Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 10 bài ] 

Người không mang họ - Xuân Đức

 
Có bài mới 03.02.2014, 21:35
Hình đại diện của thành viên
Cựu Editor Diễn Đàn
Cựu Editor Diễn Đàn
 
Ngày tham gia: 14.11.2012, 20:15
Bài viết: 1594
Được thanks: 4681 lần
Điểm: 10.72
Có bài mới [Xuất bản - Trinh thám] Người không mang họ - Xuân Đức (Hoàn) - Điểm: 7
Người không mang họ
Xuân Đức


images


Tác giả: Xuân Đức

Thể loại: Tiểu Thuyết

Bìa: Lý Mai An

Số chương: 9

Nguồn: NXB Văn Học

[Truyện trinh thám]

Lời nói đầu

Chủ nghĩa thực dân Mỹ đã đẩy biết bao thanh niên miền Nam Việt Nam vào vũng bùn tội lỗi, trong đó có Trương Sỏi từ một người bình thường trở thành tướng cướp. Đã nhiều lần, bà con cô bác chìa bàn tay nhân ái ra để cứu vớt Sỏi, song Sỏi không đủ nghị lực cải tạo thành người lương thiện. Cho đến tận sau ngày giải phóng miền Nam Việt Nam, Sỏi vẫn tiếp tục gây tội ác. Và kẻ phạm tội đã bị trừng phạt. Nhưng cũng từ cuộc đấu tranh chống tội phạm hình sự, chủ nghĩa nhân đạo cách mạng được thể hiện khá rõ nét qua hoạt động của các chiến sĩ công an nhân dân.

(Tác phẩm này đã được dựng thành phim, với Lý Hùng đóng vai Trương Sỏi)



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
1 thành viên đã gởi lời cảm ơn Ngáo Ộp về bài viết trên: HoaHoaTựVũ
     

Có bài mới 03.02.2014, 21:37
Hình đại diện của thành viên
Cựu Editor Diễn Đàn
Cựu Editor Diễn Đàn
 
Ngày tham gia: 14.11.2012, 20:15
Bài viết: 1594
Được thanks: 4681 lần
Điểm: 10.72
Có bài mới Re: Người không mang họ - Xuân Đức - Điểm: 10
Chương 1

1.

Lại xin bắt đầu câu chuyện này từ một con sông mặc dầu tác giả không bao giờ muốn lặp lại cái gì mình đã viết.

Đã ngót nghét mười năm, từ 1954 đến khi câu chuyện này xảy ra; cuối năm 1964, con sông Hiền Lương được quàng vào mình một cái tên mới, Sông giới - tuyến. Tên mới mà lại rất cũ, cũ mà lại quá mới, như vành khăn tang mà bất kỳ một ai không thích nó vào đầu cũng thấy bàng hoàng không tin được một điều bất hạnh khủng khiếp đã xảy ra với chính mình.

Vào những năm ấy, sông Hiền Lương cũng là nơi thu hút bước chân của nhiều người. Người ta đến bờ sông này với rất nhiều lý do khác nhau. Trước hết là bước chân của những nỗi đau, nỗi nhớ, những day dứt và khát vọng. Có người mẹ từ tít mũi Cà Mau cũng cơm nắm cơm đùm tìm ra tận nơi để được nhìn thấy màu cờ đỏ sao vàng miền Bắc. Rồi lại những bước chân khắp năm châu bốn biển tìm về đây như tìm đến một sự thật lịch sử, một đòi hỏi nóng hổi của thời đại này: độc lập - tự do. Rất nhiều lý do khác nhau. Trong đó dù không nhiều cũng có những kẻ chạy trốn. Trốn khỏi một thực tại, một chế độ. Những kẻ đó chẳng còn con đường nào khác là vượt qua giới tuyến.

Những kẻ vượt tuyến đi từ ngoài Bắc vào, thường thường không dám bám theo trục đường quốc lộ 1. Vì như vậy rất dễ bị lộ. Họ rẽ lên phía tây, vượt qua những dãy đồi đất sỏi trập trùng của Quảng Bình mà vào Vĩnh Linh. Tại đất giới tuyến này, phía tây con sông Sa Lung cũng là những dãy đồi tràm lúp xúp mênh mông của Vĩnh Chấp, Vĩnh Thủy. Chẳng có lực lượng công an hay dân quân nào rải cho khắp các khu đồi ấy. Cho nên những kẻ vượt tuyến may mắn thường lọt được vào tận ngã ba sông, nơi con nước Sa Lung đổ vào sông Hiền Lương.

Nhưng cái ngã ba sông mà nhiều kẻ đã gọi là "tam giác chết" này, ông trời đã không dung kẻ phản nghịch. Con sông Sa Lung đang chảy một cách thong dong theo hướng Bắc - Nam song song với quốc lộ 1, đáng lý ra nó phải hợp với sông Hiền Lương thành một góc vuông thì có lẽ tạo hóa đã đoán trước được sự thể những năm tháng này cho nên mới uốn quặt dòng Sa Lung rẽ ngược lên hướng tây một đoạn khá dài rồi mới lại ghép vào dòng sông giới tuyến mà quay ngoặt trở lại để ra biển. Chính cái khúc oái oăm này đã tạo nên cái lưới bẫy. Những kẻ vượt tuyến thường đi ban đêm, cứ lò dò nhằm hướng nam mà vào. Bên tay trái họ là dòng Sa Lung chảy xuôi theo hướng họ đi. Trước mặt là sông giới tuyến giăng ngang. Họ đinh ninh như vậy. Cho nên đến khi bàn chân chạm phải đoạn sông giăng ngang thì lập tức họ thầm reo lên trong lòng: Bến Hải, Hiền Lương đây! Thế là nhào xuống. Lặn một hơi thật dài thì ra được gần nửa sông. Ngoi lên lấy hơi rồi lặn thêm cú nữa. Đã hai phần ba biên giới rồi. Họ vung tay đạp nước ào ào. Chạm bờ rồi. Thoát khỏi bàn tay cộng sản rồi. Ơ, sao vượt tuyến lại dễ dàng đến vậy? Họ lên bờ. Việc đầu tiên là những kẻ đó phải tỏ ngay tấm lòng mình cho người bờ Nam hiểu kẻo bị bắn oan. Họ, mặc dầu áo quần còn ướt sũng nước, có khi rét đến cứng hàm, nhưng vẫn rán hơi rướn cổ gào thật to: "Ngô tổng thống muôn năm". Và ngoảnh ra bờ Bắc, nơi đã nuôi họ từ khi chiếc tã còn đẫm mùi hăng hắc cho đến ngày biết bơi biết lặn, họ hét: "Đả đảo chế độ cộng sản độc tài!". Đáp lại tiếng hô của họ là mấy bóng người chạy ra im lặng nắm tay họ kéo vào một ngôi nhà nào gần nhất. Họ vừa hồi hộp vừa sung sướng vừa hô líu lưỡi: "Ngô tổng thống muôn năm!". Đến khi chui vào nhà, ngẩng mặt nhìn lên bỗng thấy ảnh Cụ Hồ, họ đứng đực ra như cây sú chết cháy. Cụ Hồ vẫn cười hiền từ nhìn họ. Còn chủ nhà, có lẽ đã quá quen với cảnh này nên khoát tay chỉ ra ngoài và giới thiệu bằng một giọng tự nhiên đến mức sởn cả gáy: "Các bác hô khẩu hiệu khí sớm. Sông Hiền Lương phía trước nớ tề!". Dĩ nhiên sau đó số phận những kẻ dại dột ấy thế nào, có lẽ ai cũng đoán được.

Đêm nay, đêm tháng chạp 1964, có một kẻ vượt tuyến khôn ngoan đã không lặp lại tất cả những gì mà những kẻ ngờ nghệch trước đây đã mắc phải. Mặc dù, nếu không nhầm, thì đây là người vượt tuyến nhỏ tuổi nhất. Mới bước vào tuổi mười sáu. Nhưng hơn tất cả những kẻ rủi ro trước đó (có khi là những tên gián điệp đã gần ba chục năm làm nghề), anh ta đã sinh ra, lớn lên ngay trên đất giới tuyến này. Cái khúc ngoặt trớ trêu của dòng Sa Lung đối với anh lại đơn giản như một bờ giậu qua nhà hàng xóm. Vả lại anh ta chẳng dại gì mà chọn hướng ấy để vượt.

Khôn ngoan trước luồng lạch của dòng sông, nhưng trong cuộc sống anh lại ngờ nghệch hơn tất cả những kẻ khác. Ngờ nghệch đến mức để cuộc sống của mình dấn vào đêm nay, chỉ vì cuộc cãi vã với thằng bạn giữ trâu. Thằng bạn ấy anh có ghét gì nó đâu, ngược lại, anh đã quí mến nó suốt cả thời thơ ấu. Nó chậm chạp hơn anh trong việc đi trâu, kiếm củi. Những nắm cơm đem theo ăn trưa ở bãi trâu, góp chung lại, nó thường dồn cho anh ăn những miếng khoai nhiều bột hơn hay miếng dừa kho béo ngậy. Thằng bạn ấy trọng nể anh vì anh khỏe mạnh hơn, xốc vác hơn trong việc giữ trâu, kiếm củi. Bao lần anh dồn thêm cho nó bó củi đầy đặn, và cũng bao lần anh bươn qua gai góc rú Linh để tìm lại con bò đực của nó hay đứt chạc chạy ròng... Vậy đấy, mà buổi trưa nay không hiểu sao nó lại cãi bướng Lạng. Đã vô ý đạp vỡ cái ống sáo Lạng mới khoét được, lại còn làm bướng. Cái sáo tiếng đẹp làm sao, cứ ghé miệng vô là tuôn ra những âm thanh thật tròn, ai nghe cũng thấy khoái! Lạng chỉ đẩy vào vai nó, mắng "thằng đui". Vậy là nó ngã lăn ra, ôm ngón chân vấp phải cục đá la làng, rồi chửi Lạng "Đồ con nhà địa chủ ăn xương ăn máu người ta"... Lấy hòn đá mà đập vào đầu Lạng còn hơn chửi Lạng như vậy. Lạng thấy nhói buốt từ đầu đến chân. Anh quay lưng, cúi nhặt ống sáo dập, dùng tay bẻ vụn nát cả ra, rồi lẳng lặng đi tới một bụi sim, gục mặt vào đầu gối, ngồi suốt buổi chiều. Buổi chiều nặng nề quá đối với đời Lạng. Nặng quá, nặng đến mức không chịu nổi, và ý định trốn biệt khỏi cuộc đời - như Lạng nghĩ là cách tốt nhất - đã dẫn anh đến cái đêm ra đi!

Trên dòng Hiền Lương có những điểm tưởng rất lỏng lẻo, chính lại là nơi hiểm nghèo nhất. Ngược lại, có những khúc bề ngoài có vẻ canh phòng chắc chắn nhất lại là nơi khả dĩ có thể lọt lưới hơn cả. Chỉ người ở ngay đất này mới tìm ra ẩn số ấy. Và anh ta, công dân Hoàng Lạng, đã lọt qua các khe hở của các cửa trận một cách không đến mức căng thẳng.

Sự căng thẳng đối với Lạng lại diễn ra ở một phía khác.

Khi làn nước lạnh của dòng sông Hiền Lương ngoạm vào chân anh ta thì một cảm giác tê buốt như lưỡi gươm xuyên lạnh khắp người Lạng. Mới mười sáu tuổi đầu. Trái tim anh, tấm lòng anh, cả trí não anh nữa, đang bị dòng nước lạnh siết vào. Bàn chân ngập ngừng, tê cóng. Mặt sông đang tràn bóng tối. Bao nhiêu mạo hiểm đang chờ. May mắn hay bất hạnh?

Phía cửa biển, gió hú dài những chuỗi âm thành lâm ly, ghê rợn. Mấy bóng điện bên bót gác bờ Nam chập chờn, ma quái. Lạng cắn chặt vành môi. Anh nghe rõ con sông đang sôi trong tâm khảm mình. Sóng đập vào trí não, rồi dội xuống trái tim, trái tim lại dồi lên trí não. Âm thanh cứ nhại đi nhại lại như tiếng gọi dội vào vách núi đá: "Vượt đi!", "Dừng lại!", "Vượt đi!", "Dừng lại!".

Một thanh niên 16 tuổi - không, phải nói chính xác là 15 tuổi 7 tháng - dám bỏ nhà, bỏ quê, bỏ hết bạn bè mà ra đi, tới một nơi không hề biết trước, không hề có chút bảo đảm nào. Chỉ thế thôi, cũng đã thấy sự liều lĩnh đến mức nào. Huống chi nơi đó lại là bên kia tuyến, là một chế độ khác, một thế giới khác, một cõi trời đối lập. Mà sự đối lập nào phải ở phong tục, tập quán, hay sự khác biệt, may ra.... Không. Đây là đối lập của súng, là chết hoặc sống. Là cõi trần hay địa ngục. Là kiếp người và kiếp thú. Nói tóm lại, một sự khác biệt mà không thể nào tưởng tượng ra nổi.

Dòng nước tê tái làm liệt dần cái bối rối hầm hập trong tim anh. Sự liều mạng thường quá đà và trượt dài trong mù quáng. Cả thân người anh đã ngâm xuống nước. Trái tim như đóng băng. Anh bơi, run rẩy và vụng trộm. Tiếng nước roóc reéc như cố tình mách lẻo. Da thịt anh không còn cảm giác. Cái sức lực bẩm sinh của một câu bé chăn bò, đá bóng, được bọc trong lớp da đen bóng như mạ đồng, bỗng tiêu tan quá nửa vào nước. Chưa bao giờ anh thấy mình yếu đuối như lúc này, có những lúc Lãng ngỡ như không khoa tay lên được nữa. Cả cơ thể chìm xuống. Anh nín thở mặc kệ. Thôi thì chìm đi. Thà như thế còn hơn...

Nhưng rồi cái cơ thể lại nổi lên. Anh vẫn tham sống, mặc dầu cuộc sống phía trước rồi sẽ ra sao, anh không hình dung nổi... Cố bơi, cố nữa... anh đã đến giữa sông...

"Hay là quay lại?!". Ý nghĩ bất chợt ùa đến dữ dội như một cơn lốc. Quay lại! Trở về với đàn bò mộng mà hợp tác xã vẫn giao cho anh giữ. Trở về với bãi cỏ trảng phoóc và con đường đất đỏ 12 thơm ngát hoa chạc chìu. Trở lại với những đêm chiếu bóng trên sân Ủy ban kìn kịt người xem. Những đêm ấy, anh vẫn vào buồng chiếu xin được hát một bài. Bài hát "Chiếc khăn piêu thêu chỉ hồng..." rất hợp với giọng nam trung của anh...

Ý muốn như cơn lốc, nhưng cơn lốc chỉ xoáy tại chỗ, còn thân hình của anh vẫn chầm chậm trường lên phía trước. Đã hai phần ba sông... Rồi chỉ cách bờ Nam sông khoảng bảy thước. Lạng hiểu, đã đến thế giới bên kia rồi. Ở con sông giới tuyến, sự phân chia rất chia rất chi li. Từ bờ sông ra bảy mét là phần nước bất khả xâm phạm của mỗi bên. Từ bảy mét ra giữa sông là địa phận có sự quan sát, chịu trách nhiểm của cả phía bên kia. Anh đã vào vòng bảy mét. Anh đã hoàn toàn thoát khỏi tầm tay của Công an miền Bắc. Bàn chân chới với trong lạch nước đục. Bàn chân chạm bùn. Lạng cố chòi lên. Hai tay với ra níu lấy một ngọn me. Thế là hết. Vĩnh biệt!

Anh không đủ sức quay lại dù chỉ một giây. Cả tấm thân tê cóng phủ phục xuống bùn. Nhưng anh vẫn biết. Sau lưng mình là miền Bắc, là 15 năm của tuổi thơ, của một thời đã sống. Vĩnh biệt! Đột nhiên anh khóc. Khóc trong ngập ngụa bùn lầy.

Mới hôm qua thôi... Thằng bạn chăn bò cùng xóm với anh đã đèo anh bằng xe đạp (nó mượn của ông anh rể) lên xem đội tuyển văn nghệ huyện. Họ diễn một vở kịch xảy ra trên sông này. Đầu đề kịch là "Chiếc nón trôi sông". Một chiếc nón vô tình bị gió hất ra giữa nước và trôi giạt từ bờ này qua bờ kia. Chiếc nón trở thành mối bận tâm của bao nhiêu người. Giờ đây, anh không bằng chiếc nón. Chẳng ai bận tâm đến anh. Không săn đuổi, chẳng lùng bắt và cũng không hề đón tiếp. Anh cắm mình lên bờ Nam như một cành củi mực ngẫu nhiên dạt vào.

Mới sáng nay thôi... Thằng Hợp con thím Sinh còn khoét giúp cho Lạng một ống sáo bằng tre lồ ô. Chẳng hiểu vì lí do gì mà cả nhà thằng Hợp đều thương yêu Lạng như con đẻ. Thậm chí Lạng có nhiều nét giống Hợp nữa. Có khác chăng là tính nết. Anh lầm lì ít nói, còn Hợp thì mặc dù chỉ kém anh có một tuổi nhưng nhí nhảnh như trẻ lên mười. Bây giờ thì cái ống sáo vẫn nằm nguyên trên đầu giường Lạng. Anh rất thích thổi sáo, nhưng chẳng mang sáo theo. Anh cố tình không mang theo gì. Cố tình gạt mọi quá khứ ở lại. Nhưng quá khứ cứ đeo đẳng trong đầu anh.

Mới trưa nay thôi... Rồi mới chiều nay thôi... Tất cả chỉ mới đó thôi, mà bỗng xa lắc xa lơ y như kiếp trước vậy. Phải rồi, tất cả là kiếp trước. Đã thế còn gì mà sợ hãi? Có gì nữa mà băn khoăn. Lạng chống tay cố vùng dậy. Kiếp trước!... Ồ, hóa ra đã qua một kiếp rồi cơ đấy... Ta đang lao vào cõi âm phủ chăng? Nào, tiến lên!... Lạng thường nghe kể về cõi âm ti, rằng phải đi qua một con sông, có con chó chín đầu canh cửa... Bất giác anh rùng mình. Hình như có tiếng chó sủa thật. Đúng rồi. Tiếng chó bất ngờ dậy ran khắp bốn phái. Chao ôi là chó. Ngỡ như tràn trề bốn phía đều là chó. Hai chân Lạng như bị đóng đinh tại chỗ. Cả thân hình run lên và cứng đờ lại khi đột ngột có một ngọn đèn pha quét thẳng vào. Thế rồi ào ào, người chó lẫn lộn, tất cả từ bốn phía nhào đến:

- Đứng im! Đưa tay lên! Đằng sau quay!

Lạng không còn hiểu mình có làm theo những mệnh lệnh ấy không? Hình như có thì phải. Bởi vì anh vẫn còn một chút cảm giác để nhận ra rằng mình đã quay mặt lại phía Bắc. Và vẫn cái giọng lúc nãy phả ra sau gáy anh.

- Anh là ai?

Lạng nín lặng. Mình là ai? Ủa, là ai nhỉ? Trước mặt anh bây giờ lại là miền Bắc. Nếu còn ở đó thì chẳng ai hỏi mình câu vừa rồi, bởi lẽ mình tồn tại trước mặt mọi người như một lẽ đương nhiên. Còn bây giờ, ở đây, mình là gì? Chẳng lẽ nói là xã viên hợp tác xã, không lẽ xưng rằng chiến sĩ dân quân... Không là gì cả. Ở đây, những gì tồn tại bấy lâu ở anh hoàn toàn không có giá trị. Anh không còn là anh nữa rồi.

- Trả lời ngay, mày là ai? Nói ngay, mày là ai?

2.

Cái lai lịch rườm ra của Lạng có những chỗ cũng oái oăm như khúc ngoặt nơi ngã ba sông này vậy. Cho đến cái tuổi đã thành niên rồi mà anh ta cũng không tự hiểu hết cội rễ của mình. Nhưng ở cái làng đất đỏ Vĩnh Hòa này thì nhiều người biết. Một trong những người thấu tỏ cái lai lịch rắc rối ấy chính là tác giả câu chuyện này.

