Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 114 bài ] 

Sáu người đi khắp thế gian - James Albert Michener

 
Có bài mới 12.02.2018, 10:22
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 33683
Được thanks: 5218 lần
Điểm: 9.58
Có bài mới Re: [Kinh điển] Sáu người đi khắp thế gian - James Albert Michener - Điểm: 10
15


Khi chúng tôi về đến khách sạn Bordeaux vào lúc một giờ sáng, Britta lao ra ôm chầm lấy Gretchen, nức nở, “Monica bỏ đi rồi. Với ba thanh niên Marốc.” Rồi cô nói thêm chẳng đâu vào đâu, “Léon kể họ đều mặc quần áo phương Tây đắt tiền.”

Vừa vào khách sạn, chúng tôi đã nghe thấy Big Loomis ầm ầm nguyền rủa thằng Jemail trên tầng thượng. Chúng tôi vội chạy lên cầu thang, thấy ông ta đang ra lệnh tìm bằng được thằng con hoang nhóc con đó... bắt nó trả lời cho ra nhẽ. Nhìn thấy chúng tôi, ông ta đùng đùng nổi giận, “Thế quái nào mà các vị lại để đứa con gái ốm thập tử nhất sinh ở một mình trong cái chốn tồi tệ như thế này chứ?”

Holt gắt, “Tại sao ông không trông cô ấy? Cô ấy sống trên này cơ mà,” vậy là người đàn ông to béo nói, giọng như muốn khóc, “Thằng oắt ma cô ấy đã gạ gẫm cô ấy hàng tuần nay rồi. Ngay sau khi Britta vừa đi mua thức ăn, tôi thấy nó lẻn lên tầng này và tôi đã đá nó xuống cầu thang rồi. Tôi cứ tưởng thế là đã xong chuyện chứ.”

Britta khóc òa lên giải thích, “Em chỉ đi có mấy phút thôi. Đên quán Terrace mua một ít thịt hầm. Khi về đến nơi thì cô ấy đã đi mất rồi. Léon có nói gì đó về mấy người Marốc.”

Chúng tôi vội chạy xuống tìm Léon, và nhận được thông tin quan trọng đầu tiên: “Thằng Jemail chờ đến khi Britta đi khỏi. Ngay sau đó, nó lao lên gác, nhưng Loomis đã đá nó lăn xuống. Vì vậy nó huýt sáo...”

“Tôi nghe thấy tiếng huýt sáo!” Loomis kêu lên, tay vỗ trán. “Trời ơi, thế mà tôi lại tưởng là tiếng chim.”

“Ngay sau đó Monica xách va li lẻn xuống cầu thang, và thằng Jemail dẫn cô ấy ra quảng trường Djemaá,” Léon nói tiếp. “Tôi bèn đi theo xem nó định giở trò gì, và thấy nó dẫn cô ấy lên một chiếc xe có ba thanh niên đang chờ sẵn. Vùuuuuu! Thế là không thấy tăm hơi họ đâu.”

“Chúng ta sẽ tìm ra thằng Jemail và bóp chết nó,” Loomis nói rồi dẫn chúng tôi lốc nhốc đi ngược lên đầu ngõ ra quảng trường Djemaá, gặp ai cũng hỏi liệu họ có thấy cái đồ lợn oắt con ấy không. Tại quảng trường rộng lớn đó chúng tôi phát hiện ra mấy đứa trong băng nhóm của thằng Jemail, và Loomis tìm cách tóm được một đứa, bắt nó chỉ chỗ thằng Jemail đang trốn. Đứa bé gọi cho đồng bọn bằng tiếng Ả rập, và chưa đầy một phút sau thằng Jemail đã nghênh ngáo băng qua quảng trường Djemaá, tay trái cầm một xiên thịt nướng.

“Các ông cần gặp tôi?” nó hỏi, phăng phăng bước đến trước mặt Loomis, trong khi ông ta tìm cách bóp cổ nó.

“Mày đã làm gì Monica?” ông ta gầm lên.

“Monica đi rồi,” thằng Jemail tuyên bố dứt khoát, như một vị đại sứ điều khiển cuộc thương thuyết với một quốc vương mà hắn ta biết rõ là kẻ thù của mình.

“Cô ấy đang ở đâu?”

“Ngay lúc này thì có lẽ là ở trên giường với ba thanh niên sạch sẽ.”

“Ở đâu?” Loomis nhào tới tấn công thằng bé ma mãnh, nhưng nó đã tránh ra chỗ an toàn.

“Tại sao tôi phải nói cho ông biết?” nó hỏi.

“Tại vì trong vòng một phút nữa tao sẽ gọi cảnh sát.” Loomis lần sợi dây xích treo chiếc đồng hồ quả quýt, tìm được nó và bắt đầu đếm từng giây.

Thấy rõ là người da đen to béo kia định giao nó cho nhà chức trách thật, thằng Jemail bắt đầu tìm kế hoãn binh: “Tôi có làm gì sai đâu. Tôi chỉ bảo cô ấy có mấy người đàn ông tử tế muốn ngủ với cô ấy... trả rất hậu. Cô ấy muốn đấy chứ. Cảnh sát nào thèm quan tâm một chuyện như vậy?”

“Bọn chúng đưa cô ấy đi đâu?” Holt hỏi, run lên vì giận dữ.

Câu này thì thằng Jemail không chịu trả lời, và, nổi điên lên, Holt vươn tay túm cái áo bowling dơ dáy của nó. “Nói ngay, thằng lõi con.” Khi Holt nói thế, Big Loomis chộp lấy thằng bé, vậy là nó hét lên, “Giữ ông ta tránh xa ra!” và Holt giật thằng bé ra khỏi tầm tay của Big Loomis, nhưng lại bạt tai nó vài cái đủ để cho nó hiểu rằng anh cũng chẳng nhẹ nhàng hơn Loomis. Rồi, trong lúc lay thằng bé, anh ghê tởm nhận ra nó định giở trò gì, vì thằng Jemail nhe răng cười với anh, hỏi, “Nếu cháu nói, ông trả cháu bao nhiêu?” Quá khó chịu vì thằng lõi ma cô, Holt bèn đẩy nó sang chỗ Loomis, thế là ông ta lạnh lùng siết cổ nó, khiến Holt phải giật nó trở lại. “Loomis, chờ một lát,” Holt nói. “Để đến khi chúng ta biết bọn họ đưa cô ấy đi đâu đã.”

“Theo ông thì đáng giá bao nhiêu?” Jemail vẫn chưa thôi.

“Mày có biết cô ấy ở đâu không?” Holt hỏi.

“Cháu biết.”

“Ở đâu?”

“Bao nhiêu?” thằng bé nhắc lại, vậy là, trước sự kinh ngạc của tôi, Holt bắt đầu đấm thật lực vào đầu thằng bé.

“Đồ chó đẻ oắt con,” anh nói khẽ, “nói cho tao biết cô ấy ở đâu, nếu không tao sẽ đập cho mày bất tỉnh nhân sự đấy.”

Thằng Jemail vặn vẹo vùng ra được một chút, quay người nhổ thẳng vào mặt kẻ đang bắt giữ nó, hành động làm Holt bất ngờ đến nỗi nới lỏng tay khiến Jemail vùng thoát ra được. Đứng ở một khoảng cách an toàn, nó chửi rủa chúng tôi sa sả bằng tiếng Anh, với những lời lẽ khiếm nhã ghê tởm đến nỗi chúng tôi lần nữa lấy làm lạ là sao nó có thể thu thập được những từ đó. Thế là không còn hy vọng bắt lại được nó đêm đó nữa, và chúng tôi nhìn lần cuối khi nó đứng giữa băng nhóm, rõ ràng đang kể lại chiến tích giải thoát cô gái Anh ra khỏi khách sạn và giải thoát chính nó khỏi bàn tay cứng rắn của Holt.

Chúng tôi quay về khách sạn Bordeaux, đầu óc rối loạn, và sau khi thảo luận chán chê mê mới xem nên làm gì tiếp theo, Holt, Britta và tôi buồn rầu cuốc bộ về khách sạn của mình, rồi trong lúc chúng tôi lên cầu thang, Britta nói, “Lại đúng lúc em sắp đưa cô ấy vào bệnh viện chứ.” Ngày hôm sau thật ảm đạm. Buổi sáng chúng tôi tập hợp ở khách sạn Bordeaux, và trong ánh sáng ban ngày, vẻ nhếch nhác của nó thật không lờ đi được. Trong lúc chúng tôi suy đoán này nọ, không ai nhắc đến những giai thoại luôn thịnh hành ở Marốc về các cô gái da trắng xinh đẹp bị lén lút cho ăn bánh hashish, sau đó bị lừa phải làm điếm và nô lệ; đó là những câu chuyện thường nhằm dọa dẫm những người mới đến. Inger suy đoán theo đúng lẽ thường tình là Monica đã tự ý bỏ đi với mấy người Marốc để tìm kiếm một cuộc phiêu lưu tình dục và hai ba ngày nữa cô sẽ lại xuất hiện như thể không có chuyện gì xảy ra thôi.

Hai ngày trôi qua vẫn không thấy Monica, sáng hôm thứ ba chúng tôi không hề ngạc nhiên thấy thằng Jemail, vẫn vui tươi như thường lệ, mỉm cười đi vào khách sạn Bordeaux để chào mời chúng tôi một cơ hội khác. “Tôi không nói chuyện với lão béo ị, hay anh này hay ông này,” nó tuyên bố, chỉ Joe và Holt. “Nhưng nếu anh muốn tìm bạn gái,” nó nói với Cato, “thì chúng ta nói chuyện.”

Hai người đi ra ngõ, và một lúc sau Cato quay vào thông báo, “Nó sẽ nói cho chúng ta biết cô ấy ở đâu với mười đô la. Tôi nghĩ chúng ta nên đưa tiền cho nó.”

“Nó có cho anh đầu mối nào không?”

“Không, nhưng tôi nghĩ cô ấy không ở Marrakech.”

“Không cho con quái vật ấy một xu nào cả,” Big Loomis phản đối lớn tiếng đến nỗi thằng Jemail cũng nghe thấy. Thằng bé thò đầu qua cửa cảnh cáo, “Lão ngu đần béo ị kia mà có hành động gì là em sẽ không bao giờ nói cho các anh biết đâu.”

Chúng tôi quyết định tốt hơn cả là cứ đưa mười đô la cho thằng nhóc tống tiền, vì vậy chúng tôi cử Cato quay ra thương lượng. Hai bên thỏa thuận: Jemail và tôi sẽ cùng giữ tiền cho đến khi nó nói Monica ở đâu, và tôi sẽ bảo đảm là không ai đánh đập nó. Như một tên cướp biển nhỏ tuổi, nó đáp trả với yêu cầu chúng tôi không được bắt đầu đuổi theo cho tới khi nó ra đến đầu ngõ, và chúng tôi đồng ý điều kiện này.

Giữ chặt một nửa tờ giấy bạc trong khi tôi cầm nửa kia, và xoay sẵn chân về phía đường thoát thân, nó ngẩng lên mỉm cười một cách dễ thương với tôi và nói, “Ba kỹ sư bạn ông... họ gặp cô ta ở khách sạn của ông... để đi chơi rừng cọ. Họ đưa cô ta tới Casablanca, khách sạn Miramar. Đó là ý kiến của cô ta, không phải của họ. Cô ta đã bảo tôi đi thu xếp chuyện ấy.” Giật phắt tờ mười đô la ra khỏi tay tôi, nó chạy như bay về phía đầu ngõ.

