Diễn đàn Lê Quý Đôn


Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 116 bài ] 

Giống rồng - Nguyễn Khai Quốc

 
Có bài mới 17.08.2018, 22:11
Hình đại diện của thành viên
Thành viên cấp 4
Thành viên cấp 4
 
Ngày tham gia: 27.04.2017, 12:26
Tuổi: 27 Nam
Bài viết: 126
Được thanks: 271 lần
Điểm: 10.44
Có bài mới Re: [Sáng tác - Sử ca] Giống rồng - Nguyễn Khai Quốc - Điểm: 11
Giống Rồng

Tác giả: Nguyễn Khai Quốc


Hồi thứ hai mươi mốt

Họ Phạm xuôi dòng Đáy giết tham quan

Tồn Thành bỏ Ái về Hoan dựng trại

Chương 21.3 Nước khuấy đục cá béo, đốn tre tre nằm thẳng


Trung Trực hỏi người bác đáng kính của mình tại sao mà khóc, lão vội lau dòng nước mắt của một lão ông đã ở gần cái tuổi “cổ lai hy”. Lão nhìn từ cổng chùa xuôi nam là đất đồng bằng bao la rộng mở, thấy cây lá tốt tươi mà mặt rạng rỡ trở lại mà nói với Trung Trực:

- Cháu ta chưa hiểu hết câu chuyện ngày hôm nay đâu. Rồi sẽ có ngày cháu sẽ được biết, việc trước mặt bây giờ là chúng ta phải đi nhậm chức quan, giúp đỡ dân chúng huyện Vũ Bình ấy ổn định mới mong thế cục thay đổi được.

Trung Trực nhăn nhó, cổ nghển lên nhìn như chiếc đầu rùa thò ra khỏi chiếc mai thô ráp. Anh chàng tay đảo chiếc gậy đặt cạnh cửa chùa như dụng cụ quen thuộc của người làm bếp rồi cùng nhìn theo người bác gật gù:

- Phải đó bác. Mà hai mảnh vải này xử lý thế nào?

- Đốt đi!

Trung Trực nghe lời bác đốt đi thì trời đổ cơn mưa rào bất chợt giữa tiết trời mới sang xuân. Còn một góc mảnh vải chưa cháy hết hiện lên chữ “Dương”, Trung Trực lấy làm lạ hỏi:

- Bác ơi. Có chữ này ạ. Chẳng phải là khi nãy bác cháu ta không có nhìn thấy chữ này.
Một góc mảnh vải khác lại hiện lên hai chữ “hưng bá”. Trung Trực vội lấy lại hai mảnh ghép vào nhau mà đọc to rõ ràng “Dương hưng bá”.

“Vậy là chẳng phải có ý họ Dương này sẽ kiến quốc lập nghiệp lớn ở cái đất An Nam này sao? Đó không lẽ là lý do mà bác lại khóc?” – Trung Trực tự hỏi rồi gạt phăng cái suy nghĩ đó đi gọi người bác.

- Đi thôi bác. Chỉ là cơn mưa trái mùa thoảng qua, không khiến đường đi ướt nhão đâu bác. Về thôi kẻo chẳng kịp nhậm chức quan, lại còn bị trách phạt nữa.

“Chỉ là cơn mưa trái mùa thoảng qua…” – Lão Trực Hiến nghĩ rồi nói lại với người cháu:

- Đi thôi. Đường trơn đường nhão là do mưa xuân dầm dề thấm đất, chứ trận mưa này đáng gì để làm ướt nhão đường đi. Cháu nói phải, về Tống Bình thôi!

Hai người suốt dọc đường đi nghe tiếng dân ca từ cánh đồng cất lên mà trong lòng hứng khởi:

“Bụng no hãy nhớ khi nghèo

Giàu sang chớ lãng đói meo bần hàn

Hoa khoe sắc thắm rồi tàn

Giáo gươm sắc nhọn xếp hàng bỏ không

Lúa xanh mơn mởn ngoài đồng

Cò bay phấp phới mênh mông đất trời

Thanh bình khắp chốn muôn nơi

Mong xuân xuân mãi cho đời tốt tươi”

Rỏng tai nghe lão cười mà ngâm thêm khúc tâm tình:

“Lá đa lướt khẽ buông lời

‘Búp măng mọc thẳng sống đời thẳng ngay

Gió mưa đã bấy tháng ngày

Tre cao trăm đốt lưng này cong cong.

Nước nào là nước chẳng trong

Trong không có cá đành lòng tát đi

Vừa xong bão tố khổ bi

Sông màu đỏ rực cá thì đầy khoang’

Tre ngà nghiêng ngả nói vang

‘Thân trên mặt đất hiên ngang thẳng mình’.”

Chúng dân nhìn nghe thấy khúc ngâm của lão Trực Hiến mà ngừng tay cấy tay cầy trông lên bờ ruộng có một ông lão tóc trắng hoa râm, mặt mày rạng rỡ, thẳng lưng dẫu có cưỡi chú ngựa thấp bé nhưng vẫn toát lên khí phách của bậc phụ mẫu. Lão xuống ngựa thong thả chào từng từng người dân.

Từ bãi có triền đê sông Thiên Đức, có một cậu nhóc thổi sao trên lưng trâu tụt xuống mặt đất mà gọi lão:

- Thưa thầy! Con là cậu nhóc vừa thổi sáo ngâm thơ cho thầy.

Lão kéo cậu bé vào lòng rồi nói giọng ân cần:

- Giỏi lắm cháu bé! Cháu là con cái nhà ai? Ông chưa từng gặp cháu cớ sao lại gọi ta là thầy? Mà ta cũng chưa từng dậy học.

Đứa bé mắt liếc nhìn mọi người, ánh mắt liêng láo rồi thì thào với ông lão:

- Ông ơi. Ông cho cháu theo ông với.

Trung Trực vỗ mông cậu bé rồi quay ra nói oang oang trước toàn thể dân làng:

- Này nhóc. Con cái nhà ai đây? Nó đòi đi cùng chúng tôi này.

Mọi người không ai dám quay ra nhận cậu bé. Trung Trực quay ra hỏi mọi người một lần nữa mọi người vẫn lặng im lúc anh chàng hỏi câu đầu tiên. Cậu bé quay ra nói với chàng:

- Chú cổ rùa ơi. Người chú lùn mà cổ chú dài thế mà lại nói to nữa. Chú không sợ lão địa chủ bắt phạt ạ.

Trung Trực vênh mặt lên:

- Lão địa chủ nào? Ở đây toàn là…

- Lão địa chủ này là ta đây. – Giọng một người đi từ phía bên kia triền đê nói vọng sang.

Dần hiện lên một tên ria mép xoăn cuộn tít vào nhau như con sâu róm trên miệng. Hắn cười nhe hàm răng cái trắng cái đen của hắn nghễnh ngãng chống chiếc gậy ba toong chạm trổ hình chó sói không ra chó sói, cáo không ra cáo, hổ không ra hổ. Đi cùng là hai tên chắc là nô gia nhà hắn, thằng cầm gậy, thằng cầm dao lăm lăm nhìn về phía đứa trẻ.

Gã địa chủ lườm nguýt mọi người đang làm dưới đồng, chẳng một người nào dám ngước lên. Gã chỉ thẳng tay vào cậu bé:

- Thằng nhãi ranh! Tao bảo mày thả trâu phía bên kia triền đê, mày không thấy mọi người đang gặt lúa hay sao? Cả lũ bọn bay nữa, thóc thiếu cân nào đừng có trách tao là ác.

Lão Trực Hiến chăm chú nhìn theo, Trung Trực có vẻ e dè tên địa chủ cùng hai tên lâu la của hắn cũng không dám ho he nói một lời. Tên địa chủ vểnh râu quay sang hỏi hai bác cháu:

- Cũng có ngựa cưỡi cơ à? Nhìn ra thì chắc không phải người huyện này, có việc gì mà làm nhốn nháo bọn chúng nó?

Lão Trực Hiến cúi chào tên địa chủ tôn trọng hắn, Trung Trực cũng chắp tay theo lễ ấy chào hỏi hắn. Lão nói:

- Chào quan gia. Chúng ta chỉ là cưỡi ngựa đi qua đây, thấy chúng dân hồ hởi hát ca mà dừng chân nghe. Không biết đây là ruộng đất của quan gia, có gì mạo phạm xin quan gia thứ cho.

Hai tên lâu la trừng mắt lăm le chiếc dao, cây gậy, phì nước bọt xuống dưới đất. Tên cầm dao quát tháo:

- Đây là đất của lão gia, đứa nào dám cưỡi ngựa qua, rầy xéo mùa màng của nhà quan sẽ bị xử tội, cho dù đó là kẻ nào.

Tên địa chủ lấy cây gậy ba toong đập vào đầu thằng dốt nát ấy vênh mặt lên nói:

- Thằng ngu! Chó cắn nể mặt chủ.

Hắn đổi giọng:

- Nghe cách nói chuyện của hai vị, chắc hẳn không phải là dân mọi rợ, áo quần chỉnh tề thế kia càng không phải bọn đầu đường xó chợ lang thang nay đây mai đó. Mời hai vị ghé thăm nhà coi như là Quảng tôi hiếu khách.