Ở trong cái phủ Vĩnh Linh cũ thì mấy làng đất đỏ ba - zan là những nơi ăn ra làm được nhất. Xã Vĩnh Hòa xưa kia gọi là làng Liêm Công. Làng này được chia ra hai cánh mà một thầy địa lý nổi tiếng đã gọi là hai cánh của một con dơi. Con dơi bay chập choạng trong bóng tối tìm cái ăn. Cả làng Liêm Công từ đời này qua đời khác cũng đúng như vậy. Tuy nhiên ở mỗi cánh cũng nổi lên vài ba con người đáng được gọi là giàu có, và đó là hiện thân cho quyền lực cả làng. Đại diện cho cánh ngoài là dòng họ Lê Văn, không giàu lắm nhưng lúc nào cũng nắm các chức vị hương, hòa, lý, mục. Còn tiêu biểu cho cánh dơi phái trong là họ Hoàng, có thể nói là bồ thóc rương tiền của cả vùng đất đỏ. Đại diện cho sự giàu có của họ Hoàng là gia đình Hoàng Ất. Người đời nay còn truyền lại rằng, cái chuồng bò của nhà Hoàng Ất đông đến mức những người làm thuê thỉnh thoảng dắt trộm một con ra ngoài đồi giết thịt, mà Ất chẳng hay biết gì. Bởi có khi ngay bò trong chuồng cũng giẫm đạp lên nhau mà chết. Mỗi bận lấy phân chuồng người ta kéo ra hàng rổ xương bê con.

Họ Hoàng giàu đến vậy nhưng chưa một lần nào nắm được chức lý trưởng. Cái quyền lực của họ Hoàng không phải là quyền cai trị mà quyền của thúng thóc, đồng tiền. Người ta đồn rằng Hoàng Ất có một con bò Ô khôn ngoan chẳng kém gì chủ. Những nông dân nghèo đến thuê bò cụ Ất về cày ruộng mình bao giờ cũng được Hoàng Ất răn dạy từ trước: "Mày thuê cày nhiều hay ít phải nói cho thật, đừng có cày nhiều nói ít con Ô nó chẳng chịu đâu". Nghe nói có người cày tấm ruộng hai sào mà nói dối là sào rưỡi. Đến khi cày được hai phần ba tấm thì tự nhiên con Ô đứng lại, cúi đầu xuống dùng sừng hất cái ách ra khỏi cổ. Người thợ cày nhảy tới định khoác lại ách thì lập tức bị con Ô húc cho một phát bổ chửng ra giữa ruộng. Chuyện đó chẳng rõ thực hay hư, nhưng một đồn mười, mười đồn trăm, cả cái làng Liêm Công này đều sợ oai con Ô đến mức trước khi đi đến nhà Hoàng Ất thuê bò cày, ai cũng phải vác sào ra đo lại ruộng.

Quyền hành đến là vậy, nhưng Hoàng Ất vẫn không mãn nguyện. Cụ cay cú vì chưa bao giờ nắm được chức lý trưởng. Thế rồi đến một năm nọ, đúng vào diup làng chuẩn bị tiêm 1 lý trưởng mới. Hoàng Ất khăn gói lên vai tìm vào tỉnh. Chẳng ai rõ chuyến đi ấy có chuyện gì xảy ra. Chỉ biết độ mười hôm sau, có motọ ông quan Tây về làng trực tiếp tiêm lý trưởng.

Thực là hài hước, bởi ông quan Tây này là một lái buôn. Đi theo ngài là một thông ngôn mắt lé. Về đến làng, thông ngôn thay mặt quan truyền lệnh: " Để mừng quan Tây hạ cố về làng, dân làng phải đem nạp một hộ 5 kg mảnh bát sứ cổ Trung Quốc". Thế là cả làng sục tìm khắp gốc tre bờ giậu. Có nhà bí quá phải đập vỡ những bát ăn cơm của nhà ra để lấy mảnh.

Sau đó cũng chính ngài thông ngôn nói với lý trưởng: "Hãy chọn một gia đình sang trọng nhất để cho quan nghỉ lại". Lý trưởng họ Lê Văn, trước hết muốn mời quan về nhà mình. Nhưng mới đảo mắt nhìn qua, ngài thông ngôn mắt lé đã lắc đầu quầy quây: "Nhà cửa gì ông mà gớm ghiếc thế này, quan ở làm sao được!". Lý trưởng thẹn cháy mặt nhưng đành cắn răng chịu. Ông dẫn ngài thông ngôn đi suốt tám nhà giàu có của họ Lê Văn, nhưng đến đâu ngài thông ngôn cũng bĩu môi: "Hừ, quan Tây chứ có phải lợn cỏ đâu mà các ông cho ở những cái chuồng này". Cả họ Lê Văn thở dài sườn sượt. Cuối cùng chính thông ngôn phải nói toạc ra: "Tôi nghe nói làng này có nhà ông Hoàng Ất giàu lắm kia mà?". Cả họ Lê Văn trố mắt kinh ngạc vì không hiểu bằng cách nào mà quan tỉnh lại biết được. Cực chẳng đã, họ phải dẫn quan trên vào làng trong. Vừa bước chân đến nhà Hoàng Ất, ngài thông ngôn đã reo lên: "Có thế chứ, tốt lắm! Chỗ này rất vừa lòng quan Tây".

Thế là "cánh dơi" trong nhờ có họ Hoàng mà rước được ông mũi lõ vào, mặc dầu ông quan nước mẹ này hầu như chẳng quan tâm gì tới chuyện đó. Hai con mắt đùng đục đồng thau của ngài chỉ chằm hẵm vào đống mảnh sứ mà dân mang đến đổ đầy sân Hoàng Ất. Mọi việc giao dịch ở tay thông ngôn.Vài người tò mò nhìn vào thì thấy quan Tây có rút tiền ra giao cho thông ngôn. Nhưng sau đó thông ngôn lại "dịch" ra rằng: "Ngài rất hài lòng về món quà của dân làng. Ngài rất cám ơn". Hóa ra ngôn ngữ bên Pháp với ngôn ngữ bên ta khác nhau đến mức ấy. Đưa tiền ra, nghĩa là xin cám ơn. Không trách gì mà phải cần phiên dịch.

Cả làng, chỉ mình Hoàng Ất là hiểu thấu đáo mọi chuyện. Ngài thông ngôn được một món tiền to. Để đổi lại, ngài thông ngôn "dịch" lại lời quan Tây rằng: "Lý trưởng của một làng phải là người đại diện cho bộ mặt của làng, phải nói là nơi sang trọng nhất, danh giá nhất. Vì vậy, quan trên thấy lần này cần thiết phải bổ nhiệm ông Hoàng Ất thay chức lý trưởng".

Thế là lần đầu tiên chức lý trưởng và tiếp sau đó là các chức vị khác rơi vào tay họ Hoàng. Mà kể ra thế mới xứng đáng với đống mảnh sành mảnh sứ kia chứ.

° ° °

Hoàng Lạng ra đời trong ngôi nhà sang trọng của Hoàng Ất vào những năm mà cái chức lý trưởng đã không còn nữa vì Mặt trận Việt Minh và chính quyền cách mạng kháng chiến đã khống chế toàn xã. Nhưng quyền lực của Hoàng Ất thì chưa mất.

ngay từ ngày còn nằm trong nôi, Lạng đã không được Hoàng Ất âu yếm. Điều đó Lạng chỉ biết sau này, khi mà toàn bộ cơ ngơi của Hoàng Ất đã tan tành. Nhưng mẹ anh thì hiểu rõ ngay từ khi còn mang con trong bụng. Bởi thực ra, cái thai đó không phải là giọt máu của họ Hoàng. Câu chuyện trớ trêu này có dính dáng đến bò Ô.

Trong làng có anh tợ cày tên là Ngô Sĩ Học, thân hình lực lưỡng, nhưng tính khí hay bôgn đùa, hài hước. Nhưng mọi chuyện "bông đùa" của Học không bao giờ không có mục đích. Ví dụ có lần cả đám thợ làng đi gặt thuê cho nhà Hoàng Ất, nghe người bạn than thở về chuyện đói kém, Học đã quẳng cả hai bó lúa trên via mình vào bụi và bảo bạn chờ tối trời hãy gánh về nhà. Cả đám trai làng sợ hết hồn, nhưng Học vẫn ung dung tuyên bố: "Miễn là đừng đứa nào phản tao là được". Một anh bạn nói: "Ai phản mày, nhưng chốc nữa lấy lúa đâu mà nạp cho lão Ất?". Học vẫn đủng đỉnh: "Đừng lo, chỉ cần chúng mày đừng có về sớm". Cả đám thợ gặt chờ cho đến nhá nhem tối mới hộc tốc gánh lúa chạy qua hè nhà lớn đổ vào sân sau của Hoàng Ất. Một người đầy tớ của Ất đứng ở đầu hè đếm số gánh. Đám thợ gặt theo mưu của Học chạy liền nhau thành một hàng. Học chạy gần cuối. Hai đầu đòn xóc của anh cắm vào hai bó lúa của người chạy trước và chạy sau. Cứ thế Học cũng chạy, nhún nhảy như gánh nặng. Loáng thoáng trong hoàng hôn, người đầy tớ nhìn lướt đám thợ gặt chạy hùng hục qua trước mặt, ai cũng nặng trĩu hai bó lúa trên vai. Chẳng hơi đâu mà đếm. Hai mươi tám người gặt thì hẳn là hai mươi tám gánh còn gì nữa. Đám thợ gặt sau khi ra khỏi nhà Hoàng Ất đã ôm nhau cười đến muốn vỡ bụng.

Học nghe thiên hạ đồn về con bò Ô của Hoàng Ất, anh không thể tin được. Một bữa anh đến gặp Hoàng Ất:

- Thưa ông, cháu có mười thước ruộng, cháu xin ông cho thuê con Ô một buổi.

Hoàng Ất nhìn Học một hồi lâu vẫn chưa thấy ừ hữ gì. Học lại cất tiếng:

- Thưa ông, cháu...

Thực ra Hoàng Ất chỉ hơn Học độ dăm tuổi là cùng. Nhưng vì ý thức đầy đủ về vai trò kẻ cả trong làng nên không bao giờ Ất trả lời ngay bất cứ một lời hỏi thăm nào. Ất rất thích nghe đi nghe lại nhiều lần những câu thưa bẩm.

- Thưa ông, cháu chỉ có mười thước ruộng...

Đến đây Hoàng Ất mới gật đầu:

- À, anh thuê bò hả. Nhưng ruộng nhà có bao nhiêu?

- Dạ, tấm ruộng sát bên cạnh ruộng chân đê của ông đấy. Đúng mười thước ạ.

Hoàng Ất cũng biết ruộng của Học. Nhưng gần như là thói quen hắn răn dạy:

- Thôi được, Nhưng con Ô nó khó tính lắm đấy. Đừng có nói dối.

Sáng hôm sau Học đến nhận bò, Hoàng Ất vỗ nhẹ vào lưng con Ô, ân ái như nói với con:

- Này Ô, sáng nay cày giúp cho thằng Học mười thước ruộng nhé. Nhớ là mười thước, chưa tới một sào đấy nhé!

Học nhận bò về, anh nhảy qua nhà người bạn nghèo bên cạnh và bảo:

- Này, sáng nay mày ra trổ nước vào ruộng, tao cày giúp cho.

Người bạn còn đang ngơ ngác thì học nháy mắt cười. Anh lùa con Ô qua ruộng người bạn trước. Tấm ruộng ấy cũng gần bằng tấm của Học. Anh cày xong quay lại bừa. Bừa thật kỹ ruộng bạn rồi để nguyên ách trên cổ bò, anh dong qua ruộng mình. Lại cày xong tấm ruộng của anh. Con bò mệt phờ thở phì phò nhưng mỗi lần muốn dừng nghỉ thì lập tức roi mây Học giáng xuống... Bò Ô đành phải rán ruột kéo.

Chuyện ấy sau đó lại được đám trai làng truyền tụng cho nhau trong tiếng cười đến chảy nước mắt. Dĩ nhiên tiếng cười hả hê đó cuối cùng cũng lọt đến tai bà Ất.

Bà Ất, dân làng từ xưa vẫn gọi thế bởi sợ oai ông Ất - thực ra đấy là một người đàn bà vừa trẻ, vừa đẹp lại nết na. Bà tên là Lành, bố là một thầy đồ (còn ông nội là một vị quan đô đốc bất mãn với triều đình bị bãi chức). Cái nết na của bà Lành chính là cái khuôn phép nhà nho mà cả dòng họ của bà truyền nối lại. Bà lọt vào ngôi nhà Hoàng Ất thực như là bông hoa nhài cắm bãi cứt trâu vậy.

Từ khi nghe lọt chuyện mướn bò của Học, ông Ất căm lắm. Phải như thời trước cách mạng, hắn Học đã phải đi phu cho đến trọc nhẵn tóc trên đầu rồi. Nhưng giữa thời buổi này, cái thế du kích bí mật mạnh lắm. Ất giận nhưng phải nín thinh. Còn bà Lành cố để ý xem xem người thợ cày đáo để ấy là ai. Thế rồi bà phát hiện ra Học trong đám người làm thường lui tới. Cuộc đời thật trớ trêu, chẳng ai có đủ thì giờ mà dò la thóc mách xem vì lẽ gì mà một bà quyền uy như vậy lại đi mê chàng trai cày lém lỉnh. Bà Lành hết sức bịt kín mọi chuyện mặc dầu tiếng đồn ngày một inh ỏi. Ông Ất cũng biết, nhưng phần thì sợ oai du kích, phần thì sĩ diện với chức lý trưởng, ông đành giả điếc giả câm. Còn bà Lành lại càng không dám để giống dòng nho gia của mình bị bôi nhọ. Thế nên Lạng sinh ra, tuy không được bố và các anh chị yêu quý, vẫn phải mang dòng họ Hoàng.

Nếu cuộc đời cứ thế mà bình lặng trôi qua thì có lẽ cũng chẳng có gì đáng nói. Nhưng bởi con người ta, tham vọng quyền lực là một bản năng không giới hạn. Năm 1953, một trận càn lớn của Pháp đổ ập về Vĩnh Hòa. Trước sức ép quá lớn của hai tiểu đoàn lê dương, dân quân du kích phải tạm rút vào rú Lĩnh. Pháp chiếm cả xã ba ngày. Trong ba ngày đó, đám hương hòa, lý mục cũ mới háo hức ngóc đầu dậy. Biết bao nhiêu cơ sở cách mạng bị bắt giết. Đất đỏ Vĩnh Hòa càng đỏ thêm vì máu người, mãi mãi về sau, người dân Vĩnh Hòa vẫn nhắc về năm 1953, năm máu.

Qua ba ngày, Pháp rút đi. Dân quân lại trở về. Dĩ nhiên nợ máu phải đổi bằng máu. Cái đầu của Hoàng Ất đã rơi xuống trong một đêm tháng Sáu. Gió Lào rú trên trảng Cồn. Bắt đầu từ đó, cái vinh quang của họ Hoàng chấm dứt.

° ° °

Kháng chiến thắng lợi. Người dân Vĩnh Hòa ai ai cũng háo hức đón chào cuộc đời mới. Suốt những năm cải cách ruộng đất rồi tiến lên thành lập hợp tác xã, câu bé mới bước vào tuổi thiếu niên ấy đã bị một mặc cảm nặng nề, rằng mình là con của cường hào bị cách mạng chém cổ. Càng lớn thêm một tuổi, sự mặc cảm càng lớn thêm ra. Lạng thường thui thủi một mình, học hết lớp bốn thì bỏ học. Lạng tự nghĩ có học cũng vô ích. Lạng nhận một đàn bò hợp tác để chăn. Ngay cả với công việc chăn bò Lạng cũng tự tách mình ra, không muốn chơi chung với bạn bè trong xóm.

Các bạn đội viên thiếu niên cũng như các anh chị lớn tuổi biết rất rõ tâm trạng của Lạng, nên ai cũng nghĩ tìm cách gần gũi lôi kéo Lạng hòa vào với tập thể. Đặc biệt là gia đình ông Học, bà Sinh nhà ở ngay đầu xóm, nơi mà Lạng thường lùa bò ra bãi rồi vào đấy leo cây, hái quả, đã hết sức chiều chuộng Lạng. Thằng Hợp con đầu của ông Học quý Lạng như anh em ruột. Nhờ thế mà dần dần Lạng cũng vui lên. Nó đá bóng chung với bọn trẻ, lại còn tập văn nghệ nữa. Ai cũng khen Lạng có giọng hát hay. Và những đêm đội chiếu bóng về xã, lạng vẫn cao hứng cầm mic - cơ - rô hát dõng dạc bài "Chiếc khăn piêu...".

Đầu năm 1964, Lạng tròn 16 tuổi. Cuộc chiến tranh phá hoại của thằng Mỹ bắt đầu bùng nổ ở một vài điểm ngoài Bắc. Đất Vĩnh Linh, nơi tiếp giáp đối đầu của hai miền bắt đầu sôi lên như biển động. Mặc dầu đã được chuẩn bị kỹ suốt mười năm nay, nhưng khi bước vào ngưỡng cửa của chiến tranh, tất cả mọi vấn đề, mọi lĩnh vực đều phải được xem xét lại, củng cố thêm một bước. Vì thế những người trước đây có dính dáng đến tề ngụy đều được triệu tập đi học thêm một lớp mới. Trong số này không có Lạng, mặc dù Lạng đã đến tuổi có trách nhiệm trước pháp luật.

Mặc dù không bị gọi đi học, nhưng sự kiện này cũng làm Lạng mất ăn mất ngủ mấy ngày liền. Cái quá khứ bấy lâu được chôn vùi nhờ cuộc sống sôi nổi trẻ trung và thân ái của hòa bình trên đất tuyến này đột ngột bị khuấy lên bởi tiếng bom của chiến tranh ập đến. Với cái tuổi thanh niên, Lạng bắt đầu biết nghĩ nhiều. Người ta chưa gọi đến mình, nghĩa là cái án vẫn còn treo lơ lửng đó - Lạng nghĩ vậy. Cuộc đời làm sao vui được khi trên đầu mình cứ trìu trĩu món nợ truyền kiếp? Mình đã được kết nạp vào dân quân, nhưng biết đâu đó là cái bẫy để cột chặt mình hơn? Chắc chắn mình sẽ không được đi bộ đội. Sẽ không đi công nhân, không thể làm cán bộ. Không là gì cả. Mà ở cái đất này, như thế thì có khác gì một tên tù bị giam lỏng?

Chao ôi là lý sự. Trên đời này người ta tiến cũng nhờ lý sự mà tụt dài, tụt mãi cũng bởi lý sự. Cái tư duy ích kỷ ấy đã gây biết mấy tai ương cho con người. Và Lạng chàng trai mười bảy tuổi đầy lý sự đó đã khẳng định đời mình là một tên tù bị giam lỏng. Đã bị giam thì phải phá tù. Phải phá cũi, sổ lồng thôi... Cái kết cục nghe ra thật quá đơn giản.

3.

Khác hắn với mọi sự tưởng tượng của Lạng, anh đã không được đón tiếp một cách hồ hởi, nhiệt liệt theo kiểu "những người thoát khỏi gông cùm Cộng sản trở về với chánh nghĩa quốc gia". Cũng không bị hỏi cung một cách căn vặn, mặc dù Lạng đã mất mấy đêm sắp đặt các câu trả lời.

Một sĩ quan già, người khô đét như thanh nứa đã giao cho Lạng một tờ khai có mẫu in sẵn: Họ tên, ngày sinh tháng đẻ, tên ông bà bố mẹ, nghề nghiệp, đoàn thể, vân vân. Đại loại là những điều mà Lạng có thể ghi một cách tự tin thoải mái, không phải đắn đo, cân nhắc gì.

