Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 4 bài ] 

Truyện Ngắn Ernest Hemingway - Ernest Hemingway

 
Có bài mới 18.12.2017, 22:07
Hình đại diện của thành viên
☆~ Số 15 ca ~☆
☆~ Số 15 ca ~☆
 
Ngày tham gia: 14.10.2015, 23:36
Bài viết: 2806
Được thanks: 2036 lần
Điểm: 7.36
Tài sản riêng:
Có bài mới [Tập truyện ngắn] Truyện Ngắn Ernest Hemingway - Ernest Hemingway - Điểm: 10
Truyện Ngắn Ernest Hemingway - Ernest Hemingway

images

NXB Văn học

Dịch: Lê Huy Bắc

Nguồn: vietnamese book

Lời giới thiệu

Dễ nhận thấy trong cuộc đời sáng tác của Hemingway là số lượng tác phẩm không nhiều. Ông chỉ có khoảng 100 truyện ngắn, 8 tiểu thuyết và vài tác phẩm tùy bút, hồi ký và một tập thơ 88 bài. Thế nhưng nét độc đáo của Hemingway lại cũng xuất hiện ở chính điểm ngỡ như hạn chế này. Từ một vài truyện ngắn trùng lặp với tiểu thuyết (Sự trở về cứa thương gia, Câu chuyên Châu Phi), các tác phẩm thuộc thể loại này có cùng đặc điểm chung là phong phú đa dạng, cô đọng và hàm súc.

Truyện ngắn Hemingway về kích thước tuy có khác nhau, có truyện chưa tới 500 chữ (Một bạn đọc viết) và có truyện lại dài hơn 12.000 chữ (Cuộc đời hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber), nhưng tự thân chúng là những thế giới nghệ thuật riêng biệt, sinh động trong hướng quy tụ theo nguyên lý Tảng băng trôi.

Ngoại lệ và cũng rất đặc biệt trong truyện ngắn Hemingway là mảng viết về Nick Adams. Đây là nhân vật trung tâm xuyên suốt 15 truyện. Nhưng dẫu chỉ là Nick, dẫu chỉ là điểm tập trung những tư tưởng thẩm mỹ chính của một hay tất cả ngần ấy truyền viết về Nick, thì không vì thế mà các truyện đó lại chỉ cùng chung một nét thi pháp. Có truyện Nick chỉ xuất hiện thoảng qua (Trại người Da Đỏ, Bác sĩ và vợ Bác sĩ) có truyện Nick xuất hiện từ đầu đến cuối (Sông lớn hai lòng, Nơi tốt lành cuối cùng, Người mùa hạ...).

Còn về chủng loại của chúng? Ta có thể gặp ở thế giới     truyện ngắn Hemingway nhiều tác phẩm xuất sắc, đại diện cho nhiều phong cách truyện ngắn hiện đại: Truyện ngắn Dòng ý thức (Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro, Con đường bạn sẽ chẳng hề theo...), truyện ngắn thư (Một bạn đọc viết), truyện ngắn kịch (Hôm nay thứ sáu), truyện ngắn mi ni (Truyện rất ngắn), ngụ ngôn hiện đại (Chú bò thủy chung) truyện ngắn triết lý (Một nơi sạch sẽ và sáng sủa, Con người của thế giới...) truyện ngắn theo trường phái minimalism - phản ánh những chuyện nhỏ nhặt của đời thường bằng bút pháp giản dị hóa tối đa (Rặng đồi tựa đàn voi trắng, Con mèo trong mưa)...

Hoặc giả ta có thể chia truyện ngắn Hemingway theo các mảng đề tài câu cá, đấu bò, đấm bốc, chiến tranh, tình yêu, du ngoạn... Dầu chia theo cách nào chăng nữa thì ta cũng thấy được tính năng động trong cây bút tự sự Hemingway. Điều này chứng tỏ Hemingway luôn là người phấn đấu cho một nền truyện ngắn đa diện mạo. Tuy nhiên, không phải truyện ngắn nào do ông viết ra cũng đều thành công.

Như chúng ta đã biết, bản thân việc viết về bao nhiêu đề tài hay vận dụng bao nhiêu kiểu bút pháp trong sáng tạo thì cũng chưa thể nói lên được tài năng của người cầm bút. Chỉ khi những kỹ thuật được vận dụng ấy nhuần nhuyễn tới mức nào đó thì giá trị thẩm mỹ của nó mới được công nhận. Phần lớn các truyện ngắn của Hemingway đã thực hiện được điều này.

Cách viết ở truyện ngắn Hemingway tuy rất dung dị nhưng sự biến hóa về mặt ngữ nghĩa thì thật khôn lường. Với Hemingway, từ nhan đề, câu mở đầu, diễn biến rồi đến câu kết là những mạch tiếp nối, đứt quãng, rẽ ngang rẽ dọc, đan xen rồi lại tiếp nối. Cứ như thế chúng dồn đến trang cuối, khi câu kết xuất hiện, về nguyên tắc ấy là lúc truyện kết thúc, nhưng các câu kết của Hemingway lại như thể là những khởi đầu. Yếu tố góp phần tạo nên đặc điểm ấy là tính mơ hồ và lối kết mở. Những kẻ giết người kết thúc bằng dự định ra đi của Nick và lời khuyên của George, "tốt hơn là cậu đừng nên nghĩ về nó". Cái kết này, như nhiều truyện kể về Nick, đã gợi nên không gian tồn tại khác của Nick trong truyện tiếp theo, đã "đề nghị" cách đọc "liên văn bản" trong truyện ngắn Hemingway nói chung và mảng viết về Nick nói riêng. Như thế     chúng vừa là "truyên ngắn" và cũng như thể là những phần tách rời từ một cuốn tiểu thuyết. Đọc Kết thúc của một vấn đề độc giả sẽ chẳng thể nào hiểu rõ vấn đề ấy là gì, nhưng qua câu chuyện tiếp theo (Cơn gió ba ngày) thì chúng ta mới biết là chuyện tình tan vỡ giữa Nick và Marjorie. Tương tự ta cũng khó có thể biết lý do vì sao chàng trai trong Biển đổi thay (còn có thể dịch là Đổi thay lớn) lại dọa giết một cô gái; thế rồi qua nhiều truyện ngắn khác (kể cả tiểu thuyết) ta mới biết được lời kết tội băng hoại đạo đức của chàng trai dành cho cô gái là tại nàng đã bỏ chàng để đi theo... một cô gái khác. Nàng là người đồng tình luyến ái.

Đoạn kết hay chính xác hơn là những câu kết trong truyện ngắn Hemingway là cực kỳ quan trọng. Có khi chúng là điểm nút để gợi tư tưởng chủ đề của các tác phẩm. Có khi bản thân chúng đã gói trọn tư tưởng chủ đề. Câu kết trong Con người của thế giới, Trại người Da Đỏ, Cuộc đời hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber... sẽ cho thấy điều này. Cuộc đời hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber kết thúc bằng lời cầu xin của Margot và câu đồng ý im lặng của Wilson. Trước đó suốt cả tác phẩm, trước hai người đàn ông, một là chồng và một là tay thợ săn được mướn, chưa bao giờ Margot chịu hạ giọng. Nhưng lúc Macomber lấy lại can đảm rồi chết, Wilson trách móc; Margot mới xuống giọng cầu xin. Vậy nên bi kịch ở đây đâu chỉ là bi kịch của riêng anh chồng đáng thương, luôn bị vợ cắm sừng ấy mà còn là bi kịch của cả Margot lẫn Wilson. Chung quy lại, "cuộc đời hạnh phúc ngắn ngủi" ấy là cuộc đời của cả ba nhân vật. Họ đứng so le bên nhau: một ông chồng sợ vợ, một người làm thuê lại can đảm hơn ông chủ và ngủ với vợ chủ, rồi người chồng chợt ý thức được vai trò của mình... nên cái chết là kết cục dễ hiểu cho tình huống ấy.

Các tình tiết của câu chuyên luôn gợi trong độc giả ý tưởng giá mà... Nhưng bản thân độc giả, nhân vật và cả tác giả cũng không thể cưỡng lại được mạch phát triển ấy. Như thể đấy là định mệnh, là sự tất yếu của cuộc sống mà sự "lặng im" của Wilson không chỉ là "lặng im" không trách móc, "lặng im" không tố cáo mà còn là "lặng im" bởi sự việc xảy ra quả bất ngờ, không tài nào lý giải.

Với lối kết này, Hemingway đã tạo nên ba tuyến cốt truyện trong tác phẩm. Độc giả có thể "đọc" tác phẩm theo ba tuyến: Macomber, Margot và Wilson. Họ là ba nhân vật trung tâm của tác phẩm. Nói cách khác, đây là hiện tượng "phi trug tâm hóa nhân vật" mà nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra trong tác phẩm văn xuôi tự sự của các nhà văn thế kỷ XIX, XX.

Các câu kết của Hemingway rất khó dịch. Cũng như tiêu đề (nhan đề), khi dịch, dịch giả phải bám vào nội dung tác phẩm để chọn một cách chuyển ngữ tối ưu. Như thế, chắc hẳn chúng đã bị đánh mất đi phần nào giá trị phản ảnh. Tuy nhiên cũng do đặc điểm này và nếu xét từ phương diện khác thì chúng ta sẽ thấy được tính đa nghĩa trong ngôn từ nghệ thuật của Hemingway.

Nhan đề truyện ngắn của ông cũng thể hiện điều đó, chỉ riêng một Soldier’s home không thôi thì ta cũng có thể dịch theo bốn cách: Khi người lính trở về, Người lính trở về, Nhà của lính, Người lính ở nhà; còn The Mother of a queen thì có thể dịch: Mẹ của nữ hoàng, Mẹ của kẻ chơi trội, Mẹ của gã Pê Đê hoặc dịch thoát hơn là Mẹ của thằng bất lương... ứng với mỗi tiêu đề, tác phẩm sẽ có một nội dung phù hợp. Dạng tiêu đề này, kết hợp với tính mơ hồ từ những đoạn kết, chúng càng làm tăng thêm các trường nghĩa cho tác phẩm.

Thông thường, với những nhan đề khó dịch, nội hàm của nó sẽ được xác định qua văn bản. Nhưng với kiểu văn bản mở như của Hemingway thì chúng ta khó có thể nẳm bắt hết được những lớp nghĩa. Chim bạch yến cho ai là truyện tiêu biểu cho phong cách tự sự này. Có một phu nhân Mỹ và đôi vợ chồng Mỹ trên chuyến tàu đến ga Lion. Phu nhân mua chim bạch yến về cho con gái, người rất chán chường bởi bị mẹ cấm không cho lấy chồng Thụy Sĩ. Theo bà ta, đàn ông Mỹ mới thực sự là những ông chồng tử tế đối với các cô gái Mỹ và hạnh phúc mà họ mang lại cho gia đình thì lớn biết nhường nào. Kết thúc hành trình trong lời tán dương không ngớt của phu nhân Mỹ dành cho đàn ông Mỹ, đôi vợ chồng Mỹ kia xuống ga, về nhà thu xếp "mỗi người sống một nơi". Chỉ một câu kết này thôi, Hemingway xứng đáng là một trong những bậc thầy tự sự sử dụng giọng châm biếm. Và thế là, khi đọc lại tiêu đề, hẳn độc giả sẽ tìm cho mình được câu trả lời: chim bạch yến cho ai?

Quả thực, tuy cụ thể xác thực nhưng văn phong của Hemingway lại rất khó nắm bắt ở nét nghĩa đơn nhất. Điều này có nguyên do bởi tại cuộc đời được tái hiện thật kỹ lưỡng, chính xác ấy lại đầy ba động nên điều cụ thể đã hóa mơ hồ: hai hành khách ngồi đợi tàu ở quán giải khát bên cạnh ga, một người đàn ông và một cô gái.

"Lẽ ra chúng ta có thể có tất cả cái kia", nàng nói. "Chúng ta có thể có tất cả nhưng mỗi ngày chúng ta lại khiến nó càng không thể".

"Em nói gì vậy?"

"Em nói chúng ta có thể có mọi thứ".

"Chúng ta có thể có mọi thứ".

"Không, chúng ta không thể"

Cứ thế, họ đối thoại với nhau cho đến hết truyện. Qua đối thoại, ta chỉ biết người đàn ông cố thuyết phục cô gái đi làm phẫu thuật gì đó (có lẽ là phá thai?) nhưng cô gái tỏ ý không chịu. M. Kundera sau khi nêu các giả thiết về nguyên nhân bất hạnh, một vụ ngoại tình, một căn bệnh, thói ích kỷ của người đàn ông, sự đỏng đảnh của cô gái... rồi kết luận: "Không, không có gì là dễ dàng trong cái điều che giấu sau cuộc đối thoại giản dị và tầm thường kia. Bất kỳ người đàn ông nào cũng có thể nói những câu giống tay người Mỹ, bất kỳ người đàn bà nào cũng nói những câu giống như cô gái. Nếu một người đàn ông yêu một người đàn bà hay không yêu chăng nữa, nếu anh ta nói dối hoặc thực lòng, anh cũng vẫn nói như vậy. Cứ như là cuộc đối thoại này đã đợi đây từ thuở sáng thế để được thốt lên lời bởi vô số cặp trai gái, không một mối liên hệ nào với tâm lý riêng của họ". Đây là một trong những nhận định hay nhất về Rặng đồi tựa đàn voi trắng cũng như về đặc trưng đối thoại của Hemingway.

