Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 15 bài ] 

Vinh quang và quyền năng - Graham Greene

 
Có bài mới 23.03.2018, 16:33
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 33683
Được thanks: 5223 lần
Điểm: 9.58
Có bài mới Re: [Kinh điển] Vinh quang và quyền năng - Graham Greene - Điểm: 10
V


  Đột nhiên con lừa của vị linh mục khụy xuống: cũng không có gì ngạc nhiên vì nó đã đi hơn mười hai giờ trong rừng. Trước hết, ông đi về hướng Tây, nhưng người ta nói có lính ở đó, ông lại quay qua hướng Đông: Bọn Sơ mi đỏ triển khai nhiều quân ở vùng đó do đó ông phải đi lên hướng Bắc, nơi ông phải lội trong đầm lầy, trong bóng tối rừng bạc hà. Bây giờ, con lừa và vị linh mục đã kiệt sức. Linh mục trèo xuống và cười. Ông cảm thấy vui. Đó là một trong những điều lạ lùng nơi con người: dù khổ cực đến thế nào, con người cũng có những lúc sảng khoái; lúc nào cũng có thể nhớ đến những giờ phút cam go: ngay trong hiểm nguy và cùng cực, đồng hồ vẫn chạy.

Ngài cẩn thận băng qua hàng cây rồi đi vào trong một khoảng trống lầy lội, cả tỉnh này là như thế, sông, đầm lầy, rừng. Ngài quỳ gối trong ánh chiều tà và vục mặt vào vũng nước, vũng nước phản chiếu khuôn mặt xương xẩu lởm chởm râu, cái đầu tròn; bất ngờ là ngài lại cười với cái khuôn mặt ấy. Một cái cười nhăn nhó, rụt rè, xa xôi, ngờ vực của một tội nhân bị bắt qủa tang. Ngày xưa, ngài mất nhiều thời gian để tập trước gương một động tác. Do đó ngài biết rõ khuôn mặt mình như các diễn viên tự biết nét mặt mình. Khuôn mặt tự nhiên của ngài không phù hợp với điều ngài mong muốn. Đó là khuôn mặt của anh hề, thích hợp khi nói chuyện tiếu lâm vô hại với các bà, nhưng không thích hợp khi đứng trên bàn thờ. Ngài đã cố gắng thay đổi nó đi, “thật ra, ngài nghĩ, mình đã thành công. Hiện nay họ không còn nhận ra mình nữa.” Và nguyên nhân làm cho niềm vui trở lại với ngài như mùi rượu cognac, nó giúp tạm quên đi nỗi sợ, cô đơn, và nhiều thứ khác. Hoạt động của lính trong vùng buộc ngài phải trở về cái nơi mà ngài muốn đến hơn hết. Ngài đã trốn tránh nơi đó hơn sáu năm nay, nhưng lần này không phải do lỗi ở ngài, ngài buộc phải đến đó, cái đó không phải là tội. Ngài quay lại với con lừa và đá nhẹ nó: “Đứng lên…” Con người nhỏ bé, mặc áo quần nông dân rách rưới, lần đầu tiên trở về nhà sau nhiều năm, như mọi người khác để tìm lại mái ấm.

Dù sao, nếu cho dù ngài đi con đường phía Nam để tránh làng này, cái đó cũng chỉ thêm một sự đánh mất: sau lưng ngài, những tháng năm đầy dẫy những đánh mất, bỏ rơi cùng loại - trước hết là bỏ rơi những ngày lễ, những ngày ăn chay kiêng thịt; sau đó, thỉnh thoảng ngài mới đụng đến kinh nhật tụng, sau đó ngài đánh mất trên bến cảng, nơi ngài đã muốn trốn đi. Sau sách kinh, là viên đá bàn thờ, ngài đã bỏ đi vì mang theo quá nguy hiểm. Ngài không có quyền dâng lễ không có tấm đá này: nguy cơ bị treo cổ là chắc chắn.

Nhưng những qui định cho giáo sĩ trong tình cảnh của ngài ngày càng tỏ ra không thực tế khi hình phạt dành cho ngài là cái chết. Công việc hàng ngày của ngài như một con đập bị thấm nước; nước của lãng quên, từng giọt, từng giọt thấm vào và xóa bỏ tuần tự từ cái này đến cái khác. Năm năm trước, có lúc ngài đã buông xuôi trong tuyệt vọng: ngài đã phạm tội không tha thứ được và bây giờ ngài trở lại nơi xưa, trái tim đã nhẹ nhõm. Vì ngài đã chiến thắng được tuyệt vọng. Ngài là một linh mục tội lỗi, một linh mục nghiện rượu (người ta nói thế và ngài biết mình là thế), nhưng tất cả những thất bại đó, ngài đã quên mất; cách kín đáo, ngài chất đống nó vào một nơi: bãi bùn thất bại. Ngày kia, ngài giả thiết như thế, những thứ xấu xa đó sẽ làm tắc nghẽn nguồn ơn thánh. Cho đến nay, có những lúc nghi ngờ, những lúc kiệt sức, nhưng ngài vẫn trung thành cách đơn sơ đến nỗi ngài thấy xấu hổ.

Nước tung toé dưới mỗi bước chân, con lừa đi qua khu rừng thưa. Họ lại vào rừng. Chiến thắng được sự tuyệt vọng dĩ nhiên không có nghĩa là sẽ không bị luận phạt. Vấn đề là màu nhiệm quá lớn lao: một con người tội lỗi lại phân phát Chúa cho người khác, ngài là thừa tác viên quỷ quái gì thế!… Trong trí ngài nhớ đến một câu chuyện: Thánh Michael mặc áo giáp đang phanh thây con rồng và những thiên thần có mái tóc đẹp bềnh bồng từ trời rơi xuống vì ganh tỵ (một giáo phụ đã viết như thế) rằng Chúa đã dành cho con người một đặc ân vĩ đại là sự sống… cuộc đời này.

Những dấu tích trồng trọt xuất hiện; những gốc cây, tro than của những đám lửa dùng để khai quang đất để trồng tỉa. Ngài ngừng thúc con lừa: tự nhiên ngài thấy rất ngại ngùng… Một bà từ trong chòi đi ra, nhìn ngài đi trên con đường mòn, chậm rãi trên lưng con lừa mệt nhoài. Ngôi làng rất nhỏ: chừng hơn hai chục cái chòi vây quanh một quảng sân bụi bặm, chỉ có thế, như những ngôi làng khác. Nhưng ngôi làng này rất thiết thân với ngài. ở đây, ngài cảm thấy an toàn và chắc chắn được đón tiếp, ở đây ngài biết ít nhất cũng có một người ngài có thể tin cậy được, sẽ không nộp ngài cho cảnh sát. Khi ngài đến gần xóm nhà, con lừa lại ngồi phịch xuống: lần này ngài phải xô nó qua một bên để đứng lên. Một người đàn bà nhìn ngài như đang canh chừng kẻ thù.

“Chào Maria,” ngài nói, “con có khoẻ không?”

“A, cha đây mà,” bà la lên.

Ngài không dám nhìn thẳng mặt bà, mà chỉ nhìn trộm.

“Con không nhận ra cha sao?” Ngài hỏi.

“Cha thay đổi nhiều quá.”

Bà nhìn ngài từ đầu đến chân, với một chút khinh miệt.

“Cha mặc bộ đồ này từ khi nào?”

“Một tuần.”

“Thế áo quần của cha?”

“Cha đổi cho người ta rồi.”

“Sao thế? Áo quần cha tốt lắm mà.”

“Nó rách nát quá, và mang nó làm cho người ta để ý.”

“Sao cha không mang về đây để con vá và thu đi. Thật phí của. Dáng dấp cha bây giờ cũng như những người đàn ông khác thôi.”

Ngài cười khổ, cúi mặt xuống khi nghe bà ta mắng mình như một bà giúp việc của các cha xứ. Giống như ngày xưa ở nhà xứ, khi còn hội Con Đức Mẹ, các hội đoàn khác… Ngài hỏi nhỏ với một nụ cười lúng túng: “Brigitte ra sao?”

Tim ngài nhảy ra khỏi lồng ngực khi ngài nhắc đến tên con bé. Tội có thể mang đến những hậu quả to lớn. Sáu năm rồi ngài mới về… nhà.

“Cũng như mọi người thôi. Không tệ hơn. Cha muốn biết thêm gì nữa không?”

Sự sung sướng mà ngài cảm thấy liên hệ với tội ác của ngài; ngài không có quyền cảm thấy hạnh phúc với cái điều có liên quan đến quá khứ.

“Thôi được,” ngài trả lời cách máy móc, còn cái tình yêu thầm kín, bất xứng, làm tim ngài đập nhanh. Ngài nói thêm: “Cha rất mệt. Cảnh sát lùng sục quanh Zapata…”

“Sao cha không lên miệt Monte-Cristô?”

Ngài ngước mắt lên, lo âu. Đó không phải là sự tiếp đón mà ngài mong đợi: một nhóm nhỏ tụ tập giữa hai căn chòi đang quan sát ngài từ xa - có một cái quán nhạc đã sụp đổ và một quầy bán nước khoáng - người ta đã mang ghế để hóng chút gió buổi chiều. Không có ai đến hôn tay ngài và xin ngài chúc lành. Có thể nói rằng, tội của ngài đã hạ ngài xuống trong vũng bùn những tranh chấp hơn thua của con người để ngài học được rằng, ngoài tuyệt vọng và tình yêu, ngài cũng không được mong đợi ở nhà mình.

“Bọn Áo đỏ ở đó,” ngài trả lời.

“Thôi cũng được, thưa cha. Không lẽ chúng con đuổi cha. Cha vào đây với con.”

Ngài ngoan ngoãn đi theo bà, vấp chân mấy lần vì cái quần nông dân hơi dài, niềm vui biến mất trên mặt ngài, chỉ còn lại nụ cười, quên lãng, như người sống sót sau vụ đắm tàu. Có tám người đàn ông, hai bà, khoảng sáu đứa trẻ con: ngài đến giữa họ như người ăn mày. Ngài không thể quên được sự hồ hởi khi ngài đến đây lần trước, họ đào vò rượu chôn dưới đất lên… Tội ác của ngài lúc đó còn đang mới toanh, nhưng họ vẫn hân hoan đón ngài! Như thể ngài cũng giống họ, trong xiềng xích của tội lỗi, như người lưu vong trở lại quê nhà sau khi thành đạt.

“Cha đấy,” người đàn bà nói.

Có lẽ đơn giản vì họ không nhận ra ngài, ngài nghĩ thầm và chờ họ đến chào ngài. Họ tiến đến từng người một hôn tay ngài, rồi lùi lại vài bước, lại quan sát ngài.

“Tôi rất vui được gặp lại các ông các bà,” ngài nói. Ngài định nói “các con,” nhưng ngài nghĩ là chỉ duy nhất người không có con mới có quyền xưng hô như thế với người lạ. Bây giờ, cha mẹ đẩy những đứa trẻ tiến đến hôn tay ngài. Chúng còn quá nhỏ để biết đến cái thời xưa lúc các linh mục còn mặc áo chùng thâm, mang cổ cồn trắng, có những bàn tay ban ơn, dáng dấp thánh thiện; chúng hơi ngạc nhiên vì phải tôn kính một ông nông dân cũng chẳng khác gì cha mẹ chúng. Ngài quan sát chúng cẩn thận. Hai bé gái - một em gầy, da sáng màu, độ chừng năm, sáu hay bảy tuổi gì đó - và bé kia, cái đói khát đã làm nó có những đường nét khắc khổ trước tuổi. Từ hai mắt cô bé toát ra cái nhìn của phụ nữ. Ngài lặng yên nhìn lũ trẻ tản đi: chúng xa lạ với ngài.

“Thưa cha, cha tính ở lại đây lâu không?” một người đàn ông hỏi.

“Cha nghĩ rằng… cha muốn nghỉ ngơi vài ngày,” ngài đáp.

Một ông khác nói: “Sao cha không lên vùng cao, mạn Pueblitô?”

“Con lừa và cha mới đi mười hai tiếng liên tục.”

Người đàn bà trả lời thay cho ngài, giọng nóng nảy:

“Đêm nay ngài ngủ lại đây. Ta không thể làm khác được.”

“Sáng mai, tôi sẽ dâng lễ cho bà con.” Ngài nói, như thể để giảng hòa với họ bằng một món quà. Nhưng nhìn vẻ mặt khó chịu của họ, có thể nói là ngài muốn tặng cho họ của ăn cắp. “Nếu các ông bà muốn, sáng sớm, thật sớm, nếu có thể… Nhưng ông bà bị gì vậy?” Ngài hỏi, “tại sao lại sợ?”

“Cha không biết gì sao?”

“Cái gì?”

“Bây giờ họ bắt con tin… trong bất cứ làng nào họ nghi là cha có đến. Và nếu không khai… họ bắn một người… rồi người khác, rồi họ bắt con tin mới. Đã xảy ra như vậy ở Conception.”

“Ở Conception à.”

Mắt ngài giựt giựt, ngài không tự chủ được. Đó là dấu chỉ ngài đang rất sợ, sợ hay tuyệt vọng.

“Ai thế?” ngài hỏi.

Họ nhìn ngài chưng hửng. Ngài tức tối lặp lại:

“Họ đã giết ai?”

“Pedrô Montez.”

Ngài kêu khẽ, như tiếng chó tru, dấu chỉ của sợ hãi. Đứa trẻ có khuôn mặt người lớn cười.

“Tại sao họ không bắt tôi?” ngài nói. “Lũ ngốc! Tại sao họ không bắt tôi đây này?”

Đứa con gái lại phì cười. Ngài nhìn nó nhưng không thấy gì, nghe tiếng nhưng không thấy mặt. Hạnh phúc, một lần nữa, đã chết trước khi có thời gian để thở hơi thở đầu tiên và vị linh mục đứng đó như người đàn bà ôm đứa con chết lúc vừa sinh ra: người ta chôn nó gấp, quên nó đi và làm lại từ đầu. Hy vọng đứa sau sẽ sống sót!

“Thưa cha,” một người đàn ông phân bua, “cha thấy đó…”

Ngài thấy mình như kẻ tử tội đứng trước quan toà.

“Các ông bà có thích tôi… sống như cha Jôsê, trên tỉnh không?… Các ông có nghe nói về ngài rồi chứ?”

Họ trả lời buông xuôi.

“Chắc chắn là không, thưa cha.”

“Vậy thì tôi làm sao đây? Vấn đề không phải là cái tôi hay các ông bà muốn.”

Ngài nói thêm, giọng quyền uy: “Bây giờ, tôi ngủ một chút… Các ông bà có thể thức tôi dậy một giờ trước bình minh… nửa giờ để xưng tội … thánh lễ, rồi tôi sẽ đi.”

Nhưng đi đâu? Trong toàn tỉnh này, bất cứ nơi nào ngài đến đều có thể nguy hiểm cho người ta.

“Qua đây, thưa cha,” người đàn bà nói.

Ngài đi theo bà vào trong một căn phòng nhỏ, tất cả vật dụng đều làm từ thùng đựng hàng cũ: một cái ghế, một cái giường ván ghép lại bằng đinh, một chiếc chiếu, một cái két lớn phủ vải, trên vải có một cây đèn dầu.

“Tôi không muốn chiếm phòng ngủ của ai cả,” ngài nói.

“Phòng này của con.”

Ngài nhìn bà nghi ngại. “Thế bà ngủ ở đâu?”

Ngài kín đáo quan sát bà, sợ rằng bà đòi quyền… hôn nhân chỉ có thế thôi sao: lãng quên, nghi ngờ, bất an? Khi người ta đến xưng tội với ngài nói đến đam mê, có phải họ nói đến chuyện đó không?… cái giường cứng, người đàn bà bận rộn, và sự im lặng bao trùm quá khứ?

“Con sẽ ngủ khi cha đi khỏi nơi này.”

* * *

Ánh mặt trời xuống thấp sau khu rừng; những bóng cây bây giờ đã dài đến tận cửa. Ngài nằm trên giường, người đàn bà bận rộn đâu đó; ngài nghe tiếng đào đất. Ngài không ngủ được. Trốn thoát có phải là trách nhiệm của ngài không? Nhiều lần, ngài đã tìm đường ra đi, nhưng cứ mỗi lần lại bị ngăn trở… Bây giờ, chính họ yêu cầu ngài ra đi. Sẽ không có ai giữ ngài lại vì một người đàn bà bệnh hoạn hay một người hấp hối. Từ nay, căn bệnh chính là bản thân ngài.

“Maria,” ngài gọi, “Maria, con làm gì đó?”

“Con có dấu cho cha một ít rượu mạnh.”

Ngài nghĩ thầm: “Nếu ra được khỏi cái xứ này, mình sẽ gặp linh mục khác; mình sẽ xưng tội; mình sẽ hối tội và sẽ được tha thứ; sự sống đời đời sẽ tái tục, như thể chưa có gì xảy ra. Mẹ Hội thánh dạy rằng: bổn phận đầu tiên của một con người là phải cứu rỗi linh hồn của chính mình.” Những ý niệm đơn giản về Thiên đàng, địa ngục thoáng qua trong đầu ngài: sống không sách vở, không có quan hệ nào với những người có học, đã xoá đi trong đầu ngài tất cả, chỉ còn lại là những hình ảnh rất cơ bản.

“Rượu đây,” người đàn bà mang vào một chai đựng thuốc nhỏ đầy rượu mạnh.

Nếu ngài bỏ họ mà đi, họ sẽ được an toàn; họ cũng thoát được cái gương xấu là chính ngài. Ngài là hình ảnh linh mục duy nhất có thể còn sót lại trong trí các em nhỏ. Chính nơi ngài, họ thấy hình bóng của Thiên Chúa, đưa Mình Thánh Chúa cho họ. Ngài ra đi, hình như Chúa hết hiện diện trong khoảng trời đất giữa biển và núi này. Bổn phận của ngài không phải là ở lại sao, dù cho họ phải chết vì ngài? Vì gương xấu của ngài? Tầm quan trọng của vấn đề làm ngài run lên; ngài nằm xuống và lấy tay che mặt; khắp nơi, trong cái xứ mênh mông đầm lầy này, không còn ai có thể cho ngài một lời khuyên. Ngài uống rượu. Ngài rụt rè hỏi:

“Brigitte… có… có khoẻ không?

“Cha mới thấy nó đó.”

“Không.”

Ngài không tin là ngài không nhận ra nó. Như thế là xem thường tội trọng của mình: người ta không thể phạm một sai lầm lớn như thế rồi không nhận ra…

“Vâng, cha có thấy.”

Maria đi ra cửa gọi: “Brigitte, Brigitte!” và ông linh mục nằm nghiêng lại để nhìn con bé xuất hiện: đó là đứa bé có vẻ dữ tợn đã trêu ngài.

“Đến nói chuyện với cha đi, đi đi.”

Ngài muốn dấu chai rượu, nhưng không làm được, rồi ngài tìm cách dấu nó trong hai bàn tay. Không rời mắt khỏi con bé, rung động vì tình thương.

“Nó thuộc kinh bổn,” Maria nói, “nhưng nó không muốn đọc.”

Con bé đứng đó, nhìn ngài với ánh mắt xoi mói và oán hận. Họ không có một chút yêu thương nào khi tạo ra sinh linh này: sự sợ hãi, tuyệt vọng, nửa chai rượu mạnh, sợ hãi vì cô đơn đã đẩy ngài đến cái hành động mà ngài ghê tởm… và kết quả là cái tình yêu đầy âu lo, tủi nhục và lớn lao này.

“Tại sao con không muốn đọc kinh bổn,” ngài lên tiếng.

Không để cho những cái nhìn gặp nhau, ngài kín đáo quan sát con bé. Tim ngài đập loạn xạ, trong cái ước muốn mãnh liệt nhằm bảo vệ nó…

“Tại sao con phải đọc?”

“Chúa muốn như thế.”

“Làm sao cha biết?”

Ngài cảm thấy một trách nhiệm nặng nề đè lên mình: cái đó hoà lẫn với tình thương. Tất cả mọi cha mẹ chắc đều cảm thấy như thế, ngài nghĩ thầm; những người bình thường đều sống như thế, đốn cây, cầu nguyện xin thoát khỏi khổ đau… nhờ những cái đó mà ta thoát khỏi một động tác không quan trọng của thân xác. Từ nhiều năm nay, ngài đã chịu trách nhiệm về các linh hồn, nhưng khác kia… nhẹ nhàng hơn nhiều. Ta có thể tin tưởng vào lòng khoan dung của Thiên Chúa, nhưng khó mà tin vào cái mụn nhọt, cái đói, con người…

“Con yêu,” ngài nói, tay siết chặt chai rượu… ngài đã rửa tội cho nó trong lần trước ngài về đây: khi đó con bé giống như một con búp bê bằng vải với khuôn mặt đầy nếp nhăn, già dặn, hình như nó khó mà sống được… Ngài chỉ thấy hối hận; ngài khó mà cảm thấy xấu hổ vì không ai chống đối ngài. Với đa số trong họ, ngài là linh mục duy nhất - và nhìn ngài, mọi phụ nữ sẽ đánh giá cả hàng giáo sĩ.

“Cha là tên người Mỹ à?”

“Người Mỹ nào?”

“Con ngốc,” người đàn bà mắng. Bà nói với vị linh mục: “Đó là người mà cảnh sát đang truy lùng.”

Ngài ngạc nhiên vì người ta còn truy lùng một người khác ngoài ngài.

“Ông ta đã làm gì?”

“Đó là một tên cướp. Nó đã giết người trên phía Bắc.”

“Tại sao nó lại đến đây?”

“Người ta nghĩ rằng nó muốn trốn đến Quintana Roo, trong những đồn điền.”

Ở Mexico, nhiều tên sát nhân thường trốn đến vùng đó: chúng làm việc trong các đồn điền, thu nhập khá và không còn ai lo ngại về chúng nữa.

“Ông có phải là tên tướng cướp không?” Con bé lại hỏi.

“Cha có vẻ là tên sát nhân lắm sao?”

“Không biết.”

Nếu ngài bỏ xứ ra đi, ngài cũng bỏ rơi nó ở đây. Khiêm tốn, ngài hỏi người đàn bà:

“Cha có thể ở lại đây một vài ngày được không?”

“Thưa cha, nguy hiểm lắm.”

Ngài chợt thấy trong mắt con bé một cái nhìn làm ngài sợ. Có thể nói, con bé là một phụ nữ già trước tuổi, đang hoạch định những kế hoạch rất chính xác. Ngài như thấy cái tội trọng không hối tiếc của mình đang nhìn mình. Ngài cố gắng tìm một nét giống nhau giữa ngài với con bé hơn là giữa con bé với người đàn bà:

“Con yêu,” ngài nói, “kể cho cha nghe những trò con chơi đi.”

Con bé cười. Ngài quay lại nhìn lên trần nhà có con nhện đang chạy. Ngài nhớ đến câu ngạn ngữ cha ngài thường nói: Mùi thơm nhất là mùi bánh mì, vị ngon nhất là vị muối, tình yêu đẹp nhất là tình yêu của trẻ con. Tuổi thơ của ngài là tuổi thơ hạnh phúc dù ngài sợ hơi nhiều điều và xem cái nghèo như một tội ác: ngài tưởng rằng, làm linh mục ngài sẽ thành giàu có và quan trọng: đó là cái mà người ta gọi là ơn gọi. Ngài nhớ đến khoảng thời gian xa vời từ con vụ đầu tiên cho đến cái giường ngài đang nằm đây. Và với Chúa, đó chỉ là một khoảnh khắc. Từ tiếng cười của con bé đến tội trọng đầu tiên chỉ gần như một nháy mắt. Ngài với tay ra như thể để cứu con bé khỏi… cái gì? Ngài bất lực: con người, đàn ông hay đàn bà, mà cuộc đời đã chỉ định đến để làm băng hoại con bé có thể chưa sinh ra; làm sao che chở nó tránh cái chưa hiện hữu?

Con bé nhảy một bước thoát khỏi tầm tay ngài.

“Đồ quỉ,” bà mẹ nói và dang tay lên đánh con.

“Đừng,” vị linh mục nói, “đừng.”

Ngài ngồi dậy cách khó nhọc.

“Tôi không cho phép bà…”

“Con là mẹ nó.”

“Chúng ta không có quyền.”

Ngài lại nói với con bé. “Nếu con có bộ bài tây, cha sẽ bày cho con một trò. Con có thể khoe với các bạn…”

Ngài chưa bao giờ biết cách nói chuyện với trẻ con, trừ khi từ trên toà giảng. Con bé nhìn ngài với ánh mắt thách thức.

“Con có biết,” ngài nói, “gởi tín hiệu bằng cách gõ những tiếng dài, ngắn, dài… không?”

“Cái đó là cái gì?” người đàn bà la lên.

“Đó là trò chơi của trẻ con.” Ngài lại nói với con bé: “Con có bạn không?”

Con bé lại bật cười. Vóc dáng con bé bảy tuổi trông giống như vóc dáng một phụ nữ lùn.

“Ra ngoài,” người đàn bà la lên, “nếu không, tao sẽ cho mày biết…”

Con bé biến mất… có lẽ là mãi mãi đối với ngài. Người ta không bao giờ nói vĩnh biệt với những người ta yêu thương bên giường bệnh, trong khung cảnh thanh bình đầy mùi hương trầm. Ngài nói:

“Cha nghĩ, điều mà chúng ta có thể dạy nó…”

Ngài nghĩ đến cái chết của chính mình, đến cuộc đời con bé sẽ tiếp tục: có lẽ địa ngục đối với ngài là nhìn thấy con bé đi theo con đường lầm lỗi của ngài, càng lúc càng hư đốn sau khi ngài đã truyền cho nó sự yếu hèn của mình như truyền căn bệnh lao di truyền… Ngài lại nằm và quay mặt đi tránh ánh nắng chiều đang xuống, muỗi bay đi kiếm ăn vùn vụt như những con dao lính thuỷ phóng ra.

“Con treo mùng cho cha nhé.”

“Không, không cần đâu.”

Trong mười năm gần đây, ngài bị sốt quá nhiều lần, bao nhiêu lần ngài không nhớ nỗi. Ngài không quan tâm. Sốt, hết sốt. vậy thôi, có khác gì đâu. Bây giờ đó là một phần cuộc sống của ngài.

Một lúc sau, người đàn bà ra khỏi lều và ngài nghe giọng bà ba hoa ngoài kia. Ngài ngạc nhiên và hơi an tâm vì tính tình mềm mỏng của Maria. Một lần thôi, bảy năm trước đây, trong năm phút, họ đã yêu nhau, nếu có thể nói như thế về cái lần quan hệ mà bà còn không cho ngài biết tên mình. Với bà, đó là một sự việc, một vết thương nhẹ đã lành sẹo hoàn toàn, bà cũng hơi hãnh diện vì đã là tình nhân của một linh mục. Chỉ có ngài, ngài mang một vết thương sâu hoắm: đó là thời điểm sụp đổ một thế giới.

