Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 17 bài ] 

Trên biển khơi, dưới đá thẳm - Susan Cooper

 
Có bài mới 02.03.2018, 16:38
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 34318
Được thanks: 5226 lần
Điểm: 9.58
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Giả tưởng] Trên biển khơi, dưới đá thẳm (The dark is rising #1) - Susan Cooper - Điểm: 10
CHƯƠNG 12

Phải mất một lúc lâu Barney mới đi hết con đường xuống dưới dốc qua ngôi nhà. Trên mũi đất chẳng thấy bóng dáng Ông Merry đâu cả. Trên đường, từng nhóm những người đi rải rác cản đường nó đến phát bực, và ba lần nó đã phải đứng ra bên lề để nhường đường khi một chiếc xe rầm rầm chạy lên con dốc hẹp. Barney nôn nóng luồn lách, len lỏi, Rufus bám theo sát gót.

Được nửa đường xuống đồi, nó nghe thấy tiếng nhạc vang lên từ bên kia bến cảng, và qua biển đầu người nó thoáng thấy đoàn diễu hành nhảy nhót đang tiến lên dọc theo kè đá. Luồn ngón tay vào vòng cổ của Rufus, nó len qua đám đông càng lúc càng chật ních để sang bên lề rồi bắt đầu phóng hết tốc lực xuống đồi, lao qua mọi khe hở trông thấy được như một con tôm trong ao.

Nhưng khi nó đến được góc bến cảng thì đám diễu hành đã ở ngay trước mặt, khiến nó chẳng nhìn thấy gì ngoài một bức tường dày đặc chân cẳng và lưng không sao qua nổi. Nó luồn qua phía sau họ, tiếng nhạc ầm ĩ náo loạn dội thẳng vào tai, cho đến khi cuối cùng nó thoát được ra khỏi đám đông và lên trên kè đá. Thở phào một cái, nó thả cái vòng cổ của Rufus ra và chạy theo con chó đến cái góc vắng nơi nó đã hẹn gặp Jane và Simon.

Chẳng thấy ai ở đó.

Barney cuống cuồng đưa mắt nhìn quanh. Nó chẳng thấy cái gì có thể cho nó một dấu vết dù mong manh nhất để biết anh chị mình đã đi về hướng nào. Rồi tự đấu lý với bản thân, nó quyết rằng cả hai nhất định đã phát hiện ra bà Palk. Bà ấy vốn rất hào hứng với cái ý tưởng lễ hội hóa trang và mấy trò nhảy múa này mà; nên chắc chắn thế nào bà ấy cũng ở trong đám diễu hành. Mà nhiệm vụ của Simon và Jane chính là phải đi tìm bà Palk, cũng như nhiệm vụ của nó là đi trinh sát mũi đất trên kia. Cả hai chắc đã đi đuổi theo bà ấy rồi, vì thừa biết thế nào nó chả đoán ra chúng đã đi đâu.

Hết sức hài lòng, Barney lên đường đi tìm lễ hội hóa trang. Nó bám theo đuôi đám đông lúc ấy vẫn đang dật dờ đi lên đường cái. Ngay cả ở dưới bến cảng kín đáo, gió vẫn đang thổi vào từ ngoài biển, nhưng thỉnh thoảng gió lại lặng giây lát, và Barney nghe được một đoạn nhạc như trêu ngươi thoảng qua những mái nhà, vọng đến từ đâu đó trong làng. “Pom... pom... di-pom-pom-pom...” Khắp xung quanh nó, mọi người đang thơ thẩn đi lại, vẩn vơ hỏi chuyện... “Họ đi đâu rồi nhỉ?” ... “Chúng ta có thể gặp họ ở bãi đất”... “Nhưng họ đã nhảy múa suốt mấy con phố đến hàng tiếng đồng hồ rồi còn gì” ... “Ôi, thôi đi.”

Không thèm đếm xỉa đến đám người, Barney rẽ xuống một lối ngoặt nhỏ bên đường, Rufus vẫn kiên nhẫn chạy theo sát gót. Nó thả bộ hết ngõ ngoằn ngoèo này sang ngõ ngoằn ngoèo khác, men theo những lối đi hẹp nơi mái ngói acđoa gần như chạm xuống đầu, qua những cánh cửa ra vào chạm trổ tinh xảo với nắm đấm cửa bằng đồng bắt ánh nắng vàng rực lên; xuyên qua những con hẻm rải sỏi nơi cửa ra vào không mở ra vỉa hè mà mở thẳng xuống đường. Mặc dù chỉ là một ngôi làng nhỏ, Trewissick chẳng khác nào một mê cung bất tận kỳ lạ gồm toàn những con đường bé xíu uốn lượn quanh co. Barney cứ luôn phải căng tai lên để theo tiếng nhạc đi qua mê cung ấy.

Nó bị rẽ nhầm một, hai lần và lạc mất tiếng nhạc. Nhưng rồi dần dần tiếng nhạc càng lúc càng to và cùng lúc nó bắt đầu nghe thấy tiếng người nói lao xao và tiếng chân bước lạo xạo. Nó búng ngón tay gọi Rufus, rồi co cẳng chạy, lượn vòng từ con hẻm nhỏ vắng lặng này sang con hẻm khác. Và rồi bỗng nhiên tiếng ồn vỡ òa bên tai nó như một tiếng sấm, nó đã ra khỏi vòng luẩn quẩn của những con hẻm và hòa mình vào đám đông dưới ánh nắng chan hòa trên con đường lớn nơi đám diễu hành đang vừa đi vừa nhảy múa. “Nào nào, thằng cu tóc hoe này,” ai đó gọi nó khiến những người xung quanh quay lại nhìn và cười ầm lên.

Barney không thể nhìn thấy Simon và Jane giữa đám vũ công, mà nếu có nhìn thấy thì cũng khó có thể bắt kịp anh chị nó trong đám đông này. Nó mê mẩn ngắm nhìn những cái đầu khổng lồ đang nhấp nhô xung quanh, những thân hình bên dưới kỳ quặc sặc sỡ trong áo chẽn và bít tất dài màu đỏ, vàng, xanh. Đâu đâu nó cũng bắt gặp những bộ quần áo hóa trang: một người đàn ông với dáng nhảy cứng ngắc như một cái cây, hệt một khối lùm lùm lật phật toàn lá xanh mướt; những tên cướp biển, những chàng thủy thủ, một gã kỵ binh nhẹ mặc bộ quần áo đỏ rực và đội một cái mũ cao ngất ngưởng. Những cô nô lệ, những anh hề, một người đàn ông trong chiếc áo choàng lụa dài màu xanh nước biển, trang điểm trông hệt như một diễn viên kịch câm; một cô gái mặc đồ đen từ đầu đến chân, uốn éo như một con mèo, với một cái đầu mèo có ria mép. Những cậu bé mặc bộ quần áo xanh lá cây như Robin Hood, những cô bé có mái tóc dài vàng hoe như Alice; những tên cướp đường, những vũ công nhảy điệu morris[20], những người bán hoa, những tên lùn giữ của.

Chẳng giống cái gì nó từng nhìn thấy trước đây. Các vũ công uốn lượn, ra ra vào vào đám đông bên lề đường, nơi nó đang đứng, và rồi bất thình lình, trước khi Barney kịp nhận ra chuyện gì, thì họ đã nhảy múa vòng tròn xung quanh nó.

Nó cảm thấy có ai đó chộp lấy tay mình và bị lôi vào giữa đám đông đang nhảy múa, giữa đám ruy-băng, lông vũ và những cái đầu trôi bồng bềnh khiến cho chân nó buộc phải bước theo những người kia.

Vừa hổn hển cười, nó vừa liếc nhìn lên. Bàn tay đi găng đen đang giữ một tay nó chính là của hình người cải trang thành con mèo, đang uốn éo trong bộ quần áo đen bó sát người với một cái đuôi đen dài ngoe nguẩy phía sau, và hàng ria mép cứng như rễ tre đâm thẳng từ cái mặt nạ trùm xuống đến má. Barney nhìn thấy hai con mắt ánh lên qua kẽ hở trên mặt nạ và hàm răng sáng lóe. Trong một thoáng, giữa đám đông những hình người vẫn đang nhảy múa xung quanh, nó nhìn thấy ngay sát mình một người đội một cái mũ gắn đầy những chiếc lông vũ to tướng của dân da đỏ Anh-điêng, với khuôn mặt giống bà Palk đến giật mình. Nhưng khi nó vừa mở miệng định gọi thì con mèo đen túm lấy cả hai tay nó và xoay nó quay tít đến chóng mặt xuyên qua đám đông đặc sít người. Mọi người cúi xuống nhìn và mỉm cười mỗi khi nó xoay qua, còn Barney, quay cuồng vì tiếng nhạc và tốc độ chóng mặt và cẳng tay cẳng chân đen sì xoay tít của con mèo ngay trước mắt, cứ vừa cười vừa lăng tròn theo vòng xoay của con mèo...

... Cho đến khi nó đột ngột dừng lại vì va vào mớ áo thụng dài của một hình người ăn mặc như một viên tù trưởng Arập, cũng đang nhảy múa cùng cả đám đông khiến cho mớ áo thụng kia xòe rộng và bay tung lên phần phật trong gió. Liếc mắt nhìn lên qua cái thế giới đang quay cuồng vì bản thân nó cũng chao đảo, Barney chỉ kịp nhận ra một dáng người mảnh khảnh và một bộ mặt gầy hốc hác, tối thui trước khi con mèo giơ tay túm lấy nó và đẩy thẳng vào trong nếp áo thụng trắng tinh vừa mới xòe rộng của người kia.

Chiếc áo thụng cuốn quanh nó trong khi nó còn đang loạng choạng, và vẫn cười dở, khiến xung quanh đột nhiên tối sầm lại. Rồi sau đó, nhanh đến nỗi nó không kịp cảm thấy có gì đó bất ổn, cánh tay của gã đàn ông vòng qua nó như một vòng sắt và nhấc bổng nó lên khỏi mặt đất, tay kia gã bịt mồm nó bằng những nếp gấp vải áo, rồi Barney cảm thấy nó đang bị mang đi.

Chưa kịp chống cự lại, nó đã bị cuốn đi một lúc qua đám đông và tiếng nhạc ầm ĩ. Cố đẩy mạnh vào ngực gã đàn ông nhưng chẳng ăn thua, nó thấy gã chạy thêm vài bước nữa và tiếng người nói cùng tiếng nhạc bỗng nhiên nghe nhỏ hẳn. Nó điên cuồng vùng vẫy và cảm thấy đầu ngón chân mình đá vào cẳng chân gã đàn ông. Nhưng nó lại đi xăng đan, nên không thể đá mạnh được: gã đàn ông chỉ bật ra một tiếng chửi thề nghèn nghẹt mà không dừng lại, làm nó xóc nảy người lên thêm vài bước nữa cho đến khi Barney thấy cả người bị quăng cao lên không trung rồi rơi bịch xuống một cái ghế độn bông và nghe thấy tiếng lò xo rung lên bần bật.

Cái áo thụng rơi khỏi miệng nó. Barney la lên, và cứ thế la ầm ĩ cho đến khi một bàn tay lại bịt chặt vào mặt nó.

Một giọng nữ nói vội vàng: “Nhanh lên! Mang nó đi ngay!”

Một giọng khác nghe nhẹ như giọng con gái, nhưng là giọng nam, buông cộc lốc: “Lên đi. Mày phải lái xe đấy.”

Barney bỗng nằm ngay đơ người, tất cả các giác quan của nó căng ra cảnh giác. Giọng nói thứ hai nghe có vẻ gì đó quen quen. Sống lưng nó lạnh toát. Rồi cái tay đang bịt miệng nó lỏng ra một chút qua lớp vải bông, giọng nói khi nãy lại vang lên nhẹ nhàng, ngay sát tai nó, “Đừng kêu la nữa, Barnabas, và đừng có động đậy, như thế thì sẽ không có ai bị đau cả.”

Và đột nhiên Barney nhận ra kẻ đeo mặt nạ đen giả trang thành con mèo và gã đàn ông đen sì trong tấm áo thụng của tù trưởng. Nó cảm thấy cái ghế khẽ rung rung khi động cơ ôtô khạc lên một tiếng rồi chuyển thành tiếng rít the thé. Rồi âm thanh ấy trầm xuống, nó cảm thấy người lắc lư và biết rằng người ta đang lái xe đưa nó đi.

***

Rufus lo lắng nhảy lùi lại tránh những bàn chân nhảy nhót vừa cuốn Barney vào trong đám đông. Nó ngập ngừng đưa mũi ra đánh hơi, một lần, hai lần nhưng rồi lại có một gót chân xuất hiện vô tình đá phải nó, khiến nó phải tránh đi.

Khi đã ra xa đủ độ an toàn, nó sủa váng lên, rất to. Nhưng tiếng sủa của nó ngay lập tức chìm nghỉm trong tiếng nhạc oang oang và đủ thứ tiếng ồn ào, ầm ĩ của đám đông. Hốt hoảng vì những âm thanh náo loạn ấy đột ngột ngập tràn thế giới nhỏ bé của mình, nó cụp tai bẹt sát vào đầu; cái đuôi cũng cụp xuống giữa hai chân, và trưng ra phần tròng trắng con mắt.

Nó lùi xa hơn nữa khỏi thứ âm thanh ầm ĩ đó, rồi khấp khởi ở góc phố đợi Barney quay lại. Nhưng chẳng thấy bóng dáng cậu bé đâu. Rufus bồn chồn cựa quậy.

Thế rồi khi ban nhạc tiến thẳng về phía đối diện, vừa đi vừa thổi, gõ, đập cách đó chỉ vài yard, làm rung chuyển từng ngóc ngách trên phố bằng những âm thanh hết bổng lại trầm nghe thật khủng khiếp đối với đôi tai một con chó như nó, thì bỗng nhiên Rufus không chịu nổi nữa.

Nó từ bỏ mọi hy vọng về Barney và quay lưng lại đám rước vũ hội hóa trang ồn ào, lững thững đi xuống con hẻm, với chỏm đuôi quét lệt quệt trên đường, còn thì mũi hạ sát xuống đất để đánh hơi đường về nhà.

***

Simon và Jane gặp lại nhau ở góc bến cảng, giờ đã yên tĩnh trở lại dưới ánh nắng chiều vàng óng.

“Em đã quay lại chỗ bọn mình hẹn gặp rồi. Không thấy nó.”

“Anh đã tìm rất kỹ trong nhà rồi. Nó cũng không có ở đó.”

“Anh có nghĩ là nó đi theo bà Palk không?”

“Anh đã bảo bao nhiêu lần rồi, người mà em nhìn thấy không thể là bà Palk được.”

“Tại sao lại không chứ. Giá lúc ấy anh không giữ em lại thì em đã tóm được bà ấy rồi.”

“Làm sao mà gặp được Barney ở đây nếu mày...” Simon bắt đầu lên giọng.

“Thôi được rồi, được rồi. Nhưng mà mình có gặp được nó đâu.”

“Nếu thế thì nó chưa từ mũi đất đi xuống rồi.”

Mặt Jane bỗng biến sắc. “Ôi Chúa ơi. Hay là nó đã gặp rắc rối gì ở trên đó rồi.”

“Không, không đâu, đừng có vội lo khi chưa cần thiết. Rất có thể là cuối cùng thì nó đã tìm thấy Ông Merry và hai người vẫn còn ở trên đó.”

“Thế thì chúng mình đi thôi, lên xem thế nào.”

***

Chiếc xe lắc lư rồi gầm gừ như một sinh vật sống. Barney bị cuốn gói nằm như một cái bọc trong chiếc áo thụng mà gã Withers đã cởi tuột khỏi vai khi gã thả nó xuống xe. Nó chắc rằng đó chính là một tấm ga trải giường; mùi hương phả vào mũi nó giống hệt mùi ga gối vừa được giặt sạch ở nhà. Nhưng nó không phải đang ở nhà. Nó lầm bầm giận dữ trong miệng, và đá vào thành xe.

“Nào, nào,” gã Withers nói. Gã nắm lấy chân Barney, ném trở lại ghế ngồi chẳng lấy gì làm nhẹ nhàng cho lắm, cùng lúc đó kéo tấm ga ra khỏi mặt nó. “Chú nghĩ bây giờ chúng ta có thể cho cháu ra khỏi tấm ga được rồi đấy, Barnabas ạ.”

Barney chớp chớp mắt, bị lóa vì ánh sáng đột ngột. Trước khi nó có thể mở mắt ra và nhìn rõ con đường thì chiếc xe cua rít qua một chỗ trống giữa một bức tường cao, rồi giảm tốc độ, bánh xe nghiến lạo xạo trên lớp sỏi, dọc theo một lối đi trồng cây hai bên.

“Gần đến nơi rồi,” gã Withers điềm tĩnh nói.

Barney quay đầu nhìn gã trừng trừng. Nó vẫn hầu như chưa thể nhận ra khuôn mặt gã Withers dưới lớp phấn nâu sạm đã biến gã thành người Arập; đôi mắt và hàm răng trắng nhởn ánh lên giả tạo, và dưới lớp hóa trang, gã đàn ông lộ vẻ lạnh nhạt và tự mãn, gần như là kiêu ngạo.

“Chúng ta đang ở đâu? Ông đưa tôi đi đâu đây?”

“Cháu không biết sao? À quên, không biết” - cái đầu đen gật gù ra vẻ hiểu biết - “tất nhiên là cháu không biết rồi. Cháu sẽ biết ngay bây giờ thôi, Barnabas ạ.”

“Ông muốn gì?” Barney hỏi.

“Muốn gì ư? Chẳng muốn gì cả, cậu bé yêu quý ạ. Chúng ta chỉ muốn đưa cháu đi một vòng, để gặp một người bạn của chúng ta thôi. Chú nghĩ là hai người sẽ rất hợp nhau đấy.”

Qua hàng cây, Barney nhìn thấy họ đang đi đến gần một ngôi nhà. Nó nhìn xuống tấm ga vẫn đang cuốn quanh người và vặn vẹo để thò hai tay ra. Gã Withers quay phắt lại.

“Bỏ cái thứ ngu ngốc này ra khỏi người tôi ngay. Thật là ngớ ngẩn.”

“Chỉ là một trò đùa nhỏ thôi mà,” gã Withers nói. “Khiếu hài hước của cháu đâu mất rồi hả Barnabas? Chú tưởng là cháu thấy dễ chịu đấy chứ.”

Gã vươn người sang và bắt đầu kéo tấm ga đi trong khi chiếc xe dừng lại trước cánh cửa đã tróc sơn của một ngôi nhà lớn, trông như bị bỏ hoang. “Cháu sẽ phải nhảy ra thôi, nếu cháu có thể làm được. Chú không thể tháo hẳn nó ra ở trong này được.” Gã nói thoải mái, nhẹ nhàng, không có vẻ gì dọa nạt, và khi Barney nghi ngờ ngước lên nhìn gã, hàm răng trắng lại sáng ánh lên thành một nụ cười.

Cô gái trườn ra khỏi ghế lái xe, di chuyển như một con rắn trong bộ đồ đen bó sát người, và quay lại mở cửa xe phía Barney. Cô ta giúp nó ra, xoay tròn người nó để kéo tấm ga đi. Barney lảo đảo, chân tay cứng đờ vì bị chuột rút đến nỗi nó gần như không đi nổi.

Polly Withers bật cười. Đầu cô ta nom vẫn rất kỳ dị trong chiếc mặt nạ mèo đen ôm sát, che hết khuôn mặt chỉ trừ mắt và miệng. “Cô xin lỗi Barney nhé,” cô ta nói vẻ ân cần. “Cô chú đã hơi quá tay một chút, phải không? Cô thấy cháu nhảy rất cừ đấy. Lúc dừng lại cô còn thấy hơi tiếc nữa. Nhưng thôi, không sao, giờ chúng ta đi vào uống trà, hy vọng là cháu không thấy giờ còn hơi sớm.”

“Tôi còn chưa ăn trưa,” Barney chợt nhớ ra, nói chẳng ăn nhập vào đâu.

“Ờ, nếu thế thì chúng ta phải kiếm cái gì đó cho cháu ăn thôi. Trời ạ, chưa được ăn trưa à? Và là do lỗi của cô chú cả. Norman, anh rung chuông gọi đi, chúng ta phải cho chú bé tội nghiệp này ăn đi chứ.”

Gã Withers tặc lưỡi ái ngại cho nó rồi đi qua mũi xe đến ấn vào chiếc chuông bên cạnh cánh cửa lớn. Gã ta vẫn mặc toàn đồ trắng, một bộ quần áo bằng vải flanen đơn giản, nhưng không còn cái áo thụng Arập nữa. Hai cánh tay để trần của gã cũng bôi lớp phấn nâu sẫm giống màu trên mặt.

Barney, chầm chậm theo sau gã với cánh tay cô gái đặt nhẹ trên vai, hoang mang không hiểu nổi sự thân tình này là như thế nào. Nó bắt đầu phân vân không biết có phải mình đã hiểu nhầm mọi việc hay không. Có lẽ tất cả những việc này suy cho cùng chỉ là một trò đùa, một phần trong không khí vui vẻ của lễ hội hóa trang mà thôi. Có thể anh em nhà Withers thực ra cũng chỉ là những người hoàn toàn bình thường... Thực ra họ cũng chưa bao giờ làm điều gì chứng tỏ rõ ràng rằng họ là người của phe địch... có lẽ là nó, Simon và Jane đã hiểu lầm...

Lúc sau nó nghe thấy tiếng bước chân vang lên nhè nhẹ trong nhà, dần dần nghe rõ hơn khi nó lại gần, rồi cánh cửa mở ra. Đầu tiên, nó không nhìn ra ai trong cái quần jeans đen bó chặt và áo sơ mi xanh ấy. Rồi nó nhận ra đó là thằng Bill Hoover, thằng đã đuổi theo Simon để cướp tấm bản đồ. Trong phút chốc, nó nhớ lại hình ảnh trên Mũi Kemare hôm đó, vẻ mặt hau háu của cô Withers khi cô ta nhìn vào tấm bản đồ, và nó hiểu ra rằng chúng đã không nhầm.

Cái mặt sưng sỉa, ảm đạm của Bill rạng rỡ hẳn lên khi nó nhìn thấy Barney, và nó nhe răng cười với cô Withers.

“Cô tóm được ló rồi à?” nó hỏi.

Gã Withers ngắt lời nhanh như chớp, bước tới và gần như đẩy thằng Bill bật ra. “Bill đấy à,” gã nói với cái giọng mượt như nhung, “cô chú đã đưa được anh bạn trẻ này đến đây thăm chúng ta. Chú không nghĩ là có ai phiền lòng đâu. Tất cả chúng ta đều muốn có cái gì đó để ăn, cháu chạy đi xem liệu có kiếm được cái gì thật nhanh không?”

