Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 34 bài ] 

Người cuối cùng của bộ tộc Mohican - James Fenimore Cooper

 
Có bài mới 18.02.2018, 12:54
Hình đại diện của thành viên
Thành viên xuất sắc
Thành viên xuất sắc
 
Ngày tham gia: 08.03.2016, 09:44
Bài viết: 7865
Được thanks: 2480 lần
Điểm: 10.15
Có bài mới [Kinh điển] Người cuối cùng của bộ tộc Mohican - James Fenimore Cooper - Điểm: 10

NGƯỜI CUỐI CÙNG CỦA BỘ TỘC MOHICAN


images

Nguyên tác: The last of the Mohicans
Tác giả: James Fenimore Cooper
Dịch giả: Trương Đắc Vỵ
Công ty phát hành: Nhã Nam
Nhà xuất bản: Nhà Xuất Bản Văn Học
Kích thước: 15 x 24 cm
Loại bìa: Bìa mềm
Số trang: 412
Ngày xuất bản: 25-12-2015


Giới thiệu:

NGƯỜI CUỐI CÙNG CỦA BỘ TỘC MOHICAN, xuất bản năm 1926, tái hiện thời kỳ mà nước Mỹ vẫn còn là mảnh đất hoang sơ, nguyên thủy của những người Indian bản địa, và đang bị người Pháp và người Anh tranh đoạt quyết liệt.

Trong một khu rừng miền Thượng New York, hai con gái Core và Alice của ngài địa tá Munro, chỉ huy pháo đài William Henry, bị một chiến binh người Iroquois phản bội lập mưu bắt cóc. Các cô được người thợ rừng hào hiệp, can đảm Mắt Chim Ưng cùng những đồng bạn người Mohican trung thành của ông là cha con Chingachgook và Uncas giải cứu. Bị mắc kẹt trong cuộc chiến đẫm máu giữa quân Anh, quân Pháp và người da đỏ, họ tìm cách đưa chị em nhà Munro đến nơi an toàn, để rồi nhận ra mình đang ở giữa trận đánh cuối cùng, thảm liệt nhất của các bên tham chiến...

Chiến tranh, sự phản bội, lòng dũng cảm, tình yêu và cái chết, cuộc sống và tính cách người da đỏ đã được JAMES FENMORE COOPER thể hiện vô cùng sống động trong thiên truyện đầy tưởng tượng và sáng tạo này - một cuốn sách được tìm đọc nhiều nhất ở Mỹ và châu Âu  ngay từ khi ra đời, được tôn vinh như một tác phẩm kinh điển của nền văn chương Mỹ.



Đã sửa bởi Cửu Thiên Vũ lúc 22.07.2018, 11:19.

Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
1 thành viên đã gởi lời cảm ơn Cửu Thiên Vũ về bài viết trên: Nminhngoc1012
     

Có bài mới 13.03.2018, 21:56
Hình đại diện của thành viên
Thành viên xuất sắc
Thành viên xuất sắc
 
Ngày tham gia: 08.03.2016, 09:44
Bài viết: 7865
Được thanks: 2480 lần
Điểm: 10.15
Có bài mới Re: [Kinh điển] Người cuối cùng của bộ tộc Mohican - James Fenimore Cooper - Điểm: 10
Chương 1

Chớ ghét tôi vì màu da của tôi,

Bộ chế phục đen bóng ánh mặt trời.[1]

Tai ta mở to và tim ta đã sẵn sàng;

Tin dữ nhất ngươi mang đến cũng chỉ là tổn thất nhỏ nhặt.

Nói đi, phải chăng vương quốc ta đã mất?[2]

• SHAKESPEARE


Một đặc điểm của những cuộc chiến tranh thuộc địa ở Bắc Mỹ là các bên đối phương, trước khi giáp mặt, phải đương đầu với những gian lao nguy hiểm của một vùng hoang dã. Một dải rừng biên giới bao la, bề ngoài như thể bất khả xâm phạm, ngăn cách các thuộc địa của hai nước thù địch Pháp và Anh.

Những người khẩn hoang[3] gan dạ cùng những lính Âu thiện chiến sát cánh bên họ, thường phải mất hàng tháng trời vật lộn với những thác nước hoặc vượt qua những đèo hiểm trở để tìm cơ hội phô bày lòng can đảm trong một cuộc chiến đấu có tính võ dũng hơn. Nhưng, noi gương kiên nhẫn và hy sinh của các chiến binh thổ dân lão luyện, họ đã học được cách vượt qua mọi khó khăn; và dường như cùng với thời gian, không một nơi thâm sơn cùng cốc nào có thể tự cho là thoát khỏi sự xâm nhập của những người đã nguyện đem xương máu để rửa thù hoặc để duy trì chính sách tàn nhẫn và ích kỷ của các bậc vua chúa bên trời Âu xa xôi.

Trên khắp dải biên giới bao la ấy, có lẽ không nơi nào có thể cung cấp một bức tranh sinh động về sự tàn ác khốc liệt của cuộc chiến tranh man rợ thời đó hơn khu vực nằm giữa thượng nguồn sông Hudson và những hồ nước lân cận.

Nơi đây, thiên nhiên đã tạo cho việc hành quân của các chiến binh những thuận lợi quá rõ rệt khiến họ không thể bỏ qua. Hồ Champlain[4] trải dài từ biên giới Canada và ăn sâu vào địa phận bang New York kế cận, hình thành một lối đi thiên tạo trên một nửa quãng đường quân Pháp bắt buộc phải chiếm được để đánh kẻ địch. Gần cuối phía Nam hồ Champlain có một hồ khác chảy vào: nước hồ này trong đến nỗi đã được các nhà truyền giáo dòng Tên đặc biệt chọn để làm lễ rửa tội và xin đặt tên cho nó là hồ “Thánh Lễ”. Những người Anh kém mộ đạo hơn nghĩ rằng họ đã làm vinh dự cho dòng nước trong vắt khi lấy tên hoàng tử đương vị, ông hoàng thứ hai dòng họ Hanover để đặt tên cho hồ này. Các nhà truyền giáo và người Anh đã liên kết lại để tước đoạt của những chủ nhân ngờ nghệch vùng rừng rú này cái quyền tự nhiên được duy trì tên gốc của hồ là “Horican”[5].

Lượn khúc giữa vô vàn hòn đảo, núi non bao bọc xung quanh, “hồ thiêng liêng” chạy dài thêm mười hai dặm về phía Nam. Tới đây có một cao nguyên chặn đứng dòng nước lại. Bắt đầu một cuộc chuyên chở đường bộ cũng trên chừng ấy dặm đưa nhà thám hiểm tới bờ sông Hudson; từ quãng này, thuyền bè đi lại được theo nước triều, trừ những khúc có thác nước ngăn cản - gọi theo danh từ địa phương là kẽ nứt.

Để thực hiện những kế hoạch quấy rối táo bạo, với một tinh thần gan dạ không mệt mỏi, người Pháp dám vượt cả những đèo xa xôi và hiểm trở của rặng núi Alleghany[6]; cho nên ta có thể dễ dàng hình dung được rằng sự sắc sảo nổi tiếng xưa nay của họ sẽ không bỏ qua những thuận lợi thiên nhiên của miền đất mà chúng tôi vừa tả ở trên. Nơi đây thật sự đã trở thành một võ trường đẫm máu diễn ra hầu hết những cuộc giao tranh giành quyền bá chủ các thuộc địa. Đồn lũy được dựng lên tại những điểm trấn ngự mạch máu giao thông, bị chiếm đi chiếm lại, bị phá trụi rồi lại được dựng lên mỗi khi chiến thắng ngời sáng trên lá cờ đối phương. Trong khi người nông phu phải chùn bước trước những đèo hiểm trở và rút vào các phần đất an toàn hơn của những vùng định cư cũ thì những đạo quân lớn hơn cả những đạo quân đã từng lật đổ ngai vàng ở mẫu quốc, dấn mình trong rừng sâu để hãn hữu có trở về thì chỉ còn cái khung, quân tướng phờ phạc vì lo âu, chán nản vì bại trận.

