm công tắc “mở” và ở phía bên kia sân, cánh cổng mở ra, chúng tôi hi vọng thế. (Tôi xin trả lời luôn cho độc giả viết thư sẽ hỏi tôi tại sao chúng tôi không dùng công tắc này để thoát thân, vì rằng cánh cổng tự động đóng lại sau bốn mươi giây; rằng khu vực tiếp tân thường có người túc trực; và rằng còn biết bao nhiêu dặm đồng không mông quạnh chờ đón.) Qua làn sương lạnh cóng, tiếng bánh xe rít vang lên ngày một lớn. Ernie nấp ở phòng phía sau trong khi tôi đón chiếc Range Rover ở bậc thềm bên ngoài. Vợ của Johns Hotchkiss ngồi ở ghế tài xế.

“Bà ấy sao rồi?” Hotchkiss hỏi trong lúc bước đến.

“Vẫn ở lại với chúng ta, anh Hotchkiss ạ, vẫn đòi gặp anh.”

“Tạ ơn Chúa. Ông là ông Conway đó à?” Tôi muốn tránh thêm nhiều câu hỏi y khoa nữa. “Không, bác sĩ đang ở chỗ mẹ anh, tôi chỉ làm việc ở đây thôi.”

“Tôi chưa bao giờ gặp ông.”

“Thực ra con gái tôi là hộ lý ở đây, nhưng vì thiếu người và tình hình nguy cấp của mẹ anh nên tôi tạm thời dừng nghỉ hưu để giúp trực tiếp tân. Vì vậy mà việc mở cổng có phần chậm trễ.”

Vợ anh ta đóng sầm cửa xe. “Johns? Này? Ngoài này lạnh muốn chết còn mẹ anh thì sắp đi rồi đấy. Chúng ta có thể để phần chào hỏi lại sau không?”

Veronica đã xuất hiện với chiếc mũ trùm đầu buổi tối đính trang kim. “Anh Hotchkiss à? Chúng ta gặp nhau vài lần rồi nhỉ. Mẹ anh là bạn thân nhất của tôi ở đây đấy. Mau đến gặp bà đi. Bà đang ở trong phòng. Bác sĩ nghĩ rằng đưa bà ra ngoài là quá nguy hiểm.”

Johns Hotchkiss có vẻ như ngửi thấy mùi lắt léo ở đây, nhưng làm sao anh ta có thể buộc tội bà già dễ mến này lừa đảo và âm mưu? Vợ anh ta quày quả bước vào, kéo anh ta theo.

Tôi lại ngồi ở ghế tài xế. Ernie bế cục cưng bị viêm khớp của ông ta và đặt một cơ số hộp đựng mũ nhiều đến không tưởng lên băng sau, rồi nhảy lên ghế phía trước. Tôi chưa đổi chiếc xe nào từ dạo bà X ra đi, và những năm xen giữa đó đã không trôi xa như tôi hi vọng. Quỷ tha ma bắt, bàn đạp nào dùng vào việc nào nhỉ? Tăng tốc, phanh, bộ tiếp hợp, kính, đèn tín hiệu, diễn tập. Tôi với tay tìm chìa khóa trong ổ cắm.

“Ông còn đợi gì nữa vậy?” Ernie hỏi. Các ngón tay của tôi quả quyết rằng chẳng có chiếc chìa khóa nào hết.

“Nhanh nào, Tim, nhanh nào!”

“Không có chìa khóa. Không có cái chìa khóa của nợ đó.”

“Anh ta luôn luôn cắm chìa trong ổ mà!”

Các ngón tay của tôi quả quyết rằng chẳng có chiếc chìa khóa nào hết. “Vợ anh ta lái xe! Nên cô ta đã cầm chìa khóa! Con ả đó cầm chìa khóa theo rồi! Trời đất thánh thần thiên địa ơi, chúng ta phải làm gì bây giờ?”

Ernie nhìn lên hộp đồng hồ, trong ngăn đựng găng, trên sàn xe.

“Ông nối dây điện khởi động được không?” Giọng tôi đầy tuyệt vọng.

“Đừng yếu đuối thế!” ông ta quát lại, mò mẫm trong khay đựng tàn thuốc.

Quân domino thứ năm được dán keo thẳng đứng cứng đơ không thèm ngã. “Cho tôi hỏi...” Veronica lên tiếng.

“Tìm dưới miếng che nắng ấy!”

“Chẳng có cái quái gì ngoài...”

“Cho tôi hỏi,” Veronica nói. “Đây có phải là chìa khóa xe ô tô không?” Ernie và tôi quay lại, gào lên, “Khôngggggggg” như dàn âm thanh nổi trước chiếc chìa khóa cửa hiệu Yale. Chúng tôi gào lên lần nữa khi thấy Withers chạy ra hành lang thắp đèn mờ từ khu nhà ăn, với hai người nhà Hotchkiss phía sau.