“Phiền lòng á?” thằng Bill hỏi lại. “Tôi nghĩ là không.” Nó lại nhìn Barney, vẫn kiểu cười nhăn nhở và hau háu ấy, rồi quay đi và biến mất ở phía cuối hành lang dài hun hút, thò đầu vào một cánh cửa ngỏ gọi ai đó lúc nó đi qua.

“Barney, vào đi cháu,” cô gái nói. Cô ta nhẹ nhàng đẩy nó vào trong và đóng cửa lại. Barney nhìn lối đi dài, trống trải xung quanh, nhìn những vết ẩm mốc trên giấy dán tường phai màu; và nó cảm thấy mình thật là bé nhỏ và cô độc. Nó nghe thấy một giọng trầm trầm vang lên đâu đó trong ngôi nhà: “Withers đấy à?”

Gã Withers nãy giờ vẫn đứng nhìn Barney dò xét với một nụ cười nửa miệng, nghe thấy thế giật mình và đưa tay lên cổ áo nửa như vô thức. “Đến đây,” gã đáp cộc lốc. Gã nắm lấy tay Barney và dẫn nó đi dọc theo hành lang, tiếng bước chân cả hai vang vọng trên mặt sàn gỗ không trải thảm, đến cửa một căn phòng ở tít phía cuối hành lang.

Đó là một căn phòng rộng, tối om so với cái nắng chói chang bên ngoài. Trên một bức tường trổ rất nhiều cửa sổ cao tít, chạy thẳng từ sàn nhà lên đến trần, với đám rèm nhung dài nhơ nhuốc đang kéo ra một nửa, và luồng ánh sáng len qua giữa kẽ rèm rớt xuống một cái bàn viết vuông to đùng đặt chính giữa phòng, trên đó chất đầy giấy tờ và sách báo. Trong phòng hình như không có người. Thế rồi Barney giật thót mình khi nhìn thấy một người đàn ông cao lớn di chuyển trong khoảng tối nơi ngoài vùng ánh sáng mặt trời.

“A,” cái giọng trầm trầm cất lên, “Ta thấy là anh đã mang được chú chàng bé nhất về đây. Thằng cu tóc hoe. Ta thích thú được làm quen với cậu ta lắm đây. Rất hân hạnh được gặp cậu, Barnabas.”

Ông ta chìa tay ra và Barney sửng sốt nắm lấy. Giọng nói nghe không hề khó chịu chút nào, còn có vẻ khá tử tế là đằng khác.

“Rất hân hạnh,” nó nói yếu ớt.

Nó ngước nhìn lên gã đàn ông cao lớn, nhưng trong cảnh tranh tối tranh sáng, nó chỉ lờ mờ thấy một đôi mắt sâu hoắm dưới hàng lông mày rậm tối và một bộ mặt râu ria nhẵn nhụi. Cái gấu mịn mượt của chiếc áo lụa lướt qua tay nó.

“Tôi đang chuẩn bị uống một ly nước mát đây, Barnabas ạ,” gã đàn ông nói với vẻ lịch thiệp như thể đang nói chuyện với ai đó hơn tuổi gã vậy. “Cậu sẽ uống cùng tôi chứ?” Gã phẩy tay về phía bóng tối và Barney nhìn thấy ánh bạc lấp lánh trên một chiếc bàn thấp phủ vải trắng đặt bên bàn viết.

“Cậu bé vẫn chưa ăn gì, thưa ngài,” giọng cô Withers cất lên từ phía sau Barney, khẽ khàng và cung kính đến ngạc nhiên. “Chúng con nghĩ có thể Bill sẽ kiếm được thứ gì đó...” Giọng cô ta lặng đi. Gã đàn ông nhìn lên phía cô ta, và lầu bầu.

“Được rồi, được rồi. Polly, vì Chúa cô hãy đi thay đồ bình thường đi. Trông cô chẳng ra làm sao cả. Bây giờ không cần phải mặc mấy thứ đồ kỳ quái đó nữa, giờ cô không còn ở lễ hội hóa trang nữa rồi.” Gã nói hết sức gay gắt, và Barney kinh ngạc thấy cô Withers trả lời gã thật ngoan ngoãn.

“Vâng, thưa ngài, tất nhiên rồi ạ...” Cô ta lủi ra ngoài lối đi, nhẹ nhàng và hoang dại trong bộ đồ da mèo đen.

“Vào đi cậu bé, và ngồi xuống đây.” Gã lại đổi giọng nhẹ nhàng, và Barney chậm chạp bước vào phòng, ngồi xuống một chiếc ghế dựa. Chiếc ghế kêu lên răng rắc những tiếng giòn tan của đồ làm bằng cây liễu gai, và đột nhiên nó cảm thấy như trước kia nó đã từng đến đây rồi. Nó liếc nhìn quanh, ngắm những bức tường tối tăm và những giá sách cao chất ngất chạm đến trần, trong khi mắt quen dần với ánh sáng lờ mờ trong phòng. Có một điều gì đó... nhưng nó không thể định hình ra được. Có lẽ là căn phòng làm nó hơi nhớ đến Ngôi nhà Xám.

Dường như đọc được suy nghĩ của nó, gã đàn ông nói: “Tôi nghe nói cậu đang đi nghỉ ở Ngôi nhà Xám, phía trên bến cảng.”

Barney đáp lại, ngạc nhiên vì sự can đảm của chính mình, “Ngôi nhà ấy hình như hay ho lắm thì phải. Dường như ai cũng chỉ nói với chúng tôi về nó.”

Gã đàn ông cúi người về phía trước, tay đặt lên mép bàn. “Ồ, thật sao?” Cái giọng trầm của gã hơi cao lên một chút vì háo hức. “Còn ai khác cũng hỏi cậu về nó chăng?”

“Ôi, chẳng có ai đáng nhắc đến cả,” Barney vội vàng trả lời. “Dù sao, đó cũng là một ngôi nhà dễ chịu. Ông sống ở đây sao, ông...?”

“Tên tôi là Hastings,” gã đàn ông to lớn trả lời, và khi nghe thấy cái tên, Barney một lần nữa thấy lóe lên cảm giác gì đó quen quen, nhưng rồi lại biến mất ngay lập tức. “Đúng thế, tôi ở đây. Đây là nhà của tôi. Cậu có thích không, Barnabas?”

“Thực ra, trông nó khá giống Ngôi nhà Xám,” Barney nói.

Gã đàn ông lại quay về phía nó. “Thật à? Tại sao cậu lại nói vậy?”

“À, ờ...” Barney mở đầu; nhưng lúc đó cánh cửa lại mở ra và thằng Bill đi vào mang theo một cái khay to tướng trên để một bình sữa lớn, mấy chai bia, vài cái ly và một đĩa đựng đầy bánh sandwich. Nó đi ngang qua căn phòng đến nơi gã đàn ông to lớn đang đứng rồi đặt cái khay xuống bàn; vẻ sợ sệt, chỉ đến vừa đủ tầm, cứ như là nó hãi quá không dám đến gần hơn vậy. “Cô Withers lóikiếm cái gì đó để ăn, thưa ngài,” nó nói khi đã đi ra đến cửa, giọng vẫn thô lỗ như thế. Gã đàn ông chẳng nói chẳng rằng chỉ xua nó đi.

Mấy cái bánh sandwich làm Barney sực nhớ ra từ bữa sáng đến giờ đã kha khá thời gian trôi qua, và nó cảm thấy phấn chấn hơn. Nó ngồi dựa lưng vào cái ghế cứ kêu cọt kẹt mãi không thôi rồi liếc nhìn xung quanh. Mọi chuyện lẽ ra đã có thể tệ hơn thế này nhiều, nó nghĩ thầm. Gã Hastings bí ẩn dường như không có ý muốn làm hại nó, và nó bắt đầu thưởng thức cảnh tượng đám kẻ địch khúm núm, sợ sệt trước gã đàn ông kia. Nó lấy một cái bánh sandwich trên chiếc đĩa đang được chìa ra cho nó rồi cắn một miếng ngon lành. Bánh mì mới thật mềm, phết đẫm bơ và ở giữa là một miếng thịt gì đó ướp thật là ngon. Nó bắt đầu cảm thấy càng dễ chịu hơn.

Gã Withers lặng lẽ băng qua phòng đến gần bàn để rót cho nó một ly sữa rồi mở mấy chai bia. Gã đàn ông cao lớn có tên là Hastings ngồi xuống chiếc ghế cạnh bàn và khe khẽ đung đưa qua lại, tư lự nhìn Barney đăm đăm từ dưới cặp lông mày rậm rạp. Gã dịu dàng nói một cách bình thản như đang chuyện gẫu, “Nó được chôn dưới Ngôi nhà Xám à, Barnabas, hay dưới một trong những cột đá?”

Đang uống dở một ngụm sữa, Barney bị bất ngờ sặc lên. Nó sờ soạng lần tìm cái bàn và đặt cộp ly sữa xuống, rồi nhoài người ra trước, ho sặc sụa và phun phì phì. Gã Withers bước rất nhẹ nhàng đến bên vỗ vỗ vào lưng nó. “Trời ơi, Barnabas,” gã nựng nịu, “cháu bị sặc à?”

Đang cố vắt óc nghĩ nên Barney giả vờ tiếp tục ho mãi một lúc lâu hơn cần thiết. Khi ngẩng lên, theo bản năng nó liền giả bộ ngây thơ. “Cháu xin lỗi, do cháu nghẹt thở,” nó nói. “Ông vừa nói gì phải không ạ?”

“Tôi nghĩ là cậu nghe rất rõ tôi vừa nói gì,” gã Hastings nói. Gã lại đứng lên, cái dáng cao lớn lừng lững nuốt chửng Barney trong chiếc ghế thấp, rồi bước về phía cửa sổ, ly bia vẫn cầm trong tay. Lần đầu tiên ánh sáng chiếu rõ khuôn mặt gã, và khi nhìn theo, Barney cảm thấy một thoáng rùng mình bất ổn trước cặp lông mày luôn luôn cau lại và những nếp nhăn hiểm độc chạy dài xuống khóe miệng. Đó là một khuôn mặt kiên quyết, xa xăm, có nét gì đó giống như Ông Merry của nó, nhưng vẻ lạnh lùng ghê sợ ẩn giấu đằng sau thì lại hoàn toàn không giống Ông Merry một chút nào. Barney thấy mình tha thiết thầm ước giá như có ai đó nói cho Ông Merry biết được nó đang ở đâu.

Gã Hastings giơ cao ly bia về phía cửa sổ. Ánh mặt trời chiếu xuyên qua cái ly trong vắt và sóng sánh vàng. “Một ly bia hoàn toàn tầm thường,” gã nói vu vơ, “cho đến khi người ta đưa nó ra ánh sáng. Thế là nó trở nên trong suốt, người ta có thể nhìn xuyên qua được...” Gã quay ngoắt về phía Barney và lại in một cái bóng đen sì đầy hăm dọa trên khung cửa sổ. “... Trong suốt như tất cả những việc mà lũ nhãi ranh bọn mi đã làm, suốt mấy ngày vừa qua. Mi có biết là chúng ta đã thấy được hết hay không? Mi tưởng là chúng ta không theo dõi ư?”

“Tôi không hiểu ông đang nói gì,” Barney nói.

“Mi có thể là một thằng lỏi ngu ngốc,” gã Hastings nói tiếp, “nhưng ta không nghĩ là mi ngu đến mức đó đâu... nghe đây. Chúng ta biết là chính mi đã tìm ra tấm bản đồ, và rằng với sự giúp đỡ của ông già quý hóa của bọn mi, Giáo Sư Lyon” - nói đến những từ ấy, cái mồm gã méo đi cứ như thể ăn phải cái gì khó chịu lắm vậy - “bọn mi đã cố lần theo dấu vết đến nơi mà nó chỉ. Chúng ta biết bọn mi đã đến rất gần điểm chốt cùng của dấu vết rồi. Và, Barnabas thân mến ạ, vì chúng ta không thể liều lĩnh để bọn mi đến đích, nên cuối cùng đã quyết định kéo một mẻ lưới và đánh một dấu chấm hết cho cuộc săn lùng nho nhỏ của bọn mi. Vì thế nên mi mới có mặt ở đây.”

Barney lạnh toát người trước vẻ hăm dọa trong giọng nói trầm trầm lạnh lẽo ấy. Miệng nó khô khốc. Nó với lấy ly sữa, rồi uống một hơi dài. “Tôi xin lỗi,” nó nói, chớp chớp cặp mắt đang mở to sau miệng ly và liếm chỗ sữa đang bám ở môi trên. “Tôi không hiểu ý ông nói gì. Tôi có thể ăn một miếng sandwich nữa được không?”

Sau lưng, nó nghe thấy tiếng gã Withers hít vào đánh hức một cái, và trong khoảnh khắc, một giọng lí nhí trong đầu nó reo lên mừng chiến thắng. Nhưng nó vẫn lo lắng quan sát cái dáng cao lớn lừng lững bên cạnh cửa sổ. Trong phút chốc dường như cái dáng ấy càng to lớn hơn, trông càng lù lù ghê sợ hơn. Và rồi gã đột ngột di chuyển, quay trở lại hòa vào trong bóng tối nhờ nhờ của căn phòng.

“Đưa cho nó thêm một miếng sandwich nữa,” gã Hastings nói. “Sau đó thì anh có thể đi, Withers ạ. Anh biết anh phải làm gì rồi đấy. Chúng ta không còn nhiều thời gian nữa. Khi nào ta rung chuông thì hãy quay lại.”

Gã Withers, khuôn mặt đánh phấn đen gần như không nhìn rõ trong bóng tối chạng vạng, đẩy đĩa bánh lại phía Barney. Gã khúm núm, “Dạ vâng, thưa ngài,” cúi chào thật nhanh rồi đi ra khỏi phòng.

Barney lấy một miếng sandwich nữa, cảm thấy định mệnh đã an bài rồi, nên dù cho chuyện gì xảy ra đi nữa thì nó cũng phải ăn cái đã. “Tại sao tất cả bọn họ lại gọi ông là ‘ngài’?” nó tò mò hỏi.

Gã đàn ông cao lớn đi đến và ngồi xuống cạnh bàn, nghịch nghịch một chiếc bút chì giữa những ngón tay. “Thế cậu sẽ gọi ai là ‘ngài’?”

“Ờ, thực ra là chẳng có ai cả. Chỉ có mỗi các thầy ở trường thôi.”

“Có lẽ tôi cũng là thầy[21] của họ,” gã Hastings đáp.

“Nhưng họ có ở trong trường học đâu.”

“Tôi nghĩ là cậu sẽ không hiểu, Barnabas ạ. Thực ra có rất rất nhiều điều cậu không hiểu. Tôi không biết ông của cậu đã nhồi vào đầu cậu những gì. Ông ta chắc đã nói với cậu rằng chúng tôi là kẻ xấu, là kẻ nguy hiểm, và rằng ông ta là người tốt?”

Barney chớp mắt nhìn gã và cắn thêm một miếng bánh nữa.

Gã Hastings cười nham hiểm. “À, nhưng tất nhiên là cậu không biết tôi đang nói gì rồi. Cậu không có một chút ý niệm gì hết.” Sự mỉa mai hiển hiện trong giọng nói trầm đục của gã khiến Barney nhăn mũi. “Ờ, chúng ta quên ý đó đi nhé, chỉ một lúc thôi, và giả vờ, chỉ giả vờ thôi, là cậu có hiểu những gì tôi nói. Tôi nghĩ là người ta đã dụ cho cậu tin rằng những người bạn của tôi và tôi là những kẻ xấu xa bậc nhất. Rằng chúng tôi muốn theo đầu mối trên tấm bản đồ vì chúng tôi có thể làm những điều tệ hại với cái vật mà chúng tôi tìm ra. Cậu chẳng được nghe gì khác ngoài những lời của ông mình, và có lẽ lại thêm một hai điều kỳ cục gì đó mà có thể Polly và Norman Withers đã làm nữa.”

Giọng nói của gã giảm dần cho đến khi nghe nhẹ nhàng và êm mượt như lụa. “Nhưng cứ nghĩ mà xem, Barnabas ạ, nghĩ về những việc kỳ lạ mà ông của cậu đã làm ấy. Bỗng dưng xuất hiện chẳng biết từ đâu và rồi lại biến mất... hôm nay ông ta lại biến mất rồi phải không? Ồ không, tất nhiên là cậu không thể trả lời tôi rồi, vì chúng ta chỉ giả vờ là cậu hiểu những gì tôi đang nói thôi mà. Nhưng đây không phải là lần đầu tiên ông ta bất thần biến mất như vậy, tôi nghĩ thế, và đây cũng sẽ không phải là lần cuối cùng.”

Gã nhìn chằm chằm vào Barney, đôi mắt đen thấu suốt và không hề chớp dưới gờ lông mày nhô ra. Barney ăn miếng sandwich chậm lại một chút, chính nó cũng không sao dứt nổi mắt khỏi gã. “Còn về việc chúng tôi là kẻ xấu xa thì... nào, Barnabas, tôi có đánh cậu như một kẻ xấu không? Tôi đã làm gì hại cậu chưa? Cậu đang ngồi đó, ăn và uống thỏa thích, rõ ràng trông chẳng có gì đáng lo. Cậu có sợ tôi không?”

“Ông đã bắt cóc tôi,” Barney nói thẳng thừng.

“Thôi nào, đó chỉ là một trò đùa của Polly thôi mà. Tôi muốn nói chuyện với cậu, vậy thôi.”

Gã Hasting ngồi lại vào ghế và dang rộng cánh tay, đầu ngón tay vừa chạm đến mép bàn. “Nào, cậu bé, bây giờ tôi sẽ thỏa thuận với cậu. Tôi sẽ nói cho cậu biết thực ra chuyện gì nằm sau tất cả những điều đã xảy ra trong mấy ngày gần đây, còn cậu thì sẽ thôi giả vờ như chưa từng nhìn thấy tấm bản đồ bao giờ nữa.”

Không đợi cho Barney nói gì, gã lại tiếp tục. “Quả thực là chúng tôi đang săn tìm cùng một thứ như ông của cậu, cả mấy người bạn của tôi và tôi. Nhưng dù cho ông ta có thêu dệt cho cậu chuyện gì về chúng tôi đi chăng nữa thì, thật lòng mà nói, chúng toàn là vớ vẩn cả. Ông của cậu là một học giả, một học giả xuất sắc. Không ai phủ nhận điều đó, và có lẽ tôi còn biết rõ hơn cậu. Vấn đề là chính bản thân ông ta cũng biết vậy và nghĩ về nó quá nhiều.”

“Ý ông muốn nói gì?” Barney tức giận hỏi.

“Khi một người nổi tiếng vì là một học giả vĩ đại, ông ta sẽ muốn mãi mãi được nổi tiếng. Cậu tìm ra bản viết cổ đó, cậu và anh chị của cậu, và khi cậu kể cho ông ta nghe thì ông ta nhận ra ngay, cũng như cậu đã không nhận ra, là nó quan trọng đến mức nào. Khi ông ta nhìn thấy nó, ông ta càng trở nên chắc chắn hơn. Barnabas này, tôi là người quản lý, nghĩa là giám đốc, của một trong những viện bảo tàng quan trọng nhất trên thế giới. Từ rất lâu rồi, tôi đã săn tìm bản viết cổ mà cậu đã tìm ra, và đặc biệt là cái mà nó chỉ dẫn tới. Cả hai thứ đó đều rất quan trọng đối với những người nghiên cứu những thứ như vậy, và chúng có thể làm thay đổi mọi kiến thức hiện có trên đời. Và ông của cậu biết chúng tôi đang săn tìm chúng.

“Nhưng khi cậu tìm ra bản viết cổ, ông ta thấy mình có cơ hội để thành công trong cuộc săn lùng này. Càng nghĩ thế, ông ta càng thấy đó là một ý tưởng hấp dẫn hơn. Ông ta vẫn luôn luôn là người nổi tiếng vì biết rất nhiều về những sự kiện lịch sử có liên hệ đến những vật này. Nếu ông ta là người tìm ra chúng, ông ta có thể biết nhiều hơn bất kỳ ai khác trên thế giới. Người ta có thể ca ngợi rằng Giáo Sư Lyon thật là vĩ đại, ông biết nhiều làm sao và không thể tìm được ai khác như ông...”

“Biết nhiều là bao nhiêu?” Barney ngắt lời.

“Cậu sẽ không hiểu hết các chi tiết đâu,” gã Hasting trả lời ngắn gọn. Rồi giọng gã lại hạ thấp xuống nghe trầm trầm đầy thuyết phục. “Cậu có thấy không, Barnabas? Ông của cậu chỉ lo cho sự nổi tiếng của ông ta thôi. Có giây phút nào cậu nghĩ rằng khi kết thúc cuộc săn tìm thì mấy đứa trẻ các cậu sẽ được vẻ vang gì hay không? Tất cả sẽ chỉ dồn vào ông ta thôi... Trong khi đó, tôi và viện bảo tàng của tôi, và cả những nhân viên của tôi, tin rằng mọi kiến thức phải được chia sẻ và rằng không một ai có quyền giữ chúng cho riêng mình. Và nếu cậu định giúp chúng tôi, chúng tôi sẽ chăm lo làm sao để anh chị em cậu sẽ nhận được mọi sự khen ngợi mà các cậu có quyền được hưởng. Toàn thế giới phải biết được những gì mà cậu đã làm.”

Bất chấp cố gắng của bản thân, Barney quên phắt miếng bánh sandwich và ly sữa. Nó ngồi đó lắng nghe, trong lòng bối rối; cố gắng hiểu xem đâu là sự thật. Đúng vậy, Ông Merry thường rất kỳ lạ, chẳng giống những người khác chút nào; nhưng dù sao chăng nữa...

Nó nói, chậm rãi và lúng túng, “Ờ, tôi không biết, tất cả những điều đó nghe chẳng giống Ông Merry gì cả. Chắc chắn là ông không làm điều gì như thế chứ?”

“Nhưng tôi bảo đảm với cậu...” Gã Hastings đứng bật dậy và bắt đầu đi đi lại lại từ bàn ra cửa rồi lại từ cửa vào bàn. Dường như gã không còn ngồi yên được nữa. “Có rất nhiều người ta biết rõ, thường là những người giỏi và nổi tiếng cả, vẫn có thể làm những điều khuất tất. Tôi rất hiểu là cậu có thể ngạc nhiên, và bị sốc. Nhưng đó là sự thật, Barnabas ạ, và nó đơn giản hơn rất nhiều những gì mà người ta vẫn dụ dỗ để cậu tin vào.”