Trung Trực nói:

- Chúng tôi chỉ có việc đi qua, không dám phiền đến lão gia. Có gì cần dạy bảo xin các ngài cứ nói. Hai bác cháu chúng tôi không có làm gì sai cả, mọi người ở đây đều trông thấy.

Cậu bé láu lỉnh ngước mắt lên nhìn tên địa chủ phân nài:

- Ông ơi. Hai người đó là người tốt, từ triền đê cháu nhìn thấy họ xuống ngựa dắt qua bờ ruộng phía nam, không có dẫm lên lúa của ông đâu.

Thằng lâu la cầm gậy giương gậy lên chỉ trỏ, cái ba toong lại hất tung cái gậy lên, lão địa chủ cười khì khì:

- Ta tin lời cháu, cháu hãy dắt con trâu này sang triền đê bên kia. Cháu thấy họ là người tử tế phải không nào?

Trung Trực cau mày nói nhỏ vào tai người bác:

- Bọn chúng đang diễn kịch phải không bác?

Lão lắc đầu, không nói gì chỉ chăm chú nhìn theo cử chỉ và ánh mắt của cậu bé. Dường như có thứ gì đó không hay ho cho lắm từ trong sâu thẳm ánh mắt của cậu bé đó. Lão nhíu mày rồi thưa với tên địa chủ:

- Chẳng giấu gì quan gia. Thực sự chúng tôi đang có việc gấp ở Tống Bình. Nếu đã có duyên gặp gỡ, hai bác cháu ta sẽ ghé qua chỗ của quan gia.

Nói rồi gã địa chủ tên Quảng cười hề hề:

- Đã vậy xin tiễn hai bác cháu một đoạn.

Hai bác cháu cáo biệt gã địa chủ và những người dân dưới đồng. Không ai dám quay mặt ra mà chỉ dám chào hai người bằng cái liếc nhìn.

Gió thổi rì rào, lão Trực Hiến lên lưng ngựa đi được năm bước về hướng tây thì nghe tiếng lanh lảnh từ phía trên đê nói vọng xuống:

- Thầy ơi! Đừng đi về phía ấy!

Chưa dứt lời cậu bé bị một tên gầy nhom, mặt đen nhẽm bịt lấy miệng kéo đi. Hai tên lâu la của gã địa chủ lao tới cầm lấy cương ngựa mà giật, lão Trực Hiến ngã một cái điếng người xuống dưới đất. Trung Trực chẳng có chút võ vẽ nào đành bất lực chịu trói khi có hai tên nữa từ phía trên đê lao tới.

Trung Trực gào thét, cái cổ nghển ra khỏi sợi thừng nói:

- Mẹ cha cái lũ cường hào. Nhìn mặt đường hoàng tử tế mà có khác gì bọn chó cắn áo rách ngoài đường!

Lão Trực Hiến ôm lấy ngực, chạm vào từng thớ thịt đều đau nhức hết cả. Có vẻ cú ngã khiến lão thất thập đã mất đi đến năm phần sức lực còn lại của lão. Người dân phía dưới không nói năng gì, lại tiếp tục gặt lúa kéo chẳng kịp thời hạn cho lão địa chủ ấy.

Hai ngày đầu tiên, bọn chúng nhốt hai bác cháu ở phía sau gian chuồng lợn, mùi hôi thối, ruồi bọ không sao mà thở nổi. Lão Trực Hiến trở lên hom hem, nước da xạm đi, toàn thân nhức mỏi không tài nào gượng dậy nổi. Trung Trực trai tráng thanh niên cố gượng sức mà chăm người bác sau mỗi trận đòn roi.

Ở giữa chốn đồng quê bát ngát, ruộng lúa bao la ấy có một khu đất vườn rộng dễ đến cả chục mẫu. Hai bác cháu ở chuồng lợn phía đông, cạnh đó là chuồng bò cũng có vài người ăn mặc rách rưới, đầu tóc rũ rượi nằm mê mệt dưới đất, chốc chốc lại có con ve bò đậu lên mặt cũng mặc kệ cho nó châm nó hút. Trung Trực thấy thế cũng mon men lại hỏi mấy người đó.

Ây dà, thì ra mấy kẻ đó có đứa thì là người từ chỗ khác đến đi qua đây không có tiền nộp “lộ phí” khi đi qua đất của bọn chúng thì đều bị như vậy cả. Có mấy mụ đàn bà rảnh mông hay lê la trên đồng ruộng cũng bị lão địa chủ ấy bắt nhốt ở chuồng vịt cho tha hồ mà “kể lể” với đám hai chân ấy. Cũng có kẻ ở trong hương vay tiền lão không trả nổi tiền lãi mà lão tính bằng ngày, bằng canh giờ mà phải quần quật suốt cả mấy năm trời ở ruộng lúa của hắn.

Trung Trực tò mò hỏi một tên có vẻ như là gã này am tường nhất ở đây về chuyện sao suốt mấy trận chiến mà gia thế nhà hắn không có bị ảnh hưởng. Tên này ngậm lá trúc nói với Trung Trực:

- Ôi giồi! Quân lính chém giết thì cứ chém giết. Các quan trên cứ thay đổi liên tùng tục, nhưng cái phận dân nghèo ở dưới nào có đổi thay gì cơ chứ. Bọn này chúng nó có đất đai, của cải, theo hay không theo ai thì bọn nó lựa thế lựa thời, thiếu gì của nả đâu mà lo mấy cái việc ở tận đẩu tận đâu ấy. Bên nào đòi thuế, đòi sưu thì nó nộp, bên nào thiếu gạo đòi lúa thì chúng nó dâng. Mà miễn sưu, miễn thuế thì chúng nó hưởng. Dân ngu cù đèn như bọn tôi cứ quanh quẩn cái xó này thôi. Trâu ốm lăn ra chết nó bảo do không biết nuôi, bắt vạ hết mọi người. Bão lớn gió to thì nó vấy cho là bọn ngu dốt không biết dự liệu thời tiết. Thóc thì bọn địa chủ ấy thu của chúng tôi nào có thiếu một lạng, miễn giảm thế nào, chinh chiến ra sao nào có khác gì.

Trung Trực hiểu ra chuyện nói bàn với bác để lại một con ngựa coi như làm tin. Về tới Tống Bình, nói với Trương Tính xử tội bọn này. Trước tiên phải thoát ra được cái “ải ngục” này cái đã!

Định bụng vậy, hai bác cháu lúc chuẩn bị nhận đòn roi trận nữa mới thì thầm to nhỏ với thằng lâu la trong nhà. Trung Trực nói ngược xuôi phải trái với tên ấy, khi đầu tên ấy không nhận lời nhưng Trung Trực xuống nước nói hắn bán được một con ngựa đi sẽ chia phần cho hắn, còn lại một con ngựa để lại coi như làm tin.

Ngày sau tên ấy dắt ngựa của hai bác cháu đem đi bán. Lúc trở về tên ấy tráo trở nói rằng ngựa này chỉ đáng giá năm lạng bạc trong khi ấy ngoài chợ Tống Bình họ bán được giá đến cả lượng vàng. Hắn còn viện lý do rằng hắn phải đi mái tới thành Long Biên mới bán được mà ngựa lùn xấu cả buổi mới bán được. Được cái là hắn cũng tử tế mua thuốc sắc cho lão Trực Hiến uống cho chóng khỏi bệnh.

Trung Trực trong lòng tức giận lắm nhưng thôi dẫu sao cũng thoát được ra ngoài còn hơn. Tên này chối nhận bạc của lão Trực Hiến chắc hắn kiếm được một món kha khá rồi nên đẫy bụng ngại ngùng. Hắn bẩm chuyện lên lão địa chủ Quảng, Quảng đồng ý ngay lại còn cho người dặn dò viết lên mảnh vải rồi bắt hai người điểm chỉ:

“Hai bác cháu nhà Tô đi qua đất của Quảng, nợ phí hai lượng. Để ngựa ăn lúa phạt bốn lượng, chống đối người thi hành án phạt tội này ba lượng bạc. Tổng là chín lượng bạc. Tiền ăn nghỉ tại trang ba ngày cả thảy là một lượng bạc. Tính tròn nợ mười lượng bạc. Hai bác cháu đã nhận tội trước Quảng cùng bọn gia nhân. Ngày hăm sáu tháng ba sẽ trả lại số bạc, sau ngày ấy không trả thì ngựa để lại làm tin sẽ là ngựa của Quảng…”

Bóng tối bao trùm miền quê tưởng như hết đỗi thanh bình ấy nhưng ẩn sâu trong lớp ngoài bình lặng kia là phía bên trong là dữ dội những uất ức, hờn khổ. Hai bác cháu lọm khọm men theo lối bờ ruộng tới được bến đò sông Cái, bên kia là triền đê hữu ngạn có rặng tre ngà đong đưa kẽo kẹt.

