Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 36 bài ] 

Đồng Hồ Xương - David Mitchell

 
Có bài mới 23.11.2017, 11:02
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 32613
Được thanks: 5107 lần
Điểm: 9.56
Tài sản riêng:
Có bài mới [Giả tưởng - Phiêu lưu] Đồng Hồ Xương - David Mitchell - Điểm: 11
ĐỒNG HỒ XƯƠNG

images

Tác giả: David Mitchell
Dịch giả: Như Mai
Nhà xuất bản: NXB Trẻ
Khổ sách: 15.5x23cm
Số trang: 688 trang
Giá bán: 235,000 VNĐ
Năm xuất bản: 11/2015
Nguồn: VCTVEGROUP
Ebook: epub©vctvegroup - V/C & inno14​
Ngày hoàn thành: 30-10-2017


Sau những mâu thuẫn tranh cãi với mẹ, đỉnh điểm là cái tát trời giáng vì quan hệ với một thanh niên hơn mình chín tuổi, Holly Sykes 15 tuổi quyết định bỏ nhà ra đi. Cô dự định đến nhà bạn trai với bao viễn cảnh sẽ có một cuộc sống như ý. Song, giây phút cô đặt chân vào phòng và bắt gặp người bạn thân đang trên giường với bạn trai mình đã phá hủy tất cả. Từ đây Holly lang thang qua khắp các miền, khi là thực lúc chỉ là hư ảo. Quá khứ, hiện tại và cả tương lai đan xen nhau. Ký ức về một Holly 7 tuổi thường nghe thấy giọng nói của ai đó trong đầu mình mà theo cách cô gọi là "Người Trên Đài" vì tưởng nhà kế bên đang mở radio hiện ra. Những nhân vật trong giấc mơ của cô dần bước ra ngoài, liên kết đến cuộc sống thực của cô một cách ma mị.

Đồng Hồ Xương là tác phẩm của nhà văn David Mitchell - người đã gây ấn tượng với tiểu thuyết nổi tiếng Bản Đồ Mây. Tiểu thuyết Đồng Hồ Xương bao gồm 6 phần với 5 người dẫn chuyện khác nhau. Những câu chuyện liên kết bởi nhân vật Holly Sykes - một cô gái trẻ đến từ Gravesend - người sở hữu với "con mắt vô hình"; và có khả tiên tri. Với 1 cuộc chiến giữa hai thế lực: the Anchorites - những kẻ sát hại người bất tử và the Horologists - những kẻ đầu thai.

Với Đồng Hồ Xương , người đọc sẽ kinh qua nhiều cung bậc của cảm xúc, từ những bản nhạc "Daydream beliver", "Rockn' all over the world", "American pie", ... hay "Fear of muisic" của Talking Heads từ thập niên 80 ở Anh quốc, đến những đề tài chính trị, nữ thủ tướng đầu tiên của nước Anh Margaret Thatcher, từ dãy núi Alps của Thụy Sĩ thời trung cổ tới nước Úc thế kỷ 19, từ một khách sạn ở Thượng Hải đến con phố ở Manhanttan trong một tương lai gần. Một cuốn tiểu thuyết không thể bỏ qua của tác giả David Mitchell.

Tác giả

David Mitchell trước đây nghiên Anh ngữ và văn học Mỹ tại trường ĐH Kent. Mitchell từng sống tạ Sicily một năm trước khi chuyển tới Hiroshima Nhật Bản để dạy tiếng Anh cho những sinh viên kỹ thuật trong vòng 8 năm. Sau khi trở về Anh thì David Mitchell quay lại Nhật một thời gian ngắn và hiện tạ đang định cư tại Ireland. Trong một bài luận tạ Random House, David Mitchell đã viết " Tôi biết bản thân mình muốn trở thành một nhà văn ngay từ khi vẫn còn là 1 đứa trẻ, nhưng ngay cả trước khi đặt chân tới Nhật Bản, tôi vẫn còn quá phân tâm để có thể nghiêm túc viết lách. Tôi chắc chắn sẽ trở thành nhà văn dù tôi có ở nơi nào, nhưng liệu tôi có còn là một nhà văn như trước nếu tôi không dành 6 năm ở London, hay Cape Town hay Moose Jaw, trên 1 mỏ dầu và và trong 1 rạp xiếc? Đây là câu trả lời tôi dành cho chính mình."

Giải thưởng dành cho Đồng Hồ Xương:

- Đề cử giải Man Book Prize năm 2014
- Tiểu thuyết kỳ ảo tuyệt vời nhất - theo đề xuất của Stephen King
- Giải Tiểu Thuyết Kỳ Ảo Xuất Sắc nhất năm 2015



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
1 thành viên đã gởi lời cảm ơn Nminhngoc1012 về bài viết trên: Hoa Mùa Hạ
     

Có bài mới 27.11.2017, 16:22
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 32613
Được thanks: 5107 lần
Điểm: 9.56
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Giả tưởng - Phiêu lưu] Đồng Hồ Xương - David Mitchell - Điểm: 11
Một Đợt Nắng Hạn

1984

30 Tháng Sáu


Mình kéo toang rèm cửa. Bầu trời khát khô, dưới sông đầy tàu thuyền lớn nhỏ lô nhô nhưng trong đầu mình chỉ có đôi mắt màu sô cô la của Vinny, dầu gội đầu chảy xuống lưng chàng, mồ hôi lấm tấm trên vai chàng, rồi nụ cười tinh quái của Vinny. Tim mình như muốn vỡ tung. Chúa ơi, ước gì mình thức dậy ở nhà Vinny trên phố Peacock, chứ không phải trong căn phòng chết giẫm này. Đêm qua những lời ấy như tự thốt ra, “Lạy Chúa, em yêu anh quá chừng, Vin à,” rồi Vinny phả khói thuốc thành đám mây nhỏ, rồi Vinny giả giọng như Thái tử Charles, “Phải nói rằng, ta cũng ưa ở cùng cô lắm, Holly Sykes à,” mình cười muốn són cả ra, mặc dù vẫn hơi bực vì chàng chẳng đáp “Anh cũng yêu em”. Thiệt tình. Nhưng mà, đàn ông con trai hay ra vẻ vớ vẩn bông lơn để mà che giấu cảm xúc, chẳng phải báo vẫn viết vậy sao. Ước gì mình gọi được cho Vinny ngay bây giờ. Ước gì người ta chế ra điện thoại có thể gọi mọi nơi mọi lúc. Giờ này hẳn chàng đang cưỡi chiếc Norton đi làm trên Rochester, chàng mặc áo da có chữ LED ZEP đính đinh bạc. Tháng Chín này mình tròn mười sáu tuổi, chàng sẽ chở mình trên chiếc Norton.

Dưới nhà có tiếng đóng cửa tủ đánh rầm.

Má. Còn ai đóng cửa kiểu đó nữa.

Hay má biết rồi? Mình nghĩ mà quặn cả ruột.

Không có đâu. Hai đứa vô cùng cẩn thận.

Má đang tuổi mãn kinh nên nóng nảy. Chỉ có vậy thôi.

Đĩa Fear of Music của Talking Heads đang nằm trong máy, mình hạ cây kim máy xuống. Vinny mua tặng mình đĩa này, hôm đó là ngày thứ Bảy thứ nhì tụi mình gặp nhau ở tiệm đĩa Magic Bus Records. Đĩa hay tuyệt. Mình thích bài “Heaven” và “Memories Can’t Wait” nhưng nói chung cả album không có lấy một bài dở. Vinny đã từng đến New York, từng xem Talking Heads biểu diễn. Dan bạn của Vinny làm bảo vệ ở đó nên cho Vinny vào sau cánh gà, Vinny đã gặp David Byrne và ban nhạc. Năm sau mà đi tiếp thì chàng sẽ dẫn mình theo. Mình thay đồ, ngắm mấy vết cắn yêu trên người rồi ước gì tối nay lại được đến thăm Vinny, nhưng chàng bận đi gặp bạn ở Dover. Đàn ông rất ghét đàn bà hay ghen, nên mình giả bộ không ghen gì hết. Stella - bạn thân nhất của mình, đã đi London để đi săn đồ cũ ở chợ Camden. Má nói mình còn quá nhỏ, không thể đi London mà không có người lớn, vậy là Stella rủ Ali Jessop. Ngày hôm nay mình chỉ còn trông mỗi việc hút bụi ở quầy bar để kiếm ba bảng tiền tiêu vặt. Chán mớ đời. Rồi phải ôn tập để chuẩn bị thi tuần tới. Thực lòng chỉ muốn nộp giấy trắng, dẹp hết tam giác tam giếc Py-ta-go và tiểu thuyết Chúa ruồi với vòng đời sâu bọ nhảm nhí. Có khi làm vậy luôn.

Ừ, biết đâu đó.

Dưới nhà bếp không khí lạnh như Nam Cực. “Chào bà con,” mình lên tiếng nhưng chỉ mỗi Jacko ngồi vẽ bên cửa sổ là ngước lên. Sharon ngồi ở ghế sa-lông, xem phim hoạt hình. Ba ở lối sảnh dưới nhà, nói chuyện với người giao hàng – xe tải của công ty bia mở máy gầm gừ ngay trước quán. Má đang cắt mấy trái táo thành từng miếng nhỏ để nấu ăn, vẫn mặt lạnh như tiền với mình. Đáng ra mình phải nói “Sao vậy má, con làm gì sai sao?” nhưng mình cóc thèm. Đương nhiên má biết tỏng khi tối mình về trễ, nhưng cứ để má nói trước. Mình đổ sữa lên miếng ngũ cốc Weetabix rồi mang ra bàn. Má đậy nắp xoong đánh rầm, bước lại. “Được rồi. Cô có muốn nói năng gì không?”

“Chào má. Hôm nay trời lại nóng nữa ha.”

“Cô có muốn nói năng gì không hả?”

Nếu không chắc thì tốt nhất cứ làm bộ ngây thơ. “Nói gì kia?”

Cặp mắt má long lên. “Hôm qua về nhà mấy giờ?”

“Ô kê, ô kê, thì về trễ chút mà, xin lỗi má.”

“Hai tiếng đồng hồ đâu phải là trễ chút. Cô đi đâu?”

Mình nhai Weetabix. “Nhà Stella. Quên giờ giấc.”

“Vậy sao, kỳ quá chừng. Mười giờ tui điện cho má của Stella xem cô đang ở chỗ nào, mà biết sao không? Cô đi khỏi đó trước tám giờ. Vậy ai nói dối đây hả Holly? Cô hay bà ta?”

Chết thật. “Sau khi ở nhà Stella ra con đi dạo.”

“Cô đi dạo ở đâu vậy?”

Mình gằn từng tiếng. “Đi dạo dọc bờ sông, được chưa?”

“Đi xuôi dòng hay ngược dòng vậy?”

Im lặng một lúc. “Thì có khác gì?”

Phim hoạt hình trên TV đang đến đoạn nổ bùm chíu. Má quay sang nhỏ em mình, “Sharon, tắt ngay, đóng cửa lại.”

“Không công bằng! Chỉ có chị Holly bị la mà.”

“Nghe không Sharon. Còn Jacko nữa…” Nhưng Jacko đã đi mất. Khi Sharon đã đi khỏi, má lại ra đòn: “Đi bộ kiểu vậy có một mình thôi sao?”

Tại sao mình cứ có cảm giác má đang giăng bẫy? “Đúng vậy.”

“Đi bộ vậy được bao xa?”

“Gì nữa trời… Má muốn tính bằng dặm hay cây số?”

“À, có phải vụ đi bộ này dẫn cô tới phố Peacock, gặp một tay tên là Vincent Costello?” Quanh mình gian bếp quay mòng mòng. Bên ngoài cửa sổ, trên bờ sông ở địa phận Essex có dáng người xíu xiu đang nhấc xe đạp xuống từ trên phà. “Tự dưng cứng họng rồi hả? Để tui nhắc cô nhớ vậy: mười giờ tối hôm qua, cô kéo rèm xuống, ngay cửa sổ trước nhà người ta, trên người mặc độc áo thun.”

Đúng là lúc đó mình đi xuống nhà lấy bia cho Vinny. Đúng là mình đã hạ rèm cửa. Đúng là có người đi ngang qua. Bình tĩnh đã. Dễ gì người đó nhận ra mình? Má đang đợi mình xìu tại chỗ, nhưng quên đi. “Má chạy quán thiệt là phí. Đáng ra má nên làm cho cục tình báo MI5, chuyên trị đám nội gián sừng sỏ.”

Má liếc mình muốn đứt da mặt – cái liếc đặc sản của bà Kath Sykes.

“Thằng đó nhiêu tuổi?”

Giờ tới lượt mình khoanh tay lại. “Không phải việc của má.”

Cặp mắt má lườm lườm. “Nghe đâu là hai mươi bốn.”

“Nếu biết rồi má còn hỏi làm gì?”

“Vì một tay hai mươi bốn tuổi mà dính vào nữ sinh mười lăm tuổi thì bị coi là phạm pháp. Đi tù chứ chẳng chơi.”

“Tháng Chín này con đủ mười sáu tuổi, cảnh sát hạt Kent còn khối chuyện khác phải làm. Con lớn rồi, con tự biết việc mình.”

Má châm một điếu Malboro đỏ. Mình thèm chết được. “Để tui nói với ông già cô, rồi ổng cho tay Costello này biết mùi.”

Xưa nay thỉnh thoảng ba vẫn phải xua mấy tay say xỉn ra khỏi quán, nhưng ba đâu phải loại giang hồ dao búa gì.

“Hồi bồ với Mandy Fry anh Brendan có mười lăm tuổi, không lẽ má nghĩ hai người đó chỉ có nắm tay nhau ngồi xích đu thôi. Nhưng hình như má đâu có ca bài tù tội gì.”

Má nói từng tiếng, như thể mình ngu lắm: “Nó-là-con-trai.” Mình phì cười, ra bộ tui-không-tin-nổi-má-vừa-nói-gì.

“Tui nói cho cô biết, Holly à, cô muốn đi gặp cái tay buôn xe này nữa thì… hãy bước qua xác tui đã.”

“Thiệt tình, nói cho má biết, tui muốn đi đâu kệ tui!”

“Nội quy mới.” Má dụi tắt điếu thuốc. “Tui sẽ đưa rước cô đi học bằng xe tải. Cô không được ra ngoài, trừ khi đi với tui, ba cô, Brendan hay Ruth. Nếu tui còn thấy tay cà chớn này lảng vảng quanh đây, tui sẽ báo cho cảnh sát túm cổ – tui nói là làm, thề có Chúa. Rồi… rồi tui sẽ gọi cho chỗ nó làm, báo họ biết là nó đang dụ dỗ con gái vị thành niên.” Mấy giây trôi qua chậm chạp khi mình nghe hết chừng đó.

Mắt mình bắt đầu ngân ngấn nhưng mình quyết không nhân nhượng trước mặt bà Hitler. “Đây đâu phải là Ả rập Saudi! Má không nhốt tui được!”

“Sống trong nhà này thì phải theo nội quy của tui. Khi tui bằng tuổi cô…”

“Biết rồi khổ lắm nói mãi, má có hai chục em trai, ba chục em gái, bốn chục ông bà nội ngoại, phải cuốc năm chục mẫu ruộng khoai vì ở Ái-Nhĩ-Lan cực lắm chẳng chơi! Nhưng đây là Anh quốc, má à, Anh quốc, má biết chưa! Bây giờ là năm tám mấy rồi. Nếu cái hóc bà tó Tây

Cork đó sướng vậy thì mắc gì má phải mò tới…” Chách! Một cái tát ngay bên má trái mình.

Hai người nhìn nhau: mình run rẩy vì sốc, má giận sôi – trước giờ mình chưa từng thấy má giận như vậy, rồi mình nhận ra… dường như má biết vừa đánh vỡ thứ gì đó, không thể hàn gắn nữa. Mình bỏ ra ngoài mà không thèm nói năng, như thể vừa thắng cuộc.

Mình chỉ khóc một chút thôi, khóc vì sốc quá, chứ không phải mít ướt thảm thiết gì. Khóc xong mình đi soi gương. Mắt mình hơi bị húp, nhưng chỉ cần kẻ lại một chút là xong… Thêm chút son, chút phấn hồng… Xong. Đứa con gái trong gương giờ đã là một người đàn bà, tóc đen tém gọn, mặc áo thun Quadrophenia, quần jeans đen. Cô ta nhìn mình, nói “Nghe đây, hôm nay mày sẽ dọn vào ở với Vinny.” Mình bắt đầu liệt kê những lý do tại sao không thể làm vậy được, rồi dừng lại. “Thôi được,” mình đồng ý, cảm giác vừa ngây ngây vừa bình thản. Mình sẽ bỏ học luôn. Bắt đầu từ bây giờ. Giám thị trên trường chưa kịp đánh rắm thì đã đến kỳ nghỉ hè, tháng Chín này mình mười sáu tuổi, kệ mẹ trường Phổ Thông Windmill Hill. Dám không?

Dám chứ. Vậy thì sắp đồ đi. Sắp gì bây giờ? Sắp đủ cái túi thể thao bự đó. Quần lót, áo ngực, áo thun, áo khoác vải phao; hộp đồ trang điểm rồi cả cái hộp thiếc Oxo đựng vòng xuyến dây chuyền. Bàn chải đánh răng, thêm một mớ băng vệ sinh – kỳ này hơi trễ nên chắc sắp rồi. Giờ tới tiền. Đếm hết được 13 bảng 85 xu, cả tiền giấy lẫn tiền xu. Trong sổ tiết kiệm ngân hàng TSB còn 80 bảng. Vinny đời nào lại đòi tiền nhà, rồi tuần tới mình sẽ đi tìm việc. Giữ em, làm ở chợ, chạy bàn: muốn kiếm vài đồng thì thiếu gì cách. Còn đám đĩa LP thì sao? Mình không thể mang hết sang phố Peacock, mà để lại thì kiểu gì má cũng sẽ đem cho cửa hàng từ thiện Oxfam cho bõ tức, vậy là mình chỉ lấy đĩa Fear of Music, gói cẩn thận trong áo khoác vải phao rồi bỏ vào túi cho khỏi bị cong. Đám đĩa còn lại mình giấu dưới ván sàn nhà, tạm vậy đã. Nhưng khi lấp thảm lên trên mình muốn điếng cả hồn vía: Jacko đang đứng ngay bệ cửa, nhìn mình. Nó vẫn còn mặc bộ đồ ngủ và mang dép vải Thunderbirds.

Mình nói, “Trời, làm tui thiếu điều muốn đau tim.”

“Chị sắp đi.” Jacko hay có kiểu nói mơ hồ như vậy.

“Ừ, nhưng đừng nói ai nha. Chị không đi đâu xa, đừng lo.”

“Jacko làm cho chị cái này, để chị nhớ Jacko.” Jacko đưa cho mình một tấm bìa hình tròn – hộp phô mai Dairylea ép dẹp, trên đó có vẽ hình mê cung. Jacko rất khoái mê cung này nọ: chắc là vì nó và Sharon suốt ngày cứ ưa đọc sách báo về trò chơi nhập vai Rồng rắn và Ngục tối. Mê cung này thực ra rất đơn giản so với những thứ Jacko hay vẽ, chỉ có khoảng tám chín vòng tròn lồng vào nhau. “Cầm đi,” nó nói. “Hắc ám vô cùng.”

“Thấy đâu có đến nỗi nào.”

“‘Hắc ám’ là giống như quỷ đó, chị à.”

“Vậy tại sao cái này lại giống quỷ hả?”

“Bụi Tối sẽ đuổi theo chị ở trong đó. Nếu để nó chạm đến chị sẽ tan ra ngay, nên nếu rẽ sai đường, vào ngõ cụt thì tiêu đời. Nên chị phải học thuộc lòng cái mê cung này.”

Lạy Chúa, thằng em mình nó mới quái đản làm sao. “Được rồi. Cảm ơn Jacko ha. Nghe nè, giờ chị phải…”

Jacko cầm lấy cổ tay mình. “Học thuộc cái này đi, Holly. Chiều Jacko quái đản đi chị. Đi mà.”

Mình thấy hơi choáng. “Lạy ông, ông quái vừa vừa thôi.”

“Hứa với Jacko chị sẽ cố nhớ đường đi trong đó, khi cần chị sẽ định vị được trong bóng tối. Đi mà.”

Mấy đứa nhóc em của bạn mình toàn chỉ thích đồ chơi xe đua Scalextric, xe đạp BMX hay bộ bài Top Trumps – cớ làm sao mình lại có thằng em kiểu này, toàn nói những từ như “định vị” rồi cả “hắc ám”?

Trời đất, nếu nó mà đồng tính nữa thì làm sao sống nổi ở Gravesend này. Mình vò mái tóc nó. “Được rồi, chị hứa sẽ học thuộc mê cung của Jacko.” Rồi Jacko ôm mình, thật kỳ lạ vì Jacko vốn không phải là đứa nhỏ thích được ôm ấp. “Nghe nè, chị không đi đâu xa mà… Khi nào lớn lên Jacko sẽ hiểu, rồi…”

“Chị dọn tới ở chung với anh bạn trai.”

Tới giờ thì mình chẳng lý gì mà choáng nữa. “Ừ.”

“Chị Holly bảo trọng.”

“Vinny tử tế lắm. Đợi má nguôi rồi mình sẽ gặp lại nhau – mình vẫn gặp anh Brendan sau khi ảnh lấy chị Ruth, đúng không?”

Nhưng Jacko chỉ nhét tấm bìa với mê cung vào sâu trong túi mình, nhìn mình lần cuối rồi lỉnh đi.

Má ôm một giỏ đựng đầy thảm dơ, đứng ngay trên đầu cầu thang tầng một, làm ra bộ như không thèm chực sẵn. “Tui không nói chơi. Cô bị cấm cửa. Đi lên gác ngay. Tuần tới thi rồi. Lo ôn bài đi.”

Mình nắm chặt lan can. “Ở nhà má thì phải theo luật của má, phải vậy không. Được rồi. Tui cóc thèm luật của má, cóc thèm nhà má, cóc thèm cảnh má cứ nóng lên là chưởng tui nữa. Má mà là tui thì đời nào má chịu nhịn, đúng không?”

Gương mặt má giật giật mấy cái, cứ như thể đang nghĩ nếu bây giờ má lựa lời, mình sẽ ngồi xuống mà làm hòa. Nhưng, không hề, má chỉ nhìn cái túi thể thao của mình, cười khinh khỉnh như thể má không ngờ mình khờ tới vậy. “Trước kia cô cũng từng là đứa có đầu óc.” Vậy là mình cứ bước tiếp, xuống thẳng tầng trệt.

Ở trên kia, giọng má rít lên. “Không đi học nữa sao?”

“Má đi học đi, nếu má thấy quan trọng tới vậy!”

“Tui đâu có được sướng như cô! Tui phải chạy quán, chăm anh em nhà cô, chăm cô, chăm Brendan, chăm Sharon rồi Jacko, cho mấy người cơm ăn áo mặc, cho học hành. Để sau này cô không phải đi chùi cầu tiêu, đi đổ gạt tàn. Để cô không phải nai lưng đầu tắt mặt tối.” Nước đổ đầu vịt. Mình bước tiếp xuống cầu thang.

“Nhưng được rồi, cô đi đi. Đi đi. Đi cho biết mùi. Giỏi lắm ba ngày thằng Romeo đó sẽ đá cô ra khỏi cửa. Cô cứ tưởng đàn ông ưa đàn bà con gái ở phẩm hạnh tính cách sao, hả Holly. Không có đâu.”

Mình lờ đi. Từ lối sảnh mình nhìn thấy Sharon đứng sau quầy bar, chỗ kệ nước trái cây. Nó đang giúp ba xếp hàng lên kệ, nhưng mình biết nó nghe được hết. Mình vẫy tay chào nó, con nhỏ run run vẫy lại. Giọng ba vọng lên từ dưới tầng hầm, ngân nga bài “Chuyến phà qua dòng Mersey”. Tốt nhất là đừng đả động gì tới ổng ngay lúc này. Trước mặt má, kiểu gì ba cũng hùa với bả. Rồi ba sẽ bô lô với đám khách quen “Dại gì mà xen vô chuyện đàn bà con gái”, rồi cả đám sẽ gật gù, lẩm bẩm, “Chính xác luôn Dave” Với nữa mình không muốn đứng đó khi ba biết chuyện Vinny. Mình không xấu hổ gì cả, chỉ là không muốn ở đó thôi. Con chó Newky đang ngủ trong giỏ. “Mày là con chó hôi nhất Kent,” mình nói với nó, chỉ để không òa khóc, “Đồ ve rận gớm ghiếc.” Mình vỗ lên cổ nó, kéo chốt cửa hông rồi bước ra Hẻm Marlow. Sau lưng, cửa đóng đánh cộp.

Phố West vừa sáng vừa tối, như màn hình TV liên tục bị chỉnh. Mình đeo kính râm vào. Cả thế gian như đi trong mơ, sặc sỡ hơn, sống động hơn. Cổ họng mình đau rêm, mình đang run. Không ai chạy đuổi theo từ quán. Tốt rồi. Một chiếc xe tải chở xi-măng rầm rập đi qua, bụi khói khiến cây dẻ ngựa nghiêng ngả, xào xạc. Mình ngửi thấy mùi mặt đường nhựa nóng ran, mùi khoai tây chiên và mùi rác rến đầy tràn nguyên cả tuần – công nhân vệ sinh lại đình công nữa.

Chim chóc lượn qua lượn lại hót líu lo như ống sáo thiếc có cột dây mà người ta hay mua làm quà sinh nhật cho con nít, hồi trước thôi chứ giờ cũng hiếm. Mấy thằng nhãi con chơi đá lon trong công viên gần nhà thờ ở Ngõ Quẹo. Bắt nó! Ở sau cái cây đó! Thả tao ra! Đồ con nít hôi. Stella nói là chỉ nên bồ với đàn ông lớn tuổi: bọn trai choai choai giống như cây cà rem, vừa cầm tới tay đã chảy nước. Chỉ có mỗi Stella biết chuyện Vinny – hôm ở tiệm Magic Bus ngày thứ Bảy đầu tiên cũng có Stella. Lúc Stella chỉ mình hút thuốc, mình nôn thốc tháo nhưng nó không hề cười hay kể lại cho ai nghe, nó còn chỉ cho mình hết chuyện đàn ông con trai. Stella đúng là đứa con gái hay ho nhất trong khóa mình ở trường.

Ngõ Quẹo bẻ ngoặt lên từ dọc bờ sông. Mình rẽ lên phố Queen, sém chút nữa thì tông sầm vào Julie Walcott đang đẩy xe em bé. Đứa nhỏ khóc inh tai trong xe, còn Julie trông bơ phờ rũ rượi. Julie có bầu, bỏ học. Mình và Vinny cực kỳ cẩn thận, tụi mình chỉ có quan hệ mỗi một lần mà không dùng bao cao su, là ngay lần đầu tiên. Mà khoa học chứng minh rồi, quan hệ lần đầu không thể dính bầu. Stella nói vậy mà.

Cờ phướn treo khắp phố Queen, như thể ăn mừng Ngày Độc Lập của Holly Sykes. Bà người Scotland ở tiệm bán len đang tưới những giỏ hoa treo, ông Gilbert thợ kim hoàn đang đặt mấy khay nhẫn ra chỗ cửa sổ, hai ông hàng thịt Mike và Todd đang khiêng một con heo cụt đầu từ trong thùng xe tải ra, trong xe còn treo một tá xác heo bò treo lủng lẳng. Bên ngoài thư viện mấy người bên công đoàn đang cầm xô quyên góp ủng hộ thợ mỏ đình công. Đảng viên đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa cầm khẩu hiệu CẦN THAN KHÔNG CẦN TRỢ CẤP, rồi THATCHER TUYÊN CHIẾN VỚI CÔNG NHÂN. Ed Brubeck lượn xe đạp tới. Mình bước ngay vào chợ, tránh mặt hắn. Ed chuyển từ Manchester tới Gravesend hồi năm ngoái sau khi ông già đi tù vì tội trộm cắp và hành hung. Hắn không có bạn bè gì, mà hình như cũng chẳng thèm kết bạn với ai. Thường kiểu đó ở trường mình dễ gì sống nổi, nhưng từ hồi một đứa lớp trên chưa gì đã bị Ed đấm cho gãy mũi thì không ai dám đụng đến hắn nữa. Ed đạp xe ngang qua mà không nhìn thấy mình, trên ghiđông có cột cần câu cá. Mình đi tiếp. Ngay trước quầy trò chơi điện tử người hát rong đang chơi nhạc đám ma bằng kèn clarinet. Một người đi qua quăng đồng xu vào hộp kèn, vậy là anh ta chuyển sang chơi nhạc nền phim bộ Dallas. Khi ngang qua tiệm đĩa Magic Bus Records mình ghé mắt liếc vô. Hôm đó mình đang xem danh mục chữ R, tìm đĩa của “Ramones”. Vinny nói là chàng đang xem danh mục chữ H, để tìm “Hấp dẫn,” “Hứng tình”, và “Holly”. Phía sau tiệm có mấy cây guitar cũ. Vin đánh được khúc dạo đầu của bài “Stairway to Heaven” nhưng chưa bao giờ chơi quá chỗ đó cả. Mình sẽ tự học chơi guitar trên đàn của Vin mỗi khi chàng đi làm. Vin và mình sẽ lập ban nhạc. Tại sao không? Tina Weymouth là con gái mà chơi guitar bass trong Talking Heads còn gì. Tưởng tượng ra bộ mặt của má, khi vừa nói “Không má con gì với nó nữa,” rồi thấy mình lên chương trình Top of the Pops. Vấn đề của má là má chưa bao giờ yêu ai sâu sắc như mình với Vinny yêu nhau. Má với ba cũng ô kê, nhưng cả nhà ngoại ở Cork chẳng ưa gì chuyện ba không phải là dân Ireland, lại còn không phải dân Công giáo. Mấy người bà con ở Ireland rất khoái kể mình nghe chuyện ba làm má có bầu anh Brendan trước khi hai người đám cưới. Nhưng hai người ở với nhau tính tới giờ đã được hai mươi lăm năm, vậy cũng không đến nỗi, nhưng cái chính là, má với ba không có sự đồng điệu tuyệt vời như mình với Vin. Stella nói mình với Vin là một cặp trời sinh. Nhỏ nói là nhìn vô thấy ngay, tụi mình sinh ra để cho nhau.

