Diễn đàn Lê Quý Đôn
Cấm đăng tin quảng cáo các lớp học, khoá học, hội thảo, tìm học sinh... Các bài quảng cáo sẽ bị xoá.


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 120 bài ] 

Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần

 
Có bài mới 15.08.2018, 15:45
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35192
Được thanks: 5243 lần
Điểm: 9.59
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại (Tập 7+8) - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
GIAI THOẠI 38 - LÒNG HIẾU THẢO VÀ ĐỨC THANH LIÊM CỦA NGUYỄN DỤC

Nguyễn Dục người Quảng Nam, sinh năm Đinh Mão (1807), mất năm Đinh Sửu (1877), thọ 70 tuổi. Từ nhỏ, Nguyễn Dục đã nổi tiếng thông minh và hiếu thảo. Năm Minh Mạng thứ mười chín (1838), ông dự thi Hội, đỗ Phó bảng, được triều đình cho bổ dụng làm quan nhưng ông xin được ở nhà để lo phụng dưỡng mẹ già cho đến khi mẹ mất mới thôi. Đến năm Thiệu Trị thứ ba (1843), khi mẹ ông đã mất, Nguyễn Dục mới bắt đầu ra làm quan, với những chức vụ như Đồng tri phủ, Quốc Sử Quán Biên tu, Nội các Hành tẩu... v.v. Sách Đại Nam chính biên liệt truyện (Nhị tập quyển 33) chép chuyện Nguyễn Dục, có đoạn như sau :

"Năm (Thiệu Trị) thứ bảy (tức năm Đinh Mùi, 1847 - NKT), ông vì bị bệnh, xin cáo quan về nhà nghỉ đến hơn mười năm, lấy sách vở làm vui và mở trường dạy học. Học trò của ông rất nhiều người đỗ đạt.

Năm Tự Đức thứ mười bốn (tức năm Tân Dậu, 1861 - NKT), ông ra nhận chức Giáo thụ ở Điện Bàn, sau chuyển làm Đốc học tỉnh Quảng Ngãi. Năm (Tự Đức) thứ mười bảy (tức năm Giáp Tí, 1864 - NKT), ông được chuyển làm Viên ngoại, lãnh chức Lang trung bộ Lại. Bấy giờ, học trò trường Quốc Tử Giám thường rất ít. Vua nhân đó hỏi quan Tham tri bộ Lại là Phạm Phú Thứ (cũng là người Quảng Nam - NKT) rằng :

- Ở Quảng Nam có ai phẩm hạnh đoan chính không ?

(Phạm) Phú Thứ thưa :

- Có (Nguyễn) Dục.

Vua liền thăng ông làm Tế tửu. Đó là đặc cách lựa chọn vậy. Song, chẳng bao lâu, ông lại xin từ chức vì cớ có bệnh. Vua xuống dụ an ủi để lưu lại và cử ông làm Phó Chủ khảo trường thi Hương Bình Định. Năm (Tự Đức) thứ hai mươi mốt (tức năm Mậu Thìn, 1868 - NKT), ông được chuyển làm Thị độc Học sĩ và Đốc học Quảng Nam. Năm (Tự Đức) thứ hai mươi lăm (tức năm Nhâm Thân, 1872 - NKT), ông được thăng làm Thị lang bộ Lễ, sung chức Giáo đạo ở nhà Dục Đức. Nguyễn Dục ăn mặc rất chỉnh tề nên các Hoàng tử vẫn kính sợ. Năm (Tự Đức) thứ hai mươi bảy (tức năm Giáp Tuất, 1874 - NKT), tháng 2 có lễ tế Nam Giao, Vua chuẩn cho Hoàng tử tế thay. Khi mới tới đàn Nam Giao, quan Hữu quân là Lê Sỹ tặng (Hoàng tử) cái quạt lông, (Nguyễn) Dục hặc trách là không đúng lễ. Vua rất khen chuyện này, bèn thưởng sa và lụa cho ông. Năm (Tự Đức) thứ hai mươi chín (tức năm Bính Tí, 1876 - NKT), (Nguyễn) Dục đã đến tuổi bảy mươi (tính theo tuổi ta - NKT), lại bị bệnh nên xin về nghỉ. Vua chỉ cho nghỉ ba tháng, tặng 50 lạng bạc và sắc cho địa phương phải luôn tới thăm hỏi đồng thời lệnh cho ông rằng chừng nào mãn hạn phải phúc tâu lên Vua. Năm (Tự Đức) thứ ba mươi (tức năm Đinh Sửu, 1877 - NKT) do bệnh tình không thuyên giảm, (Nguyễn) Dục dâng sớ xin nghỉ hẳn tại làng. Vua dụ rằng :

- (Nguyễn) Dục là người đức hạnh thuần khiết và lão luyện, xử việc thận trọng, lại xem xét mọi lẽ nghiêm chỉnh nên Hoàng tử biết kính sợ, so với Đoàn Khắc Thượng có phần khá hơn. Trước đây, (Nguyễn Dục) vẫn cáo bệnh xin về, trẫm cũng thương là bậc già yếu nên cũng gượng theo lời xin mà cho nghỉ, tưởng sẽ còn có lúc trở lại nhận chức nên chỉ mới đặc cách ban tặng vàng mà chưa gia ơn tặng chức. Năm nay, (Nguyễn Dục) đã hơn bảy mươi (bảy mươi mốt tuổi ta - NKT), vậy, cho (Nguyễn Dục) được thăng làm Thự Lễ bộ Hữu tham tri, cho được nhận một nửa bổng lộc (của chức mới này) mà về làng nghỉ. Hễ thấy bệnh thuyên giảm thì mau vào cung nhận chức, để đáp ơn tri ngộ trước sau, lại cũng để thỏa ý tôn trọng người làm thầy và sự chú tâm đến người ngay của trẫm.

(Nguyễn) Dục dâng sớ nói :

- Ghi nhận đức độ để định ngôi thứ cao thấp, xét công lao mà ban cho bổng lộc hậu... việc này triều đình đã có quy định phép tắc rõ ràng. Nhưng, bề tôi phải có đức lớn, công to như quan Đông các Đại học sĩ Vũ Xuân Cẩn mới xứng đáng được đặc biệt gia ơn, chớ kẻ tài hèn đức mọn như hạ thần, chẳng hề có công trạng gì, vì bị bệnh mà xin về nghỉ, thì dám đâu lại nhận chức đến hàng phó khanh và một nửa bổng lộc như thế.

Vua không bằng lòng, bảo rằng :

- Như thế không phải là lạm đâu.  

Mùa đông năm ấy (năm 1877 - NKT) ông mất ở nhà, thọ 71 (tuổi ta). Tỉnh thần tâu lên, vua sai chiếu theo lệ mà cấp tiền tuất.

(Nguyễn) Dục là người ít nói, trung hậu và giản dị, văn chương thuần nhã. Trong huyện, ông là người đứng đầu của các khoa thi Hội. Ông làm quan thanh liêm, thân sĩ vẫn suy tôn ông là người có học hạnh. Con ông là (Nguyễn) Thích đỗ Tiến sĩ ở khoa đầu đời vua Kiến Phúc (tức khoa Giáp Thân, 1884 - NKT), giữ chức Biên tu, sung chức Hành tẩu ở Cơ Mật Viện. Đến năm đầu đời vua Hàm Nghi (tức năm Ất Dậu, 1885 - NKT), kinh thành có loạn (chỉ sự kiện Hàm Nghi xuất bôn - NKT) nên (Nguyễn Thích) bị hại".

Lời bàn : Phàm là cha mẹ, ai mà chà sung sướng trước sự thành đạt của con mình ? Nhưng, bà mẹ của Nguyễn Dục hơn hẳn nhiều bà mẹ khác ở chỗ có hai lần được hưởng đại phúc. Lần thứ nhất là con bà đỗ Phó bảng, đền đáp xứng đáng công chăm lo và ao ước của bà. Lần thứ hai là lúc con bà từ chối nhận quan chức để ở nhà tự tay chăm sóc phụng dưỡng bà. Chẳng rõ gia cảnh của bà lúc ấy ra sao, nhưng sống trong nghĩa báo đáp của con, xem ra chưa dễ mấy ai được như bà. Khen Nguyễn Dục giàu lòng hiếu thảo cũng được mà ca ngợi bà có tài dạy con tài đức vẹn toàn cũng được.

Nguyễn Dục dạy Hoàng tử bắt đầu từ sự nghiêm chỉnh trong cách ăn mặc. Hẳn nhiên, đó chưa phải là tất cả, nhưng đó chính là sự mở đầu tốt đẹp không thể bỏ qua. Xưa nay, khoảng cách từ việc rẻ rúng bề ngoài đến coi thường phẩm hạnh bên trong, vốn không bao xa. Quan Tham trị bộ Lại là Phạm Phú Thứ quả đã nhìn  người rất giỏi vậy.

Làm quan mà không tham của dân đã là giỏi, không dám nhận của do vua ban lại càng giỏi hơn. Chỉ nhận những gì mình thực sự xứng đáng được nhận. Nguyễn Dục đã xử thế như vậy. Việc ngỡ như thường nhưng người thường không dễ làm được đâu. Kính thay Nguyễn Dục, người làm sáng một đoạn sử mờ !



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 15.08.2018, 15:47
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35192
Được thanks: 5243 lần
Điểm: 9.59
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại (Tập 7+8) - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
GIAI THOẠI 39 – LỜI CAN GIÁN CỦA MAI ANH TUẤN

Mai Anh Tuấn người huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Lúc đầu, ông có tên là Mai Thế Tuấn, nhưng năm 1843, sau khi đỗ Thám hoa, ông được vua Thiệu Trị cho đổi tên thành Mai Anh Tuấn.