“Ô,” Veronica nói. “Cái to này cũng rơi ra nữa...”

Chúng tôi nhìn Withers tiến đến bàn tiếp tân. Hắn nhìn qua lớp cửa kính thẳng vào mặt tôi, truyền đi hình ảnh tưởng tượng về một con Rottweiler cắn nát một con búp bê may thành hình Timothy Langland Cavendish, tuổi 65 và 3⁄4. Ernie khóa hết các cửa xe, nhưng làm thế thì có ích gì?

“Còn cái này thì sao?” Có phải Veronica đang cầm một chiếc chìa khóa xe lủng lẳng trước mũi tôi không? Với một logo “Range Rover” trên đó.

Ernie và tôi gào lên, “Đúnggggggggg!”

Withers đẩy mở cửa trước rồi nhảy xuống bậc tam cấp.

Các ngón tay tôi run rẩy đánh rơi chìa khóa.

Withers ngã phịch xuống một vũng nước đóng băng.

Tôi đập đầu vào vô lăng khiến kèn vang lên.

Withers đang giật mấy cánh cửa đã khóa. Các ngón tay tôi run lẩy bẩy khi những đợt pháo hoa đau đớn phát nổ trong đầu tôi. Johns Hotchkiss đang gào thét, “Vác mấy cái mạng già xương xẩu của các người ra khỏi xe tôi nếu không tôi sẽ kiện – MẸ KIẾP TRƯỚC SAU GÌ TÔI CŨNG SẼ KIỆN ĐẤY!” Withers dùng một cái dùi cui đập vào cửa kính, không, đó là nắm đấm của hắn; chiếc nhẫn gắn đá quý của ả vợ cào lên lớp kính; chiếc chìa khóa bằng cách nào đó đã trượt vào ổ cắm; động cơ gầm lên; hộp đồng hồ sáng lên với ánh đèn huyền ảo; Chet Baker đang hát “Let’s Get Lost”; Withers đang bám vào cửa và đập ầm ầm; vợ chồng Hotchkiss quờ quạng trước đèn pha như những tội đồ trong tranh El Greco; tôi cài chiếc Range Rover sang số một nhưng nó chuyển hướng chứ không di chuyển vì thắng tay đang bật; Aurora House bừng sáng như UFO trong phim Close Encounters; tôi xua đi cảm giác sống qua khoảnh khắc này nhiều lần trước rồi; tôi thả thắng tay, đâm thẳng vào Withers; chuyển lên số hai; nhà Hotchkiss không chết mà ra sức vẫy gào, rồi họ khuất tầm mắt và chúng tôi đã cất cánh!

Tôi lái xe vòng quanh ao nước, xa khỏi cánh cổng vì Hotchkiss đậu chiếc Range Rover hướng về phía đó. Tôi nhìn kính chiếu hậu – Withers và nhà Hotchkiss đang lao theo chúng tôi như những tay lính biệt kích chết tiệt. “Tôi sẽ dụ họ ra khỏi cánh cổng,” tôi lúng búng nói với Ernie, “để ông có thời gian mở khóa. Ông cần bao lâu? Tôi ước chừng ông sẽ có khoảng bốn mươi lăm giây đấy.”

Ernie không nghe thấy tôi.

“Ông cần bao lâu để mở khóa?”

“Ông sẽ phải lao xe vào cổng.”

“Cái gì?”

“Xe Range Rover tốt loại lớn chạy ở vận tốc tám mươi cây số giờ có thể làm được đấy.”

“Cái gì? Ông đã nói là có thể mở khóa ngay cả khi ngủ cơ mà!”

“Mở một cái khóa điện tử hiện đại ư? Không đời nào!”

“Tôi sẽ không nhốt Noakes lại và ăn cắp xe nếu tôi biết ông không thể mở khóa!”

“Ừ, đúng rồi, ông yếu đuối quá mà, nên ông cần sự khích lệ.”

“Khích lệ?” Tôi hét lên, sợ hãi, tuyệt vọng, giận dữ, ba phần bằng nhau. Chiếc xe xé toạc bụi cây và bụi cây cũng xé toạc nó.

“Thật là hết ý!” Veronica thốt lên.

Ernie nói chuyện tựa như đang thảo luận về một bài toán khó tự giải. “Miễn cái cột ở giữa không được chôn sâu xuống đất thì cánh cổng sẽ bung ra khi chịu lực tác động.”

“Thế còn nếu nó được chôn sâu thì sao?”

Veronica bộc lộ tính điên loạn. “Thì chúng ta sẽ bay tứ phía khi đâm vào đó! Vì thế, hãy đạp hết cỡ đi, ông Cavendish!”

