Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 23 bài ] 

John yêu dấu - Nicholas Sparks

 
Có bài mới 09.08.2017, 17:16
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 27965
Được thanks: 4642 lần
Điểm: 9.44
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Lãng mạn] John yêu dấu - Nicholas Sparks - Điểm: 10
Chương 14


Thời gian còn lại của kỳ nghỉ đầy ắp những sự kiện như tôi mong đợi ban đầu. Ngoài những dịp cuối tuần với cha, ông đãi chúng tôi mấy món ngon, nói liên tu bất tận về những đồng xu, thì chúng tôi cố gắng một mình bên nhau nhiều nhất có thể. Trở lại đồi Chapel, Savannah đi học vào ban ngày, và chúng tôi dành hết buổi chiều và buổi tối với nhau. Chúng tôi tản bộ qua những cửa hàng dọc đường Franklin, tới Bảo Tàng Lịch Sử Bắc California ở Raleigh, và thậm chí còn la cà vài giờ trong sở thú nữa. Còn hai ngày trước khi tôi sẽ rời thị trấn, chúng tôi ăn tối tại một nhà hàng rất đỉnh mà người bán giày đã giới thiệu. Em đã không cho tôi nhìn trước khi em sẵn sàng, nhưng khi em xuất hin ở phòng tắm trông em hoàn toàn quyến rũ. Tôi nhìn đắm đuối vào những vết hôn và nghĩ rằng mình thật may mắn khi có em.

Chúng tôi đã không làm tình lần nữa. Sau cái đêm ở cùng nhau, khi thức dậy vào buổi sáng, tôi nhận thấy Savannah đang ngắm mình, nước mắt em chảy dài trên má. Trước khi tôi hỏi em tại sao, em đã đặt một ngón tay chặn môi tôi rồi lắc đầu, ra hiệu cho tôi đừng nói gì cả. “Đêm qua thật tuyệt,” em nói, “nhưng em không muốn nói về chuyện đó.” Thay vào đó, em quấn lấy tôi và tôi ôm em rất lâu, lắng nghe hơi thở đều đều của em. Tôi biết rằng có điều gì đó giữa chúng tôi đã thay đổi, nhưng vào thời điểm đó, tôi không đủ dũng khí để tìm câu trả lời

Buổi sáng ngày tôi đi, Savannah lái xe chở tôi ra sân bay. Chúng tôi ngồi cùng nhau trên một băng ghế, chờ chuyến bay của tôi được xướng lên, em dùng ngón tay cái vẽ những vòng tròn nhỏ lên mu bàn tay tôi. Khi tôi phải lên máy bay, em ngã vào lòng tôi và bắt đầu thổn thức. Khi nhìn thấy biểu hiện trên gương mặt tôi, em đã cố gượng cười, nhưng tôi có thể nghe thấy nỗi buồn mênh mang trong đó.

“Em biết là em đã hứa,” em nói, “nhưng em không thể đừng được.”

“Sẽ không sao đâu mà,” tôi nói. “Chỉ sáu tháng thôi. Rồi em sẽ ngạc nhiên là nó trôi qua nhanh thế nào.”

“Nói thì dễ lắm,” em nói, sụt sịt. “Nhưng anh nói đúng. Em sẽ trở nên mạnh mẽ hơn trong thời gian này. Em sẽ ổn thôi.”

Tôi nhìn em chăm chú tìm kiếm một dấu hiệu của sự phản đối nhưng chẳng thấy gì. “Thật đấy,” em nói. “Em sẽ ổn mà.”

Tôi gật đầu, và chúng tôi nhìn nhau đắm đuối một lúc lâu.

“Anh sẽ nhớ ngắm trăng chứ?” em hỏi. “Mỗi tháng,” tôi hứa.

Chúng tôi hôn nhau lần cuối. Tôi ôm em thật chặt và thì thầm rằng tôi yêu em, và rồi buộc mình phải buông em ra. Vác ba lô lên vai, tôi bước lên bậc thang máy bay. Ngoái nhìn lại phía sau, tôi nhận ra rằng Savannah đã rời khỏi tự lúc nào, lẫn vào đâu đó giữa đám đông hỗn loạn.

Trên máy bay, dựa người vào ghế, tôi cầu nguyện rằng Savannah đã nói thật. Dù tôi biết em yêu tôi và quan tâm tới tôi, đột nhiên tôi nhận ra rằng tình yêu và sự quan tâm không phải lúc nào cũng đủ. Chúng là những viên gạch xây nên mối quan hệ của chúng tôi, nhưng chúng sẽ không thể gắn kết được nếu thiếu thời gian bên nhau, thời gian không phải chịu sự đe dọa của chia ly luôn treo lơ lửng trên đầu. Mặc dù không muốn thừa nhận rằng có quá nhiều điều về em mà tôi không biết. Tôi nhận ra rằng một năm không có tôi đã tác động tới em như thế nào, và dù nghiền ngẫm điều đó trong nhiều giờ tôi cũng không chắc là giờ đây nó sẽ tác động tới em ra sao. Mối quan hệ của chúng tôi; tôi cảm thấy như có viên đá đang đè nặng trên ngực; giống như con quay đang xoay tít. Khi chúng tôi ở bên nhau, chúng tôi có sức mạnh để giữ cho nó xoay tròn, và tạo nên vẻ đẹp, ma thuật và giống như là, phép nhiệm màu; khi chúng tôi chia ly, nó bắt đầu chậm lại là điều không thể tránh được. Chúng tôi sẽ trở nên lung lay và bất ổn, và tôi biết tôi sẽ phải tìm ra cách nào đó để giữ cho chúng tôi không ngừng quay.

Tôi đã học được bài học từ năm trước. Tôi không chỉ viết thư nhiều hơn vào tháng bảy và tháng tám, tôi cũng gọi điện cho Savannah đều đặn hơn. Tôi lắng nghe rất chăm chú trong suốt cuộc gọi, cố gắng tìm ra bất kỳ dấu hiệu chán nản nào và khao khát được nghe bất kỳ từ ngữ nào gợi lên những tình cảm hoặc mong muốn. Lúc đầu, tôi cũng hơi căng thẳng khi gọi cho em, nhưng cuối mùa hè tôi lại chờ đợi những cuộc gọi. Việc học của em rất thuận lợi. Em về ở với bố mẹ khoảng vài tuần, và sau đó bắt đầu học kỳ thu. Trong tuần đầu tiên của tháng chín, chúng tôi bắt đầu đếm ngược đến ngày tôi xuất ngũ. Chỉ còn một trăm ngày nữa. Tính bằng ngày sẽ dễ hơn nhiều so với việc tính bằng tuần hoặc bằng tháng; bằng cách nào đó nó khiến cho khoảng cách giữa chúng tôi dần thu hẹp lại và trở nên thân mật hơn nhiều, khoảng cách chúng tôi biết mình có thể vượt qua. Phần khó khăn đã ở phía sau, chúng tôi nhắc nhở lẫn nhau và tôi thấy mình búng nhẹ những ngày trên lịch, những nỗi lo lắng về mối quan hệ của chúng tôi dần tan biến. Tôi chắc rằng không một thứ gì trên thế gian này có thể ngăn cản chúng tôi ở bên nhau.

Ngày 11 tháng chín đang đến gần.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Xin ủng hộ:  
      
     

Có bài mới 09.08.2017, 17:17
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 27965
Được thanks: 4642 lần
Điểm: 9.44
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Lãng mạn] John yêu dấu - Nicholas Sparks - Điểm: 10
Chương 15


Có một điều mà tôi chắc chắn: Những ký ức về ngày 11 tháng chín sẽ theo tôi mãi mãi. Tôi theo dõi cột khói cuộn lên từ Tòa Tháp Đôi và Lầu Năm Góc và nhìn thấy những khuôn mặt tối sầm của những người đồng đội quanh tôi khi họ xem người ta nhảy vào chỗ chết. Tôi đã chứng kiến sự sụp đổ của tòa nhà và đám mây khổng lồ những bụi và mảnh vụn bốc cao. Tôi cảm thấy giận dữ khi người ta sơ tán khỏi Nhà Trắng.

Trong vài giờ nữa, tôi biết Nhà Trắng sẽ có hành động đáp trả vụ tấn công và rằng các lực lượng vũ trang sẽ tiên phong. Căn cứ được đặt vào tình trạng báo động khẩn cấp, và tôi biết rằng sẽ không có thời khắc nào tôi có thể tự hào hơn về những người đàn ông này. Những ngày tiếp theo, tất cả những xung đột cá nhân hay bè phái chính trị đều biến mất. Trong một khoảng thời gian ngắn, tất cả chúng tôi đều đơn giản là những người Mỹ.

