Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 23 bài ] 

John yêu dấu - Nicholas Sparks

 
Có bài mới 09.08.2017, 17:18
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 28272
Được thanks: 4648 lần
Điểm: 9.45
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Lãng mạn] John yêu dấu - Nicholas Sparks - Điểm: 10
Chương 17


Bảy tuần sau đó cha tôi mất, tôi được lệnh nghỉ phép khẩn cấp để tham dự lễ tang.

Chuyến bay trở về Mỹ chìm ngập trong làn sương mù. Tất cả những gì tôi có thể làm là ngắm nhìn đại dương mênh mông màu xám bên dưới tôi hàng ngàn feet, ước gì tôi có thể ở cạnh ông vào những giây phút cuối cùng. Tôi vẫn chưa cạo râu, tắm táp hay thậm chí là thay đồ kể từ khi biết tin, như thể nếu tôi tiến hành mọi việc như thường ngày thì cũng đồng nghĩa rằng tôi hoàn toàn chấp nhận cái ý nghĩ là ông đã ra đi mãi mãi.

Trong sân bay và suốt quãng đường trở về nhà, cơn giận của tôi mỗi lúc một leo thang khi những cảnh sinh hoạt hàng ngày đập vào mắt tôi. Mọi người vn lái xe, đi dạo, lui tới những cửa hàng, xử sự thật bình thường, nhưng với tôi không có gì là bình thường hết.

Chỉ đến khi tôi trở về nhà và nhớ ra rằng mình đã đóng cầu giao gần hai tuần trước. Thiếu ánh đèn, căn nhà dường như bị cô lập một cách lạ lùng trên con phố nhỏ, như thể nó không thuộc về nơi này vậy. Giống như cha tôi, tôi nghĩ. Hoặc tôi, tôi nhận ra một cách muộn màng. Bằng cách nào đó, suy nghĩ này khiến tôi có thể tiến vào bên trong.

Kẹt trong khe cửa, tôi tìm thấy một tấm danh thiếp của một luật sư tên là William Benjamin; ở mặt sau tờ danh thiếp ông tuyên bố là đại diện của cha tôi. Dịch vụ điện thoại không còn hoạt động, tôi gọi nhờ từ nhà người hàng xóm và thật ngạc nhiên khi ông đến vào sáng sớm hôm sau, với va ly trên tay.

Tôi dẫn ông vào bên trong căn nhà tối tăm, và ông ngồi xuống trên chiếc đi văng. Bộ comple của ông chắc phải trị giá hơn hai tháng lương tôi cộng lại. Sau màn giới thiệu và chia buồn với mất mát của tôi, ông nghiêng người về phía trước. “Tôi ở đây vì tôi rất quý cha cậu,” ông nói. “Ông là một trong những khách hàng đầu tiên của tôi, nên nhân tiện nói trước cậu sẽ không phải trả thêm bất kỳ một loại phí nào. Ông ấy đã đến gặp tôi ngay sau khi cậu được sinh ra để lập một chúc thư, và mỗi năm vào đúng một ngày nhất định, tôi sẽ đến để xác nhận một tờ trình, ông liệt kê những đồng xu ông tìm được. Tôi đã giải thích cho ông ấy về những khoản thuế tài sản, nên ông đã tặng chúng cho cậu từ khi cậu chỉ là một đứa trẻ.”

Tôi quá bàng hoàng để có thể nói ra bất cứ điều gì.

“Dù sao thì, sáu tuần trước ông cũng đã viết cho tôi một là thư thông báo rằng cuối cùng cậu cũng đã được sở hữu bộ sưu tập của ông, và ông muốn đảm bảo mọi việc sẽ vẫn được tiến hành theo đúng trình tự, nên tôi đến để cập nhật bản di chúc của ông lần cuối. Khi ông nói với tôi chỗ ở hiện tại của ông, tôi đã nghĩ rằng tình hình sức khỏe của ông không ổn nên đã gọi điện cho ông. Ông không nói nhiều nhưng ông đã ủy quyền cho ngài giám đốc ở đó nói chuyện với tôi. Ngài giám đốc hứa rằng ông sẽ báo cho tôi trong trường hợp cha cậu qua đời để tôi có thể đến gặp cậu. Nên tôi ở đây.”

Ông bắt đầu lục lọi valy. “Tôi biết cậu đang phải thu xếp cho lễ tang của cha, và đây là một khoảng thời gian tồi tệ. Nhưng cha cậu đã bảo với tôi rằng cậu có thể sẽ không lưu lại đây lâu và tôi nên giải quyết công việc của ông sớm. Nhân tiện, đó là lời của ông chẳng phải của tôi. Được rồi, nó đây.”

Ông trao tôi một cái phong bì, rất nặng với nhiều giấy tờ bên trong. “Di chúc của ông, một danh sách tất cả những đồng xu trong bộ sưu tập, bao gồm cả chất lượng và ngày giao dịch, và tất cả những sắp xếp cho lễ tang – tiện đây đã được trả trước. Tôi đã hứa với ông rằng tôi sẽ làm thủ tục chứng thực tất cả tài sản, nhưng đó cũngà vấn đề gì lớn, vì khối lượng tài sản khá nhỏ và cậu là người con duy nhất của ông ấy. Và nếu cậu muốn, tôi có thể tìm ra ai đó tiếp quản những tài sản mà cậu không muốn giữ và cũng có thể tiến hành thủ tục bán nhà luôn. Cha cậu cũng nói là có thể cậu sẽ không có thời gian cho việc này.” Ông đóng va ly lại. “Như tôi đã nói đấy, tôi rất quý cha cậu. Thường thì tôi sẽ thuyết phục mọi người về tầm quan trọng của việc này, nhưng không phải với cha cậu. Ông là một người rất nguyên tắc.”

“Vâng,” tôi gật đầu. “Ông ấy vẫn thế.”

Như vị luật sư đã nói, mọi thứ đã được thu xếp ổn thỏa. Cha tôi đã chọn loại dịch vụ lễ tang ông muốn, ông được mặc bộ quần áo ông chọn và thậm chí ông còn chọn luôn cả quan tài cho chính mình. Hiểu ông, tôi đoán tôi nên tôn trọng di nguyện của ông, nhưng điều đó chỉ càng củng cố thêm niềm tin rằng tôi chưa bao giờ thực sự hiểu ông.

Đám tang của ông vào một ngày tháng tám mưa ấm áp, và rất ít người tham dự. Hai người đồng nghiệp cũ của ông, giám đốc viện dưỡng lão, vị luật sư và người hàng xóm đã trông nom ông là những người duy nhất cùng tôi tham dự lễ tang. Điều đó hoàn toàn làm trái tim tôi tan nát ra thành hàng triệu mảnh, rằng cả thế giới chỉ có những người này nhận ra giá trị của cha tôi. Sau khi cha xứ kết thúc buổi cầu nguyện, ông thì thầm hỏi tôi liệu tôi có muốn bổ sung gì nữa không. Lúc đó, cổ họng tôi nghẹn lại và khô khốc, tất cả những gì tôi có thể làm là đơn giản lắc đầu từ chối.

Quay trở về nhà, tôi ngồi tạm trên mép giường của cha tôi. Ngay khi trời ngừng mưa, những tia nắng mặt trời xám xịt đan xiên qua khung cửa sổ. Căn nhà đã mốc meo, bốc mùi hăng hắc, nhưng tôi vẫn có thể ngửi thấy mùi hương của cha trên gối ông. Bên cạnh tôi là chiếc phong bị mà vị luật sư đã mang đến cho tôi. Tôi đổ mớ giấy tờ ra giường. Bản di chúc ở trên cùng tiếp đến là các giấy tờ liên quan. Nhưng dưới cùng là tấm ảnh mà cha tôi đã không còn đặt trong phòng làm việc từ rất lâu rồi, tấm ảnh duy nhất của cha con tôi.

Tôi đưa nó ra trước mặt và cứ ngắm mãi cho đến khi nước mắt dàn dụa.

Chiều muộn hôm đó, Lucy, cô bạn gái cũ ngày xưa của tôi đến chơi. Đầu tiên khi cô ấy bước vào, tôi đã không biết phải nói gì. Đâu rồi cô gái rám nắng từ một thời tuổi trẻ cuồng nhiệt của tôi, thế vào chỗ cô ấy là một phụ nữ bận đồ tối màu, một chiếc quần âu đắt tiền và một chiếc áo lụa.

“Em rất tiJohn,” cô thì thầm, bước tới trước mặt tôi. Chúng tôi ôm lấy nhau, thật gần, và cái cảm giác cô ấy tựa vào tôi như một ly nước mát lạnh trong ngày hè nóng nực. Cô ấy xức một loại nước hoa nhẹ nhàng mà tôi không thể gọi tên nhưng nó gợi tôi nhớ đến Paris, dù tôi chưa từng một lần đến đó.

“Em vừa mới đọc cáo phó,” cô nói và lùi lại phía sau. “Em rất tiếc vì đã không thể đến dự lễ tang.”

“Không sao mà,” tôi nói. Tôi chỉ vào chiếc đi văng. “Em có muốn vào nhà không?”

Cô ngồi cạnh tôi và tôi nhận thấy cô không đeo nhẫn cưới, cô vô thức giấu bàn tay đi.

“Mọi chuyện không suôn sẻ lắm,” cô nói. “Em ly dị từ năm ngoái.”

“Anh rất tiếc.”

“Em cũng vậy,” cô nói, chạm vào tay tôi. “Anh ổn chứ?”

“Ừ,” tôi nói dối. “Anh ổn.” Chúng tôi cùng nhau ôn lại những chuyện ngày xửa ngày xưa; cô ấy hoài nghi rằng vì cú điện thoại cuối cùng của cô đã khiên tôi gia nhập quân ngũ. Tôi bảo với cô ấy rằng đó chính xác là những gì tôi cần vào thời điểm đó. Cô kể cho tôi nghe về sự nghiệp của cô – cô mở dịch vụ thiết kế và xây dựng không gian cho những khu căn hộ - và hỏi tôi Iraq thế nào. Tôi tả cho cô ấy nghe về cát. Cô cười phá lên và sau đó không hỏi gì thêm nữa. Cùng lúc đó, câu chuyện của chúng tôi chậm lại như thể chúng tôi cũng nhận ra rằng cả hai chúng tôi đã thay đổi nhiều tới mức nào. Có lẽ bởi vì chúng tôi đã từng rất gần gũi, cũng có thể vì giờ đây cô ấy đã là một phụ nữ trưởng thành, nhưng tôi có cảm giác là cô ấy đã bắt thóp tôi và cũng biết là cô ấy sẽ hỏi gì kế tiếp.