Bên ngoài, trời còn tối: chưa có dấu chỉ là sắp bình minh. Hai mươi bốn hay hai mươi lăm người ngồi dưới đất, trong ngôi lều lớn nhất làng nghe ngài giảng. Ngài không thấy rõ họ: mấy cây đèn cầy đặt trên một thùng gỗ, khói bay thẳng lên trời; cửa đóng kín, không có một chút gió nào trong nhà. Đứng giữa những con người đó và mấy ngọn đèn, mặc quần rách và cái áo của người nhà quê, ngài nói với họ về Nước Trời. Họ càu nhàu và cựu quậy vì lo lắng: ngài biết là họ mong thánh lễ kết thúc nhanh, họ đã đánh thức ngài từ rất sớm, có tin cảnh sát đang ở gần đây…

Ngài nói: “Một giáo phụ dạy chúng ta rằng niềm vui phụ thuộc vào đau khổ. Gian nan là một phần thiết yếu của niềm vui. Anh chị em nghĩ xem: Khi ta đói, thức ăn xem ra ngon biết chừng nào. Khi ta khát…”

Ngài đột ngột dừng lại và chờ một tiếng cười chế giễu, nhưng không có. Ngài nói tiếp:

“Chúng ta hy sinh để được hạnh phúc hơn. Anh chị em có nghe nói về những người giàu có trên phương Bắc, họ ăn những thức ăn thật mặn trước khi uống cái mà họ gọi là cocktail. Trước hôn nhân cũng vậy, có thời gian đính hôn dài…”

Ngài lại ngừng. Ngài thấy sự bất xứng đè nặng trên lưỡi ngài. Một ngọn nến đang tàn toả mùi hương sáp trong không khí nóng nực: trong bóng tối, mọi người nhúc nhích. Mùi mồ hôi của những con người không bao giờ tắm trộn với mùi nến. Giọng uy quyền của ngài bỗng cất lên:

“Do đó, tại sao tôi nói với anh chị em là Nước Trời đang ở đây: đây là một phần của nước trời, cũng như khổ đau là một phần của niềm vui. Anh chị em hãy xin được chịu khó thêm nữa, thêm nữa. Đừng nản lòng vì khổ đau. Cảnh sát bóc lột anh chị em, lính thu thuế, anh chị em bị đánh đập vì nghèo quá, không có tiền đóng thuế, mụt nhọt, sốt, đói khát… tất cả là một phần của Nước Trời, và chuẩn bị cho anh chị em vào. Và biết đâu, không có những khốn khó đó, anh chị em lại thấy Nước Trời ít đẹp đi. Nước Trời sẽ không toàn vẹn. Và Nước Trời. Nước Trời là gì?”

Hình như những câu văn chải chuốt này bây giờ thuộc về một cuộc sống khác - cuộc sống bình yên nhặt nhiệm trong chủng viện - các từ rối rắm trên môi ngài, tên những loại đá quí, Giêrusalem thành vàng… nhưng những người này có bao giờ thấy vàng đâu.

Ngài tiếp tục lúng búng: “Nước Trời là nơi không còn cảnh sát, không còn luật lệ bất công, không còn lính, không còn đói. Trên trời, con cái anh chị em sẽ không còn chết yểu.”

Cửa căn lều mở ra, một người đi vào bên trong. Có tiếng thì thầm trong góc khuất.

“Anh chị em sẽ không còn sợ hãi vì sẽ không còn đe doạ. Không còn đội áo đỏ. Ở đó không còn ai phải già đi, và mùa màng luôn tươi tốt. Ôi, thật dễ nêu ra những gì không có trên Thiên đàng. Trên đó có Chúa. Điều này khó hiểu hơn. Ngôn từ của chúng ta chỉ dành để mô tả những gì giác quan cảm nhận được. Khi ta nói ‘ánh sáng’ chúng ta chỉ nghĩ đến mặt trời, ‘tình yêu…’”

Khó có thể tập trung được: cảnh sát đang đến. Người kia có thể đã mang tin đến.

Một giọng nói thì thầm vào tai ngài.

“Thưa cha.”

“Cái gì?”

“Cảnh sát đã xuất phát; họ băng qua đường rừng, chỉ cách đây một dặm.”

Ngài quá quen với những điều này: những lời không nói, cái kết thúc, chờ đợi cực hình đang hiện diện giữa ngài và đức tin. Kiên trì, ngài tiếp tục nói:

“Tóm lại, xin anh chị em nhớ cho Nước Trời đang ở đây.”

Họ đi bộ hay đi ngựa? Nếu họ đi bộ, ngài còn có hai mươi phút để kết thúc thánh lễ và đi trốn.

“Ngay tại đây, ngay phút này, nỗi sợ của anh chị em và của tôi thuộc về Nước Trời, ở đó sẽ không con lo sợ nữa.”

Ngài quay lưng về phía họ và đọc nhanh kinh Tin Kính. Lần đầu tiên sau khi phạm tội trọng, ngài đã kinh hãi thực sự khi đến phần Kinh nguyện Thánh Thể, khi ngài rước Mình Máu Chúa; sau đó, cuộc sống đã cung cấp cho ngài những lý do để miễn trừ… Rồi một thời gian sau, ngài thôi nghĩ đến việc bị luận tội hay không, điều quan trọng là những người này…

Ngài hôn lên thùng hàng và quay lại phía họ để ban phép lành… trong ánh sáng tù mù, ngài thấy có hai người quỳ gối, tay dang ra hình thánh giá… Họ sẽ quỳ như thế cho đến hết phần Truyền Phép, thêm một sự ép mình vào cuộc sống khó khăn, khốn khổ của họ. Ngài cảm thấy nhục nhã trước cảnh những người tầm thường tự nguyện chịu khó khăn; phần ngài, những đau khổ thì ngài bị bắt buộc phải chịu.

“Ôi, lạy Chúa, con yêu mến nhà Chúa biết bao…”

Mấy ngọn nến tiếp tục cháy, các tín hữu quỳ gối nhưng nhúc nhích không yên. Bỗng nhiên, một niềm hạnh phúc phi lý xâm chiếm lấy ngài, trước cơn lo âu: như thể ngài được phép chiêm ngắm những công dân Nước Trời. Thiên Đàng có lẽ cũng có những khuôn mặt thất thanh vì sợ, đói khát như thế này. Trong một vài giây, ngài cảm thấy mãn nguyện vì từ nay ngài có thể nói với họ về đau khổ mà không giả hình… Một linh mục được ăn no, mặc ấm thì không thể tôn vinh sự nghèo khó. Ngài bắt đầu kinh cầu cho kẻ sống: danh sách dài các thánh Tông đồ, các thánh Tử đạo. Tên các ngài vang lên như tiếng bước chân: Cornêliô, Cyprianô, Lôrenti, Chrysôgôni… Cảnh sát sắp đến khu đất trống, nơi con lừa của ngài khụy xuống, nơi ngài rửa mặt trong vũng nước. Những lời kinh lẫn lộn vào nhau; chung quanh ngài, sự nôn nóng trở thành rõ rệt. Ngài đọc lời Truyền phép (từ lâu nay, ngài không còn có bánh không men… đây là miếng bánh nướng trong lò của Maria); đột nhiên, sự nôn nóng biến mất: với thời gian, mọi sự trở thành tầm thường trừ điều này: hôm trước ngày chịu nạn, Người cầm bành trong tay… Tiếng động của đoàn người đang di chuyển trên con đường mòn, ở đây mọi sự đều bất động, Này là Mình Ta. Ngài nghe tiếng họ thở phào vì họ nín hơi đã lâu: Chúa đang hiện diện, trước mặt họ, dưới hình bánh, lần đầu tiên từ sáu năm nay. Khi ngài đưa Mình Thánh Chúa lên, ngài hình dung họ nhìn lên như những con chó đói. Ngài truyền phép rượu, trong một cái chén sứt. Lại thêm một mất mát, bỏ rơi: trong hai năm, đi đâu ngài cũng mang chén thánh đi: cái này đánh đổi bằng mạng sống; nếu một sĩ quan cảnh sát nào đó không có đạo mà lục xách ngài… Cũng có thể viên sĩ quan này phải đánh đổi bằng mạng sống của chính mình, nếu bị phát hiện… Ai biết… Chúa biết ai là người tử đạo… ở Conception hay nơi nào đó… còn mình thì thiếu ân huệ cần thiết để được chết.

Việc truyền phép diễn ra lặng lẽ: không có rung chuông. Kiệt sức, vị linh mục quỳ gần thùng chứa hàng, không thể cầu nguyện được. Ai đó mở cửa, một giọng lo sợ nói thầm vào tai ngài; ”Họ đến rồi.” Vị linh mục nghĩ thầm “Như vậy không phải là họ đi bộ. Trong cái thinh lặng tuyệt đối của bình minh, đâu đó có tiếng ngựa hý. Chắc họ ở đâu đó không quá ba trăm mét.

Vị linh mục đứng dậy… Maria đứng gần ngài:

“Khăn bàn thờ, cha đưa cho con.”

Ngài vội vã cho bánh thánh vào miệng và uống rượu; phải tránh sự phạm thánh; khăn trải được nhanh chóng lấy khỏi thùng hàng. Maria thổi tắt các ngọn nến. Căn lều trở nên trống trơn, chỉ còn ông chủ lều nấn ná gần cửa ra vào để hôn tay linh mục. Qua cánh cửa, mọi người chầm chậm đi ra, trong làng, có tiếng gà gáy.

“Mau lên, về lều của con.”

“Vâng, không nên để họ bắt cha ở đây”.

Ngài không có kế hoạch gì cả.

“Họ đang vây quanh làng.”

Thôi, như vậy là tận số rồi sao? Ngài tự hỏi. Sự sợ hải dường như sắp ập tới, nhưng ngài chưa cảm thấy. Ngài theo người đàn bà đi nhanh về lều và trong lúc đi, ngài máy móc đọc thầm kinh ăn năn tội. Ngài tự hỏi không biết lúc nào thì sự sợ hãi sẽ chộp được ngài: ngài đã sợ hãi khi viên cảnh sát lục soát xách tay ngài, nhưng đó là từ nhiều năm trước kia. Ngài cũng đã sợ khi nằm trong kho chuối, nghe con bé mặc cả với viên sĩ quan cảnh sát… cách đây mấy tuần. Và bây giờ, cái sợ thật gần gũi. Chưa thấy dấu hiệu gì của cảnh sát - chỉ là một buổi bình minh xám xịt, gà và ngỗng thức dậy, nặng nề bay xuống khỏi những ngọn cây trên đó chúng qua đêm. Con gà trống lại cất tiếng gáy. Nếu cảnh sát cẩn thận như vậy, thì họ chắc chắn có linh mục ở đây. Lần này, chắc chắn là lần cuối.

Maria kéo áo ngài.

“Vô đây. Nằm lên giường đi.”

Có lẽ, bà ta có kế hoạch gì đó. Đàn bà thực tế đến lạ lùng: trên đổ nát của những kế hoạch thất bại, ngay lập tức, họ xây dựng kế hoạch mới, nhưng để làm gì?

“Để con xem hơi thở của cha? Ôi, Chúa ơi, bất cứ ai cũng có thể nhận ra… mùi rượu nho… như thể cha mới uống!”

Bà biến mất đi đâu phía sau căn lều một lúc, nghe tiếng lục lạo. Đột nhiên, cách làng một trăm mét, một sĩ quan cỡi ngựa đi ra khỏi bìa rừng. Trong cái im lặng tuyệt đối, ta nghe tiêng rít của bao súng lục khi ông vẩy tay ra hiệu.

Cảnh sát xuất hiện, bao vây chung quanh ngôi làng - chắc họ đã phải đi thật nhanh, vì chỉ có viên sĩ quan cỡi ngựa. Súng cầm tay, nòng chúi xuống, họ thận trọng tiến về phía mấy căn chòi - một cuộc phô diễn sức mạnh quá đáng, hơi lố bịch là đàng khác. Một người lính kéo lê cái xà cột bị tuột ra: có lúc, nó vướng vào cành cây. Anh ta trượt chân, té xuống. Báng súng đập vào băng đạn; từ trên ngựa, viên trung uý nhìn anh ta rồi quay khuôn mặt giận dữ và chua chát nhìn về hướng mấy căn lều im lặng.

Người đàn bà kéo vị linh mục vào bên trong lều.

“Cha cắn cái này đi”

Ngài đứng quay lưng về phía cảnh sát và bước chậm chậm vào lều. Trên tay người đàn bà là một củ hành sống.

“Cha cắn cái này đi.”

Ngài cắn, cay chảy nước mắt.

“Khá hơn không?” Bà hỏi.

Ngài nghe tiếng vó ngựa cẩn thận rảo quanh khu làng.

“Cay quá,” ngài cười và trả lời.

“Đưa đây.”

Bà dấu củ hành mất tăm đâu đó trong áo quần: trò ảo thuật mà người đàn bà nào cũng biết.

“Va li tôi đâu?” Ngài hỏi.

“Cha đừng quan tâm. Cha nằm xuống giường đi.”

Nhưng trước khi ngài kịp nhúc nhích, một con ngựa đã đứng án ngữ trước cửa: vị linh mục và người đàn bà thấy một đôi giày kỵ binh viền đỏ; các phụ liệu bằng đồng sáng loáng, một bàn tay đeo găng đang nắm bờm con ngựa. Maria đặt tay mình trên tay vị linh mục –đó là cử chỉ âu yếm mà bà chưa bao giờ dám làm: giữa hai người, sự âu yếm bị cấm đoán. Một giọng vang lên:

“Tất cả mọi người ra khỏi nhà.”

Con ngựa thở phì phì và một cột bụi nhỏ bốc lên.

“Tôi nói ra khỏi nhà mà!”

Đâu đó, có tiếng súng nổ. Linh mục rời ngôi lều.

Ngày lên: những gợn mây bay trên trời, theo hướng gió; một người cầm súng chĩa lên trời. một chút khói còn vương trên đầu súng. Cuộc hấp hối bắt đầu như thế này sao?

Từ tất cả mọi chòi, dân làng tập trung lại; lũ trẻ con trước hết: tò mò và chẳng chút e sợ gì. Mấy người đàn ông và phụ nữ thì như thể đã là tội nhân đã bị chính quyền kết án, mà chính quyền thì có bao giờ sai đâu. Không ai nhìn vị linh mục. Mọi người chờ đợi. mắt cúi gầm xuống đất. Lũ trẻ con nhìn con ngựa như thể đó là trung tâm của màn kịch này.

“Lục soát trong tất cả các lều,” viên trung uý ra lệnh. Một vài phút trôi qua nặng nề; khói súng lúc trước trong không khí không chịu tan đi. Một vài con heo chạy ra khỏi lều kêu ục ịch, một con ngỗng chạy ra tận giữa đám đông, lúc lắc cái bờm màu hồng dưới mỏ. Một anh lính lại gần chào viên trung uý và báo:

“Họ ở đây cả rồi.”

“Không có gì khả nghi à?”

“Không.”

“Lục soát lại.”

Thời gian lại ngưng trôi như cái đồng hồ chết. Viên trung uý rút ra một điếu thuốc, ngập ngừng rồi cất lại vào túi. Viên cảnh sát quay lại báo cáo

“Không có ai cả.”

Viên trung uý hô:

“Nghiêm! Tất cả nghe đây.”

Vòng vây cảnh sát thu hẹp quanh đám đông, trước mặt viên trung uý. Chỉ có lũ trẻ con được tự do. Linh mục thấy con gái mình đứng bên cạnh con ngựa của viên trung uý: đầu nó cao đến gần đôi giày của ông trung uý; nó đưa tay sờ chiếc giày.

“Chúng tôi tìm hai tên tội phạm,” trung uý nói. “Một là tên cướp người Mỹ, một tên sát nhân. Tôi thấy rõ ràng là nó không có ở đây. Sẽ có phần thưởng năm trăm pesô cho ai bắt được nó. Nhìn đây.”

Ông ngừng lại một lúc và nhìn người này đến người khác. Vị linh mục cảm thấy cái nhìn đè nặng trên mình, ngài cúi nhìn xuống đất như mọi người.

“Hai là một linh mục.” Ông ta nói lớn “Các người biết đó là cái gì rồi: một tên phản bội nền Cộng Hoà. Ai bao che cho nó cũng là phản động.”

Sự bất động của đám đông làm cho ông ta càng tức giận.

“Các người ngu đần quá, các người còn tin những gì mấy ông linh mục nói sao? Họ chỉ muốn tiền các người thôi, thế thôi. Chúa đã làm gì cho các người nào? Các người có được ăn no không? Con cái các người được ăn no không? Thay vì cho các người cơm gạo, họ hứa cho các người thiên đàng. Ôi, mọi sự sẽ tốt đẹp biết bao khi các ông bà đã qua đời, họ nói với các người như thế. Tôi, tôi nói cho các người biết: mọi sự sẽ tốt đẹp khi họ chết hết, chết hết. Các người phải giúp tôi.”

Đứa con gái đã đặt tay lên giày ông ta. Từ trên ngựa, ông nhìn nó với vẻ âu yếm cộc cằn và nói giọng chắc nịch.

“Em bé này còn có giá trị hơn Giáo hoàng La Mã.”

Các anh lính đứng tựa vào súng; một người ngáp. Con ngỗng chạy trở lại khu lều miệng kêu quàng quạc.

“Nếu các người đã thấy tên linh mục,” viên trung uý tiếp lời, “hãy nói ra. Ai nói được thưởng bảy trăm pesô.”

Không ai nói gì.

Viên trung uý nói tiếp:

“Tôi biết là hắn ta trốn trong vùng này. Có lẽ các người chưa biết chuyện gì xảy ra ở Conception chứ?”

Một bà bắt đầu khóc.

“Thôi, đến đây. Từng người một và khai tên họ. Không, chỉ đàn ông thôi, đàn bà khỏi.”

Vẻ buồn rầu, họ tiến lên trong khi viên trung uý hỏi: “Tên gì? Nghề nghiệp gì? Có vợ chưa? Vợ ông là ai? Đã nghe nói về tên linh mục đó chưa?”

Chỉ còn một người giữa đầu ngựa và vị linh mục. Ngài âm thầm đọc kinh ăn năn tội, nhưng lòng trí đâu đâu…

“Tội con, vì chúng đã đóng đinh Chúa con… nhưng nhất là vì chúng con đã phạm tội…” Chỉ còn một mình ngài đứng trước mặt viên trung uý… “Con quyết chừa cải từ nay không phạm tội làm mất lòng Chúa.” Đó chỉ là một công thức phải làm vì lúc nào cũng phải sẵn sàng, như người ta làm di chúc: nhiều khi là vô ích.

“Tên gì?”

Tên người giáo dân ở Conception chợt thoáng qua óc ngài.

“Montez.”

“Có bao giờ thấy tên linh mục chưa?”

“Chưa.”

“Làm nghề gì?”

“Tôi có một miếng đất.”

“Có gia đình không?”

“Có.”

“Vợ đâu?”

Maria đột nhiên la lên:

“Tôi đây. Sao ông hỏi ông ấy nhiều quá vậy? Ông ta giống linh mục lắm sao?”

Viên trung uý đang xem một cái gì đó đặt trên đầu yên. Giống như một tấm hình cũ.

“Đưa tay ra.”

Linh mục chìa tay ra: tay ngài còn chai hơn tay nông dân chính hiệu. Đột nhiên viên trung uý cúi xuống kiểm tra hơi thở của ngài. Im lặng tuyệt đối bao trùm đám dân làng, sự im lặng đáng sợ vì hình như làm cho viên trung uý thêm nghi ngờ… Ông ta lại nhìn khuôn mặt hốc hác và nhìn lại tấm hình…

“Được,” trung uý nói.

Ông linh mục bước đi.

“Khoan, đợi chút.” Ông ta đặt tay lên đầu Brigitte, xoa nhẹ mái tóc đen và cứng của em. “Nhìn tôi đây,” ông ta nói. “Em biết hết mọi người trong làng này phải không?”

“Vâng,” cô bé đáp.

“Vậy thì ông này là ai? Nói tên ông ta đi.”

“Tôi không biết,” cô bé trả lời.

Viên trung uý nín thở:

“Em không biết tên ông ta sao? Ông ta là khách lạ à?”

Bà Maria nói chen vào: “Nhưng con bé còn không biết cả tên của chính nó. Ông hỏi nó xem cha nó là ai.”

“Chỉ cha em cho tôi.”

Đứa bé đưa mắt nhìn viên trung uý, rồi nhìn vị linh mục… “Con xin chừa hết mọi tội và con xin ơn tha thứ…” ngài đọc rất nhỏ, mấy ngón tay bắt chéo hình Thánh giá để xua đi vận rủi.

“Ông này,” con bé nói, “ông này.”

“Tốt,” ông trung uý nói. “Người tiếp theo.”

Cuộc tra khảo tiếp tục: tên? nghề nghiệp? vợ con? Lúc này mặt trời lên trên bìa rừng. Vị Linh mục đứng, tay bắt chéo trước ngực. Một lần nữa, cái chết cho ông lùi lại một thời gian. Tự nhiên ngài muốn bước ra trước mặt ông trung uý và gào to: “Tôi đây. Tôi là người các ông tìm.” Họ sẽ bắn mình ngay không? Một hứa hẹn bình an loé sáng trong ngài. Cao trên trời, một con diều hâu đang trông chừng đám đông: ở độ cao đó, chắc hai nhóm người này giống như hai nhóm thú ăn thịt lúc nào cũng có thể nhào vào nhau để cấu xé; con chim, một chấm đen li ti trên trời cao kiên nhẫn chờ đợi khi tất cả bọn họ đều đã thành thây ma. Chết không phải là hết đau khổ… Tin vào sự bình an là một thứ tà đạo.

Người đàn ông cuối cùng đã trả lời xong.

“Không có ai muốn giúp chúng tôi hết phải không?” Viên trung uý hỏi.

Họ vẫn im lặng, gần cái quán nhạc đổ nát.

“Các người biết chuyện xảy ra ở Conception rồi chứ? Tôi bắt con tin… và khi tôi biết vị linh mục đã đi qua đó, tôi sẽ cho con tin dựa vào thân cây gần nhất… Tôi biết sự thật, bởi vì khi nào cũng có người thay đổi ý kiến, có thể là một ông nào đó ở Conception yêu vợ của con tin và muốn loại trừ anh ta. Tôi không cần tìm chứng cứ. Sau đó, chúng tôi đã tìm thấy rượu nho ở Conception… Có thể ai đó trong làng lấn đất ruộng của anh, hay bắt bò của anh. Tốt nhất là nên khai ngay lúc này. Vì tôi cũng có ý định bắt con tin ở đây.”

Ông trung uý im tiếng rồi lại nói:

“Các người không cần lên tiếng tố cáo, nếu có tên linh mục ở đây, chỉ cần nhìn về phía ông ta. Không ai biết là các vị đã tố cáo. Chính ông linh mục cũng không biết, nếu quí vị sợ ông ta chúc dữ. Đây là cơ hội cuối cùng.”

Vị linh mục không dám ngước mắt lên; ngài không muốn làm người sắp tố cáo ngài phiền lòng.

“Được,” viên trung uý nói. “Vậy thì tôi chọn con tin. Đây là do các vị muốn vậy đấy nhé.”

Từ trên ngựa, ông nhìn đám người; một người lính đã kê súng vào quán nhạc và quấn lại xà cạp. Dân làng vẫn kiên trì nhìn xuống đất; ai cũng sợ gặp tia mắt của viên trung uý. Đột nhiên, ông la lên:

“Sao các người không tin tôi? Tôi không muốn ai phải chết cả. Trong mắt tôi - các ông không thể hiểu được - các ông có giá trị hơn tên đó nhiều. Tôi muốn cho các ông…” Ông ta phác một cử chỉ không cần thiết vì có ai nhìn ông ta đâu. “Tôi muốn cho các người tất cả!”

Rồi ông ta nói giọng khản đi:

“Anh, anh đằng kia. Tôi bắt anh.”

Một bà la lên:

“Nó là con trai tôi. Miguel. Ông không được bắt con tôi.”

Ông trung uý nói giọng trầm buồn:

“Các đàn ông ở đây đều là chồng hay là con trai của ai đó, tôi biết.”

Vị linh mục đứng lặng yên, tay bắt chéo; ngài nắm tay chặt đến nỗi các khớp trắng bệch ra… Ngài cảm thấy chung quanh ngài trỗi lên sự oán hận, bởi vì ngài không là chồng, là con trai của ai cả.

“Trung uý…,” ngài nói.

“Cái gì?”

“Tôi già yếu rồi không làm đồng được nữa, xin ông bắt tôi đi.”

Một bầy heo từ sau một căn lều chạy ra, không cần biết đến ai cả. Người lính đã quấn xong cái xà cạp, đứng lên. Trên cánh rừng, mặt trời chiếu ánh lấp lánh xuống mấy chai nước khoáng trong quán.

“Tôi bắt con tin,” ông trung uý nói. “Tôi không dâng cho những người biếng nhác nhà ở, cơm ăn. Nếu ông không làm đồng được, ông cũng không làm con tin được.”

Rồi ông ra lệnh:

“Trói tay lại và dẫn nó đi.”

Chỉ một loáng thôi, cảnh sát đã rời làng. Họ bắt đi hai ba con gà, một con ngỗng và một anh tên Miguel.

“Anh chị em thấy đó, tôi đã làm hết sức mình,” vị linh mục nói lớn tiếng. “Chính các người phải tố cáo tôi chứ. Các ông bà mong đợi gì nơi tôi? Bổn phận của tôi là phải tránh để khỏi bị bắt.”

“Như thế rất tốt, thưa cha,” một người đàn ông nói, “nhưng xin cha cẩn thận. Khi đi, xin cha nhớ đừng để rượu lại như ở Conception.”

“Ở lại cũng chẳng ích gì, thưa cha,” một người khác nói. “Sớm hay muộn, họ cũng bắt được cha thôi… Từ nay, họ sẽ không quên mặt cha nữa đâu. Cha phải đi lên hướng Bắc, phía núi, bên kia biên giới.”

“Bên kia là một tỉnh đẹp,” một người đàn bà nói. “Họ còn có nhà thờ. Không ai được lui tới, dĩ nhiên, nhưng còn nhà thờ. Tôi còn nghe nói là trong thành phố còn có linh mục. Một người bà con của tôi đã đi đến tận Las Casas bằng cánh đi băng qua núi và ngày kia anh ta được dự lễ… trong một ngôi nhà, có bàn thờ thật, và linh mục mặc áo lễ như ngày xưa. Ở đó cha sẽ sung sướng, thưa cha.”

Linh mục theo Maria về lều. Chai rượu nằm lăn lóc trên bàn, ngài lấy tay chạm vào nó, chai rượu gần như trống rỗng.

“Maria, va li của cha đâu?”

“Bây giờ mà cha mang nó đi theo thì nguy hiểm quá cha ơi,” Maria nói.

“Nhưng làm sao cha mang rượu nho đi được.”

“Cha nói sao?”

“Con không muốn cha bị nguy hiểm, cha cũng như những người khác. Con đã đập vỡ chai rượu rồi. Dù nó có mang lại tai hoạ cho con…”

Ngài nói với bà giọng dịu dàng nhưng buồn rầu:

“Không nên dị đoan. Đó chỉ là… rượu thôi mà. Rượu đó không có thánh thần gì cả. Có điều, ở đây khó kiếm lắm. Do đó tại sao cha luôn có dự trữ ở Conception. Nhưng họ đã khám phá ra.”

“Và bây giờ con nghĩ là cha sẽ ra đi… đi luôn. Cha không còn có ích cho ai cả,” bà nói cách hung bạo. “Cha không hiểu sao, thưa cha? Chúng con không muốn có cha ở đây nữa.”

“Vâng, đúng thế, nhưng vấn đề không phải là tại con muốn hay cha muốn…”

Kiên nhẫn, bà ngắt lời ngài.

“Con cũng có hiểu biết chút ít. Con có đi học. Con không ngu như… bọn họ. Con biết cha là một linh mục xấu xa. Những gì chúng ta đã làm với nhau… Con tin là cha không chỉ dừng lại ở đó. Con nghe đồn nhiều chuyện, tin con đi. Cha nghĩ rằng Chúa mong muốn cha ở lại đây để được chết hay sao - một linh mục nghiện rượu như cha?”

Ngài kiên nhẫn đứng trước mặt bà, giống như khi ngài đứng trước mặt viên trung uý, và nghe bà nói. Ngài không tin là bà có thể có những ý nghĩ như thế.

“Giả sử như họ bắn cha,” bà nói, “cha sẽ là một vị tử đạo, đúng không? Theo cha, cha là loại thánh tử đạo như thế nào? Thật đáng tức cười!”

Ngài chưa bao giờ có ý nghĩ là người ta xem ngài như một vị tử đạo. Ngài nói:

“Khó lắm, khó lắm. Cha sẽ suy nghĩ thêm. Cha không muốn người ta cười nhạo giáo hội.”