Sinh thời, ông là người vui vẻ và nhã nhặn, rất ít khi khiến ai phải mất lòng. Ông mất ngày 6 tháng 4 năm Tự Đức thứ tám (1855) trong một lần đi đánh dẹp ở Lạng Sơn, do chưa rõ năm sinh nên chưa rõ ông thọ bao nhiêu tuổi. Một số tài liệu dân gian nói ông đỗ Thám hoa năm 29 tuổi. Nếu đúng vậy thì ông mất năm mới ngoài bốn chục tuổi mà thôi. Dưới thời trị vì của vua Tự Đức, ông từng dâng lời can gián Vua. Lời ấy, được sách Đại Nam chính biên liệt truyện (Nhị tập, quyển 34) trân trọng ghi lại, theo đó thì Mai Anh Tuấn đã can vua Tự Đức ngay khi Nhà vua vừa mới lên ngôi :

"Năm đầu đời Tự Đức (tức là năm Mậu Thân, 1848- NKT), quan ở Việt Đông (Quảng Đông, Trung Quốc - NKT) là Ngô Hội Lân, vì gặp bão mà phiêu bạt tới nước ta. Vua sai quan đem thuyền đưa về. Bộ Lễ và bộ Hộ nhân đó xin theo lệ cũ, đem thuyền đi hộ tống, chở theo thóc gạo và gỗ quý, lại còn đem thêm hai chục ngàn lạng bạc để sang mua hàng hóa chở về. (Mai) Anh Tuấn nhân Vua mới lên ngôi, muốn ngăn mầm xa xỉ, bèn dâng sớ nói lời rất thống thiết, đại để như sau :

- Việc sang mua bán ở Việt Đông, từng có lệnh đình chỉ, trong ngoài đều rõ cả. Nay, nếu cứ thương kẻ mắc nạn, mượn tiếng hòa hiếu với lân bang để đi doanh thương đổi chác, thế là giả danh đưa (người bị nạn) để chở hàng hóa về, người nước láng giềng tất sẽ tự hỏi : thuyền ấy là thuyền gì ? Vả chăng, nay ở Lạng Sơn, bọn thổ phỉ (Trung Quốc) tràn sang dễ đã đến mấy tuần, công văn giấy tờ hai nước qua lại trước sau bất nhất, (thế thì tai họa của quan ở Việt Đông kia) chỉ là vớ vẩn, không đáng gì với tai nạn của dân ta (ở Lạng Sơn). Thiết tưởng, việc làm (của bộ Hộ và bộ Lễ) không phải là việc nghĩa. Xin đem những hàng hóa dự định chở sang Việt Đông (nói trên) thưởng cho binh lính, khiến họ quét nhanh đám giặc ngoài biên cõi tới.

Tờ sớ ấy dâng vào, Vua sai bộ Lại bàn để trị tội, nhưng các vị đại thần đều liên tiếp dâng sớ xin tha. Vua liền nhẹ trách rồi sai (Mai Anh Tuấn) đi làm án sát ở Lạng Sơn. Bấy giờ, giặc đang bành trướng, ai cũng lấy làm nguy, nhưng (Mai) Anh Tuấn vẫn điềm nhiên vào bái mạng để ra đi".

Lời bàn : Can gián việc làm của vua khi vua mới lên ngôi là một sự lạ, nếu không phải là bậc có dũng khí và vững vàng bản lĩnh, quyết không thể làm được. Can gián việc làm của vua mà công việc ấy đã được sự ủng hộ mạnh mẽ của hai bộ lớn trong triều đình đương thời là bộ Lại và bộ Hộ, ấy là sự lạ thứ hai, nếu chẳng phải là đấng cương trực và khí khái hơn người, quyết không thể làm được.

Hóa ra, mượn cớ này để làm việc khác, miễn sao có lợi, cũng là chuyện vốn có của ngàn xưa. Vua mà như vậy cũng chẳng ai ưa, huống chi là quan lại các cấp. Vua giao Mai Anh Tuấn cho các quan ở bộ Lại xét hỏi để trị tội, tức là Vua muốn ra oai cho Mai Anh Tuấn biết mặt, bởi bộ Lại và bộ Hộ cũng cùng chung ý với Nhà vua. May thay, các bậc đại thần đã dâng sớ xin tha cho Mai Anh Tuấn. Cái chính không phải là nhờ đó, Mai Anh Tuấn được thoát nạn, mà là... nhờ đó, hậu sinh thấy các quan lúc ấy cũng có người đáng gọi là quan !

Biết là đến Lạng Sơn có thể chết bất cứ lúc nào nhưng Mai Anh Tuấn vẫn điềm nhiên vào bái mạng để ra đi. Và về sau, quả thật ông đã chết bởi cuộc tấn công cua thổ phỉ người Trung Quốc. Dũng thay ! Tên ông còn mãi, một phần cũng chính là nhờ ở dũng khí này vậy.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 15.08.2018, 15:54
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35192
Được thanks: 5243 lần
Điểm: 9.59
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại (Tập 7+8) - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
GIAI THOẠI 40 - THƯƠNG HẠI THAY, TRẦN ĐÌNH TÚC !

Trần Đình Túc quê ở Gio Linh (Quảng Trị) nhưng tiên tổ lại vốn là người Thanh Hóa. Tổ bảy đời của Trần Đình Túc là Trần Đông, theo Nguyễn Hoàng vào Nam. Thân phụ của Trần. Đình Túc là Trần Trung từng làm quan Hiệp trấn Phú Yên dưới thời Gia Long. Trần Đình Túc là con thứ hai của Trần Trung. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện (Nhị tập, quyển 35) thì Trần Đình Túc sinh năm Kỉ Tị (1809), mất năm Nhâm Thìn (1892) , thọ 81 tuổi. Năm Thiệu Trị thứ hai (1842), Trần Đình Túc đỗ Cử nhân và bắt đầu ra làm quan kể từ đó.

Thời Trần Đình Túc làm quan cũng là thời chính sự nước nhà rất rối ren, trong thì phong trào nông dân rầm rộ nổi lên ở khắp nơi, ngoài thì quân xâm lăng tràn vào cướp nước. Bấy giờ, ngay cả Nhà vua cũng lúng túng và bất lực. Sách trên viết rằng :

“Năm (Tự Đức) thứ chín (tức năm Bính Thìn, 1856 - NKT) lại bổ dụng (Trần Đình Túc) làm Tùy biện ở quân thứ Quảng Nam. Vua sai người chạy ngựa trạm vào, đón (Trần Đình Túc) về kinh đô để hỏi về ba chước là đánh,  giữ hay hòa. (Trần) Đình Túc xin dâng kế thanh dã (tức là kế làm vườn không nhà trống - NKT) và nói rằng kế ấy khiến giặc dẫu tiến đánh thế nào cũng chẳng kiếm được gì để ăn. Cứ thế mà làm mãi, sau nếu có hòa cũng không sao".

Các chước mà Nhà vua nói đến ở trên là những chước dự định ứng phó với người Pháp. Hai năm sau ngày Nhà vua hỏi ý kiến Trần Đình Túc, thực dân Pháp đã nổ súng xâm lược nước ta. Năm 1862, triều đình Huế phải cắt ba tỉnh miền Đông Nam Kì, rồi năm 1867, lại phải cam lòng cát nốt ba tỉnh miền Tây Nam Kì cho thực dân Pháp. Năm 1873, thực dân Pháp tấn công Hà Nội. Cuộc chiến tranh xâm lược của chúng đã lan rộng ra cả nước. Sách trên viết tiếp :

“Năm (Tự Đức) thứ hai mươi sáu (tức năm Quý Dậu, 1873 - NKT) đến lượt khu Đông Nam thành Hà Nội bị đánh úp. Sau đó, tỉnh Ninh Bình cũng bị mất về tay giặc. Phái viên của Pháp Các Nhi (tức Francois Garnier - NKT) có ý muốn thương lượng. Vua sai (Trần) Đình Túc lãnh chức Tổng đốc Hà Nội, cùng với quan Tuần phủ mới (của Hà Nội) là Nguyễn Trọng Hợp và quan án sát là Trương Gia Hội đi thương lượng, bàn định sao đó để lấy lại được thành trì. (Trần) Đình Túc tâu :

- Ở cõi phía Đông này, người Âu lan tràn đến đâu phải chỉ có một nước, cho nên, rõ ràng không thể lấy sức mà chống lại được. Nay, xin được chuyển thế cuộc : tất cả quan binh nhất loạt vừa mới phái tới hãy tạm đình chỉ và cho họ lưu lại ở đâu đó, thần sẽ xin cùng với các quan cộng sự đi ngay Hà Nội để thương lượng.

Vua y cho".

Lời bàn : Kể ra, cuộc đời Trần Đình Túc cũng còn khá nhiều sự kiện lớn khác nữa, nhung xét về tiết tháo của người làm quan khi vận nước lâm nguy, chừng ấy cũng đã quá đủ để phán quyết rồi.

Lúc quân Pháp chưa sang, Vua lo lắng và hoang mang nên một sai người đón Trần Đình Túc về để hỏi. Tiếc thay, chưa có giặc mà Trần Đình Túc đã lo... tính chước bỏ chạy rồi. Cái kế thanh dã mà Trần Đình Túc nói đến, thoạt nghe thì cứ tưởng là ông kế thừa được kinh nghiệm của tổ tiên, nhưng thực sự thì ngược lại. Bấy giờ chưa biết thực dân Pháp sẽ đánh ở đâu trước, chưa biết đất nào sẽ là chiến trường, làm sao lại có thể tính kế thanh dã được đã chứ. Chẳng lẽ nhất loạt khiến cả nước…trốn ! Lạ thay !

Giặc tìm cơ hội để đánh úp và thực sự đã đánh úp, vậy mà Trần Đình Túc lại xin triều đình phải lui binh để thương lượng. Ngây thơ đến thế là cùng. Trước đó sáu năm, cuộc thương lượng ở Nam Kì đã thất bại. Trước đó sáu năm, Phan Thanh Giản đã phải mượn chén độc dược để tự giải thoát khỏi những bi kịch đang vò xé tâm can ông. Tất cả, lẽ đâu Trần Đình Túc chẳng rõ.

Nhưng, riêng trách mình ông mà được chăng ? Cạnh ông, bao bậc đồng liêu cũng yếu bóng vía và chung nếp nghĩ. Trên ông, Nhà vua cũng nào có dũng khí gì đâu. Đọc sử thời này, hậu sinh chỉ còn biết lắc đầu ngao ngán. Vâng, đành phải nói vậy : Thương hại thay, Trần Đình Túc !


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 15.08.2018, 15:55
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35192
Được thanks: 5243 lần
Điểm: 9.59
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại (Tập 7+8) - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
GIAI THOẠI 41 – LỜI CAN CỦA QUAN KINH DIÊN KHỞI CHÚ LÀ NGUYỄN TƯ GIẢN

Nguyễn Tư Giản người huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh cũ, nay thuộc huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội. Ông là dòng dõi của Nguyễn Thực ( tức Thái tể Lan Quận công thời Lê Trung Hưng) và là cháu của danh sĩ Nguyễn Án. Thân phụ của Nguyễn Tư Giản là Nguyễn Tri Hoàn, làm quan tới chức Lang trung bộ Hình (thời Minh Mạng).