“Anh đang yêu ai đó, phải không?” cô thì thầm.

Tôi gập tay trên bụng và nhìn ra cửa sổ. Bên ngoài, bầu trời lại tối đen và xám xịt những mây, hứa hẹn một trận mưa ra trò. “Ừ,” tôi thừa nhận.

“Tên cô ấy là gì?”

“Savannah,” tôi nói.

“Cô ấy

Tôi ngập ngừng. “Không.”

“Anh có muốn nói về chuyện này không?”

Không, tôi đã muốn nói. Tôi không muốn thảo luận về chuyện đó. Tôi đã học được nhiều điều trong quân đội như là tất cả những câu chuyện của chúng ta đều nhàm chán và dễ đoán trước kết cục, và dù người ta có hỏi thì thực ra không ai muốn nghe chúng. Nhưng tôi đã kể cho cô ấy nghe mọi chuyện từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc, còn chi tiết hơn cả những gì tôi nên kể, hơn một lần cô ấy chạm vào tay tôi. Tôi đã không nhận ra rằng việc giữ chúng trong lòng lại khó khăn đến vậy, ngay khi tôi ngừng lại, tôi nghĩ cô ấy biết tôi đang cần được ở một mình. Cô ấy hôn lên má tôi khi cô ấy rời đi, và khi cô đi rồi, tôi bước qua bước lại trong căn nhà hàng giờ đồng hồ. Tôi trôi dạt từ phòng này qua phòng khác, nghĩ về cha tôi và về Savannah, cảm giác thật xa lạ, và dần nhận ra rằng mình còn một nơi khác phải đến.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 09.08.2017, 17:19
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 28272
Được thanks: 4648 lần
Điểm: 9.45
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Lãng mạn] John yêu dấu - Nicholas Sparks - Điểm: 10
Chương 18


Tối hôm đó, tôi ngủ lại trên giường cha tôi, đó cũng là lần duy nhất tôi làm chuyện đó trong suốt cuộc đời mình. Cơn bão đã qua và nhiệt độ tăng cao khủng khiếp. Thậm chí mở hết các cửa sổ cũng không khiến căn phòng mát hơn bao nhiêu, tôi trằn trọc tr6en giường hàng giờ liền. Tỉnh dậy vào buổi sáng hôm sau, tôi tìm thấy chìa khóa xe của cha tôi treo trên móc trong nhà bếp. Tôi ném một số đồ cá nhân vào phía sau xe và chọn ra vài thứ đồ đạc trong nhà mà tôi muốn giữ. Ngoài những bức ảnh, cũng chẳng nhiều nhặn gì. Sau đó, tôi gọi cho vị luật sư nhờ ông ấy tìm người lo liệu thủ tục bán nhà. Tôi bỏ chìa khóa nhà trong hòm thư.

Trong garage, phải mất vài giây động cơ chiếc xe mới có thể hoạt động trở lại. Tôi lùi xe ra, đóng cửa garage và khóa lại. Từ sân tôi ngắm nhìn ngôi nhà, nghĩ về cha tôi và biết rằng tôi sẽ không bao giờ lại nhìn thấy nơi này lần nữa.

Tôi lái xe đến viện dưỡng lão, thu dọn đồ đạc của cha tôi, sau đó rời Wilmington, thẳng tiến phía tây qua một dọc những tiểu bang khác, để xe tự lái. Đã một vài năm trôi qua kể từ lần cuối đi qua quãng đường này, tâm trí tôi hờ hững với đường sá xe cộ xung quanh, nhưng những cơn sóng cảm xúc về nơi thân quen này lại cứ thế trào lên. Tôi đ thị trấn một thời tuổi trẻ của tôi, thẳng hướng Raleigh tới Chapel Hill, nơi những ký ức đau đớn nhá lên, tôi thấy mình tăng tốc, cố để tất cả lại phía sau.

Tôi lái xe qua Burlington, Greensboro, và Winston-Salem. Ngoài việc ngừng lại đổ xăng vào lúc sáng sớm, tôi cũng mua một chai nước, vì quãng đường dài phía trước, tôi cố nhấp một ít nước nhưng không tài nào nuốt trôi nổi thứ gì. Bức hình cha con tôi chụp chung lăn lóc trên chiếc ghế cạnh tôi, mỗi lần nhìn nó tôi lại cố nhớ lại cậu bé trong ảnh. Tôi lái xuống phía bắc, dọc theo một con đường cao tốc nhỏ bao quanh bởi nhưng rặng núi xanh thẳm trải dài từ bắc vào nam, như một vết đứt gãy nhẹ của lớp vỏ trái đất.

Chiều muộn tôi ngừng xe lại, thuê một phòng ở một nhà trọ tồi tàn trên đường. Người tôi tê cứng, sau vài phút nằm xoài ra, tôi đi tắm và cạo râu. Tôi thay một chiếc quần jean và một áo thun sạch, ngần ngừ không biết có nên ăn gì không nhưng tôi vẫn không thấy đói. Khi mặt trời xuống núi, không khí nóng ẩm của miền biển biến mất nhường chỗ cho mùi hương của những cây lá kim trên những ngọn núi dạt xuống. Đây là nơi Savannah được sinh ra, và bằng cách nào đó tôi biết em vẫn còn ở đây.

Dù tôi đã có thể đến nhà cha mẹ em để hỏi, nhưng tôi đã bác bỏ cái ý nghĩ ấy đi ngay, sau tất cả những gì đã xảy ra tôi không chắc họ sẽ phản ứng với sự hiện diện của tôi như thế nào. Thay vào đó, tôi lái xe xuống những con đường ở Lenoir, đi qua mấy khu bán lẻ, vòng một vòng qua khu bán đồ ăn nhanh, và bắt đầu cho xe chaỵ là đà khi bước qua địa phận thị trấn. Phần này của thị trấn không hề thay đổi, nơi những người mới và khách du lịch luôn được chào đón nhưng sẽ không bao giờ được coi là dân địa phương. Chạy dọc theo con đường xuống hồ bơi, một nơi nhắc tôi nhớ về những ám ảnh thời tuổi trẻ của mình. Đèn neon chiếu sáng rực những biển quảng cáo bia trên cửa sổ, và bãi đỗ xe phía trước đã kín chỗ. Những nơi như thế này sẽ giúp tôi tìm thấy câu trả lời mà tôi cần.

Tôi bước vào bên trong. Tiếng kèn của Hank Williams phát ra từ chiếc máy hát tự động, khói thuốc lá lơ lửng trong không khí. Bốn chiếc bàn chơi pun chụm lại một chỗ, mỗi người chơi đội một chiếc mũ bóng chày, và hai trong số họ rõ ràng là rất tự mãn nhai thuốc lá chóp chép. Giải thưởng được treo trên tường, bao quanh bởi khoảnh khắc đáng ghi nhớ của NASCAR. Có những bức ảnh chụp trận Talladega và Martinsville hay North Wilkesboro và Rockingham, và cho dù quan niệm của tôi về môn thể thao này không thay đổi, khung cảnh vẫn mang lại cho tôi một cảm giác thoải mái kỳ lạ. Ở một góc quán, dưới gương mặt tươi cười của Dale Earnhardt quá cố, là một hũ đầy tuyên góp cho nạn nhân ung thư. Cảm giác đồng cảm bất tử trỗi dậy, tôi cũng ném vào đó vài đô. Tôi kiếm một chỗ trong bar và nói chuyện với người pha chế đồ uống. Anh ta khoảng tầm tuổi tôi và cái giọng vùng cao của anh ta khiến tôi nhớ tới Savannah. Sau khoảng hai mươi phút chuyện trò rôm rả, tôi lấy bức ảnh của Savannah trong ví ra, và giải thích rằng tôi là một người bạn của gia đình. Tôi dùng tên của ba mẹ em và hỏi những câu ngụ ý rằng tôi đã từng ở đó trước đây.

Anh ta đã cảnh giác, cũng rất thẳng thắn. Người dân ở thị trấn nhỏ thường rất có ý thức tự bảo vệ, nhưng mọi chuyện đảo ngược khi anh thổ lộ anh đã có vài năm ở trong thủy quân lục chiến. Anh gật đầu.

“Vâng, tôi biết cô ấy,” anh nói. “Cô ấy sống trên đường Old Mill, cạnh nhà ba mẹ cô ấy.”

Chỉ mới sau tám giờ một chút, hoàng hôn xam xám nhưng một chiếc chăn mỏng trùm lên vạn vật. Mười phút sau, tôi rời khỏi quán bar ra cửa.

Tâm trí tôi là một khoảng trống tò mò khi tôi tiến vào vùng đất của những chú ngựa. Ít nhất, đó là những gì tôi cảm thấy vào lần cuối tôi ở đây. Con đường tôi lái xe hơi dốc lên trên, và tôi bắt đầu nhận ra những điểm mốc của vùng này; tôi biết vài phút trước tôi đã băng ngang qua nhà ba mẹ Savannah. Khi qua đó, tôi nghiêng người trên tay lái, tìm khúc gián đoạn ở hàng rào tiếp theo trước khi tiến vào một con đường trải sỏi dài hun hút. Khúc cua, tôi nhìn thấy một bảng chỉ dẫn viết tay sơn dòng chữ "Hope and Horses."

Xe tôi cán rôm rốp lên con đường rải sỏi tạo ra thứ cảm giác thoải mái kỳ dị, và tôi đậu xe dưới tán liễu rủ, cạnh một chiếc xe tải nhỏ vỡ nát. Tôi nhìn về phía căn nhà. Mái hình vuông dốc thoai thoải, với một lớp sơn trắng mà đôi chỗ đã bong tróc, một ống khói chĩa thẳng lên trời, tạo cảm giác dường như mọc ra từ mặt đất một hình thù ma quái kỳ dị từ hàng trăm năm nay. Một bóng đèn duy nhất trước hiên nhà sập sệ, và một chậu cây nhỏ treo gần quốc kỳ, cả hai đang đung đưa nhè nhẹ trong gió.