Cánh cổng bay về phía chúng tôi, cách chín, tám, sáu chiều dài xe. Bố nói vọng lên từ đáy xương chậu của tôi, “Con có băn khoăn gì về rắc rối mà con đang gặp phải không, con trai?” Nên tôi vâng lời bố, phải, tôi vâng lời ông và tôi đạp phanh. Mẹ rít lên bên tai tôi: “Tới luôn đi, Timbo của chúng ta, con có gì để mất đâu?” Tôi đã đạp không phải phanh mà là cần tăng tốc - đó là ý nghĩ cuối cùng – chiều dài hai chiếc xe, một chiếc xe, rầm!

Những song chấn thẳng đứng trở thành đường chéo. Cánh cổng bung ra khỏi bản lề. Tim tôi nhảy bungee từ cổ họng xuống ruột, lộn lên, rơi xuống và chiếc Range Rover trượt khắp con đường, tôi dùng hết sức bình sinh gồng lại, phanh xe rít lên nhưng tôi giữ cho chiếc xe không lao xuống hào nước, động cơ vẫn nổ, kính chắn gió vẫn nguyên vẹn.

Chết lặng.

Sương mù dày đặc, chỉ tan thành lớp mỏng trước ánh đèn pha.

“Chúng tôi rất tự hào về ông,” Veronica nói, “phải không, Ernest?”

“Phải rồi, cưng à, chúng ta rất tự hào!” Ernie vỗ lưng tôi. Tôi nghe tiếng Withers sủa ông ổng chối tai, sát phía sau. Ernie hạ cửa kính xuống rồi hét to về phía Aurora House: “Đồ nguuuuuu!” Tôi đạp cần số lần nữa. Lốp xe kéo lê nặng nề, động cơ nở hoa, và Aurora House biến mất vào màn đêm. Bố khỉ, khi bố mẹ quý vị qua đời, họ sẽ dọn đến ở chung với quý vị đấy.

* * *

“Bản đồ?” Ernie đang lục lọi trong ngăn đựng găng. Những món ông ta tìm được đến giờ là kính mát và kẹo Werner.

“Không cần. Tôi nhớ lộ trình rồi. Tôi biết rõ nó như lòng bàn tay đây này. Bất kỳ cuộc đào tẩu nào cũng phải được chuẩn bị kỹ càng chín phần mười chứ.”

“Tốt nhất là tránh đường cao tốc nhé. Thời nay họ có máy quay và hầm bà lằng thứ khác.”

Tôi suy tư về sự thay đổi nghề nghiệp từ một nhà xuất bản thành một kẻ trộm xe. “Tôi biết rồi.”

Veronica nhái giọng ông Meeks – xuất sắc. “Tôi biết! Tôi biết!”

Tôi bảo bà ta nhại giọng chính xác đến kinh ngạc.

Một khoảng dừng. “Tôi có nói gì đâu.” Ernie quay lại và hét lên thất thanh vì bất ngờ. Khi tôi nhìn vào kính chiếu hậu và thấy ông Meeks ngọ nguậy ở khoang phía sau cùng của xe, tôi suýt nữa lạc tay lái. “Làm sao...” tôi bắt đầu. “Khi nào... ai...”

“Ông Meeks!” Veronica thốt lên. “Thật là một sự bất ngờ đáng yêu.”

“Một sự bất ngờ?” tôi hỏi. “Ông ta đã vi phạm các quy luật vật lý rồi!”

“Chúng ta không thể quay đầu xe lại Hull,” Ernie nói, “mà bây giờ lạnh lắm, không thể bỏ ông ta xuống được. Đến sáng là ông ta đóng băng luôn đấy.”

“Chúng ta đã bỏ trốn khỏi Aurora House rồi, ông Meeks ạ,” Veronica giải thích.

“Tôi biết,” lão già say bí tỉ kêu be be, “Tôi biết.”

“Mọi người vì một người, một người vì mọi người, phải không?” Ông Meeks cất tiếng cười khúc khích, mút kẹo và ngân nga bài “The British Grenadiers” trong lúc chiếc Range Rover lao về phía bắc.

Một bảng hiệu – XIN VUI LÒNG LÁI XE CẨN THẬN Ở NGÃ TƯ THAWICKE – sáng lên trước ánh đèn pha. Ernie đã đánh dấu kết thúc lộ trình dự tính của chúng tôi ở đây với một chữ X đỏ to tướng và bấy giờ tôi mới hiểu tại sao. Một trạm xăng mở cửa suốt đêm đang phục vụ trên một tuyến đường cao tốc – cạnh một quán rượu có tên Hanged Greyhound. Đã quá nửa đêm nhưng đèn vẫn sáng. “Đỗ xe tại quán rượu đi. Tôi sẽ đi mua một can xăng để không ai phát hiện ra chúng ta. Sau đó ta hãy làm một ly để ăn mừng công việc hoàn thành tốt đẹp. Johns ngốc để quên áo khoác trong xe, và trong túi áo là – tèn ten.” Ernie chìa ra một chiếc ví có kích cỡ bằng chiếc va li của tôi. “Tôi chắc chắn bằng này đủ để chúng ta uống một chầu.”