Nguyễn Tư Giản sinh năm Quý Mùi ( 1823), đỗ Tiến sĩ năm Giáp Thìn (1844), mất năm Bính Tuất (1886) thọ 63 tuổi. Thời Tự Đức (1848 - 1883), Nguyễn Tư Giản là một trong những cận thần của Nhà vua, được Nhà vua trao chức Kinh Diên Khởi chú, giúp việc giảng sách cho Vua. Tự Đức là một trong nhưng vị vua rất chăm chỉ nghe giảng thêm kinh sách, tuy nhiên, cũng có lúc vì quá bận việc, Nhà vua đã không thế tới tòa Kinh Diên để nghe giảng một cách đều đặn được. Quan Kinh Diên Khởi chú là Nguyễn Tư Giản lấy đó làm điều lo ngại, bèn cùng với đồng liêu dâng sớ can Vua. Việc này, sách Đại Nam chính biên liệt truyện (Nhị tập, quyển 35) ghi lại như sau :

“Nhà vua từng vì bận việc mà nghỉ nghe giảng sách. (Nguyễn) Tư Giản cùng với đồng liêu dâng sớ can, đại lược nói rằng :

- Tòa Kinh Diên đặt ra là cốt để làm nơi giảng giải cho rõ đạo học của thánh hiền, bồi bổ đức lớn cho đấng vua hiền, hiểu được nổi buồn còn ẩn khuất của dân, xét kĩ sự được, sự mất của đạo trị nước, tóm lại là không điều gì lại không có ở đó. Thế mà gần đây (thánh thượng) ít ra ngự ở tòa Kinh Diên, cũng chẳng thấy triệu bọn thần vào nơi Tiện Điện để đối đáp, (thần lấy làm) e ngại rằng vua tôi ngày một cách xa, lời giúp ích ngày một hiếm, dân tình ở dưới ngày càng bị che lấp, muôn việc ngày càng bị ngăn trở.... tất cả đều nảy sinh từ đây. Nay, mấy tháng liền rất ít mưa, ấy là trời đã răn bảo trước vậy. Cúi xin bệ hạ noi gương đời trước, hăng hái nối chí người xưa, ngày nghe giảng thì thân đến truyền bảo, ngày nghỉ thì triệu bọn thần đến để hỏi han. Thiết nghĩ, bệ hạ nên lắng nghe lời khuyên hối cải để bồi bổ đức lớn, không nên lấy sự chiều ý của người khác làm điều hay mà nên khuyến khích sự mạnh bạo, thẳng thắn. Với những người chầu hầu tả hữu, kẻ nào gian tà thì đuổi đi, kẻ nào nịnh hót thì giáng bỏ đi, mọi vật quý của lạ và những trò vui chơi, quyết không cho dâng lên trước mặt. Được như thế thì lúc động cũng như lúc tĩnh, lúc cất nhắc công việc cũng như khi vô sự yên bình, chẳng chút mảy may tình riêng nào có thể chen lấn vào được. Khi ham muốn riêng tư đã sạch thì lẽ trời sẽ tỏ, tâm như cõi hư không thì lòng trời cũng hiểu thấu, ắt sẽ sẵn giúp cho đến thành công. Bấy giờ, đem áp dụng vào việc cai trị thiên hạ thì thật chẳng có gì là khó cả. Nhược bằng không làm như vậy thì Kinh Diên chẳng qua chỉ là nơi bàn luận thơ văn, mà xét về ngọn nguồn, bọn thần chưa dám cho việc này là có ích".

Lời bàn : Người xưa nói rằng tiến vi quan, thối vi sư, nghĩa là tiến tới thì làm quan, lùi lại thì làm thầy. Nhưng cũng thuở xưa, có không ít người chẳng dám nói như vậy, ấy là các bác giảng quan tại tòa Kinh Diên, bởi vì họ, làm thầy và làm quan cũng chính là một đó thôi.

Xét lí lịch cuộc đời, xét cả tài lẫn đức, Nguyễn Tư Giản rất xứng là quan ở tòa Kinh Diên, nghĩa là rất xứng với vị thế của người thầy, vậy thì những gì xảy ra ở tòa Kinh Diên, ông hoàn toàn là người vô tội. Với không ít người, sự học chẳng qua là sự nên hay sự cần, còn đối với vua, sự học luôn luôn là sự buộc phải. Một khi xã tắc nằm trong tay kẻ ít học, đại họa là điều không thể không xảy ra. Từ góc độ đó mà nhìn nhận, thì lời của Nguyễn Tư Giản thật là lời nặng lòng với xã tắc vậy. Kính thay !


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 15.08.2018, 15:58
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35192
Được thanks: 5243 lần
Điểm: 9.59
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại (Tập 7+8) - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
GIAI THOẠI 42 - CHUYỆN LÊ ĐÌNH DAO

Lê Đình Dao người Thuận Xương, tỉnh Quảng Trị, sinh năm Quý Mùi (1823), mất năm Kỉ Mão (1879), thọ 56 tuổi. Khoa Tân Hợi, năm Tự Đức thứ tư (1851), Lê Đình Dao đỗ Phó bảng và bắt đầu làm quan kể từ đó. Tuy là người nổi tiếng học rộng nhưng Lê Đình Dao làm quan chỉ đến chức cao nhất là Viên ngoại lang bộ Hộ.

Sinh thời, Lê Đình Dao là người thanh liêm, đức độ và không bao giờ chịu cầu cạnh ai. Sách Đại Nam chính biên liệt truyện (Nhị tập, quyển 37) chép chuyện Lê Đình Dao có hai đoạn rất đáng lưu ý như sau:

- "Lê Đình Dao tự là Bá Ngọc, người Thuận Xương, tỉnh Quảng Trị. Thân phụ của ông tên là (Lê) Đình Khuê, nổi danh là bậc túc nho, nhưng bấy giờ đi thi cứ bị quan trường đánh hỏng mãi, bèn đến nơi hẻo lánh cư ngụ và mở trường dạy học, học trò theo học rất đông. Nhà (Lê Đình Khuê) rất nghèo, chỉ có mỗi một con trâu làm chỗ dựa để tính kế sinh nhai. Lúc nhỏ (Lê) Đình Dao phải vừa chăn trâu vừa học, tối về, thân phụ hỏi về nghĩa lí của sách, trả lời khá tốt nên thân phụ lấy làm lạ, bèn bán trâu đi để lo cho ông học hành. Khi lớn lên cũng là khi ông nổi tiếng hay chữ. Năm hai mươi lăm tuổi ông đỗ trường Hương (tức đỗ Cử nhân - NKT) và năm sau thi Hội thì đỗ đấu bảng phụ (tức đứng đầu hàng Phó bảng - NKT)”.

- “(Lê) Đình Dao tính tình chất phác, hòa thuận, có phong độ của bậc cổ nhân. Ông làm quan trải gần ba mươi năm nhưng chỉ chìm đắm ở hàng quan thấp, vậy mà vẫn điềm nhiên an phận, không hề tỏ rõ sự buồn bực với ai. Bấy giờ (Lê Đình) Dao có nhiều bạn bè là người cùng quê, làm quan với những chức vụ rất quan trọng, nên cũng có người khuyên ông, chỉ cần tới yết kiến vài lần là được chức quan cao hơn, nhưng (Lê) Đình Dao chỉ từ tạ mà nói là mình vụng về, đâu dám lạm làm như thế. Khi ông về già, bạn bè nhiều người được làm quan to, nhiều lần xin tiến cử (Lê Đình) Dao lên hàng đại thần, và đã xin được chỉ dụ chấp thuận của Vua, nhưng chưa kịp nhận chức thì (Lê) Đình Dao đã mất.”

Lời bàn : Với nhà nông thuở nào, con trâu là đầu cơ nghiệp, ngờ đâu, cả đến nhà của bậc túc nho như Lê Đình Khuê, đầu cơ nghiệp lại cũng là con trâu. Gia sản chỉ có con trâu là đáng giá, vậy mà Lê Đình Khuê vẫn bán đi để lấy tiền cho con ăn học, cái tình của bậc làm cha như ông thật đáng nêu gương cho muôn đời. Thụ bẩm được tình sâu nghĩa nặng ấy. Lê Đình Dao đức độ hơn người, kể cũng là dễ hiểu thôi.

Âm thầm làm tròn chức phận, không cầu cạnh cũng chẳng kèn cựa ai, với thời Lê Đình Dao, đó mới là sự lạ. Đương thời, cũng có người tỏ ra không hiểu ông, thậm chí còn lấy đó làm điều thương hại, thế mà trước sau ông vẫn vui giữ nếp nhà trong sạch, kính thay !

Làm dân mà không tham, không cầu cạnh, đức ấy đủ để cả một nhà vui hưởng. Làm quan mà không tham, không cầu cạnh, đức ấy đủ để cả một vùng cậy nhờ. Đức độ của kẻ chăn dân quan hệ mật thiết đến sinh linh của trăm họ, vậy mà tiếc thế, trăm quan may mới có một người như Lê Đình Dao. Thế mới biết tại sao, chức quan nhỏ như Lê Đình Dao lại có tên trong bộ sử lớn của nước nhà.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 15.08.2018, 16:00
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35192
Được thanks: 5243 lần
Điểm: 9.59
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại (Tập 7+8) - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
GIAI THOẠI 43 - HẠNH NGHĨA TÔ THẾ MỸ

Sách Đại Nam chính biên liệt truyện (Nhị tập) đã dành trọn quyển thứ 42 để chép chuyện các bậc được coi là hạnh nghĩa (nổi danh là có đức hạnh và tiết nghĩa). Quyển này có chép chuyện Tô Thế Mỹ, bởi vậy, xin gọi đây là Hạnh nghĩa Tô Thế Mỹ. Tô Thế Mỹ sinh và mất năm nào không rõ, sách chỉ cho biết đại để ông sống vào khoảng giữa thế kỉ XIX mà thôi. Ông người tỉnh Bình Định.

Nhờ được đi học, Tô Thế Mỹ có biết chút ít chữ nghĩa nhưng ông không tham gia thi cử. Khi học được câu :"Thờ cha mẹ phải lấy sự kính trọng và sự theo điều phải làm đạo lớn”. Ông cảm thấy thấm thía. và từ đó trở nên rất hiếu thảo. Sách trên chép rằng :

“Người cha (của Tô Thế Mỹ) tính nóng nảy, hay cãi cọ tranh giành với mọi người, cho nên (Tô Thế) Mỹ thường phải dùng những lời dịu dàng để ngăn đi. Một hôm, cha ông có chuyện xích mích với hàng xóm, liền vác gậy ra, tính đánh lộn. (Tô Thế) Mỹ vừa ôm lấy kêu khóc, vừa khéo léo nói với người hàng xóm, khiến họ cũng xuôi tai mà thôi.