Nạp bản tự khai cho người sĩ quan già rồi, Lạng được an nghỉ trong một phòng hẹp, mái lợp tôn, cách biệt với trại lính. Quan sát kỹ thì thấy đây là một ngôi nhà độc lập, có lẽ gọi là phòng giam thì đúng hơn. Xung quanh nhà không được vệ sinh sạch sẽ như dãy trại lính. Trong phòng kê một chiếc giường sắt, có màn che muỗi. Kể ra không đến nỗi như tù. Lạng hồi hộp đến thắt cả ruột, không thể nào đoán nổi số phận của mình rồi sẽ ra sao. Một ngày trôi qua, yên tĩnh. Lại ngày nữa, vẫn thế. Rồi ngày thứ ba chẳng có gì khác cả. Không có ai tra khảo căn vặn gì, cũng chẳng ai săn đón vồ vập. Lạng sống bồng bềnh trong trạng thái mụ đầu như thể ở trong bình chân không. Bản tính lầm lì xưa nay cũng không đủ sức giúp anh chịu đựng. Lần đầu tiên anh khao khát được nói, được hét vang lên, bô bô kể chuyện hoặc thậm chí có thể cãi nhau. Nhưng ở đây, ngay cả chuyện cãi nhau cũng không có đối thủ.

Cũng chưa có sự khởi động nào đủ làm cho anh bừng tỉnh để nhận ra hai chữ phản bội. Không, với anh có gì đâu mà phải day dứt chuyện ấy. Anh ra đi như con nước bị nghẽn dòng tìm lạch để thoát. Vả lại ngay từ những ngày sống trên đất Bắc, anh đã tự tách mình ra khỏi mọi người, tự đối lập mình với chế độ. Thế nghĩa là anh không phản bội ai, anh chưa hề thề thốt với ai cả... Cách lý sự ấy đã giúp Lạng ngay từ phút đầu dám cất bước ra đi. Còn bây giờ, trong trạng thái mơ hồ này đầu anh như đặc lại. Anh chẳng nghĩ thêm được gì hết.

Sáng ngày thứ tư, viên sĩ quan già trở vào phòng của Lạng. Lạng nín thở chờ đợi. Còn viên sĩ quan thì bình thản y như họ vẫn gặp nhau thường xuyên từng giờ.

- Anh bạn trẻ thân mến ạ, tôi rất lấy làm buồn bởi vì anh đã không khai thật...

Lạng chồm người lên:

- Về điểm gì?

Người sĩ quan khoát tay:

- Những điểm cơ bản nhất trong hồ sơ.

- Không, thưa ông, tôi xin cam đoan là tôi đã khai đúng...

Giọng viên sĩ quan vẫn dửng dưng không hề nâng lên hoặc hạ xuống:

- Cái đó tùy anh. Chúng tôi mong lần sau được nhận ở anh những lời khai thành thực.

Nói rồi y đứng dậy đi ra khỏi phòng với một dáng vẻ thanh thản sau khi đã đặt xuống bàn một tờ giấy có mẫu sẵn giống như tờ hôm trước.

Lạng mở tròn hai mắt nhìn trừng trừng. Anh nhìn ai? Chẳng nhìn ai cả. Anh nhìn vào khoảng không trước mặt nơi như chưa tan hết cái âm thanh trơn tru và lạnh lùng của viên sĩ quan nọ. Hoặc có thể anh đang nhìn thẳng vào tâm trí mình. Mình nói dối ư? Không. Anh chưa hề nói dối. Dù cuộc đời có lạnh lùng đến mấy thì anh vẫn tự cho rằng, từ xưa đến nay mình chưa thèm nói dối. Sau này thời chưa biết. Gặp những câu hỏi nguy hiểm khác thì có khi phải nói dối thật. Nhưng với những cái mục đề nho nhỏ trong tờ khai này, có chi mà phải dối trá? Thà rằng ở miền Bắc, với thành phần có nợ máu như mình, có khi vào một hoàn cảnh nào đó phải nghĩ cách giấu giếm. Chứ ở đây, thành phần của mình là đồng đảng đồng chí với chế độ này, lo âu gì nữa mà phải dối. Vô lý. Hay họ thử mình? Đừng hòng lừa nổi ta.

Sau một chặp tự lý sự. Lạng lại cắm cổ viết một mạch. Lời khai hôm nay không có gì khác trước.

Chiều hôm đó viên sĩ quan già trở lại. Lần này Lạng không phải chờ đợi lâu. Sau khi đảo mắt nhìn lướt qua trong giấy, viên sĩ quan, vẫn cái giọng trơn tru ấy nói mà không thèm bận tâm đến sự phản ứng của Lạng:

- Tiếc quá, anh bạn vẫn không nói thật.

Lạng hét to lên:

- Chính các anh mới nói dối...

- Tùy anh, chúng tôi sẽ chờ.

Lạng cáu kỉnh ngắt lời:

- Không chờ đợi chi cả. Nếu cần các ông cứ bắn đi.

- Bạn cứ bình tĩnh, cố mà bình tĩnh. Chúng tôi sẽ chờ.

Lại một tờ giấy nữa đặt xuống bàn và cái dáng gầy đét kia ung dung đi ra như chưa hề có điều gì phật ý. Lạng chồm người lên như một con cọp đói:

- Này... Tôi không viết nữa đâu... Tôi chẳng có chi mà viết cả.

Nhưng cánh cửa đã đóng sầm lại. Người sĩ quan đi ra xa và húng hắng ho.

"Đù mẹ chúng mày!". Lạng chửi rít qua hai kẽ răng. Anh không thể nào chịu nổi cái vẻ dửng dưng kia. Ừ mà tại sao chúng nó lại không nổi cáu lên với mình hè. Thà rằng chúng nó hầm hoét, chửi bới hay đánh đập thì mình còn thấy có lý. Hay chúng nó chỉ giả vờ? Mà đúng rồi lẽ nào một thằng từ thế giới bên kia rơi tõm xuống đây mà lại được tin ngay. Phải thử thách, thậm chí thử thách hàng chục hàng trăm lần nữa là khác. Y như họat động tình báo! Lạng bỗng thấy thích thú! Từ hôm nay mình trở thành một nhân vật cực kỳ quan trọng. Bao nhiêu cơ quan tình báo phải chụm đầu vào nghiên cứu về mình, thú vị thật. Ừ, mà chúng nó cũng không phải hoàn toàn nghi ngờ. Nếu nghi ngờ thì chắc chắn mình đã bị tra khảo rồi. Cái dáng điệu nhã nhặn ung dung của lão kia có nghĩa là đã tin mình. Tin nhiều nữa là khác. Như vậy điều cốt lõi lúc này là phải nhớ cho kỹ những lời đã khai, trăm lần như một, đừng có khác nửa câu.

Lần thứ ba.. lần thứ tư... lần thứ năm. Những tờ khai như được sao nguyên văn thành nhiều bản. Cả hai bên đều kiên nhẫn chờ đợi nhau.

Điều chờ đợi của Lạng đã đến. Sau tờ khai thứ năm, viên sĩ quan già đã không còn giữ được cái vẻ trơn tru mặt lì như trước nữa. Một cái bạt tai bất ngờ nổ tóa vào mặt Lạng. Anh chưa kịp định thần thì tiếp một cú đấm móc hàm giòn như cành cây khô gãy. Lạng bổ chửng ra giữa nhà. Một cảm giác buồn nôn ói lên trong cuống họng. Máu trào ra mặn rít cả hai hàm răng.

Cánh cửa đóng sầm. Sau vài phút, một tên lính cầm tiểu liên mở cửa bước vào:

- Đứng dậy!

Lạng nghe rõ tiếng quát nhưng không thể nào cựa mình được. Sự đau đớn và cả sự căm uất nữa đè bẹp anh xuống sàn nhà.

- Đứng dậy! Có nghe không đấy?

Người lính vừa hỏi vừa cúi sát xuống, lấy tay đỡ khuôn mặt đang vật nghiêng của Lạng lên:

- Đừng vờ nữa, tao cho một quả vào ngực mà tắt thở luôn bây giờ - Lời lẽ thì dữ tợn, nhưng giọng người lính lại không có vẻ hung hăng lắm. Lạng rên rỉ, cầu cứu:

- Anh đỡ dùm... đau quá!...

- Hừ, đã làm tình báo còn sợ đau...

Lạng nín lặng. Hóa ra chúng nó đã nghi mình là tình báo thật. Nhưng lấy chi làm bằng chứng? Ối, đau quá. Lần đầu tiên trong đời anh phải chịu đòn đau, mặc dù trong tưởng tượng anh đã từng nghĩ tới bao nhiêu hình thức tra tấn ghê gớm khác nữa. Liệu mình có chịu đựng nổi không?

Người lính đã giúp Lạng đứng dậy. Anh ta nhìn Lạng một lúc rồi khẽ lắc lắc đầu:

- To gan thiệt... Tôi thì có cắt cổ cũng xin vái, không dám chơi cái trò ấy...

Lạng định nói một câu nhưng hai hàm răng đã dính bết với nhau không thể nào mở ra nổi. Vả lại anh cũng không biết nên nói cái gì. Chẳng có cách gì thanh minh được điều oan trái. Lạng cúi mặt cố chịu đau, ngồi bệt xuống góc giường.

- Ô hay, định ngồi lì đó hả? Đi!

Lạng cố mở to mắt nhìn người lính. Đi đâu? Anh muốn hỏi mà không nói được. Tuy vậy người lính vẫn hiểu.

- Tôi được lệnh giải ông lên Bộ tư lệnh đặc khu. Đừng để mất thì giờ, đi!

Một cảm giác ghê rợn bất chợt chạy lan khắp người Lạng. Anh nhắm nghiền mắt lại. Người lính xốc xốc khẩu tiểu liên trong tay. Cái nòng súng hơi chếch lên một chút ngang tầm thắt lưng của Lạng. Anh rùng mình và lập cập bước đi. Từ đâu đó, sâu thẳm trong tâm khảm anh vọng lên một lời hoảng hốt: "Mình đi vào cõi chết"...

Cảnh tượng chiều cuối đông trên những trẳng cát dài trông thật là não ruột. Bầu trời và mặt cát như muốn hòa lẫn vào nhau. Những hàng dương xơ xác rên rỉ trong gió lạnh, thỉnh thoảng lại rùng mình bất chợt như kẻ động kinh. Mây đông đặc từng cục bay vật vờ với nhau rồi rã ra thành từng màng mưa mỏng la đà buông xiên từ ngoài biển vào, choàng lên những xóm vắng của các làng chài cát cái màu bạc mệnh. Sóng dầm dề vật vã như con bệnh lâu ngày không được chạy chữa thuốc thang.

Mưa lâu ngày, đường trên cát không còn là đường nữa. Hai người cứ men theo những đụn cát hình yên ngựa mà đi. Đã cách khá xa khu căn cứ quân sự đồi 24, họ uể oải đi về phía quận Trung Lương. Trông dáng bộ bên ngoài hai người lúc này không còn cái kiểu cách áp giải tù binh nữa, mà là hai kẻ lạc đường đói khát thất thểu tìm nơi trú chân.

- Này...

Người lính đột ngột gọi giật giọng. Chân Lạng như muốn dính bết vào nhau. Người chồm vội lên phía trước. Trống ngực đập loạn xạ. "Này" nghĩa là thế nào? Bắt đầu rồi ư? Hai tai Lạng ong ong hàng trăm tiếng "này" dập vào dội ra.

- Này... Không nghe à? Đứng lại.

Ngực Lạng nhói thắt một cơn đau đột ngột. Hai chân dừng hẳn lại và run khập khậy như đang đứng trên cầu treo mỏng manh. Có thể... bắt đầu thiệt rồi... Lạng vụt nghĩ nhanh và vụt quay lại. Nếu cần thì vồ đếp bóp cổ hắn... Nếu cần thì khóc to lên... Nếu cần thì van lạy... Hàng chục phương kế đặt ra cùng một lúc. Nhưng Lạng vẫn không nhấc nổi người. Ý nghĩ về cái chết như vết mực loang dần trong trí não nhuộm sệt toàn bộ phản xạ nhanh nhảu của anh. Tất cả sẽ bắt đầu bằng một tiếng nổ... Anh nghĩ rõ ràng như vậy nhưng vẫn không dám gọi tên cái bắt đầu ấy ra.

- Nghỉ tí đã ông nội. Đi hăng như là được về nhà ấy...

Người lính xốc lại khẩu súng rồi ngồi xuống cách chỗ Lạng đứng khoảng năm bước chân. Lạng nhẩm tính, nếu lao đến thì phải nhảy hai bước, có lẽ nòng súng kịp tóe lửa. Cần đến gần tí nữa, làm sao chỉ vồ cái là được. Ý nghĩ làm đầu Lạng nóng bừng lên. Hai tay bỗng luống cuống. Hình như người lính đã đọc được ý nghĩ ấy.

- Này, coi chừng nghe. Ngồi xuống. Liều là bắn bỏ đó cha nội ạ!

"Ông nội" rồi hạ xuống "cha nội". Lạng bất lực ngồi bệt xuống cát, mặt cố tình quay ra phía biển.

- Anh hai mấy tuổi rồi mà dám liều thân làm tình báo dữ vậy?

Người lính hỏi trong sự tò mò rất trẻ con. Lạng chợt nghĩ có lẽ lát nữa nó còn gọi mình là em út hoặc con cháu cũng nên. Sự bực bõ bẩm sinh nổi dậy, Lạng xẵng giọng:

- Các ông cứ như con nít sợ ma, lúc nào cũng nơm nớp tình báo với tình chí. Tôi tình nguyện vào với chế độ này... Gia đình tôi có nợ máu với ngoài đó...

Người lính đột ngột cười vang:

- Ha ha.. nói nghe ngon lành quá! Thôi đi chú mày! Cứ cái giọng leo lẻo ấy thì toi mạng đến nơi đó. Chính chú em mới trẻ con. Những bộ óc tình báo trong này dù có thơ ngây đến mấy cũng chẳng bị lừa vì cái giọng bo bỏ ấy đâu.

- Vì sao?... Vì sao nào?

- Im mẹ cái mồm mày đi. Nhóc con mà dám nói dối như cuội ấy. Những mạng lưới điều tra khổng lồ của Cục an ninh Quân lực đã trả lời rành rọt rồi con ạ. Mày không phải là con cái lão đếch gì mà bị Việt Minh phéng cổ đâu. Dòng máu mày là dòng máu khác, dòng máu Việt cộng nòi. Bố bảo cho thế để đừng có ảo tưởng với mấy lời khai cũ, đến khi ân hận thì quá muộn đấy con ạ.

Như một quả tạ giáng xuống đầu Lạng. Anh chết lặng người. Lẽ nào cuộc đời lại trớ trêu đến thế? Trong một giây quá khứ cuồn cuộn trào lên... Những tiếng đồn đại của dân làng hóa ra có thật ư? Hay là chỉ vì những lời đồn đại ấy mà bọn gián điệp gà mờ đã khẳng định như vậy? Mình không phải con bố Ất, nghĩa là mình không phải họ Hoàng? Mình là con ông Học thiệt ư? Con một phó chủ nhiệm hợp tác xã? Lẽ nào họ của mình là Ngô Sĩ.

- Tao nói cho mà biết thế là cốt để cứu mày. - Người lính bỗng đổi cách xưng hô - Nói thiệt là tao cũng chúa ghét ba thằng cha an ninh. Toàn như cú mèo cả. Mày cứ liệu đấy, chẳng ai tin mày đâu. Lên trên đặc khu thì liệu đấy mà khai. Ương bướng chỉ thiệt mạng thôi.

Lạng hầu như mất hẳn ý chí và lòng kiêu hãnh. Sau khi về đến đặc khu anh đã kể hết tất cả hoàn cảnh của mình, kể cả những lời đồn đại mà chính mình cũng nửa tin nửa ngờ trong suốt bao năm thơ ấu. Rằng anh đúng đã sinh ra trong nhà họ Hoàng, tuy vậy cũng có lời xì xào anh là con ông Ngô Sĩ Học. Nhưng vì gia đình anh là gia đình "nết na" nên đã cấm ngặt những chuyện đó. Cái "nết na" ấy đã đẩy anh trở thành kẻ sống lửng lơ, không họ hàng...

Lạng bị giam lỏng đúng hai mươi hôm. Sau đó nghe đâu đã có những xác nhận mới của Phòng hai Bộ tư lệnh đặc khu quyết định cho Lạng nhập ngũ. Anh được điều về làm lính ở đơn vị công binh cầu đường. Rõ ràng Lạng vẫn không được trọng dụng.

Mặc dầu đã được mặc áo lính hẳn hoi, và trong công việc Lạng lại là người hì hục, tận tụy nhất, song lúc nào anh cũng mặc cảm rằng mình là một tên tù cải tạo. Xung quanh, hình như ai cũng nhìn anh bằng con mắt tò mò, dè dặt. Người ta đang nói với nhau chuyện gì đó vui lắm, nhưng khi Lạng kéo lê chiếc xẻng đến gần thì họ im bặt tiếng cười rồi lảng ra nói những câu thật nhạt nhẽo. Không một ai bắt chuyện với Lạng, trừ mệnh lệnh và những câu chửi tục. Mấy ngày đầu Lạng không thể nào chịu nổi những câu chửi tục. Đã có lần uất quá anh định vung xẻng lên xán bừa vào giữa mặt cái thằng vừa chửi. Nhưng rồi anh cố nén chịu. Vài ba lần nén chịu. Cứ thế, nhịn mãi thành quen. Đầu Lạng cúi thấp hơn, mặc dù trong ngực anh vẫn chưa thôi những cơn tấm tức như sóng cuộn.

Gần một tháng trôi qua, Lạng sống trong âm thầm chịu đựng. Dần dần anh cũng tìm ra được một cách sống thích hợp: bất cần và phó mặc. Suốt ngày Lạng hì hục đập đá, xe đất như một kẻ làm thuê. Hết giờ anh lặng lẽ ngồi một mình, thẫn thờ nhìn ra phương Bắc. Mặc kệ ai xầm xì, chỉ trỏ, mặc kệ cả những đôi mắt xoi mói nhìn trộm, Lạng cứ ngồi thế cho đến khi có lệnh tập hợp.

Lúc này đại đôi công binh đang thi công đoạn đường "Bắc tiến" từ Nam Đông hướng thẳng ra Khe Dưới. Những ngày giáp tết, mưa liên miên. Đất đỏ nhão nhoẹt dính đặc sệt đầu xẻng. Máy húc đi trước xới tung rễ cây, vét cạn những cồn đất cao. Bánh xích băm nhừ lớp đất mặt. Những người lính mang giày cao cổ lội sì soạp trên bùn. Xe tải GMC chở kìn kịt những thùng đất sỏi từ dưới các đồi hoang gần Cam Lộ lên đổ ùn thành đống trên mặt đường. Tiếp đó là công việc của Lạng. Đất sỏi được xúc rải đều mặt đường tạo nên một lớp cứng như đúc bê tông. Con đường đỏ quạch cứ thế mà lăn dần vào khu phi quân sự, chọc thẳng ra miền Bắc như một lưỡi dao bầu bầm máu của tên đao phủ.

Đêm. Cả đại đội đóng quân theo thế dã chiến hai bên trục đường dưới những mái nhà dù lóng lánh. Nhạc nhảy từ phía nhà chỉ huy đại đội vàng lên run rẩy. Những cô gái trong đoàn quân tiếp vụ, mặt dày bộp phấn, đang uốn mông theo nhạc. Mưa vẫn gõ triền miên vào rừng. Lính ở lán ngủ thiếp đi sau một ngày còng lưng xúc đất sỏi.

Những đêm như thế Lạng thường ngồi ôm gối nhìn lên nhà chỉ huy đại đội. Lúc đầu anh không thích thú nhạc nhảy cong cớn đó. Ở miền Bắc bao năm, chưa một lần nào anh nghe thứ nhạc ấy. Nhưng cái gì rồi cũng quen. Hơn nữa bẩm sinh anh đã có "máu" văn nghệ. Tiếng nhạc nhảy như một chất nghiện cứ ngấm dần vào anh. Càng nghe càng thèm thuồng. Lạng rất muốn mò lên nhà chỉ huy để được tận mắt xem các cô tiếp vụ nhảy. Nhưng anh không dám.

Lạng đang ngồi ngẩn người như kẻ si tình bị thôi miên khi chợt nghe phái sau có bước chân ai đi gần lại. Lạng bối rối như kẻ bị bắt quả tang. Anh định nhổm dậy chui nhanh vào lán. Nhưng bước chân phái sau đã dừng sát sau lưng lạng.

- Nghĩ chi hung rứa, chú?