Bên ngoài ngân hàng NatWest trên phố Milton mình tình cờ gặp anh Brendan. Tóc vuốt keo, cà vạt hoa hòe ngoằn ngoèo, áo vét khoác hờ qua vai. Nhìn qua cứ tưởng ông anh mình đang đi tới Trường Nam Thanh Nữ Tú, chớ không phải tới văn phòng Scott và Conway. Ông anh mình đẹp trai có tiếng, đốn tim nhiều người, nhất là trong đám chị của mấy đứa bạn mình – ặc ặc nghe mà mắc ói. Anh mình lấy chị Ruth, là con gái của ông Conway sếp ảnh. Đám cưới ở tòa thị chính, đãi tiệc hoành tráng ở Câu lạc bộ điền dã Chaucer. mình không làm phụ dâu vì mình không thích mặc đầm, nhất là thể loại đầm mặc vào khiến mình giống như búp bê Cuốn theo chiều gió mà người ta hay sưu tầm. Vậy là Sharon và đám cháu gái của chị Ruth làm hết mấy trò đó, bà con bên ngoại từ Cork qua dự rất đông. Má cưng Brendan như cục vàng, Brendan thì thương má nhất nhà. Kiểu gì hai người cũng sẽ ngồi mổ xẻ những gì mình sắp nói ra.

“Chào ông anh,” mình lên tiếng. “Sao rồi?”

“Ngon lành. Quán hôm nay sao?”

“Ổn. Bữa nay má tự dưng vui lắm.”

“Vậy hả?” Brendan mỉm cười, ngơ ngác. “Tại sao vậy?”

Mình nhún vai. “Chắc là tốt ngày.”

“OK.” Brendan nhìn túi thể thao của mình. “Đi đâu xa hả?”

“Không có. Chỉ tới nhà Stella Yearwood ôn tập tiếng Pháp, rồi ngủ lại luôn. Tuần tới thi rồi.”

Brendan hơi bị choáng. “Em gái ngoan quá ta.”

“Chị Ruth đỡ hơn chưa?”

“Cũng không hơn mấy. Chúa mới biết sao người ta gọi ốm nghén là ‘chứng buồn nôn buổi sáng’ chứ nửa đêm còn tệ hơn.”

“Chắc là để tập cho anh quen, khi đứa nhỏ chui ra,” mình cà khịa. “Rồi sẽ mất ngủ triền miên, cãi vã, nôn trớ… Cần phải dai sức lắm.”

Ông anh mình không thèm chấp. “Chắc vậy.” Khó mà hình dung Brendan trong vai bố trẻ con, nhưng đến Giáng Sinh này thì đúng vậy.

Sau lưng mình ngân hàng NatWest bắt đầu mở cửa, nhân viên ngân hàng lục tục đi vào. “Ông Conway chắc không đuổi việc con rể đâu,” mình nói với Brendan, “nhưng chẳng phải anh bắt đầu làm lúc chín giờ sao?”

“Đúng rồi. Hẹn ngày mai gặp nhé, khi cưng đã ôn tập căng thẳng xong. Má rủ hai đứa tụi anh về ăn trưa. Cưng đi vui ha.”

“Chưa hôm nào vui như hôm nay,” mình nói với ông anh, cũng là gián tiếp nói với má.

Brendan nở nụ cười ăn tiền, rồi lỉnh đi, hòa vào dòng người mặc complet và đồng phục đang tiến đến các văn phòng, cửa hiệu, nhà máy.

Thứ Hai mình sẽ đi cắt thêm một chìa khóa nhà Vinny, nhưng hôm nay mình vẫn dùng lối đi bí mật như thường lệ. Dọc theo phố The Grove, ngay trước sở thuế là con hẻm khuất có thùng rác mở, đầy mấy túi rác nồng nặc mùi tã lót sôi bùng bục gớm ghiếc. Một con chuột màu nâu nhìn mình, vẻ câng câng bố đời. Mình đi dọc theo hẻm, rẽ phải, lọt vào giữa hàng rào vườn sau của dãy nhà phố Peacock và bức tường sở thuế. Tít dưới kia, căn nhà cuối cùng cạnh đường xe lửa là nơi Vinny ở. Mình chen qua mấy tấm liếp lỏng lẻo, lội vào vườn sau nhà Vinny. Cỏ dại mọc cao tới eo mình, mấy cây mận bắt đầu ra trái, nhưng chắc chỉ có đám ong và sâu bọ ăn hết, Vinny nói là chàng không thèm hái mận. Cứ như mình đang đi vào khu rừng trong truyện Công Chúa Ngủ Trong Rừng.

Khu rừng um tùm nuốt trọn cả tòa lâu đài nơi người ta ngủ quên một trăm năm. Đáng ra Vinny phải dọn dẹp vườn tược ngăn nắp cho bà cô, nhưng bà cô ở tuốt trên King’s Lynn, lại chẳng bao giờ ghé thăm. Với nữa, Vinny là dân chơi xe phân khối lớn, không phải dân làm vườn. Để ổn định rồi mình sẽ ra tay dọn dẹp. Khu vườn cần có bàn tay phụ nữ, thế thôi. Có khi mình sẽ bắt đầu dọn ngay hôm nay, sau buổi tự học đàn guitar. Trong góc vườn, sau bụi mâm xôi có nhà kho nhỏ chứa đồ làm vườn và máy cắt cỏ. Hướng dương, hồng, bươm bướm, cẩm chướng, oải hương, rồi cả rau thơm trong mấy chậu đất, mình sẽ trồng hết chừng đó. Mình sẽ làm bánh scone, làm bánh pie nhân trái mận, làm bánh ga-tô cà phê rồi Vinny sẽ phải thốt lên, “Lạy Chúa, Holly làm sao anh sống được mà không có cưng?” Hết thảy tạp chí đều nói là đường tới trái tim đàn ông phải đi qua dạ dày. Cạnh thùng nước mưa có một bụi cây màu tía tua tủa như ngón tay, bươm bướm trắng bay quanh, như kim tuyến rắc, đăng ten viền; sống động vô cùng.

Cửa sau không bao giờ khóa vì Vinny đã làm mất chìa. Hộp bánh pizza và ly rượu của hai đứa vẫn còn nằm trong chậu rửa từ tối hôm qua, không có dấu hiệu gì của bữa sáng cả – chắc là Vinny ngủ quên rồi phải ba chân bốn cẳng chạy đi làm như thường lệ. Chỗ này cần một cuộc tổng vệ sinh dọn dẹp, hút bụi. Nhưng đầu tiên mình phải làm ly cà phê và hút điếu thuốc đã – mình chỉ mới ăn một nửa phần Weetabix trước khi má ra đòn như Muhammad Ali. Mình quên mua thuốc lá trên đường đi – gặp Brendan xong mình quên khuấy mất, vậy là mình lóc cóc chạy lên cầu thang dốc đứng, vào phòng ngủ của chàng. Đúng ra phải nói là phòng ngủ của hai đứa. Rèm cửa vẫn chưa kéo, không khí thum thủm như tất dơ, vậy là mình kéo rèm, mở cửa sổ, quay lưng lại, rồi điếng cả người khi thấy Vinny trên giường, mặt thộn như ngỗng ị. “Là em, em mà,” mình lắp bắp. “Xin lỗi, em… em… em tưởng anh đi làm rồi.”

Chàng đặt tay lên ngực, vẻ như suýt phá ra cười, như thể vừa bị trúng đạn. “Lạy Chúa, Hol. Cứ tưởng ăn trộm vào nhà!”

Mình cũng gượng cười. “Anh… ở nhà.”

“Nhầm lịch – con bé thư ký mới đúng là vô dụng – vậy là Kev gọi nói hôm nay anh được nghỉ.”

“Hay quá,” mình nói. “Vậy thì tuyệt, vì… em có chuyện này hơi bị bất ngờ.”

“Tuyệt, anh thích bất ngờ lắm. Nhưng đầu tiên đặt hộ anh ấm nước nhỉ? Anh sẽ xuống ngay. Trời đất, gì nhỉ? Anh hết cà phê rồi – cưng chịu khó chạy ra Staffa’s mua giùm anh một lọ Gold Blend. Mua về rồi anh trả tiền lại cho.”

Mình phải nói ngay. “Má biết chuyện tụi mình rồi, Vin à.”

“À há?” Trông chàng có vẻ nghĩ ngợi. “À. Thế bà ấy…”

Tự dưng mình sợ chàng không muốn có mình nữa. “Cũng không hay ho lắm. Đúng ra là phát điên lên. Nói là không cho em gặp anh nữa, gần như dọa nhốt dưới hầm. Vậy là em bỏ đi. Vậy nên…” Vinny hồi hộp nhìn mình, không hiểu ý.

“Vậy nên… em… em ở với anh được không? Ít nhất vài hôm coi sao.”

Vinny nuốt khan. “Được rồi… Được thôi. Hiểu rồi. Rồi. Ô kê thôi.”

Nghe chẳng có vẻ gì là ô kê cả. “Vậy là anh đồng ý hả Vinny?”

“Ừ. Đương nhiên. Ừm. Nhưng giờ anh thèm cà phê quá.”

“Thật chứ? Ôi, Vin!” mình thấy nhẹ cả người, như vừa được tắm bồn nước ấm. Mình ôm lấy chàng. Chàng đẫm mồ hôi. “Anh dễ thương nhất trên đời, Vinny à. Vậy mà em cứ sợ anh sẽ…”

“Không lẽ để bé mèo cưng sexy ngủ dưới gầm cầu sao? Nhưng thiệt tình, Hol à, anh thèm cà phê như Dracula thèm uống máu, nên…” Chàng không nói hết được câu vì mình đã hôn chàng, Vinny của mình, bạn trai của mình, từng đi New York, từng bắt tay David Byrne. Tình yêu trong mình trào dâng, như nồi hơi sôi bùng bục, rồi mình kéo chàng lại, cả hai lăn trên đống chăn mền, nhưng tự dưng đống chăn động đậy rồi tay mình kéo tấm chăn ra và trước mặt mình là Stella Yearwood, nhỏ bạn tốt nhất trần đời của mình. Trần truồng như nhộng. Mình thấy như đang gặp ác mộng, chỉ có điều ác mộng lại là sự thật.

Mình há hốc miệng nhìn chỗ đó của nó, cho tới khi nó nói, “Không lẽ của tui khác với của bồ lắm sao?”

Rồi mình há hốc nhìn Vinny, lúc này mặt mày như vừa bĩnh ra.

Vinny bật cười ngô nghê: “Không phải như cưng nghĩ đâu.”

Stella, không chút ngượng ngùng, lấy chăn che người rồi quay sang Vinny, “Đừng có mà dở hơi. Đúng y như bồ nghĩ đó, Holly à. Tụi tui sẽ nói với bồ, nhưng như bồ thấy đó, bất ngờ quá. Thực tình là bồ đã bị đá. Chẳng hay ho gì, nhưng cũng là chuyện thường, ai cũng gặp, à, hầu như ai cũng gặp thì đúng hơn, vậy nên c’est la vie. Bồ đừng lo, rồi còn có nhiều Vinny nữa. Vậy nên giờ bồ đừng ỉ ôi nữa mà biến phứt cho rồi. Để đỡ mất mặt vậy?”

• • •

Cuối cùng, khi khóc xong, mình thấy mình đang ngồi trên bậc thang lạnh lẽo ở một khoảng sân nhỏ, chung quanh có nhà gạch cũ năm sáu tầng, cửa sổ kéo kèm. Cỏ dại mọc lên giữa những kẽ gạch lót sân, hạt bồ công anh bay bay như tuyết trong quả cầu tuyết chặn giấy. Sau khi đóng sầm cửa nhà Vinny mình thẫn thờ bỏ đi tới sau lưng Bệnh viện Đa khoa Gravesend, nơi bác sĩ Marinus từng giúp mình đuổi cô Constantin hồi bảy tuổi. Lúc nãy mình có đấm Vinny không? Mình thấy mình như trôi trong nước rỉ đường đen đặc. Thấy không thở được. Hắn nắm lấy tay mình, đau điếng, đến giờ vẫn còn đau, Stella sủa vào mặt mình, “Đừng làm trò con nít nữa, biến đi Holly. Đây là đời thiệt, chứ có phải là phim bộ Dynasty đâu!” Rồi mình chạy ra, đóng sầm cửa, chạy thật nhanh, đến bất kỳ đâu, một chốn vô chừng, một nơi nào đó… Mình biết nếu dừng lại mình sẽ gục ngã, sẽ mắt mũi đầm đìa, rồi tai mắt của má sẽ trông thấy và tâu lại để má tha hồ hí hửng. Vì má đã nói đúng mà. Mình yêu Vinny như hắn là một phần của mình, còn với hắn mình chỉ là một tép kẹo gôm. Khi đã nhạt miệng hắn nhổ toẹt mình ra, bóc ngay một tép khác, nhưng không phải là ai khác, mà lại là Stella Yearwood. Nhỏ bạn tốt nhất của mình. Sao hắn nỡ làm vậy? Sao nó nỡ làm vậy? Không khóc nữa! Cố nghĩ đến điều gì khác…

Holly Sykes và Chuyện quái đản, Phần 1. Năm 1976 mình bảy tuổi. Cả mùa hè trời không có lấy giọt mưa, mấy khu vườn chuyển thành màu nâu. Mình nhớ cảnh xách xô đứng xếp hàng cuối phố Queen với Brendan và má, chờ hứng nước ở vòi công cộng, năm đó nóng hạn kinh hồn. Mùa hè đó mình cũng bắt đầu gặp ác mộng ban ngày. Mình nghe có giọng nói trong đầu. Mình không điên, cũng không ngớ ngẩn, cũng chẳng có gì đáng sợ lắm, ban đầu thì không… mình gọi mấy người đó là Người Trên Đài, bởi vì ban đầu mình tưởng ở phòng kế bên có mở đài radio. Giọng nói nghe rõ nhất lúc đêm tối nhưng khi đi học mình cũng nghe, nếu chung quanh đủ im ắng, chẳng hạn như khi làm bài kiểm tra. Ba bốn giọng cùng nói một lúc, mình không thể nghe rõ họ đang nói gì. Brendan từng kể cho mình nghe chuyện nhà thương điên có mấy người mặc đồ trắng, vậy nên mình không dám kể với ai cả. Má đang mang bầu Jacko, ba bận túi bụi ở quán, Sharon mới ba tuổi còn Brendan thì lúc đó đã tồ tệch vô đối. Mình biết nghe thấy giọng nói trong đầu là không bình thường, nhưng cũng chẳng hại gì, nên có lẽ chỉ là một thứ bí mật riêng tư, kiểu ai cũng có.

Một đêm mình gặp ác mộng, mình thấy bầy ong sát thủ bị xổ ra trong quán Thuyền trưởng Marlow, mình bừng tỉnh, mồ hôi nhễ nhại. Một cô đang ngồi ở chân giường mình lên tiếng, “Đừng sợ Holly à, không sao đâu,” rồi mình nói, “Cảm ơn má,” vì còn ai vào đó nữa? Rồi mình nghe giọng má cười dưới bếp, sau hành lang – lúc này phòng mình chưa dọn lên gác xép. Vậy là mình nghĩ mình đã nằm mơ có người ngồi trên giường, nên mình bật đèn lên để chứng minh.

Rõ là không có ai ở đó.

“Đừng sợ,” cô nói, “ta cũng là người thật như em.”

Mình không hét lên, cũng không hoảng loạn. Rõ là mình đang run, nhưng ngay cả khi sợ, mình vẫn có cảm giác đó chỉ một trò đánh đố, một bài kiểm tra. Vậy là mình thu hết bình tĩnh, rồi hỏi xem cô có phải là ma không. “Không phải ma,” cô vô hình đáp, “nhưng là một người khách ghé thăm tâm trí em. Vậy nên em mới không thấy ta.” Mình hỏi vậy cô tên gì. Constantin, cô đáp. Cô nói đã xua Người Trên Đài đi rồi, vì họ làm mình mất tập trung, cô mong là mình không phiền. Mình đáp dạ. Cô Constantin tiếp rằng cô phải đi ngay nhưng cô muốn trở lại thăm mình sớm, vì mình là “một cô bé xuất chúng”.

Rồi cô đi mất. Phải lâu sau mình mới ngủ được, nhưng đến khi chìm vào giấc ngủ, mình cảm thấy như mình vừa có thêm một người bạn.

Giờ sao? Đi về nhà? Mình thà nhai đinh còn hơn. Má sẽ làm món bánh thịt bốc khói chết giẫm cho mình, rưới đầy nước thịt chết giẫm, rồi ngồi đó vênh mặt nhìn mình ăn từng miếng chết giẫm. Rồi từ giờ cho tới mãi mãi về sau, nếu mình dám không nghe lời, má sẽ nhắc lại Vụ Vinny Costello. Được rồi, mình không dọn đến phố Peacock, nhưng mình vẫn có thể bỏ nhà đi, ít nhất là đi một thời gian, để chứng tỏ với má rằng mình đã đủ lớn, tự lo được, má đừng coi mình như đứa nhỏ bảy tuổi nữa. Mình có đủ tiền ăn một thời gian, đợt nắng nóng này xem chừng còn kéo dài nữa, vậy cứ coi như mình nghỉ hè sớm. Khỏi thi cử học hành gì nữa. Stella kiểu gì cũng sẽ bẻm mép, gieo tiếng rằng mình chỉ là một con nhỏ mít ướt lụy tình, không chấp nhận nổi chuyện bị bạn trai chán. Đến chín giờ sáng thứ Hai, Holly Sykes sẽ bị cả trường Windmill Hill cười cho thúi mũi. Chứ gì nữa.

Còi xe cấp cứu mỗi lúc một gần, nghe gấp gáp hơn, vọng qua khoảng sân rồi ngừng bặt, như người ta nói chưa hết câu… Mình xóc lại túi thể thao rồi đứng dậy. Được rồi, giờ đi đâu? Bọn choai choai ở Anh bỏ nhà ra đi đều thẳng tiếng về London, mơ mộng rằng sẽ gặp người phát hiện ra tài năng của mình, hoặc sẽ gặp một bà tiên mẹ đỡ đầu nào đó, nhưng mình đi hướng ngược lại, dọc theo bờ sông, về phía đầm lầy Kent: lớn lên trong quán, mình đã nghe quá nhiều chuyện về các thể loại cha mẹ đỡ đầu thường ra tay giúp đỡ thiếu niên dạt nhà ở London. Biết đâu mình sẽ tìm được một cái chuồng bò hay nhà nghỉ bỏ trống nào đó để dừng chân một lúc. Nghe cũng được. Vậy là mình đứng dậy, rời khỏi bệnh viện. Bãi xe đầy những tấm kính chắn gió lấp loáng trong nắng chói. Trong sảnh lễ tân râm mát, mình thấy người ta đang hút thuốc, chờ đợi tin tức.

Bệnh viện, đúng là chỗ lạ lùng…

Holly Sykes và Chuyện quái đản, Phần 2. Vài tuần sau đó, mình bắt đầu nghĩ là hẳn mình đã nằm mơ thấy cô Constantin, vì cô không trở lại nữa. Nhưng mình không biết “xuất chúng” có nghĩa là gì… Mình tra từ điển rồi tự hỏi tại làm sao từ đó lọt vào đầu mình, nếu không phải là do cô Constantin nói. Cho đến bây giờ mình vẫn không có câu trả lời. Nhưng rồi một đêm tháng Chín, sau khai giảng, mình tròn tám tuổi, mình thức dậy và biết cô có ở đó, mình mừng hơn là sợ. Mình thích là cô bé “xuất chúng” mà. Mình hỏi cô Constantin cô có phải là thiên thần không. Cô bật cười, nói không phải, cô là người thường, giống mình vậy, nhưng cô học được cách thoát ra khỏi thân xác để đi thăm bạn bè. Mình hỏi vậy có phải cô là bạn mình không, cô hỏi lại, “Em có muốn vậy không?” rồi mình nói có chứ, mình muốn vậy lắm, rồi cô trả lời “Vậy em sẽ là bạn của ta.” Rồi mình hỏi cô Constantin cô từ đâu đến, cô nói là từ Thụy Sĩ. Để tỏ bộ thông minh, mình hỏi tiếp có phải Thụy Sĩ là nơi người ta phát minh ra sô cô la không, cô khen mình là một trong những em bé sáng dạ nhất mà cô từng biết. Kể từ khi đó đêm nào cô cũng ghé thăm mình, mỗi lần vài phút, rồi mình kể cô nghe chuyện ngày hôm đó, cô lắng nghe, an ủi mình, động viên mình. Lúc nào cô cũng đứng về phía mình, khác hẳn với má và Brendan. Mình cũng hỏi cô nhiều thứ. Đôi lúc cô trả lời thẳng, ví dụ khi mình hỏi tóc cô màu gì, cô nói là “màu vàng của crom”, nhưng thường cô tránh câu hỏi của mình, cô cứ nói là “Khoan tiết lộ bí mật đã, Holly nhé?”

Rồi một ngày, Susan Hillage, trùm bắt nạt ở trường đón đường ăn hiếp mình khi đi học về. Ba của Susan đi lính ở Belfast. Má mình là dân Ireland, vậy là nó túm đầu mình, không để mình đi, bắt mình phải nhận là nhà mình là đồ nhà quê, chuyên cất than trong bồn tắm và ủng hộ quân IRA. Mình không chịu nhận, vậy là nó vứt túi xách của mình vô gốc cây, rồi nói là nó sẽ bắt mình trả giá cho mấy người bạn của ba nó bị giết ở Belfast. Nó còn nói là nếu mình dám hé miệng với ai, cả trung đội của ba nó sẽ đốt quán nhà mình, cả nhà mình sẽ thành thịt nướng, tất cả là lỗi của mình hết. Mình không phải là đứa dễ bị bắt nạt, nhưng lúc đó mình nhỏ xíu, mà Susan Hillage dọa toàn những thứ khiến mình sợ. Mình không nói gì với ba má, nhưng mình sợ phải đi học ngày hôm sau, sợ sẽ có chuyện. Nhưng đêm đó khi mình thức dậy giữa nệm ấm và giọng cô Constantin cất lên thì mình không chỉ nghe thấy giọng cô trong đầu, mà thấy cô ngồi ngay đó, trên chiếc ghế tựa ở chân giường. Cô nói “Dậy thôi, bé con ngái ngủ.” Cô còn trẻ, tóc màu ánh vàng, môi cô chắc là đỏ như màu cánh hoa hồng, trong ánh sáng trăng đã chuyển thành màu tím đen. Cô mặc áo đầm dài. Cô thật xinh đẹp, như tranh vẽ. Cuối cùng mình mở miệng hỏi có phải mình đang mơ không. Cô trả lời: “Ta ở đây vì cô bé thông minh xuất chúng của ta tối nay có chuyện buồn, ta muốn biết tại sao.” Vậy là mình kể cô nghe chuyện Susan Hillage. Cô Constantin ngồi nghe mà không nói gì. Cuối cùng, cô nói là cô rất ghét mấy đứa bắt nạt rồi hỏi mình có muốn cô ra tay giải quyết không? Mình nói dạ có nhưng trước khi mình kịp hỏi thêm thì đã có tiếng chân của ba ngoài hành lang, rồi ba mở cửa, rồi ánh đèn ngoài đầu cầu thang rọi thẳng vào mắt mình, khiến mình bị chói. Làm sao mình giải thích chuyện cô Constantin đang ngồi trong phòng mình, lúc một giờ sáng đây? Nhưng ba làm như không có ai ở đó. Ba chỉ hỏi mình có sao không, vì ba nghe có tiếng nói. Mà đúng thế, cô Constantin không có ở trong phòng. Mình nói là hẳn mình đã ú ớ khi nằm mơ.

Mà mình cũng tin là vậy. Ảo thanh là một chuyện, nhưng còn cô mặc áo đầm ngồi đó? Sáng hôm sau mình đi học như thường, không thấy Susan Hillage đâu cả. Cũng không ai biết nó ở đâu. Thầy hiệu trưởng đến trễ, chạy vào hội trường thông báo rằng Susan Hillage đã bị xe tải tông khi đang đạp xe đến trường, bạn bị thương nặng, tất cả chúng ta nên cầu nguyện cho bạn bình phục. Nghe thầy nói, mình thấy lạnh cóng, tê cứng, máu như chạy khỏi đầu, hội trường như tan biến xung quanh rồi cuối cùng, mình còn không nhớ được đã ngã đập đầu xuống sàn ra sao.

Sông Thames hôm nay gờn gợn, xanh màu bùn. Mình cứ đi, đi nữa, đi khỏi Gravesend, đi về phía đầm lầy Kent. Chưa gì đã tới mười một giờ rưỡi, thị trấn chỉ còn là một mô hình nhỏ xíu nằm xa lắc sau lưng. Gió thổi tung những đám mây từ ống khói của nhà máy Blue Circle, phất phơ như những chiếc khăn mùi-soa rút ra từ trong túi của nhà ảo thuật. Bên tay phải, xa lộ A2 vắt qua các bãi đầm lầy văng vẳng tiếng xe cộ từ xa gầm gừ. Thầy Markey già có nói rằng xa lộ này được xây dựng chồng lên một con đường do người La Mã xây từ thời La Mã. Xa lộ A2 thẳng tới Dover, nơi đó có tàu đi châu Âu lục địa, thời La Mã người ta cũng đi đường đó. Hai hàng cột điện trên đường chạy mãi về xa. Giờ này ở quán chắc ba đang hút bụi ở quầy, trừ phi Sharon chịu làm để được ba bảng tiền tiêu vặt của mình. Trời vẫn oi bức, buổi sáng kéo dài lê thê, hệt như mỗi khi có ba tiết Toán cùng lúc, mặt trời khiến mình mỏi mắt. Mình để quên kính râm trong bếp nhà Vinny, ngay chỗ úp bát đĩa. Mười bốn bảng chín mươi chín xu, cặp kính đó. Mình mua hồi đi chung với Stella. Nó nói rằng nó thấy người ta bán kính y như vậy trên phố Carnaby, đắt gấp ba lần, vậy là mình tưởng mình mua được món hời. Rồi mình tưởng tượng ra cảnh mình bóp cổ Stella, cánh tay và bàn tay mình tự dưng căng cứng lên, y như mình đang làm vậy thật.

Khát nước quá. Giờ này hẳn má đã nói với ba về chuyện Holly nông nổi bỏ nhà đi, nhưng mình cá một triệu bảng, rằng kiểu gì má cũng thêm mắm dặm muối. Rồi ba sẽ kể lại chuyện “phụ nữ vùng lên” với cả ba ông khách quen là PJ, Nipper và Dex bự. Rồi cả ba sẽ nhe răng cười như ba ông kễnh ngố. PJ sẽ giả bộ đọc báo the Sun “Trong này nói nè, ‘Các nhà thiên văn tại Đại học Củ chuối đã tìm ra bằng chứng mới cho thấy, bọn choai choai đúng là cái rốn của vũ trụ.’” Cả đám sẽ cười khùng khục, rồi Dave Sykes khét tiếng – ông chủ quán yêu thích của mọi nhà, sẽ tham dự với cái cười sặc sụa, y kiểu trời-đất-anh-vui-tánh-quá-tui-cười-muốn-tè-ra-quần. Để xem, đến thứ Tư mình chưa về thì họ còn cười được nữa không. Xa xa phía trước có mấy người đàn ông đang câu cá.

Chuyện quái đản, Màn cuối. Khi đang được bế ra phòng y tế, mình nghe tiếng Người Trên Đài quay lại. Hàng trăm người, cùng thầm thì một lúc. Mình sợ, nhưng không sợ bằng ý nghĩ rằng mình đã giết Susan Hillage. Vậy là mình kể cho bà y tá nghe về Người Trên Đài và cô Constantin. Bà y tá tội nghiệp tưởng mình bị choáng, hay tệ hơn, đã hóa điên, vậy là bà gọi cho má, rồi má gọi ngay cho bác sĩ gia đình. Trong ngày hôm đó mình được đưa đến bác sĩ chuyên khoa tai ở Bệnh viện Đa khoa Gravesend. Bác sĩ không tìm ra bệnh gì nhưng nói rằng có quen một chuyên gia tâm thần nhi khoa ở bệnh viện Great Ormond Street ở London, chuyên trị những ca như mình. Má la lên “Con gái tui không bị tâm thần,” nhưng bác sĩ dọa má bằng hai chữ “khối u”. Sau cái đêm tồi tệ nhất trong đời mình cứ cầu Chúa đừng để cô Constantin quay lại, mình đặt Kinh Thánh dưới gối nhưng vẫn không thể chợp mắt, Người Trên Đài vẫn còn đó. Rồi bác sĩ chuyên khoa tai gọi đến, nói rằng ông bạn chuyên gia một tiếng đồng hồ nữa sẽ đến Gravesend, má chở mình tới ngay được không?

Bác sĩ Marinus là người Hoa đầu tiên mà mình gặp, trừ mấy người ở Nhà hàng Ngàn thu mà thỉnh thoảng mỗi khi má mệt không nấu nổi lại sai mình và Brendan tới mua cơm hộp. Bác sĩ Marinus nói thứ tiếng Anh hoàn hảo, rất sang, giọng hơi nhẹ nhàng, nên phải lắng tai mới nghe được hết. Bác sĩ thấp người, gầy gầy nhưng dường như làm bừng sáng cả căn phòng. Đầu tiên ông hỏi mình về trường lớp, gia đình này kia, rồi hỏi mình về giọng nói trong đầu. Má cứ khăng khăng, “Con gái tui không bị điên, ông đừng có ý đó – nó chỉ bị choáng thôi.” Bác sĩ Marinus nói rằng ông ấy đồng ý với má, mình rõ là không điên gì cả, nhưng đầu óc con người rất khó hiểu. Để ông ấy loại trừ khả năng có khối u, má phải cho mình tự trả lời câu hỏi. Vậy là mình kể cho bác sĩ nghe chuyện Người Trên Đài và Susan Hillage, rồi cả chuyện cô Constantin. Má lại nhảy chồm chồm lên nhưng bác sĩ Marinus động viên má rằng hiện tượng ảo thanh – ác mộng giữa ban ngày, thực ra không phải hiếm gặp ở bé gái tuổi mình. Ông nói rằng tai nạn của Susan Hillage là chỉ là một sự tình cờ, ai cũng gặp những sự tình cờ khó tin như vậy trên khắp thế giới, ngay lúc này đây; đơn giản là vừa rồi đến lượt mình gặp, thế thôi. Má hỏi vậy có thuốc gì để mình khỏi bị ác mộng ban ngày nữa không, mình nhớ bác sĩ Marinus nói rằng, trước khi bàn đến thuốc men, ông ấy muốn thử một cách đơn giản hơn, cũng là phương pháp truyền thống ở quê ông. Cách này giống như châm cứu, bác sĩ giải thích, nhưng không dùng kim. Bác sĩ nhờ má nặn một điểm trên ngón tay giữa của mình, rồi đánh dấu bằng bút bi, rồi ông ấy dùng ngón cái chạm lên trán mình, ngay ở giữa. Như họa sĩ quệt một vệt màu. Mình nhắm mắt lại…

… rồi Người Trên Đài đi mất. Không phải chỉ ngừng nói, mà là đi mất hẳn. Má nhìn mặt mình thì hiểu ngay, vừa sốc vừa thấy nhẹ nhõm như mình. Má cứ hỏi, “Có vậy thôi sao? Không dây nhợ, không thuốc men gì sao?” Bác sĩ Marinus đáp là chỉ cần có vậy thôi.