“Tôi biết!” ông Meeks hí hửng.“Tôi biết!”

“Một ly Drambuie pha soda là được,” Veronica quyết định.

Ernie quay lại sau năm phút với can xăng. “Dễ ợt.” Ông ta đổ xăng vào bình, rồi sau đó bốn người chúng tôi đi bộ băng qua bãi đỗ xe đến quán Hanged Greyhound. “Đêm nay lạnh thật,” Ernie cảm thán, rồi đưa cánh tay ra cho Veronica. Trời lạnh kinh hồn khiến tôi không ngừng run bần bật. “Trăng đẹp quá, Ernest à,” Veronica tiếp lời, luồn tay qua cánh tay ông ta. “Thật là một đêm tuyệt vời để theo trai!” Bà cười khúc khích như một cô em mười sáu tuổi. Tôi siết chặt nắp nhốt con quỷ già nua trong mình, Ghen tuông. Ông Meeks đi cà nhắc, nên tôi đỡ ông ta đến tận cửa, trên có gắn tấm bảng đen với dòng quảng cáo “Trận cầu vĩ đại!”. Ở cái hang ấm áp bên trong, một đám đông đang xem bóng đá trên truyền hình trong vùng thời gian nhuốm ánh huỳnh quang xa xôi. Trong tám mươi mốt phút đầu, đội Anh đang bị đội Scotland dẫn trước một bàn. Chẳng ai buồn chú ý đến chúng tôi. Anh đấu với Scotland, ở nước ngoài, giữa mùa đông lạnh giá – chẳng lẽ Wolrd Cup đã trở lại rồi sao? Sẵn nhắc đến gã Nếp Nhăn Trời Đánh ấy.

Tôi chẳng ưa gì các quán rượu có mở tivi, nhưng ít ra thì ở đấy cũng chẳng có tiếng nhạc chát chúa giật đùng đùng, và sự tự do tối hôm đó là món tài sản ngọt ngào nhất. Một gã chăn cừu nhường chỗ cho chúng tôi trên một băng ghế cạnh lò sưởi. Ernie gọi đồ uống vì ông ta bảo rằng giọng tôi nghe miền nam quá, thể nào cũng bị họ nhổ nước bọt vào cốc. Tôi gọi một Kilmagoon đúp và điếu xì gà đắt nhất quán có, Veronica gọi Drambuie pha soda, ông Meeks gọi bia gừng, còn Ernie thì gọi một ly bia đắng Angry Bastard. Nhân viên quầy bar không rời mắt khỏi tivi – ông ta lấy đồ uống cho chúng tôi chỉ bằng xúc giác mà thôi. Ngay khi chúng tôi vừa yên vị trong một góc, thì một cơn cuồng phong tuyệt vọng quét qua quầy bar. Anh được hưởng một quả phạt đền. Chủ nghĩa bộ lạc giật điện khán giả.

“Tôi muốn kiểm tra lộ trình của mình. Ernie, làm ơn đưa cho tôi bản đồ.”

“Ông là người cuối cùng giữ nó mà.”

“Ồ. Chắc là nó ở trong...” Phòng tôi. Nhớ zoom cận cảnh nhé, Đạo diễn Lars, vào khuôn mặt Cavendish khi lão nhận ra sai lầm định mệnh của mình. Tôi đã để quên bản đồ trên giường. Cho Y tá Noakes. Với lộ trình được đánh dấu bằng bút dạ. “... xe... ôi, Chúa ơi. Tôi nghĩ chúng ta nên uống nhanh rồi lên đường thôi.”

“Nhưng chúng ta mới nhấp môi thôi mà.”

Tôi nuốt nước bọt khó nhọc. “Về cái, ờ, tấm bản đồ ấy mà...” Tôi xem đồng hồ rồi tính toán quãng đường và vận tốc.

Ernie bắt đầu nhận ra. “Tấm bản đồ có vấn đề gì?”