Người mẹ (của Tô Thế) Mỹ thì tính rất hà tiện. Mỗi khi vào bữa, bà liền hỏi giá tiền các thứ thức ăn, hễ bữa nào thấy hơi có chất tươi chất béo là bỏ đũa xuống không ăn nữa vì sợ tốn. Bởi thế (Tô Thế) Mỹ phải bảo nhỏ với vợ con là đừng kể thật giá thức ăn với mẹ mà cứ nói hạ xuống. Ông lại thưa cùng mẹ rằng :

- Con nhờ có cơ nghiệp sẵn, lại cũng cần cù làm lụng, cho nên, cái ăn cái mặc trong nhà không đến nỗi thiếu thốn.

Khi người cha bị bệnh, việc cơm cháo thuốc men đều tự tay (Tô Thế Mỹ) trông coi, sớm chiều chăm sóc, tận tụy quên ăn quên ngủ. Khi người cha mất, ông đem táng ở núi. Nơi ấy nhiều cọp, (Tô Thế) Mỹ liền khiêng đá đắp thành mộ rồi làm nhà ở đó đúng ba năm, cọp vẫn thường đi ngang qua đó nhưng không hề làm hại ông.

Sau, đến lượt người mẹ ông bị bệnh, bà dặn rằng, đừng làm như trước (tức là đừng làm nhà canh mộ như đã làm với cha ông- NKT) khiến phải bỏ bê công việc và khổ lụy đến con cháu. Nhưng khi mẹ mất, ông lại hợp táng bên cạnh mộ cha rồi làm nhà ở đó canh mộ đến ba năm, củi nước đều tự tìm lấy mà dùng, vất vả lại thêm xót thương quá mà lâm bệnh. Người làng thấy thương mà đưa ông về. Năm ấy ông 38 tuổi. Năm Tự Đức thứ mười hai (tức năm Kỉ Mùi, 1859 - NKT), Nhà vua biết, khen là con có hiếu, ban cho tấm biển vàng và tiền lụa để thưởng".

Lời bàn : Vì một mục đích tốt đẹp nào đó, nói dối đôi khi cũng là cần, thậm chí là rất cần nữa. Như người mẹ của Tô Thế Mỹ, giá thử lúc nào cũng được nghe chính xác về giá cả của thức ăn hàng ngày, chắc chắn bữa cơm nhà ông lúc nào cũng buồn tẻ mà thôi. Nhai nuốt lương thực và thực phẩm chưa phải là ăn, bữa ăn của mọi gia đình còn có một thứ quan trọng hơn cả lương thực và thực phẩm nữa, đó là không khí vui vẻ và thương yêu đằm thắm

Làm nhà canh mộ cho cha mẹ, đó là tục xưa. Thời ấy, tục ấy và làm đúng theo tục như Tô Thế Mỹ là chí phải. Tân thời mà nệ cổ là có lỗi, nhưng tân thời mà không chấp nhận việc cổ nhân xử theo tục cổ, hẳn nhiên cũng có lỗi. Bởi nghĩ vậy hậu sinh dùng bút khoanh tay thi lễ, thưa rằng : Kính thay, hạnh nghĩa Tô Thế Mỹ !


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 15.08.2018, 16:01
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35192
Được thanks: 5243 lần
Điểm: 9.59
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại (Tập 7+8) - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
GIAI THOẠI 44 - SƠN NHÂN HÒA THƯỢNG

Sơn Nhân Hòa thượng là hiệu của Giác Ngộ Hòa thượng. Hiệu này do chính vua Minh Mạng ban cho. Giác Ngộ Hòa thượng người Gia Định, tên họ là gì chưa rõ, xuất gia năm nào và viên tịch năm nào cũng chưa ai hay. Sách Đại Nam chính biên liệt truyện (Nhị tập, quyển 43) chép rằng :

“Lúc đầu (Sơn Nhân) từng phải (đi phu), lo việc đẽo đá để xây thành rất chăm chỉ. (Một hôm, Sơn Nhân) chợt thấy trong tảng đá lớn có bức tượng Phật, liền phát nguyện đi tu, đem tượng ấy vào rừng và đoạn tuyệt với thế tục. Sau, có người ở Phú Yên bỗng thấy chùa Thôn Không ở trên núi có người đến ở. Nguyên xưa người của thôn này có dựng ngôi chùa ở trên núi, nhưng núi lắm cọp (nên bỏ không). Thấy Sơn Nhân tới ở, họ kính sợ mà hỏi thăm. Sơn Nhân đáp :

- Ta là ta, cọp là cọp.

Lại hỏi .

- (Sơn Nhân) học chú ở đâu mà có thể khiến được cọp ?

(Sơn Nhân) đáp :

- Ta chỉ có sáu chữ Nam-mô-a-di-đà Phật. Thế thôi !

Bấy giờ là lúc dịch bệnh đang hoành hành, đâu cũng có người bị mắc phải bệnh dịch mà chết, duy chỉ có thôn ấy, nhờ Sơn Nhân cầu đảo tụng niệm nên mới được yên. Quan tỉnh (chưa rõ họ tên) chẳng may có người con bị đau tim, cúng vái thuốc men mãi mà cũng không công hiệu gì, người người đều cho là bị yêu tinh cọp cái quấy nhiễu, bởi vậy, quan tỉnh liền sai người đi đón mời Sơn Nhân. Sơn Nhân hỏi :

- Nhà quan tỉnh ở nơi nào ?

Người đi thỉnh Sơn Nhân đáp :

- Ở hướng Đông.

Sơn Nhân nói :

- Ngươi về trước đi. Ta biết rồi.

Người ấy chưa về đến nơi thì Sơn Nhân đã tới bắt mạch và nói :

- Hổ tinh nương, tha cho kẻ ngây thơ dại dột này đi. Tha đi !

(Nói xong thì) chợt nghe như có tiếng động, tựa có tấm lụa bay vút ra ngoài rồi tan biến mất. Con của quan tỉnh khỏi bệnh. Quan tỉnh liền đem việc ấy tâu lên, Thánh Tổ Nhân Hoàng đế (tức là vua Minh Mạng - NKT) xuống sắc dụ cho triệu vào nội điện, cho ngồi và hỏi nhờ đâu mà đắc đạo. Xong, Nhà vua ban cấp rất hậu, nhưng không nhận. Vua nói :

- Đời xưa có câu : Thuần nhất không pha là hòa, muôn loài đều tôn là thượng, hòa thượng chính là người đấy ư ?

Nói rồi, bèn ban cho hiệu là Sơn Nhân Hòa thượng, lại sắc cho Hòa thượng đến ở các chùa công".


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 15.08.2018, 16:03
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35192
Được thanks: 5243 lần
Điểm: 9.59
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại (Tập 7+8) - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
GIAI THOẠI 45 – ĐỖ TIẾT PHỤ

Đỗ tiết phụ có nghĩa là người đàn bà tiết hạnh, họ Đỗ, còn như tên bà là gì thì chưa rõ. Bà là vợ của người nông dân quê ở huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, tên là Lê Đình Dũng. Gia đình Lê Đình Dũng kể cũng khá đặc biệt : bà nội góa chồng năm hai mươi tuổi, mẹ góa chồng năm hai mươi lăm tuổi và Lê Đình Dũng cũng mất sớm, để lại người vợ góa là Đỗ tiết phụ nói trên. Lúc chồng mất, bà mới hai mươi tuổi. Chuyện Đỗ tiết phụ được sách

Đại Nam chính biên liệt truyện (Nhị tập, quyển 44) chép lại như sau :

"Đỗ Thị người huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, vợ của nhà nông tên là Lê Đình Dũng. Năm mười chín tuổi, bà về nhà chồng, được hơn một năm thì sinh hạ một người con gái. Thế rồi chồng bà mất, con gái của bà cũng mất khi còn ở tuổi vị thành niên. Gia đình của Lê Đình Dũng nghèo, ít anh em, bà mẹ lại già yếu và mù lòa. Đỗ Thị lo tang chồng, tang con và nuôi dưỡng mẹ chồng, xóm giềng ai ai cũng cho là có hiếu. Đỗ Thị có nhan sắc nên có người muốn nhờ mai mối để xin hỏi, nhưng bà kiên quyết chối từ. Năm Bính Tuất (tức là năm 1886 - NKT) do có việc phải dấy binh (chỉ việc thực dân Pháp đàn áp cuộc khởi nghĩa Ba Đình do Đinh Công Tráng, Phạm Bành, Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước chỉ huy - NKT), đêm đêm, dân trong thôn thường vì sợ hãi mà đem nhau chạy trốn vào các bụi rậm. Thôn ấy có người cùng chạy (với Đỗ Thị), nhân đó muốn làm chuyện dâm loạn. Đỗ Thị liền lấy con dao nhọn giấu sẵn trong người ra và mắng rằng :

- Chuột nhắt không sợ cọp ư ?

Bà cứng rắn, tiết liệt đại để là như thế. Mẹ chồng của bà vẫn thương mà lo cho hoàn cảnh của bà mai sau, bèn nói :

- Con còn trẻ, như muốn yên phận nghèo với ta cũng được mà nếu không cũng chẳng sao. Ta già rồi, ắt phải chết, đừng quyến luyến mà làm gì nữa.

(Đỗ) Thị cau mày nói rằng :

- Nếu con mà đi (bước nữa) thì lão mẫu trông cậy vào ai. Nhà ta trinh bạch đã hai đời nay (chỉ việc mẹ và bà nội của Lê Đình Dũng đều là góa bụa - NKT), nếu để thẹn cho đạo làm vợ (ý nói đi tái giá, không giữ tiết đến cùng - NKT) thì lập tức sẽ làm ô nhục (danh giá của gia đình) đó.

Từ đó bà thề như con én một mình, hơn hai mươi năm chịu kham chịu khó, nhà nghèo nhưng mẹ chồng nàng dâu vẫn yên phận nương tựa nhau.”

Lời bàn : Phụ nữ xưa, nếu chẳng may chổng mất sớm, phải chịu cảnh góa bụa lúc còn phơi phới tuổi xuân, thì những người được coi là có tiết hạnh, thường chết theo chồng hoặc là thủ tiết thờ chồng cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay, ấy là chuẩn mực đạo đức của một thời, đúng sai thế nào, xin miễn bàn tới, chỉ biết rằng làm theo được chẳng phải là chuyện dễ đâu.

