Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 25 bài ] 

Dành hết cho em - Nicholas Sparks

 
Có bài mới 24.01.2018, 17:43
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 34206
Được thanks: 5226 lần
Điểm: 9.58
Tài sản riêng:
Có bài mới [Lãng mạn] Dành hết cho em - Nicholas Sparks - Điểm: 10
DÀNH HẾT CHO EM

images

Tác giả: Nicholas Sparks
Người dịch: Linh Vũ - Thu Phương
Công ty phát hành: Nhã Nam
Nhà xuất bản: NXB Văn Học
Khối lượng:  418.00 gam
Định dạng: bìa mềm
Kích thước:  14 x 20.5 cm
Số trang:  376 trang
Ngày phát hành:   27/03/2015
Nguồn: VCTVEGROUP
Ebook: Gassie, inno14, V/C​


Giới Thiệu

Mùa xuân năm 1984, ở tuổi học sinh trung học, Amanda và Dawson chìm đắm trong một tình yêu cuồng nhiệt. Họ đến từ hai thế giới khác nhau, và mối tình cháy bỏng đầu đời của họ dường như trái ngược với hiện thực cuộc sống bình yên nơi thị trấn nhỏ miền Bắc California. Khi mùa hè năm cuối cấp đến gần, nhiều sự kiện bất ngờ xảy ra, họ đã bước tiếp theo những con đường hoàn toàn khác biệt.

25 năm sau, Amanda và Dawson tình cờ tái ngộ, đều không có được cuộc sống lý tưởng mà họ từng mong ước, và đều không thể quên mối tình đầu tha thiết từng làm thay đổi đời mình. Những tín điều về bản thân, những giấc mơ mình từng trân trọng đều không như vẻ bề ngoài, đồng thời họ phát hiện sự thật tàn nhẫn vê những lựa chọn đã từng đưa ra...

Thời gian lấy đi cả hai con người đó nhiều thứ, nhưng có khi nào trả lại cho họ hạnh phúc?

Tác giả

Nicholas Sparks (sinh ngày 31/12/1965 tại Omaha, Nebraska, Mỹ) là nhà văn, nhà viết kịch bản và nhà sản xuất phim người Mỹ. Ông đã phát hành 17 tiểu thuyết  và 1 sách khác. Ông đã có 8 tiểu thuyết lãng mạn được dựng thành phim. Có người từng ví vị trí của Nicholas Sparks tại Mỹ cũng giống như vị trí của Marc Levy tại Pháp, con gà đẻ trứng vàng của giới xuất bản.

Nicholas Sparks hiện sống tại New Bern, North Carolina, Mỹ, cùng gia đình. Ông viết văn, kịch bản phim và tích cực tham gia công tác thiện nguyện.

Các tác phẩm đã xuất bản: Lựa chọn của trái tim, Đoạn đường để nhớ, Dear John, Kẻ may mắn, Bản tình ca cuối cùng, Nhật ký, Lá thư trong chai, Những đêm ở Rodanthe, Thiên đường bình yên...



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 25.01.2018, 09:42
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 34206
Được thanks: 5226 lần
Điểm: 9.58
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Lãng mạn] Dành hết cho em - Nicholas Sparks - Điểm: 10
Chương 1


Đối với Dawson Cole, những ảo giác bắt đầu xuất hiện sau vụ nổ trên giàn khoan, vào cái ngày anh suýt chết.

Trong suốt mười bốn năm làm việc trên các giàn khoan dầu, anh tưởng mình đã chứng kiến đủ mọi chuyện. Năm 1997, anh đã thấy một chiếc trực thăng mất điều khiển ngay khi đang chuẩn bị hạ cánh. Nó đâm sầm vào bệ đáp, nổ tung thành những quả cầu lửa rừng rực, và anh đã phải nhận những vết bỏng độ hai trên lưng khi cố gắng cứu người. Mười ba người thiệt mạng, đa phần trong số đó đang ở trong trực thăng lúc xảy ra va chạm. Bốn năm sau, khi một cái cần trục trên giàn khoan bị sập, một mảnh kim loại vỡ to cỡ quả bóng rổ văng ra suýt nữa thì cắt bay đầu anh. Năm 2004, anh là một trong số ít công nhân còn ở lại trên giàn khoan khi cơn bão Ivan ập đến với sức gió hơn trăm dặm một giờ, những cơn sóng lớn đến mức khiến anh tự hỏi liệu có nên đi tìm một chiếc dù phòng khi giàn khoan bị sập hay không. Nhưng trên đó còn có những mối nguy hiểm khác. Công nhân trượt tay, trượt chân, máy móc hỏng hóc, còn chảy máu, bầm giập thì là chuyện xảy ra như cơm bữa ở đây. Dawson không thể đếm xuể số lần người ta bị gãy xương, chưa kể đến hai vụ ngộ độc thực phẩm khiến toàn bộ công nhân bị ốm, và hai năm trước, năm 2007, anh chứng kiến một tàu tiếp tế chìm dần khi nó vừa mới tách khỏi giàn khoan, may mà được tàu tuần tra bờ biển gần đó cứu hộ vào phút cuối.

Nhưng vụ nổ lại là một chuyện khác. Bởi vì không hề có rò rỉ dầu - trong trường hợp này, các thiết bị an toàn và các thiết bị dự phòng đã ngăn chặn được phần lớn lượng dầu tràn - câu chuyện được đưa lên bản tin quốc gia nhưng chỉ sau vài ngày đã bị phần lớn mọi người quên bẵng đi. Nhưng với những người có mặt ở đó, bao gồm anh, vụ nổ ấy là một cơn ác mộng. Cho tới thời điểm vụ nổ xảy ra, buổi sáng hôm đó mọi việc vẫn diễn ra như thường lệ. Anh đang giám sát trạm bơm thì một trong những kho chứa dầu đột nhiên nổ tung. Anh còn chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra thì sức ép từ vụ nổ đã hất văng anh vào nhà kho bên cạnh. Sau đó, lửa bốc lên khắp nơi. Toàn bộ giàn khoan bị phủ trong dầu, nhanh chóng biến thành một địa ngục rực lửa nhấn chìm toàn bộ tòa kết cấu. Hai vụ nổ lớn tiếp theo làm khu giàn khoan rung chuyển càng dữ dội hơn nữa. Dawson nhớ rằng mình đã kéo được vài người ra xa khỏi đám cháy nhưng rồi vụ nổ thứ tư, lớn hơn cả ba vụ trước, hất tung anh lên không trung thêm lần nữa. Anh nhớ mang máng mình bị rơi xuống mặt nước, cái chết cầm chắc trong tay.

Nhưng rồi sau đó, anh đã thấy mình đang trôi dạt trên vịnh Mexico, cách vịnh Vermilion, Louisiana khoảng chín mươi dặm về phía Nam.

Giống đa số nhưng người khác, anh không có thời gian mặc áo phao hay vớ lấy một thiết bị cứu hộ nào, nhưng giữa những cơn sóng cồn, anh nhìn thấy một người đàn ông tóc đen đang vẫy tay từ phía đằng xa, tựa như đang ra hiệu cho anh hãy bơi về phía anh ta. Dawson lao về hướng đó, đánh vật với những cơn sóng biển, kiệt sức và choáng váng. Quần áo và ủng của anh kéo anh chìm xuống, đến khi chân tay bắt đầu mệt rã rời, anh biết mình sẽ chết. Anh tưởng đã đến gần đích lắm rồi, dù những đợt sóng biển khiến việc ước lượng khoảng cách trở nên vô cùng khó khăn. Ngay thời khắc ấy, anh phát hiện ra một chiếc phao cứu hộ đang trôi giữa những mảnh vỡ gần đó. Dùng hết sức lực còn lại, anh bám vào nó. Sau này anh mói biết được rằng mình đã ở dưới nước gần bốn tiếng đồng hồ và bị trôi dạt đi gần một dặm khỏi khu giàn khoan trước khi được một chiếc tàu tiếp tế cứu trợ hiện trường vớt lên. Anh được kéo lên tàu, được khênh xuống dưới boong và gặp lại những người sống sót khác. Anh run lẩy bẩy vì thân nhiệt giảm mạnh và choáng váng. Dù thị lực của anh giảm sút - sau này anh được chẩn đoán là bị chấn động não nhẹ - anh vẫn biết rõ mình đã may mắn đến thế nào. Anh thấy người thì bị những vết bỏng nghiêm trọng trên cánh tay và vai, người thì bị chảy máu tai hay có người đang phải cố định những chỗ bị gãy xương. Anh biết tên phần lớn bọn họ. Trên giàn khoan chỉ có một số nơi để cho mọi người lui tới - về bản chất thì giàn khoan giống như một ngôi làng nhỏ giữa đại dương - và sớm hay muộn thì mọi người cũng biết nhau ở phòng ăn, phòng giải trí hay phòng tập thể thao. Tuy nhiên có một người trông không quen lắm, dường như đang nhìn anh chằm chằm từ phía bên kia căn phòng đông đúc. Tóc đen và khoảng bốn mươi tuổi, anh ta mặc một chiếc áo gió màu xanh, có lẽ ai đó trên tàu đã cho mượn. Dawson nghĩ anh ta trông rất khác lạ, giống một nhân viên văn phòng hơn là công nhân giàn khoan. Người đàn ông vẫy tay, khiến anh đột nhiên nhớ lại hình ảnh anh đã thấy trước đó khi vẫn ở dưới nước - chính và người đàn ông đó - và ngay lập tức, Dawson cảm thấy tóc gáy anh dựng đứng. Anh còn chưa kịp tìm ra lý do khiến mình bứt rứt thì một cái chăn đã được khoác lên vai anh và anh bị dẫn về phía góc phòng, ở đó có một nhân viên y tế đang chờ để khám cho anh.

Đến lúc anh trở lại chỗ cũ thì người đàn ông tóc đen kia đã biến mất.

Trong những giờ tiếp theo, có thêm nhiều người sống sót được đưa lên thuyền, nhưng khi cơ thể dần ấm lại, Dawson bắt đầu băn khoăn về số phận của những người còn lại trong nhóm. Không hề thấy bóng dáng những người anh đã làm việc cùng trong nhiều năm. Sau này anh mới biết được rằng hai mươi tư người đã thiệt mạng. Phần lớn - nhưng không phải là tất cả - các thi thể cuối cùng cũng được tìm thấy. Khi dần bình phục trong bệnh viện, Dawson không thể ngừng nghĩ rằng có những gia đình còn không kịp nói lời vĩnh biệt người thân của họ.

Anh bị mất ngủ kể từ sau vụ nổ, không phải vì gặp ác mộng mà là vì không thể tống khứ được cái cảm giác mình đang bị theo dõi. Dù nghe qua có vẻ nực cười, nhưng anh cảm thấy như bị... ma ám. Cả ngày lẫn đêm, từ khóe mắt thỉnh thoảng anh bắt gặp có bóng dáng lướt qua, nhưng mỗi khi anh quay lại nhìn thì đều không có ai hay thứ gì ở đó để lý giải cho thoáng cử động kia. Anh tự hỏi không biết có phải mình mất trí rồi không. Bác sĩ cho rằng đây là phản ứng sau chấn thương, và rằng bộ não của anh có lẽ vẫn đang hồi phục từ cơn chấn động. Nghe có vẻ hợp lý, nhưng Dawson vẫn cảm thấy cách lý giải đó không đúng. Dẫu sao anh vẫn gật đầu đồng ý. Bác sĩ đã kê đơn thuốc ngủ cho anh, nhưng anh chẳng buồn mua thuốc để uống.

Anh được nghỉ phép sáu tháng ăn lương trong khi các thủ tục pháp lý diễn ra. Ba tuần sau đó, công ty đề nghị trả cho anh một khoản bồi thường và anh đồng ý ký các giấy tờ. Cho tới thời điểm đó, gần chục luật sư đã liên lạc với anh, tất cả bọn họ đều tranh đua để được là người đầu tiên đưa đơn kiện đại diện cho tập thể công nhân, nhưng anh không muốn rắc rối. Anh chấp nhận đề nghị bồi thường và gửi tiền vào ngân hàng ngay hôm nhận được séc. Số tiền anh có trong tài khoản đủ để một số người cho rằng anh là người giàu có, anh tới ngân hàng chuyển phần lớn số tiền vào một tài khoản ở quần đảo Cayman. Từ đó, tiền được chuyển tới tài khoản một công ty tại Panama đã được mở với yêu cầu tối thiểu về giấy tờ, rồi được chuyển tới điểm đến cuối cùng. Tiền, như mọi khi, gần như không để lại dấu vết nào để có thể lần theo.

Anh chỉ giữ lại một khoản đủ để trả tiền thuê nhà và một số chi phí khác.