Lạng nhận ngay ra tiếng anh Mẫn bếp trưởng. Từ ngày về đại đội công binh này Lạng sống một cách lạc lõng như đứa trẻ mồ côi thẫn thờ trong một khu gia đình tấp nập. Chỉ duy nhất có một người thường hay đưa mắt nhìn trôm Lạng. Thoạt đầu Lạng rất khó chịu với đôi mắt ấy. Nhưng rồi dần dần anh nhận ra Mẫn không phải là kẻ độc ác. Suất cơm nào Lạng chìa tay ra bê đều được Mẫn đắp vội thêm một miếng cháy to bằng bàn tay. Rồi đến lúc chính Lạng lại hay đưa mắt nhìn trộm người bếp trưởng: Đấy là một thanh niên có lẽ phải lớn hơn lạng gần chục tuổi. Khuôn mặt xương xẩu, tóc quăn, cặp môi rạn nứt như ăn trầu. Hai cánh tay gầy và dài. Cả con người của Mẫn thoạt trông như một cành cây sầu đông trụi lá. Tuy vậy đã gần một tháng rồi mà hai người chưa có lần nào bắt chuyện với nhau.

- Răng trông buồn thiu rứa, nhớ nhà hí?

Mẫn hỏi rồi ngồi xuống bên Lạng. Tiếng nhạc nhảy vẫn bồng bềnh, chao đảo trước mặt. Gió lạnh thổi tạt từng cơn khiến tiếng nhạc có lúc mất đi đột ngột như chìm xuống đáy vực rồi bất ngờ rồ lên từng cơn như tiếng kêu cứu thất thanh. Tự nhiên Lạng bỗng thấy run sợ Hình như có tai họa gì đó sắp sửa áp lên người Lạng. Bất giác anh rùng mình. Bàn tay Mẫn đã đặt nhẹ lên vai anh.

- Này... ở ngoài nớ thế nào hè?

Tiếng Mẫn cũng thầm thì run run y như tai họa đã quay đầu chĩa về phía Mẫn... Chuyện gì thế nhỉ? Lạng thầm hỏi trong ý nghĩ thấp thỏm không yên.

- Ngoài nớ.. nó như thế nào?

- Là thế nào?

- Là... nói chung mọi thứ?

- Thì vẫn thế...

- Là thế nào?

- Cũng chẳng thế nào cả...

Không ai có thể nhận ra nội dung của những lời đối thoại vụng trộm và vô nghĩa ấy. Nhưng cả Mẫn lẫn Lạng đều tự hiểu. Cả hai đang đi chênh vênh trên một giới tuyến mỏng manh và éo le như sợi chỉ giăng qua bờ vực.

- Ngoài nớ... có hay thiết quân luật không?

- Nỏ. 2

- Có cố vấn không?

- Nỏ!

- Thế thì làm thế nào?

- Làm hợp tác chứ thế nào?

- Hợp tác là cái gì?

Lạng hơi khó hiểu vì sao Mẫn lại hỏi tỉ mỉ những chuyện ấy. Anh đáp dè dặt.

- Ơ hay hè, rứa tổ đổi công là cái chi?

Lạng sắp sửa cáu kỉnh:

- Cái anh ni hay hè. Thì làm đổi công chứ chi nữa. Nói thí dụ, nhà anh giúp nhà tôi cấy, nhà tôi lạ trả công gặt cho anh.

- Ơ hay hè, rứa nhà nào cũng có ruộng à?

- Ừ, nhưng hiện chừ thì bỏ chung vào hợp tác rồi.

- Rứa là mất ruộng?

- Xì, có vậy mà anh không hiểu à? Bỏ chung vào rồi cùng làm cùng hưởng. Người mạnh giúp người yếu, nhà nhiều công giúp nhà ít công...

- Ơ hay hè...

Những tiếng "ơ hay hè" cứ khe khẽ phát ra giòn như hạt mưa rơi trên máng xối. Hai người cứ đà ấy mà ngồi sát lại với nhau lúc nào không để ý.

- Rứa ngoài nớ có dân vệ không? Có bảo an không?

- Dân vệ là chi?

- Là... kiểu như lính nhưng ở nhà đó, ăn cơm nhà mà có súng...

- À, thế thì cũng có. Ngoài nớ gọi là dân quân.

- Ơ hay hè. Này rứa ngoài nớ...

Cứ vậy, một người say sưa hỏi và một người hào hứng giải thích. Chuyện hấp dẫn và hứng thú hơn bất kỳ một kho sách li kì nào. Tiếng nhạc nhảy đã chết lim đi từ lúc nào. Rừng khúm núm trong gió lạnh và mưa mịt mùng. Đâu đó có những tiếng ngáy khò khò của lính phát ra, nặng nhọc và khổ ải.

° ° °

"Mình đã nói những gì về miền Bắc?". Câu hỏi cứ chập hờn mãi trong đầu Lạng. Đêm đã quá khuya lính trong nhà dù ngủ li bì. Riêng Lạng không sao chợp mắt được. Sau buổi nói chuyện như xả hơi bởi quá lâu rồi phải im lặng, Lãng bỗng giật mình run sợ. Biết đâu Mẫn là người theo dõi mình? Ừ, dại quá, mình cứ kể tuồn tuột hết mọi chuyện. Nghĩ đi nghĩ lại Lạng thấy có chút yên tâm vì thực ra cũng chẳng có điều gì bí mật. Như vậy mình vẫn chưa phải là thằng phản bội. Lạng thấy xốn xang như có cặp mắt ai đó từ trong khoảng đêm sâu thẳm nhìn xói vào mình.

Mình không phản bội!... Mà cũng không hề dối trá. Như vầy còn có duyên cớ gì mà sợ hãi. Nghĩ vậy nhưng Lạng vẫn thấy chờn chợn. Có lẽ vì mình đã kể về miền Bắc một cách quá sôi nổi nhiệt tình. Ừ, mà cũng lạ. Mình có gì với ngoài đó mà say sưa đến vậy? Những ngày sống trên đất Bắc, mình luôn luôn tủi hổ và ấm ức kia mà? Rứa mà chừ vẫn nhớ. Nhớ quá đi thôi. Lạng nhắm nghiền mắt lại, cố gắng ngủ. Cả một Vĩnh Linh cuồn cuộn hiện ra trong trí nhớ của anh...

Đột ngột cả khu rừng choàng dậy cuống cuồng. Một cái gì đó không rõ rệt xảy ra giữa lúc lính công binh còn ngủ mê mệt. Chớp sáng xanh lè, khói thuốc đạn khét lẹt, tiếng nổ dập dồn từ nhiều phía. Chưa ai trong đám lính công binh này có chút khái niệm gì về một trận đánh. Nhưng bằng trực giác của những con người luôn luôn bị cái chết đe dọa đang ập đến. Đám lính tỏa ra mọi phía, la hét nháo nào. Đất dưới chân tưởng chừng sụt lở hết. Rừng cây như bốc cháy. Ai cũng hi vọng được thoát nhưng ai cũng có cảm giác không thể nào chạy thoát được.

Thực ra đây chỉ là một trận tập kích nhỏ của tổ công an bờ Bắc bí mật phá rối âm mưu làm đoạn đường "Bắc tiến" của Mỹ - ngụy. Trận tập kích chỉ xảy ra chừng mười phút. Vài chục quả lựu đạn với mấy băng AK. Thế thôi, nhưng với đại đội công binh thì biến cố này như là một trận động đất.

Lạng co giò đạp băng qua quãng rừng cằn phía nam, cắm cổ chạy không hề ngoái lại. Những dây leo chằng ngang dưới đất mấy lần quật Lạng ngã nhào. Hình như ở trán cháy máu. Mặc kệ, Lạng cứ cắn chặt hai hàm răng cho khỏi run, cố để tay lên bụng cho đỡ đau thắt mà chạy. Cái sợ đối với Lạng có một ý nghĩa đặc biệt khủng khiếp. Đấy là nỗi sợ bị trả thù. Lạng linh cảm thấy giây phút phán xử đã đến. Anh chạy thục mạng trong một nỗi tuyệt vọng như thể trời sắp sập. Thoát ra khỏi đám cây rừng là đến đồi tranh. Cỏ tranh lúp xúp trống trải khiến Lạng càng hốt hoảng hơn. Đôi chân phóng rào rào. Có lẽ chẳng ai chạy kịp anh hoặc chạy theo hướng anh. Nhưng Lạng không hề biết điều đó vì anh không ngoái đầu lại một lần nào. Tiếng súng tập kích đã im tự lúc nào anh cũng không hề biết. Lạng chạy như rút ruột.

Bất ngờ Lạng lao sầm vào một người nào đó từ phía bên lao ngang qua. Cả hai gần như cùng một lúc hét lên một tiếng nghe khủng khiếp như tiếng kêu trước lúc tắt thở. Rồi cả hai, không hề có một giây nghĩ ngợi, ôm chằng lấy nhau, quật lộn nhau xuống đất, lăn sầm sập trên cỏ tranh, cào cấu, cắn xé, bóp cổ. Tiếng thở hồng hộc chèn vào nhau. Tiếng rên hư hử. Tiếng đấm thụi huỳnh huỵch. Lạng lật được người lên trên, đè đầu gối vào bụng kẻ nằm dưới, rồi cứ đà ấy anh nhún toàn thân. Một tiếng "ợ" trào lên nghe lẫn với tiếng rên khe khẽ:

- Mạ ơi... con chết - Việt cộng...

Đột ngột Lạng chùng tay lại. Toàn thân anh run lên. Cái chút trí tuệ người ít ỏi trong anh lúc này chợt thức tỉnh. Lạng nhận ra tiếng rên của người quen. Anh gọi cuống quít:

- Anh Mẫn!... Anh Mẫn phải không?

- Chao... thằng Lạng... hứ? Mi... giết... tao...

- Anh ơi...

- Mi...

Rồi im lặng. Nỗi hãi hùng cùng với sự tuyệt vọng giây lát đông đặc lại trong trí não Lạng cái màu tối của đêm cuối đông này. Lạng cứng đờ cả tay chân ngồi câm lặng nghe tiếng thở mỗi lúc một yếu dần của người bạn. Anh chẳng còn biết chỗ này là chỗ nào chỉ ang áng rằng đã cách khá xa khu đóng quân của đại đội. Chẳng ai biết được tội lỗi của anh. Nhưng riêng anh, làm sao mà trốn nổi. Đây là lần đầu tiên trong cuộc đời anh đã tự tay giết một mạng người. Cả cơ thể anh, trí não anh rệu rã ra đến mức không thể nào cử động được. Anh cứ ngồi vậy, mặt cúi gục xuống. Máu từ trán, từ má chảy rỉ xuống khóe miệng tanh nặc và mặn chát. Lần đầu tiên anh biết tởm lợm mùi máu.

- Mạ tau... ở Đông Hà... gọi là bà Tĩnh... buôn đồ gỗ... gần chợ. Tau con một... tau thương... Mạ ơi!...

Tiếng "ơi" cuối cùng nấc lên như một tiếng khóc. Cả tấm thân gầy guộc của Mẫn bỗng giãy lên đành đạch. Lạng hốt hoảng chồm người tới đè lên ngực Mẫn. Sau cái giãy giụa như muốn vùng chạy, Mẫn nằm co quắp, cứng đờ. Lạng run rẩy kéo thẳng chân tay bạn ra. Một cảm giác ghê rợn bất ngờ chạy lan người Lạng. Hai hàm răng va vào nhau cầm cập. Anh lùi dần, lùi dần rồi đột ngột vùng chạy.

4.

Chợ Đông Hà những ngày giáp tết đông một cách lạ thường. Thôi thì ngàn vạn thứ hàng hóa thi nhau đổ vào đây, la liệt đủ màu sắc, đủ mùi vị. Người chen người, hàng chen hàng, tiếng rao mời, lời thách giá, những câu nói cay, nói mát khích bác chửi rủa trộn lẫn nhau tạo nên cái mớ âm thanh khổng lồ huyên náo. Tiếng máy thuyền dưới sông, tiếng xe lam trên bến, tiếng đài bán dẫn, băng cát - set mở to hết cỡ như chửi nhau, thách đố nhau, nháo nhác inh ỏi. Người vừa giật được món hời cười nói bô bô, kẻ bị móc túi khóc lóc mếu máo. Anh mù quờ quạng ôm chiếc đàn hát đến khàn giọng. Cô gái làm điếm cười gần như khô cả hai hàm răng để chào khách. Trẻ con thi nhau đốt pháo khói mù trời.

Giữa đám người nghìn nghịt, hỗn độn nhưng cũng tinh sỏi chợ búa ấy, sáng nay có một thanh niên khoác bộ quần áo lính nhòe nhoẹt bùn đất, có lẫn cả vết máu, ngơ ngác nhòm ngó hầu khắp các quán hàng. Thỉnh thoảng anh cũng dừng lại đưa tay lật lật mấy nải chuối chín vàng óng và cặp mắt mở tròn đầy vẻ kinh ngạc khi nhận ra rằng loại chuối này không có cách gì ăn được vì chuối bằng nhựa. Anh không dừng lại chỗ nào quá lâu bởi trong người không có một đồng xu dính túi. Cái hứng thú tò mò lúc đầu mất dần, bước chân anh mỗi lúc một trễ nải, hờ hững. Anh đi qua mấy hàng đồ điện, lơ đãng tiến về hàng vải, rồi từ hàng vải lại rẽ quặt qua chỗ bán thùng, chậu nhôm...

Chợt anh dừng lại.

Nhiều người đang xúm xít quanh một ông già đeo đôi kính đen. Lại hát xin chăng? Lạng thử nhòm vào và lắng tai nghe. Ông già, thực ra cũng chưa già lắm, áng chừng trên dưới năm mươi tuổi, nhưng vẻ mặt hơi quái dị, đôi lông mày to gần bằng ngón tay, hai ria mép quặp xuống như hai dấu ngoặc đơn khoanh chiếc mồm lại. Ông ta không hát mà đang nói gì đó lảm nhảm. Những người xung quanh há mồm ra nghe. Lạng đứng ngẩn người một hồi lâu mới nhận ra ông ta làm nghề thầy bói. Lần đầu tiên anh trông thấy một thầy bói. Lạng rạo rực, thích thú như nhìn thấy con thú lạ. Quên mất việc phải giữ gìn tung tích của mình, anh chen bừa vào. Nhiều người quay lại nhìn anh. Khi họ nhận ra bộ quàn áo lính bê bết đất và máu, người ta vội vàng lảng dần. Lạng xán lại ngồi chặn ngay trước mặt ông già.

- Ông ơi... Cháu là... cháu là lính... Cháu chẳng có đồng nào cả...

Mặt Lạng đỏ bừng lên vì ngượng. Anh đưa tay sờ soạng khắp các túi y như để quên tiền nơi nào đó. Rồi đột ngột anh cởi nhanh cúc áo.

- Cháu có chiếc áo mới nhận... cũng có thể được vài trăm... Ông coi giúp cháu...

Người thầy bói quờ tay lên đỡ nhanh chiếc áo trên tay Lạng rồi đang ngang sát mặt như để xem. Ông ta thấy gì mà xem? Lạng nghĩ nhanh và chợt thấy buồn cười. Nhưng thầy đã hạ chiếc áo xuống nhìn Lạng chằm chằm. Một lát, thầy bất ngờ hạ giọng:

- Anh vừa có điều kinh khủng...

Lạng giật thót cả người. Giọng anh run run:

- Thưa thầy... có chi mà... kinh khủng?...

- Có chuyện giết người.

Lạng cứng đờ quai hàm. Thế mới là thầy chứ. Anh kinh hãi nhìn đôi kính đen của ông già, có cảm giác như từ phía sau đôi kính kia, cặp mắt ông đang rọi thẳng vào tâm can mình, xoi mói suốt cả cuộc đời mình.

Lạng cúi gằm mặt xuống như chịu tội. Còn thầy lại đưa nhanh chiếc áo lên sát mặt một lần nữa. Hai cánh mũi thầy phập phồng mở ra khép lại để xác định lần nữa cái mùi tanh tưởi từ cảm giác ẩm ướt trên áo phả ra. Đoạn thầy thở ra một hơi rõ dài.

- Chuyện mới xảy ra thôi... Mới lắm...

Lạng vẫn cúi đầu nói lí nhí như con chiên xưng tội:

- Dạ... mới thôi.

- Đó đó. Anh sinh năm nào?

- Dạ, năm bốn tám.

- Mậu Tý. Cao số lắm. Canh cô mậu quả. Đời anh cô đơn cho đến khi chết.

- Dạ.

- Tuy rứa mạng anh rồi cũng tấn! Tấn vi quan, thối vi sư, nếu không cầm gậy chỉ huy thì cũng làm thầy thiên hạ chứ chẳng chịu lép đâu. Sinh tháng mấy?

- Dạ... con không biết kỹ. Hình như tháng năm âm lịch...

- Lỗi mùa sinh rồi, đời sẽ lắm tai ương đó.

- Dạ.

- Năm ni mười tám tuổi âm. Nhất thập cử tại tại dần. Rồi đến mãi thìn tị ngọ mùi thân dậu tuất. Mệnh con năm nay ứng vào con chó. Khuyển bị tá, nghĩa là con chó bị lửa bỏng. Mà lửa tức là hỏa, đấy là mùa sinh của con. Năm nay chính là trung hạn. Con phải cẩn thận lắm mới được.

- Dạ.

- Mười tám tuổi âm. La hầu, Thổ tú, Thủy diệu, Thái bạch, Thái dương, Vân hán, Kế đô, Thái âm, Mộc đức. Ái chà, nếu con năm nay ứng với sao Mộc đức, Thái âm, Mộc đức thập nhị nguyệt lộc ân lai, tháng chạp năm tới sẽ gặp lộc lớn.

- Dạ.

- Con có còn muốn hỏi chi nữa không?

Thầy hỏi rồi nhìn như găm vào Lạng. Lạng ngẩn cả người, mồm lúng búng như ngậm hạt thị. Còn biết hỏi gì nữa. Quá khứ, tương lai, dịp may hạn rủi thầy nói cả rồi. Cái gì xem ra cũng đúng. Lạng thở dài mệt mỏi:

- Dạ... con tạ ơn thầy...

° ° °

Ngọn đèn dầu vặn nhỏ bấc bắt đầu sáng vàng đục lên mặt bàn thờ nghi ngút khói hương. Xung quanh ngọn đèn xếp la liệt những hình người dán bằng giấy, có đủ mũ miện, cân đai, gươm giáo. Thấp hơn một chút là những nải chuối nhựa vàng rộm, hai ngọn nến cháy rần rật, lại một bát hương nữa tỏa khói.

Bà Tĩnh gục mặt xuống bàn, mắt nhòe nước, miệng lầm rầm những lời khấn vái. Lạng ngồi khuất vào một góc, đầu cúi thấp như một kẻ sắp bị đưa đi hành hình. Tiếng khóc nấc nghẹn chen lẫn lời khấn vái của người mẹ như nạo vét vào đáy lòng anh. Tội ác đang tê buốt trong từng thớ thịt.

Lần đầu tiên anh phạm tội ác. Điều ấy đã ghê rợn lắm rồi. Nhưng tội ác càng khủng khiếp hơn khi tự anh thấy rõ ràng lần đầu tiên anh đã nói dối một người mẹ. Phải, anh đã không thể đủ dũng cảm kể ra sự thật. Nói cho công bằng thì anh chỉ mới kể được một phần sự thực. Đấy là cuộc sống của đại đội công binh, là những ngày anh với Mẫn thân nhau, là cái đêm tâm sự đầy thú vị. Tiếp đến là cuộc tập kích của Việt cộng. Đến đó anh bắt đầu phóng đại, tô vẽ lên thành một trận ác chiến khủng khiếp như những trận đánh ghê rợn mà anh từng đọc trong sách cổ. Tất cả chuyện đó dẫn đến cái chết của Mẫn. Thế là cuối cùng, mọi đau đớn của người mẹ, lòng phẫn uất cả bà được trút lên đầu Bắc Việt. Bà cầu chín phương trời, mười phương phật ra oai tru di kẻ nào giết hại con bà. Lạng biết lời oán đó chĩa vào công an miền Bắc. Mặc dù vậy anh vẫn có cảm giác lời nguyền rủa kia đang trút xuống đầu mình.

