Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 19 bài ] 

Đêm giới nghiêm - Basharat Peer

 
Có bài mới 14.11.2017, 10:06
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 34238
Được thanks: 5226 lần
Điểm: 9.58
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tâm lý XH] Đêm Giới Nghiêm - Basharat Peer - Điểm: 10
Phần Hai

Những Cuộc Hành Trình


9

Gặp lại anh


Tôi đã bắt đầu suy nghĩ nghiêm túc đến việc quay về Kashmir, nơi những việc còn tàn nhẫn hơn như vậy rất nhiều vẫn đang xảy ra. Tôi có kể vài câu chuyện với một số bạn bè ở Delhi, nhưng không bao giờ có thể nói hết mọi điều. Tôi sẽ thấy mình bỏ lửng câu nói bởi bị những ký ức khuấy động. Việc kể chuyện ngay cả trong một không khí thân mật cũng thật đau đớn. Và một cảm giác xấu hổ chiếm lĩnh tôi mỗi lần tôi vào hiệu sách. Hầu hết người dân của những vùng có xung đột đều đã kể ra câu chuyện của họ: người Palestin, người Israel, người Bosnia, người Kurd, người Tây Tạng, người Libăng, người Đông Đức, người châu Phi, người Đông Timor và rất nhiều dân tộc khác nữa. Tôi cảm nhận được sự thiếu vắng những cuốn sách viết về trải nghiệm của người Kashmir. Những ký ức và câu chuyện về Kashmir trong tôi có thể sẽ phai mờ. Tôi phải tìm ngay các từ ngữ để cứu chúng khỏi bàn tay tàn nhẫn của thời gian. Tôi phải viết. Và để viết được, tôi phải quay về và thăm lại những con người và những nơi chốn đã ám ảnh tôi suốt bao năm qua.

Trong số những mẩu văn chương về Kashmir, các bài thơ của nhà thơ người Mỹ gốc Kashmir Agha Shahid Ali[30] là hay nhất. Tôi thường tìm đến những vần thơ của ông, những vần thơ gợi lên nỗi sợ hãi, căng thẳng, cảm giác giận dữ và niềm tuyệt vọng chúng tôi đã trải qua. Tôi chỉ gặp Shahid trong những cuốn sách của ông – đất nước không có bưu điện, Nửa inch Himalaya và Những gian phòng không bao giờ xây xong. Tôi đã thấy ông mỉm cười trong các khung cửa bằng gỗ ở phía nam Srinagar và thấy bố ông, cụ Agha Ashraf Ali, một giáo sư về hưu, kể câu chuyện về người con trai làm thi sĩ cho những lượt khách thăm viếng liên tục. Nhà thơ Shahid mất năm 2001 tại Brooklyn. Trong những ngày cuối đời vào tháng Tám năm 2001, cứ cách một ngày ông lại được các tờ báo ở Kashmir in những bài thơ của mình. Kinh cầu nguyện cho ông vang lên trong tất cả đền thờ ở Kashmir.

Tôi bắt được vài hình ảnh thoáng qua của ông Shahid trong một bài mà bạn ông là nhà văn Amitav Ghosh,[31] đã viết trên tờ The Nation. Một ngày nọ, ông Ghosh đưa Shahid và anh em của ông ấy đến bệnh viện để thực hiện một trong nhiều cuộc phẫu thuật không thành công của ông ấy. Ông Shahid cố gắng tự mình bước đi nhưng bị ngã và được đặt vào xe lăn. Ghosh viết, “Khi người hộ lý trở lại cùng với chiếc xe lăn, Shahid cười rạng rỡ với anh ta và hỏi anh ta đến từ đâu. Ecuador, anh nói và Shahid vỗ tay hớn hở. ‘Người Tây Ban Nha!’ ông gào lên hết cỡ. ‘Tôi đã luôn muốn học tiếng Tây Ban Nha. Chỉ để đọc Lorca.’ Nghe nói vậy, người hộ lý mệt mỏi với đôi vai thõng xuống đột nhiên tươi tỉnh lại. ‘Lorca ư? Ông vừa nói Lorca ư?’ Anh trích vài dòng thơ, trước niềm thích thú vô bờ của Shahid. ‘À! “la Cinque de la Tarde”, Shadid reo lên, hớn hở uốn lưỡi theo các âm tiết. ‘Tôi mê mấy cái từ đó quá. “la Cinque de la Tarde”!’”

Với tôi, nhà thơ Shahid vẫn tiếp tục trò chuyện qua những con chữ màu đen:

Tôi viết trên sự trống rỗng:

Kashmir, Kaschmir, Cashmere, Qashmir,

Cashmir, Cashmire, Kashmere, Cachemire,

Cushmeer, Cachmiere, Casmir

Một trưa hè, biên tập viên của tôi gọi điện để thảo luận về những ý tưởng có tính khả thi. Tôi báo với ông ấy là tôi sẽ rút lui. Ông đề nghị tăng lương cho tôi. Nhưng tôi sẽ quay về nhà. Về Kashmir. Người biên tập chúc tôi may mắn.

Đêm ấy tôi không để đồng hồ báo thức. Tôi bỏ mấy tuần sau đó để mua sách: những cuốn tôi thèm đọc, những cuốn tôi đã hoặc chưa bao giờ nghe nói đến. Tiếp đó, là các cuộc thảo luận với bạn bè, và những lời chia tay thật khó khăn.

Ngó vào tài khoản tiết kiệm, tôi đã dẹp ngay khả năng đi về bằng máy bay. Vài tuần sau tôi ôm mấy cái túi, đón xe buýt về Kashmir. Ánh hoàng hôn rọi vào mái vòm bằng đá sa thạch và những ngọn tháp của Pháo đài Đỏ. Những chiếc xe buýt và xe hơi rít bánh chạy qua, những chiếc xe lôi chất đầy hàng được kéo bởi những người đàn ông có làn da cháy nắng nhễ nhại mồ hôi đang cố len lỏi trên đường. Người phu xe kéo dừng lại bên một dãy lán bằng tôn với các biển chỉ dẫn du lịch sặc sỡ nằm song song với hàng rào của pháo đài. Mấy tay phe vé chợ đen bu lại, nài ép những hành khách còn nghi ngại. Họ hành động hung hãn đến nỗi tôi tự hỏi, họ có làm theo lệnh của mấy gã chủ bụng to như trống đang ngồi sau bàn gỗ trong các văn phòng du lịch như hóa thân của những vị hoàng đế Mughal hay không.

Tôi làm ngơ trước bọn con buôn, đốt thuốc và chậm rãi rít những hơi thật dài trong khi nhìn lướt qua mấy tấm biển. “Anh là dân Kashmir phải không?” người đàn ông gầy với mái tóc quăn rối và chiếc mũi diều hâu hỏi tôi. Tôi cười đáp lại. Cả cái mũi lẫn câu hỏi của anh ta đều rất Kashmir. Theo kiểu Kashmir, câu hỏi đó có nghĩa là một lời chào, mà người Kashmir này có thể hỏi người Kashmir kia trong bất kỳ tình huống nào, ở bất kỳ ngõ ngách nào trên thế giới, ngay giây phút anh ta nhận ra người đồng hành với mình là dân Kashmir. Tôi đã từng trả lời và từng hỏi câu đó. Nó đi kèm với một nụ cười thân mật và nhiều câu hỏi nữa, để xác nhận bạn chính là dân Kashmir.

Ramesh là người theo đạo Hindu ở quận Budgam ngay trung tâm Kashmir. Gia đình anh dời đến Delhi đầu những năm 90. Anh sống trong một khu ổ chuột ở phía nam Delhi. Tôi đã từng đến đó trong vai trò một phóng viên. Nó là một khu nhà đổ nát bị bỏ hoang nhiều năm trước khi chính quyền Delhi cho các Pandit[32] nhập cư người Kashmir định cư tại đó. Những chiếc màn tơi tả được cột vào đinh trên tường bằng những dây nylon, được dùng như những liếp ngăn giữa hàng tá gia đình có từ năm đến sáu người. Trong sân chung bên ngoài tòa nhà, những người phụ nữ đã dựng lên mấy cái bếp tạm bợ. Mùi hôi thối từ toa lét chung tỏa ra khắp nơi. Ramesh còn than về cái nóng ở Delhi. Anh nhớ ngôi làng của mình; ánh mắt anh như hàm chứa hình ảnh bóng râm của rặng dương liễu, những dòng suối lạnh căm và những vườn táo nơi anh lớn lên. “Anh được về nhà, thật là may mắn,” anh nói. Mấy gã buôn vé chợ đen vẫn lượn lờ, tìm kiếm khách để gạ gẫm. Hình như họ gợi cho anh điều gì đó, anh có vẻ không thoải mái.

“Anh có sao không?” tôi hỏi.

“Tôi bình thường mà. Mải nói chuyện nên tôi quên cả công việc.”

“Anh làm ở đây ư?”

“Ừ. Tôi ăn hoa hồng cho mỗi lượt khách tôi đưa đến văn phòng du lịch,” anh hạ giọng. Anh hy vọng lôi kéo được tôi mua vé của văn phòng anh.

Tôi nhìn gương mặt u buồn của anh. “Tôi muốn mua một vé đi Srinagar. Lấy vé đi nào.”

Ramesh lấy cho tôi một vé hạng nhất có điều hòa nhiệt độ. Chiếc xe buýt sẽ đến đây trong mười lăm phút nữa và khởi hành sau đó nửa tiếng. Tôi ngồi trên băng ghế dài bằng gỗ bên ngoài văn phòng du lịch. Chúng tôi bắt tay nhau rồi Ramesh đi tìm khách. Tôi ngắm cái dáng cao gầy của anh di chuyển chầm chậm về hướng đường cái, trong khi tìm kiếm các hành khách khác. Anh vẫy một chiếc xe kéo đang mồi chài những người mang hành lý, rồi người cùng xe lẫn vào đám đông.

Khoảng nửa tiếng sau, một chiếc xe buýt màu trắng cũ mèm chạy đến. Đường phố vắng người, bóng đêm bao trùm Delhi và mấy ngọn đèn đường sáng lên như những vầng trăng nhân tạo. Chúng tôi cần năm khách nữa để xe chạy. Tôi xuống xe và đi tản bộ. Tôi đang lo ngại phản ứng của gia đình tôi trước quyết định bỏ việc và những ý tưởng viết lách của mình. Tôi cứ suy nghĩ về những phương án khác nhau cho việc đi lại ở Kashmir, việc ghé những nơi chốn và người quen cũ và viết về họ. Tôi có những nỗi lo riêng phải đối diện. Có thể nào tôi sai chăng? Hay là tôi nên đợi thêm ít lâu và trang bị cho mình tốt hơn? Cuối cùng chiếc xe buýt cũng lăn bánh. Đây sẽ là một chuyến đi dài – hai mươi bảy tiếng đồng hồ.

Tôi thức dậy khá muộn vào buổi sáng. Khoảng giữa trưa chiếc xe đã lê bánh trên con đường cao tốc uốn lượn ngoằn ngoèo trên núi. Chúng tôi sắp sửa vào thung lũng Kashmir thì một đoàn xe quân đội Ấn Độ bọc thép bắt đầu chạy qua đều đặn. Bọn lính mặc đồ ngụy trang và giáp chống đạn, mũ cối tuần tra trên đường, chĩa súng hung hãn vào những kẻ thù vô hình. Một tên lính chĩa súng ra trước, ra lệnh cho chúng tôi dừng lại. Một hành khách chế giễu, “Chào mừng đến Kashmir!”

Chúng tôi đến đường hầm Baniha, được đào xuyên qua núi bởi những kỹ sư người Thụy Sĩ vào năm 1953. Phía bên kia đường hầm là thung lũng Kashmir. Hai tên lính leo lên xe buýt và bắt đầu kiểm tra hành lý của chúng tôi. Chúng tôi bước thành hàng đến một trạm kiểm soát dựng bằng mấy bao cát. Từng người một bước vào, tay giơ cao. Bọn lính nhìn chằm chặp vào chứng minh thư và rà soát cả người chúng tôi. Có một sự thân thuộc đến kỳ lạ trong cái nghi thức này. Nó vừa bức bối vừa gần gũi. Theo một cách quái gở nào đó, nó cũng cho biết rằng chúng tôi sắp về tới quê hương.

Chiếc xe buýt chạy vào con đường hầm dài hai dặm, được thắp sáng leo lét bằng bóng đèn natri. Tiếng rên rỉ của máy hòa với dàn đồng ca bánh xe dội vào những bức tường đá đen. Mười phút dường như trôi qua thật lâu. Rồi cửa ra đường hầm xuất hiện như một hình bán nguyệt sáng lóa.

Tôi mở cửa sổ, nhón chân, thò đầu ra: Kashmir kia rồi! Nàng đấy: cái bầu trời xanh nhất trên đời che ngang dãy Himalaya cao hàng nghìn mét, lấp lánh các sắc màu nâu, xanh lá, xanh dương. Chiếc xe bẻ cua và nàng lúc này là một thung lũng bát ngát trải dài trong những cánh đồng lúa chập chờn như sóng, hướng về vòng cung uy nghi của núi. Làn gió nhẹ chữa lành cho tôi vết thương gây ra bởi mùa hè Ấn Độ. Tôi vươn cổ và nhìn về phía các đỉnh núi, tìm kiếm rặng núi tôi đã lớn lên cùng nó. Tôi nhìn thấy dãy núi che chắn làng mình và một rặng núi cao hơn, xanh biếc hơn gần trường tôi. Con đường rải đá giống như một dải ruy băng đen hướng về phía thung lũng. Những cây liễu cao thanh tú hai bên đường và những cây dương thấp, xanh hơn, mọc sát rìa những cánh đồng xếp thành từng hàng ngay ngắn, trong khi xe chạy qua hết làng này đến làng khác, qua những ngôi nhà bé tí bằng gỗ và gạch, mái lợp tôn. Ánh mặt trời le lói phản chiếu lên nóc một đền thờ, mấy ông chủ tiệm hạ cửa xuống, những người bán vé xe buýt gào tên khách và tên làng cho chuyến đi về nhà và bọn trẻ con thì vẫy lia lịa những khuôn mặt ẩn hiện thấp thoáng sau cửa sổ xe.

Một tiếng rưỡi sau tôi bắt đầu vào địa phận Srinagar. Thị trấn Srinagar thời hiện đại bắt đầu bằng doanh trại quân đội lớn nhất ở Kashmir: Badami Bagh, tức khu vườn hạnh nhân, nằm trên đường cao tốc nối liền Srinagar với phía nam tỉnh Jammu. Nó nằm đối diện với khu chợ nghèo có vài quán trà, tiệm may và hàng rau quả, được vây quanh bởi mấy bức tường xi-măng cao, nơi hàng hàng lớp lớp những chướng ngại vật bằng sắt, những boongke cát và những tên lính mặc áo giáp chống đạn luôn trong tư thế cảnh giác. Dọc theo đường xa lộ là một hàng dài xe quân đội. Phía trước đó một chút, ba con chó hoang và một con bò đực đang giành nhau đống rác để bới đồ ăn thừa. Mấy con chó xúm vào sủa con bò, còn con bò chĩa sừng về phía chúng.

Mặt trời đã lặn, hàng quán đã nghỉ và binh lính đi tuần tra khắp các ngả đường. Những cửa sắt đóng kín của các tiệm ngó trừng trừng sang phía Lal Chowk. Mấy tấm biển quảng cáo sặc sỡ phô bày tên cửa tiệm đã chìm vào bóng đêm. Vài chiếc xe kéo ở góc đường Lambert bắt đầu tách khỏi quảng trường trung tâm. Ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn đường rọi lên những bác tài đang nằm túm tụm trên bậc thang của một văn phòng thiên văn. Xa xa về phía trước, cách chỗ chiếc xe bọc thép của quân đội một quãng, là một đại lộ hoang vắng, hai bên là hàng cây chinar dẫn đến chòi canh có chiếc đồng hồ đã hỏng. Tôi leo lên một chiếc xe kéo ba bánh màu xanh-đen, luồn lách qua khe hở của những chiếc xe buýt và taxi. Bác tài bật đèn lên và chúng tôi đẫm mình trong thứ ánh sáng vàng nhợt của nó. Bạn luôn phải bật chiếc bóng đó lên để bọn lính thấy được bạn. Luật Quyền hạn Đặc biệt của các Lực lượng Vũ trang, một bộ luật do chính phủ Ấn Độ ban hành, cho phép binh lính đóng quân ở Kashmir được bắn bất cứ ai tình nghi. Nó cũng cho chúng quyền được miễn tố trước tòa. Đi xe lôi mà không có đèn có thể gây ra một sự nghi hoặc chết người cho đám lính tuần tra. Chúng tôi chạy qua những con ngõ và con lộ vắng tanh, dừng lại tại các trạm kiểm soát, trình chứng minh thư và phải mở hết túi xách. Chiếc xe tiếp tục chạy qua những con đường không có đèn, mà chỉ có những tia sáng yếu ớt của ngọn đèn cầy và đèn dầu leo lét phát ra từ các ngôi nhà. Có tiếng chó hoang tru lẫn với tiếng sủa ăng ẳng khi tôi bước vào ngôi nhà của cha mình.

Trong mấy tuần lễ sau đó, tôi nói cho cha biết ý tưởng viết một cuốn sách. Ông vừa gắn mạng internet. Trong quá trình chỉ ông cách lướt web, tôi đưa ông dạo một vòng các trang chuyên san và tạp chí văn học. “Mấy trang web này có ích hơn mấy tờ báo,” cha tuyên bố sau vài tuần. Nhưng ông đã choáng váng khi tôi nói với ông, “Đó chính là điều con muốn làm. Con muốn viết về cuộc sống và xã hội của chúng ta như thế này. Thực ra con đã nghỉ việc chỉ để làm điều này”. Ông nhìn chăm chăm vào màn hình máy tính, trang có bài phỏng vấn nhà thơ, phóng viên người Ba Lan vĩ đại Ryszard Kapuscinski trong một tạp chí văn học. Cha bảo tôi tắt máy tính đi. “Bây giờ đã khá muộn.” Ông bước chậm rãi ra khỏi phòng tôi. Ông sẽ phải giải thích với những người bà con nhiều chuyện và bạn bè của ông, vì sao đứa con trai đã trưởng thành không đi đến văn phòng hoặc có một công việc bình thường như hầu hết người trạc tuổi nó.

Tôi dành mấy ngày đầu để gặp gỡ bạn bè cũ. Có một hôm, chúng tôi nhận được một thiệp cưới. Như thường lệ, trên tấm thiệp đề: HÔN NHÂN ĐƯỢC SẮP ĐẶT SẴN TRÊN THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐƯỢC TÔN VINH DƯỚI MẶT ĐẤT. Ashraf, con trai một người trong làng chúng tôi, sẽ lấy vợ. Thuở chúng tôi còn là mấy đứa trẻ con cùng chơi cricket với nhau trong sân đập lúa của làng, cậu ấy là một thằng cao lòng khòng. Giờ đây cậu là trợ lý của một tay thầu chuyên xây tường phòng hộ, đường xá và cầu cống. “Đích thân cậu ta đem thiệp đến đây đấy. Con phải đi dự thôi,” mẹ tôi nói.

Nhiều năm nay tôi không sống trong nhà mình ở làng. Việc học hành và sau đó là công việc, buộc tôi phải xa quê. Sau vụ nổ mìn, cha mẹ tôi đã dời đến Srinagar và tôi thường ở lại đó trong những chuyến viếng thăm của mình.

Hôm sau, tôi đón xe buýt đi Anantnag. Con đường dẫn về làng nhắc tôi về những tấm hình chụp Kosovo. Chính phủ trong nỗ lực mở rộng đường và cung cấp cơ sở vật chất tốt hơn cho du khách thăm Pahalgam – một đồn trên đồi cách đó vài dặm – đã phá dỡ tất cả nhà cửa hai bên đường. Những miếng gạch cẩm thạch nhiều màu từng được dán trên các bức tường nhà bếp và nhà tắm giờ đây đăm đắm nhìn tôi qua mấy cái lỗ nham nhở sau những lần cày xới của xe ủi của chính quyền. Làng tôi dường như đã thay đổi rất nhiều, nhiều nhà mới mọc lên trên những cánh đồng bên ngoài làng.