Hemingway rất nổi tiếng về đối thoại. Đối thoại của ông thường rõ về chủ thể, về cấu trúc nhưng lại mơ hồ trong logic hội thoại. Tính nhân quả và sự liên tục giữa chúng thường lỏng lẻo. Hơn nữa ông lại xóa mờ mục đích của đối thoại (về cái gì), nên sức hấp dẫn ở những trang viết ấy thật lớn, chúng đã tạo nên được độ căng của nghệ thuật và buộc độc giả phải tham gia đồng sáng tạo.

Bên cạnh đối thoại, truyện ngắn Hemingway còn sử dụng độc thoại nội tâm và dòng ý thức. Các tác phẩm có loại ngôn từ này thường gán với chủ thể phát ngôn là những con người mang thương tích. Ông Frazer trong Con bạc, bà xơ và radio, Nick trong Con đường bạn sẽ chẳng hề theo, Bồi già trong Một nơi sạch sẽ và sáng sủa... đều "nói" theo kiểu này,

Đến với truyện ngắn Hemingway, ta thấy nổi lên hai mảng đề tài lớn: chiến tranh và quan hệ đời thường. Viết về chiến tranh, Hemingway đứng về phía những người đấu tranh cho lý tưởng tiến bộ. Phát-xít là kẻ thù của ông. Nhưng ông sợ chiến tranh. Điều này đã được phản ánh qua các nhân vật. Chiến tranh là nỗi ám ảnh kinh hoàng lên cuộc sống của nhiều cuộc đời sau cuộc chiến. Từ anh lính trẻ Krebs, Nick đến Enquiry (Tố giác)... đều cho thấy tội lỗi thực sự của cuộc chiến đẫm máu do phe Phát xít gây ra.

Rời khỏi cuộc chiến ấy, người lính của Hemingway mang nhiều thương tích nên trong họ đã dấy lên cảm giác nơm nớp lo sợ về những bất trắc mơ hồ luôn chực đổ ập xuống. Họ chẳng thể nào ngủ được trong đêm khi không có một chút ánh sáng nào đó. Họ đã từng thấy linh hồn mình rời khỏi thể xác rồi nhập về lại như thế nào nên họ không muốn nó rời đi lần nữa. Bi đát hơn, họ chẳng thể nào hòa nhập được vào cộng đồng sau cuộc chiến. Thế rồi du ngoạn, rượu và làm tình lại bị lạm dụng tới mức họ không còn là họ. Họ như thể những hiện hữu, cuồng quay trong xã hội cuồng quay.

Nền văn minh lúc ấy đã có nguy cơ phá sản: Những con người nhạy cảm đó muốn đi tìm một lối thoát cho bản thân, cho cộng đồng. Và họ đã tìm ra bằng cách xác lập những giá trị đạo đức, cách sống của riêng mình và đặc biệt là đề cao sức mạnh tinh thần.

Điều đặc biệt ở Hemingway là dẫu sáng tác của ông xuất hiện nhiều đề tài đến đâu đi chăng nữa thì những đề tài ấy thường là nơi ông dựa vào đề gởi gắm những vấn đề khác. Hemingway là nhà văn nổi tiếng với nhiều tác phẩm viết về chiến tranh nhưng ông ít khai thác trực tiếp vẻ hào hùng hay rùng rợn của nó như nhiều nhà văn khác mà chủ yếu khai thác khả năng chịu đựng của con người. Các đề tài câu cá, đấu bò, đấm bốc...     cũng thường được sử dụng để khai thác yếu tố này. Năm mươi ngàn dollar viết về trận so găng giữa Jack và Walcott nhưng chủ đề của truyện không hoàn toàn hướng vào trận đấu mà chủ yếu hướng vào món tiền cược 50.000 dollar với tình huống trớ trêu là người thua sẽ được bạc. Thế là cả Walcott và Jack tuy không nói ra nhưng đều cố thua. Xét về phong độ thì Jack là người không thể thẳng nổi Walcott nhưng anh lại muốn thua trong danh dự, dự định sẽ phạm luật chứ không chịu chấp nhận bị hạ đo ván. Song lúc Jack chưa kịp thực hiện ý đồ thì Walcott đã ra tay trước, Jack bị đấm vào bụng suýt ngã lăn xuồng sàn. Lúc này, vấn đề không phải là vinh quang của sự chiến thắng mà là tiền, nếu Jack còn đứng vững thì anh sẽ có cơ hội. Rốt cuộc, Walcott quằn quại trên sàn bởi Jack đánh trả vào nơi hẳn đã đánh anh. Jack thua (vì đã phạm luật), nhưng có tiền, còn Walcott thì thành nhà vô địch nhưng lại mất tiền, anh ta là kiểu "người chiến thắng nhận hư vô", theo cách nói của Hemingway.

Từ "đấm bốc", câu chuyện tập trung vào việc cá độ và đã hé mở cho chúng ta thấy một khía cạnh của diện mạo xã hội hiện đại: sự đảo lộn các chân giá trị. Câu chuyện không những là chuyện đấm bốc hay cá độ mà còn là chuyện về sự băng hoại nhân phẩm của con người. Đồng tiền đã tùng tác oai tác quái từ xa xưa nay vẫn giữ nguyên sức mạnh cũ. Nhưng lại phát huy khả năng ở góc độ kín đáo hơn, bỉ ổi hơn.

Có thể nói, tài năng của Hemingway được bộc lộ ở chỗ nói mà không nói, không nói mà lại nói. Những lời đối thoại hay lời kể về cuộc đấu của Jack thì rốt cuộc đâu chỉ còn nói về trận đấu nữa. Và cái "điều không nói": con người sao lọc lừa đến thế? Tinh thần thượng võ đâu cả rồi?... lại gợi lên nhiều vấn đề tiềm ẩn khiến độc giả phải suy ngẫm. Dĩ nhiên bất cứ một tác phẩm thuộc khuynh hướng tả thực xuất sắc nào cũng có thể thực hiện được điều này. Chỉ có khác là Jack của Hemingway không phải là "điển hình", anh chỉ là "tính cách" - thói keo tiền rất Ai Len. Chính đặc điểm này đã làm động lực thúc đẩy, làm nền tảng cho lâu đài chiến thắng của Jack.

Vậy, phải chăng Hemingway đặt vấn đề về bản tính của con người? Có lẽ đúng! Đọc ông, ta thấy nhiều tác phẩm có biểu hiện này. Vậy ra, dẫu trực tiếp hay gián tiếp, dẫu nói bằng giọng châm biếm hay giữ thái độ khách quan lạnh lùng... thì Hemingway cũng đã đặt được vấn đề cảnh tỉnh. Tất nhiên bản tính con người theo Hemingway không chỉ là tình dục, lòng tham, hay hào hoa rởm... mà chủ yếu là nghị lực và ý chí. Nói tóm lại đấy là sức mạnh tinh thần.

Ông dùng nó để làm thước đo xác định sức mạnh của con người. Con người mạnh hơn con thú (bò tót, cá kiếm...) là nhờ nghị lực. Jack thắng được Walcott là nhờ khả năng chịu đựng của mình. Anh bồi già (Một nơi sạch sẽ và sáng sủa). Lại mang Kinh Thánh ra giễu trong một đêm mất ngủ: chào hư vô, ắp ứ hư vô, hư vô cùng Người... Nhờ sức mạnh tinh thần này nên con người của Hemingway mới có khả năng đương đầu với cái xấu.

Tuy nhiên, chính sức mạnh tinh thần ấy lại khiến các nhân vật của Hemingway mất ngủ. Đến đây ta gặp ở họ: một con người nhạy cảm. Từ cái lưỡi của Nick (trong Sông lớn hai lòng) đến ánh mắt của ông chủ khách sạn (trong Con mèo trong mưa) đến "khứu giác cực nhạy" của gã mù Blindy... đã cho thấy, về mặt tố chất họ là những con người có khả năng nhạy cảm. Một khả năng nhạy cảm trong một xã hội đã băng hoại về nhiều phương diện, nên họ tựa những "con bướm" trước "cỗ xe tăng". Kết quả là "con bướm" bị nghiền nát. Kết quả là nếu tồn tại thì những "con bướm" ngây thơ nhạy cảm kia không chừng sẽ hóa thành "những con tê giác" (Ionesco). Và kết quả là nếu cứ tồn tại thì họ cô độc.

Không giống nhiều tác giả hiện đại khác, con người cô độc ở Hemingway gắn với những vết thương. Nói cách khác, chính vì bị tổn thương cả về thể xác lẫn tâm hồn nên họ cô độc. Một ông lão (Một nơi sạch sẽ và sáng sủa) ngồi trong quán cà phê đã từng tự sát hụt. Một ông lão khác, không vợ con, không chịu tản cư mà cứ nấn ná trên đường bởi lo cho bầy gia súc (Ông lão bên chiếc cầu). Nick với cái đầu bị chấn thương trong bộ quân phục Mỹ lạc lõng trên tuyến đầu (Con đường bạn sẽ chẳng hề theo)... Cứ thế, thế giới nghệ thuật của Hemingway dần mở ra: những cô điểm cô độc, những người "đàn ông không đàn bà" (theo cách nói của Hemingway), những em bé chết yểu, chàng trai đến tuổi dậy thì tự thiến (Hỡi quý ông, Chúa ban phước lành cho các bạn)... Họ là những diện mạo bất thường. Và một khi kiểu con người này xuất hiện     thì cả thế giới đạo đức cũ xưa đã vụn vỡ trước nhưng dục vọng xấu xa của con người.

Có hơn mười lăm quốc gia được tái hiện trong truyện ngắn Hemingway và địa danh của chúng thì nhiều vô kể. Đáng chú ý là những địa danh ấy hoặc là núi rừng sông suối hoặc là quán bar, khách sạn... nơi các nhân vật của ông ghé vào (hay tìm đến) trong một chuyến đi câu, đi săn, du ngoạn, trượt tuyết... hay lánh xa vùng đất mà tâm thức đang réo gào sự quay về.

Là con của một bác sĩ (Hemingway sinh 1899), mẹ là người sùng đạo, thưở bé ngoài những lần theo cha đi chữa bệnh cho cư dân trong vùng Oak Park, Illinois, Hemingway còn được cha dạy cho săn bắn. Ông sớm có năng khiếu văn chương nhưng rời trường lúc vừa tốt nghiệp trung học. Đại chiến thế giới lần thứ nhất bùng nổ, Hemingway xin đi lính, nhưng một con mắt bị yếu đã ngăn Hemingway thực hiện ý đồ. Không nản lòng, ông xung phong vào đội lái xe cứu thương trên chiến trường Italy. Một lần trên tuyến trước, Hemingway bị bom vùi nhưng thoát chết. Cảm giác "linh hồn bay đi rồi nhập về lại" ấy đã được ông tái hiện trong Bây giờ tôi nằm nghỉ. Vì hành động này, chính phủ Italy đã trao tặng huy chương cho ông. Với 227 mảnh đạn (con số này có lẽ không chính xác) găm vào người, Hemingway được đưa về tuyến sau điều trị. Tại đây ông đã làm quen và yêu cô y tá tên là Agnes. Hai người nguyện ước lấy nhau. Chàng về Mỹ rồi nàng đi lấy chồng. Chuyện tình giữa anh ta (he) và Luz trong Truyện rất ngắn mang âm hưởng từ mối tình có thực này. Trở về Mỹ, Hemingway đi làm báo, đi xem đấu bò ở Tây Ban Nha, đi săn ở Châu Phi, câu cá trên đại dương, tham gia nội chiến ở Tây Ban Nha chống phát-xít Franco... Thế chiến thứ II bùng nổ, ông đưa con tàu Pilar của mình tham chiến bằng cách do thám tàu ngầm của Đức trên biển. Ông là một trong những người đầu tiên vào giải phóng Paris. Suốt đời, Hemingway hầu như sống ở nước ngoài. Ông là người Mỹ, nhưng bối cảnh Mỹ ít xuất hiện trong sáng tác của ông. Duy chỉ mảng truyện về Nick và vài truyện có liên quan đến miệt Michigan, tựa những ký ức không thể phai mờ trong tâm trí của người xa xứ, vẫn luôn hoài niệm về một vùng thơ ấu, miệt rừng với cá hồi, sóc, chồn và người da đỏ chứ     không phài là chốn thị thành.

Hemingway mất năm 1961 tại Ketchum do tự sát bằng súng săn.