Tôi sững sờ không nói được tiếng nào, kinh hoàng vì ba kỹ sư đã lợi dụng mình theo cách ấy, nhưng Big Loomis thì bắt tay vào hành động ngay. “Chúng ta về khách sạn của ông để gọi điện cho họ,” ông ta quyết định, và trên đường đi ông ta thu xếp xong hai vé máy bay đi Casablanca. Cú điện thoại đúng là thảm họa. Tôi gọi được về văn phòng cho viên kỹ sư cựu sinh viên trường Yale, và nghe tôi nói xong, anh ta bật cười, “Thôi đi, ông Fairbanks. Cô ta chỉ là loại đĩ thõa thôi. Chúng tôi đưa cô ta đến khách sạn vui vẻ một chút... Phải, ba người chúng tôi... Chúng tôi cho cô ta một ít tiền và để cô ta đi tới Tangier với hai người khác rồi. Đó là ý muốn của cô ta... Cô ta mạnh khỏe mà... Khách sạn Splendide, Tangier.”

Lập tức Big Loomis kiếm ba vé đi Tangier, tuyên bố, “Tôi bay lên đó cùng ông và Cato thì tốt hơn. Những người khác có thể rời khỏi đây ngay bây giờ bằng xe hơi.” Ông ta không mấy hy vọng tìm thấy Monica ở Tangier: “Rất nhiều chuyện có thể xảy ra ở thành phố đó.” Rồi ông ta gọi điện đến khách sạn Splendide: “Vâng, hai người đàn ông đã đăng ký thuê phòng cùng với cô Monica Braham - hai ngày trước - nhưng họ trả phòng sáng nay rồi... Không, không phải kỹ sư từ Casablanca - hai người Tangier trông rất đáng sợ, nếu ông đến đây thì có thể dễ dàng lần ra dấu vết đấy.” Big Loomis nhắn sẽ đến đó trong vòng hai giờ. Ngay khi cuộc nói chuyện kết thúc, ông ta lại nhấc máy gọi cho sở cảnh sát Tangier, tìm gặp một sĩ quan ông ta đã thân thiết được vài năm: “Anh Ahmed, chúng tôi đang gặp rắc rối. Tên là Monica Braham, mười tám tuổi...”

“Mười bảy,” Britta đính chính.

“Một cô gái Anh mười bảy tuổi, xinh đẹp, da trắng, tóc đen. Con gái một gia đình thế lực. Sử dụng heroin hàng ngày. Đăng ký khách sạn Splendide hai đêm trước. Rời khỏi đó sáng nay. Chúng tôi phải tìm cô ấy.”

Big Loomis giục chúng tôi quay về khách sạn Bordeaux, nhưng khi chúng tôi đi qua quảng trường Djemaá, ông ta chợt đứng sững lại, giận dữ nhìn chằm chằm về phía bên kia, nơi thằng Jemail đang uể oải tựa lưng vào một quầy hàng quan sát chúng tôi bước tới. Khi chúng tôi đến gần, nó đón chúng tôi bằng một đề nghị mới: “Các ông bay tới Casablanca, đúng không? Tôi gọi hộ một chiếc taxi tốt nhất ra sân bay nhé?” Tôi lắc đầu bảo không cần, thì nó gạ tiếp, “Thế một chiếc limousine vậy nhé? Chạy một mạch đến khách sạn Miramar ở Casablanca?” Tôi lại nói không một lần nữa, vậy là nó đáp, “Hy vọng các ông tìm được cô ta.” Sau đó nó thản nhiên vẫy chào tạm biệt rồi đi về chỗ các du khách đang bắt đầu xuống xe.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 12.02.2018, 10:23
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 33683
Được thanks: 5218 lần
Điểm: 9.58
Có bài mới Re: [Kinh điển] Sáu người đi khắp thế gian - James Albert Michener - Điểm: 10
16


Thanh tra cảnh sát Ahmed là một sĩ quan to xương, nước da ngăm đen, từng phục vụ trong lực lượng an ninh địa phương từ hồi Tangier còn là một thành phố độc lập không thuộc bất kỳ quốc gia nào. Thời ấy đó là nơi phức tạp nhất thế giới, bị một hội đồng lãnh sự ngoại quốc cai trị bất chấp đạo lý; dàn xếp một vụ án mạng ở Tangier còn dễ dàng hơn hối lộ để thoát khỏi vé phạt vi phạm an toàn giao thông ở Chicago. Ma túy, giấy tờ giả, tống tiền, bán dâm do bị cưỡng ép và in ấn hộ chiếu giả là những nét đặc trưng được thừa nhận công khai, và thanh tra Ahmed đã làm tất cả những gì có thể để giữ tình trạng đồi bại đó trong giới hạn.

Lúc này Tangier đã là một phần của Marốc, và nhiệm vụ của ông cũng nhẹ nhàng hơn, nhưng không đáng kể. “Nếu là ngày xưa,” ông nói khi chúng tôi đã ngồi trong văn phòng của ông, “có lẽ cô ấy đã bị đưa qua biên giới vào một nhà chứa quản lý nghiêm ngặt rồi. Ngày nay chuyện như vậy không xảy ra nữa. Thông tin chúng tôi tìm hiểu được là thế này. Cô ấy chưa rời khỏi Tangier bằng máy bay và cũng không bị ai bắt gặp trên phà tới Algeciras hay Malaga. Cô ấy phải ở đâu đó trong thành phố này. Vì vậy các ông đừng lo lắng.” Ông không phải người đa cảm, không trấn an chúng tôi là mọi việc rồi sẽ ổn, nhưng ông làm chúng tôi tin rằng nếu có thể tìm thấy Monica, nhất định ông sẽ tìm thấy.

Ngày thứ nhất ông không làm được gì, gần như mọi công việc tìm kiếm hiệu quả đều phải nhờ đến Big Loomis, vốn là người hiểu biết khá rõ về Tangier và quen biết khá nhiều. Chúng tôi lang thang từ quán bar này sang quán bar khác, hỏi han bất cứ khách quen nào từng nhìn thấy cô gái Anh, và xác định được cô đã dành đêm đầu tiên tại thành phố này để dạo một vòng các quán bar nhỏ cùng với một người đàn ông không phải kẻ đã đưa cô tới Tangier. Hình như cô đã tình cờ quen hắn trong thành phố này, nhưng không người nào từng gặp có thể nhận ra hắn.

Chúng tôi sục sạo khắp quảng trường Zoco Grande nhưng không thấy dấu vết nào của Monica nên đành băng qua các ngõ hẹp để ra Zoco Chico, một quảng trường nhỏ, được bao quanh bởi các quán bar vốn là chốn tụ họp của dân hippy Tangier. Chúng tôi hỏi thăm các bạn trẻ thuộc đủ mọi quốc tịch và ăn mặc đủ mọi kiểu quần áo xem họ có trông thấy Monica không, thế rồi hai cô gái Thụy Điển trông có vẻ như hàng tháng trời chưa tắm nói rằng họ đã gặp Monica trong một quán trọ tồi tàn tên là Lion of Morocco. Với tiền công năm mươi xen họ dẫn chúng tôi đi qua một loạt ngõ ngách bẩn thỉu đến một tòa nhà xiêu vẹo. Cửa sổ tầng trên của tòa nhà trông xuống cảng, và trong khi chúng tôi đứng chăm chú nhìn xuống cảnh tượng đã từng khiến du khách bao đời nay xốn xang, một người Ả rập mắc bệnh suyễn leo lên cầu thang để đón chào chúng tôi. “Có đấy,” ông ta thừa nhận, “tôi có cho cô gái Anh trọ ở đây. Một đêm. Đúng, cô ấy ở cùng mấy thanh niên Marốc và ngay ngày hôm sau họ đã rời khỏi đây.”

Tất cả chỉ có thế. Chúng tôi vội vã quay lại sở cảnh sát để báo cho thanh tra Ahmed, nhưng chính ông ta mới là người có tin mới cho chúng tôi. “Chúng tôi đã tìm được cô ấy,” ông nói. “Nhưng tôi phải báo trước là tình trạng sức khỏe của cô ấy rất xấu.”

“Đã có chuyện gì vậy?” Cato hỏi.

“Không có gì bất thường cả. Suy dinh dưỡng, ma túy. Cô ấy đang nằm trong bệnh viện.”

Ông dẫn chúng tôi tới vùng ven thành phố, tại đó, trên một vách đá trông xuống vịnh Tangier vô song, một nhóm nữ tu Cơ Đốc vẫn ở lại trông nom một bệnh viện phục vụ cho cái đất nước hầu như đã đuổi giáo hội của họ đi. Mẹ bề trên đón tiếp chúng tôi với sự niềm nở y như thái độ của các bà xơ khi tiếp xúc với người theo tôn giáo khác, nhưng bà không lạc quan về Monica.

“Cô gái này ốm thập tử nhất sinh,” bà báo trước khi chúng tôi đến gần phòng bệnh. “Chỉ một người vào thì hơn.”

Chúng tôi nhìn nhau và nhất trí để Cato đi gặp Monica, nhưng anh chưa kịp vào, thanh tra Ahmed đã đưa ra một quyển hộ chiếu Anh: “Tôi đoán đây đúng là cô gái đó.” Cato cầm tấm hộ chiếu mở ra, rồi thở dài não nề khi nhìn thấy khuôn mặt thon gầy quý phái của Monica đang mỉm cười với anh.

“Đúng là cô ấy,” anh thốt lên, vậy là bà xơ dẫn anh vào phòng, nhưng chỉ vài giây sau anh đã quay lại, khuôn mặt nhăn nhó: “Không phải Monica!”

Ông Ahmed và tôi băng qua mẹ bề trên chạy vội vào phòng bệnh, nhìn thấy trên giường là một cô gái tóc vàng khoảng hai mươi tuổi trông không giống Monica chút nào. Chúng tôi đoán cô là người Thụy Điển, nhưng với tình trạng sức khỏe tồi tệ của cô có thể thấy rõ chúng tôi chẳng thể hỏi han gì được. Thực ra, thoáng nhìn thấy quai hàm cô trễ xuống, tôi còn chẳng biết cô sẽ sống được bao lâu nữa.

Chúng tôi leo lên xe của ông Ahmed phóng về quán trọ Lion of Morocco, được ông chủ ho hen cho hay tuần vừa rồi có mấy cô gái Thụy Điển đã trọ ở chỗ ông ta, nhưng ông ta không biết gì về họ cả. Có thể là một người trong số đó đã lấy cắp hộ chiếu của cô gái Anh, nhưng khả năng này không lớn lắm vì theo như cảnh sát xác minh, nhà trọ ông ta trông nom khá tử tế.

Cato đề nghị quay lại quảng trường Zoco Chico để xem liệu có gặp được hai cô gái Thụy Điển lúc trước đã cho biết Monica từng trọ ở Lion of Morocco không, và chúng tôi tìm thấy họ ở đó, đang ngồi tắm nắng trước cửa một quán bar. “Trong nhóm các cô có ai mất tích không?” ông Ahmed hỏi theo đúng nghiệp vụ, và hai cô gái bắt đầu điểm danh qua loa đám bạn, nhưng hiển nhiên họ đã ăn bánh hashish và chẳng tập trung vào việc gì được, vì vậy ông Ahmed đẩy họ lên xe để đưa đến bệnh viện, nhưng khi chúng tôi đến đó, mẹ bề trên thông báo, “Cô ấy chết rồi.”

Ông Ahmed gạt thông tin đó đi như thể không quan trọng, và dẫn chúng tôi tới nhà xác, nơi cô gái chúng tôi mới gặp chưa đầy một tiếng đồng hồ trước đang nằm cứng đơ dưới một tấm vải, chỉ để lộ khuôn mặt: hốc hác, bệnh hoạn, vô hồn. Hai cô chỉ cần nhìn thoáng qua: “Đây là Birgit.”

“Birgit gì?”

“Từ Uppsala tới.”

“Nhưng họ của cô ấy là gì?”

“Birgit người Uppsala.”

Thanh tra Ahmed giật tấm vải ra, xem xét tĩnh mạch ở cánh tay, miết vào lớp mô đầy sẹo đã bị hành hạ quá mức, bình thản nhìn chúng tôi, đoạn đắp tấm vải lại. “Heroin,” ông nói.