Câu trả lời của tôi bị nhấn chìm trong một tiếng hú thê lương. Anh đã cân bằng tỉ số. Và vào đúng khoảnh khắc đó, tôi không nói ngoa, Withers nhìn vào trong. Đôi mắt Gestapo của hắn định vị chúng tôi. Không vui vẻ. Johns Hotchkiss hiện ra bên cạnh hắn, nhìn thấy chúng tôi, và anh ta trông thực sự rất vui. Anh ta lấy điện thoại di động để gọi cho các thiên thần báo thù. Một gã bặm trợn thứ ba mặc áo choàng lấm lem dầu mỡ hoàn chỉnh đội hình đuổi bắt, nhưng có vẻ như Y tá Noakes đến giờ phút này đã thắng Johns Hotchkiss khi không lôi cảnh sát vào vụ này. Danh tính của kẻ bặm trợn dầu mỡ tôi sẽ không bao giờ biết được, nhưng tôi biết một điều ngay lúc đó: trò chơi đã kết thúc.

Veronica thở dài một hơi yếu ớt. “Tôi đã hi vọng xiết bao được nhìn thấy,” bà ta nói như hát, “cỏ xạ hương núi dại, mọc xen khắp nơi giữa những cây thạch nam rộ hoa, và nó đã mất, hỡi em yêu, đã mất...”

Một cuộc đời bị kiểm soát, bị thuốc làm cho mụ mị và những chương trình ban ngày đang chờ đợi phía trước. Ông Meeks ngoan ngoãn đứng dậy để lên đường với tên cai ngục của chúng tôi.

Ông ta thốt lên một tiếng gầm Kinh thánh. (Lars: zoom ống kính vào từ bãi đỗ xe bên ngoài, qua quầy bar náo nhiệt, xuống cái amiđan thối rữa của ông Meeks.) Những khán giả xem đài dừng cuộc nói chuyện, làm đổ thức uống và nhìn lên. Thậm chí Withers cũng đứng sững lại trên đường. Lão già tám mươi tuổi nhảy lên quầy bar, như Astaire ở thời kỳ sung mãn, rồi rống lên tiếng cầu cứu đến những người anh em đồng hương, “Có ai là người Scort chân chính trong này khônggggg?”

Hẳn một câu! Ernie, Veronica và tôi sững sờ không thốt nên lời.

Kịch tính tột độ. Không một ai nhúc nhích.

Ông Meeks chỉ về phía Withers bằng ngón trỏ xương xẩu rồi cất lên lời nguyền rủa cổ đại này: “Bè lũ người Anh đó đang giẫm đạp lên những quyền lợi Chúa ban của tôi! Bọn chúng đã lợi dụng tôi và bạn bè tôi một cách trắng trợn và chúng tôi đang cần trợ giúp khẩn cấp!”

Withers gầm lên với chúng tôi: “Câm miệng đi và hãy đối diện với hình phạt dành cho các người.”

Tiếng Anh giọng miền nam của kẻ bắt bớ chúng tôi đã lọt ra! Một quả tên lửa đứng bật dậy như Poseidon và siết chặt các đốt tay. Một thợ điều khiển cần cẩu đứng gần anh ta. Một người đàn ông có cái cằm cá mập mặc bộ đồ vest giá một nghìn bảng. Một nữ tiều phu chi chít sẹo.

Tivi tắt ngóm.

Một người ở miền cao nguyên nhẹ nhàng nói: “Vâng, ông bạn à. Chúng tôi sẽ không làm ông thất vọng đâu.”

Withers đánh giá tình hình rồi nở một nụ cười khinh khỉnh . “Mấy ông này ăn cắp xe ô tô.”

“Anh là cảnh sát hả?” Nữ tiều phu tiến đến.

“Cho chúng tôi xem thẻ nào,” thợ cần cẩu tiến đến.

“Ôi, mày nói chuyện nghe như cứt ấy,” Poseidon nhổ nước bọt. Sự bình tĩnh hẳn đã có thể đánh mất vận hội ngày hôm đó của chúng tôi, nhưng Johns Hotchkiss đã ghi một bàn chí tử. Len lỏi giữa đám người dày đặc, anh ta mở đầu nỗi bất hạnh của mình bằng câu “Bây giờ nhìn cho kỹ đây, lũ dở hơi, có ngon thì ra đòn đi nếu các người nghĩ...” Một cái răng của anh ta văng vào ly Kilmagoon của tôi, cách đó bốn mét rưỡi. (Tôi đã vớt chiếc răng ra để giữ làm bằng chứng, bằng không sẽ chẳng ai tin.) Withers chụp kịp và bẻ một nắm tay sấn tới, hất một tay bặm trợn lên bàn bida, nhưng con quái vật chỉ một thân một mình trong khi những kẻ thù bị chọc tức thì đông như nước lũ. Ôi, cảnh tượng tiếp theo thật hoành tráng chẳng kém trận Trafalgar. Tôi phải thú nhận, cảnh tên ác ôn đó bị tra tấn thật chẳng dễ chịu chút nào, nhưng khi Withers ngã xuống và những cú đấm méo mó bắt đầu trút xối xả, tôi đã đề nghị trốn đi một cách khéo léo ra phía trái chiếc xe mượn tạm của chúng tôi. Chúng tôi đi ra ở cửa sau rồi ba chân bốn cẳng chạy băng qua bãi đỗ xe lộng gió, dốc hết sức bình sinh trên những đôi chân có tuổi đời cộng lại cũng đã hơn ba thế kỷ. Tôi cầm lái. Về phía bắc. Tất cả những chuyện này sẽ kết thúc ở đâu, tôi không biết.