Mình hỏi cô Constantin cũng đi luôn rồi sao.

Bác sĩ nói, ừ, đúng rồi, ít nhất là trong tương lai gần.

Hết chuyện. Hai má con ra về, mình lớn lên, cả Người Trên Đài lẫn cô Constantin đều không bao giờ trở lại. Mình có xem một vài phim tài liệu nọ kia về ảo giác tâm trí. Giờ thì mình biết cô Constantin chỉ là bạn tưởng tượng của mình – giống như chú Thỏ Boing Boing bạn của Sharon vậy, nhưng mình tưởng tượng hơi quá. Tai nạn của Susan Hillage chỉ là một sự tình cờ khó tin, như bác sĩ Marinus nói. Nhỏ đó không chết nhưng gia đình chuyển đến Ramsgate, có người nói là thực ra giờ nó cũng sống dở chết dở. Bác sĩ Marinus có lẽ đã làm phép thôi miên cho mình, chắc kiểu vậy, giống như mấy cái băng cassette giúp người ta bỏ hút thuốc. Từ dạo đó má không bao giờ dùng chữ “Tàu Khựa” để chỉ người Hoa nữa, và sẵn sàng cho một bài nếu có người dám dùng chữ đó trước mặt má. “Phải nói là ‘người Hoa’, không được nói ‘Tàu Khựa’,” Má sẽ phản pháo ngay, rồi thêm vào, “Bác sĩ người Hoa giỏi nhứt xứ này.”

Mình nhìn đồng hồ. Một giờ. Phía xa sau lưng mình có bóng người li ti đang câu cá ở những bãi cạn gần Công sự Shornemead. Phía trước có một bãi khai thác sỏi, có núi sỏi hình nón thật lớn và băng chuyền chuyển sỏi ra sà lan. Mình thấy được cả Pháo đài Cliffe, với những ô cửa như hốc mắt trống không. Ông già Sharkey có kể rằng chỗ đó trong chiến tranh là nơi cất giữ súng pháo bắn máy bay. Hồi đó người ở Gravesend cứ nghe tiếng súng nổ to thì biết ngay là có tối đa sáu mươi giây để chui vào hầm tránh bom dưới cầu thang hoặc sau vườn. Mình ước gì ngay giờ bom rớt xuống một ngôi nhà trên phố Peacock. Chắc là cả hai đang nhồm nhoàm pizza bữa trưa – Vinny sống bằng pizza vì hắn lười không nấu nướng gì. Chắc là đang cười mình. Mình tự hỏi liệu tối qua Stella có ngủ lại đó không. Tình yêu mà, mình từng nghĩ, chỉ cần có tình yêu. Ngu. Quá ngu! Mình đưa chân đá vào một hòn đá nhưng hóa ra lại là một phiến đá khá to, làm ngón chân muốn bầm dập. Đau buốt cả óc. Và rồi mắt mình nóng ran, ướt nhẹp – nước mắt ở đâu ra vậy trời? Hôm nay thứ chất lỏng duy nhất mình đụng tới là nước đánh răng và sữa đổ lên ngũ cốc Weetabix. Lưỡi mình giờ như miếng xốp cắm hoa. Dây đeo túi thể thao cứ trầy trợt, đau cả một mảng vai. Trái tim mình giờ như chú cún con bị người ta đánh đập tơi tả. Mình chẳng có gì trong bụng, nhưng quá buồn nên chưa thấy đói. Dù sao mình cũng không đi về nhà. Không có chuyện đó đâu.

Đến ba giờ chiều, đầu mình nóng ran, miệng khô khốc. Mình chưa bao giờ đi bộ xa đến vậy. Không có quán xá nhà cửa nào để vào xin một ly nước. Rồi mình để ý, thấy có một bà nhỏ người đang câu cá ở đằng mũi cầu tàu, cứ như có ai đó đã nhanh tay vẽ thêm bà ấy vào góc quang cảnh. Bà đứng khá xa chỗ mình, nhưng mình thấy được bà đang đổ nước từ bi-đông ra tách. Thường mình không quen xin xỏ, nhưng khát quá. Vậy là mình đi xuống bờ sông, đi dọc theo cầu tàu ra chỗ bà đứng, cố khua chân lộc cộc để bà khỏi giật mình. “Xin lỗi, bà cho cháu một chút nước được không? Cháu xin bà.”

Bà còn không quay lại nhìn. “Uống trà lạnh được không?” Giọng bà lão khàn khàn, như giọng người từ một xứ nóng xa xôi nào đó.

“Hay quá, cảm ơn bà. Cháu uống gì cũng được.”

“Cứ tự nhiên vậy, nếu đúng là uống gì cũng được.”

Vậy là mình đổ trà ra tách, không thèm lo vi trùng nọ kia. Trà này không giống trà bình thường nhưng là thứ mát nhất mình từng uống, mình để nước trà tuồn óc ách trong miệng. Giờ mình mới nhìn bà được rõ. Đôi mắt như kiểu mắt voi, nằm giữa gương mặt già nhăn nheo. Tóc bạc cắt ngắn, áo sơ mi vải dày nhem nhuốc, đầu đội mũ da rộng vành, trông bà như cả trăm tuổi. “Uống được không?” bà lão hỏi.

“Dạ được,” mình đáp. “Ngon lắm. Như vị cỏ.”

“Trà xanh đó. May mà ngươi uống gì cũng được.”

Mình hỏi, “Làm sao trà mà xanh được?”

“Vì cây trà làm ra lá trà màu đó chứ sao.”

Có bóng cá nhảy. Mình thấy đó rồi không thấy đâu nữa. “Hôm nay bà câu được nhiều không?”

Im lặng. “Năm con rô. Một con hương. Một buổi chiều lê thê.”

Mình chẳng thấy xô đựng cá đâu. “Vậy đâu hết rồi?”

Một con ong đậu xuống vành mũ bà lão. “Ta thả hết.”

“Nếu bà không thích cá thì câu làm gì vậy?”

Thêm vài giây im lặng. “Để có người nói chuyện.”

Mình nhìn quanh: lối mòn, khoảng đồng um tùm bụi mâm xôi, khu rừng cây bụi, con đường rậm rạp. Hẳn bà lão nói chơi. “Đâu có ai ở đây.”

Con ong có vẻ thích chỗ đậu mới, ngay cả khi bà lão khẽ động đậy, kéo dây câu lên. Mình đứng qua một bên. Bà kiểm tra lưỡi câu, xem còn mồi không. Nước nhỏ long tong, bắn lên trên những tấm ván cầu tàu khô khốc. Dòng sông xì xạt, sóng liếm vào bờ, nước vỗ óc ách quanh những cây trụ gỗ. Bà lão vẫn ngồi đó, cổ tay hất một cú thiện nghệ, vứt hòn chì lượn mấy vòng xuống nước, dây câu phừng phừng như dây đàn tranh, rồi hòn chì đậu lên mặt nước, đúng ngay chỗ cũ. Nước tỏa vòng, tỏa vòng. Yên tĩnh tuyệt đối…

Rồi bà lão làm một việc vô cùng kỳ khôi. Bà rút từ trong túi ra một mẩu phấn, viết lên miếng ván dưới chân, TÊN. Trên miếng tiếp theo bà viết, DÀI. Rồi miếng sau đó là hai chữ CỦA TA. Xong, bà lão cất viên phấn đi, trở lại câu cá.

Mình đợi bà lão giải thích, nhưng bà chẳng nói gì cả. “Là cái gì vậy?”

“Cái gì kia?”

“Bà vừa viết đó.”

“Là lời chỉ dẫn.”

“Chỉ dẫn ai vậy?”

“Cho một người, nhiều năm sau.”

“Nhưng viết bằng phấn mà. Trôi liền.”

“Trôi khỏi cầu tàu, đúng thế. Nhưng không trôi khỏi trí nhớ của ngươi được.”

Hiểu rồi, chắc là dân “ở trển” mới xuống. Nhưng mình sẽ không nói thẳng ra, vì mình vẫn còn thèm món trà xanh đó.

“Uống hết trà đi, nếu ngươi muốn vậy,” bà lão nói. “Từ giờ đến lúc ngươi và thằng bé đến Allhallows-on-Sea, ngươi sẽ không gặp hàng quán gì đâu…”

“Cảm ơn bà nhiều.” Mình rót đầy tách. “Bà chắc không đó? Còn có chút này thôi.”

“Phước đi để mà phước lại.” Bà lão liếc mình, sắc như dao. “Biết đâu ta sẽ cần một nơi trú ngụ.”

Trú ngụ? Ở nhà thương điên chắc? “Ý bà là sao?”

“Một chốn nương thân. Một con đường thoát. Nếu Sứ Mệnh Thứ Nhất thất bại, mà ta e là vậy.”

Mấy người chập mạch đúng là khó chơi. “Cháu mười lăm tuổi. Cháu đâu có chốn nương thân… à…ờ… lối thoát gì. Xin lỗi bà.”

“Ngươi vô cùng lý tưởng. Không ai ngờ. Trà đổi lấy nơi trú ngụ. Đồng ý không?”

Ba nói cách tốt nhất để xử mấy tay say xỉn là cứ giả vờ chiều họ, rồi lơ đẹp, mấy người chập mạch chắc cũng giống như dân say xỉn mà không bao giờ tỉnh lại. “Được thôi.” Bà lão gật đầu rồi mình nâng tách uống tiếp, cho tới khi mặt trời chỉ còn là một quầng sáng nhạt chiếu qua đáy tách nhựa mỏng.

Bà lão chập mạch nhìn ra xa. “Cảm ơn nhé Holly.”

Mình cảm ơn, quay trở lên bờ. Rồi mình quay lại, bước về phía bà lão. “Làm sao bà biết tên cháu?”

Bà lão không quay lại. “Vậy tên cúng cơm của ta là gì?”

Trò ngớ ngẩn gì thế này. “Esther Little.”

“Vậy làm sao ngươi biết tên ta?”

“Bởi vì… Bà mới nói cho cháu biết còn gì.” Phải vậy không ta? Hẳn vậy. “À há, vậy thôi”. Và đó cũng là những lời cuối cùng của Esther Little.

• • •

Khoảng bốn giờ mình đến một bãi đầy sỏi, có kè gỗ thoải xuống sông. Mình cởi đôi giày Docs ra. Ngón chân cái bị giộp một miếng to tướng, nhìn như trái mâm xôi đã đạp bẹp. Ngon gớm. Mình lấy đĩa Fear of Music ra khỏi túi thể thao, xắn quần jeans, bẻ lai quần lận lên đầu gối. Dòng sông uốn lượn, nước mát như nước máy, ánh nắng vẫn còn chói, nhưng không gay gắt như khi mình rời chỗ bà điên câu cá. Rồi mình lấy sức quăng cái hộp đĩa, quăng thật xa, thật mạnh. Cũng không mạnh lắm, nó tung lên cao cho tới khi cái đĩa gói trong miếng lót bung ra, rơi xuống nước đánh tõm. Bìa đĩa màu đen là là đậu xuống sau như con chim bị trúng tên, trôi dập dềnh một lúc. Nước mắt tuôn ra, tuôn mãi từ hai mắt nhức nhối. Mình tưởng tượng mình lội nước đến chỗ cái đĩa, trượt xuống dốc lòng sông, đi giữa những đàn cá hương, cá rô, những chiếc xe đạp rỉ sét, rồi xương cốt của cướp biển bị chết đuối, rồi máy bay Đức rồi những chiếc nhẫn cưới bị vứt đi rồi những thứ hầm bà lằng có Chúa mới biết là món gì…

Nhưng mình quay trở lại bờ, nằm xuống trên một lớp sỏi ấm, cạnh đôi giày Docs. Giờ này chắc ba đang gác chân trên ghế sofa, lẩm bẩm “Hay để anh ghé qua chỗ cái tay Costello này xem sao, Kath à,”. Má sẽ dụi điếu thuốc vào chỗ cặn cà phê nguội trong tách. “Khoan đi đã Dave. Cứ để Tiểu thơ muốn gì được nấy. Cứ giả điếc một lúc đã, đừng nghe Tuyên Ngôn của Tiểu thơ, rồi nó mới biết thương cha mẹ lo cho mình…”

Nhưng chỉ tối mai thôi, má sẽ bắt đầu cuống lên lo chuyện sáng thứ Hai, vì một khi trường gọi đến hỏi mình ở đâu rồi, tại sao mình không đi thi, má sẽ không còn hí hửng mà mỉa Tuyên Ngôn của mình nữa. Má sẽ đi thẳng đến nhà Vinny, đằng đằng sát khí. Má sẽ xé xác hắn ra – cho đáng đời – nhưng má vẫn sẽ không biết mình ở đâu. Quyết vậy đi. mình sẽ đi hai đêm, rồi để xem sao. Nếu mình không mua thuốc lá, chỗ 13 bảng 85 xu đó đủ mua bánh mì kẹp khoai tây chiên, táo và bánh qui Rich Tea trong hai ngày. Nến đến được Rochester mình có thể rút thêm tiền từ tài khoản TSB, kéo dài kỳ nghỉ nho nhỏ này.

Một con tàu chở hàng cực lớn chạy xuôi dòng, hụ còi ầm vang. Trên thân tàu màu cam có chữ trắng Ngôi Sao Riga. mình tự hỏi Riga là nơi nào đó, hay là cái gì. Sharon và Jacko kiểu gì cũng biết. Mình ngáp một cái sái quai hàm, nằm lăn trên đám sỏi lạo xạo, ngắm sóng nước từ chiếc tàu liếm bãi sỏi.

Trời, buồn ngủ không chịu được…

“Sykes? Còn sống không? Ê… Sykes.” Buổi chiều hiện ra trước mắt, mình đang ở đâu? Rồi Tại sao mình đi chân không? Rồi Tự dưng Ed Brubeck sờ tay mình chi vậy? Mình giật tay ra, đứng dậy, líu ríu chạy vài bước. Lòng bàn chân nhoi nhói trên sỏi nóng, rồi mình đập đầu vào đoạn kè gỗ.

Ed Brubeck vẫn đứng yên đó. “Chắc là đau lắm.”

“Tui biết. Đầu tui mà.”

“Chỉ là muốn coi thử bồ còn sống không.”

Mình sờ lên đầu. “Nhìn tui giống chết lắm sao?”

“Ờ, giống thiệt, vài giây trước nhìn giống lắm.”

“Ờ, tui chưa chết, được chưa.” Xe đạp của Brubeck đặt nằm dưới đất, bánh xe còn quay vòng vòng. Cần câu cá vẫn cột vào ghi đông.

“Tui chỉ… chợp mắt chút.”

“Đừng nói bồ đi bộ từ thị trấn ra tới đây chứ Sykes?”

“Không, thực ra tui cưỡi trên bóng thú nhún đó, nhưng nó tự bỏ đi mất rồi.”

“Hở. Thiệt tình tui không nghĩ bồ là loại thích đi dã ngoại.”

“Còn tui không nghĩ bồ là loại thích cứu người.”

“À ha, giờ thì biết rồi đó.” Một con chim cất tiếng hót, véo va véo von như dở hơi, chắc cũng cách đó tới cả dặm. Ed Brubeck vuốt mái tóc đen xòa xuống mắt. Da hắn rám nắng, muốn nhận là dân Thổ hay sao đó cũng được. “Vậy bồ đi đâu đây?”

“Đi càng xa cái xứ thúi tha đó càng tốt.”

“Trời. Gravesend làm gì bồ mà bị ghét dữ vậy?”

Mình cột dây giày Docs. Chỗ giộp da tấy đau. “Còn bồ đi đâu?”

“Có ông cậu ở dưới kia.” Ed Brubeck đưa tay vẫy về phía bờ. “Kỳ này cậu yếu lắm, gần như lòa rồi nên hay ghé thăm. Đang đạp xe xuống Allhallows, tính câu cá chơi thì thấy bồ…”

“Bồ tưởng tui chết rồi. Tui chưa chết. Thôi bồ đi đi không trễ.” Hắn làm vẻ mặt thôi-kệ-bồ-vậy, rồi leo ngược lên bờ sông.

Mình gọi với theo, “Ê Brubeck, từ đây tới Allhallows bao xa?”

Hắn nhặt xe đạp lên. “Khoảng năm dặm. Quá giang không?”

Mình nghĩ tới Vinny, tới chiếc Norton, rồi lắc đầu. Hắn leo lên xe, ra vẻ ngầu, rồi biến mất. Mình bốc một nắm đầy sỏi, mạnh tay liệng xuống mặt nước, tự nhiên thấy tức điên.

Ed Brubeck giờ chỉ còn là một vệt nhỏ xíu, biến mất sau bụi cây chót vót xa tít đằng trước. Hắn không quay lại nhìn. Ước gì mình đã nhận lời đi quá giang. Đầu gối mình vẫn còn tê cứng, hai bàn chân mình đau ê ẩm còn mắt cá thì như bị khoan những mũi li ti. Năm dặm mà đi kiểu này thì còn lâu lắc. Nhưng Ed Brubeck là con trai, như Vinny vậy, đàn ông con trai chỉ nhằm nhè mỗi chuyện đó. Bụng mình đói cồn cào. Trà xanh lúc uống thì rất mát, nhưng khiến mình cứ đi đái tồ tồ như ngựa đua, miệng mình lờ lợ, như có con chuột chết vừa ị trong đó. Ed Brubeck là con trai, đúng vậy, nhưng hắn cũng không phải tệ hoàn hoàn. Tuần rồi hắn gây sự với cô Binkirk, giáo viên môn Tôn giáo, rồi bị đi gặp thầy Nixon vì tội dám gọi cô là “Mù quáng vô đối.” Chửi bới kiểu người lớn hẳn hoi. Đúng là tẩm ngẩm tầm ngầm, nhìn vậy mà không thể hiểu hết được. mình cố không nghĩ đến Vinny, nhưng chịu, rồi mình nhớ lại chỉ mới sáng nay thôi mình còn mơ mộng lập ban nhạc với hắn. Phía trước, từ sau hàng cây chót vót, Ed Brubeck chỉ là một vệt nhỏ xíu đang đạp xe về hướng mình. Chắc hắn thấy trễ quá không câu cá được nữa nên quay về Gravesend. Bóng hắn lớn dần, lớn dần, cho tới khi bằng người thật, rồi hắn bẻ ngoặt, rê bánh đầy khoe mẽ, khiến mình nhớ ra Ed vẫn còn trẻ con lắm. Hai mắt Ed sáng trắng trên gương mặt rám nắng. “Lên xe đi Sykes?” Hắn vỗ lên yên sau. “Allhalows xa lắc à. Trời sẽ tối trước khi bồ tới đó.”

Xe lọc cọc chạy trên đường, cũng khá nhanh. Mỗi khi qua ổ gà, Brubeck lại hỏi, “Bồ ô kê không?” rồi mình trả lời, “Ờ.” Gió biển và gió trên đường hất tay áo mình, vờn trên người mình như một thằng cha cà chớn, giở trò thọc lét. Áo thun của Brubeck đẫm mồ hôi, dán chặt lên lưng hắn. Mình cố không nghĩ đến mồ hôi của Vinny, của Stella… Tim mình lại nức nở, rỉ máu, rát buốt, như chỗ trầy xước bị đổ thuốc sát trùng lên. Mình giữ khung xe bằng cả hai tay, nhưng rồi đường mỗi lúc một xóc, vậy là mình cố bám vững, móc ngón tay cái vào đai thắt lưng trên quần jeans của Brubeck. Có khi hắn đang khoái chí “dựng lều” cũng nên, nhưng kệ hắn, mình không quan tâm.

Đàn cừu mũm mĩm gặm cỏ. Đám cừu cái lom lom nhìn hai đứa, như thể tụi mình đang bàn nhau làm thịt bọn cừu con để ăn với cải Brussel và khoai tây nghiền.

Xe đạp đánh động đám chim cà kheo có mỏ dài như muỗng xúc; mấy con chim lượn qua mặt nước. Mũi cánh chim chạm xuống, nước tỏa ra thành vòng.

Chỗ này sông Thames đổ ra biển. Essex rực vàng trong ánh hoàng hôn. Chút nhờ nhờ đằng xa là Đảo Canvey; xa nữa là Southend.

Eo biển Manche xanh như màu mực viết; bầu trời biêng biếc như màu viên phấn xoa gậy billiards. Xe lọc cọc qua cây cầu trên một con lạch đục bẩn, nửa đầm lầy, nửa bãi cát, nằm sâu trong đất liền: ĐẢO GRAIN CHÀO MỪNG QUÝ KHÁCH.

Thực ra chỗ này không phải là đảo. Có khi hồi xưa lắc mới là đảo.

Con chim véo va véo von dở hơi đó vẫn theo hai đứa. Chắc là nó chứ gì nữa.

Allhallows-on-Sea là một khu công viên cắm trại đổ ra bờ biển, phía sau có một cái làng buồn buồn. Xe moóc xếp thành hàng với những khoang hình hộp dựng trên cột thấp mà trong phim Mỹ người ta gọi là nhà di động. Con nít ở trần, mấy đứa bé loắt choắt trần truồng lê la quanh hàng quán, chơi bắn súng nước, chơi bóng cột Swingball, chạy quanh. Mấy bà mẹ uống ngà ngà say, trợn mắt nhìn các ông bố đang nướng xúc xích cháy trên lò. Mình cố hớp lấy khói nướng. “Không biết bồ sao,” Brubeck nói, “chứ tui đói muốn chết luôn.”

Mình đáp, hơi bị hăng hái, “Cũng hơi đói” Vậy là hắn dừng xe ở một hàng khoai tây chiên và cá tẩm bột, gần khu trò chơi Lazy Rolf’s Krazy Golf. Brubeck gọi cá tuyết và khoai tây, hai bảng một phần, mình chọn khoai tây chiên vì chỉ tốn năm mươi xu. Nhưng rồi Brubeck nói với thằng cha ở quầy “Cho hai phần cá tuyết và khoai,” và đưa tờ năm bảng. Thằng cha đó nhìn mình, rồi nhìn Brubeck, ra vẻ hàng-ngon-đó-con-trai, đúng kiểu đàn ông hay nhấm nháy nhau. Mình tức lắm, vì mình với Brubeck có phải bồ bịch gì, mình sẽ không bao giờ cặp với hắn, bao nhiêu phần cá tẩm bột cũng không ăn thua. Brubeck mua thêm hai lon Coca. Thấy mặt mình, hắn nói “Chỉ là cá với khoai thôi mà – không ràng buộc gì hết, đừng lo.”

“Chính xác, không ràng buộc gì hết” Tự dưng giọng mình hằn học quá mức. “Ừm… à cảm ơn.”

Tụi mình đi qua cabin cuối cùng, đi thêm chút nữa đến một nhà chờ bằng bê tông, ngay dưới chân đụn cát. Từ cửa sổ trên cao thoảng ra mùi khai nước đái, nhưng Brubeck leo thẳng lên mái nhà thấp. “Chỗ này là công sự đó,” hắn nói. “Hồi chiến tranh người ta cất súng máy ở đây, đề phòng quân Đức xâm lược. Giờ vẫn còn cả trăm cái như vậy, nếu bồ để ý kỹ. Thời bình đó, bồ nghĩ coi, ổ súng máy giờ thành chỗ dã ngoại.” Mình nhìn hắn: Ở trường đố mà dám nói chuyện sâu sắc vậy. Mình tự leo lên, nhìn quanh. Bên kia khúc cửa sông Thames rộng hơn một dặm là Southend, kia nữa là bến tàu Sheerness trên đảo Sheppey. Rồi tụi mình mở Coca, mình cẩn thận tháo khoen lon để khi uống xong sẽ bỏ lại vào lon. Chó mà đạp trúng cái khoen này thì đứt chân như chơi. Brubeck cầm lon đẩy về phía mình, vậy là mình cụng với hắn, như thể cụng ly rượu, nhưng mình không nhìn mắt hắn, để hắn khỏi tơ tưởng nọ kia. Rồi tụi mình uống coca. Ngụm đầu tiên như muốn vỡ tung trong miệng mình, bùm bùm, sôi sục sảng khoái. Khoai tây chiên còn ấm, thơm mùi giấm, bột chiên cá nóng hổi trong tay, hai đứa bóc từng thớ thịt cá tuyết béo ngậy. “Ngon quá,” mình nói. “Cảm ơn nha.”

“Không ngon bằng trên Manchester,” Brubeck đáp.

Một con diều lượn ngoằn nghèo, đuôi hồng viết lên trời xanh.

Mình rít một hơi Dunhill đầy phổi – thuốc của Brubeck. Thấy đỡ hẳn. Rồi mình nghĩ đến Stella Yearwood và Vinny hút Marlboro trên giường, vậy là mình phải giả bộ như đang bị con gì bay vào mắt. Để quên đi, mình hỏi Brubeck, “Ông cậu của bồ ra sao? Người mà bồ đi thăm lúc nãy đó.”

“Cậu Norm. Anh của mẹ tui. Hồi trước lái xe cần cẩu ở nhà máy ximăng Blue Circle nhưng nghỉ rồi. Mắt ổng sắp lòa hết.”

Mình rít thêm một hơi sâu. “Kinh khủng vậy. Tội nghiệp.”

“Ổng có nói ‘Thương hại cũng là một hình thức lạm dụng.’”

“Bị mù hẳn hay chỉ một phần, hay…”

“Mất khoảng ba phần tư thị lực, hai mắt luôn, sắp mù hẳn. Ổng ghét nhứt là không đọc được báo nữa. Nói là giờ nhìn đâu cũng như tìm chìa khóa trong tuyết dơ. Nên hầu như thứ Bảy nào tui cũng đạp xe tới đó, đọc cho ổng vài bài trên báo Guardian. Rồi ổng nói chuyện bà Thatcher với công đoàn, chuyện tại sao quân Nga có mặt ở Afghanistan, rồi tại sao CIA lật đổ các chính quyền dân chủ ở châu Mỹ Latin.”

“Nghe chán vậy, như giảng bài,” mình đáp.

Brubeck lắc đầu. “Hầu hết thầy cô của tụi mình chỉ chực bốn giờ ra về, sáu mươi tuổi nghỉ hưu. Nhưng cậu Norm thích nói chuyện, thích suy nghĩ, ổng muốn tui cũng như vậy. Ổng sắc sảo lắm. Rồi mợ thường nấu một bữa trưa tưng bừng, ăn xong ổng hay ngủ gật, tui đi câu cá, nếu trời đẹp. Trừ khi tui thấy có nhỏ bạn cùng lớp nằm chết trên bãi sông.” Hắn dụi đầu thuốc lên nền bê tông. “Vậy, chuyện của bồ là sao hả Sykes?”

“Ý bồ là sao, chuyện gì của tui kia?”

“Lúc tám giờ bốn mươi lăm phút tui thấy bồ đi dọc theo phố Queen, nấp vào…”

“Bồ thấy tui sao?”

“Ừa - bồ nấp vào vòm chợ, nhưng bảy tiếng đồng hồ sau, mục tiêu đã được phát hiện cách Gravesend mười dặm về phía đông, dọc theo dòng sông.”

“Trò gì vậy? Ed Brubeck, thám tử tư hả?”

Một con chó cụt đuôi chạy tới ngoáy mông tít mù. Brubeck vứt cho nó một mẩu khoai tây. “Nếu làm thám tử, tui đoán là chuyện bạn trai.”

Giọng mình đanh lại. “Không phải việc của bồ.”

“Đúng. Nhưng thằng đó không đáng đâu, có là thằng nào cũng không đáng vậy.”

Mình nhăn mặt, làm rớt mẩu khoai cho con chó. Nó ngấu nghiến ngoạm lấy, mình tự hỏi biết đâu nó cũng dạt nhà. Như mình vậy.

Brubeck gấp tờ giấy gói khoai thành cái phễu rồi đổ hết chỗ vụn bột chiên vào miệng. “Bồ tính tối nay đi về chứ?”

Mình cố nhịn tiếng rền rĩ. Gravesend giờ như một đám mây đen. Vinny, Stella và má đang ở đó. Ba người đó chính là Gravesend. Đồng hồ báo 18:19, hẳn giờ này trong quán Thuyền trưởng Marlow đang chộn rộn nói cười, khách quen bắt đầu kéo vào. Trên gác Jacko và Sharon hẳn đang ngồi trên ghế sofa xem The A-Team, vừa xem vừa ăn phô mai và bánh ga-tô sô-cô-la. mình cũng muốn ở đó, nhưng còn cái tát của má thì sao? “Không,” mình nói với Brubeck. “Tui không tính về.”

“Ba tiếng nữa trời sẽ tối. Bồ không có đủ thời gian mà tìm gánh xiếc rồi đi theo đâu.”

Cỏ trên đụn cát nghiêng ngả dập dìu. Trên cao mây từ nước Pháp bay về. “Thì biết đâu tui sẽ tìm được một cái công sự ấm cúng nào đó. Cái nào không có người tè vô. Hoặc một cái chuồng bò.”

Chim hải âu lượn tới như ăn cướp, la oang oác tranh giành khoai tây chiên. Brubeck đứng dậy, xua tay về phía đàn chim để tụi nó bay tản ra, cho bõ ghét. Trông như Hoàng tử Điên xứ Allhallows-on-Sea. “Có khi tui biết một chỗ tốt hơn.”

Lại đạp xe trên đường chính. Những cánh đồng bao la phẳng lì như bánh kếp, ở một chốn mông lung vô chừng, bóng đen dài đổ xuống. Brubeck cứ làm ra vẻ bí hiểm về chuyện đi đâu - “Hoặc là bồ tin tui, Sykes à, hoặc là không” - nhưng hắn nói chỗ này ấm, khô ráo và an toàn. Hắn đã ở đó năm sáu lần khi đi câu đêm, nên mình đồng ý đi theo, cứ vậy đã. Hắn nói hắn sẽ về Gravesend rồi về nhà. Bọn con trai là vậy: hay giả bộ giúp đỡ khi để ý ai. Nhưng không thể biết được động cơ thực sự của tụi nó mà không bị mất mặt, thường thì tới khi biết rồi cũng đã quá trễ. Ed Brubeck trông cũng không đến nỗi, còn dành chiều thứ Bảy đọc báo cho ông cậu mù lòa, nhưng sau vụ Vinny và Stella mình không chắc là mình biết nhìn người nữa. Nhưng đêm sắp xuống, mình cũng không có nhiều lựa chọn. Xe chạy qua một nhà máy lớn. Mình chưa kịp hỏi Brubeck nhà máy này làm gì thì hắn đã nói đó là Trạm Điện Grain, cung cấp điện cho Gravesend và một nửa phần đông nam của London.

“Ờ, biết rồi” mình nói dối.