“Thế thì cha qua bên kia biên giới mà suy nghĩ.”

“Nhưng…”

“Khi sự việc xảy ra, như cha biết rồi đó,” bà nói, “con đã hãnh diện. Con nghĩ rằng những ngày tháng tươi đẹp sẽ trở lại. Có phải ai cũng được làm tình nhân của một linh mục đâu. Và con bé… con tưởng là cha sẽ làm cho nó nhiều điều. Nhưng cha cũng chỉ có thể là một tên trộm…”

“Nhưng cũng có những tên trộm lành,” ngài hời hợt trả lời.

“Thề có trời, xin cha cầm chai rượu này và đi đi.”

“Trong va li của cha có… Trong va li của cha có…”

“Cha đến đống rác mà kiếm nếu cha muốn. Con, con không đụng đến nó nữa đâu.”

“Còn con bé,” ngài nói, “con là một phụ nữ tốt, Maria. Ý cha muốn nói là con sẽ cố gắng dạy nó… nên người công giáo tốt.”

“Con bé đó không được tích sự gì cả. Chính cha cũng thấy đó.”

“Ở tuổi nó… nó cũng chưa có gì hư hỏng lắm đâu,” giọng ngài cầu khẩn.

“Nó có nhiều tật xấu và càng lúc càng hư.”

“Thánh lễ tới, cha sẽ cầu nguyện đặc biệt cho nó.”

Nhưng người đàn bà không thèm nghe.

“Con bé hoàn toàn hư hỏng.”

Ngài cảm thấy niềm tin vụt tắt khi ngài bước dần ra cửa… Rồi đây, thánh lễ đâu còn ý nghĩa gì với mọi người đâu, cũng chỉ như một con mèo đen chạy băng qua đường. Ngài chỉ làm cho cuộc sống của họ thêm nguy hiểm.

“Con lừa…”

“Người ta đang cho nó ăn bắp. Cha phải đi lên hướng Bắc,” bà nói thêm. “Cha không cách gì trốn tránh ở phía Nam này được đâu.”

“Có lẽ cha sẽ đi Carmen…”

“Ở đó cũng đang bị canh chừng.”

“Ôi, thôi…” ngài nói, “có lẽ… một ngày kia… mọi sự sẽ khá hơn…”

Ngài vạch lên không một dấu thánh giá và ban phép lành cho Maria đang đứng trước mặt ngài, sốt ruột chờ ngài ra đi mãi mãi.

“Thôi, vĩnh biệt Maria.”

“Vĩnh biệt cha.”

Ngài băng qua khoảng sân, dáng người khòm xuống. Ngài cảm thấy là trong làng, không ai mà không vui mừng khi thấy ngài ra đi… ngài chỉ mang đến cho họ bất hạnh, và họ đã kiên quyết, do một sự mê tín mơ hồ nào đó, đã không giao nộp ngài cho cảnh sát; ngài tự nhiên thấy ganh tỵ với tên tướng cướp mà mọi dân làng sẽ không ngần ngại đón bắt… Hắn, ít nhất, hắn không phải mang nợ ân tình với ai cả.

Dưới triền dốc nham nhở vết chân lừa và điểm xuyết với những rễ cây sần sùi, con sông lượn lờ trôi… Sát mép nước, một đoạn bờ đổ đầy những vỏ đồ hộp, chai bể. Dưới tấm bảng ghi “Cấm đổ rác”, tất cả những rác rưởi của cả làng chất thành đống và đang lấn ra mép sông. Mùa mưa, nước lụt sẽ quét sạch mọi thứ. Ngài bước lên trên đống vỏ đồ hộp và rau trái thối, với tay cầm va li: nó đã là một cái va li tốt, một chứng tích của quá khứ yên bình… Ngài gần như quên mất đời sống trước đây và hiện nay khác như thế nào. Ai đó đã giật tung ổ khoá; ngài luồn tay qua hai làn lụa mỏng…

Giấy tờ vẫn còn: tiếc nuối, ngài vứt cái va li… một thời trẻ trung, quan trọng, được vây quanh bằng sự kính trọng nằm chơ vơ trên đống rác… cái va li này do giáo dân Conception dâng ngài nhân dịp mừng năm năm ngài chịu chức linh mục… Ngài nghe tiếng động sau lùm cây. Tay nắm chặt mớ giấy tờ, ngài rút chân ra khỏi đống rác, mấy con nhặng bay quanh chân ngài. Ngài đi vòng ra sau thân cây xem ai đang rình rập ngài… Con bé ngồi đó, trên một gốc cây. Hai mắt nó nhắm nghiền lại.

“Con yêu,” linh mục nói, “con sao thế? Ai đã làm gì con?”

Hai con mắt giận dữ mở ra, đỏ ngầu nhưng kiêu hãnh.

“Chính cha… chứ còn ai nữa,” cô bé nói.

“Cha sao?”

“Vâng. Chính cha làm khổ con.”

Ngài tiến đến gần con bé như người ta tiến đến gần một con vật nguy hiểm, rất thận trọng. Ngài cố tỏ ra âu yếm.

“Con ơi, tại sao là cha?”

“Chúng nó chế nhạo con,” con bé trả lời cách hung tợn.

“Vì cha sao?”

“Tất cả mọi đứa đều có cha… cha chúng làm việc”

“Cha cũng vậy, cha làm việc.”

“Cha là linh mục, phải không?”

“Vâng.”

“Pedrô nói cha không phải là đàn ông, và cha không làm gì được với đàn bà. Con không biết nó nói thế có ý gì.”

“Cha nghĩ là chính nó cũng không biết nó nói gì.”

“Nhưng nó mười tuổi rưỡi. Và con, con muốn biết. Cha sắp đi phải không?”

“Vâng.”

Ngài lại hoảng sợ vì cái khôn trước tuổi của nó khi nó mỉm cười, một cái cười có chọn lọc trong cái kho sung túc, đa dạng.

“Cha nói đi…” con bé nói giọng quyến rũ.

Ngồi trên thân cây, gần đống rác, nó có vẻ như sẵn sàng dâng hiến. Nó đã mang thế giới trong tim mình như hạt mầm của sự thối rữa dấu trong ruột trái cây: con bé không có chút duyên hay sắc nào để giúp nó. Ngài cảm thấy xao xuyến vì sự hư hỏng gần như chắc chắn của nó.

“Con ơi, con cần lưu ý…”

“Lưu ý cái gì? Tại sao cha phải ra đi?”

Ngài tiến lại gần con bé thêm một chút. Ngài tự nhủ: mình được phép hôn con mình mà. Nhưng cô bé nhảy tránh ra xa.

“Đừng đụng vào con,” nó kêu lên giọng chát chúa của một bà già và cười gằn.

Ngài tự bảo: “Mọi trẻ con sinh ra trên đời, trong một chừng mực nào đó, là kết quả của tình yêu, nó được thấm đẫm tình yêu khi nó bú, nhưng cái đó tuỳ thuộc vào cha mẹ, bạn bè vì tình yêu này có thể trở thành cái cứu rỗi hay đày đoạ nó. Dâm đãng cũng là một dạng của tình yêu.” Ngài thấy con mình bị giam hãm trong đời sống của nó như con ruồi trong cây ăn thịt… bàn tay Maria sẵn sàng đánh nó… Pedrô và những câu nói người lớn nói với nó trong đêm tối; cảnh sát lục soát khắp rừng… ở đâu cũng đầy bạo lực. Ngài âm thầm cầu nguyện. “Ôi, lạy Chúa, xin cho con chết mà không ăn năn tội cũng được… xin sao cho con bé này được cứu thoát.”

Ngài là người trước đây người ta xem là người đi cứu linh hồn người khác. Ngày xưa, công việc này với ngài xem ra đơn giản, khi ngài giảng trong buổi chầu Phép lành, khi ngài tổ chức lễ bổn mạng, khi ngồi uống cà phê với mấy bà đứng tuổi bên song cửa sổ, làm phép nhà mới với một chút trầm hương, mang bao tay đen… nó cũng dễ như ky cóp chút tiền: bây giờ đó là cả một huyền thoại. Ngài cay đắng nhận ra sự bất lực ê chề của mình. Ngài quì gối xuống và kéo con bé đang cười và giẫy giụa về phía mình.

“Con phải hiểu cho cha. Cha yêu con. Cha là cha của con và cha yêu con. Con phải cố mà hiểu.”

Ngài cầm chắc cổ tay con bé và đột nhiên con bé thôi vùng vẫy, ngước mắt nhìn ngài.

“Cha sẽ hy sinh cả đời cha,” ngài nói tiếp, “không, chưa đủ, cả linh hồn cha… con yêu, con hãy biết rằng con quan trọng biết bao.”

Đây chính là cái khác biệt, ngài luôn luôn ý thức về điều đó, giữa đức tin của ngài và của họ, của các chính trị gia, những người đối với họ chỉ có nhà nước mà thôi: với ngài, con bé này còn quan trọng hơn cả một đại lục.

“Con không cần quan tâm, vì con quá quan trọng, quá cần thiết… Ông Tổng Thống ở kinh đô có người hầu mang súng bảo vệ… còn con, con của cha ơi, con có chung quanh mình tất cả các thiên thần trên trời đang bảo vệ con.”

Con bé nhìn ngài với cái nhìn trống rỗng, vô hồn: ngài biết là ngài đã đến quá muộn. Ngài nói với con bé: “Vĩnh biệt con…” và với một cử chỉ vụng về, ngài muốn ôm hôn con bé, cái ông già vụng về. Khi ngài buông con bé ra và tiến về phía sân với những bước chân nặng nề, ngài tưởng chừng như sau lưng ngài, tất cả những cái gì ô nhục của thế giới này đang dần dần bao vây con bé để huỷ hoại nó.

Ngài thấy con lừa đã đóng yên cương gần quán nước khoáng. Một người đàn ông nói với ngài: “Xin cha đi về hướng Bắc” và đưa tay vẫy chào tạm biệt ngài. Không được yêu với tình yêu con người hay nói khác đi phải yêu hết mọi linh hồn như thể mỗi một người là con đẻ của mình vậy. Ước muốn che chở phải bao trùm cả nhân loại, nhưng vị linh mục cảm thấy cái ước muốn này bị đau đớn cột chặt vào thân cây như một con vật bị xiềng. Ngài quay đầu lừa đi về hướng Nam.

Ngài đi theo hướng toán cảnh sát: vì ngài đi chậm, ngài sẽ không bao giờ theo kịp họ và đi kiểu này coi bộ an toàn. Cái ngài thiếu bây giờ là rượu lễ; không có rượu lễ, ông linh mục không làm được gì cả, ngài cũng có thể đi lên hướng Bắc, vượt qua dải núi và qua bên kia biên giới; ở đó, trong tình huống xấu nhất, ngài cũng chỉ phải nộp một số tiền phạt hay là một vài ngày tù giam nếu ngài không có tiền nộp phạt. Nhưng ngài chưa sẵn sàng cho việc bỏ cuộc. Mỗi lần từ bỏ một chút gì đó thì ngài cũng phải nhận thêm một chút đau khổ. Hiện nay, ngài bị thúc đẩy bởi ước muốn cứu chuộc con mình, cách này hay cách khác. Ngài còn một tháng, một năm… Đung đưa theo nhịp bước của con lừa, ngài thử mặc cả với Chúa, hứa với Chúa ngài sẽ cương quyết… Đột nhiên, con lừa dừng lại: trên đường mòn, một con rắn nhỏ màu xanh ngẩng đầu lên, như để tấn công, rồi nó biến mất trong đám cỏ như làn khói. Con lừa lại tiếp tục bước đi.

Khi ngài đến gần ngôi làng, ngài xuồng lừa và đi sát vào các ngôi nhà. Có thể cảnh sát đang ngừng lại nghỉ ngơi… Rồi ngài đi nhanh qua ngôi làng, không nói chuyện với ai, chỉ nói một hai tiếng “Chào” rồi lại đi vào rừng, ngài lại tiếp tục theo vết chân ngựa của viên trung uý. Ngài không có kế hoạch gì cụ thể, ngài chỉ muốn đi càng xa ngôi làng nơi ngài vừa qua đêm càng tốt. Trong lòng bàn tay, ngài còn cầm mấy tờ giấy mà ngài đã vo lại. Ai đó đã cột vào bên cạnh yên lừa một cái túi nhỏ đựng sáp, một quày chuối chừng năm mươi trái và thỉnh thoảng, ngài ăn một trái: chín, xám, mọng nước, có vị như xà phòng. Miệng ngài thâm đi như thể có ria mép.

Sau khi đã đi sáu giờ, ngài đến La Candellaria, một làng nghèo, nhà lợp tôn, nằm bên cạnh một chi lưu của sông Grijalva. Ngài cẩn thận đi trên con đường mù bụi, bây giờ là đầu giờ chiều: những con quạ đậu trên mái nhà, đầu rúc vào cánh tránh ánh mặt trời, một vài người đàn ông ngủ trên võng, trong bóng râm của các ngôi nhà. Mệt mỏi vì sức nóng, con lừa bước đi những bước chậm chạp, nặng nề; linh mục ngồi cúi mặt xuống yên.

Con lừa tự ý dừng lại bên cạnh một cái võng, trên đó có một người đàn ông đang nằm chéo, thõng một chân xuống để ru và tạo ra chút gió mát.

“Xin chào,” vị linh mục nói.

Người đàn ông mở mắt nhìn ngài.

“Anh ơi, từ đây đến Carmen bao xa?”

“Ba dặm.”

“Ở đây có thuyền để qua sông không?”

“Có”

“Ở đâu?”

Người đàn ông uể oải đưa tay phác một cử chỉ như muốn nói “ở đâu cũng có, nhưng không phải ở đây”. Anh ta chỉ còn có hai cái răng, hai cái răng nanh vàng lòi ra khỏi miệng như răng một con thú thời tiền sử mà người ta tìm thấy trong những hoá thạch.

“Cảnh sát đến đây làm gì vậy?” Linh mục hỏi, một đám ruồi bu quanh cổ con lừa: ngài dùng cái cây đuổi chúng đi. Chúng nặng nề bay lên, để lại trên cổ con lừa một vệt máu rồi lũ ruồi nhanh chóng quay trở lại. Con lừa hình như không cảm thấy gì, dưới nắng, đầu cúi xuống.

“Truy lùng ai đó,” anh ta trả lời.

“Tôi nghe nói,” vị linh mục tiếp lời, “họ treo giải bắt một tên… tướng cướp.”

Anh ta đung đưa võng đáp:

“Sống nghèo còn hơn chết giàu.”

“Nếu tôi đi theo hướng này, tôi có theo kịp mấy ông cảnh sát không?”

“Họ không đi Carmen.”

“Vậy sao?”

“Không, họ về thành phố.”

Vị linh mục lại lên đường. Được hai mươi mét, ngài lại dừng trước một quán giải khát và hỏi người bán hàng:

“Em ơi, ở đâu có thuyền qua sông?”

“Không có thuyền.”

“Ai đánh cắp rồi hả? Cho tôi chai nước.”

Ngài nuốt nhanh chất nước màu vàng, sủi bọt, chỉ làm ngài thêm khát.

“Làm sao tôi qua sông được?”

“Ông qua sông làm gì?”

“Tôi đi Carmen. Cảnh sát đã qua sông cách nào?”

“Họ bơi.”

“Đi, lừa, đi.”

Linh mục thúc con lừa bước đi. Ngài đi qua quán nước, rồi qua một tượng đài có pho tượng một phụ nữ mặc áo choàng, tay nâng cao vòng nguyệt quế. Một mảnh bức tượng vỡ ra rơi xuống đất… Con lừa tiếp tục bước đi. Linh mục ngoài nhìn lại phía sau: phía cuối đường, tên tạp chủng đã ngồi dậy và đang chăm chú nhìn ngài. Con lừa đi vào một con đường mòn dốc xuống phía sông và vị linh mục ngoái nhìn lại lần thứ hai. Tên tạp chủng đã đặt hai chân xuống đất. Một sự lo lắng, mà ngài đã quá quen thuộc thúc ngài đánh con lừa để nó đi nhanh hơn, nhưng con quỉ này vẫn đủng đỉnh và nhẹ nhàng đi xuống phía sông.

Đến bờ sông, nó không chịu lội xuống nước; linh mục bẻ cây roi, dùng răng cắn cho nó nhọn một chút và thúc đầu nhọn vào lưng con lừa. Con lừa bắt đầu lội, nước lên đến gót, đầu gối của người cưỡi. Con lừa bắt đầu bơi, duỗi thẳng mình như một con cá sấu, chỉ còn thấy cái mũi và hai mắt. Ai đó gọi ngài trên bờ.

Linh mục ngoái nhìn lại: trên bờ sông, tên tạp chủng đang kêu la… nhưng không to lắm. Có thể nói rằng nó có âm mưu gì đó mà chỉ vị linh mục mới biết. Nó khua tay ra hiệu cho linh mục quay lại, nhưng con lừa đã ra khỏi nước, leo lên bờ bên kia; do đó linh mục không để ý gì tới tiếng kêu la của tên tạp chủng. Lo sợ đang tràn ngập ngài. Không nhìn lui, ngài dục con lừa đi nhanh qua một rừng chuối. Trong suốt mấy năm nay, chỉ có hai nơi ngài có thể có được nơi trú ngụ an toàn: một ở Conception, giáo xứ cũ của ngài (bây giờ thì không được nữa) và chỗ kia là ở Carmen, nơi ngài sinh ra và có mộ phần cha mẹ ngài ở đó. Ngài tưởng ngài có một chỗ thứ ba nữa, nhưng ngài biết là từ nay ngài không quay lại đó nữa… Ngài hướng đầu con lừa về hướng Carmen và một lần nữa ngài lại đi vào rừng. Với tốc độ như thế này, ngài sẽ đến nơi lúc chập tối như ngài mong muốn. Khi ngài ngừng đánh, con lừa lại đi cực kỳ chậm; nó thoang thoảng toả ra mùi máu. Vị linh mục cúi đầu xuống yên và ngủ. Ngài mơ thấy một con bé, mặc áo đầm mousseline trắng, đang đứng nghiêm đọc kinh bổn - phía cuối, ngài thấy một vị giám mục ngồi giữa một đám Con cái Đức Mẹ, những khuôn mặt già cỗi, xám tái và cứng nhắc của những người đạo đức. Họ mang giây choàng cổ màu xanh nhạt. Giám mục nói: “Tuyệt vời… tuyệt vời…” rồi vổ tay bôm bốp. Một người mặc áo choàng đen thông báo: “Chúng ta còn thiếu 500 pesô để trả tiền cái đàn harmonium mới mua. Chúng con định tổ chức một đêm văn nghệ và chúng con tính…” Linh mục sợ hãi nhớ lại là mình không nên có mặt ở đó… đó không phải là giáo xứ của mình, người ta đợi ngài ở Conception để hướng dẫn một cuộc tĩnh tâm. Người đàn ông có tên Montez đứng sau con bé áo trắng đang ra dấu gì đó với ngài… Montez bị tai nạn, máu trên trán đã đông lại. Linh mục tin chắc là con bé đang bị đe dọa trầm trọng. Ngài lúng búng: “Con yêu, con yêu…” và tỉnh giấc khi nghe có tiếng bước chân trên đường.

Ngài ngoái nhìn lại: tên tạp chủng đang lẽo đẽo theo sau ngài, người ướt sũng. Chắc nó đã bơi qua sông. Hai cái răng nanh chìa ra và cười như để làm hoà.

“Anh muốn gì?” Linh mục hỏi giọng khô khan.

“Không phải ông nói ông đi Carmen à.”

“Tại sao tôi phải nói với anh?”

“Vì, tôi, tôi cũng phải đi Carmen. Đi có bạn cũng hay hơn chứ.”

Nó mang áo sơ mi, quần trắng và mang đôi giày đánh quần vợt đã lủng lỗ, một ngón chân thòi ra như một con sâu. Anh ta gãi nách, và thân mật tiến đến gần linh mục, cho đến khi chạm vào bàn đạp.

“Thưa ngài, tôi có xúc phạm ngài đâu?”

“Sao anh gọi tôi là ngài?”

“Rõ ràng ông là một người có học.”

“Ông có biết rõ Carmen không?” tên tạp chủng hỏi.

“Không, không rõ lắm. Tôi có vài người bạn ở đó.”

“Ông đi công chuyện, tôi đoán vậy…”

Linh mục không trả lời. Ngài cảm thấy tay người đàn ông chạm vào chân mình.

“Cách đây hai dặm, có một cái lều gần đường. Chúng ta có thể qua đêm ở đó.”

“Tôi gấp việc,” linh mục trả lời.

“Nhưng đến Carmen lúc một hai giờ sáng để làm gì? Mình có thể ngủ ở chòi và đến Carmen trước lúc mặt trời mọc.”

“Tôi làm cái gì tôi thích.”

“Dĩ nhiên rồi, thưa ngài, dĩ nhiên rồi.”

Anh ta im lặng một lúc rồi nói thêm:

“Đi ban đêm nguy hiểm lắm, nếu ngài không có súng. Một người như tôi thì khác.”

“Tôi nghèo lắm,” linh mục nói. “Anh thấy là tôi không có gì để hấp dẫn bọn cướp.”

“Lại nữa, có tên tướng cướp… người ta nói nó là tên hung bạo. Nó thấy anh và nói tiếng Mỹ: ‘Dừng lại, chỉ cho tao đường đi… đi đâu đó.’ Mình không hiểu nó nói gì và nếu mình có hành động nào đó, anh sẽ chết. Nhưng chắc ngài nói được tiếng Mỹ chứ?”

“Chắc chắn là không. Làm sao tôi học được? Tôi là người nghèo. Nhưng tôi không thích nghe chuyện kẻ cướp.”

“Ông ở xa đến đây à?”

Linh mục suy nghĩ một vài giây. “Từ Conception đến.”

Ngài đã cố gắng hết sức.

Tên tạp chủng có vẻ hài lòng. Nó tiếp tục đi bên cạnh con lừa, tay đặt lên bàn đạp; thỉnh thoảng nó khạc nhổ; nhìn xuống, vị linh mục thấy cái ngón chân thòi ra như con giòi. Tên tạp chủng này chắc cũng vô hại. Chỉ có điều, điều kiện sống của nó thúc đẩy nó làm điều xấu. Hoàng hôn đến rồi đột nhiên màn đêm trùng xuống. Con lừa đi chậm lại. Những tiếng động vang lên quanh họ, như trong rạp hát, tiếng ồn ào vang lên trong thính phòng và ngoài hành lang khi màn hạ. Những con vật ta không thể nhận ra, có thể là những con báo, lên tiếng kêu trong rừng, khỉ nhảy nhót trên những cành cao và ruồi nhặng vo ve khắp nơi như tiếng máy may.

“Đi bộ khát nước thật,” tên tạp chủng lên tiếng, “thưa ngài, ngài có gì uống không?”

“Không”

“Nếu ngài muốn đến Carmen trước ba giờ, ngài phải thúc con lừa đi. Ngài có muốn tôi cầm roi cho không?”

“Không, để cho nó tự đi. Có cần thiết gì đâu.” Ngài nói giọng ngái ngủ.

“Ngài nói như một linh mục.”

Câu nói làm ngài tỉnh ngủ, nhưng dưới bóng cây rừng, không ai nhận ra điều gì.

“Anh chỉ nói bậy.”

“Tôi là một con chiên ngoan đạo,” tên tạp chủng nói, tay mân mê bàn chân vị linh mục.

“Tôi tin anh. Tôi muốn nói là…”

“Vâng, ngài có lẽ có khả năng nhận biết những người có thể tin cậy được.” Nó khạc một bãi đờm vẻ thân thiện.

“Tôi không có gì nói với anh cả,” linh mục trả lời. “Những gì tôi có, chỉ là cái quần này, nhưng nó rách lắm rồi. Vâng và còn con lừa nữa - nó không phải là một con lừa tốt, anh thấy đấy!”

Họ im lặng tiếp tục đi thêm một lúc, rồi như thể nó vừa suy nghĩ thêm về câu nói của người bạn đường, tên tạp chủng lên tiếng:

“Con lừa này đâu phải tệ lắm nếu ngài đối xử với nó đúng mực. Tôi còn không có được một con như thế này để chăm sóc. Rõ ràng là con vật đã kiệt sức.”

Linh mục nhìn xuống cái đầu màu xám đang lắc lư.

“Anh nghĩ vậy sao?”

“Hôm qua ngài đã đi mấy dặm?”

“Có lẽ là mười hai dặm.”

“Dù là một con lừa, nó cũng cần được nghỉ ngơi chớ…”

Linh mục rút hai bàn chân trần ra khỏi bàn đạp da và để thõng xuống đất. Con lừa bước nhanh thêm nhưng chỉ một chốc, nó lại đi chậm hơn. Những cành cây nhỏ và những cái rễ cây trên đường mòn làm xước chân vị linh mục, một lát sau, hai chân ngài đầy máu. Tên tạp chủng la lên.

“Chân ngài mỏng manh quá! Đáng ra ngài phải mang giày kia.”

Linh mục bướng bỉnh trả lời:

“Tôi nghèo lắm.”

“Nếu đi như thế này, Ngài sẽ không bao giờ đến được Carmen. Nào, bình tĩnh chút đi. Nếu ngài không muốn rời đường mòn để đến trú qua đêm tại nhà chòi, tôi biết có một cái lều cách đây chừng nửa giờ, rồi mình cũng đến Carmen lúc rạng sáng.”

Có tiếng lao xao trong đám cỏ vệ đường, linh mục nghĩ tới rắn và hai chân trần của mình. Muỗi bu vào cổ chân: chúng giống như những cái kim tiêm đầy chất độc chích vào mạch máu. Đôi khi, một vài con đom đóm bay gần mặt tên tạp chủng, chiếu sáng vào mặt nó như đèn pin.

“Ngài không tin tôi,” tên tạp chủng nói giọng trách móc, “bởi vì tôi là người thích phục vụ người khác, vì tôi cố gắng hành xử như một người công giáo, ngài nghi ngờ tôi.”

Hình như anh ta cố gắng để nổi giận và đã đạt được một cơn giận nho nhỏ.

“Nếu tôi muốn cướp của ngài, tôi đã làm từ lâu rồi. Ông già rồi.”

“Cũng không già lắm đâu.”

Linh mục nhẹ nhàng trả lời. Lương tâm ngài lập tức tự động làm việc, như một cái máy, đưa bất cứ đồng xu nào vào là nó chạy, cho dù đó là miếng kim loại của người ăn gian… Những từ như: kêu ngạo, gian dâm, hãnh tiến, hèn hạ, bội bạc, những từ đó đã phát động những cái lò xo thích ứng và tất cả đều áp dụng cho ngài.

“Từ nhiều giờ rồi, tôi làm hướng dẫn cho ngài để đi Carmen. Tôi không đòi hỏi gì ở ngài cả vì tôi là người công giáo tốt. Nếu ở nhà, có thể tôi đã kiếm được một mớ tiền… nhưng không sao…”

“Tôi nghe anh nói anh có việc ở Carmen mà.” Linh mục lưu ý anh ta.

“Tôi nói khi nào…”

Đúng vậy, vị linh mục không nhớ đã nghe câu này lúc nào… có lẽ ngài bất công với nó.

“Tại sao tôi phải nói dối?” tên tạp chủng lè nhè, “không, không, tôi hy sinh một ngày trọn để phục vụ ngài, rồi khi người hướng dẫn kiệt sức, ngài cũng không thèm lưu ý…”

“Tôi không cần người dẫn đường,” linh mục chống chế.

“Ngài nói vậy vì bây giờ ngài chỉ việc đi thẳng, nhưng nếu không có tôi, ngài đã lạc đường từ lâu rồi. Chính ngài nói ngài không biết rõ Carmen lắm, do đó tôi phải giúp ngài…”

“Dĩ nhiên rồi,” linh mục nói, “anh mệt thì ta nghỉ thôi.”