HẾT

* * *

Được rồi, thưa Độc giả, các bạn xứng đáng được đọc đoạn kết nếu vẫn còn theo tôi đến lúc này. Khổ nạn của tôi đã hạ màn ở căn nhà có phòng cho thuê sạch không tì vết ở Edinburgh này, do một góa phụ đoan trang từ Đảo Man trông nom. Sau vụ ẩu đả ở quán Hanged Greyhound, bốn con chuột mù chúng tôi lái xe đến Glasgow, ở đó Ernie biết một tay cớm biến chất có thể giải quyết chiếc xe của Hotchkiss. Tại đây chúng tôi đường ai nấy đi. Ernie, Veronica và ông Meeks tiễn tôi ở nhà ga. Ernie hứa sẽ nhận hết tội nếu bị pháp luật sờ gáy, vì ông ta đã quá già rồi cũng chẳng ai bắt ra tòa nổi, thật là một ông già biết điều. Ông ta và Veronica sẽ đến một nơi trên quần đảo Hebrides, ở đó ông ta có người em họ làm nghề thợ thủ công kiêm giảng đạo đang trông nom những mảnh đất bị mất giá cho mafia Nga và những người Đức nhiệt thành nói giọng Gaelic. Tôi cầu nguyện cho họ được mạnh khỏe. Ông Meeks định là sẽ được ký gửi ở một thư viện công cộng kèm theo tấm biển “Làm Ơn Chăm Nom Giúp Con Gấu Này”, nhưng tôi nghĩ Ernie và Veronica sẽ đưa ông ta theo. Sau khi đến nhà trọ Widow Manx, tôi ngủ li bì dưới lớp chăn chần lông ngỗng, ngon lành như Vua Arthur trên Đảo Blessed. Tại sao tôi không lên chuyến tàu đầu tiên về phía nam đến London, ở đó và vào lúc đó? Tôi vẫn chưa rõ. Có lẽ tôi đã nhớ lại lời nói của Denholme về cuộc đời ở bên kia cao tốc M25. Tôi sẽ không bao giờ biết anh ấy đóng vai trò gì trong việc giam tôi vào viện dưỡng lão, nhưng anh ấy đã đúng – London làm tối bản đồ như một khối u ở ruột của nước Anh vậy. Ở trên này có hẳn một vùng đồng quê.

Tôi tìm số nhà bà Latham ở thư viện. Cuộc đoàn tụ qua điện thoại của chúng tôi thật là cảm động. Tất nhiên, bà Latham che giấu cảm xúc bằng cách rủa xả tôi, trước khi kể cho tôi nghe những gì xảy ra trong các tuần tôi vắng mặt. Cơn bão Hoggins đã xé toang văn phòng của tôi khi tôi không có mặt ở buổi tùng xẻo lúc ba giờ chiều, nhưng nhiều năm sống theo chính sách “bên miệng hố vỡ nợ” đã giúp ích cho tôi. Bà ta đã ghi hình được cảnh phá hoại trên một máy quay của đứa cháu trai. Nhờ đó bọn Hoggins bị nắm thóp: bà Latham cảnh báo chúng, hãy tránh xa Timothy Cavendish, nếu không đoạn phim này sẽ được tung lên mạng và những án treo của chúng mày sẽ biến thành án tù. Vì vậy chúng đã bị thuyết phục phải chấp thuận một đề nghị hợp tình hợp lý về việc chia tiền nhuận bút trong tương lai. (Tôi nghĩ chúng cũng phải thầm ngưỡng mộ thần kinh thép của bà quản gia tôi.) Ban quản lý tòa nhà dùng sự biến mất của tôi – và tình trạng thảm hại của căn hộ tôi – làm cái cớ để đuổi chúng tôi đi. Ngay khi tôi viết những dòng này, căn nhà cũ của tôi đang bị biến thành tiệm Hard Rock Cafe cho những người Mỹ nhớ nhà. Nhà xuất bản Cavendish đang được điều hành từ một căn nhà thuộc sở hữu của cháu trai cả của bà thư ký, cậu ta đang định cư ở Tangiers. Bây giờ đến tin tốt nhất đây: một xưởng phim Hollywood đã đề nghị mua tác quyền Đấm Vỡ Mồm – với một con số lớn đến vô lý tương đương con số trên mã vạch vậy. Phần lớn tiền sẽ vào tay nhà Hoggins, nhưng lần đầu tiên kể từ năm hai mươi hai tuổi, tôi được dư dả tiền nong.