Ngôi nhà mới của ông ngoại tôi là một trong số đó. Nhưng dãy núi của chúng tôi – đường vòng cung dài hàng dặm tạo bởi rừng thông và cao hơn là những vách núi đá lởm chởm – thì vẫn như xưa, vẫn những bậc thang của các thửa ruộng đã được thu hoạch trống trơ trất, những đụn rơm hình nón nằm rải rác và tiếng chảy róc rách của dòng suối Lidder xa tít mang tôi về lại với những âm thanh của tuổi thơ. Đêm đầu tiên ở đây, tôi đi bộ thư thả xuyên qua những thửa ruộng và vườn táo của chúng tôi, ngắm chúng từ từ đổi sắc màu khi mặt trời di chuyển xa hơn về hướng Tây. Tại nơi này, tôi đã học nói, đi, đọc, viết, chạy, chửi thề và chơi bời. Tại nơi này, tôi đã ngủ giấc ngủ ngon lành nhất của mình.

Sáng hôm sau tôi dậy khá muộn. Giống như những phân cảnh của thời thơ ấu được tái hiện, Ngoại gõ cửa phòng tôi. Từ tiếng thét kinh hoàng, giọng ông chuyển sang thì thào êm dịu. Sau một tuần trà, chúng tôi đi về làng cũ của mình. “Thằng Ashraf bây giờ cũng kiếm được khá tiền, nên gia đình nó quyết định cưới vợ cho nó,” Ngoại nói. Chúng tôi đi đến một con hẻm dẫn về nhà cậu ta. Cái nhà cũ mái tranh tường gạch bùn được trang trí bằng những bóng đèn nhỏ xíu bọc giấy kiếng xanh, vàng, đỏ. Một cái lều trắng dựng ngay giữa sân.

Ashraf ngồi trên một cái ghế giữa đám phụ nữ và trẻ em. Cậu ta trông lịch sự trong bộ kurta[33] có cổ và khoác bên ngoài một cái áo vét đen. Cậu phát hiện tôi đang đứng trong một góc. Cậu đứng dậy; chúng tôi gặp lại nhau với một cái ôm chặt và một tiếng cười thật to. “Thế là hôm nay cậu lấy vợ rồi đấy!” tôi nói. Cậu cười và nói, “Trước sau gì ai cũng phải lập gia đình thôi.” Cậu ta cầm tay tôi và dẫn tôi đến chỗ chiếc ghế. “Tôi rất mừng vì cậu đến dự. Cũng khá lâu rồi nhỉ.” Tôi ngồi cạnh Ashraf trên chiếc ghế ai đó đã vội vã mang đến. Mấy cô gái hát véo von. Mấy cậu trai mặt đầy mụn và râu được cạo nhẵn cứ tìm lý do để đứng xung quanh chú rể rồi len lén liếc nhìn bọn con gái. Những người đàn ông trông rất bận rộn trong những bộ kurta rộng thùng thình, la hét các mệnh lệnh mà chẳng ai buồn để ý. Ashraf phải cắt tóc trước khi sang nhà cô dâu. Ông thợ cắt tóc trong làng mang đến một thùng đồ nghề. Khi ông bắt đầu xuống tay thì tôi đi gặp các vị phụ lão.

Phía sau ngôi nhà, một hẻm nhỏ được tận dụng như một gian bếp tạm bợ. Thức ăn được nấu trong những nồi nhôm đặt trên đống lửa nhóm giữa hai hàng gạch xếp lại. Các vị phụ lão ngồi tán gẫu và quan sát. Những người hàng xóm và họ hàng đã từng là các nhân vật thường trực trong thế giới của tôi. Cha của Ashraf, ông Khazer, một người đàn ông thấp, dẻo dai thường đội mũ để che cái đầu hói của mình, sẽ cho tôi một mẩu đường thô khi tôi đến nhà họ chơi. Còn kia là bác Amjad của cậu ta, người lúc nào cũng trông như sắp chết và hay nhờ lũ trẻ con đấm thùm thụp vào lưng để làm giảm cơn đau lưng. Tôi hay đấm ông mạnh tay hơn một tí rồi bỏ chạy trước khi ông có thể đánh tôi bằng cây gậy cũng già không kém gì ông ấy. Trong số những thanh niên đang phụ giúp có Nissar, bạn ấu thời của tôi. Một ông hói đầu ngồi trên pategih, một loại chiếu đan bằng rơm, đang bập tẩu thuốc. Còn kia là ông hàng xóm bán rau tên Bashir, là người phải chịu đựng nhiều trò nghịch ngợm đã làm tôi cười nôn ruột trong những ngày đầu của cuộc xung đột.

Tôi nhìn ông Bashir từ xa. Tôi thật mừng khi nhìn thấy ông sau nhiều năm và mừng vì ông vẫn còn sống.

Ông ấy suýt té xuống ghế khi tôi đến chào hỏi. “Trời ơi! Cậu đã trưởng thành rồi, thực sự là đã trưởng thành rồi!” ông ôm lấy tôi và cứ bắt tay tôi mãi. Chúng tôi cùng ngồi xuống và ông kể cho tôi nghe về cuộc hôn nhân của con gái mình. “Cậu đã không đến dự đám cưới của con bé Alia.” Giọng ông hơi tổn thương. Tôi giải thích, “Cháu ở Delhi, bị kẹt cứng vì công việc.” Ông hỏi thăm tôi, còn tôi trả lời chiếu lệ. Nhưng có một điều làm tôi lo lắng, là thái độ của ông đã thay đổi. Ông dùng lời lẽ rất khách sáo và một thái độ cung kính mà chúng tôi chỉ dùng với khách khứa. Tôi tiếp tục gặp Khazer, Amjad, Nissar và những người khác nữa. Tôi chờ đợi sự đối xử thân mật như ngày xưa, nhưng họ cũng như những người khác, cư xử với tôi như một người khách. Ông Khazer bảo tôi vào ngồi trong phòng dành cho khách. Khi tôi tình nguyện làm việc vặt, ông Amjad ngăn tôi lại. Thằng Nissar, cái thằng chưa bao giờ đi khỏi làng, bưng chồng đĩa và phục vụ khách khứa. Những việc vặt mà bọn thanh niên trong làng hay phụ giúp bây giờ không còn dành cho tôi nữa.

Tôi đã đi nhiều nơi và sống một cuộc sống khác. Nhưng mỗi lần điền địa chỉ thường trú vào đơn, tôi vẫn viết: Seer Hamdan, Anantnag, Kashmir. Mặc dù rất tệ với những con số, tôi không bao giờ quên mã vùng của làng mình: 192129. Tôi không thể quên trạm bưu điện của làng, có làn khói ẻo lả bay ra từ cái ống thiếc rỉ sét của cái bukhari, có bảng yết thị màu đỏ đầy bụi bặm và những nhân viên bưu điện mặc đồ kaki. Và còn ông Ramji, người phát thư của chúng tôi, người tôi cứ nghĩ là đã già ngay từ lúc mới sinh ra, với mái tóc muối tiêu rối bù phủ lòa xòa lên khuôn mặt nhăn nheo, bên dưới là đôi vai chùng trên thân hình dẻo dai. Buổi sáng ông nhận sửa mấy cái lò ở gần chỗ ông hàng thịt và buổi trưa ông chạy xe đạp quanh làng, đeo túi đay trên vai trái, rung rung chuông và dừng lại ở những nơi ông cần giao thư. Lũ trẻ trong làng chạy theo ông, đồng thanh hò reo, “Có thư cho cháu không, ông Ramji?” cho đến khi ông bực bội quá và đuổi chúng đi. Những lá thư ông Ramji giao thường không có số nhà, tên đường mà chỉ có tên người nhận và tên làng. Ông Ramji biết hết mọi người, những lá thư đều đến tận tay họ. Tôi không còn nhận được lá thư nào ở địa chỉ cũ nữa. Nhưng mỗi lần tôi điền một lá đơn, những khuôn mặt của thế giới thất lạc đó lại hiện lên trong ký ức tôi.

Cho đến giữa những năm tám mươi, không ai có điện thoại, chỉ một vài gia đình có tivi. Dân chúng thường tụ tập tại nhà Gani Haji, ông đánh xe ngựa, để xem tivi. Ông từng đến Mecca – thánh địa của người Hồi giáo – và mang về một chiếc tivi trắng đen. Hầu hết những người có máu mặt đều tập trung tại nhà Haji. Chiếc tivi đó từng được để trong căn phòng dưới tầng trệt và bạn có thể thấy nó qua cửa sổ. Trước khi gia đình tôi có tivi vào khoảng cuối những năm 80, tôi và thằng bạn Aafaiz thường trèo lên vai nhau để xem ké tivi qua cửa sổ.

Chúng tôi nghe tin tức qua radio, còn báo chí thì rất hiếm hoi. Lúc ấy ý nghĩa của tin tức khác nhiều so với hiện giờ. Nó không nhắc đến số lượng người chết hàng ngày, loại tin đó chỉ bắt đầu có từ sau năm 1990. Tin tức không nói đến sự tự quyết, tự chủ, chủ nghĩa khủng bố, các hội nghị, chiến lược, địa chính trị, trào lưu chính thống, lòng khoan dung, hay chủ nghĩa thế tục. Người ta lấy tin tức ở những nơi không người nào trong làng chúng tôi từng đến. Tin tức không nói về chúng tôi. Tôi nhớ cái ngày tôi về nhà, mang theo bản copy một tờ báo tiếng Anh bán chạy nhất ở Ấn Độ, tờ Thời báo Ấn độ, từ Anantnag. Trước khi tôi về đến nhà, một nhóm bô lão nhàn rỗi của làng ngồi trong một tiệm gần nhà chúng tôi, vẫy tôi lại. Tôi đã phải đưa họ xem tờ báo. Họ gần như nín thở trước mấy tấm hình và những dòng chữ in trên báo. Và vì nó là một tờ báo tiếng Anh, tôi được yêu cầu dịch rồi đọc nó lên. Hơn một thập kỷ đã trôi qua kể từ ngày ấy vào giữa những năm tám mươi. Những người già đã già hơn, lũ trẻ con đã thành thanh niên. Ông Amjad và bác Khazer vẫn còn ngồi lê đôi mách ở một cái tiệm cũ với những người khác. Báo chí đã về làng chúng tôi thường xuyên. Mọi nóc nhà đều hãnh diện khoe ăng-ten tivi. Trong làng có ba đại lý truyền hình cáp, cung cấp đến năm mươi kênh, kể cả BBC, CNN và bảy kênh tin tức khác của Ấn Độ, với giá chín mươi rupee một tháng. Người ta xem tin tức và đọc báo. Bây giờ tin tức cũng nói nhiều về chúng tôi. Aafaiz, thằng bạn thời chỉ có một cái tivi trong cả làng, lúc này đang điều hành một mạng lưới truyền hình cáp.

Màn đêm buông xuống và sau bữa tối Ashraf được đưa vào trong lều. Đây là đêm của cây lá móng: maenziraat. Những người đàn bà và các cô gái quây tròn lấy cậu ta và hát những bài hát đám cưới truyền thống. Mẹ của Ashraf bôi lá móng lên ngón tay nhỏ nhất của cậu; bạn bè và bà con chụp hình với chú rể. Tôi quyết định chống lại cơn buồn ngủ. Đây là dịp những bài hát Kashmir được hát sôi nổi theo nhịp của tumbaknaer, một loại nhạc cụ giống như cái trống, có một đầu bịt kín bằng da dê, được những người đàn bà gõ rất thuần thục. Căn lều rộn ràng tiếng hát của những phụ nữ và thiếu nữ mặc áo quần thêu thùa láng bóng, với một bài hát Kashmir truyền thống:

Hooreh Chayyih Wanwaan Nooreh Mahraazo

Aakho Shahrekih Sheerazo Aakho Shahrekih Sheerazo

(Houris hát tặng chú rể với khuôn mặt thiên thần,

Anh ấy chính là viên đá quý của thành phố)

Một giờ sau, mấy cậu thiếu niên đem vào lều hai cái loa và một máy nghe CD. Hầu hết chúng nó mặc áo thun và quần jean nhái của Calvin Klein, Lee và Levi. Hai chàng nhóc có thân hình đẹp nhờ tập thể hình mặc hai áo sơ mi vải sợi tổng hợp có in hai chữ HERO và SPORTY lo sắp đặt hệ thống âm thanh. Tiếng nhạc phim Hindi đinh tai nhức óc át hết những bài hát truyền thống. Một số bà lớn tuổi phản đối. Mấy cô gái mặt ửng hồng vì hạnh phúc, vây thành vòng tròn quanh các chàng trai, nhảy theo một bài hát ăn khách của Bollywood. Dần dần, đám con gái tiến đến gần hơn và ngắm nhìn các chàng trai đang xoay tròn tự giác theo những bài hát Hindi. Tiếng nhạc ầm ĩ, ca từ nhạt nhẽo và những động tác nhảy kiểu Bollywood đã trội hơn kiểu ăn mừng truyền thống.

Vào buổi sáng, cha của Ashraf bảo tôi ngồi cùng với những người đàn ông sẽ hộ tống Ashraf đến nhà cô dâu, nơi tổ chức nikah – lễ hát cho hôn lễ, với hai nhân chứng của mỗi bên, theo sau là tiệc wazawaan, một dạng nghệ thuật nấu nướng truyền thống có ba mươi sáu món thịt các kiểu của Kashmir. Vị trí đó chỉ được dành cho bà con thân thuộc và những người khách đặc biệt.

Trong một khoảnh khắc, tôi lang thang qua những con đường mòn, thoáng gặp quá khứ của mình ở khắp nơi, cho đến khi tôi đứng trong sân một ngôi nhà hai tầng mái lợp tôn. Không có đứa bé nào trong bãi cỏ trước sân, không có con bò nào với những đốm đen trên bộ da trắng bị cột vào cái cọc trong góc sân đăm chiêu nhai cỏ, cũng chẳng có chiếc xe đạp màu xanh da trời nào nằm bên cạnh chuồng bò. Bức tường bao làm bằng xi-măng tôi nhìn thấy lần đầu. Một người phụ nữ xa lạ đang tò mò liếc nhìn tôi qua cửa sổ nhà bếp. “Cậu đang tìm ai vậy?” bà ấy hỏi. Tôi không biết phải trả lời thế nào. Tôi cũng đang hỏi câu đó với chính mình; căn nhà mà bà sở hữu hiện nay là nơi tôi đã được sinh ra. Nó là tổ ấm chất chứa bao nhiêu kỷ niệm tôi mang theo mình. Nó mãi là tổ ấm trong suy nghĩ của tôi, dù đã được chuyển nhượng cho người khác.

Ashraf đang chuẩn bị để sang nhà cô dâu. Cậu mặc bộ vét màu nâu nhạt, đôi giày da cũng màu nâu và một khăn vấn tóc màu trắng thêu chỉ bạc. Trên cổ cậu là hai vòng hoa cúc vạn thọ và ba vòng tiền giấy mười rupee. Những người hộ tống cậu đang chờ trong sân. Người ta lại trò chuyện về việc ai sẽ là người tiếp theo và đám cưới đó sẽ diễn ra như thế nào, khi mà, từ lúc chiến tranh bắt đầu, tuổi lập gia đình trung bình ở Kashmir đã tăng từ hai mươi mấy lên trên ba mươi. Ashraf đã ba mươi hai tuổi, còn cô dâu thì ba mươi. Sự trì hoãn trong việc học và những khó khăn khi tìm việc làm đã đẩy lùi các ngày cưới lại trước sự bực bội của các bậc cha mẹ và ông bà. Điều này trở nên đặc biệt đáng lo đối với cha mẹ của các cô gái. Phần lớn người chết trong chiến tranh là thanh niên và còn có hàng ngàn người khác bị thương, bị trầm cảm và không có cơ hội tìm được việc.

Các phụ nữ và thiếu nữ quây thành vòng tròn, nắm tay nhau và hát. Họ di chuyển tới lui, nhịp chân, lắc đầu, lên giọng rồi hạ giọng. Đó là một phong tục cũ, được thực hiện trước khi chú rể sang nhà cô dâu lúc hoàng hôn và quay về sau bữa ăn tối. Người dân Kashmir đã bỏ phong tục được lưu truyền từ nhiều thế kỷ này kể từ sau đêm 16 tháng Năm 1990, khi lực lượng bán quân sự Ấn Độ xả súng vào một tiệc cưới và hãm hiếp cô dâu.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 14.11.2017, 10:08
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 34238
Được thanks: 5226 lần
Điểm: 9.58
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tâm lý XH] Đêm Giới Nghiêm - Basharat Peer - Điểm: 10
10

Thành phố không niềm vui


Trong các bức ảnh cũ, Srinagar là những ngôi nhà, thánh đường và đền thờ có hàng rào mắt cáo trang nhã nằm đối diện nhau trên hai bờ của dòng sông Jhelum; là những người dân đi bộ thong dong trên bảy cây cầu gỗ, hay lang thang trong những khu chợ cũ bán gia vị, bán khăn và thảm được thêu thùa rất đẹp và bán ấm samovar được chạm trổ cầu kỳ, hay vừa râm ran cầu nguyện vừa bước vào trong ngôi đền cổ xưa phô bày các đoạn kinh Koran và câu thơ thần thoại trên các cửa sổ và cửa chính, với nội thất làm bằng giấy bồi màu xanh ngọc và xanh lục nhẹ nhàng. Nhưng tiếc thay sự trang nhã đó đã biến mất vào thời chiến. Những cây cầu gỗ đã sập hoặc xuống cấp. Bộ khung của chúng vẫn còn đó trong bóng của những chiếc cầu mới xây bằng xi-măng.

Cha mẹ tôi sống gần tả ngạn sông Jhelum, chỉ cách cây cầu thứ tám một đoạn đi bộ ngắn, cây cầu được xây sau này và được đặt tên là cầu Zero. Lal Chowk, trung tâm thành phố, tọa lạc ngay bên kia cầu. Tôi cuốc bộ ngang qua ba boongke, một máy ATM, một thánh đường, vài cửa hàng rau quả, mấy tiệm thuốc tây và cửa hàng văn hóa phẩm trước khi đến được bờ sông. Quần áo được phơi trên mấy sợi dây nylon buộc vào cột buồm của những nhà thuyền màu trắng và nâu nhạt đang neo chờ khách. Bên kia bờ sông, những con đại bàng chao lượn trên những cây chinar uy nghi, rồi bay vòng quanh bên trên cầu Zero và bay vút lên tận trời cao, cao hơn cả những ngọn núi tạo thành một lằn ranh ở phía đông thành phố. Một lão chài ngồi đợi khách trên chiếc shikara[34], tay cầm một thân liễu làm mái chèo. Ông giục tôi ngồi ở phía đuôi thuyền để chừa chỗ cho người khác. Tôi khiếp vía khi đi trên những tấm ván lót thuyền đã mục đến nỗi nước đang từ từ tràn qua khe. Ông lão bật radio lên rồi đẩy chiếc thuyền xuống sông bằng cách tống mạnh cành liễu vào bờ. Hành khách nắm lấy hai bên mạn thuyền. Một bài hát vang lên giữa sự im lặng căng thẳng.