Dấu ấn của Hemingway in đậm lên thế giới nhân vật. Họ là những quãng đời của chính ông hay là những mảng đời mà ông đã từng tiếp xúc. Vậy nên, đến với truyện ngắn Hemingway, ta có thể đọc được nhiều "câu chuyện" trên số lượng con chữ hạn hẹp. Những con chữ thì khô cứng, xác xơ như thân phận của bao người nhưng nó đâu chỉ là nó mà còn là ta và bao diện mạo khác của cuộc đời.

Hà Nội 3-1998


Lê Huy Bắc



Trên miệt Michigan

Jim Gilmore đến Hortons Bay từ Canada. Anh mua lại xưởng rèn của ông lão người Horton. Jim thấp, đen với bộ râu rậm và bàn tay to. Anh là người thợ đóng móng ngựa cừ khôi song hình dáng thì chẳng giống thợ rèn tí nào, dẫu cho anh vận tạp dề da. Anh sống ở tầng trên của xưởng rèn và đi ăn ở nhà hàng của D. J. Smith.

Liz Coates làm ở nhà hàng Smith. Bà Smith, người ưa sạch sẽ, nói rằng Liz Coates là cô hầu bàn chu đáo nhất mà mình từng gặp. Liz có đôi chân đẹp. Cô luôn mang tạp dề sạch bằng vải bông kẻ. Jim Gilmore nhận thấy tóc cô luôn được cặp gọn trên đầu. Anh mến vẻ     mặt của cô bởi nó rất tươi tỉnh nhưng anh chẳng bao giờ mơ tưởng về cô.

Liz rất thích Jim. Cô thích dáng người khi anh đi bộ từ xưởng đến nhà hàng và cô thường đứng ở cửa bếp để dõi nhìn khi anh bước xuống đường. Cô thích bộ râu của anh. Cô thích hàm răng trắng khi anh mỉm miệng cười. Cô thích phong cách chẳng mấy giống thợ rèn của anh. Cô thích vì ông bà Smith cũng rất quý Jim. Ngày nọ cô nhận ra rằng cô thích những sợi lông màu đen trên cánh tay và màu trắng trên làn da rám nắng khi anh rửa tay trong chậu nước bên ngoài nhà hàng. Ý nghĩ ấy khiến cô cảm thấy buồn cười.

Thị trấn Hortons Bay, ngoài cửa hàng tổng hợp và bưu điện có chiếc bình phong giả khá cao trông như thể chiếc xe ngựa đang đỗ phía trước, chỉ có năm ngôi nhà nằm trên trục đường chính từ Boyne City đến Charlevoix: nhà của Smith, nhà của Stroud, của Dillworth, của Horton và nhà của Van Hoosen. Những ngôi nhà đều ẩn trong các     lùm cây du rậm rạp, còn con đường thì ngập trong cát. Đằng kia có một xưởng gỗ và khu lâm nghiệp. Cách đấy một khoảng là nhà thờ của Hội giám lý. Đối điện với nó là trường học của thị trấn. Xưởng rèn sơn màu đỏ, quay mặt về phía ngôi trường.

Con đường cát dốc chạy xuống đồi về phía vịnh xuyên qua cánh rừng. Từ cửa sau của nhà Smith bạn có thể nhìn thấy khu rừng trải dài đến tận hồ và có thể nhìn thẳng qua vịnh. Thiên nhiên rất đẹp vào mùa xuân và mùa hè, mặt vịnh xanh và sáng, mặt hồ thường gọn sóng quanh mỏm đất, mỗi khi có làn gió nhẹ thổi từ Charlevoix vào hồ Michigan. Từ cửa sau của nhà hàng Smith, Liz có thể nhìn thấy những chiếc xà lan chở quặng di chuyển trên mặt hồ về hướng Boyne City. Khi cô nhìn, chúng dường như đứng yên nhưng nếu cô quay vào bếp để nấu vài món rồi quay ra nhìn trở lại thì chúng đã vượt khuất khỏi tầm mắt, qua bên kia mỏm đất.

Bây giờ, suốt cả thời gian, Liz đều nghĩ tới Jim Gilmore. Còn anh thì dường như không để ý nhiều đến cô. Anh nói về công việc ở xưởng với D. J. Smith về Đảng Cộng hòa về James G. Blaine. Vào buổi tối, anh đọc tờ Toledo Blade và Grand Rapids bên ngọn đèn ở căn phòng phía trước, hoặc đốt đuốc đi xiên cá trong vịnh với D. J. Smith. Mùa thu đến, anh, Smith và Charley Wyman chuẩn bị xe ngựa, lều, thực phẩm, rìu, súng trường. Cùng với hai con chó, họ đi đến những cánh rừng thông bên kia Vanderbilt săn hươu. Liz và bà Smith chuẩn bị thức ăn trong vòng bốn ngày cho họ. Liz muốn nấu một món đặc biệt để Jim mang đi nhưng cuối cùng cô không làm được bởi cô sợ hỏi xin bà Smith trứng, bột và sợ nếu có mua những thứ ấy thì rồi bà Smith cũng có thể thấy cô nấu. Bà Smith chẳng khắt khe nhưng Liz sợ.

Suốt cả thời gian Jim đi săn hươu, Liz luôn nghĩ về anh. Mọi việc trở nên tồi tệ khi anh đi xa. Cô không thể ngủ yên khi mãi nhớ về anh và đã phát hiện ra rằng thật là buồn cười khi nghĩ quá nhiều về anh. Nếu bản thân cô được phép thổ lộ thì sự việc hẳn sẽ dễ chịu hơn. Buổi tối, trước lúc đoàn đi săn quay về, cô chẳng chợp mắt được chút nào, chỉ tại cô không nghĩ mình đã ngủ mà nguyên do chỉ vì tất cả được trộn lẫn trong trạng thái mơ màng giữa không muốn ngủ và thực tế không ngủ được. Khi nhìn thấy chiếc xe lăn bánh xuống con đường, cô cảm thấy bồn chồn và nhức nhối. Cô không thể nào chịu đựng nổi cho đến khi nhìn thấy Jim rồi mọi việc dường như ổn định lại khi anh trở về. Chiếc xe đỗ bên ngoài, dưới cây du lớn. Bà Smith và Liz bước ra. Râu của những người đàn ông mọc dài. Có ba con hươu trên thùng xe, chân của chúng thẳng đơ nhô lên trên mép thùng. Bà Smith hôn D. J, ông ghì chặt lấy bà. Jim nói "Chào, Liz" và nhoẻn cười. Liz không biết điều gì sẽ xảy ra khi Jim trở về nhưng cô biết chắc chắn sẽ có chuyện gì đó. Chẳng có gì xảy ra. Cánh đàn ông chỉ vừa về đến nhà, đấy là tất cả. Jim kéo tấm che, Liz nhìn vào. Một trong ba là con hươu đực rất to. Nó đã bị đông cứng và khó có thể nhấc ra khỏi xe.

"Anh hạ nó hả Jim?". Liz hỏi.

"Ừ, không tồi chứ?" Jim vác nó trên lưng mang vào nhà hun khói.

Tối hôm ấy, Charley Wyman ở lại ăn tối với gia đình Smith. Bấy giờ đã quá muộn để anh quay về Charlevoix. Họ tắm, rửa rồi ngồi đợi ở căn phòng phía trước.

"Hãy còn một ít ở trong bình phải không Jimmy?" D. J. Smith hỏi, rồi Jim ra ngoài, đi đến chiếc xe ở trong chuồng ngựa, tìm bình whisky mà họ đã mang theo trong chuyến đi săn. Chiếc bình đựng bốn gallon rượu và hãy còn một ít chưa dùng đến. Jim uống một ngụm lớn trên đường quay vào nhà. Thật khó cho bất kỳ ai khi nâng cái bình lớn như thế để uống. Vài giọt whisky rớt trên vạt trước áo sơ-mi của Jim. Hai người đàn ông mỉm cười khi Jim mang cái bình bước vào D. J Smith bảo Liz đi lấy cốc. D. J rót ra ba cốc lớn.

"Nào xin chúc mừng anh, D. J", Charley Wyman nói.

"Cái con hươu to ấy, Jimmy", D. J nói.

"Và những con chúng ta để sổng", Jim tiếp lời rồi uống cạn cốc của mình.

"Chuyến đi thật tuyệt vời đối với một gã đàn ông".

"Chẳng có gì giống nó, thời gian này trong năm, để giải tỏa nỗi phiền muộn của bạn".

"Ly này là lời giải thích, D. J".

"Hãy đến nhánh sông ấy, các bạn".

"Ly này dành cho năm tới".

Jim bắt đầu cảm thấy hưng phấn. Anh thích mùi vị và cảm giác mà whisky mang lại. Anh vui khi quay về với chiếc giường ngủ thoải mái, thức ăn nóng và xưởng rèn. Anh uống thêm ly nữa. Mấy người đàn ông đi ăn bữa khuya với tâm trạng vui vẻ nhưng xử sự rất đúng mực. Liz ngồi vào bàn sau khi cô dọn xong thức ăn và cùng dùng bữa với gia đình. Đó là một bữa ăn tối ngon lành. Cánh đàn ông ăn rất ngon miệng. Sau bữa ăn, họ quay lại căn phòng phía trước. Liz dọn rửa mọi thứ với bà Smith. Sau đấy bà Smith lên gác, lát sau Smith đi ra và cũng lên gác. Jim và Charley vẫn ngồi ở phòng phía trước. Liz ngồi trong bếp, canh lò sưởi, vờ đọc sách trong lúc nghĩ về Jim. Cô muốn gặp mặt khi anh đi ra, như thế cô sẽ mang theo cái nhìn của Jim lên giường.

Cô đang mải nghĩ về Jim thì Jim bước ra. Mắt anh sáng lên và đầu tóc hơi rối. Liz nhìn xuống cuốn sách. Jim bước đến đằng sau ghế rồi dừng lại. Cô có thể cảm nhận được hơi thở của anh, lát sau anh choàng tay ôm cô. Bầu vú tròn, rắn và núm vú cương cứng dưới bàn tay. Liz hoảng sợ tột độ, chưa một ai đã từng chạm vào người Liz, nhưng Liz nghĩ: "Rốt cuộc chàng đã đến với mình. Chàng thực sự đã đến với mình".

Cô co cứng người lại bởi lẽ quá sợ và không biết phải làm gì. Sau đó Jim ghì chặt cô vào ghế rồi ghé môi hôn. Nụ hôn sắc nhọn, đau nhức, vật vã đến nỗi cô nghĩ mình không thể nào chịu được. Cô cảm nhận Jim qua mặt sau của chiếc ghế, cô không thể chịu đụng được điều đó và rồi có cái gì đấy đang trỗi lên trong nguời cô, cảm giác của cô trở nên ấm áp và mềm mại hơn. Jim giữ chặt cô vào ghế và bây giờ cô muốn chuyện ấy và Jim thì thào, "Ra ngoài một lát".

Liz nhấc áo khoác khỏi cái móc trên tường bếp rồi họ bước ra. Jim vòng tay quay người cô rồi cứ vài bước, họ dừng lại ôm chặt nhau. Jim hôn cô. Đêm không trăng, họ thả bộ, ngập chân trên con đường cát, xuyên qua rừng, đi xuống cảng, về phía nhà kho trên bờ vịnh. Nước đang vỗ vào những chiếc cọc, còn mỏm đất thì đen sẫm vắt ra     vịnh. Trời lạnh song người Liz bừng nóng khi đi cạnh Jim. Họ ngồi xuống bên dưới mái che của nhà kho rồi Jim kéo Liz lại gần mình. Cô hoảng sợ. Một tay Jim đã ở bên trong áo Liz và đang vuốt ve bầu vú, còn bàn tay kia thì đã lần vào trong vạt váy. Liz rất kinh hoảng và chẳng thể hình dung anh sẽ làm chuyện ấy như thế nào nhưng cô vẫn xích lại gần anh hơn. Lát sau, bàn tay được cảm nhận quá lớn trong váy Liz bò đi. Nó trườn lên đùi và dấn cao hơn.

"Đừng Jim", Liz nói. Jim đẩy bàn tay lên cao hơn.

"Anh không được, Jim. Anh không được". Cả Jim lẫn bàn tay to của Jim chẳng nghe lời Liz tí nào.

Những tấm gỗ lát sàn rất cứng. Jim cởi áo cô và đang cố làm điều gì đó. Liz sợ nhưng Liz muốn chuyện ấy. Liz phải biết chuyện ấy nhưng nó khiến Liz sợ.

"Anh đừng làm điều đó, Jim. Anh đừng".

"Anh phải. Anh sẽ. Em biết chúng ta phải".