Tuy miền đất oan nghiệt này không hề biết tới nghệ thuật hòa bình, các khu rừng vẫn nhộn nhịp bóng người; đường đi lối lại và các thung lũng vang lên khúc quân nhạc, núi non vọng về tiếng cười hoặc tiếng hò reo nghịch ngợm của các chàng trai dũng cảm, táo bạo khi họ băng mình lao qua với niềm hưng phấn tràn đầy để rồi thiếp ngủ trong đêm dài của quên lãng.

Chính trong khung cảnh giao tranh đổ máu ấy đã diễn ra những sự kiện mà chúng tôi muốn kể lại sau đây. Khi ấy đã là năm thứ ba cuộc chiến tranh giữa Anh và Pháp nhằm chiếm một xứ sở mà không bên nào giữ được.

Sự ngu xuẩn của những người chỉ huy quân sự ở ngoài nước cộng với sự thiếu kiên quyết của các hội đồng trong nước đã hạ thấp thanh danh của nước Anh, một nước từng giữ một địa vị cao nhờ tài năng và trí can trường của các tướng lĩnh và chính khách trước đây. Không còn được kẻ thù khiếp sợ, chẳng bao lâu những người phụng sự cho nước đó mất cả lòng tự tin và tự trọng. Tuy bản thân không chịu trách nhiệm về sự ngu xuẩn này, và lại quá thấp hèn để có thể gây nên những sai lầm cho nước Anh, những người khẩn hoang đương nhiên đã phải chịu đựng lây sự suy sụp nhục nhã đó. Mới gần đây, họ chứng kiến một đạo quân tinh nhuệ của nước Anh mà họ sùng kính như mẹ đẻ và tin một cách mù quáng là vô địch, một đạo quân đứng đầu là một vị tướng[7] đã được lựa chọn trong đám những nhà cầm quân lão luyện vì thiên tài quân sự hiếm có của ông - bị một dúm người Pháp và người da đỏ đánh cho thất điên bát đảo. Và đạo quân đó chỉ thoát khỏi sự tiêu diệt nhờ tinh thần bình tĩnh và quả cảm của một thanh niên xứ Virginia. Từ đó, uy danh của chàng trai này ngày một lẫy lừng và được truyền tụng với ảnh hưởng mạnh mẽ của sự thật tinh thần, tới những biên giới tận cùng của các nước theo đạo Thiên Chúa[8].

Sau cuộc thua trận bất ngờ này, một dải biên giới bao la bị bỏ trống và trước những tai họa lớn hơn sẽ đến, người ta tưởng tượng ra hàng ngàn hiểm nguy quái dị. Những người khẩn hoang hốt hoảng tưởng như đã nghe thấy tiếng gào thét của giống người dã man lẫn trong từng cơn gió từ những khoảng rừng vô tận phía Tây thổi về. Tính chất khủng khiếp của kẻ thù tàn bạo của họ làm tăng vô hạn độ những sự việc rùng rợn thường xảy ra trong chiến tranh. Những cuộc tàn sát nhiều vô kể mới gần đây hãy còn in sâu trong ký ức họ; khắp trong vùng, người nào nặng tai đến đâu cũng phải chăm chú lắng nghe kể một vài chuyện hãi hùng về những vụ giết chóc giữa đêm khuya mà những người thổ dân là vai chính dã man. Trong khi người khách du hành cả tin sôi nổi kể lại những chuyện may rủi ở nơi rừng rú hoang vu, máu của những kẻ nhát gan đông cứng vì khiếp sợ, và tuy đang sống giữa những thành phố an toàn, các bà mẹ cũng phải đưa cặp mắt lo âu nhìn con mình đang ngủ. Nói tóm lại, ảnh hưởng ngày một tăng của sự sợ hãi bắt đầu làm lu mờ những toan tính của lý trí và biến những con người lẽ ra phải giữ nhân cách của mình thành nô lệ của những dục vọng thấp hèn nhất. Ngay cả những người can đảm và tự tin nhất cũng đâm ra hoài nghi kết quả cuộc chiến đấu; đám người hèn hạ này ngày một tăng, và theo họ nghĩ thì rồi ra tất cả những thuộc địa của Anh hoàng tại châu Mỹ sẽ bị những kẻ thù theo đạo Cơ Đốc chiếm đoạt hoặc bị những đồng minh tàn bạo của những kẻ đó kéo đến tàn phá.

Bởi vậy khi pháo đài bảo vệ phần cực Nam con đường bộ chuyên chở từ sông Hudson tới vùng hồ nhận được tin báo là tướng Montcalm[9] đang đi ngược hồ Champlain với một đạo quân “đông như lá trên cây”, mọi người đều nghĩ là thật, nhưng với một sự miễn cưỡng hãi hùng của kẻ hèn nhát hơn là với niềm vui thích khắc khổ mà một chiến binh cảm nhận khi thấy quân thù đã trong tầm bắn của mình. Tin đó do một liên lạc viên da đỏ mang tới vào lúc xế chiều một ngày hè, cùng với một yêu cầu khẩn cấp của Munro, chỉ huy một pháo đài ở bên bờ “hồ thiêng liêng”, xin gửi cấp tốc một lực lượng tiếp viện hùng hậu. Ở trên đã nói hai vị trí này cách xa nhau không tới năm dặm. Con đường thô sơ trước kia dùng liên lạc giữa hai vị trí đã được mở rộng cho xe cộ đi lại; cho nên, quãng đường mà người con của núi rừng vừa vượt qua trong hai tiếng đồng hồ, một đơn vị đủ quân trang quân dụng cần thiết có thể dễ dàng đi qua trong khoảng thời gian mặt trời mọc và lặn của một ngày hè. Những bầy tôi trung thành của vua nước Anh đã lấy tên hai ông hoàng được triều đình đương vị sủng ái để đặt tên cho hai pháo đài nằm giữa chốn rừng sâu này là William Henry và Edward. Người quân nhân kỳ cựu xứ Scotland vừa nói ở trên chỉ huy pháo đài thứ nhất cùng với một trung đoàn quân chính quy và một số ít quân địa phương, một lực lượng quả là nhỏ bé để chống lại quân lực khủng khiếp mà tướng Montcalm dẫn tới chân những chiến lũy đất. Nhưng tại pháo đài Edward có tướng Webb, chỉ huy quân đội nhà vua tại các tỉnh phía Bắc, với một đạo quân trên năm ngàn người. Nếu tập trung lại tất cả những đơn vị thuộc quyền chỉ huy của mình, tướng Webb có thể tung ra một số quân gần gấp đôi để đối chọi với viên tướng Pháp táo bạo dám đi quá xa những căn cứ tiếp viện với số quân sĩ chỉ đông hơn chút ít.

Nhưng do ảnh hưởng của những sự việc không may, cả quân lẫn lính tỏ ra chỉ muốn nằm lì trong công sự chờ đối thủ lợi hại của họ tới chứ không chịu xông ra chặn bước tiến của kẻ địch để giáng một đòn ngay trên đường tiến quân của chúng, noi gương tốt đẹp của quân Pháp tại pháo đài Quesne.