Vài phút sau, chúng tôi sang đến bờ bên kia, mỗi người trả một rupee và sau khi trình chứng minh thư với đám lính tuần tra bờ sông thì cuốc bộ vào trung tâm thành phố. Lal Chowk là một đại lộ đông đúc với những tòa nhà kiểu thập niên sáu mươi. Những người bán hàng rong rao bán giày nhái các thương hiệu và đồ điện cải tiến tràn ra khắp lối đi và những tiệm bán thảm thì treo thảm và khăn choàng rồi tuyên bố đầy tự tin rằng họ chuyên bán hàng thủ công chất lượng tuyệt hảo của Kashmir. Vài băng nhóm nhỏ côn đồ đập rầm rầm vào cửa các sạp báo chỉ để mua báo và những bài hát kiểu Bollywood tục tĩu phát ra từ mấy tiệm bán CD và VCD lậu. Lính Ấn Độ tuần tra đường phố, dáo dác quay đầu như chong chóng. Tôi đã bị bất ngờ bởi cái tên sơn trên một chiếc xe tải bọc thép của quân đội đậu bên đường. Tôi từng thấy những cái tên như thế nhưng chưa bao giờ chú ý lắm. Những mẫu tự Hindi, mà chỉ có vài người Kashmir có thể đọc được: MAHAKAAL – nghĩa đen là: cái chết cao cả, và cũng là một trong những tên của Shiva, vị thần hủy diệt của đạo Hindu.

Tôi đi ngang qua chiếc xe Mahakaal để đến một quán cà phê internet đáng tin cậy hơn nằm trong một khu thương mại cũ. Cạnh lối vào, một nhóm thanh niên và đàn ông đứng tuổi xúm quanh một xe bán trà lưu động. Những mảng xi-măng trên tường của tòa nhà bị tróc ra, và một cầu thang tối tăm dẫn lên tiệm cà phê. Tôi bước vào bên trong một căn phòng sáng rực. Những căn buồng bé tí ôm chặt lấy mấy bức tường trang trí hoa hòe hoa sói. Một người quản lý trẻ và một cô gái son phấn dày cộp ngồi sau quầy gỗ. Bài “Sexy Lady” phát ra từ một cái loa ở đâu đó. Mỗi buồng có hai ghế và những tấm ván gỗ tếch để lộ ra toàn chân với cẳng: giày thể thao, giày xăng đan, rồi lại giày thể thao, giày xăng đan. Những cặp đôi trẻ mua một giờ riêng tư với giá ba mươi rupee. Tôi chỉ vừa loay hoay gửi một email thì đường kết nối tắt phụt sau nửa tiếng. Chẳng ai than phiền gì. Tôi nghĩ đến cái lần đầu tiên tôi đến quán này vào năm 2001 ngay sau khi nó được mở. Vì những lý do an ninh, chính quyền đã ra lệnh cho mọi người phải trình chứng minh thư và cung cấp địa chỉ trước khi được dùng internet. Ít nhất thì cái ngày đó cũng đã qua.

Bên ngoài, số lượng xe hơi trên các con đường bắt đầu tăng lên. Người ta không thể lái xe qua Lal Chowk mà không bị kẹt đường. Mọi người nói về những khoản vay cá nhân dễ dàng và lượng tiền khổng lồ mà cả Ấn Độ lẫn Pakistan đổ ào ạt vào Kashmir để giành lấy sự tín nhiệm – một cuộc chiến tranh kinh tế. Thứ tổ chức duy nhất đã vươn lên mạnh mẽ tại Kashmir trong suốt thời kỳ xung đột là ngân hàng. Đi tản bộ vòng vòng Srinagar, thỉnh thoảng tôi lại bắt gặp một bản tin, thông báo một nhà môi giới chứng khoán nữa được cấp giấy phép ở Bombay hay Delhi. Rất nhiều tiền đang được đầu tư vào cổ phiếu và chứng khoán. Trong chuyến quay về nhà, tôi đã gặp Ayaar, bạn cũ thời đại học. Là một kỹ sư cơ khí được đào tạo bài bản, một kẻ hâm mộ điên cuồng truyện trinh thám, cậu ta quay sang thị trường chứng khoán sau ba năm thất nghiệp. Chúng tôi cuốc bộ đến phòng làm việc của cậu nằm ở một trong những khu mua sắm xấu xí mới xây tại Srinagar. Có một bảng hiệu. Rồi chúng tôi vào một căn phòng sáng lờ mờ với những bức tường trống trơn. Cậu ta kiểm tra mấy màn hình nhấp nháy. Sau một tuần trà theo thông lệ, cậu cố thuyết phục tôi đầu tư vào cổ phiếu.

Vài phút sau, hai chàng trai trẻ bước vào. “Chúng tôi muốn đầu tư vào cổ phiếu,” một người nói, “nhưng không biết một chút gì về cách nó hoạt động.” Cậu bạn tôi biến thành một người môi giới chứng khoán. Cậu lấy ra hai chiếc ghế, bảo cậu bé giúp việc văn phòng đi lấy trà cho khách, đưa ra vài tờ quảng cáo và bắt đầu nhiệt tình giải thích về việc kinh doanh với anh chàng mù tịt kia. Mười lăm phút sau, cậu trở lại màn hình lập lòe và giải thích thêm lần nữa. Cậu chỉ ra những cổ phiếu đang lên hay đang xuống, nhận dạng những cổ phiếu bảo đảm và kể chuyện một người kiếm được năm ngàn rupee trong vòng năm tiếng đồng hồ. “Cậu cứ canh chừng thật kỹ, để ý tìm những manh mối và đây chính là nơi cậu sẽ hái ra tiền.” Như một nhà truyền giáo đầy nhiệt huyết, Ayaar tiếp tục thuyết giảng để củng cố lòng tin của những người cải đạo. Thị trường chứng khoán xem ra giống như một truyện trinh thám: những manh mối chính xác sẽ dẫn đến đúng mỏ vàng. Cổ phiếu và chứng khoán là những chữ đến từ một ngôn ngữ xa lạ với tôi: ngôn ngữ của Wall Street, của Bombay, của các tập đoàn Ấn Độ.

Nó hiện diện cùng với những chiếc xe bọc thép, các đám tang, bãi công, sự sợ hãi và nỗi tuyệt vọng. Thành phố Srinagar đã dựng đài tưởng niệm cho những thanh niên đã mất, song song với các khu mua sắm với bề mặt bằng kính lòe loẹt.

• • •

Tôi dần dần ổn định cuộc sống trong nhà cha mẹ, sắp xếp những quyển sách và đặt bàn làm việc cùng chiếc máy tính cạnh cửa sổ trông ra những cây dâu tằm và cây chinar. Lũ chim vẹt, sẻ và đại bàng bay ra bay vào lùm cây rồi vút lên bầu trời xanh trong vắt. Đó là mùa thu: mùa của những chiếc lá chinar vàng rơi xuống đám cỏ khô, rơi trên những lối mòn và rơi chạm vào người đi đường. Tôi thấy hạnh phúc được ở đây và dành các buổi trưa để chuyện trò cùng bạn bè trong những quán cà phê gần Lal Chowk.

Srinagar còn là một lời chào hỏi, một cuộc gặp gỡ với bạn tâm giao trên mọi con phố. Nó không cung cấp tình huống hay mốc thời gian cho các câu chuyện của tôi, cũng không giải thích các chi tiết hay ý nghĩa. Chỉ trong một lời nói, nó truyền tải còn nhiều hơn những trang viết bằng các thứ ngôn ngữ vay mượn của tôi. Nó không ngừng kể về cái quá khứ mà chúng tôi cùng chia sẻ, không hẳn là quá khứ xa xăm trong lịch sử mà là quá khứ gần đây – thời thơ ấu đẹp như mơ vào những năm tám mươi và sự kinh hoàng của những năm chín mươi.

Khi còn là một đứa học trò vào những năm tám mươi, tôi đã viếng thăm Pari Mahal – Cung điện thần tiên – được xây dựng vào thế kỷ mười bảy bởi vị hoàng tử Mughal phóng khoáng, Dara Shikhoh. Ngài Dara Shikhoh, vốn yêu thích học thuật uyên thâm hơn là nghệ thuật lãnh đạo đất nước, đã mời các nhà trí thức đến cung điện của mình để dịch những bài viết về triết học, tôn giáo và văn chương Ấn Độ sang tiếng Ba Tư và tiếng Ả Rập. Cha tôi đã kể đi kể lại câu chuyện này cho tôi nghe vì ông muốn tôi nhìn Pari Mahal như một nơi đa tôn giáo. Nhưng cũng như những đứa trẻ khác, tôi thích đứng chụp hình với lũ bạn học, chơi trốn tìm trên các thành lũy, hay ngắm cung điện lấp lánh trong đêm như đang được treo lên bởi những tia sáng kỳ diệu.

Một buổi tối tháng Chín, sau khi trình giấy phép tham quan và qua vòng kiểm tra an ninh, tôi lại trèo lên một đỉnh của dãy núi Zabarvan ở phía tây Srinagar, để về với Pari Mahal. Những bức tường đồ sộ gồ ghề của nó được trang trí bằng đá, với các khung cửa tò vò dẫn vào những căn phòng mái vòm, tương tự như trong những mái hiên ngoài vườn. Bên dưới cung điện là một khu rừng xanh tráng lệ và một sân gôn rộng bát ngát – nơi các chính trị gia, quan chức, cảnh sát và sĩ quan quân đội được bảo vệ bởi một toán lính có vũ trang, chơi gôn và xã giao trên thảm cỏ nhập từ Mỹ – trải dài đến tận hồ Dal, như một con tắc kè hoa cứ liên tục đổi màu mỗi khi ánh sáng cợt đùa rọi xuống mặt nước phẳng lặng, đẹp đến nao lòng. Du khách chụp cảnh mặt trời đang trôi về hướng những ngọn núi đứng duyên dáng và lặng lẽ. Cạnh lối vào, hai gian phòng được bao bọc bởi những cổng vòm bằng đá granite giờ đã biến thành trại lính, và là một nơi rất bừa bộn. Một tên lính đang bận rộn nấu nướng bên bếp lửa và vài tên khác đang chơi bida. Phía sau chúng, trong một gian phòng trần vòm le lói sáng, những khẩu súng máy nằm ngổn ngang trên những tấm cói. Xa hơn một chút phía bên trong cung điện, trên một phần đất cao hơn, là một tên lính gác đeo súng máy đứng trong một tháp canh đắp bằng bao cát. Pari Mahal đã trở thành doanh trại bán quân đội đẹp nhất thế giới.

Tôi bắt đầu hồi tưởng lại những cuộc viếng thăm của mình đến những khu tưởng niệm khác của Kashmir. Tôi nghĩ đến thư viện của trường cao đẳng Islamia, trường cao đẳng xưa nhất ở Srinagar đã bị thiêu trụi trong một trận đánh cùng với nhiều bản thảo, kể cả bản kinh Koran 1400 năm tuổi được viết bằng tay bởi Usman, vị calíp[35] thứ ba của thế giới đạo Hồi. Ngôi đền 600 tuổi của Nuruddin Rishi, vị thánh bảo hộ Sufi của Kashmir, đã bị phá hủy trong một trận đánh giữa lính Ấn Độ và quân khởi nghĩa. Các đền đài đạo Hindu và những tháp chứa hài cốt các vị sư và điện thờ Phật có mái vòm đang hấp hối trong quên lãng hay đang bị trưng dụng sai mục đích cũng là nạn nhân của cuộc xung đột này, như bao nhiêu con người khác.

Ashoka vị hoàng đế Ấn Độ vĩ đại cai trị một vương quốc bao gồm gần như toàn bộ vùng Nam Á, lập nên Srinagari (Thành phố của sự Phồn thịnh) vào khoảng năm 250 trước công nguyên bên rìa của khu vực Srinagar hiện đại. Sau một trận chiến đẫm máu, hoàng đế Ashoka đã từ bỏ bạo lực, trở thành phật tử và cống hiến đời mình cho việc giảng đạo. Từ những khóa đào tạo về Phật giáo như vậy ở Kashmir mà các nhà truyền đạo đã đưa đạo Phật sang Trung Quốc và Nhật Bản. Năm 1905, một nhóm nhà khảo cổ dẫn đầu là ông Daya Ram Sahari, khi đó là trưởng nhóm khảo cổ học của Kashmir, đã khai quật những phần còn sót lại của các ngôi tháp chứa hài cốt và tìm thấy những pho tượng Phật và hình ảnh của các vị thần Hindu trên sườn núi Pandrethan. Hầu hết các di vật đó được lưu giữ trong bảo tàng Sri Pratap Singh, được đặt theo tên một vị vua trong thế kỷ mười tám. Bảo tàng duy nhất ở Srinagar cách cầu Zero một quãng ngắn. Mấy cuộn dây kẽm gai nằm ngay trước cổng bé tí của bảo tàng đã xuống cấp; bọn lính tráng chiếm giữ một boongke ở gần đó. Những người canh giữ bảo tàng đang tán gẫu phía sau quầy tiếp tân bằng gỗ trên tiền sảnh bụi bặm. Họ chằm chằm nhìn tôi, người khách đơn độc, như thể tôi vừa bước vào phòng khách nhà họ.

Sau khi sự ngượng ngập ban đầu tan biến đi, tôi gặp ông Mohammed Iqbal, một nhà khảo cổ học trung niên của địa phương, người mặc cho cuộc xung đột vẫn tiếp tục xuất bản những quyển sách nho nhỏ về các khu tưởng niệm cổ xưa ở Kashmir. Sảnh chính bày đầy tác phẩm điêu khắc của vùng Pandrethan. Ông Iqbal dừng lại gần một hộp kính chứa hai bức tượng đứng không giá đỡ, một bằng đá granite xám ngả xanh lục miêu tả Đức Phật sau khi ngài từ bỏ thế giới. Khuôn mặt của ngài bị bể nhưng ngài vẫn tiếp tục ngồi thiền. “Hãy nhìn đôi mắt khép hờ và cặp chân mày cao kiểu người Mongoloid của ngài. Đó là phong cách Gandharan, chịu ảnh hưởng của Hi Lạp rất lớn,” ông Iqbal nói trong khi nhìn bức tượng với một nụ cười. Rồi ông hướng sự chú ý của tôi đến một tượng đá granite màu đen mô tả tích Phật đản, đó là việc Hoàng tử Siddhartha được sinh ra bởi Hoàng hậu Maya. Hoàng hậu Maya đầu đội vương miện châu báu, cổ đeo hai sợi dây chuyền và tay đeo một vòng chạm trổ, ngồi dưới một thân cây, tay này níu lấy nhánh cây còn tay kia thì được nâng đỡ bởi người chị gái cũng mang trang sức tương tự ngồi phía bên kia. “Nó không chỉ là một bức tượng, nó là cả một câu chuyện,” ông Iqbal giải thích. “Hoàng hậu Maya, khi mang thai Đức Phật, đau đẻ trong một khu rừng ở Lumbini trên đường đến nhà cha của bà ấy. Trong cơn đau đớn, một tay bà nắm lấy nhánh cây và một tay được chị mình trợ giúp. Những đường nét trên gương mặt của hai chị em bà Maya đậm chất người Mongoloid, giống như những đường nét của Đức Phật. “Kiểu trang trí chịu ảnh hưởng phong cách điêu khắc Maurya và Gupta của Ấn Độ, những đường nét trên mặt được định đoạt bởi trường phái Gandharan. Sự kết hợp hai phong cách này đã làm nên trường phái Kashmir,” ông Iqbal giải thích.

Vào sâu hơn một chút bên trong bảo tàng, chúng tôi bắt gặp một tác phẩm điêu khắc khổng lồ bằng đá granite về vị thần Hindu Shiva, được khai quật gần Pandrethan. Nó được xác định thuộc thế kỷ thứ ba, sau khi Kashmir đã trở về với đạo Hindu. Mặc dù tôn giáo thay đổi, Phật giáo vẫn có ảnh hưởng rõ ràng – thần Shiva ở đây trông giống như Đức Phật, ngoại trừ con mắt thứ ba trên trán. Rất nhiều tượng Phật và tượng các môn đệ của ngài, cùng tượng những vị thần Hindu khác nhau đứng xếp hàng dọc theo đại sảnh của bảo tàng. Ông Iqbal tin rằng nhiều cổ vật sẽ được phát hiện thêm nếu việc khai quật được tiếp tục. Nhưng rất ít khả năng điều đó sẽ xảy ra. “Sau khi chế độ quân chủ chấm dứt và vị hoàng tử đồng ý sáp nhập vào Ấn Độ năm 1947,” ông ấy nói, “quân đội đã thành lập cơ quan đầu não trong khu vực Pandrethan. Sau đó, vì những lý do an ninh, không có một cuộc khai quật nào được cho phép tại đó. Mọi việc càng trở nên tồi tệ hơn sau cuộc xung đột và tôi không cách nào đến tham quan những khu khảo cổ của Pandrethan đã lọt vào tay các doanh trại quân đội.”

Tôi rời bảo tàng để đến thăm nơi mà những bức tượng này đã được khai quật, cách cơ quan đầu não của quân đội chừng một dặm về hướng nam. Tôi đi bộ ngang qua một doanh trại có những bản tin tuyên truyền và ảnh bọn lính đang cố tươi cười khi rót nước cho các cụ người Kashmir hoặc cố tỏ ra quan tâm đến đám con nít Kashmir. Bên dưới mấy tấm ảnh là những lời: TÌNH YÊU VƯỢT LÊN TRÊN MỌI CHƯỚNG NGẠI.

Xa hơn một chút, tôi đến một ngôi làng – thật ra là một chợ nhỏ có mấy biển báo bán nước ngọt, khoai tây chiên. Một cụm nhà tồi tàn làm bằng gạch và xi-măng trải dài từ chỗ đất bằng đến tận ngọn núi phía trên. Không có gì để thăm thú – chúng vẫn còn nằm trong quyền kiểm soát của quân đội – nhưng tôi thấy tò mò, không biết dân làng có biết chút gì về thành phố Srinagar của hoàng đế Ashoka. Có hai cụ già làng nhớ mang máng đến những vụ khai quật hàng nhiều thế kỷ trước, nhưng chưa hề nghe chuyện gì về vị hoàng đế hay cái thành phố của ông.

Khi tôi còn nhỏ, cha đã kể cho tôi nghe câu chuyện về Hội nghị Phật tử Thế giới lần thứ tư được tổ chức tại Kashmir vào thế kỷ thứ hai dưới sự cai trị của Kanishka, vị vua theo Phật giáo ở Gandharan. Thỉnh thoảng lại có người tuyên bố đã tìm thấy địa điểm thật của hội nghị, nhưng hầu hết đều tin rằng nó được tổ chức gần vườn Harwan cổ xưa trên phần đất ven rừng phía tây bắc của Srinagar. Trong một chuyến du ngoạn cùng gia đình đến khu vườn – nơi có vô số con lạch và được che mát bởi những bóng cây chinar cao sừng sững – cha tôi đã chỉ vào một cồn đất phía trên và nói với tôi, đó chính là nơi người ta tin rằng hội nghị đã diễn ra.

Tôi đến đó vài ngày sau chuyến viếng thăm bảo tàng Srinagar. Như một điềm báo, những di tích của Phật giáo đã dẫn đường cho tôi đến một khu vực có nền cao, nơi năm 1905 các nhà khảo cổ học đã tìm thấy một cái tháp cất giữ cốt, một sảnh cầu nguyện và những gian dành để ở. Ngay tại trung tâm của khu vực này là những phần sót lại của cái tháp. Tôi nhìn chăm chú vào phần nền và hai hình vuông đồng tâm làm bằng đá được đánh bóng sơ sài phủ đầy cỏ dại. Thật khó mà tưởng tượng hình thù nó sẽ ra sao. Bên trái là bốn bức tường đá đã đổ, phủ đầy rêu. “Đó là vihara, nơi các nhà sư gặp gỡ,” ông Mohammed Khazer nói. Ông làm việc cho Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ Ấn Độ với nhiệm vụ coi sóc khu tưởng niệm này. Theo nhà du khảo người Trung Quốc Hieun Tsang, hơn năm ngàn nhà sư đã tập họp về đây để thảo luận và tranh cãi về đức tin.