Người đàn bà Đỗ trong chuyện này thì yêu chồng, kính mẹ chồng, kính gia phong tốt đẹp của nhà chồng và muốn được góp phần giữ gìn gia phong tốt đẹp đó. Thân gái mà nuôi dưỡng mẹ chồng mù lòa trong điều kiện nghèo khó, đáng phục lắm thay. Thời loạn, khéo giữ thân đã khó, người có sắc đẹp mà sống trong cảnh nghèo nàn, giữ được sự đoan chính lại còn khó hơn. Sử cũ chép lại chuyện này, quả là chí phải.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 15.08.2018, 16:15
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35192
Được thanks: 5243 lần
Điểm: 9.59
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại (Tập 7+8) - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
THẾ THỨ CÁC VUA TRIỀU NGUYỄN

Để bạn đọc tiện theo dõi, chúng tôi biên soạn thêm phần phụ lục này. Mặc dù sách chỉ giới thiệu những giai thoại xảy ra trong thế kỉ XIX, nhưng với Thế thứ các vua triều Nguyễn, chúng tôi liệt kê đầy đủ, tất cả các vị vua của triều đại này. Tất nhiên, với tư cách là liệt kê thế thứ, nhiều chi tiết liên quan đến các đời vua, nếu xét thấy không cần thiết đều bị lược bỏ.

01 - NGUYỄN THẾ TỔ (1802 - 1819)

- Họ và tên : Nguyễn Phúc Chủng, tự là Phúc Ánh, con thứ ba của Nguyễn Phúc Luân (tức Nguyễn Phúc Kỳ), cháu nội của Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát.

- Sinh ngày 15 tháng 1 năm Nhâm Ngọ (1762), xưng vương năm 1780 đánh bại Tây Sơn và lên ngôi Hoàng đế vào ngày 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802).

- Ở ngôi 17 năm, đặt niên hiệu là Gia Long, mất ngày 19 tháng 12 năm Kỉ Mão (1819), thọ 57 tuổi.

02 - NGUYỄN THÁNH TỔ (1820 - 1840)

- Họ và tên : Nguyễn Phúc Hiệu, tự là Phước Đảm, con thứ tư của vua Nguyễn Thế Tổ (Gia Long), thân mẫu người họ Trần, sau được tôn phong là Thuận Thiên Cao Hoàng hậu.

- Sinh năm Tân Hợi (1791), được lập làm Thái tử từ tháng 6 năm Bính Tí (1816), lên nối ngôi từ tháng 12 năm 1819, ở ngôi 20 năm, đặt niên hiệu là Minh Mạng (1820 - 1840), mất năm Canh Tí (1840), thọ 49 tuổi.

03 - NGUYỄN HIẾN TỔ (1841 - 1847)

- Họ và tên : Nguyễn Phúc Miên Tông, con trưởng của vua Nguyễn Thánh Tổ (Minh Mạng), thân mẫu người họ Hồ.

- Sinh năm Đinh Mão (1807), lên nối ngôi vào tháng 1 năm Tân Sửu (1841), ở ngôi 6 năm, đặt niên hiệu là Thiệu Trị (1841- 1847), mất vào tháng 9 năm Đinh Mùi (1847), thọ 40 tuổi.

04 - NGUYỄN DỰC TÔNG (1848 - 1883)

- Họ và tên : Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, con thứ hai của Nguyễn Hiến Tổ (Thiệu Trị), thân mẫu người họ Phạm.

- Sinh vào tháng 8 năm Kỉ Sửu (1829), lên nối ngôi từ tháng 10 năm Đinh Mùi, đặt niên hiệu là Tự Đức (1848 - 1883), ở ngôi 35 năm, mất vào tháng 6 năm Quý Mùi (1883), thọ 54 tuổi.

05 - NGUYỄN DỤC ĐỨC (1883)

- Họ và tên : Nguyễn Phúc Ưng Chân, con của Nguyễn Phúc Hồng Y nhưng lại làm con nuôi của Nguyễn Dực Tông (Tự Đức).

- Sinh năm Quý Sửu (1853), lên nối ngôi được ba ngày (20, 21 và 22 tháng 7 năm 1883) rồi bị phế và bị giết, thọ 30 tuổi.

06 - NGUYỄN HIỆP HÒA (1883)

- Họ và tên : Nguyễn Phúc Hồng Dật, con của Nguyễn Hiến Tổ (Thiệu Trị) và là em của vua Nguyễn Dực Tông (Tự Đức).

- Sinh năm nào không rõ, được lên nối ngôi 4 tháng (từ tháng 8-1883 đến tháng 11 - 1883), đặt niên hiệu là Hiệp Hòa, bị giết vào ngày 18 tháng 11 năm 1883, chưa rõ năm sinh nên không biết là thọ bao nhiêu tuổi.

07 - NGUYỄN GIẢN TÔNG (1884)

- Họ và tên : Nguyễn Phúc Ưng Đăng, con của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai nhưng lại làm con nuôi của vua. Nguyễn Dực Tông (Tự Đức).

- Sinh năm Kỉ Tị (1869), lên nối ngôi từ tháng 11 năm 1883, đặt niên hiệu là Kiến Phúc, mất vì bệnh vào tháng 4 năm Giáp Thân thọ 15 tuổi.

08 - NGUYỄN HÀM NGHI (1884 - 1888)

- Họ và tên : Nguyễn Phúc Ưng Lịch, con của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và là em ruột của vua Nguyễn Giản Tông (Kiến Phúc).

- Sinh năm Nhâm Thân (1872), lên nối ngôi vào tháng 6 năm 1884 dặt niên hiệu là Hàm Nghi từ 1885. Hàm Nghi là niên hiệu chứ không phải là miếu hiệu, nhưng vì vị vua này không có miếu hiệu nên tạm lấy niên hiệu chép thay, tương tự như các vua Nguyễn Dục Đức và Nguyễn Hiệp Hòa.

09 - NGUYỄN CẢNH TÔNG (1885 - 1888)

- Họ và tên : Nguyễn Phúc Ứng Xuy, con của Nguyễn Phúc Hồng Cai và là anh ruột của các vua Kiến Phúc, Hàm Nghi.

- Sinh năm Quý Hợi (1863), lên nối ngôi vào tháng 8 năm 1885 (sau khi vua Hàm Nghi xuất bôn đánh Pháp), ở ngôi 3 năm, đặt niên hiệu là Đồng Khánh (1885 - 1888), mất vào tháng 12 năm Mậu Tí (1888) thọ 25 tuổi.

10 - NGUYỄN THÀNH THÁI (1889 - 1907)

- Họ và tên : Nguyễn Phúc Bửu Lân, con của vua Dục Đức, thân mẫu người họ Phan.

- Sinh năm Kỉ Mão (1879), lên nối ngôi năm 1889. Ở ngôi 8 năm, đặt niên hiệu là Thành Thái (1889 - 1907), sau bị Pháp đem đi đày tại đảo Réunion (Châu Phi thuộc Pháp), mất năm 1954, thọ 65 tuổi.

11 - NGUYỄN DUY TÂN (1907 - 1916)

- Họ và tên : Nguyễn Phúc Vĩnh San, con thứ 8 của vua Thành Thái.

- Sinh năm 1900, lên nối ngôi năm 1907, ở ngôi 9 năm, đặt niên hiệu là Duy Tân (1907 - 1916), sau bị Pháp đày sang đảo Réunion, mất năm 1945, thọ 45 tuổi.

12 - NGUYỄN HOẢNG TÔNG (1916 - 1925)

- Ho và tên : Nguyễn Phúc Bửu Đảo, con của vua Đồng Khánh.

- Sinh năm Nhâm Ngọ (1882), lên nối ngôi năm 1916. Ở ngôi 9 năm, đặt niên hiệu là Khải Định (1916 - 1925), mất năm 1925. thọ 43 tuổi.

13 - NGUYỄN BẢO ĐẠI (1925 - 1945)

- Họ và tên : Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, con của vua Khải Định.

- Nối ngôi năm 1925, ở ngôi 20 năm, đặt niên hiệu là Bảo Đại, năm 1945, khi Cách mạng tháng Tám bùng nổ và thắng lợi. Bảo Đại đã phải thoái vị.

Như vậy, triều Nguyễn gồm có 13 đời vua, nối nhau trị vì suốt 143 năm. Được dựng lên nhờ đánh bại phong trào Tây Sơn và bị sụp đổ bởi cuộc Cách mạng tháng Tám.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 15.08.2018, 17:00
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 35192
Được thanks: 5243 lần
Điểm: 9.59
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại (Tập 7+8) - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
LỜI CHÚ CUỐI SÁCH

Để bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ, đỡ mất công tra cứu, chúng tôi viết thêm lời chú cuối sách này. Tất cả những từ hoặc những khái niệm nào xét thấy cần chú thích thì chúng tôi mới chú thích. Con số để trong dấu ngoặc đơn, để ngay bên cạnh các từ hoặc các khái niệm là số thứ tự của các giai thoại. Chúng tôi xin được lưu ý bạn đọc rằng, lời chú này chỉ đúng với tập này mà thôi.

ÁN SÁT SỨ (30) : Chức quan đứng hàng thứ ba trong số các quan đầu tỉnh, chuyên trông coi việc xét xứ án kiện và ngục tụng.

BẮC THÀNH (07) : Đơn vị hành chánh của nước ta thời Gia Long đến nửa sau đời Minh Mạng (từ năm 1802 đến năm 1832). Bấy giờ triều Nguyễn lập ra Bắc thành để cai quản các trấn thuộc Bắc Kì và Gia Định thành để cai quản các trấn thuộc Nam Kì. Đứng đầu Bắc thành là chức Bắc thành Tổng trấn, đứng đầu Gia Định thành là chức Gia Định Tổng trấn. Từ năm 1832, khi đơn vị cấp trấn bị bãi bỏ và thay vào đó là đơn vị cấp tỉnh, thì Bắc thành và Gia Định thành cũng không còn nữa.

BIÊN TU (30) : Chức quan lo việc biên chép sử sách, hàm khởi điểm thường là Chánh thất phẩm.

BIÊN VỤ (34) : Chức quan chuyên lo việc theo dõi tình hình ở biên giới. Đây chỉ là chức quan nhất thời, chỉ đặt ra khi biên giới có những vấn đề cần quan tâm mà thôi.