Khi những phút kinh hoàng ban đầu đã dịu đi đôi chút, trong khắp các đồn lũy trải dài trên bờ sông Hudson, tạo thành một dãy công sự phụ bảo vệ pháo đài chính, có tin truyền đi là một cánh quân gồm một ngàn rưỡi người đã được tuyển lựa để sáng sớm hôm sau đi tăng viện cho pháo đài William Henry, vị trí nằm ở phía cực Bắc con đường chuyên chở. Thoạt tiên còn là tin đồn, nhưng khi có lệnh từ bản doanh của tổng chỉ huy gửi cho các đơn vị đã được chỉ định đi làm nhiệm vụ phải chuẩn bị cấp tốc lên đường thì tin đó đã thành sự thật. Mọi nghi ngờ về ý đồ của tướng Webb đã tiêu tan. Trong khoảng một hai tiếng đồng hồ, binh lính chạy hối hả, nét mặt lo âu. Những anh lính mới chạy loăng quăng, sốt sắng quá mức, cuống quýt, khiến cho công việc chuẩn bị của chính họ bị chậm lại; đám kỳ cựu thành thạo hơn thu xếp hành trang một cách từ tốn, không biểu lộ một cử chỉ vội vàng nào; tuy nhiên, nét mặt trầm tư và cặp mắt lo lắng của họ cũng đủ nói lên rằng họ không cảm thấy một thích thú nghề nghiệp gì lớn đối với một cuộc chiến tranh khủng khiếp trong rừng mà họ chưa được thử thách. Mặt trời lặn trong một vùng hào quang chói lọi sau những ngọn núi xa xa phía Tây; màn đêm bao phủ chốn cô tịch, và tiếng người sửa soạn hành lý thưa dần; ánh đèn cuối cùng trong căn lều gỗ của viên sĩ quan nào đó cũng đã tắt, bóng cây in thẫm lên các chiến lũy và trên dòng sông gợn sóng; doanh trại im ắng như tờ, im ắng như cánh rừng bao la vây bọc lấy nó.

Theo lệnh đêm trước, khi bình minh in hình những cây thông cao vút và xù xì trên nền trời phía Đông rực sáng, êm ả và không gợn áng mây, tiếng trống hiệu nổi lên dồn vang khắp các nẻo rừng, trong không khí ẩm ướt ban mai, khiến binh lính bừng tỉnh khỏi giấc ngủ nặng nề. Lát sau, cả doanh trại trở nên nhộn nhịp; anh lính kém cỏi nhất cũng đã rời nơi trú ẩn để chứng kiến đồng đội lên đường, chia sẻ không khí sôi động và tham gia vào những sự kiện của buổi xuất quân. Chẳng bao lâu, hàng ngũ của đoàn quân được phái đi đã tề chỉnh. Trong khi những người lính chính quy do nhà vua tuyển mộ kiêu hãnh bước sang bên phải hàng quân, những người khẩn hoang khiêm tốn hơn đứng vào vị trí hèn kém của mình ở phía trái với một vẻ phục tùng do được rèn luyện lâu ngày. Trinh sát viên lên đường trước, kế tiếp là một lực lượng hùng hậu đi bảo vệ phía trước và phía sau đoàn xe ì ạch chở đồ quân dụng; và trước khi những tia nắng mặt trời làm dịu ánh sáng mờ xám ban mai, bộ phận binh mã chủ chốt trùng trùng kéo đi, rời khỏi doanh trại với một tư thế hùng dũng, dẹp tan những lo lắng thầm kín của một số lính mới lần đầu xuất trận. Chừng nào đồng đội còn đứng nhìn đầy thán phục, họ giữ vẻ hiên ngang, hàng ngũ tề chỉnh, cho tới khi tiếng sáo xa dần. Rồi rừng rú hiện ra nuốt chửng khối người đang chậm chạp tiến vào.

Đoàn quân đã khuất xa và, trong hơi gió thoảng về, người ta không còn nghe thấy tiếng chuyển động nặng nề của nó; anh lính chậm chân nhất cũng đã mất hút trong khi đuổi theo đơn vị; nhưng trước một căn nhà gỗ to và khang trang hơn các nhà khác, trước cửa có lính gác đi đi lại lại để bảo vệ viên tướng Anh, thấy có dấu hiệu một cuộc xuất phát khác. Tại đây tập trung sáu con ngựa; những bộ yên cương cho thấy ít nhất cũng có hai con dành riêng để mang những phụ nữ quý phái thường ít gặp trong chốn thâm sơn này. Con thứ ba đeo yên cương và vũ khí của một sĩ quan tham mưu; ba con còn lại, với những tấm vải mộc trên lưng và hành lý chất đầy, rõ ràng để cho ba người theo hầu đã túc trực tại đó chờ lệnh của chủ nhân. Cách nơi diễn ra cảnh tượng khác thường này chừng một quãng vừa phải có mấy tốp người vô công rồi nghề tụ tập; người thì trầm trồ khen con chiến mã đầy sinh khí là giống ngựa nòi, kẻ đứng xem cuộc chuẩn bị với vẻ ngạc nhiên đần độn của thói tò mò thô lỗ. Tuy nhiên có một người có nét mặt và cử chỉ khác hẳn loại khán giả kia, không nhàn rỗi và lại có vẻ như biết ít nhiều về cuộc xuất phát này.

Con người anh ta nom vụng về đến tột bậc tuy không đui què mẻ sứt chút nào. Cũng đủ đầu mình chân tay như ai, nhưng thiếu hẳn cân đối. Khi đứng, thân hình anh cao vượt hẳn mọi người, lúc ngồi lại chỉ bằng người bình thường. Sự thiếu cân đối này còn thể hiện trên toàn thân. Đầu thì to, hai vai hẹp, cánh tay dài lòng thòng, bàn tay nhỏ nếu không phải là mềm mại. Chân và đùi gầy guộc khẳng khiu nhưng lại dài quá khổ; đầu gối có thể nói là to một cách khủng khiếp nếu như không có đôi bàn chân còn to hơn phải mang vác một kiến trúc thượng tầng dị dạng gồm những bộ phận con người được ghép lại một cách cẩu thả. Cách ăn mặc nhố nhăng và luộm thuộm càng làm nổi bật sự vụng về của anh ta: áo vest xanh da trời, vạt ngắn rộng, cùng chiếc áo choàng chật ních để lộ một cái cổ dài ngẳng và đôi cẳng còn dài ngẳng hơn, trở thành mục tiêu cho những kẻ ác khẩu hết lời chê bai. Quần bằng trúc bâu màu vàng bó chặt lấy người, ở đầu gối tết những nút to tướng bằng ruy băng trắng nhờ nhờ vì dùng lâu ngày. Đôi bít tất sợi và đôi giày (một chiếc còn đinh thúc ngựa bằng sắt mạ) bổ sung cho bộ y phục hết sức nghèo nàn của nhân vật này. Không biết do tính khoe khoang hay giản dị, anh ta không che giấu một đường cong góc cạnh nào trên người mà còn cố tình phơi bày ra. Có một vật gì thò đầu ra khỏi miệng túi to tướng của tấm áo lấm láp bằng lụa nổi viền nhiều đăng ten bằng bạc xỉn màu; trong khung cảnh võ biền này, người ta dễ nhầm đó là một thứ vũ khí lợi hại và mới lạ nào. Tuy nhỏ bé, cái vật khác thường ấy cũng đã gợi trí tò mò hầu hết những người Âu trong doanh trại mặc dù người ta đã thấy nhiều dân địa phương sử dụng nó một cách rất quen thuộc không chút sợ hãi. Một chiếc mũ ba góc không vành, giống loại mũ các giáo sĩ vẫn đội trong ba chục năm trở lại đây, chụp lên toàn thân khiến cho gương mặt hiền hậu và có phần ngơ ngác của anh đượm một vẻ trang nghiêm; hiển nhiên chiếc mũ là một hỗ trợ nhân tạo cần thiết đối với trọng trách cao cả và phi thường mà anh ta phải gánh vác.