Trong bảo tàng, tôi đã nhìn thấy những vật được khai quật ở Harwan. Chúng không dính dáng gì đến Hội nghị Phật tử nhưng là những ví dụ có ích về công trình nghệ thuật ở Gandharan – những miếng gạch sành có hoa văn trang trí, một người đàn ông trông như có gốc Ấn – Hi Lạp tay cầm mũi tên đang đuổi theo một con hươu, một phụ nữ đeo hoa tai mỏng manh đội một chiếc bình trên đầu và một đôi vợ chồng đang chuyện trò trên ban công. Các phế tích của Harwan khó có thể thu hút du khách. “Trước đây, du khách từ Nhật và thậm chí từ Mỹ cũng đến đây,” ông Khazer nói, “nhưng không ai đến đây nữa kể từ khi cuộc chiến bắt đầu.” Bất chấp cuộc xung đột đã làm tan nát làng quê mình, ông vẫn tiếp tục đến đây hàng ngày. Công việc canh giữ tượng đài được dành cho những người bảo vệ giống như ông Khazer sau khi Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ Ấn Độ dời văn phòng từ Srinagar đến một thành phố ở phía nam Jammu.

Ngay cạnh trung tâm của những tàn tích, ông Khazer chỉ cho tôi xem một bức tường bằng đá cuội trộn với đá thô bóng loáng mới được xây gần đây. “Vào khoảng thế kỷ thứ nhất, những chùa chiền và tháp hài cốt được xây kiểu này. Hiện nay, một số nhà khảo cổ của chúng ta đang cố gắng tạo ra các bản sao, bằng cách sử dụng cùng một loại vật liệu,” ông nói. Không có dấu hiệu của việc trùng tu. Đêm hôm trước, một anh bạn nhà thơ gửi cho tôi một e-mail: “Các cặp tình nhân để lại những mảnh vỡ cũng như các nền văn minh”. Tôi nhìn những mảnh vỡ của tòa tháp và nghĩ, Các nền văn minh để lại những mảnh vỡ như các cặp tình nhân.

Quay về Srinagar, tôi ghé thăm đền thờ Akhund Mullah do Dara Shikhoh, vị hoàng tử Mughal ngộ đạo xây cho thầy của mình, trên sườn đồi Hari Parbat ở Srinagar. Tôi thấy có những phần đất bị chiếm dụng bất hợp pháp. Mấy bức tường đá vôi xanh của ngôi đền hình vuông sắp đổ xuống. Cái trần hình vòm đang lở ra từng mảng. Nhiều cửa sổ vòm đã biến mất và được thay thế bằng những kiểu cửa mô phỏng xấu xí. Một nhà tắm kiểu Thổ Nhĩ Kỳ nằm cạnh đền thờ đã bị lũ choai choai trong làng biến thành phòng thể dục và mấy tấm áp phích hình Arnold Schwarzenegger[36] treo lủng lẳng trên tường. Tôi đọc được những bài thơ và đoạn kinh Koran được viết bằng thư pháp thật tinh tế trên những viên đá lát của mặt tiền ngôi đền. Lũ chim câu bay ra bay vào những lỗ hổng trên trần nhà. Một cái khóa bằng đồng đơn độc dính trên cửa, trong khi cái cửa đang cố bám vào những bản lề của nó như là một kỷ niệm của người tình đã bị lãng quên từ lâu.

Srinagar là thành phố cổ đang hấp hối vì một cuộc chiến của thời hiện đại. Nó là những ngã đường hoang vắng, những cửa tiệm đóng chặt, những tên lính dữ tợn và những bé trai cầm trên tay cục đá. Nó là hàng ngàn boongke quân sự, bốn sân gôn và ba tiệm sách tàm tạm. Nó là những chính trị gia xảo quyệt lặp đi lặp lại những lời dối trá về chiến tranh và hòa bình trước ống kính truyền hình và đám đông nhỏ bé tụ tập lại vì lời hứa về một công việc mơ hồ hay một khoản thù lao vài trăm rupee. Nó là việc phải dừng lại trên đường và tại những ngã tư khi đoàn xe bọc thép được hộ tống bằng hàng loạt súng máy của bè lũ cai trị và những kẻ bảo hộ cho chúng nghiến bánh xe rầm rầm trên các con đường đã bể nát. Nó là việc đăm đăm nhìn lại hoặc nhìn đi nơi khác trong nỗi cam chịu. Srinagar không bao giờ thắng, cũng không bao giờ bị đánh bại.

Báo chí Srinagar thường xuyên đăng cáo phó cho những nghĩa quân tử trận có khuôn mặt trẻ măng, u uất cạnh những dòng bi ai cho các khuôn mặt đứng tuổi mỉm cười trong bộ vét đắt tiền, những người nắm giữ các đặc quyền. Một số tiêu đề in bằng mực đỏ, thông báo về những cái chết. Những con số thống kê được cập nhật hàng ngày trên trang nhất. Srinagar là việc ngồi trong một tiệm cà phê, trong một văn phòng, bên ngoài trường đại học, hay băng ngang qua một cây cầu và cảm nhận, chạm vào, hít thở mùi vị của lịch sử, chính trị và chiến tranh, trong những dấu hiệu và địa điểm mơ hồ. Srinagar là việc nhìn vào một cây cầu, một vùng đất hoang, một tòa nhà tầm thường để biết rằng nơi đó đã có những người đàn ông ngã xuống, có những cậu bé bị tra tấn.

Là người làm báo, tôi đã có cơ hội gặp Merajuddin, cựu phóng viên ảnh người Kashmir, trông rất “ra dáng” trong cái áo khoác dành cho nhiếp ảnh gia. Merajuddin luôn đeo kiếng đen sau khi bị mất con mắt trái vì mảnh vỡ của một quả lựu đạn. Có lần tôi hỏi ông làm thế nào ông có thể đương đầu với bạo lực như thế khi còn là phóng viên. Ông nói như một người đã chứng kiến tất cả. “Tôi đã khóc như một đứa bé khi những người biểu tình bị thảm sát trên cầu Gawkadal. Sau sự kiện đó, không gì có thể làm tôi khóc được nữa.” Tôi nhớ lại cảnh mình đang ngồi cùng với gia đình và nghe tin về vụ thảm sát tại cầu Gawkada trên đài BBC Thế giới và hầu như mắt ai cũng ngấn lệ. Trưa hôm sau, tôi đi biểu tình cùng với các thanh niên và phụ lão, đàn ông và đàn bà, con trai và con gái của làng mình, hô to các khẩu hiệu chống đối vụ thảm sát. Tôi còn quá nhỏ để hiểu được sự tàn bạo dã man đến thế nào. Nhưng khi tôi lớn và bắt đầu hiểu rõ, ký ức đó luôn ám ảnh tôi.

Cầu Gawkadal cách trung tâm Lal Chowk vài trăm mét. Một buổi trưa nọ khi tôi đang đi ngang Lal Chowk, một đám con gái trong những bộ đồng phục trắng rạng rỡ ùa ra từ các cổng của trường cao đẳng gần bên, khuấy động mấy tốp con trai đang quanh quẩn gần đó ăn mặc như được nhân bản vô tính từ các ngôi sao nhạc pop. Đó là giây phút duy nhất bạn được thấy cơ man là phụ nữ Kashmir, những người chỉ thích màu hồng tươi, màu đỏ, xanh dương, xanh lá cây. Lũ con trai trong áo thun sặc sỡ như cầu vồng và quần vải đúng quy định có vẻ vô cùng kinh ngạc. Nhìn chúng nó, tôi nhớ lại một bức tranh biếm họa gần đây trên một tờ báo địa phương, vẽ một đứa con trai trên tay là một cái chén ăn xin bên ngoài cổng trường cao đẳng nữ.

Đó là cảnh tượng lặp đi lặp lại mỗi buổi trưa trước cổng các trường cao đẳng và trung học ở Kashmir. Mặc dù là một xã hội gia trưởng, Kashmir vẫn dành một khoản tiền cho việc giáo dục của nữ giới và việc đó đang diễn ra thuận lợi, khi nữ giới giành được nhiều giải thưởng trong các cuộc thi cạnh tranh cao – dù là trong những trường y, trường kỹ sư, hay các hệ nghiên cứu về luật, báo chí, hóa sinh, hay điện toán tại trường Đại học Kashmir hoặc một trường nào đó. Sau khi tốt nghiệp, họ nhận những vị trí xứng đáng trong xã hội – giáo viên, quản lý ngân hàng, bác sĩ, giáo sư, luật sư, nhà báo và kiến trúc sư. Tôi luôn tận dụng điều đó khi lớn lên trong sự bảo bọc của năm chị em gái của mẹ tôi, mỗi người đều có tấm bằng cao học ngành nhân văn và được đào tạo kỹ năng sư phạm trước khi tham gia giảng dạy ở nhiều trường trung học và cao đẳng.

Cách đám đông lộn xộn đáng yêu này không quá vài trăm mét là khu Maisuma, một căn cứ hùng mạnh của phe ủng hộ độc lập thuộc Mặt trận Giải phóng Jammu và Kashmir. Báo chí gọi nó là dãy Gaza của Kashmir. Maisuma là một cái chợ đông nghịt, đầy mùi quế và bạch đậu khấu từ những bao đay chồng chất trước các cửa tiệm tỏa theo gió sang bên kia đường. Một mùi khác của Maisuma là mùi bánh xe khét lẹt trộn lẫn hơi cay khi các cửa tiệm đóng chặt và dân chúng biểu tình chống bắt bớ và giết hại tù nhân. Cây cầu Gawkadal đã chết cùng với những người biểu tình vào tháng Giêng năm 1990. Bộ khung còn đó, hai cái trụ xơ xác trên con kênh bẩn thỉu.

Phía bên kia cầu là một boongke và bên ngoài boongke có hai tên lính gác. Gần đấy, một người bán chuối đang rong ruổi trên chiếc xe kéo. Hai người đàn ông đứng bên cạnh đang ăn chuối ngấu nghiến. Tôi hỏi thăm họ về vụ thảm sát. Một trong hai người, người đàn ông ngoài ba mươi có cái bụng phệ đang khổ sở trong chiếc áo gió rẻ tiền màu xanh nói, “Tôi có mặt trong đám biểu tình đó.” Anh ta quăng vỏ chuối xuống con kênh sình lầy và bảo tôi rằng nơi đó bị giới nghiêm suốt ba ngày liền, bọn lính đã rào khu vực xảy ra vụ thảm sát bằng dây thép gai và xe bọc thép của quân đội được lệnh đậu chắn tất cả lằn đường. Lực lượng bán quân đội đã cung cấp bánh mì và đậu lăng cho cư dân trong vùng. “Nhưng chúng tôi từ chối nhận thức ăn của bọn chúng. Mẹ chúng tôi bảo chúng tôi mang giày vào rồi đi sang Pakistan để được huấn luyện vũ trang,” anh kể. Rồi anh nhặt lên một trái chuối nữa và nói, “Sau cuộc thảm sát, tôi đã khiêng mười lăm cái xác đến đền thờ. Mắt của họ vẫn mở, chính tay tôi đã vuốt mắt họ. Tôi sẽ dẫn anh đến đền thờ và chỉ anh xem nơi chúng tôi đã để những cái xác đó. Tôi sẽ cho anh xem các tấm ảnh chụp xác, rồi anh có thể gặp gỡ những người phụ nữ có chồng bị giết. Nhưng tôi không thể cứ nói chuyện thế này. Anh nên mang một máy quay phim đến, thu hình cuộc phỏng vấn với tôi và chiếu lên Aaj Tak (một kênh tin tức của Ấn Độ).” Tôi chăm chú nhìn anh, từ chối vì tôi không có máy quay phim truyền hình, nhưng anh vẫn khăng khăng, “Lấy một máy quay phim đi, rồi đến đây trước thứ Hai. Tôi có việc làm vào ngày thứ Hai. Cứ hỏi thăm bất cứ ai về Babloo thợ sơn và họ sẽ dẫn anh đến chỗ tôi. Ở đây, tôi nổi tiếng tầm cỡ thế giới.”

Một tiếng sau, khi uống cà phê cùng bạn bè, tôi tường thuật lại cuộc gặp gỡ với Babloo thợ sơn tầm-cỡ-thế-giới cho một số người. Một người bạn nhắc tôi về một người kỹ sư đã thoát chết trong cuộc thảm sát. “Tôi nghĩ anh ấy vẫn còn làm việc tại sở cấp nước,” anh bạn tôi nói. Những cuộc gọi đến sở cấp nước chẳng giúp được gì cho tôi. Tôi nhất định gặp bằng được người kỹ sư đã sống sót trong vụ Gawkadal.

Một tuần sau tôi nhận được điện thoại của một người bạn. Lúc đó tôi đang dạy đứa em họ mười tuổi cách dùng Internet. Chúng tôi chỉ vừa mở được vài trang với tốc độ kết nối chậm đau chậm đớn thì có tiếng điện thoại reo. “Cậu Basharat này, cái tay kỹ sư đó sống gần nhà cậu đấy. Tên anh ta là Farooq Wani. Lưu số điện thoại của anh ta này.”

Farooq Wani đang ở nhà khi tôi gọi đến. “Tôi sống ở đường Green, khu Rajbagh. Cậu đến đi, chúng ta sẽ cùng uống trà,” anh ấy nói. Đường Green cách nhà tôi khoảng một dặm, là con đường của giới thượng lưu có một hàng dài các biệt thự xây bằng gạch đỏ và mái hình nón kiểu Kashmir. Một cô gái đang tưới hoa bên ngoài nhà của người kỹ sư. Cô ấy chỉ tôi đi thẳng vào phòng khách. Một người đàn ông phốp pháp ngoài bốn mươi với đôi mắt xanh và mái tóc nâu, mặc bộ vét màu xanh đậm, mở cửa. “Tôi là Farooq.” Anh mỉm cười và bắt tay tôi. Những chiếc bàn và ghế làm bằng gỗ óc chó chạm trổ đặt trên thảm. Những hình thù bằng giấy bồi được đặt trên các kệ của chiếc tủ đựng chén đĩa. Anh Farooq và tôi ngồi đối diện nhau.

Tháng Giêng năm 1990, anh là kỹ sư phụ tá trong chính phủ tiểu bang, quản lý việc cung cấp nước cho nhiều nơi ở Srinagar. Anh đang thực hiện một nhiệm vụ rất quan trọng vào ngày 19 tháng Giêng và rời khỏi nhà vào buổi sáng cùng với tờ giấy được phép thông hành trong đêm giới nghiêm. Vài tên lính của lực lượng bán quân đội chặn anh lại vài lần trên đường đi làm. Anh trình giấy phép và chúng để anh đi. Sau khi lắp đặt thiết bị cấp nước, anh đi bộ về Maisuma để thăm một ông chú. “Chúng tôi đã nghe tin về những vụ soát nhà và bắt bớ ở đó. Tôi rất lo lắng cho gia đình chú tôi nên quyết định đến thăm họ.” Gần Lal Chowk, anh thấy một toán diễu hành hùng hậu hướng về Maisuma. “Tôi đi theo toán diễu hành đó. Chúng tôi đến cầu Gowkadal. Có rất nhiều lính thuộc lực lượng bán quân đội trông rất căng thẳng đứng dài theo con đường, chĩa súng vào những người biểu tình.”

Anh Farooq ngừng lại, uống ít nước, rồi nhấn một cái chuông. Một người hầu mang trà, bánh mì và harisa, món thịt cừu được nấu thật lâu trong nồi đồng cùng với quế, nghệ và bột bạch đậu khấu cho đến khi nó trở nên giống như sáp. “Ông chú tôi sống ở bên kia cầu, tôi định sẽ rời toán diễu hành khi đến nhà chú ấy. Những người biểu tình rất giận dữ, dốc hết sức gào thét những khẩu hiệu nảy lửa,” anh kể. Lính bán quân đội đứng trên cầu. Những người biểu tình vẫn thét vang những khẩu hiệu đòi tự do. Giữa những tiếng hô khẩu hiệu, anh Farooq nghe thấy một tràng đạn. Loạt đạn đã làm đoàn biểu tình tan tác, người ta la hét, ngã xuống, rồi lại la hét. Anh phóng lên một lối đi và nằm sát mặt đất. “Đạn bay vèo vèo ngang tai tôi. Cây cầu đã phủ đầy xác người và lênh láng máu. Bọn lính CRPF vẫn tiếp tục xả súng. Tôi thấy nhiều người ngã xuống hơn, rồi tôi nhắm mắt lại, giả vờ chết.”

Farooq co rúm người lại trên ghế, bỏ dép trên thảm. Tôi không ăn được nữa, anh Farooq cũng bỏ ly trà của mình xuống. Ký ức đã nhấn chìm mùi vị của món harisa, những tấm thảm trang nhã và mấy món đồ trang trí nội thất cũng trở nên mờ nhạt. Anh Farooq không còn ngồi trong căn phòng này để trò chuyện với tôi. Anh đang ở trên cây cầu, giả vờ chết. Anh đang nghe thấy những tiếng hét đau đớn và loạt đạn cứ vài giây lại bắn một lần. Lính bán quân đội rảo bước quanh cây cầu. Anh nhìn thấy một tên sĩ quan đi đến từng cái xác một, kiểm tra xem có ai còn sống không. “Tôi nằm bất động và từ khóe mắt, tôi thấy hắn bắn thêm vài viên đạn mỗi lần phát hiện ra một người còn sống hay chỉ bị thương.” Anh Farooq chờ cho bọn lính bỏ đi. Càng lúc càng khó giả vờ chết. Gần chỗ anh nằm, ai đó đã làm rớt một cái kangri, loại bình lửa nhỏ mà người Kashmir luôn mang theo trong mình vào mùa đông. Những viên than đá đỏ hồng trong cái kangri rơi vung vãi trên lề đường. Gò má anh phồng rộp vì sức nóng của chúng. Anh xoay mặt đi thật chậm để tránh bị phỏng. Tên sát nhân nhìn thấy anh. “Cái thằng khốn này còn sống,” Farooq nghe hắn hét lên. Tên sĩ quan đó chạy lại chỗ anh, đá anh và xả một loạt đạn xuyên thủng người anh. Rồi anh bất tỉnh.

Một xe cảnh sát chạy đến. Những cái xác được chất lên xe, bọn cảnh sát thảy anh lên đó. Chiếc xe chạy đến phòng kiểm soát của cảnh sát, nơi người dân Kashmir sẽ đến nhận xác người thân trong những ngày sắp đến. Bên trong xe, anh Farooq tỉnh lại và nằm im. Xe dừng lại tại bệnh viện của cảnh sát cách cầu Gawkadal hai dặm. Khi cảnh sát ở bệnh viện bắt đầu đem xác xuống, anh la to, “Tôi còn sống!” Những viên cảnh sát, tất cả đều là người Kashmir, ôm chầm lấy anh. Khi họ mang anh đi thì một thằng nhóc quần áo mặt mày đẫm máu nhảy ra khỏi đống xác chết. Thằng bé lấy tay rờ khắp người nó rồi hét lên, “Tôi không dính đạn. Tôi không dính đạn. Tôi còn sống.” Nó đứng im một lúc rồi chạy ùa ra khỏi tòa nhà. Anh Farooq phải nằm viện. Gia đình anh được tin anh còn sống một ngày sau đó. “Họ tưởng là tôi đã chết.”

Nhiều tháng sau đó, anh phục hồi sức khỏe và trở lại làm công việc kỹ sư. “Hôm ấy Thượng Đế đã ban tặng cho tôi một cuộc đời mới. Tôi biết ơn ngài và sống trọn vẹn từng giây phút. Tôi cũng thường nghĩ về thằng bé đã chạy ra khỏi bệnh viện. Những ký ức như thế làm cho tôi trăn trở mãi. Nhưng tôi không phải là người duy nhất, mà có hàng trăm người giống như tôi vậy.”

Chúng tôi dùng thêm một tuần trà kahwa nữa và trò chuyện về Kashmir thêm một lúc. Anh băn khoăn, không biết cuộc xung đột có được giải quyết hay không và làm sao để có một nền hòa bình dài lâu. Đó là câu hỏi của hầu hết người Kashmir. Không ai trong chúng tôi biết câu trả lời. Bỗng điện thoại của anh reo: một nhân viên của anh gọi. Farooq hướng dẫn anh kia một loạt kỹ thuật phức tạp. Nhìn anh nói chuyện với sự tập trung căng thẳng, thật khó mà tưởng tượng được chính người đàn ông này đã sống sót qua một trong những vụ thảm sát kinh hoàng nhất ở Kashmir. Trong góc nhà có một bộ gậy đánh gôn. Anh hiện là thành viên của câu lạc bộ gôn thượng lưu của Srinagar.