Có quan binh! Hai bác cháu ẩn nấp vào một bụi hoa râm bụt nhìn ra bãi sông nghe ngóng tình hình rồi mới quay ra. Hai tên lái đò đáp lời khi nghe bọn lính hỏi tìm hai người một ông lão, một người thanh niên cổ dài, thân ngắn:

- Suốt mấy ngày nay, dân tình có qua lại con nước khá nhiều mà người già cũng nhiều, người trẻ thấp lùn cũng chẳng ít. Dân ta quanh năm suốt tháng kéo cày, gặt lúa quần quật, có ai mà không lùn, không cổ dài đâu. Các vị hỏi khó cho bọn tôi quá.

Một tên lính xuống ngựa hỏi:

- Là hai người như trong bức tranh này. Các ngươi thử nhớ lại xem.

Tên lái đò còn lại nhìn chăm chú, mắt lúc nào cũng xếch ngược lên chăm chú quan sát hai bức tranh.

“À,…” hắn nhớ ra điều gì đó nhưng không chắc chắn cho lắm. Hắn tiếp tục nhìn thêm lúc nữa mới lại nói:

- Có nhớ. Tôi có nhớ ra rồi. Có hai người đi một ngựa lùn, một ngựa cao. Mấy hôm trước đi từ hữu ngạn qua đây. Mà các vị hỏi là ngày hôm nay hay hôm nào?

- Tất nhiên là hôm nay rồi, có thấy hai người đó quay trở lại đây không?

Hai người lái đò lắc đầu, mặt đầy sự ưu lo xem đám quan binh có tra xét gì thêm nữa không? Đám quan binh chỉ dừng lại dặn dò nếu có gặp hai người đó thì lập tức báo tin cho hương trưởng gần nhất để được nhận thưởng.

Hai bác cháu có dự cảm chẳng lành bàn với nhau rằng, có lẽ tên địa chủ kia vốn là hương trưởng ở hương này, vừa mới bước chân đi, hắn lại nghĩ ra trò gì nữa để ép buộc hai người. Hay lão Trực Hiến nói ở Tống Bình làm lộ ra điều gì đó khiến hắn sợ hãi muốn trừ khử hai bác cháu? Cũng có nhiều khả năng ấy, hoặc cũng có thể hắn đang muốn dò hỏi xem hai người có thực sự về Tống Bình hay không để còn lo liệu “xử lý” hai bác cháu. Lòng người khó đoán, hai bác cháu nhất trí đi về phía nam để tìm bến đò gần Dạ Trạch rồi vòng qua đất Long Đầm để trở về Tống Bình tránh khỏi tai mắt thị phi.

Mà đường ấy đi qua thành Long Biên, chẳng hay gặp người tốt kẻ xấu rèm pha cũng không xong? Lão Trực Hiến người nhức mỏi đi phải có người kè kè ở bên, không thể để Trung Trực một mình vào thành Long Biên tìm người quen trú nhờ được. Lão cũng nghĩ ra chỉ còn được có vậy nên hai bác cháu dong bộ suốt hai chục dặm đường tới bãi đất kỳ lạ ở phía nam thành Long Biên. Ở đây đất có màu trắng sét, keo kết suốt hơn mấy dặm bờ sông Cái. Thấy làm lạ hai bác cháu dừng lại vừa là để dò xét thứ đất kỳ lạ ấy, vừa là để nghe ngóng tình hình cũng như nghỉ ngơi sau chặng đường dài.

Từ đằng xa phía đông bắc bãi đất trắng, có tiếng láu nháu của đám binh lính và một đứa trẻ vọng lại.

- Này cậu nhóc, nói cho ta biết, hai người đó đã đi đến đâu rồi? Nói thì ta tha tội, không nói ta sẽ trách phạt.

- Hai người đó thực sự cháu không biết họ đã đi về phía nào. Có gì mong các ông tha cho. Cháu không muốn quay lại trang của lão Quảng ấy đâu. Cháu xin các ông tha cho!...



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
2 thành viên đã gởi lời cảm ơn Nguyễn Khai Quốc về bài viết trên: Dịch Tử Hiên, Nminhngoc1012
     

Có bài mới 26.08.2018, 22:16
Hình đại diện của thành viên
Thành viên cấp 4
Thành viên cấp 4
 
Ngày tham gia: 27.04.2017, 12:26
Tuổi: 27 Nam
Bài viết: 126
Được thanks: 271 lần
Điểm: 10.44
Có bài mới Re: [Sáng tác - Sử ca] Giống rồng - Nguyễn Khai Quốc - Điểm: 11
Giống Rồng

Tác giả: Nguyễn Khai Quốc


Hồi thứ hai mươi mốt

Họ Phạm xuôi dòng Đáy giết tham quan

Tồn Thành bỏ Ái về Hoan dựng trại

Chương 21.4 Phán án Phạm Đan hành sự


Tiếng van nài của cậu bé vọng lại khiến lão Trực Hiến và Trung Trực không khỏi giật mình. Một giọng nói vừa xa lạ lại vừa như mới đây đã từng nghe. Chắc có lẽ là cậu bé mới ngày hôm trước nhận lão Trực Hiến là thầy ở bên bờ sông Thiên Đức. Hai bác cháu nghĩ bụng vậy chứ cũng chẳng dám thốt lên lời nào.

Chỉ khi đứa bé giãy giụa, gào thét van xin thì lão Trực Hiến mới thúc giục người cháu ra xin tội cho cậu bé. Cái mạng già này nào còn có đáng kể gì nữa, cùng với chí khí của người Long Đỗ sao mà có thể cứ để mặc kệ cho những tên quan binh kia làm bừa bắt nạt kẻ thường dân.

Lão họ khụ khụ tiến lại gần, ánh đuốc lập lòe, hiện lên là khuôn mặt đầy vết đòn roi của cậu bé. Áo sống chẳng có, đầu tóc rũ rượi, cậu bé hổn hển thở từng nhịp trơ hết giàn xương sườn, xương bả vai như những chiếc que đời lắp ghép với nhau bằng lớp da nhăn nhúm. Đám quan binh nhí nháu rồi kẻ hỏi người đáp, cũng nào có ai biết mặt mũi hai bác cháu lão Tô Trực Hiến ra sao.

Rà hỏi suốt hơn nửa canh giờ, bọn quan binh mới chịu nhận đó là hai người họ cần tìm. Hơn nữa chẳng phải bọn chúng đi truy lùng phạm nhân mà là nghe lệnh vị Tân Liễu tá ở phủ Tống Bình đi tìm hai người về.

Thật may cho hai người, nhưng cũng chẳng vui lên được. Trong lồng ngực lão Trực Hiến mỗi ngày một nhức nhối hơn, dường như cú ngã ngựa hôm trước khiến lão khó có thể mà qua khỏi. Lão ngất lịm vì lả vì đói, vì những cơn đau nhức trong người và vì cả những con người xung quanh ông nữa.

Nước mắt lão trào ngược, đoàn ngựa tức tốc vượt sông trở về Tống Bình. Đêm khuya canh ba, trận rét cuối mùa khiến con người thấy run người. Lão Trực Hiến vừa qua cơn nguy kịch, một chậu máu đen trích ra từ dưới sườn phải khiến lão chìm sâu vào cơn mê sảng. Không biết rồi đây ông trời có còn trao cho ông thêm chút cơ hội nào ở lại nơi dương gian này nữa hay không?

Sáng ngày ra, lão mấp máy mắt, tay quờ quạng nắm chặt lấy Trung Trực mà dặn dò:

- Cháu của ta. Suốt một đời này ta chỉ có lão Tô Hiền cùng các cháu luôn luôn ở cạnh ta. Số phận ta hiu hắt, vợ con chẳng có một người. Nay số ta đã tận, đất Nam ta hãy còn khổ ải, chưa thể thoát ngay được cảnh tham tàn, chèn ép. Các cháu được ra làm quan hãy nhớ cho kỹ “dân còn loạn xã tắc chưa yên”. Chỉ mong sau họ Dương sẽ là một người có đủ tâm đức như họ Đỗ kia mới mong đất nam này được an nhiên. Chức huyện lệnh Vũ Bình, cháu hãy xin với Dương tướng chủ cậy một kẻ có đức độ mới mong dân xứ ấy yên được.

Dứt lời, Trương Tính dắt cậu bé kia vào chào lão Trực Hiến. Lão lại níu lấy cánh tay Trương Tính mà dặn:

- Cháu và Tình Xuân cũng mới ngỏ tình ý. Tô Thị và lão Tô Hiền đã qua bên kia cũng gần được hai năm rồi. Dân Nam ta vốn chẳng có tục kiêng kỵ tang chay mà theo tục của người Bắc nên mới có việc đại tang ba năm. Cháu cứ lựa lễ pháp và tình cảm mà làm, đừng quá khắt khe với bản thân mình. Còn cậu bé này, dẫu còn nhỏ tuổi nhưng cũng biết lẽ phải trái, được dạy dỗ ắt sẽ thành người hay. Nếu cháu không chê thì nhận thằng nhỏ làm con nuôi. Cho thằng nhỏ một cái tên để sau này dưới suối vàng ta sẽ luôn dõi theo.