Barney nói: “Như thế nghĩa là chúng tôi nên đưa tấm bản đồ cho ông, và để cho ông tìm ra cái...” Vừa kịp lúc nó ghìm lại từ “chén Thánh”. Trong suốt cuộc nói chuyện vừa rồi, không hề có câu nào đả động đến tấm bản đồ sẽ dẫn tới cái gì. Có lẽ bọn chúng biết ít hơn là chúng nói ngoài miệng. Có lẽ đó chính là một trong những điều bọn chúng muốn bẫy để nó nói ra.

Gã Hastings ngừng lại một giây. “Cái gì?” gã hỏi.

“Ờ, và để cho ông tìm ra cái mà nó dẫn đến.”

Barney lại cầm ly sữa lên uống vẻ trầm ngâm. “Vì sau đó ông sẽ để cái đó trong viện bảo tàng của ông và mọi người ai cũng có thể biết về nó.”

Gã Hastings gật đầu nghiêm nghị. “Cậu hiểu rồi đấy, Barnabas. Mọi kiến thức đều thiêng liêng, nhưng không nên giữ chúng trong bí mật. Tôi nghĩ là cậu đã hiểu rồi. Đó chính là điều cậu nên làm - điều chúng ta nên làm - nhân danh những hiểu biết của loài người.”

Barney nhìn vào ly sữa, khẽ lắc cho sữa xoay tròn trong ly. “Nhưng đó không phải là điều mà Ông Merry đang làm hay sao?”

“Không, không!” Gã Hastings sốt ruột xoay gót chân quay phắt lại, rồi sải những bước dài qua qua lại lại trong phòng. “Dù ông ta đang làm gì đi chăng nữa thì ông ta cũng chỉ làm với danh nghĩa của Giáo Sư Lyon, chỉ có thế thôi. Nếu không thì ông ta còn làm nhân danh cái gì khác được đây?”

Sau này Barney vẫn không hiểu cái gì đã đặt những lời ấy vào đầu nó; nó nói trước cả khi kịp nghĩ, cứ như có ai đó nói nhờ qua mồm nó vậy. Nó nghe thấy tiếng mình vang lên dõng dạc, “Nhân danh vua Arthur, và nhân danh thế giới xưa kia trước khi thế lực đen tối kéo tới.”

Hình người cao lớn, đen ngòm ấy đứng sững lại, hoàn toàn bất động, cái lưng vẫn còn đang xoay dở. Trong một khắc căn phòng im lặng như tờ. Cứ như thể Barney đã nhấn vào một cái nút khiến cho một trận tuyết lở có thể đổ ngay xuống bất kỳ lúc nào vậy. Nó ngồi bất động và gần như nín thở trên ghế. Rồi rất chậm rãi, hình người ấy quay lại. Barney nuốt nước bọt đánh ực một cái, và thấy tóc gáy dựng ngược lên. Gã Hastings đã đi đến góc phòng tối nhất, gần cửa ra vào, và khuôn mặt gã lẫn vào trong bóng tối. Nhưng dường như gã càng hiện ra to lớn hơn và đáng sợ hơn bao giờ hết, và khi gã cất tiếng, có một nốt rung khác lạ trong cái giọng trầm khiến Barney cứng đờ người vì khiếp sợ.

“Mi sẽ thấy, Barnabas Drew ạ,” giọng nói ấy thì thào, “ rằng thế lực đen tối sẽ luôn luôn kéo tới và sẽ luôn luôn chiến thắng.”

Barney lặng thinh. Nó có cảm giác như nó đã quên mất cách nói, và giọng nó đã vĩnh viễn tắt ngấm cùng với những lời cuối cùng nó vừa mới thốt ra.

Gã Hastings không rời mắt khỏi nó. Gã với tay sang bên và giật mạnh hai lần vào sợi dây thả từ trên trần xuống ngay cạnh cửa. Chỉ vài giây sau cánh cửa bật mở và gã Withers lặng lẽ lẩn vào trong phòng. Gã đã rửa sạch lớp phấn nâu trên mặt và cánh tay.

“Mọi thứ đã sẵn sàng chưa?” giọng nói trầm trầm vang lên.

“Đã xong rồi, thưa ngài,” gã Withers khúm núm nói giọng rin rít. “Xe đã đậu ở cửa bên rồi ạ. Con bé đã thay đồ. Nó sẽ lại cầm lái.”

“Anh sẽ đi cùng cô ấy. Ta sẽ cùng thằng bé đi theo trong cái xe kín. Bill đã chuẩn bị xong chưa?”

“Máy đã nổ rồi ạ...”

“Các ông đưa tôi đi đâu?” Giọng Barney vói lên đầy hoảng hốt và sợ hãi, nó nhảy xuống khỏi ghế. Nhưng nó không thể chạy ra khỏi căn phòng, qua cái bóng cao lớn vẫn đang chằm chằm nhìn nó.

“Mi sẽ đi cùng bọn ta ra biển,” giọng nói vang lên sau đôi mắt tối đen không chớp. “Mi không được gây ra rắc rối gì và mi sẽ làm theo những gì ta bảo. Và khi nào chúng ta ra đến biển, Barnabas thân mến, thì mi sẽ nói cho chúng ta biết về tấm bản đồ của mi và chỉ cho chúng ta biết nó dẫn đến đâu.”



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 02.03.2018, 16:38
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 34318
Được thanks: 5226 lần
Điểm: 9.58
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Giả tưởng] Trên biển khơi, dưới đá thẳm (The dark is rising #1) - Susan Cooper - Điểm: 10
CHƯƠNG 13

Ngôi nhà Xám vẫn tĩnh mịch và trống không như trước khi chúng đi. “Barney!” Simon hét vọng lên thang gác. “Barney?” Tiếng nó ngập ngừng nhỏ dần đi.

“Nó không thể ở trong nhà được,” Jane nói. “Chìa khóa vẫn ở chỗ giấu mọi khi. Ôi anh Simon, chuyện gì xảy ra với nó rồi?” Em lo lắng quay lại cánh cửa trước đang để ngỏ và chăm chú nhìn xuống đồi.

Simon quay lại, đi qua lối sảnh tối ra đứng dưới khoảng nắng cùng em gái. “Chắc là nó không tìm thấy chúng mình ở dưới bến cảng.”

“Nhưng nếu thế thì sau đó thì nó phải quay về đây rồi chứ? Bây giờ chẳng còn ma nào ở dưới đó cả, tất cả đã đi theo đám diễu hành. Thằng Bill thô lỗ ấy vừa đi ngang qua chúng ta... anh có nghĩ là...”

“Không,” Simon vội vàng nói. “Dẫu sao Barney đã có con Rufus đi cùng cơ mà. Nó sẽ không gặp phải chuyện gì nghiêm trọng đâu. Em đợi xem, nó sẽ quay về ngay thôi. Anh chắc là là nó đã tìm thấy Ông Merry và đang đi tìm bọn mình.”

Nó đang quay nhìn vào trong ngôi nhà thì Jane đột ngột hét lên mừng rỡ: “Nhìn kìa! Anh nói đúng rồi!”

Rufus đang phóng lên đồi về phía chúng, một cái bóng đỏ lanh lẹ lướt nhanh trên con đường màu xám. Nhưng chúng thấy không có ai theo sau nó. Jane gọi, và Rufus nghếch mõm lên, chạy nhanh hơn, lên mấy bậc thang, luồn qua chân chúng và vào trong nhà. Rồi nó đứng đối diện chúng, cái lưỡi dài như dải ruy-băng thè lè lủng lẳng. Nhưng đuôi nó cụp xuống, và nó cũng không nhảy cẫng lên, sủa váng một cách vui vẻ giống như mọi bận nó trở về nhà.

“Không thấy bóng dáng Barney đâu cả.” Jane chậm chạp bước qua bậc cửa đi vào nhà. Em cúi xuống nhìn Rufus. “Có chuyện gì vậy? Chuyện gì đã xảy ra?”

Con chó chẳng để ý gì đến cô bé. Nó đứng đó bần thần, cặp mắt trống rỗng. Thậm chí khi bọn trẻ cho nó uống nước và dắt nó vào căn phòng trông ra bến cảng, nó vẫn chẳng biểu lộ dấu hiệu gì chứng tỏ nó biết mình đang ở nhà. Cứ như thể nó đang nghĩ về một chuyện gì hoàn toàn khác.

“Anh đoán là tại trời nóng quá,” Simon nói. Giọng nó nghe chẳng lấy gì làm chắc chắn. “Thôi vậy, mình chẳng thể làm gì ngoài đợi tiếp. Dù sao chiếc thuyền buồm vẫn còn đậu bên dưới bến cảng mà.”

“Điều đó chẳng có ý nghĩa gì cả,” Jane khổ sở nói.

“Không, như thế có nghĩa là...” Nhưng Simon chẳng có cơ hội nào để giải thích. Jane đã lo lắng nắm chặt lấy cánh tay nó. Nó thấy em gái đang nhìn đăm đăm vào con Rufus.

Mãi sau này chúng vẫn không thể giải thích rõ ràng sự việc xảy ra lúc đó. Cứ như thể Rufus đang nằm đó lắng nghe một cái gì đó, và cuối cùng cũng bắt được âm thanh nó đang mong đợi; mặc dù bọn trẻ biết rằng khi đó chúng chẳng nghe thấy cái gì hết cả. Nó ngẩng đầu lên, hai mắt mở to đến nỗi lộ cả tròng trắng, và từ từ đứng dậy giống như một ông già hơn là một con chó. Tai nó vểnh lên, mõm nghếch cao, chĩa thẳng về phía cái gì đó mà bọn trẻ chẳng thể nhìn thấy. Nó bắt đầu bước đi, chậm rãi và kiên quyết, về phía cửa ra vào.

Như bị thôi miên, Simon và Jane đi theo. Rufus đi ra ngoài sảnh cho tới khi đến tận cửa trước, và đứng đó chờ đợi. Nó không quay đầu. Nó chỉ đứng đó, thân mình cứng đờ, nhìn thẳng về phía cửa ra vào, cứ như là chắc chắn bọn trẻ biết nó muốn chúng phải làm gì.

Simon chìa tay ra, lo lắng liếc nhìn xuống cái lưng dài đỏ mượt của con chó, và mở cửa; và chúng cứ đứng ở trên bậc thềm ngơ ngác nhìn con Rufus oai phong băng thẳng qua đường với dáng tự tin không-có-tuổi. Khi sang đến bên kia đường, nó nhẹ nhàng nhảy phắt lên đứng thẳng thân mình trên bức tường ngăn cách con đường với một bờ dốc đứng có dễ gần hai mươi mét xuống tận bến cảng. Có vẻ như nó đang nhìn ra phía biển.

“Nó không định nhảy qua đấy chứ?” Jane giật thót mình lo lắng, nhưng bỗng nhiên giọng em lại hạ xuống thầm thì.

Và rồi chúng nghe thấy thứ âm thanh mà sau này chúng không bao giờ quên được.

***

Barney lờ mờ nhận thấy mình bị đem ra khỏi ngôi nhà lớn hoang vắng rồi đưa đi trên một chiếc xe hơi; và bây giờ nó đang đi bộ với một toán người, với tiếng biển rì rào đâu đó khá gần. Nhưng nó không biết chắc là bọn chúng có bao nhiêu người, hay chúng đang đưa nó đi đâu. Kể từ lúc ở trong căn phòng tăm tối khi cặp mắt sâu hoắm rực lửa ấy nhìn trừng trừng vào mặt nó, nó chẳng còn ý thức được gì nữa ngoài việc phục tùng những điều mà chúng bảo nó phải làm. Nó không còn ý nghĩ nào của riêng mình nữa; đó là một cảm giác thư thái kỳ lạ, cứ như là nó đang mơ màng nửa thức nửa ngủ. Không còn chuyện cãi lại nữa. Không còn kháng cự nữa. Nó chỉ biết rằng cái dáng người đen đen cao lớn đang bước đi bên cạnh nó, đội một chiếc mũ vành rộng màu đen, là ông chủ của nó.

Ông chủ... hôm nay ai khác cũng đã dùng từ này ấy nhỉ?

“Lại đây, Barnabas,” giọng nói trầm trầm như thôi miên vang lên phía trên nó. “Chúng ta phải nhanh lên. Thủy triều đang rút rồi, chúng ta phải đến được chỗ cái thuyền.”

Đến du thuyền, Barney mơ màng tự nhủ, mình sẽ đi ra biển... chính là nó đã ngửi thấy mùi biển, mùi nước mặn đang vỗ ì oàm bên bờ cảng Trewissick.

Xa xa, cứ như từ trên rất cao vọng xuống, nó nghe thấy tiếng nói cấp bách của Polly Withers: “Từ con đường cạnh ngôi nhà trên đó thì ai cũng có thể trông thấy chúng ta. Họ sẽ trông thấy chúng ta mất, tôi biết là họ sẽ thấy mà...”

“Polly,” giọng nói trầm trầm chậm rãi vang lên, “ta là người hiểu rõ hơn hết. Nếu bà bạn người Cornwall của chúng ta làm tốt nhiệm vụ thì sẽ chẳng có ai ở đó cả. Và nếu hai đứa trẻ kia có thoát được đi chăng nữa... thì, liệu chúng có phải là đối thủ của ta không?”

Gã Withers ở đâu đó bật cười, nghe nhẹ nhàng mà đầy nham hiểm.

Barney tiếp tục bước đi như một cái máy. Không khí ấm áp và ẩm ướt; nó có thể cảm thấy ánh nắng gay gắt đang chiếu thẳng vào mặt. Nó đã nghe bọn người kia nói chuyện suốt từ khi rời ngôi nhà, nhưng tất cả những thứ chúng nói với nhau dường như chẳng có một chút ý nghĩa nào với nó nữa. Nó không hề sợ hãi; nó đã quên mất cả Simon và Jane. Có vẻ như phần hồn của nó đã thoát ra khỏi phần xác và đang dõi theo những gì xảy ra với một thoáng tò mò thích thú trong lúc thân thể vẫn bước đi, mà chẳng có cảm giác gì hết cả.

Và rồi, như tiếng bật bất chợt của dây cung, âm thanh đó vang lên.

Thoảng trong khoảng không bên trên đầu chúng, một con chó tru lên: một tiếng hú dài kỳ lạ quá đỗi bất ngờ và thảm thiết đến nỗi trong giây lát tất cả đều đứng chết trân. Âm thanh đó chầm chậm vang vọng khắp bến cảng, một thứ âm thanh rền rĩ, hoang dại, lạnh lẽo như chứa đựng mọi lời cảnh báo và mọi nỗi kinh hoàng từng có ở trên đời. Ngay cả gã Hastings cũng đứng lặng lắng nghe, người đờ đẫn.

Và thằng nhóc Barney lúc này đang ở ngoài Barney, bay lơ lửng vô tư trên không trung, cảm thấy tiếng hú đó đã đánh thức nó dậy bằng một cú choáng váng tột độ. Nó nhìn lên, và thấy Rufus đang đứng trên cao, tấm thân đỏ in trên nền trời, với tiếng rên rỉ vẫn đang dai ẳng trong cổ họng. Và đột nhiên Barney biết nó đang ở đâu, và hiểu rằng nó phải chạy trốn.

Nó xoay ngoắt lại, cúi vội né hai cánh tay không kịp chộp lấy nó nữa, và chạy dọc theo cầu cảng về phía con đường. Ngọn đồi vắng hoe, đoàn diễu hành của lễ hội hóa trang đã cuốn hút hết đám đông, và nó đã cách xa bọn người ngơ ngác ở chỗ kè đá kia tới hai mươi lăm yard trước khi chúng có thể bắt đầu đuổi bắt. Nó nghe thấy những tiếng quát tháo và tiếng bước chân huỳnh huỵch phía đằng sau, bèn lao người chạy thật nhanh lên đồi về phía Ngôi nhà Xám.

Simon và Jane đứng trên bậc thềm kinh ngạc nhìn xuống. Đầu tiên thì bất chợt nghe tiếng hú ớn người của Rufus; rồi bây giờ thình lình lại đến Barney, cùng với bốn bóng người đáng sợ đang đuổi theo sát gót. Theo bản năng chúng chạy vội xuống thềm về phía thằng em, và rồi sợ hãi quay phắt lại trước tiếng động tệ hại nhất. Đằng sau chúng, cánh cửa ra vào của Ngôi nhà Xám vừa đóng sầm lại; còn chìa khóa thì vẫn ở bên trong.

Barney lảo đảo chạy lại phía chúng, còn Rufus từ trên tường nhảy vọt xuống. Jane sợ hãi nói: “Trốn đường nào đây?”

Simon cuống cuồng chạy lại cánh cửa gỗ lớn chỗ bức tường; đây là lối đi nách của Ngôi nhà Xám và bình thường vẫn bị đóng kín. Nó đẩy mạnh cái then cửa, tim đập thình thình. Sự mừng rỡ như con sóng tràn ngập khắp người nó khi cánh cửa bật mở, và nó đẩy toang cửa ra. “Nhanh lên!” nó hét.

Bốn bóng người đang cắm cổ đuổi theo sát gót Barney giờ chỉ còn cách có vài bước. Jane và Barney chạy vọt vào bên trong cánh cửa, cùng với cái bóng đỏ của con Rufus bên chân chúng. Bức tường dường như rung lên bần bật khi Simon đóng cánh cửa đánh sầm và nhanh chóng cài ba chiếc then sắt lớn lại. Chúng chạy lên lối đi nhỏ hẹp và lạnh lẽo giữa chái Ngôi nhà Xám với ngôi nhà bên cạnh, rồi dừng lại ở cuối lối đi. Bên ngoài, tiếng bước chân dừng khựng trước cánh cửa. Chúng trông thấy then cửa lắc lư khi ai đó phía bên kia cố gắng đẩy ra. Chiếc then kêu lách cách giận dữ, và có một tiếng đấm mạnh vào cửa. Thế rồi tất cả lại im lìm.

“Giả sử chúng trèo qua tường thì sao?” Jane sợ hãi thì thầm.

“Chúng không trèo được đâu,” Simon cũng thì thầm. “Tường cao lắm.”

“Nhỡ đâu chúng phá vỡ cửa!”

“Những then đó cực kỳ chắc chắn. Mà làm thế thì mọi người sẽ trông thấy và nghi ngờ... Nghe mà xem. Chúng đã bỏ đi rồi.”

Cả bọn căng tai lắng nghe. Chẳng có tiếng động nào từ phía cánh cửa ở đầu bên kia lối đi. Rufus ngước nhìn chúng như dò hỏi và rên ư ử, mũi thở phì phì vẻ than vãn.

“Chúng đang làm gì thế? Chắc là chúng sắp giở trò gì đó...”

“Nhanh lên!” Simon cả quyết. “Mình phải chạy khỏi nhà trước khi chúng kịp có thời gian vòng ra phía sau. Chúng sẽ nhanh chóng bao vây ngôi nhà đấy.”

Trong lúc hoảng hốt chúng chạy vào mảnh vườn nhỏ sau nhà, và băng qua lớp cỏ cao ngang gối tới chỗ hàng rào. Rufus tớn tác quanh chúng một cách vui vẻ, nhảy lên liếm mặt Barney. Con vật dường như đã quên mất sự thôi thúc huyền bí đã khiến nó phát ra tiếng hú lê thê tuyệt vọng kia, và bây giờ nó lại làm như tất cả chỉ là một trò chơi to lớn.

“Hy vọng là con chó sẽ giữ yên lặng,” Jane lo lắng nói.

Simon nhìn chằm chằm qua kẽ hở của hàng rào.

“Nó sẽ yên lặng đấy,” Barney nói. Nó cúi người xuống và khum một tay nhẹ nhàng ôm lấy chiếc mõm đỏ dài của con Rufus, thì thầm âu yếm với con vật trong hơi thở.

Simon đứng thẳng dậy. “Bọn chúng đi hết rồi. Mình đi thôi.”

Lần lượt từng đứa một chui khỏi vườn ra ngoài con đường lượn vòng từ bến cảng đến phía sau ngôi nhà, xuôi theo rìa Mũi Kemare.

“Ôi,” Jane đột nhiên nói vẻ đau khổ, “giá mà chúng mình biết được Ông Gumerry đã đi đâu nhỉ.”

Barney kinh hoàng nói, “Anh chị không tìm thấy ông à? Thế còn bà Palk thì sao?”

“Không, chẳng thấy ông đâu cả. Bọn anh đã trông thấy bà Palk, nhưng không thể nào đến chỗ bà ấy được vì đông quá. Em có trông thấy ông không? Tại sao bọn chúng lại đuổi theo em? Em đã chạy từ chỗ nào về đây? Bọn anh nghĩ chắc điều tồi tệ gì đó đã xảy ra khi con Rufus về nhà mỗi một mình, nhưng bọn anh chẳng biết đi đâu để tìm em cả.”

“Đợi một chút,” Barney nói. Cơn sốc thoát khỏi tình trạng mụ mẫm do bị bùa mê của nó giờ đây đang chuyển thành một cảm giác hết sức cấp bách. Hàng chục thứ mà nó đã nghe thấy trong một tiếng vừa qua lao vun vút trong tâm trí; và khi bắt đầu nhận ra ý nghĩa của chúng, mỗi lúc nó lại càng cảm thấy hoảng hốt hơn.

“Simon,” nó giục giã, “chúng mình phải lấy bằng được chiếc chén Thánh. Ngay bây giờ. Kể cả không có Ông Merry. Không còn thời gian để tìm ông, hay là đợi, hay là làm bất cứ việc gì khác đâu. Em nghĩ là bọn chúng gần như đã tới nơi rồi. Chỉ là vẫn chưa chắc chắn thôi, nên chúng mới bắt em.”

“Việc đầu tiên là phải thoát khỏi đây cái đã.” Simon đưa mắt nhìn quanh. “Bọn chúng có thể từ phía cảng lên đây bằng bất cứ lối nào. Mình sẽ phải rời đường lớn và nấp vào trong cánh đồng đằng sau mũi đất kia. Địa thế ở đó không dốc lắm, mình sẽ nấp kín được.”

Bọn trẻ băng qua con đường và đi vào những cánh đồng dưới chân Mũi Kemare. Mặt trời trên cao vẫn tỏa ánh nắng chói chang, hầm hập tựa như một bàn tay khổng lồ đang đè chúng xuống. Nhưng giờ thì ngay cả Jane cũng chẳng mảy may lo đến việc bị say nắng nữa.

Khi bọn trẻ đến được hàng rào ở cuối cánh đồng đầu tiên thì nghe thấy có tiếng nói. Chúng vội vã bò qua hàng rào, không hề dừng để quay nhìn lại, và nằm ép người xuống đám cỏ mọc rất cao phía bên kia. Barney lo lắng đặt tay lên lưng Rufus, nhưng con chó nằm im, cái lưỡi dài màu hồng thè lè ra ngoài.