• • •

Iffat, cô em họ mười tuổi của tôi, đang đợi tôi ở nhà để giúp nó viết một bài tập làm văn. “Anh đi gặp ai vậy?” con bé hỏi ngay lúc tôi vừa bước vào.

“Một người bạn của anh,” tôi nói.

“Anh ấy làm nghề gì?”

“Anh ấy là kỹ sư.”

“Tại sao anh lại đi gặp anh ấy?” Những câu hỏi của nó có thể kéo dài vô tận, nên tôi gợi ý là chúng tôi nên cùng nhau làm bài văn của nó. Sau khi xong xuôi hết, tôi ngồi một mình trong phòng, nghĩ về anh Farooq, về anh chàng Babloo thợ sơn và cây cầu Gawkadal. Với tôi, vụ thảm sát trên cầu Gawkada đã gắn chặt với ký ức về hàng loạt các vụ thảm sát khác. Trong mùa đông của năm 1990, Srinagar là thành phố của những cuộc thảm sát. Các nhóm nghĩa quân nổi dậy cùng với các lực lượng Ấn Độ đã phơi bày một sự tàn bạo. Ông Mushirul-Haq, hiệu phó trường Đại học Kashmir, đã bị bắt cóc và giết chết sau khi chính phủ Ấn Độ từ chối đòi hỏi của quân nổi dậy là thả các con tin. Những Pandit và người Hồi giáo Kashmir xuất chúng, được xem là thân Ấn Độ, trở thành mục tiêu kế tiếp. Ngày 21 tháng Năm 1990, phe nổi dậy thuộc Hizbul Mujahideen, một nhóm nghĩa quân ủng hộ Pakistan, đã ám sát vị giáo chủ của Srinagar, ông Maulvi Farooq, một chính trị gia lừng lẫy. Cuộc tuần hành của những người để tang cho ông bắt đầu từ nhà ông ở khu vực phía bắc của Srinagar.

Gần ngôi trường một trăm tuổi cổ kính ở trung tâm Srinagar, được cha ông Maulvi Farooq xây dựng với mục đích giáo dục dành cho những người Kashmir Hồi giáo, lực lượng bán quân đội đã xả súng xối xả vào đoàn người đưa tang. Các viên đạn xuyên thủng quan tài, còn những người khiêng quan tài và đưa tang thì ngã xuống. Khoảng một trăm người bị sát hại. Những đôi giày dính đầy máu của họ nằm lại trên đường sau khi xác của họ được mang đi. Người ta quên đi vụ ám sát vị giáo chủ và thay vào đó, cơn thịnh nộ đối với Ấn Độ dâng trào. Omar Farooq, đứa con trai mười tám tuổi vừa làm lễ nhậm chức giáo chủ của ông, đã khẩn khoản kêu gọi sự giúp đỡ của các nhà lãnh đạo trên thế giới nhằm mang lại cho Kashmir quyền tự quyết. Những hình ảnh của vụ thảm sát đó đã đi vào thơ ca và hội họa.

Nhiều người đưa tang hôm đó đã được an táng tại một nghĩa trang mới, được xây gần Eidgah, mảnh đất truyền thống ở Srinagar dành cho việc cầu nguyện trong lễ Eid. Trong bao thế kỷ nay, người Kashmir đã chôn cất người chết tại những nghĩa trang quanh vùng. Các thành viên trong gia đình sẽ tắm cho người quá cố, mặc cho họ chiếc áo thụng màu trắng và đưa thi thể đó đến nghĩa trang để làm lễ tang. Nhưng những người bị giết bởi các lực lượng Ấn Độ trong các cuộc nổi dậy thì không phải là những người chết bình thường. Họ được xem như những người tử vì đạo, hy sinh cho tự do. Họ không được tắm hay mặc áo thụng trắng. “Những người tử vì đạo không cần được tắm rửa hay mặc áo thụng.” Tôi được nghe câu nói này thường xuyên kể từ mùa đông năm 1990. Họ được an táng hầu hết tại nghĩa trang mới xây ở phía tây của Srinagar, được người dân Kashmir biết đến như Nghĩa trang liệt sĩ. Tôi đến đó trong tư cách phóng viên sau mỗi vụ thảm sát hoặc vào ngày tưởng niệm những người đưa tang và vị giáo chủ của Srinagar. Nhưng lần đầu tiên tôi đến đó là vào giữa những năm chín mươi, cùng với bạn của tôi, Shan, người sống gần đó.

Bao bọc khu dân cư đông đúc gồm những căn nhà gỗ và gạch nhiều tầng có ban công nơi Shan ở, là một sân chơi ngập cỏ, nơi lũ con trai chơi cricket và mấy con ngựa, bò lạc đứng nhai cỏ. Tôi đến thăm lại nơi ấy cùng với Shan. Trong một góc, cái nghĩa trang là bãi đất vuông vức có tường bao bọc. Nơi lối vào có thông báo: NGHĨA TRANG LIỆT SĨ KASHMIR. Trên cổng có khắc dòng chữ: XIN ĐỪNG QUÊN RẰNG CHÚNG TÔI ĐÃ HY SINH NGÀY HÔM NAY CỦA MÌNH ĐỂ ĐỔI LẤY NGÀY MAI CHO CÁC BẠN. Trong thời niên thiếu, Shan đã ngồi trước các cửa tiệm và nhìn những xác người được mang vào nghĩa trang và các phóng viên báo chí vác máy ảnh và sổ ghi chép chạy vòng quanh.

Chúng tôi đi qua cái cổng bằng lưới sắt và bước trên những lối nhỏ lát đá cuội chạy giữa các ngôi mộ, giữa sắc đỏ và tím kiêu hãnh của hoa hồng và hoa diên vỹ. Hàng trăm ngôi mộ xếp thành nhiều dãy thẳng tắp, mỗi ngôi mộ có một bia đá cẩm thạch hình chữ nhật với đường viền màu xanh lá cây khắc tên của người chết và lời đề: CHỈ CÓ THƯỢNG ĐẾ LÀ VĨNH CỬU! Có rất nhiều cái tên quen thuộc với tôi: Maulvi Farooq, vị giáo chủ và Ishfaq Majeed, chỉ huy lực lượng JKLF (với chữ “Ngài” được gắn trước tên). Có một ngôi mộ dành cho ông Maqbool Bhat, người sáng lập JKLF, đã bị treo cổ và chôn tại nhà tù Tihar ở Delhi vào đầu những năm tám mươi. Trên tấm bia là dòng chữ: PHẦN MỘ NÀY ĐỢI CHỜ ÔNG ẤY. Và còn bao nhiêu người vô danh khác từ khắp nơi trong bang Kashmir. Trong một ngôi mộ, có hai đứa trẻ con – bốn và năm tuổi – được chôn cùng với nhau. Hầu hết bia mộ đều nêu tên của những kẻ sát nhân: cảnh sát, quân đội, các lực lượng an ninh, như thể chúng cũng trở nên bất tử.

Ở một góc nghĩa trang có vài ngôi mộ trống. Ông Hasan, người giữ nghĩa trang nói rằng chúng được đào sẵn dựa vào dự đoán số lượng người chết trong thời kỳ đầu những năm chín mươi. Ông Hasan sống gần khu vực đó và từng làm nghề buôn nhỏ. Sau lần ông phát bệnh tim mạch thì người con trai đã thế chỗ ông. Rồi cuộc chiến bắt đầu, ông thường viếng nghĩa trang để cầu nguyện cho những người chết. “Ta tìm thấy sự thanh thản khi ngồi giữa những liệt sĩ. Vài năm sau, ta tình nguyện chăm sóc mồ mả cho họ. Bây giờ việc này chính là cuộc sống của ta.” Như những người đạo Hồi khác, ông Hasan tin rằng những người tử vì đạo vẫn sống sau khi họ đã chết và mộ của họ là những khu vườn tỏa hương. “Có lần trời mưa rất to và vài ngôi mộ đã bị hư hại. Không có gì sót lại trong những ngôi mộ bình thường ngoại trừ đất. Nhưng điều đó không đúng với những người đã tử vì đạo, bởi thân xác của họ không bị mục rữa. Trong một ngôi mộ, ta đã thấy tóc của người tử vì đạo. Nhìn giống như là anh ta đang ngủ. Tất cả ngôi mộ ta đã sửa chữa đều dâng lên một mùi hương thiên đường, mùi hương của những liệt sĩ,” ông Hasan nói. Chắc hẳn thấy cái nhìn đầy nghi hoặc của tôi nên ông Hasan đã nói, “Con trai ạ, con còn quá trẻ để hiểu được điều này, nhưng ta đã kinh qua việc đó.”

Chuyện kể về những cuộc nổi dậy của người Kashmir, về sự đàn áp tàn bạo của bọn cầm quyền và việc tôn vinh những người đã chết như những liệt sĩ, là chuyện đã cũ. Bao thế kỷ nay ở Srinagar, người ta vẫn viếng thăm mộ của những người đương đầu với bọn cai trị và bị giết. Có một Nghĩa trang liệt sĩ khác, chôn cất những người bị giết vào năm 1931 bởi quân của Hari Singh, cai trị người Kashmir, mang dòng máu Dogra. Sau khi đánh mất nền độc lập vào tay những hoàng đế Mughal của Delhi vào thế kỷ mười sáu, Kashmir đã có rất nhiều kẻ cầm quyền ngoại bang. Vào khoảng giữa thế kỷ mười tám, các Mughal đã để mất Kashmir vào tay đội quân của một chiến binh người Afghanistan là Ahmad Shah Abdali. Và đầu thế kỷ mười chín, Ranjit Singh cầm đầu những người Sikh đã đánh bại quân Afghanistan và chiếm Kashmir. Sự thống trị của người Sikh cũng nặng nề như của người Afghanistan. Các thủ hiến người Sikh đóng cửa tất cả đền thờ và bãi bỏ việc nhắc nhở cầu nguyện của đạo Hồi. Nhiều thứ thuế nặng nề được ban hành, những người nông dân bị bắt buộc lao động khổ sai. Nhưng cho đến những năm 1840 thì đế chế thống trị Sikh đã bị lung lay.

Năm 1846 quân Anh tuyên chiến với người Sikh. Rất nhiều lãnh đạo phe Sikh đã ngả sang phe Anh. Nhưng lỗi lầm đáng tiếc đã gây ra hậu quả lớn cho Kashmir là việc làm của Gulab Singh, một thủ lĩnh Hindu của tiểu bang đồi núi Jammu, cũng là khu lân cận với thung lũng Kashmir. Hắn đã phấn đấu vượt bậc để trở thành một vị tướng trong quân đội của Ranjit Singh. Gã Gulab Singh đã hứa hẹn giúp quân Anh và sẽ không tham gia vào trận chiến năm 1846. Quân Sikh thua trận. Còn gã Gulab được ban thưởng. Người Anh bán Kashmir cho hắn với giá bảy trăm năm mươi triệu rupee. Để lấy lại số tiền hắn đã trả cho người Anh, Gulab Singh vơ vét từng xu mà hắn có thể bòn rút được, đồng thời đẩy mạnh begaar (chế độ cưỡng chế lao động).

Cũng có một vài tiếng nói chống lại sự mua bán bang Kashmir và cuộc sống khốn cùng của người dân dưới sự cai trị của Gulab Singh và con cháu của hắn. Khoảng vài năm trước trong một thư viện ở Delhi tôi đã tình cờ thấy một quyển sách in tại Luân Đôn, có tựa đề Sự cai trị kém ở Cashmeer của tác giả Robert Thorpe, nhưng cuốn sách lại không nói gì về cuộc đời của ông. Trong một lần về thăm nhà, tôi tìm thấy trong thư viện của cha tôi một cuốn sách của Thorpe, được một sử gia gốc Srinagar biên tập. Sử gia này đã thêm thắt nhiều chi tiết. Câu chuyện bắt đầu khi R. Thorpe, một đại úy quân đội Anh đang tham quan khắp bang Kashmir vào đầu thế kỷ mười chín. Trong thời gian ở trọ tại nhà một người dân địa phương, ông ta gặp cô Amiran, con gái của chủ nhà. Thorpe và Amiran đã yêu nhau, cưới nhau và cùng về Anh. Họ sinh ra Robert Thorpe năm 1833.

Trong thời niên thiếu, Thorpe đã từ Anh sang thăm nơi chôn nhau cắt rốn của mẹ và ông đã chứng kiến cảnh người dân Kashmir sống như nô lệ dưới sự cai trị của Pratap Singh, con trai của Gulab Singh. Ông đã thu thập được các con số mắt thấy tai nghe về sự đánh thuế tàn nhẫn và về cái chết của những người bị cưỡng chế lao động do bị bỏ đói, kiệt sức và không đủ ấm và ông đã xuất bản những báo cáo đó dưới cái tên Sự cai trị kém ở Cashmeer. Ông Thorpe đã miêu tả tình trạng của những người bị bắt đi cưỡng bức lao động: “Không ai cứu được họ – những người đã chứng kiến toàn bộ sự khủng khiếp đó. Những người Kashmir đã nhẫn nại, làm việc quần quật qua mưa tuyết dày đặc. Nhiều người cố động viên nhau bằng niềm hy vọng. Họ có thể sang được phía bên kia an toàn. Nhưng họ đã sức cùng lực kiệt và những trận gió đã làm tê bại cơ bắp của họ. Dần dần, cái cảm giác đinh ninh xiết chặt lấy tim họ, bảo rằng họ sẽ không bao giờ rời bỏ được trạng thái cô độc khủng khiếp đó, sẽ không bao giờ được thấy lại tổ ấm của mình hoặc thấy những con người lắt lay bám víu để chờ đợi họ trở về, ở một nơi xa xôi trong thung lũng Kashmir ngập ánh mặt trời.” Pratap Singh đã lập kế hoạch buộc ông Thorpe giữ im lặng. Một buổi sáng mùa đông năm 1868, ông Thorpe đang đi bộ về hướng đồi Shankaracharya ở Srinagar thì lính của tên Singh đã tấn công ông bằng dao găm. Nhà văn dũng cảm đã ngã xuống và chết tại đó. Ông được chôn cất trong một nghĩa trang Thiên chúa giáo nằm phía sau Lal Chowk.

Những nam nữ sinh của hai trường dòng đứng láo nháo trên con đường dẫn vào nghĩa trang. Những người Tây Tạng sang tị nạn ở Kashmir vào những năm sáu mươi đang bán giày dép và quần áo trên lề đường. Tôi thấy dòng chữ Nghĩa trang Thiên Chúa giáo khắc trên một cổng sắt nhỏ. Bên trong, có ba người đang ngồi trên vỉa hè. Tôi hỏi thăm họ về ngôi mộ của ông Robert Thorpe, họ chưa bao giờ nghe đến tên ông. “Mộ ở đây toàn là của những người theo đạo trong vùng,” một người có dáng bệ vệ nói. Rồi ông ta chỉ tay về phía tận cùng của nghĩa trang. “Anh sẽ thấy mộ của những quý ông quý bà người Anh ở đó.” Cỏ dại mọc tràn lan quanh mấy ngôi mộ bằng đá cẩm thạch và đá vôi, những cây chinar và cây thông đường bệ che mát cho khu nghĩa trang dạng bậc thang này. Người đàn ông bệ vệ nhờ tôi dịch những dòng văn bia viết bằng tiếng Anh. Mỗi lần phát hiện ra một ngôi mộ cả trăm năm tuổi, ông lại la to, “Không có gì tồn tại mãi! Tất cả chúng ta đều trở về với Người! Người đã tồn tại và sẽ là duy nhất. Người sẽ mãi tồn tại! Tất cả chúng ta rồi sẽ trở về với Người!” Tôi không thể tìm thấy mộ của ông Thorpe.

Tôi đang đọc một dòng văn bia thì có một người lắc vai tôi và đòi tôi trả năm mươi rupee. “Tôi sẽ chỉ cho anh một ngôi mộ rất quan trọng. Nhiều người đã đến thăm và chụp ảnh nó.” Ông ta đưa tôi đến một ngôi mộ đã cũ, thời gian đã biến màu đá vôi của nó thành màu đen. Cỏ dại và các cành cây nhỏ đã phủ kín mộ. “Ông có biết gì về ông ấy không?” tôi hỏi. Ông ta cười khúm núm. “Không! Nhưng ông ấy là một người rất quan trọng.” Tôi gỡ bỏ những nhánh cây khô và cỏ dại, rồi phủi bùn đất trên tấm bia mộ. Những hàng chữ khiêm tốn được khắc trên bia đá như sau:

ROBERT THORPE

30 TUỔI

22 THÁNG MƯỜI MỘT 1868

VERITAS

ÔNG ĐÃ HIẾN CUỘC ĐỜI MÌNH CHO KASHMIR

Srinagar là thành phố của các boongke. Trong số các thành phố trên thế giới, nó đứng đầu về mật độ hiện diện của quân đội. Nhưng Srinagar cũng là thành phố của sự thiếu vắng. Nó đã đánh mất những buổi tối của mình cho hơn một thập niên rưỡi toàn những đêm giới nghiêm chính thức và không chính thức. Nó đã đánh mất các rạp hát của mình: Regal, Shiraz, Neelam, Broadway – những cái tên huyền diệu mà tôi đã mơ ước suốt thời thơ ấu. Chúng đã bị đóng cửa trước khi tôi kịp lớn để tự mua vé và xem một bộ phim dở tệ của Bollywood.

Srinagar cũng đã đánh mất tính cách đa tôn giáo của nó cùng với làn sóng di dân của các Pandit người Kashmir đầu những năm chín mươi. Tôi còn nhớ nữ chủ nhà Pandit của tôi ở Delhi. Bà ấy luôn nói về việc thăm lại nhà cũ của mình ở Srinagar. Tôi không biết nhà của bà ở đâu, nhưng tôi có thể ghé qua khu vực bà từng sống: Habbakadal, trung tâm của Srinagar. Một buổi trưa nọ, tôi đi vào một tiệm cà phê gần cây cầu Habbakadal xiêu vẹo, chiếc cầu thứ ba trên dòng sông Jhelum chảy ngang Srinagar. Một thằng bé bận áo thun Adidas đang trông quầy hàng. Cha của nó là chủ tiệm này. Tôi hỏi thăm nó về những nơi thú vị của Habbakadal. “Ở đây không có gì để xem hết. Nó là một đống đổ nát. Đi dọc xuống dưới đường thì ông sẽ thấy mấy căn nhà cháy rụi,” nó nhún vai nói.

Tôi sắp sửa rời khỏi tiệm thì một người đàn ông lớn tuổi đi vào. Thằng nhóc lật đật quăng điếu thuốc của nó đi. “Ông ấy là cha tôi.” Nó nhảy xuống ghế. Người cha ngồi sau quầy nhìn ngắm thiên hạ qua lại. Tôi hỏi thăm ông ấy về khu vực này. “Quẹo trái, cái nhà lầu thứ hai tính từ tiệm của tôi là một ngôi đền Hindu cổ xưa,” ông trả lời.

Tôi rời tiệm, đi bộ lên cổng đền thờ rồi dừng lại. Cả khu đền thờ giờ đây là một doanh trại bán quân đội. Hàng loạt boongke sừng sững đứng dọc các bức tường che khuất quang cảnh điện thờ. Tôi nhìn thấy mái thiếc và đỉnh tháp bằng đồng của ngôi đền. Có một miếng sắt sơn xám gắn vào một boongke cát. Trên đó, một dòng chữ đậm xịt bằng mực đen viết: Ấn Độ vĩ đại! Một cột cờ Ấn Độ được gắn vào cái boongke đó.