Anh không cần nhiều, cũng không muốn nhiều. Anh sống trong một căn nhà lưu động nhỏ ở cuối con đường đất ở ngoại ô New Orleans, và những người nhìn thấy căn nhà có lẽ sẽ cho rằng ưu điểm chính của nó là không bị ngập lụt trong cơn bão Katrina năm 2005. Với lớp ván ốp tường bằng nhựa đã bị nứt và phai màu, căn nhà lưu động nằm kê trên những khối gạch xi măng, lớp móng tạm thời bằng cách nào đó đã trở thành vĩnh viễn theo thời gian. Căn nhà có một phòng ngủ kèm nhà tắm, một phòng khách chật hẹp và nhà bếp chỉ đủ chỗ để kê một chiếc tủ lạnh mini. Khả năng cách nhiệt gần như không có, và theo năm tháng độ ẩm đã làm nền nhà bị cong vênh, khiến anh luôn có cảm giác dường như đang đi trên một mặt nghiêng. Lớp lót sàn trong bếp bị nứt ở các góc nhà, cái thảm nhỏ thì cũ sờn, và anh đã bày trong không gian chật hẹp đó những đồ mua được từ các cửa hàng tiết kiệm trong những năm qua. Không hề có một bức ảnh nào tô điểm cho bức tường. Dù anh đã sống ở đó được gần mười lăm năm, nó giống một nơi để anh ăn, ngủ và tắm rửa hơn là nơi để anh gọi là tổ ấm.

Bất chấp tuổi đời, căn nhà gần như lúc nào cũng sạch sẽ giống như những ngôi nhà ở quận Garden. Dawson vốn là người rất gọn gàng ngăn nắp. Mỗi năm hai lần, anh sửa chữa các vết nứt và trám lại những khe hở để chống động vật gặm nhấm và côn trùng, và mỗi khi chuẩn bị trở lại giàn khoan, anh đều cọ rửa sàn bếp và sàn phòng tắm bằng chất khử trùng và dọn sạch những thức ăn có thể bị hỏng hay mốc khỏi tủ bếp. Anh thường làm việc liền ba mươi ngày rồi nghỉ ba mươi ngày, nên bất cứ thức ăn gì không thuộc dạng đồ hộp đều sẽ bị hỏng trong vòng chưa đến một tuần, đặc biệt là vào mùa hè. Khi trở về, anh lại lau dọn khắp nơi thêm một lần nữa và mở cửa thông khí để loại bỏ mùi ẩm mốc.

Dẫu vậy, căn nhà vẫn rất yên tĩnh, và đó thật sự là tất cả những gì anh cần. Nó cách đường cái khoảng bốn trăm mét, và nhà hàng xóm gần nhất thậm chí còn cách xa hơn thế. Sau một tháng trên giàn khoan, đó chính xác là điều anh muốn. Một trong những điều mà anh không bao giờ có thể quen được khi ở trên giàn khoan, đó là tiếng ồn không dứt. Tiếng ồn nhân tạo xuất phát từ những cái cần cẩu liên tục vận chuyển đồ tiếp tế, những chiếc trực thăng, máy bơm, tiếng kim loại đập vào nhau, nhưng tạp âm đó không bao giờ ngừng lại. Giàn khoan bơm dầu suốt ngày đêm, điều đó có nghĩa là ngay cả khi Dawson cố gắng ngủ, thì tiếng ồn inh tai kia vẫn tiếp tục vang lên. Anh đã cố gắng bỏ ngoài tai tiếng ồn khi ở trên giàn khoan, nhưng mỗi khi trở về căn nhà lưu động, anh vẫn ngỡ ngàng trước sự yên tĩnh gần thư không thể bị phá vỡ khi mặt trời lên cao. Sáng ra, anh có thể nghe thấy tiếng chim hót vọng vào từ những tán cây, và đến tối, vài phút sau khi mặt trời lặn, anh sẽ được nghe tiếng những chú dế và ếch đôi khi hòa nhịp cùng nhau. Âm thanh đó thường khiến anh thư thái, nhưng thỉnh thoảng nó khiến anh nghĩ về quê nhà, và khi điều đó xảy ra, anh thường đi vào nhà, cố xua đi những ký ức ấy. Thay vào đó, anh cố gắng tập trung vào những việc đơn giản thường ngày vốn chiếm trọn cuộc sống của anh mỗi khi trở về đất liền.

Anh ăn, ngủ, chạy bộ, nâng tạ và lái xe đi đây đó. Anh thường lái xe đi lang thang rất xa, không có đích đến cụ thể. Thỉnh thoảng anh đi câu cá. Mỗi đêm anh đều đọc sách và thỉnh thoảng viết một lá thư cho Tuck Hostetler. Chỉ có vậy. Anh không có ti vi hay radio, và mặc dù anh có điện thoại di động, nhưng trong danh bạ chỉ có những số điện thoại công việc. Mỗi tháng một lần anh đi mua đồ ăn và nhu yếu phẩm rồi ghé qua hiệu sách, nhưng ngoài những dịp đó ra anh chưa bao giờ đi lại khám phá New Orleans. Trong suốt mười bốn năm, anh chưa bao giờ tới đường Bourbon hoặc tản bộ qua khu phố Pháp; anh chưa bao giờ nhấm nháp cà phê tại quán Café Du Monde hoặc ghé qua quán bar Laffite’s Blacksmith Shop. Thay vì đến phòng tập, anh tập thể dục sau căn nhà lưu động, dưới mái che bằng vải bạt cũ sờn mà anh căng lên giữa căn nhà và nhưng cái cây. Anh không đi xem phim hay tụ tập ở nhà bạn bè khi đội Saints chơi vào các buổi chiều Chủ nhật. Anh đã bốn mươi hai tuổi nhưng chưa từng hẹn hò kể từ khi còn là thanh niên.

Hầu hết mọi người sẽ không sống hoặc không thể sống theo cách đó, nhưng họ không biết anh. Họ không biết con người anh trước đây ra sao hoặc anh đã làm những gì, và anh muốn mọi chuyện cứ giữ nguyên như thế.

Rồi đột nhiên vào một buổi chiều ấm áp giữa tháng Sáu, anh nhận được một cú điện thoại, và những kỷ niệm trong quá khứ lại trỗi dậy. Dawson nghỉ phép đã được gần chín tuần. Lần đầu tiên trong gần hai mươi năm, cuối cùng anh cũng trở về quê nhà. Ý nghĩ đó làm anh bứt rứt, nhưng anh biết mình không có lựa chọn nào khác. Tuck đối với anh không chỉ là một người bạn, mà còn như một người cha. Và trong không gian yên ắng, khi hồi tưởng lại cái năm đánh dấu bước ngoặt cuộc đời mình, anh lại thấy cái gì đó thoáng chuyển động. Khi anh quay lại, không hề có gì ở đó, và anh lại tự hỏi không biết có phải mình điên rồi không.

• • •

Cuộc gọi đến từ Morgan Tanner, một luật sư ở Oriental, Bắc Carolina, ông ta thông báo với anh rằng Tuck Hostetler đã qua đời. “Có một số vấn đề tốt nhất là nên trực tiếp xử lý,” Tanner giải thích. Phản ứng đầu tiên của Dawson sau khi gác máy là đặt vé máy bay và phòng tại một nhà nghỉ địa phương, rồi gọi cho cửa hàng hoa để đặt lịch giao hoa.

Sáng hôm sau, sau khi khóa cửa trước dẫn tới căn nhà lưu động, Dawson đi vòng ra đằng sau về phía nhà kho nơi anh đỗ ô tô. Hôm đó là thứ Năm, ngày mười tám tháng Sáu năm 2009, anh mang theo bộ vest duy nhất anh có và một chiếc túi vải buộc dây đựng đồ đạc mà anh đã gói ghém lúc nửa đêm khi không thể ngủ được. Anh mở khóa và cuốn cửa lên, nhìn ánh mặt trời chiếu vào chiếc xe mà anh đã phục hồi và sửa chữa kể từ khi học trung học. Đó là một chiếc Fastback đời 1969, kiểu xe từng khiến người ta phải ngoái đầu nhìn và thời Nixon làm tổng thống và ngày nay người ta vẫn phải ngoái nhìn nó. Trông nó như thể mới vừa lăn bánh ra khỏi dây chuyền lắp ráp, và trong những năm qua, có vô số người lạ đã đề nghị mua nó, nhưng Dawson đều từ chối. “Nó không chỉ là một chiếc xe,” anh nói với họ như vậy mà không giải thích gì thêm. Tuck sẽ hiểu chính xác anh ngụ ý điều gì.

Dawson ném túi vải vào ghế lái phụ và đặt bộ vest lên trên, đoạn luồn người vào sau tay lái. Khi anh xoay chìa khóa, tiếng máy khởi động ầm ầm vang lên, và anh lái xe lên con đường rải sỏi rồi mới nhảy ra khỏi xe để khóa nhà kho. Cùng lúc, anh điểm qua một danh sách trong đầu, để đảm bảo mình đã chuẩn bị đầy đủ tất cả mọi thứ. Hai phút sau, anh đã ra đến đường cái, và nửa tiếng sau đó anh đã đỗ xe trong bãi gửi xe dài hạn tại sân bay New Orleans. Anh ghét phải để xe lại nhưng không còn lựa chọn nào khác. Anh nhặt đồ lên rồi bắt đầu đi ra sân ga, một chiếc vé đang chờ anh tại quầy vé của hãng hàng không.

Sân bay đông nghẹt. Đàn ông và phụ nữ đi lại tay trong tay, những gia đình đi thăm ông bà hay tới công viên Disney World, sinh viên đi đi về về giữa nhà và trường học. Các doanh nhân tay kéo đống hành lý phía sau, miệng nói liến thoắng vào điện thoại di động. Anh đứng vào dòng người di chuyển chậm chạp và chờ cho đến khi tới lượt mình tại quầy vé. Anh xuất trình giấy tờ nhận dạng và trả lời các câu hỏi an ninh cơ bản rồi mới được nhận vé. Chuyến bay chỉ tạm nghỉ một lần tại Charlotte trong khoảng hơn một tiếng. Cũng không tệ. Một khi đã hạ cánh ở New Bern và nhận chiếc xe đã thuê, anh sẽ lái xe trên đường thêm bốn mươi phút nữa. Nếu không có bất kỳ sự chậm trễ nào, anh sẽ có mặt tại Oriental vào chiều muộn.

Đến khi ngồi vào ghế trên máy bay, Dawson mới nhận ra mình mệt mỏi đến vậy. Anh không rõ đêm qua mình đã ngủ thiếp đi vào lúc nào - lần cuối anh xem đồng hồ, lúc đó đã gần bốn giờ - nhưng anh tính là mình sẽ ngủ bù trên máy bay. Ngoài ra, cũng không hẳn là anh có nhiều việc để làm khi tới thị trấn. Anh là con một, mẹ anh đã bỏ đi khi anh ba tuổi, và bố anh đã giúp thế giới bằng cách uống say đến chết.

Đã nhiều năm Dawson không nói chuyện với bất kỳ ai trong gia đình, và giờ anh cũng không có ý định nối lại quan hệ với họ.

Đây là một chuyến đi ngắn, chỉ cần đến rồi đi. Anh sẽ làm việc phải làm và không định ở lại lâu hơn mức cần thiết. Có thể anh đã lớn lên ở Oriental, nhưng anh chưa bao giờ thực sự thuộc về nơi đó. Thị trấn Oriental mà anh biết không hề giống cái hình ảnh quảng cáo tươi vui của phòng du lịch địa phương. Đối với hầu hết những du khách trải qua một buổi chiều ở đó, Oriental là một thị trấn nhỏ quanh co, nổi tiếng với những nghệ sĩ, nhà thơ và những người về hưu, những người không muốn gì hơn là dành những năm tháng xế chiều để bơi thuyền trên sông Neuse. Trung tâm thị trấn có đủ vẻ cổ kính, với những cửa hàng đồ cổ, phòng trưng bày nghệ thuật, các quán cà phê, và những lễ hội hằng tuần nhiều hơn mức có thể có ở một thị trấn với dân số chưa được một nghìn người. Nhưng thị trấn Oriental thực sự, như anh biết khi còn là một đứa trẻ và khi là thanh niên, là nơi sinh sống của các gia đình có tổ tiên đã cư ngụ tại đây kể từ thời thuộc địa. Những người như thẩm phán McCall và cảnh sát trưởng Harris, Eugenia Wilcox, nhà Collier và nhà Bennett. Họ từ bao đời nay đã luôn sở hữu đất đai, trồng trọt canh tác, bán gỗ và thành lập các doanh nghiệp; họ là những người nắm giữ quyền lực ngầm trong cái thị trấn vốn luôn thuộc về họ. Và họ giữ thị trấn theo cách mà họ muốn.