Trên đường về trung tâm thành phố, tôi thấy Cato run lên bần bật nên quay sang định an ủi, nhưng anh ngoảnh mặt đi và ngồi tránh xa tôi. Chúng tôi về đến phòng khách sạn, anh ngồi sụp xuống ghế, hai tay ôm đầu, mắt chăm chăm nhìn xuống sàn, lẩm bẩm, “Lạy Chúa, hãy để chúng con tìm được cô ấy... mau chóng.”

“Ông có ý kiến gì không, ông Loomis?” tôi hỏi.

“Một. Ở quảng trường Zoco Chico, tôi quen một người phục vụ quán bar. Hắn chỉ làm việc ban đêm và là con người đồi bại nhất Bắc Phi. Giờ hãy chợp mắt một chút đi, vì hắn là hy vọng cuối cùng của chúng ta.” Mười giờ đêm hôm đó chúng tôi đi xuống đồi tới quảng trường Zoco Chico, thấy đèn đuốc sáng trưng và khách du lịch nườm nượp. Nó không khác gì một quảng trường ở thành Baghdad cổ kính, hoặc ở Damascus hiện đại, hoặc ở Cairo cả trăm năm trước, chỉ khác một điều là năm nay nó đông nghịt những kẻ trôi dạt từ khắp mọi nơi trên thế giới, đa số là sinh viên manh nha ý định đến thăm Marrakech nhưng sẽ không bao giờ đi xa hơn Tangier. Họ không mấy ưa nhìn vì phần lớn đều mắt u tối, đầu tóc bù xù, dáng đi mệt mỏi, như thể họ là những ông bà già hơn sáu mươi tuổi chẳng còn gì để trông đợi ở cuộc đời chứ không phải lớp người tràn trề hy vọng đang độ tuổi mới lớn.

Big Loomis tiến thẳng đến quán bar cần tìm, bước vào văn phòng phía trong, và một lát sau quay ra cùng một người hầu bàn không xác định được tuổi tác; anh ta chắc hẳn chưa quá ba mươi lăm nhưng trông như bảy mươi, vì đã toàn phần sa đọa, và tôi lấy làm lạ là anh ta vẫn giữ được việc làm. Tuy nhiên, khi nói, anh ta lại tỏ ra linh lợi và có sức thuyết phục: “Thưa các ông, các ông tìm đến tôi là đúng người đúng việc rồi đấy. Anh bạn Big Loomis của tôi là người có thể tin cậy được và tôi có tin tốt lành cho các đối tác của anh ấy đây.” Anh ta hạ giọng, len lét đi đến bên chúng tôi và thì thào qua hàm răng đen xì, “Hoa ở Lebanon chưa bao giờ thơm hơn.”

“Gì cơ?” Cato hỏi.

“Từ Lebanon, đậm đà không gì sánh được,” anh ra nháy mắt nói.

“Gì cơ?” Cato hỏi một lần nữa.

“Cần sa!” anh ta gắt. “Cần sa chất lượng từ Beirut.”

“Kasim,” Big Loomis lên tiếng, quàng tay qua vai người hầu bàn, “việc chúng tôi quan tâm đêm nay là chuyện gì đã xảy ra với một cô gái Anh, Monica Braham.” Kasim không để lộ dấu hiệu nào cho thấy đã hiểu, nhưng Loomis đã nói tiếp, “Cô ấy là cô gái danh giá nhất đấy. Mười bảy tuổi. Con gái Ngài Charles Braham, London.”

“Và Vwarda,” Kasim nói, nét mặt không hề thay đổi.

“Cùng là một người thôi,” Loomis nói. “Và tối nay chúng tôi sẽ điện thoại cho Ngài Charles. Ngài sẽ vô cùng quan tâm đến nơi ở của con gái.”

“Ngài sẽ trả công cho những thông tin hữu ích chứ?” Kasim hỏi.

“Tôi sẽ trả,” tôi cắt ngang.

Nhẹ cả người khi tìm được một người Mỹ có tiền nhận trách nhiệm, Kasim nói, “Tôi không biết gì về cô gái này. Con gái Anh phải không? Chính các ông cũng thấy rồi đấy. Có hàng trăm. Nhưng tôi sẽ hỏi cho.”

“Chúng tôi cũng chỉ mong có thế,” Loomis nói để làm yên lòng anh ta.

Chúng tôi ngồi vào một bàn bên lề đường, và trong khi Kasim đứng bên cạnh như thể chỉ đơn thuần là một bồi bàn, chúng tôi kể cho anh ta nghe tất cả những gì mình biết, nói tên hai nhà trọ mà Monica đã nghỉ lại và tên cô gái Thụy Điển xấu số đã sử dụng hộ chiếu của cô. Nghe xong những thông tin này, Kasim biến mất.

Trong lúc chúng tôi chờ anh ta về, Big Loomis cố hết sức giải khuây cho chúng tôi bằng cách tuyên bố ông ta có thể tính được mỗi người nước ngoài đi qua đã ở Tangier bao lâu. Người Đức với bước đi nhanh nhẹn và đôi mắt say mê tìm hiểu kia mới đến trong tuần này. Người Anh với bước chân lần chần và vẻ mặt đờ đẫn đã ở đây hơn một tháng rồi. Người Mỹ đang lê chân đi, mắt liếc ngang liếc dọc, đầu tóc không chải và quần áo không giặt, đã ở đây nửa năm. Và một vài người khó nhận dạng có thể đến từ bất cứ nơi đâu - California, Thụy Điển, Sydney, Vancouver - là những khách quen sẽ không bao giờ bỏ đi chừng nào còn gom được tiền từ một người họ hàng nào đó. Trong đám cuối cùng này, Loomis nói, phần đông là kiều dân sống bằng tiền trợ cấp từ Anh hoặc Pháp, và một vài người trong số đó đã nhận ra ông da đen to béo mà tự bản thân xét về mặt luật pháp cũng là một kiều dân được gia đình chu cấp, vậy là bọn họ đến ngồi cùng, thông báo cho chúng tôi biết mọi việc ở Tangier không còn tốt đẹp như bốn năm trước nữa.

Khi nghe nói lý do chúng tôi ở đây, họ không hề tỏ ra quan tâm đến sự biến mất của một cô gái Anh; việc này xảy ra quá thường xuyên và họ đã nhận ra cách khôn ngoan nhất là tránh xa những rắc rối như vậy, bởi vì nếu anh không làm thế, chắc chắn cô gái chết tiệt đó cuối cùng sẽ chình ình trong căn hộ của anh, còn anh lại bị cha mẹ cô ta buộc tội quyến rũ cô gái. Tức giận trước thái độ thờ ơ như vậy, Cato nói, “Đừng có hờ hững như vậy nữa đi,” nhưng anh bạn người Anh hỏi, “Cô ấy là bạn gái anh à?” và khi thấy Cato gật đầu, anh nói tiếp, “Chắc chắn cô ấy ở với người khác rồi, anh có thể làm được gì chứ?” Cato nói, “Đồ chó đẻ, cô ấy có thể đang hấp hối đấy,” nhưng anh bạn người Anh buông một câu, “Chẳng phải tất cả chúng ta cũng đang như vậy sao?” Cato định tát anh ta, nhưng Big Loomis nói, “Bình tĩnh nào. Có thể chúng ta phải ở đây mấy ngày nữa đấy.” Như để xác nhận cho kết luận đó, Kasim quay về lúc hai giờ sáng với một tin đáng buồn, “Không ai biết cô ấy đang ở đâu.”

Cú điện thoại của chúng tôi cho Ngài Charles Braham ở Sussex không hề hiệu quả. Ông không có nhà... đã đi tham dự một cuộc hội nghị nông nghiệp nào đó; và trong lúc chờ cô trực máy hoài công cố tìm ông, tôi ngẫm ra rằng mỗi lần con gái ông gặp khó khăn ông đều vắng mặt. Chúng tôi không thể trông chờ gì vào sự giúp đỡ của ông nữa.

Cả ngày hôm sau, chúng tôi lần theo những đầu mối không hiệu quả và khi đêm xuống lại đến quảng trường Zoco Chico, nhưng Kasim không đi làm. Loomis hỏi thăm xem anh ta ở đâu, nhưng ông chủ đáp, vẻ vô vọng, “Với Kasim thì ai mà biết được?” May là chúng tôi chịu khó chờ, vì sau nửa đêm anh chàng tinh ranh ấy xuất hiện, mặt mũi hớn hở. “Tôi tìm được cô ấy rồi! Cảnh sát không làm gì được, nhưng tôi lại tìm được đấy.”

Chúng tôi châu đầu lại và anh ta thông báo, “Chuyến này tốn kém lắm. Tôi phải sai một thằng bé đến tận Chechaouèn.” Nghe nhắc đến thị trấn cổ xưa trên vùng đồi này, Big Loomis liền huýt sáo vì nó ở phía Đông Nam Tangier, cách khá xa, và không thể giải thích nổi làm sao một cô gái Anh lại đến đó được.

Cato là người đầu tiên lên tiếng. “Chúng tôi đi xe đến đó được không?”

“Tôi thấy các vị nên làm thế,” Kasim đáp.

“Ý anh là gì?”

Kasim nhìn Cato, rồi nhìn tôi. “Có lẽ tôi nói chuyện với quý ông này thì hơn,” anh ta đề nghị và dẫn tôi ra phía sau quán cà phê. “Tin tức không được sáng sủa lắm,” anh ta thì thầm. “Hai thanh niên ở đây làm quen với cô ấy... cho bảy đứa bạn mượn tạm cô ấy... hết đứa này đến đứa khác. Sau đó bọn chúng đưa cô ấy đến một vùng quê ở Chechaouèn. Cô ấy trở nên rất yếu, vì vậy bọn chúng bỏ trốn.” Anh ta dừng lại, rồi bổ sung một mẩu tin mà anh ta biết là sẽ tóm tắt được vụ này nhưng lại quá dữ dội để có thể chia sẻ với Cato. “Thằng đàn em của tôi nói qua điện thoại, ‘Bọn chúng hiếp cô ấy tám chín lần một ngày nhưng lại không cho cô ấy bất cứ thức ăn gì.’”

Khi chúng tôi báo cho thanh tra Ahmed biết Monica đang ở đâu, ông liền trưng dụng một chiếc xe hòm công vụ, cho ba người chúng tôi lên, và lao theo hướng Đông về phía Tétouan, thị trấn đã được Tây Ban Nha đặt tên lại một cách khoa trương thành Tetuán-de-las-Victorias để kỷ niệm một cuộc đụng độ vặt vãnh nào đó. Rạng sáng hôm sau, chúng tôi đến đó và rẽ về hướng Nam đi dọc con đường uốn khúc đưa chúng tôi lên vùng đồi thấp ở chân núi Atlas. Trời đã sáng bạch chúng tôi mới tới Chechaouèn, một trạm dừng chân cổ xưa cho khách bộ hành nằm lọt thỏm trong một vòng cung đồi. Chúng tôi lái xe vào gần bãi chợ và được cảnh sát địa phương đón sẵn, họ ngay lập tức tiến hành tìm kiếm cậu bé đàn em của Kasim. Cậu ta đang ở trong một quầy hàng, và khi xuyên qua cái chợ hình dáng chẳng theo một quy chuẩn nào hết ấy, chúng tôi tưởng như mình đang ở tại một thành phố nào trong Kinh Thánh hai nghìn năm trước. Ngay trang phục của những người Ả rập đang mở cửa quầy hàng cũng không thay đối, tập quán của họ không hề bị thế giới hiện đại tác động vì đây là một thành phố với những lợi ích tôn giáo vô cùng lâu đời, và quan điểm hiện đại không được chào đón.

Người dẫn đường cho chúng tôi là một cậu bé mười lăm tuổi, được Kasim đào tạo trong thế giới ngầm của Tangier, và am tường về những thói tật có thể thành ra hữu ích. Trong lúc đưa chúng tôi qua bãi chợ tiến vào một khu phố cổ, một khu vốn hàng bao thế kỷ nay vẫn là cấm địa với người ngoại đạo, cậu ta lựa chọn tôi là người có nhiều khả năng đứng đầu nhóm và thổ lộ, “Con gái ông yếu lắm. Có lẽ chúng ta nên mời bác sĩ.”