Chẳng đứa nào nhìn rõ thực sự chúng từ đâu ra, nhưng đột nhiên mấy bóng người bỗng đứng lù lù ngay trên con đường. Gã Withers, cao gầy và hơi gù, cứ đưa qua đưa lại cái đầu như một con chồn; thằng Bill trong chiếc áo sáng màu thì bước đi thận trọng nhưng hung hăng như sẵn sàng tham chiến; và cao hơn hẳn hai tên này là một dáng người cao lớn đầy hăm dọa mặc toàn đồ đen, như một vết rạch tối sẫm trong không gian chập chờn hơi nóng của một ngày hè. Trong khi theo dõi, bất chợt Simon nhớ đến cái ngày khủng khiếp khi những bước chân đầy đe dọa chạy rầm rập đuổi theo nó, suốt một con đường vắng vẻ; và nó quay đi không nhìn người đàn ông đó nữa.

“Không thấy có cô ta,” Barney rít lên. “Chắc là cô ta đang quan sát ở phía trước, đề phòng trường hợp chúng mình chạy ra phía đó.”

Ngoài đường, bọn người nọ đứng lại một chút có vẻ lưỡng lự. Thằng Bill quay lại nhìn qua cánh đồng, hướng thẳng tầm mắt về phía hàng rào. Ba đứa trẻ càng dán chặt mình sát đất hơn, gần như nín thở. Nhưng thằng Bill lại quay đi, có vẻ rất hài lòng. Gã Withers cũng nhìn qua cánh đồng và nói gì đó với nó. Thằng nhóc lắc đầu.

Cái bóng người đen sì cao lớn đứng tách ra một chút, bất động. Khó có thể nói được là gã đang nhìn về hướng nào. Đột nhiên, gã giơ tay chỉ Mũi Kemare phía ngoài biển. Hình như gã đang nói gì đó khẩn thiết lắm.

“Không biết chúng định làm gì?” Jane thầm thì. Cơn chuột rút đang giày vò khổ sở bên chân phải của em và em chỉ mong sao được tiếp tục đi.

“Nếu chúng đi đến cuối mũi đất thì mình coi như xong,” Simon thì thào vẻ căng thẳng.

“Lạy Chúa, bọn chúng còn có thêm bao nhiêu tên nữa nhỉ? Gã đàn ông cao lớn kia...” Jane soi kỹ gã qua kẽ lá lay động ở hàng rào. Em không nhìn rõ mặt gã, nhưng một cảm giác ớn lạnh quen thuộc lớn dần trong tâm trí em. Thế rồi, trong khi em đang chăm chú nhìn, thì gã bỏ chiếc mũ đen rộng vành ra trong chốc lát để lấy tay lau ngang trán, và bỗng nhiên em nhận ra ngay hình dáng của cái đầu với mái tóc đen dày. Những cành cây, lá cỏ và ánh sáng mặt trời chao đảo trước mắt, em kéo vội cánh tay Simon.

“Anh Simon! Lại là tên đó! Lại là...”

“Anh biết rồi,” Simon nói. “Ngay lúc gã đi vòng quanh góc đường anh đã biết rồi. Anh tưởng là em cũng biết.”

“Gã là ông chủ của tất cả bọn chúng,” Barney thầm thì khe khẽ. “Tên gã là Hastings.”

“Đúng rồi,” Jane nói yếu ớt. “Hastings. Cha xứ.”

Barney vặn người lại một chút trong đám cỏ để nhìn chị. “Gã không phải là cha xứ.”

“Đúng mà. Chị đã gặp gã tại nhà linh mục. Ồ, em có nhớ là...”

“Đó có phải là một ngôi nhà lớn tồi tàn, mọi thứ đều lung tung bừa bãi không?” Barney nói chậm rãi. “Có một lối đi dài, và một căn phòng đầy sách đúng không?”

Đến lượt Jane ngạc nhiên nhìn em trai. “Chị nhớ là chỉ kể về đám sách, nhưng không nói về lối đi nào cả. Làm sao em lại biết...”

Barney nói, vẻ cực kỳ chắc chắn: “Em không quan tâm là chị đã nói gì, nhưng gã ta không phải là cha xứ. Em không biết gã là ai, nhưng không phải thế. Gã không thể nào thế được. Ở gã có cái gì vô cùng hung bạo. Gã giống hệt như những gì Ông Gumerry đã kể về phe bên kia, chị có thể phần nào cảm nhận được điều đó, cứ nhìn gã mà xem. Và gã nói những điều...”

“Cúi xuống!” Simon đột ngột nhắc. Tất cả cúi ngay đầu xuống cỏ, và nằm im một lúc lâu trong khi mặt trời vẫn gay gắt chiếu trên lưng và làm cháy sém lớp da ở khoeo chân, và những lá cỏ dài và lạnh dọc rìa hàng rào cọ nhồn nhột bên má chúng. Con Rufus nhúc nhích và khụt khịt một chút rồi lại yên lặng. Nó đã lăn ra ngủ tự bao giờ.

Một lát sau Simon lo lắng ngẩng đầu lên khỏi mặt đất một vài phân, chẳng nghe thấy gì ngoài âm thanh của một con mòng biển xa xăm ở tít cao trên bầu trời. Nó đã nhìn thấy ba bóng người lộn lại và băng qua cánh đồng và trong giây lát nó đã tưởng mình bị sập bẫy. Nhưng giờ thì ở chỗ bọn chúng vừa đứng chẳng còn ai nữa, và cả cánh đồng tĩnh mịch cũng chẳng có một bóng người.

“Chúng đi rồi!” nó hớn hở thì thầm. Barney và Jane cũng ngẩng đầu lên, từ từ và cẩn trọng.

“Nhìn kìa!” Jane chống một khuỷu tay nhổm người lên, còn tay kia chỉ ra phía bờ biển. Bọn chúng đang ở đó, cái bóng đen cao lớn đang sải những bước dài, hai bên gã là hai cái bóng nhỏ hơn, đang bước đi nhấp nhô dọc theo Mũi Kemare.

“Ôi!” Barney nằm lăn ra và thất vọng rên rỉ. “Mình bị chặn đường mất rồi! Bây giờ làm thế nào ra được ngoài mũi đất đây?”

Jane ngồi dậy, nhăn nhó duỗi hai chân tê cứng. Em chán nản nói: “Chị chẳng thấy có gì đáng để buồn bực cả. Mình chẳng thể làm gì được. Mình đã tìm ra nơi cất giấu chén Thánh, nhưng dù sao thì cũng không thể lấy được nó. Nếu có một lối đi ở dưới thì nó nằm dưới biển mất rồi, còn cái hố mà mình tìm thấy ở phía trên thì quá nhỏ, không thể chui lọt kể cả mình có dây thừng đi nữa.”

Barney kêu lên, “Nhưng chúng thì có thể. Em biết là chúng sẽ làm được. Gã đó có thể làm bất cứ thứ gì, gã có vẻ như đã sắp xếp sẵn mọi thứ trước cả khi gã biết là chúng sẽ xảy ra nữa kia. Và nếu mà chúng phát hiện được cái hố trên tảng đá...”

“Nhưng chúng không thể xuống sâu hơn mình được,” Jane nói nghe rất hợp lý. “Và chúng cũng không thể vào từ phía dưới đáy được, trừ phi chúng có đồ lặn trên du thuyền. Dẫu sao,” em nói thêm nhưng có vẻ không tự tin lắm, “mình vẫn chưa biết chắc là chén Thánh có ở dưới đó không.”

“Chắc chứ, chị biết là bọn mình đều tin thế mà!” Nỗi thất vọng sốt vó của Barney mỗi lúc một bốc lên không sao chịu nổi. “Mình phải chặn chúng lại. Kể cả không thể tự làm được gì thì bọn mình cũng phải chặn chúng lại.”

“Đừng có như thằng nhóc ngốc nghếch thế,” Jane nói, bực bội vì thất vọng. “Bọn mình sẽ chỉ có nước là để chúng đi, và tránh xa bọn chúng cho tới khi tìm thấy Ông Merry thôi. Bọn mình chẳng thể làm được việc gì cả.”

“Có điều này,” Simon nói. Giọng nó nghe nghẹt đi và khá là cộc lốc, như vẫn thường thế mỗi bận nó cố để không quá phấn khích. Hai đứa nhìn nó, và Jane nhướn mày vẻ ngờ vực. Simon chẳng nói chẳng rằng. Nó ngồi hai tay ôm gối, cau mày nhìn cánh đồng trước mặt.

“Ôi, anh nói tiếp đi.”

“Thủy triều.”

“Thủy triều thì sao? Ý anh là gì?”

“Thủy triều rút rồi.”

“Ồ, thế thì có gì phi thường đâu? Em cũng biết,” Barney nói, hết sức ngạc nhiên. “Ai chả thấy dưới bến cảng toàn là bùn.”

Nhưng Simon chẳng thèm nghe. “Jane, em nhớ bác Penhallow đã nói gì ở dưới bến cảng đấy. Về thủy triều xuống thấp ấy mà.”

“Ồ, vâng.” Jane bắt đầu trông có vẻ bớt buồn bã hẳn. “Vâng, đúng rồi. Nó sẽ xuống rất thấp ngày hôm nay, bác ấy bảo thế... con nước triều... ngay dưới chân những tảng đá...”

“Mình có thể đi bộ quanh những tảng đá,” Simon nói.

“Thế thì sao?” Barney gặng hỏi.

“Nếu mình có thể đi bộ quanh những tảng đá,” Simon nói, cố sức tỏ ra kiên nhẫn, “thì mình có thể đi bộ quanh chân của Mũi Kemare.”

Jane ngắt lời, đoán được ý của thằng anh, “Và cái hang, lối đi ngầm dưới nước - lúc mình nghe thấy tiếng biển vọng lên từ dưới cái hố sáng nay, thủy triều đang rất cao. Vì vậy sóng vẫn tràn vào lối đi ngầm. Nhưng em không thấy sao, Barney - mực thủy triều đặc biệt thấp như thế này - nếu đã làm lộ ra hết cả những tảng đá ở phía dưới, thì có thể cũng sẽ để lộ ra lối đi ngầm, và mình có thể vào bên trong được.”

Cái mặt thằng Barney giờ là một tổng thể tức cười đủ mọi thứ xúc cảm; đờ đẫn chuyển thành hào hứng, rồi lại biến thành hoảng hốt. “Chúa ơi! Nhanh lên, mình xuống dưới đó thôi!” Nó nhảy bật dậy, nhưng rồi lại rền rĩ. “Nhưng không được rồi! Có một tên trong bọn chúng đang theo dõi dưới bến cảng, và ba tên khác thì đang ở trên mũi đất - làm sao mình có thể xuống đó mà không bị phát hiện đây?”

“Anh cũng đã nghĩ tới điều đó rồi,” Mặt Simon ửng hồng lên vì cảm thấy mình trở nên quan trọng. “Chỉ mới một phút trước thôi. Còn mé bên kia nữa cơ mà. Cái vịnh ở phía bên kia mũi đất, chỗ mình đến tắm ấy. Từ đây bọn mình có thể đi xuyên qua cánh đồng tới đó mà chúng không nhìn thấy được, trừ phi chúng lên tận chỗ những cột đá nhìn xuống hướng đó. Nếu chúng nhìn xuống thì bọn mình đi toi, nhưng đó là cách duy nhất mà anh nghĩ ra được.”

“Chúng sẽ không thấy đâu,” Jane nói đầy tự tin. “Chúng sẽ không ngờ rằng chúng mình sẽ đi xuống đó. Chúng sẽ tiếp tục mai phục ở mạn bến cảng.”

“Thôi nào, bọn mình phải nhanh lên. Nhanh hết cỡ vào. Anh nghĩ thủy triều vẫn còn rút khi mình vượt qua bến cảng, nhưng nó có thể đổi chiều bất cứ lúc nào. Ước gì mình biết được chính xác lúc nào thủy triều lên.”

Barney, cùng với con Rufus vừa tỉnh dậy và lại đang nhảy nhót xung quanh, đã đi xa được mấy mét qua cánh đồng. Đột nhiên nó dừng khựng, nom có vẻ lo lắng, và từ từ quay lại. “Nhưng còn Ông Merry. Bây giờ ông sẽ không thể tìm thấy bọn mình. Ông sẽ lo chết đi được.”

“Ông có thèm quan tâm gì đến chuyện làm bọn mình lo chết đi được khi biến mất sáng hôm nay đâu,” Simon nói cộc lốc.

“Ồ, nhưng dù sao thì...”

“Này,” Simon nói, “anh là lớn nhất, nên anh chịu trách nhiệm ở đây. Bọn mình chỉ có thể hoặc là đi tìm Ông Gumerry, hoặc là đi tìm chén Thánh, Barney, không có đủ thời gian cho cả hai việc đâu. Và anh quyết định mình sẽ đi tìm chén Thánh.”

“Chị cũng đồng ý,” Jane ủng hộ.

“Thôi được rồi,” Barney nói, và nó tiếp tục lội qua cánh đồng, trong thâm tâm lén lút cảm thấy nhẹ nhõm vì có ông anh ra lệnh để mà chấp hành. Nó thấy ngày hôm ấy mình phải làm người anh hùng đơn độc có dễ đã đủ cho hàng mấy năm liền rồi - đến nỗi những mơ ước thầm kín của nó về những chàng hiệp sĩ đơn thương độc mã trong bộ áo giáp bạc sẽ không bao giờ còn giống y như trước nữa.

***

Cả ba đều nóng bức và thở không ra hơi khi chúng đến được bãi biển chỗ vịnh kế tiếp tính từ Trewissick, ở phía bên kia Mũi Kemare. Nhưng chúng nhẹ nhõm cả người khi trông thấy thủy triều rõ ràng là vẫn chưa lên trở lại.

Biển dường như ở xa hàng dặm, cách cả một vùng mênh mang cát trắng lấp lánh ánh bạc không hằn dấu chân dưới ánh mặt trời, và khi bọn trẻ hăm hở nhìn dọc sườn mũi đất chúng có thể thấy các tảng đá dưới chân mũi đất đã lộ ra. Trước kia thì những con sóng lúc nào cũng dội vào vách đá, ngay cả khi thủy triều thấp nhất.

Chân của chúng ngập trong lớp cát khô mềm mại ngay đầu bãi. Barney ngồi phịch xuống và bắt đầu nới một bên xăng đan ra. “Chờ một phút, em muốn cởi dép ra đã.”

“Ồ thôi đi,” Simon sốt ruột bảo, “chỉ tổ em sẽ lại phải xỏ nó vào khi tới chỗ những tảng đá đấy.”

“Em không biết, thế nào thì em vẫn cứ cởi ra đây. Với cả em mệt lắm rồi.”

Simon cằn nhằn, và bực tức gõ gõ hộp kính viễn vọng vào đầu gối. Hơn bao giờ hết nó càng quyết tâm mang theo tấm bản đồ ở bất cứ nơi nào chúng đến, và cái hộp bây giờ nóng rực và ẩm ướt trong lòng bàn tay nó.

Jane ngồi xuống trên cát bên cạnh Barney. “Thôi mà, anh Simon, chỉ nghỉ năm phút thôi. Không sao đâu, mà em cũng thấy nóng lắm.”

Cũng không hoàn toàn miễn cưỡng, Simon để mặc cho đầu gối mình nhượng bộ, khuỵu xuống nằm ngửa trên mặt cát. Ánh mặt trời chói chang chiếu vào mắt nó, và nó vội vàng lật người lại. “Chao ôi, thật là một ngày kinh khủng. Anh chỉ muốn đi bơi một cái thôi.” Nó thèm khát nhìn ra biển; nhưng ngay lập tức mắt nó lại quay về những tảng đá.

“Thậm chí còn có nhiều đá lộ ra hơn là anh tưởng. Nhìn kìa, đi bộ dưới chân vách đá lúc này sẽ dễ như bỡn. Một số chỗ thì nom hơi lội, những chỗ thủy triều rút vẫn còn để lại nước ấy, nhưng mình vẫn đi qua đó được dễ ợt.”

“Vì thế anh cũng sẽ phải cởi dép ra thôi,” Barney nói vẻ đắc thắng. Nó quàng đôi xăng đan vòng quanh cổ bằng chiếc quai da và sung sướng ngọ nguậy những ngón chân trong cát, ngước nhìn những con mòng biển đang lượn tròn và cất lên tiếng kêu yếu ớt bên trên bãi biển. Bỗng nó khựng người lại. “Nghe kìa.”

“Anh cũng nghe thấy,” Simon nói, tò mò ngước nhìn lên. “Buồn cười thật, nghe như tiếng con chim cú đó vậy.”

“Đúng là tiếng chim cú thật,” Barney nói, nhìn chăm chú lên sườn mũi đất cao vút. “Nó vọng đến từ phía đằng kia. Em tưởng là cú chỉ kêu vào ban đêm thôi.”

“Đúng thế. Và nếu chim cú mà bay ra ngoài vào ban ngày thì chúng sẽ bị những con chim khác tấn công, vì cú ăn thịt con của bọn chim kia. Anh đã học được điều đó ở trường.”

“Ờ, nhưng đám mòng biển chẳng có vẻ để ý gì hết,” Barney nói tiếp. Nó ngước nhìn lên những đốm đen đang biếng nhác liệng đi liệng lại trên bầu trời. Rồi nó đưa mắt nhìn quanh bãi biển. “Này, con Rufus đâu rồi nhỉ?”

“Ồ, nó ở quanh đâu đó thôi. Nó vừa ở đây mà.”

“Không, không có.” Barney đứng bật dậy. “Rufus! Rufus!” Nó huýt sáo, tiếng huýt dài cao dần về cuối mà con chó luôn đáp lại. Chúng nghe có tiếng chó sủa sau lưng, và khi nhìn lên trên bãi biển về phía cánh đồng thoai thoải thì thấy Rufus đang đứng bên bờ cỏ, quay đuôi về phía biển nhưng đầu thì ngoái lại nhìn chúng.

Barney huýt sáo lần nữa, và vỗ nhẹ vào đầu gối. Con chó vẫn không động đậy.

“Nó làm sao thế nhỉ?”

“Nó trông có vẻ hoảng sợ. Hay là nó bị thương?”

“Em hy vọng là không.” Barney chạy lên bãi biển và túm lấy cái vòng cổ của Rufus, vuốt ve cổ con chó. Con chó liếm liếm bàn tay nó. “Đi nào, chó ngoan !” Barney nhẹ nhàng nựng. “Đi nào. Không có chuyện gì đâu. Đi nào, Rufus.” Nó khẽ kéo chiếc vòng cổ, quay lại phía Simon và Jane. Nhưng Rufus không chịu nhúc nhích. Con chó kêu gừ gừ, càng cố gắng lùi xa khỏi bãi biển; tai vểnh lên vẻ không thoải mái, và khi Barney sốt ruột kéo mạnh hơn thì nó quay đầu lại và gầm gừ như cảnh cáo.

Ngạc nhiên, Barney nới lỏng tay ra. Nó vừa làm thế thì con chó bỗng giật mạnh một cái như thể vừa nghe thấy tiếng gì đó, lại gầm gừ, và vùng khỏi tay của nó rồi lao vụt đi qua đám cỏ. Barney gọi, nhưng con chó tiếp tục chạy không dừng lại, đầu chúi xuống, đuôi cụp giữa hai chân, vừa chạy vừa nhảy cẫng lên thành một đường thẳng tắp cho tới khi biến mất sau khúc quành của mũi đất.

Barney từ từ quay lại chỗ bãi biển. “Mọi người có trông thấy không? Chắc chắn cái gì đó đã làm nó hoảng sợ - em cuộc rằng nó sẽ chạy một mạch về nhà.”

“Có lẽ chính là do con cú đó,” Simon nói

“Em nghĩ có lẽ vậy... này, nghe xem, lại nữa đấy!” Barney nhìn lên. “Đúng là nó đang ở trên đỉnh mũi đất.”

Lần này tất cả chúng đều nghe thấy; cái tiếng rền rĩ khàn khàn nhẹ nhàng vọng xuống: “U... u... u...”

Khi nghe thấy tiếng đó, Jane cảm thấy mọi bản năng cảnh giác của em bỗng thầm thì tận sâu trong tâm trí. Trong một thoáng, em chẳng hiểu ra sao nữa. Em lo lắng ngước nhìn Mũi Kemare đồ sộ lù lù trước mắt và đỉnh của những cột đá in rõ trên nền trời.

“Con chim ngu ngốc,” Simon lơ đãng nói, lại nằm ngửa ra lần nữa. “Cứ tưởng bây giờ là ban đêm chắc. Xéo về ngủ đi.”

Cứ như là có cái gì đó nổ bùng trong đầu, Jane bật nhớ ra. “Simon, nhanh lên! Không phải là chim đâu. Không phải là tiếng cú đâu. Chính là bọn chúng đấy!”

Hai đứa kia trợn tròn mắt nhìn em.

Jane đứng bật dậy, quên phứt cái nóng của mặt trời và cát trong cơn hốt hoảng bất ngờ. “Mọi người có nhớ không? - đêm hôm nọ ấy, trên đỉnh mũi đất, chỗ những cột đá. Bọn mình đã nghe thấy tiếng cú kêu, và vì thế nên Ông Gumerry mới đi kiểm tra, bởi vì ông đã nghĩ ngay tiếng cú đó nghe không bình thường. Và đó không phải là lũ cú, đó chính là bọn địch. Ồ nhanh lên, có lẽ chúng đã phát hiện ra chúng ta! Có lẽ đó chính là tín hiệu của một kẻ trong bọn chúng báo cho những tên kia biết là mình đang ở đây!”

Simon đứng vụt dậy trước khi em gái kịp nói hết câu. “Đi nào, Barney. Nhanh lên!”

Tránh xa cái trống trải trơ trọi của bãi biển, bọn trẻ lao về phía sườn mũi đất lởm chởm đá, cát lạo xạo dưới chân trong khi chúng chạy. Đôi dép của Barney nảy bình bịch trên ngực nó. Jane đánh rơi mất cả cái ruy-băng buộc túm tóc đuôi ngựa, và mái tóc em xõa xuống, cứ cọ vào gáy nhồn nhột. Simon chạy, tay ôm chặt cái hộp kính viễn vọng một cách dứt khoát cứ như thể đó là cây gậy của một vận động viên chạy tiếp sức. Bọn trẻ chạy thẳng về phía vách đá, dừng lại bên dưới cao độ xám lừng lững ấy, lo sợ ngó lại sườn dốc cỏ nổi bật đằng sau bãi biển. Nhưng không thấy có bóng dáng kẻ nào đuổi theo chúng, và chúng chẳng nghe thấy tiếng cú kêu nữa.

“Xét cho cùng có thể là bọn chúng vẫn chưa nhìn thấy mình.”

“Em cược rằng chúng không thể thực sự nhìn thấy bãi biển này từ bất cứ chỗ nào trên đỉnh của mũi đất.”

“Được rồi, dù sao mình cũng vẫn phải nhanh lên. Đi thôi, nếu không thủy triều sẽ tràn vào và đến nơi trước mình mất.”