Công tác tuyển dụng bắt đầu được đẩy mạnh trong c nước cho bất kỳ ai muốn gia nhập quân đội. Những sỹ quan đã nhập ngũ như chúng tôi, tinh thần khao khát được phụng sự cho Tổ Quốc dâng cao hơn bao giờ hết. Tony là người đầu tiên trong đơn vị tôi tình nguyện gia hạn thời hạn phục vụ thêm hai năm, và từng người từng người một đều noi gương anh. Kể cả tôi, người luôn mong ước đến ngày xuất ngũ vào tháng mười hai, kẻ đang đếm từng ngày để được về nhà với Savannah, cũng bị cuốn đi trong cơn sóng nhiệt tình ấy và xin gia hạn thêm.

Nói thì thật dễ, rằng tôi bị tác động bởi những sự kiện diễn ra xung quanh mình và đó là lý do tôi làm việc ấy. Nhưng đó chỉ là cái cớ. Công nhận là tôi đã bị cuốn vào làn sóng yêu nước đang sôi sục, nhưng hơn thế nữa, tôi bị ràng buộc bởi sợi dây tình bạn và trách nhiệm. Tôi hiểu đồng đội của mình, tôi quan tâm đến những đồng của mình, và cái ý nghĩ bỏ mặc họ trong thời điểm này đối với tôi là sự hèn nhát không thể chấp nhận được. Chúng tôi đã cùng sát cánh bên nhau, cùng đồng cam cộng khổ, tôi thậm chí không thể nghĩ đến chuyện sẽ rời bỏ họ vào những giờ khắc đen tối của năm 2001 này.

Tôi gọi cho Savannah để báo tin. Ban đầu, em đã ủng hộ tôi. Giống như những người khác, em đang hoảng sợ tột độ với những sự kiện vừa xảy ra, và em hiểu gánh nặng nghĩa vụ đang đè nặng trên vai tôi, thậm chí trước cả khi tôi cố giải thích. Em nói em rất tự hào về tôi.

Nhưng thực tế đã sớm được quyết định. Lựa chọn phục vụ tổ quốc, tôi đã phải hy sinh. Dù công tác điều tra thủ phạm đã được tiến hành nhanh chóng, song tình hình an ninh trở nên bất ổn hơn bao giờ hết. Lực lượng bộ binh của chúng tôi không tham dự vào vụ lật đổ chính quyền Taliban ở Afghanistan, thật là một sự thất vọng lớn cho mọi người trong đơn vị chúng tôi. Thay vào đó, chúng tôi trải qua phần lớn mùa đông và mùa xuân tập luyện và chuẩn bị cho cuộc xâm lược tương lai ở Iraq. Tôi cho là vào thời điểm này, những lá thư từ Savannah bắt đầu thay đổi. Trước đây chúng đến đều dặn mỗi tuần, giờ là cách mười ngày, và sau đó thời gian như dài mãi ra, và cứ cách hai tuần mới có một lá. Tôi cố an ủi bản thân rằng lời lẽ trong những lá thư chưa hề thay đổi, nhưng với thời gian chúng cũng đã đổi thay. Những đoạn mô tả cuộc sống bên nhau tưởng tuợng của em hay những đoạn hồi tưởng mà tôi vẫn mong đợi đã không còn nữa. Chúng tôi biết rằng giấc mơ đã vuột khỏi tầm tay với khoảng cách hai năm đằng đẵng. Viết một tương lai xa vời chỉ khiến em nhớ rằng chúng tôi sẽ còn phải xa nhau trong bao lâu, và điều đó khiến cả hai chúng tôi đau đớn đến thế nào.

Tháng năm vụt qua, tôi tự an ủi bản thân rằng ít nhất chúng tôi cũng có thể gặp lại nhau vào kỳ nghỉ phép kế tiếp. Tuy nhiên, số phận, lại đùa giỡn với chúng tôi ch vài ngày trước khi tôi được trở về nhà. Chỉ huy của tôi đã triệu tập một cuộc gặp và khi tôi hiện diện ở văn phòng, ông chỉ tôi chỗ ngồi. Cha tôi, ông nói với tôi, đã bị lên cơn đau tim, đã nhập viện và tôi được cấp cho một kỳ phép khẩn cấp. Thay vì đến thẳng Chapel Hill và ở cùng Savannah hai tuần, tôi đã trở về Wilmington và trải qua những ngày nghỉ phép của mình bên giường ông, hít vào mùi thuốc sát trùng luôn khiến tôi nghĩ về việc chữa trị hơn là về cái chết. Khi tôi đến, cha tôi đang ở trong phòng chăm sóc đặc biệt, ông đã ở đó gần hết chuyến về phép của tôi. Da ông tái xám lại, hơi thở dồn dập và rất yếu. Trong tuần đầu tiên, ông thường rơi vào trạng thái hôn mê, nhưng khi ông tỉnh táo, tôi nhìn thấy những xúc cảm mà cha tôi hiếm khi biểu hiện ra ngoài và chẳng bao giờ lẫn lộn như lúc này: sự sợ hãi tuyệt vọng, hoang mang nhất thời và sự biết ơn khiến tôi đau lòng khi ông thấy tôi ở bên cạnh ông. Hơn một lần tôi đã chạm vào tay ông, lần đầu tiên trong cuộc đời mình. Bởi vì một ống dịch được nối trực tiếp vào cổ họng ông khiến ông không thể nói nên tôi đã phải nói cả phần của hai cha con. Dù tôi cũng kể cho ông nghe một ít tình hình ở đơn vị nhưng chủ yếu vẫn là chủ đề những đồng xu. Tôi đọc cho ông nghe bảng Greysheet; xong đâu đấy, tôi trở về nhà, lấy những bản sao cũ ông cất trong ngăn kéo và cũng đọc cho ông nghe. Tôi tìm thông tin về những đồng xu trên mạng - ở những trang web như David Hall Rare Coins hay Legend Numismatics – và đọc những thông tin chào hàng cũng như cập nhật giá cả mới nhất. Giá cả làm tôi ngạc nhiên và tôi ngờ rằng bộ sưu tập của cha tôi, dù đã qua rồi cái thời hoàng kim xưa cũ, vẫn đáng giá hơn ngôi nhà mà ông đang sở hữu trong nhiều năm khoảng mười lần. Cha của tôi, người không thể học được nghệ thuật hội thoại đơn giản, đã trở thành người giàu có hơn bất kỳ ai tôi từng biết.

Cha tôi không hề quan tâm đến giá trị của chúng. Mắt ông sa sầm lại mỗi khi tôi đề cập tới việc đó, và tôi nhanh chóng nhớ lại chuyện mà không biết bằng cách nào đó tôi đã quên mất: rằng đối với cha tôi, việc theo đuổi những đồng xu thú vị hơn chính đồng xu đó, và đối với ông, mỗi đồng xu đại diện cho một câu chuyện với một kết thúc có hậu. Với suy nghĩ đó, tôi cố nhớ lại những đồng xu chúng tôi đã cùng nhau tìm ra. Bởi vì cha tôi lưu lại những cuốn băng đặc biệt, tôi sẽ xem lại trước khi đi ngủ, và từng chút từng chút một, những ký ức ấy lại ùa về. Những ngày tiếp theo, tôi gợi lại những câu chuyện về những chuyến đi cùng ông với Raleigh, Charlotte hay Savannah. Dù sự thật là thậm chí bác sỹ cũng không chắc là đến khi nào ông mới có thể hồi phục, nhưng trong những tuần đó cha tôi đã cười nhiều hơn cả toàn bộ phần đời của ông. Ông đã được trở về nhà trước ngày tôi định rời đi, và bệnh viện cũng đã sắp xếp để ai đó có thể chăm sóc ông trong thời gian ông hồi phục.

Nhưng nếu thời gian ở bệnh viện củng cố mối quan hệ giữa cha con tôi thì vẫn chẳng giúp được gì cho mối quan hệ của tôi với Savannah. Đừng hiểu nhầm ý tôi – em tranh thủ giúp tôi bất cứ khi nào có thể, em vừa động viên vừa cảm thông với tôi. Nhưng bởi vì tôi phải dành thời gian quá nhiều ở bệnh viện, nên nó không thể giúp hàn gắn những vết nứt bắt đầu hình thành trong mối quan hệ của chúng tôi. Thành thật mà nói, tôi thậm chí còn không chắc điều mình thực sự muốn ở em là gì: Khi em ở đó, tôi cảm thấy chỉ muốn được ở một mình với cha, nhưng khi em đi rồi, tôi lại muốn có em bên cạnh. Bằng cách nào đó, Savannah lái bất kỳ hành động căng thẳng quá khích nào mà tôi nhắm về phía em mà chẳng hề phản ứng gì. Dường như em biết tôi đang nghĩ gì và dự đoán được điều tôi muốn thậm chí còn tốt hơn cả tôi.