Tôi định nói mình không phải cha cô, nhưng rồi lại quyết định không làm mọi việc rắc rối thêm. “Thế thì tìm bác sĩ nào đang rảnh đi,” tôi bảo, và cậu ta đưa chúng tôi đi vòng một đoạn ngắn đến nhà một bác sĩ trẻ vốn được đào tạo ở Casablanca, bây giờ được cử đến Chechaouèn phục vụ ở bệnh viện công. Anh nói tiếng Pháp rất giỏi và hỏi ai trong chúng tôi bị ốm. Khi cậu bé dẫn đường giải thích là con gái tôi đang trong tình trạng tệ hại, anh nghiêm trang gật đầu nói với tôi, “Ở Casablanca, chuyện như vậy không hiếm. Phần lớn là con gái Thụy Điển.”

Cậu bé dẫn chúng tôi qua một vài ngõ ngách hết sức chật hẹp, tôi hỏi anh bác sĩ, “Mọi thứ ở đây không mấy thay đổi trong hai nghìn năm nay, phải không?” Anh buồn bã lắc đầu. “Đây là vùng đất phía sau của Marốc. Và mọi thứ sẽ vẫn không thay đổi trong hai nghìn năm nữa.” Chúng tôi dừng lại trước cửa một ngôi nhà nhỏ vách đất chắc ít nhất cũng hai trăm năm tuổi, và tôi tự dưng cảm thấy bi thương tột độ khi nghĩ rằng Monica đã đi đến nước phải ở một nơi tồi tàn như thế này. Tôi đang định bước vào thì anh bác sĩ ngăn lại, “Để tôi vào trước thì hơn,” đoạn anh đi theo cậu bé vào trong.

Trong khi mọi người lo lắng đứng chờ ở ngoài, tôi có thể thấy Cato đã căng thẳng sắp gục đến nơi. Tất nhiên là đối với thanh tra Ahmed, Monica chỉ đơn thuần là một cô gái Âu châu nữa mà ông cần theo dấu; nếu hôm nay tìm được cô rồi, ngày mai ông sẽ lại phải lên đường kiếm một người khác thôi.

Lúc này anh bác sĩ đã đi ra, vẻ mặt rất trang nghiêm, và nói, “Tốt hơn cả là một người trong các vị vào đây với tôi.” Tôi dợm bước tiến lên nhưng Cato, đầu vẫn đội cái mũ fez đỏ, chen lên trước tôi và biến vào sau cánh cửa nhỏ. Ngay sau đó chúng tôi nghe thấy tiếng kêu thất thanh - một tiếng rú đau khổ tột cùng. Ahmed lao vào trong nhà, nhưng tôi chưa kịp chạy theo thì Cato đã xuất hiện trong hành lang tối, trên tay là xác Monica.

Cô đã chết, chân tay thõng thượt, teo tóp như cành cây khô héo, mái tóc đen rối bù bao quanh khuôn mặt từng một thời xinh đẹp. Cánh tay trái của cô để lộ vét lở loét ghê sợ và quen thuộc mà tôi đoán rốt cuộc đã gây ra cái chết của cô.

Anh bác sĩ lắc đầu với vẻ phẫn nộ của người trong nghề, “Chỗ áp xe này chữa trị đơn giản lắm.” Anh nhìn Cato và tôi, “Các ông có ai để ý đến mặt cô ấy không? Màu da ấy? Đó là nguyên nhân cái chết đấy. Viêm gan vi rút. Chắc chắn cơ thể cô ấy đã ủ bệnh nhiều tuần nay rồi và có thể đã bùng phát dữ dội do thiếu dinh dưỡng.”

“Cô ấy đã chết?” thanh tra Ahmed hỏi theo đúng nghiệp vụ. “Cô ấy không bị giết chứ?”

“Cô ấy đã chết.”

“Vậy là chúng ta không phải đối mặt với vấn đề luật pháp,” thanh tra Ahmed nói, tỏ ra không quan tâm đến vụ này thêm nữa.

“Cô ấy mắc bệnh viêm gan như thế nào?” tôi hỏi.

“Nhiễm trùng dưới da. Rất nhiều thanh niên tự kết liễu đời mình bằng cách này.” Anh bác sĩ quay lại đối diện chúng tôi: “Có ai dùng chung kim tiêm với cô ấy sáu tuần... bảy tuần trước không?” vẫn bế cái xác trên tay, Cato đờ đẫn lắc đầu.

Anh bác sĩ nhổ nước bọt xuống đất, nói, “Bi kịch nằm ở chỗ, nếu bất cứ ai trong các vị biết cách xử lý đúng đắn, cô ấy có thể được cứu sống dễ dàng.”

Đến lúc chúng tôi phải trở lại Tangier thì mới nảy sinh vấn đề xử lý cái xác của Monica như thế nào, và thanh tra Ahmed gợi ý, “Chúng ta sẽ để cô ấy trong thùng xe,” nhưng khi cái chỗ chứa tối om đó được mở ra, Cato phản đối dữ dội, “Không! Cô ấy sẽ ngồi cùng chúng ta.” Ông Ahmed nhún vai nói, “Thế thì bất tiện lắm đấy.”

Cato cởi áo sơ mi ra bọc quanh người Monica, rồi chúng tôi lên xe, đặt xác cô nằm trên đùi chúng tôi, đầu cô tựa vào ngực Cato.

Khi chiếc xe tăng tốc chạy dọc con đường dẫn về Tangier, tôi giả bộ không nhận thấy là Cato, co rúm lại trong một góc, hai tay vòng quanh vai Monica, đang lặng lẽ khóc. Đôi vai thỉnh thoảng rung rung của anh đã để lộ cảm xúc trong lòng, và tôi nghĩ những trải nghiệm tình yêu của anh mới cay đắng làm sao: Vilma bị đấm đá đến chết, một cách vô nghĩa, trên đường phố Philadelphia; Monica chết ở Marốc vì một mũi tiêm dưới da nhiễm trùng, trong khi ngay cả sự quan tâm thông thường nhất cũng sẽ ngăn ngừa được chuyện này. Trong khi tiếp tục trông chừng anh, tôi có cảm giác Cato chính là đại diện cho thế hệ của mình, dũng cảm xây dựng những lối ứng xử mới nhưng lại không có khả năng tự bảo vệ trước những tấn bi kịch xưa nay không ai tránh khỏi.

Động lòng trắc ẩn, tôi giơ tay chạm vào người anh, nhưng anh phản ứng như thể bị đánh. “Đừng có đụng vào tôi!” anh thét. “Tôi không cần người da trắng thương hại,” và tôi nói với anh, “Tôi đâu có chìa tay ra với tư cách một người da trắng.” Trên hàng ghế trước, Big Loomis làu bàu, “Bình tĩnh lại đi.”

Cato hơi xoay người nhìn tôi, chiếc mũ fez đỏ lệch sang một bên, đôi mắt đen đẫm lệ. Tôi tin anh đang muốn nói câu gì đó để giảng hòa. Anh muốn đáp lại cử chỉ thân thiện của tôi, vì tay anh đã rời khỏi vai Monica mà bắt đầu với lấy tay tôi, nhưng ngay lúc đó nỗi sầu bi lại ập đến khiến anh gục xuống run lên bần bật, chẳng buồn che giấu tiếng nức nở nữa. Cứ như vậy, cùng nhau chia sẻ trọng lượng của cô gái xấu số mà cả hai đều yêu quý, chúng tôi quay về Tangier.

Khi chúng tôi đến gần đồn cảnh sát, tôi nhận ra ngay chiếc pop-top màu vàng. Gretchen và Joe chạy ra đón chúng tôi, và chưa kịp nhìn thấy cái bọc trong lòng Cato và tôi, Gretchen nôn nóng hỏi, “Mọi người tìm thấy cô ấy không?”

“Chúng tôi tìm thấy rồi,” Big Loomis nói.

“Britt! Họ tìm thấy cô ấy rồi,” Gretchen reo lên khi Holt và Britta đến gần.

Họ nhìn Cato và tôi, cả hai đều nghiêm trang và im lặng, rồi sau đó, đưa mắt xuống dưới, thấy cái hình hài bất động trong lòng chúng tôi.

“Lạy Chúa tôi!” Gretchen kêu thất thanh. “Chuyện gì thế này?”

“Cô ấy chết rồi,” Cato nói.

Gretchen đưa tay lên bụm miệng, ngây người đứng nhìn trong lúc chúng tôi xuống xe, để lại cái xác nằm duỗi dài trên ghế. Cato và tôi đã đưa Monica về đến nơi; chẳng thể làm gì hơn được nữa, chúng tôi đứng sang một bên.

Thanh tra Ahmed và một cảnh sát nữa quay lại khiêng cái xác ra khỏi xe, coi như một chuyện thường tình, nhưng trong lúc họ làm thế, cái áo sơ mi bị lật lên để lộ khuôn mặt Monica ra trước mắt tất cả những người đang quan sát.

“Lạy Chúa!” Joe bật lên tiếng kêu khi nhìn thấy cảnh tượng khủng khiếp đó.

Thanh tra Ahmed nhanh tay che cái áo sơ mi vào chỗ cũ. Nhưng Britta, với thái độ lạnh nhạt, bước tới bên ông Ahmed lúc này đang xốc nách cô gái bạc mệnh, thận trọng níu cái xác lại và cúi xuống nhìn mặt bạn. Monica trông thật ghê rợn, khủng khiếp, mắt mở trừng trừng nhìn chúng tôi, miệng há hốc, lưỡi thè lè. Đây không phải cái chết; đây là một sự nhạo báng không khoan nhượng.

“Che cô ấy đi,” Holt nhắc, nhưng Britta đã choàng một cánh tay quanh đầu Monica. Cô âu yếm vuốt mắt và gỡ những lọn tóc rối cho bạn. Cô cúi xuống hôn lên đôi má hóp, rồi quay về phía chúng tôi vừa khóc vừa nói, “Chúng ta đã không giúp được gì cho bạn ấy.” Holt định nói là không ai có thể giúp Monica, nhưng Britta đã áp tay lên miệng anh, rồi ông Ahmed cùng với người của mình khiêng cái xác tới chỗ chiếc hòm gỗ đơn sơ đang đợi sẵn.

Marốc chẳng còn gì hấp dẫn chúng tôi nữa.

Chúng tôi ngồi quanh cái bàn ngoài trời quen thuộc ở quảng trường Zoco Chico, nhận thấy đoàn thanh niên trôi dạt đang diễu qua trước mắt thật đáng sợ và khó coi. Mỗi cô gái mái tóc xõa xượi đều nhắc chúng tôi nhớ đến chuyện đã xảy ra với Monica.

Không ai lên tiếng đề nghị quay về Marrakech, còn ở lại Tangier là việc không tưởng tượng được. Mà ở đây cũng chẳng có gì cần đến chúng tôi nữa. Các nhà chức trách không có ý định truy tìm, nói chi đến việc truy tố, mấy thanh niên Marốc đã đưa Monica đến Chechaouèn vì cô tự nguyện đi theo họ. Còn về tội ngược đãi, chẳng ai có thể chứng minh bọn họ đã thu tiền của đám bạn được họ gọi đến để lợi dụng cô, và thanh tra Ahmed thì sáng suốt suy đoán rằng cha cô, Ngài Charles, sẽ không tha thiết bay đến Tangier để hối thúc một vụ kiện cáo chỉ khiến ông mang tiếng. Ông nói với chúng tôi, “Năm ngoái chúng tôi gặp phải hai mươi chín vụ thiếu nữ tử vong. Y như cô bạn của các vị. Thuộc đủ mọi quốc tịch. Và chỉ có vài ba vụ, cha mẹ họ muốn chúng tôi hoãn việc chôn cất để họ có thể đến kịp. Vụ này coi như khép lại rồi.”