Cậu bé nước mắt ngắn dài rưng rức từng cơn ôm lấy ông lão:

- Thầy ơi. Chắc thầy không nhớ, cháu chính là cậu bé năm trước lấy trộm củ khoai của bà lão ở góc chợ. Cháu trốn bà ấy len lén ngồi vào tiệm của ông nghe ông đọc sách cùng đám trẻ con. Bà ta hỏi ông có thấy một tên oắt con trộm khoai vào đây không, ông còn nói với bà ta là chỗ của ông đọc sách không có chỗ cho kẻ lưu manh. Thế cháu mới thoát được khỏi bà ta đấy ông.

Lão nhoen miệng cười:

- Phải, ta nhớ. Chỉ là bọn trẻ con tới cái thành Tống Bình này cũng nhiều đứa trẻ như con, lang thang, cơ nhỡ, chẳng thân chẳng thích. Ta cũng không ít lần làm như vậy với những đứa trẻ khác. Nay ta thấy chỉ có con mới gọi ta là thầy, mà tấm lòng trong sáng của con khiến ta nhớ lại tuổi trẻ ta và Tô Hiền cũng vậy. Thấm thoắt cũng đã hết cả một đời người rồi. Vậy, ta tặng con một cái tên. Khành Tông.

Sấm rền ba hồi, gió thổi rin rít qua khe cửa sổ, mưa xối xả hắt xuống. Giờ dần ba khắc, lão nhắm mắt mãi mãi không còn nghe tiếng nỉ non chốn bụi trần. Lão sẽ chẳng còn được nhâm nhi tách trà ngẫm chuyện nhân gian, kể chuyện đọc thơ cho lũ trẻ đầu đường xó chợ nữa…

Hết cả rồi sao? Cuộc đời con người ta trôi qua nhanh như một cơn gió thoảng vậy sao? Chẳng phải vẫn đầy lúc dữ dội, bão tố đấy thôi, sao lại chỉ như cơn gió thoảng. Lúc lão ra đi vẫn còn cận kề với những đòn roi giáo mác. Ôi kể sao cho hết những đắng cay, ngọt nhạt của cuộc đời lão. Lão đi trong thanh thản, lão ơi!

Vậy là cậu bé kia cũng đã có một cái tên, cũng có một danh xưng để gọi. Người đã ra đi, còn lại cái tên cho hậu thế về sau và nhiều hơn như thế nữa.

Tang trắng phủ kín căn nhà nhỏ ở phía Tây Nam La Thành. Tiếng ngựa hý vang, từng đoàn người xếp hàng thắp nén nhang tiễn người ông, người bác, người thầy đáng kính. Chẳng phải những đoàn kiệu rước xa hoa, cũng chẳng phải là những bạc vàng châu báu. Chất đầy cánh cửa gian nhà nhỏ ở một góc khiêm tốn ấy là những thẻ tre, những cuốn sách cũ mới được xếp ngay ngắn gọn gàng. Không có chỗ cho những kẻ xô bồ, dẫu hàng dài xếp hàng thăm viếng nhưng ai nấy đều cảm thấy bình tâm, chẳng có chút cáu giận, chen lấn xô đẩy.

Ông lão chống gậy hom hem cầm bàn cờ trước cửa, bà lão bán xôi, bán trầu bên cạnh gian nhỏ nhà ông, chú gánh hàng rong bán tò he, bánh đúc, rồi cô hàng cháo, thím bán hành… Những đứa trẻ tinh ranh nơi đầu đường xó chợ, tất cả đều lặng lẽ đứng nhìn vào phía bên trong một cách đầy tôn kính và nghiêm trang.

Lăn trên má những người dân chợ búa thường ngày ấy là giọt thương cảm xót xa. Tống Bình xưa nay loạn lạc chỉ có gian nhà của lão và góc chợ này là chẳng hề hấn gì sau những trận can qua. Không quá nhiều nhang khói, chỉ một tấm bài vị mà viên quân sư họ Đỗ tận tay chu đáo từng nét, hai bức trướng và hai cây phủ phất. Đơn giản thôi nhưng ngoài cánh cửa là đầy ắp những tình cảm chứa chan.

Không ai khóc lớn xé da xe thịt, chỉ có những ánh mắt đỏ hau, những giọt nước mắt khẽ lăn trên má ẩn giấu vào bên trong tâm can của mỗi người dân nơi góc phố nhỏ ấy. Đám trẻ con lần lượt viết lên cột cửa nhà một chữ. Chẳng bấy lâu sắp thành một bài thơ:

“Chiều chiều góc phố phía tây nam

Ngay ngắn trẻ con đứng xếp hàng

Chăm chú tai nghe chuyện đất nước

Miệng cười rôm rả cợt tham gian

Ngày ngày ngóng ngóng một ông lão

Sáng sớm tinh mơ ghế với bàn

Thần tích truyện xưa thuở dựng nước

Bao gương nằm xuống giữ bình an”

Người buồn níu cảnh không vui, ai đi qua góc phố nhà lão thấy nhiều người xếp hàng thăm viếng lão đều xuống ngựa hỏi dò. Có kẻ áo mũ tinh tươm hỏi dăm ba câu rồi biến, có kẻ cảm thương thì cúi đầu bái lão từ đằng xa.

Một chiếc xe ngựa đi qua, mình trần quần rộng, tóc vấn cao khôi ngô, râu rậm da dám cho ngựa dừng lại trước gian nhà. Anh chàng đứng lại nheo mắt trông vào phía trong. Dường như có thứ linh cảm nào đó níu chân anh lại chẳng để cho anh đi.

Anh hỏi ra thì biết được đây là nhà của lão Trực Hiến, anh trai của lão Tô Hiền, người mà đã từng cứu mạng anh chàng Liêu Đức Thinh ngày trước. Lão chết ấm ức trước ngày đi nhậm chức huyện lệnh Vũ Bình. Tiếc thay cho một tấm lòng cao cả, yêu trẻ thơ, yêu người già, thương những kẻ tha hương.

Chẳng lễ vật nhang đèn, chàng vội vào lục trong xe ngựa một mảnh vải choàng lên người. Vốn quen tự tại cái thuở còn lênh đênh trên sông nên chẳng hàng lối, anh bước vào bên trong gian nhà nhỏ. Thắp nén nhang, anh kéo họ Trương ra một góc rồi nói:

- Là huyện lệnh ở Giao Châu mà sơ sài đơn giản thế thôi sao? Mà nhà anh còn là một Liễu tá trong phủ. Trông mà xót xa quá!

Trương Tính thở dài:

- Bọn chúng tôi thiện lương ở đất này, ấm ức mà chẳng biết kêu ai. Giờ ra làm quan làm tướng, cũng chẳng có thế lực nào chống đỡ. Còn trông thấy xác là còn may.

Phạm Đan đập bàn đập ghế:

- Trên có quốc pháp, dưới có quan lệnh, chúng dân có thiện lương lễ giáo. Anh lại nói những lời như vậy. Là kẻ nào dám to gan? Giao Châu mới bình định, hà cớ nào lại có kẻ hà hiếp người có công?

Trương Tính thường ngày vẫn miệng ngon lưỡi ngọt với bất kể đó là ai. Phạm Đan cũng bị kéo vào câu chuyện của Tính. Tính thuật lại hết những gì đã xảy ra với lão Trực Hiến và Trung Trực, con trai của lão Tô Hiền. Đan mím môi, lấy dao cắt lấy sợi râu đặt lên bàn nói lời thẳng:

- Để Đan tôi tìm Đỗ Sĩ Giao hỏi cho ra lẽ.

Trương Tính cản:

- Ấy ấy! Anh đừng nông nổi! Chuyện này không có liên quan đến ngài ấy.

Có lẽ trời xanh sắp đặt thật khéo nhưng chẳng phải là chuyện gì hay ho cả. Tên hương trưởng hương Thụy Gia tên Quảng là kẻ được lòng rất nhiều đám quan chức ở phủ đô hộ cũ. Nay còn nhiều kẻ vẫn được họ Dương giữ lại để giúp sức họ Dương. Những kẻ này dẫu chẳng có công lao chém lấy một đầu người nào nhưng Sĩ Giao có khuyên họ Dương nên dùng, trước là để lấy được lòng đám hương hào địa chủ, huyện lệnh trước đây, sau là kế sách bền lâu để dùng vào việc dưỡng binh lâu dài.

Việc này nghĩ đi nghĩ lại Phạm Đan chưa thấu hết liền tới chỗ họ Liêu hỏi chuyện sắp xếp chức quan từ Giao Châu trở vào đến Phúc Lộc. Nghe Đức Thinh kể lại thì việc phân chia quyền tước, ruộng đất, chẳng phải Đỗ Sỹ Giao là người trực tiếp nắm quyền. Có một tên vô lại họ Tiêu, người huyện Long Biên là quan cũ ở phủ đô hộ ghi chép cùng với Dương Chí Trinh về việc ban chức tước.

Chí Trinh phần nhiều nghe theo sắp xếp của Sỹ Giao, ban cho những người đi theo nghĩa quân ruộng đất đề huề, chức tước kẻ thấp nhất cũng làm bổ đầu huyện nha, người cao nhất cũng thuộc phẩm cấp tứ phẩm triều đình. Gã họ Tiêu cũng giữ nguyên phần lớn chức tước của đám quan lại cũ. So với lần trước, nhiều kẻ đã yên bề trong sự kiểm soát của họ Dương hơn. Nhưng kỳ thực phía sau chính sách đó vẫn còn nhiều kẻ trong nghĩa quân không hề dễ chịu cho lắm.