Cái mà chúng tôi cần là thời gian bên nhau. Được ở một mình cùng nhau. Nếu mối quan hệ của chúng tôi là một viên pin, thời gian tôi ở nước ngoài đang tiếp tục rút cạn năng lượng nó, cả hai chúng tôi đều cần thời gian để sạc lại. Một lần, khi ngồi với cha và lắng nghe nhịp bíp đều đặn của máy trợ tim, tôi nhận ra rằng Savannah và tôi chỉ trải qua 4 tuần cùng nhau trong 104 tuần. Ít hơn 5 phần trăm. Kể cả những lá thư và những cuộc điện thoại, thỉnh thoảng tôi nhìn chằm chằm vào khoảng trống trước mặt, tự hỏi làm thế nào mối quan hệ chúng tôi có thể tồn tại chỉ với những gì chúng tôi đang có.

Chúng tôi đi dạo cùng nhau và ăn tối với nhau hai lần. Nhưng bởi vì Savannah đang dạy học và phải đến lớp nên em không thể ở lại.Tôi cố không đổ lỗi cho em vì điều đó, ngoại trừ việc khi tôi làm vậy chúng tôi kết thúc bằng việc cãi nhau. Tôi ghét điều đó, cũng như em vậy, nhưng dường như không ai trong chúng tôi có thể ngừng được. Và dù em không nói gì, và thậm chí có phản bác lại điều đó khi cãi cọ, tôi biết vấn đề thực sự là nên về nhà mãi mãi và tôi đã không làm thế. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất Savannah nói dối tôi.

Chúng tôi để những cuộc cãi vã lại phía sau và nói lời chào tạm biệt trong nước mắt, dù quá đau đớn như lần trước. Sẽ thật thoải mái khi nghĩ rằng bởi vì chúng tôi đã từng trải qua chuyện này một lần, hoặc bởi vì giờ đây cả hai chúng tôi đều đã trưởng thành hơn, nhưng khi ngồi trên máy bay, tôi biết điều không-gì-có-thể-thay-đổi-được giữa chúng tôi nay đã thay đổi. Ít nước mắt hơn là bởi vì tình cảm giữa chúng tôi đang phai nhạt dần.

Thực tế thật đau lòng, và vào đêm trăng tròn tiếp theo, tôi lang thang vô định trong sân tập bóng đá. Và cũng chỉ vì tôi đã hứa với em trong lần về phép đầu tiên. Tôi cũng suy ngẫm về lần về phép thứ hai của mình, nhưng lạ thay, tôi chẳng hề muốn nghĩ đến lần về phép thứ ba dù tôi biết ngày về đã được định

Mùa hè qua đi, tình hình của cha tôi cũng ngày một khá lên, dù hơi chậm. Trong những lá thư ông gửi cho tôi, ông kể ông thường đi bộ vòng quanh khu nhà ba lần mỗi ngày, mỗi chuyến đi như thế kéo dài đúng hai mươi phút, nhưng cũng đã phải rất khó khăn. Nếu nói về mặt tích cực của toàn bộ việc này thì chính là việc nó giúp ông có thêm việc gì đó để làm ngoài những đồng xu sau khi ông nghỉ hưu, chỉ có thế. Ngoài việc gửi thư đều đặn cho ông, tôi cũng bắt đầu gọi điện cho ông vào đúng một giờ ngày thứ ba và ngày thứ năm hàng tuần, chỉ để đảm bảo là ông vẫn ổn. Tôi chú ý tới bất kỳ dấu hiệu mết mỏi nào trong giọng nói của ông và nhắc nhở ông ăn, ngủ và uống thuốc đầy đủ. Tôi luôn đề cập tới những việc đó trong hầu hết cuộc trò chuyện. Cha phát hiện ra rằng những cuộc chuyện trò điện thoại thậm chí còn gây đau lòng hơn những cuộc tiếp xúc trực tiếp nên có vẻ như ông luôn muốn gác máy thật nhanh. Tôi luôn chọc ông về điều đó, nhưng tôi cũng không chắc ông có hiểu đó chỉ là một câu nói đùa không nữa. Điều đó khiến tôi buồn cười, và thỉnh thoảng tôi cười phá lên nhưng ông chẳng hề đáp lại, giọng ông chỉ đột nhiên sôi nổi hẳn lên, trong một chốc trước khi lại rơi vào im lặng. Không sao cả. Tôi biết ông luôn mong ngóng những cuộc điện thoại này. Ông luôn trả lời ngay từ hồi chuông đầu tiên và chẳng khó khăn gì để tưởng tượng ra ông đang nhìn chằm chằm đồng hồ và chờ đợi.

Tháng tám qua đi, tháng chín lại đến, rồi tháng mười sang. Savannah đã hoàn tất khóa học ở Chapel Hill và chuyển về nhà trong khi cố tìm một công việc. Qua báo chí, tôi được biết Liên Hiệp Quốc và các quốc gia Châu Âu đang tìm mọi cách để giữ chúng tôi không can thiệp vào cuộc chiến ở Iraq. Trong liên minh Nato, tình hình cũng trở nên căng thẳng; theo nguồn tin, đã có những cuộc biểu tình của công chúng và những lời tuyên bố mạnh mẽ từ những người dẫn đầu cuộc biểu tình rằng nước Mỹ đang phạm một sai lầm khủng khiếp. Trong khi đó, lãnh đạo của chúng tôi đang cố áp lực khiến họ đổi ý. Tôi và những người khác trong đơn vị vẫn tiếp tục luyện tập cho một quyết định nghiệt ngã không thể thay đổi. Tháng mười một, chúng tôi quay lại Kosovo. Chúng tôi không ở lại lâu, nhưng như thế cũng đã là quá lắm rồi. Tôi đã quá mệt mỏi với Balkans, quá mệt mỏi với nhiệm vụ gìn giữ hòa bình. Quan trọng hơn hết, tất cả chúng tôi đều biết chiến tranh ở Trung Đông sắp nổ ra, dù Châu Âu có muốn hay không.

Suốt thời gian đó, những lá thư từ Savannah vẫn đến đều đặn cũng như những cuộc gọi của tôi. Thường thì tôi gọi cho em trước lúc bình minh, khoảng nửa đêm theo giờ của em và dù trước đây tôi luôn có thể gặp em vào giờ này; nhưng hơn một lần em không ở nhà. Dù tôi cố gắng tự thuyết phục bản thân mình rằng có lẽ em ra ngoài với bạn hay ba mẹ em thôi, nhưng thật khó để giữ cho những suy nghĩ của mình không i tung lên. Sau khi gác máy, thỉnh thoảng tôi vẫn tưởng tượng vơ vẩn rằng em đang gặp gỡ một người con trai khác mà em quan tâm. Thỉnh thoảng, tôi gọi thêm hai hay ba lần nữa trong vòng một tiếng đồng hồ tiếp theo, cơn giận cứ bốc lên ngùn ngụt theo mỗi hồi chuông không được trả lời.

Cuối cùng em cũng nhấc máy, lẽ ra tôi có thể hỏi em đã ở đâu, nhưng tôi chưa bao giờ làm thế. Không bao giờ kể cả khi em tình nguyện giải thích lý do. Tôi biết mình đã phạm sai lầm khi giữ im lặng, đơn giản bởi vì nó không thể trục xuất những câu hỏi cứ lảng vảng trong đầu tôi, thậm chí kể cả khi tôi cố tập trung vào cuộc đối thoại. Thường xuyên như thế, tôi tỏ ra căng thẳng trên điện thoại và phản ứng của em cũng vậy. Dần dà, những cuộc chuyện trò của chúng tôi ít những trao đổi tình cảm vui vẻ hơn là những cuộc trao đổi thông tin bắt buộc. Sau khi gác máy, tôi luôn cảm thấy chán ghét bản thân bởi cảm giác ghen tức cứ trào lên, và tôi cố đánh bại cơn dở chứng ấy trong mấy ngày tiếp theo, tự hứa sẽ không bao giờ để chuyện đó xảy ra lần nữa.

Những lần khác, Savannah vẫn là người con gái mà tôi hằng mong nhớ và tôi có thể nhận thấy em quan tâm tới tôi đến nhường nào. Sau tất cả, tôi vẫn yêu em nhiều như tôi hằng yêu em, và tôi thấy đau đớn cho những khoảng thời gian trong quá khứ. Dĩ nhiên, tôi biết điều gì đang xảy ra. Khi chúng tôi chia cách, tôi cố cứu vãn một cách tuyệt vọng những gì chúng tôi từng có với nhau, hệt như một vòng luẩn quẩn, tuy nhiên, sự tuyệt vọng của tôi lại càng đẩy chúng tôi ra xa nhau hơn nữa.