Trong khi đám đông đứng cách xa để tỏ lòng kính trọng hành dinh của tướng Webb, nhân vật vừa tả trên đây hiên ngang đi đi lại lại giữa những bọn người hầu và tự do khen chê những đặc tính của mấy con ngựa mà anh nhận xét là hay hay dở. Tiếng nói của anh có một âm thanh đặc biệt êm ái dịu dàng, cũng đặc biệt như những kích thước hiếm có của thân hình anh vậy, anh nói:

“Này anh bạn, tôi dám kết luận rằng con vật này không phải nuôi ở đây mà từ nước ngoài đưa vào, có lẽ ngay từ hòn đảo nhỏ bé ở bên kia biển xanh. Tôi có thể phát ngôn về những vấn đề này mà không sợ mang tiếng khoác lác vì tôi đã từng tới cả hai hải cảng, một ở cửa sông Thames và được đặt theo tên của thủ đô nước Anh cổ, và một nơi nữa gọi là Haven có gắn thêm chữ “Tân”; và mắt tôi đã trông thấy những thuyền buồm và tàu biển chất đầy súc vật - như chất lên con thuyền của Noah[10] - nhổ neo đi tới đảo Jamaica để buôn bán trao đổi loài vật bốn chân; nhưng tôi chưa hề thấy có con vật nào phù hợp với lời miêu tả con chiến mã trong Thánh kinh như con này: ‘Nó đập vó xuống thung lũng và tự hào về sức mạnh của mình; nó lao tới các chiến binh. Nó hí vang giữa tiếng kèn vang dội và nó đã đánh hơi thấy chiến trận, tiếng thét như sấm của quân tướng và những tiếng hò reo.’ Tưởng đâu giống ngựa của Israel được truyền tới tận thời đại của chúng ta, phải không, anh bạn?”

Không thấy ai đáp lại bài diễn văn hùng hồn của mình (quả thật nó đã được diễn tả với tất cả khí lực của một giọng nói to khỏe đáng được chú ý), nhân vật vừa sử dụng ngôn ngữ của Thánh kinh bèn quay về phía con người câm lặng mà anh không chủ tâm đối thoại thì lại thấy một cảnh tượng khác còn đáng ngạc nhiên hơn cả con ngựa đã thu hút sự chú ý của anh. Đôi mắt anh bắt gặp bóng hình lầm lũi, thẳng tắp và khắc khổ của “người liên lạc Anh điêng” đã mang những tin chẳng lành tới doanh trại chiều hôm trước. Tuy đang trong trạng thái hoàn toàn nghỉ ngơi, và bề ngoài có một vẻ nghiêm nghị khác thường như không quan tâm tới cảnh nhộn nhịp xung quanh, nét mặt dữ tợn lầm lì xen lẫn vẻ bình tĩnh của con người man dã ấy đáng để cho một người dày kinh nghiệm chú ý tới hơn là anh chàng đang chăm chú nhìn y bằng đôi mắt biểu lộ một sự kinh ngạc rõ rệt. Người thổ dân này đeo cả rìu trận và dao của bộ lạc, nhưng nhìn chung, không ra dáng một chiến binh. Trái lại, người y phờ phạc như vừa phải làm một việc gì nặng nhọc, sức lực chưa hồi phục. Màu sơn của những nét chiến họa hòa lẫn vẻ dữ dằn khiến cho khuôn mặt ngăm đen của y có một vẻ man rợ gớm ghiếc, tưởng đâu do tình cờ mà nghệ thuật tạo ra được một ấn tượng như vậy. Riêng đôi mắt sáng như những vì sao rực lửa giữa đám mây đen, biểu lộ tính chất man rợ của con người. Trong giây lát, cặp mắt soi mói nhưng kín đáo của y bắt gặp đôi mắt kinh ngạc của nhân vật đang ngắm y. Rồi, phần vì xảo quyệt phần vì khinh miệt, y quay mặt sang phía khác nhìn chằm chằm lên trời như muốn xuyên thủng không trung.

Thật khó có thể nói cuộc giao tiếp ngắn ngủi và lặng lẽ giữa hai nhân vật kỳ lạ như vậy sẽ làm cho người da trắng có nhận xét gì nếu như giữa lúc đó không có những sự việc khác thu hút tính hiếu kỳ của anh ta. Sự hoạt động của đám gia nhân và âm thanh nhở nhẹ của những tiếng nói dịu dàng báo hiệu rằng những nhân vật người ta đang chờ xem khởi hành đã tới. Anh chàng lúc nãy khen con chiến mã giờ đây đi lại chỗ con ngựa cái nhỏ bé, gầy còm, đuôi ve vẩy, đang điềm nhiên gặm cỏ úa gần đó; anh ta tì một khuỷu tay lên tấm chăn dạ thay thế cho yên ngựa và đứng xem cuộc khởi hành trong khi ở phía sườn bên kia con ngựa cái có một chú ngựa con đang thản nhiên điểm tâm bữa sáng.

Một thanh niên mặc quân phục sĩ quan dẫn hai thiếu nữ đến chỗ mấy con ngựa của họ; trông cách ăn mặc của hai cô cũng đủ biết họ đã được chuẩn bị đối phó với những khó nhọc của một chuyến đi rừng. Cả hai đều trẻ; cô nhỏ tuổi hơn đeo một tấm mạng màu xanh rủ từ trên mũ xuống; gió ban mai thổi tạt tấm mạng sang một bên, thoáng để lộ nước da trắng ngần, mớ tóc vàng óng và đôi mắt xanh long lanh. Sắc hồng còn vương trên những cây thông phía trời Tây cũng không rực rỡ và mịn màng hơn đôi má hồng tươi của nàng, và ánh bình minh cũng không tươi sáng hơn nụ cười rạng rỡ nàng tặng cho người sĩ quan trẻ khi anh đỡ nàng lên yên. Thiếu nữ thứ hai cũng được viên sĩ quan chăm sóc như cô em; nàng khéo léo che mạng không để cho quân lính ngắm nhìn dung nhan, tỏ ra là một người từng trải hơn em bốn, năm tuổi. Thân hình nàng cũng rất cân đối và không bị trang phục đường trường làm mất một nét duyên dáng nào, song, so với cô em, trông nàng già dặn và chín chắn hơn.

Hai thiếu nữ vừa ngồi lên ngựa xong thì chàng sĩ quan cùng đi nhẹ nhàng nhảy lên lưng con chiến mã; cả ba người cúi chào tướng Webb lịch sự đứng tiễn họ trên thềm nhà, rồi quay ngựa lại cho phi nước kiệu về phía cổng Bắc của doanh trại, theo sau là đám tùy tùng. Trên đoạn đường ngắn đó, không ai nói câu nào, chỉ có thiếu nữ trẻ tuổi hơn bỗng thốt lên một tiếng kêu khẽ khi người liên lạc da đỏ thình lình lướt bên nàng, vượt lên để dẫn đầu trên đường hành quân. Hành động đột ngột của người da đỏ không làm cô chị thốt lên tiếng kêu nào nhưng, trong cơn kinh ngạc, nàng đã vén tấm mạng lên để lộ một vẻ vừa thương hại vừa kinh tởm thật khó tả, trong khi đôi mắt đen láy của nàng nhìn theo những động tác nhanh nhẹn của con người man rợ nọ. Tóc nàng óng mượt và đen nhánh. Nước da nàng không nâu mà mang đầy màu sắc một dòng máu dồi dào, tràn ngập sức sống. Tuy nhiên trên khuôn mặt cân đối, trang nghiêm và kiều diễm lạ thường, không tìm ra một nét thô thiển, kém thanh tú. Nàng nhếch miệng cười như tự trách mình đã thiếu ý tứ để lộ hàm răng trắng muốt khiến cho những miếng ngà đẹp nhất cũng phải hổ thẹn; rồi nàng che lại tấm mạng, cúi mặt lặng lẽ cưỡi ngựa như một người không quan tâm tới cảnh vật xung quanh.

Chú thích:

[1] Người lái buôn thành Venice (hồi 2, cảnh I) của William Shakespeare (1564 - 1616).