Bà Latham đã giải quyết xong các thẻ ngân hàng của tôi, vân vân, còn tôi đang thiết kế tương lai mình trên những quầy bia, như Churchill và Stalin ở Yalta vậy, và tôi phải nói rằng tương lai cũng không đến nỗi quá ảm đạm. Tôi sẽ tìm một người viết thuê đói kém để biến những ghi chép mà các bạn đang đọc đây thành một kịch bản phim của riêng tôi. Nói gì đi nữa, nếu Dermot “Duster” Hoggins có thể viết một quyển sách bán chạy được dựng thành phim, thì thế quái nào mà Timothy “Lazarus” Cavendish lại không thể cơ chứ? Cho Y tá Noakes vào sách, đặt vào ghế bị cáo rồi bán đấu giá. Mụ đàn bà này rất thực tâm – những kẻ sâu bọ hầu hết đều thực tâm – nhưng không vì thế mà ít nguy hiểm đi, và mụ ta sẽ bị nêu tên, bị bêu xấu. Vụ việc nhỏ nhặt mượn xe của Johns Hotchkiss cần được xử lý tinh tế, nhưng những con cá ngốc hơn đã lên chảo cả rồi. Bà Latham liên lạc với Hilary V. Hush qua email để bày tỏ mối quan tâm của chúng tôi dành cho Những chu kỳ bán rã, và nhân viên bưu tá vừa giao phần hai đến cách đây chưa đầy một tiếng. Một tấm hình được đính kèm, hóa ra “V” là viết tắt của “Vincent”! Thật là một thân hình đồ sộ! Tôi không phải là Chippendale, nhưng Hilary có chu vi chiếm hết không phải hai mà là ba ghế ngồi máy bay khoang phổ thông. Tôi sẽ biết liệu Luisa Rey có còn sống hay không trong một góc của Whistling Thistle, văn phòng tạm thời của tôi, vốn là một quán rượu tàn trong con hẻm nhỏ nơi Mary, Nữ vương xứ Scotland, triệu tập kẻ ác để thực hiện mưu đồ. Chủ quán - ly đúp do ông ta pha sẽ được xem là ly gấp bốn nếu tính theo kiểu quản lý ở London - thề là ông ta thấy Nữ hoàng bạc mệnh, thường xuyên. In vino veritas[63].

Câu chuyện đại khái là như thế. Tuổi trung niên đã trôi đi, nhưng chính thái độ, chứ không phải tuổi tác, mới kết án một con người nhập vào hàng ngũ những Kẻ Sắp Chết, nếu không thì đã đem đến sự cứu rỗi. Trong địa hạt của người trẻ tuổi vẫn chất chứa nhiều linh hồn Sắp Chết. Họ vội vã sống, sự thối rữa bị che giấu trong vài thập kỷ, chỉ vậy thôi. Bên ngoài, những bông tuyết dày đang rơi trên mái nhà và tường đá hoa cương. Như Solzhenitsyn lao động ở New York, tôi sẽ hoạt động hết công suất trong lúc tị nạn, tránh xa thành phố nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Như Solzhenitsyn, tôi sẽ trở lại, vào một buổi hoàng hôn bừng sáng.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 122 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Thành viên đang xem chuyên mục này: WilliamoiVeike và 100 khách


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Hiện đại] Hôn nhân giá ngàn vàng - Cẩm Tố Lưu Niên (HOÀN)

1 ... 183, 184, 185

[Cổ đại] Yêu nghiệt khuynh thành Minh vương độc sủng - Thụy Tiếu Trụ

1 ... 47, 48, 49

3 • [Hiện đại - Quân nhân] Hợp đồng quân hôn - Yên Mang

1 ... 126, 127, 128

4 • [Cổ đại - Huyền huyễn] Sư phụ Ma Quân đồ đệ Thượng Thần - Tô Nhị Khuyết

1 ... 26, 27, 28

5 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 155, 156, 157

[Hiện đại] Bà xã anh chỉ thương em - Nam Quan Yêu Yêu

1 ... 145, 146, 147

[Hiện đại] Hoa hồng nhỏ của anh - Song Du

1 ... 17, 18, 19

[Xuyên không] Chuyên tâm độc sủng mùa xuân của hạ đường thê - Vũ Sơ Tình

1 ... 35, 36, 37

9 • [Xuyên không - Dị giới] Phế sài muốn nghịch thiên Ma Đế cuồng phi - Tiêu Thất Gia - New C957