Ngài cảm thấy xấu hổ vì mình quá đa nghi. Nhưng cái đa nghi này bám chặt vào ngài như cục thịt thừa, chỉ có dao mổ mới tách ra được.

Nửa giờ sau, hai người đến cái chòi: làm bằng cành cây và đất bùn, nó được nông dân dựng lên trên một khoảng trống; có lẽ người nông dân đã bị rừng xâm lấn, đuổi đi. Nông dân đã không thắng được sự xâm lấn của rừng với chỉ cái rựa và một vài mồi lửa. Mặt đất cháy đen một vài nơi là dấu vết họ đã cố gắng phát rừng để làm mùa.

“Tôi sẽ chăm sóc cho con lừa,” tên tạp chủng nói. “Ngài nằm nghỉ đi.”

“Nhưng anh nói anh mệt mà!”

“Tôi a? Ai nói với ngài như thế? Tôi không bao giờ mệt.”

Lòng nặng trĩu, linh mục gỡ túi xách ra khỏi yên, đẩy cửa bước vào trong bóng tối mịt mù. Ngài đánh một que diêm, không có bàn ghế gì cả; chỉ có một mô đất để làm giường ngủ, một chiếc chiếu rách nát mà người ta không buồn mang theo. Ngài đốt một cây nến rồi cắm lên giường đất. Ngài ngồi xuống chờ đợi: tên tạp chủng làm gì đó rất lâu. Trong lòng bàn tay, vị linh mục còn nắm những giấy tờ ngài nhặt lại từ va li, con người cần được ràng buộc với vài kỷ niệm thiêng liêng nào đó để có lý do tồn tại. Tiêu chí nguy hiểm chỉ áp dụng cho những ai đang sống trong an lành. Ngài tự hỏi không biết tên tạp chủng có đánh cắp con lừa của mình không rồi hối hận vì đã nghi ngờ vô lối. Đúng lúc đó cửa mở ra và… tên tạp chủng đi vào với hai cái răng nanh vàng khè, tay gãi nách. Nó ngồi xuống đất tựa lưng vào cửa và nói:

“Ngủ đi. Ngài mệt rồi. Tôi sẽ đánh thức ngài.”

“Nhưng tôi không buồn ngủ.”

“Tắt đèn đi, ngài sẽ dễ ngủ hơn.”

“Nhưng tôi không thích bóng tối,” linh mục nói. (Ngài sợ).

“Cha không đọc kinh trước khi đi ngủ sao?”

Giọng vị linh mục khô khan:

“Sao anh lại gọi tôi như thế?”

“Vâng, tôi chỉ đoán mò thôi. Nhưng đừng sợ tôi. Tôi là người công giáo tốt.”

“Anh nhầm rồi.”

“Cũng dễ biết thôi, phải không? Tôi chỉ cần nói: thưa cha, con muốn xưng tội. Ngài không thể từ chối và không thể để một giáo dân trong tình trạng tội trọng.”

Linh mục không trả lời, chờ đợi lời yêu cầu: tay cầm cuộn giấy run bần bật.

“Ôi, xin cha đừng sợ,” tên tạp chủng lải nhải, “cha không phải sợ gì cả, con sẽ không phản bội cha đâu. Con là người công giáo. Con chỉ nghĩ là một vài câu kinh… có thể có ích cho chúng ta.”

“Không cần phải là linh mục mới biết đọc kinh.”

Linh mục đọc: “Lạy Cha chúng con ở trên trời…” trong khi những con thiêu thân bay vù vù quanh ngọn nến. Ngài đã quyết định không ngủ, tên tạp chủng đang mưu tính gì đây: lương tâm ngài cũng hết bứt rứt vì thiếu bác ái. Ngài biết ngài đang đối diện với tên Giu Đa.

Ngài ngữa đầu ra sau dựa lưng vào tường, mắt khép hờ; ngài nhớ lại những tuần thánh ngày xưa, hình nộm Judas bằng rơm bị treo lên giá và đung đưa trên cửa, tụi trẻ con vây quanh đánh inh ỏi vào những thùng thiếc. Nhiều khi, nhưng người lớn tuổi, những người trang nghiêm nhất trong cộng đoàn phản đối. Họ cho rằng, biến cái con rối thành tên phản bội Chúa là điều không nên; nhưng ngài không nói gì, ngài để cho mọi người làm theo tập tục. Ngài cho rằng việc chế nhạo tên đầu sỏ của những tên phản bội là chính đáng. Không thì, ta sẽ biến nó thành người phản kháng, như Promêtê, nạn nhân đáng kính trong trận chiến vô vọng.

Một giọng thì thào gần cửa ra vào:

“Ngài ngủ à?”

Vị linh mục bật cười… như thể người này cũng chỉ là người nộm độn rơm, mặt bôi son trát phấn, đôi mũ rách và đến lúc nào đó người ta sẽ đem ra đốt trên quảng trường, trong lúc các chính trị gia đọc những bài diễn văn dưới ánh pháo hoa.

“Ngài ngủ không được à?”

“Tôi nằm mơ,” linh mục nói.

Ngài mở mắt và thấy tên tạp chủng dựa lưng vào cửa, run cầm cập… hai cái răng nanh nhảy lên nhảy xuống.

“Anh bệnh à?”

“Sốt một chút,” nó trả lời. “Ngài có thuốc không?”

“Không.”

Những cơn co giật làm mấy tấm ván cửa kêu lách cách.

“Tại tôi bị ướt khi bơi qua sông…”

Ngài nằm xuống và nhắm mắt… Muỗi bay vo vo.

“Mình không được ngủ,” linh mục tự bảo, “nguy hiểm lắm. Mình phải canh chừng nó.”

Ngài mở tay ra và vuốt thẳng mấy tờ giấy. Có mấy giòng chữ viết bằng bút chì, một phần đã nhạt màu, những chữ viết cách nhau, đầu câu, cuối câu? Bây giờ ngài không còn có cái va li, đó là dấu tích rằng cuộc sống của ngài trước đây khác; ngài mang theo những tờ giấy này như một đạo bùa, vì trước đây cuộc sống đã như thế đó, thì rồi cũng có ngày cuộc sống đó quay trở lại. Trong cái nóng ẩm của vùng bình nguyên ẩm ướt, ngọn lửa đèn cầy vươn lên thẳng đứng… Linh mục đưa tờ giấy đến gần ngọn đèn và đọc: Hội Cung Thánh, Liên Minh Thánh Thể, Con Đức Mẹ, nhưng ngước mắt lên và nhìn qua hướng bên kia cái chòi, ngài thấy đôi mắt vàng bệch của tên tạp chủng đang nhìn ngài soi mói. Judas đã có thể chờ được hơn một giờ.

“Thưa cha, giấy gì đó?” Tên tạp chủng hỏi giọng có vẻ tự tin nhưng vẫn còn run vì sốt rét.

“Đừng gọi tôi là cha. Đây là danh mục những hạt giống mà tôi sẽ phải mua ở Carmen.”

“Anh biết viết không?”

“Tôi biết đọc.”

Ngài lại tiếp tục đọc và một câu đùa hiện lên trước mắt ngài… Đó là một câu viết bằng bút chì viết về “nhất thể”. Ý ngài muốn nói đến chứng béo phì của mình và bữa ăn tối quá ngon: nhưng giáo dân không hiểu câu bông đùa của ngài.

Đó là bữa tiệc ở Conception mừng mười năm thụ phong linh mục của ngài. Ngài ngồi ở ghế danh dự, bên cạnh… ai ngồi bên phải mình nhỉ? Bữa tiệc có mười hai món, để ghi nhớ mười hai thánh tông đồ, nhưng không ngon lắm. Lúc đó ngài còn rất trẻ và cảm thấy mình hơi ranh mãnh giữa đám giáo dân Conception, đạo đức, chín chắn và đáng kính. Họ mang ruy băng và huy hiệu của hội đoàn mình. Ngài hơi quá chén, thời đó ngài chưa quen uống rượu. Bỗng nhiên, ngài nhớ người ngồi bên phải ngài, đó là Montez, cha của người mới bị bắn.

Montez đã nói khá lâu. Ông ta đọc báo cáo năm của Hội Cung Thánh - số tiền dư là 25 pesô. Chính ngài, ngài cũng ghi chép để chuẩn bị cho một buổi thảo luận khác: Hội Cung Thánh 22. Montez rất muốn tổ chức một chi hội của Hội Thánh Vinh Sơn Phaolô - và một bà nào đó đã than phiền rằng người ta đã bán những sách vở xấu ở Conception: họ mang sách từ tỉnh đến, chở bằng lừa và con trai bà đã tìm thấy một quyển có tựa “Hôn nhân hay dâm đãng”. Linh mục trong đáp từ của ngài hứa sẽ viết thư phản ánh với tỉnh trưởng.

Ngay lúc ngài nói những lời đó, ánh đèn máy chụp ảnh loé lên, và ngài nhớ lúc đó khuôn mặt ngài như là mặt của người xa lạ từ bên ngoài, đang quan sát một đám đông vui vẻ nào đó đang tiệc tùng và trong đám đó, ngài để ý, với một chút ganh tỵ pha lẫn hài hước, vị linh mục trẻ, đứng, bàn tay mũm mĩm đang phác một cử chỉ rất tự tin, miệng thì đang uốn éo từ “tỉnh trưởng”. Chung quanh vị linh mục, những cái mồm há hốc như mồm cá nhưng ánh sáng của đèn nháy đã xoá đi những nét cá nhân.

Cái khoảnh khắc quyền lực đó bổng chốc làm cho ngài trở nên nghiêm trang.

“Số dư 25 pesô trong quỹ của Hội Cung Thánh - đối với xứ Conception này là cả một biến cố - không phải là điều duy nhất mà chúng ta tự hào trong năm qua. Hội Con cái Đức Mẹ có thêm 9 thành viên mới, và mùa thu vừa rồi, Hội Thánh Thể đã mang lại thành công rực rỡ cho kỳ tĩnh tâm hàng năm. Nhưng, chúng ta không nên ngủ quên trên chiến thắng. Cha có những dự định mà anh chị em chắc sẽ ngạc nhiên. Cha biết chúng con cho rằng cha là con người đầy tham vọng… vậy thì, cha muốn Conception có một ngôi trường đẹp hơn, điều đó cũng có nghĩa là, một nhà xứ lớn hơn, đẹp hơn. Chúng ta là một giáo xứ lớn và cha sở cũng có chút uy tín. Cha không chỉ nghĩ đến cha thôi, cha nghĩ đến giáo hội. Và, tuy còn phải mất nhiều năm nữa, và dù là trong một giáo xứ lớn như Conception, công cuộc này đòi hỏi cần có nhiều tiền…”

Trong khi nói, ngài thấy trước mắt mình viễn cảnh của một tương lai sáng lạn… Vâng, ngài có tham vọng. Ngài nghĩ một ngày nào đó, ngài sẽ xứng đáng với một nhiệm sở trên tỉnh, trên địa phận sau khi đã để lại cho người kế nhiệm một món nợ kha khá. Ai cũng biết, một linh mục có khả năng thường mang công nợ. Ngài nói tiếp, tay giơ lên:

“Đúng là có những mối hiểm nguy đang đe dọa giáo hội Mexico. Trong tỉnh này, mình chưa bị ảnh hưởng. Nhưng trên miền bắc, đã có người phải mất mạng và do đó chúng ta phải sẵn sàng… (Ngài uống một ngụm rượu nho để thông cổ) để đối đầu với tình huống xấu nhất. Chúng ta phải tỉnh thức và cầu nguyện. Ma quỉ như con sư tử hung hãn…”

Mấy cô bên hội Con Đức Mẹ há mồm nhìn ngài, say sưa, những giải băng màu xanh vắt chéo trên ngực.

Ngài nói lâu lắm, chủ yếu là để thưởng thức giọng nói của chính mình: ngài đã làm nhụt nhuệ khí của Montez về vụ Hội Thánh Vinh Sơn Phaolô - vì không nên để cho giáo dân có quá nhiều sáng kiến - rồi ngài kể chuyện tuyệt vời của một em bé mới qua đời; đó là một cô bé mười một tuổi sắp mất vì bệnh ho lao và đã chứng tỏ một đức tin sắt đá. Em đã hỏi là ai đang đứng gần giường em, người ta trả lời là cha gì gì đó, nhưng cô bé nói: “Không, con biết cha đó. Con muốn nói người đang đội triều thiên bằng vàng kia.” Một hội viên Hội Thánh Thể thút thít khóc. Mọi người rất sung sướng. Đó là một câu chuyện có thật nhưng ngài không nhớ ai đã kể cho ngài nghe. Có lẽ là ngài đã đọc đâu đó. Ai đó rót thêm rượu cho ngài. Ngài hít thở thật sâu và nói: “Các con ơi…”

… và vì tên tạp chủng cọ quậy và càm ràm bên ngạch cửa, ngài mở mắt và cuộc đời xa xưa rời xa ngài như một nhãn vở cũ; ngài đang nằm, mặc áo quần nông dân rách rưới, trong một cái chòi tối tăm, đầu ngài đang bị treo giá. Thế giới đã thay đổi: không đâu còn nhà thờ; linh mục cũng không, chỉ còn cha Jôsê, tên phản bội đang ở trên tỉnh. Nằm bất động, ngài nghe tiếng tên tạp chủng ngáy ồn ào và tự hỏi tại sao ngài không chọn lựa con đường của cha Jôsê, nghĩa là tuân theo pháp luật. “Có lẽ tôi tham vọng quá, đó là lý do.”

Có lẽ cha Jôsê tốt hơn mình: ngài đủ khiêm tốn để chấp nhận bị đùa cợt, trêu ngươi; trước đây, ngài chưa bao giờ cảm thấy mình xứng đáng với chức linh mục. Một dịp nào đó, trong buổi họp các linh mục toàn địa phận ở trên tỉnh - thời vị tỉnh trưởng trước - ngài còn nhớ là cha Jôsê ngồi ẩn mình sau đám đông, cuối phòng họp và ngài không mở miệng nói gì. Và nguyên nhân không phải là ngài e ngại như một vài giáo sĩ trí thức khác, đơn giản vì ngài bị xâm chiếm bởi sự sợ hãi trước mặt Thiên Chúa đang hiện diện. Lúc truyền phép, ta có thể thấy hai tay ngài run rẩy. Ngài không giống như thánh Tôma, phải chạm tay vào vết thương của Đấng Cứu Thế mới tin: với cha Jôsê, các vết thương đó lại nứt ra và chảy máu hàng ngày trên mọi bàn thờ. Một ngày kia, cha Jôsê tâm sự với ngài: “Mỗi lần truyền phép… tôi sợ chết khiếp.” Ngài là con nông dân.

Nhưng trong trường hợp của mình, mình khác hẳn… Ngài có tham vọng. Ngài không phải là trí thức, cũng không giống cha Jôsê, nhưng cha ngài là chủ tiệm buôn, do đó ngài hiểu ý nghĩa của số tiền thừa 25 pesô và ngài cũng biết cách dùng các khoản này. Tham vọng của ngài bây giờ mang một màu sắc hơi khôi hài và ngài cười một mình trong ánh đèn nhá nhem. Tên tạp chủng mở mắt hỏi:

“Ngài chưa ngủ sao?”

“Anh ngủ đi,” vị linh mục đáp và lấy tay áo chùi mồ hôi.

“Tôi lạnh quá.”

“Sốt đó mà. Anh muốn tròng thêm cái áo của tôi không? Cũng chẳng đáng gì, nhưng anh được đỡ lạnh một chút…”

“Không, không, tôi không muốn nhờ vả ngài cái gì cả. Ngài đâu có tin tưởng ở tôi.”

Dĩ nhiên rồi: nếu ngài có sự khiêm nhượng của cha Jôsê, có thể bây giờ ngài đã được ở trên tỉnh với Maria, được nhận trợ cấp. Đó là vì kiêu ngạo, cái kiêu ngạo ma quỷ đã đưa ngài tới nằm ở đây và nhường cái áo mình cho con người sắp phản bội mình. Ngay cả trong những lần cố gắng trốn thoát, ngài cũng ít tin chắc, vì kiêu ngạo, cái tội đã là cho một số thiên thần sa đọa. Khi ngài là linh mục duy nhất còn lại trong địa phận, ngài lại càng thêm kiêu ngạo; ngài tự xem mình là một tay rắn rỏi, kiên cường vì ngài dám mang Chúa đến cho người khác, dù phải nguy đến tính mạng; và ngày nào đó, ngài sẽ được tưởng thưởng. Ngài cầu nguyện trong bóng tối:

“Xin Chúa tha tội cho con. Con là một con người kiêu ngạo, ham mê nhục dục và tham ăn. Con đã quá yêu mến quyền lực. Những giáo dân kia mới thực sự là thánh tử đạo: họ hy sinh mạng sống mình để che chở con. Họ xứng đáng được có một vị thánh tử đạo để cầu bầu cho họ - không phải là một tên ngu như con, tên đam mê, tội lỗi. Có lẽ con nên vượt biên giới… Nếu con thuật lại những gì xảy ra ở đây, có lẽ họ sẽ gởi đến một linh mục thánh thiện, tràn đầy yêu thương…”

Như thường lệ, cuộc xét mình của ngài tóm lại trong một câu hỏi: “Tôi phải làm gì đây?”

Bên kia, ngồi dựa cửa, tên tạp chủng ngủ chập chờn.

Ngài có thật ít điều để nuôi dưỡng cái kiêu ngạo của mình: Năm nay ngài chỉ dâng được có bốn thánh lễ và giải tội được chừng một trăm người. Ngài nghĩ rằng một linh mục tồi nhất cũng làm được như vậy… thậm chí tốt hơn. Ngài nhẹ nhàng đứng lên, đi băng qua căn chòi. Ngài phải đến Carmen và trốn nhanh, trước khi tên này… Cái mồm mở rộng phô ra hai nướu răng màu nhạt, thiếu nhiều răng, tên tạp chủng trở mình trong giấc mơ rồi nằm im.

Nó có vẻ như một người bị bỏ rơi, như một người đã từ chối phấn đấu, nằm đó, mặc cho mọi sự… Linh mục chỉ cần bước qua nó và đẩy cửa… cửa mở ra ngoài.

Ngài bước một chân qua trên thân hình nó, một bàn tay nắm lấy gót chân ngài.

“Ngài đi đâu?”

“Đi tiểu,” linh mục trả lời.

Bàn tay kia không rời chân ngài: “Sao ngài không tiểu ở đây luôn?” tên tạp chủng cằn nhằn. “Cái gì ngăn cản ngài. Ngài là cha phải không?”

“Tôi có một đứa con, ý anh muốn nói thế phải không?”

“Ngài muốn ý tôi muốn nói gì rồi. Ngài biết nhiều điều về Chúa…” Bàn tay nóng bóp chặt “Có lẽ cha đang có ở đây, dấu trong túi. Cha luôn mang theo mình mà, đúng không, phòng khi có người bệnh?… Thế thì, con là người bệnh. Tại sao cha không ban Chúa cho con? Hay là cha nghĩ rằng ngài sẽ từ chối con nếu…?”

“Anh bị sốt rồi.”

Nhưng tên đàn ông nói không dừng. Linh mục nhớ lại nguồn dầu hoả mà người ta tìm thấy ngày nọ ở gần Conception: vùng đất đó không màu mỡ để người ta đầu tư nhiều như thế, nhưng trong vòng hai mươi bốn giờ, một giòng nước đen phọt lên từ đất đen của đầm lầy rồi lại thấm xuống đất ở mức hai trăm ngàn lít mỗi giờ. Ở con người cũng vậy, tình cảm tôn giáo bổng chốc lao vút lên trời, như một cột khói đen rồi biến mất.

“Cha có muốn nghe con xưng thú những điều con đã làm không. Bổn phận của cha phải làm mà. Con lấy tiền của nhiều bà… rồi cha có biết không, con nuôi tụi con trai…”

“Tôi không muốn nghe anh nói.”

“Đó là bổn phận của cha.”

“Anh nhầm.”

“Không. Cha không giúp con thay đổi sao. Cha nghe đây. Con đã nuôi tụi thiếu niên… cha biết con muốn nói gì rồi chứ. Con ăn thịt ngày thứ sáu.”

Một hỗn hợp những cái tầm thường, phạm thượng, thô kệch tuôn ra từ miệng nó, bàn tay cầm chân vị linh mục không ngưng run rẩy vì sốt.

“Con đã nói dối. Con không ăn chay trong tuần thánh từ mấy năm, con cũng không nhớ. Con có hai vợ… Con kể cho cha nghe…”

Nó có ý niệm hơi quá về sự quan trọng của bản thân: nó không biết rằng, nó chỉ là một tiểu tiết tầm thường trong cái thế giới đầy bạo lực, dâm đãng mà so ra tội lỗi của nó chỉ là số không. Vị linh mục đã nghe những lời xưng tội như thế này bao nhiêu lần rồi? Con người thật u mê: họ không đủ tinh tế để sáng tạo ra một tội mới: súc vật cũng biết như họ. Và chính vì thế giới này mà Đức Kitô đã hiến mình; càng nhìn thấy sự xấu xa chung quanh mình, vinh quang cái chết của Ngài càng rạng ngời. Chết cho cái gì đẹp và tốt thì dễ quá, gia đình, con cái, nền văn minh… cần phải có một Thiên Chúa để hiến thân cho những tên hèn hạ và xấu xa.

“Tại sao anh kể những chuyện đó với tôi,” linh mục hỏi.

Tên tạp chủng im tiếng, nó nằm xuống, kiệt sức; nó bắt đầu ra mồ hôi như tắm, tay nó buông chân ngài ra. Linh mục đẩy cửa đi ra: bóng tối dày đặc. Làm sao tìm con lừa? Ngài dừng lại lắng tai nghe. Rất xa, tiếng một con vật tru lên. Ngài sợ. Phía sau ngài, trong chòi, ngọn đèn vẫn sáng; ngài nghe tiếng tên tạp chủng khóc. Một lần nữa, ngài lại nhớ đến cái mỏ dầu với những vũng nước đen, bọt khí phun lên, biến mất, phun lên.

Linh mục đánh diêm và tiến thẳng về phái trước mặt: một bước, hai bước, ba bước, ngài đụng phải một thân cây. Một cây diêm trong vùng tối dày đặc này cũng chỉ như ánh đom đóm. “Lừa ơi, lừa ơi.” Ngài kêu khẽ vì sợ tên tạp chủng nghe: hơn nữa, con vật ngu dốt đó khó có thể trả lời ngài. Ngài ghét con vật đó, cái đầu lắc lư, cái miệng nhòm nhoàm, đầy bọt, mùi máu, mùi phân. Ngài bật một que diêm thứ hai và bước đi, và vài bước sau, ngài lại đụng một gốc cây khác. Trong chòi, tiếng nấc đau khổ vẫn tiếp tục. Phải đến Carmen, phải thoát khỏi đây trước khi tên này tìm được cách liên lạc với cảnh sát. Ngài lại tiếp tục bước đi. Ngài chia khu đất ra từng vùng: một, hai, ba, bốn… cây. Có cái gì đó ngọ ngậy dưới chân ngài và ngài nghĩ đến bò cạp. Một, hai, ba… và đột nhiên tiếng hí của con lừa cất lên trong bóng tối: nó đói hay nó ngửi thấy một con vật khác đang đi ngang qua.

Nó được cột cách sau chòi mấy mét… Ngài không còn thấy ánh đèn. Số diêm dự trữ cạn dần, nhưng sau hai ba lần cố gắng, ngài tìm được con lừa. Tên tạp chúng đã dấu cái yên đâu mất: không mất thì giờ tìm kiếm. Linh mục trèo lên lưng lừa và thấy rằng không thể ép nó đi mà không có một đoạn dây làm cương – ngài véo tai nó: nó cũng vô cảm như tay nắm cửa. Cả con lừa và linh mục đứng yên một chỗ như pho tượng. Ngài đánh một cây diêm và dí vào lưng nó nhưng con vật chỉ đá hai chân sau lên. Linh mục vứt cây diêm đi và con vật lại đứng im. Một giọng trách cứ vang lên:

“Cha muốn bỏ rơi con ở đây sao?”

“Đừng nói nhảm. Tôi vội. Sáng mai anh sẽ hết sốt… Tôi không có thời gian đợi anh.”

Có cái gì đó nhúc nhích trong bóng đêm rồi một bàn tay nắm lấy chân ngài.

“Xin cha đừng bỏ con ở đây một mình. Xin cha đối xử với con như một người có đạo.”

“Anh không việc gì phải sợ cả.”

“Cha không biết sao, tên tướng cướp đang quanh quẩn ở vùng này.”

“Tôi không biết nó là ai. Tôi chưa thấy có ai nói đã gặp nó cả. Nó cũng chỉ là người như anh và tôi.”

“Con không dám ở đây một mình. Con có linh cảm…”

“Tốt,” linh mục nói vẻ nhẫn nhịn. “Đi kiếm cái yên ra đây.”

Khi họ đã đóng xong yên cương, họ lại tiếp tục đi, tên tạp chủng bám vào bàn đạp. Họ đi trong im lặng - đôi khi tên tạp chủng vấp té. Ánh sáng nhạt nhoà của binh minh ló dạng. Một chút tự mãn độc địa dâng lên trong lòng vị linh mục: Tên Judas ở bên cạnh ngài, đau ốm, đi khập khiễng, sợ khiếp vì bóng tối. Ngài chỉ cần đánh con lừa vài roi và bỏ rơi nó lại trong khu rừng. Ngài chích đầu nhọn vào con lừa, ép nó đi nước đại và cảm thấy bàn tay của tên tạp chủng kéo, kéo trên bàn đạp không cho ngài đi nhanh hơn. Ngài nghe tiếng rên: “Mẹ Chúa tôi!” và con lừa đi chậm lại. Linh mục âm thầm cầu nguyện: “Xin Chúa tha tội cho con.” Chúa Kitô cũng đã chết cho người này. Làm sao mình lại có thể, với tội kiêu ngạo, dâm ô, xem mình xứng đáng với cái chết của Người hơn tên tạp chủng này? Tên này có ý định phản bội ngài vì số tiền mà nó cần. Còn mình, mình đã phản bội Chúa chỉ vì một chút thú vui xác thịt.

“Anh còn sốt không?” Linh mục hỏi. Không trả lời. Ngài tụt xuống đất và nói với tên tạp chủng:

“Lên lừa đi. Tôi sẽ đi bộ một chút.”

“Con rất khoẻ,” tên kia trả lời giọng hậm hực.

“Nhưng… leo lên đi.”

“Cha quá tự hào nhỉ?” Tên kia nói. “Cứu giúp kẻ thù. Đúng người công giáo, phải không?”

“Anh là kẻ thù của tôi sao?”

“Đó là điều cha tưởng tượng ra. Cha tưởng rằng con chạy theo bảy trăm pesô đó sao. Cha có nghĩ rằng một tên nghèo kiết xác như con sẽ báo cho cảnh sát sao…”

“Anh lại sốt rồi.”

Tên kia trả lời ngài với giọng hổn hển, xảo quyệt:

“Dĩ nhiên rồi, cha có lý.”

“Thôi lên đi.”

Tên tạp chủng nghiêng ngã, sắp té, linh mục phải đỡ anh ta lên. Nó ngồi thảm hại trên lưng lừa. miệng nó gần với miệng linh mục, ngài nghe mùi hơi thở thối tha.

“Thưa cha, người nghèo không có quyền lựa chọn. Cha có biết, nếu con có tiền, dù chỉ một ít thôi, con sẽ là người tốt.”

Không biết tại sao, vị linh mục lại nghĩ đến đám Con cái Đức mẹ đang ngồi ăn bánh ngọt. Ngài cười… “Tôi cũng nghĩ thế.”