Nhà thờ thâm thấp, có tòa tháp với khe bắn cung, rực vàng trong ánh chạng vạng. Khu rừng xào xạc không nghỉ như sóng vỗ, mấy con quạ lượn nhào, tựa bít tất đen trong máy sấy. Tấm bảng hiệu ghi dòng chữ “NHÀ THỜ GIÁO XỨ ST MARY HOO”, ở dưới có số điện thoại của cha xứ. Làng St Mary Hoo ở phía trước, nhưng cả khu làng chỉ có mỗi vài cái nhà cổ và một quán bia giữa hai con lộ. “Giường chiếu ở đây rất tối thiểu,” Brubeck nói khi tụi mình xuống xe, “nhưng có Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần lo phần an ninh, với mức giá zero bảng một đêm thì chỗ này rất cạnh tranh.”

Ý hắn là nhà thờ sao? “Bồ đang giỡn, đúng không?”

“Trả phòng đúng y bảy giờ sáng, không thì ban quản lý sẽ rất bực.” Đúng vậy, ý hắn là nhà thờ. Mình làm mặt ngờ vực.

Brubeck làm mặt Rồi sao, đi hay ở.

Mình phải ở lại thôi. Khu đầm lầy ở Kent đâu có mấy cái chuồng bò ấm cúng, đầy rơm khô như trong phim Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên. Mình mới chỉ thấy mỗi một cái cách đây vài dặm, lợp tôn, phía trước có hai con chó Doberman nhìn như bị dại. “Người ta không khóa cửa nhà thờ sao?”

Brubeck nói, “Ờ có”, tưng tửng như kiểu mình hay nói “Thì sao?” Sau khi nhìn quanh để chắc chắn là không có ai, hắn dắt xe đến khu nghĩa trang. Hắn giấu xe giữa mấy bụi cây tối om và bức tường, rồi dẫn mình tới chỗ cổng vòm. Bông giấy người ta tung trong đám cưới dồn thành từng mảng dơ dáy. “Coi chừng đằng cổng,” hắn dặn mình. Từ trong túi hắn rút ra một cái bóp da, bên trong có một chùm chìa khóa và một miếng kim loại mỏng hình chữ L. Ed quay nhìn ngoài đường lần cuối, rồi chọc một chiếc chìa vào ổ khóa, khẽ lắc lắc.

Mình sợ bị bắt quá chừng. “Bồ học đâu trò đột nhập vô nhà người ta vậy?”

“Ba tui đâu có dạy tui đá banh hay sửa xe.”

“Tụi mình sẽ bị phạt mất! Tội này gọi là… gọi là…”

“Đột nhập trái phép. Vì vậy mà tui mới nhờ bồ coi chừng.”

“Nhưng lỡ có người đi tới thì tui làm gì?”

“Giả bộ mắc cỡ, như tụi mình bị bắt quả tang đang mi nhau.”

“Ừm… không có chuyện đó đâu, Ed Brubeck à.”

Hắn nửa hứ há, nửa bật cười. “Giả bộ thôi mà. Bình tĩnh, cớm chỉ bắt bồ nếu chứng minh được bồ phá khóa. Nếu bồ không nói gì, nếu cẩn thận đừng làm hư ổ khóa…” hắn đút một cái chìa xương vào lỗ khóa “…thì ai dám không tin là bồ chỉ đi ngang qua, thấy cửa mở hé, bèn đi vào để tìm hiểu kiến trúc nhà thờ Saxon? Nói vậy để bồ nhớ, lỡ mà bị bắt.” Brubeck áp sát tai vào khóa, liên tục loay hoay. “Nhưng mà tui ở đây ba hôm thứ Bảy từ sau Lễ Phục sinh mà không có động tĩnh gì cả. Với lại có phải mình chôm chỉa gì đâu. Bồ lại là con gái, chỉ cần trổ tài mít ướt, ca bài ‘Làm ơn mà, thưa cha, con đang chạy trốn khỏi cha dượng vũ phu’ rồi kiểu gì cũng được mời ăn bánh uống trà và tiễn lên đường.” Brubeck đưa tay ra dấu im lặng: có tiếng kích nhẹ. “Được rồi.” Cánh cửa nhà thờ mở toang, bản lề kẽo kẹt đúng kiểu rùng rợn.

Bên trong nhà thờ St Mary Hoo có mùi như tiệm bán đồ từ thiện, kính cửa sổ màu sặc sỡ như món trái cây trộn. Tường dày như hầm tránh bom. Khi Brubeck đẩy cửa sau lưng, tiếng “thịch” vang vọng khắp, tựa trong ngục tối. Trần nhà thờ toàn thanh xà gỗ. Hai đứa đi trên lối ở giữa, qua khỏi cả tá dãy ghế dài. Bục giảng kinh bằng gỗ, bể rửa tội bằng đá, đại phong cầm trông như cây dương cầm hoành tráng có gắn thêm ống xả. Chi tiết trang trí chỗ bục giảng hẳn là vàng giả, nếu không bọn ăn trộm – ông già của Brubeck chẳng hạn, đã thó từ lâu. Hai đứa đến chỗ ban thờ, nhìn lên cửa sổ có tranh vẽ cảnh Chúa bị đóng đinh trên thập giá. Trên cửa sổ kính màu có hình con bồ câu ngang trời, vệt sáng tỏa quanh như căm xe đạp. Các bà Mary, hai tông đồ và một người La Mã ở dưới chân thập giá nom như đang nói chuyện thời tiết nắng mưa. Brubeck hỏi, “Bồ là dân Công giáo phải không?”

Mình ngạc nhiên là hắn nghĩ đến cả chuyện đó nữa. “Má tui là người Ireland.”

“Vậy bồ có tin vào Thiên đàng, Địa ngục với lại Chúa không?”

Năm ngoái mình bỏ không đi nhà thờ nữa: trừ vụ hồi sáng thì đó cũng là bất đồng lớn nhất giữa mình với má. “Hồi đó tự dưng tui dị ứng nhà thờ.”

“Cậu Norm nói là tôn giáo chỉ là một thứ thuốc giảm đau tinh thần, nhiều khi tui cũng mong là ổng nói đúng. Trừ khi Chúa cho người ta thay đổi tính cách khi đi chầu trời, nếu không, Thiên đàng có nghĩa đoàn tụ gia đình vĩnh viễn với những người như bác Trev. Thật chẳng có gì tệ hơn.”

“Vậy bác Trev không giống cậu Norm hay sao?”

“Một trời một vực. Bác Trev là anh của ba tui. Là ‘đầu não chỉ huy’, như ổng hay nói, cũng đúng thôi: ổng đủ khôn để sai khiến những người như ba tui. Vụ nào mà trót lọt thì bác Trev ôm hết, còn nếu bể thì bác chuồn đẹp, coi như không liên quan. Hồi ba tui đi tù ổng còn ve vãn mẹ tui nữa, cũng vì vậy mà nhà tui mới chuyển xuống miền nam.”

“Nghe như đồ cà chớn.”

“Ừ, đúng vậy.” Ánh sáng sặc sỡ từ cửa sổ phản chiếu trên gương mặt Brubeck nhạt đi, mặt trời dần lặn. “Nói vậy chứ, nếu đang hấp hối trong nhà an dưỡng, có được bao nhiêu thuốc giảm đau tinh thần tui cũng xực hết”

Mình đặt tay lên lan can quanh chỗ ban thờ. “Vậy nếu… vậy nếu Thiên đàng là có thật, nhưng chỉ trong khoảnh khắc thôi, thì sao? Ví dụ như ly nước mát trong một ngày nóng nực, khi ta sắp chết khát, hoặc khi có người tử tế với ta mà không cần lý do gì, hoặc…” Mình nghĩ đến bánh kếp phủ sốt sô cô la Toblerone má làm; nhớ ba chạy từ dưới quán lên gác chỉ để nói với mình, “Ngủ ngon nha cưng”; rồi Jacko và Sharon hát nhạc chế “vì chị ta là một cục kẹo dẻo,” thay vì hát đúng “vì chị ta là một người tử tế” mỗi lần sinh nhật mình. Hai đứa vừa hát vừa cười sặc sụa mặc dù chẳng có gì tức cười cả. Rồi Brendan tặng mình máy nghe đĩa cũ, thay vì đem cho bạn. Mình nói tiếp, “Giả sử Thiên đàng không phải là một bức tranh treo mãi một chỗ, mà là… Là bài hát hay nhất người ta từng viết, nhưng khi còn sống ta chỉ nghe được vài đoạn chớp nhoáng, giống như khi có người lái xe ngang qua, hay… từ cửa sổ tầng trên khi ta đi lạc…”

Brubeck nhìn mình, như thể hắn đang lắng nghe thật sự.

Rồi, khỉ thật, mình đỏ mặt. “Bồ nhìn gì vậy?”

Trước khi hắn kịp trả lời thì có tiếng chìa khóa rổn rảng ngoài cửa.

Từng giây lề mề trôi qua như đám người say xỉn cố xếp hàng rồng rắn, Brubeck và mình tự dưng tuy hai mà một, như cặp bài trùng Laurel và Hardy, như Starsky và Hutch, như hai nửa hình nộm con ngựa trong kịch panto. Hắn ôm mình, đẩy về phía cánh cửa gỗ đằng sau cây đại phong cầm mà lúc nãy mình không để ý. Rồi hai đứa lọt vào một căn phòng rất ngộ, trần cao, có thang bắt lên cửa sập. Chắc đây là phòng áo lễ, còn cái thang dẫn lên tháp chuông. Brubeck áp tai vào khe cửa: không có đường ra, chỉ có mỗi cái tủ trong góc. Có ít nhất hai giọng đàn ông đang tiến về chỗ hai đứa; mình nghe ra giọng thứ ba, một phụ nữ. Chết thật. Brubeck và mình nhìn nhau. Lựa chọn của tụi mình bây giờ là: 1. đứng yên đó rồi cố năn nỉ người ta; 2. trốn trong tủ; 3. trèo lên thang rồi hi vọng cửa sập mở ra, rồi tiếp tục hi vọng mấy người đó sẽ không đi theo lên. Chắc không đủ thời gian để leo lên thang. Đột nhiên Brubeck đẩy mình vào tủ, rồi hắn cũng chui vào, kéo cửa lại thật chặt. Tủ coi vậy mà nhỏ: chẳng khác gì trốn trong một nửa cái hòm dựng đứng – bị ép chặt vào một thằng con trai mình chẳng thiết tha gì. Brubeck kéo cửa đóng lại…

“Nhưng ông ta cứ tin mình là Fidel Castro tái thế!” Giọng nói đã vào đến phòng áo lễ. “Có yêu ghét gì Maggie Thatcher, mà cả hai phe ấy đều đông, thì cũng phải thừa nhận bà ấy đã thắng cử, trong khi Arthur Scargill thì không. Ông ta còn không trưng cầu ý kiến ở công đoàn nữa.”

“Nhưng chuyện đó thì liên quan gì,” Một giọng London cất lên. “Cuộc đình công lần này nhắm đến tương lai. Vì vậy mà chính phủ phải viện đến mọi thủ đoạn bẩn thỉu – nào là cài cắm tình báo MI5, nói dối trên truyền thông, không trợ cấp cho gia đình thợ mỏ… Nhưng mình nói cho nghe, nếu bên thợ mỏ thua, con cái anh sẽ phải làm việc quần quật như thời Victoria, lãnh lương cũng bằng thời đó luôn.”

Đầu gối Brubeck ấn vào đùi mình, khiến chân mình muốn tê dại.

Mình khẽ ngọ nguậy: hắn rên “ui ui ui”, lí nha lí nhí.

“Ta không thể cứ cứu những ngành công nghiệp đang chết mãi,” người nói giọng nhà quê cãi lại, “vấn đề ở chỗ đó. Nếu không cải cách thì đến giờ ta vẫn phải nuôi thợ xây lâu đài, thợ đào kênh hay thầy pháp. Scargill đang vận dụng thứ Kinh tế học Viễn tưởng và Chính trị học Vớ vẩn.”

Mình cảm nhận được lồng ngực của Brubeck, phập phồng áp vào lưng mình.

“Anh đã bao giờ đến một thị trấn có mỏ than chưa?” Người London hỏi. “Không cách gì vô nổi vì ồn ào quá. Nhưng nếu ở đó mà không có mỏ than, cả thị trấn sẽ chết theo. Xứ Wales và miền bắc không giống như miền nam, Yorkshire khác xa với Kent, năng lượng không chỉ là một ngành công nghiệp thuần túy. Năng lượng là an ninh. Dầu ở Biển Bắc rồi cũng sẽ hết, rồi sẽ ra sao đây?”

“Đúng là một cuộc tranh luận đỉnh cao, thưa quý ông,” người phụ nữ lên tiếng, “nhưng còn chuông thì sao?”

Có tiếng chân lục đục lên cầu thang gỗ: thật may là tụi mình đã không trốn lên tháp chuông. Một phút trôi qua. Không có động tĩnh gì từ phòng áo lễ. Mình đoán chắc cả ba đã đi lên trên. Mình nhích ra một chút, Brubeck hổn hển đau đớn. Mình thì thào, “Bồ có sao không?”

“Bị bồ ép muốn bể lựu đạn luôn, thiệt tình.”

“Lỡ bể thiệt bồ xin con nuôi cũng được mà.” Mình ráng nhường chỗ cho hắn, nhưng không có chỗ mà nhường. “Hay mình chạy lẹ ra ngoài?”

“Chắc đợi chút rồi lén ra, khi có tiếng…”

Chuông vang lên, dội khắp không gian tối om ngột ngạt. Brubeck mở cửa tủ – không khí tràn vào – hắn tập tễnh bước ra, rồi đỡ mình bò ra. Ở bên trên, hai ống chân mập mạp đã thò xuống cửa sập. Hai đứa rón rén đi ra cửa, như hai tên ngớ ngẩn trong Scooby Doo. Mình với Brubeck tiếp tục chạy dọc theo lối đi, như thể vừa trốn khỏi trại tù Colditz. Trong màn đêm xanh đen, tiếng chuông nghe xủng xoảng, chát chúa. Mình bị tê chân, vậy là cả hai phải dừng lại ở ghế đá ngay chỗ bảng tên làng. “Xui quá,” Brubeck nói. “Định khoe với bồ kỹ năng sống sót nơi hoang dã mà chưa gì đã bị mấy bác Hai Lúa ngán đường. Thèm thuốc quá. Còn bồ?”

“Ừ tui cũng thèm. Mấy người đó rung chuông lâu không?”

“Chắc còn lâu.” Brubeck đưa mình một điếu thuốc, xòe bật lửa ra: mình châm đầu thuốc xuống ngọn lửa. “Để tui dẫn bồ vô đó lại, đợi họ đi đã. Ổ khóa Yale dễ ợt, nhắm mắt cũng làm được.”

“Nhưng bồ còn phải đi về mà?”

“Tui sẽ ra buồng điện thoại chỗ quán bia, gọi cho mẹ nói là sẽ đi câu cá suốt đêm nay. Có sao đâu.”

Mình cần hắn giúp, nhưng mình cũng lo lắm, lẽ nào có chuyện giúp đỡ miễn phí.

“Đừng lo Sykes à. Tui không có ý gì đen tối đâu.”

Mình nghĩ tới Vinny Costello, thấy muốn đổi ý. “Được rồi.”

“Đâu phải thằng nào cũng chăm chăm lợi dụng đàn bà con gái, bồ biết không.”

Mình phà một hơi khói thuốc thẳng vô mặt Brubeck, hắn phải nhíu mắt lại, quay mặt đi. “Tui có anh trai đó,” mình tiếp. Tụi mình đứng cạnh một vườn trái cây um tùm, vậy là hút xong hai đứa nhảy vào, chôm vài trái táo. Phải trèo qua một bức tường gạch. Táo chua lè, nhưng khá ngon, nhất là sau khi ăn đồ chiên. Ánh đèn trên trạm điện hồi nãy nhấp nháy. “Đi theo hướng đó,” Brubeck ném lõi táo vu vơ, “qua khỏi đèn chớp nháy trên Đảo Sheppy là tới nông trại trồng trái cây của cha này, tên là Gabriel Harty. Năm ngoái tui làm ở đó, hái dâu một mùa, một ngày được hai mươi lăm bảng. Có chỗ ngủ lại cho thợ hái nữa, khi nào thi xong, tui sẽ trở lại đó. Tui đang để dành tiền làm một chuyến InterRail tháng Tám này.”

“InterRail là gì?”

“Không biết thiệt hả?”

“Thiệt.”

“Vé tàu dài ngày. Một trăm ba mươi bảng, có thể đi khắp châu Âu trong một tháng. Ghế hạng hai, nhưng cũng được. Từ Bồ Đào Nha tới Na Uy. Cả mấy nước phía đông nữa, Nam Tư này nọ. Bức tường Berlin. Istanbul. Ở Istanbul có một cây cầu, một bên là châu Âu, bên kia là châu Á. Tui sẽ đi trên cây cầu đó.”

Xa xa có tiếng chó sủa đơn độc, mà có khi là cáo.

Mình hỏi, “Tới mấy nước đó rồi bồ làm gì?”

“Ngó nghiêng. Đi loanh quanh. Kiếm chỗ trọ rẻ. Ăn đặc sản. Uống bia rẻ. Tránh bị rận cắn. Nói chuyện. Học dăm câu ngoại ngữ. Chỉ là để được ở đó thôi, bồ hiểu không? Nhiều khi,” Brubeck cắn một miếng táo, “nhiều khi tui muốn được ở khắp mọi nơi, cùng một lúc, tui thèm tới độ nhiều khi muốn…” Brubeck làm động tác bom bổ trong lồng ngực. “Có bao giờ bồ cảm thấy vậy không?”

Một con dơi đập cánh ngang qua, như thể đang đu dây trong mấy bộ phim ma cà rồng nhảm nhí.

“Không, nói thiệt. Trước giờ tui chỉ đi xa nhất là Ireland, thăm bà con nhà ngoại ở Cork.”

“Chỗ đó sao?”

“Khác ở đây. Không phải toàn là trạm kiểm soát với bom đạn như ở miền bắc, mặc dù vẫn còn dư âm Xung Đột, nhưng ở đó thì đừng có dại mà nói chuyện chính trị. Người ta căm bà Thatcher lắm, nhất là sau vụ Bobby Sands và mấy người tuyệt thực. Tui có một bà trẻ, là dì của mẹ tui, tên là Ellísh. Bà hay lắm. Bà nuôi gà, cất súng trong hầm than. Khi còn trẻ bà đạp xe tới Kathmandu. Thiệt đó. Chắc bà cũng có cái nỗi thèm được ở mọi nơi như bồ. Tui đã xem bộ sưu tập ảnh và bài báo cắt ra của bà. Bà ở mũi đất gần Bantry – bán đảo Đầu Cừu. Chỗ đó như ở rìa thế giới vậy. Không có gì cả, hàng quán cũng không, nhưng” - mình ít khi thừa nhận chuyện này với ai- “tui rất thích ở đó.” Trăng lên, sắc như dao.

Cả hai im lặng, nhưng thật tự nhiên. Rồi Brubeck nói, “Bồ có biết chuyện dây rốn thứ hai không hả Sykes?”

Mình không thể nhìn rõ mặt hắn. “Gì kia?”

“Em bé trong bụng mẹ, gắn với mẹ bằng sợi dây này…”

“Tui biết dây rốn có nghĩa là gì, cảm ơn. Nhưng mà ‘thứ hai’ là sao?”

“À, các nhà tâm lý nói rằng có một dây rốn thứ hai, vô hình, dây rốn tình cảm, nối kết con cái với cha mẹ suốt thời thơ ấu. Cho tới một ngày, con gái thì cãi mẹ, con trai thì cãi cha, dây rốn thứ hai sẽ bị đứt. Chỉ cho tới khi đó thì con cái mới sẵn sàng đi ra đời, sống tự lập trưởng thành. Giống như một cột mốc quan trọng trong đời vậy.”

“Tui cãi nhau với má, ngày nào cũng cãi. Má cứ coi tui như đứa con nít mười tuổi.”

Brubeck châm một điếu thuốc nữa, rít một hơi rồi đưa cho mình. “Ở đây là cãi lớn chuyện, đổ bể thiệt. Cãi kiểu đó xong là biết ngay. Biết mình không còn như xưa nữa.”

“Tự dưng nói chuyện đó với tui chi vậy?”

Hắn có vẻ cân nhắc cẩn thận trước khi trả lời. “Nếu bồ bỏ nhà đi vì ông già của bồ là tội phạm, đánh vợ, bị con cản thì xô nó xuống cầu thang, nếu đúng vậy thì bỏ đi là quyết định thông minh. Cứ đi. Tui sẽ cho bồ tiền tui để dành mua vé InterRail. Nhưng nếu tối nay bồ ngồi ở đây chỉ vì cái dây rốn thứ hai đó bị cắt đứt, thì ừ, đúng là đau đớn thiệt, nhưng là chuyện tất nhiên. Bồ nên rộng rãi chút với bà già. Ai rồi cũng phải lớn. Bồ đừng trừng phạt bà già vì chuyện đó.”

“Má tát tui đó.”

“Tui cá với bồ, giờ này bả đang rất dằn vặt.”

“Bồ biết gì về má tui!”

“Còn bồ thì biết rõ hả Sykes?”

“Ý bồ là sao?”

Brubeck bỏ lửng câu chuyện. Vậy là mình cũng không nói nữa.

Nhà thờ im ắng như nghĩa địa. Brubeck ngủ giữa đám gối tựa bụi bặm. Hai đứa ngồi trên chỗ ban công chạy dọc theo bức tường phía sau, nếu có tín đồ tà giáo nào nửa đêm vô đây hành lễ thì cũng không phát hiện ra tụi mình. Ống chân mình đau đớn, chỗ giộp da bỏng rát, còn tâm trí mình cứ quay lại cảnh Vinny và Stella. Không lẽ mình làm chuyện đó không giỏi sao? Hay mình mặc đồ không đẹp, nói chuyện không hay, gu nhạc của mình dở?

22:58, đồng hồ Timex trên tay báo. Cũng là lúc bận rộn nhất trong quán Thuyền trưởng Marlow: đợt gọi đồ uống cuối cùng trong đêm thứ Bảy. Má, ba và Glenda – Glenda chỉ làm việc vào cuối tuần, sẽ chạy bở hơi tai: dân nhậu ồn ào đặt những tờ năm bảng, mười bảng xuống bàn, giữa mù mịt khói thuốc, tiếng người cười nói, la hét, hô hố, chửi bới, tán tỉnh… Không ai quan tâm Holly đêm nay ở đâu. Máy hát sẽ bật bài “Daydream Believer” hay “Rockn’ All Over The World” hay “American Pie”, vang ầm ầm khắp nhà. Sharon chắc đã ngủ rồi, đèn pin giấu dưới chăn. Jacko cũng ngủ, vẫn bật radio đài nước ngoài. Trong phòng mình, giường vẫn còn lộn xộn, cặp treo trên ghế. Giỏ đồ sạch đặt ngay sau cửa, mỗi khi bực má vẫn đặt nó ở đó. Dạo này hầu như ngày nào cũng vậy. Từ Essex bên kia sông có ánh đèn màu cam, xuyên qua rèm cửa vẫn chưa kéo trong phòng mình, chiếu lên tấm poster Zenyattà và The Queen Is Dead mà mình xin được từ tiệm Magic Bus. Nhưng mình sẽ không bắt đầu nhớ căn phòng đó lúc này.

Không có chuyện đó đâu.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
1 thành viên đã gởi lời cảm ơn Nminhngoc1012 về bài viết trên: Hoa Mùa Hạ
Có bài mới 27.11.2017, 16:24
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 32613
Được thanks: 5107 lần
Điểm: 9.56
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Giả tưởng - Phiêu lưu] Đồng Hồ Xương - David Mitchell - Điểm: 11
1 Tháng Bảy


Tiếng ong ong inh tai, tiếng sột soạt, tiếng chim hót, hình thiên thần trên cửa sổ kính màu. Nhà thờ nhỏ trên đảo Grain, mình dần nhớ ra, ánh nắng đổ vào, bình minh ló dạng. Má. Lời qua tiếng lại. Stella và Vinny thức dậy trong tay nhau. Cổ họng mình nghẹn cứng. Nếu từng làm chuyện đó với ai nhiều lần, hẳn đâu dễ gì quên ngay được. Tình yêu vô cùng ngọt ngào khi êm đẹp, nhưng một khi đổ bể thì cứ như phải trả nợ cắt cổ. 6:03, theo như đồng hồ Timex. Chủ Nhật. Ed Brubeck: hắn đang nằm đó, gà gật trên đám gối tựa, miệng he hé, tóc tai lòa xòa. Mũ lưỡi trai của Ed đặt trên áo sơ mi kẻ ca rô mặc ngoài, đã được gấp lại gọn gàng. Mình dụi mắt cho tỉnh ngủ. Mình nằm mơ thấy Jacko và cô Constantin mở một tấm màn bằng không khí, rồi thấy những bậc thang bằng đá dẫn lên cao như trong phim Indiana Jones…

Nhưng có liên quan gì? Mình đã mất Vinny. Stella đã lấy mất Vinny.

Ed Brubeck ngáy như gấu. Brubeck hẳn không bao giờ phản bội bạn gái. Nếu hắn có bạn gái thật. Mấy đứa con trai khóa mình mỗi lần đi tiệc cứ giả bộ ấm ớ chuyện đã mất trinh ra sao, nhất là mấy thằng chưa có gì, vừa khoác lác vừa vân vê mấy cọng ria lơ thơ… Ed Brubeck không thèm làm trò mèo đó, cũng có nghĩa là hắn đã kinh qua rồi. Nếu là với ai ở trường thì hẳn mình đã nghe nói. Nhưng cũng chẳng biết được. Hắn rất kín tiếng.

Nhưng hôm qua hắn cũng nói với mình khá nhiều chuyện đó chứ.

Người cha, gia đình, tất tần tật. Tại sao lại đi nói với mình?

Ngắm gương mặt say ngủ, góc cạnh, nửa đàn ông nửa con trai của hắn. Rồi câu trả lời thật rõ ràng: “Vì hắn thích mày, đồ ngu!” Nếu hắn thích mình thật, tại sao lại không gợi ý gì cả?

Hắn thông minh mà, mình hiểu rồi. Đầu tiên hắn làm cho mình thấy biết ơn.

Đúng rồi. Đương nhiên. Đã đến lúc mình phải biến thôi.

Bồ công anh và cúc kế mọc dọc theo lối đi nứt nẻ, bờ giậu cao quá đầu mình. Ánh nắng buổi sớm gay gắt như tia laser. Không hiểu sao mình lại chôm mũ của Brubeck trước khi lẻn ra, nhưng mình không thấy áy náy gì, mà ngược lại. Hắn cũng sẽ chẳng để tâm mấy. Mình sẽ đi băng qua đồng, ra đến đường chính xuống Rochester, cỡ sáu bảy dặm gì đó. Chỗ giộp chân của mình sẽ không sao. Mà có sao cũng đành chịu: mình không gói theo bông băng trong túi thể thao. Bắt đầu thấy đói, nhưng giờ chịu thôi – đến Rochester mình sẽ kiếm gì ăn. Có lẽ mình nên chào tạm biệt và cảm ơn Brubeck, nhưng nếu hắn hồ hởi đáp lại “Có gì đâu Sykes, nhưng bồ không muốn đi quá giang về Gravesend sao?” thì biết đâu mình sẽ không kìm lòng được mà nhận lời.

Phía trước là con đường dẫn đến sân trại.

Mình trèo qua cổng, rồi chạy quanh một cánh đồng bắp cải.

Thêm một cánh cổng nữa. Trên trời có bóng diều hâu bé xíu.

Mình chỉ cần bỏ nhà đi sáu ngày. Cảnh sát chỉ quan tâm đến thiếu niên bỏ nhà đi sau một tuần. Sáu ngày để Má biết rằng mình có thể tự lập ngoài đời. Mình sẽ… gì nhỉ, có lợi thế thương lượng hơn. Và mình sẽ tự mà đi, không cần Brubeck đóng vai bồ bịch. Mình sẽ phải chi tiêu dè xẻn. Còn nhớ kinh nghiệm ăn cắp vặt lần đầu không?

Một ngày thứ Bảy năm ngoái, cả đám kéo nhau đến sân trượt Chathom Roller Disco dịp sinh nhật Ali Jessop. Nhưng chán bỏ bà, vậy là mình, Stella và Amanda Kidd lẻn ra phố. Amanda Kidd đầu têu: “Đi ‘câu’ không?” Mình đâu có muốn nhưng Stella nói ô kê, vậy là mình cũng làm mặt ngầu, cả đám đi thẳng vô trung tâm mua sắm Debenhams. Từ thuở cha sinh mẹ đẻ mình chưa bao giờ trộm cắp, mình sợ muốn tè ra quần, nhưng mình cứ nhìn Stella. Nó hỏi nhân viên bán hàng một câu vu vơ rồi lỡ tay, mà thực ra là cố ý, hất đổ hai thỏi son từ trên giá mỹ phẩm. Nó cúi xuống nhặt, tranh thủ bỏ ngay một thỏi vào giày bốt. Mình bắt chước y như vậy, thó được mấy đôi bông tai mình thích. Khi bước ra mình còn hỏi nhân viên hôm nay mở cửa tới mấy giờ. Một khi cả bọn đã an toàn ở ngoài, mình thấy như thế giới đã khác đi, luật lệ đã thay đổi. Nếu có gan thì muốn gì cũng được. Amanda Kidd thó được một cặp kính râm phải đến mười bảng, Stella câu được son Estée Lauder còn đôi bông tai kim cương giả của mình lấp lánh như đồ thiệt. Tiếp theo cả bọn kéo vào hàng kẹo Sweet Factory. Mình và Amanda Kidd nhét kẹo vào áo quần trong khi Stella đứng cà kê với tay nhân viên phụ việc thứ Bảy, nó nói rằng tuần nào nó cũng thấy tay này ở đó, còn nằm mơ thấy anh ta nữa, hỏi tiếp anh ta có muốn đi dạo với nó sau giờ làm không? Rồi tụi mình đến cửa hàng tạp hóa Woolworths. Stella và mình tách ra, đến kệ đĩa đơn Top 40, ra vẻ ngây thơ, nhưng ngay sau đó người quản lý và một nhân viên xuất hiện, rồi nhân viên an ninh kéo Amanda Kidd đến – mặt nó trắng bệch, người run như cầy sấy. Ông này nói “Đây là hai đứa đi cùng con bé này lúc mới vào.” Người quản lý gọi cả đám lên văn phòng trên lầu. Mình bủn rủn cả chân tay, nhưng Stella bật ngay, “Ông là ai mà đòi nói chuyện với tui?” Giọng nó nghe rất chảnh và chanh chua.

Người quản lý chỉ nói, “Cưng bình tĩnh đi lên đây,” rồi cố đặt tay lên vai nó.