Đối với chúng tôi thì không. Vụ này sẽ không bao giờ khép lại. Tôi có thể thấy Gretchen và Britta đều cho rằng mình thật may mắn vì đã gắn bó với người đàn ông che chở cho họ, và tôi nhận thấy cả hai đã xích lại gần người đàn ông của mình hơn. Về phần mình, hai người đàn ông đều hết sức phẫn nộ dù rằng bất lực khi thấy một cô gái yếu ớt như Monica bị ngược đãi đến vậy. Một tên dẫn khách đang đi thơ thẩn, thấy Joe tách ra khỏi nhóm chúng tôi trong chốc lát bèn len lén tiến lại gạ gẫm, “Anh muốn qua cả đêm với em gái tôi không? Rất trẻ, rất sạch sẽ.” Joe giáng cho hắn một đón hiểm vào bụng khiến hắn phải gập người lại vì đau. Ngay lúc đó, tôi lên tiếng, “Chúng ta nên đi khỏi thành phố này thì hơn.”

Lúc này Gretchen bất ngờ làm mọi người ngạc nhiên. Nghiêng người qua mặt bàn, cô với lấy tay Joe nói, “Đã đến lúc chúng ta làm những gì cần phải làm rồi. Em tặng anh chiếc pop-top. Hãy tới nơi nào anh phải tới, rồi bán nó đi.”

Mọi người im lặng khá lâu. Joe đỏ bừng mặt không nói được lời nào, bối rối trước ý tứ rõ ràng thể hiện trong hành động bột phát của cô. Britta mỉm cười đồng tình. Chỉ có Holt là hỏi một cách thực tế, “Cô sẽ thu xếp giấy tờ chuyển nhượng bằng cách nào?” Tôi gợi ý lãnh sự Mỹ, nhưng Kasim, từ đầu đến giờ vẫn theo dõi cuộc trao đổi của chúng tôi, vội gợi ý, “Tôi có một anh bạn làm thợ in. Với giá mười đô la, anh ta sẽ làm giả giúp cô giấy tờ mua bán hoàn chỉnh... mọi tài liệu đều hợp lý.”

“Nước nào chuyển sang nước nào?” Big Loomis hỏi.

“Ông muốn nước nào cũng được. Đức chuyển sang Thụy Điển, Ai Cập sang Tanzania. Đối với anh ta thì thế nào cũng xong.”

Tôi ngạc nhiên thấy Holt chấp nhận ngay. “Chắc là cách tốt nhất rồi. Cô dính vào một lãnh sự Mỹ... không có nhiều thời gian đâu.” Vậy là Gretchen dốc ví đưa ra một lô giấy tờ để Kasim nhét vào túi trong.

“Có lâu không?” Gretchen hỏi.

“Đối với anh bạn tôi thì trường hợp nào cũng khẩn cấp hết,” Kasim trấn an. “Bốn mươi phút.”

“Nhanh thế sao?”

“Ở Tangier... đúng vậy,” Big Loomis nói, nhưng Kasim vẫn chần chừ chưa đi ngay. Quay sang Joe, anh ta hỏi, “Một tấm hộ chiếu thì sao? Có lẽ hộ chiếu đặc biệt?”

“Bao nhiêu?” Joe cảnh giác hỏi.

“Tùy thuộc vào việc chúng tôi có sẵn hộ chiếu nước nào. Nhân tiện tôi muốn hỏi, có ai trong các vị muốn bán hộ chiếu không? Giá cao đấy.”

Sợ rằng Joe có thể nghiêm túc tính đến chuyện đổi hộ chiếu Mỹ lấy một tấm khác nhằm tránh bị các quan chức Mỹ phát hiện, Holt từ chối dứt khoát, “Chúng tôi sẽ tiếp tục dùng hộ chiếu hiện thời.”

“Nếu có vấn đề gì phát sinh,” Kasim nói ngọt xớt, “tôi sẽ quay lại trong bốn mươi phút nữa.”

“Em có nói nghiêm túc về chuyện chiếc xe không đấy?” Joe hỏi.

“Có. Đây là một món quà... cho một thanh niên vô cùng đặc biệt.” Rồi Gretchen nói tiếp bằng giọng dịu dàng, “Một thanh niên đàng hoàng.”

“Cậu sẽ đi đâu, Joe?” Holt hỏi.

“Tối hôm trước tôi có nghe mấy bạn ở khách sạn Bordeaux nói chuyện. Họ bảo thú vị nhất là Shinjuku.”

“Ý kiến hay đấy,” Holt nói. “Rất nhiều con gái... rất nhiều hoạt động.”

“Shinjuku ở đâu?” Britta hỏi, vẫn luôn muốn xác định rõ danh tính các nơi chốn.

“Ở Tokyo,” Holt đáp. “Khu phố náo nhiệt nhất Tokyo.”

Gretchen gợi ý, “Sao anh không đi Ấn Độ? Rất nhiều người đã tìm được lời giải đáp... sự mở mang... ở Ấn Độ.”

Big Loomis xen ngang: “Cậu có bị mất trí mới lãng phí bất cứ phút giây nào của cuộc đời ở đất nước ấy. Không có câu chuyện hoang đường nào trong thời đại chúng ta lại nực cười hơn câu chuyện Ấn Độ có lời giải đáp cho bất cứ vấn đề nào.”

“Tôi đang nói về tính chất tinh thần cơ mà,” Gretchen đối đáp.

“Tôi cũng vậy,” Loomis nói. “Tôi đã sống ở Ấn Độ gần một năm... cả ở Sikkim và Nepal... cần sa chất lượng cao... những cuộc chuyện trò tâm đầu ý hợp giữa người châu Âu với nhau. Nhưng sự khai sáng mà các bạn trẻ mơ mộng hão huyền ở Greenwich Village và Bloomsbury nói đến thì... ở đó làm gì có. Đó là một ảo tưởng mà các giáo sư ấm ớ ở các trường đại học Mỹ ấm ớ đưa ra.”

Holt xác nhận luận điểm của người đàn ông to béo: “Như Tyrone Power đã lang bạt khắp châu Âu và cuối cùng lưu lạc đến Ấn Độ. Anh ấy chẳng học được gì cả.”

Mọi con mắt đều đổ dồn về phía Holt, nhưng anh không chịu nói chi tiết hơn. Joe định hỏi xem Tyrone Power thì liên quan gì tới cuộc thảo luận này, nhưng rồi lại nhún vai và quay về phía Loomis để nghe ông ta nói. “Tôi hiểu rằng các cô cậu đang trải qua một thời kỳ khó khăn... cái chết của Monica... và tôi xin lỗi về những gì sắp nói, nhưng vì chuyện vô lý mà Gretchen mới nói, tôi cho rằng các bạn phải nghe. Khi đặt chân đến Calcutta - cầu Chúa đừng để ai phải gặp chuyện như vậy nữa - tôi đã dự định thực hiện hành trình tìm kiếm sự khai sáng. Tôi đã trải qua ba ngày ở nơi bẩn thỉu kinh khủng đó, với lũ trẻ con đói khát luôn chế nhạo thân hình béo tốt của tôi, với đám đàn ông đàn bà chết ngay giữa đường, với những gia đình tất tật thành viên chỉ sống nhờ một thùng rác, nhưng tôi vẫn có thể bỏ qua tất cả những chuyện đó vì tin rằng chính từ tình trạng khốn khổ như vậy mà đôi khi chúng ta đạt được sự khai sáng. Các lãnh tụ tinh thần vĩ đại tuyệt đối không xuất thân từ các nhà băng hoặc những câu lạc bộ giảng viên đại học. Tôi chấp nhận nhượng bộ bất cứ khi nào có thể và cuối cùng cũng bắt đầu cảm thấy thích thú với không khí chết chóc và kinh hoàng ở Calcutta. Tôi còn thiết lập mối quan hệ với một đạo sĩ khổ hạnh nổi tiếng tự nguyện giảng cho tôi nghe những điều huyền bí của thế giới. Ông ta cao gần mét chín, nặng hơn bốn mươi cân, kể cả bộ râu. Ông ta từng nhìn thẳng vào mặt trời suốt bốn mươi tám ngày không nghỉ và có một sự khiêm tốn nhất định khi đánh giá bản thân, vì đối với trường hợp của tôi ông ta cảm thấy nên trao đổi ý kiến với hai đạo sĩ khổ hạnh khác có vóc dáng y chang và bộ râu dài không kém của ông ta. Ba thánh nhân đó - họ làm việc theo giờ hành chính tại một ngôi làng gần Calcutta, và tính thù lao với giá cắt cổ - phán cho tôi nghe nhiều điều, thỉnh thoảng họ nói năng ngang với trình độ của một giáo viên lớp năm tại một trường tiểu học tốt. Ngay lúc này thì tôi không thể đưa ra thí dụ minh họa được, vì việc dạy dỗ của các thánh nhân đó ít nhiều đã bị vô hiệu hóa bởi hành động mà họ bị bắt quả tang hai ngày trước khi tôi hoàn thành khóa học.”

Ông ta dừng lại, chỉ chăm chú nhìn hai cô gái cho đến khi Gretchen hỏi ba người đó đã làm gì. “Tuân theo nghi lễ riêng của các đạo sĩ khổ hạnh, họ đào mộ một bé gái năm tuổi chết đã ba ngày và ăn cái xác.”

Không ai nói được lời nào trong một lúc; rồi Britta lên tiếng, “Em nghĩ mình sắp nôn mất,” đoạn chạy biến đi. Gretchen ngồi gõ gõ ngón tay lên mặt bàn, rồi nói, “Bây giờ thì em hiểu đã đến lúc em phải về nhà bắt tay vào việc rồi. Anh sẽ làm gì, Cato?”

Anh chờ cho đến khi Britta quay lại, vẻ mặt bối rối và nhợt nhạt, rồi mới đáp, nhấn mạnh từng âm tiết, “Tôi đã không biết mình muốn làm gì... một cách chính xác. Giờ thì tôi biết rồi. Tôi sẽ rời khỏi đây và xin đi nhờ xe sang Ai Cập. Sau đó tôi sẽ xuống Hồng Hải và vượt biển sang Jiddah. Từ đó tôi sẽ bắt đầu từng chặng đi bộ trên con đường đến Mecca, để rồi khi tới nơi tôi sẽ chạy sáu lần quanh viên đá đen vĩ đại, và khi quay về Philadelphia, tôi sẽ đội cái mũ fez mà tự giới thiệu mình là Hajj’ Cato. Tôi sẽ khởi xướng một phong trào, và nó sẽ là một thủ đoạn vĩ đại che chở cho người da đen trong khi đạo Cơ Đốc chống đối họ. Và một khi nó đã được phát động một cách chắc chắn rồi, đồ con hoang các ông nên cảnh giác thì hơn.”

Nói xong anh đứng lên, sửa lại chiếc mũ fez và bỏ chúng tôi đi thẳng.

Khi bóng anh đã khuất, Big Loomis trầm ngâm nói, “Ba năm trước tôi đã từng đội một cái mũ fez. Song đừng lo về anh chàng này. Cậu ấy có sức chịu đựng đấy. Khi nào trở về Philadelphia, cậu ấy sẽ gây khó khăn cho người da trắng các ông đấy, cậu ấy là mẫu người da đen mà tất cả chúng ta đều cần đến.”

Gretchen nói, “Tôi nhận thấy ông dùng từ da đen,” và Loomis đáp, “Ba năm trước tôi dùng người Mỹ gốc Phi. Tôi đã coi đó là điều quan trọng.”

Tôi hỏi người đàn ông to béo xem ông ta định làm gì, và ông ta cho biết, “Có thể tôi sẽ ở lại Marrakech đến chừng nào mẹ tôi vẫn còn có khả năng gửi cho tôi ít tiền còm. Tôi có nhiều việc phải làm ở dưới đó. Thỉnh thoảng tôi có thể giúp các bạn trẻ như Monica và Cato.” Trong bộ lễ phục chỉnh tề đủ các chuỗi hạt, vải dệt tay và giày ống Tây Tạng, ông ta đứng dậy hùng dũng đi lên đồi tiến về phía quảng trường Zoco Grande, rồi từ đó bắt xe buýt quay về Marrakech.