Chúng tôi bắt đầu cãi nhau. Như lần cãi vã trước của chúng tôi ở căn hộ của em trong lần về phép thứ hai, tôi gặp rắc rối trong việc chuyển tải những cảm nghĩ của mình tới em, và dù em có nói gì, tôi vẫn không thoát được cái suy nghĩ rằng em đang trêu chọc tôi hoặc thậm chí em còn không cố giảm bớt những quan ngại của tôi. Tôi thậm chí còn ghét những cuộc gọi như vậy hơn cả việc tôi ghét sự ghen tuông của bản thân mình, dù tôi biết hai thứ đó đan xen vào nhau.

Mặc cho những rắc rối của chúng tôi, tôi cũng không bao giờ ngờ rằng chúng tôi sẽ làm việc đó. Tôi muốn sống bên Savannah hơn bất kỳ thứ gì tôi từng muốn trong đời.

Tháng mười hai, tôi cố gắng gọi điện đều đặn hơn, cố giữ cho sự ghen tuông của mình trong tầm kiểm soát. Tôi buộc bản thân mình tỏ ra lạc quan trên điện thoại, hy vọng em sẽ muốn nghe những điều đó từ tôi. Tôi nghĩ mọi chuyện rồi sẽ được cải thiện, và ngoài mặt thì đúng là như vậy cho đến bốn ngày trước giáng sinh, tôi nhắc em nhớ rằng tôi sẽ trở về nhà trong non một năm nữa. Thay vì phản ứng hào hứng như tôi mong đợi, em chỉ im lặng. Tất cả tôi có thể nghe thấy là nhịp thở đều đều của em.

“Em có nghe anh nói không?” tôi hỏi,

“Có,” em đáp, giọng thật êm ái. “Cũng chỉ là điều em từng nghe nói trước đây thôi mà.”

Đó là sự thật, cả hai chúng tôi đều biết điều đó, nhưng tôi đã không thể ngủ ngon trong suốt gần một tuần sau đó.

Ngày trăng tròn cũng là ngày đầu năm mới, và dù tôi có ra ngoài ngắm trăng và cố nhớ lại cái tuần chúng tôi bắt đầu yêu nhau, tất cả những hình ảnh đó đã trở nên nhạt nhòa, như thể bị xóa nhòa bởi nỗi đau thầm kín trong sâu thẳm tim tôi. Trên đường trở về, hàng tá những thanh niên túm tụm thành từng nhóm hoặc dựa người vào những tòa nhà nhẩn nha nhả thuốc, trông họ như những kẻ vô ưu vô lo vậy. Tôi tự hỏi họ nghĩ gì khi bắt gặp tôi lang thang ngoài này. Họ có cảm thấy nỗi mất mát lớn lao tôi đang phải hứng chịu? Hoặc giả rằng tôi đang ước mình có thể thay đổi quá khứ?

Tôi không biết và họ cũng chẳng hỏi. Thế giới đã đổi thay nhanh chóng.

Hiệu lệnh chúng tôi đang chờ đợi đến vào sáng hôm sau, vài ngày sau đó đội chúng tôi có mặt ở Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu chuẩn bị cho cuộc đổ bộ vào Iraq từ mạn bắc. Chúng tôi hội họp, phân công công việc; nghiên cứu địa hình, và lập kế hoạch tác chiến. Có rất ít thời gian rảnh rỗi, nhưng khi chúng tôi mạo hiểm thám thính bên ngoài doanh trại, thật khó để làm ngơ trước những cái nhìn hằn học thù địch của quần chúng. Chúng tôi nghe được những tin đồn rằng Thổ Nhĩ Kỳ đang lên kế hoạch từ chối để quân đội chúng tôi sử dụng như cửa ngõ tiến vào Iraq và rằng những cuộc đàm phán gần đây nhằm gây áp lực đối với họ. Từ lâu chúng tôi đã học cách lơ đi những tin đồn, nhưng lần này tin đồn là chính xác, đội chúng tôi và những người khác được cử tới Kuwait bắt đầu thực hiện nhiệm vụ. Chúng tôi hạ cánh giữa trưa dưới bầu trời quang đãng, xung quanh tứ phía đều là cát. Hầu như ngay lập tức, chúng tôi lên xe buýt, xe chạy nhiều giờ liền và điểm đến là một thành phố lều lớn nhất mà tôi từng thấy. Quân đội đã làm hết sức để chúng trở nên tiện nghi nhất. Thức ăn rất ngon, và PX là tất cả những gì bạn cần dù hơi chán. Dịch vụ chuyển phát thư rất tệ - tôi chẳng nhận được lá thư nào – và đường dây điện thoại cách chỗ đóng quân hàng dặm. Trong những cuộc tập trận, tôi và những đồng đội của mình ngồi thành từng nhóm đoán già đoán non liệu chừng nào thì cuộc xâm lược bắt đầu hay luyện tập để mặc những bộ quần áo bảo hộ nhanh nhất có thể. Kế hoạch là đơn vị của chúng tôi sẽ hỗ trợ cho những đừ nhiều nhánh khác nhau tiến thẳng vào Baghdad. Tháng hai, cảm giác như đã hàng vạn năm trong sa mạc, đơn vị tôi và tôi đã sẵn sàng như chưa bao giờ sẵn sàng hơn thế.

Về điểm này, cũng có rất nhiều binh lính đã đóng quân tại Kuwait từ giữa tháng mười một, và những tin đồn được dịp rộ lên. Không ai biết điều gì đang đến. Tôi nghe nói về những loại vũ khí hóa học và vũ khí sinh học; tôi cũng nghe nói rằng Saddam, đã nhận được một bài học đích đáng ở sa mạc Storm và cắt giảm chi tiêu cho quân đội Cộng hòa ở Baghdad, nhằm tiến hành một cuộc chiến đẫm máu cuối cùng. Ngày 17 tháng ba, tôi biết chiến tranh đã nổ ra. Đêm cuối cùng ở Kuwait, tôi viết những lá thư gửi những người tôi yêu thương, trong trường hợp tôi không thể trở về, một cho cha tôi và một cho Savannah. Buổi chiều hôm đó, tôi thấy mình gia nhập vào đoàn quân dài hàng trăm dặm đổ vào Iraq.

Chúng tôi lựa chọn chiến lược đánh du kích, ít nhất là trong thời gian đầu. Bởi vì lực lượng không quân của chúng tôi kiểm soát không phận, nên chúng tôi không thấy bị đe dọa bởi những trận không kích khi chúng tôi hành quân trên những đường cao tốc hoang vắng. Chúng tôi hầu như chẳng thấy bóng quân Iraq nào trong suốt chặng đường hành quân, điều đó chỉ làm tăng cảm giác căng thẳng khi tôi cố dự đoán xem chúng tôi sẽ phải đối mặt với điều gì trong chiến dịch. Đây đó, chúng tôi cũng có thể nhìn thấy vài hiệu lệnh từ những tia súng cối của đối phương, và chúng tôi đã phải lê lết trong những bộ quân phục chỉ để học một điều đó là hiệu lệnh giả. Những người lính đang rất căng thẳng. Tôi đã không thể chợp mắt trong ba ngày liền.

Sâu phía trong Iraq, xung đột bắt đầu nổ ra, và đó cũng là lúc tôi học được bài học đầu tiên liên quan đến hiệp ước tự do cho Iraq: Thường dân hay kẻ thù trông cũng hoàn toàn giống nhau. Mục tiêu được chỉ ra, chúng tôi tấn công, và có những lúc chúng tôi cũng không chắc chúng tôi đang bắn ai nữa. Khi chúng tôi đặt chân đến vùng tam giác Sunni, số người hy sinh tăng vọt. Chúng tôi nghe nói về những chiến trận ở Fallujah, Ramadi và Tikrit, tất cả đều đang diễn ra rất ác liệt cùng những đơn vị khác ở những bộ phận khác. Đơn vị tôi hỗ trợ lực lượng không quân thứ tám mươi hai trong một cuộc tấn công Samawah, và đó là nơi chúng tôi lần đầu tiên nếm mùi một cuộc chiến thật sự.

Không lực mở đường. Bom, tên lửa và súng cối nện ầm ầm từ ngày hôm trước, và khi chúng tôi hành quân qua cây cầu tiến vào thành phố, ấn tượng đầu tiên của tôi là sự yên tĩnh đến đáng kinh ngạc. Đơn vị tôi được giao nhiệm vụ là một vùng ngoại ô, nơi chúng tôi sẽ di chuyển từ căn nhà này sang căn nhà khác để quét sạch quân thù.