Stella hất tay ông ta ra, lớn tiếng gằn, “Bỏ tay gớm ghiếc của ông ra! Tui không biết tại sao ông dám nghĩ hai chị em tui dính tới cái đứa… ăn cắp vặt này,” nó lườm nguýt Amanda Kidd, con nhỏ vẫn còn đang lắc đầu lia lịa, nức nở, “nhưng ông phải nói chính xác tại sao tụi tui lại thèm đi ăn cắp mấy thứ rác rưởi ông bán ở đây…” rồi nó dốc ngược túi xách đổ ra quầy tính tiền, “… mà ông nói cho đúng đi, ông Quản lý à, nếu không ngay sáng Thứ Hai cha tui sẽ thưa ông ra tòa. Đừng giỡn với tui: tui biết luật đó.” Khách mua bắt đầu dồn về phía mình đứng, rồi tự dưng như có phép màu, ông quản lý đấu dịu, lầm bầm trong miệng rằng có lẽ người bảo vệ đã nhầm, mình và Stella được phép đi về. Stella bật tiếp, “Tui biết là tui có quyền đi về!”, rồi nó bỏ đồ vào túi, rồi hai đứa lập cập bước ra.

Hai đứa trở lại tiệc sinh nhật, không kể với ai về chuyện vừa xảy ra. Mẹ Amanda Kidd phải đến tận nơi đón nó về. Mình lo là nó sẽ khai ra cả bọn, nhưng nó không dám. Tuần đó Amanda Kidd ăn trưa với một đám con gái khác, rồi chẳng bao giờ nói chuyện với mình nữa. Giờ nó đã được chuyển lên lớp chọn, nên biết đâu vụ bị bắt hóa ra lại tốt cho nó. Cái chính là, khác với Stella, mình không phải là đứa ăn cắp hay nói dối bẩm sinh. Hôm đó ở Woolworths, Stella còn làm cho mình tin rằng mình với nó vô tội. Rồi xem, giờ đây nó đã chơi mình ra sao, khi tới lượt mình trở thành Amanda Kidd. Chẳng lẽ Stella không cần bạn bè sao? Hay với nó, bạn bè chỉ là để lợi dụng?

Bên tay trái mình là bờ kè dốc đứng, bên trên có xa lộ hai chiều, còn bên phải là cánh đồng đã bị san bằng, nhường chỗ cho một khu dân cư sắp xây. Chung quanh đầy xe đào, xe ủi, cabin văn phòng tạm, hàng rào dây thép cao, bảng hiệu “Bắt buộc đội mũ bảo hộ” đặt trên “Vô phận sự miễn vào”. Có ai đó đã lấy sơn xịt viết thêm dòng chữ “Cờ Anh không có màu đen”, còn thêm vài chữ thập ngoặc kiểu phát-xít cho đủ bộ. Vẫn còn sớm: 7 giờ 40 phút. Brubeck chắc đang đạp xe về nhà, nhưng ở quán ba má chắc vẫn còn ngủ. Phía trước là đường hầm chạy dưới xa lộ. Khi tới cách đó chừng một trăm mét, mình thấy một thằng bé đứng đó, mình dừng lại, thật kỳ lạ, nhưng mình thề…

Là Jacko. Nó cứ đứng đó, nhìn mình. Nhưng Jacko đang ở cách đây hơn hai mươi dặm, đang vẽ mê cung hay đọc sách cờ hay làm những thứ Jacko vẫn làm. Đứa nhỏ trước mặt mình cũng có mớ tóc nâu lòa xòa, có vóc dáng, có kiểu đứng y như Jacko, và cũng mặc áo đỏ của câu lạc bộ Liverpool. Mình biết Jacko mà, mình biết đó chính là nó, hoặc là một đứa em song sinh thất lạc nào. Mình cứ đi tiếp, không dám chớp mắt vì sợ nó biến mất. Khi đến cách năm mươi mét, mình vẫy tay. Thằng-bé-chắc-chắn-không-phải-là-em-mình vẫy lại. Rồi mình gọi tên nó. Nó không đáp trả, nhưng quay đi và bước vào hầm. Mình không hiểu gì cả, nhưng mình cứ chạy theo, sợ là Jacko đã bỏ nhà đi tìm mình, mặc dù mình biết làm sao có chuyện đó được, vì Jacko biết tìm mình ở đâu?

Mình cố hết sức chạy, cảm giác một chuyện kỳ lạ đang xảy ra, nhưng không biết đó là chuyện gì. Đường hầm này chỉ dành cho người đi bộ và xe đạp nên khá hẹp, dài chỉ bằng bề rộng xa lộ bên trên với bốn làn xe và con lươn trồng cỏ ở giữa. Phía trước đường hầm lõm xuống rồi lồi lên, lối ra trông như một hình vuông, qua đó nhìn thấy được đồng cỏ, bầu trời và mái nhà. Mình bước vài bước rồi mới để ý: thay vì tối dần khi đi về đoạn giữa, đường hầm lại sáng lên, thay vì tiếng vọng vang lớn hơn, âm thanh trong hầm như bị ù đi. Mình tự nhủ, chỉ là ảo ảnh thôi, đừng lo, nhưng thêm vài bước nữa, mình cảm giác chắc chắn: đường hầm đang thay đổi hình dạng. Nó trở nên rộng hơn, cao hơn, có bốn góc, một căn phòng hình thoi… Như thể ở một nơi khác. Mình không tin nổi vào mắt mình, mình sợ run. Mình biết mình còn thức nhưng mình cũng biết những gì mình đang nhìn thấy không thể có thật. Mình dừng lại hẳn: mình sợ đụng vô tường. Đây là đâu? Mình chưa bao giờ đến nơi này. Hay mình đang gặp ác mộng ban ngày? Hay bệnh cũ tái phát? Hai bên có cửa sổ hẹp, chỉ cách mình khoảng mười bước. Mình sẽ không nhìn qua đó – chắc là nhìn xa khỏi tường đường hầm – nhưng qua cửa sổ bên tay trái mình thấy có cồn cát, cát màu xám, cứ đổ lên cao, về phía một đỉnh núi. Cửa sổ bên tay phải tối hơn: những cồn cát đó thoải dần ra biển, nhưng biển có màu đen, đen kìn kịt, đen như thể đang ở trong cái hộp chôn dưới hang sâu một dặm dưới lòng đất. Một chiếc bàn dài hiện ra ngay giữa phòng, ngay chỗ mình đứng, rồi mình đi dọc bên trái bàn, rồi nhìn kìa, một người đàn bà đang giữ nhịp đi với mình ở bên phải. Người này trẻ đẹp theo kiểu lạnh lùng, như một nữ diễn viên có cái vẻ cao kỳ; tóc vàng sáng trắng, da trắng toát, đôi môi đỏ như hoa hồng, mặc đầm dạ hội màu xanh đen như bóng đêm, như bước ra từ một câu chuyện…

Chính là cô Constantin, người ngồi trên ghế tựa trong phòng khi mình tám tuổi. Tại sao tâm trí mình lại bày trò này ngay bây giờ? Cả hai tiến về một bức tranh treo trong góc hẹp, tranh vẽ một người trông như thánh thần từ thời xa xưa, nhưng gương mặt ông ta không có mắt. Mình đứng cách đó chỉ gang tấc. Trên trán của ông thánh có một chấm đen, chếch lên giữa hai chân mày. Chấm đen đó nở to ra. Chấm đen thành hình tròn. Rồi thành một con mắt. Rồi mình cảm thấy trên trán mình cũng có một con như vậy, cũng ở cùng vị trí, nhưng mình không chắc mình có còn là Holly Sykes nữa không, hình như không, nhưng nếu mình không còn là mình, thì mình là ai đây? Từ chấm giữa mắt mình một vật gì đó bay ra rồi lơ lửng. Nếu mình nhìn thẳng vào, nó biến mất, nhưng nếu mình nhìn ra xa một lúc, nó lại hiện lên, nho nhỏ, lung linh mờ ảo như một hành tinh. Rồi thêm một cái nữa, một cái nữa, lại một cái nữa. Bốn món lung linh mờ ảo. Trong miệng mình có vị trà xanh. Rồi như có bom nổ tứ tung, cô Constantin gào thét, bàn tay giơ ra như móng vuốt. Một luồng ánh sáng xanh lóe lên như roi quất, cô văng ra, ngã xuống dưới bàn. Miệng ông thánh già mở ra, đầy răng như thú dữ, rồi sắt thép rú rít và đất đá rền rĩ. Hình người nhập nhoạng hiện lên như màn rối bóng trong tâm trí của người điên. Một người đàn ông lớn tuổi nhảy lên bàn. Ông này có mắt dữ như mắt cá cọp, tóc xoăn lọn đen, mũi bành, mặc complet đen và phát ra một thứ ánh sáng màu chàm lạ lùng, như phóng xạ. Ông ta đỡ cô Constantin đứng dậy, rồi cô chỉ một ngón tay ánh bạc thẳng về phía mình. Những ngọn lửa đen bùng lên, một tiếng gầm rú như động cơ phản lực lấp đầy không gian, rồi mình không chạy được, không chống cự được, rồi không nhìn thấy được nữa. Vậy là mình chỉ còn biết đứng đó, lắng nghe những giọng nói vang lên, như thể tiếng gào thét của người bị đè dưới nhà sập, nhưng mình cũng nghe được một giọng rất rõ, Ta sẽ ở đây. Rồi lại rung lắc, một thứ ánh sáng chói hơn cả ánh mặt trời phát ra, mạnh dần lên mãi, cho tới khi mắt mình bị đun chảy…

… rồi màu xám len qua những kẽ nứt, tiếng chim hót, tiếng xe tải chạy bên trên, cảm giác nhói đau ở cổ chân bị trặc, rồi mình cúi người trên mặt đường bê tông của một đường hầm, chỉ cách lối ra có vài mét. Cơn gió thoảng mùi khói xe tạt qua mặt, rồi mọi thứ chấm dứt, cơn ác mộng ban ngày, thứ ảo ảnh, trò-quái-quỉ-gì-đó, chấm dứt. Không có ai ở đó để mình hỏi, Có thấy không? Chỉ có mỗi bốn từ đó, Ta sẽ ở đây. Mình lồm cồm bò ra ngoài sáng, một buổi sáng xanh khô, vẫn còn run rẩy sau trò quái gở đó, rồi mình ngồi lên bờ cỏ. Có lẽ ác mộng ban ngày cũng như bệnh ung thư, tưởng là khỏi rồi nhưng vẫn tái phát. Có lẽ chiêu trị bệnh của bác sĩ Marinus đã bắt đầu hết tác dụng. Có lẽ hôm qua mình bị căng thẳng, sau chuyện nhức đầu với má và Vinny, nên bệnh cũ mới trở lại, mình chịu không biết. Không thấy Jacko đâu cả, vậy chắc là mình đã tưởng tượng ra nó. Tốt. Mình mừng là nó vẫn an toàn ở quán Thuyền trưởng Marlow, cách đây đến hai mươi dặm, nhưng mình muốn gặp nó, muốn biết nó không sao, mặc dù mình biết nó vẫn ổn và chẳng có gì đáng lo cả.

Lần đầu tiên mình thấy Jacko, nó nằm trong lồng kính, một ca sinh rất non. Lần đó cũng ở Bệnh viện đa khoa Gravesend nhưng khoa sản ở một tòa nhà khác. Má khi đó vừa sinh mổ xong, mình chưa bao giờ thấy má vừa mệt mỏi vừa hạnh phúc như vậy. Má nói tụi mình đến chào Jack, em trai mới. Ba trực ở bệnh viện từ nguyên ngày hôm trước; người ngợm nhếch nhác bốc mùi như người ngủ hoang ngoài bãi xe cả tuần. Mình còn nhớ Sharon phụng phịu mãi vì từ đây đã mất ngôi Bé Khỏe Bé Đẹp ở Quán Thuyền Trưởng Marlow vào tay một đứa nhăn nheo như khỉ, đỏ như tôm luộc còn mặc tã và bị gắn đủ thứ dây nhợ kia. Brendan khi đó mười lăm tuổi, sợ xanh mặt trước những màn la hét, bú mớm, nôn trớ rồi ị ọt trong khoa sản. Mình gõ lên mặt kính, nói “Jacko ơi, chị đây,” rồi ngón tay thằng nhỏ cựa quậy, chỉ một chút thôi, như thể nó đang vẫy chào mình. Thề có Chúa: không ai thấy cả nhưng ngay lúc đó tim mình nhói lên, mình thấy nếu cần, vì nó, mình có thể đi giết người. Mình vẫn còn cảm giác đó, mỗi khi có đứa cà chớn nào dám mở miệng bỉ bôi bọn “quái dị”, “lạ đời” hay “cái đồ đẻ non”. Miệng lưỡi thiên hạ đúng là ác ôn. Một đứa bảy tuổi vẽ tàu vũ trụ thì không sao, nhưng vẽ mê cung hắc ám thì lại có vấn đề? Bỏ tiền chơi Space Invaders là bình thường, nhưng mua máy tính bỏ túi có nhiều ký hiệu thì lại bị trêu? Tại sao nghe chương trình Top 40 trên Radio thì được nhưng nghe đài nước ngoài thì lại không? Ba má thỉnh thoảng lại cho rằng Jacko phải đọc sách ít lại, phải chơi đá banh nhiều hơn. Rồi nó cũng đóng kịch, giả bộ như một đứa trẻ bảy tuổi bình thường, nhưng chỉ là đóng kịch thôi, cả nhà đều biết. Đôi khi nó mỉm cười với mình bằng đôi mắt đen, như người ngồi trên chuyến tàu đang chạy vụt qua. Những lúc đó mình gần như muốn đưa tay vẫy nó, mặc dù nó chỉ ngồi phía bên kia bàn, hay lúc hai chị em đụng nhau ở cầu thang.

Có bị ảo giác ảo giếc gì nữa thì mình cũng không thể ngồi đây cả ngày. mình cần thức ăn, cần một kế hoạch. Vậy là mình đi tiếp, sau vòng xoay đồng cỏ cũng tận, mình trở lại thế giới của hàng rào quanh vườn, bảng quảng cáo và vạch kẻ đường cho người đi bộ. Bầu trời hơi âm u, mình lại khát nước. Mình vẫn chưa được uống nước tử tế kể từ khi mình với Brubeck uống nước từ vòi ở nhà thờ. Mà ở đây là phố xá đàng hoàng, không thể gõ cửa nhà người ta mà xin nước như lúc ở nơi đồng không mông quạnh được. Giá mà gặp công viên có vòi nước uống, hay thậm chí là nhà vệ sinh công cộng, nhưng hai thứ đó chẳng thấy đâu. Mình cũng muốn đánh răng nữa, răng mình đóng bợn như cặn trong ấm đun nước. Mình ngửi thấy mùi thịt ba rọi muối bay ra từ cửa sổ, rồi một chiếc xe buýt ghi chữ “Gravesend” trờ tới. Chỉ cần lên xe mình sẽ về tới nhà sau bốn mươi lăm phút…

Được rồi, nhưng cứ hình dung gương mặt má khi ra mở cửa. Chiếc xe buýt chạy qua, mình lóc cóc đi tiếp dưới một cây cầu đường sắt. Đằng trước có hàng quán, tiệm bán báo, mình sẽ ghé mua lon nước và gói bánh qui. Mình đi qua tiệm bán sách đạo, tiệm bán len, hàng cá cược, một cửa tiệm chỉ chuyên bán máy bay mô hình Airfix nọ kia, rồi một tiệm bán thú cưng với mấy con chuột lang ghẻ bị nhốt trong lồng. Gần như chỗ nào cũng đóng cửa, đường xá buồn buồn. Vậy là mình đã tới Rochester. Giờ sao?

Một buồng điện thoại công cộng hiện ra, đỏ như màu trái dâu.

Trái dâu. À, cũng có lý.

Bà nhân viên tổng đài tìm được ngay Gabriel Harty và Nông trại Black Elm trên đảo Sheppey, hỏi mình có muốn nối máy luôn không. Mình nói có, rồi một lát sau mình nghe tiếng chuông đổ. Mình nhìn đồng hồ, 08:57. Ở nông trại thì giờ này cũng đâu còn sớm gì nữa, ngay cả vào ngày Chủ Nhật. Không ai nhấc máy. mình chẳng hiểu sao lại thấy hồi hộp đến vậy, nhưng mình run lắm. Nếu chuông đổ mười lần mà không ai nhấc máy, mình sẽ dập máy, chấp nhận hẳn đây là ý Trời.

Ngay hồi chuông thứ chín thì có người cầm máy. “Lô-ô?”

Mình nhét thêm mười xu vào điện thoại. “Alô, phải Nông trại Black Elm đó không?”

“Chậc, để coi thử, đúng rồi đó.”

“Tôi gọi hỏi xem ông còn thuê thợ hái không.”

“Mình còn thuê thợ hái không?” Có tiếng chó sủa nhặng xị và tiếng một người phụ nữ la lên, Boris câm mỏ lại. “Cò-òn.”

“Tôi có người bạn làm chỗ ông mấy mùa trước, nếu ông vẫn còn mướn, tôi muốn làm một thời gian được không?”

“Xưa giờ đã hái gì chưa?”

“Chưa hái trên nông trại, nhưng tôi quen làm việc nặng, và…” mình nghĩ đến bà trẻ Eilísh ở Ireland “Tôi từng giúp dì chăm vườn rau, vườn rộng lắm, tôi không ngại bẩn tay.”

“Vậy ra nông dân tụi này ăn ở nhớp nhúa lắm sao?”

“Tôi chỉ có ý là không ngại việc nặng, làm ngay hôm ngay cũng được.” Im lặng một lúc. Một lúc khá lâu. Hơi bị lâu. Mình lo sẽ phải bỏ xu vào máy tiếp. “Ông Harty? A lô?”

“Nghe đây. Chủ Nhật không hái gì hết. Trại Black Elm nghỉ. Nghỉ Chủ Nhật cho trái còn lớn. Sáng mai bắt đầu hái trở lại đúng y sáu giờ. Có ký túc xá cho thợ hái nhưng nói trước luôn tụi này không phải khách sạn Ritz. Không cơm bưng nước rót gì đâu.”

Tuyệt vời. “Không sao cả. Vậy… ông nhận tôi chứ?”

“Cứ một khay tính ba mươi lăm xu. Phải đầy hộp, không có trái hư, nếu không phải hái lại cả khay. Không được độn sỏi, bỏ vô là nghỉ luôn.”

“Tôi hiểu rồi. Chiều nay tôi tới được không?”

“Được. Có tên tuổi gì không?”

Mình mừng quá, vậy là buột miệng “Holly”, ngay cả khi mình biết nên khai tên giả thì tốt hơn. Cạnh cầu đường sắt có một tấm áp phích quảng cáo thuốc lá Rothmans, mình nói tiếp “Holly Rothmans,” rồi tiếc hùi hụi. Đáng ra mình nên chọn cái tên nào dễ quên, như Tracy Smith, nhưng đâm lao thì phải theo lao.

“Holly Bossman hả?”

“Holly Rothmans. Giống hiệu thuốc lá.”

“Thuốc lá sao? Đây là dân hút tẩu.”

“Tới chỗ ông đi đường nào?”

“Thợ hái chỗ này phải tự mò tới. Tụi này không phải taxi.”

“Tôi biết. Vậy nên tôi mới hỏi đường đi.”

“Dễ ợt à.”

Mình cũng chỉ mong có vậy, kiểu này khéo mà mình hết xu mất. “À ha.”

“Đầu tiên qua khỏi cây cầu tới Đảo Sheppey. Rồi hỏi đường tới Trại Black Elm.” Tới đó, Gabriel Harty dập máy.

Pháo đài Rochester nằm bên dòng sông Medway, như một mô hình khổng lồ, có con sư tử đá đen nằm cạnh cây cầu sắc. Khi ngang qua mình vỗ lên bàn chân nó một cái lấy hên. Rầm cầu rên rỉ mỗi khi có xe tải chạy qua, bàn chân mình nhức mỏi kinh khủng, nhưng mình vẫn thấy vui: chỉ hai mươi tư tiếng trước, mình còn bầm dập ỉ ôi, nhưng giờ đây mình đã qua cuộc phỏng vấn xin việc đầu tiên trong đời, tuần tới coi như khỏi phải lo nữa. Trại Black Elm sẽ là nơi mình trú ẩn, kiếm thêm ít tiền. Mình nghĩ đến Gravesend, đến những trái bom đang nổ liên tiếp. Ba sẽ ghé qua chỗ Vinny, mình biết mà, “Chào anh, nghe đâu anh ngủ với con gái vị thành niên của tui: Tui sẽ không đi đâu cho tới khi nói chuyện được với nó.” Ka-boom! Mặt Vinny xanh như đít nhái. Ka-boom! Ba sẽ chạy về nhà, nói với má mình không có ở đó. Ka-boom! Má sẽ nhớ lại cái tát, tua tới tua lui trong đầu. Rồi má sẽ đùng đùng qua nhà Vinny. Đĩa bay, chén bay, tất tần tật bay tứ tung. Để mặc Vinny tan xác giữa nhà, má sẽ chạy tiếp qua nhà Brendan và Ruth, xem mình có ở đó không. Brendan sẽ kể có gặp mình hôm qua, mình nói đang đi qua nhà Stella Yearwood, vậy là hai má con sẽ đùng đùng chạy tiếp qua đó. Stella sẽ lải nhải “Không có đâu, cô Sykes à. Holly không qua đây, lúc đó cháu ở ngoài, cháu không biết,” nhưng rõ là nó biết đã lớn chuyện rồi, sẽ sợ vãi ra quần. Thứ Hai trôi qua, đến thứ Ba, rồi thứ Tư trường sẽ gọi về nhà vì mình bỏ thi. Thầy Nixon sẽ nói với má, “Để tôi nói lại xem có hiểu đúng ý chị không nhé chị Sykes. Con gái chị đã bỏ nhà đi từ sáng thứ Bảy?” Má sẽ lí nhí rằng giữa hai má con có bất đồng nhỏ. Ba sẽ bắt đầu hỏi đầu đuôi cặn kẽ, má đã nói gì với mình, “tát một cái nhẹ” là sao. Nhẹ chừng nào? Ka-boom, ka-boom, ka-boom. Má sẽ mất bình tĩnh, sẽ quạt lại, “Tui nói hết rồi đó ông Dave à!” rồi má đi lên lầu, vào bếp, khi nhìn ra sông má sẽ nghĩ, con nhỏ chỉ mới mười lăm tuổi, chuyện gì cũng có thể xảy ra… Cho đáng đời má.

Đám mòng biển quang quác nhặng xị dưới sông.

Một chiếc thuyền cảnh sát chớp đèn dưới cầu. Mình đi tiếp. Phía trước có trạm xăng Texaco – vẫn còn mở cửa.

“Muốn đi quá giang tới Sheppey thì đón xe chỗ nào là tiện nhất?” mình hỏi thằng cha đứng sau quầy tính tiền khi hắn đưa tiền thối, hai lon nước Tizer, thỏi sô cô la Double Decker và một gói bánh Ritz. 13 bảng 85 xu giờ chỉ còn 12 bảng 17 xu.

“Đây chưa đi quá giang bao giờ,” hắn đáp, “cứ thử chỗ vòng xoay A2, ngay đầu đường Chatham Hill.”

“Vậy đi đường nào tới đó?”

Nhưng trước khi kịp trả lời, một chị tóc đỏ như trái mâm xôi bước vào, vậy là cặp mắt hắn nuốt lấy nuốt để chị này.

Mình phải nhắc hắn biết mình còn đứng đó. “Anh gì đó ơi, đi lối nào ra đầu đường Chatham Hill?”

“Sau khoảng sân trước rẽ trái, qua khỏi cột đèn giao thông đầu tiên, bỏ qua nhà trọ Star Inn, hướng lên đồi về phía tháp đồng hồ. Rẽ trái về Chatham, đi thẳng đoạn nữa, qua khỏi Bệnh viện St Bart. Cứ đi vậy cho tới chỗ bán xe hơi Austin Rover là đụng vòng xoay Chatham. Đứng đó mà đưa ngón cái ra rồi đợi hiệp sĩ đi con Jag láng o dừng lại.” Hắn ta cố ý nói thật nhanh để mình không nhớ hết. “May thì gặp liền, còn không phải đợi vài tiếng. Đi quá giang thì hên xui thôi. Nhớ là xin xuống ở ngả rẽ về Sheerness còn nếu tới Faversham thì đã đi quá xa.” Hắn ta đưa tay rị mọ dưới háng rồi quay nhìn người phụ nữ. “Rồi, giờ cưng cần gì?”

“Đầu tiên là đừng có mà ‘cưng’ với tôi.”

Mình phì cười, không thèm ý tứ. Thằng chả liếc mình muốn đứt mặt.

Mình đi chưa tới một trăm mét thì một chiếc xe tải mini Ford Escort cà tàng trờ tới, dừng lại. Chắc hồi trước xe có màu cam, cũng có khi chỉ là rỉ sét. Người trong xe kéo kính xuống. “Ê nhóc.” Mình đang nhồm nhoàm bánh Ritz, mặt như con ngố, nhưng mình nhận ra ai ngay. “Không phải con Jag láng o,” chị tóc màu trái mâm xôi vỗ vào cửa xe, vui vẻ, “còn Ian đây chắc chắn không phải là hiệp sĩ,” anh lái xe nghiêng về phía mình, vẫy tay, “nhưng nếu em muốn đi quá giang xuống Sheppey thì tụi này cũng đi gần tới chỗ cây cầu. Thề danh dự, tụi này không phải dân dao búa sát thủ gì đâu, chắc là phải đỡ hơn đứng trên đường nhỏ sáu tiếng đồng hồ đợi một người như cái thể loại đó…” chị ta hất đầu về phía trạm xăng Texaco “… đi ngang qua giở giọng cưng kiếc, đồng ý không?”

Chân mình đau kinh hồn, mà đi quá giang với một cặp thì an toàn hơn đi với chỉ một người đàn ông, chị ta nói đúng. “Hay quá, cảm ơn chị.”

Chị ta mở cửa sau của chiếc xe tải, dọn vài cái thùng để có chỗ cho mình. Mình chui vào, khắp xe có cửa sổ nên mình ngó nghiêng bên ngoài được. Ian khoảng chừng hai lăm tuổi, hơi hói, có cái mũi to như máy bay Concorde, hỏi mình, “Ngồi vậy không chật chội quá chứ?”

“Không hề,” mình đáp. “Thoải mái vô cùng.”

“Chỉ khoảng hai lăm phút thôi,” Ian nói, rồi xe chuyển bánh.

“Chị vừa nói với Ian đây,” chị ta quay xuống mình, “nếu tụi mình không cho em đi quá giang, thì cả ngày nay chị sẽ bứt rứt mãi. Chị là Heidi. Em tên gì?”

“Tracy,” mình đáp. “Tracy Corcoran.”

“Em biết không, xưa giờ chị chưa gặp ai tên Tracy mà lại không thích.”

“Để đó em tìm cho chị vài đứa,” mình đáp, rồi Ian và Heidi bật cười, như thể mình vừa nói gì đó rất dí dỏm, mà mình cũng nghĩ vậy. “Tên Heidi nghe cũng hay vậy.”

Ian làm bộ ậm ừ phản bác, Heidi đưa tay chọt ngang sườn anh ta. “Đừng có quấy nhiễu tài xế chứ,” anh ta đáp.

Xe đi qua một cái trường hẳn cũng đúc từ một khuôn như trường Phổ Thông Windmill Hill – cửa sổ lớn, mái bằng, sân bóng đá đầy bùn đất. Mình bắt đầu tin được chuyện mình đã bỏ học: giống như ông già Sharkey từng nói, “Ở liều gặp lành.”

Heidi hỏi, “Nhà em ở Sheppey sao Tracy?”

“Không. Em định tới đó làm ở trại trái cây.”

Ian hỏi, “Chỗ Gabriel Harty, phải không?”

“Đúng rồi. Anh biết ông này sao?”

“Không quen biết gì, nhưng cha này có tiếng là dốt toán khi cộng tiền công, nên em phải coi chừng. Nếu cộng sai thì kiểu gì cũng có lợi cho thằng chả.”

“Cảm ơn, em sẽ để ý. Nhưng chắc không sao. Bạn em hè năm rồi cũng làm đó.” Mình bắt đầu nói gấp gáp, để có vẻ thuyết phục hơn. “Em mới thi tốt nghiệp O Level xong, em mười sáu tuổi, đang để dành tiền tháng Tám này làm một chuyến InterRail.” Ặc, mình nói mà như cầm giấy đọc.

“InterRail nghe hay đó,” Heidi tiếp. “Tha hồ khám phá châu Âu. Vậy em quê ở đâu hả Tracy?”

Mình muốn quê ở đâu bây giờ? “London.”

Đèn giao thông chuyển màu đỏ. Một ông mù dắt chó bước qua.

“London, chốn đô thành,” Ian nói. “Mà ở khúc nào?”

Mình hơi hoảng. “Ở công viên Hyde.”

“Gì kia, ở trong công viên Hyde hả? Trên cây, chung với bọn sóc siếc?”

“Không. Nhà của em thực ra gần… à… gần khu Camden.”

Heidi và Ian không đáp ngay – mình vừa lỡ miệng chăng? Nhưng rồi Ian nói, “Anh hiểu rồi,” nên chắc không sao. Ông mù đã qua bên kia đường, Ian loay hoay với hộp số, mãi xe mới lăn bánh tiếp. “Hồi mới tới London anh cũng ở khu Camden,” anh nói, “ngủ trên sofa của bạn. Ở quảng trường Rowntree, gần sân bóng cricket, cạnh ga tàu điện. Biết chỗ đó không?”

“Biết chứ,” mình nói dối. “Ngày nào em chẳng đi ngang qua.”

Heidi hỏi tiếp, “Vậy em đi quá giang từ Camden lúc sáng nay sao?”

“Dạ. Em xin đi nhờ xe tải tới Gravesend, rồi có một khách du lịch người Đức chở tới cầu Rochester, rồi anh chị xuất hiện. Hên không?” mình tìm cách đổi đề tài. “Trong mấy cái hộp đó có gì vậy? Hai người chuyển nhà sao?”

“Không phải, là báo Socialist Worker[1] số tuần này,” Heidi trả lời.

“Ở phố Queen cũng có bán báo đó,” mình thêm, “dưới Camden ấy,”

“Tụi này làm với trụ sở trung tâm ở London,” Ian nói, “Anh và Heidi đây là sinh viên cao học ở trường LSE, nhưng cuối tuần thường về gần Faversham, vậy nên tụi anh nhận phân phát. Nên phải lỉnh kỉnh vậy.” Mình nhặt một tờ Socialist Worker lên. “Hay không?”

“Tất cả những tờ báo khác ở Anh quốc đều là công cụ tuyên truyền,” Ian đáp. “Tờ Guardian cũng vậy. Cứ lấy một tờ.”