“Cha nói sao? Cha không tin con rồi,” tên tạp chủng lắp bắp. “Vì con nghèo và vì cha không tin con…”

Nó ngồi úp mặt vào đầu yên, run rẩy. Linh mục dùng tay đỡ nó. Họ chầm chậm đi về hướng Carmen. Bây giờ, đến đó cũng vô ích. Ngài không thể ở đó để nghỉ ngơi. Vào làng bây giờ nguy hiểm quá vì nếu bị lộ ra, ai đó sẽ mất mạng vì ngài, họ sẽ lại bắt con tin. Rất xa đâu đó, có tiếng gà gáy sáng: sương mù từ đất xông lên đến đầu gối, và ngài nghĩ đến tia sáng đèn chụp ảnh loé lên trong căn phòng nhà xứ trống trơn. Gà gáy vào lúc mấy giờ? Điều lạ lùng, trong vùng thế giới mới này là không đâu có đồng hồ… Cả năm cũng không nghe tiếng đồng hồ đổ. Đồng hồ đã ra đi với các nhà thờ, và ta chỉ còn những bình minh xám xịt, những hoàng hôn bất chợt để đo nhịp thời gian.

Dần dần, bóng tên tạp chủng hiện ra từ bóng tối. Sòng soãi trên yên lừa, mấy cái răng vàng khè lòi ra khỏi miệng. Linh mục nghĩ: Thật ra. nó cũng đáng được thưởng - bảy trăm pesô không phải là số tiền lớn nhưng cũng đủ cho nó sống một năm trong ngôi làng bụi bặm đó. Ngài lại cười thầm: ngài chưa bao giờ xem trọng những chỉ dẫn của số phận: chỉ còn một khả năng mơ hồ: bảy trăm pesô, một năm trọn sẽ giúp tên này cứu rỗi linh hồn nó. Chỉ cần lật tảng đá lên để cho những nghịch lý nhỏ nhặt, phi lý bay mất. Ngài đã tuyệt vọng và đây chính sự tuyệt vọng này sẽ giúp một linh hồn, không tốt đẹp gì nhiều, nhưng dù sao cũng là một linh hồn.

“Đó là số phận,” tên tạp chủng đột ngột tuyên bố. “Ngày kia, một bà thầy bói đã tiên đoán là con sẽ có lộc…”

Giữ chặt tên tạp chủng trên yên, linh mục tiếp tục bước đi, chân rướm máu, nhưng chúng sẽ khô lại nhanh thôi. Một sự im lặng kỳ dị bao phủ trên khu rừng và từ dưới đất dâng lên dưới dạng sương mù. Đêm có nhiều tiếng động, nhưng bây giờ, mọi sự im ắng: nó như là một cuộc ngưng bắn, lúc bên này và bên kia chiến hào, những nòng súng im tiếng… Như thể cả thế giới đang lắng nghe cái mà cho đến nay không thể nghe… hoà bình. Một giọng cất lên:

“Ngài là linh mục, phải không?”

“Vâng.”

Giống như hai bên thù địch đã nhảy ra khỏi chiến hào và chạy đến gặp nhau ở vùng “không người” giữa những giây thép gai để ôm nhau. Một vài ký ức về cuộc chiến bên châu Âu hiện về trong trí ngài. người ta kể rằng, trong những năm cuối cùng của cuộc chiến, một số người, bị thúc đẩy bất ngờ, đã ôm nhau trên chiến tuyến.

“Anh có phải người Đức không?” đáng ra ngài đã phải hỏi như thế, khó tin, trước một khuôn mặt giống như mình và hình như họ cũng hỏi lại: “Anh có phải là người Anh không?”

“Vâng”, ngài lặp lại trong lúc con lừa cứ nhẫn nha tiến tới.

Ngày xưa, khi ngài dạy lũ trẻ con, có lần một trẻ con người da đỏ có đôi mắt màu đen hỏi ngài: “Chúa như thế nào?” và ngài đã dễ dàng tìm thấy câu trả lời khi cho chúng nghĩ đến hình ảnh cha chúng, mẹ chúng, ngài cũng có thể thêm hình ảnh về anh chị chúng, trong ước muốn tham vọng để chúng hiểu hơn về sự tử nạn, tuy nhiên trong thâm tâm ngài nghĩ, cái gì liên kết những quan hệ này. Ở trung tâm đức tin của chính ngài sừng sững màu nhiệm hiển nhiên: chúng ta được tạo dựng giống hình ảnh Chúa; Chúa là Cha, nhưng ngài cũng là viên cảnh sát, tên tội phạm, linh mục, người bị quỉ ám và quan toà. Một hình ảnh của Chúa đung đưa trên cột xử tử, hay đang uốn éo trong những kiểu cách kỳ dị và tạo dáng như con lạc đà đang làm tình, dưới làn đạn, trong sân nhà tù… Ngồi trong toà giải tội, linh mục đã nghe biết những phát kiến ghê tởm và phức tạp mà những hình ảnh Chúa đã tìm tòi được; cái hình ảnh Chúa đó, hai răng nanh vàng khè, lúc này đang ngồi đung đưa trên lưng lừa; và hình ảnh của Chúa đã phạm tội với Maria trong hành vi tuyệt vọng trong căn chòi đầy chuột. Có lẽ binh lính của cả hai bên sẽ được an ủi hơn nếu biết rằng sự hung dữ của cả hai bên đều như nhau: không ai cô đơn tuyệt đối.

Ngài hỏi:

“Bây giờ anh khá hơn chưa? Bớt lạnh, bớt nóng chưa?” Và, thúc đẩy bởi một chút tình huynh đệ, ngài bóp chặt tay trên vai hình ảnh Chúa.

Tên tạp chủng không trả lời: cái lưng của con lừa làm nó nghiêng qua bên này rồi bên kia.

“Chúng ta chỉ còn hai dặm nữa thôi.” Linh mục nói để cho anh ta thêm can đảm. Cần phải quyết định. Không thành phố, không làng mạc nào trong tỉnh này mà ngài ghi nhớ rõ hơn trong đầu như Carmen: triền dốc mọc đầy cỏ từ bờ sông lên nghĩa trang nằm trên ngọn đồi nhỏ cao chừng 20 bộ là nơi chôn cất cha mẹ ngài. Bức từng bao đã sụp đổ; một hay hai thánh giá đã bị người cuồng tín đánh gãy, một thiên thần bị mất một cái cánh bằng đá và một vài bia mộ còn nguyên vẹn nằm trong góc khuất cỏ rậm. Một bức tượng Mẹ Thiên Chúa mất tai, không tay còn đứng vững, giống như tượng nữ thần Vênus trên mộ một thương gia buôn gỗ. Sự cuồng nộ tàn hại này thật kỳ lạ vì dĩ nhiên người ta không bao giờ có thể tàn phá tất cả. Nếu Thiên Chúa giống như một con cóc, có thể dễ dàng tàn sát hết những con cóc trên thế giới này, nhưng khi Thiên Chúa giống anh, giống tôi, việc tàn phá những hình tượng bằng đá không có ý nghĩa gì cả, trừ phi anh tự sát giữa những nấm mộ.

“Bây giờ, anh có thể cưỡi lừa một mình không?” vị linh mục nói và rút tay ra.

Con đường chia làm hai ngả, một hướng đi về Carmen, hướng kia đi về phía Tây. Linh mục thúc con lừa về phía con đường đi Carmen.

“Hai giờ nữa anh sẽ đến” ngài nói.

“Cha đi đâu?” tên tạp chủng hỏi mà không ngồi dậy nổi.

“Anh sẽ làm chứng cho tôi,” linh mục nói. “Tôi không đi đến Carmen. Nhưng nếu anh nói tên tôi, người ta sẽ cho anh ăn.”

“Nhưng… nhưng…”

Tên tạp chủng cố gắng quay đầu con lừa lại, nhưng nó không có sức: con vật vẫn theo con đường cũ.

Linh mục la to:

“Nhớ nhé, tôi không đến Carmen đó.”

Nhưng đi đâu bây giờ? Ngài chợt nhớ đến một nơi duy nhất trong tỉnh mà ngài có thể đến mà sẽ không có con tin bị bắt, nhưng ngài không thể đến đó trong bộ dạng như thế này…

Tên tạp chủng cố gắng hết sức bám vào yên lừa và la to:

“Cha không thể để con ở lại đây… một mình.”

Không phải chỉ có tên tạp chủng bị ngài bỏ rơi lại đàng sau, trên con đường rừng này; con lừa ngóc đầu lên, nhìn nghiêng, nó giống như cái ranh giới giữa ngài và ngôi làng nơi ngài sinh ra. Ngài giống như người không hộ chiếu mà người ta sẽ không bao giờ cho xuống khỏi tàu.

Tên tạp chủng la lên:

“Thế mà cũng làm bộ là người công giáo tốt!”

Nó đã gượng dậy được. Nó bắt đầu chửi mắng… một tràng những từ phạm thượng, tục tĩu dần dần lặng đi sau khu rừng như dư âm của những nhát búa.

Ngài than thầm: “Nếu ngày nào tôi gặp lại anh, anh sẽ không trách tôi được…”

Dĩ nhiên, tên tạp chủng có muôn ngàn lý do để bất mãn: nó vừa mất bảy trăm pesô. Nó la lên tuyệt vọng:

“Tôi sẽ không bao giờ quên mặt ông.”



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 23.03.2018, 16:38
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 33683
Được thanks: 5223 lần
Điểm: 9.58
Có bài mới Re: [Kinh điển] Vinh quang và quyền năng - Graham Greene - Điểm: 10
VI


  Trong bóng đêm nặng trĩu mây dông, thanh niên thanh nữ đi đi lại lại trên quảng trường: thanh niên một bên, thanh nữ một bên, không bao giờ nói gì với nhau. Phía bắc, những tia chớp xé toạc bầu trời. Có thể nói nó giống như một nghi lễ tôn giáo đã mất hết phần ý nghĩa bên trong, nhưng người ta còn mặc cho nó những phẩm phục tốt nhất. Đôi lúc, có một nhóm phụ nữ lớn tuổi hơn đến nhập vào nhóm - họ cười và năng động hơn những người kia, như thể là họ còn giữ được ký ức về những lễ nghi trước khi người ta huỷ bỏ hết sách vở. Từ bậc thềm kho bạc, một người đàn ông - súng lục bên hông - canh gác quảng trường, và một người lính nhỏ thó ngồi bên cạnh cổng nhà tù, súng kẹp giữa hai đầu gối: bóng những cây dừa, như những bóng kiếm, chĩa về phía họ. Một khung cửa sổ nhà nha sĩ có ánh đèn qua đó ta thấy cái ghế bành xoay, nệm màu đỏ, cái tủ nhỏ xíu giống như đồ chơi chứa đầy dụng cụ. Đắng sau những khung cửa lưới sắt, trong nhà tư nhân, các bà nội đung đưa trên ghế xích đu giữa những tấm hình kỷ niệm… Không có gì để làm, không có gì để nói. người ta phục sức hơi quá lố và hơi chảy mồ hôi. Đây là tỉnh lỵ.

Người đàn ông mặc bộ đồ cũ mòn trơ sợi nhìn tất cả những thứ đó từ cái ghế băng ông ngồi nghỉ. Một phân đội cảnh sát có vũ trang đi qua. Họ về trại, họ đi không đều bước, súng ống loạn xạ. Quảng trường được chiếu sáng bởi những chùm đèn ba cái đặt mỗi góc và được nối với nhau bằng những sợi dây xấu xí. Một tên ăn mày đi từ ghế băng này qua ghế băng khác, thất vọng.

Nó đến ngồi cạnh người mang bộ đồ quân phục cũ và bắt đầu dài giòng giải thích. Thái độ anh ta vừa thân mật vừa doạ dẫm. Từ mọi phía, những con đường đều xuôi xuống sông, bến cảng hay đầm lầy. Anh ta giải thích anh ta có vợ và đông con và suốt mấy tuần nay, anh ta hầu như không có gì để ăn; anh ta ngừng nói để sờ mó bộ đồ người bên cạnh đang mặc.

“Bộ đồ này anh mua bao nhiêu?”

“Rẻ đến bất ngờ.”

Khi đồng hồ điểm chín giờ rưỡi, mọi ánh đèn phụt tắt. Tên ăn mày nói:

“Không nên để người anh em tuyệt vọng.”

Anh ta nhìn qua bên trái, bên phải đoàn rước đang đi xuống đồi. Người mặc đồ lính đứng lên, tên ăn mày cũng làm theo, đi ngang qua quảng trường.

“Một vài pesô có nghĩa gì với ông đâu…” tên ăn mày lải nhải.

“Ông có biết là chúng đáng giá như thế nào với tôi không…”

Những lời này làm tên ăn mày tức giận.

“Một người như tôi đôi lúc có thể làm bất cứ điều gì để có được vài pesô.”

Bây giờ, đèn trong thành phố đã tắt, hai người đi trong bóng tối.

“Tôi nói sai à?”

“Không không, tôi không nghĩ vậy.”

Nhưng những gì người đàn ông nói chỉ làm cho tên ăn mày thêm tức giận.

“Đôi lúc, nó nói tiếp, tôi tin là tôi có thể giết người…”

“Như thế anh sẽ là sát nhân.”

“Sát nhân? tôi bóp cổ ai đó?…”

“Dĩ nhiên, người đang chết đói có quyền tự bảo vệ…”

Tên ăn mày giận dữ vì thấy ông ta nói như đang giải trình một vấn đề khoa học.

“Về phần tôi, dĩ nhiên, cái đó không đáng để tôi bị nguy hiểm. Tôi chỉ có mười lăm pesô bảy mươi lăm xu. Chính tôi, tôi cũng không ăn gì từ hai ngày nay.”

“Mẹ Chúa tôi,” tên ăn mày la lên, “ông thật cứng như đá. Ông không có tim sao?”

Người mặc áo vải thô bật cười. Tên ăn mày nói:

“Ông nói dối. Tại sao ông không ăn gì khi ông còn có mười lăm pesô?”

“Phải, nhưng tôi muốn dùng để mua một số đồ uống.”

“Đồ uống gì?”

“Thứ đồ uống mà người xa lạ với chốn này không biết mua ở đâu.”

“Ông muốn nói đến rượu à?”

“Vâng, nhất là rượu nho.”

Tên ăn mày áp sát lại, gần đến nỗi chân nó chạm vào chân người đàn ông; nó đặt tay lên tay áo người kia. Có thể xem họ như đôi bạn thân, hay là anh em đang nói chuyện thân mật trong bóng đêm: dù đèn bên trong các căn nhà bây giờ đã tắt, và những chiếc taxi đợi khách cả ngày trên triền dốc đã đi về; rồi một ánh đèn lồng nhấp nháy và biến mất sau đồn cảnh sát.

“Nói nghe nè, hôm nay anh gặp may đó. Anh sẽ cho tôi bao nhiêu…?”

“Khoản đồ uống?”

“Để giới thiệu anh với một người có thể bán lại cho anh một ít rượu, rượu ngon… sản xuất tại Veracruz.”

“Thật ra,” người đàn ông mặc áo lính giải thích, “với cái mồm của tôi, nó chỉ thích rượu nho.”

“Có rượu pulca hay mescal, đủ cả.”

“Còn rượu nho?”

“Rượu mộc qua.”

Người kia tuyên bố nhẹ nhàng nhưng đích đáng:

“Tôi trả tất cả những gì tôi có, trừ mấy đồng xu để đổi thứ rượu nho nguyên chất.”

Dưới chân đồi, gần con sông, có tiếng trống cắc tùng và tiếng bước chân đi đều. Lính hay cảnh sát đi về đồn.

Tên ăn mày kiên nhẫn: “Bao nhiêu?”

“Tôi sẽ giao cho anh mười lăm pesô và anh muốn trả cho người ta bao nhiêu thì trả.”

“Đi với tôi.”

Họ đi xuống đồi: ở ngã tư, trước tiệm thuốc tây con đường cắt ngang dẫn đến khách sạn, bến tàu, kho hàng của công ty United Banana, người mặc áo lính dừng lại. Cảnh sát đang đi lên, súng mang sau lưng.

“Đợi chút.”

Cùng với toán cảnh sát, có một tên tạp chủng có hai răng nanh chìa ra. Người mặc áo vải từ trong bóng tối nhìn họ đi qua: có lúc, tên tạp chủng quay đầu lại và ánh mắt họ gặp nhau. Toán cảnh sát đi qua rồi đến quảng trường.

“Đi nhanh lên.”

“Họ không làm phiền mình đâu,” tên ăn mày nói. “Họ săn con mồi to hơn.”

“Người đàn ông kia làm gì trong đám cảnh sát?”

“Không biết, có thể là một con tin.”

“Nếu là con tin, họ phải trói tay chứ, đúng không?”

“Làm sao tôi biết được. Anh có muốn mua rượu không?”

“Tôi muốn rượu nho nguyên chất.”

“Tôi không thể nói trước được ông ta có cái gì. Anh phải mua cái gì anh ta có.”

Họ đi vào con đường dẫn xuống sông, tên ăn mày nói: “Không biết hôm nay anh ta có nhà không nữa?”

Những con mối bay ra thành đàn và bò lúc nhúc trên mặt đường. Chúng nổ lách tách dưới bước chân đi; từ dưới sông, bốc lên mùi chua. Bức tượng bán thân một ông tướng trong công viên được chiếu sáng và một máy phát điện gầm gừ đâu đó dưới tầng trệt khách sạn duy nhất của tỉnh lỵ. Chiếc cầu thang gỗ rộng, đầy mối dẫn lên tầng một.

Tên ăn mày nói: “Tôi đã cố gắng hết sức, không ai có thể làm hơn được.”

Ở tầng trên, một người đàn ông mặc quần đen, áo len trắng sát da, từ phòng ngủ bước ra, khăn vắt vai. Ông ta có bộ râu mép xám quí phái và ngoài giây treo, còn mang cả nịt da. Đâu đó có tiếng nước chảy và lũ mối lao nhao đâm vào bóng đèn không có chụp. Tên ăn mày trình bày vẻ nghiêm trọng; trong khi nó nói, đèn đóm tắt hết, rồi sáng lên yếu ớt, run rẩy. Hành lang khách sạn có mấy cái ghế mây và trên một tấm bảng ghi tên khách lưu trú… Hai mươi phòng nhưng chỉ có ba khách.

Tên ăn mày quay về phía bạn mình nói.

“Ngài đây chuẩn bị đi ra ngoài. Ông giám đốc nói với tôi như thế. Ông muốn đợi không?”

“Tôi không có việc gì gấp.”

Họ cùng vào trong một phòng lớn, hầu như trống trơn, nền lót gạch. Cái giường sắt nhỏ màu đen giống như một vật mà chủ nhân đã quên lại khi ra đi. Họ cùng ngồi đợi trên giường, lúc này mấy con mối bay vào phòng qua lỗ thông hơi.

“Đó là một nhân vật quan trọng,” tên ăn mày nói. “Ông ta là em họ quan tỉnh trưởng, ông ta có thể cung cấp cho ông bất cứ cái gì, bất cứ khi nào. Nhưng, dĩ nhiên là phải có người tin tưởng giới thiệu.”

“Ông ta tin tưởng anh à?”

“Tôi có lần đã làm việc cho ông ta… Ông ta buộc phải tin tôi,” tên ăn mày nói thêm cách đơn giản.

“Ông tỉnh trưởng có biết không?”

“Chắc chắn là không. Ông tỉnh trưởng là người nguyên tắc.”

Thỉnh thoảng, ống thoát nước lại kêu lên xối xả.

“Và tại sao ông ta lại phải tin tưởng tôi?”

“Ồ, dễ nhận biết người uống rượu lắm. Anh phải trở lại mua rượu thôi. Ông ta bán hàng giá rẻ. Đưa mười lăm pesô cho tôi, như thế hay hơn.”

Ông khách đếm tiền cẩn thận, rồi đếm lại.

“Tôi sẽ mua cho anh một chai cognac Veracruz thượng hạng. Anh sẽ thấy.”

Ánh sáng tắt ngúm và họ ngồi trong bóng tối: cái giường kêu cọt kẹt khi một trong hai người hơi nhúc nhích.

“Tôi không thích cognac, hay ít thôi.”

“Thế thì ông muốn mua gì?”

“Tôi đã nói là rượu.”

“Rượu đắt lắm.”

“Không sao. Rượu hay không mua gì hết.”

“Rượu mộc qua được không?”

“Không, không. Rượu nho Pháp.”

“Đôi khi có rượu nho California”

“Cũng tạm được.”

“Dĩ nhiên, ông ta, ông ta được cấp miễn phí đó. Ở hải quan.”

Máy phát điện lại gầm gừ và lại có đèn. Cửa mở và ông giám đốc khách sạn ra dấu với tên ăn mày; họ trao đổi thật lâu. Người mang quần áo lính ngồi trên giường, dựa lưng vào tường: cằm bị trầy xước đôi chỗ vì cạo râu quá sát; khuôn mặt rám nắng, vẻ bệnh hoạn làm cho người ta có ý nghĩ trước đây ông ta có khuôn mặt béo, tròn, nhưng bây giờ thì tóp rọp. Ông ta làm cho ta liên tưởng đến một doanh nhân hết thời.

Tên ăn mày lại xuất hiện.

“Ông kia bận,” nó nói, “nhưng ông ta sắp về. Ông giám đốc đã cho thằng nhỏ đi kiếm.”

“Ông ta ở đâu?”

“Không thể quấy rầy ông ta được. Ông ta đang chơi bi da với ông cảnh sát trưởng.”

Tên ăn mày quay lại giường, chân đạp hai con mối.

“Khách sạn này rất đẹp,” tên ăn mày nói. “Ông ở khách sạn nào? Ông không phải là dân ở đây, phải không?”

“Tôi chỉ đi ngang qua đây.”

“Ông này là người quyền thế. Ông nên mời ông ta một ly. Dù sao thì anh cũng không định mang đi tất cả, phải không. Uống ở đây hay nơi khác cũng vậy thôi.”

“Tôi để dành một ít để đem về.”

“Cũng vậy thôi. Ở đâu cũng là nhà miễn là ở đó có một cái ghế và một cái ly.”

“Nhưng…”

Cùng lúc đó, đèn điện tắt ngúm. Những tia chớp sáng loé trên trời. Từ xa, tiếng sấm vọng về, vượt qua màn chống muỗi, giống như tiếng ầm ầm nghe được từ phía bên kia thành phố khi có trận đấu bò vào ngày chủ nhật.

“Anh làm nghề gì?” Tên ăn mày ra vẻ thân thiện.

“À tôi làm lung tung, nơi này nơi khác, làm gì được thì tôi làm…”

Cả hai cùng im lặng lắng nghe tiếng bước chân đi lên cầu thang gỗ. Cửa mở ra nhưng họ không thấy được ai hết. Có tiếng càu nhàu rồi cất lên, “Ai đó?” rồi có tiếng đánh diêm soi sáng một cái cằm nhẵn thín. Lại có điện:

“A, mày đấy à,” người mới đến nói giọng hờ hững.

“Dạ, tôi đây.”

Một con người nhỏ thó nhưng khuôn mặt lớn quá khổ và béo phị. Ông ta mặc áo vét xám hơi chật; khẩu súng sáu cộm lên trong áo gilê.

“Tao không có gì cho mày hết,” người đó nói, “không có gì hết.”

Tên ăn mày đi ngang qua phòng với những bước chân trần nhẹ nhàng. Nó bắt đầu thì thầm mặc cả; trong vài giây, nó lấy chân đạp nhẹ vào giày của người kia. Người kia thở ra, phồng má và nhìn chăm chú về phía cái giường như thể sợ hai người lạ ăn cắp cái gì đó. Ông ta nói với người mặc áo treilli giọng nhát gừng:

“Như thế là anh muốn mua cognac Veracruz phải không? Như thế là phạm luật…”

“Không, không phải cognac. Tôi không muốn mua rượu mạnh.”

“Còn bia, anh không uống được bia sao?”

Đầy quyền uy, ông ta tiến ra giữa phòng, dáng bệ vệ, tiếng giày nghiến cót két trên nền ca rô - ông ta là người bà con của quan đầu tỉnh.

“Tôi có thể cho bắt ông,” ông ta đe doạ.

“Dĩ nhiên rồi, thưa ngài…”

“Ông tưởng rằng tôi không có việc gì làm ngoài việc lo giải khát cho những tên tứ cố học làm sang như anh sao…”

“Tôi sẽ không bao giờ dám đến quấy rầy ngài nếu như người này…”

Người bà con của ông tỉnh trưởng khạc một phát lên sàn nhà.

“Nhưng nếu ngài muốn tôi đi thì tôi xin phép…” Ông kia ngắt lời.

“Tao không phải là người không biết thương xót, tao luôn luôn muốn đồng loại… khi cái đó nằm trong thẩm quyền của tao mà không hại đến ai. Tao có chức vụ quan trọng, hiểu chưa. Những thức uống này tao sở hữu cách hợp pháp.”

“Dạ, dĩ nhiên rồi.”

“Tao phải khó nhọc…”

“Dạ đúng thế ạ.”

“Nếu không, tao sạt nghiệp.”

Ông ta bước đến giường và cẩn thận giở nệm lên.

“Mày có nhiều chuyện không?”

“Tôi biết giữ mồm giữ miệng.”

“Tao muốn mày nói với người khác… đúng cách.”

Trong tấm nệm, có một đường hở lớn: ông ta rút ra một nắm rơm rồi lại thọc tay vào. Người mặc áo treilli nhìn lơ ra cửa sổ, làm bộ không quan tâm, công viên, bờ sông phủ bùn đen và những cột buồm, phía sau là những tia chớp; tiếng sấm mỗi lúc một gần. Người bà con tỉnh trưởng nói:

“Đây. Tao có thể bán hết chỗ này cho mày. Hàng tốt đó.”

“Nhưng tôi không muốn mua cognac.”

“Phải mua cái gì tao có.”

“Như thế, xin ngài trả mười lăm pesô lại cho tôi.”

“Mười lăm pesô à!” người bà con của tỉnh trưởng la lên.

Tên ăn mày bắt đầu phân bua rằng ông đây muốn mua một ít rượu nho và rượu mạnh. Đứng gần giường, họ mặc cả nhỏ tiếng nhưng quyết liệt về giá cả.

“Khó có rượu lắm,” người bà con của tỉnh trưởng nói, “tôi chỉ có thể bán cho ông hai chai rượu mạnh.”

“Một chai rượu mạnh và một…”

“Đó là cognac Veracruz loại hảo hạng.”

“Nhưng tôi nghiện rượu nho… ông không thể biết là tôi thèm rượu nho đến thế nào…”

“Rượu nho đắt quá. Mày có đồng ý trả thêm ít tiền không?”

“Tôi chỉ còn có bảy mươi lăm xu.”

“Tao có thể bán cho mày một chai têkila.”

“Không, không.”

“Vậy thì thêm năm mươi xu nữa, mày sẽ được một chai lớn.”

Ông ta lại lục lọi trong tấm nệm, và kéo ra một nắm rơm. Tên ăn mày nháy mắt với người mặc áo treilli và làm bộ như đang khui rượu, rót vào ly.

“Đây,” người bà con của tỉnh trưởng nói, “lấy hay không tuỳ.”

“Vâng, tôi lấy.”

Người bà con của tỉnh trưởng bỗng nhiên mất đi thái độ trịch thượng. Ông ta xoa tay và nói:

“Trời hôm nay nực quá. Năm nay chắc mưa sớm.”

“Xin ngài cho phép tôi mời ngài một ly mừng vụ mua bán của chúng ta thành công.”

“Chúa ơi, Chúa ơi… có lẽ…”

Tên ăn mày mở cửa và vui vẻ gọi lấy mấy cái ly.

“Lâu rồi,” người bà con của tỉnh trưởng nói, “rất lâu rồi, tôi chưa được uống một ly rượu nho nào. Nếu ông muốn cụng ly, rượu nho là thích hợp nhất.”

“Dĩ nhiên rồi, xin tuân theo ý ngài,” người đàn ông mặc áo treilli nói.