Sau đó Sỹ Giao thay mặt họ Dương viết sớ gửi về Trường An xưng thần với “thiên tử” phương Bắc ấy. Trước là để tấu trình việc ở An Nam sau cũng vừa để thăm dò phản ứng của giới cầm quyền phương bắc.

Hai tháng sau, cái tên Lỗ Hạo lần trước lại trở lại cầm theo một bản “thánh chỉ” của Đường Văn Tông Lý Ngang. Nghe lời họ Vi, lần này Lý Ngang gạt hết lời xàm tấu của bọn Vương Thủ Trừng, Sử Hiến Thành mà đồng ý chấp thuận việc xưng thần, ban cho Dương Thanh làm An Nam Kinh lược sứ, Giao Châu thứ sử. Lại nói thêm về bọn Vương, Sử vốn không còn nhiều ảnh hưởng từ lúc Lý Phùng Cát chết đi, bọn này không ưa Vi Xử Hậu nhưng thế thời đổi thay biết làm sao được. Thời tể tưởng Lý Phùng Cát, bọn này thường ăn của đút lót nên không còn tiếng nói dưới thời Vi Xử Hậu. Việc ở đất cương vực phía nam bọn này càng không thể bàn tới khi lần lượt bọn Lý Nguyên Hỷ, Hàn Ước đều đã bị thất bại ê chề trước họ Dương. Việc ở xứ nam từ đây, dường như bước sang một trang mới?

Đối chứng lại với câu chữ mà Sỹ Giao nằm mộng thấy ở chân núi Lạn Kha thì có vẻ như điểm báo ấy đang không còn đúng nữa. Sỹ Giao có lần rượu say, nước mắt ròng với Phạm Đan và Liêu Đức Thinh nhắc lại dòng chữ kia “Dương Tử Tiền Cao Hưng Bá Ngô Vương Chủ”. Ý tứ rất rõ ràng, kẻ nào họ Dương sẽ có chuyện chẳng lành.

Xem ra Sỹ Giao vì lẽ ấy mà có kẻ rèm pha dẫu được phong Kinh lược phán quan nhưng kỳ thực chẳng có quyền hành gì trong tay, chỉ thay Kinh lược sứ ban lời, phát văn. Sỹ Giao dẫu vậy cũng thấy mừng hơn ở trong lòng vì lời sấm rền tai vạ kia chắc sẽ chẳng thể nào thành hiện thực được. Ngày chúng dân đất Nam an nhiên, tự chủ chắc sẽ chẳng xa nữa.

Về phía họ Dương, có được phong tước từ triều đình phương bắc cũng coi như một bước chuyển mình của họ Dương, Dương Thanh lại phong cho con trai trưởng Chí Liệt làm Phong Châu mục, con trai Chí Trinh làm Trường Châu thứ sử, các tông thân họ Dương được trở về Hoan, Diễn làm các chức quan lớn nhỏ như trước khi Dương Thanh bị triệu về Tống Bình. Những người theo nghĩa quân ai nấy đều hứng khởi mừng vui, duy chỉ có Đỗ Sỹ Giao là vậy và Phạm Đan bị lật lại án ở trong quân nên bị tước đi mất hai phần bổng lộc.

Sau khi nghe chuyện của Trương Tính, Đan tính xin với Sỹ Giao làm cho ra lẽ vụ án của lão Trực Hiến để răn đe bọn quan lại cũ của thời quan đô hộ trước đó. Sỹ Giao nghĩ tới nghĩ lui liền ghé phủ hỏi chuyện Chí Liệt thì người anh trưởng cho là chưa phải thời điểm thích hợp. Bọn này vẫn còn mối liên hệ với đám quan lại ở Trung Nguyên, chưa thể hành động ngay. Nếu rút dây động rừng e lại có một Triệu Hoằng, Thôi Kết, Quế Trọng Vũ thứ hai.

Lần này triều đình đã xuống nước, phó mặc Giao Châu vô chủ cho đám thủ lĩnh người nam ta cầm quyền. Bản thân tên Lỗ Hạo cũng không dám nhắc tới chuyện thuyên chuyển Dương Thanh tới Quỳnh Châu để thăm dò nữa. Xem ra tình thế này, ý của Phạm Đan muốn cư xử công bằng với đám quan lại cũ là câu chuyện rất khó khăn. Một khi bọn ấy có ý không tốt, đất nam lại một phen nữa lao đao.

Phạm Đan nghe lời Sỹ Giao thuật lại mà thấy không vui, hẹn với Đặng Hoài kể lại chuyện nhà họ Tô. Đặng nghe mà đáp lại lời như Sỹ Giao, chưa phải lúc. Đan không hay khéo với bọn quan gia, ghé thăm từng nhà hỏi chuyện đều bị chối từ hết thảy.

Một tuần sau, phủ Liễu tá bị cháy, Trương Tính thoát chết nhưng cũng bị phạt tội giáng xuống hai chức. Phạm Đan bấy giờ làm nhập viện phán án, chức dưới Sỹ Giao hai phẩm bậc thấy họ Trương vừa tội vừa thương cho vào phủ đô hộ giúp việc có ý nâng đỡ họ Trương trở lại làm Liễu tá.

Tang bác chưa tròn trăm ngày, Trương Tính lại nghe ở Vũ Bình, Tô Trung Trực bị bọn huyện nha cũ bắt nạt, nhốt vào lao ngục vì tội thua bạc, lại nhục mạ bọn chúng nên bị đánh cho nhừ tử. Vết cũ chưa lành, vết mới lại hằn lên, từng thớ thịt của kẻ tội nhân lại càng thêm đau rát, không sao mà gượng dậy được.

Liêu Đức Thinh được phân làm thanh tra châu ở huyện quê cũ thường ngày vẫn thường thấy tên cổ dài đó đến ghé thăm, mấy ngày không thấy hắn ghé thì hỏi huyện lệnh họ Mao về tung tích của Trung Trực. Hắn bảo đâu quản được chuyện bọn áp nha. Có tội tự chịu, làm sư gia không tốt thì phải làm áp nha, làm áp nha phạm tội thì làm phó thường dân là tốt lắm rồi lại còn lên tiếng nhục mạ bọn chúng, quỵt tiền của bọn cùng làm, chúng xử tội là đúng. Đức Thinh tức giận đem lòng oán bọn nha huyện cũ này. Hàng ngày thầm cho người vào trong nhà lao chăm ăn uống, lại cho tâm phúc vào canh gác cho con trai lão ân nhân cứu mạng họ Liêu và ghi chép lại những chuyện đã xảy ra tấu với Kinh lược phán án Bá Nam quân sư.

Tiếng đến tai Trương Tính, Tính nói với Đan. Ngày rằm tháng chín năm ấy, Dương Thanh đi thị sát châu Phong, thăm viếng đất tổ người Nam, Phạm Đan xin họ Đỗ xuôi dòng Đáy trở về thăm ấp cũ ở suối Yến, Động Đỗ. Sỹ Giao mấy hôm trước có nghe chuyện bàn ra bàn vào của bọn người trong phủ nên biết ý họ Phạm sẽ qua huyện Vũ Bình sợ là sẽ làm loạn ở nha huyện nên không đồng ý, lại viện rằng “Anh trai Chử Thị là Chử Thoán lâu rồi chưa gặp hai người em và các cháu, sao anh Đan không dẫn Chử Thị và hai anh em thằng Minh về đất Long Đàm?”.

Biết ý của Sỹ Giao, Phạm Đan xin nghỉ việc phủ Đô hộ vài ngày để trở về Long Đàm cùng gia quyến. Sỹ Giao sai Trương Tính ở trong phủ đô hộ trong coi, còn tự mình qua đất Long Biên để gặp bạn cũ. Tính đang có ý ngầm đi theo họ Phạm thì bị dội gáo nước lạnh liền thất vọng tuân lời ở lại phủ.

Phạm Đan hẹn Trương Tính ở bến sông Tô mà không thấy hắn đến liền cho người vào trong thành hỏi dò. Biết Tính không tới được nên Phạm Đan tự mình vượt sông Tô đi bộ về phía tây nam, còn gia quyến để Chử Thị dẫn về Long Đàm bằng chiếc xe ngựa.

Sáng ngày sau, Phạm Đan có mặt ở thành Đỗ Động. Lúc chờ ngoài phủ huyện nha, Phạm Đan trông thấy một tên khuôn mặt bóng bẩy, áo quần bảnh bao, mắt luyến thoắng nhìn xung quanh. Trông thấy Đan quê kệch đứng ngoài phủ huyện, hắn buông lời suồng sã:

- Thằng quê mùa. Mày chưa thấy phủ quan bao giờ à? Chỗ này không phải chỗ để mày đứng con ạ. Xê ra, xê ra!