Lúc này mà từ chối thì hơi dở, vậy là mình nói, “Cảm ơn,” rồi đọc trang nhất, với dòng tít “Công nhân hãy đoàn kết lại ngay!” bên trên tấm hình chụp thợ mỏ đình công. “Vậy anh chị đây,… về phe Nga sao?”

“Không hề,” Ian đáp.

Nhà bên đường trôi vèo qua cửa sổ, như tranh nền phim hoạt hình rẻ tiền.

Heidi hỏi, “Vậy bố mẹ em làm gì hả Tracy?”

“Làm quán bia. Là quán King’s Head. Gần Camden.”

“Những người bán quán,” Ian nói, “bị bọn công ty bia bóc lột tận xương tủy. Cũng chẳng hơn gì. Công nhân làm ra lợi nhuận còn chủ hãng thì hưởng hết. Chà chà, vụ gì thế này?”

Dòng xe cộ phía trước đứng sững lại khi xe đang lên đồi.

“Một cuộc chiến vô hình đang xảy ra,” Heidi nói, mình ngẩn tò te, cho tới khi nhận ra chị ấy đang nói chuyện khác hoàn toàn, không phải chuyện kẹt xe, “trong suốt lịch sử, chính là chiến tranh giai cấp. Giữa chủ nô và nô lệ, giữa quý tộc và tá điền, giữa các sếp béo mầm và nhân công, giữa người có và kẻ không. Giai cấp lao động bị đè nén, bằng cả vũ lực lẫn sự dối trá.”

Vậy là mình hỏi, “Dối trá sao?”

“Rằng hạnh phúc đồng nghĩa với mượn những đồng tiền không có để mua những thứ rác rưởi không cần,” Ian nói. “Dối trá rằng chúng ta đang sống ở một nước dân chủ. Và lời nói dối trắng trợn nhất là không có chiến tranh giai cấp. Đó là lý do tại sao nhà nước nắm quyền kiểm soát chương trình học ở trường phổ thông, nhất là môn lịch sử. Một khi người công nhân đã giác ngộ, cách mạng sẽ nổ ra. Và, như Gil Scot-Heron đã nói, sẽ không có chuyện chiếu trên tivi.”[2]

Mình chẳng hiểu mô tê cò vạc gì, nhưng làm sao hình dung được thầy Simms dạy lịch sử lại là chân rết trong một âm mưu khổng lồ nhằm đè nén người lao động. Mình tự hỏi có phải ba mình cũng là một ông sếp béo mầm, chuyên bóc lột nhân công, vì ba thuê Glenda. Mình hỏi, “Chứ không phải các cuộc nổi dậy thường làm mọi thứ còn tồi tệ hơn đó sao?”

“Có lý,” Heidi nói. “Vì vậy mới cần có tổ chức. Khi cách mạng Anh quốc nổ ra, tụi này sẽ ở đây, với cơ sở đã đâu vào đó, canh chừng bọn phát xít và cướp bóc.”

Dòng xe nhích từng tí một: máy xe Ian gầm gừ.

Mình hỏi, “Vậy chị nghĩ sẽ sớm có cách mạng sao?”

“Cuộc đình công của thợ mỏ có thể xem như que diêm châm vào thùng xăng,” Ian nói. “Khi công nhân thấy công đoàn bị tấn công… đầu tiên là bằng luật pháp, rồi bằng súng đạn… thì sẽ rõ rằng cuộc cách mạng giai cấp chẳng phải là một thứ bánh vẽ tả khuynh viển vông, mà đã thành vấn đề sống còn.”

“Karl Marx,” Heidi tiếp, “từng chứng minh rằng chủ nghĩa tư bản tự rán mình bằng mỡ của chính nó. Khi không thể nuôi nổi hàng triệu tín đồ đã bị bóc lột ấy thì không có sự dối trá hay vũ lực nào cứu được chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, Hoa Kỳ sẽ muốn nắm cổ ta, họ muốn giữ tiểu bang thứ năm mươi mốt mà, còn Moscow thì sẽ cố mà nắm cương, nhưng một khi những người lính cùng đứng vào hàng ngũ, như hồi năm 1917 ở Nga, thì lực lượng của ta sẽ như vũ bão.” Hai người này nói gì cũng chắc như đinh đóng cột, hệt như các tín đồ của giáo phái Nhân chứng Jehovah. Heidi nhoài người ra trước nhìn: “Cảnh sát.”

Ian lẩm bẩm gì đó về lũ lợn và chó săn của Thatcher, rồi xe chạy tới vòng xoay, nơi có xe tải lớn bị lật qua một bên. Những mảnh kính chắn gió vung vãi khắp trên mặt đường nhựa, một nữ cảnh sát đang dồn ba làn xe thành một. Trông cô này bình tĩnh, ở thế kiểm soát, không có vẻ gì là lợn chó của Thatcher hay đang đi tìm thiếu niên dạt nhà cả, ít ra là mình thấy vậy.

“Ngay cả khi Thatcher không châm ngòi cách mạng trong năm nay,” đến lượt Heidi nói, mấy cọng tóc đỏ màu trái mâm xôi bay bay trong gió, “thì sớm muộn cũng sẽ đến. Ngay trong thời chúng ta sống. Đâu cần đến chuyên gia thời tiết mới biết gió thổi hướng nào. Đến khi chúng ta già đi, xã hội sẽ được vận hành theo lối ‘làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu.’ Đương nhiên, bọn sếp, bọn tự do chủ nghĩa, bọn phát xít đều sẽ phải rên xiết, nhưng không đập vỡ trứng thì làm sao có món omelette. À nhân tiện nói chuyện trứng,” chị ta nhìn Ian đang gật gù, “em ăn sáng với tụi này không? Ian đây nấu bữa sáng kiểu Anh đúng chuẩn năm sao.”

Căn nhà một tầng của Heidi nằm giữa đồng cỏ, chẳng có gì giống với hình dung của mình về trụ sở cách mạng xã hội chủ nghĩa đóng ở Kent cả. Nhà có màn lưới, gối tựa, tượng sứ trang trí và các món đồ in hình Tiên Hoa mơ màng.[3] Nhà tắm cũng lót thảm. Heidi nói nhà này vốn là của bà chị ấy hồi trước khi bà mất, nhưng mẹ và bố dượng của Heidi ở tuốt bên Pháp nên cuối tuần hai anh chị thường đến đây để coi chừng, kẻo mà dân ở hoang dọn vào, rồi tiện thể đi phân phát báo luôn. Heidi chỉ cho mình cách khóa cửa phòng tắm từ bên trong rồi nói đùa một câu gì đó về Nhà trọ Norman Bates, mình giả bộ như hiểu được. Mình chưa bao giờ được tắm vòi sen – ở Thuyền Trưởng Marlow chỉ có bồn tắm thôi – vậy là mình suýt bị cóng rồi bị phỏng trước khi chỉnh được nước vừa đủ ấm. Heidi có nguyên một kệ đầy dầu gội, dầu xả, xà bông với nhãn tiếng nước ngoài, vậy là mình thử mỗi thứ mỗi ít, cho tới khi cả người mình có mùi như tầng trệt ở trung tâm mua sắm. Khi bước ra, mình thấy có dòng chữ mờ mờ viết trên lớp hơi nước từ lần trước: “AI XINH TRAI VẬY TA?” Heidi viết vậy cho Ian chăng? Ước gì khi nãy mình đừng nói dối tên tuổi, giờ tự dưng mình muốn làm bạn thật sự với Heidi. Mình đổ một ít kem dưỡng Woods of Windsor lên lớp da đã rám nắng, ngẫm nghĩ giả sử Heidi sinh ra trong một quán bia cà tàng ở Gravesend, còn mình mới là đứa thông minh, tự tin, học chính trị ở London, dùng dầu gội đầu Pháp, rồi có một anh bạn trai vừa chung thủy lại vừa chu đáo, vừa hài hước lại vừa tử tế, mà còn biết làm bữa sáng kiểu Anh đúng chuẩn năm sao. Đúng là Trời cho ai nấy hưởng.

“Ở Thổ Nhĩ Kỹ có cây cầu này,” mình ấn nĩa, ghim một cây xúc xích, nước thịt rỉ ra từ lỗ ghim, “châu Âu một bên còn châu Á một bên. Em sẽ đi tới đó. Tới cả tháp nghiêng Pisa nữa. Em rất mê Thụy Sĩ. À thì mê từ xa, vì trước giờ cùng lắm là chỉ mới được ăn kẹo sô cô la Toblerone thôi…”

“Chắc chắn em sẽ rất thích.” Heidi nuốt bánh mì nướng, lấy khăn chặm môi. “La Fontaine Saint-Agnès là một trong nơi chị thích nhất trên đời, nép gần núi Mont Blanc. Ông chồng thứ hai của mẹ chị có nhà nghỉ ở đó, vậy nên hầu như Giáng Sinh nào bọn chị cũng đi trượt tuyết. Mỗi tội ở Thụy Sĩ rất đắt đỏ.”

“Vậy thì em sẽ uống tuyết và ăn bánh Ritz trừ bữa. Một lần nữa cảm ơn anh đã mời ăn sáng, Ian à. Xúc xích ngon không tưởng.”

Ian nhún vai khiêm tốn. “Nhà anh ba đời hàng thịt ở Lincolnshire, vậy nên phải rành chứ. Vụ đi du lịch này là đi một mình sao hả Tracy, hay em đi với bạn?”

“Chuyện đời tư của cô bé này thì liên quan gì tới anh,” Heidi lên tiếng. “Cái đồ nhiều chuyện. Lơ anh ấy đi, Tracy à.”

“Không sao,” mình vừa nuốt vừa đáp. “Thực ra, bây giờ em không có bạn trai. Em… em… mới đây thì có, nhưng…” Cổ họng mình nghẹn cứng lại.

“Em có anh chị em gì không?” Heidi tìm cách đổi đề tài, mình có cảm giác chị ấy cũng vừa đá Ian một cú dưới bàn.

“Em gái tên Sharon và em trai tên Jacko.” mình hớp trà, không đả động gì đến Brendan. “Nhưng cả hai còn nhỏ, vậy nên em sẽ đi một mình. Còn anh chị thì sao? Có sắp đi đâu chơi không?”

“À, sắp tới bận lắm, tại có đại hội Đảng, rồi còn hỗ trợ thợ mỏ nữa,” Heidi nói, “nhưng tụi chị sẽ cố đi Bordeaux tháng Tám này. Thăm mẹ chị.”

“Trời, anh đếm từng ngày từng giờ,” Ian làm động tác treo cổ, “Giỡn chơi. Em thấy đó, anh là kẻ có tội dụ dỗ Heidi đi theo bọn cánh tả điên khùng mà.”

“Nhưng tức cười ở chỗ bố mẹ của Ian cũng chắc chắn rằng chị mới là người dụ dỗ,” Heidi nói. “Tụi chị nên làm một cái đám cưới ngược đời, rồi chia tay.” Heidi lại đưa khăn chặm môi. “Corcoran là tên Ireland phải không Tracy?”

Mình gật đầu, ghim nĩa xuống một trái cà chua. “Mẹ em người Tây Cork.”

“Vụ Xung Đột ở Ireland có đúng sai gì nữa,” Ian với tay lấy tương cà chua, “thì mọi cuộc cách mạng sau năm 1920 đều chịu ơn người Ireland. Người Anh cho rằng họ đã cao thượng mà trả lại Ireland, nhưng không phải: người Ireland đã tự giành lại được, bằng cách phát minh ra chiến tranh du kích.”

“Dì Roisín của em,” mình đáp, “có nói rằng người Anh không bao giờ nhớ còn người Ireland không bao giờ quên.”

Ian đập vào đít chai tương cà chua, nhưng chẳng có giọt nào chảy ra. “Nhân loại thật đáng thất vọng. Ta có thể gởi người lên Mặt Trăng, nhưng lại không thể phát minh ra cách xịt tương ra khỏi chai mà không…” Một bãi tương cà bự chảng phụt ra, phủ lên miếng thịt ba rọi muối trên đĩa của Ian.

Mình rửa bát đĩa. Ian và Heidi cứ liên tục “Không, không, em là khách kia mà,” nhưng mình cứ khăng khăng. Mình thầm mong lát nữa hai người sẽ tự động đề nghị chở mình tới Trại Black Elm, hay mời mình tới nhà Chủ Nhật tuần sau, nếu mình vẫn chưa về Gravesend. Heidi biết đâu sẽ cho mình xài ké thuốc nhuộm tóc. Mình tráng ly trước, rồi lau bằng khăn khô, như cách vẫn làm ở quán, để không có vệt nước. Bọt xà bông nhỏ thành dòng từ tấm thớt đá, nên mình để nó ráo, cạnh một con dao róc thịt sắc ghê tay. Máy cassette đang bật bài “As I Went Out One Morning” của Bob Dylan: Ian có nói mình thích nghe gì cứ tự nhiên, vậy là mình chọn băng John Wesley Harding. Thường mình không thích phần chơi kèn nhưng bài này hay thật: giọng Bob Dylan như gió thổi lệch trong một ngày lạ lùng. “Lựa chọn hay,” Heidi nói, đi chân không ngang qua bếp. “Lâu lắm rồi chị chưa nghe bài này.” Được khen, trong bụng mình sướng rơn. Chị ấy bước ra ngoài, cầm theo cuốn Inside the Whale của George Orwell: ở trường mình đã học cuốn Trại Súc Vật của ông này rồi, lát nữa mình sẽ ra “đàm đạo” với chị ấy. Heidi để mở cửa ra ngoài sân, mùi cỏ dạt vào nhà. Rồi Ian bước vào, đặt bình thủy tinh Pyrex đựng sữa vào lò vi sóng. Mình chưa bao giờ thấy lò vi sóng ở ngoài đời. Vặn núm, bấm nút, rồi bốn mươi giây sau ping một cái, sữa nóng bốc khói. Mình nói, “Giống như trong Star Trek.”

“Tương lai,” Ian nói, giọng như quảng cáo phim. “đang tiến về một Hiện tại gần ta.” Anh đặt bình sữa lên khay cùng với ba chiếc tách và một bình phê cà phê nhìn rất chảnh, có cả bàn ép giống cái xi lanh. “Khi nào rửa xong thì ra ngoài thưởng thức café au lait với bọn này.”

“Ô kê,” mình đáp, không biết café au lait là cái món gì.

Ian đem khay nước ra ngoài sân. Mình nhìn đồng hồ: mười giờ ba mươi. Má chắc đang đi nhà thờ, có lẽ là đi cùng Jacko, nó vẫn hay đi cùng chỉ để má vui. Ba sẽ dẫn con Newky đi dọc sông, chạy về hướng Ebbsfleet, về London. Hay ba má đang đi xuống phố Peacock không biết chừng? Còn mình ở đây, ngon lành, tiếp tục rửa bát đĩa, và Dylan chuyển sang bài “I Dreamed I saw St Augustine”. Bài này rên rỉ, lê thê kiểu chó-sói-tru-mặt-trăng, nhưng cuối cùng mình cũng hiểu vì sao người ta mê Dylan tới vậy. Qua cửa sổ khu vườn hiện ra, hoa mõm sói, hoa kèn đuốc đỏ rung rung trong gió. Bãi cỏ và bồn hoa trông xinh xắn như tranh vẽ trên hộp thiếc bánh qui, lúc nãy mình có hỏi Ian và Heidi, rằng bộ hai người vừa là sinh viên cao học, vừa là dân làm vườn sao. Heidi đáp có thuê một ông dưới Faversham, cứ hai tuần ghé qua làm vài tiếng, để mà “lập lại tôn ti trật tự”. Nghe chẳng có vẻ gì là xã hội chủ nghĩa cả, nhưng mình ngậm miệng vì mình không muốn ra vẻ khôn lỏi.

Nước rửa bát đĩa chảy xuống lỗ thoát, một cái muỗng nhỏ rơi loảng xoảng trong chậu rửa, Bob Dylan bị lên cơn đau tim giữa bài “All Along The Watchtover.” Ôi không! Băng bị rối mất rồi: khi mình bấm nút mở, một đoạn băng đổ ra, như búi sợi mì màu nâu. Nhưng mình sửa băng rối bằng keo trong rất xịn, vậy là mình đi ra ngoài sân, định hỏi xem Ian và Heidi cất cuộn băng keo ở đâu. Cả hai đang nằm trên ghế băng gỗ, đằng sau một bức tường đặt đầy chậu đất sét trồng rau thơm. Cuốn sách của Heidi rơi xuống đất, ngón tay cái vẫn kẹp giữa sách: chắc chị ấy ngủ gục rồi. Ian cũng đang ngủ, đầu ngoẹo về một bên, kính râm mang lệch. Khay cà phê đặt trên bức tường thấp. Chắc hai người mệt mỏi lắm. Mình sè sẹ gọi tên Heidi, nhưng chị chẳng động đậy gì cả. Mấy con ong lượn lờ trên bờ dậu đầy rau thơm, cừu be be, xa xa có tiếng máy kéo gầm gừ. Chỗ đất nhô lên cách nửa dặm ở phía trước là đảo Sheppey, còn thứ xương xẩu bé tí kia chính là cây cầu. Rồi mình để ý thấy ba, bốn, và nhiều nữa, những chấm đen đang bò lổn ngổn trên cánh tay của Heidi.

Mình nhìn cho kỹ, không lẽ lại là kiến…

Mà đúng vậy. “Heidi! Có kiến bò lên người chị này!”

Nhưng chị không phản ứng gì cả. Mình cố phủi lũ kiến, nhưng lỡ tay đập bẹp vài con. Hai người bị làm sao vậy Trời? “Heidi!” Mình lắc tay chị mạnh hơn, rồi người chị đổ về một bên ghế, như đang say rượu đùa giỡn, nhưng chuyện này chẳng có gì tức cười. Đầu chị ngả xuống, kính râm tuột ra rồi mình thấy cặp mắt – chỉ còn mỗi mống mắt, không có chấm đen ở giữa. Mình nhảy dựng ra sau, sợ điếng người, hét lên áaa!, sém chút nữa thì vấp ngã. Ian vẫn không động đậy, mình sợ kinh được, mình gọi tên anh, rồi thấy một con ruồi lông lá đang bò dọc theo cặp môi mẫm của Ian. Tay mình run run, mình nhấc cái mũ lưỡi trai khỏi mặt anh ấy. Con ruồi vo ve bay đi. Mắt của Ian cũng giống hệt mắt Heidi… như thể vừa chết vì dịch bệnh… rồi mình thả cái mũ xuống, điếng người hét lên lần nữa. Một con chim bay lên từ bụi hoa hồng phấn, lanh lảnh véo von, đầu mình quay cuồng, bấn loạn, mơ mơ màng màng, nhưng cũng kịp nghĩ ra một ý: Heidi và Ian bị ngộ độc thức ăn sau bữa sáng. Ngộ độc thức ăn sau bữa sáng. Nhưng chỉ mới có hai mươi phút? Cũng có thể, nhưng mình không có triệu chứng nào như vậy cả. Ba người ăn cùng một món mà. Rồi mình nghĩ tiếp, Đau tim, nhưng nghe chẳng ra làm sao. Chơi thuốc quá liều? Rồi mình nghĩ, Đừng suy nghĩ nữa, Sykes… gọi cho xe cấp cứu ngay…

• • •

…điện thoại đặt trên giá trong phòng khách, qua khỏi nhà bếp. Chạy ào vào, quay số 999, đợi người trực tổng đài. Cầm máy lên, nhanh lên, nhanh lên nào! Đường dây im ắng. Rồi mình để ý thấy có một người đàn ông trong gương, đang nhìn mình từ chiếc ghế tựa trong góc. Mình hoang mang tợn. Mình quay lại, ông ta ở ngay đó, nơi vòm cửa giữa bếp và phòng khác. Mình biết ông này. Cặp mắt cá cọp, tóc đen xoăn từng lọn, mũi bành… chính là người trong cơn ác mộng ban ngày của mình, lúc ở dưới đường hầm, trong căn phòng hình thoi đó. Ngực ông ta phập phồng như vừa chạy lên đồi. Ông ta sủa vào mặt mình, “Ngươi là ai?”

“Tôi… tôi… tôi là bạn của Ian và Heidi, tôi… tôi…”

“Esther Little hay Yu Leon Marinus?” Giọng của ông ta đầy căm ghét, lạnh lùng.

Cặp chân mày ông ta khẽ động đậy, như thể… lạ lùng quá trời đất. Chẳng lẽ ông này vừa nói ‘Marinus’ sao? Ai mà biết được? Ông này bước ra từ ác mộng, mặc dù thông thường mỗi khi sợ đến mức này thì người ta sẽ tỉnh giấc. Mình lùi lại, ngã xuống ghế sofa. “Hai người bạn tôi cần xe cấp cứu.”

“Khai tên ra, ta sẽ cho được chết sạch sẽ.”

Ông ta không dọa suông. Có là ai đi nữa ông ta cũng đã giết Heidi và Ian và sẽ giết mình mất, như bẻ gãy một cây diêm. “Tôi… tôi… tôi không hiểu, thưa ông,” mình sợ hãi, rúm ró cả người lại. “Tôi…”

Ông ta tiến một bước về phía mình. “Khai tên ra!”

“Tôi là Holly Sykes, tôi chỉ muốn đi khỏi đây… làm ơn, cho tôi…”

“Holly Sykes…”Ông ta hất đầu. “Đúng rồi, ta biết cái tên này. Một trong những đứa trốn thoát. Lấy thằng em làm mồi nhử, kể cũng khôn đó, nhưng nhìn lại ngươi thử xem hả Trắc Sĩ. Cố trốn trong một thứ đồng hồ xương đĩ con thế này. Xi Lo mà biết được hẳn phải rùng mình! Holokai chắc nôn ra mất! Ấy là đặt giả sử chúng nó còn sống, cũng có nghĩa là,” ông ta cười đểu, “chúng chẳng còn nữa, sau cuộc đột kích nửa đêm vô cùng thảm hại của các ngươi. Chẳng lẽ ngươi nghĩ rằng U Minh Phái chưa bao giờ nghe đến máy báo trộm? Chẳng lẽ ngươi không biết Nhà Nguyện chính là thầy Cathar và thầy Cathar cũng chính là Nhà Nguyện? Linh hồn của Holokai đã hóa ra tro. Linh hồn của Xi Lo chẳng là gì cả. Còn ngươi, là kẻ nào đi chăng nữa, thì cũng là thứ bỏ trốn. Bỏ trốn theo đúng như trong Kịch Bản của các ngươi, hẳn là vậy rồi. Bọn ta thích Kịch Bản của các ngươi lắm. Nhờ có Kịch Bản mà Trắc Thời Phái đã cáo chung. Hôm nay là ngày vui cho Thực Nhục Giới ở khắp nơi. Không có Xi Lo và Holokai, ngươi là gì? Một gánh xiếc làm trò, bói toán, uốn cong thìa. Vậy khai ra trước khi chết: ngươi là Marinus hay Esther Little?”

Mình run lẩy bẩy: “Thề có Chúa, tôi… tôi không phải là người ông tìm.”

Ông ta nhìn mình, nghi ngờ. “Để xem nào. Hai đứa nằm tắm nắng ngoài kia vẫn chưa chết hẳn. Dùng trò Dòng Sâu của ngươi, ngay bây giờ, có khi cứu được một đứa. Làm đi. Nghề của Trắc Sĩ mà.”

Xa xa chó nhà ai vẫn sủa, máy kéo vẫn gầm gừ văng vẳng…

… ông ta tới gần đến nỗi mình ngửi được cả hơi người. Giống mùi lò nướng cháy khét. Giọng mình chỉ còn lào khào yếu ớt. “Vậy tôi gọi bác sĩ được chứ?”

“Ngươi không thể chữa cho chúng sao?” Mình cố lắc đầu.

“Vậy thì chúng cần áo quan, chứ không cần xe cấp cứu. Nhưng ta cần bằng chứng rằng ngươi không phải là người của Trắc Thời Phái. Marinus là thỏ đế, nhưng là thỏ đế xảo quyệt. Chạy đi. Nào. Chạy đi. Để xem ngươi đi được bao xa.”

Mình không tin lời ông ta nổi, không tin cả tai mình. “Gì kia?”

“Cửa đó kìa… đi đi. Chạy đi, đồ chuột lắt.” Ông ta bước qua một bên, chừa ra một đường thoát. Mình nghĩ ông ta sắp giở trò gì đó, hoặc sắp rút dao ra, mình không biết nữa, nhưng ông ta tiến gần quá, mình thấy những vết trầy xước, vết cắt li ti trên mặt ông ta, rồi thấy cặp mắt đen to có viền xám quanh, rồi ông ta hét muốn bể phổi: “CHẠY ĐI TRƯỚC KHI TA ĐỔI Ý!”

Qua khóm hồng đầy gai, giữa những đám cây xô dạt, xuống bãi cỏ bụi bặm, mình chạy. Mình chạy như chưa bao giờ chạy. Mặt trời chiếu thẳng vào mặt, bức tường không còn xa. Nửa đường rồi, đến chỗ hàng rào mắt cáo, mình quay lại nhìn: ông ta không đuổi theo như mình đã sợ, mà chỉ đứng đó, cách Ian và Heidi vài bước chân, hai người vẫn nằm chết, vậy là ông ta để cho mình đi thiệt – ai cần quan tâm tại sao lại có người tâm thần quái gở đến vậy, chạy thôi, chạy chạy chạy, chạy, nhưng, chạy, nhưng… Nhưng mình đang chậm lại, chậm lại, làm sao thế này, tại sao, chuyện gì thế này, tim mình đập điên cuồng, nhưng như thể vừa đạp chân thắng và chân ga cùng một lúc, thứ đang chậm lại không phải ở trong người mình, không phải là thuốc độc, mà là thứ gì đó bên ngoài, cứ như thời gian chậm lại hay trọng lực kéo mạnh hơn, hay lúc không khí chuyển thành nước, hay cát, hay mật đen… mình từng nằm mơ như vậy – nhưng mình đang tỉnh, đang giữa ban ngày mà, mình biết mình đang tỉnh… Nhưng, thật vô lý, mình sững lại, như bức tượng người đang chạy, một chân đưa lên chuẩn bị cho bước tiếp theo chẳng bao giờ xảy ra. Điên khùng thật. Tâm thần dở hơi. Mình chợt nghĩ ra phải hét lên kêu cứu, người ta vẫn làm vậy đó sao, nhưng cổ họng mình chỉ phát ra được những âm thanh nghèn nghẹt, gừ gừ…

…rồi cả thế gian bắt đầu thu nhỏ lại, dồn về phía ngôi nhà một tầng, kéo theo mình, bất lực hoàn toàn. Trên mái vòm có dây trường xuân, mình nắm lấy nó, chân mình nhấc bổng khỏi mặt đất, như thể mình là nhân vật trong phim hoạt hình giữa trận bão, cố níu mạng sống, nhưng cổ tay đau nhói, mình phải buông ra, rồi mình rơi xuống đất đánh rầm một cái, trầy trụa hết, rồi mình bị kéo lê dưới mặt đất, khuỷu tay trượt đi, chỗ xương cụt nảy lên, rồi mình quay nằm ngửa lại, cố ghim gót chân xuống nhưng bãi cỏ quá cứng, không níu lại được, mình như bị trượt đứng người lên, đứng thẳng, rồi một cặp bươm bướm bồng bềnh lượn tới, bay thẳng lên, như thể thứ lực hút không cưỡng lại được đó chỉ có tác dụng với mình. Giờ đây mình trở lại chỗ khóm hoa hồng, người đàn ông mặt tái vẫn đứng ở bậc cửa bước ra sân, bàn tay và ngón tay của ông ta như đang kéo chỉ, như thể đang ra dấu một thứ ngôn ngữ ký hiệu của người ngoài hành tinh, ông ta như đang nhếch mép cười, rồi tiếp tục kéo mình trở lại qua khoảng sân, qua khỏi Heidi và Ian, vẫn còn là hai cái xác chết - đã chết bí ẩn dưới tay ông ta, rồi ông ta lùi vào bếp để chừa chỗ; một khi mình vào trong nhà mình sẽ không bao giờ ra khỏi được, vậy là mình cố nắm lấy khung cửa và nắm đấm cửa, nhưng rồi dường như có 20.000 volt chạy qua người mình, rồi mình bị vứt ngang phòng khách, như một con búp bê, mình rơi xuống ghế sofa, rồi nảy lên, rồi rơi xuống thảm, rồi kapow kapow kapow mắt mình như muốn nổ tung ra…

… cơn ác mộng ban ngày đó chấm dứt khi mặt thảm ngứa ngáy xát vào má mình. Hết rồi. Chắc mình vừa lên cơn động kinh sao đó. Một tấm ảnh chụp Heidi mặc đồng phục học sinh và người bà tóc bạc hiện ra rõ, chỉ cách có gang tấc, chắc là bị rơi xuống… có lẽ mình đánh đổ nó khi ngã xuống. Mình phải về nhà, phải đi bệnh viện. Phải chụp phim não. Heidi sẽ chở mình về Gravesend. Mình sẽ gọi cho má từ bệnh viện. Sẽ quên hết mọi thứ, quên sạch mọi thứ liên quan đến Vinny. Mình thấy tỉnh táo. Chỉ mới đây thôi mình còn định sửa cuộn băng Bob Dylan bằng kéo và keo dán, rồi thì… Kiến bò lên tay Heidi, người đàn ông trong cơn ác mộng ban ngày với cái mũi bành, rồi không khí kéo giãn phần phật. Chỗ điên khùng nào trong tâm trí mình vẽ ra ác mộng quái gở như vậy, lạy Chúa? Mình gượng đứng lên, lỡ Heidi và Ian thấy mình nằm đây, tưởng mình vừa lăn đùng ra chết ngay trong phòng khách của hai người sao.

“Ta tin ngươi, bé cưng à.” Ông ta ngồi trên chiếc ghế tựa bọc da, một bàn chân vắt vẻo lên đầu gối bên kia. “Ngươi chỉ là một thứ vô dụng vô duyên trong Cuộc Chiến của bọn ta. Nhưng tại sao hai kẻ vô thể đang chạy trốn, hấp hối kia lại mò đến ngươi, mà không phải ai khác, hả Holly Sykes? Vấn đề là chỗ đó. Ngươi thì có ích gì?”

Mình tê cứng người lại. Ông ta đang nói gì vậy? “Chẳng có gì cả, tôi thề, tôi chỉ muốn… muốn đi xa và…”

“Câm ngay. Ta đang suy nghĩ.” Ông ta cầm một trái táo Granny Smith từ chiếc bát trên tủ, cắn rồi nhai. Im ắng, tiếng nhai rau ráu nghe rõ mồn một. “Lần cuối cùng người gặp Marinus là khi nào?”