Khi chúng tôi di chuyển những hình ảnh vụt qua thật nhanh: một chiếc xe tải đang bùng cháy, cơ thể bất động của người tài xế bên cạnh; tòa nhà bị phá hủy một phần; đó đây là tàn tích của những chiếc xe hơi đang bốc cháy. Tiếng súng trường lác đác vang lên giữ cho chúng tôi tập trung. Khi chúng tôi đang tuần tra, thỉnh thoảng vẫn có vài dân thường chạy ra tay hướng thẳng lên trời, và chúng tôi cố hết sức để cứu những người bị thương.

Đầu giờ trưa, chúng tôi đã sẵn sàng quay về, nhưng chúng tôi lại bị tấn công bởi hỏa lực hạng nặng từ một tòa nhà trên phố. Núp sau một bức tường, tôi biết chúng tôi đang ở vào một vị thế hết sức bấp bênh. Hai người bọc phía sau khi tôi dẫn cả đội qua làn đạn bắn tỉa tới một nơi an toàn hơn ở phía đối diện; không ai bị bắn gục, đó gần như đã là cả một phép màu. Từ đây, chúng tôi nhấn chìm đối phương bằng hàng ngàn phát đạn, một cách hoàn toàn lãng phí. Khi tôi nghĩ đã an toàn, chúng tôi bắt đầu tiếp cận mục tiêu phía trên tòa nhà, di chuyển một cách hết sức thận trọng. Tôi dùng một trái lựu đạn để mở đường.

Tôi dẫn đầu toàn đội, thò đầu vào trước. Khói mù mịt, mùi lưu hùynh nồng nặc, không khí đượm vẻ chết chóc. Nội thất đã bị phá hủy hoàn toàn, nhưng ít nhất một binh lính Iraq vẫn còn sống sót, và ngay khi chúng tôi lại gần, anh ta bắt đầu xả súng từ dưới sàn. Tony bị dính một phát đạn ở tay, và tất cả những người còn lại đáp trả bằng hàng trăm viên đạn. Âm thanh đó quá lớn tới mức tôi không thể nghe thấy bản thân mình đang la hét, nhưng tôi dùng ngón tay ép chặt, nhắm mục tiêu khắp nơi từ sàn, lên tường rồi đến trần nhà. Những mảnh vụn của thạch cao, gạch và gỗ bay tứ tán. Cuối cùng chúng tôi cũng ngừng bắn, chắc rằng không ai còn có thể sống sót, nhưng tôi vẫn mở chốt một quả lựu đạn khác để phòng hờ và chúng tôi nhanh chóng rút ra ngoài trước vụ nổ.

Sau hai mươi phút căng thẳng nhất trong cuộc đời, đường phố vẫn thật yên ắng, ngoại trừ tiếng chuông cảnh báo đang vang lên trong tai tôi và âm thanh phát ra từ những đồng đội của tôi, họ đang nôn mửa hay chưởi rủa hoặc kể lại những trải nghiệm của mình. Tôi giữ rịt lấy tay Tony, và khi tôi nghĩ tất cả mọi người đều đã sẵn sàng, chúng tôi bắt đầu quay trở lại con đường chúng tôi vừa đi qua. Và rồi, chúng tôi cũng ra tới ga xe lửa, nơi chúng tôi được bảo đảm an toàn và tất cả chúng tôi đều đổ gục xuống. Đêm hôm ấy, chúng tôi nhận được bao thư đầu tiên sau gần sáu tuần. Trong thùng thư, có sáu là thư từ cha tôi nhưng chỉ có một lá từ Savannah, và trong ánh sáng lờ mờ, tôi bắt đầu đọc.

John thân yêu,

Em viết lá thư này trên chiếc bàn trong bếp, và em đang phải đấu tranh rất nhiều bởi em không biết phải nói những lời này thế nào nữa. Một phần em ước rằng anh đang ở đây với em để em có thể nói trực tiếp những lời này với anh, nhưng cả hai ta đều biết điều đó là không thể. Nên em ở đây, cố lục tìm những từ ngữ thích hợp, nước mắt lăn dài trên má và hy vọng rằng bằng cách nào đó anh sẽ tha thứ cho em bởi những điều em sắp nói.

Em biết thời gian này là một quãng thời gian vô cùng tồi tệ đối với anh. Em cố không nghĩ đến chiến tranh nhưng em không thể thoát ra khỏi những hình ảnh đó, và em thấy thật sợ hãi. Em xem tin tức rồi đọc báo, biết rằng anh đang ở trung tâm của tất cả chuyện này, cố nghĩ xem anh đang ở đâu và anh đang phải trải qua điều gì. Em cầu nguyện mỗi đêm để anh có thể trở về nhà an toàn, và em vẫn sẽ luôn như thế. Anh và em đã cùng trải qua những quãng thời gian tuyệt vời, và em không bao giờ mong anh quên đi điều đó. Em cũng không muốn anh tin rằng đối với em, anh không hề có chút ý nghĩa nào như em đối với anh. Anh là một chàng trai tuyệt vời hiếm có, John à. Em đã yêu anh, nhưng trên tất cả, gặp được anh khiến em nhận ra rằng tình yêu đích thực có ý nghĩa như thế nào. Trong hai năm rưỡi vừa qua, em đã luôn ngắm những mùa trăng tròn và những kỷ niệm chúng ta có với nhau. Em nhớ em đã nói với anh rằng cái đêm đầu tiên khiến em có cảm giác như trở về nhà, và em sẽ luôn ghi nhớ đêm chúng ta ở bên nhau. Em sẽ luôn cảm thấy hạnh phúc bởi chúng ta đã dâng tặng người kia chính bản thân mình. Đối với em, điều đó có nghĩa rằng linh hồn hai ta sẽ gắn kết với nhau mãi mãi.

Còn nhiều hơn thế. Khi em nhắm mắt lại, em sẽ nhìn thấy khuôn mặt của anh, khi em bước đi, em gần như có thể cảm thấy bàn tay anh trong tay em. Những thứ ấy với em vẫn hoàn toàn hiện hữu, nhưng nếu trước đây chúng mang tới cho em cảm giác thoải mái thì giờ đây chúng chỉ khiến em cảm thấy đau đớn. Em hiểu lý do tại sao anh gia hạn thời gian, và em cũng tôn trọng quyết định của anh. Và giờ em vẫn thế, nhưng cả hai ta đều biết mối quan hệ giữa chúng ta đã đổi thay sau đó. Chúng ta đã thay đổi và trong tim anh, em nghĩ anh cũng đã nhận ra điều đó. Có lẽ bởi vì thời gian chia cắt quá dài, cũng có thể bởi vì chúng ta sống trong hai thế giới hoàn toàn khác nhau. Em không biết. Mỗi lần chúng ta cãi nhau, em lại rất giận bản thân mình vì điều đó. Dù sao thì dẫu chúng ta vẫn còn yêu nhau, chúng ta cũng đã đánh mất mối liên kết kỳ diệu đã từng gắn kết chúng ta lại với nhau.

Em biết điều đó nghe giống như là một cái cớ, nhưng làm ơn hãy tin em khi em nói ra điều này không có nghĩa là em đã có một ai khác. Nếu em không thực sự hiểu điều gì đã xảy ra, liệu anh có thể không? Em không mong anh hiểu nhưng vì tất cả những gì chúng ta đã cùng nhau trải qua, em không thể tiếp tục nói dối anh thêm nữa. Nói dối sẽ chỉ hạ thấp những gì chúng ta đã có mà thôi, và em chẳng muốn thế chút nào, thậm chí kể cả khi em biết rằng anh có cảm giác anh đang bị phản bội. Em sẽ hiểu nếu anh không bao giờ muốn nói chuyện với em nữa, cũng như em sẽ hiểu nếu anh hận em. Một phần trong em cũng đang hận mình vô cùng. Viết lá thư này buộc em phải nhận thức rằng khi em nhìn vào gương, em biết mình đang nhìn vào ai đó không chắc rằng cô ấy có xứng đáng được yêu không nữa. Ý em là vậy đấy.

Dù anh có thể không muốn nghe những lời này, nhưng em vẫn muốn anh biết rằng anh sẽ luôn là một phần của em. Trong thời gian chúng ta ở bên nhau, anh đã chiếm một vị trí đặc biệt trong trái tim em, và sẽ luôn luôn như vậy, không một ai có thể thay thế được. Anh là một anh hùng và cũng là một quý ông chân chính, anh thật tốt bụng và chân thành, nhưng trên tất cả anh là người con trai đầu tiên em thực sự yêu thương. Và dù có bất cứ điều gì xảy ra trong tương lai, anh cũng vẫn sẽ luôn là như vậy, và em biết cuộc đời em đã trở nên tốt đẹp hơn nhờ điều đó.