Mặt bên của ngôi nhà là một chuồng ngựa cũ kỹ theo năm tháng và một bãi quây gia súc nho nhỏ; phía xa xa một đồng cỏ xanh mướt được bao quanh bởi một hàng rào trắng tinh sạch sẽ trải dài cạnh một dọc những cây sồi to lớn. Một cái lán khác được dựng cạnh chuồng ngựa, và trong bóng râm tôi có thể nhìn thấy những đường nét lờ mờ của những nông cụ già nua. Tôi tự hỏi một lần nữa tại sao mình lại ở đây. Vẫn chưa quá trễ để rời đi, nhưng tôi không thể buộc mình vòng xe lại. Những loang màu đỏ và vàng bừng lên trước khi mặt trời lặn hẳn, bao ph những ngọn núi trong tấm màn bóng tối. Tôi bước ra khỏi xe và bắt đầu tiến về phía căn nhà. Những giọt sương trên cỏ khiến giày tôi ẩm ướt và tôi lại ngửi thấy mùi hăng hăng của những loại cây lá kim. Lắng nghe tiếng dế kêu râm ran và tiếng hót véo von của một con chim sơn ca. Những âm thanh ấy dường như tiếp thêm cho tôi sức mạnh khi tôi bước vào hiên nhà. Tôi cố nặn ra những lời lẽ tôi sẽ nói với em nếu em mở cửa. Hoặc những điều mà tôi phải nói với anh ta.

Trong khi tôi đang cố ra quyết định sẽ phải làm gì, một cái đuôi đang ngoáy tít sán lại gần tôi. Tôi ngửa bàn tay ra và cái lưỡi thân thiện của nó liếm láp lòng bàn tay tôi trước khi nó quay đi và bước xuống những bậc thang. Cái đuôi tiếp tục ngoáy tít khi nó dẫn đầu đi vòng vòng quanh nhà và lắng nghe tiếng gọi của cùng một thứ đã mang tôi tới Lenoir, tôi rời khỏi hiên và rảo bước theo nó. Nó cúi đầu thật thấp, dán bụng xuống đất chui qua thanh ngang của hàng rào và phi thong thả vào chuồng ngựa.

Ngay khi chó biến mất, tôi nhìn thấy Savannah bước ra khỏi chuồng ngựa với những khoanh cỏ khô kẹp bên tay. Những con ngựa trên đồng cỏ phi nước kiệu về phía em khi em tiếp cỏ khô vào những cái máng khác nhau.Tôi tiếp tục tiến về phía trước. Em xoay mình và chuẩn bị quay đầu về phía chuồng ngựa thì vô tình nhìn về hướng tôi. Em bước tới một bước, nhìn lại lần nữa và khựng lại. Trong một lúc lâu, cả hai chúng tôi đều không di chuyển. Cái nhìn của em khóa lấy anh mắt tôi khiến tôi nhận ra rằng thật không đúng khi đến đây, tự nhiên xuất hiện mà chẳng hề báo trước thế này. Tôi biết mình nên nói gì đó, bất cứ thứ gì, nhưng chẳng có gì xuất hiện trong đầu tôi. Tất cả những gì tôi có thể làm là nhìn em ngây ngốc. Những kỷ niệm đột ngột ùa về, tất cả chúng, và để ý thấy từng chút một em đã thay đổi thế nào kể từ lần cuối tôi gặp em. Giống như tôi em cũng đang mặc quần jean với áo thun, lấm lem bùn đất, và đôi ủng của em bị kéo lê trên mặt đất. Bằng cách nào đó tất cả những thứ đó khiến cho em có một vẻ ngoài bụi bặm. Tóc em đã dài hơn so với tôi vẫn nhớ, nhưng em vẫn còn khoảng răng sưa giữa hai răng cửa mà tôi vẫn luôn rất yêu. “Savannah,” cuối cùng tôi cũng thốt lên. Không phải cho đến khi tôi thốt nên lời tôi mới nhận ra rằng em cũng đang ngây ngốc như tôi. Em cười thật tươi với vẻ hài lòng trong sáng. “John?” em la lên.

“Được gặp lại anh thật tốt.”

Em lắc đầu, như thể cố làm cho bản thân tỉnh táo, sau đó lại nheo mắt nhìn tôi lần nữa. Cuối cùng em cũng đã tự thuyết phục được mình rằng tôi không phải là một ảo ảnh, em đẩy nhẹ cánh cổng và chặn ngay cửa. Chỉ một lát sau, tôi có thể cảm vòng tay em quanh tôi, cơ thể em ấm áp và chào đón. Trong một giây, dường như giữa chúng tôi chưa từng có chuyện gì thay đổi. Tôi muốn ôm em mãi mãi, nhưng khi em đẩy ra, ảo tưởng vỡ vụn, và chúng tôi lại trở lại thành những người xa lạ. Biểu hiện của em cũng chính là câu hỏi tôi không thể tự mình trả lời trong suốt quãng đường đến đây.

“Anh làm gì ở đây vậy?”

Tôi lảng nhìn đi nơi khác. “Anh không biết,” tôi nói. “Anh chỉ biết là anh cần phải đến đây thôi.” Dù em không hỏi gì, nhưng vẻ tò mò xen lẫn ngần ngại vẫn cuộn lên trong biểu hiện của em, như thể em không chắc em có muốn một câu giải thích rõ ràng hơn không. Tôi lùi lại một bước, cho em chút không gian. Tôi có thể thấy bóng dáng lờ mờ của những con ngựa trong bóng tối và những sự kiện trong vài ngày vừa qua lại ùa về trong tôi.

“Cha anh mất rồi,” tôi thì thầm, những từ ngữ dường như bật ra từ hư vô. “Anh vừa mới rời khỏi đám tang của ông ấy.”

Em im lặng, cử chỉ của em cũng mềm đi bởi lòng tốt bột phát để tôi được dịp tuôn ra hết. “Ôi, John…Em rất tiếc,” em thầm thì.

Em bước lại gần và lần này ôm choàng lấy tôi một cách chóng vánh. Khi em đẩy ra, nửa khuôn mặt em đã chìm vào bóng tối. “Chuyện đó đã xảy ra thế nào?” em hỏi, em đưa tay ra chạm vào tay tôi.

Tôi có thể nghe thấy sự đau buồn chân thật trong giọng nói của em, và tôi khựng lại, không thể tóm tắt tất cả những sự việc xảy ra trong vài năm vừa qua chỉ bằng một câu nói. “Đó là một câu chuyện dài,” tôi nói. Trong ánh sáng hắt ra từ chuồng ngựa, tôi có thể nhìn thấy những dấu vết của những kỷ niệm mà em cố chôn chặt, một cuộc đời đã từ rất lâu. Em buông tay tôi ra, và tôi nhìn thấy chiếc nhẫn cưới trên tay trái em. Hình ảnh đó như dội vào tôi một gáo nước lạnh.

Em nhận ra biểu hiện trên gương mặt tôi. “Vâng,” em nói, “Em đã kết hôn.”

“Anh xin lỗi,” tôi nói, lắc đầu. “Lẽ ra anh không nên đến.” Ngạc nhiên thay, em chĩ phẩy tay. “Không sao mà,” em nói, nghiêng nghiêng đầu. “Làm sao anh tìm được em?”

“Đây chỉ là một thị trấn nhỏ.” Tôi nhún vai. “Anh hỏi người ta.”

“Và họ chỉ đơn giản… nói với anh thế à?”

“Anh có khả năng thuyết phục mà.”

Thật vụng về, cả hai chúng tôi dường như chẳng biết phải nói gì để tiếp tục câu chuyện. Một phần trong tôi tràn trề hy vọng rằng chúng tôi sẽ tiếp tục đứng ở đây như những người bạn cũ nói với nhau tất cả những việc đã xảy ra trong cuộc sống của chúng tôi kể từ lần cuối chúng tôi gặp nhau. Phần khác tôi lại mong đợi chồng em sẽ đột ngột xuất hiện sau vài phút và bắt tay tôi hoặc thách thức tôi đánh nhau. Một chú ngựa hý vang phá tan bầu không khí yên lặng, qua vai em tôi có thể nhìn thấy bốn con ngựa đang cúi mình bên máng cỏ, một nửa chìm vào bóng tối nửa còn lại được chiếu sáng bởi ánh đèn hắt ra từ chuồng ngựa. Ba con khác, kể cả Midas, đang nhìn hau háu vào Savannah, như thể đang băn khoăn tự hỏi liệu có phải em đã bỏ quên chúng rồi không.

Cuối cùng Savannah ra hiệu qua vai mình. “Em nên cho chúng ăn luôn,” em nói. “Giờ là giờ ăn mà, và chúng đang phát cáu lên kìa.”

Tôi gật đầu, Savannah bước lùi ra sau rồi quay đi. Chỉ khi bước tới cánh cổng, em mới ra hiệu. “Anh có muốn giúp em một tay không?”

Tôi thoáng ngần ngừ, liếc nhìn về phía căn nhà. Em lần theo ánh nhìn của tôi. “Đừng lo,” em nói. “Anh ấy không có ở đây đâu, và em cũng có thể nhờ bất kỳ ai giúp đỡ mà.” Giọng em đều đều một cách ngạc nhiên. Dù tôi không chắc lắm về điều khiến trả lời như vậy, nhưng tôi vẫn gật đầu. “Anh rất vui lòng.”

Em đợi tôi và đóng cánh cổng lại sau lưng chúng tôi. Em chỉ vào một đống phân. “Coi chừng dẫm. Chúng sẽ dính vào giày của anh đấy.”

Tôi rên rỉ. “Anh sẽ cố.”

Trong chuồng ngựa, em tách đôi một thanh cỏ khô và đưa chúng cho tôi.

“Đổ chúng vào trong mấy cái máng. Em đi lấy ít yến mạch.”

Tôi làm như em chỉ dẫn, và những con ngựa tiến lại gần. Savannah trở ra ôm thêm hai cái thùng.

“Có lẽ em muốn một cái phòng nhỏ cho chúng. Cứ thế này chúng sẽ làm em phát điên lên.”

Tôi bước lùi ra, và Savannah treo mấy cái thùng lên hàng rào. Đám ngựa đầu tiên phi tới. Savannah ngắm chúng, vẻ tự hào hiển hiện trên mặt.

“Một ngày em cho tụi nó ăn mấy lần?”

“Hai lần một ngày. Mỗi ngày. Nhưng mà có nhiều việc để làm hơn là chỉ cho ăn. Anh sẽ ngạc nhiên khi biết thỉnh thoảng chúng vụng về tới mức nào. Tụi em cũng có bác sỹ thú y cho những rắc rối trong chuồng ngựa.”

“Nghe như có rất nhiều việc để làm đấy nhỉ?”

“Nhiều lắm. Người ta nói sở hữu một con ngựa giống như sống với một cái mỏ neo vậy. Trừ phi anh có ai đó giúp, rất khó để có thời gian rảnh rỗi, kể cả cuối tuần.”

“Ba mẹ em có thường xuyên giúp đỡ không?”