“Ông bác sĩ hồi trước? Là… là lúc ở Bệnh viện Đa khoa Gravesend. Nhiều năm trước, tôi…”

Ông ta đưa tay lên, ra ý dừng lại, như thể giọng mình thật chói tai. “Mà Xi Lo chưa bao giờ nói với ngươi rằng Jacko thực ra không phải là Jacko?”

Cho đến lúc này, nỗi sợ trong mình như tiếng rít the thé: nhưng khi tên Jacko bật ra, dường như có cả tiếng đệm thình thịch kinh hoàng. “Jacko thì có liên quan gì?”

Ông ta nhìn trái táo Granny Smith, ra vẻ gớm ghiếc. “Thứ táo chua nhất, nhạt nhất trên đời. Người ta chỉ mua làm đồ trang trí.” Ông ta quăng trái táo đi. “Không có tín hiệu trường Dòng Sâu ở đây, vậy ngôi nhà này không an toàn. Đây là đâu?”

Mình không dám lặp lại câu hỏi về Jacko, lỡ có chuyện tai vạ, tai vạ quỉ quái nào xảy đến với em mình. “Nhà của bà Heidi. Bà ấy ở Pháp, nhưng để Heidi và…” Họ chết rồi, mình sực nhớ.

“Vị trí kia, nhóc con! Hạt, thị trấn, làng. Động não đi. Nếu ngươi là Holly Sykes mà Marinus đã nhúng tay vào, hẳn đây phải là Anh quốc.”

Mình không nghĩ ông ta đùa. “Kent. Gần đảo Sheppey. Tôi… tôi không nghĩ chỗ này có… có tên cụ thể.”

Ông gõ ngón tay lên ghế da. Móng tay dài quá. “Esther Little. Ngươi biết ả chứ?”

“Biết. Mà cũng không hẳn. Biết sơ sơ.”

Ông ta thôi gõ ngón tay. “Ngươi có muốn ta nói ra sẽ làm gì với ngươi nếu ta nghĩ ngươi đang nói dối không, hả Holly Sykes?”

“Esther Little đứng ở bờ sông, hồi hôm qua, nhưng trước đó tôi chưa bao giờ gặp bà ấy. Bà ấy cho tôi trà. Trà xanh. Rồi bà ấy hỏi nhờ…”

Ông mặt tái nhìn mình chằm chằm, như muốn khoan thủng trán mình, như thể câu trả lời đã được viết trên đó. “Ả hỏi gì?”

“Hỏi xin nơi trú ngụ. Nếu mà…” mình cố nhớ lại chính xác lời của bà ấy “…kế hoạch của bà ấy tiêu tùng.”

Ông mặt tái hớn hở hẳn lên. “Vậy… Esther Little muốn lấy ngươi làm oubliette[4]. Một cái nhà tạm di động. Ta hiểu rồi. Chính ngươi! Một con tốt vớ vẩn, ả cứ nghĩ bọn ta đã quên ngươi rồi. Vậy thì,” ông ta đứng thẳng, chặn đường ra. “Nếu ngươi có ở đó, Esther, bọn ta đã tìm được ngươi rồi!”

“Nếu…” mình cố nói, lắp ba lắp bắp, “nếu chuyện này là tình báo MI5, vụ Ian và Heidi là cộng sản, thì tôi không có dính dáng gì cả. Họ chỉ cho tôi đi quá giang, và tôi… tôi…”

Ông ta tiến lại gần mình, đột ngột, chỉ để làm mình sợ. Vậy đúng rồi. “Thì sao?”

“Đừng lại gần tôi.” Giọng mình như rúm ró lại. “Tôi… tôi… tôi… sẽ đánh lại. Cảnh sát…”

“Sẽ sững sờ khi vào nhà bà của Heidi. Hai kẻ tình nhân trên ghế bố, xác của thiếu niên Holly Sykes. Pháp y sẽ phải vò đầu bứt tai khi tìm ra ngươi – nhất là sau khi kẻ giết ba mạng người đã để cửa hé, cho cáo, quạ, mèo hoang tha hồ vào… Một mớ hổ lốn! Ngươi sẽ nổi tiếng khắp cả nước. Vụ án kinh hoàng rùng rợn không phá được của thập niên tám mươi ở Anh quốc. Cuối cùng ngươi cũng được nổi tiếng.”

“Để tôi đi! Tôi… tôi… tôi sẽ đi ra nước ngoài, tôi sẽ… đi. Xin ông.”

“Chết rồi trông người sẽ rất đáng yêu.” Ông mặt tái nhìn ngón tay, vừa duỗi ngón, vừa nhếch mép cười. “Một gã không có nguyên tắc sẽ vui vẻ với ngươi trước, nhưng ta phản đối cư xử tàn nhẫn với thú vật ngu ngốc.”

Mình nghe có tiếng thở hắt, khô khốc. “Đừng… đừng mà… đừng… làm ơn, xin ông…”

“Suỵt…” Ngón tay ông ta làm động tác vặn vẹo, rồi môi mình, lưỡi mình, cổ họng mình đóng cứng lại. Sức lực bị hút cạn khỏi chân tay mình, như thể mình là con rối vừa bị cắt dây, bị đẩy vào trong góc. Ông mặt tái đang ở trên thảm với mình, ngồi xếp bằng, như một người kể chuyện, nhưng trông ông ta nhởn nhơ sung sướng, như Vinny khi hắn biết sắp được ngủ với mình. “Ngươi đang thấy sao, khi biết rằng người sẽ chết cứng như đá trong vòng sáu mươi giây nữa, hả Holly Sykes? Đầu óc sâu bọ của ngươi đang hiện lên hình ảnh gì sau cuối?”

Mắt ông ta không giống mắt người. Mắt mình mờ đi, như đêm đang xuống, phổi mình như đang chết đuối, không phải trong nước, mà giữa thinh không, rồi mình nhận ra mình ngừng thở đã một lúc lâu, vậy là mình cố thở nhưng không được, tiếng trống trong tai mình đã ngừng lại vì tim mình đã tắt. Giữa bóng tối đặc quánh ông mặt tái với tay ra, áp mặt sau ngón tay vuốt ngực mình, rồi nói, “Ngủ ngon, tim yêu,” rồi ý nghĩ cuối cùng của mình là, Ai đang lập cập ở đằng xa kia, như cách hàng dặm, ở cuối ghế bố…?

Ông mặt tái nhận ra, ngoái lại nhìn và nhảy dựng lên. Tim mình đập trở lại, phổi mình lại hít đầy oxy, nhanh đến nỗi mình nghẹn, ho sặc sụa. mình nhận ra Heidi. “Heidi! Gọi cảnh sát đi! Ông này giết người đó! Chạy đi!” Nhưng dường như Heidi bị ốm, hay bị đánh thuốc, hay bị thương, hay say rượu, đầu chị ấy ngả qua ngả lại như người bị bệnh đa xơ cứng. Giọng của chị ấy cũng không còn như cũ – nghe như giọng ông mình sau khi bị đột quỵ. Chị nhả từng tiếng khó nhọc: “Đừng lo, Holly.”

“Ngược lại, Holly,” ông mặt tái cười đểu, “nếu thứ này là chàng hiệp sĩ mặc giáp của ngươi, thì ngươi nên bắt đầu tuyệt vọng. Marinus, ta đoán. Ta ngửi được mùi ngon ngọt của ngươi, ngay cả trong cái xác thối kia.”

“Chỉ là nơi ở tạm,” Heidi đáp, đầu ngả về trước, về sau, rồi lại về trước. “Tại sao lại giết hai thanh niên đang tắm nắng? Tại sao? Thật là vô độ, Rhîmes.”

“Tại sao không? Các ngươi, các ngươi là thể loại cứ tại sao, tại sao, tại sao? Bởi vì ta thích vậy. Bởi vì Xi Lo giở trò phóng hỏa trong Nhà Nguyện. Bởi vì ta có thể làm thế. Bởi vì ngươi và Esther Little dẫn ta tới đây. Ả chết rồi, đúng không, trước khi ả kịp xin trú nhờ thứ này, một con cái của loài dơ bẩn? Ả bị đánh tơi tả khi trốn theo Thạch Đạo. Ta biết mà, chính ta ra tay chứ ai nữa. Nói chuyện đánh tơi tả, ta xin thành thật chia buồn về Xi Lo và Holokai tội nghiệp – cái hội tiên cứu người của nhà ngươi giờ như rắn mất đầu. Còn ngươi thì sao hả Marinus? Chẳng lẽ ngươi không chiến tới cùng sao? Ngươi là thầy thuốc, không phải là chiến binh, ta biết, nhưng ít ra cũng chống đỡ cho có lệ chứ, năn nỉ đấy.” Rhîmes lại máy mó ngón tay rồi… trừ khi mình đang bị ảo giác … cái thớt đá dựng lên từ trên quầy bếp, rồi bay về phía cả ba, như có người vô hình đang mang nó lại. “Miệng mồm đâu cả rồi hả Marinus?” ông mặt tái tên Rhîmes hỏi.

“Để cô bé đi,” Heidi đầu rũ nói.

Cái thớt bay ngang phòng khách, đập vào sau đầu Heidi. Mình nghe tiếng động như tiếng thìa đập võ trứng. Kiểu này thì Heidi phải ngã nhào về trước như con ki bowling, nhưng chị ấy được đỡ dậy, nhưng … nhưng chẳng có ai đỡ, trong khi đó Rhîmes tiếp tục đan tay, rồi làm động tác cắt phựt, rồi Heidi bị xoay vèo vèo, giật liên tục. Tanh tách, răng rắc, bôm bốp, xương sống của chị ấy gãy rụp, rồi hàm dưới rơi ra, máu rỉ rả từ lỗ trên trán, như thể có viên đạn đâm vào. Rhîmes phất mu bàn tay trong không khí, rồi cơ thể tơi tả của Heidi bật ngược vào bức tranh con chim sẻ đậu trên cán mai, rồi đập đầu ngã xuống đất, dồn thành một đống.

Giờ đây mình cảm giác như đang đeo tai nghe dính cứng vào tai, một bên đang phát inh tai bài “Những chuyện này không có thật” còn bên kia là bài “Tất tần tật đều đang xảy ra”, lặp đi lặp lại, vặn volume tối đa. Nhưng khi Rhîmes mở miệng, dù nói khẽ, mình nghe được từng từ rõ mồn một. “Có bao giờ ngươi mở mắt thấy mình còn sống, mừng quá…” ông ta quay sang mình “…chỉ muốn gào lên trước mặt trời? Giờ đây, ta tin là ta đang vắt sạch sự sống ra khỏi ngươi…” Ông ta đẩy không khí về phía mình bằng lòng bàn tay, rồi nhấc tay lên: mình bị dồn vào tường, bị đẩy lên, bằng một thứ áp lực vô hình cho tới khi đầu mình đập vào trần nhà. Rhîmes nhảy lên đứng trên tay ghế, như ông ta chuẩn bị hôn mình. Mình cố đánh lại nhưng cả hai tay mình đều bị ép lại, rồi một lần nữa phổi mình đóng cứng. Tròng trắng một bên mắt của Rhîmes bắt đầu tối đi, đỏ dần, như thể một mạch máu vừa vỡ ra: “Xi Lo thừa hưởng tình chị em của Jacko dành cho ngươi, khiến ta rất vui lòng. Giết ngươi thì cũng không mang được huynh đệ Ẩn Sĩ của ta trở về, nhưng giờ đây Trắc Thời phái đã mang nợ máu với bọn ta, nên giết càng nhiều càng tốt. Nói vậy để ngươi rõ.” Mắt mình mờ đi, não mình đau nhói, khiến mình không nghĩ được gì được, rồi…

Đầu mũi nhọn trượt khỏi miệng ông ta.

Nhuốm đỏ, tanh sắt, chỉ cách mũi mình có vài phân. Một con dao chăng?

Mắt Rhîmes trợn lên, rồi khi mí mắt ông ta khép lại, mình trượt xuống sàn nhà, còn ông ta ngã khỏi tay ghế sofa. Khi ông ta đập đầu xuống sàn, lưỡi dao đâm sâu vài phân nữa, lợn cợn trắng rỉ ra. Trước giờ mình chưa bao giờ thấy thứ gì gớm ghiếc như vậy, mà mình không thể hét lên nổi.

“May thật.” Ian lê vào, bám tay lên quầy bếp.

Anh ấy chỉ có thể đang nói chuyện với mình. Còn ai nữa đâu. Ian nhướng mày nhìn cái xác vặn vẹo của Heidi. “Hẹn gặp lại nhé, Marinus. Dù sao cũng đến lúc ngươi nên tìm một chỗ mới rồi.”

Gì kia? Đáng ra Ian phải nói “Ôi lạy Chúa!” hay “Heidi, không, Heidi, không, không không!” chứ? Ian nhìn xác Rhîmes, nói “Có nhiều hôm ta cũng tự hỏi, ‘Tại sao không lùi về ở ẩn, không đánh đấm nữa, mà sống đời chiêm nghiệm?’ Rồi lại thấy cảnh tượng như thế này, và nhớ ra tại sao.” Cuối cùng, Ian vặn cái đầu đã tơi tả về phía mình. “Xin lỗi đã để ngươi phải chứng kiến những thứ này.”

Mình thở chậm lại, chậm lại, rồi… “Anh là…” mình không nói được.

“Ngươi đâu chê trà xanh. Nhớ không?”

Bà già bên sông Thames. Esther Little? Làm sao Ian biết chuyện đó? Mình như ở đẩu đâu rớt xuống nhầm chỗ.

Trong lối sảnh đồng hồ cuckoo đổ chuông.

“Holly Sykes,” Ian, hay Esther Little, nếu đây đúng là Esther Little lên tiếng, nhưng làm sao lại thế được? “Ta muốn trú nhờ.”

Hai người chết đang nằm đây. Máu Rhîmes thấm dần vào thảm.

“Holly, thân xác này đang chết dần. Ta sẽ xóa sạch những gì ngươi vừa thấy, để ngươi bình tâm, rồi ta sẽ trốn sâu, sâu, sâu trong…” Nói rồi Ian- hay-Esther-Litte ngã gục xuống như một chồng sách đổ nhào. Chỉ còn mở một mắt, một nửa gương mặt ép lên gối ôm nhăn nhúm trên ghế sofa. Mắt Ian giống mắt Davenport khi bác sĩ thú ý tiêm thoát giải thoát cho nó. Davenport là con chó collie nhà mình nuôi trước con Newky. “Xin ngươi đấy.”

Ba tiếng đó như thần chú, đột nhiên, mình quỳ xuống cạnh Esther Little-trong-Ian, nếu đó chính là người này. “Tôi có thể làm gì được?” Tròng mắt Ian giật giật sau mí mắt đang khép lại. “Cho ta trú.”

Hôm qua mình chỉ xin thêm ít trà xanh, nhưng đã hứa thì phải giữa lời. Với lại, sau chuyện quái gở này, mình còn sống chỉ vì Rhîmes đã chết, mà Rhîmes chết là vì Ian hay Esther Little hay người-nào-nữa đã ra tay. “Được rồi… Esther. Tôi phải làm gì đây?”

“Ngón giữa.” Một hồn ma khát khô trong khuôn miệng đã chết. “Trán.”

Vậy là mình ấn ngón giữa lên trán của Ian. “Như thế này sao?”

Chân Ian khẽ giật, rồi ngừng lại. “Thấp hơn.”

Vậy là mình di ngón xuống thấp khoảng một inch. “Đây sao?”

Một nửa miệng còn động đậy của Ian giật lên. “Đó…”

Nắng chiếu trên cổ mình, gió mằn mặn gợn lên. Dưới đoạn kênh hẹp giữa Kent và đảo Sheppey, một chiếc tàu đánh cá đang hụ còi inh tai: mình thấy ông thuyền trưởng đang ngoáy mũi, nhìn quanh quất tìm chỗ quẹt tay. Cây cầu trông như đồ chơi, kiểu Thomas the Tank Engine – khúc ở giữa nhô lên giữa hai cột tháp ục ịch. Tàu đến đầu kênh, còi điện hú lên rồi chui dưới cây cầu. Jacko mà thấy cảnh này chắc thích lắm. Mình lục lọi túi thể thao tìm lon nước ngọt Tango rồi thấy có tờ báo – tờ Socialist Worker. Ở đâu ra vậy trời? Hay Ed Brubeck lén bỏ vào để chọc mình? Mình định quăng tờ báo qua thanh chắn, nhưng một ông đi xe đạp vừa trờ tới, vậy là mình mở lon Tango, ngồi ngó cây cầu. Ông đi xe đạp cỡ tuổi ba, nhưng gầy đét, hói gần trọc, còn ba hơi tròn trịa, râu ria tóc tai nhiều đến nỗi có biệt danh Người Sói. “Ổn chứ,” ông ta lên tiếng, lau mặt bằng khăn vải gấp lại.

Coi bộ không giống thứ dê xồm bệnh hoạn, nên mình trả lời. “Ổn à.”

Ông ta nhìn về phía cây cầu, như thể ông ta là người đã xây nên nó.

“Thời bây giờ người ta không làm cầu kiểu đó nữa.”

“Chắc vậy.”

“Cầu Kingsferry là một trong ba cây cầu nâng theo chiều đứng ở Anh quốc. Cái xưa nhất là một thiết kế thời Victoria xinh xinh bắc qua một con kênh ở Huddersfield, chỉ dùng cho người đi bộ. Cái này khánh thành năm 1960. Trên thế giới chỉ có hai cái như vậy thôi, dùng cho xe và tàu lửa.” Ông ta uống nước từ trong bình.

“Vậy ông là kỹ sư sao?”

“Không, không, chỉ có sở thích nghiên cứu mấy cây cầu hiếm thôi. Con trai tôi ngày trước mê lắm. À mà…” ông ta lấy ra một chiếc máy ảnh từ túi gắn với yên xe “…cô giúp tôi chụp một tấm với cây cầu được không?” Mình nói được thôi, rồi phải lom khom xuống mới lấy được hết cái đầu trọc của ông ta và phần nhấc lên của cây cầu. “Ba, hai, một…” Máy ảnh kêu rì rì, ông ta nhờ mình chụp tiếp một pô nữa, mình làm theo, rồi đưa trả máy ảnh. Ông ta cảm ơn, lọ mọ lục đồ. Mình hớp nước ngọt, tự hỏi vì sao mình không thấy đói, mặc dù đã gần trưa rồi mà từ khi rời chỗ Ed Brubeck nằm ngủ tới giờ thì mình chỉ ăn mỗi bánh qui Ritz. Còn ợ hơi mùi xúc xích nữa, chẳng hiểu tại sao. Một chiếc xe cắm trại VW trờ tới, dừng lại sau thanh chắn. Hai đứa con gái và bạn trai ngồi trong xe hút thuốc, nhìn mình, mặt kênh kênh, kiểu “Nhỏ này tuổi nào mà ngồi đây vậy?” mặc dù tụi nó đang bật một bài hát của REO Speedwagon. Để chứng tỏ rằng mình không phải loại dở-hơi-không-ai-thèm-chơi mình quay lại nói chuyện với ông đi xe đạp. “Đạp từ dưới xa lên sao?”

“Cũng không xa lắm, hôm nay thì không,” ông ta đáp. “Brighton qua đây.”

“Brighton? Cả trăm dặm chứ ít gì.”

Ông ta nhìn món đồ gắn trên ghi đông. “Bảy mươi mốt.”

“Vậy ông có sở thích chụp ảnh cầu sao?”

Ông ta nghĩ ngợi một lúc. “Thực ra là một thứ lễ nghi, hơn là sở thích.” Ông ta thấy mình không hiểu. “Sở thích thì chỉ làm vì vui, còn lễ nghi thì giúp mình sống tiếp. Con trai tôi mất rồi, cô thấy đó. Tôi chụp hình cho nó.”

“Ôi, tôi…” Mình cố không sốc ra mặt. “Tôi rất tiếc.”

Ông ta nhún vai, nhìn ra chỗ khác. “Năm năm rồi.”

“Bị…” - tại sao mình không ngậm miệng quách cho rồi - “tai nạn sao?”

“Ung thư máu. Nếu còn chắc nó cũng cỡ tuổi cô.”

Còi điện lại hụ tiếp, phần đường bộ trên cầu hạ dần xuống.

“Chắc là buồn lắm,” mình nói, nghe vô duyên quá trời đất. Một dải mây gầy gò, dài, đậu lơ lửng trên đảo Sheppy nhô lên, nửa hình chó săn, nửa nàng tiên cá, rồi mình chẳng biết phải nói gì nữa. Chiếc VW rồ máy, chạy đi khi thanh chắn kéo lên, để lại phía sau một vệt bụi đá trong không khí. Ông xe đạp ngồi lên xe. “Bảo trọng nhé,” ông ta nói, “đừng phí hoài cuộc đời.”

Ông ta đạp quanh rồi trở lại xa lộ A22.

Đạp xe xa vậy mà tới đây không thèm qua cầu.

Xe hơi, xe tải rầm rập chạy qua, giật đi mớ sợi hạt trên đám hoa bồ công anh, nhưng vẫn chẳng có ai để mình hỏi đường đến Trại Black Elm. Mấy cái hoa như vải ren nghiêng ngả trên cuống dài mỗi khi có xe tải chạy quá, bươm bướm màu xanh bị thổi bay ra. Còn bướm màu cam, như da hổ lại bám chặt hơn. Giờ này chắc Ed Brubeck đang làm việc ở cửa hàng bán cây cối, vừa mơ mộng đến con gái Ý vừa khiêng bao than chất lên xe khách hàng. Chắc hắn nghĩ mình là thứ bò cái ẩm ương. Cũng có thể hắn không nghĩ vậy. Chuyện Vinny bỏ mình đang dần trở nên bình thường. Hôm qua vẫn còn là vết đạn từ súng cưa nòng, hôm nay chỉ là một vết bầm tím do đạn súng hơi. Đúng là mình đã tin tưởng Vinny, đã yêu hắn, nhưng điều đó không có nghĩa mình là đứa ngu ngốc. Với cái thể loại như Vinny Costello, tình yêu là trò bịp chúng thì thầm vào tai ta, để được lên giường. Còn với con gái, ít ra với mình, lên giường là thứ phải làm từ trang một, để có được tình yêu ở đoạn sau. “Mình cóc thèm thằng chó đẻ dê xồm đó nữa,” mình nói với một con bò đang ngắm mình sau cánh cổng, và mặc dù vẫn còn đau lắm, mình nghĩ đến một ngày mình sẽ quên hết. Có lẽ mình phải cảm ơn Stella, nó đã xé mặt nạ của Vinny chỉ sau vài tuần. Vinny rồi cũng sẽ chán nó, chắc như đinh đóng cột, rồi khi nó thấy hắn ngủ với một đứa con gái khác, nó sẽ hết mơ mộng được Vinny chở trên xe, cũng như mình vậy. Rồi nó sẽ lê lết trở lại, mắt sưng đỏ như mắt mình hôm qua, xin mình tha thứ. Rồi có khi mình tha thật. Có khi không. Phía trước có một vòng xoay và một quán cà phê.

Và quán cà phê mở cửa. Đời bắt đầu tươi lên.

Quán tên là Smoky Joe’s Café, bắt chước kiểu quán ăn Mỹ trong phim bộ Happy Days, bàn ăn có vách cao ở ngoài nhìn vào không thấy được, nhưng bên trong vô cùng tồi tàn. Khách lác đác, hầu hết dán mắt vào trận bóng đá trên chiếc tivi cà tàng gắn trên tường. Một mụ mũi khoằm ngồi cạnh cửa, đọc báo News of the World, phả khói thuốc mờ mịt như đám mây bao quanh. Mắt mụ trô trố như hai cái nút áo, cặp môi nhăn nhúm như bị khâu vài mũi, tóc tua tủa, gương mặt ảo não sầu bi. Trên đầu mụ ta có một tấm poster đã sờn cũ, có hình một bể cá màu nâu với hai con mắt trố ra, ở dưới là dòng chú thích: “Con cá vàng của Jeff lại bị tiêu chảy nữa rồi.” Mụ ta ngó mình dò xét, rồi hất tay về phía dãy bàn ăn, ý là, ngồi đâu kệ mày. “Thực ra,” mình nói, “tôi chỉ muốn hỏi xem bà biết đường đến Trại Black Elm không.”

Mụ ta ngước lên, nhún vai, nhìn xuống rồi phả khói thuốc. “Trại ở ngay Sheppey đây. Tôi tới đó làm việc.” Mụ ta tiếp tục đọc báo, đưa tay khảy tàn thuốc.

Mình quyết định sẽ gọi điện cho ông Harty. “Ở đây có điện thoại công cộng không?”

Mụ bò cái lắc đầu, không thèm nhìn lên.

“Phiền bà cho tôi gọi một cuộc nội hạt, bằng máy của…”

Mụ ta lườm mình một cái, cứ như mình vừa hỏi mụ ta có bán ma túy không.

“Vậy thì… có ai ở đây biết Trại Black Elm không?” mình cứ nhìn chăm chăm vào mắt mụ ta, để mụ ta biết rằng muốn yên thân đọc báo thì phải giúp mình đã.

“Peggy!” mụ ta rống lên về phía bếp. “Trại Black Elm?”

Một giọng ồ ồ trả lời: “Chỗ Gabriel Harty. Mà sao?”

Cặp mắt nút áo liếc về chỗ mình. “Có đứa hỏi…”

Peggy xuất hiện: mũi đỏ, má phính như chuột lang, mắt như sĩ quan phát-xít. “Đi hái thuê vài bữa, phải không cưng? Thời tui thì gặt thuê, nhưng giờ máy móc làm hết. Cưng đi theo đường Leysdown… hướng đó đó…” bà ta chỉ ra khỏi cửa “…qua khỏi Eastchurch, rồi rẽ phải qua đường Old Ferry Lane. Đi bộ hả cưng?” Mình gật đầu. “Năm hay sáu dặm gì đó, nhưng thanh niên sức dài vai rộng…”

Có tiếng khay thiếc loảng xoảng điếc tai trong bếp, Peggy chạy vào. Mình phải tự thưởng một bao Rothmans, sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ hỏi đường, vậy là mình đi ra máy bán thuốc ở giữa quán: 1 bảng 20 xu một bao hai mươi điếu. Cắt cổ, nhưng sắp gặp nhiều người lạ ở nông trại, mình cần được lên tinh thần chút. Mình thảy đồng xu vào, trước khi kịp nghĩ lại, núm tròn quay một vòng, thuốc lá được thảy ra. Chỉ tới khi mình đứng dậy, bao Rothmans hai mươi điếu trong tay, mình mới nhận ra ai đang ngồi phía sau máy bán, ngay bên kia lối đi: Stella Yearwood và Vinny Costello.

Mình thụp người xuống, né hẳn, thấy buồn nôn. Tụi nó có thấy mình không? Không. Nếu có Stella đã đá đểu vài câu. Giữa máy bán và tivi có một khoảng trống. Stella đang đút kem cho Vinny ngồi đối diện. Vinny nhìn nó, đắm đuối như cún con. Nó vờn muỗng kem trước môi hắn, kem va-ni lẫn son chảy xuống. Hắn liếm sạch. “Cho anh trái dâu.”

“Phải nói cho đúng kìa” Stelle đáp.

Vinny mỉm cười, “Cho anh trái dâu, anh xin.”

Stella ghim trái dâu từ trên đĩa kem rồi đút vào mũi Vinny. Hắn đưa bàn tay chụp lấy cổ tay nó, bàn tay đẹp đẽ của hắn, rồi đẩy trái dâu vào miệng, rồi hai đứa nhìn nhau, rồi mình thấy ghen muốn sôi ruột, như vừa uống một ly thuốc tẩy Domestos. Thứ thần hộ mệnh điên khùng nào đã mang bọn nó đến quán Smoky Joe’s ngay đây, ngay lúc này? Mũ bảo hiểm. Vinny đã chở Stella đến đây trên chiếc Norton cưng của hắn. Con nhỏ móc ngón út vào ngón út của hắn, rồi kéo, vậy là cả cánh tay và người hắn chồm theo, cho tới khi hắn chồm qua hết cỡ, hôn nó. Mắt hắn nhắm lại, mắt nó thì không. Vinny chỉ thì thầm ba từ tiếp theo, ba từ mà hắn chưa bao giờ nói với mình. Hắn nói một lần nữa, mắt mở to, còn mặt mày Stella trông như đang mở một gói quà đắt tiền vừa được tặng.

Mình muốn điên lên, muốn vứt bát đĩa, rủa xả chúng bằng những từ gớm ghiếc nhất rồi mắt mũi đầm đìa đi quá giang về Gravesend trong xe cảnh sát, nhưng mình loạng choạng đi ra cánh cửa lớn, kéo thay vì đẩy cửa, rồi đẩy thay vì kéo, vì mắt mình đang mờ đi, mụ bò cái nhìn theo, ô vậy sao, đúng rồi, giờ trông mình hay ho hơn tờ News of the World chứ gì, cặp mắt nút áo chòng chọc…

Ra đến ngoài đường mặt mình đầm đìa nước mắt nước mũi, một chiếc Morris Maxi chạy chậm lại, cha lái xe già dịch tranh thủ nhìn mình cho đã, mình hét lên, “Nhìn cái quái gì?” rồi, lạy Chúa, đau quá, đau quá, đau quá đi, mình leo qua một cái cổng vào đồng lúa mì, khuất mắt khỏi vòng xoay, rồi giờ đây mình khóc và khóc và khóc và khóc và khóc và khóc, rồi đá chân xuống mặt đất rồi đá tiếp rồi khóc nữa, khóc nữa, khóc hoài… Xong, mình nghĩ, giờ mình không còn nước mắt nữa, rồi mình nhớ lại lúc Vinny thì thầm, “Anh yêu em,” trong đôi mắt nâu tuyệt đẹp của hắn phản chiếu Stella Yearwood và mình lại khóc. Cứ như bị nôn sau khi ăn một cái trứng Scot bọc xúc xích rán – mỗi khi tưởng đã nôn hết rồi, mình lại nôn tiếp. Khi bình tĩnh đủ để hút thuốc, mình nhận ra mình đã đánh rơi gói thuốc ở máy bán trong quán Smoky Joe’s. Chán mớ đời. Giờ mình thà ăn bánh mì trét cứt mèo còn hơn là phải mò lại vô chỗ đó. Rồi, như thể trêu ngươi, mình nghe ra tiếng máy con Norton của Vinny. Mình rón rén ra chỗ cổng. Hai đứa đang ở đó, ngồi sau quán, hút thuốc, mình cá là thuốc của mình, chính bao thuốc mình vừa phải trả 1 bảng 40 xu đó. Stella hẳn đã thấy ngay bao thuốc dưới máy bán hàng, vẫn còn bọc ni lông, hẳn nó đã nhanh tay lượm lên. Ban đầu thì chôm bạn trai của mình, rồi giờ chôm luôn thuốc lá của mình. Rồi nó leo lên con xe Norton, vòng tay ôm eo Vinny, dụi mặt vào áo da của hắn. Xe chạy đi, xuống con đường dẫn ra cầu Kingsferry, về phía dải chân trời màu xanh xa xa, để lại mình ở đây, khổ sở, lẩn trốn như con bụi đời, đám quạ trên cây như đang ré lên Hay quá ta… Vui quá ta…

Gió vuốt ve, khuấy động cây lúa mì.