Ông ta đau đớn nhìn tên ăn mày khui chai rượu nho: “Xin lỗi ngài, tôi nghĩ là tôi sẽ uống cognac.” và gượng gạo cười khi nhìn rượu trong chai vơi đi.

Họ cụng ly, cả ba cùng ngồi trên giường… tên ăn mày uống cognac.

“Tôi rất hãnh diện về cái rượu nho này,” người bà con của tỉnh trưởng nói. “Đây là loại rượu ngon. Rượu California tốt nhất.”

Tên ăn mày nháy mắt ra hiệu:

“Xin mời ngài thêm một ly nữa,” người mặc áo treilli nói, “hay cho phép tôi mời ngài một ly cognac?…”

“Cognac này là loại ngon, nhưng tôi thích uống thêm ly rượu nho nữa.”

Họ rót đầy ly.

“Tôi muốn mang một ít rượu nho về cho mẹ tôi,” người mặc áo treilli nói, “mẹ tôi rất thích rượu.”

“Bà ta có lý,” người bà con của tỉnh trưởng nói, rồi uống cạn ly. “Như thế anh cũng có mẹ.”

“Chúng ta ai cũng có mẹ…”

“Nhưng anh may mắn hơn tôi. Mẹ tôi mất rồi.”

Ông ta với tay, và làm như vô ý rót thêm rượu. “Nhiều lúc tôi nhớ mẹ tôi lắm. Tôi gọi đùa bà là: cô bạn nhỏ của tôi!” Ông ta nghiêng chai rót: “Ông cho phép chứ?”

“Dĩ nhiên rồi, thưa ngài,” người kia đáp với vẻ tuyệt vọng rồi uống một ngụm lớn cognac.

“Tôi cũng có mẹ,” tên ăn mày nói.

“Mày chỉ rách việc,” người bà con của tỉnh trưởng nói. Ông ta lùi lại phía sau là cái giường kêu lên răng rắc.

“Tôi thường nghĩ rằng,” ông ta nói, “một bà mẹ mang lại cho ta nhiều điều hơn một người cha. Ảnh hưởng của mẹ là an bình, dịu dàng, nhân ái… Ngày giỗ mẹ tôi, tôi thường đi thăm mộ bà… mang hoa cho bà.”

Người mặc áo treilli kín đáo dấu một cái nấc.

“Ôi, phải chi tôi cũng làm được như thế…”

“Nhưng ông vừa nói mẹ ông còn sống kia mà, chắc là anh muốn nói đến bà nội anh.”

“Không thể tin được. Tôi không nhớ gì về bà nội tôi.”

“Tôi cũng thế.”

“Tôi thì có,” tên ăn mày chen vào.

“Mày nhiều chuyện quá,” người bà con của tỉnh trưởng la lên.

“Xin phép cho tôi nhờ người bọc chai rượu nho này lại. Vì uy tín của ngài, không nên để người ta biết…”

“Đợi đã, gấp gáp gì đâu. Anh là khách của tôi. Tất cả những gì ở đây là của anh. Thêm ly rượu nho nhé?”

“Tôi nghĩ là… cognac…”

“Vậy thì, xin phép anh…” Ông ta nghiêng chai rót rượu, một chút rượu đổ trên khăn trải giường. “Chúng ta đang nói gì nhỉ?”

“Chuyện các bà nội.”

“Không. Tôi nghĩ là không phải. Tôi không còn nhớ gì về bà nội tôi. Những ký ức xa xôi nhất của tôi…”

Cửa mở, giám đốc khách sạn báo: “Ông cảnh sát trưởng đang lên.”

“Hoan hô, mời ông ta vào.”

“Anh có chắc không?”

“Dĩ nhiên. Đó là tay chịu chơi.” Ông ta quay qua phân trần, “chỉ trừ khi chơi bi da thì không nên tin ông ta.”

Một người cao to mặc áo len, quần trắng, mang bao súng xuất hiện trên bục cửa.

“Vào đi, vào đi,” người bà con với tỉnh trưởng nói. “Răng anh sao rồi? Chúng tôi đang bàn chuyện các bà nội.”

Ông ta đột nhiên ra lệnh cho tên ăn mày: “Tránh chỗ cho ông cò.”

Ông cò còn đứng trên bục cửa, hơi do dự.

“Cái gì, cái gì…” ông ta nói.

“Chúng tôi đang có buổi liên hoan bỏ túi. Anh có muốn tham gia không? Đó sẽ là niềm vinh hạnh cho chúng tôi.”

Khuôn mặt ông cò bỗng sáng lên khi thấy rượu nho:

“Rất sẵn sàng. Một chút bia có làm hại ai đâu.”

“Chính xác, mang ly cho ông cò.”

Tên ăn mày rót đầy rượu nho vào ly của mình rồi đưa cho ông cò, ông ngồi xuống và uống cạn ly.

Rồi ông ta lại nói, tay cầm lấy cái chai: “Bia này ngon quá. Ông chỉ có chai này thôi sao?”

Người mặc áo treilli nhìn ông cò, đờ người vì lo lắng.

“Vâng, chỉ có chai này thôi.”

“Chúc mừng.”

“Thế thì,” người bà con của tỉnh trưởng lên tiếng, “chúng ta đang nói gì nào?”

“Về kỷ niêm xa xưa,” tên ăn mày nói.

“Với tôi, kỷ niệm xa xưa nhất,” ông cò nói chậm rãi… “nhưng ông này không uống sao?

“Tôi uống chút cognac.”

“Sức khoẻ.”

“Sức khoẻ.”

“Kỷ niệm đầu tiên mà tôi nhớ rõ là ngày rước lễ lần đầu. Ôi, thật xúc động! Cha mẹ tôi bao quanh tôi…”

“Họ bao nhiêu người?”

“Dĩ nhiên là hai người.”

“Vậy thì làm sao họ bao quanh anh được? Phải có ít nhất bốn người… ha, ha, ha!”

“Sức khoẻ.”

“Sức khoẻ.”

“Dĩ nhiên, nhưng như tôi đã nói, cuộc đời có những oái oăm: sau này, trong nhiệm vụ của mình, tôi phải hiện diện trong buổi hành quyết ông linh mục đã cho tôi rước lễ lần đầu… đó là một ông già. Tôi thú thật không xấu hổ, là tôi đã khóc. Niềm an ủi duy nhất là khi nghĩ rằng ông ta đã trở thành vị thánh tử đạo và cầu bầu cho chúng ta. Không phải ai cũng được một vị thánh cầu bầu cho đâu.”

“Phương pháp không thông dụng…”

“Nhưng cả cuộc đời là một huyền nhiệm!”

“Sức khoẻ.”

Người mặc áo treilli đề nghị:

“Mời ông cò một ly cognac? Còn chút ít rượu nho và tôi nghĩ… Tôi muốn mang về cho mẹ tôi chút ít…”

“Ôi, một vài giọt thế này sao… thế là anh nhục mạ bà cụ. Chỉ còn cặn thôi mà…”

Ông cò rót hết chai… “…nếu mình nói rằng bia có cặn.” Rồi ngồi im lặng, chợt ông la lên: “Sao anh lại khóc!”

“Chắc là tác động của rượu cognac,” ông ta nói… “Xin lỗi các vị. Tôi dễ say lắm và khi đó, tôi thấy…”

“Anh thấy gì?”

“Ồ, tôi không biết … Tất cả hy vọng trên cõi đời này tàn lụi và biến mất.”

“Chúa ơi, ông thật là một thi sĩ.”

“Thi sĩ,” tên ăn mày nói, “là linh hồn của xứ sở.”

Một tia chớp giăng ngang trước cửa sổ và sấm sét bỗng nhiên nổ ra trên đầu họ. Ngọn đèn duy nhất trên trần chao đảo rồi tắt ngúm.

“Đây là tin xấu cho lính của tôi rồi,” ông cảnh sát trưởng nói, chân nghiến một con gián đang bò lại gần.

“Tin xấu gì?”

“Mùa mưa đến quá sớm. Họ đang phải truy lùng.”

“Tên tướng cướp…”

“Không, không vui vẻ gì, nhưng ông tỉnh trưởng phát hiện là còn có một linh mục ở đây và các anh biết ông ta nghĩ gì về chuyện này rồi. Nếu là tôi thôi, tôi sẽ để cho ông linh mục tội nghiệp kia yên. Rốt cuộc rồi ông ta cũng chết vì đói, sốt rét hay là ra tự thú. Hiện nay thì ông ta cũng không làm được cả cái tốt, cả cái xấu. Chúng tôi cũng không biết ông ta hiện diện cho đến mấy tháng gần đây.”

“Các anh phải làm gấp lên.”

“Ông ta không thoát được tay chúng tôi đâu, trừ trường hợp anh ta vượt biên giới. Chúng tôi có người biết rõ mặt ông ta. Người đó đã nói chuyện với ông ta, đã ở chung với nhau một đêm. Thôi, nói chuyện khác đi. Có ai muốn là cảnh sát đâu?”

“Ông nghĩ là linh mục đó đang ở đâu?”

“Nếu tôi nói, chắc các ông không tin đâu.”

“Tại sao?”

“Ông linh mục đang ở đây… trong thành phố này. Tôi kết luận như vậy theo phép loại suy. Các anh biết không, từ khi chúng tôi bắt đầu giữ các con tin trong các làng, ông ta còn ở vào đâu được… Dân làng xua đuổi ông ta, họ không muốn chứa chấp ông ta nữa. Người chỉ điểm cho chúng tôi, chúng tôi cũng mới thả ra, như thả chó ấy mà… một ngày nào đó, nó sẽ đánh hơi thấy đường đi… và lúc đó…”

Người mặc áo treilli hỏi:

“Ông đã bắn nhiều con tin chưa?”

“Chưa. Chỉ mới bắn ba hay bốn tên gì đó. Thôi, đây đúng là những giọt bia cuối cùng. Sức khoẻ!” Ông ta tiếc nuối đặt ly xuống. “Bây giờ, tôi có thể nếm chút… nước chanh của anh không?”

“Xin vâng.”

“Hình như tôi có gặp ông đâu đó rồi? Tôi không biết tại sao khuôn mặt anh…”

“Tôi chưa được hân hạnh đó.”

“Lại thêm một điều kỳ diệu,” ông cò nói, duỗi chân ra luôn tiện nhẹ nhàng hất tên ăn mày xuống mép giường, khi mình tưởng đã gặp ai đó… nơi nào đó. Mơ sao, hay là trong tiền kiếp? Ngày nọ, tôi nghe một ông thầy thuốc nói đó là vấn đề ký ức thị giác. Nhưng đó là một tên người Mỹ, một tên duy vật.

“Tôi nhớ có lần…” người bà con của tỉnh trưởng nói.

Sét nổ trên bến cảng và giông nổ trên mái nhà: đó là tình hình chung của cả tỉnh. Bên ngoài, mưa rơi và bên trong căn phòng, cuộc nói chuyện vẫn tiếp tục… những chữ như “màu nhiệm” hay “linh hồn” hay “nguồn sống” được lặp đi lặp lại nhiều lần; họ ngồi trên giường và đấu láo, vì họ không có việc gì để làm, không có gì để tin, và cũng không biết đi đâu.

“Chắc là tôi phải đi rồi,” người mặc áo treilli nói.

“Anh đi đâu?”

“Tới nhà mấy người bạn,” ông ta đáp mù mờ, hai tay làm một cử chỉ ngụ ý nói đến một thế giới bạn bè tưởng tượng.

“Mang rượu của ông đi,” người bà con của tỉnh trưởng nói. “Dù sao anh cũng trả tiền rồi.”

“Xin cảm ơn ngài.”

Ông ta lấy chai cognac còn chút rượu. Chai rượu nho thì hết sạch.

“Dấu đi,” người bà con của tỉnh trưởng nói.

“Đương nhiên rồi, thưa ngài, tôi sẽ cẩn thận.”

“Ông không cần gọi anh ta là ngài,” ông cò nói. Ông ta rú lên cười và đạp tên ăn mày rớt xuống giường.

“Không, không, chỉ là…”

Ông ta ra khỏi phòng và cẩn thận bước đi, lau những giọt nước mắt; trong phòng tiếp tân, ông còn nghe câu chuyện tiếp tục… “màu nhiệm”, “linh hồn” như bất tận, để không đi đến đâu cả.

Lũ mối đã biến mất; mưa đã quét sạch bọn chúng. Mưa rơi thẳng đứng với cường độ có tính toán như thể đóng đinh vào nắp quan tài. Nhưng không khí cũng vẫn ngột ngạt: mồ hôi và nước mưa đẫm hết áo quần. Trong vài giây, linh mục đứng trước cửa khách sạn, tiếng máy phát điện ì ầm sau lưng, rồi ngài chạy một vài mét cho đến một hiên nhà và ngài trú ở đó, mắt nhìn lên tượng ông tướng, lên những chiếc thuyền buồm đậu trong cảng và trên chiếc xà lan cũ mà ống khói là một ống sắt phế liệu. Ngài không biết đi đâu: ngài không tính đến chuyện bị mưa- ngài nghĩ là ngài có thể lân la đâu đó, ngủ trên băng ghế hay trên bờ sông.

Hai tên lính đi về phía cảng, vừa đi vừa tranh luận to tiếng - họ mặc kệ mưa, như thể họ không biết có mưa, như thể mọi thứ đều quá tồi tệ, mưa chẳng quan trọng gì cả… Linh mục đẩy cánh cửa gỗ nơi ngài đang trú mưa - cửa một quán ăn và bước vào để tránh mưa: một đống chai nước khoáng và một bàn bi da có mấy cái vòng để ghi điểm, ba bốn người… Một người đã cởi bao súng đặt trên quầy bar. Linh mục hấp tấp bước tới và đụng khuỷ tay một người đang chơi. Người kia quay lại: “Mẹ kiếp!” Đó là một tên áo đỏ. “Ở đâu cũng không được yên một phút sao?”

Linh mục nhẹ nhàng xin lỗi rồi bước lùi ra cửa, nhưng vì lùi nhanh quá, túi của ngài đụng vào tường và nghe có tiếng chai thuỷ tinh lanh canh. Ba bốn khuôn mặt nhìn ngài vẻ vui mừng: một người lạ mặt, sắp có trò vui đây.

“Cái gì trong túi vậy?” Tên áo đỏ hỏi. Đó là một thanh niên chừng hai mươi tuổi, vẻ cao ngạo, hãnh tiến.

“Nước chanh,” thưa ông. Linh mục trả lời.

“Sao lại để nước chanh trong túi?”

“Tôi uống ban đêm, với thuốc ký ninh.”

Tên áo đỏ đến gần, vẻ tự mãn và dùng cây gậy bi da chọc vào túi của linh mục.

“Nước chanh, đúng không?”

“Vâng, nước chanh.”

“Được, cho xem chai nước chanh của anh chút nào?”

Nó hãnh diện quay về phái đồng đội:

“Cách hai mươi bước, tao cũng ngửi được mùi của những tên phạm pháp.”

Nó thọc tay vào túi vị linh mục và lôi ra chai rượu.

“Đây rồi, tao nói có sai đâu.”

Linh mục nhào ra cửa và chạy thục mạng dưới mưa. Một tiếng hô:

“Bắt lấy nó.”

Họ nô đùa như những tên điên. Ngài chạy đến quảng trường, rẽ bên trái, chạy bên phải. May là đường tối và trăng bị mây che khuất. Chừng nào ngài còn đứng xa các cửa sổ có đèn, không ai có thể thấy được ngài… Nhưng đám lính không bỏ cuộc: rượt bắt vui hơn chơi bi da. Tiếng còi vang lên. Cảnh sát đã đến tăng viện.

Đây là nơi mà ngài đã mong muốn được chuyển đến với một chức vụ quan trọng, sau khi đã đi khỏi Conception và để lại cho người kế vị một món nợ. Chạy dích dắc để tránh cảnh sát, ngài nghĩ đến nhà thờ chánh toà, đến Montez và đến một kinh sĩ ngài quen biết trước đây. Ước muốn trốn thoát cho ngài thấy một tình huống kinh khủng và khôi hài. Ngài bật cười, lấy hơi và lại cười. Ngài nghe tiếng còi, tiếng lính gọi nhau trong bóng đêm và tiếng mưa rơi nặng hạt; giọt mưa rơi xuống rồi tung lên trên nền xi măng của nơi ngày xưa là sân nhà thờ chánh toà. Ngài chạy trở lại xuống chân đồi. Ngài chợt nghĩ ra một ý.

Tiếng bước chân tới gần, rồi ngài nghe tiếng một nhóm khác từ dưới sông đi lên, họ đang truy lùng có phương pháp: qua tiếng bước chân đều đều, ngài nghĩ họ là cảnh sát, dân chuyên nghiệp. Ngài đứng giữa hai nhóm truy lùng, nhóm tài tử và nhóm chuyên nghiệp. Nhưng ngài biết chỗ: ngài đẩy cửa, lẩn vào sân trong và đóng cửa lại.

Ngài đứng trong bóng tối, thở hổn hển, lắng nghe tiếng bước chân bên ngoài, dưới trời mưa. Rồi ngài thấy bên cửa sổ, có ai đó đang nhìn mình, một khuôn mặt tối tăm, nhăn nhó giống như những cái đầu xác ướp mà khách du lịch thường mua. Linh mục đến gần song cửa gọi: “Cha Jôsê ở đâu?”

“Đằng kia.”

Sau lưng người mới xuất hiện, có một khuôn mặt thứ hai, rồi thứ ba: những cái đầu mọc ra như nấm. Ngài cảm thấy những tia nhìn hướng về phía mình trong lúc ngài bì bõm lội qua sân và gõ cửa.

Chỉ sau một vài giây ngài mới nhận ra cha Jôsê, tay cầm đèn, mặc một cái áo ngủ kỳ dị và gió đêm làm nó căng phồng lên. Lần cuối họ gặp nhau, đó là lần cả hai tham dự hội nghị và họ ngồi ở hàng cuối, cha Jôsê lúng túng cắn móng tay, sợ người ta nhận ra mình. Điều đó vô nghĩa: không một vị nào trong hàng giáo sĩ hiện diện hôm đó trong nhà thờ chánh toà biết tên ngài. Ngài thấy kỳ lạ là ngày hôm nay, ngài đã có một chút tiếng tăm nhiều hơn họ. “Jôsê” ngài gọi nhỏ trong đêm mưa.

“Ông là ai?”

“Cha không nhận ra tôi à? Vâng đúng rồi, sau chừng đó năm… cha không nhớ buổi hội nghị ở nhà thờ chánh toà sao?”

“Đúng rồi, Chúa ơi,” cha Jôsê la lên.

“Họ đang truy đuổi con. Con nghĩ rằng, đêm nay, một đêm thôi… cha có thể…”

“Đi đi,” cha Jôsê la lên, “đi đi…”

“Họ không biết con là ai. Họ chỉ xem con là một tên buôn lậu vặt. Nhưng họ sẽ bắt con về đồn và họ sẽ biết.”

“Đừng nói lớn, vợ tôi…”

“Xin cha dẫn con tìm chỗ trốn, thế thôi,” linh mục thì thầm.

Cái sợ lại bắt đầu xâm chiếm ngài. Có lẽ hiệu quả của cognac đã hết (trong cái khí hậu xứ nóng này, khó có thể say lâu được, rượu tự đào thải dưới nách và trên trán bạn qua những giọt mồ hôi) hay đó chỉ là sự quay vòng của ước muốn được sống, sống như thế nào cũng được.

Dưới ánh đèn, cha Jôsê có vẻ hận thù.

“Tại sao ông lại đến nhà tôi? Cái gì làm ông tin rằng…? Nếu ông không đi, tôi gọi cảnh sát. Ông biết tôi là người như thế nào.”

“Con biết cha là một người tốt, cha Jôsê, con vẫn luôn nghĩ vậy,” ngài nhẹ nhàng năn nỉ.

“Ông không đi thì tôi la lên đó.”

Ngài cố gắng tìm trong ký ức xem tại sao ngài ghét mình. Có tiếng lao xao ngoài đường, tiếng cãi vã, tiếng đập cửa… Họ xét nhà sao?

“Cha Jôsê, nếu con đã có lỗi gì với cha, xin tha lỗi cho con. Con là người tự đắc, kiêu ngạo, đầy tính tự phụ… một linh mục xấu. Con luôn biết tự đáy lòng con là cha tốt hơn con.”

“Đi đi,” cha Jôsê thét lên giọng the thé. “Tôi không muốn có thánh tử đạo ở nhà mình. Tôi không thuộc phe các người. Để cho tôi yên thân.”

Ngài cố gắng gom góp hết nọc độc vào trong cục đờm ngài nhổ vào mặt vị linh mục, nhưng không đủ lực, cục đờm rơi xuống giữa hai người.

“Đi đi, chết lẹ đi.” Đó là việc duy nhất mà ông làm được. Rồi ngài đóng mạnh cửa. Cánh cửa sân trong lập tức bị cảnh sát mở ra. Qua cửa sổ ngài thấy cha Jôsê đang kín đáo nhìn theo, rồi có một cái bóng khổng lồ mặc đồ ngủ kéo ngài ra xa, che chở cho ngài như thiên thần bản mệnh sẵn sàng gìn giữ ngài khỏi những xung đột của trần gian.

“Chính hắn,” ai đó hô lên. Đó là tên áo đỏ. Linh mục mở tay đánh rơi cuộn giấy bên tường nhà cha Jôsê: “Sự đánh mất trọn vẹn quá khứ.”

Ngài biết từ nhiều năm nay, đây là khởi đầu của đoạn cuối…

Trong khi họ rút cái chai cognac ra khỏi túi ngài, ngài thì thầm đọc kinh ăn năn tội, nhưng ngài không cầm trí được. Ảo tưởng về sự ăn năn trên giường bệnh: sự thống hối là kết quả của sự luyện tập, kỷ luật lâu dài, sợ thôi không đủ. Ngài cố gắng cảm thấy xấu hổ vì đã có con, nhưng ngài chỉ cảm thấy một thứ tình yêu tuyệt vọng… Nó sẽ ra sao? Và cái tội này, ngài đã phạm quá lâu năm nên ngài đã quên đi cái xấu xa mà chỉ còn lại một thứ tri ân nào đó đến thay thế. Tên áo đỏ đập vỡ cái chai trên nền đường, mùi rượu xông lên - không nồng lắm, có còn bao nhiêu đâu.

Rồi họ dẫn ngài đi; bây giờ đã tóm được ngài, họ đối xử với ngài có vẻ thân mật hơn và họ chọc ghẹo ngài vì đã cố gắng trốn thoát - trừ tên áo đỏ đã bỏ lỡ không ghi được điểm bi da. Ngài không tìm được cách đối đáp với những câu bông đùa của họ: lo lắng để thoát thân ám ảnh ngài. Lúc nào họ sẽ phát hiện ra mình là linh mục? Khi nào mình sẽ gặp tên tạp chủng hay viên trung uý đã hỏi chuyện mình? Toán lính đi ngược lên quảng trường. Một cái báng súng đập lên nền đất trước đồn cảnh sát khi họ đến nơi. Họ đi vào, một ngọn đèn phun khói đặt áp vào tường vôi trắng rất bẩn: trong sân, trên những chiếc võng đung đưa có những người đang ngủ.

“Anh có thể ngồi xuống,” một người nói rồi ân cần dẫn ngài tới một cái ghế băng. Bây giờ, mọi sự đã rõ ràng: viên lính canh đi lui đi tới trước cửa và ngoài sân, từ những chiếc võng vang lên tiếng ngáy.

Có người đã nói gì đó: há hốc mồm, ngài nhìn lên.

“Cái gì?”

Cảnh sát và bọn áo đỏ có vẻ như bất đồng về việc phải đánh thức ai đó.

“Nhưng đó là việc của ông ta,” tên áo đỏ lặp đi lặp lại: “Răng nó làm ta nghĩ tới hàm răng thỏ.”

“Tôi sẽ báo cáo với tỉnh trưởng.”

“Anh nhận tội, đúng không.” Một viên cảnh sát hỏi ngài.

“Vâng,” linh mục đáp.

“Đó, thấy không? Anh cần gì nữa? Phạt năm pesô. Cần gì làm phiền ai?”

“Vậy ai bỏ túi năm pesô đó?”

“Đó không phải là việc của anh.”

“Sẽ không ai lấy được cả,” đột nhiên vị linh mục lên tiếng.

“Sao?”

“Tôi chỉ có hai mươi lăm xu.”

Cửa mở, viên trung uý bước vào.

“Trời ơi, cái gì lộn xộn thế này?”

Uể oải, đám lính nghiêm chào.

“Chúng tôi đã bắt một người có mang rượu trên mình, tên áo đỏ nói.”

Linh mục cúi nhìn xuống đất: “…vì chúng đã đóng đinh Ngài trên thánh giá… trên Thánh Giá…” những lời kinh tắt ngấm vô vọng trong nỗ lực sám hối. Ngài không cảm thấy gì hết ngoài cái sợ.

“Vậy thì,” viên trung uý nói, “có liên quan gì đến anh nào? Chúng tôi bắt hàng chục đứa.”

“Có giam nó lại không?” một người hỏi.

Trung uý liếc nhìn tội nhân ngồi trên ghế băng.

“Đứng dậy,” trung uý ra lệnh.

Vị linh mục đứng dậy. “Đến lúc rồi,” ngài nghĩ… Trung uý đã quay mặt đi và đang nhìn tên lính đi đi lại lại ngoài cửa. Khuôn mặt rám nắng và ốm o của viên trung uý toát ra vẻ lo âu, chán chường.

“Hắn ta không có tiền,” một cảnh sát nói.

“Trời ơi,” trung uý la lên, “đến lúc nào các người mới hiểu được…” Ông ta bước hai bước về phía người lính rồi quay lại: “Lục soát nó. Nếu nó không có tiền, giam nó lại. Mai bắt nó lao động…”

Ông ta đi ra, đưa tay tát người lính.

“Mày ngủ à. Bước đi đàng hoàng một chút.” Và ngọn đèn tiếp tục phun khói lên bức tường vôi trắng, mùi nước tiểu trong sân, người ngủ trong võng.

“Có cần ghi tên họ không?” viên trung sĩ hỏi.

“Đương nhiên rồi.” Trung uý trả lời không cần nhìn lại.

Ông ta bước ra sân, đứng dưới mưa, nước mưa chảy dọc theo bộ quân phục đẹp, còn ông ta thì nhìn quanh. Có vẻ như ông ta đang bị ám ảnh bởi một điều gì đó: hình như ông ta bị dằn vặt bởi một nỗi đam mê thầm kín, nỗi đam mê đã làm xáo trộn cuộc sống thường ngày của ông. Ông quay lại. Không đứng yên được một chỗ.

Trung sĩ đẩy vị linh mục vào phòng trong. Trên tường vôi long tróc, có treo một cuốn lịch in hình một cô gái lai, da sậm màu, đang gọi một thứ nước khoáng nào đó. Ai đó đã viết với nét chữ học trò, to và rõ một câu ngạn ngữ rằng con người không có gì để mất, ngoài xiềng xích.

“Tên gì?” Trung sĩ hỏi.

Không do dự, linh mục đáp: “Montez”

“Quê ở đâu?”

Ngài khai hú hoạ tên một làng nào đó, ngài đang bận ngắm hình của chính mình. Ngài thấy mình đang ngồi giữa đám áo trắng của những em rước lễ lần đầu. Ai đó đã dùng viết chì khoanh tròn mặt ngài. Còn một bức thứ hai trên tường: hình tên tướng cướp gốc San Antonio, Texas, truy lung vì tội sát nhân và cướp ngân hàng.

“Tôi nghĩ ông không biết tên người bán rượu,” viên trung sĩ dè dặt hỏi.

“Vâng.”

“Ông không tả hình dáng hắn ta được phải không?”

“Đúng.”

“Lúc nào cũng vậy.” Trung sĩ tuyên bố.