[2] Richard II (hồi 3, cảnh hai) của William Shakespeare.

[3] Họ là những người Anh hoặc Pháp di cư sang Bắc Mỹ để khai hoang lập nghiệp.

[4] Đông - Bắc nước Mỹ, dài 125 dặm, nằm giữa hai bang Vermont và New York, mang tên nhà thám hiểm Pháp Champlain, người sáng lập và thống đốc đầu tiên các thuộc địa Pháp ở Canada.

[5] Người dân da đỏ thường đặt những tên có tính miêu tả. Horican có nghĩa là “cái đuôi của hồ”, tên địa lý là hồ George.

[6] Dãy núi này cắt ngang thuộc địa Anh nằm trên bờ Đại Tây Dương và thuộc địa Pháp ở phía Tây, sâu trong lục địa.

[7] Tướng Edward Braddock, chết trong một trận giao chiến với quân Pháp năm 1755.

[8] Chàng trai này chính là George Washington, và sau chỉ huy quân đội Mỹ chống lại nước Anh và trở thành tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên (1732 - 1799).

[9] Hầu tước Montcalm chỉ huy đạo quân Pháp ở Bắc Mỹ từ năm 1755 tới 1759, chết trận tại Quebec, Canada.

[10] Theo Thánh kinh, đại giáo chủ Noah đã cứu được gia đình cùng các loài vật trên trái đất thoát khỏi nạn hồng thủy.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 20.04.2018, 19:46
Hình đại diện của thành viên
Thành viên xuất sắc
Thành viên xuất sắc
 
Ngày tham gia: 08.03.2016, 09:44
Bài viết: 7865
Được thanks: 2480 lần
Điểm: 10.15
Có bài mới Re: [Kinh điển] Người cuối cùng của bộ tộc Mohican - James Fenimore Cooper - Điểm: 10
Chương 2

Hề Launcelot: “Ai ơi, ai ơi! Ới, ới! Ai ơi, ai ơi!”[11]

• SHAKESPEARE


[11] Người lái buôn thành Venice (hồi 5, cảnh một) của William Shakespeare.


Giữa lúc một trong hai nhân vật yêu kiều mà chúng tôi vừa giới thiệu đôi nét với độc giả đang chìm đắm trong suy tư thì cô em, hồi nãy hoảng hốt thốt ra tiếng kêu, đã trở lại bình thường. Nàng tự cười về thái độ yếu hèn của mình và hỏi chàng thanh niên cưỡi ngựa bên cạnh:

“Những bóng ma như vậy có thường thấy trong rừng không, anh Heyward? Hay đó là một trò giải trí đặc sắc dành riêng cho chúng em? Nếu đúng thế thì lòng biết ơn không cho phép chúng em có ý kiến; còn nếu là trường hợp trên thì cả chị Cora và em sẽ phải đem hết lòng can đảm gia truyền mà chúng em rất tự hào, trước khi phải chạm trán tướng Montcalm lợi hại.”

“Người Anh điêng này là một liên lạc viên của quân đội,” viên sĩ quan đáp, “và theo tập tục của dân tộc, anh ta có thể được coi như một anh hùng. Anh ấy tự nguyện đưa chúng ta đến vùng hồ bằng một con đường ít người biết, nhanh hơn đi theo bước chân chậm chạp của đoàn quân, do đó thú vị hơn.”

Thiếu nữ rùng mình, có phần giả cách song nhiều phần do khiếp sợ thực sự, nàng bảo:

“Em không ưa tên này. Anh Duncan, chắc hẳn anh biết rõ hắn ta, bằng không anh đã chẳng dễ dàng tự giao phó cho hắn.”

“Alice, hãy nói là bằng không anh đã chẳng giao phó các cô cho anh ta. Chính vì biết rất rõ nên anh mới tin cậy như vậy, nhất là lúc này. Người ta đồn anh ta cũng là dân xứ Canada, song đã từng chiến đấu cùng với các người bạn của ta là dân Mohawk, một trong sáu bộ lạc đồng minh như em đã biết. Nghe đâu anh ấy đến với chúng ta trong một trường hợp lạ lùng có liên quan tới cha em và trong vụ này, con người man sơ đã bị đối xử nghiêm khắc… nhưng anh cũng quên cái chuyện vặt vãnh đó rồi; miễn bây giờ anh ta là bạn của chúng mình.”

Lúc này Alice lo lắng thực sự và kêu lên:

“Nếu hắn là kẻ thù của cha em thì em càng không ưa. Thiếu tá Heyward, anh có thể nói chuyện với hắn để em nghe giọng nói của hắn được không? Mặc dù việc làm này có thể ngớ ngẩn, anh thường thấy em căn cứ vào giọng nói của một người mà đặt tin tưởng.”

“Vô ích thôi, chắc chắn anh ta chỉ đáp lại bằng một tiếng cộc lốc. Cũng như hầu hết những người đồng chủng, dù nghe hiểu anh ta cũng làm như không biết tiếng Anh; lúc này hơn bao giờ hết, anh ta càng không chịu sử dụng thứ tiếng đó vì chiến tranh đòi hỏi anh phải giữ vẻ nghiêm trang trịnh trọng. Nhưng kìa, anh chàng dừng ngựa; chắc hẳn đã tới con đường tắt chúng ta sắp đi.”

Thiếu tá Heyward đoán đúng. Khi họ tới chỗ người Anh điêng đang đứng chỉ tay vào một đám cây rậm rạp nằm ven con đường quân sự thì thấy một lối nhỏ hẹp tối om, một người đi còn khó khăn.

“Đây là con đường của chúng ta.” viên sĩ quan trẻ khẽ nói, “Xin hai cô chớ tỏ thái độ ngờ vực kẻo lại chuốc lấy những nguy hiểm mà các cô e ngại.”

“Cora, chị nghĩ sao?” cô gái tóc vàng vẻ miễn cưỡng, hỏi chị, “Đi cùng với đoàn quân tuy không thích thú cho lắm, nhưng phải chăng chúng ta cảm thấy an toàn hơn?”

“Alice, em ít am hiểu những tập quán của thổ dân nên không thấy rõ đâu là nguy hiểm thực sự.” Heyward nói, “Nếu kẻ địch đã tới vùng chuyên chở đường bộ, một điều hoàn toàn không thể xảy ra vì trinh sát của ta đã được tung đi khắp nơi, nhất định người ta đã thấy chúng đánh thọc sườn đoàn quân và đã có vô số những mảng da đầu[12]. Kẻ địch đã biết con đường quân sự, còn con đường của chúng ta có lẽ chưa bị lộ vì mới được quyết định sử dụng trong vòng một tiếng đồng hồ đây thôi.”

[12] Các chiến binh da đỏ có tục lệ lột mảng da đầu có chỏm tóc của kẻ địch bị giết để ghi lại chiến thắng.

“Phải chăng chúng ta nghi ngờ con người này vì phong cách của hắn không giống chúng ta và nước da của hắn tối màu?” Cora lạnh lùng hỏi.