Em thật sự xin lỗi.

Savannah.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 09.08.2017, 17:18
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 27965
Được thanks: 4642 lần
Điểm: 9.44
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Lãng mạn] John yêu dấu - Nicholas Sparks - Điểm: 10
Phần 3 - Chương 16


Em đã yêu người khác.

Tôi đã biết điều đó thậm chí trước cả khi tôi đọc xong bức thư, và trong một chốc tất cả mọi thứ như một bộ phim quay chậm. Theo bản năng, tôi sẽ nắm chặt tay lại rồi nện thẳng một quả vào tường, nhưng tôi đã không làm vậy, thay vào đó tôi chỉ vò nát lá thư và ném qua một bên. Lúc đó, tôi đã cảm thấy cực kỳ giận dữ, còn hơn là cảm giác bị phản bội, tôi cảm thấy như thể em đã nghiền nát mọi thứ có ý nghĩa với tôi trên thế gian này. Tôi căm ghét em, và cũng căm ghét người đàn ông vô danh, vô tính đã đánh cắp em khỏi tay tôi. Tôi tưởng tượng ra đủ mọi điều tôi có thể làm nếu anh đang ở trước mặt tôi lúc này, và thú chẳng phải là một cảnh tượng đẹp đẽ gì mấy.

Cùng lúc đó, tôi cũng ao ước được nói chuyện với em. Tôi muốn bay ngay về, hoặc ít nhất có thể gọi điện cho em. Một phần trong tôi không muốn tin vào điều đó. Không phải bây giờ, không phải sau tất cả những gì chúng tôi đã cùng nhau trải qua. Chúng tôi chỉ còn phải đợi thêm chín tháng nữa – sau gần ba năm, chuyện đó lại có thể xảy ra sao?

Nhưng tôi đã không về nhà mà cũng chẳng gọi điện. Tôi cũng chẳng viết thư hồi âm, và cũng chẳng nghe được bất cứ tin tức nào từ em. Hành động duy nhất của tôi là nhặt lá thư đã bị tôi vò nát lên. Tôi cố vuốt lại thật thẳng, nhét lại vào trong phong bì, và quyết định mang nó theo bên mình như là một vết thương tôi đã trúng trong trận đánh. Vài tuần sau đó, tôi trở thành một người lính gương mẫu, tiến vào cái thế giới duy nhất dường như vẫn còn hiện hữu đối với tôi. Tôi xung phong vào bất kỳ nhiệm vụ nào được cho là nguy hiểm, tôi hiếm khi nói chuyện với bất kỳ chiến hữu nào trong đơn vị, một thời gian dài nó khiến tôi luôn thấy rất căng thẳng tới mức muốn bóp cò kể cả thời gian tôi đi tuần bên ngoài. Tôi không tin tưởng bất kỳ ai trong thành phố, và mặc dù chưa từng xảy ra “sự cố ngoài ý muốn” – từ mà quân đội vẫn dùng để gọi những cái chết của thường dân – sẽ là nói dối nếu tôi nhận rằng mình đã kiên nhẫn và cố thấu hiểu khi tiếp xúc với những người Iraq trong bất cứ hoàn cảnh nào. Mặc dù ngủ rất ít, những giác quan của tôi vẫn tinh nhạy khi chúng tôi chĩa mũi nhọn tấn công vào Baghdad. Trớ trêu thay, chỉ khi mạo hiểm tính mạng mình tôi mới thấy được giải thoát khỏi những suy nghĩ về Savannah và cái sự thật đau lòng là mối quan hệ của chúng tôi đã chấm dứt.

Cuộc sống của tôi trôi nổi bằng vận may trong chiến tranh. Chưa đến một tháng sau khi tôi nhận được lá thư, Baghdad thất thủ, dù một hiệp ước ngừng bắn đã được ký kết, tình hình vẫn càng lúc càng trở nên tồi tệ và phức tạp hơn ở những tuần và những tháng kế tiếp. Khi mọi chuyện kết thúc, tôi nhận ra rằng cuộc chiến này bản chất cũng chẳng khác gì so với bất kỳ cuộc chiến nào khác. Chiến tranh luôn là câu trả lời cho những sở thích ganh đua sức mạnh quân sự, nhưng hiểu biết này cũng chẳng khiến cho cuộc sống trên chiến trường trở nên dễ chịu hơn. Hậu quả của sự kiện Baghdad thất thủ là mọi đồng đội trong đơn vị chúng tôi đều bị biến trở thành cảnh sát và thẩm phán. Như một người lính, chúng tôi không được huấn luyện để thực thi những trách nhiệm này.

Đứng từ bên ngoài và với nhận thức muộn, thật dễ để đưa ra xét đoán cho hành động của chúng tôi, nhưng trong cuộc sống thực, trong thời gian, không phải bao giờ bạn cũng có thể dễ dàng ra quyết định. Hơn một lần, tôi đã phải tiếp cận với những thường dân Iraq và ra phán quyết rằng một người đã ăn trộm món hàng này, món hàng kia, tống giam tội phạm và được xin lời khuyên phải làm gì. Đó không phải là công việc của chúng tôi. Chúng tôi ở đó có vẻ như là vì một mệnh lệnh – mà cơ bản là để xử lý quân phiến loạn những kẻ cố giết chúng tôi hay những thường dân khác – cho đến khi chính quyền địa phương có thể tiếp quản và tự lo liệu được. Quá trình cụ thể cũng chẳng nhanh chóng hay dễ dàng gì, thậm chí ở cả những nơi tình hình đã ổn định và bớt hỗn loạn hơn. Trong khi đó, các thành phố khác lại rơi vào tình trạng báo động và chúng tôi lại được gửi tới đó để lập lại trật tự. Chúng tôi quét sạch quân phiến loạn ra khỏi thành phố, nhưng bởi vì chúng tôi không có đủ binh lính để giữ thành phố an toàn, nên phiến quân lại nổi dậy ngay sau khi chúng tôi rút đi. Đó là những ngày dù cho đồng đội tôi luôn thấy nghi vấn về những nhiệm vụ đặc biệt vô vọng này, nhưng thậm chí họ cũng chẳng dám đặt câu hỏi một cách công khai nữa.

Ý tôi là, tôi không biết phải mô tả sự căng thẳng, chán chường và thắc mắc của chín tháng tiếp sau này như thế nào nữa, ngoại trừ có thể nói rằng ở đây có rất nhiều cát. Vâng, tôi biếy đây là sa mạc, và đúng là tôi đã trải qua một thời niên thiếu trên bãi biển nên lẽ ra tôi phải quen với nó chứ, nhưng cát ở đây lại hoàn toàn khác. Chúng kẹt trong quần áo bạn, trong súng, trong những chiếc tủ khóa, trong cả thức ăn, trong tai, trên mũi và giữa những kẽ răng của bạn, kể cả khi tôi há miệng ra, tôi cũng cảm thấy những hạt cát lổn nhổn trong miệng. Những người liên quan đến chuyện này, ít nhất tôi cũng biết rằng họ không muốn nghe sự thật, rằng phần lớn thời gian đóng quân tại đây, Iraq cũng không quá tệ nhưng thỉnh thoảng nó còn đáng sợ hơn cả địa ngục. Có ai thực sự muốn nghe rằng tôi đã chứng kiến một đồng đội tôi vô tình bắn chết một đứa trẻ chỉ vì nó đã xuất hiện không đúng chỗ và không đúng thời điểm? Hay tôi đã thấy những binh lính bị xé ra thành nhiều mảnh khi họ bắn trúng một IED – thiết bị đã phát nổ ngay tức khắc – trên những con đường gần Baghdad? Hoặc cảnh máu đọng trên đường phố như mưa, rỉ ra từ những bộ phận thân thể đã đứt rời? Không, người ta sẽ muốn nghe về cát hơn, bởi vì nó giữ cho cuộc chiến cách xa ở một khoảng cách an toàn.

Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc, lại gia hạn thêm, và ở lại Iraq đến tận tháng hai năm 2004 khi cuối cùng tôi cũng được trả về Đức. Ngay khi tôi trở về, tôi mua một chai Harley và cố giả vờ rằng tôi đã để chiến tranh lại phía sau, nhưng những cơn ác mộng không bao giờ chấm dứt, và tôi thức dậy vào mỗi buổi sáng mồ hôi đầm đìa. Suốt cả ngày, tôi luôn có cảm giác cực kỳ căng thẳng và tôi đâm sợ hãi cả những thứ mỏng manh nhất. Khi tôi đi dạo trên những đường phố ở Đức, tôi không thể không đ phòng những nhóm người lang thang gần những tòa nhà, và tôi thấy mình đang quan sát những cửa sổ trong những khu phố thương mại, dò tìm những kẻ bắn tỉa. Bác sỹ tâm lý – ai cũng phải trải qua những cuộc kiểm tra này – nói với tôi rằng những cảm giác tôi đang trải qua này là hết sức bình thường rồi sẽ đến lúc chúng qua đi, nhưng thỉnh thoảng tôi tự hỏi không biết có lúc nào chúng sẽ biến mất.