Có một điều Dawson đã vỡ lẽ ra khi anh mười tám tuổi, và lại vỡ lẽ ra lần nữa vào năm hai mươi ba tuổi, cái năm rốt cuộc anh cũng quyết định đoạn tuyệt với nơi này. Thật không dễ dàng khi là một người nhà Cole sống tại hạt Pamlico, đặc biệt là ở thị trấn Oriental. Theo thư anh biết, truy ngược cây phả hệ gia đình về tận đời ông cố của anh thì mọi thành viên nhà Cole đều từng có thời gian ngồi tù. Nhiều thành viên trong gia đình từng bị kết án vì những tội như hành hung, ẩu đả, phóng hỏa, mưu đồ giết người, giết người; nơi cư ngụ của đại gia đình nhà Cole - khu nhà được xây ở vùng đất có núi đá và rừng cây - giống như một chốn biệt lập với luật lệ riêng của nó. Có vài căn nhà nhỏ xiêu vẹo, các căn nhà lưu động, và các nhà kho bỏ đi lác đác trên khu đất mà gia đình anh gọi là nhà, và trừ phi không còn lựa chọn nào khác, ngay cả cảnh sát trưởng cũng tránh lui tới nơi đó. Các thợ săn cũng tránh xa khu đất, họ đã đúng khi đoán rằng tấm biển KẺ XÂM NHẬP SẼ LẬP TỨC BỊ BẮN BỎ không đơn giản chỉ là một lời cảnh báo suông. Gia đình Cole toàn những kẻ buôn rượu lậu, buôn bán ma túy, nghiện rượu, những kẻ vũ phu, những ông bố bà mẹ thích hành hạ con cái, những kẻ trộm, chủ chứa, và trên hết, và những kẻ bạo lực một cách bệnh hoạn. Theo một bài báo đã được đăng trên một tờ tạp chí hiện đã giải thể, họ từng được coi là gia đình nguy hiểm nhất, nuôi thù chuốc oán nhiều nhất ở phía Đông Raleigh. Bố của Dawson cũng không phải là ngoại lệ. Ông ta đã dành hầu hết tuổi đôi mươi và những năm đầu tuổi ba mươi trong tù vì những tội ác khác nhau, trong đó có cả việc đâm một người đàn ông bằng dùi đục đá sau khi người đó dám ngáng đường ông ta. Ông ta còn hai lần bị xét xử nhưng rồi được tha bổng tội giết người sau khi các nhân chứng biến mất, và thậm chí các thành viên còn lại trong gia đình cũng hiểu ông ta đủ rõ để không chọc vào tổ kiến lửa. Tại sao mẹ anh lại lấy ông ta là câu hỏi mà Dawson không bao giờ có thể trả lời được. Anh không trách mẹ vì đã bỏ đi. Phần lớn thời thơ ấu của mình, chính anh cũng muốn bỏ đi. Anh cũng không trách mẹ vì đã không đưa anh đi cùng. Những người đàn ông trong gia đình Cole có tính chiếm hữu một cách lạ thường đối với con cái của mình, và anh chắc chắn bố sẽ săn lùng mẹ và đoạt lại anh bằng mọi cách. Bố anh đã hơn một lần nói với Dawson như vậy, và anh biết tốt hơn và không nên hỏi bố mình xem ông ta sẽ làm gì nếu như mẹ anh từ chối trả lại anh. Dawson đã biết sẵn câu trả lời.

Anh tự hỏi có bao nhiêu thành viên trong gia đình mình vẫn còn sống trên mảnh đất đó. Khi anh bỏ đi, ngoài bố anh ra, còn có ông nội, bốn người chú, ba người cô, và mười sáu anh chị em họ. Tới giờ, các anh chị em họ đã trưởng thành và có con cái, có lẽ số người nhiều hơn, nhưng anh không có mong muốn tìm hiểu. Đó có thể là thế giới mà anh đã lớn lên, nhưng cũng như Oriental, anh chưa bao giờ thực sự thuộc về nơi ấy. Có lẽ mẹ anh, bất kể bà là ai, có thể là lý do cho chuyện đó, nhưng anh không hề giống các anh chị em họ của mình. Trong số cái đám ấy, chỉ có mình anh là không bao giờ đánh lộn ở trường, và điểm số của anh cũng khá. Anh tránh xa ma túy và rượu, và khi còn là thiếu niên, anh cũng không đi cùng các anh chị em họ của mình khi họ và thành phố để kiếm chuyện, anh thường nói với họ rằng anh phải kiểm tra thiết bị chưng cất rượu hoặc giúp tháo rời một chiếc xe mà ai đó trong gia đình đã đánh cắp được. Anh ít nói và cố hết sức để càng ít gây chú ý càng tốt.

Đó là một việc khó khăn. Nhà Cole có thể là một băng nhóm tội phạm, nhưng thế không có nghĩa là họ ngu ngốc, và theo bản năng Dawson biết rằng anh phải cố hết sức để che giấu sự khác biệt của mình. Anh có lẽ là học sinh duy nhất trong lịch sử của trường đã học hành chăm chỉ nhưng lại cố tình trượt một bài kiểm tra, và anh đã tự học cách làm giả phiếu điểm để cho điểm số trông có vẻ kém hơn thực tế. Anh đã học cách bí mật đổ hết bia trong lon khi người khác quay lưng đi bằng cách dùng dao chọc vào lon, và khi dùng công việc như một cái cớ để lẩn tránh các anh chị em họ, anh thường làm việc vất vả đến tận nửa đêm. Cách đó có hiệu quả trong một thời gian, nhưng cái kim trong bọc rồi cũng có ngày lòi ra. Một trong những giáo viên của anh đã nói với một người bạn nhậu của bố anh rằng anh là học sinh giỏi nhất lớp; cô dì chú bác của anh bắt đầu chú ý thấy rằng trong số các anh chị em họ thì chỉ có anh là còn theo khuôn khổ pháp luật. Trong một gia đình đánh giá cao lòng trung thành và sự tuân thủ hơn hết thảy, anh lại khác biệt, và không có tội lỗi nào tồi tệ hơn thế.

Điều đó khiến bố anh tức giận. Mặc dù anh vẫn bị đánh đập thường xuyên kể từ khi mới biết đi - bố anh thích dùng thắt lưng và dây đai vào các mục đích khác nhau - nhưng đến khi anh mười hai tuổi, những trận đòn giáng xuống anh đã mang một tinh thần khác. Bố Dawson thường đánh anh cho đến khi lưng và ngực của anh thâm tím, rồi một tiếng sau đó lại quay lại và chuyển hướng sang mặt và chân anh. Các giáo viên biết chuyện, nhưng vì lo sợ cho gia đình của mình nên họ lờ đi. Cảnh sát thường vờ như không thấy những vết thâm tím và lằn roi khi Dawson đi bộ từ trường về nhà. Những người còn lại trong gia đình thì thấy chuyện đó chẳng sao cả. Abee và Ted Điên, hai người anh họ của anh đã hơn một lần bất thần xông vào đánh anh cũng nặng tay giống bố anh vậy - Abee đánh anh vì hắn nghĩ anh đáng bị đánh, Ted Điên đánh anh chỉ vì gã muốn thế. Abee cao lớn và vạm vỡ, có nắm đấm to khỏe, và kẻ bạo lực và nóng tính nhưng thông minh hơn những gì hắn để lộ ra bên ngoài. Ted Điên, trái lại là kẻ hung ác bẩm sinh. Ở lớp mẫu giáo, gã đã đâm bạn học bằng bút chì khi đánh nhau để giành một gói bánh, và trước khi rốt cuộc cũng bị đuổi học khỏi lớp năm, gã đã kịp khiến một bạn học khác phải nằm viện. Thiên hạ đồn rằng gã đã giết một con nghiện trong khi vẫn còn là một thiếu niên. Dawson nhận ra là tốt nhất không lên đánh lại, thay vào đó anh học cách che chắn khi chịu đòn, cho đến khi các anh họ của anh cuối cùng không chán thì cũng mệt lử, hoặc cả hai.

Tuy nhiên anh không chịu nối nghiệp gia đình và ngày càng quyết tâm là sẽ không bao giờ theo cái nghiệp đó. Theo thời gian, anh nhận ra rằng anh càng kêu la, bố anh càng đánh nhiều hơn, thế nên anh im lặng. Bố anh không chỉ bạo lực, mà còn thích ngược đãi, và theo bản năng Dawson biết rằng những kẻ thích ngược đãi chỉ đánh khi họ biết mình có thể thắng. Anh biết rồi sẽ đến lúc anh đủ mạnh mẽ để đánh lại, sẽ đến lúc anh không còn sợ bố mình nữa. Trong khi chịu những cú đòn giáng xuống, anh cố tưởng tượng ra sự dũng cảm mà mẹ anh đã thể hiện khi bà cắt đứt mọi quan hệ với gia đình.

Anh đã cố hết sức để đẩy nhanh quá trình. Anh buộc một bao chứa đầy vải vụn bên cây và đấm nó hàng giờ mỗi ngày. Anh nâng đá và các bộ phận máy móc thường xuyên nhất có thể. Anh tập xà, tập chống đẩy và gập bụng suốt ngày. Anh đã tăng được khoảng bốn cân rưỡi trước khi tròn mười ba tuổi, và tăng thêm khoảng chín cân nữa khi tròn mười bốn tuổi. Anh cũng cao hơn. Đến khi mười lăm tuổi, anh đã gần cao bằng bố mình. Vào một đêm, một tháng sau khi anh tròn mười sáu tuổi, sau khi nhậu nhẹt, bố anh tiến về phía anh với một chiếc thắt lưng, anh liền đứng thẳng dậy và giật nó khỏi tay bố mình. Anh nói với bố rằng nếu ông ta còn động vào anh lần nữa, anh sẽ giết ông ta.

Đêm đó, không còn nơi nào khác để đi, anh đã tạm trú tại gara của Tuck. Khi Tuck tìm thấy anh vào sáng hôm sau, Dawson đã xin ông cho một công việc. Ông không có lý do gì phải giúp Dawson, vì anh không những là một người lạ mà còn là một người nhà Cole. Tuck lau tay vào chiếc khăn nhét ở túi quần sau, và chăm chú thăm dò vẻ mặt anh trước khi lấy thuốc lá ra. Lúc đó, ông đã sáu mươi mốt tuổi, góa vợ đã được hai năm. Khi ông lên tiếng, Dawson có thể ngửi lấy mùi rượu trong hơi thở của ông, và giọng ông khàn khàn, hậu quả của việc hút thuốc lá không có đầu lọc hiệu Camel kể từ khi còn là một đứa trẻ. Khẩu âm của ông, cũng giống như Dawson, đặc chất đồng quê.

“Ta đoán cậu có thể tháo rời ô tô, nhưng cậu có biết gì về việc lắp chúng lại như cũ không?”

“Có, thưa ông,” Dawson đáp.

“Hôm nay cậu có phải đi học không?”

“Có, thưa ông.”

“Vậy thì hãy trở lại đây ngay sau khi tan học và ta sẽ xem cậu có thể làm những gì.”

Dawson đã trở lại và làm hết sức để chứng minh khả năng của mình. Sau khi anh làm xong việc, cả tối đó gần như mưa suốt, và lúc anh lẻn lại vào gara để tránh cơn bão thì thấy Tuck đã chờ sẵn.

Tuck không nói gì. Thay vào đó ông rít mạnh điếu thuốc hiệu Camel, nheo mắt nhìn Dawson mà không thốt một lời, và cuối cùng ông đi vào trong nhà. Từ đó Dawson không bao giờ ở thêm một đêm nào nữa trên mảnh đất của gia đình anh. Tuck không bắt anh trả tiền thuê nhà và Dawson tự mua thức ăn cho mình. Nhiều tháng trôi qua, và lần đầu tiên trong đời, anh bắt đầu nghĩ về tương lai. Anh ra sức tiết kiệm tiền, chỉ phung phí để mua chiếc Fastback từ một bãi phế liệu và mua những bình trà ngọt lớn từ quán ăn. Buổi tối sau khi xong việc, anh vừa sửa chữa chiếc xe của mình vừa uống trà, và mơ về việc đi học đại học, điều mà chưa một người nhà Cole nào từng mơ. Anh nghĩ đến việc nhập ngũ hoặc chỉ đơn giản là thuê một nơi cho riêng mình, nhưng anh còn chưa kịp thực hiện bất kỳ kế hoạch nào thì bố anh đã bất ngờ xuất hiện ở gara. Ông ta đi cùng Ted Điên và Abee. Hai người họ mang theo gậy đánh bóng chày, và anh có thể thấy một con dao lấp ló trong túi Ted.

“Đưa cho tao số tiền mày đã kiếm được,” bố anh nói thẳng thừng.

“Không.” Dawson trả lời.

“Tao biết mày sẽ nói thế, thằng nhóc. Vì thế tao đã đưa Ted và Abee tới đây. Chúng có thể đánh mày cho đến khi mày chịu nôn tiền ra, và cuối cùng tao cũng sẽ lấy được tiền, hoặc mày có thể đưa cho tao số tiền mày nợ tao vì đã bỏ đi.” Dawson không nói gì. Bố anh lấy một cây tăm ra xỉa răng.

“Nghe này, tất cả những gì tao phải làm để chấm dứt cái cuộc sống nhỏ bé của mày là phạm tội gì đó trong thị trấn. Có lẽ là một vụ trộm, hoặc một vụ phóng hỏa. Ai mà biết được? Sau đó, bọn tao chỉ việc gài một số chứng cứ, gọi một cú điện thoại nặc danh cho cảnh sát trưởng, và để cho pháp luật vào cuộc. Mày ở đây có một mình vào ban đêm nên sẽ không có chứng cứ ngoại phạm, và tao cũng chẳng quan tâm, mày có thể ngồi mục xương giữa đống sắt thép và bê tông suốt đời. Tao không quan tâm. Vì thế sao mày không đưa tiền ra luôn đi?”

Dawson biết bố mình không hù dọa suông. Cố không biểu lộ cảm xúc ra mặt, anh lấy tiền trong ví ra. Sau khi bố anh đếm tiền, ông ta nhổ cây tăm xuống đất và nhe răng cười.