"Không, chúng ta không phải, Jim. Chúng ta sẽ không phải. Ôi, nó không hợp. Ôi, nó quá lớn và sẽ làm xây xát". Liz đẩy anh ra, cô quá khó chịu và gò bó. Jim đã ngủ. Anh không cử động. Cô xoay xở trườn ra từ bên dưới anh, ngồi dậy, vuốt vạt váy và áo khoác rồi vén lại tóc. Jim đang ngủ, miệng hơi há. Liz cúi xuống hôn lên má. Anh vẫn ngủ say. Cô khẽ nâng đầu anh và lắc. Anh nghẹo đầu sang bên và nuốt nước bọt. Liz bật khóc. Cô đi đến đầu mép cầu tàu, nhìn xuống nước. Mù đang dâng từ phía vịnh. Cô lạnh, đau khổ và mọi ham muốn đã tan biến. Cô quay lại nơi Jim nằm, cố đánh thức một lần nữa. Cô thổn thức.

"Jim", cô gọi, "Jim. Này, Jim".

Jim trở mình rồi cuộn chặt người hơn. Liz cởi áo khoác cúi xuống đắp lên người anh. Cô cẩn thận chèn nó gọn gàng. Sau đó cô đi qua cầu tàu, lên con đường cát, về giường. Đám mù lạnh đang lan tỏa, tràn qua khu rừng từ phía vịnh.




Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Xin ủng hộ:  
      
     

Có bài mới 18.12.2017, 22:09
Hình đại diện của thành viên
☆~ Số 15 ca ~☆
☆~ Số 15 ca ~☆
 
Ngày tham gia: 14.10.2015, 23:36
Bài viết: 2806
Được thanks: 2036 lần
Điểm: 7.36
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tập truyện ngắn] Truyện Ngắn Ernest Hemingway - Ernest Hemingway - Điểm: 10
Ông già tôi

Bây giờ, lúc đang ngắm nhìn, tôi nghĩ ông già tôi được sinh ra để làm một người béo, một trong những người béo bình thường hơi tròn mà bạn thường gặp, nhưng chắc chắn ông chẳng bao giờ béo như thế trừ khoảng thời gian gần đây, và đó không phải là lỗi của ông, ông chỉ sắp cỡi ngựa vượt chướng ngại vật, ông có thể lên cân. Tôi nhớ cách ông tròng chiếc sơ-mi cao su ra ngoài hai cái áo chẽn, thêm một chiếc sơ-mi vải bông rộng bên ngoài rồi rủ tôi cùng chạy trong cái nóng của mặt trời buổi sáng. Có lẽ ngay lúc vừa mới từ Torino đi xe ngựa thuê đến vào lúc bốn giờ sáng, ông đã cưỡi được một trong số những con ngựa của Razzo, rồi lúc sương mù hãy còn bao phủ mọi vật, mặt trời vừa mới bắt đầu nhô lên, tôi giúp ông tháo ủng, ông đi đôi giày vải và vận những cái áo ấy rồi chúng tôi lên đường.

"Đi thôi, nhóc", ông nói lúc đang nhón chân đi tới đi lui phía trước căn phòng của nài ngựa, "chúng ta đi thôi".

Một dạo, có lẽ sau khi chúng tôi chạy quanh sân quần ngựa, ông chạy trước, nhẹ nhàng; rồi rẽ ra cổng, chạy theo một trong những con đường được trồng cây hai bên trải dài đến tận San Siro. Tôi vượt qua ông khi chúng tôi ra đến đường, tôi có thể chạy rất giỏi rồi khi nhìn lại, tôi thấy ông nhẹ nhàng bám sát và lát sau, nhìn lại, tôi thấy ông bắt đầu đổ mồ hôi. Mồ hôi đổ ròng ròng nhưng ông vẫn tiếp tục chạy, mắt nhìn vào lưng tôi, còn khi bắt gặp ánh mắt tôi đang nhìn, ông cười và nói, "Đổ mồ hôi nhiều chứ?". Khi ông già tôi cười, không ai có thể nín cười được. Chúng tôi tiếp tục chạy thẳng về phía núi và khi đó ông già tôi gọi, "Này, Joe!" tôi ngoái lại, thấy ông đã ngồi dưới bóng cây, cái khăn quấn quanh hông đã được quàng lên cổ.

Tôi bước lại ngồi xuống cạnh ông, ông rút trong túi ra sợi dây rồi bắt đầu nhảy trong ánh nắng, mồ hôi tuôn xuống mặt ông, sợi dây đang nhảy chìm trong đám bụi trắng, phát lên âm thanh xạch, xạch, xạch, xạch, xạch; mặt trời nóng hơn, ông nhảy hăng hơn, nhấp nhô trên đoạn đường. Quả thật thú vị khi trông ông nhảy. Ông có thể vung dây nhanh hoặc kìm chậm rất điêu luyện. Phải nói, bạn nên chứng kiến cảnh mấy người Italy, đang đi bộ vào thành phố bên cạnh chiếc xe do mấy chú ngựa non màu trắng kéo đến gần, thỉnh thoảng nhìn chúng tôi. Cái nhìn của họ như thể họ nghĩ ông già là một kẻ gàn. Ông vẫn tiếp tục nhảy vù vù trong lúc họ dừng hẳn để xem rồi thúc gậy, hét lũ ngựa đi tiếp.

Khi ngồi nhìn ông nhảy trong ánh mặt trời nóng bức, tôi rất tự hào về ông. Ông rất vui nhộn, luyện tập chăm chỉ, kết thúc buổi tập với bài nhảy dây như thường lệ, làm mồ hôi chảy ròng ròng trên mặt; vắt sợi dây vào cây, ông bước đến ngồi xuống cạnh tôi rồi, quấn một cái áo cùng với cái khăn quanh cổ, tựa lưng vào thân cây.

"Làm nó giảm khó quá, Joe à", ông nói lúc tựa người ra sau, nhắm mắt và hít sâu vào, "không giống như khi người ta còn trẻ". Khi hồi sức, ông đứng dậy, chúng tôi chạy về trại ngựa. Đấy là cách làm để sút cân. Lúc nào ông cũng lo. Đa số nài ngựa có thể làm giảm trọng lượng đến mức họ muốn. Mỗi lần đua, một nài ngựa sút khoảng một kilo, nhưng ông già tôi không giống họ và nếu không tập thì ông chẳng thể giảm đi kilo nào.

Tôi nhớ dạo ở San Siro, Regoli, một gã người Italy nhỏ con, đang cỡi đua cho Buzuni, băng qua bãi quây ngựa về phía quán bar để kiếm một ly nước mát, gã vung roi quất vào ủng sau khi cân; ông già tôi cũng vừa mới cân xong, cầm yên ngựa bước ra, mặt ông đỏ bừng, có vẻ mỏi mệt vì cơ thể quá béo dưới lần áo lụa; ông đứng đó nhìn gã Regoli trẻ tuổi đang đứng cạnh quầy rượu ngoài trời, trông tươi tắn và có vẻ con nít, tôi hỏi, "Có chuyện gì vậy hả cha?" bởi lẽ tôi nghĩ chắc Regoli đã gây sự với ông hay làm điều gì đại loại như thế, nhưng ông chỉ nhìn Regoli và nói, "Ồ, quỷ tha ma bắt nó đi", rồi     đi vào phòng thay đồ.

Quả thực, chắc mọi chuyện sẽ êm đẹp nếu chúng tôi ở lại Milan và đua ở Milan và Torino, bởi lẽ nếu có những trường đua dễ thì hai nơi đó đáp ứng yêu cầu ấy. "Pianola, Joe", ông già tôi nói khi xuống ngựa trong ngăn dành cho người thắng cuộc sau chặng đua mà người Italy là gọi cuộc chạy vượt rào kinh hoàng. Dạo nọ tôi đã hỏi ông. "Joe, kiểu đua này không đáng ngại. Chỉ có tốc độ người ta cần để vượt hàng rào mới nguy hiểm. Ở đây chúng ta không cần tốc độ và chuớng ngại vật thì rõ ràng là không tồi. Nhưng cuộc đua thì luôn cần tốc độ     - không chỉ để vượt qua hàng rào - điều ấy mới là nguy hiểm".

San Siro là trường đua tuyệt vời nhất mà tôi đã từng chứng kiến nhưng ông già tôi bảo nơi này khổ như chó. Suốt cả tuần, ngày nào chúng tôi cũng đua tới lui giữa Marafion và San Siro rồi cứ cách hai đêm lại phải đi xe lửa.

Tôi cũng phát rồ lên vì ngựa. Có cái gì tiềm ẩn trong chúng mỗi khi chúng lao ra, phi theo lối đua về vị trí xuất phát. Trông chúng có vẻ nhún nhảy, gồng cứng người bởi bị anh nài giữ chặt rồi có lẽ buông chùng tay một tí để chúng hơi dấn lên. Rồi khi chúng đứng xếp vào sau sợi dây chắn, tôi cảm thấy hồi hộp hơn bất kỳ chuyện gì khác. Đặc biệt là ở San Siro, nơi có trường đua rộng, cỏ xanh rờn, núi ở đằng xa và có một người to béo ra hiệu xuất phát bằng cây roi lớn của mình rồi mấy tay nài làm chúng bồn chồn; khi sợi dây đứt phựt, tiếng chuông tắt, cả đoàn lao ra thành một mớ bùng nhùng rồi bắt đầu bứt vượt lên. Bạn hẳn biết cách cả đàn ngựa khởi hành. Nếu là đứng trên bệ, nhìn qua ống nhòm, điều bạn thấy là những vó ngựa phi tới rồi khi tiếng chuông ngưng, nghe như thể đã vang suốt thời gian dài, chúng đã vòng qua khúc quanh. Đối với tôi chẳng có cảnh tượng nào có thể sánh bằng.

Nhưng ngày nọ, trong phòng thay đồ, lúc đang vận quần áo đi đường vào, ông già tôi nói, "chẳng có cái giống nào trong số ấy là ngựa cả, Joe. Ở Pari người ta hẳn sẽ thịt cả đàn nghẽo ấy để lấy da và móng". Đấy là ngày ông đoạt giải cuộc đua Tremió Commercio với con Lantoma lao vút trên một trăm mét cuối của trường đua giống

như một cái nút bật ra khỏi chai.

Ngay sau giải Premio Commercio, chúng tôi thu xếp rời Italy. Ông già tôi, Holbrook và một gã Italy béo ự đội mũ rơm và lau mặt bằng khăn tay đã cãi nhau bên bàn ở Galleria. Mọi người dùng tiếng Pháp, hai gã kia đang truy ông già tôi về chuyện gì đó. Cuối cùng ông không nói gì nữa, chỉ ngồi nhìn Holbrook, nhưng hai gã kia vẫn tiếp tục nói với ông, thoạt tiên là gã này sau đó là gã khác; gã người Italy béo ự luôn ngắt lời Holbrook.

"Con ra ngoài mua hộ cha tờ Sportsman đi Joe?" ông già tôi nói và đưa cho tôi hai đồng soldi mà không rời mắt khỏi Holbrook.

Thế là tôi rời Galleria đi đến trước Scala mua tờ báo rồi quay lại, đứng hơi xa bởi không muốn làm gián đoạn cuộc nói chuyện; ông già tôi ngồi tựa lưng vào ghế, nhìn tách cà phê và nghịch cái muỗng; Holbrook và gã Italy béo ự đang đứng, gã béo lau mặt và lắc đầu. Khi tôi bước đến, ông già tôi xử sự như thể hai gã kia không có mặt ở đó, ông nói, "Ăn kem không, Joe?" Holbrook nhìn xuống ông già tôi rồi hạ giọng nói chậm rãi, "Đồ chó đẻ" rồi gã và gã béo lách qua mấy cái bàn bước ra.

Ông già tôi ngồi đó cố mỉm cười với tôi nhưng mặt ông trắng bệch, trông ông thật khổ sở, tôi đâm hoảng và cảm thấy trong lòng nhức nhối bởi biết điều gì đó đã xảy ra; tôi chưa từng thấy ai đó dám bảo ông già tôi là đồ chó đẻ rồi có thể bỏ đi. Ông già tôi giở tờ Sportsman, đọc mục những cuộc thi đấu có chấm điểm một lúc rồi nói, "Joe à, rồi con sẽ phải chịu vô vàn chuyện đắng cay trên thế gian này". Ba ngày sau, chúng tôi dứt khoát rời Milan trên chuyến tàu từ Turin đến Paris sau khi bán đấu giá tất cả mọi thứ không thể nhét vào rương hay valy ngay trước lò đua Turner.

Chúng tôi đến Paris vào lúc sáng sớm, tàu đỗ lại một cái ga bẩn và dài, ông già tôi bảo đấy là ga Lion. So với Milan, Paris là một thành phố cực lớn. Nhưng ở Milan, mọi người dường như đi về một nơi nào đó và tất cả xe điện cũng chạy về hướng nào đó, còn Paris thì bát nháo cả lên mà người ta cũng chẳng thèm điều chỉnh nó lại. Nhưng dẫu sao thì, phải nói là tôi thích nó bởi lẽ đây là nơi có nhiều trường đua ngựa tốt nhất thế giới. Đấy có lẽ là điều đã khiến thành phố sôi động, và điều duy nhất mà bạn có thể quan tâm là mỗi ngày xe buýt sẽ chạy đến bất cứ trường đua nào có tổ chức đua, chạy vượt qua mọi thứ để đến đó. Thực ra tôi chưa biết nhiều về Paris, bởi lẽ từ Maisons, cùng với ông già, tôi chỉ đến đó một hai lần trong tuần, ông luôn ngồi ở Cafe de la Paix bên phía Opera với mấy người bạn đến từ Maisons, tôi nghĩ đấy là một trong những khu nhộn nhịp nhất của thành phố. Nhưng phải nói quả thật là buồn cười bởi một thành phố lớn như Paris mà lại không có lấy một Galleria, phải không?