Không ngần ngại gì nữa, Alice nhanh nhẹn quất roi vào con ngựa giống Narrangansett, theo sát người liên lạc vào con đường tối và um tùm, vừa đi vừa gạt những cành cây con sang hai bên. Viên sĩ quan nhìn thiếu nữ vừa nói với một vẻ khâm phục rõ rệt, rồi cứ để cho người bạn đồng hành tóc vàng và không kém phần xinh đẹp phóng ngựa lên trước, anh chăm chút mở lối cho cô gái có tên gọi là Cora. Dường như đám người hầu đã được lệnh từ trước nên họ không rẽ vào lối mòn rậm rạp mà lại đi theo con đường đoàn quân vừa qua. Theo lời Heyward thì người dẫn đường khôn ngoan đã đề ra biện pháp đó nhằm mục đích giảm bớt những dấu vết trên đường đi, đề phòng bọn người da đỏ Canada vượt lên trước quá xa đạo quân Pháp. Trong hồi lâu, không ai chuyện trò với ai vì đường khó đi; sau đó họ vượt ra khỏi đám bụi rậm trải rộng ven con đường lớn rồi luồn vào dưới vòm cây cao vút và tối om của rừng rú. Tới đây, đường dễ đi hơn. Thấy hai cô gái có thể điều khiển được ngựa của họ, người dẫn đường bèn cho ngựa chạy lon ton, với một tốc độ để cho những con vật có bước chân chắc nịch và thuộc giống đặc biệt có thể đi nước kiệu một cách thoải mái. Chàng thanh niên đang quay sang nói chuyện với nàng Cora mắt đen, bỗng có tiếng vó ngựa xa xa phía sau đập vào rễ cây trên con đường khúc khuỷu khiến anh phải dừng bước; cùng một lúc, hai thiếu nữ cũng ghìm cương, và cả đoàn đứng lại để xem có chuyện gì bất ngờ xảy ra.

Lát sau, họ thấy một con ngựa to giống như con hươu đang băng mình giữa những cây thông thẳng tắp; tiếp đó là nhân vật có dáng điệu vụng về mà chúng tôi đã nói ở chương trên, đang ra sức thúc một con vật gầy gò phi hết tốc độ nó có thể đạt tới.

Trước đó, đoàn du hành không hay biết có con người này đuổi theo. Nếu khi đi bộ, thân hình cao kều của anh đập vào mắt mọi người thì dáng điệu lúc cưỡi ngựa lại càng khiến ta phải chú ý hơn. Mặc dù chiếc đinh thúc ngựa độc nhất của anh luôn luôn thọc vào mạng sườn con ngựa cái, anh cũng chỉ đạt được một nước đại chậm chạp bằng hai vó sau của con vật trong khi hai vó trước của nó hỗ trợ một cách thất thường bằng một thứ nước kiệu vừa chạy vừa nhảy. Sự chuyển tiếp nhanh từ nước đại sang nước kiệu tạo nên một ảo thị, tưởng đâu nó có một sức mạnh ghê gớm. Một điều rõ ràng là Heyward, vốn có con mắt đánh giá sành sỏi những ưu điểm của một con ngựa, đã vận dụng hết tài năng mà cũng không kết luận được rằng kỵ sĩ đang tới phi ngựa kiểu gì trên con đường ngoằn ngoèo một cách gan dạ như vậy.

Những động tác linh hoạt của kỵ sĩ cũng đáng chú ý không kém gì của con ngựa. Mỗi khi con vật chuyển đổi tư thế, anh ta lại nhổm cả thân hình cao lêu đêu trên hai bàn đạp; do đôi cẳng dài quá khổ, người anh lúc vươn dài lúc co ngắn, không đoán nổi kích thước ra sao. Để kết thúc bức tranh người ngựa, xin nói thêm là do bị đinh thúc một chiều cho nên tưởng chừng như một bên sườn con vật chạy nhanh hơn bên kia; còn cái đuôi rậm rì cứ luôn luôn quật vào phía bên sườn bị thúc.

Trong lúc nhìn người khách lạ, đôi mày thanh tú, nở nang và rắn rỏi của Heyward mới đầu chau lại, rồi dần dần dãn ra, và trên môi anh nở một nụ cười mỉm; Alice chẳng giữ gìn ý tứ gì cả, lộ vẻ vui mừng ra mặt, và ngay trong đôi mắt đen tư lự của Cora cũng thấy ánh lên một tia vui mà, dường như do thói quen hơn là do bản tính, nàng ghìm lại được.

“Ông tìm ai ở đây chăng?” Heyward hỏi khi người kia tới gần và cho ngựa đi chậm lại, “Mong rằng ông không phải là sứ giả mang tin chẳng lành tới.”

“Cứ cho là như vậy,” người khách lạ vừa đáp vừa sử dụng chiếc mũ ba cạnh để tạo ra một sự lưu thông trong không khí khiến chẳng ai hiểu anh ta trả lời vào câu hỏi nào của viên sĩ quan trẻ. Sau khi đã quạt mát và hồi lại sức, anh ta nói tiếp: “Tôi nghe nói các vị đến pháo đài William Henry. Tôi cũng đi về phía ấy, và tôi thiết nghĩ cả hai bên chúng ta đều mong muốn có những người bạn đồng hành tốt.”

“Dường như ông có ưu tiên nắm lá phiếu quyết định,” Heyward đáp, “chúng tôi gồm ba người, còn ông chỉ mới hỏi ý kiến của riêng mình.”

“Cứ cho là như vậy. Điều đầu tiên cần có là phải biết mình muốn gì. Khi đã biết chắc, việc này không dễ dàng một khi dính dáng tới phụ nữ, thì điều tiếp theo là thi hành quyết định. Tôi cố gắng thực hiện cả hai điều đó và đã tới đây.”

“Nếu ông định đi tới miền hồ thì ông nhầm đường rồi.” Heyward kiêu kỳ nói, “Con đường lớn tới đó cách phía sau lưng ông nửa dặm.”

“Cứ cho là như vậy.” Người khách lạ đáp, không hề thoái chí trước sự tiếp đón lạnh nhạt của Heyward, “Tôi đã lưu lại một tuần lễ ở Edward, và họa chăng tôi cấm khẩu mới không hỏi thăm con đường tôi sắp đi; vả lại, nếu tôi cấm khẩu thì chẳng thà giải nghệ quách cho xong.”

Anh ta cười làm duyên một cách kín đáo như một kẻ vì nhũn nhặn không dám lộ liễu tán thưởng câu nói ý nhị của mình; còn những người nghe chẳng hiểu gì cả; anh lại tiếp:

“Làm nghề nghiệp của tôi mà quá thân mật với những người mình dạy dỗ thì quả là thiếu thận trọng; bởi thế, tôi không đi theo con đường của đoàn quân. Vả chăng, tôi nghĩ rằng một người có bản lĩnh như ông tất giàu kinh nghiệm đi đường. Cho nên tôi đã quyết định nhập bọn để cuộc hành trình trở nên thú vị và cũng để chia bùi sẻ ngọt với ông.”

Heyward không biết nên biểu lộ sự tức giận đang sôi sục trong lòng hay cười vào mũi người đối thoại, anh kêu lên:

“Thật là một quyết định độc đoán nếu không phải là hấp tấp! Nhưng ông vừa nói tới dạy dỗ và nghề nghiệp. Phải chăng ông làm trợ lý trong đội dân vệ và giảng dạy khoa học cao quý về thế thủ và thế công? Hoặc giả ông kẻ vẽ những đường góc làm ra vẻ chứng minh các bài toán?”

Người khách lạ ngạc nhiên nhìn Heyward một lát. Vẻ dương dương tự đắc biến mất, nhường chỗ cho một thái độ khiêm nhường, anh đáp:

“Mong rằng không có thế công gì cả giữa đôi ta; còn về thế thủ thì, nhờ ơn Chúa, tôi chưa phạm một tội lỗi gì cụ thể từ lần cuối cùng tôi cầu xin Người ban phước lành. Tôi không hiểu được những lời ám chỉ của ông về những đường góc, và tôi xin nhường việc chứng minh các bài toán cho những người được chỉ định riêng để làm nhiệm vụ thiêng liêng đó. Tôi không dám đòi hỏi một ân huệ nào lớn hơn là thấu hiểu được đôi chút nghệ thuật vinh quang nguyện cầu và tạ ơn Chúa bằng những bài thánh ca.”

“Rõ ràng ông khách là một đệ tử của thần Apollo[13],” Alice vui thích reo lên, “và em xin đứng ra bảo trợ cho ông ta. Thôi, anh Heyward đừng chau mày nữa, và hãy vì đôi tai đang khao khát của em mà để ông đi cùng.”