“Tuần tới tao sẽ quay lại.”

Dawson cố gắng xoay xở. Anh cố cất riêng một ít trong số tiền kiếm được để tiếp tục sửa chữa chiếc Fastback và mua trà ngọt, nhưng phần lớn số tiền anh kiếm được đều rơi vào túi bố anh. Anh ngờ rằng Tuck cũng biết chuyện gì đang xảy ra, nhưng ông không bao giờ nói thẳng điều gì với anh. Không phải là vì ông sợ đám người nhà Cole, mà vì đó không phải là việc của ông. Thay vào đó, ông bắt đầu nấu nhiều đồ ăn hơn cho bữa tối. “Còn thừa một chút, nếu cậu muốn ăn thì cứ việc,” ông nói thế sau khi mang một đĩa đồ ăn ra gara. Ông thường quay trở vào nhà mà không nói gì thêm. Đó là kiểu quan hệ giữa bọn họ, và Dawson tôn trọng nó. Dawson tôn trọng Tuck. Theo cách riêng của mình, Tuck đã trở thành người quan trọng nhất trong cuộc đời anh, và Dawson không thể tưởng tượng ra bất kỳ cái gì có thể thay đổi điều đó.

Cho đến ngày Amanda Collier bước vào thế giới của anh.

Dù anh đã biết đến Amanda nhiều năm - chỉ có một trường trung học ở hạt Pamlico và anh đã học chung trường với cô gần như suốt thời học sinh - nhưng đến tận mùa xuân năm đầu trung học, lần đầu tiên họ mới trao đổi nhiều hơn một vài từ. Anh luôn nghĩ rằng cô xinh đẹp, nhưng không chỉ có anh nghĩ vậy. Cô nổi tiếng, là kiểu con gái luôn có các cô bạn ngồi cùng bàn trong quán ăn trong khi các cậu trai cố thu hút sự chú ý của cô, ngoài ra cô không những là lớp trưởng mà còn là đội trưởng đội cổ vũ. Chưa kể đến việc nhà cô rất giàu có, và tiếp cận được cô khó ngang tiếp cận một nữ diễn viên truyền hình vậy. Anh chưa bao giờ nói một câu nào với cô cho đến khi họ được ghép cặp trong phòng thí nghiệm hóa học.

Khi họ miệt mài với đống ống nghiệm và cùng học ôn chuẩn bị cho các bài kiểm tra trong học kỳ đó, anh nhận ra rằng cô không hề giống với những gì anh đã tưởng tượng. Trước hết, việc cô là một người nhà Collier và anh là một người nhà Cole dường như không có gì khác biệt với cô, điều đó khiến anh ngạc nhiên. Cô thường bật cười mà không kìm nén, và khi cô mỉm cười, nụ cười cô ẩn chứa vẻ ranh mãnh, như thể cô biết điều gì đó mà không ai khác biết được. Mái tóc cô vàng như mật ong, đôi mắt cô có màu của bầu trời mùa hè ấm áp, và thỉnh thoảng khi họ viết nguệch ngoạc những phương trình hóa học vào vở, cô thường chạm vào tay anh thay vì cất tiếng gọi anh và cái cảm giác đó thường đọng lại hàng giờ sau. Vào các buổi chiều, khi làm việc trong gara, anh thường thấy mình không thể thôi nghĩ về cô. Phải đến tận mùa xuân anh mới lấy hết can đảm để hỏi xem liệu anh có thể mua kem cho cô không, và đến cuối năm học, họ bắt đầu dành nhiều thời gian hơn cho nhau.

Đó là năm 1984, anh mười bảy tuổi. Khi mùa hè kết thúc, anh biết mình đang yêu, đến khi không khí dần se lạnh, và những chiếc lá mùa thu rơi xuống mặt đất như những dải ruy băng màu vàng và đỏ, anh chắc chắn rằng mình muốn dành cả cuộc đời ở bên cô, dù điều đó nghe thật điên rồ. Họ ở bên nhau trong năm tiếp theo, ngày càng gần gũi hơn và họ gặp nhau bất cứ lúc nào có thể. Với Amanda, anh có thể dễ dàng là chính mình. Có Amanda, lần đầu tiên anh thấy hài lòng với cuộc sống. Thậm chí cho tới tận bây giờ, khoảng thời gian đó đôi khi là tất cả những gì anh có thể nghĩ tới.

Hay chính xác hơn, Amanda và tất cả những gì anh có thể nghĩ tới.

• • •

Trên máy bay, Dawson đã yên vị ở chỗ ngồi. Anh ngồi gần cửa sổ ở giữa máy bay, cạnh một phụ nữ trẻ, tóc đỏ, tầm ba mươi lăm tuổi, chân dài, cao ráo. Không hẳn là típ anh thích, nhưng đủ xinh đẹp. Cô ta nghiêng về phía anh khi tìm đai an toàn và mỉm cười vẻ xin lỗi.

Dawson gật đầu, nhưng cảm nhận được rằng cô ta sắp bắt chuyện, anh liền quay ra nhìn chằm chằm qua cửa sổ. Anh nhìn xe chở hành lý rời xa khỏi máy bay, và như thường lệ anh đắm chìm vào những ký ức xa xôi về Amanda. Anh mường tượng lại những lần họ đi bơi ở sông Neuse mùa hè đầu tiên, cơ thể họ ướt đẫm khi chạm vào nhau; hay cô thường ngồi ghé lên bàn thợ trong khi anh sửa xe của mình trong gara của Tuck, tay cô ôm lấy đầu gối lúc này đang co lên, hình ảnh đó khiến anh nghĩ mình không muốn gì hơn là được nhìn cô ngồi như thế mãi mãi. Vào tháng Tám, cuối cùng anh cũng khiến chiếc xe chạy được lần đầu tiên, anh đã đưa cô tới bãi biển. Ở đó, họ nằm trên khăn tắm, nắm tay nhau và nói về những cuốn sách ưa thích của mình, những bộ phim thú vị, những bí mật và những ước mơ cho tương lai.

Họ cũng tranh cãi, và khi đó Dawson đã thoáng thấy được nét tính cách dữ dội của cô. Họ không thường xuyên bất đồng, nhưng cũng không phải hiếm khi mới xảy ra, đáng nói và dù mọi chuyện trở nên căng thẳng nhanh đến thế nào, thì hầu như chúng cũng luôn kết thúc nhanh như thế. Đôi khi họ tranh cãi vì nhưng điều nhỏ nhặt - Amanda là người vô cùng ngoan cố - và họ sẽ tranh cãi dữ dội trong một thời gian, thường là không có cách gì để hòa giải. Ngay cả trong những lúc thực sự giận dữ, anh cũng không thể không ngưỡng mộ sự thành thật của cô, sự thành thật xuất phát từ việc cô quan tâm đến anh hơn bất cứ ai khác trong cuộc đời anh.

Ngoài Tuck ra, không ai có thể hiểu được cô thấy gì ở anh. Dù ban đầu họ cố gắng che giấu mối quan hệ, nhưng Oriental là một thị trấn nhỏ, và việc mọi người bắt đầu xì xầm là không thể tránh khỏi. Dần dần từng người một, những người bạn của cô rời xa cô, và chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi bố mẹ cô biết được. Anh là một người nhà Cole và cô là một người nhà Collier, chỉ riêng việc đó thôi cũng đủ gây thất vọng. Ban đầu, bố mẹ Amanda bám vào niềm hy vọng rằng cô chỉ đơn giản là đang trải qua giai đoạn nổi loạn, và họ cố lờ nó đi. Khi việc đó không có hiệu quả, mọi chuyện trở nên khó khăn hơn với Amanda. Họ tịch thu bằng lái của cô và cấm cô dùng điện thoại. Và mùa thu, cô bị cấm túc hàng tuần trời và bị cấm ra ngoài vào cuối tuần. Không một lần nào Dawson được phép bước vào nhà họ, và lần duy nhất bố cô nói chuyện với anh là khi ông gọi anh là “một thứ da trắng rác rưởi”. Mẹ Amanda van xin cô chấm dứt mối quan hệ với anh, và đến tháng Mười hai thì bố cô hoàn toàn không nói chuyện với cơ nữa.

Sự thù địch xung quanh họ chỉ khiến Amanda và Dawson tiến lại gần nhau hơn, và khi Dawson bắt đầu công khai nắm tay cô ở nơi công cộng, Amanda siết chặt tay anh như thể thách thức bất cứ ai dám bảo cô buông ra. Có điều Dawson không phải là người ngây thơ, dù cô có ý nghĩa rất lớn đối với anh, nhưng anh luôn luôn có dự cảm rằng thời gian họ bên nhau sẽ không kéo dài mãi. Tất cả mọi thứ và tất cả mọi người dường như đều chống lại họ. Khi bố anh biết chuyện Amanda, ông ta đã hỏi về cô khi ghé qua tịch thu tiền lương của Dawson. Dù không có gì là công khai đe dọa trong giọng nói của ông ta, nhưng chỉ cần nghe ông ta thốt ra tên cô là Dawson đã có cảm giác lo lắng bồn chồn.

Vào tháng Giêng, cô bước sang tuổi mười tám, dù bố mẹ cô vô cùng giận dữ về mối quan hệ của cô với anh, họ cũng không thể đuổi cô ra khỏi nhà. Nhưng đến khi đó, Amanda đã không còn quan tâm xem họ nghĩ gì - hay ít nhất đó là những gì cô luôn nói với Dawson. Đôi khi, sau một trận cãi vã dữ dội với bố mẹ mình, cô thường lẻn ra khỏi cửa sổ phòng ngủ vào giữa đêm và đi tới gara. Thường thì anh sẽ chờ sẵn, nhưng đợi khi anh bừng tỉnh giấc khi cô huých nhẹ vào anh lúc nằm xuống tấm thảm mà anh trải trên sàn văn phòng của gara. Họ thường lang thang xuống nhánh sông và Dawson vòng tay ôm cô khi họ ngồi trên cành cây sà thấp của một cây sồi cổ thụ. Dưới ánh trăng, như được trút bầu tâm sự, Amanda sẽ kẻ lại trận cãi vã với bố mẹ mình, đôi khi giọng cô run rẩy, và cô luôn thận trọng để không làm anh tổn thương. Anh yêu cô vì điều đó, nhưng anh biết chính xác bố mẹ cô cảm thấy thế nào về anh. Một buổi tối, khi nước mắt trào ra từ bờ mi khép chặt của cô sau một trận cãi vã, anh nhẹ nhàng đề nghị với cô rằng có lẽ sẽ tốt hơn cho cô nếu họ ngừng gặp gỡ.

“Đó là điều anh muốn ư?” cô thì thầm, giọng lạc đi.

Anh kéo cô lại gần hơn, vòng tay ôm lấy cô. “Anh chỉ muốn em hạnh phúc,” anh thì thầm.

Khi đó cô dựa vào anh, ngả đầu vào vai anh. Ôm cô trong tay, anh chưa bao giờ ghét việc mình sinh ra là một người nhà Cole đến thế.

“Em hạnh phúc nhất là khi ở bên anh,” cô thì thầm.

Đêm ấy là lần đầu tiên họ làm tình. Suốt hai thập kỷ tiếp theo và sau nữa, anh luôn mang những từ ngữ và những ký ức của đêm ấy trong tâm trí, anh biết rằng cô đã nói thay cho cả hai người họ.

• • •

Sau khi hạ cánh ở Charlotte, Dawson vắt chiếc túi vải cùng bộ vest lên vai và bước ra cửa, vừa đi vừa điểm lại những ký ức về mùa hè cuối cùng bên Amanda, gần như không chú ý đến các hoạt động xung quanh mình. Mùa xuân năm đó, cô nhận được thông báo nhập học của Đại học Duke, ngôi trường mà cô mơ được vào từ khi còn là một cô bé. Nỗi ám ảnh về việc cô sắp đi xa, cùng với sự cô lập từ gia đình và bạn bè chỉ càng làm tăng thêm niềm khao khát muốn dành nhiều thời gian bên nhau của họ. Họ dành hàng giờ ở bãi biển, họ lái xe đi xa, vừa đi vừa bật radio ồn ã, hay có khi chỉ đơn giản là quanh quẩn trong gara của Tuck. Họ thề thốt là dù cô có đi xa thì mọi thứ sẽ gần như không thay đổi; anh sẽ lái xe tới Durham hoặc cô sẽ về thăm anh. Amanda chắc chắn là họ sẽ tìm được cách gì đó để tiếp tục mối quan hệ.

Tuy nhiên, bố mẹ cô lại có nhưng kế hoạch khác. Vào một buổi sáng thứ Bảy trong tháng Tám, hơn một tuần trước khi cô phải đi Durham, họ đã dồn ép cô trước khi cô kịp ra khỏi nhà. Chỉ có mẹ cô lên tiếng nhưng cô biết rằng bố cô hoàn toàn đồng ý với những gì bà nói.

“Chuyện này kéo dài thế là đủ rồi,” mẹ cô bắt đầu bằng giọng bình tĩnh một cách đáng ngạc nhiên, bà nói với Amanda rằng nếu cô tiếp tục gặp gỡ Dawson, cô sẽ phải dọn ra khỏi nhà vào tháng Chín và tự thanh toán các hóa đơn của mình, và họ cũng sẽ không trả tiền học đại học cho cô. “Tại sao chúng ta lại phải lãng phí tiền cho con học đại học khi mà con đang vứt bỏ cuộc đời của mình đi?”