Rồi, chúng tôi đến sống ở Maisons-Lafitte, nơi mọi người cùng sống, trừ nhóm ở Chantilly, trong khu nhà trọ của một bà Meyers nào đó. Maisons là nơi tuyệt vời nhất để sống mà tôi đã từng trải qua trong đời. Thành phố thì chẳng có gì đáng kể lắm, nhưng ở đó có một cái hồ và một khu rừng đẹp tuyệt, nơi chúng tôi thường lang thang suốt cả ngày, tôi cùng mấy đứa bạn; ông già tôi làm cho tôi cái ná, chúng tôi bắn được nhiều thứ bằng cái ná ấy nhưng món cừ nhất là một chú ác là. Ngày nọ, Young Dick Atkinson dùng ná hạ được một con thỏ, chúng tôi đặt nó vào dưới tán cây rồi cả bọn ngồi vòng quanh, Dick hút thuốc rồi bỗng nhiên, con thỏ nhảy lên lao vào bụi, chúng tôi đuổi theo nhưng chẳng thể nào tìm thấy. Chà, ở Maisons chúng tôi rất vui. Bà Meyers thường trao bữa trưa cho tôi vào buổi sáng bởi tôi có thể đi suốt cả ngày. Tôi học nói tiếng Pháp khá nhanh. Thứ tiếng ấy thật đễ.

Ngay khi chúng tôi đến Maisons, ông già tôi gởi đơn về Milan xin giấy phép và ông tỏ vẻ bồn chồn cho đến khi giấy được gởi đến. Ông thường ngồi uống ở Cafe de Paris ở Maisons với nhóm bạn; từ trước chiến tranh, lúc còn đua ở Paris ông đã quen nhiều người hiện đang sống ở Maisons và họ có nhiều thời gian để ngồi chơi bời tính chất công việc của lò đua, đối với nài ngựa, công việc sẽ hoàn tất vào lúc chín giờ sáng. Họ đưa nhóm ngựa đầu tiên ra dượt vào lúc năm giờ ba mươi sáng và nhóm thứ hai vào lúc tám giờ. Điều ấy nghĩa là họ sẽ phải thức dậy sớm và phải đi ngủ sớm. Nếu nài ngựa cỡi đua cho một ai đó thì anh ta không thể uống say túy lúy bởi lẽ huấn luyện viên luôn trông chừng nếu như anh ta còn trẻ; nhưng nếu anh ta không     còn trẻ thì anh ta phải tự mình kiềm chế. Thế là khi nài ngựa không luyện tập thì anh ta ngồi ở Cafe de la Paris uống với bạn bè; họ có thể ngồi hai ba tiếng đồng hồ nhâm nhi cốc vang Vermouth hoặc Seitz; trò chuyện hoặc kể cho nhau nghe câu chuyện gì đấy hoặc chơi pool; lối sinh hoạt đó tựa như ở một câu lạc bộ hay tựa Galleria ở Milan. Chỉ có một điểm không giống Galleria bởi vì ở đó mọi người cứ đi tới đi lui còn ở đây thì mọi người ngồi bên bàn.

À, ông già tôi đã nhận được giấy phép. Họ gởi nó đến mà không ghi kèm lời nào và ông đã tham gia đua vài bận. Những cuộc đua nhỏ, nhưng dường như ông không kiếm được hợp đồng thuê đua nào cả. Mọi người đều quý ông, hễ bất cứ lúc nào tôi đến quán Cafe vào buổi sáng thì tôi thấy ông đang uống với ai đó bởi lẽ ông già tôi không keo giống số đông các nài ngựa thuộc thế hệ kiếm được đồng dollar đầu tiên khi tham gia đua ở Hội Chợ Quốc Tế tại St.Louis vào năm một chín không bốn. Đấy là cách ông già tôi nói để trêu George Burns. Nhưng mọi người như thể tránh không muốn để ông già tôi dự đua.

Hằng ngày, đáp ô-tô từ Maisons, chúng tôi đi đến bất cứ nơi nào người ta tổ chức đua, những chuyến đi ấy thật thú vị. Tôi lấy làm mừng khi lũ ngựa từ Deauville quay về và mùa hè đã hết. Thậm chí điều ấy có nghĩa đã chấm dứt những ngày lang thang trong rừng, bởi lẽ chúng tôi phải đến Enghien, Tremblay hoặc St. Cloud để xem các cuộc đua từ trên bệ dành cho huấn luyện viên và nài ngựa. Tôi chắc mình đã học được nhiều về đua ngựa, bằng việc đi với các tay đua ấy và những điều vui vẻ thì ngày nào cũng diễn ra.

Tôi nhớ dạo ở St. Cloud. Đấy là cuộc đua lớn, tiền thưởng là hai trăm ngàn franc với bảy con ngựa tham dự và Kzar là con được hâm mộ. Cùng với ông già, tôi đi vòng quanh bãi quây để xem mấy con ngựa, bạn chưa bao giờ thấy nhiều ngựa như thế đâu. Kzar là con ngựa vàng to lực lưỡng, trông nó như thể được sinh ra để chạy đua. Tôi chưa từng thấy con ngựa nào như nó. Nó được dắt vòng quanh bãi quây, đầu cúi xuống và khi nó đến gần, tôi cảm thấy xôn xao vô cùng bởi vẻ đẹp của nó. Chưa từng có một con ngựa nào tuyệt diệu, săn chắc, có hình dạng đua đẹp như thế. Khi đi vòng quanh bãi quây, nó đặt vó xuống đất nhẹ nhàng thận trọng, đầy tự tin và di chuyển dễ dàng như thể nó biết mình phải đi như thế mà không giật dây cương, chồm vó lên hay trợn mắt dại đi như mấy con ngựa cà khổ bị tiêm thuốc kích thích. Người xem đứng đông nghịt, tôi không thể nhìn rõ nó, trừ mấy cái vó đang di chuyển và mảng da màu vàng, ông già tôi rẽ lối bước ra, tôi bám theo đến phòng thay đồ của nài ngựa phía sau rặng cây, nơi ấy cũng đông nghẹt người, người đàn ông đội mũ quả dưa đứng bên cửa gật đầu chào ông già tôi, chúng tôi vào phòng, mọi người đang ngồi, thay đồ, áo sơ-mi được kéo qua đầu, họ đi ủng vào, căn phòng nóng bức, sặc mùi mồ hôi, dầu xoa bóp, còn bên ngoài đám đông đang nhìn vào.

Ông già tôi đến ngồi xuống bên cạnh George Gardner, người đang vận quần và nói. "Có tin gì không, George?" bằng kiểu giọng bình thường bởi ông chẳng cần phải quan tâm đến xung quanh vì George có thể nói cho ông biết hoặc anh ta không nói.

"Nó không thắng đâu", George nói rất khẽ lúc cúi về phía trước gài nút quần.

"Con nào sẽ" ông già tôi hỏi, dịch sát lại để không ai nghe được.

"Kircubbin", George nói, "Nếu nó thắng thì hãy để dành tôi vài vé".

Ông già tôi nói đôi lời bằng giọng bình thường với George rồi George nói, với vẻ bông đùa, "Đừng có cược vào bất cứ con nào tôi bảo ông", chúng tôi rời phòng, rẽ lối qua đám đông, vượt qua cái máy thu 100 franc. Tôi biết chuyện gì đó bởi George là người cỡi Kzar. Trên đường đi, ông già tôi ghé mua môt tờ phiếu cá độ màu vàng với tỉ lệ cược ban đầu vào Kzar chỉ có 5 ăn 10, Cefisidote tiếp đó là 3 ăn 1, xếp thứ năm trong danh sách là Kircubbin với 8 ăn 1. Ông già tôi đặt năm ngàn franc vào bên thắng của Kircubbin và thêm một ngàn vào chỗ xếp hạng rồi chúng tôi đi vòng ra sau khán đài, lên cầu thang, tìm chỗ theo dõi cuộc đua.

Chúng tôi chen chúc nhau, chật như nêm rồi một người đàn ông vận áo khoác dài, đội mũ xám cao, cầm roi trong tay bước ra trước, lần lượt những con ngựa bước theo, nài ngựa ngồi trên yên, mấy chú bé học nghề nắm cương đi bên cạnh, cả đoàn bước theo sau người đàn ông có tuổi kia. Kzar, con ngựa vàng lực lưỡng đi trước. Thoạt nhìn bạn sẽ ngỡ nó không quá lớn, nhưng khi nhìn độ dài của chân, mình và dáng di chuyển thì bạn sẽ thấy tầm vóc độ sồ của nó. Lạy Chúa, tôi chưa từng thấy một con ngựa nào như thế. George Gardner đang cỡi nó, người và vật di chuyển chậm, sau lưng ông già đội mũ xám cao trông như thể một ông bầu của gánh xiếc. Kế tiếp con Kzar, lưng vàng bước đi uyển chuyển trong ánh nẳng là con ngựa toàn thân màu đen, cái đầu thật đẹp do Tommy Archibald cỡi, bám sát con ô là đoàn năm con ngựa nữa, tiến chậm theo hàng, đi qua khán đài và khu cân nài ngựa. Ông già tôi bảo con ngựa đen là Kircubbin và tôi nhìn kỹ nó, quả đúng là con ngựa đẹp thật nhưng nó không thể sánh với Kzar.

Mọi người hò reo khi Kzar đi ngang qua, nó đúng là một chú ngựa rất cừ. Đoàn diễu hành đi vòng qua phía bên kia trường đua rồi quay trở lại bên này, ông bầu bảo mấy cậu bé học việc lần lượt buông dây cương từng con một để chúng có thể phi nước đại gần khán đài về vị trí xuất phát để mọi người chiêm ngưỡng rõ hơn. Đàn ngựa vừa mới đến điểm xuất phát thì tiếng cồng vang lên, bạn có thể thấy chúng lao vút qua trường dua, dồn đống lại lúc quành qua khúc cua trông như thể mấy con ngựa đồ chơi cũ. Tôi đưa ống nhòm dõi nhìn chúng, Kzar đang chạy phía sau, một con trong đàn bứt lên phía trước. Chúng phi vùn vụt, quành qua khúc cong, vó nện rầm rầm, Kzar vẫn chạy phía sau; khi cả đàn phi qua chỗ chúng tôi, con Kircubbin nhẹ nhàng tung vó dẫn đầu. Trời đất! Quả thật là kỳ diệu khi chúng chạy xa, xa dần, nhỏ dần và nhỏ hơn nữa rồi dồn đống lại qua đoạn đường vòng, vòng qua, tán ra trên các vạch kẻ và ta cảm thấy mồm miệng muốn chửi thề, lồng ngực tức căng vì quá hồi hộp. Cuối cùng vòng chạy chót cũng đến, chúng lao thẳng về phía trước. Kircubbin dẫn đầu. Mọi người trông thực buồn cười, họ luôn miệng gọi Kzar nhưng bằng kiểu giọng không được tự tin cho lắm, rồi khi lũ ngựa nện rầm rầm trên khoảng đường gần về đích, một vật gì đó vút lên ngay đầu ống nhòm của tôi tựa một vệt vàng hình đầu ngựa và mọi người bắt đầu gào lên "Kzar" như thể họ đang phát cuồng. Kzar phi nhanh hơn bất kỳ con ngựa nào     tôi từng thấy trong đời, chớp mắt đã đuổi kịp Kircubbin đang phóng cật lực như khả năng của bất kỳ một con ngựa ô nào cho phép, trong một giây, chúng chạy bằng nhau, cổ ngang nhưng Kzar với những bước rướn vững chắc dường như phi nhanh gấp đôi và đầu nó đã vượt lên - nhưng trong lúc cổ chúng ngang nhau thì chúng đã vượt qua vạch đích và khi các con số được gắn lên bảng xếp hạng thì số hai về nhất, có nghĩa Kircubbin thắng.

Tôi cảm thấy run rẩy và hồi hộp trong lòng, khi chúng tôi cùng mọi người xuống cầu thang đứng trước tấm bảng nơi họ sẽ niêm yết số tiền cược thắng cho Kircubbin. Trời đất, lúc đang theo dõi cuộc đua tôi đã quên khuấy đi mất số tiền ông già tôi đặt cược vào Kircubbin. Tôi đã rất muốn Kzar thắng. Nhưng bây giờ, cuộc đua đã chấm dứt, thật là mừng khi biết chúng tôi thắng cuộc.

"Cha à, cuộc đua chẳng phải là diệu kỳ đó sao?" Tôi hỏi ông.