BÌNH PHÚ TỔNG ĐỐC (18), (19) : Tổng đốc là chức quan đứng đầu ngạch hành chính ở cấp tỉnh. Thường thì mỗi tỉnh có một quan Tổng đốc, nhưng cũng nhiều khi hai tỉnh hoặc ba tỉnh mới có một quan Tổng đốc. Ở đây, Bình là Bình Định. Phú là Phú Yên.

BỞI LÒNG CHÚNG CHẲNG NGHE THIÊN TỬ CHIẾU, ĐÓN NGĂN MẤY DẶM MÃ TIỀN ; THEO BỤNG DÂN PHẢI CHỊU TƯỚNG QUÂN PHÙ, GÁNH VÁC MỘT VAI KHỔN NGOẠI (33) : Câu trích từ Văn tế Trương Định của Nguyễn Đình Chiểu. Cả câu ý nói : Bởi vì nhân dân không chịu nghe theo chiếu chỉ của Vua (chỉ việc vua Tự Đức xuống chỉ dụ, bắt Trương Định phải bãi binh, không được đánh Pháp nữa), cho nên đã ra đứng, hàng ngũ dài đến mấy dặm, đón phía trước ngựa của Trương Định, ngăn ông không nên từ bỏ nghĩa binh (và ông đã ở lại). Vì theo nguyện vọng của dân mà Trương Định đã nhận tướng quân phù (tức là nhận tấm thẻ làm phù hiệu của tướng quân), lo gánh vác trách nhiệm coi giữ một vùng đất của vua. Câu này lấy ý từ một câu của sách Hán thư (Trung Quốc) như sau : Niết dĩ nội, quả nhân chế chi ; Niết dĩ ngoại tướng quân chế chi" nghĩa là từ ngạch cửa này trở vào thì quả nhân coi giữ, từ ngạch cửa này trở ra là tướng quân coi giữ.

BỨC CỐC (09) : Tên đất. Đất này nay thuộc tỉnh Bình Định.

CAI CƠ (20) : chức quan Võ bậc trung. Cai cơ thường được quyền chỉ huy một cơ binh, mỗi cơ binh, nếu gồm đủ thì có khoảng 500 quân.

CAO MAN (29) : Tức Cao Miên, nay là Campuchia.

CẨM Y CHƯỞNG VỆ (10) : Chức võ quan bậc trung, Cẩm y chỉ là mĩ từ được ban thêm để tỏ sự ân sủng của chúa, còn Chưởng vệ là chức đứng đầu một Vệ. Thời chúa Nguyễn Phúc Thuần, đơn vị Vệ thường rất phức tạp, lớn nhỏ không chừng. Tuy nhiên, quan Chưởng vệ bao giờ cũng được xếp vào hàng bậc trung.

CÔ (18) : Từ khiêm xưng của vua. Quan lại, dầu lớn bao nhiêu cũng không được xưng như vậy. Bởi thế, triều thần cho là Lê Văn Duyệt đã phạm trọng tội khi tự xưng là cô.

CƠ MẬT ĐẠI THẦN, HIỆP BIỆN ĐẠI HỌC SĨ (28) : vị quan lớn, được quyền dự bàn những việc cơ mật của quốc gia, chức Hiệp biện Đại học sĩ. Chức này thường có hàm Tòng nhất phẩm.

CƠ MẬT VIỆN (38) : Tên cơ quan. Cơ Mật Viện là cơ quan của các bậc đại thần, những người có trọng trách bàn bạc các vấn đề cơ mật của quốc gia để vua tham khảo.

CƠ MẬT VIỆN ĐẠI THẦN (27) : Tên chức quan. Chức này dành cho các vị quan lớn làm việc ở Cơ Mật Viện.

CỤC BẢO TUYÊN (30) : Tên cơ quan. Cơ quan này chuyên lo việc đúc tiền cho nhà nước.

CHỦ SỰ (27), (30) : Tên chức quan. Chức này đại để cũng như chánh văn phòng của một bộ nào đó.

CHIÊM Ê (13) : Tên đất. Đất này nay thuộc Thừa Thiên - Huế.

CHUYỆN HOÀNG BÀO Ở TRẦN KIỀU (8) : Chuyện về Triệu Khuông Dận (ở Trung Quốc). Triệu Khuông Dạn vốn là tướng của nhà Hậu Chu, khi ông đem quân đến Trần Kiều thì được tướng sĩ khoác áo bào cho và tôn lập làm vua. Đó là vua Tống Thái Tổ. Đây các triều thần vu cho Lê Văn Duyệt tội có ý cướp ngôi như Triệu Khuông Dận đã cướp ngôi của nhà Hậu Chu.

DƯƠNG KIÊN (19) : Tên người. Dương Kiên người Trung Quốc, sống vào khoảng nửa sau của thế kỉ thứ VI. ông là quan Phụ chính Đại thần, có con gái là Hoàng hậu của vua Tuyên Đế nhà Bắc Chu (một trong những nước của Bắc Triều thời Nam - Bắc Triều ở Trung Quốc). Lúc vua Tuyên Đế mất, vua nối ngôi là Tĩnh Đế (cũng là cháu ngoại của Dương Kiên) hãy còn nhỏ, nhân đó, Dương Kiên đã mượn tiếng khoan dung để thu phục lòng người rồi nhân đây mà cướp ngôi nhà Bắc Chu. Dương Kiên là người sáng lập ra nhà Tùy (581 - 618). Ông chính là vua Tùy Văn Đế. Đây các triều thần có ý vu cho Lê Chất tội xin Hoàng tử làm con nuôi của mình, chẳng qua chỉ cốt bắt chước Dương Kiên, lập mưu cướp ngôi mà thôi.

ĐÀN NAM GIAO (13) : Tức đàn tế Giao. Tế Giao là tế trời đất, lễ đại tế này chỉ có Thiên tử mới được cử hành. Đàn tế Giao bao giờ cùng đắp ở phía Nam của kinh đô nên mới gọi là đàn Nam Giao. Thông thường, đàn Nam Giao có hai phần đắp chồng lên nhau. Phần dưới hình vuông, tượng trưng cho đất, gọi là phương đàn nghĩa là đàn hình vuông). Phần trên hình tròn, tượng trưng cho trời, gọi là viên đàn (đàn hình tròn). Từ thời Lê trở về trước, đàn Nam Giao của nước ta ở Hà Nội, thời Nguyễn, đàn Nam Giao ở Huế.

ĐẢO CỔ CỐT (13) : Tên đảo. Nay đảo này thuộc tỉnh Kiên Giang.

ĐÔ ĐỐC (09) : Đây là chức của tướng Tây Sơn là Nguyễn Văn Khôn. Thời Tây Sơn, Đô đốc là chức võ quan cao cấp. Tuy nhiên, vì hệ thống quan chức thời này chưa chặt chẽ, cho nên chỉ có thể tạm hiểu như thế mà thôi.

ĐÔ SÁT, PHÓ NGỰ SỬ VIỆN (28) : Tên chức quan. Đô sát là chức quan làm việc tại Ngự Sử Viện (cơ quan lo việc can gián hoặc hặc tội bá quan, dâng lời can gián đối với cả nhà vua khi xét thấy cần thiết). Chức này cũng tương tự như chức Gián quan, Ngôn quan hoặc Ngự sử. Phó Ngự Sử Viện là quan đứng hàng thứ hai của cơ quan Ngự Sử Viện.

ĐÔ SÁT VIỆN (27) : Cũng tức là Ngự Sử Viện hay Ngự Sử Đài.

ĐÔ THỐNG (10) : Vinh hàm mà vua Gia Long vẫn thường ban cho các quan đứng đầu một trấn. Đây là vinh hàm của quan trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Văn Hiếu.

ĐÔ THÔNG CHẾ (09) : Chức võ quan cao cấp của Nguyễn Phúc Ánh. Do lúc này, hệ thống quan chức chưa chặt chẽ, nên tạm hiểu là như thế cũng được.

ĐÔNG ĐỘC BỘ (37) : Tên đất. Đất này nay thuộc huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

ĐỒNG TRI PHỦ (38) : Tương đương với chức Tri phủ. Tri phủ là quan đứng đầu một phủ. Người được hưởng hàm thực thụ thì gọi là Tri phủ, người chỉ mới cho hưởng hàm tương đương với Tri phủ thì gọi là Đồng tri phủ.

ĐƯỜNG THÁI TÔNG (32) : Vua thứ hai của nhà Đường (Trung Quốc), họ và tên thật là Lý Thế Dân, lên ngôi năm 626, ở ngôi 22 năm (từ năm 626 đến năm 648).

GIÁM THÍ (12) : Coi thi.

GIÁO ĐẠO Ở NHÀ DỤC ĐỨC (38) : Giáo đạo là chức quan lo việc dạy học ở triều đình. Nhà Dục Đức là nhà nghe giảng học của các Hoàng tử thời Nguyễn.

GIÁO TẬP Ở NHÀ QUẢNG PHÚC (30) : Giáo tập cũng là tên chức quan chuyên lo việc dạy học ở triều đình. Nhà Quảng Phúc là nơi các Hoàng tử và con em trong hoàng tộc nghe giảng học.

GIÁO THỤ (38) : Tên chức quan chuyên trông coi về giáo dục ở cấp phủ.

HÀ CÁT (37) : Tên đất. Đất này nay chưa rõ là ở đâu, chỉ biết đại để nằm ở vùng duyên hải phía Đông Bắc của nước ta.

HÀN LÂM TU SOẠN (37) : Tên chức quan. Chức này chuyên lo việc biên chép ở cơ quan Viện Hàn Lâm của triều đình.

HÀN LÂM THỊ ĐỘC (30) : Tên chức quan. Chức này chuyên lo việc rà soát lại các văn bản của Viện Hàn Lâm trước khi trình duyệt.

HÀN LÂM VIỆN THỊ GIẢNG (37) : Tên chức quan. Chức này chuyên lo việc công bố các văn bản của Viện Hàn Lâm.

HÁN MINH ĐẾ (32) : Vua thứ hai của nhà Đông Hán (cũng gọi là nhà Hậu Hán) ở Trung Quốc, làm vua từ năm 57 đến năm 74.

HÁN QUANG VÕ (32) : Vua đầu tiên của nhà Đông Hán (cũng gọi là nhà Hậu Hán) ở Trung Quốc, làm vua từ năm 25 đến năm 57.