“Thỉnh thoảng khi em thực sự cần thôi. Nhưng ba em càng ngày càng lớn tuổi. Mà việc chăm sóc một con ngựa cũng rất khác với việc chăm sóc bảy con.”

“Anh sẽ ghi nhớ chuyện này.”

Trong vòng tay ấm áp của màn đêm, tôi lắng nghe tiếng ve kêu râm ran, hít thở bầu không khí yên bình của nơi này và cố kìm nén những suy nghĩ đang chạy đua trong đầu.

“Anh luôn tưởng tượng ra rằng em sẽ muốn được sống ở một nơi như thế này,” cuối cùng tôi nói.

“Em cũng vậy,” em đáp. “Nhưng khó khăn hơn nhiều so với những gì em vẫn tưởng. Có hàng đống thứ phải sửa chữa. Anh không tưởng tượng nổi có bao nhiêu chỗ dột nát trong chuồng ngựa đâu, và một phần hàng rào dài đã đổ vào mùa đông năm ngoái. Tụi em bận túi bụi suốt mùa xuân.”

Dù tôi nghe thấy từ “tụi em” và biết là em đang nói về chồng em, tôi vẫn chưa sẵn sàng thảo luận bất cứ điều gì về anh ấy. Và có vẻ như em cũng vậy.

“Nhưng ở đây vẫn rất đẹp, thậm chí dù anh có có hàng đống việc để làm. Những đêm như thế này, em thích ngồi nơi hiên nhà, lắng nghe thế giới. Anh khó có thể nghe thấy những tiếng động cơ xe, chỉ là nó… yên bình. Nó giúp đầu óc em thư thái, đặc biệt là sau một ngày dài.”

Khi em nói tôi cảm thấy sự chừng mực trong giọng nói của em, mong giữ cho cuộc chuyện trò của chúng tôi được an toàn. “Anh cá là vậy.”

“Em cần vệ sinh mấy cái móng ngựa,” em tuyên bố. “Anh muốn giúp không?”

“Anh không biết làm thế nào?” tôi thừa nhận. “Dễ lắm,” em nói. “Em sẽ chỉ cho anh.” Em biến mất bên trong cái chuồng ngựa và bước ra mang theo cái gì đó giống như hai cái đinh nhỏ cong cong. Em đưa một cái cho tôi. Trong khi mấy con ngựa đang ăn, em bước đến phía trước một con.

“Tất cả những gì anh phải làm là tóm lấy cái móng, kéo lại gần và gõ nhè nhẹ vào phía sau chân của nó,” em vừa nói vừa làm. “Sau đó cạy hết đất ở xung quanh cái móng ra. Chỉ cần làm vậy thôi.”

Tôi di chuyển tới phía trước con ngựa cạnh em và cố bắt chước, nhưng chẳng có gì xảy ra. Con ngựa vừa to lớn lại vừa cứng đầu. Tôi gõ nhẹ một lần nữa vào chân nó, đúng chỗ, sau đó kéo, và lại gõ. Con ngựa tiếp tục ăn lờ đi những nỗ lực của tôi. “Nó không chịu nhấc chân lên,” tôi than vãn.

Em vừa làm xong cái móng bên kia, sau đó dịch sang bên con ngựa của tôi. Một cái gõ và rồi kéo lại, cái móng ở ngay giữa chân em. “Chắc chắn là nó sẽ làm vậy mà. Nó chỉ không biết anh đang làm gì thôi và anh không thoải mái cạnh nó nữa. Anh phải tự tin mới được.” Em thả cái móng xuống, và tôi thế chỗ em, cố thử lại lần nữa. Một lần nữa, con ngựa lại lờ tôi đi.

“Nhìn em làm này,” em nói thật thận trọng. “Anh đang nhìn mà,” tôi phản đối.

Em làm lại, con ngựa nhấc chân lên. Một lát sau, tôi bắt chước y chang và con ngựa vẫn lờ tôi đi. Dù tôi không có khả năng đọc suy nghĩ của một con ngựa, tôi có một ý niệm lạ lùng rằng con ngựa này đang thích thú với sự khổ sở của tôi. Thất vọng, tôi lại gõ lại kéo liên túc cho đến khi như một phép màu, con ngựa cũng chịu nhấc chân lên. Dù chỉ là một thành quả nhỏ bé so với công sức tôi đã bỏ ra, tôi vẫn cảm thấy niềm tự hào trỗi dậy. Lần đầu tiên tử lúc tôi tới đây, Savannah bật cười.

“Làm tốt lắm. Giờ chỉ cần cạo bùn ra và bắt đầu với cái móng tiếp theo.”

Savannah đã làm sạch móng cho sáu con ngựa trong khi tôi làm xong cho một con. Khi chúng tôi làm xong, em mở cổng và những chú ngựa phi nứơc kiệu vào đồng cỏ tối om. Tôi không chắc mình đang mong đợi điều gì nhưng Savannah đã bước về phía nhà kho. Em mang theo hai cái xẻng trên tay.

“Tới lúc phải dọn dẹp rồi,” em nói đưa tôi một chiếc.

“Dọn dẹp?”

“Dọn phân ngựa,” em nói. “Nếu không chúng sẽ ngập lụt chỗ này mất.”

Tôi lấy xẻng. “Em làmviệc này hàng ngày hả?”

“Cuộc sống là một tuyệt tác phải không?” em đùa cợt. Em rời đi một lần nữa và quay lại với một cái xe cút kít.

Khi chúng tôi bắt đầu xúc phân ngựa, mảnh trăng bàng bạc treo lơ lửng trên đầu một ngọn cây. Chúng tôi làm việc trong im lặng, tiếng xẻng leng keng đều đặn của em lấp đầy không gian, Khi cả hai đều hoàn tất công việc của mình, tôi nghiêng người trên cái xẻng, ngắm nhìn em. Trong bóng tối lờ mờ của sân chuồng ngựa, trông em thật đáng yêu và khó nắm bắt như một hồn ma. Em chẳng nói gì nhưng tôi biết em cũng đang đánh giá tôi.

“Em ổn chứ?” cuối cùng tôi hỏi.

“Sao anh lại tới đây, John?”

“Em đã hỏi rồi còn gì.”

“Em biết em đã hỏi,” em nói. “Nhưng anh chưa thực sự trả lời em.”

Tôi nhìn em. Không, tôi vẫn chưa thực sự trả lời. Tôi không chắc tôi có thể tự mình giải thích không nữa, tôi chuyển trọng tâm từ chân này sang chân kia. “Anh chẳng biết phải đi đâu.”

Ngạc nhiên thay, em gật đầu. “Ừ,” em thừa nhận. Có một sự chấp nhận yếu ớt trong giọng nói của em khiến tôi nói tiếp.

“Anh nói thật đấy,” tôi nói. “Xét theo một khía cạnh nào đó, em là người bạn thân nhất anh từng có.”

Tôi có thể nghe thấy sự mềm mỏng trong giọng nói của em. “Được rồi,” em nói. Sự hồi đáp của em nhắc tôi nhớ về cha tôi, và sau khi em trả lời em cũng nhận ra điều đó. Nó buộc tôi phải xem xét những khả năng.

“Đây là trang trại em luôn mơ ước, phải không?” tôi hỏi. “Hope and Horses là cho những trẻ em bị bệnh tự kỷ, đúng chứ?”

Em luồn tay qua mái tóc, vén một lọn qua tai. Em có vẻ hài lòng vì tôi vẫn nhớ. “Vâng,” em nói. “Đúng vậy.”

“Em nghĩ chừng này là đủ hả?”

Em bật cười và giơ tay lên. “Thỉnh thoảng,” em nói. “Nhưng đừng nghĩ ngay rằng nó trang trải đủ cho tất cả mấy cái hóa đơn. Cả hai tụi em đều có việc làm, và mỗi ngày em nhận ra rằng em cũng không học được gì nhiều từ trường lớp như em tưởng.”

“Không ư?” Em lắc đầu. “Vài đứa trẻ đến đây hay mấy đứa bên trung tâm quả thật rất khó để tiếp cận.” Em ngần ngừ, cố tìm ra từ thích hợp. Cuối cùng em lắc đầu. “Em đoán là em tưởng rồi tất cả bọn chúng cũng sẽ được chữa khỏi như Allan, anh biết không?” Em ngước lên. “Anh còn nhớ lúc em kể anh nghe về anh ấy chứ?”

Khi tôi gật đầu, em tiếp. “Hóa ra trường hợp của Alan là một trường hợp đặc biệt. Em không biết – có thể là do anh ấy lớn lên ở một nông trại, nên anh ấy thích nghi với chỗ này tốt hơn nhiều so với hầu hết những đứa trẻ khác.”

Khi em chẳng nói gì, ánh nhìn tôi lướt qua em. “Đó không phải là điều em đã kể với anh. Theo như anh nhớ, thì lúc đầu Alan cũng gặp rất nhiều khó khăn.”

“Vâng, em biết, nhưng sau đó… anh ấy đã quen dần dần. Và đó mới là vấn đề. Em không thể kể hết những trường hợp không bao giờ có thể thích nghi được, dù tụi em có cố gắng trong bao lâu chăng nữa. Đó không phải vấn đề ngày một ngày hai, có những đứa trẻ đã đến đây thường xuyên trong hơn một năm. Tụi em làm việc ở một trung tâm đánh giá phát triển, nên tụi em dành rất nhiều thời gian với hầu hết bọn trẻ, và khi tụi em mở trang trại này, tụi em đã khẳng định là mở nó cho bọn trẻ dù vần đề của chúng có nghiêm trọng đến mức độ nào. Tụi em cảm thấy đó là một cam kết quan trọng, nhưng với vài đứa trẻ… Em chỉ ước em biết cách nào đó để tiếp cận được với chúng. Thỉnh thoảng, em có cảm giác rằng việc mình đang l chỉ như là dã tràng xe cát mà thôi.”

Tôi có thể thấy Savannah đang lục tìm những ký ức của mình. “Em không có ý nói là việc tụi em đang làm chỉ lãng phí thời gian,” em tiếp. “Vài đứa trẻ cũng được hưởng lợi từ việc tụi em đang làm. Chúng đến đây, trải qua vài dịp cuối tuần, và giống như một nụ hoa chầm chậm hé nở, bừng lên tuyệt đẹp. Giống như điều đã từng xảy ra với Allan vậy. Điều đó giống như anh có thể cảm nhận được trí óc chúng đang mở ra với những ý tưởng, những khả năng mới, và khi chúng đến đây với nụ cười bừng lên trên khuôn mặt, điều đó giống như không có bất kỳ thứ gì khác trên thế giới là quan trọng nữa. Đó là một cảm giác tuyệt vời, và anh chỉ muốn nó cứ tiếp diễn mãi với tất cả những đứa trẻ đến đây. Em từng nghĩ mấu chốt của vấn đề là cần phải kiên nhẫn, rằng tụi em có thể giúp tất cả chúng vượt qua nhưng tụi em không thể. Vài đứa không bao giờ chịu lại gần mấy con ngựa, hay chịu cưỡi nó một mình.”