Ông nhìn tôi với vẻ khôi hài, cái mũ quả dưa hất ra sau đầu. "Quả đúng George Gardner là một tay nài cừ thật", ông nói. "Phải một tay nài điêu luyện mới có thể ngăn được con Kzar ấy thắng cuộc".

Dĩ nhiên tôi biết chuyện này thật khôi hài. Nhưng khi ông già tôi nói toạc ra như thế, nó đã làm tiêu tan hết cảm giác thích thú của tôi và tôi không có lại được cảm giác ấy thậm chí khi họ dán những con số lên bảng rồi chuông reo để chung tiền, chúng tôi thấy Kircubbin được trả 67,5 franc cho 10 franc tiền cược. Tất cả những người xung quanh đều nói, "Kzar xúi thật! Kzar xúi thật!" Tôi nghĩ giá mà mình là nài ngựa và có thể cỡi Kzar thay cho thằng chó đẻ ấy. Thật buồn cười khi nghĩ George Gardner là đồ chó đẻ bởi lẽ tôi rất ngưỡng mộ gã và hơn nữa gã đã cho chúng tôi biết con thắng cuộc, nhưng tôi chắc gã đúng là thế, rõ rồi.

Sau cuộc đua ấy, ông già tôi kiếm được nhiều tiền và thường xuyên về Paris. Nếu người ta đua ở Tremblay thì ông bảo họ thả ông xuống thành phố trên đường họ trở về Maisons; ông cùng tôi ngồi phía trước tiệm Cafe de la Paix xem mọi người đi qua. Ngồi đấy thật buồn cười. Có cả dòng người đi qua và có đủ mọi hạng người đến gạ bán hàng cho bạn nhưng tôi thích ngồi đó cùng ông già tôi. Đấy là khoảng thời gian chúng tôi có nhiều chuyên vui nhất. Nhiều người đến bán những con thỏ ngộ nghĩnh, có thể nhảy nếu bạn bóp cái túi cao su, mấy người đó đến với chúng tôi và ông già tôi trêu đùa với họ. Ông có thể nói giỏi tiếng Pháp như tiếng Anh và tất cả những người ấy biết ông bởi người ta luôn nhận ra một nài ngựa - và hơn nữa chúng tôi luôn ngồi ở cái bàn ấy và họ thường thấy chúng tôi ở đó. Có nhiều gã bán giấy đăng ký kết hôn và những cô gái bán những quả trứng bằng cao su mà khi bạn bóp thì một chú gà trống nhảy vọt ra; và còn cả một gã luống tuổi tiều tụy mang những tấm bưu thiếp Paris bán rong, đưa mời mọi người, và, dĩ nhiên chẳng có ai mua, nhưng khi ông ta trở lại, chìa cho xem mặt dưới của tập hàng, đấy là những tấm bưu ảnh tục tĩu thì rất nhiều người bới lên, chọn mua.

Trời đất, tôi nhớ những con người khôi hài thường đi qua đó. Những cô gái lảng vảng vào giờ ăn khuya hòng tìm ai đó đưa đi ăn, họ nói chuyện với ông già tôi, ông đùa mấy câu với họ bằng tiếng Pháp, họ xoa đầu tôi rồi đi. Một dạo, có bà người Mỹ ngồi với cô con gái bên cạnh bàn chúng tôi, cả hai người ăn kem, tôi chăm chú nhìn cô gái, cô ta mới đẹp làm sao, tôi cười với cô và cô mỉm cười với tôi, nhưng chuyện ấy chỉ có thế bởi lẽ dẫu tôi có ngóng mẹ cô và cô mỗi ngày, dẫu tôi đã nghĩ ra những lời lẽ để nói chuyện với cô rồi tự hỏi liệu mình làm quen được với cô thì mẹ cô có cho phép mình đưa cô đến Auteuil hoặc Tremblay nhưng tôi chẳng hề gặp lại họ lần nào nữa. Dẫu sao, tôi nghĩ hẳn điều đó cũng chẳng tốt lành tí nào, chắc thế, bởi vì hồi tưởng lại chuyện ấy nên tôi nhớ cái cách tôi cho rằng tốt nhất để nói với cô ta là, "Thứ lỗi cho tôi, nhưng cho phép tôi nói cho cô biết con ngựa nào sẽ thắng ở Enghien hôm nay được chứ?" rồi sau đó có lẽ cô ấy nghĩ chắc tôi là một kẻ khoác lác thay vì thực lòng muốn báo cho cô biết con nào thắng.

Chúng tôi ngồi ở Cafe de la Paris, ông già tôi và tôi, chúng tôi có mối quan hệ thân thiết với anh bồi bởi ông già tôi uống whisky, giá năm franc một ly, điều đó có nghĩa khi thanh toán, món tiền boa sẽ lớn. Tôi thấy ông già tôi đang uống nhiều hơn bao giờ hết, nhưng bây giờ ông không đua nữa và hơn nữa ông bảo whisky sẽ làm ông giảm cân. Nhưng tôi thấy ông vẫn đang béo lên như trước. Ông tránh nhóm bạn cũ ở Maisons và dường như thích ngồi uống bên đường với tôi. Nhưng hằng ngày ông đều thua bạc ở trường đua. Nếu thua, ông buồn bã sau khi trận đua kết thúc mãi cho đến khi hai cha con đến cái bàn của chúng tôi, ông uống hết cốc whisky đầu tiên rồi mới vui trở lại.

Lúc đang đọc tờ Paris-Sport, ông nhìn về phía tôi và nói, "cô bé của con đâu rồi Joe?" để trêu tôi bởi tôi đã kể cho ông nghe về chuyện cô gái ngồi ở bàn bên hôm ấy. Tôi đỏ mặt nhưng lại thích bị trêu về chuyện cô gái. Nó mang lại cho tôi cảm giác dễ chịu. "Cứ chong mắt lên mà đợi cô bé Joe à", ông nói, "cô ta sẽ quay lại".

Ông hỏi tôi mấy câu và một trong những câu trả lời của tôi khiến ông phá lên cười. Và rồi ông bắt đầu nói về mọi thứ. Về việc đua ngựa ở Ai Cập, hoặc ở St. Moritz trên mặt băng trước khi mẹ tôi qua đời, về thời gian chiến tranh khi người ta tổ chức những cuộc đua đều đặn ở miền Nam nước Pháp mà không có giải thưởng, cá độ, khán giả hay mọi thứ, chỉ để luyện ngựa mà thôi. Những cuộc đua định kỳ với những nài ngựa quần cho chúng bở hơi tai. Chà, tôi có thể nghe ông già tôi nói hàng tiếng đồng hồ, đặc biệt khi ông đã uống hết vài ly. Ông kể cho tôi nghe về thời thơ ấu của mình ở Kentucky và những lần đi săn gấu trúc, những ngày xa xưa ở Mỹ trước lúc mọi thứ trở nên tồi tệ. Rồi ông nói, "Joe à, khi nào cha con ta thắng một quả đậm, thì con sẽ quay lại Mỹ để theo học".

"Con phải về đó học để làm gì một khi ở đó mọi thứ đang tồi tệ?" tôi hỏi ông.

"Việc ấy khác đấy", ông nói và gọi bồi đến trả tiền rồi chúng tôi gọi tắc xi đến ga St. Lazare, đón tàu về Maisons.

Ngày nọ, ở Auteuil, sau cuộc bán ngựa đua vượt chướng ngại vật, ông già tôi đã mua được con ngựa thắng cuộc với giá 30.000 franc. Ông phải trả cao hơn một chút và cuối cùng thì chủ lò cũng đồng ý bán, trong vòng một tuần lễ, ông già tôi đã xin được giấy phép và màu áo. Chà, tôi cảm thấy tự hào khi ông già tôi sở hữu một chủ ngựa. Ông đã thu xếp với Charles Drake một nơi ở trong lò luyện ngựa và thôi không đến Paris nữa mà lại chạy và ra mồ hôi, ông và tôi hai người duy     nhất ở trại ngựa. Con ngựa của chúng tôi có tên là Gilford, dòng Ai Len và là một chú ngựa vượt rào đẹp, kiêu hùng. Ông già tôi dự định sẽ tập và tự mình cỡi nó, ông đang đầu tư một cách đúng đắn. Tôi tự hào về mọi thứ và tôi nghĩ Gilford kiêu hùng không kém gì Kzar. Nó là chú ngựa đẹp, hùng dũng, một con nòi, có thể phóng như bay trên đất bằng nếu bạn muốn, thêm nữa đấy còn là một con ngựa xinh xắn.

Chao ôi, tôi tự hào về nó lắm. Lần đầu tiên dự giải do ông già tôi cỡi, nó về thử ba trong cuộc thi vượt rào dài 2.500 mét, khi ông già tôi xuống ngựa, mồ hôi đổ đầm đìa và hạnh phúc khi đứng trong ngăn xếp hạng rồi đi vào cân, tôi cảm thấy rất tự hào về ông như thể đây là lần đầu tiên ông được xếp hạng. Bạn biết đấy, khi một người đã bỏ lâu không cỡi ngựa thì bạn không thể buộc mình tin được rằng người đó đã từng cỡi ngựa. Bây giờ chuyện ấy đã khác hoàn toàn, bởi vì ở Maisons, ngay những cuộc đua lớn cũng dường như chẳng khiến ông già tôi bận tâm mảy may, nếu thắng ông cũng chẳng tỏ vẻ bị kích động hay hưng phấn, còn giờ đây, đã khác rồi, tôi không thể ngủ trong đêm trước lúc cuộc đua diễn ra và tôi biết ông già tôi cũng bồn chồn dẫu ông không để lộ ra. Cỡi đua cho chính mình là một việc làm khác hẳn.

Lần thứ hai Gilford và ông già tôi dự đua là một ngày chủ nhật lất phất mưa tại Auteuil ở Prix du Marat, một cuộc đua vượt rào dài 4.500 mét. Ngay khi ông ra sân, tôi đứng dậy trên khán đài dõi chiếc ống nhòm ông mới mua cho tôi để nhìn theo. Họ xuất phát ở phía cuối đường đua và có chuyện gì trục trặc ở dây chắn. Một con ngựa đeo lá che có tròng mắt kính đang hí vang, lồng lên làm đứt cả dây chắn nhưng tôi vẫn nhìn thấy ông già tôi mặc jacket màu đen có chữ thập trắng, đội mũ đen, ngồi trên lưng Gilford và đưa tay vỗ vỗ nó. Rồi cả đoàn phi tới, khuất sau rặng cây trong tiếng cồng ra hiệu xuất phát và tiếng các cổng phụ đóng xuống. Lạy Chúa, tôi hồi hộp quá, tôi không dám nhìn họ nhưng tôi hướng ống nhòm vào vị trí họ sẽ chạy qua khi ra khỏi rặng cây và họ đã ra, chiếc jacket màu đen cũ chạy thứ ba, cả đoàn phóng qua chướng ngại vật tựa lũ chim. Rồi họ lại khuất khỏi tầm mắt rồi họ phóng rầm rầm lên, xuống ngọn đồi, cả đoàn di chuyển tuyệt đẹp, thoải mái, cùng dễ dàng vượt qua hàng rào, kết thành khối vững tiến về phía trước khi lao qua chỗ bọn tôi. Trông như thể bạn có thể bước băng qua lưng lũ ngựa, chúng dịch sát vào nhau và cứ thế lao lên. Khi bụng chúng vượt qua chướng ngại đôi cao vút Bullfinch, có ai đó ngã xuống. Tôi không thể nhìn rõ là ai, nhưng trong vòng một phút sau, con ngựa vùng dậy, tự do phi trên đấu trường, cả đoàn đua vẫn đều bước, lưới vòng qua khúc cua bên trái vào dường chạy thẳng. Họ nhảy qua bức tường đá và dồn đống lại trên đường đua hướng về phía chướng ngại vật là một hào nước rộng ngay trước khán đài. Tôi thấy họ đến và hò reo cổ vũ ông già tôi lúc ông phi qua, ông đang dẫn đầu, phi cách xa đoàn một khoảng, nhẹ nhàng như một chú khỉ rồi họ sắp vượt chướng ngại vật nước, cả đoàn lao qua chướng ngại vật cao vút bên cạnh hào nước rồi va vào nhau, rồi hai con ngựa được giằng cương tách ra, chạy tiếp trong lúc ba con khác vẫn đang dồn đống lên nhau. Tôi không thấy ông già tôi đâu nữa. Một con ngựa nữa đứng dậy, lắc lắc đầu phóng ra một mình, dây cương buông lòng thòng còn anh nài thì lê bước về phía hàng rào bên cạnh đường đua. Rồi Gilford lăn người khỏi ông già tôi, đứng dậy chạy bằng ba chân, một móng chân trước của nó bong ra lủng lẳng, ông già tôi nằm đó, bẹp dí trên cỏ, mặt ngửa lên, máu chảy tràn khắp một bên đầu. Tôi chạy xuống khán đài, len qua đám khán giả đông nghịt đến hàng rào, một viên cảnh sát nắm giữ tôi lại, hai người to lớn mang cáng tiến về phía ông già tôi, từ phía bên kia trường đua tôi thấy ba con ngựa lao ra, lao ra khỏi cụm cây và vượt hàng rào.