HÁN VĂN ĐẾ (32) : Vua thứ ba của nhà Tây Hán (cũng gọi là nhà Tiền Hán) ở Trung Quốc, làm vua từ năm 135 trước Công nguyên đến năm 157 trước Công nguyên.

HÀNG PHÓ KHANH (38) : Thời này, các chức quan ở các bộ, nếu thấp hơn Thượng thư mà cao hơn Lang trung thì được xếp chung vào hàng Phó khanh.

HÀNH TẨU (38) : Chức quan hạng thấp, lo giúp việc ở các bộ hoặc ở các cơ quan của triều đình. Chức này thường dùng cho các quan đang trong thời kì tập sự.

HẬU QUÂN (08) : Thời này, quân đội thường được chia làm Ngũ quân. gồm có : Tiền quân, Hậu quân, Trung quân, Tả quân và Hữu quân. Như vậy, Hậu quân là một trong số Ngũ quân.

HIỆP ĐỐC (34) : Tên chức quan. Chức này tương đương với chức Phó Đô đốc nhưng thường do quan văn nắm giữ.

HỢP TRẤN (40): Chức quan thứ hai ở mỗi trấn, sau chức Trấn thủ.

HOÀNG NỮ (24) : Chỉ chung con gái của hoàng tộc.

HOẮC QUANG (19) : Tên người. Hoắc Quang là quan Phụ chính thời Hán Chiêu Đế (Trung Quốc, cuối thế kỉ thứ nhất trước Công nguyên). Khi Hán Chiêu Đế mất, không có con nối dõi, Hoắc Quang bèn lập cháu nội của Hán Võ Đế là Xương Ấp Vương Hạ lên ngôi. Nhưng, Xương Ấp Vương Hạ hoang dâm vô độ nên mới ở ngôi được 100 ngày đã bị Hoắc Quang phế đi. Đây các quan muốn vu cho Lê Chất tội bày mưu phế lập nên mới ví với Hoắc Quang.

HUÂN THẦN (07) : Bề tôi có công lao to lớn.

HƯNG MIẾU (21) : Miếu thờ các đời chúa Nguyễn.

KIỀN DƯƠNG (09) : Tên đất, nay chưa rõ ở đâu nhưng đoán là ở vùng Quảng Nam.

KHÂM SAI CHƯỞNG HẬU QUÂN (19) : Tướng đứng đầu Hậu quân, thừa lệnh vua mà đem quân đi.

KINH DIÊN GIẢNG QUAN (26) : Kinh Diên là tòa Kinh Diên, nơi vua đến nghe giảng bình về sách vở. Giảng quan là chức quan giúp việc giảng sách cho vua nghe ở tòa Kinh Diên.

KINH DIÊN KHỞI CHÚ (41) : Tên chức quan chuyên lo việc ghi chép những điều giảng bàn của vua với các Giảng quan ở tòa Kinh Diên.

LẠC HOÀN (07) : Tên đất ở phía tây nam tỉnh Nghệ An.

LANG TRUNG (27), (41) : Chức quan đứng hàng thứ ba ở các bộ, sau các chức Thượng thư và Thị lang.

LẠNG BÌNH HỘ PHỦ (18) : Chức quan đứng đầu vùng đất tương ứng với Cao Bằng và Lạng Sơn ngày nay.

LỄ BỘ THƯỢNG THƯ, CẦN CHÁNH ĐIỆN ĐẠI HỌC SĨ, ĐỨC QUỐC CÔNG (23) : Quan đứng đầu bộ Lễ, hàm Cần Chánh Điện Đại học sĩ (một trong tứ trụ của triều đình), tước Quốc công, hiệu là Đức. Đây là chức hàm và tước vị của Phạm Đăng Hưng, thân sinh cua bà Từ Dụ.

LỄ BỘ THƯỢNG THƯ (13) : Quan đứng đầu bộ Lễ.

MỤC HẠ VÔ NHÂN (14) : Không có ai ở dưới mắt. Ý chỉ sự khinh người.

NAM KÌ LỤC TỈNH (28) : Tương đương vùng đất Nam Bộ ngày nay. Xưa, đất Nam Kì được chia làm sáu tỉnh, gọi là Nam Kì lục tỉnh. Sáu tỉnh đó gồm có : Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.

NAM NGÃI (29) : Nam là Quảng Nam, Ngãi là Quảng Ngãi.

NHÀ QUẢNG PHÚC (30) : Nơi các Hoàng tử và con em trong hoàng tộc học tập.

NINH THÁI TỔNG ĐỐC (38) : Tổng đốc hai tỉnh Ninh Bình và Thái Bình.

NỘI CÁC (27) : Tên cơ quan cua triều đình, được thành lập từ năm 1829.

NỘI CÁC HÀNH TẨU (38) : Chức quan giúp việc ở Nội Các. Chức nay thấp, thường được trao cho các quan đang thời tập sự.

NGOẠI HỮU CHƯỞNG DOANH (21) : Chức này chỉ có thời chúa Nguyễn, đại để, đó là chức đứng hàng thứ hai trong số các võ quan cầm quân đi đánh giặc ở ngoài trận mạc.

NGOẠI HỮU PHỤ CHÍNH THƯỢNG TƯỚNG QUÂN (21) : Chức này chỉ có ở thời chúa Nguyễn, đại để, đó là chức Thượng tướng quân, đứng hàng thứ hai trong số các võ quan cầm quân đi đánh giặc ở ngoài trận mạc, giữ trọng trách trong việc giúp vua mới dựng nghiệp.

NGŨ MÔN (19) : Tên lầu ở kinh thành Thăng Long cũ, nơi nhà vua ngồi mỗi khi có duyệt binh ở kinh thành.

NGƯỜI MAN (07) : Tiếng chỉ chung đồng bào các dân tộc ít người.

PHÁT PHỐI (12), (19) : Đưa đi đày.

PHÓ TỔNG TÀI (25) : Cũng tương tự như chức Phó ban Biên tập hay Phó Chủ biên ngày nay.

PHÓ TRƯỞNG SỬ (06) : Tên chức việc trong phủ đệ của quý tộc họ Nguyễn. Chức này đứng thứ hai sau chức Trưởng sử, là chức tương tự như quản gia.

QUẢNG YÊN HỘ PHỦ (18) : Chức quan đứng đầu vùng Quảng Yên (nay là vùng Quảng Ninh).

QUÂN ĐÔNG SƠN (07) : Đội quân do Đỗ Thanh Nhơn lập ra. Đội quân này vì muốn tỏ là đối nghịch với quân Tây Sơn của anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ nên mới lấy tên là Đông Sơn.

QUÂN TIỀN HIỆU LỰC (19) : Tên hình phạt. Bị tội đến một mức nào đó thì tội nhân bị đem đi phục dịch trong quân đội để lập công mà chuộc tội. Hình phạt này gọi là quân tiền hiệu lực.

QUÂN XÁ THỊ TRUNG (13) : Nơi ở quân lính trong kinh thành.

QUỐC SỬ QUÁN BIÊN TU (38) : Chức quan lo việc biên soạn sử sách trong cơ quan Quốc Sử Quán.

QUỐC TỬ GIÁM TƯ NGHIỆP (30) : Quốc Tử Giám là cơ quan chuyên lo giảng dạy cho con em quý tộc. Người ngoài tôn thất của họ Nguyễn cũng có khi được vào học ở đây. Quốc Tử Giám Tư nghiệp là chức quan đứng hàng thứ hai của cơ quan này.

QUY CHẾ CỦA HIẾU LĂNG (32) : Ý nói theo quy cách xây Hiếu Lăng xưa. Hiếu Lăng là lăng của vua Đường Thái Tông (Trung Quốc), do nhà vua tổ chức xây khi nhà vua đang sống.

TẢ DOANH ĐÔ THỐNG CHẾ (10) : Chức võ quan đứng đầu Tả Doanh. Các Doanh trong thời kì từ buổi đầu Gia Long trở về trước cũng tương tự như các quân trong Ngũ quân ở giai đoạn sau.

TẢ QUÂN (14) : Một trong Ngũ quân (xem thêm Ngũ quân).

TẢ THAM TRI BỘ LỄ (25) : Chức quan đứng hàng thứ tư ở bộ Lễ, sau các chức Thượng thư, Tả Hữu Thị lang và Lang trung. Chức này cũng do hai người giữ, đó là Tả và Hữu Tham tri.

TÀO HỘ (16) : Tên cơ quan. Ở triều đình có các bộ, còn ở Gia Định thành và ở Bắc thành có các Tào, kể như là bộ phận đại diện của các bộ. Tào Hộ là cơ quan dại diện của bộ Hộ.

TẾ TỬU (38) : Tên chức quan. Chức này lo giữ việc giáo hóa và cử hành các nghi lễ.

TIẾM LÀM LẦU CHUÔNG, LẦU TRỐNG (19) : Dám vượt cả chức phận mà làm lầu chuông, lầu trống. Xưa, lầu chuông, lầu trống chỉ có ở kinh đô, quan lại mà làm lầu chuông, lầu trống là vượt qua chức phận của mình, tức là phạm tội.

TIỆN ĐIỆN (41) : Nơi vua ở.

TIẾT CHẾ (13) : Tướng được trao quyền chỉ huy cao nhất trong một cuộc hành quân nào đó.

TIẾT VẠN THỌ (24) : Sinh nhật của vua.

TỈNH THẦN (19) : Quan lại ở cấp tỉnh.

TÒNG NHỊ PHẨM (29) : Quan lại xưa được chia làm chín phẩm hàm cao thấp khác nhau, cao nhất là Nhất phẩm, thấp nhất là Cửu phẩm. Mỗi phẩm hàm lại có hai bậc cao thấp khác nhau, bậc Chánh ở trên, bậc Tòng ở dưới. Như vậy, tiếng là có chín phẩm hàm nhưng thực lại có đến mười tám phẩm hàm cao thấp khác nhau. Suy ra, Tòng nhị phẩm là bậc 3/18.

TÙY BIỆN (40) : Chức võ quan. Chức này tương tự như chức Tham mưu ngày nay.

TƯ VỤ (25) : Chức quan lo việc nhận và phát công văn của các cơ quan cấp bộ và cấp viện ở triều đình.

THÁI BẢO CẦN CHÁNH ĐIỆN ĐẠI HỌC SĨ (35) : Thái bảo là vinh hàm mà triều đình ban cho một số đại thần. Do chỉ là vinh hàm nên vị trí của Thái bảo không lớn như các bậc Tam Thái (Thái sư, Thái bảo và Thái phó) của các triều đại trước. Cần Chánh Điện Đại học sĩ cũng là vinh hàm ban cho bốn vị được coi là tứ trụ của triều đình.