“Em biết đó không phải là lỗi của em chứ. Anh cũng không quá phấn khích với cái ý tưởng cưỡi chúng, em còn nhớ chứ?”

Em cười khúc khích, nghe thật dịu dàng. “Vâng, em nhớ. Đó là lần đầu tiên anh ngồi trên lưng một con ngựa, trông anh còn có vẻ sợ hãi hơn hầu hết bọn trẻ.”

“Không phải, anh không có mà,” tôi phản bác. “Thêm nữa, con Pepper rất ngỗ nghịch.”

“Ha!” em hét lên. “Anh nghĩ tại sao em lại để anh cưỡi nó chứ? Nó là con ngựa dễ bảo nhất mà anh có thể tưởng tượng được. Em không nghĩ là có bao giờ nó lồng lên khi có ai đó cưỡi nó chưa nữa.”

“Nó rất ngỗ ngược,” tôi khăng khăng.

“Xem anh ngang như cua kìa,” em trêu. “Nhưng dù anh có nói sai thì em vẫn thấy cảm động vì anh còn nhớ điều đó.”

Giọng điệu vui vẻ của em khiến những đợt sóng hồi ức dồn dập ùa về. “Dĩ nhiên là anh nhớ,” tôi nói. “Đó là những ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời anh. Anh sẽ không bao giờ có thể quên được.” Qua vai em, tôi có thể nhìn thấy một con chó đang lang thang ngoài bãi thả. “Có lẽ, đó cũng là lý do tại sao anh chưa thể kết hôn.” Cùng với câu nói của tôi, ánh nhìn em trở nên chao đảo. “Em vẫn còn nhớ.”

“Thật sao?”

“Dĩ nhiên,” em nói. “Có thể anh không tin, nhưng đó là sự thật.” Câu nói kỳ quặc của em nặng nề rơi tõm vào không khí.

“Em có hạnh phúc không, Savannah?” Rốt cuộc tôi cũng hỏi.

Em gượng cười. “Hầu hết thời gian. Anh thì sao?”

“Anh không biết,” tôi nói, khiến em lại bật cười.

“Đó là câu trả lời chuẩn mực của anh, anh biết chứ. Khi anh được hỏi về bản thân anh. Đó giống như một phản xạ với anh vậy. Luôn luôn là như vậy. Tại sao anh không hỏi em điều anh thực sự muốn hỏi.”

“Anh thực sự muốn hỏi điều gì?”

“Như em có yêu chồng em không? Ý anh là vậy phải không?” em hỏi, quay đi một lát.

Trong giây lát tôi đã không thể thốt nên lời nào, nhưng tôi nhận ra bản năng của em đã mách bảo chính xác. Đó thực sự là lý do tôi tới đây. “Vâng,” em nói, như thể đọc được suy nghĩ của tôi. “Em yêu anh ấy.”

Sự chân thành không thể lầm lẫn trong giọng nói của em khiến tôi đau nhói, nhưng trước khi tôi kịp tiêu hóa điều đó, em đã quay mặt lại. Vẻ mặt em thoáng chút lo lắng, như thể em vừa nhớ ra điều gì đau lòng, nhưng nó biến mất rất nhanh.

“Anh ăn tối chưa?” em hỏi.

Tôi vẫn cố sắp xếp mọi chuyện vừa xảy ra cho hợp lý. ”Chưa,” tôi nói. “Thực ra, anh vẫn chưa ăn sáng hay ăn trưa gì cả.”

Em lắc đầu. “Em còn một ít thịt bò còn sót lại trong nhà. Anh có thời gian dùng bữa tối không?”

Dù một lần nữa tôi lại thắc mắc về chồng em, tôi vẫn gật đầu. “Anh rất muốn,” tôi nói.

Chúng tôi thẳng tiến về phía ngôi nhà và ngừng lại khi chúng tôi chạm tới hiên nhà với những đôi ủng cao bồi lấm bùn. Savannah vịn vào tay tôi một cách tự nhiên đến mức tôi thấy đau lòng, dựa vào tôi để lấy thăng bằng khi em cởi đôi ủng của em ra. Có lẽ, sự đụng chạm của em như khuyến khích tôi thực sự nhìn thẳng vào em và dù tôi nhìn thấy sự bí ẩn và trưởng thành đã luôn khiến em có vẻ cuốn hút, tôi cũng để ý thấy dấu vết của nỗi buồn và sự thận trọng. Với trái tim đau đớn của mình, sự kết hợp ấy thậm chí còn khiến em đẹp hơn.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 09.08.2017, 17:20
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 28272
Được thanks: 4648 lần
Điểm: 9.45
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Lãng mạn] John yêu dấu - Nicholas Sparks - Điểm: 10
Chương 19


Căn bếp nhỏ của em là những gì người ta vẫn kỳ vọng ở một ngôi nhà cũ có lẽ đã được đại tu khoảng nửa tá lần trong suốt một thế kỷ: những tấm ván lót sàn cũ kỹ đã bị bong tróc một ít chỗ tiếp giáp với tường; một chiếc tủ đa chức năng màu trắng giản dị với vô vàn những mẩu giấy ghi chú – và bồn rửa bằng thép không rỉ đặt bên dưới khung cửa gỗ mục nát lẽ ra phải được thay từ vài năm trước. Mặt bàn nứt nẻ, chung vách với bức tường là một căn nhà gỗ cũng cũ kỹ như chính ngôi nhà này. Trong một nơi thế này, có thể nhìn thấy sự xâm lấn của những vật dụng từ thế giới hiện đại: một cái tủ lạnh cỡ lớn, và một cái máy rửa bát cạnh bồn rửa, một chiếc lò vi sóng được đặt nơi góc bếp gần một chai rượu vang đã vơi đi quá nửa. Trên một phương diện nào đó, nó gợi cho tôi về nơi ở của cha tôi.

Sannah mở tủ và lấy ra một cái ly. “Anh muốn một ly không?”

Tôi lắc đầu. “Anh chưa bao giờ là một tay nghiện rượu cả.”

Tôi lấy làm ngạc nhiên khi em không cất cái ly đi. Thay vào đó, em lấy cái chai vơi rót một ít vào ly; em đặt cái ly lên bàn và ngồi xuống. Chúng tôi ngồi vào bàn và Savannah nhấp một ngụm.

“Em đã thay đổi rồi,” tôi quan sát.

Em nhún vai. “Rất nhiều thứ đã thay đổi kể từ lần cuối anh gặp em. “ Em chẳng nói gì thêm mà chỉ đặt cái ly xuống. Rồi em tiếp, giọng đã dịu lại. “Em chưa từng nghĩ có ngày mình lại trở thành loại người mong đợi một ly rượu vào buổi chiều tối, nhưng giờ thì thế này đây.”

Em bắt đầu xoay xoay chiếc ly trên bàn, và tôi thắc mắc chuyện gì đã xảy ra với em.“Anh biết chuyện gì buồn cười không?” em nói. “Em thực sự không hề quan tâm vị của nó thế nào. Khi em uống ly đầu tiên, em đã không biết loại nào ngon, loại nào dở. Vậy mà giờ đây nói đến chuyện mua rượu, em còn khá kén chọn nữa là đằng khác.”

Tôi thực sự không nhận ra người phụ nữ đang ngồi đối diện tôi nữa, mà tôi cũng không chắc phải trả lời thế nào.

“Đừng hiểu sai ý em,” em tiếp. “Em vẫn còn nhớ tất cả những gì người ta dạy em, và cũng hiếm khi em uống quá một ly mỗi đêm lắm. Nhưng bởi vì chính Chúa đã biến nước thành rượu, em nghĩ đó không thể nào lại là một tội lỗi được.”

Tôi bật cười trước lý lẽ của em, nhận ra rằng thật không công bằng nếu tôi cứ cố đánh giá em bằng cái phiên bản của em thời xưa cũ. “Anh đâu có hỏi.”

“Em biết,” em nói. “Nhưng anh đang thắc mắc.”

Trong một chốc, âm thanh duy nhất trong bếp là tiếng ro ro của tủ lạnh. “Em rất tiếc về chuyện của cha anh,” em nói, tay lần theo vết nứt trên mặt bàn. “Em thật lòng đấy. Em không thể kể ra đã bao nhiêu lần em nghĩ về ông ấy trong mấy năm qua.”

“Cảm ơn em,” tôi nói.

Savannah lại xoay xoay cái ly trong tay, dường như đang đắm chìm trong dòng chất lỏng sóng sánh. “Anh có muốn nói về chuyện này không?” em hỏi.

Tôi không chắc là tôi có muốn không, nhưng khi tựa lưng vào ghế, những từ ngữ tuôn ra dễ dàng đến đáng kinh ngạc. Tôi kể với em về trận đau tim đầu tiên của cha tôi, và rồi về lần thứ hai, và những lần về phép trong mấy năm đó. Tôi kể em nghe về sự nảy nở của một tình bạn giữa hai chúng tôi, và cả về việc tôi cảm thấy thoải mái thế nào cạnh ông, những bước tiến đáng kể khi ông bắt đầu dần hồi phục và cuối cùng ông đã phải từ bỏ ra sao. Tôi điểm lại những ngày cuối cùng tôi ở với ông và sự đau đớn khi bỏ ông lại trong viện dưỡng lão. Khi tôi mô tả đám tang và bức ảnh tôi tìm thấy trong phong bì, em nắm chặt tay tôi. “Em mừng là ông đã để nó lại cho anh,” em nói, “nhưng em chẳng ngạc nhiên.”

“Anh đã rất kinh ngạc,” tôi nói, em mỉm cười. Đó là một nụ cười khiến tôi an tâm. Em siết tay tôi nhè nhẹ. “Em ước em biết sớm hơn. Lẽ ra

“Cũng chẳng nhiều nhặn gì.”

“Điều đó không cần thiết. Ông ấy là cha anh, đó mới là vấn đề.” Em ngập ngừng trước khi bỏ tay tôi ra và nhấp thêm một ngụm rượu. “Anh sẵn sàng dùng bữa chưa?” em hỏi.

“Anh không biết,” tôi nói, mặt đỏ bừng trước khi kịp nhớ lại lời bình luận ban nãy của em. Em cúi rạp người với một tràng cười khúc khích. “Vậy bây giờ em làm cho anh một món hầm được chứ?”