Khi Amanda bắt đầu phản đối, mẹ cô nói át đi.

“Cậu ta sẽ kìm chân con, Amanda, nhưng ngay lúc này con vẫn còn quá trẻ để hiểu được điều đó. Nên nếu con muốn có được sự tự do của một người trưởng thành, con cũng sẽ phải thực hiện những trách nhiệm của một người trưởng thành. Cứ việc hủy hoại cuộc sống của con bằng cách ở bên Dawson - chúng ta sẽ không ngăn cản con. Nhưng chúng ta cũng sẽ không giúp đỡ con đâu.”

Amanda chạy vụt ra khỏi nhà, ý nghĩ duy nhất của cô là tìm Dawson. Lúc tới được gara, cô đã khóc đến mức không thể thốt nên lời. Dawson ôm chặt cô, lắng nghe từng mảnh rời rạc của câu chuyện khi những tiếng nức nở của cô cuối cùng cũng lắng xuống.

“Chúng ta sẽ sống cùng nhau,” cô nói, má vẫn ướt nước mắt.

“Ở đâu?” anh hỏi cô. “Tại đây? Ở gara này à?”

“Em không biết nữa. Chúng ta sẽ tìm ra cách giải quyết thôi.”

Dawson vẫn im lặng, mắt nhìn chăm chăm xuống sàn. “Em cần phải đi học đại học,” cuối cùng anh nói.

“Em không quan tâm đến trường đại học,” Amanda phản đối. “Em chỉ quan tâm đến anh.”

Anh buông thõng hai tay. “Anh cũng quan tâm đến em. Và đó là lý do tại sao anh không thể tước đoạt điều này khỏi em,” anh nói.

Cô lắc đầu, ngơ ngác. “Anh không tước đoạt gì của em hết. Mà là bố mẹ em. Họ đối xử với em như thể em vẫn còn là một con bé vậy.”

“Đó là vì anh, và cả hai chúng ta đều biết điều đó.” Anh đá chân xuống con đường đất. “Nếu em yêu ai đó, em phải để họ ra đi, phải không?”

Lần đầu tiên, ánh mắt cô lóe lên. “Và nếu họ trở lại, thì đó là định mệnh. Anh nghĩ chuyện này là như thế à? Một mối quan hệ sáo rỗng sao?” Cô nắm lấy cánh tay anh, ngón tay bấu chặt vào anh. “Mối quan hệ của chúng ta không phải là sáo rỗng,” cô nói. “Chúng ta sẽ tìm ra cách giải quyết. Em có thể xin làm phục vụ bàn hay gì đó, và chúng ta có thể thuê một nơi để ở.”

Anh giữ cho giọng bình tĩnh, buộc mình không vỡ òa. “Bằng cách nào? Em nghĩ bố anh sẽ ngừng những việc ông ta đang làm à?”

“Chúng ta có thể chuyển đến nơi khác.”

“Ở đâu? Với cái gì? Anh không có gì cả. Em không hiểu điều đó à?” Anh bỏ lửng các câu hỏi, và thấy cô không trả lời, cuối cùng anh nói tiếp. “Anh chỉ cố gắng thực tế. Chúng ta đang bàn về cuộc sống của em. Và... anh không thể là một phần của nó nữa.”

“Anh đang nói gì vậy?”

“Anh đang nói bố mẹ em nói đúng.”

“Anh không thật sự có ý đó.”

Trong giọng nói của cô, anh nghe thấy một cái gì đó gần như là sợ hãi. Mặc dù khao khát được ôm lấy cô, nhưng anh cố ý lùi lại một bước. “Về nhà đi,” anh nói.

Cô tiến về phía anh. “Dawson...”

“Không!” Anh quát, bước tránh ra. “Em không nghe anh nói sao? Kết thúc rồi, hiểu chứ? Chúng ta đã thử, nhưng không được. Cuộc sống vẫn tiếp tục.”

Mặt cô trắng bệch như sáp, gần như không còn sự sống. “Thế là kết thúc sao?”

Thay vì trả lời, anh buộc mình phải quay lưng và đi về phía gara. Anh biết rằng chỉ cần liếc nhìn cô thôi là anh sẽ đổi ý, và anh không thể làm thế với cô. Anh cúi người luồn xuống mui xe đang mở của chiếc Fastback, không để cho cô nhìn thấy những giọt nước mắt của mình.

Cuối cùng, khi cô đã rời đi, Dawson nằm xuống sàn bê tông bụi bặm bên cạnh chiếc xe, và ở đó hàng giờ cho đến khi Tuck đi ra và ngồi xuống cạnh anh. Suốt một lúc lâu, ông chỉ im lặng.

“Cậu đã kết thúc mọi chuyện,” cuối cùng Tuck cũng nói.

“Cháu buộc phải làm thế.” Dawson gần như không thể cất lời.

“Phải.” Ông gật đầu. “Ta cũng nghe được điều đó.”

Mặt trời lên cao đến đỉnh đầu, trùm lên tất cả mọi thứ bên ngoài gara một sự im lặng mang lại cảm giác gần như cái chết.

“Cháu làm vậy có đúng không?”

Tuck thò tay vào túi và lấy hộp thuốc lá ra, chưa vội trả lời. Ông lấy ra một điếu Camel.

“Ta không biết. Hai đứa hợp nhau một cách kỳ lạ, không thể phủ nhận điều đó. Và như thế càng khiến người ta khó quên đi.” Tuck vỗ nhẹ vào lưng anh và đứng dậy để đi. Ông đã nói nhiều hơn những gì ông từng nói với Dawson về Amanda. Khi ông bước đi, Dawson nheo mắt dưới ánh mặt trời và những giọt nước mắt lại lăn xuống. Anh biết rằng Amanda sẽ luôn là phần tốt đẹp nhất của anh, cái phần mà anh sẽ luôn khao khát được hiểu rõ.

Điều mà anh không biết và anh sẽ không được thấy hay nói chuyện với cô nữa. Tuần tiếp theo, Amanda chuyển vào ký túc xá của Đại học Duke, và một tháng sau đó Dawson bị bắt.

Anh trải qua bốn năm tiếp theo sau song sắt.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 25.01.2018, 09:42
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 34206
Được thanks: 5226 lần
Điểm: 9.58
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Lãng mạn] Dành hết cho em - Nicholas Sparks - Điểm: 10
Chương 2


Amanda bước ra khỏi xe và xem xét căn lều ở ngoại ô Oriental, nơi mà Tuck gọi là nhà. Cô đã lái xe liền ba tiếng đồng hồ và giờ khi đã có thể co duỗi chân tay, cảm giác thật tuyệt. Cổ và vai cô vẫn còn căng lên, như một sự nhắc nhở về cuộc tranh luận giữa cô và Frank sáng hôm đó. Anh không hiểu được vì sao cô cứ khăng khăng muốn tham dự tang lễ, và nghĩ lại, cô cho rằng anh cũng có điểm đúng. Trong gần hai mươi năm kể từ khi họ kết hôn, cô chưa bao giờ đề cập đến Tuck Hostetler; nếu đổi lại là cô, có lẽ cô cũng sẽ khó chịu.

Nhưng cuộc tranh luận không thực sự là về Tuck hay về các bí mật của cô, hay chậm chí là về việc cô sẽ trải qua một kỳ nghỉ cuối tuần dài nữa xa gia đình. Sâu trong lòng, cả hai người họ đều biết đó chỉ đơn giản là tiếp nối cuộc tranh luận mà họ đã kéo dài suốt gần mười năm qua, và vẫn còn tiếp diễn. Họ tranh luận không to tiếng hay thượng cẳng chân hạ cẳng tay - Frank không phải là kiểu người đó, ơn Chúa - và cuối cùng Frank cũng thốt ra một lời xin lỗi cụt lủn trước khi đi làm. Như thường lệ, cô dành phần còn lại của buổi sáng và buổi chiều cố gắng hết sức để quên đi mọi chuyện. Rốt cuộc, cô cũng chẳng thể làm gì, và qua thời gian, cô đã học được cách làm mình chai sạn trước sự giận dữ và lo lắng đã định hình mối quan hệ của họ.

Trong suốt chuyến đi tới Oriental, cả Jared và Lynn, hai đứa con lớn của cô đều gọi điện, và cô biết ơn vì có thứ để làm cô sao nhãng. Chúng đang nghỉ hè, và suốt mấy tuần qua, căn nhà tràn ngập những tiếng ồn bất tận điển hình của lứa tuổi thanh thiếu niên. Tang lễ của Tuck không thể diễn ra vào thời điểm nào tốt hơn thế. Jared và Lynn đã có kế hoạch nghỉ cuối tuần với bạn bè, Jared có hẹn với một cô gái tên là Melody còn Lynn thì hẹn một người bạn thời trung học đi bơi thuyền ở hồ Norman, gia đình bạn cô bé có một căn nhà ở đó Annette - “tai nạn kỳ diệu” của họ, như Frank đã gọi con bé - đã đi dự trại hè trong hai tuần. Con bé có lẽ cũng sẽ gọi cho cô nếu như chỗ nó không cấm dùng điện thoại di động. Điều đó cũng tốt, nếu không chắc chắn con chim líu lo ấy sẽ gọi cho cô suốt cả buổi sáng, trưa và tối mất.

Cứ nghĩ về bọn trẻ cô lại mỉm cười. Bất chấp công việc tình nguyện ở Trung tâm Ung thư Nhi tại Bệnh viện Đại học Duke, cuộc sống của cô chủ yếu xoay quanh bọn trẻ. Kể từ khi Jared được sinh ra, cô nghỉ việc ở nhà làm nội trợ, dù phần lớn thời gian cô rất thích vai trò đó, nhưng luôn có một phần trong cô bực bội trước những giới hạn của nó. Cô muốn nghỉ rằng mình không chỉ là một người vợ và người mẹ. Cô đi học đại học để trở thành giáo viên và thậm chí đã từng cân nhắc việc học lên tiến sĩ để có thể dạy ở một trong các trường đại học ở địa phương. Cô nhận công việc dạy học sinh lớp ba sau khi tốt nghiệp... và rồi cuộc sống bằng cách nào đó đã xen vào. Giờ đây ở tuổi bốn mươi hai, thỉnh thoảng cô vẫn đùa với mọi người rằng cô nóng lòng muốn trưởng thành để có thể biết được mình muốn kiếm sống bằng nghề gì.

Một số người có thể gọi đó là cuộc khủng hoảng tuổi trung niên, nhưng cô không chắc đó chính xác là nó. Không hẳn là cô cảm thấy muốn mua xe hơi thể thao hay đi gặp bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ hay trốn đến một hòn đảo nào đó ở Caribbe. Cũng không hẳn là vì buồn chán, có Chúa chứng giám, bọn trẻ và bệnh viện đã khiến cô đủ bận rộn. Thay vào đó, nó phần nhiều và cảm giác rằng dường như cô đã không còn biết ý nghĩa của cuộc đời mình, và cô không chắc mình còn có cơ hội tìm thấy nó lần nữa.

Trong một thời gian dài, cô đã coi mình là người may mắn, và Frank và một phần lớn trong sự may mắn đó. Họ gặp nhau tại một bữa tiệc khi cô học năm thứ hai tại Duke. Bất chấp sự hỗn loạn của buổi tiệc, bằng cách nào đó họ đã tìm được một góc yên tĩnh rồi nói chuyện đến gần sáng. Lớn hơn cô hai tuổi, anh nghiêm túc và thông minh, và thậm chí ngay đêm đầu tiên đó, cô đã biết được rằng anh sẽ thành công trong bất kỳ việc gì anh chọn. Như vậy là đủ để mọi chuyện bắt đầu. Tháng Tám sau đó anh tới học nha khoa tại Chapter Hill, nhưng họ tiếp tục hẹn hò trong hai năm tiếp theo. Đính hôn là chuyện tất yếu sẽ xảy ra, và vào tháng Bảy năm 1989, chỉ một vài tuần sau khi cô tốt nghiệp, họ kết hôn.

Sau tuần trăng mật ở Bahamas, cô bắt đầu công việc giảng dạy tại một trường tiểu học ở địa phương, nhưng sau khi sinh Jared vào mùa hè tiếp theo, cô xỉn nghỉ phép. Cô sinh Lynn mười tám tháng sau đó, và nghỉ phép trở thành nghỉ việc. Tới khi đó, Frank đã xoay xở vay đủ tiền để mở phòng khám riêng và mua một ngôi nhà nhỏ ở Durham. Đó là những năm thiếu thốn, vì Frank muốn tự mình đạt được thành công nên đã từ chối nhận sự giúp đỡ của gia đình hai bên. Sau khi thanh toán các hóa đơn, may mắn lắm họ mới có thừa tiền thuê một bộ phim về xem vào cuối tuần. Đi ăn tối bên ngoài là việc hiếm hoi, và khi xe của họ bị hỏng, Amanda đã mắc kẹt cả tháng ở nhà cho đến khi họ có đủ tiền để sửa xe. Khi đi ngủ họ đắp thêm chăn để giảm chi phí sưởi. Trong những năm tháng đó, có đôi lúc thật mệt mỏi và căng thẳng, nhưng khi nghĩ lại về cuộc sống của mình, cô cũng biết đó là nhũng năm hạnh phúc nhất trong cuộc hôn nhân của họ.