Phạm Đan mắt nháy nháy lặng yên xem hắn định giở trò gì. Hắn thấy họ Phạm không nói không rằng lại thóa mạ, chân đạp thẳng vào sống lưng. Lạnh gáy, Đan dùng tay vặn gẫy chân hắn một cái khựng thật lớn. Điếng người, hắn kêu bọn lâu la dùng gậy gộc xông tới.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
1 thành viên đã gởi lời cảm ơn Nguyễn Khai Quốc về bài viết trên: Dịch Tử Hiên
     
Có bài mới 30.08.2018, 12:53
Hình đại diện của thành viên
Thành viên cấp 4
Thành viên cấp 4
 
Ngày tham gia: 27.04.2017, 12:26
Tuổi: 27 Nam
Bài viết: 126
Được thanks: 271 lần
Điểm: 10.44
Có bài mới Re: [Sáng tác - Sử ca] Giống rồng - Nguyễn Khai Quốc - Điểm: 10
Giống Rồng

Tác giả: Nguyễn Khai Quốc


Hồi thứ hai mươi mốt

Họ Phạm xuôi dòng Đáy giết tham quan

Tồn Thành bỏ Ái về Hoan dựng trại

Chương 21.5 Giết kẻ tiểu nhân, nghĩa nhân mang tội


Phạm Đan vuốt râu đứng hiên ngang, tay chỉ mặt từng thằng lâu la:

- Đứa nào dám xông tới!

Nói rồi Phạm Đan cầm chiếc gậy chạc ba giương lên, thằng nào thằng nấy nhìn nhau không dám xông lên. Tên bị què chân nằm lê dưới đường, tay chỉ trỏ ra lệnh:

- Bọn ngu chúng mày, sao còn đứng đấy! Xông lên giết chết nó cho tao! Ông tao làm huyện lệnh cái huyện Vũ Bình này, bọn mày sợ gì chứ!

Cả đám xông lên dùng gậy gộc nhắm người Phạm Đan mà đánh. Phạm Đan không muốn dùng sức chạy vòng tròn quanh phủ nhốn nháo cả thành Đỗ Động. Được bảy tám vòng, đám lâu la kia mệt lả, Phạm Đan cũng thở chẳng ra hơi. Có một thằng nãy giờ không đuổi Phạm Đan thấy Đan chống tay thở hổn hển toan xông tới thì Phạm Đan bất thình lình dùng chiếc gậy ba chạc đâm trúng ngực hắn, tiếng kêu rắc rắc như gãy cả giàn xương sườn. Hắn ngã gục, máu tươi thổ ra đẫm áo.

Mắt méo xệch, bọn lâu la và tên què kia căm tức, kéo nhau vào trong huyện phủ. Bấy giờ sư gia và viên bổ đầu huyện nha nghe nhốn nháo ra ngoài hỏi chuyện. Mấy tên lâu la kể lể này nọ, khóc sướt mướt thê thảm vấy tội lên đầu Phạm Đan.

Bọn này chắc lại cùng một ruộc với nhau, nghe chừng họ Phạm khó mà thoát tội. Phạm Đan định bụng kéo dài thời gian cho đến khi gặp được Liêu Đức Thinh.

Đám dân chúng đi qua chỉ dám liếc nhìn, Phạm Đan ngồi ung dung trước cửa ngẩng cao đầu trò chuyện đối đáp với bọn chúng. Qua lại được mấy lời, tên sư gia bắt đầu văng tục chửi bậy rêu rao khắp cửa phủ.

Phạm Đan vốn chẳng ưa bọn quan lại kiểu này nên ra sức hăm dọa, nhưng tình thế chuyển thay bất lợi cho họ Phạm. Đám sai nha, lính tốt đều đã tập trung ở cửa phủ, lăm le nhìn họ Phạm. Mà đến thật lạ rằng, xưa huyện Vũ Bình, quân tốt đều là lính của nghĩa quân mà không kẻ nào nhận ra họ Phạm lừng lẫy hỏa thiêu cả thành huyện Thái Bình, giết quân Hàn?

Phạm Đan trộm nghĩ xem ra bọn cầm quyền cũ chẳng coi hàng ngũ của nghĩa quân ra gì rồi. Bọn lính này chắc chắn cũng đã phần nhiều ngả theo bọn cai trị này chứ chẳng sợ những người trong nghĩa quân họ Dương. Phạm Đan đành phải xưng danh, xưng hiệu để đe nẹt bọn chúng.

Ấy thế mà chỉ có mấy tên xì xào to nhỏ với nhau, còn lại lại hưởng ứng theo bọn sư gia, bổ đầu coi thường một tên nông dân theo nghĩa quân lại còn xưng tướng với tá ở chỗ này. Bọn chúng ùa vào bắt giữ lấy Phạm Đan. Phạm Đan cau mày dùng đòn thương của một tên lính chọc trúng yết hầu của tên sư gia. Đan hắng giọng:

- Thằng nào xông tới, nó phải chết!

Tên chân què nhếch mép:

- Tướng tá cái nỗi gì! Có giỏi thì giết đi! Rồi cả cái Vũ Bình này biết, cả Giao Châu này biết bộ mặt thật của nghĩa quân! Coi mạng người như cỏ rác, hống hách trước điện phủ, coi thường luật lệ! Giết đi!

Tên sư gia đái ra máu, đôi chân run run, mặt tái mét van xin. Phạm Đan bẻ đôi dòn thương, lao thẳng về phía tên chân què. Mũi thương đâm trúng đùi trái của hắn, quần rách tả tơi, máu dính đầy mặt đất. Hắn hoảng hồn chửi bới thì bị Phạm Đan vung chân đá bao kiếm của tên bổ đầu trúng miệng, răng rụng đến bảy tám chiếc, máu me đầy mồm. Xem ra hắn có định kêu gào cũng chẳng còn mồm miệng đâu để mà nói.

Phạm Đan đạp chân tên sư gia ngã khuỵu xuống, dùng gậy chạc ba cướp lấy thanh kiếm trên tay tên bổ đầu. Thanh kiếm vung lên, đám lính tráng và sai nha cúi xuống van xin:

- Xin tướng quân tha tội! Bọn tiểu nhân không dám! Chỉ vì các đại nhân đây ra lệnh mà đã mạo phạm với tướng quân.

Phạm Đan nguôi cơn giận, xua tay đuổi bọn ấy đi và đòi cho gặp tên huyện lệnh, yêu cầu bọn sai nha thả Tô Trung Trực ra khỏi nhà lao. Đứa nào đứa nấy cúi đầu xin vâng, ba tên sư gia, bổ đầu và cháu ngoại của huyện lệnh kia dẫu tức tối cũng đành phải thậm thọt cúi đầu đi vào phía trong.

Một lúc sau, gã huyện lệnh tuổi chạc sáu mươi bước ra cửa phủ, mặt lăm lăm chỉ vào mặt Phạm Đan hỏi tội:

- Thằng giặc! Mày dám động vào cả cháu của lão! Mày muốn chết lắm rồi phải không? Họ Phạm nhà ngươi dâm dục trong quân làm ô nhục nghĩa quân mà còn dám tới đây đòi lẽ phải công bằng cái thá gì. Coi thường luật lệ! Lão gia cho bắt mày vào ngục!

Nói rồi một đội binh giáp, giáo thương đi từ ba phía ập tới. Phạm Đan cau đôi mày rậm, nói lời lý lẽ với tên huyện lệnh đáng tuổi cha tuổi chú họ Phạm. Tên huyện lệnh còn chưa nguôi cơn giận, lại nghe lời lý lẽ mà tỏ thái độ khinh miệt sai quân bắt lấy Phạm Đan.

Đan chống cự nhưng sức người hữu hạn chẳng thể làm gì được bọn nha dịch. Thật may lúc đó có viên thanh tra châu tới kịp lúc. Họ Liêu ra dấu cho thả người. Viên huyện lệnh bực dọc sai người thả Phạm Đan ra.

Gã huyện lệnh cùng hai tên sư gia, bổ đầu quay vào trong phủ. Đan và Đức Thinh hồ hởi chào hỏi nhau. Hai người quay lưng đi, dường như có thứ gì đó lạnh sắc đằng sau gáy họ Phạm. Liêu Đức Thinh bất giác quay lại thấy một mũi tên phóng liền xô Phạm Đan ngã ra, mũi tên cắm vào bắp tay của họ Liêu, máu cháy đầm đề.

Phạm Đan đứng dậy hỏi thăm, ánh mắt nhìn trông theo bọn lính tráng. Một tên cung thủ mắt liêng láo nhìn xung quanh, khuôn mặt tái vội vàng cúi xuống van lài:

- Xin các đại nhân tha mạng. Con bị ông cháu huyện lệnh ép buộc. Xin các đại nhân tha mạng.

Dứt lời, Phạm Đan dùng gậy chạc ba đánh què cái chân của tên cung thủ. Liêu Đức Thinh nghiến răng chịu đau, sai đám lính bắt lấy tên cung thủ. Một nửa theo, một nửa không theo, hai bên đánh nhau nhốn nháo trước cửa huyện nha.

Phạm Đan chạy tới chỗ họ Liêu rút mạnh mũi tên găm trên từng thớ thịt. Rách toang một mảng da, họ Phạm lại dùng áo choàng xé ra bọc lấy vết thương cho Đức Thinh. Thinh ngất lịm đi vì mất máu quá nhiều, Đan cho người lấy ngựa đưa họ Liêu trở về.