“Có ngon không?” tôi hỏi. “Ý anh là hồi trước anh chưa từng nghe em đề cập tới việc em biết nấu ăn.”

“Đó là công thức gia truyền của nhà em,” em nói, giả vờ cảm thấy bị xúc phạm. “Nhưng em phải thành thật thôi – mẹ em nấu đấy. Bà mang nó đến đây hôm qua.”

“Sự thật đã bại lộ,” tôi nói.

“Đó luôn là phần hay nhất,” em đáp.

“Thường là vậy.” Em đứng dậy và mở tủ lạnh ra, cúi người kiểm tra mấy cái kệ. Tôi cảm thấy băn khoăn về chiếc nhẫn trên tay em và chồng em đang ở đâu khi em lôi ra một túi Tupperware. Em đổ món hầm vào tô và đút nó vào lò vi sóng. “Anh có muốn ăn kèm với cái gì không? Bánh mỳ hoặc bơ?”

“Vậy thì thật tuyệt,” tôi tán thành.

Vài phút sau, một bữa ăn đã được dọn ra trước mặt tôi, và mùi thơm khiến tôi cảm thấy cồn cào. Thật ngạc nhiên, Savannah lại ngồi vào chỗ cũ, với tay lấy ly rượu.

“Em không ăn à?”

“Em không đói,” em nói. “Thật ra thì em cũng không ăn nhiều lắm vào giờ muộn thế này.” Em nhấp một ngụm, khi tôi cắn miếng đầu tiên và tôi để câu bình luận của em trôi tuột đi.

“Em nói đúng,” tôi xuýt xoa. “Ngon tuyệt.”

Em mỉm cười. “Mẹ là một đầu bếp tài ba. Chắc anh phải nghĩ em học nấu ăn nhiều lắm, nhưng không hề. Em luôn quá bận. Quá thứ phải học khi em còn trẻ, và rồi sau đó, quá nhiều thứ phải thực hành.” Em hất hàm về phía phòng khách. “Đây là một căn nhà cũ. Em biết nó không giống thế, nhưng tụi em đã phải tu sửa rất nhiều trong mấy năm vừa rồi.”

“Trông nó rất tuyệt.”

“Anh chỉ đang cố lịch sự thôi, nhưng em đánh giá cao điều đó,” em đáp. “Anh nên nhìn thấy nơi này lúc em chuyển đến. Nó là một trang trại, anh biết đấy? Tụi em cần một mái nhà mới, nhưng thật buồn cười – chưa ai từng nghĩ tới mái nhà khi họ tưởng tượng ra những thứ phải tu sửa. Đó là một trong những thứ mọi người kỳ vọng một căn nhà phải có nhưng chưa từng nghĩ có thể đến một ngày nó cũng cần phải được thay thế. Hầu như mọi thứ tụi em làm đều thuộc dạng này. Máy bơm nhiệt, cửa thông hơi, những thiệt hại do mối mọt … đó là những chuỗi ngày dài bất tận.” Em vẽ nên một biểu hiện mơ mộng trên khuôn mặt. “Tụi em tự làm hầu hết mọi việc. Giống như với cái bếp này đây. Em biết tụi em cần mấy cái tủ mới và thay sàn, nhưng khi tụi em chuyển đến, thậm chí nước còn đọng thành vũng trong phòng khách và phòng ngủ mỗi khi trời mưa. Tụi em phải làm gì chứ? Chúng em có một danh sách những việc cần ưu tiên phải hoàn thành trước, và một trong những điều đầu tiên là phải vá mấy lỗ thủng trên mái. Có lẽ nhiệt độ phải lên tới 100 độ F và em ở trên đó, với một cái xẻng, cạo mấy vết bẩn rêu đi, da cũng phồng dộp lên. Nhưng… đó là một cảm giác hoàn toàn đúng đắn, anh biết không? Hai người trẻ, bắt đầu bước ra thế giới, cùng nhau sửa chữa căn nhà của chính họ? Đó là cảm giác… đồng lòng. Em cũng cảm thấy điều đó khi tụi em cùng lát sàn cho phòng khách. Mất đến hai tuần để lấp nền, nâng nó cao lên. Tụi em nhuộm màu rồi phủ thêm một lớp varnish, và cuối cùng khi có thể bước chân lên trên đó, cảm giác như tụi em đã đặt nền móng cho phần còn lại của cuộc đời mình.”

“Em khiến nó hầu như có vẻ thật lãng mạn.”

“Xét về một khía cạnh nào đó thì quả đúng là vậy,” em đồng ý. Em vén một lọn tóc ra phía sau tai. “Nhưng sau đó nó không còn lãng mạn nữa. Giờ nó đang dần trở nên cũ kỹ.” Tôi bật cười không chủ ý, sau đó ho khan và với tay tìm một chiếc cốc không tồn tại.

Em đứng bật dậy. “Để em lấy cho anh chút nước,” em nói. Em lấy một cốc nước đầy từ cái vòi và đặt nó trước tôi. Khi uống tôi có thể cảm thấy em đang quan sát tôi.

“Sao vậy?” tôi hỏi.

“Em chỉ không thể nhận ra được gi trông anh khác thế nào.”

“Anh ư?” Tôi thấy thật khó tin.

“Đúng, là anh,” em khẳng định. “Bằng cách nào đó trông anh già dặn hơn.”

“Anh đang già đi mà.”

“Em biết, nhưng không phải chuyện đó. Là mắt anh cơ. Chúng trông có vẻ… nghiêm túc hơn trước đây. Giống như chúng đã nhìn thấy những việc mà lẽ ra chúng không nên nhìn thấy. Mệt mỏi, có lẽ thế.”

Tôi chẳng thể nói gì, nhưng khi em nhìn thấy biểu hiện của tôi, em lắc đầu, ngượng ngùng. “Em không nên nói thế. Em chỉ có thể tưởng tượng ra những chuyện anh đã phải trải qua gần đây thôi.”

Tôi ăn thêm một miếng thịt hầm, ngẫm nghĩ lời nhận xét của em. “Thực ra, anh rời Iraq từ đầu năm 2004,” tôi nói. “Từ hồi đó đến giờ anh vẫn ở Đức. Chỉ một phần nhỏ được đưa đến Iraq trong một thời điểm nhất định và tụi anh cứ xoay vòng thế. Anh cũng sắp tới lượt nhưng anh không biết khi nào. Hy vọng đến lúc đó tình hình đã ổn định hơn.”

“Sao giờ anh không giải ngũ đi?”

“Anh đã gia hạn thêm,” tôi nói. “Chẳng có lý do gì để không làm vậy cả.” Cả hai chúng tôi đều biết chính xác lý do, và em gật đầu cụt lủn. “Đến bao giờ?”

“Đến năm 2007.”

“Rồi sau đó?”

“Anh cũng không chắc. Có thể anh sẽ ở lại thêm vài năm. Hoặc có thể anh sẽ đăng ký học đại học. Ai biết được – thậm chí anh còn có ý định đăng ký ngành giáo dục đặc biệt nữa. Anh nghe nói có những vấn đề rất thú vị trong lĩnh vực này.”

Em cười buồn một cách lạ lùng, và trong một lúc, chúng tôi lại rơi vào im lặng. “Em kết hôn từ bao giờ?” tôi hỏi. Em đổi chỗ ngồi. “Tháng mười một này là tròn hai năm.”

“Em tổ chức lễ cưới ở đây à?”

“Làm như em có lựa chọn nào khác ấy.” Em thu mắt lại. “M thực sự quay cuồng trong mớ ý tưởng về một đám cưới hoàn hảo. Em biết em là con gái duy nhất của họ, nhưng với quan điểm của em, em sẽ chỉ thấy hạnh phúc với một điều gì đó bé nhỏ hơn nhiều. Khoảng một trăm khách sẽ rất tuyệt vời.”

“Em chỉ nghĩ đến nhiêu đó thôi ư?”

“So sánh với số lượng khách cuối cùng ư? Vâng. Còn chẳng đủ ghế cho tất cả mọi người trong nhà thờ nữa kìa, và bố cứ nhắc em mãi ông sẽ phải mất hàng năm để trả nợ mất. Dĩ nhiên, ông chỉ trêu em thôi. Một nửa khách là bạn của bố mẹ em, nhưng em đoán đó cũng là chuyện sẽ xảy ra với anh nếu anh tổ chức lễ cưới ở quê nhà. Tất cả mọi người từ bác đưa thư đến cô thợ cắt tóc đều nhận được lời mời.”

“Nhưng em hạnh phúc vì đã quay về chứ?”

“Thật thoải mái khi được về đây. Bố mẹ em ở gần đây và em rất cần điều đó, đặc biệt là bây giờ.”

Em đã không thảo luận sâu hơn về vấn đề này. Tôi băn khoăn về điều này – và hàng trăm điều khác – khi tôi đứng dậy khỏi cái bàn và mang đĩa đến bồn rửa. Khi tôi rửa nó, tôi nghe thấy em gọi với từ đằng sau.

“Để đó đi. Em còn chưa dỡ mấy thứ trong máy rửa chén ra. Em sẽ làm sau. Anh có muốn dùng thêm thứ gì không? Mẹ em cũng để lại vài cái bánh trên bàn.”

“Một ly sữa được không?” tôi hỏi. Em bắt đầu đứng dậy và tôi thêm vào, “Anh tự làm được mà. Chỉ anh chỗ để ly là được rồi.”

“Trong tủ ly cạnh bồn rửa đấy.”

Tôi lấy chiếc ly từ kệ chén và đến bên tủ lạnh. Sữa ở trên ngăn trên cùng, trên những ngăn bên dưới ít nhất có khoảng một tá hộp Tupperware đầy nhóc thức ăn. Tôi đổ sửa ra ly rồi quay lại bàn.

“Có chuyện gì vậy, Savannah?”

Em quay phắt lại. “Ý anh là gì?”

“Chồng em,” tôi nói.

“Cái gì về anh ấy cơ?”

“Khi nào anh có thể gặp anh ấy?”

Thay vì trả lời, Savannah đứng dậy với chiếc ly trên tay. Em bỏ chiếc ly vào bồn rửa và lấy một ly cà phê và một hộp trà.

“Anh đã gặp anh ấy rồi,” em nói, xoay người lại. Em thẳng vai. “Đó là Tim.”

Tôi có thể nghe thấy tiếng chiếc muỗng va lách cách vào thành ly khi Savannah ngồi xuống đối diện tôi lần nữa.

“Anh muốn nghe bao nhiêu?” em lầm bầm, ngó chằm chằm vào chiếc ly trước mặt.