Trên cây cầu hiện nay chỉ dành cho những người đi bộ, một nhóm cụ già đang ngồi sưởi nắng. Tôi ngồi cạnh họ, nhìn về hướng những ngôi nhà gỗ nằm dài trên bờ sông. Trên một bến nước, những người đàn bà ngồi giặt quần áo và lũ trẻ con chạy lên chạy xuống mấy bậc thang dẫn đến bến nước. Ông Abdul Razaq, một trong số các cụ ngồi đó, chỉ tay vào những căn nhà xiêu vẹo nằm dọc theo bờ sông nói, “Phần lớn là nhà của các Pandit. Những người đó bỏ đi và bây giờ thì nhà họ bỏ hoang.” Ánh mắt ông lướt qua những cánh cửa sổ gỗ mục nát và những mái nhà ốp ván bám đầy bụi bặm nằm hoang phế. Bà Kaul chắc sẽ sống trong một ngôi nhà như vậy, cách chỗ tôi đứng không xa lắm. Bên tả ngạn sông, mái lợp dát đồng của một ngôi đền cổ kính phản chiếu ánh nắng nhạt. “Đó là đền Raghunath, một trong những ngôi đền đẹp nhất ở đây.”

Tôi đi bộ qua một con đường lát đá luồn lách giữa những ngôi nhà nhiều tầng xây xi-măng và những căn nhà gỗ cũ kỹ. Tầng trệt của chúng đã được tận dụng làm cửa tiệm và những người chủ ngồi uể oải sau các quầy bằng gỗ. Trong một tòa nhà rệu rã với mái và cả tầng cao nhất bị thiêu trụi, có một cửa tiệm đề: SỰ LỰA CHỌN CỦA THẾ HỆ MỚI – VCD VÀ DVD MỚI NHẤT CỦA BOLLYWOOD. Con đường trở thành một con hẻm hẹp. Tôi hỏi thăm một cô bé tóc đuôi ngựa đền thờ Raghunath ở đâu. Cô bé chạy lên phía trước, ngoắc tay bảo tôi đi theo và dừng lại gần một bức tường sập.

Tôi trèo qua bức tường sập và nhảy xuống một đống rác trong sân đền thờ. Những con chó hoang trong đền thờ sủa inh ỏi. Những miếng dát đồng của nóc đền bị vỡ làm lộ ra những viên gạch nung. Đám lau sậy và bụi rậm đã lấn chiếm hết sân và những bậc thang dẫn vào nhà nguyện. Đi ngang qua gian trưng bày, tôi vào trong nhà nguyện. Bên trong tràn ngập phân chim bồ câu, mạng nhện và một sự thinh lặng ảm đạm. Các viên gạch trần trụi nhìn tôi trừng trừng. Tôi giẫm chân lên những mảnh vữa tường vãi tung tóe trên sàn. Bức tượng nữ thần Hindu trên bục giảng kinh đã biến mất, giống như những người Pandit vậy. Một đàn bồ câu bay ùa vào sảnh nhà nguyện, vỗ cánh vài vòng rồi bay ra bóng tối nhá nhem trên dòng Jhelum và vào thành phố.

Có hai thanh niên ăn mặc luộm thuộm đang đứng trong sân đền. Họ giật mình khi thấy tôi, ra là họ đang hút bồ đà. Những người trốn khỏi thế giới lành mạnh đã tìm thấy chỗ tá túc trong ngôi đền hoang! Sau những lời giới thiệu, họ mềm mỏng hơn và mời tôi hít một hơi. Tôi từ chối. “Thôi được. Nhưng mà nói tôi nghe vì sao anh đến đây?” một tay hỏi.

“Tôi nhìn thấy nóc đền thờ từ phía xa và đã tò mò muốn ngó qua một tí.”

Anh ta hít một hơi bồ đà và nhìn lại ngôi đền. “Khi tôi còn nhỏ, nó từng đông nghẹt người. Những người Pandit hát điệu bhajan suốt đêm. Rồi họ đã bỏ đi. Bây giờ chỉ còn những djinn[37] sống ở đây.” Ánh hoàng hôn yếu ớt rọi xuống dòng Jhelum đang dần tối thẫm. Trên đường về, tôi băng qua Lal Chowk và dòng sông Jhelum lần nữa. Những ngả đường tối âm u và dòng sông ảm đạm như đang khóc than cho những vị thần linh đã thất lạc và các tín đồ của họ.

Tôi nhận ra mình đang nghĩ đến ngọn đồi Hari Parbat lừng lững đổ bóng xuống khu trung tâm của Srinagar và có liên quan đến huyền thoại về sự gây dựng bang Kashmir. Vào thời tiền sử, có một cái hồ rộng bao la tên là Satisar, đặt theo tên của người vợ thần Shiva của đạo Hindu, bà Parvati, còn được gọi là Sati. Sống trong cái hồ đó là một con quỷ, chất thải của nó tràn ra khắp cả vùng nông thôn quanh hồ Satisar. Nhà hiền triết Kashyapa mục kích sự tàn phá đó đã cầu khẩn bộ ba thần Brahma, Vishnu và Shiva của đạo Hindu dẹp bỏ nơi trú ẩn của con quỷ nọ. Nhưng con quỷ đã luôn trốn sâu dưới nước mỗi khi các vị thần tấn công nó. Thế là thần Vishnu hóa thành một con lợn nòi đực và húc vào những ngọn núi bao quanh hồ. Những nơi thần húc vào xuất hiện một đường dẫn và rút cạn nước hồ. (Người ta tin rằng thị trấn Baramulla thuộc khu vực phía bắc hiện nay của Kashmir từng là nơi thần Vishnu húc đổ những ngọn núi.) Con quỷ dữ lại độn thổ xuống phần đất thuộc trung tâm của Srinagar. Thần Parvati hóa thân thành con chim mynah và thả một viên đá cuội xuống đầu con quỷ. Viên đá cuội biến thành một ngọn núi và giết chết con quỷ. Người Kashmir tin rằng ngọn núi đó là Hari Parbat.

Có một con hẻm nhỏ, dốc dẫn lên ngọn Hari Parbat từ cái chợ tại trung tâm Srinagar. Giữa đường có một điện thờ Sufi[38] rất nổi tiếng. Ngọn Hari Parbat vượt lên trên điện thờ cằn cỗi, trên đỉnh là những bức tường khổng lồ màu be của một pháo đài được xây dựng bởi một người cai trị Afghanistan thời trung cổ. Một buổi trưa nọ, tôi leo lên cao hơn, về phía pháo đài; nơi đó có một thánh đường tưởng nhớ thần Parvati. Hai ông già đang tán gẫu cạnh lối mòn. Tôi hỏi thăm họ về cổng của pháo đài. “Cái cổng ở đằng đó. Nhưng mà cậu đang đi đâu vậy?” một ông hỏi. “Đến pháo đài. Cháu muốn xem thánh đường,” tôi trả lời. Ông nhìn người bạn mình, rồi họ thở dài. “Cậu không hay biết gì à? Nó là một doanh trại.” Tôi nhìn lên mấy bức tường của pháo đài và thấy một họng súng chĩa ra từ một lỗ châu mai. “Đã từng có một thánh đường, một ngôi đền, một cái hồ và mấy cây mơ ở đó,” ông ấy nói thêm. “Giờ thì tất cả đều thuộc về quân đội.”

Srinagar còn là sự khuất dạng và biến mất. Sự vắng mặt và những điều gợi nhớ đến nó có ở mọi nơi. Thỉnh thoảng tôi sẽ lại đi bộ ngang một công viên nhỏ rợp bóng cây chinar và thấy một vòng tròn những người đàn ông và phụ nữ đội băng trắng và cầm những tấm áp phích. Tôi sẽ dừng lại đôi lần, còn những lần khác, tôi sẽ đi qua với một cảm giác cam chịu. Từ bốn ngàn đến tám ngàn người đã biến mất sau khi bị bắt giam bởi quân đội, lực lượng bán quân đội và cảnh sát. Báo chí thường gọi những người mất tích là “những người biến mất” và gọi những người vợ mỏi mòn chờ đợi của họ là “những bán-quả-phụ.”[39] Chính phủ từ chối tiến hành điều tra những vụ mất tích đó, viện lý do là những công dân Kashmir mất tích đã gia nhập các nhóm nổi dậy và vượt biên sang Pakistan để được huấn luyện vũ trang. Rất nhiều người Kashmir tin rằng những người biến mất đó đã bị giết trong tù và bị thiêu trong những nấm mộ tập thể. Một số người vợ của họ đã mất hết hy vọng và cố gắng tiếp tục sống. Một số khác vẫn khăng khăng tranh đấu cho công lý, hy vọng những người yêu thương của họ sẽ trở về. Những người đàn ông và đàn bà trong công viên là cha mẹ, là vợ của những người mất tích. Các cuộc chiến tranh bẩn thỉu dường như đã có một cách để mang những người mẹ đến các quảng trường thành phố.

Nhiều năm trước đây tôi có gặp bà Noora, bảy mươi tuổi, sống trong căn nhà cũ nát gần Lal Chowk. Một lần, người con trai làm chủ tiệm của bà đã đi ra ngoài chơi cricket ở sân Polo. Hàng xóm thấy những chiếc xe jeep của Lực lượng Bảo an Biên giới dừng bên ngoài nhà họ, gần Ghanta Ghar, một tháp canh cũ kỹ có chiếc đồng hồ không chạy. Bọn lính bán quân đội tóm lấy người con trai, đẩy anh ta vào phía sau một chiếc jeep, rồi chạy mất. Khi tôi gặp bà cụ trong gian bếp tù mù của bà thì anh ta đã mất tích tám năm rồi. “Trong mấy năm trời, tôi và con gái mình đi đến tất cả trạm cảnh sát, doanh trại, gặp tất cả chính trị gia chúng tôi có thể. Tất cả đều nói không với chúng tôi. Rồi tôi phải gả hai đứa con gái của mình đi. Tôi không thể cứ lôi chúng đến các doanh trại và đồn cảnh sát. Thiên hạ xì xào.” Khuôn mặt nhăn nheo của bà chỉ thoáng chút xúc động, bởi dường như bà cụ đã quá mệt mỏi vì phải kể đi kể lại câu chuyện mà vẫn không đi đến đâu. “Nhiều nhà báo đến phỏng vấn tôi lắm. Thậm chí một số người angrez cũng đến và hứa hẹn sẽ viết về con trai tôi. Nhưng con tôi vẫn chưa trở về.”

Con trai của bà Parveena Ahanger cũng vậy. Đứa con tàn tật mười sáu tuổi tên là Javed bị bắt tại nhà trong một trận càn quét của quân đội năm 1990. Bà Parveena là một phụ nữ đẫy đà bốn mươi tuổi, người đã cùng với một luật sư, ông Pervez Imroz, thành lập Hội cha mẹ của những người mất tích để vận động và tranh đấu cho các phiên tòa. Khi thì bà động viên và lên kế hoạch cùng với người thân của những thanh niên mất tích, tư vấn pháp lý cho họ và xây trường học cho trẻ em. Khi thì bà lại đến sân bay Srinagar để đi tham dự một hội nghị chuyên đề. Rồi có khi bà lại kể chính câu chuyện của mình ở một nơi nào đó và đôi mắt nâu buồn bã cố kìm nước mắt. Mỗi lần tôi thấy bà, bà đều đang đi cùng với một phụ nữ có chồng hay con trai mất tích. Đối với họ, bà giống như một bà mẹ, vỗ về, an ủi, trách mắng, thúc đẩy họ. Những cụ già râu quai nón nói chuyện với bà một cách kính nể, như thể bà là một vị thánh. Những thanh niên ngang tàng ngồi dưới đất, đầu cúi thấp lắng nghe bà nói. Các phóng viên dừng lại chào bà và hỏi xem có gì cần đưa lên báo không.

Tôi nhớ lần tôi ngồi trên thảm trong nhà bà ấy, khi vẫn còn là một phóng viên mới vào nghề, ghi ghi chép chép, hỏi những câu sốt sắng và ngây thơ tin rằng nếu tôi viết bài về chuyện của bà thì sẽ có thể mang được con trai bà về. Chính phủ đã đề nghị trả cho bà một khoản tiền bồi thường (khoảng 2.500 đô la) nếu bà chịu chấp nhận rằng con trai mình đã bị giết trong những tình huống không xác định của cuộc xung đột. “Tôi sẽ không bán con mình để lấy bất cứ số tiền nào,” bà nói với tôi. Số người mất tích đã giảm kể từ khi bà Parveena tranh đấu, nhưng các vụ mất tích vẫn cứ xảy ra. Mỗi lần cảnh sát và quân đội thông báo có một xác người vô danh được tìm thấy, bà Parveena lại nhận được những cú điện thoại hoảng loạn từ người thân của những người mất tích khác. “Cậu chẳng thể nào biết được đó sẽ là ai. Người ta có thể hy vọng chừng nào còn chưa nhìn thấy một thi thể hay một nấm mộ.”

Nỗi đau và sự khao khát đó thường nhắc người dân Kashmir một câu chuyện đau đớn khác cũng do Delhi uy quyền gây ra. Trên xa lộ Srinagar-Jammu, cách thành phố khoảng sáu dặm, có một tấm biển đề: GIỐNG NGHỆ TỐT NHẤT THẾ GIỚI MỌC TẠI ĐÂY. Đi ngang qua vườn nghệ tím ngắt, có một con lộ đất dẫn đến ngôi làng của Chandhara, hay còn gọi là Zoon hoặc Habba Khatoon, một nữ thi sĩ kiêm ca sĩ vào thế kỷ mười sáu. Mặc dù có tài năng và phong thái tao nhã, Zoon vẫn bị gả cho một nông dân, người khăng khăng bắt nàng toàn tâm toàn ý làm những việc vặt trong nhà và việc đồng áng. Zoon đã vừa cày cấy gieo trồng vừa hát những bài hát của mình.

Người cai trị Kashmir lúc bấy giờ là Yusuf Shah Chak, một hoàng tử đam mê thơ ca và âm nhạc. Một hôm, ông đi ngang qua cánh đồng nơi nàng Zoon đang hát. Yusuf Shah đã mê đắm nàng. Nhiều sử gia đã tranh nhau kể về cuộc tình lãng mạn và cuộc hôn nhân của họ, nhưng trong các câu chuyện dân gian của Kashmir thì cô gái lam lũ trở thành Hoàng hậu Habba Khatoon, ngày đêm vui vẻ cùng chồng trong các khu vườn khoái lạc, làm thơ, trau chuốt tiếng hát và soạn những bản hòa âm cổ điển lấy cảm hứng từ một triều đình tràn ngập các nhạc sĩ và ca sĩ.

Tuy nhiên, họ đã bị mắc kẹt trong sự quay cuồng của nền chính trị hoàng gia. Akbar, hoàng đế Mughal của Delhi, đã xâm lược Kashmir vào tháng Mười Hai năm 1585. Hoàng tử Yusuf cho rằng chống đối là vô ích, nhưng quân đội của ông đã chiến đấu và làm dừng bước cuộc xâm lăng của quân Mughal. Vì sợ rằng trước sau gì cũng thất bại, Yusuf đã đồng ý sang triều đình của Mughal để đàm phán hòa bình và ở đó ông đã chấp nhận chủ quyền của Mughal. Kashmir đã đánh mất nền độc lập. Akbar đã bỏ tù Yusuf và một năm sau thì đưa ông tới Bihar làm một nhân viên bàn giấy quèn của Mughal. Ông ta chết như một người vô danh vài năm sau đó.

Hoàng hậu Habba Khatoon lang thang khắp các làng xóm ở Kashmir, hát những bài than vãn về sự chia ly và nói lên ước mong được đoàn tụ với người chồng yêu quý của mình. Yusuf đã chết cô độc ở tỉnh Bihar xa xôi kia.

Bất kể sự hèn nhát của Yusuf Shah, việc cầm tù ông và sự phản bội của Akbar đã trở thành một hình ảnh ẩn dụ về mối quan hệ giữa Delhi và Srinagar. Trong sử liệu của Kashmir, tôi thấy có một tấm ảnh về ngôi mộ của Yusuf Shah trong làng Biswak, quận Nalanda thuộc tỉnh Bihar. Ông Mohammed Yusuf Taing, một nhà văn và nhà phê bình người Kashmir, đã đến đó vào đầu những năm tám mươi cùng với nhà lãnh đạo và người đứng đầu chính phủ đáng kính, ông Sheikh Mohammed Abdullah. Tôi gặp ông ấy trong phòng làm việc chất đầy sách. “Cả một thế hệ đã đi qua kể từ lúc có người sau cùng viếng mộ của ông ta.” Giọng ông run run vì xúc động. Một tuần sau, tôi gọi điện cho ông nhà văn già để tìm đường đến làng Bihar nơi ông hoàng Yusuf Shah được chôn cất.

Một thời gian sau khi gặp ông Taing, tôi rời Srinagar để đến Delhi và từ đó bắt xe lửa đêm đi Patna. Sáng hôm sau tôi bắt taxi đi từ Patna ra vùng ngoại ô. Chúng tôi chạy ngang qua những căn nhà bé xíu tường trát bùn, mái lợp rạ nằm rải rác giữa những cánh đồng thẳng cánh cò bay và những chiếc xe được kéo bởi mấy con bò thiến bướng bỉnh, thản nhiên trước xe hơi. Chúng tôi vượt qua mặt những chiếc xe buýt chở các hành khách hớn hở ngồi trên nóc. Tôi ngủ thiếp đi cho đến khi được tài xế đánh thức ở một cái chợ bé xíu trong thị trấn Islampur nhỏ bé. Một nhóm đàn ông mặc xà rông kẻ carô và áo kurta ngồi uống yaourt trái cây trên mấy băng ghế bên ngoài tiệm bánh kẹo. Một thanh niên tên Hari tình nguyện đi cùng với tôi. “Ngôi mộ của ông thánh người Kashmir ở gần Biswak, chỗ tôi sống,” cậu ta giải thích. “Nó đã từng là một ngôi làng Hồi giáo mang tên Chak của Kashmir, nhưng sau cuộc chia cắt năm 1947, dân chúng đã di dời sang Pakistan.” Chúng tôi lần theo một đoạn đường đất vào một ruộng mía. Thêm vài dặm nữa, Hari bảo tài xế dừng lại. Một cây đa sừng sững đổ bóng xuống một đống gạch có nửa bên bị cây cỏ phủ kín. Chúng tôi đã đến nơi. Trên một mảnh đất cao với một hàng rào gạch đã sập là một ngôi mộ. Nó không có bia, không một dòng miêu tả và không có cả tên. Gió làm những cây mía kêu sột soạt. Một ông già đạp xe ngang qua nhìn nghi ngại. Tôi ngồi đó một lúc, nhìn ngôi mộ không hình dáng của ông hoàng Yusuf Shah Chak. Sau ông, bang Kashmir đã không bao giờ còn được tự do.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 14.11.2017, 10:09
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 34238
Được thanks: 5226 lần
Điểm: 9.58
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tâm lý XH] Đêm Giới Nghiêm - Basharat Peer - Điểm: 10
11

Papa-2


Prague đã phản kháng và đã thắng, Berlin đã phản kháng và đã thắng, và người Kashmir tin rằng sự phản kháng của họ sẽ mang đến sự tự do cho vùng đất của mình. Giai đoạn đầu những năm chín mươi là thời kỳ ngây thơ và hăng hái. Nhưng mật độ biểu tình của người Kashmir đã giảm dần sau những vụ thảm sát. Cuộc xung đột có thể sẽ không xảy ra nếu Ấn Độ cho phép những cuộc biểu tình hòa bình. Hầu hết chúng đều diễn ra trong năm 1990 và 1991, rồi thỉnh thoảng trong năm 1993 và 1994 và thậm chí cả sau này dù không còn giữ nguyên mức độ. Những cuộc biểu tình có thể sẽ trở thành một thế lực chính trị chi phối tại Kashmir, dân Ấn Độ và dân Kashmir hẳn đã có thể nói chuyện với nhau và hàng ngàn cái chết đã không thể xảy ra.