Bọn trẻ vẫn tiếp tục chạy trên cát, dọc theo sườn vách đá, về phía cuối mũi đất và biển. Rồi chúng đến được chỗ những tảng đá, và bắt đầu leo lên.

Vượt qua những tảng đá đó quả là một kỳ công. Thoạt tiên đá khô ráo và khá nhẵn nhụi, nên chúng leo từ mỏm đá xám lởm chởm này sang mỏm đá khác một cách dễ dàng, men theo nhiều vũng nhỏ nơi cỏ chân ngỗng vươn xúc tu tựa những bông hoa tua tủa giữa thảm rong biển, và đàn tôm trong veo lia qua lia lại. Nhưng chẳng mấy chốc bọn trẻ đã đến chỗ những tảng đá chỉ lộ ra mỗi khi thủy triều thấp nhất. Những mảng lớn rong biển bám đầy trên đó, lấp lánh, vẫn còn ướt nháng dưới ánh mặt trời; thứ rêu nâu trơn tuột, kêu lép nhép dưới chân chúng, thỉnh thoảng lại tự dưng bong ra khiến chúng bị trượt xuống một vũng nước.

Chúng đến một hố nước dài còn đọng kẹt giữa những tảng đá. Vẫn nhất quyết đi chân không, Barney lê bước theo sau cách hai đứa lớn một đoạn. Chúng đứng đợi ở mép nước trong khi thằng em rón rén dò dẫm tới gần. “Ối!” nó giẫm phải một cái vỏ ốc và kêu lên.

“Đi dép vào đi,” Jane nói như van nài. “Nó có ướt cũng chẳng sao đâu, dép của bọn chị cũng ướt sũng cả rồi. Em có thể giẫm vào cái gì đó trong vũng nước và nó sẽ cứa đứt chân em cho mà xem.”

Barney trả lời, tỏ ra ngoan ngoãn một cách đáng ngạc nhiên do đã bị vấp đến ba ngón chân, “Được thôi.” Nó ngồi chồm chỗm trên một tảng đá nhô ra ngoài và gỡ đôi dép từ trên cổ xuống. “Đi dép vào để lội nước nghe thật ngớ ngẩn, chứ không phải là cởi dép ra đấy.”

“Mày còn gọi thế này là lội nước cơ đấy” Simon mỉa mai. “Ở đây có thể còn sót lại đủ thứ cá ăn thịt dưới biển sâu đang đói ngấu đói nghiến. Ông Penhallow bảo là chỉ ra khỏi mũi đất một tí thì biển đã sâu lắm rồi.” Nó nhìn chăm chú búi rong biển nâu nâu nổi lềnh phềnh trong vũng nước. “Ồ, được rồi, đi nào.”

Chúng lội lõm bõm qua đám rong, đi thật sát chân vách đá, lo sợ vịn tay vào đá để giữ thăng bằng. Simon, đi hàng đầu, thận trọng đưa một lên chân dò dẫm, khua khoắng nước làm rong biển quấn vào chân vừa lạnh vừa nhớp nháp. Đáy vũng nước có vẻ khá bằng phẳng, nên nó tự tin đi tiếp, với hai đứa em theo sau. Thế rồi đột nhiên bàn chân dò đường bị hẫng một cái, và chưa kịp đổ người lại đằng sau thì nó đã bị tuột xuống nước ngập tới thắt lưng. Jane, đi cuối cùng, kêu thét lên khi em nhìn thấy anh trai trượt ngã. Barney chìa một tay về phía Simon, lúc này bỗng thành ra thấp hơn cả nó.

“Không sao đâu mà,” Simon nói, ngạc nhiên hơn là bị xây xát gì. Sau cảm giác choáng váng lúc ban đầu, nó thấy làn nước mát lạnh trên đôi chân cháy nắng của mình thật dễ chịu. Nó cẩn thận lần lần về phía trước, và sau một vài bước lại thấy đá chạm vào đầu gối nó dưới làn nước của cái vũng. Nó đu người lên, đạp nước bắn tung tóe như một con cá bị mắc cạn, sau vài phút thì mực nước chỉ còn tới mắt cá chân.

“Đó là vùng đáy lõm ngầm dưới nước. Nó sẽ dốc lên đến chân vách đá. Cẩn thận nhé, Barney. Đưa chân ra trước dò xa hơn một chút, xem xem có chỗ nào để bước không. Có thể sẽ có cái gì đấy nhô lên, như bậc đá ấy. Anh bị ngã trước khi kịp dò thử. Nếu không thấy gì em chỉ việc đi theo lối anh đi. Có điều là chậm chậm thôi.”

Barney cẩn thận chọc chọc một chân xuống nước và xuống thảm rong biển rung rinh, nhưng thậm chí cách xa vách đá nó cũng chỉ thấy gờ cạnh của mỏm đá ngầm, và xa hơn nữa thì chẳng thấy gì. “Em chẳng dò thấy cái gì để bước lên cả.”

“Thế thì em phải lội xuống. Từ từ hạ người xuống.”

“Chẳng thà bọn mình bơi đến đó từ đầu còn hơn,” Barney lo lắng nói. Nó khom người, hai tay chạm đáy cho đến khi ngồi hẳn xuống nước, hai chân buông thõng trên kẽ nứt không nhìn thấy, và thả người tuột xuống.

Nước đã gần như ngập quá bả vai thì nó mới thấy bàn chân chạm vào đá cứng; nó đã quên khuấy mất Simon cao hơn nó đến thế nào. Nó lội qua và Simon kéo nó vào chỗ nước nông. Cái quần soóc của Barney, thâm sì và ướt sũng, dính bết vào bắp đùi nó, nên nó phải cúi xuống gỡ những lá rong biển đã kịp quấn chằng chịt quanh chân. Gần như tức thì nó cảm thấy cái nóng bức của mặt trời bắt đầu hong khô da, để lại trên da một lớp muối ram ráp. Jane làm theo y như vậy, và chúng cùng nhau lội qua nốt quãng nước nông cuối cùng tới chỗ những tảng đá lồi ra khô ráo giữa đám rong rêu màu nâu.

“Giá mà mình biết rõ về thủy triều,” Simon lo lắng nói với Jane. Barney đã hăng hái vượt lên, hết trượt lại tuột qua những tảng đá phía trước chúng.

Jane ngóng ra phía biển. Sóng biển hiền hòa vỗ vào những rìa đá tảng cách xa vài thước, chừa lại một lối mòn tự nhiên vòng quanh chân vách đá.

“Chắc chắn là chưa lên đâu. Thậm chí còn rút nữa là đằng khác. Em thấy chưa đáng lo mà, chúng ta chắc là sắp đến nơi rồi.”

“Ờ, nhưng phải để mắt đấy nhé. Anh lo chính là về cái đoạn nước sâu vừa rồi đấy. Khi nào nước lên thì sẽ tràn vào cái vũng sâu đó đầu tiên, và chả cần đầy ngập thì mình cũng không thể quay về lối cũ được rồi. Nó sẽ ngập quá đầu Barney trong nháy mắt.”

Mặt Jane tái mét, nhìn về phía đứa em trai đang bò lồm ngồm bằng cả tay và đầu gối. “Ôi anh Simon. Anh có nghĩ là mình nên để nó lại không?”

Simon nhe răng cười. “Anh cũng muốn được thấy em thử xem sao đấy. Đừng lo, nó sẽ ổn thôi. Miễn là mình theo dõi thủy triều là được.”

Ngoái lại đằng sau, Jane bỗng nhiên nhận ra chúng đã đi xa biết chừng nào. Bây giờ chúng đang đứng trên những tảng đá ở đầu chót của mũi đất. Những âm thanh lao xao xa lắc của đất liền không còn vọng đến từ đằng bãi biển, và chẳng có gì khác ngoài tiếng rì rào hiền hòa của biển. Cứ như là chúng đã tách hẳn ra khỏi đất liền vậy.

Rồi Barney hớn hở reo lên. “Này nhìn xem! Nhanh lên! Lại đây! Em tìm thấy rồi!”

Nó đang đứng sát vách đá, phía trước vài thước, gần như bị một tảng đá che khuất. Chúng thấy nó đang chỉ bề mặt của vách đá. Ngay lập tức hai đứa quên khuấy thủy triều, chúng nhảy lên, băng qua các vũng nước và đá về phía Barney, tảo biển lốp bốp dưới chân chúng như súng liên thanh.

“Không to lắm,” nó hô lên trong khi chúng tiến lại. Simon và Jane chỉ trông thấy kẽ nứt sâu hoắm trong tảng đá khi chúng đến thật gần. Trông chẳng giống cái hang mà chúng đã mường tượng trong đầu. Hẹp và có hình tam giác, kẽ nứt chỉ cao vừa đủ cho Barney có thể đứng thẳng người ở bên trong, còn phần chúng thì tất nhiên là sẽ phải lom khom mà đi vào. Những tảng đá xù xì chất đống xung quanh lối vào, và nước nhỏ tong tong từ trên nóc hang mọc đầy rêu xanh ẩm ướt. Chúng không thể nhìn sâu được vào bên trong.

Jane hỏi vẻ nghi ngờ, “Em có chắc chắn chính là đây không?”

“Tất nhiên là nó rồi,” Barney nói một cách cả quyết. “Không thể có nhiều hơn một cái đuợc.”

“Tại sao lại không chứ?”

“Anh cũng nghĩ thế,” Simon nói, “nhưng anh nghĩ đây đúng là cái hang đó đấy. Nhìn lên trên xem - mình có thể lờ mờ nhìn thấy ngay cái tam giác màu xanh trên đỉnh vách đá nơi cỏ mọc trùm bên trên những tảng đá. Mình chắc chắn đang đứng tương đối thẳng hàng với chỗ cái hố ấy lộ ra.”

Jane ngước lên, rồi lại vội vàng nhìn xuống, sửng sốt trước chiều cao đáng kinh ngạc của vách đá, cứ như thình lình sừng sững trên đầu chúng. “Em cũng cho là thế.”

Barney chăm chú nhòm cái hang tối om. “Thực ra nó không phải là một cái hang, mà chỉ là một cái hốc, giống như ở trên đỉnh. Ui,” - nó khịt mũi vẻ ghê ghê - “toàn mùi rong biển và muối. Hai bên thành thì ẩm ướt, đầy rêu xanh lè và nước nhỏ tong tỏng. May là bọn mình cũng đã ướt hết cả rồi.”

“Em không thích cái hang này tí nào,” Jane đột nhiên lên tiếng, nhìn trân trân lối vào đen ngòm quá nhỏ so với vách đá rộng lớn.

“Em nói em không thích nó nghĩa là thế nào?”

“Nó làm em sởn cả gai ốc. Bọn mình không thể vào trong đó được.”

“Ý em là em không thể chứ gì,” Simon nói. “Em sẽ phải canh chừng đề phòng trường hợp thủy triều lên. Nhưng anh thì có thể vào.”

“Thế còn em thì sao?” Barney phẫn nộ hỏi. “Chính em đã tìm thấy nó cơ mà.”

“Em muốn vào thật à?” Jane kinh hoàng hỏi.

“Với cái chén Thánh trong đó á? Ai mà lại không muốn cơ chứ? Tốt hơn là em thử xem sao,” nó cố gắng thuyết phục Simon, “em là đứa nhỏ nhất, và lối đi thì quá hẹp. Anh có thể sẽ bị mắc kẹt, và không bao giờ chui ra ngoài được nữa.”

“Ôi đừng nói thế,” Jane kêu lên.

“Nếu em vào được thì anh sẽ vào theo em,” Simon nói.

“Ôkê,” Barney vui vẻ đồng ý. Nó đã cảm thấy nhẹ nhõm không lời nào tả xiết suốt từ lúc thấy mình thoát khỏi bàn tay của gã Hastings nham hiểm đến nỗi không còn cái gì khác, so với điều đó, có vẻ còn đáng sợ nữa. “Nhưng giá mà bọn mình mang theo một cái đèn pin.” Nó nhìn săm soi vào trong hang đá. Chỉ cách cửa hang một vài bước chân, bên trong đã tối đen và chẳng nhìn thấy gì.

“Giá mà mình mang theo một đoạn dây thừng nhỉ,” Jane buồn bã nói. “Để nhỡ hai anh em bị mắc ở trong đó thật thì em có thể kéo ra.”

Simon cho tay vào túi quần ngó lên trời, và bắt đầu bình thản huýt sáo. Hai đứa kia trố mắt nhìn nó.

“Thế nào?”

“Anh làm sao vậy?”

“Cũng may mà trong gia đình mình còn có người thông thái,” Simon nói.

“Ai? Anh á?”

“Anh không hiểu bọn mày sẽ làm gì nếu không có anh.”

“Ồ thôi đi,” Jane sốt ruột nói, “anh không có dây thừng hay đèn pin, nên đừng giả vờ là anh có nữa.”

“Anh gần như là có đấy.” Simon thọc tay vào túi quần soóc. “Em biết cái lúc bọn mình lục túi tìm xem có dây thừng không, sáng nay ấy, và chỉ tìm được mỗi cuộn chỉ của em, thế là anh nghĩ bọn mình cần phải chuẩn bị cẩn thận hơn để đề phòng. Nên khi quay lại nhà anh đã chộp lấy mấy sợi dây câu của bố. Bố không cầm tất cả đi.” Nó lôi từ trong túi ra một búi cuộn chặt thứ dây cước mảnh màu nâu. “Cái này dai không kém gì dây chão.”

“Em chưa bao giờ nghĩ đến điều đó,” Jane nói, tỏ vẻ ngưỡng mộ.

“Anh cũng vẫn còn mẩu nến cũ đấy. Nhưng anh cá là em lại chẳng mang theo diêm đâu.”

Jane rên lên. “Không, em không mang. Nó ở trong túi đồ của em, và em đã để nó ở nhà rồi. Dở thật.”

“Anh cũng đoán thế mà.” Simon nói, rồi với một cú vung tay đầy tự mãn của một nhà ảo thuật, nó lôi trong túi quần ra một hộp diêm và mẩu nến. Nhưng rồi mặt nó xịu xuống. “Trời ạ, chúng ướt hết rồi. Chắc là chúng bị ướt lúc anh trượt ngã xuống cái hố sâu đây. Bấc nến ướt rồi, sẽ chẳng bắt lửa được nữa. Nhưng diêm thì vẫn còn tốt.”

“Chúng sẽ cháy thôi.” Barney động viên, “Hết sảy. Thôi nhanh lên.”

Simon lấy cái hộp kính viễn vọng vẫn kẹp dưới cánh tay và đưa nó cho Jane. “Em nên làm nhiệm vụ giữ tấm bản đồ này đi, Jane. Nếu anh đánh rơi nó trong đó mình sẽ chẳng bao giờ tìm thấy nữa đâu.”

Nó nhìn ra biển một lần nữa. Những tảng đá nơi chúng đang đứng ở đây thậm chí càng giống một con đê kè hơn, trải rộng ra gần như nối với mặt nước thành một mặt phẳng. Chỉ có duy nhất một mô đá xám nhô ra đơn độc cạnh lối vào hang.

Nước vẫn tiếp tục vỗ nhẹ vào đá cách chúng sáu bảy thước, không ra xa hơn cũng chẳng tiến lại gần hơn kể từ khi chúng bắt đầu rời bãi biển. Simon phân vân lo lắng không biết khoảng bao lâu nữa thủy triều sẽ dâng lên. “Anh đoán bọn mình còn khoảng nửa tiếng nữa,” nó chậm rãi nói. “Sau đó mình sẽ phải nhanh chóng quay lại trước khi thủy triều kịp dâng đến chỗ này. Lại đây, Barney, và đứng yên.”

Nó tìm được một đầu của cuộn dây câu và buộc cẩn thận quanh eo của Barney. “Nếu em đi trước thì anh sẽ giữ sợi dây đằng sau em.”

“Có cần phải cho nó vào không?” Jane nói.

Barney quay lại lườm chị.

“Ờ, anh cũng chẳng muốn thế,” Simon nói, “nhưng nó nói đúng, cái hang này rất hẹp và có lẽ nó là người duy nhất có thể vào được bên trong. Không sao đâu mà, anh sẽ không để nó lạc mất đâu. Này!” Nó đưa cho Jane cuộn dây. “Đừng để bị chùng.”

“Mà cũng đừng để bị căng quá,” Barney nói, bắt đầu đi vào, “nếu không chị sẽ cắt em ra làm đôi mất.”

Jane liếc nhìn đồng hồ. “Bây giờ là gần năm giờ. Khi nào hai anh em ở trong đó được mười phút thì chị sẽ kéo dây hai lần để nhắc nhé.”

“Mười phút!” Barney bĩu môi. “Bọn em có thể phải đi hàng dặm cơ đấy.”

“Hai anh em có thể chết ngạt mất,” Jane tội nghiệp nói.

“Đó là một ý kiến hay đấy,” Simon nói nhanh, liếc nhìn khuôn mặt em gái. “Em kéo hai lần, và nếu anh kéo lại hai lần, có nghĩa là bọn anh vẫn ổn nhưng bọn anh đang ở trong đó. Nếu anh kéo ba lần, có nghĩa là bọn anh đang trở ra.”

“Và nếu em kéo ba lần có nghĩa là hai người phải ra ngay, bởi vì thủy triều đang lên.”

“Tốt. Và bốn lần kéo từ một trong hai đầu thì có nghĩa là dấu hiệu nguy hiểm - mà,” Simon vội vàng nói thêm, “không phải là sẽ cần thiết đâu đấy nhé.”

“Được rồi,” Jane nói. “Ôi trời ơi. Hai anh em đừng đi lâu quá đấy.”

“Ờ, nhưng bọn anh sẽ phải đi chậm. Đừng có lo quá, sẽ không có chuyện gì đâu.” Simon vỗ nhẹ vào lưng em gái, và theo sau Barney lúc này đang hào hứng căng người ra với sợi dây quấn quanh bụng như chú chó kéo sợi xích, đưa một tay lên vẫy một cái và biến vào trong cửa hang tối om.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 02.03.2018, 16:38
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 34318
Được thanks: 5226 lần
Điểm: 9.58
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Giả tưởng] Trên biển khơi, dưới đá thẳm (The dark is rising #1) - Susan Cooper - Điểm: 10
CHƯƠNG 14

Barney chớp chớp mắt nhìn vào bóng tối. Khi mắt nó đã quen với việc không còn ánh sáng mặt trời thì những vật lờ mờ trong bóng tối mới dần hiện rõ ra. Nó nhận thấy ánh sáng từ lối cửa hang chiếu vào bên trong sâu hơn chúng tưởng; và ít nhất trong vài thước đầu tiên nó có thể nhìn thấy những thân rong biển xanh nhờ nhờ phủ bầy nhầy bên vách và trên nóc hang, cả ánh sáng lấp lánh của một dòng nước nông, tĩnh lặng bên dưới.

Nó thận trọng bước về phía trước, một tay giơ lên chạm vào nóc hang, tay kia dang ra chạm vào một bên vách. Nhè nhẹ và đều đặn, nó có thể cảm thấy Simon đang đi phía sau kéo sợi dây buộc ngang thắt lưng nó. Rõ mồn một trong không gian yên lặng khép kín của cái hang, nó có thể nghe được tiếng chân của hai đứa lội bì bõm và tiếng thở của anh trai.

“Đi cẩn thận nhé,” Simon nói từ phía sau. Thằng anh nói rất khẽ, gần như thì thào, vậy mà cái hang vẫn dội lại giọng nó thành một tiếng ì ầm vang dậy khắp cả không gian bao quanh chúng.

“Em đang cẩn thận đây thôi.”

“Em có thể bị va u đầu đấy.”

“Anh cũng có thể bị va u đầu. Coi chừng cái nhũ đá, nó sa xuống thấp đấy. Đặt tay lên nóc hang, anh sẽ sờ thấy đường.”

“Anh biết rồi,” Simon nói vẻ sốt ruột. Cổ nó phải chúi xuống rất khó chịu; vì cao hơn Barney nên nó cứ phải khom người suốt để tránh khỏi đập đầu vào đá nhầy nhụa bên trên. Thỉnh thoảng một giọt nước to lạnh lại nhỏ vào bên trong cổ áo sơ mi của nó.

“Lạnh quá nhỉ?”

“Lạnh phát cóng.” Chiếc quần soóc dính bết vào đùi Barney nhớp nháp, và nó cảm thấy hơi lạnh luồn qua áo. Mỗi lúc nó lại càng cảm thấy khó nhìn được những thứ xung quanh hơn, và chẳng mấy chốc nó phải lo lắng dừng lại, cảm thấy bóng tối vây tới gần như thể đang bưng lấy hai mắt. Lần mò lên trên, ngón tay nó không còn sờ được đến nóc hang nữa. Bên trên đầu, nóc hang đã vươn cao quá tầm với của nó, và nó chỉ nắm được không khí.

“Chờ một chút, anh Simon.” Giọng của nó dội lại từ mọi phía nghe rờn rợn. “Em nghĩ là nóc hang chỗ này cao hơn. Nhưng giờ em không nhìn thấy gì cả. Anh vẫn có diêm đấy chứ?”

Simon lần theo cái dây để tới chỗ Barney đang đứng. Nó chạm được vào vai thằng em, và Barney cảm thấy yên tâm hơn hẳn trước cảm giác tiếp xúc này, thậm chí còn hơn là nó dám tự thừa nhận với chính mình nữa.

“Đừng có động đậy. Anh sẽ buông cái dây ra một lúc đấy.”

Simon mò mẫm trong túi tìm diêm, rồi mở bao diêm ra, sờ các cạnh cẩn thận để biết chắc là mình mở đúng chiều.

Hai que diêm đầu chỉ bướng bỉnh kêu kèn kẹt trên vỏ mặc cho nó ra sức quẹt, và chẳng que nào bắt lửa. Que diêm thứ ba cháy nhưng lại bị gẫy luôn, làm bỏng ngón tay Simon đến nỗi nó kêu lên một tiếng và đánh rơi que diêm trước khi chúng kịp chớp chớp mắt cho hết lóa vì ánh lửa bất ngờ. Có tiếng xèo xèo nho nhỏ khi que diêm rơi xuống vũng nước quanh chân chúng.

“Nhanh lên,” Barney nói.

“Anh đang nhanh hết cỡ đây... a, được rồi.”

Que diêm thứ tư khô, bắt lửa và bập bùng cháy. Simon khum tay che ngọn lửa. “Lạ nhỉ, chắc là ở đâu có gió lùa rồi. Nhưng anh không cảm thấy gì cả.”

“Vậy mà que diêm lại cảm thấy. Tốt rồi, như thế có nghĩa là sẽ có lối ra ở đầu đằng kia. Thế thì đây đúng là cái hang cần tìm.”