“Mọi người nghĩ chuyện ông ta nói về Ấn Độ có đúng không?” Britta hỏi.

“Chính mắt anh đã thấy những việc như vậy rồi,” Holt đáp.

“Tôi đến Shinjuku bằng cách nào đây?” Joe hỏi.

“Thế này nhé, cậu lái xe từ đây đến Ai Cập. Sau đó phải đi tàu đến Beirut vì cậu không quá cảnh Israel được. Rồi cậu sẽ tiến về Damascus và Teheran, sau đó qua sa mạc đến Afghanistan, xuống Pakistan và qua Lahore để tới Ấn Độ. Lái xe ngang qua Ấn Độ thì đơn giản thôi và cậu sẽ đi xuyên suốt Miến Điện và Thái Lan. Cậu không thể quá cảnh Việt Nam được, vì vậy cậu sẽ chuyển xe lên một con tàu chở hàng Nhật Bản... xe cộ hầu như không mất tiền... vậy là cậu đã ở Shinjuku rồi.”

Tôi lắng nghe với vẻ thán phục. Thật chẳng khác gì lời chỉ dẫn cho người hàng xóm đường đến cửa hàng tạp hóa mới mở: “Cậu đến Afghanistan rồi rẽ trái.”

“Tôi có thể đi được với hai trăm tám mươi đô la không?” Joe hỏi.

“Tại sao không?”

Một phút im lặng bối rối trôi qua khi Joe và Gretchen đăm đăm nhìn nhau - một người thì chuẩn bị đi Tokyo, một người về Boston - và bị thôi thúc bởi lòng quý trọng tự nhiên trước tình cảm chân thành của cô, anh đưa ra lời mời, “Em nghĩ sao về chuyện đi Nhật Bản với anh?” còn cô đáp, “Cảm ơn anh, nhưng không đâu. Em từng nghe nói đưa vợ tới Tokyo cũng giống như mang bánh mì kẹp giăm bông đi dự tiệc ấy.”

“Cậu có phải vợ anh ấy đâu,” Britta nhắc.

“Tớ biết, nhưng tớ không muốn làm hỏng cuộc vui của anh ấy với các cô nàng mắt một mí.” Câu nói không được ai hưởng ứng, và một phút im lặng ngượng ngùng nữa trôi qua.

Một cách bốc đồng, Gretchen mở túi xách ra lục tìm quyển séc du lịch. “Anh là lái xe giỏi nhất châu Phi,” cô nói, “và anh xứng đáng được thưởng.” Cô hấp tấp ký một loạt tờ séc - chúng là những tờ năm mươi hay một trăm, tôi không nhìn thấy được - và lóng nga lóng ngóng đẩy sang cho Joe. Anh cầm lấy, lẩm bẩm nói cảm ơn. Vậy là cô ngước nhìn anh với nét mặt rạng rỡ, không còn chút lo sợ và căng thẳng nào. “Rồi chúng ta sẽ gặp lại ở đâu đó,” cô nói, và hai người bắt tay nhau.

Hẳn rất khó khăn cho Joe khi thốt ra những lời tiếp theo, vì anh biết rất có thể Holt đã nhận thấy mối quan tâm trước kia của anh với Britta. Hít một hơi thật sâu, cậu nói, “Ông biết đấy, ông Holt, vì ông tiến về Ceylon còn tôi hướng đến Nhật Bản, sao chúng ta không cùng nhau đi xuyên châu Á nhỉ? Ý tôi là cả ba chúng ta.”

“Tôi thấy hay đấy,” Holt điềm đạm nói. “Chúng ta có thể chuyện trò.”

“Tôi cũng nghĩ vậy đấy.”

“Và chúng ta có thể san sẻ chi phí,” Britta gợi ý.

“Có một chuyện,” Joe nói. “Tôi muốn dừng lại ở Leptis Magna.”

“Sao lại không nhỉ?” Holt nói. “Chúng ta sẽ đi qua đó.”

“Ở Leptis Magna thì có gì đáng xem?” Britta hỏi.

“Cảnh đổ nát. Tôi muốn thăm một trong những thành phố La Mã đã biến mất vì bị người ta lạm dụng đất đai. Rất có thể tôi sẽ hứng thú với lĩnh vực khai thác đất đai - tức là khi tôi đã xong chuyện tù tội. Ông Gridley khuyên tôi nên tính chuyện xin việc tại một công viên quốc gia. Bảo tồn giá trị cho đất đai.”

“Chúng ta cũng có thể quan sát hệ thống thủy lợi ở Ai Cập nữa,” Holt gợi ý, nhưng tôi nhận thấy khi anh phát biểu câu đó, Britta chợt cau mày định nói gì đó, song cô bị chặn lại vì Kasim đã quay về với giấy bán xe giả. Gretchen trả mười đô la cho anh ta, nhưng anh ta rền rĩ, “Đây là trả cho nhà in. Thế còn tôi thì sao?” Vậy là tôi liệng cho anh ta hai đô la nữa và Joe bắt đầu xếp đồ lên chiếc pop-top.

Lúc này Britta mới lên tiếng. “Chúng ta có thể dừng ở Leptis Magna,” cô thận trọng nói. “nhưng các nơi khác thì hạn chế vì chúng ta phải có mặt ở Ceylon vào ngày 23 tháng Mười hai.”

“Không, chúng ta không cần phải thế đâu,” Holt trấn an cô. “Đúng là vậy, anh phải về rồi. Nhưng công ty sẽ không tính toán chi li vì một tuần chậm trễ đâu.”

“Em muốn nói,” Britta giải thích, “là em phải có mặt ở đó vào ngày 23.”

“Vì sao?”

Cô đỏ mặt, nhỏ nhẹ nói, “Vì em đã gửi cho cha em một vé máy bay đến Ceylon thăm chúng ta rồi.”

Holt sững người. “Em lấy tiền đâu ra?” anh hỏi.

Đặt bàn tay lên tay Holt, Britta trả lời, “Mỗi lần anh đưa tiền cho em, em đều để riêng ra một ít.”

Khi Britta nói câu đó, tôi đang nhìn Holt, và anh nghênh nghênh đầu nhìn cô kinh ngạc, trên khuôn mặt hằn sâu nếp nhăn của anh chợt toát lên một vẻ ngơ ngác âu yếm mà đôi lúc các anh chồng vẫn dành cho những người vợ đã cùng họ chung sống nhiều năm nhưng chỉ đến lúc đó mới khám phá ra con người thật.

Nhưng Gretchen nhớ lại: “Hồi ở Alte cậu nói với chúng tớ rằng lỡ có khi nào cha cậu buộc phải nhìn thấy Ceylon đúng như thực chất của nó thì ông sẽ suy sụp cơ mà.”

“Hồi đó tớ có nói như vậy thật,” Britta thú nhận, “nhưng bây giờ tớ tin rằng mọi người đàn ông đều phải xác minh những ước mơ của mình. Và hiểu đúng bản chất của chúng.”


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 12.02.2018, 10:24
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 33683
Được thanks: 5218 lần
Điểm: 9.58
Có bài mới Re: [Kinh điển] Sáu người đi khắp thế gian - James Albert Michener - Điểm: 10
Chú thích


[1] Lydon Baines Johnson (1908-1973) Tổng thống thứ 36 của Hoa Kỳ (1963-1969)

[2] Ganymede: Hoàng tử thành Troy, bị thần Zeus để ý và biến thành đại bàng rồi quắp đưa đến chòm sao Cygnus làm người hầu rượu các thần.

[3] Adam Smith (1723-1790): Nhà kinh tế học người Scotland.

[4] Các phiên tòa xét xử những nhân vật lãnh đạo về chính trị, kinh tế và quân sự của Đức Quốc xã

[5] Voilà: Thế đấy (tiếng Pháp).

[6] Đơn vị đo chiều dài của anh. foot bằng 0.3048m.

[7] Mọi việc càng biến đổi thì lại càng không như trước nữa( tiếng pháp).

[8] MIT: Masachusetts Institute of Technology (Viện công nghệ Massachusetts).

[9] Red Baron: Manfred von Richthofen, một phi công Đức huyền thoại trong Đại Chiến I. Chiếc máy bay ba lớp cánh Fokker của ông được sơn đỏ chót để cho lính Đức dưới mặt đất nhận ra và không bắn.

[10] Reginald Heber (1783-1826): Nhà thơ Anh được cử làm nhà truyền giáo ở Calcutta và Ceylon (Từ 1972 là Sri Lanka).

[11] Robert Louis Stevenson (1850-1894): Nhà văn, nhà thơ, nhà văn tiểu luận xứ Scotland.

[12] The Pearl Fishers: Vở opera mở màn của nhà soạn nhạc Pháp Georges Bizet (1838-1875).

[13] Joel: Tên một giáo đồ được lấy làm tên Sách thứ 7 nhan đề “Sự thử thách và ăn năn” (Sách Tiên tri trong Cựu Ước).

[14] Alfred Tennyson (1809-1892): Nhà thơ Anh.

[15] Viking: Một dân tộc có vóc người cao to, lực lưỡng thời Trung cổ, nổi tiếng là những chiến binh dũng cảm ở vùng biển Scandinavia, từng chiếm châu Âu hồi thế kỷ VIII – XI.

[16] Kon-Tiki: Tên một bè gỗ balsa gồm chín mảng, từng được nhà thám hiểm Thor sử dụng để đi từ Peru tới đảo Tuamotu (8000 km), nay là vật triển lãm.

[17] Don Energetico: Quý ông đầy sinh lực (tiếng Tây Ban Nha).

[18] Hát đổi giọng trầm sang giọng kim (theo phong cách hát của những người dân miền núi Thụy Sĩ).

[19] Loại váy dài thường thấy ở Đức phỏng theo trang phục lịch sử của nông dân miền Alps có cổ thấp, bó eo, xòe bên dưới, lớp ngoài cột thêm chiếc “tạp dề” làm duyên.

[20] Một dòng nhạc pop xuất hiện vào thập kỷ 60, xuất xứ từ hạt Merseyside vùng tây bắc nước Anh, nơi có con sông Mersey chảy qua, đặc biệt chỉ dành cho đàn ông biểu diễn, nổi tiếng là nhóm Beatles.

[21] Mary Jane: Cách nói lóng của từ Marijuana (cần sa).

[22] Bierstube: quán rượu, quán ăn (tiếng Đức).

[23] Ralph Bunche (1904-1971): Nhà ngoại giao Mỹ, là người da đen đầu tiên được giải Nobel Hòa bình năm 1950.

[24] Jackie Robinson (1919-1972): Cầu thủ bóng chày da đen, trợ lý đặc biệt cho Thống đốc bang New York về các vấn đề cộng đồng.

[25] Bác Tom: Tên một nô lệ da đen dũng cảm và trung thành trong cuốn Túp lều bác Tom của nhà văn Harriet Beecher Stowe xuất bản năm 1951-1952.

[26] Green Pastures: Vở kịch của Marc Connely ra mắt năm 1930, diễn lại những cảnh trong Kinh Cựu Ước, nhưng nhân vật đều là người Mỹ da đen, nói tiếng địa phương của người da đen miền Nam.

[27] Daniel: Sách thứ 5 trong số 17 Sách Tiên tri trong Cựu ước. Vua Babylone, Nebuchadnezzar, truyền lệnh chọn mấy thanh niên khôi ngô tuấn tú và đặt tên lại là Belteshazzar (tức nhà tiên tri Daniel), Shadrach, Meshach và Abednego đưa vào cung dạy dỗ để đứng chầu bên mình. Sau này, vua Nebuchadnezzar ra lệnh quẳng ba người vào lò lửa vì họ không chịu quỳ lạy bức tượng vàng của vua. Nhưng chỉ có những người quẳng họ vào lửa mới bị thiêu, còn ba người vẫn nguyên vẹn bước ra.

[28] Paregoric: Một loại dược phẩm làm từ thuốc phiện.