THÁI TỂ (41) : Cũng tức là Tể tướng hay Tham tụng, tên chức quan đầu triều.

THAM ĐỐC (09) . Tên chức quan của Tây Sơn. Chức này dành cho các võ quan bậc trung, dưới quyến điều khiển của Đô đốc.

THAM HIỆP (30) : Chức quan đứng hàng thứ ba ở các trấn, sau chức Trấn thủ và Hiệp trấn.

THAM LUẬN (14) : Chức quan lo giúp việc đề xuất các ý kiến để các quan ở các quân trong Ngũ quân hoặc các Trấn tham khảo trước khi quyết định.

THAM TRI (16), (27). (30) : Chức quan đứng hàng thứ tư ở các hộ và hàng thứ hai ở các Tào. (Xem thêm : TÀO HỘ)

THẤM ĐẾN TAI ĐẾN TÓC (19) : Ý nói thấm rất sâu.

THỊ GIÀNG HỌC SĨ (29) : Chức quan trong Viện Hàn Lâm, thường có hàm Tòng tứ phẩm. (8/18).

THỊ TRUNG HỌC SĨ (12) : Chức quan văn bậc trung ở triều đình. Đầu đời Gia Long, chức này chịu trách nhiệm đọc và tóm lược các tấu sớ các nơi gởi về triều đình để tâu trình cho vua.

THIÊM SỰ (13) : Chức quan làm việc ở các bộ, dưới chức Tả và Hữu Tham tri, tức đứng vào hàng thứ năm, sau các chức Thượng thư, Thị lang, Lang trung và Tham tri.

THUẬN THIÊN CAO HOÀNG HẬU (01) : Thân mẫu của vua Minh  Mạng, người họ Trần, quê ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, con gái của Thọ Quốc công Trần Hưng Đạt. Bà sinh năm 1768, mất năm 1846, thọ 78 tuổi.

THÔNG BIẾN (15) : Hiểu rõ các lẽ biến hóa.

THỰ ÁN SÁT (29) : Được trao quyền án sát chưa phải là án sát thực thụ. (Xem thêm Án sát)

THỰ BỐ CHANH (29) : Được trao quyền Bố chánh chứ chưa phải là Bố chánh thực thụ.

THỰ HIỆP TRẤN (30) : Được trao quyền Hiệp trấn chứ chưa phải là Hiệp trấn thực thụ. (Xem thêm Hiệp trấn).

THỰ HỮU THAM TRI (29) : Được trao quyền Hữu Tham tri chứ chưa phải là Hữu Tham tri thực thụ.

THỰ LỄ BỘ HỮU THAM TRI (38) : Được trao quyền Lễ bộ Hữu Tham tri chứ chưa phải là Lễ bộ Hữu Tham tri thực thụ.

THỰ TỔNG ĐỐC (31 ) : Được trao quyền Tổng đốc chứ chưa phải Tổng đốc thực thụ.

THỰ TƯ NGHIỆP (30) : Được trao quyền Tư nghiệp chứ chưa phải là Tư nghiệp thực thụ.

THỰ THỊ LANG BỘ HỘ (28) : Được trao quyền Thị lang bộ Hộ chứ chưa phải là Thị lang bộ Hộ thực thụ.

THỰ THỊ LANG BỘ LẠI (29) : Được trao quyền Thị lang bộ Lại chứ chưa phải là Thị lang bộ Lại thực thụ.

THƯƠNG BIỆN (37) : Chức quan được quyền cùng với các quan võ bàn bạc để sấp đặt các việc quân cơ ở một vùng nào đó.

TRÀ KHÚC (09) : Tên sông ở Quảng Ngãi.

TRƯỚC THUẬT (Lời đầu sách) : Biên soạn sách, viết sách.

VẠN NIÊN CƠ (27) : Nền muôn thuở. Các vua nhà Nguyễn thường lo xây lăng cho mình ngay khi còn sống (xây sinh phần). Vạn Niên Cơ là lăng của vua Tự Đức.

VẠN TƯỢNG (01) : Tên vương quốc, nay thuộc Lào.

VỆ ÚY (09) : Chức võ quan đứng đầu một vệ.

VIÊN NGOẠI LANG (30) : Chức quan ngoại ngạch, bậc thấp ở các bộ.

VINH LỘC ĐẠI PHU, HIỆP BIỆN ĐẠI HỌC SĨ (25) : Vinh hàm dành cho các quan ở dưới hàng tứ trụ triều đình. Các quan này thường có hàm Tòng nhất phẩm (2/18).

VIÊN TẬP HIỀN (26) : Cơ quan của những bậc hiền tài, chuyên lo việc giảng giải kinh sách cho vua nghe.

XIÊM LA (07) : Tức Thái Lan.

Y DOÃN (19) : Danh thần của nhà Thương (Trung Quốc), người đã phò tá vua Thang, đánh đuổi vua Kiệt tàn bạo của nhà Hạ. Sau, vua Thang mất, cháu là Thái Giáp lên nối ngôi. Thái Giáp vô đạo, ông bắt đi đày ba năm, khi biết hối lỗi mới cho về. Ở đây kết tội Lê Chất và Lê Văn Duyệt mà mượn tích Hoắc Quang, Y Doãn thì không được chính xác.

YÊN KINH (12) : Tức Bắc Kinh, thủ đô của Trung Quốc ngày nay.

HẾT TRỌN BỘ.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 120 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Hiện đại] Làm thế nào để không nhớ hắn - Mộng Tiêu Nhị

1 ... 7, 8, 9

2 • [Xuyên không] Cuộc sống nông thôn nhàn rỗi - Kẹo Vitamin C

1 ... 31, 32, 33

3 • [Hiện đại] Xin chào Chu tiên sinh! Dạ Mạn

1 ... 7, 8, 9

4 • [Xuyên không] Vương phi thần trộm Hưu phu lúc động phòng! - Thủy Mặc Thanh Yên

1 ... 24, 25, 26

5 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 41, 42, 43

6 • [Xuyên không - Cổ xuyên hiện] Ảnh hậu đối mặt hàng ngày - Ngã Yêu Thành Tiên

1 ... 10, 11, 12

7 • [Xuyên không] Hỉ doanh môn - Ý Thiên Trọng

1 ... 31, 32, 33

8 • [Hiện đại Thanh mai trúc mã] Đều Tại Vầng Trăng Gây Họa - 11 Giờ Phải Ngủ

1 ... 11, 12, 13

9 • [Hiện đại] Eo thon nhỏ - Khương Chi Ngư [NEW C60]

1 ... 5, 6, 7

10 • [Hiện đại] Cục cưng lật bàn Con là do mẹ trộm được? - Ninh Cẩn

1 ... 25, 26, 27

11 • [Xuyên không - Dị giới] Phế sài muốn nghịch thiên Ma Đế cuồng phi - Tiêu Thất Gia - New C819

1 ... 34, 35, 36

12 • [Cổ đại] Kiêu Tế - Quả Mộc Tử

1 ... 13, 14, 15

13 • [Hiện đại] Hôn nhân giá ngàn vàng - Cẩm Tố Lưu Niên (103/104]

1 ... 52, 53, 54

14 • [Hiện đại] Anh Trai VS Em Gái - Trà Trà Hảo Manh

1, 2, 3, 4

15 • [Hiện đại] Bó tay chịu trói - Thiên Thần Di Cô

1 ... 8, 9, 10

[Cổ đại - Trùng sinh] Đích trưởng nữ - Hạ Nhật Phấn Mạt

1 ... 23, 24, 25

[Cổ đại - Trùng sinh] Trọng sinh cao môn đích nữ - Tần Giản

1 ... 40, 41, 42

18 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 72, 73, 74

19 • [Hiện đại] Vui vẻ gặp lại - Miêu Diệc Hữu Tú

1 ... 6, 7, 8

20 • [Xuyên không] Nịch sủng Chí tôn cuồng phi - Mặc Thập Tứ

1 ... 15, 16, 17



LogOut Bomb: thuyvu115257 -> Tiểu Vương Tử
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 347 điểm để mua Bò nhảy múa
LogOut Bomb: thuyvu115257 -> y229917
Tuyền Uri: viewtopic.php?t=412107 cầu thank :)2 :)2 10 thank tối bum thêm chương nữa hí hí :D2 :D3
The Wolf: có ai biết tạo weibo không dạ?
Công Tử Tuyết: Re: Loài hoa nào tượng trưng cho khí chất của bạn? :wave:
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 248 điểm để mua Quạt máy
Shop - Đấu giá: Melodysoyani vừa đặt giá 329 điểm để mua Bò nhảy múa
Shop - Đấu giá: Tiểu Linh Đang vừa đặt giá 805 điểm để mua Ngồi chờ bạn trai
Shop - Đấu giá: Xám vừa đặt giá 317 điểm để mua Yoyo đầu hàng
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 786 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 747 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 710 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 1051 điểm để mua Cá voi xanh
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 675 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 641 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Shop - Đấu giá: Tử Tranh vừa đặt giá 528 điểm để mua Kem ly 2
Shop - Đấu giá: Maria Nyoko vừa đặt giá 294 điểm để mua Mây Alway Happy
Công Tử Tuyết: Re: [Trắc Nghiệm] Bạn là cô nàng nào trong "Tam sinh tam thế: Thập lý đào hoa"
Shop - Đấu giá: Lavender - Blue vừa đặt giá 387 điểm để mua Chim cánh cụt
Shop - Đấu giá: Hoa Lan Nhỏ vừa đặt giá 1000 điểm để mua Cá voi xanh
Shop - Đấu giá: Hoa Lan Nhỏ vừa đặt giá 279 điểm để mua Mây Alway Happy
Shop - Đấu giá: Maria Nyoko vừa đặt giá 264 điểm để mua Mây Alway Happy
Shop - Đấu giá: Maria Nyoko vừa đặt giá 400 điểm để mua Trung thu Hằng Nga
Shop - Đấu giá: Maria Nyoko vừa đặt giá 300 điểm để mua Lồng đèn đỏ 2
Shop - Đấu giá: windchime vừa đặt giá 839 điểm để mua Cá voi xanh
Shop - Đấu giá: Libra moon vừa đặt giá 609 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Công Tử Tuyết: Re: 12 cung hoàng đạo và 12 con giáp
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 579 điểm để mua Thỏ lực sĩ
Shop - Đấu giá: thuyvu115257 vừa đặt giá 798 điểm để mua Cá voi xanh

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.