Nhưng điều đó đã không đến. Thay vào đó, việc xả súng vào những người biểu tình, những vụ bắt bớ, mất tích, giết hại tù nhân, bắt cóc, ám sát và tra tấn vẫn hoành hành tại Kashmir. Trong một bài thơ tự do, Agha Shahid Ali viết:

Vị bác sĩ đã cứu một cậu bé mười sáu tuổi

Vừa được thả khỏi trung tâm thẩm vấn hỏi rằng,

“Tại sao những người xem bói lại không tiên đoán được

Những đường chỉ trong bàn tay cậu bé sẽ bị cắt bằng một con dao?”

Một buổi trưa tháng Mười Một, tôi băng qua cầu Zero và đi ngang qua Đài phát thanh Kashmir cũ nằm trên một con đường khá yên tĩnh. Những chiếc xe buýt cũ kỹ chờ bên ngoài ngôi trường nam sinh Burn Hall[40], những người khát việc làm ôm đơn đứng quanh cổng nhà các vị bộ trưởng chính phủ được canh gác cẩn mật, vài nhánh chinar trơ trụi vắt ngang qua những hàng ghế trống của sân cricket. Tôi băng qua một con đường khác và đối diện với một tòa biệt thự kiểu thực dân sơn màu xanh và trắng. Tấm bảng trên cổng đề: NHÓM GIÁM SÁT QUÂN ĐỘI LIÊN HIỆP QUỐC Ở ẤN ĐỘ VÀ PAKISTAN. Căn biệt thự cổ và cái sứ mạng của Liên Hiệp Quốc dường như gợi nhớ về một thời đã mất. Kiến trúc của tòa biệt thự là phong cách đang tàn lụi, hòa trộn lối sử dụng đồ gỗ của người Kashmir với sự mẫn cảm tinh tế của người Anh. Những giải pháp của Liên Hiệp Quốc về vấn đề Kashmir hoặc đề xuất một cuộc trưng cầu ý dân, chỉ tồn tại như những lời dối trá trên báo chí và sách vở. Cách văn phòng Liên Hiệp Quốc không xa, là đường Gupkar, một khu vực dày đặc lính tuần tra và những boongke kiên cố. Tại đây, những chính trị gia cấp cao, quan chức nhà nước, nhân viên tình báo sống trong những ngôi nhà đẹp đẽ được che chắn bởi các bức tường ngạo nghễ và đám lính gác lạnh lùng. Gupkar là Green Zone[41] của chúng tôi. Con đường dẫn về phía Grand Palace, cung điện của Hari Singh, ông hoàng cuối cùng của Kashmir. Trong những năm chín mươi, hầu hết người dân rất sợ đường Gupkar. Nó là con đường dẫn đến Papa-2.

Papa-2 là trung tâm tra tấn lừng lẫy được điều hành bởi các lực lượng Ấn Độ ở Kashmir. Ban đầu, nó là một lâu đài lớn do Hari Singh xây, sau đó được sửa thành một nhà nghỉ và được biết đến qua cái tên Nhà khách Fairview. Hàng trăm người đã bị đưa vào Papa-2 và không trở về. Những người trở về được thì tàn phế. Trung tâm này bị đóng cửa năm 1998. Một quan chức chính phủ cấp cao đã làm mới tòa nhà Papa-2 và biến nó thành nhà riêng của mình. Trước khi dọn vào ở, vị quan chức từng du học tại Đại học Oxford đã gọi tu sĩ của tất cả các tôn giáo đến cầu nguyện và xua đuổi tà ma.

Một người bạn đã xin được giấy phép tham quan cho tôi. Người ta nghĩ tôi là một người yêu thích kiến trúc. Sau khi bị kiểm tra giấy tờ, tôi bước vào những thảm hoa được chăm sóc rất kỹ dẫn lên hàng hiên. Táo và mơ mọc đầy một góc vườn. Đỉnh đồi Zabarvan phủ đầy thông nhô lên đằng sau tòa lâu đài màu trắng lợp mái đỏ. Vị chính khách không ở nhà. Một cận vệ của ông mời tôi vào trong phòng tiếp tân ốp gỗ có ba chiếc điện thoại, một máy fax và một máy tính để bàn. Chúng tôi bắt đầu một vòng tham quan quanh nhà. Hướng dẫn viên, một người địa phương trạc tuổi tôi, lặng lẽ đi qua các gian phòng. Tôi nhìn ngắm bàn ghế, trần nhà và những bức tường sơn trắng. Những tấm rèm màu mật ong được treo trên cửa sổ phòng ngủ của tay chính khách trên tầng một. Tấm ga trải giường màu nâu. Những cuốn sách luật và văn học bìa mềm và bìa cứng chất đầy trên kệ sách. Hướng dẫn viên vén rèm cửa sổ để ánh sáng chiếu lên những vật lưu niệm và phần thưởng bày trên mấy cái kệ. Tấm thảm thêu những trích đoạn kinh Koran được treo trên vách tường và một bức tranh của họa sĩ Ấn Độ nổi tiếng Raja Ravi Verma tô điểm cho vách bên kia. Hướng dẫn viên im lặng. Cuối cùng, anh nói: “Đây là Papa-2, người anh em ạ! Đây chính là Papa-2.”

Một tiếng sau tôi đã về lại Lal Chowk và kể cho hai người bạn nghe về chuyến viếng thăm của mình. Tôi nói rằng tôi cần phải gặp những người đã sống sót qua Papa2. Đồng thời tôi cũng e sợ cái ý tưởng đó. “Tớ có thể tìm họ ở đâu?” tôi hỏi. “Hỏi bất cứ ai ngoài đường. Một nửa dân Kashmir đã từng bị vào đó. Hay là đi đến Maisuma, cậu sẽ tìm thấy mười người như thế ở ngoài đường.”

Một lát sau, tôi đi ngang qua mấy tên lính và cảnh sát, hướng về văn phòng của Mặt trận Giải phóng Jammu và Kashmir trong một khu ly khai lân cận. Một nhóm thanh niên đứng bên ngoài một tòa nhà. “Có ai từ Papa-2 ra không?” tôi hỏi thăm. Im lặng một lúc. Rồi họ hỏi nhau: “Mày có ở trong đó không?” “Không, tao ở Rajasthan.” “Không, tao ở Kot Balwal.” “Không, tao ở Gogoland.” “Không, tao ở Ranchi.” Những cái tên tạo thành một bản đồ các nhà tù Ấn Độ. “Thằng Sayeed ở Papa-2 đó.” “Thằng Irfan cũng ở đó.” “Thằng Irshad cũng ở Papa-2.” “Thằng Shafi cũng ở đó.” Chưa đến năm phút, tôi đã có được sáu cái tên. “Thằng Shafi chắc đang ở nhà,” một người tên Abid nói. “Chúng ta đi nào.” Chúng tôi bước qua những ngả đường hẹp, bùn lầy, qua những ngôi nhà cũ kỹ mộc mạc, có mái xô nghiêng như đang cố bám víu nhau để tránh cái nắng yếu ớt của mùa đông. Các ông cụ ngồi trước mấy cửa tiệm chăm chăm nhìn ra đường với ánh mắt vô hồn, những người đàn ông trẻ hơn tụm năm tụm ba, lười nhác nhích qua bên nhường chỗ cho những người đi xe đạp hay xe lôi.

Abid dừng lại chào mấy người đàn ông trên đường. Cậu ta hỏi thăm xem họ có bị nhốt ở Papa-2 không. Vài người nói có bạn bị nhốt ở đó, những người khác kể về các nhà tù và những phòng tra tấn khác. Cuối cùng, Abid dừng bên một căn nhà hai tầng khá xập xệ. Cậu gõ cửa.

Một giọng phụ nữ hỏi, “Ai đó?”

“Dạ, Abid đây. Shafi có nhà không ạ?”

“Anh ấy đến đền thờ rồi,” người kia trả lời. “Chờ đó đi, anh ấy sẽ về ngay thôi.”

Vài phút sau chúng tôi thấy một người đàn ông dáng cao, ốm yếu, đeo kính, ngoài ba mươi tuổi chống gậy gỗ đi khập khiễng về phía chúng tôi. Anh ấy hét lên mừng rỡ chào hỏi Abid. Họ trò chuyện một lúc, rồi Abid giới thiệu tôi và đi về. Shafi lắc mạnh cánh cửa và mời tôi vào trong. Chúng tôi trèo lên mấy bậc thang gỗ cũ kỹ và đi vào một căn phòng ngăn nắp có tường đắp bùn và được phết một loại sơn rẻ tiền màu xanh lá cây. Họa tiết trang trí trên tấm thảm dưới nền đã sờn. Trong góc nhà, một tấm khăn phủ lên bộ đồ giường; không có một cái tủ nào. Shafi lôi ra hai chiếc gối, đặt dựa vào tường như hai tấm đệm, mời tôi ngồi. Trong một góc khác, một người phụ nữ thấp, mập mạp và da ngăm ngồi cạnh một chiếc bếp dầu. Trên kệ gỗ ở bức tường đối diện cô có vài cái tách, đĩa và muỗng nĩa. “Cô ấy là vợ tôi,” Shafi nói. Tôi chào cô. Cô lầm bầm một câu chào rồi kéo rèm xuống, ngăn nhà bếp tạm bợ với chỗ tiếp khách. Anh Shafi bảo vợ pha trà, rồi nói thêm, “Đừng bỏ đường. Cậu ấy sẽ bỏ bao nhiêu tùy thích.” Đôi mắt của anh dường như biến mất sau cặp kính dày. Gò má anh hóp lại, nhưng mái tóc vẫn nâu và quăn. Shafi đốt một điếu thuốc, cúi người về phía tôi và nói, “Tôi đã bị nhốt trong Papa-2 bảy tháng trời.”

Vào năm 1990, Shafi mười chín tuổi, như những đứa con trai khác, anh quyết định gia nhập một nhóm nghĩa quân. JKLF là nhóm có ảnh hưởng nhất và hấp dẫn nhất trong vùng anh sống ở Srinagar, nên anh đã tham gia vào phe cánh sinh viên của nhóm đó. Cuộc chiến chống Ấn Độ của anh đã bắt đầu: tấn công các nhóm lính tuần tra Ấn Độ, mang súng di chuyển từ nơi ẩn náu này đến nơi ẩn náu khác và tránh bị bắt giữ trong những đợt khủng bố. “Chúng tôi đã nghĩ rằng Kashmir sẽ được tự do trong một hay hai năm nữa,” anh nhớ lại. Nhưng thay vào đó, anh lại bị một nhóm tuần tra của lực lượng bán quân đội bắt giữ. Sau cuộc thẩm vấn mở màn tại một doanh trại ở Srinagar, anh bị đưa tới các nhà tù Kot Balwal và Talab Tilloo trong tỉnh Jammu. Hai năm sau, anh được thả. Trở về nhà, anh gặp lại bạn chiến đấu của mình. “Tôi bắt đầu hoạt động cho phong trào một lần nữa.”

Một ngày tháng Tám năm 1992, anh bị nhận dạng bởi một gã người địa phương câu kết với Lực lượng Bảo an Biên giới (BSF) của lính bán quân đội. “Tôi biết hắn. Hắn trở thành thám báo cho bọn BSF và đã chỉ điểm tôi. Tôi không mang một loại vũ khí nào và vẫn bị bắt.”

Vợ anh Shafi gọi vọng sang từ phía sau tấm rèm vàng. “Trà pha xong rồi đấy,” Shafi nói. Anh đứng dậy, mang ra một khay đầy bánh quy, hai cái tách và một bình trà. Anh bắt đầu rót trà nhưng lụp chụp với mấy cái tách và khẽ nhăn mặt. Tôi tình nguyện giúp và anh để cho tôi làm. Tôi để tách trà bên cạnh anh và anh lại chạm vào nó từ tốn, như thể muốn trấn an bản thân rằng nó thực sự hiện hữu. “Chúng giam tôi trong một trại BSF địa phương một tuần lễ trước khi đưa tôi sang Papa-2.” Trong trại BSF, anh đã bị thẩm vấn, đánh đập bằng nắm đấm, chân, gậy ba ton và súng. Chúng muốn biết thông tin về nhóm của anh, chúng muốn lấy vũ khí của anh. Anh không nói cho tôi biết là anh có tiết lộ thông tin hay vũ khí của mình hay không. Thật khó có thể hỏi câu như vậy nếu bạn là dân Kashmir.

Anh Shafi bị giải đến Papa-2. “Nó là địa ngục,” anh kể, tay mò mẫm tìm điếu thuốc đang cháy dở trong gạt tàn. Anh bị ném vào một căn phòng lúc nhúc hai mươi người đàn ông. Sàn phòng trơ trụi. Các vách tường sơn trắng bê bết máu. Mỗi người được phát một cái mền đen cứng ngắc để ngủ. Mấy cái mền đầy rận. “Chúng tôi gọi chúng là mền rận.” Anh cười phá lên. Một góc phòng được dùng làm toa lét. Các tù nhân tiểu tiện và đại tiện vào các bao nylon trong góc phòng, rồi vứt bao vào thùng rác. Mỗi lần có người cần đi tắm, hai người khác giăng một cái mền lên làm màn để người kia có một chút riêng tư. Những người khác thì nhìn chằm chằm xuống sàn. Anh Shafi và những người bạn tù của mình đã ngủ lay lắt trên sàn như những bộ xương được sắp thành nhiều dãy. Suốt cả đêm, người ta tỉnh dậy la hét, chửi bới lũ rận rệp, cố gắng ngủ lại, để rồi bị đánh thức bởi người tiếp theo đang chiến đấu với lũ rệp vô lại đó. Một số người cũng ngủ được dù đèn không bao giờ tắt. “Trong thời gian bị thẩm vấn, tôi bị buộc phải nhìn thẳng vào những cái bóng đèn rất sáng. Thậm chí đèn trong phòng chúng tôi cũng có thể làm bỏng cả mắt. Tôi thèm khát bóng tối.” Và bóng tối đã đến. “Ở đó, tôi bắt đầu mất thị lực. Bây giờ tôi nhìn rất kém, dù có mang kính.”

Sau khi anh được thả, các bác sĩ đề nghị một cuộc phẫu thuật khôi phục thị lực cho anh. “Tại sao anh không được mổ?” tôi hỏi. Shafi mỉm cười. “Tôi không đủ tiền.” Anh không thể tìm được việc làm ở bất cứ đâu. Vào mùa hè anh bán quần áo cũ trên một chiếc xe bằng gỗ ở Lal Chowk, mùa đông anh theo anh trai mình đến Calcutta đi bán dạo những chiếc khăn choàng Kashmir để lấy tiền hoa hồng. Gia đình muốn anh lấy vợ và bắt đầu một cuộc sống mới. Họ đi tìm cho anh một cô gái. Không ai muốn lấy Shafi, một người đàn ông đã kiệt sức vì những tháng ngày tranh đấu, tù đày và có một tương lai bấp bênh không nghề nghiệp. Anh trai anh quen một gia đình Hồi giáo sống trong khu ổ chuột ở Calcutta. Họ có một cô con gái lác mắt không ai chịu cưới. Gia đình cô bằng lòng gả cô cho Shafi. Bây giờ cô đang ngồi sau bức rèm, hỏi chúng tôi có dùng thêm trà không. “Cô ấy đang có thai và tôi phải đưa cô đến Calcutta để sinh con.” Giọng anh có vẻ căng thẳng.

Anh Shafi sống nhờ vào một ngàn rupee mà Yasin Malik, lãnh đạo nhóm JKLF, cho anh mỗi tháng. “Tôi cũng đã cầu cứu những người lãnh đạo khác. Tôi nói tôi bị rơi vào tình trạng này là bởi tôi đã hy sinh tuổi trẻ của mình cho phong trào, nhưng tôi đã thất vọng.” Một số vị lãnh đạo phe ly khai yêu cầu anh cung cấp bằng chứng về việc từng là quân khởi nghĩa và về những năm tháng tù đày của mình. “Họ sống trong những ngôi nhà rộng và lái những chiếc xe lớn mua bằng tiền đóng góp cho phong trào. Nhưng họ không chịu giúp những người đã hy sinh cuộc đời mình vì việc nghĩa.” Khuôn mặt anh méo xệch vì giận dữ, anh rít nhiều hơi thuốc dài và sâu. “Tôi không bao giờ đến tìm họ nữa. Không có một kẻ cầm đầu nào ngoại trừ Yasin Malik phải trải qua những gì đám thanh niên (những nghĩa quân bị giam giữ) đã từng chịu đựng. Bọn họ không thể hình dung được việc bị tra tấn là như thế nào.”

Anh muốn tôi hình dung. “Chúng bắt anh ngồi lên ghế, trói anh bằng dây thừng. Một tên lính giữ chặt cổ anh, hai tên khác kéo chân anh ra hai hướng và ba tên nữa thì lăn tới lăn lui một con lăn bằng xi-măng nặng trịch trên chân anh. Chúng đặt câu hỏi và nếu anh không trả lời, chúng dí thuốc lá vào người anh.” Anh dừng lại, rồi dường như nhớ ra điều gì, anh nói, “Khủng khiếp nhất là đòn tra tấn tâm lý. Chúng nó bắt anh nói ‘Jay Hind’ (Chiến thắng thuộc về Ấn Độ) mỗi sáng và mỗi tối. Chúng đánh đập anh nếu anh không chịu nói. Tuy thật khó khăn nhưng rồi ai cũng nói, ngoại trừ thầy Ahsan Dar (lãnh đạo tối cao của nhóm Hizbul Mujahideen).” Rồi đột nhiên anh ngừng lại. “Tôi không thể nói về chuyện đó nữa. Nó làm cho tôi phát điên.”

Anh khuyên tôi nên gặp Ansar, một cựu nghĩa quân khác đã từng bị giam ở Papa-2, người sẵn sàng kể về chuyện tra tấn. Tôi không chắc mình có nên gặp anh ta hay không. Có phải tôi sợ đối diện với nó, sợ phải viết về nó sau này? Tôi mất nhiều ngày đấu tranh với chính mình trước khi đi gặp Ansar.

Tôi đã gặp Ansar trong tiệm bán rau của anh trai anh gần một đền thờ uy nghi ở khu mua bán của Srinagar. Chúng tôi ngồi trong một gian phòng nhỏ sáng lờ mờ của nhà anh nằm phía sau tiệm bán rau trên lề đường. Ansar là một người đàn ông tráng kiện, có ria mép, mặc bộ shalwar kameez màu be. Anh đã gia nhập một tổ chức ly khai có tên là Liên minh của Nhân dân vào khoảng giữa những năm tám mươi và trở thành một trong những thành viên sớm nhất của phe kháng chiến thuộc hội đó.

Ngày nọ, khi anh đang thăm cha mẹ mình thì bọn BSF xét nhà và bắt giữ anh. “Chúng nhận được tin là tôi đang ở đây. Có đứa nào trong làng tôi đã chỉ điểm.” Anh kể hàng loạt nhà tù mà anh từng bị giam.

“Và Papa-2 nữa ư?” tôi hỏi.

“Làm sao tôi có thể quên được nó? Thậm chí cả mấy con bò hoang cũng không thèm thứ đồ ăn bọn chúng bố thí cho chúng tôi ở đó. Anh sẽ không thể sống được một cuộc đời bình thường sau khi bị tra tấn như vậy. Nó để lại vết sẹo vĩnh viễn.” Anh đốt một điếu thuốc. “Chúng đánh đập chúng tôi bằng súng, gậy, tay chân. Nhưng nó cũng chưa thấm gì.” Anh kể lại mà như đang đọc một tờ giấy. “Chúng nó đem anh ra ngoài sân. Anh bị bắt cởi hết quần áo, thậm chí cả đồ lót. Chúng trói anh vào một thang gỗ dài và để nó gần một rãnh đầy dầu lửa và bột ớt. Chúng nâng chiếc thang lên như chơi trò bập bênh và nhấn đầu anh xuống rãnh. Chuyện này có thể kéo dài cả tiếng, hay nửa tiếng, tùy theo tâm trạng của bọn chúng.”