“Tất cả,” tôi nói, tựa lưng lên ghế. “Hoặc không gì cả, anh vẫn chưa quyết định được.”

Em khịt mũi. “Em nghĩ vậy cũng có lý.”

Tôi đan tay vào nhau. “Bắt đầu từ hồi nào?”

“Em không biết,” em nói. “Em biết nghe có vẻ điên rồ nhưng nó không như anh nghĩ đâu. Không ai trong tụi em dự tính trước chuyện này cả.” Em đặt cái thìa lên bàn. “Nhưng trả lời cho câu hỏi đó, em nghĩ nó bắt đầu từ năm 2002.”

Một vài tháng sau khi tôi đăng ký gia hạn thêm, tôi nhận ra. Sáu tháng trước khi cha tôi lên cơn đau tim lần đầu và ngay thời điểm tôi để ý thấy những lá thư từ em bắt đầu thay đổi.

“Anh biết đấy, tụi em vốn là bạn. Mặc dù anh ấy là sinh viên đã tốt nghiệp, thỉnh thoảng tụi em vẫn lên lớp trong cùng một tòa nhà trong suốt thời gian em học năm cuối, và rồi tụi em hay đi uống cà phê và nghiên cứu cùng nhau. Không giống như là tụi em đang hẹn hò, thậm chí còn không cả nắm tay. Tim biết là em yêu anh… nhưng anh ấy ở đó, anh biết đấy? Anh ấy lắng nghe mỗi khi em kể với anh ấy rằng em nhớ anh đến nhường nào và chuyện chia tay khó khăn ra sao. Và thật sự thì đó là một quãng thời gian rất khó khăn. Em đã tưởng rồi anh sẽ quay về.”

Khi em ngước lên, đôi mắt em đong đầy… Cái gì nhỉ? Niềm hối tiếc? Tôi không chắc.

“Dù sao thì chúng em đã ở bên nhau rất nhiều, và anh ấy rất giỏi an ủi em mỗi khi em buồn bã. Anh ấy luôn nhắc em rằng rồi sẽ trở về trong kỳ nghỉ phép trước khi em nhận ra thời gian đã trôi qua, và em muốn gặp anh nhiều không tả xiết. Và rồi cha anh đổ bệnh. Em biết anh phải ở cạnh ông – em sẽ không bao giờ tha thứ cho anh nếu anh không ở bên ông lúc đó – nhưng đó không phải là điều chúng ta cần. Em biết điều đó nghe có vẻ ích kỷ, và em ghét bản thân mình thậm chí kể cả khi em chỉ nghĩ về điều đó. Giống như là định mệnh đã âm mưu chống lại chúng ta.”

Em nhặt chiếc muỗng lên, cho vào ly trà và bắt đầu khuấy, cố sắp xếp những suy nghĩ ngổn ngang của mình.

“Mùa thu năm ấy, ngay sau khi em hoàn thành hết tất cả chứng chỉ và trở về nhà để làm việc tại một trung tâm đánh giá phát triển trong thị trấn, cha mẹ Tim đã gặp một tai nạn khủng khiếp. Họ đang trên đường trở về từ Asheville khi xe họ mất tay lái và đâm sầm vào một bảng chỉ dẫn trên đường cao tốc. Một chiếc công ten nơ đã đâm vào họ. Tài xế công ten nơ không bị thương, nhưng cả cha và mẹ Tim đều mất trên đường đi cấp cứu. Tim phải xin nghỉ ở trường – anh ấy đang cố lấy bằng tiến sỹ - để về đây chăm sóc Alan.” Em ngừng lại. “Thật là kinh khủng với Tim. Anh ấy không chỉ phải vượt qua nỗi đau mất mát – anh ấy rất yêu cha mẹ mình nhưng Alan thì không nguôi ngoai được. Anh ấy la hét suốt ngày, rồi bắt đầu vò đầu bứt tóc. Người duy nhất có thể ngăn anh ấy đừng làm mình thương tổn là Tim, nhưng điều đó cũng rút cạn sức lực mà Tim có. Em đoán đó là lần đầu tiên em đến đây. Anh biết đấy, để giúp đỡ.” Tôi cau mày, em nói thêm, “Đây là nhà của cha mẹ Tim. Nơi Tim và Alan lớn lên.”

Ngay khi em nói điều đó, những kỷ niệm lại ùa về. Dĩ nhiên nó là của Tim – đã có lần em kể với tôi rằng Tim sống trong một trang trại gần nhà em.

“Chúng em đã an ủi lẫn nhau. Em cố giúp anh ấy, và anh ấy cũng cố giúp em, và chúng em cùng nhau giúp Alan. Từng chút, từng chút một, em đoán, chúng em đã bắt đầu yêu nhau.

Lần đầu tiên, em nhìn thẳng vào mắt tôi.“Em biết anh sẽ muốn nổi giận với Tim hoặc em. Có thể là cả hai chúng em. Và em đoán chúng em đáng bị vậy. Nhưng anh không biết chuyện gì đã xảy ra đâu. Rất nhiều chuyện – luôn luôn cảm động khi nói về những chuyện đó. Em cảm thấy có lỗi về những việc đó, Tim cũng vậy. Nhưng sau đó ít lâu, chúng em bắt đầu có cảm giác như một cặp đôi thực sự. Tim chuyển đến làm việc ở cơ quan em và quyết định khởi động chương trình cuối tuần ở nông trại cho trẻ em mắc chứng tự kỷ. Cha mẹ anh ấy luôn muốn anh ấy làm điều đó, nên em cũng đăng ký làm việc ở nông trại. Sau đó, hầu như chúng em luôn ở bên nhau. Sửa sang lại trang trại cho chúng em một việc gì đó để mà tập trung vào, và nó cũng giúp. Anh ấy yêu lũ ngựa, và có rất nhiều việc phải làm khi cuối cùng anh ấy cũng quen với việc không cha mẹ ở bên nữa. Giống như là tất cả chúng em đang nương tựa vào nhau vậy… Anh ấy cầu hôn một năm sau đó.”

Khi em ngừng lại, tôi quay đi, cố tiêu hóa những lời lẽ của em. Chúng tôi ngồi yên lặng bên nhau một lát, mỗi người đều đang chìm đắm với những suy nghĩ của chính mình. “Dù sao thì chuyện là vậy đó,” em kết luận. “Em không biết anh còn muốn nghe thêm điều gì nữa không.”

Tôi cũng không chắc nữa.

“Alan vẫn sống ở đây à?” tôi hỏi.

“Anh ấy có một phòng trên tầng hai. Thực ra đó vốn là phòng của anh ấy trước giờ. Dù thế thì cũng chẳng trở ngại gì mấy. Sau khi anh ấy cho mấy con ngựa ăn xong và chải lông cho chúng, anh ấy thường chỉ muốn ở một mình. Anh ấy thích chơi game lắm. Anh ấy có thể chơi hàng giờ. Gần đây em còn không thể bắt anh ấy ngừng nổi nữa. Để anh ấy chơi thì có lẽ anh ấy chơi cả đêm luôn.”

“Giờ cậu ta có ở đây không?”

Em lắc đầu. “Không,” em nói. “Giờ anh ấy đang ở chỗ Tim.”

“Ở đâu?” Trước khi em có thể trả lời, con chó cào cào nơi cửa, và Savannah phải mở nó ra. Nó chạy ào vào trong, lưỡi lòng thòng và đuôi vẫn còn ngoáy tít. Nó nhảy phóc về phía tôi, cạ cạ mõm lên tay tôi.

“Cậu bé có vẻ thích anh,” tôi nói.

Savannah vẫn đứng yên cạnh cửa. “Là cô bé. Nó thích tất cả mọi người. Tên nó là Molly. Vô dụng trong vai trò chó dữ nhà, nhưng ngọt ngào hơn kẹo. Cố mà tránh nước dãi của nó. Sẽ dính hết lên khắp người anh nếu anh để nó làm thế đấy.”

Tôi liếc nhìn quần jeans của tôi. “Anh thấy rồi.”

Savannah ra dấu qua vai. “Nghe này, em vừa nhớ ra là em phải đi vứt vài thứ. Chắc tối nay sẽ mưa. Sẽ không lâu đâu.”

Tôi gật đầu, em vẫn chưa trả lời câu hỏi của tôi về Tim. Nhưng tôi nhận ra, em cũng không định làm thế. “Cần giúp một tay không?”

“Không hẳn. Nhưng anh được chào đón đến đây. Hôm nay là một buổi tối tuyệt đẹp.”

Tôi theo em ra ngoài, và Molly dẫn đầu đoàn chúng tôi, hầu như quên phắt đi rằng nó vừa cầu xin để được vào trong. Một tiếng gãy vụn phát ra từ lùm cây, Molly chạy ào vào bóng tối và đột ngột biến mất. Savannah lại mang ủng vào.

Chúng tôi đi bộ về phía chuống ngựa. Tôi nghĩ vẩn vơ về những chuyện em vừa kể với tôi và một lần nữa tự hỏi tại sao mình lại đến đây. Tôi cũng không chắc liệu tôi có thấy vui không vì em đã kết hôn với Tim – bởi vì dường như họ là một cặp rất hoàn hảo dành cho nhau – hay buồn vì chính lý do ấy. Hay có vui không không khi cuối cùng tôi cũng khám phá ra sự thật, và nhận ra rằng có lẽ không biết sẽ dễ dàng hơn.

Sau rốt, tôi chỉ đơn giản cảm thấy mệt mỏi.

Khoan… có điều gì đó tôi biết em vẫn chưa nói với tôi. Tôi nghe thấy điều đó trong giọng nói em, một dấu vết của nỗi buồn sẽ không biến mất. Khi bóng tối bao trùm lên chúng tôi, tôi nhận thức một cách chính xác chúng tôi đang bước đi cạnh nhau gần đến thế nào, và tự hỏi em có cảm thấy giống tôi không. Nếu có, em đã không tỏ ra bất kỳ một dấu hiệu gì.

Bóng những con ngựa đổ nhập nhòa phía xa xa những hình thù kỳ dị. Savannah lấy hai bộ cương, mang vào chuồng và treo chúng trên hai cái móc.

Trong khi em làm chuyện đó, tôi đi nhặt mấy cái xẻng chúng tôi dùng hồi chiều, đặt chúng vào chỗ để mấy dụng cụ khác. Trên đường ra, em đảm bảo cổng đã đóng. Liếc nhìn đồng hồ, đã gần mười giờ.

Đã trễ rồi và cả hai chúng tôi đều ý thức được giờ giấc.