Sau khi rời Iraq, thời gian ở Đức của tôi khá vô nghĩa. Chắc rồi, tôi tập thể dục mỗi sáng và tham dự lớp học về vũ khí và hàng hải, nhưng mọi thứ đã hoàn toàn thay đổi. Vì bị thương ở tay, Tony xuất ngũ với một Huy chương tía, anh được trả về Brooklyn ngay sau khi Baghdad thất thủ. Bốn người khác trong đội cũng đã vinh dự xuất ngũ cuối năm 2003 khi họ đáo hạn; trong suy nghĩ của họ - và của tôi – họ đã hoàn thành nhiệm vụ và đây là lúc họ quay lại với cuộc sống của mình. Mặt khác, tôi xin gia hạn thêm lần nữa. Tôi không chắc đó có phải là một quyết định đúng đắn không, nhưng tôi cũng chẳng biết làm gì khác.

Nhưng giờ đây, nhìn đơn vị của tôi mà xem, tôi cũng thấy giật mình nữa là. Đơn vị tôi toàn lính mới, và dù họ có giỏi giang mấy thì mọi chuyện cũng không còn như cũ nữa rồi. Họ không phải là những chiến hữu đã cùng tôi trải qua đợt huấn luyện và ở Balkans, hay cùng tôi vào sinh ra tử trong chiến tranh, và trong sâu thẳm, tôi biết tôi sẽ không bao giờ có thể gần gũi với họ như với những đồng đội trước đây của tôi. Tôi gần như là một người lạ và tôi cố giữ cho mình nghĩ như thế. Tôi làm việc một mình, tránh những tiếp xúc cá nhân trong điều kiện cho phép, và tôi cũng biết những người trong đơn vị nghĩ về tôi như thế nào khi tôi bước ngang qua họ: Tôi là một trung sỹ lớn tuổi cộc cằn, người được cho là chẳng có mong muốn nào hơn việc bảo đảm rằng họ có thể trở về với mẹ thật nguyên vẹn. Tôi đã luôn nhắc đi nhắc lại như vậy trong đợt huấn luyện, và tôi thực tâm như thế. Tôi sẽ làm mọi thứ để giữ cho họ được an toàn. Như như tôi nói rồi đấy, mọi chuyện đã không còn như trước nữa.

Những người bạn của tôi đã đi rồi, tôi dành trọn những tâm tư của mình cho cha. Sau khi kết thúc chiến dịch, tôi trải qua đợt nghỉ phép với ông mùa xuân năm 2004, rồi một đợt nữa vào mùa hè. Thời gian chúng tôi ở cùng nhau trong bố tuần đó còn nhiều hơn tất thảy mười năm trước đó cộng lại. Vì ông đã nghỉ hưu, chúng tôi có nguyên ngày rảnh rỗi làm bất cứ điều gì chúng tôi muốn. Tôi dễ dàng hòa nhập với vòng thói quen luẩn quẩn của ông. Chúng tôi dùng bữa sáng, đi dạo ba vòng một ngày rồi dùng bữa tối cùng nhau. Trong suốt thời gian còn lại, chúng tôi chỉ toàn nói về những đồng xu thậm chí cũng đã mua thêm vài đồng trong khi tôi lưu lại thị trấn. Internet khiến cho việc tìm kiếm dễ dàng hơn nhiều so với trước đây, dù việc tìm kiếm cũng chẳng mấy hào hứng nhưng tôi không biết nó c giúp gì được cho cha tôi không. Tôi nói chuyện với những người môi giới mà tôi đã không liên lạc suốt mười lăm năm qua, nhưng họ vẫn rất thân thiện và cởi mở như trước đây. Tôi nhận ra rằng thế giới của những đồng xu là một thế giới nhỏ bé, khi đơn đặt hàng của chúng tôi đến – chúng luôn được chuyển đi bằng dịch vụ giao hàng 24h – cha tôi và tôi sẽ đến để giám định những đồng xu, chỉ ra bất kỳ sai sót nào, và thường chấp nhận giá được đề xuất bởi Professional Coin Grading Service, một công ty thẩm định chất lượng đồng xu. Mặc dù tâm trí tôi sẽ nhanh chóng lang thang đi nơi khác thì cha tôi vẫn có thể say sưa ngắm mỗi đồng xu hàng giờ liền, như thể chúng đang cất giữ bí mật của cuộc sống vậy.

Chúng tôi đã không nói gì nhiều về những thứ khác, nhưng thật sự thì cũng chẳng cần phải làm vậy. Ông chẳng háo hức gì mấy chuyện ở Iraq mà tôi thì cũng chả có ý muốn kể với ông. Cả hai chúng tôi đều không có đời sống tinh thần phong phú lắm để mà kể cho nhau nghe – nói chuyện Iraq thì cũng chẳng ích lợi gì – và cha tôi… phải ông ấy là cha tôi, và tôi thậm chí còn chẳng buồn hỏi.

Tuy nhiên, tôi đã rất lo lắng cho ông. Trong những buổi đi bộ, ông thở có vẻ rất khó khăn. Khi tôi đề nghị rằng đi bộ hai mươi phút có lẽ là hơi nhiều, ngay cả với tốc độ chậm chạp của ông, ông nói bác sỹ đã bảo ông rằng hai mươi phút là thời gian vừa đủ và tôi biết tôi không thể thuyết phục ông làm khác đi được. Sau rốt, ông lại cảm thấy mệt mỏi hơn cả mức cho phép, và phải mất cả tiếng đồng hồ sắc diện ông mới trở nên khá hơn. Tôi nói chuyện rất nhiều với bác sỹ mà tin tức lại không được tốt như tôi hy vọng. Tim của cha tôi, đang chịu sự tàn phá nghiêm trọng – mà theo ý kiến chuyên môn của bác sỹ - sẽ cần cả một phép màu ông mới có thể hồi phục được như xưa. Thiếu luyện tập sẽ chỉ khiến cho tình trạng của ông tồi tệ thêm mà thôi.

Đó có thể là do cuộc trao đổi với bác sỹ, hoặc có lẽ chỉ là tôi muốn cải thiện mối quan hệ với cha tôi, nhưng chúng tôi đã trở nên hòa thuận hơn sau hai chuyến về phép của mình. Thay vì gây áp lực với ông bằng những cuộc chuyện trò mặc định, tôi chỉ đơn giản ngồi cạnh ông trong căn phòng làm việc, đọc sách hoặc chơi trò giải ô chữ trong khi ông ngắm nhìn những đồng xu. Có thứ gì đó bình yên và chân thành trong thái độ kém háo hức của tôi, và tôi nghĩ cha tôi cũng đang từ từ làm quen với những thay đổi mới mẻ này giữa hai cha con. Có một lần tôi bắt gặp ông len lén nhìn tôi một cách gần như là lạ lẫm. Chúng tôi ngồi cạnh nhau nhiều giờ liền, phần lớn thời gian là chẳng nói gì, trong sự yên lặng khiêm nhường ấy chúng tôi dần dần trở thành bạn. Tôi thường ước rằng giá như cha đừng đi tấm hình hai cha con chụp chung, và khi phải trở lại Đức, tôi biết mình sẽ rất nhớ ông theo cái cách mà tôi chưa từng có trước đây.

Mùa thu năm 2004 chậm chạp trôi, cũng như mùa đông và mùa xuân năm 2005 trở nên dài dằng dặc. Cuộc sống của tôi như bị kéo giãn ra với quãng thời gian chẳng có việc gì làm. Thỉnh thoảng, những tin đồn về việc tôi sẽ được cử tới Iraq cũng làm gián đọan những ngày dài đơn điệu nhàm chán của tôi, nhưng vì tôi đã từng ở đó trước đây, ý nghĩ về việc trở lại đó cũng ảnh hưởng đến tôi chút đỉnh. Nếu tôi được ở lại Đức, cũng ổn thôi. Nếu tôi bị điều đi Iraq cũng chẳng sao cả. Tôi tiếp tục với những tin tức giang dở ở Trung Đông như tất cả những người khác, nhưng ngay khi tôi đặt tờ báo xuống hay tắt truyền hình, tâm trí tôi lại lang thang vô định.