Chim bạc bụng hót ríu ríu rột rột ríu ríu.

Mình sẽ chẳng bao giờ quên được Vinny. Chẳng bao giờ. Mình biết mà.

Hai tiếng đồng hồ sau khi rời chỗ vòng xoay mình đến một ngôi làng đúng kiểu thâm sơn cùng cốc, có tên là Eastchurch. Biển báo ghi “ROCHERSTER 23”. Hai mươi ba dặm? Hèn gì chân mình giộp to như khối đá Ayers. Kỳ cục là, sau khi mình rời khỏi trạm xăng Texaco ở Rochester mình chỉ nhớ mang máng cho tới khi đứng ở cầu Kingsferry về Sheppey. Thực ra là mình chẳng nhớ gì cả. Như một đoạn bài hát đã bị thu chồng lên. Chẳng lẽ mình đã mộng du? Làng Eastchurch cũng như đang chìm trong cơn mê. Có một siêu thị Spar loại nhỏ, nhưng mà đóng cửa vì hôm nay Chủ Nhật, tiệm bán báo gần đó cũng đóng cửa luôn, nhưng người chủ đang đi đi lại lại bên trong, vậy là mình cứ gõ cửa cho tới khi ông ta chịu mở rồi mua một gói bánh qui dễ tiêu và một hũ bơ đậu phụng, thêm bao Rothmans và hộp diêm. Ông chủ tiệm hỏi có đúng là mình mười sáu tuổi không, mình nhìn thẳng vào mắt ông ta rồi nói tháng Ba vừa rồi mình tròn mười bảy tuổi, được chưa, vậy là khỏi hỏi han lôi thôi gì nữa. Ngày mai mình sẽ có thêm tiền, miễn là lão Harty đó không giở trò ăn quịt, nhưng mình cũng không biết vụ đi làm này sẽ kéo dài bao lâu. Nếu Vinny và Stella đi ra ngoài khi má hay ba tới nhà hắn thì ba má vẫn chưa biết là mình không ở đó, chưa biết là mình đã rời Gravesend.

Cạnh trạm xe buýt có một buồng điện thoại.

Nếu mình gọi về nhà bây giờ, má sẽ tha hồ mỉa mai, đúng kiểu má, nhưng nếu mình gọi cho Brendan thì biết đâu Ruth sẽ cầm máy, rồi mình sẽ nhờ nhắn lại với ba, đừng nói với má, chỉ nhắn ba thôi là mình ổn, nhưng mình bỏ học rồi, mình sẽ đi một thời gian. Để mà sau này má sẽ không nhằng nhẵng biết-đâu-hồi-đó-bị-bắt-cóc-thì-sao. Nhưng khi mở cửa buồng điện thoại, mình thấy ống nghe đã bị bứt khỏi dây, nên thôi.

Có khi đến nông trại mình sẽ gọi. Có khi vậy.

Gần bốn giờ chiều, mình rẽ xuống đường Old Ferry Lane, rồi rẽ qua một lối mòn nhỏ dẫn tới Trại Black Elm. Máy tưới từng hồi trên đồng phun ra những đám mây mát mẻ, mình hớp hơi nước, như thể nước đã được kéo thành kẹo bông mỏng dính, rồi ngắm những dải cầu vồng nhỏ hiện lên. Khu nhà trại gồm một gian xây gạch thấp lè tè, đã sờn cũ, được cơi nới thêm một gian mới xây sau này, rồi tới nhà kho rộng bằng thép, rồi thêm vài gian nữa xây bê tông, cộng với một hàng cây thưa chắn gió. Một con chó đen thật bự chạy ra, trông như hải cẩu mập ú, chân đi lặc lè, nó sủa inh ỏi, ngoáy tít mình mẩy. Chỉ sau năm giây, mình với nó đã thành bạn thân. Tự dưng nhớ con Newky quá, mình vỗ đầu con chó.

“Quen Sheba rồi ha.” Một đứa con gái mặc quần yếm đi xuống từ chỗ gian nhà cũ; chắc khoảng mười chín tuổi. “Thợ hái mới sao?” Giọng ngộ quá, chắc là dân xứ Wales.

“Ờ. À. Vậy tôi… nhận phòng ở đâu?”

Nó thấy tức cười khi mình nói “nhận phòng”, làm mình sôi ruột, vì làm sao mình biết phải nói từ gì cho đúng? Nó đưa ngón tay cái chỉ về phía cửa – cả hai cổ tay đều đeo băng cổ tay, bắt chước dân tennis, nhưng mình thấy như cái đồ dở hơi ăn cám hấp – rồi nó bước lại chỗ nhà kho gạch, chắc để kể với mấy đứa khác là con nhỏ mới tới cứ tưởng đây là khách sạn chăng.

“Ba giờ ngày mai có hai chục kiện ở đây, hiểu không,” một giọng đàn ông vang lên từ văn phòng dọc lối sảnh, “nếu xe mày không có đây lúc ba giờ một phút, thì cả đám đó sẽ đi xuống kho của bọn Fine Fare dưới Aylesford.” Ông ta dập máy, rồi lẩm bẩm, “Cái đồ ba xạo cà chớn.” Tới lúc này mình đã nhận ra ông Harty đã gặp trên điện thoại hồi sáng. Cánh cửa sau lưng mình mở tung ra, một bà sồn sồn mặc đồ bảo hộ lấm lem, mang ủng xanh lá, cột khăn quàng cổ chấm bi bước ra, xua mình đi. “Lẹ giùm cho, tiểu thơ, bác sĩ ra giờ. Úi cha. Thợ hái mới sao? Đúng rồi còn gì nữa.” Rồi bà ta lùa mình ra trước, vào một cái văn phòng tồi tàn, có mùi ngai ngái như khoai cất trong bị lâu ngày. Bên trong có bàn giấy, máy đánh chữ, điện thoại, tủ đựng giấy tờ, một tấm poster ghi chữ “RHODESIA HUY HOÀNG” rồi mấy tấm hình động vật hoang dã, cửa sổ nhìn ra sân trại, nơi có một cái xác máy kéo. Gabriel Harty chừng sáu mấy tuổi, mặt mày chảy xệ, lông mũi, lông tai thập thò. Ông ta lơ mình, quay sang nói với bà kia, “Tay Bill Dean vừa a lô. Muốn báo ‘trục trặc nho nhỏ về vận chuyển.’”

“Để tui đoán,” bà ta đáp. “Tài xế của thằng chả bị dịch hạch hết cả đám, nên ngày mai nhờ mình chở dâu tới Canterbury.”

“Đúng dồi. Biết nói sao không? ‘Tui ước chi dân đất đai như anh chịu giúp tụi tui một tay.’ Dân đất đai kia đó. Đất của ngân hàng, mình chạy theo đất thì có. Dân đất đai là vậy đó. Thằng chả mới là người dư tiền dẫn cả nhà đi nghỉ ở Seychelles các thứ.” Ông Harty châm lại tẩu, rồi nhìn trân trân ra cửa sổ. “Ai đây?”

Mình nhìn theo ông ta tới chỗ cái xác máy kéo, cho tới khi nhận ra ông ta đang hỏi mình. “Tôi là thợ hái mới.”

“Thợ hái mới sao? Không chắc tụi này cần thêm người nữa.”

“Hồi sáng có nói trên điện thoại mà, ông Harty.”

“Hồi sáng lâu lắm rồi. Ai nhớ.”

“Nhưng…” Nếu không có việc làm, mình sẽ ra sao?

Bà vợ đứng chỗ tủ đựng giấy tờ, ngó qua. “Gabriel.”

“Nhưng tụi này đã nhận… cái cô Holly Benson-Hedges[5] gì đó đang trên đường tới đây. Sáng nay cổ gọi mà.”

“Là tôi đó,” mình nói, “nhưng tên tôi là Holly Rothmans, và…” Khoan đã, ông ta chọc mình sao? Ông này có kiểu mặt rất khó đọc. “Là tôi mà.”

“Vậy sao?” tẩu thuốc của Harty phát ra tiếng kêu rọt rẹt. “Vậy thì hay quá. Hẹn gặp sáng mai lúc sáu giờ, đúng y. Không phải sáu giờ hai phút. Không có đâu. Không ai ngủ nướng hết, tụi này không phải là công viên cắm trại. Xong chuyện. Giờ tui phải gọi điện tiếp.”

• • •

“Chủ Nhật chỗ này vắng lắm,” bà Harty nói, khi dẫn mình qua sân trại. Bà này coi bộ sang hơn ông chồng, mình tự hỏi hai người quen nhau kiểu gì. “Mấy đứa ở Kent thì Chủ Nhật hay về nhà, để thoải mái chút, còn đám sinh viên thì tản ra ngoài biển dưới Leysdown. Tối tụi nó mới về đây, trừ khi xỉn quắc cần câu ở quán Shurland Arms. À, nhà tắm đằng kia, nhà vệ sinh dưới đó, có phòng giặt đồ. Khi nãy cô nói ở đâu tới vậy?”

“À… ở…” Con Sheba nhảy xổ tới, chạy vòng vòng quanh hai người, khiến mình chật vật mãi mới nói cho ra hồn “… Southend. Tôi thi O level tháng rồi. Cha mẹ còn đi làm, tôi muốn để dành chút đỉnh, có người quen làm đây vài năm trước, vậy là ông già nói ô kê, mười sáu tuổi rồi, vậy nên…”

“Vậy nên tới đây. Coi như sayonara với trường lớp luôn sao?” Sheba đánh hơi, lần ra chỗ có một đống lốp xe.

“Vậy cô có về lại trường mà học tiếp A level không, Holly?”

“À… ờ. Để coi kết quả thi sao nữa.”

Thỏa mãn, và cũng không quan tâm mấy, bà Harty dẫn mình ra kho xây gạch, qua cánh cửa cổ mở rộng. “Mấy đứa con trai ngủ đây.” Khoảng hai chục giường sắt xếp thành hai hàng, như bệnh viện, nhưng tường là tường nhà kho, sàn đá và không có cửa sổ. Mình nghĩ tới chuyện phải ngủ giữa một đống con trai ngủ ngáy, đánh rắm, quay tay gớm ghiếc. Thấy vẻ mặt mình, bà Harty nói, “Đừng lo – đầu năm tụi tôi có lắp thêm ván,” bà chỉ tay về phía cuối, “để mấy cô được chút riêng tư.” Một phần ba nhà kho ở khúc cuối đã được ngăn vách ván ép cao bằng hai người. Vách có khoét cửa, gắn một tấm lợp lên trên. Ai đó đã lấy phấn viết chữ “HẬU CUNG” ngay trên cửa, có người vẽ mũi tên chỉ xuống dòng chữ “YẾU ĐỪNG RA GIÓ NHA GARY”. Sau tấm lợp căn phòng hơi tối, giống như phòng thay đồ ở hiệu áo quần, có thêm ba vách ngăn ở mỗi bên, mỗi khoang lại trổ cửa riêng, trong mỗi khoang có hai cái giường và một cái bóng đèn trơ trọi treo trên trần nhà. Nếu ba mà có ở đây thì sẽ tha hồ nhăn nhó, lẩm bẩm về chuyện an toàn vệ sinh này kia, nhưng chỗ này cũng đủ ấm áp, khô ráo, an toàn. Với lại có thêm một cánh cửa trổ vào tường nhà kho, chốt bên trong, nếu có hỏa hoạn thì vẫn chạy ra kịp. Chỉ có điều hết thảy giường hình như đã có chủ, có túi ngủ, ba lô để sẵn, cho tới khi đến khoang cuối cùng, cũng là khoang duy nhất có bật đèn. Bà Harty gõ lên khung cửa, rồi nói, “Cốc cốc, Gwyn ơi.”

Một giọng bên trong trả lời, “Bà Harty?”

“Có bạn cùng phòng nè.”

Bên trong khoang, đứa con gái xứ Wales mặc quần yếm mặt mày vênh váo đang ngồi xếp bằng trên giường, hình như đang viết nhật ký hay sao đó. Hơi nước bốc lên từ bình thủy đặt trên sàn nhà, khói thuốc bay ra từ điếu thuốc đặt chênh vênh trên một cái chai. Gwyn nhìn mình, rồi chỉ tay về phía giường, kiểu, của mày hết đó. “Mời vô tệ xá của tui. Mà giờ là tệ xá của hai ta.”

“Vậy thôi để hai cô nghỉ,” bà Harty nói rồi đi ra, Gwyn tiếp tục viết nhật ký. Trời, dễ thương quá ha. Cái đồ kênh kiệu, không lẽ nói vài câu xã giao cũng không được sao. Ngòi viết bi chạy sột soạt rột roạt trên giấy. Chắc là viết về mình, chắc là viết bằng tiếng Wales, để mình khỏi đọc. Ừ nếu nó không chuyện với mình, mình cũng cóc thèm nói chuyện với nó. Mình thả cái túi thể thao xuống giường, cố không nghĩ đến một giọng Stella Yearwood trong đầu, nhạo rằng Holly Sykes bỏ nhà ra đi tìm tự do, cuối cùng lại lọt vô cái chỗ thúi tha này. Mình nằm xuống cạnh túi thể thao vì chẳng biết làm gì nữa, mà cũng hết sức rồi. Hai bàn chân mình rã rời ê ẩm. Tới túi ngủ còn không có.

Thủ môn của mình đá bi thẳng qua bàn rồi, rầm!, vào thẳng cầu môn của đội Gary, mấy đứa đứng xem trố mắt trầm trồ. Brendan hay gọi cú sút kiểu đó là chiêu Peter Shilton của mình, hồi trước còn hay rên rỉ là trên bàn bi lắc, thủ môn của mình thuận tay trái nên có lợi thế rành rành. Tỉ số năm không nghiêng về mình, trận thắng thứ năm liên tiếp, đang chơi kiểu loại trực tiếp. “Nhỏ này ăn thịt mình không thương tiếc, nói gì nữa?” Gary lên tiếng, mặt hắn ta đỏ bừng, giọng nói lè nhè sau vài lon Heineken. “Holly, cưng đúng là thiên tai, á lộn, thiên tài, đúng vậy, thiên tài bi lắc chính hiệu – chẳng nhục nhã gì khi thua một… cao thủ như vậy.” Gary làm bộ màu mè, cúi đầu chào, đưa lon Heineken qua bàn, khiến mình phải cụng với hắn ta. “Sao bồ chơi xịn quá vậy?” một con nhỏ hỏi, nhỏ này rất dễ nhớ, tên là Debby quê ở Derby. Mình chỉ nhún vai rồi nói do hồi trước hay chơi ở nhà anh họ. Nhưng mình tự dưng nhớ lúc Brendan nói, “Không thể tin là vừa thua một đứa con gái,” đến giờ mình mới nhận ra anh hai nói vậy để làm mình vui.

Chơi bi lắc chán, mình bỏ ra ngoài hút thuốc. Phòng sinh hoạt chung là khu chuồng ngựa cũ, vẫn còn thoang thoảng mùi cứt ngựa, nhưng đông vui hơn quán Thuyền Trưởng Marlow tối Chủ Nhật. Dễ chừng tới hai mươi lăm thợ hái ngồi quanh bàn, cười nói, ăn vặt, hút thuốc, uống bia, tán tỉnh và chơi bài, và mặc dù không có tivi, ai đó đã mang ra một cái máy hát cà tàng gớm ghiếc, lem luốc sơn, đang mở băng của Siouxsie and the Banshees. Bên ngoài, những khoảng đồng của Trại Black Elm thoải xuống biển, đèn lốm đốm sáng dọc theo bờ biển, qua khỏi Faversham, khỏi Whitstable và xa hơn nữa. Nhìn cảnh này ai mà tin được có những chuyện giết chóc, cướp bóc, hay con cái bị mẹ đuổi ra khỏi nhà.

Chín giờ tối: má sẽ nói, “Tắt đèn, ngủ ngon, Chúa phù hộ” với Jacko và Sharon, rồi rót một ly rượu vang, ngồi xem Bergerac trên tivi. Hoặc, như tối nay, biết đâu má sẽ đi xuống nhà dưới, ca thán về mình với thiên hạ, với một đứa tai mắt nào đó của má: “Không biết tui dạy nó sai chỗ nào, lạy Chúa cứu con, thực tình tui chịu.” Ba sẽ nói với Nipper thợ sửa ống nước, TJ vui tính và ông già Sharkey, “Rồi đâu cũng về đó,” hoặc một câu kiểu vậy, nghe thì có vẻ sâu sắc nhưng chẳng có nghĩa lý gì cả.

Mình lấy bao thuốc Rothmans ra khỏi túi áo – hết tám điếu, còn mười hai, nhưng trước khi mình kịp châm lửa thì Gary xuất hiện, mặc áo thun ghi chữ “HIỆN THỰC CHỈ LÀ ẢO ẢNH DO THIẾU RƯỢU” và mời mình một điếu Silk Cut, nói thêm, “Cái này anh mời, Holly à.” Mình cảm ơn rồi hắn tiếp, “Cưng chơi hay quá, thắng thẳng tay,” rồi mắt hắn liếc lên liếc xuống ngực mình, như kiểu Vinny hay liếc. Đã từng liếc. Gary vừa định nói gì nữa thì có bạn gọi, vậy là hắn tiếp, “Gặp cưng sau,” rồi biến. Không dám, nếu thấy ông trước tui sẽ lơ đẹp, mình nghĩ thầm. Mình quá ngán đàn ông con trai rồi.

Ba phần tư thợ hái là sinh viên cao đẳng, đại học, hoặc chuẩn bị tháng Chín này nhập học, mình là đứa nhỏ nhất, thua cả bọn cũng phải đến hai năm, ngay cả khi tính tuổi mình là mười sáu thay vì mười lăm. Mình cố không tỏ ra ngượng ngùng gì, để không bị lộ tuổi thật, nhưng đám này mai mốt đâu phải thành thợ ống nước, thợ uốn tóc hay công nhân vệ sinh: toàn là kỹ sư máy tính, giáo viên, luật sư tương lai hết, nhìn là biết. Kiểu cách nói chuyện nữa. Toàn dùng từ ngữ dứt dạc, như tự mình nghĩ ra vậy, giống kiểu Jacko, và khác hẳn với đám trên trường mình. Hai năm nữa Ed Brubeck cũng nhập hội đó. Mình nhìn ra chỗ Gary, ngay lúc đó, hắn cảm thấy mình, vậy là nhìn mình kiểu lại-gặp-cưng-ở-đây-rồi, mình nhanh chóng nhìn ra chỗ khác trước khi hắn hiểu lầm.

Đám thợ hái không phải sinh viên khá dễ nhận ra. Gwyn là một. Giờ tay đó đang chơi cờ đam với Marion và Linda, khi mình bước vào thì “Ê” một tiếng, cười vờ vịt rồi lơ mình luôn. Thấy ghét. Marion hơi tồ tồ, được chị Linda chăm như mẹ chăm con, em nói chưa hết câu thì chị đã đỡ lời. Hai chị em nhà này đi hái ở Trại Black Elm hàng năm như người ta đi nghỉ mát. Rồi cặp Stuart và Gina, dựng lều riêng ở chỗ đất trũng. Hai người chừng hai mấy gần ba mươi, trông như ca sĩ hát nhạc đồng quê, đeo bông tai, cột tóc đuôi ngựa. Mà thực ra hai người cũng có đi hát rong ở các chợ. Gina sẽ chở mình với Debby đi mua đồ ăn ở siêu thị Spar dưới Eastchurch sau khi mình đã có tiền công. Hai người này cũng là trung gian giữa thợ hái với lão Harty, Debby có kể. Cuối cùng là một đứa tên Alan Wall, ngủ ngoài xe moóc đậu ở rìa trại. Khi đi xem quanh trại, mình thấy nó đang phơi áo quần. Cùng lắm cũng chỉ lớn hơn mình một hai tuổi gì đó, nhưng thân hình gân guốc, rắn rỏi, da rám nắng như màu nước trà. Debby kể nó là dân gypsy, à, mà bây giờ phải gọi là di dân mới không bị mang tiếng kỳ thị, kể thêm lão Harty năm nào cũng thuê người nhà thằng nhóc này, không biết là vì thói quen, hay do gán nợ, hay mê tín gì gì nữa.

Đi vệ sinh trở vào, mình thấy có dáng ai lom lom chặn giữa nhà trại và kho. Vẻ như đang đứng đợi. Một que diêm đánh lửa. “Lại gặp cưng ở đây rồi,” Gary lên tiếng. “Làm điếu nữa không?”

Ừ, Gary trông cũng được, nhưng kiểu này chí ít cũng ngà ngà say rồi, và mình mới biết hắn ta có hai tiếng đồng hồ. “Tôi muốn trở lại phòng sinh hoạt chung, cảm ơn anh.”

“Khoan, làm điếu với anh đã. Thôi mà, Hol, ai rồi cũng chết.” Hắn đã đưa sẵn bao Silk Cut ra trước mặt mình, một điếu đã rút sẵn, để mình ghé môi hút. Mình không thể từ chối mà không lôi thôi, vậy là mình dùng ngón tay rút thuốc, rồi nói. “Cảm ơn.”

“Lửa đây… À, kể nghe coi. Bạn trai cưng dưới Southend chắc đang nhớ cưng dữ lắm.”

Mình nghĩ đến Vinny, rồi thở hắt ra, “Lạy Chúa, không có,” nghĩ ngay, Sykes ơi mày ngu lắm, rồi tiếp ngay, “Ờ, đúng rồi, ảnh nhớ tôi lắm.”

“Coi như xong vụ đó.” Trong ánh sáng từ đầu thuốc, Gary đang nhe răng cười đểu giả. “Đi bộ ngắm sao chơi. Kể anh nghe vụ anh bạn trai Lạy-chúa-không-có-ờ-đúng-rồi này thử.”

Mình không muốn Gary thọc tay vào áo ngực mình, hay chỗ nào khác nữa, nhưng làm sao đuổi hắn đi mà không làm hắn tự ái bây giờ?”

“Mắc cỡ cũng dễ thương đó,” Gary tiếp, “nhưng mà mất thì giờ lắm. Thôi mà, anh có rượu, nicotine… cưng cần gì có hết.”

Lạy Chúa, nếu chỉ đổi chỗ một đêm, con trai thành con gái, thì mấy câu tán tỉnh rẻ tiền kiểu này chắc không có đất. “Nghe này, anh Gary, giờ không tiện.” Mình cố đi vòng quanh hắn để trở vào sân trại.

“Cưng để ý anh từ hồi nào giờ.” Hắn hạ cánh tay xuống như thanh chắn ngang trong bãi đậu xe, ép vào bụng mình. Mình ngửi thấy mùi thuốc cạo râu của hắn, mùi bia, rồi cả mùi hứng hớn. “Được rồi. Giờ anh cho cưng một cơ hội.”

Nếu mình nói hắn đi chết đi, chắc hắn sẽ đi nói xấu mình với đám thợ hái. Nếu mình làm dữ, gọi người tới giúp, thì kiểu gì hắn cũng chối, đổ cho mình là cái thứ Ma-Mới-Động-Rồ, rồi nhỏ-này-bao-nhiêu-tuổi-vậy, mà cha mẹ nó có biết nó ở đâu không?

“Tập lại chiêu đi, Bạch Tuộc,” một giọng xứ Wales cất lên. Mình và Gary giật nảy người. Là Gwyn. “Tán gái kiểu gì như trấn lột.”

“Tụi này… tụi này… tụi này chỉ nói chuyện thôi mà,” Gary đã bắt đầu co chân lui vào phòng sinh hoạt chung. “Có vậy thôi.”

“Khó chịu nhưng vô hại,” Gwyn nhìn theo hắn. “Như vết lở miệng vậy. Trừ con Sheba ra, hắn gạ gẫm chị em trên trại không chừa ai.”

Được cứu kiểu này thật nhục nhã, vậy là mình cáu kỉnh buột miệng

“Tui tự lo được.”

Gwyn tiếp, vẻ quá chân thành, “Ờ thì, có ai nói gì đâu.”

Đang trêu mình chăng? “Tui tự lo được.”

“Thực tình, cưng làm tui nhớ lại tui hồi trước quá, Holly à.”

Trả lời sao giờ? Bài “Up The Junction” của Squeeze đang bật ầm ầm từ chiếc máy ghẻ. Gwyn cúi xuống, “Coi nè, thằng Bạch Tuộc đánh rơi thuốc lá.” Rồi Gwyn hất về phía mình, mình chụp lấy bao thuốc. “Trả lại hoặc cứ giữ đó, coi như bồi thường vụ làm phiền. Tùy cưng.”

Mình tưởng tượng ra cảnh Gary kể lại câu chuyện, đương nhiên là theo ý hắn. “Chắc hắn sẽ rất ghét tui.”

“Hắn sẽ sợ xanh mặt nếu cưng đi nói với mọi người hắn đã làm trò khỉ gì. Bị gái đuổi là cái thể loại như Gary sun hết cả vòi, hết dám ngo ngoe. À, tui ra đây nói cưng biết là tui mượn được một cái túi ngủ của bà Harty cho cưng. Chúa mới biết qua tay bao nhiêu đứa rồi, nhưng đã giặt sạch, mấy chỗ dơ cũng không còn dính dấp nữa, trong nhà kho buổi tối cũng lạnh à. Tui đi về đây, nếu tui ngủ trước khi cưng về, thì chúc cưng ngủ ngon. Năm rưỡi sáng có còi báo thức.”





Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
1 thành viên đã gởi lời cảm ơn Nminhngoc1012 về bài viết trên: Hoa Mùa Hạ
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 36 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Thành viên đang xem chuyên mục này: fanykute1403 và 85 khách


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Hiện đại - Trùng sinh] Nữ phụ trùng sinh - Mỉm Cười Wr

1 ... 66, 67, 68

2 • [Cổ đại - Trùng sinh] Độc hậu trùng sinh nàng thê hung hãn của lãnh vương phúc hắc - Thu Thủy Linh Nhi

1 ... 59, 60, 61

[Cổ đại] Thê tử của bạo quân - Mạt Trà Khúc Kỳ

1 ... 37, 38, 39

[Hiện đại - Trùng sinh - Hắc bang] Quân sủng thiên kim hắc đạo - Huân Tiểu Thất

1 ... 62, 63, 64

5 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 104, 105, 106

6 • [Hiện đại] Ly hôn đi điện hạ - Lục Thiếu

1 ... 85, 86, 87

7 • [Xuyên không] Giáo chủ phu nhân bảo ngài đi làm ruộng - Nông Gia Nữu Nữu

1 ... 50, 51, 52

8 • [Xuyên không] Đặc công tà phi - Ảnh Lạc Nguyệt Tâm

1 ... 121, 122, 123

9 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 230, 231, 232

10 • [Hiện đại] Chinh phục vợ yêu - Thương Tiểu Ly [Hoàn]

1 ... 47, 48, 49

11 • [Hiện đại] Hướng dẫn trêu chọc đàn ông - Nhất Tự Mi

1 ... 35, 36, 37

12 • [Hiện đại - Quân nhân] Hợp đồng quân hôn - Yên Mang

1 ... 91, 92, 93

13 • [Hiện đại] Bà xã của thủ lĩnh sát thủ - Ngấn Nhi

1 ... 35, 36, 37

14 • [Xuyên không] Sủng phi của ngốc vương Đích nữ đại tiểu thư phế vật - Cạn Hạ Vân

1 ... 50, 51, 52

15 • [Xuyên không - Điền văn] Con gái nhà nông - Lý Hảo

1 ... 57, 58, 59

16 • [Xuyên không - Dị giới] Phế sài muốn nghịch thiên Ma Đế cuồng phi - Tiêu Thất Gia - New C576

1 ... 78, 79, 80

17 • [Hiện đại] Hội chứng Stockholm - Thảo Nê Mị

1 ... 13, 14, 15

18 • [Hiện đại - Trùng sinh] Quyền thiếu cưng chiều vợ yêu khó nuôi - Cố Nhiễm Nhiễm

1 ... 57, 58, 59

19 • [Hiện đại] Quân hôn Cô vợ nhỏ cố bám - Nhất Sinh Mạc Ly

1 ... 43, 44, 45

20 • [Hiện đại] Yêu chỉ là hữu danh vô thực - Lục Xu

1 ... 17, 18, 19


Thành viên nổi bật 
Daesung
Daesung
007
007
MarisMiu
MarisMiu

007: Pey già :snog:
Peiria: â
Nam Cung Vân Điệp: cảm ơn
Melodysoyani: đăng chương mới rồi ib cho mod tiểu thuyết để báo nhé bạn
Nam Cung Vân Điệp: Cho mình hỏi làm thế nào để báo cho ban quản trị biết tr của mình tiếp tục viết và rời khỏi mục Đã ngừng đăng ạ?
Sam Sam: :v
Tuyền Uri: Đào đúng dòi ahihi :kiss:
Đang tui có nàm giề khiếp đâu :no: sam nè, milo nè cũng đổi màu giống t :">
Tiểu Linh Đang: Khiếp màu của bà quá Ủi
Đào Sindy: V.I.P :)) chứ gì
Tuyền Uri: Màu của bigbang ế bà :love2:
Shop - Đấu giá: Melodysoyani vừa đặt giá 322 điểm để mua Bạch tuột
Đào Sindy: vàng quá vàng bà Ri ơi :))
Tuyền Uri: Đã off bom :lol:
007: Quá đao thưng :cry2:
LogOut Bomb: lamnguyetminh -> Melodysoyani
Lý do: bom chơi
Melodysoyani: :v
Nguyệt Hoa Dạ Tuyết: LogOut Bomb: Nguyệt Hoa Dạ Tuyết -> Sam Sam
Lý do: chụt :razz:
Melodysoyani: Sam em iu :love3:
007: Bà bom tui tốn điểm :)2
Sam Sam: mị đi ăn cơm, các thánh ở lại bom vui vẻ :kiss4:
Sam Sam: :v 007 off mất rồi huhuhuh
007: Tìm thêm dài màu nữa :D2 cho thanh công cụ đẹp
Melodysoyani: :v mị đẹp nhất ở đây
007: Oa oa oa :cry:
Nguyệt Hoa Dạ Tuyết: Anh ơi em đói, anh ơi em em đói, có biết không ở nơi đây em vẫn chờ một cánh gà :D2
LogOut Bomb: Thiên Nhii -> lamhan0123
Lý do: :v
lamhan0123: Soam
Nguyệt Hoa Dạ Tuyết: Bà thím nào đang chat v, mị hoa mắt r :cry2:
lamhan0123: Ahihi
LogOut Bomb: lamhan0123 -> Tiểu Ly Ly

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.