Rõ ràng là anh ta không muốn gây chuyện phiền phức. Anh ta nắm tay vị linh mục, rất thân thiện, đưa ngài băng qua sân: ông ta mang một cái chìa khoá to đùng như trong truyện đạo đức hay truyện cổ tích để làm biểu trưng. Ai đó cựa quậy trên giường - một cái cằm treo bên thành võng, một cái tai sứt sẹo, kia là một cái đùi trắng đầy lông. Linh mục tự hỏi lúc nào ngài sẽ thấy khuôn mặt rạng ngời vì vui sướng của tên tạp chủng khi nó nhận ra ngài.

Trung sĩ mở khoá một cánh cửa nhỏ, và dùng chân đá một vật cản gì đó trên lối đi.

“Đây toàn tay anh chị, toàn tay anh chị.” Ông dùng bốt mở lối đi. Một mùi hôi kinh khủng tràn ngập phòng, trong bóng tối mờ, ai đó đang khóc.

Linh mục chần chờ ở cửa và tìm cách nhìn trong bóng tối.

Một khối đen thui, động đậy. “Tao khát nước quá, cho xin chút nước.”

Mùi hôi thối ngập mũi ngài: ngài muốn ói.

“Mai rồi uống,” trung sĩ nói. “Hôm nay mày uống như thế đủ rồi.” Rồi nhẹ nhàng đặt tay lên vai linh mục, ông ta đẩy ngài tới, rồi khoá cửa. Linh mục bước vài bước, đạp lên tay ai đó, ngài sợ hãi phân bua: “Không có chỗ. Tôi không thấy gì hết. Ai đây?”

Bên ngoài, viên trung sĩ cười.

“Ông kia ơi, ông mới vào tù lần đầu à?”


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 23.03.2018, 16:40
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 33683
Được thanks: 5223 lần
Điểm: 9.58
Có bài mới Re: [Kinh điển] Vinh quang và quyền năng - Graham Greene - Điểm: 10
VII


  “Có thuốc lá không?” một giọng phía đàng chân hỏi ngài.

Ngài lùi lại và bước lên một cánh tay. Một giọng uy quyền cất lên:

“Nước, mau lên…” Người này nói như thể nó có quyền sai bảo người mới đến làm bất cứ việc gì.

“Có thuốc lá không?”

“Không,” ngài yếu ớt trả lời, “tôi không có gì cả,” và đột nhiên ngài cảm thấy thú tính xông lên như khói mù mịt chung quanh ngài.

Ngài lại bước tới.

“Coi chừng cái xô,” ai đó nói.

Chính từ đó bốc lên mùi hôi thối. Ngài đứng im, đợi cho mắt mình quen với bóng tối. Bên ngoài, mưa đã ngớt, người ta nghe tiếng tí tách của những giọt nước, mưa đã lùi xa. Bây giờ, ta có thể đếm đến bốn mươi giữa ánh chớp và tiếng giông. Bốn mươi dặm, theo kinh nghiệm dân gian. Khoảng nửa đường từ đây ra biển, lên núi. Linh mục dùng tay quờ quạng trên nền rồi ngồi xuống… nhưng hình như chỉ có một khoảng rất hẹp. Mỗi lần ánh chớp loé lên, ngài lại thấy mấy cái võng treo ngoài sân.

“Ông có gì ăn không?” một giọng cất lên và vì ngài không trả lời, giọng nói lặp lại: “Ông có gì ăn không?”

“Không.”

Đột nhiên, cách ngài mấy mét, có tiếng đàn bà rên. Một giọng mệt mỏi than: “Không để cho người ta yên một chút được sao?”

Giữa những hành động gấp gáp, tiếng thở dồn dập, tiếng rên, không phải rên vì đau khổ, lại vang lên trong bóng tối. Linh mục kinh hãi nghĩ đến việc người ta còn đi tìm khoái lạc ngay cả trong cái bóng tối dơ bẩn này sao? Ngài chầm chậm bước tới, kiếm đường tránh xa cửa ra vào. Tiếng người râm ran, một tiếng ồn không dứt, giống như tiếng giây truyền động của máy phát điện chạy đều đều. Tiếng ồn này còn ồn hơn tiếng thở của người. Tiếng vo ve của muỗi.

Linh mục rời xa cửa song sắt được ba bốn bước, và mắt ngài đã nhận ra những dáng người; có lẽ do trời đêm sáng hơn: những khuôn mặt như thể treo quanh ngài, giống như những quả dưa đắng.

“Ông là ai?” một ai đó hỏi.

Sợ hãi, ngài tiến về phía trước nhưng không trả lời: bức tường cuối phòng ngăn ngài lại, tay ngài đụng tường đá ẩm ướt… Căn phòng chắc không hơn ba hay bốn mét chiều sâu. Ngài thấy là chỉ đủ chỗ để ngồi, với điều kiện co chân lại. Một ông già ngã đầu vào vai ngài: ngài đoán là ông già vì xương xem ra nhẹ, hơi thở không đều và yếu. Đó là một sinh linh rất gần với sự sinh ra hay cái chết, và làm sao hình dung nổi một đưa bé bị rơi vào chốn này? Đột nhiên, ông già hỏi “Mày đó phải không, Catarina?”

Và ông thở dài, kiên nhẫn như thể ông đã đợi từ lâu lắm và sẵn sàng đợi lâu hơn nữa.

“Không,” linh mục trả lời, “không phải Catarina.”

Khi ngài nói, những người khác đột nhiên im lặng như thể điều ngài nói rất quan trọng. Rồi tiếng rên lại vang lên. Nhưng tiếng nói của chính ngài, và cảm giác được giao tiếp với người khác làm ngài dịu đi.

“Dĩ nhiên là không phải,” ông già nói. “Tôi đã không nhầm ông với nó. Nó không đến đâu.”

“Vợ ông à?”

“Ông nói gì? Tôi không có vợ.”

“Còn Catarina?”

“Con gái tôi.”

Mọi người lại lắng nghe; trừ đôi kia đang chìm trong khoái lạc.

“Chắc người ta không cho nó vào.”

“Nó không đến đâu,” giọng nói ông già có vẻ chắc chắn. Hai chân co lại bắt đầu làm cho vị linh mục thấy đau.

“Nếu cô ta thương ông?” ngài nói.

Bên kia, những cái bóng mờ mờ, người đàn bà lại thét lên, tiếng thét của tận cùng chống đối, buông thả và hoan lạc.

“Đó là do lỗi các ông linh mục.”

“Nhưng tại sao là vì các linh mục.”

“Bởi vì chính họ.”

Gần cạnh ngài, có người lên tiếng giải thích: “Ông già này điên, Hỏi ông ta làm gì.”

“Có phải mày đó không, Catarina?” ông ta lại nói thêm: “Tôi biết nó sẽ không đến đâu, ông biết không. Đó chỉ là một câu hỏi.”

“Còn tôi,” giọng kia lại cất lên, “tôi mới oan. Một người đàn ông phải bảo vệ danh dự của mình chứ, đúng không? Tôi ở trong tiệm ăn và một tên đến gần tôi nói rằng: ‘Mẹ mày là một con điếm’. Tôi không làm gì nó được vì nó có súng. Và tôi đợi thời cơ. Khi nó đã uống say - tôi biết là nó sẽ say - và nó lảo đảo bước ra, tôi đã đi theo. Tay cầm cái chai, tôi đã đập vở vào tường. Anh hiểu không? Tôi không có súng. Gia đình nó quen thân với ông cảnh sát trưởng, nếu không, tôi đã không phải ở đây.”

“Giết người là việc hệ trọng.”

“Ông nói như linh mục.”

“Linh mục dạy dỗ họ đó,” ông già chen vào. “Anh có lý.”

“Ông ta muốn nói gì?”

“Ôi, đừng để tâm tới những gì ông ta nói? Tôi muốn kể cho anh nghe một chuyện…”

“Người ta đã bắt mất con ông ta,” một giọng phụ nữ nói.

“Tại sao?”

“Nó là con hoang. Người ta làm đúng.”

Nghe tiếng con hoang, linh mục thót tim: giống như một người đang yêu khi nghe một người lạ nói đến tên một loài hoa giống tên người mình yêu.

“Con hoang”, tiếng gọi làm lòng ngài tràn ngập niềm hạnh phúc khốn khổ và làm ngài thấy gần gũi với con gái mình. Ngài thấy lại đứa con gái, đứng tựa thân cây, bên đống rác, mồi ngon cho mọi hiểm nguy. Ngài lập lại “con hoang” như thể đó là tên con bé với sự trìu mến ẩn dấu sau khuôn mặt vô cảm.

“Người ta nói ông ta là một người cha bất xứng, không biết dạy con. Nhưng khi các linh mục đã phải trốn đi, con bé về lại với ông ta, nó còn biết đi đâu nữa?”

Có lẽ câu chuyện đến đây là chấm dứt, nhưng người đàn bà nói thêm:

“Dĩ nhiên, nó ghét ông ta. Mấy linh mục đã cho nó có chút giáo dục.”

Nghe người đàn bà này nói, ta có thể hình dung cái miệng nhỏ nhắn, môi mỏng, của những bà nhà giàu có học: nhưng tại sao bà ta lại bị nhốt ở đây?

“Tại sao ông lại phải vào đây?”

“Ông ta mang thánh giá.”

Mùi hôi nồng nặc từ cái xô xông lên không ngừng. Màn đêm bao phủ họ như một bức tường và không một chút không khí lọt vào được. Ngài nghe tiếng ai đó đang đi tiểu, tiếng nước tiểu va mạnh vào thành xô.

“Họ không có quyền,” ngài nói.

“Họ chỉ làm điều phải làm, thế thôi. Đó là tội nặng.”

“Họ không có quyền dạy con bé ghét cha nó.”

“Họ biết họ phải làm gì.”

“Đó là những linh mục xấu, những người đã làm như thế. Tội lỗi thuộc về quá khứ. Nhiệm vụ là phải dạy cho con bé biết… yêu thương.”

“Ông không biết bổn phận là gì, nhưng mấy linh mục thì họ biết.”

Một vài phút ngập ngừng, rồi ngài nói với người đàn bà rất rõ ràng:

“Tôi là linh mục.”

Hình như đó là đoạn kết thúc: không cần phải hy vọng nữa. Mười năm nay rồi, hôm nay cuộc truy lùng chấm dứt. Bao quanh ngài là sự im lặng. Nơi này cũng là một thế giới thu nhỏ: đầy dẫy dâm dật, tội ác, tình yêu dang dở; mùi hôi thối bốc lên đến tận trời; nhưng vị linh mục ý thức được rằng, sau cùng, người ta cũng có thể tìm thấy sự bình an khi người ta biết chắc chắn là kết cục đến gần.

“Ông là linh mục?” người đàn bà hỏi.

“Vâng.”

“Cảnh sát biết không?”

“Chưa.”

Ngài có cảm giác ai đó đang kéo tay áo mình, một giọng thì thầm: “Cha biết không, ở đây có đủ hạng người, sát nhân…”

Cái giọng vừa mới kể lại câu chuyện giết người của mình nói:

“Bà nhục mạ tôi làm gì? Không phải vì tôi giết một mạng người mà tôi…”

Tiếng thì thào khắp nơi. Giọng chua chát kia tiếp tục vang lên:

“Tôi không phải là một tên điểm chỉ vì có người đã nói: ‘Mẹ mày là một con điếm’…”

“Không ai cần phải tố cáo tôi cả,” linh mục nói. “Không cần phải phạm thêm tội đó. Sáng mai, họ tức khắc sẽ nhận ra tôi.”

“Họ sẽ bắn cha, cha ơi.” Người đàn bà nói.

“Vâng.”

“Cha có sợ không?”

“Có, có.”

Một tiếng rên vang lên. Nó xuất phát từ cái góc trước đây có tiếng rên khoái lạc.

“Không nên sợ,” bà ta nói giọng cứng cỏi.

“A! vậy sao?” linh mục nói.

“Đau đớn một chút thôi. Cha muốn gì, sớm muộn gì rồi cũng thế thôi.”

“Nhưng tôi sợ,” linh mục nói.

“Đau răng còn khổ hơn.”

“Không phải ai cũng can đảm.”

“Các người là cá mè một lứa, mấy người có đạo ấy; tôn giáo làm mấy người thành hèn nhát,” một giọng nói vẻ khinh miệt.

“Vâng. Có lẽ anh có lý. Anh thấy không, tôi là một linh mục xấu và là một thằng đàn ông tồi. Chết trong tình trạng tội trọng (ngài cười khổ), cái đó cũng cần suy nghĩ lắm.”

“Đúng, đó chính là cái tôi mới nói. Tin Chúa làm cho mấy người trở thành hèn.”

Giọng nói có vẻ đắc thắng như thể vừa tìm được một bằng chứng.

“Rồi anh kết luận thế nào?” Linh mục hỏi.

“Không nên tin Chúa và phải can đảm.”

“Vâng, tôi hiểu. Dĩ nhiên, nếu ta có thể tin rằng cả quan tỉnh trưởng, cả ông cảnh sát trưởng đều không hiện hữu, nếu ta có thể cho rằng nhà tù này không phải là nhà tù, nhưng là một khu vườn, lúc đó chúng ta sẽ can đảm biết bao nhiêu.”

“Anh nói tào lao.”

“Nhưng khi chúng ta nhận thức rằng nơi đây là nhà tù, ngài tỉnh trưởng trên kia hiện hữu thực, thì cần gì phải can đảm trong một hai giờ.”

“Không ai nói rằng đây không phải là nhà tù.”

“Anh tin vậy sao? Tại sao? Tôi nghĩ là anh không nghe những gì các chính trị gia tuyên truyền cho anh.”

Hai chân ngài đau nhức. Ngài bị chuột rút dưới hai bàn chân và không làm sao nhúc nhích cho đỡ đau. Chưa tới nửa đêm: còn cả đêm dài trước mặt ngài.

“Khi mình nghĩ rằng, có một vị tử đạo đang ở giữa chúng ta…”

Vị linh mục không nhịn được cười.

“Tôi không tin là các thánh tử đạo giống như tôi…” ngài nói, và rồi, đột nhiên ngài trở lại nghiêm nghị khi nhớ lại câu nói của Maria… Không nên để người ta cười nhạo đạo Chúa.

“Các vị tử đạo,” ngài nói, “trước hết là những người thánh thiện. Không phải chỉ có chết vì đạo… thôi đâu. Tôi xin nhắc lại: tôi là một linh mục đang mắc tội trọng. Tôi đã phạm những tội mà tôi không dám nói với các ông bà, tôi chỉ có thể nói thầm trong toà giải tội.”

Họ lắng nghe ngài chăm chú như thể ngài đang giảng trong nhà thờ. Ngài tự hỏi, giờ này tên Juda đang ở đâu? Nhưng lúc này, ngài không có cái cảm giác tên phản bội đang ở kề bên. Ngài bị một tình cảm yêu thương đến phi lý dành cho những người trong nhà tù này. Một câu kinh thánh chợt đến trong trí ngài: “Thiên Chúa đã quá yêu thế gian…”

“Các con ơi,” ngài nói, “đừng tin rằng các thánh tử đạo cũng giống như cha đây. Cha là linh mục nghiện rượu. Hôm nay cha bị bắt chỉ vì người ta tìm thấy chai rượu mạnh trong túi cha mà thôi.”

Ngài cố gắng rút chân ra. Đã hết chuột rút, nhưng hai chân ngài hoàn toàn tê cứng, không cảm giác. Thôi, sao cũng được, mình cũng sẽ không cần chúng bao lâu nữa đâu.

Ông già càm ràm và tâm trí linh mục nghĩ về Brigitte. Nhận thức của nó về thế giới như một vết nám trên một tấm phim chụp; trong tim ngài, ngài mong muốn chữa lành cho nó, nhưng ngài biết trước bác sĩ sẽ nói: “Bệnh này không chữa được.”

Giọng người đàn bà vang lên:

“Thưa cha, uống một chút có sao đâu…?”

Ngài tự hỏi tại sao bà này bị giam ở đây - chắc vì người ta tìm thấy tượng thánh trong nhà bà. Khi nói, bà có cái cung giọng cứng cáp và chua chát của những người đạo đức. Ôi, những người đàn bà này đần độn biết mấy với những tượng thánh của họ. Tại sao họ không đốt đi? Đâu cần hình tượng…

“Không, tôi không chỉ nghiện rượu…”

Ngài thường lo lắng cho số phận những bà đạo đức: cũng như các chính trị gia, họ nuôi mình bằng ảo tưởng; ngài rất sợ cho họ. Họ thường chết đi trong trạng thái tự mãn, không còn bất cứ ý niệm nào của lòng bác ái. Có thể nói, trách nhiệm của ngài là giúp họ thoát khỏi những ý niệm duy cảm tính về điều thiện…

“Tôi có con,” ngài nói giọng cứng cỏi.

Người đàn bà nói trong bóng tối, nhưng ngài không nghe rõ lắm, đâu hình như là chuyện người trộm lành.

“Con ơi,” linh mục nói, “tên trộm lành nó hối tội, còn cha thì không.”

Ngài lại thấy hình ảnh con bé đi vào trong chòi, mặt trời chiếu sau lưng nó, hai mắt đen, tinh ranh và sành sỏi nhìn ngài.

“Cha không biết ăn năn là sao cả.” Ngài nói.

Và sự thật như vậy, ngài đã mất khả năng này. Ngài không thể tự thuyết phục mình là ngài chưa bao giờ muốn việc đó xảy ra, vì tội đó nay đối với ngài gần như mất đi tính trầm trọng và ngài yêu mến hậu quả của tội. Ngài cần có cha linh hướng để dẫn đưa ngài đi qua những đường lối bí hiểm sao cho ngài biết ghê tởm, day dứt và hối hận.

Người đàn bà im tiếng: ngài tự hỏi, rốt cuộc mình có cứng cỏi với bà ta quá không. Nếu bà cứ nhất quyết tin ngài là một vị tử đạo… Nhưng ngài từ bỏ ý nghĩ đó; ngài muốn sự thật. Ngài lết đi bốn năm mét và hỏi:

“Mấy giờ trời sáng?”

“Bốn hay năm giờ gì đó.” một người trả lời, “làm sao biết chắc được, thưa cha? Chúng con không có đồng hồ.”

“Ông ở đây lâu chưa?”

“Dạ ba tuần.”

“Họ nhốt cả ngày à?”

“Dạ không. Ban ngày họ bắt ra quét sân.”

“Vậy thì,” ngài nghĩ thầm, “họ sẽ biết mình là ai… có lẽ sớm hơn, vì một trong những người tù ở đây sẽ tố cáo mình, chắc chắn là như thế.” Một loạt ý nghĩ thoáng qua đầu ngài trong vài phút và sau cùng ngài tuyên bố cao giọng:

“Họ treo giá tôi đó. Năm trăm, sáu trăm pesô gì đó, tôi không rõ.”

Rồi ngài im lặng. Ngài không thể thúc giục họ tố cáo mình - như thế là xúi họ phạm tội - nhưng đồng thời, nếu có một tên chỉ điểm mật nào trong đám này, cũng không nên để tên đó trượt mất phần thưởng. Phạm tội xấu xa như thế, có thể nói là tội ác, và không nhận được phép giải tội ở đời này… linh mục nghĩ cách đơn giản: không công bằng.

“Không ai ở đây muốn cái giá máu đó,” một người nói.

Ngài lại rất xúc động. Ngài chỉ là một tên tội phạm giữa những tên tội phạm… ngài cảm thấy gần họ hơn bao giờ hết, khác với trước đây khi họ đến hôn lên tay ngài.

Bà đạo đức không bình tĩnh được, la lên:

“Phi lý quá, sao cha lại nói cho họ biết. Cha không biết ở đây có đủ hạng người xấu xa: trộm cướp, sát nhân…”

“Vậy thì bà vào đây làm gì,” một giọng hỏi.

“Vì trong nhà tôi có sách tốt,” bà tự mãn tuyên bố. Linh mục không biết nói gì để lung lay sự kiêu ngạo của bà.

“Ở đâu mà chẳng có, khắp mọi nơi.”

“Sách đạo à?”

“Không không,” ngài cười đáp, “ăn trộm, sát nhân… Con ơi. Nếu con có kinh nghiệm hơn một chút, con sẽ thấy còn nhiều điều tệ hại hơn nữa.”

Ông già hình như đã chìm vào giấc ngủ bất an: đầu ông tựa lên vai linh mục; Thật khó nhúc nhích trong cái nhà lao này, nhưng càng lâu, tứ chi ngài càng tê cứng. Bây giờ, ngài không nhúc nhích được nữa vì sợ làm ông già thức giấc. “Thế thì,” ngài nghĩ, “đồng nghiệp mình đã gây ra đau khổ cho ông già, mình chịu khó vì ông một chút âu cũng là lẽ công bằng”. Ngài tựa lưng vào bức tường ẩm ướt, hai chân tê cứng như chân người hủi. Muỗi vo ve không ngừng; ích gì dùng tay đập chúng; chúng đầy trong phòng. Ngoài ông già, một người khác ngủ trong góc đằng kia tiếng ngáy biểu lộ sự thoả mãn, như thể anh ta nghỉ trưa một chút sau khi đã ăn uống no say. Linh mục cố gắng tính thời gian; từ khi ngài gặp tên ăn mày trên quảng trường đến nay là bao lâu? Chắc quá nửa đêm chưa lâu: còn nhiều giờ trước mặt.

Dĩ nhiên, đây là kết thúc. Nhưng dù sao, phải sẵn sàng với mọi chuyện, sẵn sàng, ngay cả để trốn thoát. Nếu Chúa muốn cho ngài trốn thoát, Chúa có thể cất ngài đi ngay trước mặt đội hành quyết. Có thể tin tưởng vào lòng thương xót của Chúa. Nếu Chúa từ chối không cho ngài sự bình an, đó chắc chắn là vì ngài còn có ích để cứu một linh hồn, linh hồn ngài hay linh hồn ai đó. Nhưng bây giờ, ngài có thể làm được điều gì tốt đây? Người ta truy lùng ngài; ngài không dám vào bất cứ làng nào, sợ rằng sẽ có người phải mất mạng vì ngài- và người đó có thể cũng đang mang tội trọng và chưa có thời gian ăn năn. Làm sao biết được có bao nhiêu linh hồn sẽ hư mất vì sự cứng đầu của ngài, vì ngài kiêu ngạo, vì ngài từ chối không chịu thua cuộc? Bây giờ ngài không còn dâng thánh lễ được nữa, ngài không có rượu. Rượu của ngài đã dùng đến giọt cuối cùng để giải khát cho ông cảnh sát trưởng. Thật phức tạp. Ngài sợ chết; ngài còn sợ hơn khi trời sáng, nhưng ngài cũng mong ngày đến vì như thế mọi việc sẽ đơn giản hơn.

Người đàn bà đạo đức thì thầm với ngài (bà đã cố gắng nhích lại gần ngài). “Thưa cha, con muốn xưng tội. Cha đồng ý không?”

“Ở đây sao! Không thể được. Còn đâu là bí mật toà giải tội.”

“Nhưng lâu quá rồi…”

“Làm việc đền tội đi. Phải tin vào lòng Chúa nhân từ, con ạ.”

“Nhưng con vẫn cảm thấy đau khổ…”

“Nhưng bà ở đây.”

“Không sao. Sáng mai, em con sẽ kiếm được tiền phạt cho con.”

Trong bóng tối, phía tường đối diện, trò chơi dâm dật lại tái diễn; không thể nhầm được: những cử động, tiếng thở, tiếng rên. Bà đạo đức bực mình la lên:

“Sao họ không thôi đi, những người đáng ghét, đồ súc vật…”

“Trong tâm tưởng như thế này, con cũng không cần ăn năn tội.”

“Nhưng, xấu xa quá…”

“Đừng nghĩ như thế. Nguy hiểm lắm. Vì chúng ta sẽ thấy tội đẹp biết bao.”

“Đẹp a?” bà nói giọng ghê tởm. “Trong nhà tù này, trước mặt mọi người ở đây…”

“Rất đẹp. Các thánh nói đến cái đẹp của đau khổ. Nhưng chúng ta, tôi và bà, chúng ta không phải là thánh. Đối với chúng ta, đau khổ rất xấu xa; nó là mùi hôi hám, là đám người lúc nhúc, là đau khổ thể xác. Cái kia, trong góc kia, đối với họ là đẹp. Phải hiểu biết nhiều mới nhìn được sự việc như các thánh. Các thánh có cái nhìn rất tinh tế về cái đẹp, các ngài có thể nhìn với ánh mắt khinh bỉ sự ngu dốt và thô kệch của những người khốn khổ kia. Nhưng, chúng ta thì không có quyền.”

“Nhưng đó là tội trọng.”

“Làm sao biết được? Có thể. Nhưng với cha, con thấy đó, cha là linh mục xấu. Bằng kinh nghiêm, cha biết rằng Satan đã kéo theo biết bao nhiêu cái đẹp khi nó sa ngã. Không ai nói các thiên thần sa ngã là xấu. Ôi, họ cũng thanh thoát, đẹp, rạng ngời và…”

Tiếng rên lại cất lên biểu lộ sự khoái lạc không cưỡng lại được.

“Có thôi đi không,” người đàn bà nói, “thật đáng xấu hổ.”

Linh mục cảm thấy mấy ngón tay bấu vào đầu gối mình.

“Cách nào đó,” ngài nói, “chúng ta đều là tù nhân như nhau. Lúc này, cha thèm rượu, thèm hơn bất cứ cái gì, kể cả Chúa. Đó cũng là một tội.”

“Bây giờ tôi biết cha là linh mục xấu xa,” người đàn bà nói. “Trước đây tôi không muốn tin, nhưng bây giờ thì… Cha tỏ ra thiện cảm với mấy con heo đó. Nếu Đức Giám mục nghe cha nói…”

“Ôi, Giám mục của cha ở cách đây xa lắm.”

Ngài muốn nói đến ông cụ lúc này đang ở trên thủ đô, trong ngôi nhà bằng đá xấu xí, treo đầy tượng ảnh và ngày chủ nhật dâng lễ ở nhà thờ chính toà.

“Khi nào ra khỏi tù, tôi sẽ viết thư cho ngài…”

Ngài không nhịn được cười: bà kia quên rằng thời thế đã thay đổi.

“Nếu ngài nhận được thư bà,” ngài nói tiếp, “Đức cha sẽ ngạc nhiên vì thấy tôi còn sống.”

Nhưng rồi ngài lại lấy lại sự nghiêm trang. Khó động lòng xót thương với bà này còn hơn là với tên tạp chủng, tuần trước đã lẽo đẽo theo ngài như con chó săn. Trường hợp của người đàn bà nghiêm trọng hơn nhiều. Tên tạp chủng có những lý do để được tha thứ: nghèo đói, sợ hãi, nhục nhã.

“Cố gắng đừng ghét tôi,” ngài nói, “nên cầu nguyện cho tôi.”

“Cha chết đi càng sớm càng tốt.”

Trong bóng tối, ngài không thấy được bà, nhưng ngài còn ghi trong ký ức một số những khuôn mặt phù hợp với giọng nói này. Khi ta hình dung chi tiết khuôn mặt một người, ta bắt đầu thấy thương cảm họ… vì họ có cái gì đó giống hình ảnh Chúa… Nếu ta quan sát những nếp nhăn trên khoé mắt, hình dáng cái miệng, gốc tóc, ta không thể ghét được. Thù hận là trí tưởng tượng bị thất bại. Tự nhiên, ngài cảm thấy mình có trách nhiệm nặng nề với linh hồn bà này.

“Cha và cha Jôsê,” bà nói tiếp, “chính những người như các cha làm cho người ta đi lầm đường ngay thật.”

Sau cùng, bà ta cũng có những lý do để được tha thứ như tên tạp chủng. Ngài hình dung ra loại phòng khách mà bà ngồi cả ngày trên chiếc ghế đu giữa những tấm hình gia đình, không bao giờ gặp ai.

“Bà không kết hôn à?” Ngài hỏi bà.

“Tại sao cha muốn biết?”