Đêm đã khuya. Cái huyên náo bẩm sinh của thị xã ngã ba đường này đã chìm vào trong giấc ngủ mệt mỏi, phờ phạc. Chỉ còn tiếng máy của xe GMC thỉnh thoảng rú lên như động kinh ngoài đường Chín. Vài ba phát nổ lạc lõng của cảnh sát, có thể bắn dọa bọn trấn lột hoặc ra oai với những Việt cộng nằm vùng.

Trong nhà bà Tĩnh, ngọn nến đã cháy gần quá nửa. Giọng bà khàn đặc lại vì phải kể lể quá dài dòng. Những ngày ấu thơ của đứa con trai, cảnh ngộ neo đơn vì chồng chết sớm, những cơn lăn lộn chợ búa, những đêm thiết quân luât nặng nề, khi buôn thua bán lỗ... Với cái chết oan ức của con bà, bà thấy cần thiết phải công bố lại toàn bộ quãng đời mình cho người khách quý ở bên cạnh được biết.

Đến khi quá mệt mỏi vì chuyện mình, bà quay sang tra vấn chính vị khách. Lạng không thể nói dối được nữa trước con xúc động khôn nguôi của người mẹ. Hơn nữa, từ lúc sắp sửa bước chân vào nhà này đến giờ, anh đã tính toán đến nát óc. Trước mắt, anh cần một chỗ để ẩn nấp, vài giấy tờ hợp pháp. Nếu không dựa vào bà Tĩnh thì khó lòng thoát khỏi bọn cảnh sát và quân cảnh. Vì thế Lạng đã nói thật. Anh kể một cách gọn gàng, khúc chiết cảnh ngộ của mình. Bà Tĩnh lắng nghe. Cơn xúc động bỗng dưng tắt ngấm. Bà nghe một cách chăm chú nhưng không hề mở miệng nói một câu nào. Lạng thầm nghĩ chắc là bà sợ. Anh chợt thấy ân hận vì sự quá thực thà của mình. Nhưng đã lỡ mất rồi, không thể nói khác được. Lạng nín lặng chờ đợi.

Rất lâu, có lẽ phải gần một giờ sau đó, ngọn nến trên bàn cháy gần tàn, bà Tĩnh mới hỏi một câu thầm thì như tự hỏi chính mình:

- Răng lại bỏ ngoài nớ mà vô đây hè?

Câu hỏi thầm thì nhưng lại có sức mạnh như một quả tạ đè bẹp Lạng xuống. Giọng anh nghẹn hẳn lại:

- Con... dại...

- Ừ, quá dại con ạ.

Một tiếng thở dài bi thảm. Bà mẹ đứng lên thắp tiếp ngọn nến khác, cắm thêm mấy que hương... đoạn bà lại lầm rầm khấn vái. Một cảm giác rệu rã tan loãng trong tâm khảm Lạng. Anh không đủ sức đứng dậy, không còn biết làm một việc gì giúp bà. Anh ngồi bất động và chờ đợi một cái gì đó rất vô nghĩa. Một lát, bà Tĩnh mới quay lại:

- Thôi được, đã lỡ chân rồi thì cứ tạm ở đây. Mạ sẽ chạy cho một tấm căn cước. Cứ lấy họ ba thằng Mẫn. Lạy phật, con phải ý tứ lắm mới được.

Lạng ngước lên nhìn bà Tĩnh, lòng chan chứa biết ơn. Rồi đột ngột anh nghĩ, giá như lúc này anh nói ra điều khủng khiếp kia, giá như bà biết chính anh là kẻ đã đè ruột con bà cho đến phọt máu thì sẽ thế nào? Lạng bỗng thấy xâm mắt. Chao ôi, biết khi nào trả hết món nợ này?

Ngày hôm sau bà Tĩnh ra đi từ sớm. Bà đi đâu Lạng không được biết. Bổn phận của anh là chui tọt vào buồng ngồi nín lặng như một kẻ cắp. Đến chiều bà Tĩnh về. Nhìn nét mặt của bà, anh biết chưa có chuyện gì đáng mừng rỡ cả. Hai người lặng lẽ sống với nhau trong bóng tối. Sáng hôm sau, bà Tĩnh lại đi. Phải mất ba ngày lê thê như vậy. Đến tối ngày thứ tư, bà chạy về dí vào tay Lạng một tấm giấy cứng, giọng bà run lên vì mừng mà cũng vì sợ:

- Được rồi, mất hơn năm chục ngàn mới kiếm được. Từ nay con kêu mạ bằng thím. Tên con là Nguyễn Viết Lãm, con út của bác thằng Mẫn ở trong Cần Thơ ra...

- Dạ...

Bà lại thở dài:

- Lạy Phật, con phải kiếm lấy việc chi đó mà làm. Đừng có đi long bong ở đất này mà thiệt thân đó.

- Dạ...

- Thôi, ngủ đi. Mọi việc ngày mai rồi tính.

Lạng ngoan ngoãn chui vào buồng nằm. Nhưng anh không tài nào chợp mắt được. Từ nay anh là con một nhà họ Nguyễn. Tên anh là Lãm. Cố mà nhớ. Lạy trời, đừng ai nhắc đến họ cũ của anh.

--- ------ ------ ------ -------
1     Cắt cử, bổ nhiệm.
2     Không


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 03.02.2014, 21:38
Hình đại diện của thành viên
Cựu Editor Diễn Đàn
Cựu Editor Diễn Đàn
 
Ngày tham gia: 14.11.2012, 20:15
Bài viết: 1594
Được thanks: 4681 lần
Điểm: 10.72
Có bài mới Re: Người không mang họ - Xuân Đức - Điểm: 10
Chương 2

1.

Bây giờ xin kể qua một chút về cái thị trấn ngã ba đường này. Gọi là thị trấn ngã ba bởi vì nó sinh ra cùng thời với cái ngã ba huyết quản nơi cung đầu của đường 9 với quốc lộ 1. Từ thuở còn người Pháp đóng chiếm, con đường 9 rải đất sỏi, thì Đông Hà cũng chỉ phôi thai dăm bảy quán nhà lợp tranh nằm khép nép bên mép sông Cửa Việt. Thế rồi cái huyết quản đường 9 ngày một to ra, của cải hai chiều cứ trôi ngày một nhiều thì Bản Đông bên Lào cũng phình to lên mà Đông Hà bên Việt cũng lớn dậy. Người Mỹ qua, đường 9 trở thành một trục đường chiến lược thượng hạng, là động mạch chủ nuôi sống toàn bộ phòng tuyến Mác Na - ma - ra. Vậy là, nhoáng một cái, y như có phép thần thông biến hóa, thị trấn đầu cầu miền Nam này bỗng như một cô gái nhà quê ra tỉnh, cười nói huyên thuyên, trang sức lòe loẹt đủ các một lai căng tân tiến nhất.

Trước hết đây là cái bướu khổng lồ để chứa chấp hai nguồn hàng lậu lớn. Một nguồn hàng buôn từ đất Thái Lan qua Lào về đất Việt Nam, một nguồn chủ yếu do quân tiếp vụ chuyển từ phía trong ra hoặc ngoài biển vào qua cảng Đông Hà. Cho nên, cái nghề nghiệp chủ yếu và bao trùm lên hầu hết đời sống người dân ở đây là buôn bán hàng lậu và những hiệu lành nghề làm giả những mặt hàng ngoại quốc. Rồi nữa, Đông Hà là nơi xả hơi của hai cánh lính. Một cánh từ Khe Sanh, Lao Bảo về. Bao nhiêu cơ cực của rừng núi biên ải, bao nhiêu gian lao vất vưởng của những ngày dã ngoại đóng chốt được trút bỏ nơi đây để tận hưởng thú vui đô thị. Lại một cánh khác từ Sài Gòn, Huế được điều ra thế chân vùng chiến thuật I, trước phút bước vào tử địa, bao giờ cũng có tâm trạng coi như đời đến đây là chấm dứt. Hãy sống vài giây cuối cùng với bao lạc thú thế gian. Cho nên một nghề nữa cũng không kém phần rầm rộ trên thị trấn này là làm điếm và cướp bóc. Đội quân này tùy lúc mà tăng giảm nhưng nói chung chiếm đại bộ phận thanh thiếu niên thị trấn và trên danh nghĩa, trở thành đối tượng tác chiến của cảnh sát Đông Hà.

Với tất cả bối cảnh ấy, thị trấn Đông Hà lại được đặt giữa một trong những luồng gió Lào khốc liệt nhất. Gió Lào ở đây có mặt từ tháng ba, hoành hành thả cửa cho tới tháng bảy, tháng tám. Vào dịp đó thị trấn như một bãi chiến trường hạng nặng, cát bụi mù mịt, những mái tôn quăn môi lợn, những tường nhà che chắn bằng ván gỗ hở toang hoác, nước máy trong các ống dẫn nóng hâm hấp như nước bún giò.

Tóm lại, bản lai lịch của thị trấn Đông Hà không hề có tuổi thơ, chỉ có những ngày sơ khai kham khổ rồi đánh đùng một cái là tuổi làm duyên làm dáng, là một thời ăn chơi trác táng và lao ầm ầm trong cõi cát bụi đua chen.

Nói chung là vậy. Nhưng nói riêng, nhìn vào một căn nhà hay một con người cụ thể ở đây lại thấy đầy đủ những bản lịch trình oái oăm, li kì, những số phận nổi trôi. Như căn nhà sát mép hồ nước trên trục đường 1, với một mái tôn chồm ra như chực ngoạm hết người đi đường, hai chiếc máy nén hơi đặt cân đối ngay trước cửa y như hai khẩu đại bác thần công của nhà Nguyễn đặt trước cổng Ngọ Môn. Một chiếc lốp ô tô đặt phía dưới làm bệ, nhưng chủ nhà vẫn sợ khách không hiểu nên mới kê lên trên đó một tấm ván ép vẽ hình một chiếc lốp khác, vẫn chưa đủ lại phải chua thêm dòng chữ: "Phù Ái - vá xăm, lốp, rửa xe, sửa chữa ô tô lành nghề". Ông Phù Ái vốn là con nhà đánh cá biển, quê ở tận ngoài Nghi Lộc, Nghệ An. Từ ngày trở thành ông chủ lớn (mặc dù chỉ là chủ một trạm rửa xe), ông thường cho công bố tung tích của mình một cách đầy kiêu hãnh như một trang hảo hớn từng vang bóng một thời. Chuyện là vào một năm, thuở Việt Minh còn đánh Tây, trong một cơn động biển bất thần làm chết hàng trăm dân đánh cá, có một người thanh niên Nghi Lộc dun dủi đã thoát chết, cùng với chiếc thuyền của mình lênh đênh bốn ngày giữa biển và cuối cùng giạt vào một bãi hoang rậm rịt đầy cây bông gai và dứa bãi. Người thanh niên không còn đủ tỉnh táo để phân định phương hướng, không thể hiểu nổi chỗ này là đâu. Anh ta bò bằng cả hai cùi tay và hai đầu gối, kéo lê người trên bãi. Bò mãi, bò mãi mà chẳng gặp được người nào để hỏi. Cái đói và cái mệt đã nhận ngập anh trong rừng cây dại. Anh thiếp lịm đi bao lâu không còn biết nữa.

Bỗng anh ta chợt tỉnh. Có một hương vị gì đó làm cho anh tỉnh dậy. Thoạt đầu là một cảm giác bâng khuâng, rồi tiếp đến là nôn nao gan ruột. Ừ, nôn nao quá, nôn nao đến choáng váng. Anh cố sức hồi tâm lại. Anh bỗng nhận ra. Đúng là mùi hương khói.

Với kinh nghiệm của người sinh ra, lớn lên trên vùng biển, anh biết ngay ở đâu đây có miếu thờ Thần. Cố nhổm tấm thân dậy, nhận hướng gió, anh lại trườn người đi. Hy vọng làm sức anh tăng thêm gấp bội. Chui người qua hai bờ dứa bãi anh nhìn thấy một cành si xòa ngang. Chắc chắn đó rồi. Anh lồm cồm run rẩy bò đến.

Không phải ngôi miếu mà là một tảng đá to chồm lên như một con trâu mộng. Phía trước nó là một phiến đá khác chắn ngang nhẵn thín như có ai bào. Bên cạnh chiếc bàn bằng đá là gốc si già bị gãy ngang chỉ còn một cành bằng cột nhà chồm lên phía trước. Người thanh niên đói khát ấy không bận tâm gì đến cây si linh thiêng ấy mà chỉ chằm hằm vào con gà luộc đặt trên bàn đá. Phía trong có nắm hương cháy nghi ngút. Mồm anh lập cập, rên rỉ: "Lạy ngài! Con là kẻ thất lạc, đói quá, xin ngài một cái cánh". Nói rồi không đợi ngài trả lời, anh quờ tay ra túm lấy cánh gà xé toạc. Nhoáng một tý, cả thịt cả xương của chiếc cánh trôi tuột vào trong cổ họng anh. Rồi không kịp khấn tiếp, anh xé luôn cánh nữa. Rồi đến một chiếc đùi, hai chiếc đùi, rồi cái ngực gà, hai mảng sườn, rồi cái sống lưng con gà luộc tiếp nhau lao nhanh ừng ực vào bụng anh. Cơn đói dần dần nguôi. Tốc độ nhai của đôi hàm có chậm lại tý chút, và nhờ thế đôi mắt cũng lờ đờ để ý xung quanh. Bất ngờ anh nhìn thấy một đống giấy bạc đặt trong cùng mặt đá sát với gốc cây si bị gãy. Chắc chắn là của người đặt lễ. Cây si gãy chắc đã lâu đời nên mặt gỗ cũng nhẵn gần như mặt đá. Ở giữa ruột cây có một lỗ bộng đút chân vào lọt trơn thín như hang ếch. Mải để mắt đến mọi thứ mà anh ăn gần hết con gà lúc nào không nhớ. Chỉ còn chiếc cổ và cái đầu gà trơ trọi như chiếc búa đóng đinh. Anh mân mê nâng lên đặt xuống một tý rồi lại lẩm bẩm: "Lạy ngài, đã thương thì thương cho trót, ít nhiều cũng chịu tiếng ăn mày cửa ngài, cho con làm nốt cái thủ". Nói rồi anh yên tâm đưa chiếc đầu gà lên mồm.

Bỗng anh khựng tay lại. Linh tính báo ngay cho anh biết tai họa. Hình như ngài hiện lên. Loáng một cái anh quay phắt lại. Ở chính giữa gốc si gãy đột ngột thò lên một cái gì to bằng nắm tay đủ màu hồng tía, tiếng thở phì phì. Anh chưa kịp định thần thì cái vật ấy vụt cao lên suýt nữa chạm vào nách anh. Không kịp nghĩ ngợi, không kịp lạy ngài, nói tóm lại không kịp một giây để định thần, anh chụp tay lên cổ con vật đó, di xuống mặt bàn đá. Mắt anh nhắm nghiền lại, tay miết cổ "ngài", mài lấy mài để. Cả thân hình anh cứng đờ như một khúc gỗ. Cánh tay co duỗi một cách điên dại. Cho đến lúc cơn đau ở đó nhói lên buốt khắp da thịt thì anh mới dần dần hồi tỉnh. Cái đầu "ngài" đã vạt đi quá nửa và tay anh cũng toạc một miếng khá to vì bào lên mặt đá. Máu "ngài" trộn lẫn máu anh chảy ròng ròng. Anh buông tay ra, đứng dậy, run cầm cập. Mặc dầu lúc này anh đã có thể hiểu ra "ngài" là một con rắn bấy lâu sống trong ruột cây si, cũng có thể đoán được rằng từ lâu "ngài" quá quen với món lễ của dân chài xứ biển, chỉ có hôm nay mới bị phỗng tay trên. Anh cũng loáng thoáng nhận định được sở dĩ "ngài" không phản công được kẻ thù vì cả tấm thân béo nhẫy của "ngài" bị ngập trong bọng cây... Anh còn đủ chút trí óc để hiểu ra ngần ấy lý lẽ, tuy thế vẫn không sao kìm nổi cơn khiếp đảm. Người anh cứ run lên như đang cơn sốt, mắt dại đi, tay chân không sao cử động được nữa. Mặc dầu vậy, trước lúc co giò chạy anh vẫn quờ mấy ngón tay tê cóng lên mặt đá nhét hết đống giấy bạc vào cạp quần.

° ° °

Câu chuyện ấy đến hôm nay đối với ông chủ Phủ Ái là một trang "anh hùng ca" bất hủ. Nhưng hồi đó lại là cơn ác mộng khủng khiếp. Không một đêm nào anh ta không nằm mơ thấy "ngài" hiện lên. Lúc thì "ngài" thè lưỡi phùng mang thổi phì phì vào mặt. Lúc thì "ngài" quấn lấy cổ anh mà siết đến tắt thở. Phù Ái sống như một kẻ mất trí, đêm ngủ bần thần la hét, ngày thì đi vất vưởng lang thang. Nỗi khiếp sợ đẩy anh ngày một xa rời biển. Phù Ái trở thành kẻ sống bên lề chợ. Từ lúc nào không rõ anh thành kẻ gánh thuê chuyên nghiệp cho những bà buôn mây, buôn củi từ Cam Lộ về Đông Hà, Ai Tử.

Phù Ái làm thuê một cách tận tụy và cố quên chuyện cũ. Nhưng hình như "ngài" vẫn chưa buông tha. "Ngài" nhập vào con gái con bà bán mây. Đó là một người con gái có cặp môi cong như lưỡi liềm, hai mi mắt lúc nào cũng sưng húp như khóc. Một cô gái mà công bằng ra thì chẳng có lấy một nét gì hấp dẫn ngoài bộ ngực chồm ra quá mức và cặp mông như cái thúng úp vào. Đã thế giọng cô lại ồm ồm như ếch kêu mà lúc nào cũng cau có quát nạt. Đàn bà mà như thế thử hỏi ai mê được. Thế mà Phù Ái lại mê, mê đến đờ đẫn cả người, mê trong sự nhẫn nhục chịu đựng. Rõ ràng "ngài" đã cột được số phận của anh! Anh trở thành kẻ nô lệ riêng cho con gái bà bán mây, và mười ba năm tận tụy đã làm cho cô ta sinh được chẵn mười đứa con.

Bây giờ thì vợ Phù Ái đã chết. Nhưng toàn bộ thần khí của bà trút lại cho đứa con gái đầu, cô Kim Chi.

So với mẹ, Kim Chi vượt xa về mọi mặt. Sắc mặt và hình hài nói chung đã được tu chỉnh lại một cách khá hấp dẫn. Cặp môi không quá cong như môi mẹ và đôi mắt cũng không sưng húp. Tuy rằng vẫn cái khuôn mặt bầu tròn hình bánh đúc, nhưng trên mặt bánh đó tạo hóa đã điểm được cái sống mũi thẳng và cặp má nhô lên vừa phải khiến kẻ ngoài nhìn vào cũng cảm thấy rung động. Hơn hẳn mẹ, Kim Chi sinh ra trong thời Mỹ. Sức sống của cô tràn trề kiểu Mỹ. Cái hấp dẫn nhất có lẽ là chỗ đó.

Cũng như nhiều gia đình khác, ông chủ Phù Ái phô ra phía ngoài cái biển sửa chữa ô tô, mặc dầu công việc đó không một ai trong nhà này trực tiếp nhúng tay vào làm cả. Mỗi một thành viên trong nhà này đều có một nghề nghiệp riêng, thậm chí họ không biết hết công việc của nhau, càng không thể nào biết đích xác thu nhập thực tế của mỗi người. Hàng tháng bốn đứa con lớn góp vào cho bố mỗi đứa năm ngàn để "gây dựng cơ ngơi chung". Ông bố thanh toán sòng phẳng với các con như kiểu chủ nhà băng với các cổ phần.