Bàn tay Simon che ngọn lửa nhỏ chói mắt, và Barney vội vã nhìn xung quanh trong ánh sáng chập chờn. Bóng của chúng nhảy nhót trên vách hang, to đùng và nom thật kỳ quái. Barney nhìn lên, và thận trọng bước vài bước lên phía trước. “Giơ cao lên nào... này, ở đây nóc hang cao hơn, anh có thể đứng thẳng được đấy.”

Simon thận trọng bước đến chỗ em trai, trong lúc vẫn cong người bên trên que diêm, rồi duỗi thẳng lưng ra và thở phào một hơi nhẹ nhõm. Nhưng rồi que diêm cháy đến ngón tay nó, và nó thả vội xuống. Ngay lập tức bóng tối bao trùm lên hai đứa như một tấm chăn.

“Đứng yên nhé, anh sẽ châm que khác.”

“Thôi, chờ một chút, mình không cần phải lãng phí đâu. Em có nhìn thấy một đoạn phía trước lúc lửa chưa tắt, vì thế mình có thể đi hết đoạn đó rồi anh hãy châm que khác.”

Barney nhắm mắt lại. Không hiểu sao, mặc dù mở thì cái hang vẫn tối như vậy, nó thấy nhắm mắt lại cho nó cái cảm giác an toàn hơn. Ngón tay vẫn lần theo vách đá trơn tuột, nó bước hai, ba bước lên trước. Simon bước theo, một tay đặt lên vai em trai, mắt nhìn chòng chọc vào bóng tối nhưng chẳng thấy gì, như thể có một tấm màn đen dày đặc che rủ ngay trước mặt.

Chúng cứ tiếp tục vào hang như vậy trong một khoảng thời gian dường như vô tận. Cứ chốc chốc Simon lại đánh một que diêm, và chúng bước tiếp trong lúc cái nguồn sáng mờ mờ còn cháy và vài bước nữa theo trí nhớ sau khi diêm tắt phụt. Một lần chúng thử thắp mẩu nến, nhưng nó chỉ kêu xèo xèo bướng bỉnh, thế nên Simon lại nhét nó vào túi.

Không khí phả vào mặt chúng lành lạnh, nhưng trong lành. Mặc dù xung quanh chúng toàn mùi muối và rong biển, như thể đang ở dưới biển, chúng thấy không khó thở lắm. Sự tĩnh lặng, cũng như bóng tối, dường như đặc quánh, chỉ bị phá vỡ bởi chính tiếng bước chân của chúng, và tiếng vang thánh thót của những giọt nước từ trên nóc hang thỉnh thoảng rơi tõm xuống.

Trong lúc Simon đang đứng im và loay hoay với bao diêm thì Barney cảm thấy sợi dây quanh bụng mình giật mạnh siết vào người; một, hai lần. “Hai lần kéo. Chắc là chị Jane đấy. Mười phút. Trời đất, em cứ tưởng mình đã ở đây đến hàng tiếng đồng hồ rồi.”

“Anh sẽ làm hiệu lại,” Simon nói. Nó đánh một que diêm và nhìn thấy sợi dây mảnh đang căng lên trong ánh lửa. Nắm chặt sợi dây, nó cũng giật hai cái chậm và đều về phía tín hiệu kia.

“Nghĩ đến chị Jane ở đầu đằng kia cứ là lạ thế nào ấy,” Barney nói.

“Không biết còn bao nhiêu nữa?”

“Ôi! - Anh có nghĩ mình sắp bị hết dây không? Dây có dài không?”

“Khá dài đấy,” Simon đáp, cố ra vẻ lạc quan hơn là nó cảm thấy trong lòng. “Mình đi chậm quá. Ui!” Que diêm cháy đến ngón tay, và nó vội vàng buông ra.

Không thấy có tiếng xèo xèo khi que diêm rơi xuống. Khi hai đứa mò mẫm đi tiếp Simon chợt nhận ra là nó đang cố lắng nghe âm thanh ấy.

“Dừng lại một lát, Barney.” Nó di di chân dưới đất và nhìn xuống. “Nền hang không còn ướt nữa.”

“Dép của em vẫn còn kêu lép nhép mà,” Barney nói.

“Đấy là nước ở bên trong giày, chứ không phải bên ngoài đâu, đồ ngốc ạ.” Giọng Simon vang ầm lên trong hang, và nó lại vội vàng hạ xuống thành khẽ thì thào, gần như sợ rằng âm thanh đó sẽ làm sập cả nóc hang trên đầu chúng.

“Vách hang ở đây cũng không còn lầy nhầy nữa,” Barney đột nhiên nói. “Là đá khô. Thực ra đã khô được một đoạn rồi, chỉ tại em không nhận ra thôi.”

Một que diêm nữa sáng bùng lên khi Simon châm vào que diêm gần cháy hết trên tay. Nó đưa ngọn lửa lại gần vách đá. Hai đứa nhìn thấy lớp đá granite xám trơ trụi, đôi chỗ nổi lên những vân đá sáng trắng, và không còn chút rong biển nào. Khi Barney cúi người xuống để sờ, nó thấy mặt đất phủ toàn bụi cát.

“Chắc là mình đang đi lên đồi.”

“Biển chắc không thể ăn sâu được đến đây đâu.”

“Nhưng mình nghe thấy tiếng biển ầm ầm từ trên miệng hố mà, sáng nay ấy. Liệu như thế có nghĩa là mình đã đi qua miệng khe núi rồi không?” Barney ngửa cổ nhìn lên nóc hang.

“Anh không nghĩ thế,” Simon nói vẻ không chắc chắn. “Tiếng biển có thể vọng xa cả đoạn đường dài. Này, nhìn phía trước nhanh đi, diêm sắp tắt rồi.”

Barney nhìn về phía trước và thấy cái khung cảnh giờ-đã-trở-nên-quen-thuộc mà mãi về sau nó vẫn không thể nào quên: những vách hang hẹp chạy ngoằn ngoèo vào bóng tối với bao nhiêu hình bóng đang nhảy nhót, như kẹp chặt chúng trong gọng kìm tù túng không mấy thân thiện. Và vào đúng giây phút bóng tối lại chực bao phủ lấy chúng, nó mơ hồ cảm thấy màn đen trước mặt gần hơn khi nãy.

Nó ngập ngừng đi lên phía trước, nhưng linh tính mách bảo nó dừng lại. Nó quờ tay ra trước khoảng không im lặng. Bàn tay đập vào đá cứng chỉ cách mặt nó khoảng vài inch. “Simon! Đường cụt rồi.”

“Cái gì?” Giọng Simon vang lên vẻ nghi ngờ và thất vọng. Nó đã đánh vật với những que diêm; giờ thì nó sờ thấy đáy hộp, và nhận ra là mình không còn nhiều nữa.

Trong ánh sáng chập chờn, khó có thể phân biệt được những cái bóng với bóng tối dày đặc, nhưng chúng đã kịp nhìn thấy cái hang vẫn chưa đến tận cùng. Thay vì thế, lòng hang thay đổi, ngay trước mặt chúng, thành một lối đi hẹp hơn ở xa xa: nhỏ và cao, với một tảng đá cuội nằm kẹt giữa hai bên vách phía trên nền đất chừng một mét. Trên đầu chúng, cao quá tầm với, khe hang hẹp mở rộng ra cho đến nóc: nhưng chẳng có cách nào để trèo lên đó cả. Tảng đá đã chặn lối lên.

“Chúng mình sẽ chẳng bao giờ qua được chỗ kia,” Simon tuyệt vọng nói. “Chắc là đá đã rơi xuống sau khi ông người Cornwall đó đi qua.”

Barney nhìn xuống cái khe hở tối om đáng sợ còn lại ở bên dưới khe đá, lởm chởm toàn đá và đầy đe dọa sau bóng lửa bập bùng, và nuốt nước bọt. Nó bắt đầu ước gì hai anh em được quay trở lại chỗ có ánh sáng mặt trời.

Sau đó nó nghĩ về chén Thánh, rồi đến vẻ mặt của gã Hastings. “Em có thể chui qua bên dưới, nếu em bò.”

“Không,” Simon phản đối ngay lập tức. “Nguy hiểm lắm.”

“Nhưng bây giờ mình cũng không thể quay trở lại,” Barney lấy lại tự tin khi nó bắt đầu tranh luận. “Mình đã đến tận đây rồi, có thể mình chỉ còn cách chén Thánh có mấy bước thôi. Em sẽ ra ngay nếu lối đi quá chật. Ôi thôi nào, Simon, để em thử đi.”

Que diêm phụt tắt.

“Mình không còn nhiều nữa,” Simon nói trong bóng tối. “Sắp hết rồi. Mình phải thắp mẩu nến đó lên không thì sẽ bị tắc ở đây. Em đang ở đâu?”

Lần theo sợi dây về phía Barney, Simon cầm lấy tay em trai và đặt bao diêm vào đó. Rồi nó sờ túi tìm mẩu nến, lau cái bấc vào áo hy vọng có thể làm nó khô hơn. “Nào, bật một que diêm lên.”

Có một tiếng động đằng sau chúng trong bóng tối, giống như tiếng đá rơi; một tiếng kèn kẹt, lạch cạch, và rồi lại im lặng.

“Cái gì thế nhỉ?”

Hai đứa lo lắng nghe ngóng, nhưng chỉ nghe thấy tiếng tim chúng bỗng dưng đập thình thịch. Barney đánh một que diêm, tay run rẩy. Quanh chúng, cái hang lại tràn ngập ánh sáng, duy chỉ có bóng tối xúm xít ở phía tiếng động như đang chế giễu.

“Chẳng có gì cả đâu,” cuối cùng Simon nói. “Chắc là một tảng đá mình đã cọ vào nên long ra. Đây.” Nó đưa mẩu nến lên trước ngọn lửa. Que diêm tiếp tục cháy nhưng mẩu nến vẫn chỉ kêu xèo xèo như lần trước. Chúng thử thêm lần nữa, cố nín thở, và lần này thì cái bấc bắt lửa, một ngọn lửa dài màu vàng tỏa đầy khói.

“Cầm lấy,” Barney nói vẻ quyết tâm. “Em sẽ đi vào trong đó.” Nó đưa cho Simon những que diêm cuối cùng và cầm lấy mẩu nến. “Anh nhìn mà xem,” nó nói, lấy tay che ngọn lửa đầy khói khỏi gió. “Thực ra lối này cũng không thấp lắm. Em có thể bò được.”

Simon nhìn theo lối đi bé xíu ấy đầy lo lắng. “Ờ... vì Chúa, cẩn thận đấy nhé. Và nhớ kéo sợi dây nếu em bị mắc kẹt, anh sẽ giữ dây đấy.”

Barney khuỵu tay và đầu gối bò vào trong cái khe tối om bên dưới tảng đá kẹt, giữ khư khư mẩu nến đang cháy lập lòe chực tắt phía trước mặt. Gió lúc này hình như mạnh hơn. Tứ phía chạm đâu cũng thấy đá, đến nỗi nó phải cúi đầu xuống và thu khuỷu tay vào, và trong một thoáng nó gần như phát hoảng lên vì cái cảm giác bị mắc kẹt.

Nhưng nỗi lo sợ chưa kịp lớn lên, thì những cái bóng đang lù lù ở quanh một điểm sáng bỗng thay đổi hình dạng, và nó ngẩng đầu lên mà không cộc phải đá. Nó bò thêm chút nữa, mặt hang cứng và đầy sạn dưới đầu gối nó; và nó thấy mình không những có thể đứng dậy mà cái hang cũng rộng hơn nhiều. Quầng sáng hắt ra từ ngọn lửa mà nó vẫn gìn giữ cẩn thận thậm chí còn không chiếu đến được hai bên vách hang.

“Em có ổn không?” Cái giọng lo lắng của Simon vọng đến nghèn nghẹt qua khe đá đằng sau nó.

Barney cúi xuống. “Ổn cả, bây giờ hang lại rộng rồi, chắc là một lối vào... em sẽ đi tiếp.”

Nó cảm thấy sợi dây ở bụng bị kéo chặt khi Simon giật dây trả lời và nó lại chầm chậm đi tiếp qua hang. Bóng tối mở ra đằng trước nó trong quầng sáng nhỏ từ mẩu nến, đang cháy rụi và nhỏ sáp nóng xuống móng tay nó. Khi nó ngoảnh lại nhìn qua vai thì không còn nhìn thấy lối vừa đi qua nữa.

“Xin chào,” Barney nói thử trong bóng tối. Giọng nó thì thầm dội trở lại nghe vừa kỳ quái vừa đáng sợ: không trầm trầm, vang dội khắp chung quanh như ở đoạn hang hẹp tựa đường hầm chúng vừa đi qua, mà thì thào xa xăm và cao vói trong không gian. Barney đi vòng quanh, nhòm vào bóng tối một cách vô ích. Nơi nó đang đứng chắc phải rộng bằng cả cái nhà - thế nhưng nó vẫn ở sâu dưới lòng Mũi Kemare.

Nó đứng lại, phân vân. Ngọn nến đang tàn, mềm nhũn trong tay. Ý nghĩ về gã đàn ông cao lớn mặc đồ đen trong ngôi nhà trống không lạ kỳ của gã bỗng trở lại, và cùng với ý nghĩ ấy là mọi mối đe dọa vây quanh bọn người đang đuổi theo chúng, bọn địch, những kẻ sẵn sàng liều mạng hòng ngăn chúng đến gần chén Thánh.

Barney rùng mình vì hoảng sợ và cái lạnh bất thình lình. Cứ như thể bọn người nọ đang ở xung quanh nó trong bóng tối câm lặng, độc ác và vô hình, buộc nó phải quay lại. Tai nó ù lên, ngay cả trong khoảng không mênh mông của cái hang nó vẫn cảm thấy cái gì đó đang bóp nghẹt nó, một mực đòi đuổi nó đi. Ngươi là ai mà dám xâm phạm nơi đây, giọng nói dường như thì thầm; một thằng nhóc, thò mũi vào chuyện quá ư ngoài tầm hiểu biết, vốn đã ngủ yên không hề bị quấy phá suốt bao nhiêu năm nay? Đi ngay đi, hãy quay lại nơi mà ngươi được bình an, để cho những cổ vật này yên...

Nhưng rồi Barney nghĩ tới Ông Merry, tới cuộc tìm kiếm bí mật của ông mà chúng đang tiếp bước. Nó nghĩ tới tất cả những điều ông đã nói, ngay từ khi mới bắt đầu cuộc tìm kiếm, về trận chiến đấu bất phân thắng bại. Và mặc dù chẳng thấy gì ngoài bóng tối, và tấm màn đen đặc bao quanh quầng sáng vàng vọt bé nhỏ đơn độc, nó chợt thấy hiện ra rõ mồn một hình ảnh hiệp sĩ Bedwin, người đã khởi đầu tất cả khi ông từ phía Đông tháo chạy đến Cornwall. Ông đứng trong tâm trí Barney, trong bộ giáp trụ, bảo vệ niềm hy vọng cuối cùng của vua Arthur, và cũng bị rượt đuổi bởi những thế lực giờ đây đang bám theo chúng.

Và Barney nhớ lại câu chuyện rằng Bedwin được chôn cất trên Mũi Kemare, có thể thẳng ngay phía trên hang chỗ nó đang đứng, và nó không còn sợ nữa. Giờ đây đã có sự an ủi bao quanh nó trong bóng tối, bên cạnh nỗi sợ hãi.

Thế là Barney không quay lại. Nó tiếp tục đi, tay che ngọn lửa nhỏ đang tắt dần, bước vào cái bóng tối cứ trả lại tiếng bước chân của chính nó thành những tiếng vọng xì xào. Và rồi, ngay trên đầu, nó nhận thấy một âm thanh kỳ lạ hơn bất cứ âm thanh nào nó đã từng nghe được.

Âm thanh ấy dường như đến từ cõi hư vô, ngoài khoảng không, một tiếng âm âm kỳ bí, khàn khàn, rất yếu ớt và xa xôi, nhưng vẫn vang khắp lòng hang: lúc trầm, lúc bổng, tựa như tiếng gió xào xạc trên các cành cây và đường dây điện thoại. Khi ý nghĩ ấy thoáng vụt qua tâm trí Barney, nó liền giơ mẩu nến lên và nhìn thấy nóc hang phía trên đầu mình mở ra thành một thứ ống thông khói, cao mãi cao mãi cho đến lút tầm mắt. Trong một thoáng nó nghĩ là mình đã nhìn thấy một điểm sáng chiếu xuống, nhưng vì ánh sáng của ngọn nến lóa ngay trước mắt nên nó cũng chẳng thể nào dám chắc. Rồi nó nhận ra âm thanh mà nó nghe được chính là tiếng gió, mãi tít bên trên, thổi xuống qua miệng hố chỗ tảng đá mà mấy anh em phát hiện ra hồi sáng. Tiếng ù ù ở dưới hang này chính là tiếng gió thổi trên Mũi Kemare.

Gần như tình cờ, khi đang mải ngẩng lên nhìn, nó trông thấy cái gờ đá. Cái gờ đá ấy nhô ra từ một bên vách ống thông khói ở cuối hang; một thứ ụ đá bên dưới một cái hốc, hao hao cái kệ thiên tạo, vừa đúng tầm với của nó. Bên trong đó, nó thấy ánh nến lấp lánh phản chiếu lại một hình thù gì đó không phải là một phần của khối đá.

Không cả dám thở, nó với lên và thấy tay mình chạm vào bề mặt một vật gì đó vừa nhẵn vừa cong. Dưới móng tay nó, vật ấy phát ra tiếng kêu của kim loại. Nó chộp lấy vật đó và đem xuống, chớp chớp mắt vì bụi bốc lên từ bệ đá. Đó là một cái chén, nặng trĩu và hình thù kì lạ; từ dưới chân đế dày phình ra thành hình cái chuông dài, giống hệt như những cái chén có chân nó thấy vẽ trong mấy quyển sách về vua Arthur. Nó băn khoăn tự hỏi làm thế nào mà những họa sĩ kia biết được. Nó hầu như không sao tin được rằng, rốt cuộc, đây lại chính là chén Thánh.

Cái chén kim loại lạnh ngắt trong tay nó, đầy bụi và rất bẩn, nhưng bên dưới lớp bụi vẫn lờ mờ hiện ra ánh vàng lấp lánh. Trên bệ đá không còn cái gì nữa.

Đột nhiên ngọn nến rung rinh. Sáp nến rơi xuống mềm và ấm, Barney sợ hãi đoán rằng ngọn nến sẽ chỉ còn cháy trong vài giây nữa rồi thì nó sẽ chỉ còn lại một mình trong bóng tối. Nó rời bệ đá trở lại hướng mà lúc nãy nó bò vào, và nhận ra rằng nếu không có cái dây quấn quanh bụng thì nó sẽ bị mất phương hướng đến độ nào. Khoảng không rộng lớn của lòng hang trải ra khắp chung quanh nó vào bóng tối dày đặc; chỉ có sợi dây này, thẳng và mảnh, là mách lối cho nó đi.

Nó bước về phía đó; sợi dây chùng xuống đất rồi lại căng ra. Simon chắc là đang kéo. Barney một tay ôm chặt chén Thánh vào người, tay kia nâng ngọn nến giờ đã cháy gần hết lên. Cơn phấn khích xua tan hết nỗi sợ hãi trong lòng. “Anh Simon!” nó gọi to. “Em tìm thấy đây rồi!”

Không có tiếng trả lời ngoài giọng nó, thì thầm dội lại trong cái hang trống trơn. “Thấy đây rồi... thấy đây rồi...” ... hàng chục giọng, giọng nào cũng là của nó, vang lên tứ phía.

Và ngọn nến rung rinh, rồi tắt lịm.

Sợi dây căng ra khi Barney nắm vào và chầm chậm bước theo. “Anh Simon đấy à?” nó lo ngại hỏi. Vẫn không có tiếng trả lời. Trong chốc lát, trong đầu nó hiện ra một hình ảnh ghê rợn rằng Simon đang bị khống chế và bất lực. Còn ở bên kia lối đi hẹp kẹt trong đá là dáng người cao cao đầy nhạo báng của gã Hasting, đang cầm sợi dây như thể vờn một con cá đã mắc câu, và chờ đợi...

Cổ họng Barney bỗng dưng khô khốc. Trong bóng tối, nó ôm cái chén Thánh chặt hơn, trống ngực đập thình thịch. Rồi nó nghe thấy giọng Simon, khe khẽ trong bóng tối phía trước mặt, và hơi nghèn nghẹt.

“Barney!... Barney đấy à?”

Barney đưa tay ra và sờ thấy tảng đá nơi phần nóc tự dưng sa xuống thành khúc hẹp của lòng hang. “Em đây... Simon, em tìm thấy rồi, em đã lấy được chén Thánh rồi!”

Nhưng nó chỉ nghe thấy tiếng giục nghèn nghẹt từ phía bên kia, “Ra ngoài, nhanh lên.”

Barney bò bằng tay và đầu gối, lại nhăn mặt mỗi khi đập vào cạnh đá sắc. Nó cẩn thận bò vào đúng cái khe chia hai ngả của hang, đôi lúc lại va đầu vào trần đá thấp lởm chởm trong bóng tối.

Nó giữ cho cái chén Thánh thẳng đứng ngay trước mặt, nhưng cái chén chạm vào vách đá và, trước vẻ kinh ngạc của nó, phát ra một thanh âm ngân dài trong trẻo và du dương như một tiếng chuông.

Nó nhìn thấy một quầng sáng lờ mờ hiện ra ở đầu kia của khe đá và rồi một que diêm sáng rực tựa ngôi sao, và Simon đang vừa khom người thật thấp vừa kéo dây bằng bên tay còn rỗi. Bóng tối làm mắt thằng anh to ra, tối sẫm và có vẻ hết sức hốt hoảng. Nó nhìn không chớp lúc Barney bò ra, quên hết thảy tất cả khi thấy chiếc chén cao cao.

Simon từ bấy đến giờ đâm mỗi lúc một thêm lo lắng, và duy nhất có cái cảm giác Barney vẫn đang di chuyển ở đầu bên kia là còn ngăn được nó tự mình chui qua cái ngách bé xíu ấy. Nó đã đứng một mình trong bóng tối, căng tai ra nghe từng tiếng động, mong được thấy ánh sáng nhưng vẫn tự bắt mình phải để dành sáu que diêm lại cho chuyến trở ra. Thời gian chờ đợi ấy mới lâu làm sao.

Nó cầm lấy cái chén từ tay Barney. “Chẳng hiểu sao, anh lại tưởng nó phải có hình thù khác cơ... Cái gì ở bên trong thế này?”

“Ở đâu?”

“Nhìn này...” Simon sờ soạng bên trong cái chén và lôi ra một thứ thoạt nhìn trông giống một cái que ngắn, để lâu năm nên đã đen sạm lại gần bằng cái chén Thánh. Người ta đã nhét nó vào giữa hai lớp thành chén và lúc nãy Barney vội quá nên không nhìn thấy.