“Và bà cũng không bao giờ có ơn gọi đi tu?”

“Họ không tin con,” bà cay đắng trả lời.

“Tội nghiệp bà,” ngài thầm nghĩ, “bà không có gì hết, không gì hết. Nếu không, mình có thể tìm lời để an ủi bà…” Tuyệt vọng, ngài dựa lưng vào tường, cẩn thận để không đánh thức ông già. Nhưng những lời thích hợp, ngài tìm không ra. Ngài đã mất hết tương quan với những hạng người như bà này. Ngày trước, ngài biết ngài phải nói gì; không một chút xót thương, ngài sẽ tìm ra một vài câu thật tầm thường. Bây giờ, ngài thấy vô ích: ngài là tội nhân và chỉ nói chuyện được với các tội nhân. Một lần nữa, ngài đã sai khi cố gắng xoá đi sự kiêu hãnh nơi người đàn bà. Để bà xem mình là một đấng tử đạo có khi lại hay hơn.

Ngài nhắm mắt và ngay lập tức ngài mơ. Người ta rượt đuổi ngài, ngài đứng trước cửa một ngôi nhà, gõ cửa, nhưng không ai mở; không ai trả lời… Có một từ khoá sẽ cứu được ngài, nhưng ngài quên mất. Trong tuyệt vọng, ngài thử may rủi một loạt từ: phô mai, trẻ em, California, Ngài, sữa, Veracruz. Chân ngài tê cứng, ngài quì xuống trên nền đá. Lúc đó, ngài biết tại sao ngài muốn vào nhà đó; ngài nhầm, không có ai rượt đuổi ngài cả. Con ngài đang hấp hối đang nằm bên cạnh ngài, mất rất nhiều máu, đây là nhà bác sĩ. Ngài đấm cửa thật mạnh và la: “Dù tôi có quên từ khoá, các người không có tim sao?” Con bé, trong cơn hấp hối, nhìn ngài với đôi mắt khôn ngoan của người lớn. “Ôi, đồ khốn,” nó nói, và ngài choàng dậy, khóc. Chắc là ngài chỉ thiếp đi có vài giây, vì người đàn bà đang tiếp tục kể lể về ơn gọi của mình đã bị các nữ tu từ chối như thế nào.

“Cái đó làm bà đau khổ phải không?” ngài nói. “Tốt hơn là nên chịu đựng đau khổ như thế này hơn là vào đó và được sung sướng”

Vừa lúc thốt ra câu đó, ngài nghĩ: “Mình ngu quá! Mình nói gì vậy? Tại sao mình không nói cho bà một câu mà sau này bà sẽ ghi nhớ?” Ngài không muốn cố gắng nữa: nơi này cũng như mọi nơi khác trên trái đất, người ta tranh thủ mọi cơ hội để hưởng thụ hay để kiêu hãnh mặc cho nơi đó có xấu xa, bất tiện đến đâu. Người ta không bao giờ có thời gian để làm một cái gì đó đáng giá, và họ luôn mơ đến nơi nào đó.

Ngài không ngủ lại được: ngài lại thương lượng với Chúa. Lần này, nếu ngài thoát được ra khỏi tù, ngài sẽ chạy trốn. Ngài sẽ đi lên hướng bắc và vượt qua biên giới. Thành công của kế hoạch này xem ra quá phi lý và nó chỉ giống như một chỉ dấu rằng ngài gây ra nhiều điều xấu (bởi cách sống của ngài) hơn là điều tốt (giải tội trong một vài lần hiếm hoi). Ông già cựa quậy trên vai ngài; đêm như bao trùm lấy họ. Bóng tối vẫn đặc quánh và không đâu có đồng hồ… dù để báo rằng đêm đang trôi qua. Cái giữ nhịp duy nhất trong đêm đen này là tiếng người đi tiểu vào xô.

Đột nhiên, ngài nhận ra một rồi hai khuôn mặt: ngài đã quên là sẽ có bình minh sắp lên, như thể ta quên là một ngày kia ta sẽ chết. Ý thức về thời gian trôi đi, về cuộc đời sẽ chấm dứt đột nhiên đến với ta vì một tiếng còi trong không khí, tiếng xe thắng ken két. Tất cả những giọng nói chung quanh ngài bây giờ đã có hình hài… ngài không mấy ngạc nhiên: toà giải tội đã dạy cho ngài biết hình dáng của một giọng nói, cái môi mềm, cằm nhọn và cái tinh anh giả tạo trong mắt người đối diện. Ngài thấy, cách ngài vài bước, bà mộ đạo ngủ chập chờn, hai môi mỏng hé mở làm lộ những cái răng lớn, dáng như những bia mộ; ông già và tên yêng hùng trong góc, với cô bồ quần áo xốc xếch, nằm gác lên chân nó. Bây giờ, ngày đang đến và linh mục là người duy nhất không ngủ, trừ một thằng bé da đỏ ngồi chồm hỗm gần cửa, khuôn mặt có vẻ vui thích như thể nó chưa bao giờ được ở với những người dễ chịu như thế. Bên kia sân, đã thấy rõ bức tường vôi trắng. Linh mục nghĩ rằng dù sao cũng phải chào vĩnh biệt mọi người: nhưng ngài không còn tâm trí để làm việc đó. Sự hư mất của ngài hình như không hiển nhiên bằng cái chết của ngài. “Một viên đạn,” ngài nghĩ, “sẽ bắn vào ngực, chắc trong nhóm hành quyết, cũng phải có người biết nhắm.” Sự sống sẽ lụi tàn trong một giây (theo cách người ta thường nói), nhưng cái đêm vừa qua đã cho ngài hiểu rằng thời gian tuỳ thuộc vào cái đồng hồ và sự thay đổi của ánh sáng. Thật ra, không ai biết được một giây đau đớn kéo dài bao nhiêu lâu. Đó có thể là thời gian trong luyện ngục hay là vĩnh cửu. Không biết tại sao, ngài sực nhớ đến một người ngày xưa ngài đã giải tội cho; người này sắp chết vì ung thư, cha mẹ anh ta đã muốn lấy vải che mặt anh ta lại vì mùi hôi từ trong nội tạng xông ra khủng khiếp. Đó không phải là một vị thánh. Trên đời này không có cái gì xấu như cái chết.

Ngoài sân, có tiếng gọi: “Montez!” Linh mục vẫn ngồi với hai chân tê cứng rồi nghĩ: “Bộ đồ này cũng không còn dùng được lâu.” Nó đã nhuốm phân trên nền nhà tù và từ bạn tù; ngài đã mua bộ này, không phải là không mạo hiểm, trong một cửa tiệm bên bờ sông, làm ra dáng như một anh nông dân có tham vọng muốn ngoi lên địa vị cao hơn. Rồi ngài nghĩ là ngài không còn cần dùng nó lâu nữa - ý nghĩ làm cho ngài giật mình giống như khi ta đóng cửa nhà lần cuối cùng. Giọng kia kiên nhẫn lập lại “Montez.”

Ngài chợt nhớ là lúc này mình mang tên đó. Mắt ngài thôi nhìn bộ đồ đã bạc màu và hướng ra cửa nhà giam. Viên trung sĩ đang mở khoá. “Dậy thôi, Montez!” Ngài để trượt đầu ông già qua bên tường và cố gắng đứng dậy, nhưng chân ngài không vực nổi thân ngài.

“Mày định ngủ luôn hay sao?”

Trung sĩ càu nhàu: cái gì đó làm ông không hài lòng. Ông ta không thân thiện như hồi tối. Ông đá một người đang ngủ.

“Này, mấy người trong kia, dậy thôi. Ra ngoài sân!”

Chỉ có thằng bé da đỏ mau mắn chấp hành, lon ton chạy ra vẻ vui sướng khôn tả. Trung sĩ lại cằn nhằn:

“Lũ heo! Chắc tụi bây muốn tao rửa mặt cho phải không. Thôi, Montez, đến đây.”

Hai chân tê cứng của ngài hồi sinh. Ngài bước ra cửa.

Lười biếng, khoảng sân thức dậy. Hàng người đứng chờ phiên rửa mặt nơi vòi nước duy nhất; một người bận áo len, quần đùi ngồi bệt trên nền đất, súng cầm tay.

“Ra sân rửa mặt đi,” trung sĩ la lên với đám tù nhân. Nhưng khi linh mục hượm bước tới, ông ta ngăn lại nói: “Không, Montez, mày không được ra.”

“Tôi không được ra sao?”

“Không, có việc khác cho mày.”

Linh mục im lặng chờ đợi trong khi những người khác nối đuôi nhau đi ra, đứng bên cửa, ngài nhìn xuống chân họ, ngài là sự cám dỗ của họ. Không ai nói gì; chân một người đàn bà đi qua, đôi dép mòn vẹt. Ngài run lên vì sự bất lực của mình. Không ngửng lên, ngài nói nhỏ: “Cầu nguyện cho tôi.”

“Mày nói gì đó, Montez.”

Ngài không tìm ra được một lời nói dối: hai năm trốn tránh đã làm cạn kiệt cái kho bịp bợm của ngài.

“Mày mới nói gì đó, Montez?”

Đôi dép người đàn bà dừng lại. Giọng bà cất lên:

“Ông ta xin tiền.” Bà ta còn nói tiếp không thương tiếc: “Ông ta phải biết nhìn người chứ. Tôi có gì mà cho.”

Và bà ta bước đi, chân kéo lệt sệt.

“Ngủ ngon không, Montez?” Trung sĩ hỏi đùa.

“Không ngon lắm.”

“Phải tính trước chớ,” trung sĩ nói. “Cái đó dạy cho mày biết thế nào là nghiện rượu.”

“Vâng, đúng thế.”

Ngài tự hỏi những thủ tục ban đầu này sẽ kéo dài bao lâu.

“Thôi, vì mày đã tiêu hết tiền để mua rượu, mày phải lao động một chút để trả tiền lưu trú đêm vừa rồi. Bưng xô ra khỏi phòng, đừng làm rơi vãi. Trong tù này đã hôi hám lắm rồi.”

“Tôi phải mang đi đâu?”

Trung sĩ chỉ cửa nhà xí, bên kia vòi nước. “Khi nào xong, đến trình diện tao,” rồi ông tiếp tục ra lệnh cho khắp sân.

Linh mục cúi xuống xách cái xô đầy và nặng; ngài phải đi còm lưng băng qua sân, mồ hôi chảy vào mắt ngài. Ngài chùi mồ hôi và khi đã nhìn được, ngài nhận ra trong hàng người đứng trước vòi nước, những khuôn mặt quen; mấy con tin. Có Miguel, ngài đã chứng kiến người ta bắt anh đi; ngài nhớ bà mẹ đã kêu khóc thế nào, sự mệt mỏi và cơn giận của viên trung uý trong tia nắng ban mai. Lúc đó, các con tin cũng thấy ngài: ngài đặt thùng xuống nhìn họ. Làm bộ không nhận ra họ thì cũng giống như một lời nài xin họ tiếp tục chịu đau khổ thay cho ngài. Miguel đã bị đánh: dưới mi mắt, có vết thương chung quanh ruồi đang vo ve như chung quanh cái cổ bị rách của con lừa. Rồi đoàn người tiến lên; mặt cúi xuống, các con tin đi qua nhường chỗ cho những khuôn mặt xa lạ. Trong im lặng, linh mục cầu nguyện: “Chúa ơi, xin gởi đến cho họ ai đó xứng đáng với đau khổ họ phải chịu.” Ngài cảm thấy thật bi hài khi họ phải hy sinh cho một linh mục nghiện rượu, cha của một đứa con hoang. Tên lính mặc quần đùi vẫn ngồi, lấy răng cắn mấy đầu ngón tay. Linh mục chợt cảm thấy như mình bị bỏ rơi vì các con tin hình như không nhận ra ngài.

Nhà xí chỉ là một cái hố trên gác hai tấm ván. Linh mục đổ cái xô rồi trở về khu nhà giam bên kia sân. Có sáu phòng, ngài tuần tự xách xô này đến xô kia. Có lúc, ngài phải dừng lại để ói. Rồi ngài lại tiếp tục. Rồi ngài cũng đến phòng cuối cùng: phòng này chỉ có một người, đang ngồi tựa lưng vào tường; ánh mặt trời chỉ giọi đến chân. Ruồi nhặng bay quanh đống đồ ói. Linh mục cúi xuống xách xô thì người kia cũng vừa nhìn lên và nhìn ngài: nó có hai cái răng nanh thòi ra…

Linh mục giật mình, làm đổ nước tiểu ra ngoài.

“Hượm đã,” tên tạp chủng nói giọng buồn buồn quen thuộc, “đừng làm việc đó ở đây. Tao không phải là tù,” nó hãnh diện giải thích, “tao là khách mời.”

Linh mục phác một cử chỉ như là xin lỗi - ngài sợ phải nói - và lùi lại.

“Đợi đã,” tên tạp chủng ra lệnh, “đến đây.”

Vị linh mục vẫn đứng yên gần cửa, gần như quay lưng lại.

“Đến đây,” tên tạp chủng lặp lại. “Ông là tù, phải không? Tôi, tôi là khách mời của tỉnh trưởng. Ông muốn tôi kêu cảnh sát không? Làm theo lệnh tôi: đến đây.”

Hình như cuối cùng Chúa cũng quyết định. Linh mục tiến tới đứng gần hai cái chân trần, tay xách xô; tên tạp chủng từ trong bóng tối nhìn ngài và hỏi giọng vừa ngang ngạnh vừa lo âu:

“Ông làm gì ở đây?”

“Tôi làm vệ sinh.”

“Ông biết tôi muốn nói gì?”

“Tôi bị bắt vì trên người có chai rượu,” linh mục trả lời.

“Tôi nhận ra ông rồi,” tên tạp chủng nói, “tôi không tin mắt mình, nhưng khi nghe giọng ông nói…”

“Tôi không tin…”

“Cái giọng linh mục đó mà,” nó nói vẻ ghê tởm. Nó như một con chó, tự nhiên xù lông trước một con chó khác giống.

Linh mục đặt xô xuống. Ngài nói để kéo dài thời gian, không hy vọng gì:

“Ông say rồi.”

“Chỉ có bia, bia, bia,” tên tạp chủng nói. “Không có gì khác. Họ đã hứa hẹn với tôi đủ điều, nhưng không tin họ được. Làm như tôi không biết ông cảnh sát trưởng thu dấu cả một kho rượu…!”

“Tôi phải đi đổ xô.”

“Nếu ông nhúc nhích, tôi la lên đó. Tôi có nhiều ý trong đầu,” tên tạp chủng rít lên.

Linh mục đứng im lặng, không thể làm gì khác. Tính mạng ngài tuỳ thuộc con người này: một màn kịch phi lý.

“Ông hãy hiểu cho tôi,” tên tạp chủng phân trần, “tôi ở đây sướng lắm… ăn ngon, bia bọt, bạn bè và mái nhà này không dột. Đừng nói với tôi sau này sẽ ra sao, tôi biết: họ sẽ đá tôi ra như đá một con chó, như con chó.” Giọng nó rít lên lanh lảnh vì tức giận. “Tại sao họ giam ông ở đây? Đó là cái tôi muốn biết. Có vẻ khó hiểu. Việc của tôi là phải tìm cho ra ông, phải không? Ai sẽ được tiền thưởng nếu họ đã bắt được ông rồi? Ông cò, tôi không lạ gì… hay ít nhất cũng là thằng trung sĩ chó đó.”

Nó suy nghĩ, vẻ đau khổ: “Thời này, không tin ai được.”

“Và cũng có tên áo đỏ,” linh mục nói thêm.

“Tên áo đỏ?”

“Vâng, người đã bắt tôi.”

“Mẹ Chúa ơi,” tên tạp chủng la lên. “Họ đều là người được ông tỉnh trưởng ưu ái.”

Hắn nhìn vị linh mục, đôi mắt cầu khẩn:

“Ông là người có học, ông khuyên tôi nên làm gì?”

“Đó là tội trọng.”

“Tôi không muốn nói đến chuyện đó. Vấn đề tiền thưởng kia. Ông thấy không, cho đến khi nào họ chưa biết gì, tôi còn được ở đây tuỳ thích. Một vài tuần nghỉ ngơi, có chết ai đâu. Và ông thì không trốn đi đâu xa được. Tốt hơn, tin tôi đi, nếu tôi tóm được ông ngoài nhà tù này, trong phố chẳng hạn hay bất cứ đâu đó… Như thế, sẽ không ai có quyền…”

Nó hung hăng nói thêm: “Khi người ta nghèo, phải tính toán chứ.”

“Tôi nghĩ rằng,” linh mục nói, “dù ở đây, ông cũng được chút tiền thưởng.”

“Chút tiền thưởng, tại sao không phải là tất cả?”

“Cái gì đây,” viên trung sĩ xuất hiện trên ngưỡng cửa và hỏi.

“Ông ta muốn,” linh mục trả lời chầm chậm, “ông ta bắt tôi lau dọn những gì ông ta đã ói ra. Tôi nói là ông không ra lệnh cho tôi làm…”

“Ồ không, anh ta là khách mời,” trung sĩ nói. “Phải đối xử tốt với anh ta. Hãy làm như anh ta yêu cầu.”

Tên tạp chủng nở nụ cười xun xoe. “Và một chai bia nữa thì sao, ông trung sĩ?”

“Đợi đã,” trung sĩ trả lời, “trước hết mày phải đi quanh thành phố một vòng.”

Linh mục xách xô lên và để cho họ ba hoa với nhau. Hình như có họng súng đang dí vào sau lưng ngài; ngài đi vào nhà xí và đổ cái xô. Sau đó, ngài ra ngoài sáng… Mũi súng bây giờ chĩa vào ngực ngài. Hai người đang nói chuyện trước cửa nhà tù. Linh mục đi qua sân: họ nhìn ngài đi tới. Trung sĩ nói với tên tạp chủng: “Nếu mày đau gan và mày không thấy đường thì mày dọn chỗ ói này đi. Mày không làm được sao…”

Sau lưng trung sĩ, tên tạp chủng nháy mắt với ngài, vẻ đồng lõa. Bây giờ cái sợ đã qua, ngài chỉ thấy hối tiếc. Đó là phán quyết của Chúa. Ngài phải tiếp tục sống, tiếp tục quyết định, có sáng kiến và lên kế hoạch.

Ngài phải mất thêm nửa giờ để chùi rửa nhà bằng cách dội những thùng nước lên nền nhà; ngài nhìn người đàn bà đạo đức bước ra đi - có lẽ là mãi mãi - dưới cái cửa vòm lớn nơi có em bà đang mang tiền phạt đến: cả hai chị em đều mang những chiếc khăn choàng đen giống như những món hàng bán hạ giá ngoài chợ, những đồ vật cứng và khô. Rồi ngài báo cáo với trung sĩ về công việc của mình. Ông trung sĩ đi khám xét lại các phòng, phê bình và yêu cầu ngài dội thêm nước, rồi bỗng nhiên, hình như mệt mỏi với cái công việc này, ông bảo linh mục đi tìm ông cò mà xin phép ra trại. Vị linh mục lại phải ngồi thêm một giờ nữa trên ghế dài trước cửa văn phòng ông cò để nhìn viên lính canh uể oải đi lui đi tới dưới trời nắng gắt.

Sau cùng, rồi người ta cũng cho ngài vào, không phải ông cảnh sát trưởng ngồi đó mà là ông trung uý. Linh mục đứng chờ, không xa bức hình của ngài ghim trên tường bao nhiêu. Ngài chỉ đưa một cái nhìn lo âu và ngắn ngủi lên miếng báo cũ, rồi nghĩ bụng: “Không giống mình chút nào”. Ngài đã là một con người không ai chịu được! … và dù sao, lúc đó ngài cũng sống trong tình trạng tương đối vô tội. Đó lại cũng là một bí ẩn khác: nhiều khi những tội nhẹ - nóng giận, nói dối, tự đắc, những lỡ lầm - còn làm cho ta xa rời ân sủng còn hơn là những tội trọng nặng nề nhất. Trong cái vô tội của ngài ngày đó, không có chỗ cho tình yêu! nhưng bây giờ, sự sa đoạ lại dạy cho ngài…

“Sao,” viên trung uý hỏi, “đã chùi nhà sạch chưa?” Rồi không rời mắt khỏi mấy tờ hồ sơ, ông nói thêm: “Nói với trung sĩ lấy cho tôi hai mươi bốn người, súng ống đầy đủ, trình diện sau hai phút.”

Ông nhìn vị linh mục và lơ đễnh nói: “Còn ông, ông đợi gì nữa?”

“Thưa ngài, dạ đợi được cho phép về ạ.”

“Tôi không phải là ngài. Phải tập làm quen gọi cho đúng. Ông đã bao giờ ở tù chưa?” Ông ta nói giọng nhát gừng.

“Chưa bao giờ.”

“Ông tên Montez phải không? Hình như bận này tôi gặp quá nhiều người mang tên này. Bà con với ông à?”

Ông ta lại nhìn ngài chăm chú, như thể ông nhớ đến cái gì đó.

“Một người bà con với tôi mới bị bắn ở Conception,” linh mục vội vàng giải thích.

“Đó không phải lỗi tại tôi.”

“Tôi chỉ muốn nói là chúng tôi giống nhau lắm. Ba chúng tôi là anh em song sinh. Sinh cách nhau một giờ. Tôi nghĩ là ngài…”

“Nhưng tôi nhớ hình như ông ta khác kia. Cao, gầy, vai hẹp…”

“Có thể đó chỉ là…”

“Ôi, dù sao tôi cũng chỉ thấy ông ta có một lần.”

Hình như ông trung uý cũng đang bị lương tâm dày vò. Khuôn mặt ông trở nên suy tư, hai bàn tay rám nắng của người da đỏ lúng túng lật từng tờ giấy.

“Ông đi đâu bây giờ?” trung uý hỏi.

“Có trời mới biết.”

“Các ông thật giống nhau! Các ông không bao giờ biết sự thật cả: Trời không biết gì hết.”

Một con vật gì đó, không lớn hơn một hạt bụi, chạy ngang trên tờ giấy đặt trước mặt ông: ông lấy tay dí lên và hỏi:

“Ông không có tiền nộp phạt, phải không?” Mắt ông ta nhìn theo một con vật bé xíu khác đang chạy trốn. Trong cái nóng này, sự sống lúc nhúc.

“Dạ không có.”

“Rồi ông sinh sống thế nào?”

“Làm việc gì đó…”

“Ông già rồi đó.”

Ông ta đột nhiên cho tay vào túi quần và rút ra đồng năm pesô.

“Cầm lấy,” ông nói, “đi đi. Đừng bao giờ gặp lại mặt tôi nữa nhé. Hiểu không?”

Quá bất ngờ, linh mục nắm chặt đồng tiền: giá một thánh lễ.

“Ông là người tốt.”


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 15 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Hiện đại] Hôn nhân giá ngàn vàng - Cẩm Tố Lưu Niên (101/104]

1 ... 174, 175, 176

2 • [Xuyên không] Phù Dao hoàng hậu - Thiên Hạ Quy Nguyên (Trọn Bộ 6 tập)

1 ... 115, 116, 117

3 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 244, 245, 246

[Cổ đại - Trùng sinh] Trọng sinh cao môn đích nữ - Tần Giản

1 ... 137, 138, 139

5 • [Cổ đại - Trùng sinh] Dược hương trùng sinh - Hi Hành

1 ... 90, 91, 92

6 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 116, 117, 118

7 • [Xuyên không - Cung đấu] Thế nào là hiền thê - Nguyệt Hạ Điệp Ảnh

1 ... 42, 43, 44

8 • [Hiện đại] Cưng chiều em nhất - Tĩnh Phi Tuyết

1 ... 29, 30, 31

9 • [Cổ đại] Ác phu cường sủng thê - Văn Hội

1 ... 57, 58, 59

10 • [Hiện đại] Hạnh phúc nhỏ của anh Đông Bôn Tây Cố (Trọn bộ 2 tập)

1 ... 22, 23, 24

11 • [Xuyên không] Thú phi thiên hạ Thần y đại tiểu thư - Ngư Tiểu Đồng

1 ... 81, 82, 83

12 • [Hiện đại] Nhìn người không thể nhìn bề ngoài - Nguyệt Hạ Điệp Ảnh

1 ... 36, 37, 38

13 • [Hiện đại] Mưu đồ làm loạn - Thanh Thụ A Phúc

1 ... 23, 24, 25

14 • [Xuyên không] Sủng thần của đế vương - Hoa Vũ Băng Lan

1 ... 46, 47, 48

15 • [Hiện đại] Theo đuổi nam thần - Thiên Phàm Quá Tẫn

1 ... 19, 20, 21

16 • [Cổ đại] Mỹ nhân như họa - Túc Mễ Xác

1 ... 33, 34, 35

17 • [Hiện đại] Một tòa thành đang chờ anh - Cửu Nguyệt Hi

1 ... 22, 23, 24

18 • [Hiện đại - Trùng sinh] Nữ phụ báo thù - Phong Tuyết Phiêu Nhứ

1 ... 27, 28, 29

19 • [Hiện đại] Cưới lâu sẽ hợp - Minh Khai Dạ Hợp

1 ... 17, 18, 19

20 • [Hiện đại] Tử Thời - Sói Xám Mọc Cánh

1 ... 35, 36, 37


Thành viên nổi bật 
The Wolf
The Wolf
Phèn Chua
Phèn Chua
Nminhngoc1012
Nminhngoc1012

Shop - Đấu giá: Preiya vừa đặt giá 480 điểm để mua Đôi chim non
TửNguyệtLiên: pr pr đây: viewtopic.php?t=410922&p=3383693#p3383693 Nghịch Mệnh Tầm Duyên đã có chương 30
Shop - Đấu giá: Đường Thất Công Tử vừa đặt giá 1105 điểm để mua Hamster vàng
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 1051 điểm để mua Hamster vàng
Shop - Đấu giá: White Silk-Hazye vừa đặt giá 279 điểm để mua Gà quay
LogOut Bomb: White Silk-Hazye -> +Ta Là Bảo Bối+
Lý do: Hai lô lâu ko gặp =))))
Shop - Đấu giá: Ngọc Hân vừa đặt giá 668 điểm để mua Thiên thần mây
ningxia111: xin chào xen sen
Shin-sama: à biết rồi :)) lâu quá nên quên cả cách dùng diễn đàn
Shin-sama: áo xanh lá là làm chức gì ấy nhờ :think:
Shin-sama: =]] giờ nói rồi đấy thôi
Mon Miêu: Shin haha, chuẩn nè, thấy nhau hoài nhưng do đông quá nên ta nhớ là có chào nhau thôi chứ chưa nói chuyện bao giờ ^^
Hạ Quân Hạc: Ri Ri :no3: Ủi
Shin-sama: cũng quen, hình như chưa nói chuyện bao giờ :3
Mon Miêu: À nhon Ủi, lâu rồi không gặp ha
Mon Miêu: Không biết Shin còn nhớ không chứ ta hông :)) Lặn lâu quá rồi, hồi ta mới vào diễn đàn là thấy Shin hoài nà haha
Hạ Quân Hạc: San mau vote cho bổn Ri
Shin-sama: chào áo xanh :))
Mon Miêu: Hi Shin
Hi San
^^
Mon Miêu: Ôi, lâu lắm rồi mới lên đúng lúc mọi người đang tám :))
Shin-sama: hê lô Sen Xen :))
Shin-sama: Không học chung nên không biết
xen sen: xin chào mọi người mình người mới mong mọi người giúp đỡ nhiều ạ.
Mika_san: Mà thím biết bé Tơ nhà tui đâu hem?
Mika_san: Đập cái gì và xây cái gì vậy thím ?
Mika_san: =))
Mika_san: Cảm thấy môn lung
Shin-sama: đợi t đập đi xây lại hết đã :))
Mika_san: Why?
Mika_san: Tui cũng muốn thi, mà chẳng biết mình có tài năng gì, chỉ rớt ở vòng gửi xe

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.