Đúng lúc đó hai ông cháu huyện lệnh thập thò đi từ cửa đông huyện nha ra. Nhìn thấy bóng dáng tên huyện lệnh, Phạm Đan dùng mũi tên phi trúng gáy tay huyện lệnh. Thằng cháu thậm thọt quỳ xuống ôm lấy ông, máu chảy ướt hết lưng áo, lão ngắc ngắc rồi lăn ra chết.

Liêu Đức Thinh nghe tin mà lòng nóng như lửa đốt, sai người bắt bớ hết người nhà quan huyện giam vào trong ngục tối. Những kẻ có mặt ở cuộc nhốn nháo ấy đều bị Đức Thinh cho nhốt vào trong nhà lao hòng giấu biệt chuyện đi và bẻ gãy lời khai của bọn chúng.

Dần dà hơn một tháng trời, chuyện ở thành Đỗ Động bị vỡ lở ra đến tai cha con họ Dương. Dương Thanh cho gọi Phạm Đan lên chầu kiến, họ Phạm nhận tội xin bãi quan, đi lao dịch ở huyện Quân Ninh, châu Ái, gia đình bị tước hết quan lộc, ruộng đất bị thu hồi.

Tới huyện Quân Ninh, họ Phạm được dân chúng ở đấy mến mộ, có kẻ sĩ còn tới tận nhà lao viết lên bức tường một bài thơ:

“Trăm năm mới có một hiền nhân

Chẳng quản giàu sang hay túng bần

Thương kẻ đức tâm chịu oan tội

Ra tay hiệp nghĩa giết bạo quân”.

Sau này mới biết người đó là Đỗ Kiêm nghe theo lời Tồn Thành tới chào hỏi họ Phạm. Đỗ Kiêm đút lót đám sai nha mấy nén bạc cùng ít sản vật mà dân chài huyện Sùng Bình mới đánh bắt được. Kiêm được đưa vào trong nhà lao gặp họ Phạm.

Xem ra nhà lao này không đến nỗi nhếch nhác, đúng là chỗ để giam giữ đám người vốn là quan gia, binh tướng. Nhà lao này thoáng đãng, dài rộng vuông vắn mỗi bức tường dài đến trăm trượng, cây cối được tỉa tót gọn ghẽ. Lối đi vào rộng rãi, hai bên tường cao đến ba trượng, rào gai mây xung quanh, khó lòng kẻ khác đột nhập vào chứ chẳng nói đến chuyện thoát ra ngoài.

Trong này, Phạm Đan được đối đãi tử tế, lại gặp được một người ở hương Thụy Gia, anh này cũng từng bị bên hào trưởng tên Quảng kia bắt bớ vị tội chòng ghẹo gái xóm. Anh tên là Mặc, họ là Sinh, người cao chừng bảy thước, mắt lác, bụng ỏng, tay như que đóm có tật ở khuỷu tay trái do ngày bé anh bị ngã vào kệ bếp nhà lão Quảng. Người làng sau đó gọi là thằng Mắc Lác đọc chệch đi của chữ Mắt Lác, có người gọi là thằng Mặc Kệ, phần vì lẽ đó, phần cũng bởi tính tình anh này chẳng màng chuyện người khác, lời của người khác bàn tán về mình, gia đình mình.

Sinh ra ở làng Thụy, cha làm thuê cho hào trưởng Quảng, mẹ làm người ở trong nhà lão Quảng. Sinh Mặc giọng nói không to nhưng mỗi khi anh nói, giọng anh lúc nào cũng văng vẳng bên tai người nghe. Lúc thanh niên, anh và bọn thanh niên trong làng xung quân nhưng anh bị loại vì cái tật ở tay và đôi mắt lác. Cũng vì mắt lác mà mang họa vào người.

Có lần anh theo mẹ đi qua con kênh nước mát ở đầu làng, mẹ anh bảo anh quay mặt đi vì dưới đó có đám con gái trong làng đang tắm trần. Mắt anh liếc nhìn ra chỗ khác nom trời nom đất kẻo có kẻ rèm pha.

Lúc bấy có thằng con trai lão Quảng tên là Giang đi qua, đứng trên bờ chòng ghẹo bọn con gái. Đứa nào đứa nấy xua đi, quay mình trần ra chỗ mẹ của Mặc. Thấy lấp ló sau lưng bà lão là anh chàng mắt lác, hai con ngươi nhìn chằm chằm vào bọn con gái đang lõa lồ dưới dòng nước. Bị con gái nhí nháu chỉ trỏ, thằng con trai lão Quảng quay lại nhìn thấy Sinh Mặc ánh mắt vẫn đang nhìn bọn con gái tắm mới tức lên quát tháo Mặc.

Mặc kệ cho lời nói của gã, cứ lẳng lặng cúi mặt bước đi. Hai thằng đi theo Giang chạy ra trói tay Sinh Mặc, bắt về đình làng để xử theo lệ làng. Làng có cái lệ, con gái tắm ở kênh đầu làng, con trai nhà nào trông thấy mà bị bắt được sẽ bị rạch một bên khóe mắt trái cho đến tận mang tai.

Lúc xử tội Mặc, có sáu ông hội đồng ở trong làng thì có đến năm ông có vết sẹo ở mắt trái, một ông có sẹo cả hai bên. Xử tội xong, Mặc bị nhốt vào chuồng trâu nhà lão Quảng do trong làng không có chỗ để bắt người phạm tội.

Suốt mấy ngày ăn uống chẳng ra cơm, ra cháo, bố mẹ Mặc thấy tội cho con trai vào hỏi han. Mặc cười nhạt coi là chuyện chẳng có gì. Bố mẹ vừa ra khỏi chuồng trâu, nghe thấy tiếng mấy đồng lẻ lóc xóc, có thằng ra hỏi chuyện xin tiền.

Bố mẹ Mặc tích cóp mãi mới được có ngần ấy tiền, chẳng nể nang gì ông bà đã ở cái nhà này suốt cả mấy chục năm nay, bọn oắt choai choai kia vẫn vặn vẹo gột hết sạch tiền của ông bà. Mặc nhìn từ xa, vết rạch trên khóe mắt nhức nhối không chịu được khi nhìn thấy bố mẹ van nài bọn nhãi ranh liền chạy vội ra dùng hai tay đang bị trói vặn cổ một thằng tím tái mặt mày rồi tức thở mà chết.

Bọn kia sợ hãi đi báo tên hào trưởng Quảng. Quảng xử tội trăm roi, đuổi hai bố mẹ Mặc ra khỏi hương, lang bạt một thời gian rồi hai người ốm chết. Mặc chờ xử tội chết bị giam ở ngục tối ngoài thành Long Biên năm dặm. Sau đó nghe tin bố mẹ bị chết, Mặc bàn với mấy tên bị giam dựng cảnh thoát khỏi ngục vào đêm rằm tháng bảy.

Trốn được ra ngoài, Mặc rủ mấy tên cũng thù ghét với lão Quảng xông vào trang của hắn ở hương Thụy Gia hòng giết chết cái gai trong mắt. Đêm ngày mười bảy, lúc sảy giường chiếu lão Quảng thấy có con rắn lằn trắng lằn đen bò ở trên đầu giường, lão hốt hoảng chạy ra ngoài thì gặp ngay Mặc đã lẻn vào trong gian phòng của lão từ lúc nào không hay.

Hô hào, bọn gia nhân vây chặt lấy trang trại, con rắn bổ nhào trúng gáy lão Quảng. Không ai trông thấy, chỉ thấy lão Quảng lăn đùng ra sùi bọt mép rồi chết. Mặc bấy giờ tay cầm con dao nhỏ, chối cãi nhưng chẳng ai nghe.

Sau đó, tên quan huyện Vũ Bình là anh em con dì con cậu với lão Quảng dùng tiền mua chuộc tên sư gia và lão lang ở thành Long Biên viết bản luận tội cho Mặc. Quan huyện Long Biên bấy giờ là Đỗ Mạnh, cháu của Đỗ Phụng Quán tướng quân theo lời luận tội của viên sư gia mà ký cáo trạng Mặc vô tình giết chết lão Quảng nên bị khổ đầy tới huyện Ninh Hải, huyện Ninh Hải không chứa lại đầy tới Võ An, Võ An tù nhân quá nhiều nên đành phải đẩy tới huyện Quân Ninh ở châu Ái.

Đỗ Kiêm gặp được Phạm Đan, lại được nghe câu chuyện của Sinh Mặc liền thuật lại cho Tồn Thành. Tồn Thành nghe Đỗ Kiêm kể lại chuyện Tô gia, Sinh Mặc và Phạm Đan, tay vò chặt lấy lá thư Đoàn Uyển vừa gửi cho họ Đỗ ném xuống dưới đất mà gằn giọng:

- Cứ thế này, dân nam ta bao giờ mới thoát được khổ ải, thoát được sự nhiễu nhách của bọn cường hào. Dẫu là người nam cai trị nhưng với những tên mặt giặc như vậy thì để người nam làm chủ cũng đâu được cái phúc gì cho dân!