Phòng khám của Frank dần được mở rộng, và trong nhiều khía cạnh, cuộc sống của họ đi vào quỹ đạo chung của các cặp đôi Frank làm việc trong khi cô trông nom nhà cửa và lũ trẻ, và đứa con thứ ba, Bea, ra đời khi họ bán ngôi nhà nhỏ và chuyển tới một ngôi nhà lớn hơn mà họ đã xây trong một khu vực cao cấp hơn của thị trấn. Sau đó, nhịp sống của họ thậm chí còn trở nên bận rộn hơn. Phòng khám của Frank bắt đầu phát triển hơn trong khi cô đi lại như con thoi để đưa Jared đến trường, đưa Lynn tới các công viên và các buổi hẹn đi chơi, Bea thì được đặt ở băng ghế giữa trong xe. Chính trong những năm đó Amanda bắt đầu xem xét lại kế hoạch đi học sau đại học của mình; cô thậm chí còn dành thời gian tìm hiểu một vài chương trình đào tạo thạc sĩ mà cô nghĩ có thể sẽ ghi danh học khi Bea bắt đầu đi học mẫu giáo. Nhưng khi Bea qua đời, hoài bão của cô lắng xuống. Lặng lẽ, cô cất những cuốn sách ôn tập cho kỳ thi sát hạch và chương trình sau đại học và xếp gọn đơn đăng ký vào một ngăn kéo bàn.

Việc bất ngờ mang thai Annette càng củng cố quyết định không quay lại trường học của cô. Thay vào đó, có thể nói là nó đã đánh thức quyết tâm tập trung xây dựng lại tổ ấm trong cô, cô lao vào các hoạt động của bọn trẻ và những việc thường ngày bằng tất cả nhiệt huyết, nhằm cố quên đi đau buồn. Năm tháng qua đi, ký ức về đứa em gái nhỏ phai nhạt dần, Jared và Lynn dần dần lấy lại cảm giác bình thường, và Amanda biết ơn vì điều đó. Annette lanh lợi và hoạt bát mang lại niềm vui mới trong ngôi nhà của họ, và thỉnh thoảng cô gần như có thể giả vờ rằng họ là một gia đình hoàn chỉnh và đầy yêu thương, một gia đình chưa hề bị ảnh hưởng bởi thảm kịch.

Cô đã khó khăn lắm mới có thể giả vờ rằng cuộc hôn nhân của mình cũng như vậy.

Cô không và chưa từng ảo tưởng rằng hôn nhân là một mối quan hệ chỉ tuyển những niềm hạnh phúc bất tận và sự lãng mạn. Mang hai người bất kỳ lại với nhau, thêm vào đó những thăng trầm tất yếu, rồi thổi vào đó vài cơn bão, thì những cuộc tranh luận dữ dội là không thể tránh khỏi, bất kể cặp đôi đó có yêu nhau nhiều đến đâu đi nữa. Thời gian cũng mang lại những thách thức khác. Sự thoải mái và cảm giác thân thuộc là những điều tuyệt vời, nhưng chứng cũng làm giảm đi niềm đam mê và sự hứng thú. Thói quen, và việc có thể dự đoán mọi điều khiến những bất ngờ hầu như là không thể diễn ra. Không còn những câu chuyện mới để kể cho nhau, và hầu như họ luôn biết người kia định nói gì, cả cô lẫn Frank đã đạt đến cảnh giới chỉ cần nhìn lướt qua cũng đủ để hiểu ý nhau mà không cần đến từ ngữ dể diễn đạt. Nhưng việc mất Bea đã thay đổi họ. Với Amanda, nó đã thúc đẩy một cam kết mãnh liệt với công việc tình nguyện của cô tại bệnh viện; mặt khác, Frank đã thay đổi từ một người thỉnh thoảng mới uống rượu thành một con nghiện rượu.

Cô biết sự khác biệt, và cô chưa bao giờ là một người khắt khe về việc uống rượu. Khi học đại học đã có vài dịp cô uống quá chén tại một bữa tiệc, và cô vẫn thích thú nhấm nháp một ly rượu trong bữa tối. Đôi khi thậm chí cô có thể uống tiếp ly thứ hai, và hầu như thế là đủ. Nhưng đối với Frank, thứ ban đầu là một cách để làm tê liệt nỗi đau đã biến thành một cái gì đó mà anh không còn kiểm soát được nữa.

Nhìn lại, đôi khi cô nghĩ đáng lẽ mình phải thấy trước được điều đó. Thời đại học, anh thích vừa xem các trận bóng rổ vừa uống bia cùng bạn bè; ở trường học nha khoa, anh thường thư giãn bằng một, hai hay ba lon bia sau khi học xong. Nhưng trong những tháng ngày đen tối khi Bea bị ốm, hai hay ba lon bia mỗi đêm dần dần tăng nên thành sáu lon, và sau khi con bé qua đời, số lượng bia anh uống đã tăng thành mười hai lon mỗi đêm. Tới thời điểm hai năm sau ngày Bea mất và Annette chuẩn bị chào đời, anh sẵn sàng nốc một đống vào người ngay cả khi phải đi làm vào sáng hôm sau. Gần đây, tuần nào cũng có bốn năm đêm anh say xỉn, và đêm qua cũng không phải là ngoại lệ. Quá nửa đêm, anh loạng choạng đi vào phòng ngủ, say xỉn như mọi khi, và bắt đầu ngáy to đến nỗi cô phải sang phòng dành cho khách để ngủ. Việc anh say xỉn, chứ không phải Tuck, mới là lý do thật sự cho cuộc tranh cãi của họ sáng nay.

Trong những năm qua, cô đã chứng kiến tất cả, từ việc nói nhịu tại bữa ăn tối hoặc một bữa tiệc thịt nướng tới việc say xỉn và lăn ra bất tỉnh trên sàn phòng ngủ của họ. Thế nhưng vì anh được nhiều người coi là một nha sĩ tuyệt vời, hiếm khi bỏ việc, và luôn luôn thanh toán các hóa đơn, nên anh không nghĩ là mình có vấn đề. Vì anh không trở nên hung hăng hay bạo lực, nên anh nghĩ mình không có vấn đề gì cả. Vì thường thường anh chỉ uống mỗi bia nên đó không thể là một vấn đề được.

Nhưng đó là một vấn đề, vì anh đã dần dần trở thành một người mà cô không thể tin rằng đó là chồng mình. Cô không thể đếm xuể số lần mình đã phải bật khóc vì điều đó, phải nói chuyện với anh về nó, khuyên nhủ anh hãy nghĩ đến bọn trẻ, van xin anh tham dự một vài khóa tư vấn để tìm giải pháp, hay nổi giận vì sự ích kỷ của anh. Cô đã từng lạnh nhạt với anh trong nhiều ngày, buộc anh phải ngủ trong phòng dành cho khách hàng tuần liền, và cô cũng đã thiết tha cầu nguyện. Mỗi năm độ một lần, Frank cũng để tâm tới lời van xin của cô và dừng lại được một thời gian. Rồi sau một vài tuần, anh lại uống một lon bia trong bữa tối. Chỉ một lon. Và nó không trở thành vấn đề ngay đêm đó. Hay đêm kế tiếp. Nhưng anh đã mở cửa và ác quỷ bước vào, và thói say xỉn sẽ lại vượt khỏi tầm kiểm soát. Và rồi cô sẽ lại tự hỏi mình những câu mà cô từng đặt ra trong quá khứ. Tại sao, khi có nhu cầu uống, anh không thể lờ nó đi. Và tại sao anh lại không chịu thừa thận rằng điều đó đã phá hủy cuộc hôn nhân của họ.

Cô không biết. Cô chỉ biết là mình rất mệt mỏi. Hầu như lúc nào cô cũng cảm thấy mình là người duy nhất đáng tin cậy trong hai vợ chồng để chăm lo cho bọn trẻ. Jared và Lynn có thể đã đủ lớn để lái xe, nhưng chuyện gì sẽ xảy ra nếu một đứa bị tai nạn gì đó trong khi Frank đang say xỉn? Liệu anh có nhảy vào xe, đặt Annette ngồi vào ghế sau và lao đến bệnh viện không? Hoặc nếu có ai đó trong gia đình bị ốm thì sao? Chuyện đó đã từng xảy ra trước đây. Không phải là với bọn trẻ, mà là với cô. Một vài năm trước, sau khi ăn hải sản bị hỏng, Amanda đã nôn hàng giờ trong phòng tắm. Thời điểm đó Jared đã có bằng lái nhưng vẫn chưa được phép lái xe vào ban đêm, và Frank thì lại đang trong cơn say xỉn. Khi cơ thể cô đã gần bị mất nước, Jared đành lái xe đưa cô tới bệnh viện lúc nửa đêm trong khi Frank vạ vật ở ghế sau và vờ như mình tỉnh táo hơn thực tế. Dù đã gần như mê sảng nhưng cô vẫn chú ý thấy ánh mắt Jared liên tục liếc vào gương chiếu hậu, sự thất vọng pha lẫn tức giận hiện bên trên nét mặt nó. Đôi khi cô nghĩ rằng anh đã lấy đi phần lớn sự ngây thơ của Jared đêm đó, khi để nó đối mặt với những thiếu sót khủng khiếp của bố mẹ mình.

Đó là một nỗi căng thẳng thường trực, đầy mệt mỏi và cô đã chán ngấy việc phải lo lắng xem bọn trẻ nghĩ gì hay cảm thấy gì khi chúng nhìn thấy bố mình đi loạng choạng khắp nhà. Hay lo lắng vì Jared và Lynn dường như không còn kính trọng bố chúng nữa. Hay lo lắng rằng trong tương lai, Jared hay Lynn hay Annette có thể bắt đầu bắt chước bố chúng, thường xuyên chạy trốn khó khăn bằng cách chìm trong rượu, thuốc kích thích hoặc Chúa biết là những thứ gì khác nữa, cho đến khi chúng tự hủy hoại cuộc sống của mình.

Cô cũng không tìm được nhiều sự giúp đỡ. Không cần nhờ đến Hội nặc danh nghiện rượu cô cũng hiểu rằng mình không thể làm gì để giúp Frank, trừ phi anh thừa nhận rằng anh có vấn đề và tập trung để cải thiện nó, nếu không anh vẫn là một kẻ nghiện rượu. Và như thế nghĩa là gì? Nghĩa là cô phải đưa ra lựa chọn. Nghĩa là cô phải quyết định liệu có nên tiếp tục chịu đựng hay không. Nghĩa là cô phải lập một danh sách các hậu quả và kiên trì bám vào đó. Về lý thuyết thì dễ, nhưng trong thực tế nó làm cô giận dữ. Nếu anh là người có vấn đề thì tại sao cô lại phải là người chịu trách nhiệm? Và nếu nghiện rượu là một căn bệnh, thì chẳng phải nó có nghĩa là anh cần cô giúp đỡ, hay ít nhất là lòng trung thành của cô sao? Làm sao mà cô - vợ anh, người đã thề sẽ ở bên anh trong lúc ốm đau cũng như khỏe mạnh - lại có thể biện minh cho việc kết thúc cuộc hôn nhân của họ và phá vỡ tổ ấm của mình, sau tất cả mọi chuyện họ đã cùng vượt qua? Cô sẽ là một người mẹ, người vợ nhẫn tâm, hoặc là một người nhu nhược, trong khi tất cả những gì cô thực sự mong muốn là anh trở lại là con người mà cô từng tin tưởng.

Điều đó khiến mỗi ngày trở nên thật khó khăn. Cô không muốn ly dị anh và phá vỡ gia đình. Dù có thể cuộc hôn nhân của họ đã không còn vẹn nguyên, nhưng một phần trong cô vẫn tin vào lời thề hôn nhân. Cô yêu con người anh trước đây, và cô yêu con người mà cô biết anh có thể trở thành, nhưng ở đây, lúc này, khi đứng bên ngoài căn nhà của Tuck Hostetler, cô thấy buồn bã, đơn độc, và cô không thể không tự hỏi làm sao mà cuộc đời mình lại thành ra thế này.

Amanda biết mẹ đang chờ gặp mình, nhưng cô vẫn chưa sẵn sàng đối mặt với bà. Cô cần thêm vài phút nữa, và khi hoàng hôn bắt đầu buông xuống, cô băng qua mảng sân cỏ mọc um tùm để tới cái gara bừa bộn nơi Tuck đã dành thời gian để phục hồi những chiếc xe cổ. Đỗ bên trong là một chiếc Corvette Stingray, cô đoán là kiểu từ những năm 1960. Khi cô lướt tay lên mui xe, thật dễ dàng để tưởng tượng rằng Tuck có thể bước vào gara bất cứ lúc nào, dáng người còng còng của ông nổi bật trên nền mặt trời đang lặn. Ông mặc quần áo lao động nhuốm bẩn, mái tóc muối tiêu lơ thơ, những nếp nhăn trên mặt ông hằn sâu đến rỗi trông gần như là những vết sẹo.