[29] Philly: Tức Philadelphia.

[30] Stepin Fetchit (tên thật là Lincoln Theodore Monroe Andrew Perry, 1902-1981): Diễn viên hài da đen đầu tiên trở thành triệu phú, rất có tài, hay đóng vai người hầu vụng về và lười nhác.

[31] Ghetto: Khu dân cư tập trung người da đen hay Do Thái.

[32] Jeanne d‘Arc (1412-1431): Nữ anh hùng người Pháp lập chiến lũy ở Orléans, bị các cố đạo ủng hộ Anh bắt và xử thiêu sống ở Rouen. Năm 1920 được phong thánh.

[33] La Marseillaise: Bài ca cách mạng do sĩ quan Rouget de Lisle sáng tác năm 1792, sau thành Quốc ca Pháp.

[34] Boveda: Vòm (tiếng Tây Ban Nha).

[35] Mycenae: Thành phố Hy Lạp thời trước CN, có bức tường Cyclops xây bằng đá rất khít.

[36] Tờ giấy xanh lá cây: Tờ đô la.

[37] Rúp: Đơn vị tiền tệ của Nga, Belarus và Tajikistan.

[38] Charles Boyer (1899 - 1978): Diễn viên điện ảnh Pháp.

[39] Ku Klux Klan: Hội kín chuyên khủng bố người da đen, thành lập năm 1866 ở các bang miền Nam nước Mỹ, đồng phục là áo choàng trắng và mũ nhọn kín mặt.

[40] Moses: Theo kinh thánh, một pharaon đã ra lệnh tàn sát các bé trai người Do Thái ở Ai Cập. Chúa ra lệnh cho Moses đưa dân tộc đi trốn và lang thang trong sa mạc 40 năm để tìm miền Đất Hứa.

[41] Đơn vị đo lường của Anh, một thước xấp xỉ 0,914m.

[42] Nuku’alofa: Thủ đô Tonga.

[43] Kopekh: Đơn vị tiền tệ của Nga và một vài nước khác, bằng 1/100 rup.

[44] Armageddon: Trận chiến cuối cùng giữa thiện và ác (Theo sách Khải huyền trong Tân Ước).

[45] Elijad: Nhà tiên tri người Hebrew giữa thế kỉ IX TCN trong Kinh Cựu Ước. Người Do Thái tin rằng Ngài sẽ quay lại trái đất để báo tin sự trở về của Chúa.

[46] Saladin: Vua Ai Cập từ 1175, người khiến cho cuộc Thập tự chinh thứ III thất bại.

[47] Errol Flynn: Diễn viên điện ảnh Mỹ rất đẹp trai, quyến rũ, đóng vai Don Juan và người hùng cứu mỹ nhân.

[48] U Thant (1909-1974): Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc từ 1962 đến 1971, người quyết định đưa lực lượng Bảo vệ Hòa bình của LHQ ra khỏi biên giới Israel và Ai Cập năm 1967.

[49] G. A. Naser: Thủ tướng Ai Cập, sau trở thành Tổng thống, nhà lãnh đạo Phong trào không liên kết, người đã quốc hữu hóa kênh Suez dẫn đến việc Anh, Pháp xâm chiếm Ai Cập.

[50] Shul: (tiếng Do Thái) Giáo đường.

[51] Moshe Dayan (1915 - 1981): Bộ trưởng Quốc phòng Israel có công lớn trong cuộc chiến giữa Israel và các nước láng giềng Ả rập năm 1967.

[52] Alfred Dreyfus (1859 - 1935): Sĩ quan Pháp gốc Do Thái, bị kết tội phản quốc, làm lộ bí mật quân sự cho Đức, nhưng sau này được giải oan khi người ta chứng minh được ông là nạn nhân của một âm mưu bài Do Thái. Vụ án đã gây ra một mối chia rẽ lớn và lâu dài trong dư luận nước Pháp.

[53] Birobizhan: Nước cộng hòa tự trị thuộc hạt Khabarovsk, đông Siberia, đồng thời là tên thủ phủ Khu Tự trị Do Thái (1928 - 1951).

[54] Sappho (612 - 580 trước CN): Nữ nhà thơ Hy Lạp nổi tiếng. Có thể gọi bà là nhà thơ nữ đầu tiên của thế giới, người làm thơ ca ngợi tình yêu giữa phụ nữ và phụ nữ.

[55] Richard J. Daley (1902 - 1976): Thị trưởng Chicago từ 1955 cho đến lúc mất, kẻ đã thẳng tay đàn áp những người chống chiến tranh. Frodo Baggins là nhân vật trong “Chúa tể những chiếc nhẫn”, tượng trưng cho những người trẻ tuổi có lý tưởng, làm những việc có ý nghĩa.

[56] Democratic Convention at Chicago: Hội nghị chính trị của đảng Dân chủ diễn ra năm 1968, trong tình hình thành phố rất rối loạn, khi người Mỹ đã thấy chán ghét cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

[57] The House of Atreus (Oresteia): Bộ ba bản bi kịch của nhà viết kịch Hy Lạp Aeschylus (525 - 456 TCN). Atreus là hậu duệ của Zeus, cha của Agamemnon và Menelaus...

[58] Be Clean for Gene: Khẩu hiệu của lớp thanh niên chống chiến tranh để tóc và râu dài (hippie) đã tình nguyện cạo râu cắt tóc ngắn để ủng hộ Eugene McCarthy.

[59] Dante Alighieri (1265 - 1321): Nhà thơ Ý, tác giả trường ca “Divina Commedia” (Thần khúc) gồm 100 khúc ca kể lại cuộc du hành tưởng tượng qua ba vương quốc của người chết.

[60] Đêm ngày 18/7/1969, Thượng nghị sĩ Teddy Kennedy lái xe trong tình trạng say rượu nên đã đâm vào thành cầu ở Massachusetts, gây ra cái chết của người phụ nữ ngồi trong xe khiến ông bị kết tội rời bỏ hiện trường vụ tai nạn.

[61] In situ: Tại chỗ (tiếng Latinh).

[62] El Cid (Rodrigue Diaz de Vivar): (1044-1099) Hiệp sĩ được coi là người anh hùng của Tây Ban Nha, sau bị đi đày.

[63] Les Pêcheurs de perles: Những người thợ mò ngọc trai (tiếng Pháp).

[64] Tiếng kêu từ đáy lòng (tiếng Pháp).

[65] Niềm vui sống (tiếng Pháp).

[66] Lâu đài (tiếng Pháp).

[67] Ông biết ư? (tiếng Pháp).

[68] Phim hay nhất thế giới, theo ý tôi... Cảnh tuyệt hay trong đêm tối giữa ba người tình (tiếng Pháp).

[69] Tôi đã thấy. Tôi đã mua. Tôi đã nghĩ.

[70] Lysergic acid diethylamie, một loại ma túy rất mạnh, gây ảo giác.

[71] Những tên cướp nhà băng nổi tiếng ở Mỹ đầu thế kỷ 20.

[72] I Get All Hung Up: Tôi hoãn (gác) tất cả lại.

[73] Guardia Clvil: Cảnh sát Tây Ban Nha. (tiếng BĐN)

[74] Người thổi sáo thành Hamelin: Một nhạc sĩ thổi kèn túi dụ lũ chuột ra sông để giúp người dân thành phố Hamelin (ở tây-bắc nước Đức) trừ diệt nạn chuột hoành hành nhưng vì không được trả công nên anh ta đã dụ trẻ con lên núi cho chúng biến mất (truyền thuyết).

[75] Món ăn cao cấp (tiếng Pháp).

[76] Haymaker: Người (hay máy) cắt và phơi cỏ, cú đấm choáng váng.

[77] Aleksandr F. Kerensky: (1881-1970) Lãnh tụ cách mạng Nga, thủ tướng Nga từ tháng 7 đến tháng 11 năm 1917, bị Cách mạng tháng Mười lật đổ, sống ở Mỹ từ 1940.

[78] G.A. Potemkin (1739-1991): Đại nguyên soái người Nga được Catherine II sủng ái, đã cho dựng lên một ngôi làng giả để lập công với Nữ hoàng.

[79] Tiếng Đức, chỉ các thiếu nữ.

[80] Nhân vật trong phim hoạt hình của Walt Disney, bị mọi người chê cười vì tưởng một quả dâu rụng là một mảng trời rơi xuống đất và cho rằng trời đang chuẩn bị đổ sụp xuống. Đến khi có một mảng trời rơi xuống thật thì chẳng còn ai tin chú nữa.

[81] Không khí, môi trường (tiếng Tây Ban Nha).

[82] DEW: Distant Early Warning, hệ thống ra đa của Mỹ.

[83] Policier: (tiếng Pháp) Phim hay tiểu thuyết trinh thám.

[84] English 101: Khóa học nâng cao trình độ viết văn, khả năng nghiên cứu và cung cấp tư liệu, tư duy và đọc.

[85] Ulysses Simpson Grant (1822-1885): Tổng thống thứ 18 của Hoa Kỳ (1869-1877)

[86] Lewis Blaine Hershey (1893-1977): Giám đốc hội đồng tuyển quân từ 1941 đến 1971, đã cưỡng bách tòng quân hơn 14.500.000 người tham gia chiến tranh Thế Giới II, chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam.

[87] Thường thôi( Tiếng Tây Ban Nha).

[88] Đúng không? (Tiếng Tây Ban Nha).

[89] Nhà cải cách người Ý (1452 - 1498), thầy dòng Dominic, nhà truyền giáo, người kiên quyết chống tham nhũng trong chính trị và tôn giáo.

[90] Hiệp hội quốc gia vì sự tiến bộ của người da màu.

[91] Từ gốc: Mustang. Vừa là ngựa thảo nguyên, vừa là tên một loại xe thể thao của hãng Ford.

[92] Herman W. Goering: Thống chế quân đội Đức, lãnh tụ Đức quốc xã, người thành lập Gestapo và trại tập trung.

[93] 14/7 là ngày nhân dân Pháp đánh chiếm ngục Bastille, đồng thời là ngày quốc khánh Pháp.

[94] Tiếng hô xung trận do trung tá đội đột kích thủy quân lục chiến E. F. Carlson sáng tạo trong Thế chiến II, dùng để động viên tinh thần hăng hái, sát cánh cùng nhau trong chiến đấu.

[95] Xem bò mộng (tiếng Pháp).

[96] Ông ơi, còn con khác (tiếng Tây Ban Nha).

[97] Không được thêm (tiếng Tây Ban Nha).

[98] Hòm thư lưu (tiếng Pháp).

[99] Vợ anh đến (tiếng Tây Ban Nha).

[100] Boer: Người Hà Lan định cư ở Nam Phi từ thế kỷ 17, hiện nay họ được gọi là người Afrikaner và chiếm 60% số người da trắng ở Nam Phi.

[101] BOSS: Bureau Of State Security: Văn phòng An Ninh Quốc Gia.

[102] Một đảo san hô nhỏ tại cửa vịnh Mossuril bên bờ biển Nacala ở phía Nam Moçambique.

[103] Đơn vị đo chất lỏng, bằng 4,54 lít ở Anh; 3,78 lít ở Mỹ.

[104] Lusitania là một tỉnh của đế chế La Mã xưa, gồm phần lớn diện tích Bồ Đào Nha và một phần diện tích Tây Ban Nha ngày nay.

[105] Thành phố Ả rập, nơi sinh ra Muhammed. Hajj là cuộc hành hương của tín đồ Hồi giáo tới thánh địa Mecca.

[106] Hốc tường trong nhà thờ Hồi giáo, đánh dấu hướng của thánh địa Mecca, cũng có nghĩa là hướng mà các tín đồ đạo Hồi nên quay mặt về trong khi cầu nguyện.

[107] Người da đen (tiếng lóng không thiện ý).