° ° °

Nguyễn Viết Lãm - từ nay xin hãy quên giùm anh ta cái tên cũ Hoàng Lạng - làm thuê cho ông chủ Phù Ái. Công việc không đến nỗi quá sức anh, nhưng rất bận bịu. Bất kỳ lúc nào cũng có chiếc xe đò, hay xe tải nhà binh, hay xe Zeep các sĩ quan đỗ xịch trước cửa nhà, thì lập tức đám người làm phải khoa chân múa tay tỏ vẻ sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của khách. Lãm là người được gọi tên nhiều nhất. "Kà lê mày!", "Mỏ lết đâu?", "Dầu đâu, Lãm!". Thợ cả giục thợ giúp việc, thợ giúp việc quát tháo đám phụ việc. Những tiếng chửi tục, lời hò hét cứ nhặng xị lên. Ai cũng tỏ ra cần mẫn trước chủ, ai cũng cố chứng minh rằng mình hoàn toàn thành thạo công việc được thuê. Dầu mỡ lấm lem mặt mũi nhưng không rửa, thậm chí đôi lúc Lãm còn tự quẹt nhọ lên mặt mình. Bởi nếu không thế làm sao chứng tỏ rằng suốt ngày mình lăn lê với công việc.

Cái cảm giác trước tiên ập vào đầu Lãm là lúc nào cũng quay cuồng, cuống quýt trong một tốc độ rất lớn. Gọi chạy, nhào "dô", vặn, siết, lao xuống, trèo lên... Cứ vậy, tốc độ chỉ tăng mà không hề giảm. Sau mỗi ngày làm việc Lãm thấy phạc phờ cả người. Cái mệt nhọc không phải vì công việc nặng nề mà chính vì thần kinh quá căng trong cái tiết tấu lúc nào cũng như chữa cháy ấy.

Anh trông chờ đêm xuống. Khi mà cả thị xã ngủ như chết lặng sau một ngày thở hồng hộc vì tốc độ, thì Lãm lặng lẽ ra bờ ao phía sau nhà. Chưa tắm vội, anh khoan thai ngồi xuống, thả mình lên tấm ghi trơn ai đó lót để tắm giặt, anh nhắm mắt lại để tận hưởng làn hơi nước từ mặt ao đang dìu dịu phả lên. Có khi anh ngủ quên luôn ở đó. Muỗi bám dày hai cẳng chân, bám khắp mang tai, gò má. Mặc kệ, muỗi không làm cho người ta căng thẳng như công việc ban ngày. Cứ thế, nhiều lần thành lệ quen. Cứ đêm đến, hễ mặt đường vắng lặng tiếng xe là Lãm lại len lén chui ra "yên nghỉ" ở cái thiên đường riêng của mình.

Nhưng rồi Lãm cũng không còn độc quyền được chốn thiên đường ấy và chẳng thể nghỉ ngơi được yên ổn. Cô con gái vốn mang trong mình giòng máu "bà chủ của đàn ông" của mẹ, lại cộng thêm cái sắc sảo kiểu sống Mỹ, đã sớm phát giác ra người đàn ông trẻ mới học việc trong nhà này có cái sức nặng lầm lì của tính khí. Khác với những người con trai khác lúc nào cũng tròn hai con mắt nhìn như ngây dại vào khuôn ngực đồ sộ của cô mỗi khi Kim Chi cố tính chạy từ sau buồng tắm vào nhà để lấy một chiếc áo lót, hay khăn bông, hay một bánh xà phòng "bỏ quên", Lãm thường nhíu quặp đôi lông mày lại và quay đi, mồm lủm bủm một câu gì đó không ai nghe rõ. Thực tình thì Lãm không sao hiểu được tại sao lần tắm nào cô ta cũng cứ bỏ quên ở trong nhà một thứ gì đó để rồi giả vờ ngượng ngập lật đật chạy vào lấy? Một hai lần, dăm bảy lần bực tức cáu kỉnh như vậy rồi cũng quen đi. Lãm không hề để mắt đến chuyện ấy nữa. Suốt ngày anh chúi đầu vào gầm xe, đêm đến lén ra khỏi nhà. Đôi lúc có việc phải chạm đầu với Kim Chi, anh không chào hỏi, không cười cợt, cứ dửng dưng như khách qua đường. Chỉ cần tỏ chút thái độ thế thôi, chứ anh cũng đủ trí khôn để ý thức được rằng, đừng dại dột mà làm phật lòng nhà chủ. Không nên hở miệng châm chọc một điều gì. Lãm đã sống gần nửa năm như vậy. Nhưng như một kẻ bơi trong ao bèo, khi anh cố tính quay đi bơi về phía khác thì đằng sau anh đám bèo cứ bám riết như đỉa đói. Lãm đã dần dần cảm thấy chuyện đó. Cái "cảm thấy" ngày càng tăng cùng với sự lo sợ hốt hoảng như kẻ gian linh cảm thấy mình đã bị phát giác. Những đêm trốn ra bờ ao, ngồi một mình anh thường thấp thỏm nhớ lại ánh mắt sắc như dao chém của cô gái lớn con ông chủ và những cú nhoẻn cười bất chợt đầy đe dọa đối với riêng anh. Anh đã thấy một điều gì đó không yên lành đang chen vào cuộc sống vốn đã rất tạm bợ của mình.

Đêm nay, một đêm hạ tuần tháng sáu. Trăng lên muộn và méo xệch. Lãm đã ngồi khá lâu trên tấm ghi trơn, sau đó mới bắt đầu tắm. Tắm cũng khá lâu. Có chuyện gì mà vội. Trăng không sáng. Cả gió nồm nữa cũng quá hờ hững, vô tâm. Cái nóng vẫn cứ hầm hập phả ra từ cái tường gạch, từ những đống sắt ngổn ngang phía bến cảng bên kia quốc lộ, từ những mái tôn lợp quăn queo trên các mái nhà thấp như nấm. Hình như từ bất kỳ cái gì trên thị trấn này kể cả thể xác con người ta cũng đều hầm hập trút ra hơi nóng. Cả thị xã như một lò gạch khổng lồ chưa nguội lửa. Lãm ngâm mình dưới ao chán chê, rồi để nguyên quần ướt như vậy mà nằm xoài lên tấm ghi. Cái ướt át lan man bò vào trí não cùng với sự mệt mỏi khiến mắt Lãm ríu lại. Anh ngủ.

Nhưng bỗng Lãm tỉnh dậy. Có một ngọn gió Lào phả hơi nóng hừng hực vào mạng sườn anh. Anh tỉnh dậy và giây phút đầu tiên nhận ra rằng trăng đã lên cao và gió nồm cũng đã thổi mạnh. Thế mà sao bên mạng sườn anh vẫn phần phật hơi lửa? Loáng một cái liếc mắc, Lãm bỗng run cả người. Kim Chi! Cô ta ra đây tự bao giờ? Tại sao cô lại ngồi sát vào mình như vậy? Lãm bối rối tự đặt ra bao câu hỏi. Nhưng cả cơ thể anh vẫn không hề động đậy. Tuy vậy hình như cô gái sõi đời này đã biết. Kim Chi đứng dậy nhanh và bước hai bước xuống phiến đá dưới cầu ao. Có thể cô ta chao chân? Lãm thầm lạy trời cho mọi việc trôi qua nhanh chóng! Nhưng cũng loáng một cái, Kim Chi đã cởi phăng chiếc áo. Lãm nhắm nghiền mắt lại. Tim anh đập loạn xạ. Nỗi sợ hãi làm anh thấy tức thở. Lãm nhắm mắt lại khá lâu. Rồi anh khe khẽ mở mắt ra. Một cái gì đó choáng ngợp tràn trề trước mặt Lãm. Mà lại quay chếch về phía anh. Nước khoát tung lên nhiều hạt rơi lép tép xuống mặt Lãm. Anh vẫn không dám động đậy. Coi như đã ngủ, anh cố nhắm mắt lại lần nữa. Nhưng lần này ngắn hơn. Anh lại khẽ mở mắt ra mặc dầu nói có trời chứng giám là anh không hề muốn vậy. Trăng đã lên khá cao. Những tai nước khoát tung tóe rơi xuống như sao sa. Muôn vàn hạt sao sa quanh khối châu báu đang được tiết lộ và phô diễn.

° ° °

Lại một ngày mới. Vẫn những vòng quay tít mù như vậy. Vẫn hồng hộng tốc độ như vậy. Lại leo lên trần xe, chui xuống gầm, chạy vội, kờ - lê vặn, siết: gõ côm cốp vào máy phát điện, đạp bản đề, quay ma - ni - ven, tháo lốp... Vẫn thế và vẫn thế. Nhưng đối với Lãm đã có một cái gì đó không còn như thế. Nắng hình như gay gắt hơn, bức bối hơn, và khát. Chao ôi, sao mà lúc nào cũng cảm thấy khát đến cháy cổ. Anh uống nước ừng ực. Mồ hôi tràn trề da thịt, lại uống nữa. Nhưng vẫn khát. Mỗi lần Kim Chi đi qua chỗ anh, ném một ánh mắt, quẳng một nụ cười, thế là cơn khát lại ứ lên, nghẹn tắc ở cổ. Đồng thời với nỗi khát là sự sợ hãi. Hình như ông chủ nhìn anh với con mắt khác lạ? Những người thợ cũng nhìn anh thóc mách, nghi kỵ? Cả đám trẻ con trong nhà này cũng vậy? Tất cả chỉ mới là hình như trong sự mặc cảm vốn đã thành bản năng tự vệ của anh. Lãm vừa xấu hổ vừa căm uất. Đầu anh càng cúi gằm xuống. Tại sao lại để cho mọi người khinh mình? Không thể được. Cả cái xã hội này vốn đã khinh mình vì mình là thằng thanh niên ngoài Bắc vào. Mặc dù ở đây tung tích anh đã được bịt kín, nhưng lúc nào Lãm cũng có cảm giác rằng người ta đã phát giác ra anh bởi vì anh không thể nào hòa hợp được với xung quanh. Cái dáng đi khác họ, kiểu cười cũng không giống họ. Anh đã tập cáu kỉnh và chửi tục nhưng xem ra cũng không giống tụi thanh niên trong này. Anh cũng đã kiếm được một chiếc quần chật ống và loe rộng phía dưới, song vẫn cứ bứt rứt trong người vì vẫn thấy chưa ra dân gốc ở đây. Thật là điên tiết, Lãm thường nghiến răng hậm hực. Tất cả đang khinh mình thì mình cũng căm ghét tất cả. Đếch cần.

Nhưng riêng lần này thì nhục quá. Nhục đến mức không thể ngẩng đầu lên được.

- Cái ngày ấy... hà... bây chừ nói lại chẳng ai tin, nhưng con rắn thần kia rõ ràng bằng cái lốp Hon - đa chứ không ít...

Lão Phù Ái thỉnh thoảng lại hứng chí ca lại "bản trường ca" bất hủ của mình. Lãm đã nghe không biết đến mấy chục lần. Anh có thể nhận rõ ràng là bịa, thậm chí có chỗ đại bịa nữa. Ví dụ như đoạn nói rằng, sau này khi Phù Ái đã lấy vợ và một bầy con rồi, tự nhiên một hôm đến ngày rằm, chỉ vì lỡ một chuyến hàng mây nên chậm về thắp hương, cả bầy con của lão tự nhiên lăn đùng ra ôm lấy nhau quằn quại giữa nhà y như một bầy rắn. Lão cam đoan rằng lúc đó nhìn hình dáng và điệu bộ chúng nó hoàn toàn giống rắn. Chuyện như vậy thì nghe cho nó vui tai chứ tin làm sao được!

Nhưng mà hôm nay, sau cái điệp khúc "thân rắn" của lão già thì Kim Chi lại lừ lừ đi từ buồng trong ra. Cô mặc một chiếc áo sọc đen ngoằn ngoèo, dáng đi ỏn ẻn, uốn lượn. Bất chợt cô ngồi sà xuống sát Lãm, chồm cả ngực lên vai Lãm và vươn cái đầu ra phía bố ra vẻ như đang nghe chuyện một cách hấp dẫn. Lãm rùng mình đảo vội mắt về phía đám thợ xem thử có ai để ý đến mình không? May mà không. Hoặc người ta giả đò không để ý. Người Kim Chi vẫn vắt chéo qua vai Lãm. Bất giác Lãm nhận thấy Kim Chi có nét gì đó không bình thường, một nét gì đó thật khủng khiếp. Và đột ngột anh tin "thần rắn" vẫn đang ở trong nhà này.

2.

Chiếc xe đò chở khách từ Cùa về đến quá quận Cam Lộ thì trời đã tối hắn. Khách xuống rải rác dọc đường, một số đông xuống Cam Lộ. Lúc này trên xe chỉ còn độ bốn năm người. Ngọn đèn vàng bợt hắt sáng xuống mặt đường nhựa. Lái xe là một người già, tóc lởm chởm, râu lơ thơ vòng quanh mép. Phía sau thùng xe, cậu "ét" vịn tay vào cửa thùng, ép sát má vào thành sắt ra dáng mệt mỏi. Bỗng chiếc xe chạy chậm lại rồi dừng hẳn. Cậu phụ xe nhoài người ra nhìn. Một tốp thanh niên đang đưa tay vẫy. Không có hành lý. Cậu "ét" mở toang cửa sau thùng xe rồi buông xẵng giọng: "Lẹ lên!". Đám thanh niên chạy ào lên. Có vài cậu nhảy phía cửa trước. Cậu "ét" lại xẵng một tiếng nữa: "Lên sau này!". Nhưng chẳng ai nghe. Cậu "ét" đảo một vòng mắt, nhẩm đếm. Năm, sáu, tám người. Cậu chìa tay ra, lạnh lùng: "Mới lên cho tiền!".

Ục. Một quả đấm đột ngột giáng vào chính giữa mặt người phụ xe. Anh chưa kẹp phản ứng thì "ục, ục" liền mấy cú nữa. Anh xỉu xuống. Có tiếng la hét xa xôi, văng vẳng. Tiếng xe máy rú lên đâu đó xa vời rồi tắt hẳn. Lâu lắm, có lẽ phải gần một giờ sau anh mới tỉnh lại.

- Có đau lắm không con?

Người chủ xe cúi xuống. Tiếng ông như lẫn cả nước mắt. Lãm cố mở mắt ra, miệng tanh lợm mùi máu. Má ở đâu hè?

- Chi rứa chú?

Người chủ xe thở dài một tiếng. Lát sau ông lầu bầu trong cổ:

- Tụi trấn lột... Đ.mạ cái bọn vô hậu.

Lãm cố chồm người dậy nhưng ngực buốt nhói như có ai cầm lấy tim mà bóp. Anh lại thả đầu xuống, tiếng thở thều thào:

- Có bị mất nhiều không chú?

- Trụi lụi. Cả một ngày đổ mồ hôi sôi nước mắt bị nó lột sạch. Cha tổ nội đồ ăn cướp.

Rồi đột ngột ông gục mặt xuống khóc hu hu.

° ° °

Lãm đã xin nghỉ việc ở nhà Phù Ái với lý do tự bịa ra là mẹ bị ốm nặng. Sau một tháng lêu lổng, anh lại kiếm được việc làm mới: phụ xe cho ông Cống.

Công việc này kể ra cũng có chút thú vị hơn ở nhà Phù Ái, mặc dù về tốc độ còn khẩn trương gấp nhiều lần. Khoái nhất là cuộc đi xa. Chiếc xe đò rách bươm của nhà ông Cống thuộc loại xe không cam tâm chịu một cung đường nào nhất định. Khi thì chạy tuyến Cam Lộ, có lúc vượt thẳng lên đến chợ Cùa. Có lúc lại vào Diên Sanh, cũng đôi lần vút tận Huế. Mặc dù phải vật lộn với đám buôn chuyến trên thùng xe đến mướt mồ hôi nhưng Lãm vẫn có được cái khoái chí là rong ruổi khắp mọi nơi. Sau hơn nửa năm phụ việc sửa xe ở nhà Phù Ái, cộng với sự thông minh, vốn có của mình Lãm đã có chút tay nghề tạm gọi là lanh lẹ. Thế nên ông Cống tỏ ra khoái cậu "ét" mới. Ông gọi Lãm bằng con, Lãm kêu ông bằng chú. Khách đi xe đinh ninh họ là chú cháu ruột.

Ông Cống không phải là chủ một hãng xe lớn. Vốn liếng của ông chủ yếu nhờ ở bà vợ buôn dừa. Một thời trẻ trung, bà Cống từng qua tận Hồng Công hoặc Mã Lai áp tải dừa về đến Đà Nẵng, Huế. Nhưng chẳng được nhiều. Tiền vào chẳng bù nổi tiền ra. Bà nghén tám lần mà sa mất năm. Sức khỏe ngày một kiệt. Ông tậu được chiếc xe nhưng không ai đi "ét" vì ba con của ông đều là con gái. Bà Cống phải đi phụ xe, cốt là thu tiền chứ còn quay máy, buộc hàng lên nóc thì tự ông phải làm lấy. Rồi đến khi bà yếu không đi nổi nữa thì cô con gái lớn đi thay. Nay đến lượt con gái lấy chồng. Cái số nhà ông đưa đẩy thế nào lại tìm được một anh phụ xe nhanh nhẩu như Lãm. Thành thử hai người đều quý nhau thực sự như những con người trong vận hạn cần sự bấu víu che chở lẫn nhau.

Sau đêm bị bọn cướp chặn đường, ông Cống ngừng chạy xe. Ông làm đơn trình lên cảnh sát quận. Bốn ngày trôi qua chẳng có hy vọng gì.

Lãm đã khỏe trở lại. Ông Cống lên gặp cảnh sát lần nữa. Họ trả lời với ông rằng cảnh sát đang được lệnh truy tìm thủ phạm. Ông lại thấp thỏm chờ đợi.

Đêm đó Lãm bắc chiếc ghế dưới giàn đỗ ván ngồi hóng gió. Tháng tám mưa nhiều, thị xã dễ chịu hơn. Gió nồm thường lên sớm và sương giăng li ti trong màu sáng nhợt nhạt của đèn đường. Tự dưng Lãm thấy buồn. Có nỗi nhớ vô định hướng len lỏi trong tâm khảm anh, cũng như trong lịch trình cuộc đời, chẳng có cái gì ổn định. Có chăng là sự cô đơn trơ trọi. Những ngày ở miền Bắc anh đã tự tách mình ra vì tự cho rằng mình là dòng dõi gia đình có nợ máu với cách mạng. Những ngày ở miền Nam anh cũng không thể hòa nhập được vì lại tự thấy dầu sao mình cũng là một thằng ở thế giới khác lọt vào. Còn gia đình ư? Lại càng không có chỗ cho nỗi nhớ kết tổ... Thế nhưng anh vẫn nhớ một cái gì đó? Hình như đó là sự bình lặng của tuổi thơ. Dầu sao anh cũng đã có một tuổi thơ yên vui trên đất Bắc, mặc dù hồi ấy anh không thể ý thức được đấy là một hạnh phúc.

Trăng lên, Trăng nhàn nhạt trong sương. Cả ánh đèn điện nữa cũng không đủ sáng. Cái tiềm thức của Lãm giờ này như nhòe vào trong màn sáng mơ hồ kia. Hình như ngoài đó đang bị ném bom? Anh nghe những người khách đi xe kháo chuyện với nhau như vậy. Nghĩa là hai bên đã choảng nhau. Thật khó mà mường tượng hết những gì đã thay đổi. Nhưng Lãm thấy buồn. Khoảng yên ổn trong nỗi nhớ của anh cũng đã bị xáo trộn.

Có một người lù lừ bước vào cổng. Lãm nhìn thấy nhưng không để ý. Lòng anh đang tan loãng trong một cơn buồn man mác như sương rơi. Người đó bước lại gần Lãm. Một hương vị lạ phả tràn mặt anh.

- Anh Lãm làm cao dữ hí. Gặp nhau không được lấy tiếng chào!

Lãm như bừng tỉnh. Hai chân anh luống cuống đứng lên nhưng cả thân hình lại gắn bệt xuống ghế. Trời ơi, ma quỷ nào lại dẫn nó đến đây? Miệng Lãm líu lại nói không thành câu:

- Cô... Kim Chi... đến...

- Phải rồi - Kim Chi cười to một cách lộ liễu - ở đây dễ chịu hí?

- Dạ... mát lắm.

- Không, tôi nói ở với cái ông chủ mới này cơ, hẳn là hậu hĩ lắm nên anh mới bỏ việc nhà tôi.

Lãm cố nén cái giọng mất bình tĩnh của mình để tỏ ra cứng rắn:

- Đừng nói vậy mà tội cô Chi ạ. Mẹ tôi ốm nặng, tôi phải tạm nghỉ việc. Rồi chạy vạy được ít tiền thuốc thang cho mẹ, nay phải làm trả công cho người ta.