Đỗ Kiêm chưa hiểu ý, nhặt lá thư lên hỏi Tồn Thành:

- Đoàn Uyển lại có ý muốn ta quay trở về Nhật Nam làm quan. Giờ họ Dương nắm quyền binh ở Giao Châu, ý Tồn Thành là thế nào?

Tồn Thành xoa hai bên cằm, nhấp ngụm nước cho nguôi cơn giận mà than thở, lưng không tựa ghế nữa mà nhổm dây nói:

- Giao Châu chưa thuộc về họ Dương lúc nào cả! Lúc trước tôi theo hắn, hắn đối xử tệ bạc với đám người có công lại bỏ bê đám quan lại cũ khiến nhiều người có ý lật lọng. Sau này, chắc hắn đã hiểu nhưng xem ra thâm ý của anh Sĩ Giao hắn chưa hiểu hết. Nay nghĩa quân và đám quan lại cũ thù hằn sâu sắc, chắc hẳn dân nam lại một phen điêu đứng nữa. Đoàn Uyển này là một trong đám quan lại cũ, đứng giữa Hoan – Diễn với các châu phía bắc, hẳn là cái gai trong mắt của họ Dương. Tôi và các anh e rằng sẽ không thể ổn yên ở châu Ái này mãi được. Anh cho gọi Đỗ Trang ở huyện nha trở về, chắc có lẽ chúng ta phải rời đi trước khi Đoàn Uyển lùng sục chúng ta.

Kiêm cho lời của Thành là phải liền đi đón cả nhà Đỗ Trang trở về.

Ba ngày sau, đúng như lời Thành nói với Kiêm, Uyển cho người tới rước kiệu Tồn Thành nhưng khi vào tới trang ấp thì Tồn Thành đã cùng mấy chục trai tráng trong trang ấp đi về phía nam. Đỗ Kiêm và Đỗ Trang cũng dẫn theo gia quyến bỏ quan tước ở huyện Sùng Bình đi theo đường núi vượt qua năm đèo bảy ngọn thì gặp được Tồn Thành và đám huynh đệ đi cùng.

Đoàn Uyển sai người lùng sục khắp Ái Châu thì bấy giờ đã quá muộn, tới cửa ải Hàm Hoan vào Diễn Châu, quân lính châu Ái buộc lòng phải quay trở về. Uyển lại nghe ở trong nhà lao huyện Quân Ninh vừa xảy ra chuyện liền cho người tới dò xét.

Ra là viên cai ngục huyện Quân Ninh tên là Nguyễn Thương trước là học trò của Liêu thái công, ông nội của Liêu Đức Thinh lưu lạc về tới châu Ái làm chức cai ngục ở đó. Nghe tin Phạm Đan vì Đức Thinh mà bị tù đầy đã dựng câu chuyện có kẻ trà trộn vào trong quân hạ độc thủ tiêu bọn quản ngục để nhà giam phía nam xổng mất tội phạm.

Nguyễn Thương bị bắt vì tội quản giáo không nghiêm. Mấy ngày sau, bọn quản ngục mấy tên sợ chết đã khai ra Nguyễn Thương đứng đầu bày trò. Đoàn Uyển chém đầu bêu thị chúng. Suốt dọc đường đi về đến châu Hoan, Tồn Thành nghe Phạm Đan kể lại chuyện mà khóc tế họ Nguyễn rằng:

“Ái Châu dòng lệ tuôn

Người tráng sĩ tên Thương

Vì nghĩa quên danh lợi

Tiếng lừng khắp bốn phương”

Tồn Thành đã thoát khỏi Ái Châu, liệu rồi đây chí trai có được thỏa, ước nguyện có được toại lòng. Những nghĩa sĩ đi theo Tồn Thành có đủ vây đủ cánh để chống lại được thế loạn của thời cuộc? Những câu hỏi đau đáu ở trong đầu của một người nghĩa sĩ ở phương xa cách họ Đỗ cả nghìn dặm đường.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 116 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Hiện đại - Trùng sinh] Ông xã là người thực vật - Vân Nhất Nhất

1 ... 46, 47, 48

2 • [Hiện đại] Hôn nhân giá ngàn vàng - Cẩm Tố Lưu Niên (HOÀN)

1 ... 183, 184, 185

3 • [Hiện đại] Ý xuân hòa hợp - Vi Phong Chi Từ Từ

1 ... 36, 37, 38

4 • [Hiện đại] Hoa đào vừa mới nở rộ - Đào Ảnh Xướng Xước

1 ... 20, 21, 22

5 • [Hiện đại] Vỏ quýt dày có móng tay nhọn - Thiên Phàm Quá Tẫn (HOÀN)

1 ... 21, 22, 23

6 • [Hiện đại - Quân nhân] Hợp đồng quân hôn - Yên Mang

1 ... 126, 127, 128

7 • [Cổ đại - Hài] Cá nhỏ ăn lươn lớn - Tô Tiếu

1 ... 23, 24, 25

8 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 167, 168, 169

9 • [Hiện đại] Eo thon nhỏ - Khương Chi Ngư [NEW C75]

1 ... 29, 30, 31

10 • [Xuyên không - Dị giới] Khí phi hồ sủng - Nhược Thủy Lưu Ly

1 ... 40, 41, 42

11 • [Xuyên không - Dị giới] Phế sài muốn nghịch thiên Ma Đế cuồng phi - Tiêu Thất Gia - New C1011

1 ... 143, 144, 145

[Hiện đại] Tham hoan - Bát Trà Hương

1 ... 20, 21, 22

13 • [Hiện đại] Cùng hát một bài ca - Lam Chi Noãn

1 ... 18, 19, 20

[Xuyên không] Hoàng thượng vạn tuế - Đại Ôn

1 ... 36, 37, 38

15 • [Hiện đại] Sao trên trời rất xa sao của anh thật gần - Phỉ Ngã Tư Tồn

1 ... 9, 10, 11

[Cổ đại] Yêu nghiệt khuynh thành Minh vương độc sủng - Thụy Tiếu Trụ

1 ... 47, 48, 49

17 • [Hiện đại] Làm thế nào để ngừng nhớ anh - Mộng Tiêu Nhị

1 ... 20, 21, 22

18 • [Hiện đại] Ngày đêm muốn em - Thụy Miên

1 ... 16, 17, 18

19 • [Cổ đại - Trùng sinh] Tấn công ngược thành phi - Minh Tiêu Nguyệt

1 ... 11, 12, 13

[Hiện đại] Bà xã anh chỉ thương em - Nam Quan Yêu Yêu

1 ... 145, 146, 147



Công Tử Tuyết: Re: [Trắc nghiệm] Bạn có tò mò nhân cách thứ hai nào đang trú ẩn trong mình?
Tuyền Uri: Chỗ xin tách cmt mất tiu rầu =w=
LogOut Bomb: thuyvu115257 -> Snow cầm thú HD
Snow cầm thú HD: Khôi điên -.,-
Duy Khôi: nhớ những ngày trươc quá mọi người ơi
ai rảnh add zalo 8 chơi chứ giờ chả có ai onl nữa 0582650007 add zalo 8
LogOut Bomb: thuyvu115257 -> Trịnh Phương
Duy Khôi: alo alo có ai hông
Mẫu Tử Song Linh: yo
Tiểu Yết Scorpio: Ai nhớ ta giơ tay  T.T
Shop - Đấu giá: Leslie Juan vừa đặt giá 242 điểm để mua Mắt kính hồng
Độc Bá Thiên: Cô nguyệt
Ngọc Nguyệt: :(
Cô Quân: Ôi lâu lắm mới vào tnn mà k có ma nào à
Shop - Đấu giá: Tử Tranh vừa đặt giá 272 điểm để mua Tóc xù chăm học
Công Tử Tuyết: Re: [Trắc nghiệm] Bạn có tò mò nhân cách thứ hai nào đang trú ẩn trong mình?
LogOut Bomb: thuyvu115257 -> Yêu Tinh Zombie
Ranchild: wow, hế lô Gemy
TranGemy: có nè =))
Ranchild: giờ này hông có ai nhỉ -_-
Ranchild: chào mọi người
LogOut Bomb: thuyvu115257 -> Yêu Ngôn Tình
Shop - Đấu giá: Hoàng Phong Linh vừa đặt giá 258 điểm để mua Tóc xù chăm học
dương xỉ: À ú
Shop - Đấu giá: phuong thi vừa đặt giá 385 điểm để mua Mèo trong giỏ
Ngọc Nguyệt: Ôi vắng quá...
Mặc Bănq: Yến My (To)
Chị ơi em có thể đăng bộ Pendragon lên wattpad không ạ
Shop - Đấu giá: Sam Sam vừa đặt giá 365 điểm để mua Mèo trong giỏ
Shop - Đấu giá: phuong thi vừa đặt giá 240 điểm để mua Broken Heart
Shop - Đấu giá: phuong thi vừa đặt giá 346 điểm để mua Mèo trong giỏ
Công Tử Tuyết: Re: [Trắc nghiệm] Bạn có tò mò nhân cách thứ hai nào đang trú ẩn trong mình?

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.