[13] Thần Ánh sáng, Nghệ thuật và Công lý.

Đoạn nàng hạ thấp giọng nói nhanh, mắt liếc nhìn Cora đang thong thả đi theo người dẫn đường lầm lì cau có:

“Vả lại khi cần, ông ta có thể là người bạn trợ sức cho chúng mình.”

“Alice, em tưởng anh dẫn những người thân yêu của mình vào con đường bí mật này một khi thấy cần có sự giúp đỡ đó sao?”

“Không đâu; bây giờ em không nghĩ như vậy nữa; nhưng ông khách lạ này quả là ngộ nghĩnh, và nếu như ông ta “mang âm nhạc trong tâm hồn,” nỡ nào chúng mình từ chối không cho nhập bọn.”

Nói rồi, nàng giơ roi chỉ vào con đường phía trước với một vẻ đầy thuyết phục, và đôi mắt nàng bắt gặp đôi mắt của Heyward, người thanh niên chần chừ một lát như để kéo dài thời gian đó ra; rồi, khuất phục trước uy lực dịu dàng của cô gái, anh thúc giày vào sườn con chiến mã thoắt tới bên Cora.

“Anh bạn, tôi lấy làm vui thích được gặp anh,” Alice nói tiếp, vừa vẫy tay ra hiệu cho người khách lạ đi theo vừa thúc con Narrangansett đi nước kiệu, “Bà con họ hàng quá khen bảo tôi hát cũng không đến nỗi tồi trong một tiết mục song ca; vậy để cho cuộc hành trình được vui vẻ, chúng ta hãy làm công việc thú vị này. Một kẻ kém cỏi như tôi lại được một bậc thầy của nghệ thuật nà nhận xét dạy bảo thì quả là một điều rất bổ ích.”

Không do dự, thầy quản hát làm theo lời cô gái, vừa đi vừa nói:

“Hát những bài thánh ca đúng lúc đúng nơi khiến cho cả tâm hồn lẫn thể xác được sảng khoái, và không gì giúp cho tâm trí thảnh thơi hơn một sự cảm thông an ủi. Nhưng phải có bốn bè mới hát thật hay được. Rõ ràng cô có giọng cao êm và khỏe; nhờ có sự phù hộ đặc biệt, tôi có thể đi giọng cao tới cung cao nhất; nhưng chúng ta thiếu giọng nữ trầm và nam trầm. Ông sĩ quan nhà vua lúc nãy ngần ngại không cho tôi nhập bọn, có thể hát được giọng trầm, căn cứ vào âm điệu giọng nói của ông ta trong lúc trò chuyện bình thường.”

“Chớ nên quá vội vã nhận xét qua vẻ bên ngoài lừa dối,” Alice mỉm cười nói, “mặc dù khi cần thiếu tá Heyward có thể phát ra những âm trầm, nhưng hãy tin tôi là giọng tự nhiên của anh ấy là nam cao êm chứ không trầm như anh tưởng đâu.”

Người bạn đồng hành ngây thơ của cô gái hỏi:

“Thế anh ta có hay hát những bài thánh ca không?”

Alice suýt bật lên cười, nàng kìm lại được và đáp:

“Tôi e rằng anh ấy chỉ thích những bài hát không nghiêm trang. Những may rủi của đời lính không mấy khi làm nảy nở những thú vui lành mạnh hơn.”

“Chúa ban cho con người ta tiếng nói cũng như các năng khiếu khác để sử dụng chứ không để lạm dụng. Không ai có thể nói là đã thấy tôi xem thường những gì Chúa ban cho. Tuy có thể nói được rằng, cũng như tuổi trẻ của vua David[14], cả quãng đời niên thiếu của tôi dành riêng cho âm nhạc, nhưng nhờ ơn Chúa, không một lời thơ ca tục tĩu nào làm nhơ bẩn đôi môi tôi.”

[14] Vua Israel, theo truyền thuyết, thuở trẻ là người chăn súc vật, sau nổi tiếng về chơi đàn thụ cầm và soạn thánh ca.

“Vậy ra anh dồn hết tâm lực cho những bài hát đạo ư?”

“Cứ coi là như vậy. Cũng như những lời ca của David hay hơn tất cả những ngôn ngữ khác, những bài thánh ca của các tu sĩ hiền nhân vượt hẳn thơ ca rỗng tuếch. May thay tôi có thể nói được rằng tôi chỉ phát biểu những ý nghĩ và ước vọng của chính vua Israel mà thôi; mặc dù thời gian có làm thay đổi chút ít, bản dịch của chúng tôi sử dụng tại các thuộc địa của nước Anh Mới phong phú, chính xác giản dị hơn tất cả các bản dịch khác, rất sát nguyên tác vĩ đại đầy cảm hứng của tác giả. Dù ở đâu, ngủ hay thức, tôi cũng có một bản của tác phẩm tuyệt vời này. Đây là cuốn xuất bản lần thứ hai sáu tại Boston, năm Thánh 1744, nhan đề là: Những bài thánh thi, ca vịnh và hát lễ của Cựu ước và Tân ước, được dịch một cách trung thành sang tiếng Anh, để các đấng thánh sử dụng, bồi bổ và di dưỡng trong đời công và đời riêng, đặc biệt ở nước Anh Mới.”

Trong lúc tán dương sản phẩm hiếm có này của các nhà thơ trong nước, người khách rút cuốn sách trong túi ra, đeo đôi mục kỉnh gọng sắt vào và mở sách với một vẻ nâng niu kính cẩn phù hợp với tính chất thiêng liêng của cuốn sách. Rồi chẳng cần giải thích dài dòng, anh ta mở đầu bằng câu: “Thánh ca Standish,” đưa lên mồm cái dụng cụ kỳ lạ đã được miêu tả, làm phát ra một âm thanh lanh lảnh, cất tiếng lấy giọng ở một bát độ thấp hơn và bắt đầu hát. Tiếng hát cao vút, êm nhẹ, du dương, như thách thức nhạc điệu, ý thơ và cả những bước đi khó nhọc của con vật thiếu luyện tập:

Kìa anh em ăn ở hòa thuận nhau



Thật tốt đẹp thay!

Ấy khác nào dầu quý giá đổ ra trên đầu,

Chảy xuống râu, tức râu của Aaron,

Chảy đến cả áo người.[15]


[15] Lời Thánh kinh.

Vừa ca những vần thơ tuyệt diệu, người khách lạ vừa lấy tay phải nhịp nhàng giơ lên hạ xuống; khi hạ thấp, những ngón tay dừng lại một lát trên những trang cuốn sách nhỏ, lúc giơ cao, cả bàn tay xòe ra, không ai có thể bắt chước nổi trừ người nào đã được huấn luyện. Dường như do một thói quen sẵn có, việc đánh nhịp bằng tay đối với anh trở nên cần thiết, và tay anh chỉ dừng lại khi giới từ mà thi gia dùng để chấm câu đã được xướng lên với đầy đủ hai âm tiết.

Những âm thanh mới lạ như vậy giữa cảnh cô tịch của chốn sơn lâm không thể không lọt vào tai những người đi trước không xa. Người da đỏ thì thầm mấy câu tiếng Anh bập bõm với Heyward, anh này nói lại với người khách làm ngắt quãng và chấm dứt luôn thể những cố gắng hát ca của anh.

“Mặc dù không có gì nguy hiểm, sự thận trọng thông thường bảo chúng ta phải giữ hết sức yên lặng trên quãng đường rừng này. Alice sẽ thứ lỗi cho nếu như anh làm giảm hứng thú của em vì phải yêu cầu ông bạn đây hoãn việc ca hát tới một dịp khác an toàn hơn.”