[108] Nguyên văn: Middle Passage: thuật ngữ dùng để gọi hành trình bắt buộc của những người nô lệ từ châu Phi đến châu Mỹ, được gọi như vậy do nó nằm ở phần giữa lộ trình thương mại tam giác xuyên đại dương trong suốt các thế kỷ từ 15 đến 19, trong đó tàu buôn từ châu Âu sang châu Phi nhận nô lệ da đen để chở sang châu Mỹ bán rồi sau đó chở rượu và mía quay về châu Âu.

[109] Jan van Eyck (1380-1441): Họa sĩ người Hà Lan.

[110] Maurice Maeterlinck (1862-1949): Nhà thơ, nhà soạn kịch người Bỉ.

[111] Người khám phá Moçambique vào năm 1496.

[112] Theo Cựu Ước, nữ hoàng xứ Sheba (phía Nam Yemen) đã đến triều kiến vua Solomon của Israel và cùng ông dệt nên một chuyện tình đẹp. Moçambique được cho là nơi bà thường đến chơi.

[113] Một cái ôm thật chặt.

[114] Little Casino và Big Casino, từ lóng chỉ hai cách trốn quân dịch trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam: giả vờ bị đồng tính hoặc nghiện ma túy nặng.

[115] Paul Josef Goebbels: (1897-1945) Bộ trưởng bộ Tuyên truyền Đức quốc xã, uống thuốc độc tự sát khi quân Đồng minh đánh chiếm Berlin.

[116] Đảo Moçambique.

[117] Ám chỉ chiến dịch đẫm máu của Ấn Độ năm 1961 nhằm đòi lại Goa từ tay Bồ Đào Nha.

[118] John Keats (1795-1821) và Percy B. Shelley (1792-1822), hai nhà thơ lãng mạn Anh.

[119] Girolamo Savonarola (1452-1498): Linh mục Ý, nhà cải cách tôn giáo và chính trị, bị thiêu sống vì tội dị giáo.

[120] Hầu tước de Sade (1740-1814): Nhà văn và nhà soạn kịch người Pháp bị tù vì tội xâm hại tình dục và phải vào nhà thương điên.

[121] Trang phục truyền thống của người dân Polynesia, gồm một mảnh vải hình chữ nhật được quấn thành váy, dùng cho cả nam lẫn nữ.

[122] Thomas Aquinas: (1226-1274) Triết gia và nhà thần học thành phố Naples. Tác phẩm của ông được coi là nền tảng của đạo Thiên Chúa.

[123] Herbert Marcuse: (1898-1979) Triết gia Mỹ. Lý thuyết của ông kết hợp chủ nghĩa Mác và học thuyết Freud.

[124] Overdose: Liều quá cao.

[125] Anbert Schweitzerd (1875 -1965): Bác sỹ người Pháp, nhà truyền giáo, giải Nobel hòa bình 1952.

[126] Big PX (Big Post Exchange): Tiếng lóng của cựu chiến binh Mỹ từng chiến đấu ở Việt Nam dùng để gọi đất nước mình.

[127] Visigoth: Một bộ tộc Đức từng xâm chiếm Tây Ban Nha vào thế kỷ V. Sau khi cải theo Thiên Chúa giáo La Mã, Visigoth đã trở thành một triều đại lớn ở bán đảo Iberia.

[128] The little old lady from Dubuque: Harold Ross (1892-1951), người sáng lập tờ The New Yorker, từng có một lời trích dẫn nổi tiếng “Tờ New Yorker không phải là tạp chí dành cho bà già nhỏ bé ở Dubuque” ý nói bà Mary Regina Hayford, đại sứ thiện chí, người thuộc thành phố Dubuque, bang Iowa, đã mất nhiều năm xua tan thành kiến coi người Iowa là dân tỉnh lẻ và lạc hậu. Ở đây, Big Loomis muốn nói đến New York.

[129] Thánh Thomas Aquinas: (1226-1274) được coi là một trong những nhà thần học và triết gia vĩ đại nhất mọi thời đại, còn được gọi là “Tiến sĩ Thiên thần”.

[130] Thánh Paul (3-68 CN): Còn được gọi là Saul, Paulus hay “Sứ đồ của dân ngoại” và được xem là một trong những cột trụ của Hội thánh tiên khởi, một nhân tố quan trọng đóng góp cho sự phát triển Cơ đốc giáo thời kỳ sơ khai.

[131] Marshall McLuhan (1911-1980): Nhà văn, nhà sư phạm Canada, người tiên đoán sự chuyển đổi từ thời đại của sách in sang thời đại truyền hình từ những năm 1960, nổi tiếng vì cách dùng từ “Làng toàn cầu” và “Truyền thông chính là sự xoa bóp”.

[132] George Wallace (1919-1998): Chính trị gia Mỹ, Thống đốc bang Alabama bốn nhiệm kỳ, được coi là thủ lĩnh phe phân biệt chủng tộc trong đảng Dân chủ.

[133] Hội John Birch: Tổ chức chính trị cánh tả thành lập năm 1958 tại Indiana, được đặt theo tên của John Birch (1918-1945), nhà truyền giáo Tin lành tin vào lễ rửa tội, nhân viên tình báo quân sự, bị giết năm 1945.

[134] Cassius Clay (sinh 1942): Tên khai sinh của huyền thoại đấm bốc Muhammad Ali. Ông đã cải theo đạo Hồi năm 1964.

[135] Thomas Mann (1875-1955): Nhà văn, nhà phê bình văn học người Mỹ gốc Đức. Nhưng ở đây có sự nhầm lẫn vì Pribislav Hippe là một nam sinh mà nhân vật Hans Castorp gắn bó hồi còn đi học trong cuốn “The Magic Mountain” (1924) chứ không phải trong “Death in Venice” (1912).

[136] Aristophanes (448-380 TCN): Nhà viết kịch Hy Lạp, sáng tác nhiều vở kịch nhạo báng những người lãnh đạo chiến tranh.

[137] Ẩm thực truyền thống của Thụy Điển và vùng Scandinavia, là buffet nhưng mỗi món phải ăn bằng một dĩa riêng biệt.

[138] Bác Tom: Nhân vật chính, một nô lệ da đen trong truyện “Túp lều bác Tom” của nhà văn Mỹ Harriet Beecher Stowe, tượng trưng cho người nô lệ xu nịnh người da trắng.

[139] Món ăn vùng Bắc Phi, gồm bột mì nấu với thịt hoặc nước thịt.


HẾT.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 114 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Hiện đại] Hôn nhân giá ngàn vàng - Cẩm Tố Lưu Niên (101/104]

1 ... 174, 175, 176

2 • [Xuyên không] Phù Dao hoàng hậu - Thiên Hạ Quy Nguyên (Trọn Bộ 6 tập)

1 ... 115, 116, 117

3 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 244, 245, 246

[Cổ đại - Trùng sinh] Trọng sinh cao môn đích nữ - Tần Giản

1 ... 137, 138, 139

5 • [Cổ đại - Trùng sinh] Dược hương trùng sinh - Hi Hành

1 ... 90, 91, 92

6 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 116, 117, 118

7 • [Xuyên không - Cung đấu] Thế nào là hiền thê - Nguyệt Hạ Điệp Ảnh

1 ... 42, 43, 44

8 • [Hiện đại] Cưng chiều em nhất - Tĩnh Phi Tuyết

1 ... 29, 30, 31

9 • [Cổ đại] Ác phu cường sủng thê - Văn Hội

1 ... 57, 58, 59

10 • [Hiện đại] Hạnh phúc nhỏ của anh Đông Bôn Tây Cố (Trọn bộ 2 tập)

1 ... 22, 23, 24

11 • [Xuyên không] Thú phi thiên hạ Thần y đại tiểu thư - Ngư Tiểu Đồng

1 ... 81, 82, 83

12 • [Hiện đại] Nhìn người không thể nhìn bề ngoài - Nguyệt Hạ Điệp Ảnh

1 ... 36, 37, 38

13 • [Hiện đại] Mưu đồ làm loạn - Thanh Thụ A Phúc

1 ... 23, 24, 25

14 • [Xuyên không] Sủng thần của đế vương - Hoa Vũ Băng Lan

1 ... 46, 47, 48

15 • [Hiện đại] Theo đuổi nam thần - Thiên Phàm Quá Tẫn

1 ... 19, 20, 21

16 • [Cổ đại] Mỹ nhân như họa - Túc Mễ Xác

1 ... 33, 34, 35

17 • [Hiện đại] Một tòa thành đang chờ anh - Cửu Nguyệt Hi

1 ... 22, 23, 24

18 • [Hiện đại - Trùng sinh] Nữ phụ báo thù - Phong Tuyết Phiêu Nhứ

1 ... 27, 28, 29

19 • [Hiện đại] Cưới lâu sẽ hợp - Minh Khai Dạ Hợp

1 ... 17, 18, 19

20 • [Hiện đại] Tử Thời - Sói Xám Mọc Cánh

1 ... 35, 36, 37


Thành viên nổi bật 
The Wolf
The Wolf
Phèn Chua
Phèn Chua
Nminhngoc1012
Nminhngoc1012

TranGemy: Hôm nay Hà Nội mưa quá, viết vài dòng Nhật ký rồi đi ngủ thôi
Nguyệt Hoa Dạ Tuyết: khi nào thi miss "mít" thì tau thi :)2
Hạ Quân Hạc: Còn 1 tiếng nữa hết hạn thi miss :blahblah: mọi người nhanh tay đăng ký nào :speaker:
LogOut Bomb: Gián -> mèo suni
Lý do: Sao nỡ bom chị :cry3: thất tềnh bom lại :D2
tuyền xù: dạo này khỏe k em?
tuyền xù: hello sunii <3
mèo suni: :) em có tội
tình chi
Gián: Chắc đá em quá :slap:
Shop - Đấu giá: tuyền xù vừa đặt giá 433 điểm để mua Đôi chim non
LogOut Bomb: mèo suni -> 007
Lý do: ಥ ̯ ಥ từ biệt chị
007: T xúi tụi nóa bôm :D3
LogOut Bomb: mèo suni -> Đường Thất Công Tử
Lý do: Bái bai
Đường Thất Công Tử: an nghỉ nơi thiên đường, chưa kịp thả bomb :v
LogOut Bomb: mèo suni -> Họa Thiên
Lý do: Vâỵ em hãy an nghỉ nhé :))))
Shop - Đấu giá: canutcanit vừa đặt giá 412 điểm để mua Đôi chim non
Nam Cung Vân Điệp: Hờn~~
Đào Sindy: đại hội bomb chăng
LogOut Bomb: ღsoixam࿐ -> ღsoixam࿐
Lý do: tự sát ಥ ̯ ಥ ಥ ̯ ಥ ಥ ̯ ಥ
LogOut Bomb: Đường Thất Công Tử -> Đường Thất Công Tử
Lý do: tự sát ಥ ̯ ಥ
Shop - Đấu giá: Vidia vừa đặt giá 264 điểm để mua Gà quay
LogOut Bomb: Đường Thất Công Tử -> mèo suni
Lý do: :v
LogOut Bomb: ღsoixam࿐ -> Nam Cung Vân Điệp
Lý do: gia xin lỗi ⊙﹏⊙⊙﹏⊙
AK47: Ko lẽ chị bậy quánh bôm tự sát :cry2: k có đứa nèo bôm
LogOut Bomb: ღsoixam࿐ -> Họa Thiên
Lý do: Free ship
LogOut Bomb: 007 -> Đường Thất Công Tử
Lý do: Mở màn :D3 ahihi chị mi dô tội
LogOut Bomb: Đường Thất Công Tử -> mèo suni
Lý do: ಥ ̯ ಥ ಥ ̯ ಥ ಥ ̯ ಥ
Shop - Đấu giá: lesliecomnamnho vừa đặt giá 250 điểm để mua Gà quay
Shop - Đấu giá: The Wolf vừa đặt giá 499 điểm để mua Hà mã lười
Shop - Đấu giá: The Wolf vừa đặt giá 421 điểm để mua Đồng hồ đeo tay
Shop - Đấu giá: Đường Thất Công Tử vừa đặt giá 389 điểm để mua Thỏ nháy nhót

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.