“Đó mới chỉ bắt đầu. Có những lúc chúng không lột quần áo anh nhưng vẫn trói anh vào thang. Anh cảm thấy gần như nhẹ nhõm cho đến khi chúng cột ống quần chỗ gần mắt cá lại rồi thả chuột vào trong.” Anh tạm dừng, rót thêm trà rồi nói, “Hoặc là bọn chúng đốt tay và chân anh bằng đầu thuốc lá và lò dầu hỏa dùng để hàn. Chúng đốt da thịt anh cho đến khi anh mở miệng.” Anh xắn tay áo phải lên trên cùi chỏ. Mảng thịt nâu sẫm sần sùi tương phản với màu da tái xanh của tay anh. “Chúng cột dây đồng quanh cánh tay anh rồi truyền điện cao thế. Tất cả lông tóc trên người anh đều dựng đứng. Nhưng tàn độc nhất là khi chúng nhét dây đồng vào bộ phận sinh dục của anh rồi mở điện cao thế lên. Chúng làm như vậy với hầu hết đàn ông. Nó hủy hoại cuộc đời biết bao nhiêu người. Rất nhiều người đã không thể lấy vợ sau khi bị như vậy.”

Sau khi được thả ra, anh Ansar được chữa bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu và một số rối loạn chức năng khác mà anh không nhắc đến. “Tôi chưa sẵn sàng lấy vợ. Nhưng gia đình tôi đã hỗ trợ tôi rất nhiều. Tôi đã đồng ý lấy vợ chỉ sau khi tôi đã được chạy chữa một năm rưỡi trời. Tạ ơn Trời, bây giờ tôi có một đứa con gái và một công việc buôn bán nhỏ.”

Sau khi rời nhà Ansar, tôi cứ nghĩ mãi về những cuộc tấn công nhằm vào phần nam tính của các chàng trai, khiến họ trở nên suy yếu ngay cả khi mãn hạn tù. Tôi thử viết về Papa-2 nhưng không được. Tôi nhìn trừng trừng vào màn hình vi tính, đánh và xóa vài ba từ, rồi tắt máy.

Một kỷ niệm bị lãng quên đã quay trở lại. Vài năm trước tôi đã gặp lại thầy giáo dạy cấp hai của mình. Họ của thầy là Khatana và thầy dạy về thơ Urdu. Tôi mê thơ Urdu và đến dự tất cả lớp của thầy, trở thành học trò cưng của thầy. Nhưng tôi đã rời trường, rời Kashmir và quên bẵng mọi thứ về thầy. Gặp lại thầy sau gần một thập niên, tôi hỏi thăm thầy về gia đình và công việc. Thầy đang dạy ở một trường khác và chưa lấy vợ. Trong một trận càn tại làng của thầy, thầy đã bị bắt và tra tấn. “Lũ khốn nạn đó đã hủy hoại thầy. Thầy đã mổ tinh hoàn ba lần nhưng không thành công, thế nên không có cơ hội lập gia đình, thật vậy đấy,” thầy kể cho tôi nghe. Sau này tôi băn khoăn là tại sao, ngay thời điểm đó, tôi đã không thực sự hiểu thấu đáo bản chất của những việc thầy đã kể với tôi. Tôi muốn gặp thầy một lần nữa và đã gọi đến nhiều bạn bè để hỏi thăm về thầy. Không một ai biết được thầy đang ở đâu.

Vài ngay sau, tôi gọi điện cho Shahid, một người bạn là bác sĩ tại viện y khoa hàng đầu của Srinagar, Viện Y học Sher-e-Kashmir và kể cho cậu ta nghe về Ansar. “Tụi tớ nhận hàng trăm ca như vậy ở đây. Những vụ dùng điện giật đó đã gây ra bệnh bất lực cho rất nhiều người và nhiều người khác đã mất luôn cả thận của mình,” cậu nói. Shahid là một người đàn ông thấp bé, vui tính, lớn lên tại một làng ở phía nam Kashmir. Những ngày cuối tuần, cậu lái xe về ngôi làng tổ tiên của mình và dành ngày chủ nhật để chữa bệnh cho dân làng với một khoản phí tượng trưng. “Chủ nhật này tớ về nhà. Nếu cậu đi theo thì tớ sẽ giới thiệu cậu với một người bị tình trạng giống như vậy.”

Sáng chủ nhật tôi lên đường cùng với Shahid về làng cậu ta để gặp anh họ cậu là anh Hussein, người sau khi bị tra tấn trong tù, đã nghĩ rằng mình bị bất lực và từ chối lập gia đình. “Vấn đề là anh ấy chưa sẵn sàng để gặp bác sĩ. Thậm chí anh ấy còn không tâm sự với tớ,” Shahid nói khi chúng tôi lái xe từ Srinagar về thị trấn Bijibehara ở phía nam Kashmir. Chúng tôi rẽ vào một đường đất nhỏ gần thị trấn và có nửa giờ lái xe qua những ngôi nhà xây bằng bùn và gạch, những rặng cây liễu, cây óc chó và những cánh đồng. Hơi nước bốc lên từ cánh đồng phủ đầy băng tuyết được sưởi ấm bởi nắng ban mai. “Mặt trời đang hồi xuân,” Shahid nói theo kiểu của một bác sĩ.

Một tấm biển có hình chữ thập đỏ vẽ tay treo trước cái lán bên đường với tên cậu bị viết sai, cho biết đây là phòng khám bệnh của Shahid. Mới gần chín giờ sáng mà đã có một đám đông bệnh nhân chờ cậu. Hussein, anh họ cậu cũng ở đó. Hussein có đôi mắt hiền từ và phong thái lặng lẽ. Chúng tôi ngồi trước một cửa tiệm vắng vẻ dưới nắng mặt trời. Tôi mời anh ấy một điếu thuốc và anh nhận một cách miễn cưỡng.

Có vẻ như Hussein đã đầu hàng số phận. Tôi loay hoay chọn lời lẽ thích hợp. Tình dục gần như không bao giờ được bàn luận trong văn hóa của chúng tôi và bệnh bất lực thì còn khó được nói đến hơn nữa. Tôi bắt đầu kể cho anh ấy nghe về anh Shafi, anh Ansar, Papa-2 và việc chữa trị bằng y học những căn bệnh rối loạn chức năng do việc tra tấn gây ra. Anh im lặng lắng nghe, gần như không bày tỏ cảm xúc trong suốt câu chuyện. Sau cùng, anh bắt đầu kể về kinh nghiệm của mình.

Năm 1990, khi anh đang học năm thứ nhất đại học thì cuộc đấu tranh vũ trang nổ ra. Anh là con trai cả của một giáo viên và có bốn anh em. Một hôm, anh bỏ nhà ra đi với một nhóm mười ba thanh niên khác. Sau ba ngày ở thị trấn Baramulla phía bắc Kashmir, họ lên một chiếc xe tải và lái về hướng thị trấn Kupwara, gần Đường Kiểm Soát nhưng đi được nửa đường thì Lực lượng Bảo an Biên giới chặn họ lại. Người dẫn đường của họ ngồi ghế trước cùng với tài xế, Hussein và bạn bè ngồi trên sàn xe ở phía sau. Họ đã thống nhất giả làm công nhân xây dựng, nhưng họ vẫn bị bắt và bị đưa đến một trại lính bán quân đội gần đó.

Sáng hôm sau Hussein và nhóm của mình bị đưa vào những nhà kho bé tí làm bằng thiếc thắp đèn điện sáng rực để thẩm vấn. “Tôi bị buộc phải cởi đồ, trần truồng. Ban đầu tôi kháng cự, rồi bị đánh, bị cưỡng ép lột đồ và trói vào một cái ghế. Rồi bọn chúng quấn dây đồng vào hai cánh tay tôi và cho điện giật. Tôi thậm chí không thể kêu la. Chúng đã nhét giẻ vào miệng tôi. Tôi tưởng là tôi sẽ chết. Chúng đột ngột dừng lại, lôi mớ giẻ ra và tra hỏi. Tôi bị ngất xỉu vài lần. Chúng làm tôi tỉnh dậy rồi nhét một sợi dây đồng vào trong dương vật tôi. Rồi chúng mở nguồn điện.” Hầu hết người trong nhóm đã đầu hàng sau hai ngày bị tra tấn. “Đến một mức độ nào đó anh sẽ không thể chịu đựng nổi sự đau đớn. Tất cả đều khai báo,” anh Hussein nói. “Chúng tôi thừa nhận là đang đi huấn luyện vũ trang và bị chuyển sang những nhà tù ở Srinagar sau hai tuần.” Anh nói thêm như một suy nghĩ muộn màng, “Lẽ ra tôi nên thừa nhận ngay lập tức. Cuộc đời có thể đã khác.”

Tôi nhắm mắt lại, rồi mở mắt và nhìn ra chỗ khác, nhìn vào con đường và những bệnh nhân đang chờ đến lượt họ tại phòng khám của Shahid. Một ông già đến chỗ chúng tôi và hỏi tôi có phải là bác sĩ không. “Không phải, ông à. Cháu chỉ là bạn của bác sĩ thôi.” Ông cụ nói cho tôi nghe về chứng cao huyết áp của mình vì “hoàn cảnh” rồi bỏ đi.

Hussein và tôi xuôi theo con đường xuyên qua những cánh đồng, dẫn ra ngoài rìa làng. Không có xe cộ. Hussein bước đi chậm rãi, chìm đắm trong suy nghĩ. Chúng tôi ngồi trên một ụ đất bên vệ đường. Hussein đốt thuốc và tiếp tục câu chuyện. “Tôi không thể diễn tả được nỗi đau đớn mà một người phải chịu đựng khi bị những cú điện giật. Tôi tưởng tôi sẽ chết. Đôi khi tôi nghĩ mỗi cú điện giật kéo dài một hay hai phút, có lúc nó như kéo dài hàng giờ,” anh nói.

Sau khi những tên thẩm vấn ném anh trở lại phòng giam, Hussein tiếp tục ngất xỉu. “Ít nhất là trong những lúc bất tỉnh tôi không thấy đau đớn.” Mỗi lần đi tiểu, anh đều tiểu ra máu, dương vật của anh sưng tấy lên và cơn đau buốt cứ bò dần lên trên như một con đỉa. Khi anh bị đưa về trung tâm giam giữ ở Srinagar, sự nhiễm trùng đã ăn sâu và anh nhìn thấy máu và mủ trong nước tiểu của mình. Không có một hỗ trợ y tế nào trong nhiều tuần lễ. “Rồi có một sĩ quan người Sikh của lính bán quân đội hỏi thăm về tình trạng của tôi. Tôi kể cho anh ta nghe chuyện đã xảy ra. Anh ta quả là một thiên thần. Anh ta đem cho tôi vài thứ thuốc, bông băng và nước khử trùng. Chúng rất có ích.” Nó làm tôi nghĩ đến những gì anh Ansar và Shafi kể cho tôi nghe về những kẻ thẩm vấn khác nhau: “Một số là quỷ dữ và số khác là những người đàng hoàng.” Hussein lại im lặng. Tôi hỏi anh có biết tên của viên sĩ quan người Sikh hay có thể tìm cách liên lạc lại với anh ta hay không. “Tiếc là tôi không biết tên anh ta. Tôi không gặp lại anh ta vài tuần sau đó. Tôi nghĩ anh ta đã bị thuyên chuyển.”

Hussein được thả khỏi nhà tù sau hai năm trời. Một năm sau đó, anh bắt đầu buôn thảm và khăn choàng. Một hôm, anh quyết định nói cho gia đình biết về bệnh bất lực của mình. Anh chưa từng nói chuyện đó với bất kỳ ai. Tối hôm đó, anh không ngủ được mãi cho đến khi nghe thấy tiếng gọi cầu nguyện buổi sáng. “Tôi đến đền thờ, cầu nguyện và sụp đổ hoàn toàn khi cầu xin Thượng Đế giúp đỡ. Chỉ có ngài mới có thể hiểu những gì tôi đã trải qua.” Đi bộ từ đền thờ về nhà, anh thấy mình mạnh mẽ hơn và quyết định nói chuyện với anh rể của mình, một thầy giáo. Người anh rể khuyên anh nên đi bác sĩ. “Trong một năm trời tôi đến rất nhiều bác sĩ khác nhau ở bệnh viện quận Anantnag. Họ viết một danh sách dài các loại thuốc, nhưng chúng không giúp được gì nhiều.” Shahid muốn đưa anh ấy đến Viện Y học của Srinagar.

Hussein lại không thấy thoải mái khi nói chuyện với Shahid. Anh từ chối gặp thêm bất kỳ bác sĩ nào và dành thời gian vào việc buôn bán tạp phẩm và cầu nguyện ở đền thờ.

Gia đình anh không thể làm gì cho đến khi một cuộc khủng hoảng khác kéo đến – những người em trai của anh lấy vợ. Trong tập quán của người Kashmir, em trai không lập gia đình trước anh mình. Cha của Hussein, anh rể và các chú bác cố thuyết phục anh một lần nữa. Dân trong làng bàn tán về chuyện đó: “Tại sao đứa con trai lớn của họ lại không lấy vợ mà mấy đứa nhỏ hơn lại lấy? Nó có bị cái gì không? Người ta nói là có chuyện gì đó xảy ra với nó trong tù.” Hussein bảo các em trai của anh cứ việc làm chuyện của họ. Họ đã làm thế. Hussein chơi đùa với con cái của họ. “Cũng có lúc rất khó khăn. Nhưng đơn giản là tôi không nghĩ đến việc sống cùng với ai cả.” Hussein không giấu được niềm khát khao trong giọng nói của anh.

Chúng tôi trở lại phòng khám. Tôi quay sang anh và nói, “Hussein, anh sẽ không sao đâu. Bệnh của anh chữa được mà.” Tôi kể cho anh nghe về cuộc hôn nhân của Ansar và về đứa con gái ba tuổi của anh ấy. Tôi nói với anh về những cuộc phẫu thuật đường tiết niệu tôi đã đọc qua, về các loại thuốc, về việc tư vấn tâm lý, việc anh là người dũng cảm, về niềm tin, về việc đấng tiên tri Mohammed đã nói rằng sự tuyệt vọng là một tội ác. Chúng tôi về đến phòng khám và đi vào gian phòng tường bùn nền đất. Rồi chúng tôi đợi đến khi các bệnh nhân đi về. Tôi quay sang Hussein và hối anh nói chuyện với người em họ làm bác sĩ của anh. Anh nhìn sâu vào mắt tôi và mỉm cười. “Tôi sẽ nói. Cảm ơn cậu nhé.” Chúng tôi bắt tay và tôi bước ra khỏi phòng khám.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 19 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Cổ đại] Hoàng sủng - Hoa Khai Bất Kết Quả

1 ... 33, 34, 35

2 • [Xuyên không - Cổ xuyên hiện] Ảnh hậu đối mặt hàng ngày - Ngã Yêu Thành Tiên

1 ... 34, 35, 36

[Hiện đại] Hôn nhân ngọt ngào - Đam Nhĩ Man Hoa

1 ... 19, 20, 21

4 • [Hiện đại] Đợi mưa tạnh - Úy Không

1 ... 23, 24, 25

5 • [Quân nhân] Không nghe lời vậy mời xuống giường - Ngô Đồng Tư Ngữ

1 ... 21, 22, 23

6 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 120, 121, 122

7 • [Hiện đại] Hôn nhân giá ngàn vàng - Cẩm Tố Lưu Niên (102/104]

1 ... 176, 177, 178

8 • [Xuyên không] Nịch sủng Chí tôn cuồng phi - Mặc Thập Tứ

1 ... 52, 53, 54

[Cổ đại - Trùng sinh] Trọng sinh cao môn đích nữ - Tần Giản

1 ... 137, 138, 139

10 • [Xuyên không] Nàng phi lười có độc - Nhị Nguyệt Liễu

1 ... 90, 91, 92

11 • [Hiện đại] Ý tưởng ham muốn - Niệm Niệm Bất Xá X

1 ... 23, 24, 25

12 • [Xuyên không] Ma y độc phi - Phong Ảnh Mê Mộng

1 ... 73, 74, 75

13 • [Hiện đại] Ngọt khắc vào tim - Thời Câm

1 ... 29, 30, 31

14 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 244, 245, 246

15 • [Hiện đại - Trùng sinh] Sống lại tại cửa cục dân chính - Bạo Táo Đích Bàng Giải

1 ... 20, 21, 22

16 • [Cổ đại cung đấu] Nhật ký xoay người ở hậu cung - Dạ Chi Dạ

1 ... 43, 44, 45

17 • [Xuyên không] Thú phi thiên hạ Thần y đại tiểu thư - Ngư Tiểu Đồng

1 ... 90, 91, 92

18 • [Cổ đại] Thiên tuế sủng phi - Biện Bạch Anh

1 ... 32, 33, 34

19 • [Cổ đại - Trùng sinh] Nàng phi chuyên sủng của vương gia ngốc - Huyền Nhai Nhất Hồ Trà

1 ... 57, 58, 59

20 • [Hiện đại] Hạnh phúc nhỏ của anh Đông Bôn Tây Cố (Trọn bộ 2 tập)

1 ... 23, 24, 25


Thành viên nổi bật 
Trúc Quỳnh
Trúc Quỳnh
susublue
susublue
yentula
yentula

Aka: Đợi 17 kết quả :))
Shop - Đấu giá: Lavender - Blue vừa đặt giá 1155 điểm để mua Bướm Hồng Vàng
Shop - Đấu giá: Mai Tuyết Vân vừa đặt giá 1123 điểm để mua Thần nước
Shop - Đấu giá: Độc Bá Thiên vừa đặt giá 2009 điểm để mua Nữ hoàng 2
LogOut Bomb: Âu Dương Ngọc Lam -> xichgo
Âu Dương Ngọc Lam: alo alo
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 1912 điểm để mua Nữ hoàng 2
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 2218 điểm để mua Bé trà
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 1068 điểm để mua Thần nước
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 264 điểm để mua Lắc tay đá Sapphire
Shop - Đấu giá: Mavis Clay vừa đặt giá 250 điểm để mua Lắc tay đá Sapphire
Shop - Đấu giá: Hoa Trà Mi vừa đặt giá 1016 điểm để mua Thần nước
Shop - Đấu giá: Độc Bá Thiên vừa đặt giá 2111 điểm để mua Bé trà
Shop - Đấu giá: trucxinh0505 vừa đặt giá 300 điểm để mua Lồng đèn đỏ 2
Shop - Đấu giá: Mai Tuyết Vân vừa đặt giá 310 điểm để mua Bé mua sắm
Shop - Đấu giá: Độc Bá Thiên vừa đặt giá 1820 điểm để mua Nữ hoàng 2
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 2009 điểm để mua Bé trà
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 1732 điểm để mua Nữ hoàng 2
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 294 điểm để mua Bé mua sắm
Shop - Đấu giá: cò lười vừa đặt giá 275 điểm để mua Ngựa trời (kiểu 2)
Shop - Đấu giá: Lãng Nhược Y vừa đặt giá 1099 điểm để mua Bướm Hồng Vàng
Shop - Đấu giá: Lavender - Blue vừa đặt giá 1045 điểm để mua Bướm Hồng Vàng
Shop - Đấu giá: Lãng Nhược Y vừa đặt giá 994 điểm để mua Bướm Hồng Vàng
Shop - Đấu giá: Lavender - Blue vừa đặt giá 945 điểm để mua Bướm Hồng Vàng
Shop - Đấu giá: Độc Bá Thiên vừa đặt giá 1912 điểm để mua Bé trà
Shop - Đấu giá: Lãng Nhược Y vừa đặt giá 899 điểm để mua Bướm Hồng Vàng
Shop - Đấu giá: Độc Bá Thiên vừa đặt giá 1648 điểm để mua Nữ hoàng 2
Shop - Đấu giá: Lavender - Blue vừa đặt giá 855 điểm để mua Bướm Hồng Vàng
Shop - Đấu giá: Thanh Hưng vừa đặt giá 1568 điểm để mua Nữ hoàng 2
Shop - Đấu giá: Thanh Hưng vừa đặt giá 289 điểm để mua Kẹo trái tim

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.