“Quả là anh sắp làm giảm hứng thú của em,” cô gái tinh nghịch đáp, “vì em chưa từng thấy có một sự phối hợp nào kém cỏi hơn giữa cách biểu diễn và ngôn ngữ bài ca như vừa được nghe; và em đang mải tìm nguyên nhân của sự thiếu sót như vậy giữa tiếng hát và ý thơ thì giọng trầm của anh đã cắt đứt những suy tưởng thú vị của em, anh Duncan ạ.”

Nhận xét của cô gái làm cho Heyward tự ái, anh nói:

“Anh thật không biết em gọi giọng trầm của anh là cái gì, chỉ biết rằng đối với anh, sự an toàn của em và chị Cora còn quý giá hơn bất cứ bản nhạc nào của Handel.” Bỗng Heyward ngừng bặt, đưa nhanh mắt về phía một lùm cây rậm rạp rồi ném một cái nhìn ngờ vực vào người dẫn đường vẫn đang đều bước với vẻ bình thản trang nghiêm. Anh cười thầm, nghĩ là mình đã nhầm trái cây rừng bóng nhẫy với con ngươi long lanh của một kẻ man rợ đang lẩn quất đâu đây; anh phóng ngựa lên phía trước, tiếp tục câu chuyện bị gián đoạn bởi ý nghĩ vừa thoáng qua đầu.

Thiếu tá Heyward chỉ nhầm là đã để cho tính kiêu căng tự phụ của tuổi trẻ làm mờ tinh thần cảnh giác cao của mình. Đoàn người vừa đi khỏi thì trong bụi rậm, những cành cây nhẹ nhàng rẽ sang hai bên để lộ một bộ mặt hung dữ với những nét sơn man rợ và hằn lên những dục vọng không kiềm chế, đang dõi theo bước đi của đoàn du hành. Một vẻ đắc chí thoáng hiện trên khuôn mặt vẽ sơn sẫm màu của con người chốn núi rừng khi y biết được hướng đi của những người y định ám hại. Đoàn người vẫn vô tình tiến bước; bóng hai thiếu nữ thanh mảnh và duyên dáng thấp thoáng giữa rừng cây, trên con đường uốn khúc, theo sau là dáng hình rắn rỏi của Heyward; cuối cùng, hình thù xấu xí của thầy quản hát khuất sau những rặng cây tối om sừng sững giữa rừng sâu.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 34 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Hiện đại Thanh mai trúc mã] Đều Tại Vầng Trăng Gây Họa - 11 Giờ Phải Ngủ

1 ... 40, 41, 42

2 • [Hiện đại] Làm thế nào để không nhớ hắn - Mộng Tiêu Nhị

1 ... 27, 28, 29

3 • [Hiện đại] Xin chào Chu tiên sinh! Dạ Mạn

1 ... 26, 27, 28

4 • [Xuyên không] Hỉ doanh môn - Ý Thiên Trọng

1 ... 105, 106, 107

5 • [Xuyên không - Cổ xuyên hiện] Ảnh hậu đối mặt hàng ngày - Ngã Yêu Thành Tiên

1 ... 37, 38, 39

6 • [Xuyên không] Vương phi thần trộm Hưu phu lúc động phòng! - Thủy Mặc Thanh Yên

1 ... 82, 83, 84

7 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 138, 139, 140

8 • [Hiện đại] Anh Trai VS Em Gái - Trà Trà Hảo Manh

1 ... 10, 11, 12

9 • [Hiện đại] Bó tay chịu trói - Thiên Thần Di Cô

1 ... 30, 31, 32

10 • [Hiện đại] Cục cưng lật bàn Con là do mẹ trộm được? - Ninh Cẩn

1 ... 87, 88, 89

[Cổ đại - Trùng sinh] Đích trưởng nữ - Hạ Nhật Phấn Mạt

1 ... 80, 81, 82

12 • [Xuyên không - Dị giới] Phế sài muốn nghịch thiên Ma Đế cuồng phi - Tiêu Thất Gia - New C798

1 ... 115, 116, 117

13 • [Hiện đại] Hôn nhân giá ngàn vàng - Cẩm Tố Lưu Niên (103/104]

1 ... 178, 179, 180

14 • [Xuyên không] Nàng phi lười có độc - Nhị Nguyệt Liễu

1 ... 90, 91, 92

15 • [Hiện đại] Vui vẻ gặp lại - Miêu Diệc Hữu Tú

1 ... 24, 25, 26

[Cổ đại - Trùng sinh] Trọng sinh cao môn đích nữ - Tần Giản

1 ... 137, 138, 139

17 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 244, 245, 246

18 • [Hiện đại - Trùng sinh] Sống lại tại cửa cục dân chính - Bạo Táo Đích Bàng Giải

1 ... 20, 21, 22

19 • [Xuyên không] Thú phi thiên hạ Thần y đại tiểu thư - Ngư Tiểu Đồng

1 ... 98, 99, 100

20 • [Xuyên không] Nịch sủng Chí tôn cuồng phi - Mặc Thập Tứ

1 ... 52, 53, 54



Công Tử Tuyết: Re: [Game] Phép cộng may mắn - Tầng 4
Shop - Đấu giá: Sam Sam vừa đặt giá 449 điểm để mua Trái dâu
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 426 điểm để mua Trái dâu
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 434 điểm để mua Ác quỷ  3
Shop - Đấu giá: meoancamam vừa đặt giá 433 điểm để mua Gấu xanh, gấu hồng
Tuyền Uri: Thông báo lần 2: Do có nhiều bạn (chị) chưa cập nhật mục lục. Vui lòng cập nhật mục lục giùm, thời gian chậm nhất là 21/9/2018
Shop - Đấu giá: ღ_kaylee_ღ vừa đặt giá 412 điểm để mua Ác quỷ  3
Tuyền Uri: Kao điên =))
Kaori Hương: hahahha
Shop - Đấu giá: trucxinh0505 vừa đặt giá 250 điểm để mua Chim cánh cụt xanh
Shop - Đấu giá: Sam Sam vừa đặt giá 404 điểm để mua Trái dâu
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 383 điểm để mua Trái dâu
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 342 điểm để mua Chó vàng
Công Tử Tuyết: Re: 12 cung hoàng đạo và 12 con giáp
Shop - Đấu giá: lesliecomnamnho vừa đặt giá 246 điểm để mua Couple 4
Kaori Hương: T_T ahahahha
Shop - Đấu giá: cò lười vừa đặt giá 456 điểm để mua Vòng tay đá quý
LogOut Bomb: Nguyệt Hoa Dạ Tuyết -> Nguyệt Hoa Dạ Tuyết
Lý do: Thú vui tao nhã
LogOut Bomb: Sunlia -> Sunlia
Lý do: đánh bomb liều chết =)))
Kaori Hương: T_T vợ vọt mô bay cả rồi
Kaori Hương: hahahha
Khuynh Uyển 168: Tái xuất giang hồ. Tìm lại người quen từ 2016 :3
Kaori Hương: :v kiểu trước vô khi nào cụng rôm rả h heo hút hahahah
Kaori Hương: :V ko ai chat với huhu buồn
Đào Sindy: gì v Hương
Kaori Hương: -_- off 5 tháng and khu chat don't còn ai
Tuyền Uri: Thông báo: Các bạn (chị) đang edit/ sáng tác vui lòng cập nhật mục lục truyện nhé. Thời gian cập nhật từ 17/9/2018 - 21/9/2018. Trân trọng cảm ơn
Shop - Đấu giá: Đào Sindy vừa đặt giá 295 điểm để mua Mề đay đá Citrine 4
Shop - Đấu giá: luoicon27 vừa đặt giá 405 điểm để mua Mèo lông nâu
Shop - Đấu giá: Askim vừa đặt giá 280 điểm để mua Mề đay đá Citrine 4

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.