Khi họ mang vào, ông già tôi đã chết, trong lúc bác sĩ đang nghe tim ông bằng dụng cụ có núm đút vào tai, tôi nghe một phát đạn nổ trên trường đua, có nghĩa người ta đã giết Gilford. Tôi ngã vật xuống bên cạnh ông rồi khi họ đưa cáng vào bệnh viện, tôi bám theo và cứ gào, gào thảm thiết, trông ông tái nhợt, xa cách vô cùng, ông chết thảm thương quá và tôi không thể ngăn được ý nghĩ rằng nếu ông già tôi đã chết thì lẽ ra người ta không cần phải bắn Gilford. Móng của nó có thể lành. Tôi không chắc. Tôi rất yêu ông già tôi.

Sau đó hai người vào phòng, một người vỗ vào lưng tôi rồi đến nhìn ông già tôi và kéo tấm vải khỏi giường đắp lên người ông, còn người khác thì gọi điện bằng tiếng Pháp bảo họ đưa xe cứu thương đến chở ông về Maisons. Tôi không thể cầm được nước mắt, khóc và ngất đi rồi cứ thế; George Gardner bước vào ngồi xuống cạnh tôi trên nền nhà, choàng tay vào người tôi và nói, "Bình tĩnh nào, Joe, anh bạn cũ. Đứng dậy đi, rồi ta ra ngoài đợi xe cứu thương".

George và tôi ra cổng, tôi cố không thổn thức nữa. George lấy khăn tay của mình chùi mặt cho tôi, chúng tôi đứng hơi lùi lại phía sau trong lúc khán giả đang ra cổng; có hai gã đứng gần chúng tôi trong lúc đang đợi người xem ra hết, một trong hai đang đếm nắm vé cá độ, gã ta nói, "Này Butler đã nhận phần của hắn, đúng thế".

Gã kia nói, "Nếu hắn có nhận thì tao cũng chẳng thấy thương xót nước mẹ gì đâu, cái đồ lọc lừa. Hắn nhận phần dành cho hắn sau khi đã gieo nó ra".

"Tao đoán là hắn sẽ phải nhận", gã kia nói và xé nắm vé làm hai. George nhìn thử xem tôi đã nghe chưa và khi biết tôi nghe hết, gã nói, "Em chớ có tin những gì mấy thằng khốn đó nói, Joe. Ông già em là một người tuyệt vời".

Nhưng tôi không biết. Tôi cảm nhận như thể khi người ta đã làm thì họ không phải không để lại cái gì đó cho người khác đâu.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 10.01.2018, 18:41
Hình đại diện của thành viên
☆~ Số 15 ca ~☆
☆~ Số 15 ca ~☆
 
Ngày tham gia: 14.10.2015, 23:36
Bài viết: 2806
Được thanks: 2036 lần
Điểm: 7.36
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tập truyện ngắn] Truyện Ngắn Ernest Hemingway - Ernest Hemingway - Điểm: 10
Tàn mùa

Với bốn lire kiếm được nhờ dọn vườn khách sạn, Peduzzi đã uống khá say. Lão thấy chàng công tử đang đi trên con đường nhỏ bèn đến bí mật thì thào gì đó với anh ta. Chàng công tử bảo anh ta chưa ăn nhưng sẽ sẵn sàng lên đường ngay sau khi bữa trưa kết thúc, khoảng năm mươi phút đến một tiếng nữa.

Tại căng tin gần chiếc cầu, người ta bán nợ cho lão thêm ba chai grappa 1 bởi lẽ lão rất tự tin và đầy bí ẩn về công việc lão sắp làm trong chiều nay. Hôm ấy, trời gió, mặt trời vừa ló ra khỏi mấy đám mây liền lại chìm trong màn mưa lất phất. Một ngày tuyệt diệu để câu cá hồi.

Chàng công tử ra khỏi khách sạn và hỏi lão về chuyện cần câu. Có nên để vợ anh ta mang cần câu đi sau không? - Vâng, - Peduzzi đáp - cứ để cô ấy đi theo chúng ta. - Chàng công tử quay vào khách sạn để bảo vợ mình. Anh ta và Peduzzi bước xuống đường. Chàng công tử mang cái túi dết trên vai. Peduzzi nhìn thấy cô vợ, trông trẻ như chồng, đi đôi ủng leo núi, đội mũ bê rê màu xanh, bước ra, theo họ xuống đường, mỗi tay cô cầm một chiếc cần câu chưa nối. Peduzzi không thích cô ta đi thụt lùi phía sau.

- Thưa bà, - Lão gọi trong lúc nháy mắt với chàng công tử - đến đây đi cùng chúng tôi. Thưa bà, bà hãy đến đây. Chúng ta đi cùng nhau. - Peduzzi muốn cả ba người cùng đi xuống phố Cortina.

Cô vợ vẫn lùi ở phía sau, hơi ủ rũ khi bám theo. Thưa bà, -     Peduzzi dịu dàng gọi - đến đây với chúng tôi. Chàng công tử nhìn lại, cất giọng nói lớn điều gì đó. Cô vợ không giữ khoảng cách nữa mà bước đến gần.

Bất kỳ ai họ gặp trên con lộ chính của thị trấn, Peduzzi đều chào với vẻ kiểu cách. - Buon di, Arturo! 2 và ngả mũ ra. Tay thư ký của ngân hàng dõi mắt nhìn lão từ trên cửa quán cà phê của cánh Phát xít. Nhiều nhóm, ba hoặc bốn người, đang đứng trước các quầy hàng quan sát ba người. Những người công nhân mặc đồ bảo hộ đang đổ móng một khách sạn mới, ngẩng lên nhìn khi họ đi qua.

Peduzzi dừng lại trước một cửa hàng có tủ kính bày đầy ắp chai lọ rồi lấy ra cái chai grappa rỗng từ túi trong của chiếc áo lính lão đang mặc.

- Một ít để uống, một ít marsala cho bà, một thứ, một thứ dùng để uống. - Lão ra điệu bộ với cái chai. Đấy là một ngày tuyệt vời - Marsala, bà thích marsala chứ, thưa bà? Một ít marsala?...

Cô vợ đúng ủ rũ.

- Anh sẽ phải cố mà theo vụ này - Cô ta nói - Em không thể hiểu nổi một từ ông ta nói. Ông ta say rượu, có phải không?

Chàng công tử có vẻ không nghe Peduzzi. Anh ta đang suy nghĩ, lão nói marsala là cái chết tiệt gì? Đấy là thứ Max Beerbohm uống chắc?

- Thưa ông, - Cuối cùng Peduzzi giật tay áo chàng công tử, nói - lire. - Lão cười mỉm, hơi dè dặt khi thốt ra từ ấy nhưng vừa đủ thuyết phục để chàng công tử đồng ý.

Anh ta mở ví, lấy đưa lão tờ bạc mười lire. Peduzzi đi lên bậc tam cấp đến cửa quầy hàng Đặc sản Rượu vang Nội địa và Ngoại quốc. Quầy hàng đã khóa cửa.

- Nó đóng cửa cho đến hai giờ. - Ai đó đang băng qua đường nói với vẻ đầy khinh bỉ. Peduzzi bước xuống bậc cấp. Lão cảm thấy bị thương tổn.

- Đừng lo, - Lão nói - chúng ta có thể mua ở Concordia.

Cả ba sóng hàng bước xuống đường đến Concordia. Trên hành lang tiệm Concordia, nơi mấy chiếc xe trượt băng han gỉ được xếp đống, chàng công tử hỏi:

- Ông uống gì? - Peduzzi đưa trả anh tờ giấy bạc bị gấp nhiều nếp.

- Không uống đâu, - Lão nói - thứ gì cũng được. - Lão hơi xấu hổ     - Marsala, có lẽ thế. Tôi không biết. Marsala chăng?

Cánh cửa tiệm Concordia đóng sau lưng chàng công tử và vợ.

- Cho ba suất marsala. - Chàng công tử nói với cô gái đứng sau quầy.

- Hai, ý ông là hai suất có phải không? - Cô ta hỏi.

- Không, - Anh đáp - một suất cho vecchio 3.

- Ồ, - Cô ta nói, - một vecchio - và cười trong lúc lấy một cái chai xuống. Cô rót thứ nước trông tựa bùn lỏng ra ba cái ly. Cô vợ đang ngồi ở cái bàn kê dưới dãy báo treo trên dây. Chàng công tử đặt một ly marsala trước mặt vợ.

- Có lẽ em cũng nên uống đi - Anh ta nói - Có lẽ nó làm em dễ chịu hơn.

Cô vợ ngồi nhìn cái ly. Chàng công tử mang một ly ra cửa cho Peduzzi nhưng không tìm thấy lão.

- Anh không biết ông ta đi đâu. - Anh ta nói lúc mang cái ly quay trở lại phòng bán bánh.

- Ông ta muốn một xị marsala đấy. - Cô vợ nói.

- Giá của một xị là bao nhiêu? - Chàng công tử hỏi cô gái.

- Loại bianco hả? Một lire.

- Không, marsala chứ. Đổ hai ly này vào luôn. - Anh ta nói và đưa cái ly của mình và ly rót cho Peduzzi. Cô ta dùng cái phễu rót đong một phần tư lít vang.

- Cho cái chai để mang đi. - Chàng công tử nói.

Cô ta đi tìm cái chai. Sự việc khiến cô buồn cười.

- Anh lấy làm tiếc vì đã làm em buồn, Tiny - Anh ta nói - Anh xin lỗi vì đã nói như thế vào lúc ăn trưa. Hai chúng ta nhìn một vấn đề từ hai góc độ khác nhau.

- Nó chẳng làm khác được gì đâu - Cô ta nói - Chẳng có gì làm khác đi được.

- Em có lạnh lắm không? - Anh ta hỏi - Giá mà em mặc thêm một cái áo len nữa.

- Em đã mặc ba chiếc rồi.

Cô gái mang ra một cái chai dẹt màu nâu và rót marsala vào.

Chàng công tử trả thêm năm lire. Họ ra khỏi cửa. Cô gái có vẻ rất buồn cười. Peduzzi tay cầm cần câu đang bước tới bước lui phía cuối hiên.

- Đi thôi - Lão nói - Tôi sẽ mang cần câu. Nếu ai đó nhìn thấy thì có khác gì cơ chứ? Chẳng có ai gây rắc rối cho chúng ta. Ở Cortina này, không có ai ngây phiền phức với tôi đâu, tôi quen với các quan chức trong thị trấn. Tôi đã từng là quân nhân. Mọi người trong thị trấn này đều thích tôi. Tôi bán ếch. Nếu họ cấm câu cá thì người ta còn biết làm gì cơ chứ? Không có chuyên gì đâu. Chẳng có gì. Không rắc rối. Cá hồi lớn, tôi đã nói với anh. Rất nhiều cá.

Họ xuống đồi đi về phía dòng sông. Thị trấn lùi lại đằng sau. Mặt trời bị che khuất, mưa lất phất.

- Nhìn kìa - Peduzzi nói và chỉ tay vào cô gái đang đứng trên ngưỡng cửa của ngôi nhà họ đi qua - Con gái 4 tôi đấy.

- Bác sĩ của ông ta - Cô vợ nói - Sao ông ta lại chỉ cho chúng ta bác sĩ của ông ta nhỉ?

- Ông ta bảo là con gái của ông ta. - Chàng công từ nói.

Cô gái lui vào nhà khi Peduzzi chỉ.

Họ xuống đồi, băng qua cánh đồng rồi rẽ đi men theo bờ sông. Peduzzi nói nhanh và nháy mắt ra vẻ hiểu biết. Lúc họ sóng hàng bước đi, cô vợ ngửi thấy hơi thở của lão thoảng trong gió. Một lần lão huých trúng sườn cô. Có lúc lão nói bằng phương ngữ Ampezzo và có lúc lão dùng phương ngữ Tyroler. Lão không thể nào làm cho cả hai vợ chồng cùng hiểu bằng một thứ tiếng thế là lão sử dụng song ngữ. Nhưng khi chàng công tử nói, Vâng, Vâng, Peduzzi quyết định nói     bằng tiếng Tyroler. Chàng công tử và vợ chẳng hiểu được tí gì.

- Mọi người trong thị trấn đã thấy chúng ta mang mấy cần câu này đi. Bây giờ hẳn cả nhóm cảnh sát đang bám theo chúng ta. Anh ước giá mà chúng không dây vào cái công việc quái quỷ này. Cái lão ngố già này lại say quá.

- Dĩ nhiên, anh không có đủ can đảm để quay về - Cô vợ nói - Dĩ nhiên anh phải tiếp tục.

- Sao em không quay lại? Quay lại đi, Tiny.

- Em sẽ đi với anh. Nếu anh vào tù thì cả hai chúng ta sẽ ở cùng nhau.