“Nó rất nặng. Anh nghĩ nó được làm bằng chì.”

“Cái gì thế?”

“Hao hao cái ống. Giống cái vỏ ống nhòm, nhưng nhỏ hơn nhiều. Mà hình như không vặn ra được. Có thể chỉ khớp vào với nhau thế thôi.” Simon kéo thử cái ống và chợt thấy một đầu bung ra như cái nắp: và cuộn tròn ở bên trong là một thứ hết sức quen thuộc.

“Là một bản viết cổ nữa!”

“Thì ra đó chính là điều ông ta định ám chỉ khi nói...” Simon đột nhiên ngừng lại. Nó đã cầm một đầu của cuộn giấy định kéo ra khỏi cái ống, nhưng mép giấy lập tức vỡ vụn ra dưới tay nó chạm vào. Vội vàng thận trọng nó rụt tay lại, và cũng đúng lúc đó chợt nhớ ra vì sao nó lại lo lắng gọi Barney ra ngoài như thế.

“Bọn mình không được chạm vào nó, nó quá cũ rồi. Barney này, bọn mình phải ra khỏi đây càng nhanh càng tốt. Jane đã giật dây ba cái trước lúc em quay ra đấy. Chắc là thủy triều đang lên rồi. Nếu bọn mình không thoát ra nhanh thì sẽ bị chặn đường mất.”

***

Khi Simon và Barney biến vào trong miệng hang, Jane liền ngồi dựa vào một cột đá lẻ loi trên mũi đất, giữa những thảm rong biển ẩm ướt và một dải bờ đá granite phẳng lì màu xanh xám lượn vòng quanh vách đá. Em kẹp cái hộp kính viễn vọng thật cẩn thận dưới cánh tay. Mặc dù em luôn đi cùng với Simon khi anh trai mang cái hộp, nhưng cứ nghĩ đến bản viết cổ bên trong em lại thấy một cảm giác bồn chồn kỳ lạ rằng mình đang gánh vác một trách nhiệm nặng nề.

Em thả dần sợi dây câu mảnh từ cuộn dây quấn chặt trong tay ra. Lực kéo không đều, có vẻ như bên trong hang đá hai anh em cứ chốc chốc đi lên vài bước rồi lại dừng lại. Em phải rất tập trung để giữ cho sợi dây không quá căng hay quá chùng đến mức rơi xuống đất.

Trời rất nóng. Mặt trời chiếu như đổ lửa xuống những vách đá xám cao vút và em cảm thấy cái nóng râm ran như kiến đốt trên da. Thậm chí cả tảng đá em dựa lưng vào cũng bị nung nóng dưới ánh mặt trời, và em có thể cảm thấy hơi ấm của nó qua lưng áo. Đằng sau em, nước biển rì rầm vỗ vào mép những tảng đá bị lộ ra. Không còn một âm thanh nào khác ở bất kỳ đâu, dưới chân mũi đất hiu quạnh này với mặt biển lan tỏa ra mọi hướng, và nếu không có sợi dây đang rung rinh trong tay thì Jane hẳn đã tưởng rằng mình là người duy nhất trên thế giới. Đất liền, và Ngôi nhà Xám, dường như ở rất xa.

Em nghĩ miên man không biết bố mẹ đã từ Penzance trở về chưa và họ sẽ nghĩ gì khi thấy ngôi nhà trống không, chẳng có lấy một dấu hiệu cho thấy người nào đã đi đâu.

Em nghĩ về ba bóng người mà mấy anh em đã nhìn thấy sải bước trên Mũi Kemare, dẫn đầu là gã Hastings đáng sợ, đen sì một màu và chân cẳng dài ngoằng như một con bọ hung khổng lồ. Theo bản năng, em nhìn lên vách đá. Nhưng không một âm thanh, không một chuyển động, chỉ có dải bờ đá xám ngả bóng lên em như hăm dọa, và chóp cỏ xanh ở trên mũi đất, bên trên chỗ em ngồi chừng sáu chục mét.

Rồi Ông Merry lại theo những ý nghĩ ấy len vào tâm trí em. Ông đang ở đâu nhỉ? Lần này không biết ông đi đâu? Gần cuối cuộc tìm kiếm rồi mà chuyện gì lại có thể quan trọng tới mức khiến ông phải đi? Không lúc nào Jane nghĩ là ông có thể bị hại, hay bị kẻ địch bắt đi cả. Em nhớ rất rõ vẻ tự tin tuyệt đối khi Ông Merry nhấc bổng em lên trong vòng tay vào cái đêm hôm trước trên mũi đất. “Chúng không dám đuổi theo nếu ông ở đây...”

“Cháu ước gì giờ này ông ở đây,” Jane nói, hơi to, có run run một chút, bất chấp hơi nóng hầm hập. Em không thấy yên tâm khi nghĩ đến Simon và Barney trong bóng tối, nơi bất cứ thứ gì cũng có thể đang rình rập, hai đứa có thể bị lạc đường và không bao giờ ra được, nóc hang có thể sập xuống...

Ông Merry đáng nhẽ đã có thể đảm bảo rằng sẽ không xảy ra chuyện gì như vậy.

Jane nhìn đồng hồ. Bây giờ đã là năm giờ mười hai phút rồi, mà cái dây trong tay em vẫn đang thả ra chậm rề rề và giật cục vào trong hang. Em giật hai cái thật mạnh. Sau một lúc chờ, em thấy cái dây giật hai lần thay cho câu trả lời; nhưng rất khẽ. Sợi dây đã tở ra được hai phần ba; em ước gì mình đã đo sợi dây trong lúc thả nó ra. Thời gian trôi qua thật lê thê; sợi dây vẫn cứ chạy tuột khỏi tay em, di chuyển vào hang tối với tốc độ còn chậm hơn lúc nãy. Mặt trời chói chang bất động trên bầu trời xanh không một gợn mây, và một cơn gió nhẹ từ đâu thổi đến làm tung đuôi tóc dài buông xõa của Jane.

Em vẫn dựa lưng vào đá và để cho các giác quan của mình lang thang; cảm nhận cái nóng của mặt trời trên da, ngửi mùi biển trên đá ướt và rong biển, lắng nghe tiếng sóng biển ì oạp êm ái. Rồi trong lúc đang lơ mơ như ngái ngủ ấy, chỉ còn ngón tay là hoạt động, em chợt sửng sốt nhận ra rằng tiếng nhịp sóng biển đã đổi.

Em bật dậy và chạy vòng trở lại. Em kinh hoàng nhìn thấy những đám rong gần biển nhất giờ đây đang dập dềnh theo con sóng lúc trước còn chưa thấy ở đó. Sóng biển đang vỗ vào chỗ lúc trước vẫn là triền đá; tới gần chỗ mình ngồi hơn lúc trước, em tự nhủ. Thủy triều đang lên.

Jane bắt đầu thấy hoảng trong lòng. Vài vòng dây cuối cùng bây giờ đã lỏng ra trong tay em: hai anh em hẳn đã chui vào hang được một đoạn quá xa rồi. Em nắm sợi dây thật chắc, cuộn phần dây chùng vào tay và đi ra ngay phía trước cửa hang tối om, rồi giật thật mạnh một, hai, ba cái.

Không thấy gì cả. Em chờ đợi, lắng nghe tiếng ì oàm đều đều của những con sóng đang trườn lên. Đúng lúc những giọt nước mắt hoảng sợ bắt đầu dâng lên cay sè trong mắt thì em thấy tín hiệu trả lời; ba cái giật nhẹ của sợi dây trong tay. Gần như ngay tức thì sức căng của sợi dây giảm đi, và sợi dây lại bắt đầu chùng hẳn xuống. Jane thở phào nhẹ nhõm. Sợi dây di chuyển về phía em khi em kéo; ban đầu thì chậm, sau đó dễ dàng hơn, nhanh hơn lúc em thả dây ra. Rồi cuối cùng, Simon và Barney, mắt chớp lia lịa đằng sau hai bàn tay giơ lên che ánh mặt trời, loạng choạng bước ra khỏi miệng hang hẹp.

“Chào,” Simon ngơ ngẩn nói, nghe có vẻ còn choáng váng. Diêm đã hết từ năm phút trước khi chúng ra được khỏi hang, và đoạn cuối của đường ra là cả một hành trình ác mộng trong bóng tối đen như hắc ín, dò dẫm bước đi và chỉ tin tưởng bám theo sợi dây để biết đoạn đường phía trước không có gì trở ngại. Nó đã bắt Barney để nó đi trước. Suốt dọc đường nó luôn có cảm giác rằng chỉ một bước nữa thôi là nó có thể đâm vào đá, hay phải mặt đối mặt với Thứ Gì Đó không tên trong bóng tối, và nó sẽ chẳng ngạc nhiên nếu khi chúng chui ra thì tóc nó đã thành bạc trắng.

Jane nhìn Simon, hơi nhoẻn miệng cười gượng gạo và lặp lại y hệt, “Chào.”

“Nhìn này!” Barney nói và giơ cái chén Thánh lên.

Jane cảm thấy nụ cười của mình rộng hẳn ra vì sung sướng. “Thế là bọn mình đã thắng chúng rồi! Bọn mình đã có nó rồi! Trời, giá mà Ông Gumerry ở đây nhỉ.”

“Em nghĩ nó làm bằng vàng đấy.” Barney cọ cọ vào lớp kim loại. Ở ngoài nắng, chén Thánh kém vẻ thần diệu hơn hẳn so với khi ở trong bóng tối bí ẩn của cái hang; nhưng một ánh vàng lấp lánh vẫn ẩn hiện đâu đó sau lớp bụi. “Ở trên bề mặt cũng có họa tiết gì đó nữa,” nó nói. “Nhưng mình không thể nhìn rõ nếu không lau sạch.”

“Nó cổ quá nhỉ.”

“Nhưng nó có ý nghĩa gì chứ? Ý em nói là mọi người đi tìm kiếm nó như điên, bởi vì nó có thể cho biết điều gì đó, nhưng khi nhìn thấy nó rồi thì có vẻ như nó chẳng nói lên được điều gì cho ai hết cả. Trừ phi cái họa tiết trên này là một loại mật mã gì đó.”

“Bản viết cổ,” Simon nhắc.

“Ôi trời ơi, phải rồi.” Barney rút cái ống bằng chì nhỏ và nặng ra khỏi chén Thánh và đưa Jane xem cái bản viết cổ ở bên trong. “Nó được lèn vào trong chén. Chắc là nó viết tiếp cái phần bản viết cổ của bọn mình còn bỏ dở. Em dám cá là nó rất quan trọng. Em dám cá là nó giải thích mọi thứ. Nhưng mà chưa kịp nhìn qua thì nó đã bục ra rồi.” Nó cẩn thận đóng nắp cái ống lại.

“Chúng ta phải mang nó về nhà an toàn,” Simon nói. “Anh đang nghĩ liệu có chỗ nào không... chờ một chút.” Nó cầm lấy cái hộp kính viễn vọng ở dưới cánh tay Jane và xoáy mở ra. Bản viết cổ quen thuộc của chúng nằm vừa như in ở nửa dưới của cái hộp.

Simon cầm lấy cái ống bằng chì màu đen và cẩn thận thả nó vào giữa bản viết cổ ở bên trong hộp kính viễn vọng. “Rồi. Có khăn mùi soa đấy không, Jane?”

Jane lấy chiếc khăn mùi soa từ túi áo ra. “Để làm gì?”

“Thế này này,” Simon nói, vừa nhét chiếc khăn tay thành một cuộn chặt sâu bên trong đầu trên của bản viết cổ. “Nó sẽ giữ cho cái ống mới khỏi bị xóc. Mình sẽ phải chạy nếu muốn ra khỏi chỗ này trước khi thủy triều đuổi kịp, mà như thế cái ống sẽ bị quăng quật rất nhiều.”

Lập tức Jane và Barney cùng quay nhìn ra biển. Và gần như cùng một lúc cả hai đứa đều há hốc miệng vì kinh ngạc, kèm theo là một tiếng hức của nỗi kinh hoàng bị bóp nghẹt. Simon đang mải cúi đầu để vặn hai nửa của cái hộp kính viễn vọng vào với nhau, bèn vội vã ngẩng đầu lên. Những con sóng cuốn rong biển đi giờ chỉ còn cách chỗ chúng đứng chưa đầy hai mét. Nhưng đó vẫn chưa phải là vấn đề. Jane và Barney, đứng sững như trời trồng, đang nhìn ra xa phía ngoài khơi.

Trong một thoáng, một mỏm đá nhô ra che khuất tầm mắt của Simon. Nhưng rồi nó cũng nhìn thấy hình nét cao cao đường bệ của du thuyền Phu Nhân Mary, buồm căng hết cỡ, đang vòng qua đuôi mũi đất tiến về phía chúng. Rồi nó cũng thấy cả dáng người mặc đồ đen cao lớn đang đứng trước mũi tàu, một tay giơ lên, chỉ chỏ.

“Nhanh lên, nào!” Simon túm lấy Barney và Jane trong khi hai đứa hãy còn đứng ngây người ra vì kinh hoàng, rồi đẩy hai đứa đi lên trước.

Chúng nhảy lên và trượt qua những tảng đá phủ đầy rêu, xa khỏi cái hang và con thuyền buồm đang rượt đuổi. Barney vừa chạy vừa nắm chặt chén Thánh trong tay, hai cánh tay dang ra để giữ thăng bằng, còn Simon thì dứt khoát ôm chặt cái hộp bên trong đựng hai bản viết cổ vào ngực. Nó ngoái nhìn qua vai lại đằng sau và thấy cánh buồm lớn màu trắng trên chiếc du thuyền đang hạ xuống boong, và một chiếc xuồng nhỏ được thả xuống mạn.

Barney trượt và ngã, suýt nữa thì kéo cả hai đứa kia cùng ngã nhào theo. Mặc dù ngã, cái chén Thánh vẫn không rời tay nó, nhưng lại đập vào một tảng đá kèm theo tiếng ngân thánh thót như chuông hệt lúc trước. Tiếng ngân át cả tiếng chân bọn trẻ lội bì bõm vội vã.

Nó cố gắng đứng dậy, bặm chặt môi vì nước biển mặn ngấm vào chỗ đầu gối bị xước xót quá, rồi cả ba lại vội chạy. Bây giờ thì chúng phải lội bì bõm qua nước suốt cả quãng đường. Sóng đã lớn hơn, và đánh tràn qua cả những tảng đá theo mỗi nhịp thủy triều dâng. Nước giấu kín những vũng và hố bằng từng mảng rong biển nâu trôi nổi dập dềnh, che lấp những tảng đá trần trụi bằng cuộn nước xoáy chẳng mấy chốc sẽ trở thành một dòng chảy đủ mạnh để cuốn phăng những đôi chân đang cuống cuồng đến tuyệt vọng kia.

Barney lại bị trượt và ngã xuống nước đánh oạch.

“Để chị cầm cho.”

“Không!”

Barney loay hoay tìm chỗ đặt chân, trong khi Jane nắm cánh tay còn rỗi của nó kéo dậy, và cơn ác mộng điên cuồng vì bị rượt đuổi đẩy chúng chạy nhanh hơn, ngoằn ngoèo những bước nhảy rối loạn cụt đường qua các tảng đá đang bị sóng đánh tới tấp. Simon lại ngoái nhìn. Hai người trên chiếc xuồng nhỏ đang chèo rất nhanh rời chiếc du thuyền hướng về phía chúng. Nó nghe thấy tiếng động cơ du thuyền khởi động.

“Nhanh lên, nào!” nó thở hổn hển. “Mình vẫn còn kịp!” Chúng mau chân hơn, suýt nữa thì ngã, chỉ còn đứng vững được nhờ tốc độ của chính chúng. Vẫn chưa thấy bóng dáng bãi biển xung quanh mũi đất, mà chỉ thấy một bên là biển còn bên kia là vách đá dựng đứng như một bức tường thành. Và trước mắt chúng, đang chìm dần vào thủy triều, là con đường dài tít tắp toàn đá và rêu.

“Đứng lại!” một giọng trầm vang lên đằng sau chúng. “Quay lại! Lũ trẻ ranh ngu ngốc kia, lại đây!”

“Chúng sẽ không bắt kịp bọn mình đâu,” Simon vừa thở vừa nói, tay đỡ Barney khi nó suýt ngã lần thứ ba và dựng phắt nó đứng thẳng dậy. Jane ở bên cạnh cũng đang cố lấy hơi từng bước, nhưng vẫn vừa chạy vừa vấp một cách cuống cuồng tuyệt vọng tương tự. Rồi quanh mũi đất trước mặt lũ trẻ hiện ra một thứ khiến mọi hy vọng của chúng tiêu tan chẳng khác nào đá rơi xuống lòng biển.

Đó là một chiếc xuồng khác, khá dềnh dàng, đang rẽ sóng tiến về phía chúng như một chiếc xà lan. Thằng Bill ngồi cạnh cỗ động cơ gắn bên ngoài đang nổ bình bịch ở phía đuôi, còn trước mặt nó gã Withers đang hăm hở nhao về phía trước, mái tóc đen dài của gã bay trong gió. Gã nhìn thấy ba đứa và hét lên đắc thắng, và chúng thấy một nụ cười không mấy dễ chịu nở trên khuôn mặt lầm lì của thằng Bill khi nó hướng mũi xuồng về phía những tảng đá trên đường chạy của bọn trẻ.

Ba đứa khựng lại, kinh hãi.

“Đường nào bây giờ?”

“Bọn chúng sẽ chặn đường mình!”

“Nhưng mình không thể quay lại được. Nhìn xem! Bọn kia sắp cập bờ rồi.”

Thấy mớm nước đã ngấp nghé sượt quanh chân, bọn trẻ cuống cuồng nhìn trước ngó sau. Trước mặt chúng chưa đầy mười thước, chiếc xuồng có gã Withers đứng cười độc ác đang tiến tới chặn đường, còn đằng sau chúng, chiếc xuồng nhỏ kia thì đang bập bềnh ngay gần rìa đá. Chúng đã bị sập bẫy một cách gọn gàng.

“Lại đây nào!” cái giọng trầm lại vang lên gọi chúng. “Bọn mi không chạy thoát được đâu. Lại đây!”

Gã Hastings đang đứng trên chiếc thuyền nhỏ, dáng người cao lớn đen sì, một tay vung vẩy chỉ về phía chúng. Với hai chân giạng ra để giữ thăng bằng, người lắc lư theo nhịp trồi thụt của chiếc xuồng trên sóng, gã nom như thể đang cưỡi sóng biển vậy.

“Barnabas!” Tiếng gọi trầm hẳn xuống, thành một giọng đều đều thôi miên. “Barnabas, lại đây!”

Jane nắm chặt lấy tay Barney. “Đừng có lại gần!”

“Không sợ đâu.” Barney sợ, nhưng không bị mê hoặc mụ mị đến nỗi nghe theo lời gã như lần trước. “Anh Simon, mình làm gì bây giờ?”

Simon nhìn trừng trừng lên vách đá, băn khoăn nghĩ ngợi trong một khoảng khắc hốt hoảng xem liệu chúng có thể leo lên đấy trốn thoát được không. Nhưng mặt đá granite dựng đứng vươn thẳng lên cao, rất cao bên trên đầu chúng, không thể nào trèo lên nổi. Chúng sẽ chẳng thể tìm được một chỗ đặt chân ở đó dù chỉ là để trèo lên cao khỏi tầm với thôi, và chúng sẽ ngã xuống từ đời nảo đời nào trước khi trèo lên tới đỉnh.

“Barnabas,” cái giọng đó lại cất lên, nhẹ nhàng nhưng xảo quyệt. “Chúng ta biết cái gì ở trong tay cháu. Và cả trong tay cháu nữa, Simon ạ. Đúng rồi, Simon, đặc biệt là cháu.”

Simon và Barney theo bản năng đều khép chặt bàn tay trên bản viết cổ và chén Thánh.

“Chúng không phải của các cháu.” Lại giọng nói đó cất lên, nhưng nghe dữ dằn hơn. “Các cháu không có quyền gì với chúng. Chúng cần quay trở về đúng chỗ của chúng.”

Gã Hastings đang chăm chú dõi theo chúng, đứng sẵn sàng trên xuồng đợi đúng lúc sóng dâng lên thì nhảy sang chỗ mấy tảng đá. Duy có mấy đám rong biển dập dềnh cứ che lấp gờ đá là còn khiến gã chần chừ. Bên bánh lái, ả Polly Withers đang gắng sức điều khiển chiếc xuồng nhỏ trong sóng biển liên tục dâng cao.

Barney đột nhiên hét to: “Ông không thể có chúng được. Chúng cũng chẳng phải của ông. Tại sao ông lại muốn chúng cơ chứ? Ông làm gì có viện bảo tàng nào, tôi không tin tất cả những gì ông đã nói.”

Gã Hastings bật cười khẽ. Âm thanh vang vọng nghe thật kì quái và lạnh xương sống, át cả tiếng biển ì ầm.

“Các ông sẽ không bao giờ thắng hoàn toàn đâu,” Simon nói giọng thách thức. “Không bao giờ.”

“Lần này chúng ta sẽ thắng,” một giọng nhẹ hơn vang lên đằng sau. Mấy đứa trẻ quay lại. Đó là gã Withers. Cỗ động cơ gắn bên ngoài đã tắt hẳn, và thằng Bill đang dùng mái chèo dò dẫm giữa những tảng đá đưa chiếc xuồng kia tiến lại gần chúng hơn.

Ba đứa đứng xích lại gần nhau, lưng quay về phía vách đá, cố hết sức lùi thật xa, nhưng từ hai phía hai chiếc xuồng ngày càng trườn lại gần chúng hơn. Phu Nhân Mary đang chạy chầm chầm dọc theo mũi đất. Chúng loáng thoáng nghe thấy tiếng động cơ chạy rền, mặc dù không thấy ai trên thuyền.

“Giá mà bọn mình có một chiếc thuyền,” Jane nói trong cơn tuyệt vọng.

“Mình không bơi được hay sao?”

“Bơi đi đâu nào?”

“Mình phải làm được cái gì đó chứ!” Giọng Barney vống lên cuống quít.

“Các cháu sẽ chẳng làm được gì đâu.” Cái giọng hờn hợt và nhạo báng của gã Withers vọng qua mấy tảng đá đến tai chúng. Gã đang đứng trên mũi con xuồng lắc lư, chỉ còn cách chúng chưa đầy năm thước. “Đưa bản viết cổ cho chúng ta. Đưa nó cho chúng ta và chúng ta sẽ đưa các cháu về an toàn. Thủy triều đang dâng lên nhanh lắm. Các cháu phải đưa nó cho chúng ta.”