Kim chi bỗng cười khanh khách:

- Giỏi thiệt. Răng anh không nhập bọn với một gánh tuồng...

- Cô Kim Chi bảo tôi nói dối?

Kim Chi bất ngờ đập một tay lên vai Lãm. Anh cố né tránh nhưng không kịp. Bàn tay con gái đã áp chặt như một quả tạ đè bẹp anh xuống ghế. Một chân Kim Chi cũng đột ngột đạp lên mép chiếc ghế. Cử chỉ suồng sã quá khiến Lãm nhíu chằng mày lại.

- Thứ nhứt, anh không hề có một người mẹ nào ở vùng này cả. Ở đây anh chỉ có bà thím. Thứ hai anh không hề vay mượn tiền nong gì lão Cống này cả.

- Này, này...

- Im nào, Kim Chi đã đến tận nhà thím anh rồi. Nhưng thôi, chẳng nói chuyện đó nữa. Đừng có trợn mắt lên thế, Kim Chi không biết sợ đâu. Chỉ khuyên anh không nên nói dối...

Lãm thấy khó thở, anh xoay xoay người trên ghế:

- Việc chi mà... cô điều tra dữ vậy?

- Phải điều tra chứ. Tự nhiên vắng anh, tôi... tôi mất thăng bằng quá sá...

- Này, đừng có giỡn hoài.

- Ai giỡn? Chẳng lẽ anh không biết tôi yêu anh à?

Lãm há tròn miệng ra. Còn Kim Chi thì bỗng nhiên nổi cáu:

- Đồ phụ bạc. Tôi tưởng anh phải khác người ta kia. Không ngờ cũng là một tuồng cả...

Lãm cũng bắt đầu cáu:

- Cô bảo cái tuồng chi?

- Hừ, anh còn lạ lắm à? Tất tật đàn ông ở cái vùng này đều là đồ chó má cả.

- Hỗn.

- Phải, tôi hỗn thế đấy. Nếu không thì đã bị ăn thịt từ lâu rồi.

Lãm thấy ngán ngẩm thật sự. Anh không ngờ câu chuyện lại đẩy đến mức này.

- Thôi, cứ cho rằng cô có lý. Nhưng bây giờ... tôi là người làm của ông Cống. Tôi với cô chẳng cho chi dính líu nhau cả...

Kim Chi bất ngờ quay phắt lại:

- Bai hả? Cũng được. Nhưng có mở đầu thì phải có kết thúc chứ?

- Thế là thế nào?

Kim Chi hạ chân trên ghế xuống đất, khoanh tay lên ngực và hơi quay người đi:

- Đêm mai bằng chừ, hẹn gặp anh ở bãi sông gần Cảng.

- Không. Không đời mô tôi đến cả.

- Tôi đợi...

- Mặc cô. Đừng hòng tôi đến.

- Nhất định anh sẽ đến.

- Gớm chưa? Tôi ghê tởm cô, hiểu chưa?

- Hiểu. Đêm mai bằng giờ nghe! Bai!

° ° °

"Không bao giờ", "nhất định thế". Suốt đêm đó, suốt cả ngày hôm sau nữa, Lãm cứ vật vã đến nôn nao vì quyết tâm đó. Ông Cống quyết định chạy xe nhưng đổi vào tuyến Diên Sanh. Đường êm như rải nhung. Nhưng người Lãm cứ thỉnh thoảng lại nảy xốc lên cùng với tiếng kêu thảng thốt ở trong đầu: "Không đến!", "không thèm nghĩ tới".

Nhưng vẫn nghĩ. Lạ quá, Lãm cố xua đuổi bao nhiêu thì ý nghĩ quái gở ấy lại lồng lên. Trong anh vừa có sự ghê tởm, vừa cảm thấy hãi hùng, nhưng len vào đó - mà mỗi lúc lại mạnh mẽ thêm lên - cảm giác khao khát.

Mới hơn mười bảy tuổi đầu, anh chẳng có chút suy tư gì phức tạp về chuyện này, cũng không mường tượng nổi những gì sẽ xảy ra, xảy ra như thế nào? Chỉ láng máng trong đầu dăm trang sách tình yêu và mấy lần bắt buộc ngồi nghe đám thợ ở nhà Phù Ái tán chuyện tục tĩu. Từ trước tới nay anh vẫn coi những chuyện ấy là chuyện của người lớn hơn, của kẻ khác. Và cũng không phải không có lần anh lóe lên ý nghĩ, tại sao mình không thể có được những chuyện ấy? Ở lứa tuổi anh đối chọi với bản thể ngây thơ là những ham muốn già dặn. Ai cũng mong mình được thừa nhận là già dặn.

Lãm ăn cơm chiều vội vã. Vội vã trong cảm giác chạy trốn. Hớp vội ngụm nước, Lãm đi nhanh ra đường cái. Đường hãy còn đông người. Lãm cúi đầu cuốc bộ, cố tình lẩn tránh mọi người. Thực ra có ai để tâm đến anh đâu. Lãm lang thang vòng qua khu chợ, len lỏi vào tận những ngõ phố tối như bịt mắt. Ngột ngạt quá. Ở những lối phố này gió chiều nào cũng không vào được. Anh nhoi ra hướng cửa sông. Gặp gió. Gió táp phầm phập vào mặt anh. Nhưng sao vẫn khó chịu. Có cái gì đó không tháo gỡ được trong cõi vô thức của anh. Lại đi nữa, Lãm ra đến đầu cầu. Ở đây có dễ chịu hơn đôi chút. Anh cứ lần theo cảm giác dễ chịu ấy mà mon men đến đầu bến cảng. Cái dễ chịu đang gậm nhấm anh trong cảm giác đê mê. Đi nữa, thậm chí còn bước vội hơn, bước lập cập như chạy. Rồi thì lúc nào đó không rõ, người anh run lên như đang sốt. Mà đúng thật, anh đang sốt. Cả người hâm hấp nóng, mồ hôi vã ra. Anh chạy. Ngực dội tràn trề hơi thở. Vượt qua một mặt bằng rộng rãi, anh len vào phía có những đụn cao sắt thép. Gió thổi ào ào. Hơi sắt gỉ phả ra hừng hực. Cảm giác nóng, lạnh trộn lẫn nhau. Rồi đột ngột anh đứng sững lại. Kim Chi! Tại sao mình lại đến đây hè? Chao ôi là ngu, ngu hơn con bò. Lãm run rẩy và bất lực.

- Có vẻ vội rứa ông anh? Kim Chi nói nhỏ nhưng giọng cô cũng run run.

- Chẳng vội...

Lãm nói rồi, bất ngờ bước nhanh tới một bước. Ở đó, đúng vào phía trước bàn chân anh, Kim Chi đã đợi sẵn. Hai vòng tay đột ngột ôm choàng vào nhau, ghì chặt...

Lúc này, phía trên thị xã bất ngờ rú lên một hồi còi. Có tiếng xe rú máy. Hình như cảnh sát đang săn đuổi một toán cướp. Đêm nào chẳng thế. Nhưng vào hoàn cảnh này cả hai người dưới bến cảng đều bỗng thấy sợ hãi. Sự sợ hãi chen trong đam mê. Và sự đam mê nhận ngập họ ngồi bệt xuống đất, rồi lại xoài mình ra như những thỏi sắt đang hầm hập lên nhiệt. Đầu óc Lãm mụ lại tối tăm như mặt sắt gỉ. Bất ngờ Kim Chi ngồi vọt dậy, xốc lại tà áo:

- Hám dữ vậy, ông nội?...

- Em... em chiều anh...

- Con nít.

Lãm đỏ bừng mặt, véo vào chân cô gái:

- Đừng giả đò nữa. Này...

Sau tiếng "này" hoặc là đồng thời với tiếng ấy, chắc chắn Lãm đã có một động tác gì đó khá quyết liệt. Nhưng bất ngờ một tiếng "bép" vang lên giòn như tiếng cá đớp mồi. Lãm sững người. Phải mấy giây sau anh mới ý thức được rằng mình bị tát. Một cơn uất giận tràn lên chẹn họng anh. Nhưng anh chưa kịp làm gì thì Kim Chi đã đứng dậy. Cô đứng dậy ngay trước mặt Lãm phủi cát trên quần áo và ngẩng thẳng mặt bước đi. Lãm vẫn ngồi chết nghẹn bởi uất ức. Cho đến khi bóng Kim Chi nhòa vào trong những bóng đen sắt thép thì Lãm mới rít lên được một câu trả thù: "Đồ rắn độc!".

° ° °

Có một sự việc nghiêm trọng đã xảy ra trong lúc Lãm đang ngập chìm trong sự đam mê ngu ngốc ở bến cảng. Một toán cướp đã trấn lột nhà ông Cống. Cả hai vợ chồng ông Cống đều bị trói chặt vào buồng và hai tên cầm dao nhọn dí vào bụng hai cô gái. Nếu một trong bốn người lên tiếng thì máu sẽ chảy. Chúng lần lượt khuân đồ đạc ra khỏi nhà, không trừ lại một vật gì đáng giá vài trăm bạc. Chưa hả hê, toán cướp còn mở nắp đầu xe, tháo bộ máy phát điện và bình ác quy. Sau khi chuyển đi một cách êm thấm mọi của cải, một trong hai tên cầm dao nhọn từ trong buồng bước ra, dùng sơn quệt lên tường dòng chữ nguệch ngoạc: "Hãy dựa vào cảnh sát mà sống".

Lãm về đến nhà nhìn thấy cảnh tang thương ấy mà không cầm được nước mắt. Ông Cống ngồi rũ rượi ở góc nhà. Bà Cống khóc đã khản tiếng, thỉnh thoảng lại rú lên như con bệnh cuồng dại. Bà nhai đi nhai lại một lời oán trách chồng:

- Đã bảo đừng có thưa trình với cảnh sát nữa... Rứa mà cứ ... hu...hu...

Cũng có nhiều người đến thăm. Cũng thở ngắn than dài. Vài ba lời chửi đổng. Một ông thợ gò thùng ở cuối phố sau một lúc nghiền ngẫm như một nhà triết gia thì buông thành lời tán đồng ý kiến của bà Cống:

- Thím nói đúng. Giá như chuyện bữa trước nhà mình cứ cho qua đi, đừng chạy lên chạy xuống cảnh sát nữa thì chắc chúng nó không đến nỗi mò vào tận nhà mình đâu. Thực là dại.

3.

Như vậy là ý đồ trả đũa của toán cướp rất rõ. Không chỉ cuỗm hết tài sản trong nhà mà còn cố tình không cho ông Cống tiếp tục chạy xe nữa. Lãm bước ra khỏi nhà ông Cống trong một nỗi buồn tê tái. Có chen chút ân hận. Giá như đêm đó anh đừng ra cảng. Anh có thể làm được gì nếu có mặt anh ở nhà lúc sự việc xảy ra? Chẳng phải anh cũng đã chạm trán một lần và chuốc lấy sự đau đớn đến ê ẩm thân xác đó sao? Tuy vậy, thà thế còn hơn.

Lãm không nỡ lấy tiền công tháng ấy. Anh lang thang ra chợ. Chẳng còn một nơi nào bấu víu. Nhưng anh không thể đi xin. Nhục nhã quá. Lại càng không thể móc túi. Tàn ác bất lương quá. Dầu sao mình cũng là thằng thanh niên miền Bắc vào, chết gục vì đói thì chớ cũng không bắt chước đám bụi đời ở đây được.

Nhưng đói là một thực tế không cách chi lẩn tránh nổi. Cái đói làm đôi chân Lãm không lang thang được mãi. Lãm ngồi bệt xuống một góc chợ, lòng tan nát trong bao nỗi u uất và cô quạnh. Ừ, có lẽ mình là người cô quạnh nhất trên đời. Chưa bao giờ lại thấy cồn cào thèm khát một quê hương, một gia đình như những ngày hôm nay.

Trên đời này có mấy kẻ phiêu diêu, cô độc như anh? Họ sẽ sống bằng gì trong những ngày đầu tiên? Lãm cố nghĩ. Chuyện chàng Rô - bin - xơn thì không thể học được. Chuyện vợ chồng An Tiêm ra đảo cũng không thể noi theo. Bởi Rô - bin - xơn hay An Tiêm sống được trước hết nhờ có được một mảnh đất riêng. Có đất mới tính đến chuyện gieo lúa, trồng dưa chứ. Còn chuyện ông Phù Ái? Mười phần thì nói phét hết chín. Ờ, nhưng cái phần còn lại vẫn có thể tin được. Phải lắm. Một con người bơ vơ có thể bắt đầu từ bên lề chợ. Công việc là gánh thuê. Có lý lắm. Lãm chợt vùng dậy đảo mắt nhìn quanh. Chợ tan rồi. Hôm nay đành nhịn đói. Nhưng ngày mai... ngày mai ta sẽ là một Phù Ái.

° ° °

Chỗ nào có quang gánh nặng, có thùng hòm to, có những bì tải lấm láp bùn đất là chỗ đó có mặt Lãm. Lúc đầu còn e dè, Lãm thường kiên trì đứng cho đến khi nào có một lời nhờ cậy chính thức mới ghé vai vào. Nhưng những lời tử tế thì hiếm mà tiếng quát mắng đầy quyền thế lại nhiều. Thôi, cũng được. Miễn là người ta vẫn cần mình. Dầu sao họ vẫn cần thì mới nhắc đến mình, còn quát mắng là tính nết đương nhiên của những người có tiền bạc. Dần dần Lãm mất hết sĩ diện, coi thường tất cả. Không đợi lời mời, cũng không chờ quát mắng, anh cứ xông bừa vào. Cứ làm, cứ đòi tiền. Có xua đuổi cũng bâu vào. Rồi mỗi kẻ một đường, ai biết mình là ai. Lãm tự an ủi vậy.

Một buổi tối - những biến cố trong cuộc đời Lãm hay bắt đầu bằng những buổi tối - khi ác gian hàng xén đã phủ kín vải nhựa, những chủ hàng nằm đủ kiểu vất vưởng gối đầu, kê chân lên hàng, vừa nhai cái gì đó trong mồm vừa lim dim ngủ thì Lãm cũng lúi húi tìm cho mình một góc nhà khô ráo nhất trong cái đình chợ nhão nhoẹt nước ấy để ngả lưng. Bất ngờ có tiếng gọi:

- Này anh...

Rõ ràng có tiếng gọi. Lãm nghe sát bên tai nhưng vẫn tảng lờ. Bởi đã chắc gì người ta gọi mình. Lúc này không còn là lúc mà bất kỳ tiếng gọi nào cũng làm anh hớt hải chạy đến.

- Anh chi đó ơi... giúp cho tay nè...

Bất đắc dĩ Lãm quay lại. Một cô gái đang nhìn anh, ánh mắt vừa có vẻ cầu van lại vừa đầy lưỡng lự, thăm dò.

- Mệt rồi.

- Gắng chút xíu. Em cũng mệt phờ ra đây.

Cô giá vừa nói vừa quệt tay áo lên mặt. Có lẽ cô cũng không ít tuổi hơn Lãm. Nhưng dáng bộ hình hài Lãm trong những ngày này ai cũng phải đoán anh trên dưới hăm lăm, hăm sáu. Lãm biết vậy và anh thường cố tình cau mày lại cho có vẻ già hơn.

- Răng chừ mới dọn hàng?

- Không. Em không phải dọn ở chợ mà cất hàng từ Huế ra. Xe chót mà.

- Hàng chi?

- Sắt.

Lãm chần chừ một tý rồi cất bước. Cô gái chạy trước, vừa chạy vừa kể lể nỗi vất vả của việc chạy hàng. Lãm đi nước sải, đầu cúi thấp, không nói không rằng. Nhưng anh vẫn để tai nghe. Nghe mà chẳng hiểu gì cả. Anh chỉ nhận thấy một điều, cô gái nói chuyện rất dễ ưa.

Hai bì tải sắt vụ được chất vào hai chiếc gióng sắt. Đòn gánh là một đoạn tre già. Lãm ướm thử lên vai, nặng đến mức muốn đùn các đốt cột sống lại. Tuy vậy, anh vẫn bước đi. Cô gái vẫn ở phía trước nhưng bước có chậm hơn. Họ đi men phía dưới chợ, tắt ngang qua hai ngõ phố tối om rồi rẽ lên theo hướng đường 9. Đau vai quá. Cái gộc tre như cưa, như xé vào vai Lãm. Rất nhiều lần bước hụt chân vì một ổ gà trên ngõ tối, cả người Lãm ngã chúi về phía trước, gánh sắt được thể dồn tới như muốn đè bẹp anh. Lãm định đặt xuống nghỉ một tý, nhưng máu sĩ diện nổi lên, anh cắn răng bước tiếp.

- Đây rồi, rẽ vô đây anh. May quá, đặt xuống đi! Mạ ơi. Ba ơi! Mở cửa...

- Con Hòa phải không? Răng về tối rứa?

Tiếng cửa kẹt mở. Một người đàn ông ốm yếu bước ra tay bê chiếc đèn dầu.

- Có hàng à? Mấy yến?

Cô gái vừa thở vừa bước vào nhà:

- Tạ mốt. Nặng hết hồn. May mà... à, vô đây đã anh!

Lãm đang sửng sốt vì số lượng hàng vừa đặt trên vai, nghe tiếng gọi anh bỗng lúng túng:

- Dạ... thôi. Tôi phải về.

Người đàn ông cầm đèn đưa cao lên soi ánh sáng vào mặt Lãm:

- Anh về đâu? Nhà ở chỗ nào?

Lãm cúi đầu không nói. Một nỗi đau nhói lên trong ngực anh, còn đau hơn nhiều lần vết xước trên vai.

- Anh ấy thường ngủ ở chợ ba ạ - cô gái đã bê ra một cốc to nước. Anh uống nước đi. May mà có anh chứ không thì em chịu chết.

Lãm hơi ngờ vực trước những lời đầy ơn nghĩa đó. Có gì mà ơn huệ kia chứ. Kẻ có tiền bỏ ra thuê, đời nào lại đi cám ơn nhưng thằng vai u thịt bắp. Hay họ định lấy lời ngọt mát ấy để bớt tiền? Đúng là dại, mình không hỏi giá trước.. Ừ, sao ngốc thế!

- Anh vào nhà tí đã.

Người đàn ông nói vậy rồi bước ra ướm thử tay vào bỉ tải.

- Chết thật, thế này thì... ái chà.

Ông ngần ngừ nhìn cậu thanh niên, lúng túng như người có lỗi.

- Chà, phiền quá, nhưng có lẽ nhờ anh gắng cho một đoạn vô trong kia...

Lãm khẽ thở dài. Đúng là đã đa mang thì phải đèo bòng. Anh khom người xuống, đặt gộc tre lên vai. Lần này thì quá nặng. Lãm đã mấy lần liền mới nhấc nổi hai bì sắt lên khỏi mặt đất. Lãm bước đi chếnh choáng. Người đàn ông hấp tấp đi trước soi đường chúi qua chiếc máng hứng nước, họ bước vào nhà trong. Một gian lều bừa bộn những sắt thép, than củi.

- Thôi được rồi, may quá! Cứ vứt đó đã. Anh lên trên ni uống nước...

Người đàn ông cầm đèn đi trước, Lãm lặng lẽ theo sau. Cô con gái lúc này đã thay bộ đồ mới. Khuôn mặt vẫn hừng đỏ và lấm tấm mồ hôi. Bà mẹ đang lúi húi dọn cơm cũng ngẩng dậy chào anh. Một không khí thân mật có vẻ như không dối trá. Lãm bình tâm trở lại. Anh đỡ cốc nước trên tay cô gái đưa lên uống và sửng sốt nhận ra, cốc nước có pha bột xi - rô.

- Chà, anh khỏe dễ sợ. Ngày tôi còn trẻ cũng khỏe lắm, nhưng chắc chắn không bì được anh. Rứa nhà ở đâu?

Người bố lại vô tình nhắc câu hỏi cũ.

- Dạ... cháu không có nhà. Cháu gánh thuê ở chợ để kiếm sống...

Lãm quyết định gạt mọi sĩ diện để nói thẳng ra như vậy, cốt là ngăn ngừa cái trò ăn quỵt nếu sự tử tế kia có động cơ ấy. Nhưng hình như cả nhà không ai bận tâm đến dụng ý của anh. Họ vẫn niềm nở thực sự.