Họ rẽ ngoặt xuống bờ sông, Peduzzi đã đứng đó, chiếc áo khoác của lão bay phần phật trong gió, lão đưa tay chỉ dòng sông. Dòng sông màu nâu vàng đầy bùn lầy. Phía xa bên phải, có một cồn cát.

- Hãy nói với tôi bằng tiếng Italy. - Chàng công tử nói.

- Un, mezz’ ora. Piu d’ un’ mezz’ ora.

- Ông ta bảo ít nhất còn phải đi thêm nửa tiếng nữa. Quay lại đi, Tiny. Dẫu sao thì gió máy thế này sẽ làm em lạnh đấy. Một ngày tồi tệ, rõ ràng rồi chúng ta cũng sẽ chẳng vui vẻ gì.

- Thôi được. - Cô ta nói rồi leo lên bờ cỏ.

Peduzzi đứng ở dưới sông, không để ý cho đến khi cô ta gần như khuất khỏi tầm mắt sau bờ dốc.

- Thưa bà! - Lão gào lên - Thưa bà! Bà ơi! Bà đừng đi.

Cô ta vẫn tiếp tục vượt qua đỉnh đồi.

- Bà đã đi! - Peduzzi nói. Việc ấy khiến lão bối rối. Lão mở hai chiếc hộp cao su đựng các phần của cần câu được tháo rời và chuẩn bị nối một chiếc lại.

- Nhưng ông bảo ta còn phải đi thêm nửa tiếng nữa cơ mà.

- Ồ, đúng đấy. Đi thêm nửa giờ nữa thì tốt. Nhưng đây cũng tốt.

- Thật vậy sao?

- Dĩ nhiên. Đây cũng tốt và đằng kia cũng tốt.

Chàng công tử ngồi xuống bờ sông và nối cần câu lại, anh ta lấy     cái guồng ra rồi luồn dây qua trục xoay. Anh ta cảm thấy khó chịu và sợ hãi rằng bất cứ lức nào, người bảo vệ hoặc một đội cảnh sát từ thị trấn sẽ bám theo họ đến bờ sông. Anh ta có thể thấy những ngôi nhà của thị trấn và tháp chuông nhô lên đỉnh ngọn đồi. Anh mở hộp đựng chì. Peduzzi cúi xuống thọc ngón trỏ và ngón cái to bè của mình bới bới tìm những lá chì ẩm.

- Ông có chì không?

- Không.

- Ông phải có chì chứ - Peduzzi hồi hộp nói - Ông phải có chì. Chì ấy mà. Một miếng chì bé. Đính ở đây này. Ngay trên lưỡi câu nếu không thì mồi của ông sẽ nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Ông phải có. Chỉ một mẩu chì nhỏ.

- Thế ông có không?

- Không. - Lão tuyệt vọng ngó nghiêng hết các túi của mình, lục lọi hết các lớp vải lót bẩn thỉu trong mấy cái túi áo lính của lão - Tôi không có. Chúng ta phải có chì.

- Vậy thì ta không thể câu cá được rồi - Chàng công tử nói rồi tháo rời cần câu ra, thu lại sợi dây luồn qua bánh xe - Chúng ta sẽ kiếm một ít chì rồi đi câu vào ngày mai.

- Nhưng này, anh bạn, anh nhớ phải mang theo chì. Nếu không dây câu sẽ nổi lên mặt nước đấy. - Trước mắt lão, công việc của ngày mai đang bày ra - Anh phải có chì. Chỉ một ít thôi là đủ. Bộ đồ câu của anh sạch sẽ và mới nhưng lại không có chì. Tôi có thể mang theo vài lá. Nhưng anh nói anh đã có mọi thứ.

Chàng công tử nhìn dòng sông đang phai màu bởi những bông tuyết tan.

- Tôi hiểu - Anh ta nói - Ngày mai chúng ta sẽ mang theo chì để câu.

- Sáng mai, vào lúc mấy giờ? Cho tôi biết đi?

- Bảy giờ.

Mặt trời ló ra. Không khí ấm áp và dễ chịu. Chàng công tử cảm thấy nhẹ nhõm. Anh sẽ không phạm luật nữa. Ngồi xuống bờ sông, anh lấy chai marsala ra khỏi túi, đưa cho Peduzzi. Peduzzi đẩy trả lại. Chàng công tử uống một ngụm rồi đưa cho Peduzzi. Peduzzi chuyển trở lại.

- Uống đi, - Anh ta nói - uống đi. Rượu của ông đó.

- Uống thêm ngụm nữa. - Chàng công tử trao cái chai cho Peduzzi. Lão nhìn nó thật kỹ rồi vội vàng cầm dốc ngược vào miệng. Mấy rợi râu bạc trên lớp da cổ nhăn nheo của lão nhấp nhô khi lão uống, mắt lão dán vào đít cái chai dẹt màu nâu. Lão uống sạch. Mặt trời chiếu sáng trong lúc lão uống. Thật tuyệt vời. Một ngày thú vị, thế đấy, một ngày điệu kỳ!

- Cám ơn, anh bạn! Bảy giờ sáng mai! - Lão đã gọi chàng công tử là anh bạn nhiều lần nhưng chẳng chuyện gì xảy ra. Marsala rất ngon. Mắt lão lấp lánh. Những ngày như hôm nay đang trải ra phía trước. Nó sẽ bắt đầu vào lúc bảy giờ sáng.

Họ leo lên ngọn đồi về thị trấn. Chàng công tử đi phía trước. Anh ta đã rời khỏi ngọn đồi một khoảng xa. Peduzzi gọi anh ta.

- Này, anh bạn ơi, anh có thể tạm ứng trước cho tôi năm lire được không?

- Cho hôm nay ư? - Chàng công tử có vẻ bực mình hỏi.

- Không, không phải hôm nay, mà cho ngày mai. Tôi sẽ chuẩn bị mọi thứ cho ngày mai. Bánh mì, xúc xích mặn, pho mát và những thứ cần thiết cho tất cả chúng ta. Anh, tôi và cô ấy. Mồi câu, cá tuế chứ không phải chỉ là giun. Có lẽ tôi sẽ mua một ít marsala. Tất cả chỉ hết có năm lire. Năm lire tạm ứng trước.

Chàng công tử nhìn vào ví, rút ra một tờ hai lire và hai tờ một lire.

- Cám ơn anh, anh bạn. Cám ơn anh. - Peduzzi nói bằng kiểu giọng bắt chước giọng trên chương trình Morning Posy của một trong những thành viên của câu lạc bộ Carleton. Sống thế mới đáng sống. Lão đang phát ngấy với khu vườn khách sạn, với việc dùng cuốc chĩa đập tơi đống phân bón bị đóng băng. Cuộc sống đang vẫy gọi.

- Vào lúc bảy giờ sáng mai, anh bạn. - Lão nói và đưa tay vỗ vào     lưng chàng công tử - Nhớ bảy giờ nhé.

- Có thể là tôi sẽ không đi. - Chàng công tử nói lúc đang đút ví vào tủi.

- Cái gì? - Peduzzi nói - Tôi sẽ mua cá tuế, xúc xích mặn, mọi thứ. Anh, tôi và bà chủ. Cả ba chúng ta.

- Có thể là tôi sẽ không đi, - Chàng công tử nói - rất có thể không đi. Tôi sẽ nhắn lại ở văn phòng của ông chủ khách sạn.

Lê Huy Bắc dịch

--- ------ ------ ------ -------
1     Rượu trắng bá nho.
2     Xin chào Artuno.
3     Ông già.
4     Trong tiếng Anh daughter - phát âm gần giống doctor (bác sĩ) nên cô vợ nghe nhầm.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 4 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Xuyên không] Hoàng gia tiểu kiều phi - Ám Hương

1 ... 136, 137, 138

2 • [Xuyên không] Trời sinh một đôi - Đông Thanh Liễu Diệp

1 ... 158, 159, 160

3 • [Cổ đại - Điền văn] Bỏ ta còn ai - Nam Lâu Họa Giác

1 ... 66, 67, 68

4 • [Cổ đại - Trọng sinh] Trọng sinh chi thứ nữ tâm kế - Tô Tiểu Lương

1 ... 59, 60, 61

5 • [Hiện đại - Quân nhân] Quân hôn Chọc lửa thiêu thân - Minh Lam Phong

1 ... 54, 55, 56

6 • [Cổ đại - Trùng sinh] Nàng phi chuyên sủng của vương gia ngốc - Huyền Nhai Nhất Hồ Trà

1 ... 56, 57, 58

7 • [Hiện đại] Hôn nhân bất ngờ Đoạt được cô vợ nghịch ngợm - Luật Nhi

1 ... 96, 97, 98

8 • [Xuyên không] Túng sủng đụng ngã sư muội - Như Nhược Yên

1 ... 55, 56, 57

9 • [Hiện đại - Trùng sinh] Sống lại cải tạo vợ cám bã - Mặc Vũ Vũ

1 ... 29, 30, 31

10 • [Cổ đại] Thịnh sủng - Cống Trà

1 ... 52, 53, 54

11 • [Hiện đại] Ép yêu 100 ngày - Diệp Phi Dạ (Phần II)

1 ... 189, 190, 191

12 • [Hiện đại] Người phụ nữ của Tổng giám đốc - Minh Châu Hoàn

1 ... 160, 161, 162

13 • List truyện ngôn tình hoàn + Ebook [Update 9/1]

1 ... 52, 53, 54

14 • [Hiện đại] Hào môn thừa hoan Mộ thiếu xin anh hãy tự trọng! - Mộc Tiểu Ô

1 ... 198, 199, 200

15 • [Hiện đại - Trùng sinh] Gia khẩu vị quá nặng - Hắc Tâm Bình Quả

1 ... 118, 119, 120

16 • [Hiện đại] Ép yêu 100 ngày - Diệp Phi Dạ (Phần I)

1 ... 167, 168, 169

17 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 176, 177, 178

18 • [Xuyên không] Bần hàn tức phụ - Vọng Giang Ảnh

1 ... 35, 36, 37

19 • [Hiện đại] Cuộc hôn nhân mù quáng - Phong Tử Tam Tam

1 ... 29, 30, 31

20 • [Hiện đại] Hôn trộm 55 lần - Diệp Phi Dạ

1 ... 236, 237, 238


Thành viên nổi bật 
Sát Phá Lang
Sát Phá Lang
Phèn Chua
Phèn Chua
cò lười
cò lười

LogOut Bomb: Windwanderer -> Windwanderer
Lý do: úa òa
thanhkk: có ai không.mấy bạn tìm tên truyện này dùm mình với,lâu rồi mình quên mất tên
Ngọc Nguyệt: ...-_- Tỷ ấy lặn rồi.
Đường Thất Công Tử: mà linh thích thể loại gì? :D3
Đường Thất Công Tử: viewtopic.php?t=409022&p=3310154#p3310154
Đường Thất Công Tử: có =))
Hoàng Phong Linh: thất: có xem tr đam mỹ ko? cho linh xin vài bộ đi~~
LogOut Bomb: Băng Khiết Tâm -> Băng Khiết Tâm
Lý do: đừng tưởng ông không biết mk của mày =))
Siêuquậy JK: -_- hay lắm, dám bomb ông, còn dùng chính nick của ông để bomb ông. tiểu tử thúi, nhớ đấy
Đường Thất Công Tử: xem bói cuối năm nào cả nhà :D : viewtopic.php?t=409262
Băng Khiết Tâm: hi hi, linh tỷ tỷ, đi vui vẻ~~
LogOut Bomb: ღ_lucia_ღ -> ღ_lucia_ღ
Lý do: Tự sát
Angelina Yang: à, tớ nhầm
Siêuquậy JK: yang: hả??
Angelina Yang: JK : nàng hử?
ღ_lucia_ღ: i'sorry :(
LogOut Bomb: Preiya -> cò lười
Lý do: iu ss <3
Siêuquậy JK: CMN băng tiểu tử, lăn ra đây, ông giết chết mày!!!
LogOut Bomb: Hoàng Phong Linh -> Hoàng Phong Linh
Lý do: ha ha
Preiya: hahahahahaaa
LogOut Bomb: ღ_lucia_ღ -> Nguyệt Hoa Dạ Tuyết
Angelina Yang: có nàng muốn edit, hỏi tớ
Nguyệt Hoa Dạ Tuyết: Yang, éc, :think2: là sao nàng? Nàng hỏi truyện nào á?
Preiya: Nam ơi, tét chưa có ck, tét chỉ mới có vợ thôi
Hoàng Phong Linh: Nam: ko phải nói nam đâu :D3
Angelina Yang: Tuyết : nàng có chap xuyên ko nào ko?
Trần Hướng Nam: Nam có chê đâu, tại chưa muốn cưới
Angelina Yang: chào cả nhà
Nguyệt Hoa Dạ Tuyết: mi miêu tả về ta "tuyệt" quá -_- _=_ ghim ghim ghim và ghim ngàn kiếp
Preiya: k cảm ơn ta thì thôi, còn bắn ta, bạn bè tốt v đó

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.