Bất chấp những câu hỏi thăm dò của Frank về Tuck sáng nay, Amanda đã nói rất ít, chỉ mô tả ông là một người bạn cũ của gia đình. Đó không phải là toàn bộ câu chuyện, nhưng cô có thể nói gì khác đây? Thậm chí cả cô cũng phải thừa nhận rằng tình bạn của cô với Tuck là một tình bạn lạ lùng. Cô đã biết ông từ hồi học trung học nhưng chưa từng gặp lại ông cho đến sáu năm trước, khi cô ba mươi sáu tuổi. Khi đó cô trở lại Oriental để thăm mẹ, và trong khi nấn ná nhấm nháp một tách cà phê tại quán Irvin, cô nghe lỏm được một nhóm những người đàn ông lớn tuổi ngồi ở bàn gần đó bàn tán về ông.

“Lão Tuck Hostetler đó vẫn là một tay phù thủy với ô tô, nhưng lão chắc chắn bị điên rồi,” một người trong số họ nói, và bật cười, lắc đầu. “Nói chuyện với người vợ quá cố của lão là một chuyện, nhưng thề thốt rằng lão có thể nghe thấy bà ấy đáp lại thì lại là chuyện khác.”

Bạn ông ta khịt mũi. “Lão luôn là một người kỳ lạ, chắc chắn thế.”

Nghe không có vẻ gì giống như Tuck mà cô từng biết, và sau khi trả tiền tách cà phê, cô vào xe và trở lại con đường đất và tới nhà ông mà cô gần như đã quên mất. Họ đã dành cả buổi chiều ngồi trên những chiếc ghế bập bênh ngoài hàng hiên xập xệ trước nhà, và kể từ đó cô có thói quen ghé qua thăm ông bất cứ khi nào cô về thị trấn. Ban đầu chỉ là một hoặc hai lần một năm - cô không thể chịu được việc đến thăm mẹ cô nhiều hơn thế - nhưng gần đây cô ghé qua Oriental và thăm Tuck ngay cả khi mẹ cô không có ở thị trấn. Thường thì cô nấu cả bữa tối cho ông. Tuck đã già đi nhiều, và dù cô thích tự nhủ lòng rằng mình chỉ đơn giản muốn đến thăm một người bạn lớn tuổi, cả hai người họ đều biết lý do thực sự cho việc ấy.

Theo khía cạnh nào đó, những người đàn ông trong quán ăn đã nói đúng. Tuck đã thay đổi. Ông không còn là người đầy bí ẩn, hầu như chỉ biết im lặng và đôi khi cộc cằn như cô từng nhớ, nhưng ông cũng không bị điên. Ông biết sự khác biệt giữa tưởng tượng và thực tế, và ông biết vợ mình qua đời đã lâu rồi. Nhưng Tuck có khả năng biến điều gì đó thành hiện thực chỉ bằng cách ước rằng nó tồn tại, cô tin là như vậy. Ít nhất là nó có thực với ông. Khi cô hỏi ông về “những cuộc nói chuyện” với người vợ đã khuất, ông trả lời không chút e ngại rằng Clara vẫn còn quanh quẩn đâu đây và sẽ luôn như thế. Ông thú nhận rằng họ không những nói chuyện, mà ông còn nhìn thấy bà ấy nữa.

“Bác đang nói là bác ấy là một hồn ma à?” cô hỏi.

“Không,” ông trả lời. “Bác chỉ nói và bà ấy không muốn bác ở một mình.”

“Bây giờ bác ấy có ở đây không?”

Tuck nhìn chăm chú ra sau. “Bác không nhìn thấy, nhưng có thể nghe thấy tiếng bà ấy nhẩn nha đi lại bên trong ngôi nhà.”

Amanda lắng nghe nhưng không nghe thấy gì khác ngoài tiếng cót két của chiếc ghế bập bênh trên lóp ván sàn. “Khi đó bác ấy có ở quanh bác không? Khi cháu quen bác trước kia ấy?”

Ông hít một hơi dài, và khi cất lời, giọng ông nghe có vẻ mệt mỏi. “Không. Nhưng khi đó bác không cố gắng nhìn thấy bà ấy.”

Có điều gì đó thực sự đáng xúc động, gắn như là lãng mạn, trong niềm tin của ông rằng họ yêu nhau đủ sâu đậm đến mức có thể tìm thấy cách để ở lại bên nhau, ngay cả khi bà đã mất. Ai lại không thấy điều đó lãng mạn cơ chứ? Mọi người đều muốn tin rằng tình yêu vĩnh cửu là có thật. Hồi mười tám tuổi, cô cũng đã từng tin vào điều đó. Nhưng cô biết tình yêu rất rắc rối, cũng giống như cuộc sống vậy. Nó có những bước ngoặt mà người ta không thể dự đoán, thậm chí không thể hiểu được, và để lại đằng sau một chuỗi những tiếc nuối. Và gần như là luôn luôn, những tiếc nuối đó sẽ dẫn đến một loạt các câu hỏi nếu như mà không bao giờ có câu trả lời. Nếu như Bea không chết? Nếu như Frank không thành ra nghiện rượu? Nếu như cô kết hôn với tình yêu đích thực của mình? Nếu vậy cô có nhận ra được người phụ nữ đang nhìn mình trong gương lúc này hay không?

Dựa vào chiếc xe, cô tự hỏi Tuck sẽ nghe gì về những suy tưởng của cô. Tuck, người ăn món trứng và yến mạch tại quán Irvin mỗi sáng và thả đậu phộng rang vào cốc Pepsi ông uống; Tuck, người cứ sống mái ở một ngôi nhà trong gần bảy mươi năm và mới chỉ rời quê nhà đúng một lần khi được gọi nhập ngũ để phục vụ đất nước trong Thế chiến thứ hai. Tuck, người nghe radio và máy quay đĩa thay vì xem ti vi, vì đó là những gì ông thường làm trong suốt mấy chục năm nay. Không giống cô, Tuck dường như đón nhận cái vai trò mà thế giới đã đặt ra cho ông. Cô nhận ra rằng thật sáng suốt khi chấp nhận chuyện đó mà không hề do dự, ngay cả khi cô sẽ không bao giờ có thể đạt được nó.

Tất nhiên, Tuck có Clara, và có lẽ điều đó có liên quan. Họ lấy nhau năm mười bảy tuổi và sống bên nhau bốn mươi hai năm, và khi Tuck nói chuyện với Amanda, cô dần biết được câu chuyện về cuộc đời của họ. Bằng giọng trầm lặng, ông kể với cô về ba lần Clara bị sẩy thai, lần cuối đã dẫn đến biến chứng nghiêm trọng. Theo lời Tuck, khi bác sĩ thông báo rằng Clara sẽ không bao giờ có con được nữa, suốt gần một năm bà đã khóc cho đến khi thiếp đi. Amanda cũng được biết rằng Clara có một vườn rau và bà đã từng chiến thắng cuộc thi của bang xem ai trồng được quả bí ngô lớn nhất, và cô đã thấy dải ruy băng xanh dành cho người thắng cuộc đã phai màu vẫn được nhét sau chiếc gương trong phòng ngủ. Tuck kể với cô rằng sau khi ông mở công việc kinh doanh, họ đã xây một ngôi nhà nhỏ trên mảnh đất nhỏ ở sông Bay gần Vandemere, một thị trấn mà khi đứng cạnh nó thì Oriental trông có vẻ như và một thành phố, và mỗi năm họ ở đó nhiều tuần liền, vì Clara nghĩ đó là nơi đẹp nhất trên thế giới. Ông mô tả điệu bộ của Clara, bà thường ngâm nga theo radio trong khi dọn dẹp nhà cửa, và ông tiết lộ rằng thỉnh thoảng ông thường đưa bà đi khiêu vũ tại quán đồ nướng của Red Lee, một nơi mà Amanda cũng thường đến suốt thời niên thiếu.

Cuối cùng cô kết luận, đó là một cuộc sống có thể coi là chấp nhận được so với nhiều người, một cuộc sống mà sự mãn nguyện và tình yêu có thể được tìm thấy trong từng chi tiết nhỏ nhất giữa đời thường. Đó là một cuộc sống đàng hoàng và danh dự, không phải là không có những nỗi buồn nhưng cũng trọn vẹn theo cái cách mà hiếm người được trải nghiệm. Cô biết Tuck hiểu điều đó hơn ai hết.

“Có Clara ở bên, cuộc sống luôn tốt đẹp,” ông đã từng tổng kết lại thư thế.

Có thể là do tính chất thân mật của những câu chuyện của ông, hoặc có thể do nỗi cô đơn ngày càng tăng của Amanda mà theo thời gian, Tuck cũng đã trở thành bạn tâm tình của cô, điều mà cô không bao giờ có thể đoán trước được Tuck chính là người cô chia sẻ nỗi đau và nỗi buồn về cái chết của Bea, và cũng chính trên hiên nhà ông, cô mới có thể giải phóng cơn thịnh nộ với Frank; chính là với ông, cô đã thú nhận nỗi lo lắng về bọn trẻ, và thậm chí là niềm tin ngày càng lớn của cô rằng dường như cô đã rẽ sai đường ở đâu đó trong cuộc đời mình. Cô chia sẻ với ông những câu chuyện về vô số bậc phụ huynh đau khổ và những đứa trẻ lạc quan đến đáng ngạc nhiên mà cô đã gặp tại Trung tâm Ung thư Nhi, và ông dường như hiểu được rằng cô đã tìm thấy một sự cứu rỗi khi làm việc tại đó, dù chưa bao giờ ông nói ra. Hầu như lúc nào ông cũng chỉ nắm tay cô trong đôi bàn tay xương xẩu, với những ngón tay dính đầy dầu mỡ của ông, xoa dịu cô bằng sự im lặng của mình. Cuối cùng, Tuck Hostetler đã trở thành người bạn thân nhất của cô, và cô bắt đầu cảm thấy ông hiểu cô, hiểu con người thật của cô rõ hơn bất cứ ai trong cuộc sống hiện tại của cô.

Nhưng giờ đây người bạn, người để trút bầu tâm sự của cô đã ra đi. Cô đã bắt đầu thấy nhớ ông, cô lướt nhìn khắp chiếc Stingray, tự hỏi liệu ông có biết đó là chiếc xe cuối cùng mà mình sửa chữa không. Ông không hề nói gì trực tiếp với cô, nhưng nghĩ lại, cô nhận ra rằng có lẽ ông đã ngờ trước sự việc. Trong lần ghé thăm cuối của cô, ông đã đưa cô chìa khóa dự phòng của nhà ông, và nháy mắt nói với cô, “Đừng làm mất nó, nếu không cháu có thể sẽ phải phá cửa sổ mà vào đấy.” Cô đã nhét chìa khóa vào túi mà không nghĩ ngợi gì nhiều vì ông còn nói nhiều điều kỳ quặc khác đêm đó. Cô nhớ mình đã lục lọi tủ đựng đồ ăn tìm cái gì đó để nấu bữa tối trong khi ông ngồi ở bàn, hút một điếu thuốc.

“Cháu thích vang đỏ hay vang trắng?” đột nhiên ông hỏi.

“Còn tùy ạ,” cô đáp, sắp xếp đống đồ hộp. “Đôi khi cháu dùng bữa tối với một ly vang đỏ.”

“Bác có một ít vang đỏ,” ông tuyên bố. “Trên kia, trong ngăn tủ đằng đó.”

Cô quay người lại. “Bác có muốn cháu mở một chai không?”

“Bác không quan tâm nhiều tới nó. Bác chỉ uống Pepsi với đậu phộng thôi.” ông gạt tàn thuốc vào một tách cà phê mẻ. “Bác cũng luôn có thịt bò tươi để làm bít tết. Bác đã dặn người bán thịt mang thịt đến vào mỗi thứ Hai. Chúng ở giá dưới cùng của ngăn đá. Bếp nướng thì ở đằng sau nhà.”

Cô bước một bước về phía tủ lạnh. “Bác có muốn cháu làm cho bác một miếng bít tết không?”

“Không. Bác thường để dành cuối tuần mới ăn.”

Cô ngập ngừng, không chắc chắn chuyện này sẽ dẫn tới đâu. “Vậy là bác chỉ nói cho cháu biết thôi à?”

Thấy ông gật đầu và không nói gì thêm, Amanda cho biểu hiện đó là do tuổi tác và mệt mỏi. Cuối cùng cô làm cho ông món trứng với thịt xông khói và dọn dẹp nhà cửa trong khi Tuck ngồi thư thái trong ghế bành cạnh lò sưởi với một tấm chăn trùm lên vai và nghe đài. Cô không thể không chú ý rằng trông ông thật nhăn nheo, nhỏ bé hơn người mà cô từng biết khi còn là một cô gái rất nhiều. Khi chuẩn bị rời đi, cô chỉnh lại chiếc chăn, nghĩ rằng ông đã ngủ thiếp di. Hơi thở của ông nghe nặng nề và khó nhọc. Cô cúi xuống và hôn nhẹ lên má ông.

“Cháu yêu bác, bác Tuck,” cô thì thầm.