“Nếu chúng tôi không đưa thì sao?” Simon bướng bỉnh hét to.

“Nhìn biển mà xem, Simon. Bây giờ các cháu không thể quay trở lại bằng đường cũ được nữa. Nhìn thủy triều mà xem. Các cháu hết đường rồi. Các cháu không thể thoát ra được trừ phi đến chỗ chúng ta.”

“Gã nói đúng đấy,” Jane thì thầm. “Nhìn kìa!” Em đưa tay lên chỉ. Xa xa phía ghềnh đá nước biển đã dâng đến chân vách đá.

“Thuyền của cháu đâu, Simon?” cái giọng giễu cợt lại cất lên.

“Mình sẽ phải đầu hàng mất thôi,” Simon nói, giọng hạ xuống đầy tức tối.

“Cứ từ từ Simon. Chúng tao có thể đợi. Chúng tao còn vô khối thời gian.”

Chúng nghe thấy tiếng thằng Bill cười hềnh hệch ở trên xuồng.

“Bọn chúng tóm được mình rồi.”

“Ôi nghĩ đi - nghĩ đi - mình không thể đầu hàng bây giờ được.”

“Nghĩ tới Ông Merry ấy.”

“Thật tiếc là ngay từ đầu bọn mình lại đi nghĩ tới ông,” Simon chua chát nói. “Chẳng ích gì đâu, anh sẽ tuyên bố là bọn mình đầu hàng.”

“Không!” Barney vội nói, và trước khi mọi người kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra thì nó đã chộp lấy cái hộp đựng bản viết cổ từ tay Simon và bì bõm lội qua những tảng đá ướt để ra sát mép nước. Một bên tay nó giơ cao cái hộp, bên kia là chén Thánh, và giận dữ nhìn gã Hastings. “Nếu ông không đưa chúng tôi lên thuyền và để chúng tôi cầm những thứ này về nhà thì tôi sẽ ném chúng xuống biển.”

“Barney!” Jane kêu lên. Nhưng Simon giữ em lại, chăm chú lắng nghe.

Gã Hastings vẫn không động đậy. Gã đứng nhìn cái dáng bé nhỏ giận dữ của Barney với vẻ kiêu ngạo cực kì bình tĩnh, và khi gã lên tiếng thì cái giọng trầm của gã trở nên lạnh lẽo hơn bất kì giọng nói nào chúng đã từng nghe. “Nếu cháu làm thế, Barnabas, ta sẽ để mặc cho cháu và anh chị cháu chết đuối.”

Chúng không hề nghi ngờ chút nào là gã đang nói thật. Nhưng Barney đã bị một nỗi căm phẫn vô bờ xâm chiếm, và nó kiên quyết sẽ không đời nào tin bất cứ điều gì gã Hastings nói nữa. Chỉ cần tin một lần thôi, nó biết mình sẽ lại bị bỏ bùa mê ngay.

“Tôi sẽ ném, tôi sẽ ném đấy! Nếu ông không hứa, tôi sẽ ném!” Barney giơ chén Thánh trong tay phải lên cao hơn và gập tay định ném xuống. Simon và Jane há hốc mồm.

Cả thế gian dường như ngưng lại, tập trung xung quanh gã đàn ông cao lớn bận đồ đen và chú bé nhỏ con: ý chí kẻ nọ đối chọi kẻ kia, mà Barney chỉ thoát được cái nhìn chòng chọc như thôi miên đang chĩa thẳng vào mắt nó nhờ cơn cuồng nộ trong lòng. Thế rồi mặt gã Hastings méo xệch đi, và gã hét lên một tiếng nghèn nghẹt. “Withers!”

Kể từ lúc đó, đối với bọn trẻ, cả thế gian dường như đảo lộn, và mọi chuyện xảy ra chẳng còn hiểu là nguyên do gì nữa.

Từ hai phía, Norman Withers và gã Hastings xông vào Barney. Simon hét lên “Barney, đừng!” và lao về phía em trai để giữ chặt lấy cánh tay đang giơ lên của nó. Gã Withers, ở gần hơn, nhảy một bước thật lực từ xuồng lên mỏm đá, làm cái xuồng chao đảo như điên và thằng Bill phải hoảng hồn ghì lấy bánh lái. Nhưng khi cái chân nhảy của gã hạ xuống chỗ đáng nhẽ phải là mỏm đá thì chúng thấy vẻ độc ác trên mặt gã bỗng biến thành sợ hãi, gã vung tay loạn xạ và chìm nghỉm dưới nước.

Gã đã nhảy xuống trúng cái vũng khuất giữa những tảng đá; cái hố mà biển rút đi để lại khoảng nước sâu, và bây giờ thủy triều lên càng khiến cho ngập sâu thêm. Jane co ro dựa vào vách đá, lạnh cả người kinh hoàng khi nhận ra rằng chúng cầm chắc đã lao đầu vào cái hố đó nếu chỉ chạy tiếp khoảng một thước nữa thôi.

Withers đã nổi lên mặt nước, ho sặc sụa và phun phì phì, Barney thì chần chừ, tay vẫn giơ cao chén Thánh trên đầu. Gã Hastings cũng vừa nhảy sang mỏm đá mà không bị trượt, giờ đang tiến những bước dài về phía Barney, đôi lông mày rậm thành một đường dữ tợn vắt ngang mặt và cặp môi nhếch lên trong bộ điệu nhe răng mà không cười đến là khủng khiếp. Simon tuyệt vọng nhao tới, bị đường lia của cánh tay dài gạt mạnh sang bên; nhưng trong lúc ngã xuống nó kịp nắm được cẳng chân của gã đàn ông và làm gã đổ huỵch cả người xuống mặt đá ướt trơn tuột.

Mặc dù cao lớn, gã Hastings vẫn di chuyển hệt như một con lươn. Thoáng một cái gã đã đứng dậy được, một bàn tay to tướng nắm lấy cánh tay Simon, và bằng một động vừa tác nhanh vừa hiểm độc, bẻ quặt cánh tay ấy ra sau rồi giật mạnh lên đến nỗi nó phải kêu lên vì đau đớn. Ả Withers ở trên xuồng cười nhạt. Từ đầu ả ta vẫn chưa động đậy. Jane nghe thấy tiếng cười và cảm thấy ghét cô ả làm sao, nhưng vẫn đứng chết trân trước ánh nhìn độc ác hoay hoáy như quỷ dữ trên khuôn mặt đang nhìn xuống em. Cứ như thể một thứ gì đó kì quái đang ẩn sau cặp mắt của gã Hastings, thứ gì đó không có tính người; làm tràn ngập trong em một cảm giác sợ hãi kinh khủng hơn bất cứ cảm giác gì trước nay em từng có.

“Đặt nó xuống, Barnabas,” gã Hastings vừa nói vừa thở hổn hển. “Đặt bản viết cổ xuống, nếu không tao sẽ bẻ gãy tay anh mày.” Simon ngọ quậy trong tay gã và đá đá ra sau, nhưng rồi phải thở hắt ra và buông người mềm nhũn khi cánh tay bị giật cao hơn và cơn đau nhói xuyên qua người như thể nước đang sôi sùng sục trong huyết quản nó vậy. Nhưng Barney, mặt méo đi vì lo sợ, chưa kịp hành động gì thì một tiếng kêu thất thanh đã vang lên từ phía chiếc du thuyền. Một giọng khàn khàn hét lên, hốt hoảng cảnh báo, “Ông chủ!”

Đúng lúc đó chúng nghe thấy một tiếng động khác, to hơn tiếng máy nổ đều đều của chiếc du thuyền đang đứng đợi: tiếng ro ro mỗi lúc một to và gần hơn. Đột nhiên ở khúc quành của mũi đất, chúng nhìn thấy những bọt nước trắng xóa tung lên trước mũi một chiếc thuyền cao tốc đang chạy từ Trewissick đến. Nó lướt nhanh khủng khiếp, vòng qua mé ngoài của chiếc du thuyền, và tiến đến chỗ chúng đang đứng. Và thoáng nhìn qua đám bọt, chúng thấy dáng một người duy nhất mà chúng biết cũng cao như gã Hastings, bên trên là mái tóc bạc phơ bù xù quen thuộc đang bay trong gió.

Jane kêu lên mừng rỡ. “Ông Gumerry đấy!”

Gã Hastings gầm gừ rồi đột ngột thả tay Simon ra, tuyệt vọng nhao về phía Barney lúc bấy giờ vẫn đang đứng phân vân bên mép nước. Barney nhìn thấy gã và kịp thời ngả người chui thụp qua dưới bàn tay gã.

Thằng Bill, đang ở trên xuồng, liền lao tới chỗ động cơ và nổ máy rồ lên; rồi nhảy xuống, bị trượt trên đá nhưng vẫn đứng vững được. To mập và đầy de dọa bên cạnh cái dáng cao lừng lững của gã Hastings, nó đối mặt với chúng, hơi thu mình lấy đà. Như các vũ công trong điệu minuet, cả hai tiến về phía trước, dò dẫm từng bước giữa các tảng đá hiểm trở để tìm chỗ đặt chân, và ba đứa trẻ lùi lại sát vách đá.

Chiếc thuyền cao tốc gầm lên giữa đám bọt tung trắng xóa. Trong giây lát nó đã đến bên mũi đất. Tiếng động cơ chuyển sang nhịp trầm rầm rập và con thuyền chậm rãi tiến vào gần hơn. Sợ hãi nhìn qua vai thằng Bill đang tiến lại gần, Jane thấy Ông Merry đứng hiên ngang, bên cạnh là dáng áo len xanh của ông Penhallow đang khom mình bên bánh lái.

Quên hết thảy vì quá mừng rỡ, em lao về phía gờ đá, làm thằng Bill giật mình đến nỗi vồ hụt và mất thăng bằng xô vào gã Hastings. Gã giận dữ gầm gừ với thằng nhóc và cố với tay lần cuối về phía Barney lúc này đang đứng ép sát vào vách đá, nhìn trừng trừng một cách bất lực, hai tay buông thõng xuống rã rời.

Nhưng Simon, cố thu hết sức lực còn lại, chộp lấy chén Thánh và cái hộp kính viễn vọng dài dài từ tay em trai, và, vuột ra khỏi tầm với, vòng tránh gã ra mãi ngoài bờ sóng.

Nó hét lên giục giã, “Ông Gumerry!” Khi ông quay người lại, nó giơ tay lên và lấy hết sức ném cái chén về phía chiếc thuyền cao tốc, rồi lo sợ theo dõi xem liệu nó có bay được qua khoảng trống hay không. Ở chỗ bánh lái, ông Penhallow cố giữ cho con thuyền khỏi tròng trành. Chiếc chén kỳ lạ hình chuông quay tít trong không trung, lóe ánh vàng dưới nắng, Ông Merry bèn thò một tay ra bên sườn như một cầu thủ bắt bóng cricket và tóm được nó đúng lúc nó đang bay vòng xuống mặt nước.

“Cẩn thận!” Barney hét. Gã Hastings xoay về phía Simon đúng lúc nó thu tay lại dợm ném bản viết cổ theo cái chén Thánh, vừa nhanh như cắt vọt sang bên thoát khỏi tầm với của gã. Nó ném: nhưng cái hộp vừa bay khỏi tay thì gã Withers người ướt sũng đứng dậy trên chiếc xuồng, bất thình lình vung mái chèo lên trong nỗ lực vụng về hòng chặn cái hộp lại.

Jane thét lên.

Mái chèo đập vào cái hộp đang bay giữa chừng. Gã Withers kêu lên một tiếng đắc thắng. Nhưng tiếng kêu nghẹn lại trong họng gã thành nỗi kinh hoàng, khi cái hộp dài kềnh càng ấy xoay tròn đập vào mái chèo theo lực ném của Simon và bung ra trong không trung. Hai nửa cái hộp văng ra cách xa con thuyền, lả tả những bản viết cổ quen thuộc mà chúng đã săm soi không biết bao nhiêu lần: chúng thấy cái ống nhỏ bằng chì lấy ở trong hang rơi ra ngoài đánh tõm một cái như một hòn đá vào lòng biển; và gần như cùng lúc hai nửa của cái hộp kính viễn vọng, cùng với mảnh giấy da rách tơi tả, rơi xuống nước và mất hút. Những mẩu vụn của mảnh giấy da không nổi, mà chìm ngay, cứ như thể chúng đã tan rữa ra. Chẳng còn lại gì nữa trừ chiếc khăn tay của Jane, đang lẻ loi trôi bồng bềnh trên mặt nước.

Và rồi mấy đứa trẻ máu như ngừng chảy, đông cứng lại trong người, khi một âm thanh hoang dại như tiếng hú của một con vật vang vọng khắp mặt biển. Đó là lần hú dài thứ hai mà chúng nghe thấy trong ngày hôm đó, nhưng lần này không giống với lần trước. Gã Hastings ngửa đầu ra sau như một con chó và bật lên tiếng rống rất to vì đau đớn, sợ hãi và giận dữ. Từ chỗ rìa đá, gã nhảy hai bước dài rồi lao ùm xuống làn nước gợn sóng, nơi cái hộp vừa chìm xuống.

Bọn trẻ nhìn chằm chằm ánh nắng đang nhảy múa trên mặt nước vừa khép lại bên trên đầu gã, nhưng ngoài tiếng động cơ đều đều và tiếng biển ì ầm thì không còn âm thanh gì nữa cả. Rồi chúng chợt thấy chiếc du thuyền chuyển động và ả Withers được kéo lên boong, để lại cái xuồng bập bềnh bên dưới.

Thằng Bill cũng đứng im như bọn trẻ, há hốc mồm nhìn mặt biển lúc này đang chuyển sang màu vàng óng dưới ánh nắng cuối ngày. Rồi gã Withers quát nó, vừa loạng choạng lao đến chỗ động cơ gắn bên ngoài trên chiếc xuồng còn lại, và khi chiếc xuồng bắt đầu phóng đi thì thằng bé nhảy vội lên boong.

Bọn trẻ vẫn đứng nhìn. Không ai động đậy kể cả trên boong chiếc thuyền cao tốc, lúc nó dạt về phía bờ đá theo con nước dềnh lên. Chiếc xuồng kia chạy ra ngoài khơi, kêu vo vo như một con ong đang giận dữ, rồi bên cạnh đó chúng thấy một cái đầu đen nhô lên khỏi mặt nước, và nghe thấy tiếng thở phì phò cố lấy lại hơi. Chiếc xuồng chạy chậm lại, sau đó gã đàn ông và thằng bé kéo tấm thân đen sì cao nghêu kia lên boong. Trong tay gã không có gì cả.

Gã Hastings nằm ở cuối xuồng, ngạt thở và hổn hển cố lấy lại hơi, nhưng khi chúng nhìn theo thì gã ngẩng đầu lên, mái tóc đen ướt mèm vắt qua trán như tấm mặt nạ. Gã giơ tay ra cho Withers kéo dậy. Mặt méo đi vì giận dữ và căm thù, gã nhìn lại Ông Merry.

Ông Merry đứng trên chiếc thuyền cao tốc, một tay đặt lên kính chắn gió còn tay kia cầm chén Thánh, mặt trời đằng sau ông sáng rực trên mái tóc bạc trắng. Ông vươn người lên cao lớn và thẳng đứng oai phong đến nỗi mà trong một giây phút kỳ lạ, nom ông y như một sinh vật vĩ đại của biển và đá. Và ông nói qua mặt nước, bằng giọng sang sảng dội lại từ vách đá, những câu từ bằng ngôn ngữ gì đó mà bọn trẻ không hiểu nổi, nhưng với một âm điệu khiến cho chúng chợt thấy run rẩy.

Thân hình tối sẫm trên chiếc xuồng kia dường như chùn lại khi nghe thấy những âm thanh đó, vẻ nạt nộ và đầy quyền uy của gã ngay lập tức biến đi đâu hết. Đột nhiên trông gã thật lố bịch với bộ đồ đen ướt dính sát người, và có vẻ bé nhỏ hơn hẳn trước đây. Cả ba tên trên xuồng đều co rúm người lại, không động đậy hay nói năng gì cả, trong lúc chiếc xuồng tiến về phía chiếc du thuyền.

Bọn trẻ bây giờ mới cử động lại được. “Trời ạ!” Barney thì thầm. “Ông ấy nói gì vậy?”

“Anh không biết.”

“May là mình không hiểu đấy,” Jane chậm rãi nói.

Chúng nhìn theo bóng ba tên trèo lên chiếc du thuyền, và gần như ngay lập tức tiếng động cơ nổ to hơn và cái thân dài trắng lóa của Phu Nhân Mary lướt đi. Chiếc xuồng máy động cơ gắn ngoài bị kéo lê theo sau nom trơ trọi, còn chiếc kia bị bỏ lại, vẫn trôi dập dềnh trống không trên sóng.

Chiếc du thuyền hướng ra phía vịnh, qua cảng Trewissick và xuôi theo đường bờ biển, cho đến khi chỉ còn là một chấm trắng nhỏ trên mặt biển dát nắng vàng. Đến khi bọn trẻ trèo lên trên chiếc thuyền cao tốc và nhìn trở lại, thì nó đã khuất hẳn.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 17 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:



Đề tài nổi bật 
1 • [Xuyên không - Cổ xuyên hiện] Ảnh hậu đối mặt hàng ngày - Ngã Yêu Thành Tiên

1 ... 37, 38, 39

2 • [Xuyên không] Nịch sủng Chí tôn cuồng phi - Mặc Thập Tứ

1 ... 52, 53, 54

3 • [Cổ đại] Hoàng sủng - Hoa Khai Bất Kết Quả

1 ... 33, 34, 35

4 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 130, 131, 132

5 • [Quân nhân] Không nghe lời vậy mời xuống giường - Ngô Đồng Tư Ngữ

1 ... 21, 22, 23

6 • [Xuyên không] Ma y độc phi - Phong Ảnh Mê Mộng

1 ... 73, 74, 75

[Hiện đại] Hôn nhân ngọt ngào - Đam Nhĩ Man Hoa

1 ... 19, 20, 21

8 • [Hiện đại] Ý tưởng ham muốn - Niệm Niệm Bất Xá X

1 ... 23, 24, 25

9 • [Cổ đại - Trùng sinh] Nàng phi chuyên sủng của vương gia ngốc - Huyền Nhai Nhất Hồ Trà

1 ... 57, 58, 59

10 • [Hiện đại] Hôn nhân giá ngàn vàng - Cẩm Tố Lưu Niên (102/104]

1 ... 177, 178, 179

11 • [Hiện đại - Trùng sinh] Sống lại tại cửa cục dân chính - Bạo Táo Đích Bàng Giải

1 ... 20, 21, 22

12 • [Hiện đại] Đợi mưa tạnh - Úy Không

1 ... 23, 24, 25

13 • [Xuyên không] Nàng phi lười có độc - Nhị Nguyệt Liễu

1 ... 90, 91, 92

14 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 244, 245, 246

[Cổ đại - Trùng sinh] Trọng sinh cao môn đích nữ - Tần Giản

1 ... 137, 138, 139

16 • [Xuyên không] Thú phi thiên hạ Thần y đại tiểu thư - Ngư Tiểu Đồng

1 ... 90, 91, 92

17 • [Cổ đại cung đấu] Nhật ký xoay người ở hậu cung - Dạ Chi Dạ

1 ... 43, 44, 45

18 • [Cổ đại] Thiên tuế sủng phi - Biện Bạch Anh

1 ... 32, 33, 34

19 • [Hiện đại] Ngọt khắc vào tim - Thời Câm

1 ... 29, 30, 31

20 • [Hiện đại] Cô vợ ngọt ngào của tổng giám đốc - Độ Nương

1 ... 17, 18, 19


Thành viên nổi bật 
Minh Huyền Phong
Minh Huyền Phong
yentula
yentula
susublue
susublue

Đường Thất Công Tử: - tặng cho cục đá
Shop - Đấu giá: Đường Thất Công Tử vừa đặt giá 873 điểm để mua Bông tai đá Amethyst
Shop - Đấu giá: hàn ánh nguyệt vừa đặt giá 300 điểm để mua Lồng đèn đỏ 2
Shop - Đấu giá: Lavender - Blue vừa đặt giá 320 điểm để mua Trái Cherry
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 389 điểm để mua Piano
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 303 điểm để mua Trái Cherry
Shop - Đấu giá: Đường Thất Công Tử vừa đặt giá 1807 điểm để mua Quà tặng Hamster
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 1720 điểm để mua Quà tặng Hamster
Shop - Đấu giá: Tiểu Linh Đang vừa đặt giá 648 điểm để mua Hamster lúc lắc
Mía Lao: Quá chời bánh kem dòi :sweat:
Đào Sindy: sinh nhật tặng bánh kem đúng r :))
Shop - Đấu giá: Lãng Nhược Y vừa đặt giá 300 điểm để mua Bánh sinh nhật chocolate
Tuyền Uri: Sao hơm cho cục đá :hixhix: ăn đồ ngọt ko tốt cho sức phẻ
Shop - Đấu giá: Đóa Ân vừa đặt giá 400 điểm để mua Bánh sinh nhật hồng
Shop - Đấu giá: Lê Quyên Quyên vừa đặt giá 287 điểm để mua Trái Cherry
Tuyền Uri: Ân :hixhix:
Họa cục cưng :"> đấy là duyên nhá
Thèng bẩy kia cho quà đê :dance:
Họa Thiên: Ai bắt hai người sinh cùng ngày cùng tháng đâu :) hơ hơ :">
Đường Thất Công Tử: cháy hàng bánh kem
Đóa Ân: Không
Shop - Đấu giá: Họa Thiên vừa đặt giá 300 điểm để mua Bánh kem sinh nhật
Shop - Đấu giá: Họa Thiên vừa đặt giá 300 điểm để mua Bánh kem vani
Tuyền Uri: Hihi cảm ơn bà :kiss3:
Ânnnn nhớ nay ngày gì hông :">
Đào Sindy: r nha :)) ... ......
Shop - Đấu giá: Đào Sindy vừa đặt giá 300 điểm để mua Bánh kem gấu con
Đóa Ân: Oh, chúc mừng chị được miss yêu thích :)2
Tuyền Uri: Cảm ơn tềnh yêu nhỏ cho chị bánh kem :kiss3:

Bà Đàooooo quà sinh thần tui :hixhix:
Shop - Đấu giá: Hoa Trà Mi vừa đặt giá 400 điểm để mua Bánh sinh nhật hồng
Shop - Đấu giá: Táo đỏ phố núi vừa đặt giá 264 điểm để mua Lily Flowers
Shop - Đấu giá: Táo đỏ phố núi vừa đặt giá 830 điểm để mua Bông tai đá Amethyst
Đường Thất Công Tử: Re: [Trắc Nghiệm] Bạn là cô nàng nào trong "Tam sinh tam thế: Thập lý đào hoa"

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.