1 ... 136, 137, 138

10 • [Xuyên không - Huyễn huyễn] Ma phi khuynh thế độc sủng nàng - Dạ Ngữ Phàm

1 ... 37, 38, 39

11 • [Hiện đại] Anh nghĩ anh sẽ không thích em - Nam Quan Yêu Yêu

1 ... 40, 41, 42

12 • [Hiện đại] Nhốt yêu - Sắc

1 ... 13, 14, 15

13 • [Xuyên không Dị giới] Phượng nghịch thiên hạ - Lộ Phi (Phần 1)

1 ... 176, 177, 178

14 • [Hiện đại] Eo thon nhỏ - Khương Chi Ngư [NEW C71]

1 ... 27, 28, 29

15 • [Hiện đại] Làm thế nào để ngừng nhớ anh - Mộng Tiêu Nhị

1 ... 20, 21, 22

[Cổ đại - Trùng sinh] Trọng sinh cao môn đích nữ - Tần Giản

1 ... 137, 138, 139

17 • [Hiện đại - Võng du] Cô dâu Hoa Yêu - Mặc Thanh Thành

1 ... 24, 25, 26

18 • [Xuyên không Dị giới] Phượng nghịch thiên hạ - Lộ Phi (Phần 2)

1 ... 186, 187, 188

19 • [Cổ đại] Kiêu Tế - Quả Mộc Tử

1 ... 52, 53, 54

20 • [Xuyên không] Cuộc sống nông thôn nhàn rỗi - Kẹo Vitamin C

1 ... 108, 109, 110



TranGemy: Hôm nay của bạn thế nào, How are you today?
LogOut Bomb: heocon13 -> dienvi2011
Công Tử Tuyết: Re: [Trắc nghiệm] Bạn có tò mò nhân cách thứ hai nào đang trú ẩn trong mình?
Shop - Đấu giá: salemsmall vừa đặt giá 273 điểm để mua Phù thủy mặt trăng
LogOut Bomb: thuyvu115257 -> y229917
Gwendolynn: ồ, cảm ơn mn
heocon13: rank đó dừng đăng thì vẫn còn nguyên thôi, chỉ là nếu đăng tiếp thêm đến một số lượng post nhất định thì sẽ được chuyển sang rank khác
Shop - Đấu giá: Tử Tranh vừa đặt giá 360 điểm để mua Cặp đôi cherry
Gwendolynn: 1 ngày post bao nhiêu bài mới giữ đc rank vậy b?
Công Tử Tuyết: không nhé
Gwendolynn: ai cho mình hỏi với, cái rank thành viên năng nổ hay thành viên nổi bật ấy có phải rank mãi mãi ko? Dừng đăng bài có bị mất không nhỉ?
Shop - Đấu giá: Thải Nhi vừa đặt giá 251 điểm để mua Korean Prince
TranGemy: [Hiện đại] Quấn hôn: Tổng giám đốc thô bạo của tôi - Nam Mịch chương 261, truyện cập nhật chương mới 4 - 7 chương/tuần.
Shop - Đấu giá: Leslie Juan vừa đặt giá 300 điểm để mua Bánh kem gấu con
Shop - Đấu giá: Gwendolynn vừa đặt giá 925 điểm để mua Bông tai đá Topaz xanh London
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 535 điểm để mua Chuột Minnie 2
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 248 điểm để mua Bé Mascot hồng
Shop - Đấu giá: hoa hồng vừa đặt giá 248 điểm để mua Vịt Daisy
Shop - Đấu giá: Xám vừa đặt giá 250 điểm để mua Hổ ném bom
Shop - Đấu giá: sun520 vừa đặt giá 508 điểm để mua Chuột Minnie 2
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 880 điểm để mua Bông tai đá Topaz xanh London
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 482 điểm để mua Chuột Minnie 2
Shop - Đấu giá: Đào Sindy vừa đặt giá 837 điểm để mua Bông tai đá Topaz xanh London
Shop - Đấu giá: TranGemy vừa đặt giá 796 điểm để mua Bông tai đá Topaz xanh London
mymy0191: g9 cả nhà.:D
Xích Liên Nhi: alo
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 757 điểm để mua Bông tai đá Topaz xanh London
Công Tử Tuyết: Re: [Trắc nghiệm] Bạn có tò mò nhân cách thứ hai nào đang trú ẩn trong mình?
Shop - Đấu giá: Vidia vừa đặt giá 248 điểm để mua Bộ đồ Bikini sọc tím
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 720 điểm để mua Bông tai đá Topaz xanh London

DiendanLeQuyDon | ddLQD | Phong thu am | studio | YeuCaHat
Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.