Ông khẽ trở mình, có lã là đang mơ, nhưng khi cô quay người để đi về thì nghe thấy ông thở ra. “Tôi nhớ bà, Clara,” ông lẩm bẩm.

Đó là thững lời cuối cùng mà cô nghe được từ ông. Một nỗi cô đơn nhức nhối toát ra từ những lời đó, và đột nhiên cô hiểu tại sao trước đây Tuck lại tiếp nhận Dawson. Cô đoán là Tuck cũng đã rất cô đơn.

Sau khi gọi Frank để báo cho anh biết rằng cô đã tới nơi - giọng anh nghe đã có vẻ líu nhíu - Amanda ngắt máy bằng vài lời ngắn gọn và tạ ơn Chúa rằng bọn trẻ đã tham gia những hoạt động khác vào cuối tuần này.

Trên bàn thợ, cô tìm bìa kẹp hồ sơ của gara và tự hỏi mình nên làm gì với chiếc xe. Đọc lướt nhanh thấy chiếc Stingray thuộc về một hậu vệ của đội Carolina Hurricanes, cô ghi nhớ trong đầu là sẽ thảo luận vấn đề này với luật sư quản lý bất động sản của Tuck. Đặt bìa kẹp hồ sơ sang một bên, suy nghĩ của cô lại hướng về Dawson. Anh cũng là một phần bí mật của cô. Nói với Frank về Tuck sẽ dẫn đến việc phải nói với anh về Dawson, mà cô không muốn làm thế. Tuck luôn hiểu rằng Dawson là lý do thật sự cô về thăm ông, đặc biệt là lúc ban đầu. Tuck không bận tâm vì hơn ai hết ông hiểu được sức mạnh của ký ức. Có những khi, ánh nắng xuyên qua những tán lá, làm mảnh sân của Tuck như tắm trong màn sương cuối hè, cô gần như có thể cảm nhận được sự hiện diện của Dawson bên cạnh, và cô nhớ ra rằng Tuck không hề bị điên. Giống như bóng ma của Clara, bóng ma của Dawson ở khắp mọi nơi.

Mặc dù cô biết cứ băn khoăn rằng cuộc sống của mình sẽ khác thế nào nếu cô và Dawson vẫn ở bên nhau cũng chỉ vô nghĩa, nhưng thời gian gần đây cô cảm thấy thôi thúc trở về nơi này một cách thường xuyên hơn. Và cô càng về thăm thường xuyên thì ký ức càng trở nên mãnh liệt hơn, những sự kiện và cảm xúc đã bị lãng quên lâu nay lại sống dậy từ sâu thẳm quá khứ ở nơi đây thật dễ dàng để nhớ lại cô đã cảm thấy mạnh mẽ thế nào khi ở bên Dawson, anh đã luôn khiến cô thấy mình là duy nhất và xinh đẹp như thế nào. Cô có thể nhớ lại rõ ràng mình đã chắc chắc Dawson là người duy nhất trên thế giới này thật sự hiểu cô. Nhưng trên tất cả, cô có thể nhớ mình đã yêu anh một cách trọn vẹn thế nào và đáp lại anh cũng yêu cô với niềm đam mê toàn tâm toàn ý ra sao.

Theo cái cách trầm lắng của riêng mình, Dawson đã khiến cô tin rằng mọi chuyện đều có thể. Khi tha thẩn trong cái gara lộn xộn, với mùi xăng dầu vẫn còn vương trong không khí, cô cảm nhận được sự hiện hữu của hàng trăm buổi tối mình đã trải qua ở đây. Cô lướt ngón tay dọc băng ghế mà cô từng ngồi hàng giờ để xem Dawson cúi người trên mui xe chiếc Fastback đang mở, thỉnh thoảng lại vặn cờ lê, móng tay anh đen sì vì dầu mỡ. Ngay cả khi đó, khuôn mặt anh cũng không hề có những nét dễ chịu, trẻ trung vô tư như cô thấy ở những người khác tầm tuổi của họ, và khi những cơ bắp rắn rỏi trên cánh tay anh nổi lên lúc anh với tay lấy một dụng cụ khác, cô có thể thấy cơ thể, thấy hình dáng của người đàn ông mà anh đang dần trở thành. Giống như nhũng người khác ở Oriental, cô biết rằng bố anh vẫn thường xuyên đánh đập anh, và khi anh làm việc mà không mặc áo sơ mi, cô có thể nhìn thấy những vết sẹo trên lưng anh, hiển nhiên là do cái khóa thắt lưng gây ra. Cô không chắc là Dawson có còn nhận biết được sự tồn tại của chúng nữa hay không, điều đó dường như khiến chúng trông càng tệ hơn.

Anh cao và gầy, mái tóc đen rủ trên đôi mắt còn đen hơn, và ngay từ khi đó cô đã biết anh sẽ chỉ càng đẹp trai hơn khi trưởng thành. Trông anh không có vẻ gì giống với những người còn lại trong nhà Cole, và một lần cô đã hỏi anh có phải anh giống mẹ hơn không. Lúc đó, họ đang ngồi trong xe anh trong khi những giọt mưa bắn tung tóe trên kính chắn gió. Giống như Tuck, giọng của anh gần như luôn nhẹ nhàng, thái độ lúc nào cũng điềm tĩnh. “Anh không biết,” anh trả lời, lau sương mù trên kính. “Bố anh đã đốt hết ảnh của mẹ anh.”

Vào cuối mùa hè đầu tiên bên nhau, sau khi mặt trời lặn đã lâu, họ đi xuống bến tàu nhỏ trên nhánh sông. Anh đã nghe được rằng sẽ có mưa sao băng, và sau khi trải một tấm chăn lên lớp ván lát của bến tàu, họ im lặng ngắm những tia sáng vụt qua bầu trời. Cô biết bố mẹ sẽ rất tức giận nếu họ biết cô đang ở đâu, nhưng khi đó không có gì quan trọng bằng những ngôi sao băng và hơi ấm của cơ thể anh, và cái cách mà anh nhẹ nhàng ôm lấy cô, như thể anh không thể tưởng tượng ra được một tương lai không có cô.

Mối tình đầu nào cũng đều như thế chăng? Cô ngờ rằng thế, thậm chí đến tận bây giờ nó vẫn thật hơn bất kỳ điều gì cô từng biết. Đôi khi cô thấy buồn khi nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ được trải qua cảm giác đó lần nữa, nhưng cuộc sống luôn tìm cách đè nén sự mãnh liệt của nỗi đam mê; cô đã học được rất rõ rằng tình yêu không phải lúc nào cũng là đủ.

Thế nhưng, khi nhìn ra khoảng sân phía trước gara, cô không thể không tự hỏi liệu Dawson có cảm thấy niềm đam mê như thế lần nữa không, và liệu anh có hạnh phúc không. Cô muốn tin rằng anh hạnh phúc, nhưng cuộc sống đối với một người từng có tiền án không bao giờ là dễ dàng. Như cô được biết, có thể anh đã lại vào tù, dính vào ma túy hay thậm chí đã chết, nhưng cô không thể chồng khớp những hình ảnh đó với con người mà cô đã từng biết. Đó là một phần của cái lý do khiến cô chưa từng hỏi thăm Tuck về anh; cô sợ điều mà ông có thể sẽ nói với cô, và sự im lặng của ông chỉ càng củng cố thêm những hoài nghi của cô. Cô thích sự không rõ ràng hơn, vì nó cho phép cô nhớ về anh như cô đã từng biết. Dù đôi khi cô tự hỏi anh cảm thấy ra sao khi nghĩ về cái năm mà họ ở bên nhau, hay liệu anh có từng ngỡ ngàng khi nhớ về những gì họ đã cùng chia sẻ, hay thậm chí là liệu anh có nghĩ về cô hay không.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 25 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Cổ đại] Hoàng sủng - Hoa Khai Bất Kết Quả

1 ... 33, 34, 35

2 • [Xuyên không - Cổ xuyên hiện] Ảnh hậu đối mặt hàng ngày - Ngã Yêu Thành Tiên

1 ... 34, 35, 36

[Hiện đại] Hôn nhân ngọt ngào - Đam Nhĩ Man Hoa

1 ... 19, 20, 21

4 • [Hiện đại] Đợi mưa tạnh - Úy Không

1 ... 23, 24, 25

5 • [Quân nhân] Không nghe lời vậy mời xuống giường - Ngô Đồng Tư Ngữ

1 ... 21, 22, 23

6 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 120, 121, 122

7 • [Hiện đại] Hôn nhân giá ngàn vàng - Cẩm Tố Lưu Niên (102/104]

1 ... 176, 177, 178

8 • [Xuyên không] Nịch sủng Chí tôn cuồng phi - Mặc Thập Tứ

1 ... 52, 53, 54

[Cổ đại - Trùng sinh] Trọng sinh cao môn đích nữ - Tần Giản

1 ... 137, 138, 139

10 • [Xuyên không] Nàng phi lười có độc - Nhị Nguyệt Liễu

1 ... 90, 91, 92

11 • [Hiện đại] Ý tưởng ham muốn - Niệm Niệm Bất Xá X

1 ... 23, 24, 25

12 • [Xuyên không] Ma y độc phi - Phong Ảnh Mê Mộng

1 ... 73, 74, 75

13 • [Hiện đại] Ngọt khắc vào tim - Thời Câm

1 ... 29, 30, 31

14 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 244, 245, 246

15 • [Hiện đại - Trùng sinh] Sống lại tại cửa cục dân chính - Bạo Táo Đích Bàng Giải

1 ... 20, 21, 22

16 • [Cổ đại cung đấu] Nhật ký xoay người ở hậu cung - Dạ Chi Dạ

1 ... 43, 44, 45

17 • [Xuyên không] Thú phi thiên hạ Thần y đại tiểu thư - Ngư Tiểu Đồng

1 ... 90, 91, 92

18 • [Cổ đại] Thiên tuế sủng phi - Biện Bạch Anh

1 ... 32, 33, 34

19 • [Cổ đại - Trùng sinh] Nàng phi chuyên sủng của vương gia ngốc - Huyền Nhai Nhất Hồ Trà

1 ... 57, 58, 59

20 • [Hiện đại] Hạnh phúc nhỏ của anh Đông Bôn Tây Cố (Trọn bộ 2 tập)

1 ... 23, 24, 25


Thành viên nổi bật 
Trúc Quỳnh
Trúc Quỳnh
susublue
susublue
yentula
yentula

Shop - Đấu giá: Mai Tuyết Vân vừa đặt giá 279 điểm để mua Bé mua sắm
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 1820 điểm để mua Bé trà
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 966 điểm để mua Thần nước
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 1492 điểm để mua Nữ hoàng 2
Shop - Đấu giá: Độc Bá Thiên vừa đặt giá 1420 điểm để mua Nữ hoàng 2
Shop - Đấu giá: Snow cầm thú HD vừa đặt giá 279 điểm để mua Bánh mì kẹp và ly coca
Shop - Đấu giá: mèo suni vừa đặt giá 295 điểm để mua Mèo con khóc nhè
Shop - Đấu giá: Mai Tuyết Vân vừa đặt giá 1351 điểm để mua Nữ hoàng 2
Đường Thất Công Tử: Re: 12 cung hoàng đạo và 12 con giáp
Shop - Đấu giá: Độc Bá Thiên vừa đặt giá 1285 điểm để mua Nữ hoàng 2
Shop - Đấu giá: Mai Tuyết Vân vừa đặt giá 1222 điểm để mua Nữ hoàng 2
Shop - Đấu giá: Độc Bá Thiên vừa đặt giá 1732 điểm để mua Bé trà
Shop - Đấu giá: Độc Bá Thiên vừa đặt giá 1162 điểm để mua Nữ hoàng 2
Shop - Đấu giá: Hoa Trà Mi vừa đặt giá 919 điểm để mua Thần nước
Shop - Đấu giá: Mai Tuyết Vân vừa đặt giá 1105 điểm để mua Nữ hoàng 2
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 264 điểm để mua Bánh mì kẹp và ly coca
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 874 điểm để mua Thần nước
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 1051 điểm để mua Nữ hoàng 2
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 1648 điểm để mua Bé trà
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 264 điểm để mua Bé mua sắm
LogOut Bomb: Âu Dương Ngọc Lam -> marialoan
Shop - Đấu giá: Lãng Nhược Y vừa đặt giá 813 điểm để mua Bướm Hồng Vàng
Nguyệt Hoa Dạ Tuyết: Bấm vào profile nick mình - -> Ấn chữ Điểm nó sẽ hiện ra khung, trên cùng là chỗ tặng điểm
Shop - Đấu giá: Melodysoyani vừa đặt giá 250 điểm để mua Bé mua sắm
ThiểnThiển: Tặng điểm kiểu gì mn, quên cách làm rồi Hulu
Shop - Đấu giá: Snow cầm thú HD vừa đặt giá 250 điểm để mua Bánh mì kẹp và ly coca
Shop - Đấu giá: Vivi3010 vừa đặt giá 664 điểm để mua Only You
Shop - Đấu giá: Tiểu Ly Ly vừa đặt giá 631 điểm để mua Only You
Shop - Đấu giá: Vivi3010 vừa đặt giá 600 điểm để mua Only You
Shop - Đấu giá: Tiểu Ly Ly vừa đặt giá 488 điểm để mua Only You

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.