“Anh đoán là giờ anh nên đi thôi,” tôi nói. “Đây là một thị trấn nhỏ, anh không muốn gây ra điều tiếng gì.”

“Có lẽ anh nói đúng.” Molly vờn xung quanh, đột ngột như hiện ra từ không khí, và ngồi cạnh chúng tôi. Khi nó dụi đầu vào chân Savannah, em bước sang một bên. “Anh sẽ ở đâu?” em hỏi.

“Chỗ nào đó, trong bãi đỗ xe. Ngay khi ra khỏi đường cao tốc.”

Em thoáng nhăn mũi. “Em biết chỗ đó.”

“Một kiểu quán rượu chui,” tôi thừa nhận.

Em mỉm cười. “Em không thể nói là em lấy làm ngạc nhiên. Anh luôn tìm được những chỗ độc đáo nhất.”

“Như là Shrimp Shack hả?”

“Chính xác.” Tôi đút tay vào túi, tự hỏi liệu đây có phải lần cuối tôi được gặp em không. Nều đúng vậy thì khiến tôi hoang mang cực điểm; tôi không muốn nó kết thúc bằng một mẩu đối thoại ngắn ngủn, nhưng tôi không thể nghĩ ra điều gì khác để nói. Trên đường ra cổng, những chiếc đèn pha từ một chiếc xe hơi nhá lên một cách có chủ ý khi nó lao qua căn nhà.

“Anh đoán là đến đây được rồi,” tôi nói, cảm thấy mất mát. “Thật vui khi được gặp lại em.”

“Em cũng vậy, John. Em rất mừng vì anh đã ghé qua.” Tôi gật đầu cụt lủn. Khi em quay đi, tôi bám lấy nó như ám hiệu rời đi.

“Tạm biệt,” tôi nói. “Chào anh.”

Tôi rẽ ở hiên nhà và bắt đầu tiến thẳng hướng xe mình, chìm đắm trong ý nghĩ rằng mọi chuyện đã thực sự, thực sự kết thúc. Tôi không chắc tôi mong đợi điều gì khác hơn, nhưng kết quả cuối cùng đã phá tan cái bề mặt của cảm giác tôi cố kìm nén kể từ khi nhận được lá thư cuối cùng của em. Tôi mở cửa xe và nghe thấy em gọi với theo.

“Này, John?”

“Ừ?” Em phóng qua hiên nhà và bước về phía tôi. “Ngày mai anh còn ở vòng vòng quanh khu này không?” Khi em tiến lại gần, một nửa khuôn mặt em chìm trong bóng tối, tôi biết chắc rằng mình vẫn còn yêu em. Mặc kệ lá thư, mặc kệ chồng em. Mặc kệ sự thật rằng giờ đây chúng tôi đã không thể ở bên nhau nữa.

“Sao vậy?” tôi hỏi.

“Em tự hỏi liệu anh có muốn ghé qua không. Khoảng mười giờ. Em chắc là Tim sẽ mong gặp anh lắm.”

Tôi lắc đầu thậm chí trước cả khi em k nói hết câu. “Anh không nghĩ đó là một lời đề nghị hay ho đâu.”

Tôi biết em muốn tôi gặp Tim, người vẫn chính xác như chàng trai tôi vẫn nhớ, và bằng lý trí tôi biết em hỏi bởi vì em mong muốn một sự tha thứ. Nhưng… em nắm lấy bàn tay tôi. “Đi mà. Điều đó sẽ rất có ý nghĩa với em.” Mặc cho hơi ấm từ bàn tay em, tôi vẫn không muốn trở lại. Tôi không muốn gặp Tim, tôi không muốn nhìn thấy hai người bọn họ bên cạnh nhau hay ngồi quây quần quanh bàn giả vờ rằng tất cả mọi chuyện trên thế gian đều đang tốt đẹp. Nhưng sự nài nỉ trong giọng nói của em khiến tôi không thể làm em thất vọng. “Được rồi,”tôi nói. “Mười giờ nhé.”

“Cảm ơn anh.”

Một lát sau, em quay đi. Tôi đứng yên tại chỗ, ngơ ngẩn nhìn em leo lên hiên nhà trước khi bước vào xe. Tôi xoay chìa khóa và quay người lại. Savannah đứng trong hiên nhà, vẫy tay lần cuối. Tôi vẫy lại và quay đầu xe về phía con đường, hình ảnh em nhỏ dần nhỏ dần trong kính chiếu hậu. Ngắm em đột nhiên tôi cảm thấy cổ họng mình khô khốc. Không phải bởi vì em đã cưới Tim, mà cũng chẳng phải bởi vì ý nghĩ rằng ngày mai tôi sẽ nhìn thấy hai người họ ở bên nhau. Mà là bởi nhìn thấy Savannah khi tôi lái xe đi xa dần, đứng trước hiên nhà, em đang ụp tay vô mặt mà khóc.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 23 bài ] 
           
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Xuyên không] Hoàng gia tiểu kiều phi - Ám Hương

1 ... 136, 137, 138

2 • [Cổ đại - Trọng sinh] Trọng sinh chi thứ nữ tâm kế - Tô Tiểu Lương

1 ... 60, 61, 62

3 • [Cổ đại - Điền văn] Bỏ ta còn ai - Nam Lâu Họa Giác

1 ... 66, 67, 68

4 • [Xuyên không] Trời sinh một đôi - Đông Thanh Liễu Diệp

1 ... 158, 159, 160

5 • [Cổ đại - Trùng sinh] Nàng phi chuyên sủng của vương gia ngốc - Huyền Nhai Nhất Hồ Trà

1 ... 56, 57, 58

6 • [Xuyên không] Túng sủng đụng ngã sư muội - Như Nhược Yên

1 ... 55, 56, 57

7 • [Hiện đại - Quân nhân] Quân hôn Chọc lửa thiêu thân - Minh Lam Phong

1 ... 54, 55, 56

8 • [Hiện đại] Hào môn thừa hoan Mộ thiếu xin anh hãy tự trọng! - Mộc Tiểu Ô

1 ... 198, 199, 200

9 • [Hiện đại] Hôn trộm 55 lần - Diệp Phi Dạ

1 ... 236, 237, 238

10 • [Hiện đại] Em muốn trốn sao bảo bối! - Lãnh Hàn Minh Nguyệt

1 ... 123, 124, 125

11 • List truyện ngôn tình hoàn + Ebook [Update 22/1]

1 ... 52, 53, 54

12 • [Hiện đại] Người phụ nữ của Tổng giám đốc - Minh Châu Hoàn

1 ... 160, 161, 162

13 • [Cổ đại] Thịnh sủng - Cống Trà

1 ... 52, 53, 54

14 • [Hiện đại - Trùng sinh] Gia khẩu vị quá nặng - Hắc Tâm Bình Quả

1 ... 119, 120, 121

15 • [Hiện đại] Cuộc hôn nhân mù quáng - Phong Tử Tam Tam

1 ... 33, 34, 35

16 • [Hiện đại - Trùng sinh] Sống lại cải tạo vợ cám bã - Mặc Vũ Vũ

1 ... 29, 30, 31

17 • [Xuyên không - Dị giới] Ngự linh sư thiên tài - Tiêu Tương Túy Vũ

1 ... 44, 45, 46

18 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 177, 178, 179

19 • [Hiện đại] Cô dâu mười chín tuổi - Minh Châu Hoàn

1 ... 28, 29, 30

20 • [Hiện đại] Hôn nhân bất ngờ Đoạt được cô vợ nghịch ngợm - Luật Nhi

1 ... 98, 99, 100


Thành viên nổi bật 
Nminhngoc1012
Nminhngoc1012
Sát Phá Lang
Sát Phá Lang
lamhan0123
lamhan0123

lamhan0123: ~(≥▽≤)/~  ốc điểm đưa tui cô tui nui trăm tủi ngủm
lamhan0123: Tiết tháo ko ăn được ╭(╯^╰)╮
Hoàng Phong Linh: Uri, đại giầ cx quỵt điểm nửa hả? Tiết tháo của cô đâu (⊙o⊙)?
Ngọc Nguyệt: Vậy nuôi đống tiền đó không tốn cơm?
lamhan0123: Nui tốn cơm ="=
Ngọc Nguyệt: Ori, "tôi cảnh cáo em, đừng trêu đùa với tôi" *tắt* Sao cô nỡ...
lamhan0123: Đưa đây điểm ~(≥▽≤)/~ í còn cô tui hơm lụm đâu ╭ ╭(╯ε╰)╮
Ngọc Nguyệt: Hể, chán ghê. Vậy mà tui còn định viết di chúc...hm...
lamhan0123: Điểm đó cúng theo nóa lun :v
Ngọc Nguyệt: Ori, tui đang nghĩ, nếu như 1 nick bị ban thì số điểm của nick đó sẽ đi đâu về đâu?
lamhan0123: Linh thường là kiu Ri :)2 cho mí đồng chí quánh chữ ủi :chair:
lamhan0123: :)2 vậy mới bảo có bao nhiu đưa đây tui giữ cuối năm lấy lãi
Ngọc Nguyệt: Hờ, chán ghê, nếu năm ngoái tui để cô Ori giữ 100 điểm của tui lâu hơn chút thì đã có lãi rầu...
Hoàng Phong Linh: Ri nào -_-
lamhan0123: Úy hí hí bạn Ri quỵt điểm :)2
Hoàng Phong Linh: cái game của bà sao quá cả tháng rồi sao chưa tổng kết phát điểm hả??? Tui đang cày điểm đó -.-
Hoàng Phong Linh: bà đó
lamhan0123: Ủ là đứa lào ra có người thân kím :blahblah:
lamhan0123: Ốc thúi ㅡ.ㅡ
Hoàng Phong Linh: ủ, tui đang tìm bà,
chúng ta cùng nhau bàn luận nhân sinh chút  đi
Ngọc Nguyệt: Ồ là Ori.
Ngọc Nguyệt: ...*ngẩng đầu nhìn trời* số điểm của mình thật là số đẹp
lamhan0123: Uri =.,=
Hoàng Phong Linh: ta đang cày nè, nhưng thấy nản quá !!
Cầu đùi để ôm
Ngọc Nguyệt: Lam han là ai vại?
Ngọc Nguyệt: Phong, cày đi tỷ
lamhan0123: Ôm đùi đại da ㅡ.ㅡ
Hoàng Phong Linh: muội ko nhìn thấy sao. giờ ta chỉ có 15 đ
Hoàng Phong Linh: ta muốn mua đồ, nhưng nghèo quá đi ._.
lamhan0123: (๑>◡<๑)

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.