- Anh ngồi ăn cơm rau với em nó.

Đến lượt bà mẹ nhìn anh.

- Dạ không, cháu ăn no rồi mà...

- No gì. Cơm hàng cháo chợ... Bà chợt thở dài - cái sức vóc ấy mà ăn uống vất vưởng thì chả mấy chốc rồi cũng tàn tạ. Tui coi bộ anh cũng hiền, sao không kiếm việc gì mà làm, lại lăn ra giữa chợ?

Cực chẳng đã Lãm phải tiếp chuyện:

- Trước đây cháu cũng có việc... nhưng chừ thì...

- Bị đuổi à?

- Dạ không. Nhà chủ tốt lắm. Nhưng hoàn cảnh khó quá không thuê nổi người làm nữa.

Bà mẹ gặt gù có vẻ am hiểu:

- Chắc là vỡ nợ? Buôn bán thời này nó thế đó...

- Dạ không. Nhà bị nạn chứ không phải vỡ nợ.

Câu chuyện khiến cả nhà tò mò hơn:

- Nạn chi? Cháy à?

- Không ạ. Bị cướp.

Cô gái bất ngờ reo lên:

- A, hay là nhà ông Cống?

- Cô có biết à?

- Thôi đúng rồi. Hèn chi em cứ ngờ ngợ. Ba ơi, anh đây là "ét" xe nhà ông Cống đó. Con đã hai lần đi xe nhà đó mà.

Người bố rướn to mắt lên, gật gù:

- Ra thế. Nhà ấy cũng là một nhà tử tế. Tội nghiệp...

Không ngờ câu chuyện lại trở nên thân mật thật sự, Lãm thấy yên tâm hẳn. Và thật là quái quỷ, khi sự ngờ vực lắng xuống thì cơn đói lại trỗi dậy cấu xé. Thế nên đến khi cô gái đích thân so đũa đưa lên mời thì Lãm chỉ lắc đầu một cách yếu ớt, rồi ngần ngừ đưa tay đỡ lấy. Cả nhà bỗng vui hơn:

- Ăn đi anh. Cơm dưa thôi, cũng là nhà nghèo mà. Nhưng cứ ăn cho no bụng.

Để lấy lại sự tự chủ và cố tình không để người ta coi khinh mình, Lãm ăn một cách dè dặt và chủ động kể lại câu chuyện cướp giật ở nhà ông Cống. Sự căm phẫn của anh đã truyền sang mọi người. Ông bố lầu bầu chửi. Còn cô Hòa - Lãm cố nhớ cái tên đó - thì nhìn như dán mắt vào anh suốt bữa cơm. Lần đầu tiên sau bao ngày long đong, vất vưởng, Lãm lại được sống trong một khung cảnh đầm ấm và cảm thương. Anh ăn ít, đặt đũa xuống trước. Khánh Hòa cũng bỏ bát bê vội cả mâm ra rửa. Lãm tự thấy không nên ngồi lâu, câu chuyện sẽ nhạt, niềm cảm mến sẽ vơi đi, anh muốn rút nhanh khỏi căn nhà để được mang nguyên vẹn không gian ấm áp ở đây mà bước tiếp những đêm dài cô độc.

- Thôi, chừ cháu chào hai bác và ... cô, cháu phải về.

Bà mẹ nhíu nhanh đôi mày lại:

- Về đâu? Về chợ ư? Tội gì phải hấp tấp vậy. Cứ ngủ lại đây cũng được.

- Cảm ơn bác. Cháu ngủ chợ quen rồi...

Người bố quay vào trong một tí rồi chạy ra hấp tấp giúi vào tay Lãm mấy tờ giấy bạc, Lãm gạt đi.

- Thôi... cháu giúp cô một lát thôi...

- Đừng. Làm công thì phải có tiền công. Đêm tối, hàng nặng mà anh tận tình cho thế là may lắm rồi. Cầm lấy.

Dĩ nhiên Lãm không từ chối thêm lần nữa, bởi anh biết đêm nay, ngày mai nữa, tiền đối với anh là sự sống còn.

Khánh Hòa bước ra đến cửa nhưng không nói gì. Người bố bê chiếc đèn giơ cao lên soi lối, Lãm chào cả nhà một nữa rồi bước ra. Người bố cầm đèn đi theo. Đến cuối sân Lãm quay lại:

- Thôi, bác vô đi. Cháu đi đêm quen rồi.

- Thiệt khổ... toàn quen với cái cực. Này cháu... hay là...

Lãm hơi dừng chân lại. Người bố cũng tần ngần xoay xoay ngọn đèn dầu:

- Hay là... bỏ chợ đi, đến làm giúp cho bác. Việc ở đây thì hơi nặng, toàn búa với đe thôi. Được cái không đến nỗi vất vưởng...

Lãm biết ông nói một cách thực tâm. Anh ngước nhìn lên. Cả bà mẹ lẫn cô gái vẫn đứng trên thềm cửa. Chao, làm sao lại có một ngôi nhà ấm áp như thế lọt vào giữa cái ngõ hẻm mịt mùng này? Có cái gì đó vẫn còn chập chờn trong óc Lãm như bóng tối lung lay phía ngoài ngõ.

- Cháu... cảm ơn bác. Dạ... để cháu coi coi thử đã.

- Ừ, tùy cháu. Ở với bác thì vui nhưng cũng chẳng sung sướng bằng nhà người ta đâu.

- Dạ.

Lãm quay người đi. Vầng sáng ở lại trong sân ngõ nhà lợp nứa. Bóng tối vẫn hun hút phố hẻm. Lãm lần dò từng bước trong màn đen mung lung đó, lòng rối bời bao hy vọng lẫn ngờ vực lo âu.

° ° °

Gia đình ông Trương Phú là một trong những căn hộ gốc gác lâu đời ở đây. Nhưng về nghề rèn, nguội thì mới. Thuở trước, Trương Phú là dân Vạn Nôốc. Cuộc sống trôi giạt theo ngọn triều, lúc lênh đênh ở ngã ba sông phía hạ lưu Cửa Việt, khi lại vật vờ như đám lá súng bên mép chợ Đông Hà. Sông không nuôi nổi người. Dần dần đám dân Vạn Nôốc bỏ thuyền lên đất. Cái nghề đầu tiên trên đất của vợ chồng Trương Phú là nhặt nhạnh vỏ hộp, vỏ chai đem về bán cho người buôn Huế. Dạo đó hàng giải khát ở Huế bắt đầu phát triển, mà vỏ hộp, vỏ chai ở ngoài vùng chiến thuật I này lại nhiều vô kể. Sau một thời gian, Trương Phú bắt đầu học được cách gò các mảnh hộp thành cây đèn dầu hỏa. Từ gò đèn dầu chuyển lên gò thùng, gò chậu. Cứ đà ấy ông thành thợ nguội. Còn việc mở lò rèn than có muộn hơn một chút. Đó là thời kỳ hàng sắt của quân lực ngập tràn ra khu vực này nhiều vô tội vạ. Không khí chung là sắp sửa đánh nhau, sắp sửa "Bắc tiến". Hệ thống công sự được triển khai xô bồ từ Cửa Việt lên tận Khe Sanh, Lao Bảo. Sắt theo từ dưới tàu chở lên, quá nửa bay ra chợ trời. Những nhà giàu bắt đầu đổ móng xây lầu. Thợ rèn cũng được đà mà phất.

Thế là, mặc dù đã sống trên đất, nhưng cuộc sống của những gia đình kiểu Trương Phú cũng rập rình, trôi giạt chẳng khác gì lúc còn ở dưới sông...

Có lẽ trong đời mình, những ngày ở với gia đình Trương Phú là hạnh phúc và thanh thản nhất đối với Lãm. Việc quai búa, kéo bễ tuy có nặng nhưng không quay cuồng gấp gáp như nghề sửa xe hay phụ lái. Hơn nữa không khí trong gia đình thực dễ chịu. Cô Khánh Hòa ngày hai buổi dọn hàng ra mặt trước cửa nhà. Hàng gồm dao, kéo, thùng, xô châu, và nhiều nhất là bản lề. Nhà ở Đông Hà dạo này sinh ra lắm cửa. Cửa tiếp khách, cửa vào chỗ làm, cửa tuồn hàng lậu, chưa kể hòm xiểng tủ sập... Bản lề sản xuất bao nhiêu bán cũng chạy. Công việc ở trong lò chủ yếu là ông Phú và Lãm. Còn có cậu em trai chừng mười hai tuổi giúp việc. Hồi Lãm chưa vào làm, cậu ta phải giữ chân quai búa. Tội nghiệp, cái dáng gầy mảnh khảnh giống bố của nó cứ dướn lên, khom xuống bở chiếc búa quá nặng. Quần tuột xuống ngang xương mông. Tóc tai dính bết mồ hôi, mắt sâu hóp lại. Bây giờ mọi việc nặng nhọc ấy Lãm cáng đáng hết. Nó được cầm búa nhẹ gò bản lề, hoặc gạt than, thay nước tôi.

Điều làm cho Lãm dễ chịu nhất là từ ngày về ở nhà này, tâm trí anh tự nhiên không còn vướng vất gì hành ảnh Kim Chi nữa. Một cái gì đó mát lành đã len lỏi và trong tâm khảm anh, thấm dịu vết đau của cái tát sỉ nhục. Sau đêm ở bến cảng, rồi tiếp theo là sự tan nát trong gia đình ông Cống, Lãm luôn sống trong dặt vặt và ám ảnh. Những đêm không ngủ được. Lãm trợn trừng mắt lên, muốn lao đi tìm Kim Chi. Tìm để trả thù, để vặn cổ, để nhiếc móc... Anh tự mường tượng ra muôn ngàn hình thức rửa hận và bỗng thấy cay đắng bởi không hiểu vì sao ngay sau cái tát ấy mình không nghĩ được ra cách trả thù như bây giờ. Hầu như không một đêm nào anh không sùng sục nghĩ đến Kim Chi. Có lần anh đã hằm hằm bước đi gần quá nửa đường thì dừng lại. Vẫn có cái gì đó thật khó gọi tên trong anh. Anh tự lục vấn mình. Vì sao mình không dứt ra khỏi sự ám ảnh của "con rắn độc" ấy? Phải chăng chỉ vì uất ức, muốn trả thù? Hay còn có nỗi khát khao thèm muốn? Không! Lãm như muốn kêu to lên. Sao lại thế được? Đốn mạt quá Lãm ơi! Nhục nhã quá mày ơi!

Khánh Hòa cũng có cái tật là hay nhìn trộm Lãm. Những buổi đầu Lãm cũng thấy ớn lạnh. Lẽ nào "ngài rắn" lại ám cả vào nhà này? Nhưng dần dà anh nhận ra cái nhìn Khánh Hòa khác hẳn Kim Chi. Cái nhìn có nét ngạc nhiên, có tia vui thích và rồi cuối cùng là một cái gì đó rất chan chứa. Cái nhìn như thầm đoán, cân nhắc, đánh giá. Dĩ nhiên Lãm cố tránh tất cả. Anh muốn yên ổn.

Tuy vậy không phải không có lúc hai người nói chuyện riêng với nhau. Đấy là những khi ông Phú thay con đi chạy hàng. Bà Phú ra chợ.

- Quê anh Lãm ở đâu hè?

- Ở đây chứ đâu.

- Bịa

- Bịa thì thôi.

- Răng em trông lúc nào anh cũng ngơ ngơ ngác ngác. Có lần ba em bảo đi đến một ngõ phố rất quen mà anh cũng chẳng biết hướng nào...

- À, tại vì anh sinh ở đây nhưng lớn lên chủ yếu ở Cần Thơ...

- Răng không nói tiếng đằng trong?

"Chết thật, cô ta để ý mình tỉ mỉ quá! Mà để ý làm chi hè?". Lãm bỗng thấy nổi gai khắp người. Không thể kéo dài cách trả lời thụ động như thế được. Lãm tấn công trả lại:

- Khánh Hòa dò xét tôi ghê quá. Trông tôi có vẻ gian xảo lắm à?

Khánh Hòa bật cười. Cái cười quá hiền hậu:

- Tại vì trông anh hiền quá, chẳng giống con trai quanh chợ này.

Lãm cười ngượng nghịu:

- Tại vì... tôi vốn đần độn... chẳng có chút khôn ngoan nào...

Khánh Hòa trìa dài chiếc môi dưới, nguýt dài:

- Điêu... Đần như anh cho thiên hạ nhờ.

Nói chuyện với Khánh Hòa thật dễ sợ. Khó mà bịa đặt, giấu giếm được điều gì trước những câu hỏi bất chợt, những nhận xét tinh tường của cô ấy. Nhưng Lãm vẫn thích được nói chuyện, ít nhất là mỗi ngày một lần. Hình như Khánh Hòa cũng vậy.

Rồi có lần Khánh Hòa lại chạy hàng vào trong Huế. Những chuyến vào Huế thường mất hai ngày, có khi chậm đến ba ngày. Những ngày đó Lãm thấy căn nhà trống tráng hẳn. Có chuyện gì thế nhỉ? Nhớ ư? Lãm giật mình như giẫm phải hòn than nóng. Buổi chiều Lãm ra bến xe đứng đợi. Anh làm việc đó theo lời cậy nhờ của ông Phú hoặc bà Phú. Nhưng anh thường ra sớm hơn thời điểm bình thường của chuyến xe chót chạy từ Huế ra. Đợi và buồn. Chẳng rõ vì đâu nữa.

Nhiều lần thành lệ quen. Khánh Hòa nhảy xuống xe là đảo mắt một lượt rồi reo to: "Anh Lãm! Nhanh lên!". Họ xúm lại khiêng những bao tải sắt cho vào gióng. Lãm rán sức gánh lên. Khánh Hòa đi trước thỉnh thoảng ngoảnh lại, mồm liến thoắng bao nhiêu chuyện. " Hôm qua tụi cảnh sát với biệt động nện nhau chí chết ở bến Đông Ba..", "ui cha, bữa ni có một anh bán thuốc võ giỏi dễ sợ. Anh ta tự đâm vào ngực mình một thanh gươm dài thế này này..." Khánh Hòa dang tay ra để ước lượng chiều dài của thanh gươm. Tay cô vương qua mặt Lãm.

Những buổi tối có hàng về, cả nhà vui hẳn lên. Khánh Hòa bô bô kể chuyện một lúc rồi lăn ra ngủ. Ông Phú đổ các bì sắt ra lựa thành từng loại. Còn Lãm không sao ngủ sớm được. Anh đút tay vào túi quần tha thẩn đi ra đường, mồm se sẽ huýt sáo. Rồi có khi cao hứng anh hát:

"Có con chim cúc cu, kìa nó hát lên một câu rằng, có một nàng lạc trong rừng...".

Lâu lắm, anh như quên bẵng giọng hát của chính mình.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 10 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Hiện đại Thanh mai trúc mã] Đều Tại Vầng Trăng Gây Họa - 11 Giờ Phải Ngủ

1 ... 40, 41, 42

2 • [Hiện đại] Làm thế nào để không nhớ hắn - Mộng Tiêu Nhị

1 ... 27, 28, 29

3 • [Hiện đại] Xin chào Chu tiên sinh! Dạ Mạn

1 ... 26, 27, 28

4 • [Xuyên không] Hỉ doanh môn - Ý Thiên Trọng

1 ... 105, 106, 107

5 • [Xuyên không - Cổ xuyên hiện] Ảnh hậu đối mặt hàng ngày - Ngã Yêu Thành Tiên

1 ... 37, 38, 39

6 • [Xuyên không] Vương phi thần trộm Hưu phu lúc động phòng! - Thủy Mặc Thanh Yên

1 ... 82, 83, 84

7 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 138, 139, 140

8 • [Hiện đại] Anh Trai VS Em Gái - Trà Trà Hảo Manh

1 ... 10, 11, 12

9 • [Hiện đại] Bó tay chịu trói - Thiên Thần Di Cô

1 ... 30, 31, 32

10 • [Hiện đại] Cục cưng lật bàn Con là do mẹ trộm được? - Ninh Cẩn

1 ... 87, 88, 89

[Cổ đại - Trùng sinh] Đích trưởng nữ - Hạ Nhật Phấn Mạt

1 ... 80, 81, 82

12 • [Xuyên không - Dị giới] Phế sài muốn nghịch thiên Ma Đế cuồng phi - Tiêu Thất Gia - New C798

1 ... 115, 116, 117

13 • [Hiện đại] Hôn nhân giá ngàn vàng - Cẩm Tố Lưu Niên (103/104]

1 ... 178, 179, 180

14 • [Xuyên không] Nàng phi lười có độc - Nhị Nguyệt Liễu

1 ... 90, 91, 92

15 • [Hiện đại] Vui vẻ gặp lại - Miêu Diệc Hữu Tú

1 ... 24, 25, 26

[Cổ đại - Trùng sinh] Trọng sinh cao môn đích nữ - Tần Giản

1 ... 137, 138, 139

17 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 244, 245, 246

18 • [Hiện đại - Trùng sinh] Sống lại tại cửa cục dân chính - Bạo Táo Đích Bàng Giải

1 ... 20, 21, 22

19 • [Xuyên không] Thú phi thiên hạ Thần y đại tiểu thư - Ngư Tiểu Đồng

1 ... 98, 99, 100

20 • [Xuyên không] Nịch sủng Chí tôn cuồng phi - Mặc Thập Tứ

1 ... 52, 53, 54



Shop - Đấu giá: Tử Tranh vừa đặt giá 388 điểm để mua Tình yêu trong sáng
Công Tử Tuyết: Re: [Game] Phép cộng may mắn - Tầng 4
Shop - Đấu giá: Sam Sam vừa đặt giá 449 điểm để mua Trái dâu
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 426 điểm để mua Trái dâu
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 434 điểm để mua Ác quỷ  3
Shop - Đấu giá: meoancamam vừa đặt giá 433 điểm để mua Gấu xanh, gấu hồng
Tuyền Uri: Thông báo lần 2: Do có nhiều bạn (chị) chưa cập nhật mục lục. Vui lòng cập nhật mục lục giùm, thời gian chậm nhất là 21/9/2018
Shop - Đấu giá: ღ_kaylee_ღ vừa đặt giá 412 điểm để mua Ác quỷ  3
Tuyền Uri: Kao điên =))
Kaori Hương: hahahha
Shop - Đấu giá: trucxinh0505 vừa đặt giá 250 điểm để mua Chim cánh cụt xanh
Shop - Đấu giá: Sam Sam vừa đặt giá 404 điểm để mua Trái dâu
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 383 điểm để mua Trái dâu
Shop - Đấu giá: Số 15 vừa đặt giá 342 điểm để mua Chó vàng
Công Tử Tuyết: Re: 12 cung hoàng đạo và 12 con giáp
Shop - Đấu giá: lesliecomnamnho vừa đặt giá 246 điểm để mua Couple 4
Kaori Hương: T_T ahahahha
Shop - Đấu giá: cò lười vừa đặt giá 456 điểm để mua Vòng tay đá quý
LogOut Bomb: Nguyệt Hoa Dạ Tuyết -> Nguyệt Hoa Dạ Tuyết
Lý do: Thú vui tao nhã
LogOut Bomb: Sunlia -> Sunlia
Lý do: đánh bomb liều chết =)))
Kaori Hương: T_T vợ vọt mô bay cả rồi
Kaori Hương: hahahha
Khuynh Uyển 168: Tái xuất giang hồ. Tìm lại người quen từ 2016 :3
Kaori Hương: :v kiểu trước vô khi nào cụng rôm rả h heo hút hahahah
Kaori Hương: :V ko ai chat với huhu buồn
Đào Sindy: gì v Hương
Kaori Hương: -_- off 5 tháng and khu chat don't còn ai
Tuyền Uri: Thông báo: Các bạn (chị) đang edit/ sáng tác vui lòng cập nhật mục lục truyện nhé. Thời gian cập nhật từ 17/9/2018 - 21/9/2018. Trân trọng cảm ơn
Shop - Đấu giá: Đào Sindy vừa đặt giá 295 điểm để mua Mề đay đá Citrine 4
Shop - Đấu giá: luoicon27 vừa đặt giá 405 điểm để mua Mèo lông nâu

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.