Giờ thì tôi đã hai mươi tám rồi, và tôi không thể thoát khỏi cái cảm giác mà dù cho tôi có từng trải hơn phần lớn những người trong độ tuổi của tôi, cuộc sống cuộc tôi dường như đã ngừng lại. Tôi gia nhập quân đội để trưởng thành, và dù trường hợp của tôi đã khiến tôi trưởng thành hơn nhiều, thỉnh thoảng tôi vẫn tự hỏi có thật là thế không. Tôi không sở hữu bất cứ ngôi nhà hay chiếc xe nào, và trừ cha tôi thì tôi hoàn toàn đơn độc trên thế gian này. Trong khi những đồng đội của tôi lồng trong ví họ những bức hình của vợ và những đứa con, ví của tôi giữ một tấm hình đã nhòe nhoẹt của một người phụ nữ tôi đã yêu và cũng đã đánh mất. Tôi nghe những người lính kể về những hy vọng trong tương lai, trong khi tôi chẳng có bất kỳ kế hoach nào. Thỉnh thoảng tôi tự hỏi những dồng đội tôi nghĩ thế nào về cuộc đời tôi khi tôi bắt gặp cái nhìn chòng chọc tò mò của họ. Tôi không bao giờ kể cho họ về quá khứ của tôi cũng như chưa từng chia sẻ bất kỳ thông tin cá nhân nào. Họ chẳng biết gì về Savannah, cha tôi hay tình bạn của tôi với Tony. Những ký ức đó sẽ mãi là của tôi, của riêng tôi thôi, đó là những bí mật luôn được tôi chôn kín.

Tháng ba năm 2005, cha tôi lên cơn đau tim lần thứ hai, dẫn tới viêm phổi và lại phải hồi sức đặc biệt. Khi ông được trả về, ông bị cấm lái xe, nhưng những nhân viên bệnh việc đã giúp tôi tìm người có trách nhiệm mua những nhu yếu phẩm hàng ngày cho ông. Trong tháng tư, ông lại phải quay trở lại bệnh viện, và lần này thì ông không được phép đi bộ nữa. Tháng năm, ông phải uống cả tá thuốc khác nhau mỗi ngày, và tôi biết ông sẽ phải trải qua phần đời còn lại của mình trên giường mất. Những lá thư ông viết cũng trở nên khó đọc hơn, không chỉ bởi vì ông quá yếu mà cũng vì tay ông đã bắt đầu run lẩy bẩy. Sau một hồi nài nỉ trên điện thoại, tôi đã thuyết phục được một người hàng xóm – một y tá trong bệnh địa phương – trông chừng ông thường xuyên, và tôi thở dài nhẹ nhõm khi đếm ngược đến kỳ nghỉ phép trong tháng s

Nhưng tình trạng của cha tôi vẫn tiếp tục chuyển biến xấu đi trong vài tuần, và trên điện thoại tôi có thể nghe thấy tiếng thở mệt nhọc của ông mỗi lúc một khó khăn hơn mỗi lần nói chuyện. Lần thứ hai trong cuộc đời, tôi xin thuyên chuyển công tác về nhà. Lần này, vị chỉ huy của tôi đã tỏ ra thông cảm hơn. Chúng tôi cùng nhau xem xét những giấy tờ mà tôi phải hoàn tất để có thể được thuyên chuyển về Fort Bragg để huấn luyện không quân – nhưng khi tôi nói chuyện với bác sỹ lần nữa, ông bảo rằng du tôi có ở gần thì cũng không giúp được gì nhiều cho cha tôi và rằng tôi nên xem xét tới việc chuyển ông tới một trung tâm chăm sóc đặc biệt. Cha của tôi cần nhiều sự trợ giúp hơn là những người thân có thể chăm sóc tại nhà, ông thuyết phục tôi. Ông cũng đã cố bàn bạc với cha tôi – giờ ông chỉ có thể ăn mỗi soup lỏng – nhưng cha tôi từ chối xem xét cho tới lúc tôi về. Dù là lý do gì, bác sỹ giải thích, cha tôi đã kiên quyết muốn tôi về thăm ông một lần cuối tại nhà.

Thực tế đang vỡ vụn, trong chiếc taxi trở về từ sân bay, tôi cố thuyết phục mình rằng hẳn bác sỹ chỉ đang thồi phồng mọi chuyện lên thôi. Nhưng không phải. Cha tôi còn chẳng thể nhổm dậy trên đi văng khi tôi đẩy cửa bước vào, và tôi đau đớn bởi ý nghĩ rằng kể từ làn cuối tôi gặp ông cách đây một năm, ông dường như đã già thêm cả ba mươi tuổi.

Da ông xám xịt, và tôi choáng váng khi nhận ra ông đã sụt ký thê thảm thế nào. Cổ họng nghẹn đắng, tôi đặt túi xuống ngay khi bước vào bên trong.

“Chào cha,” tôi nói.

Đầu tiên tôi tự hỏi liệu ông có nhận ra tôi không, nhưng đột nhiên tôi nghe thấy tiếng thì thầm đứt quãng. “Chào John.”

Tôi đến bên chiếc đi văng và ngồi xuống cạnh ông. “Cha ổn không?”

“Ổn mà,” đó là tất cả những gì ông nói, và chúng tôi ngồi cạnh nhau như thế rất lâu chẳng nói thêm lời nào.

Cuối cùng, tôi đứng dậy kiểm tra nhà bếp nhưng chỉ thấy mắt mình giật giật khi vào đó. Những hộp súp rỗng bừa bãi khắp nơi. Các vết bẩn trên bếp lò, rác ngập ngụa, và những chiếc đĩa mốc meo chất đống trong bồn rửa. Rõ ràng là căn nhà đã bị bỏ bê trong nhiều ngày. Điều đầu tiên tôi muốn làm là chạy như bay sang nhà hàng xóm, người đã đồng ý trông chừng ông làm cho ra nhẽ. Nhưng chuyện đó phải hoãn lại đã.

Thay vào đó, tôi mở một hộp súp gà và hâm nó trong cái lò bẩn thỉu. Sau khi đổ đầy tô, tôi mang nó ra cho cha trong một cái khay. Ông mỉm cười yếu ớt, anh mắt tràn ngập vẽ biết ơn. Ông vét sạch cái tô, còn cố nạo nạo dưới đáy, và tôi múc thêm cho ông một tô nữa, cơn giận bốc lên ngùn ngụt và tự hỏi không biết đã bao lâu rồi ông không được ăn no. Sau khi chén sạch tô thứ hai, tôi giúp ông nằm xuống đi văng, và ông chìm ngay vào giấc ngủ chỉ trong vài phút.

Người hàng xóm không ở nhà nên tôi dành hết buổi chiều và buổi tối để lau dọn nhà cửa, bắt đầu từ bếp và phòng tắm. Khi tôi thay khăn trải giường và ngủi thấy mùi khai nồng, tôi nhắm mắt lại và cố kìm cái cảm giác muốn vặn cổ người hàng xóm.

Sau khi ngôi nhà đã tạm có thể chấp nhận được, tôi ngồi xuống trong phòng khách, trông chừng cha tôi ngủ. Ông trông thật nhỏ bé dưới tấm chăn, và khi tôi chạm tới mái đầu ông, vài sợi tóc rơi ra. Tôi bắt đầu khóc, biết chắc rằng cha tôi đang hấp hối.

Đó là lần đầu tiên tôi khóc sau nhiều năm và cũng là lần duy nhất trong cuộc đời tôi khóc vì cha tôi, nhưng rất lâu sau đó tôi vẫn không thể ngừng khóc.

Tôi biết cha tôi là một người tốt, một người tử tế, và dù ông có một cuộc đời đau khổ, ông đã làm điều tốt nhất để nuôi dạy tôi. Chưa từng một lần ông giơ tay đánh tôi trong cơn giận dữ, và tôi bắt đầu ngược đãi bản thân bằng những kỷ niệm trong những năm tháng tôi lãng phí chỉ để đổ lỗi cho ông. Tôi nhớ lại hai lần về thăm nhà gần đây của tôi, và tôi đau nhói với cái ý nghĩ là chúng tôi sẽ không bao giờ cùng nhau chia sẻ những khoảnh khắc giản đơn đó nữa. Sau đó, tôi bế ông đặt lên giường. Trên tay tôi, ông nhẹ bẫng, quá nhẹ. Tôi đặt một tấm chăn bao quanh người ông rồi làm một cái giường tạm trên sàn cạnh ông, lắng nghe ông thở khò khè khó nhọc. Ông tỉnh dậy bởi một cơn ho lúc nửa đêm và dường như không thể cầm lại được; tôi chuẩn bị đưa ông đến bệnh viện khi cơn ho cuối cùng cũng lắng xuống.

Trông ông thật sợ hãi khi ông nhận ra tôi muốn mang ông đi đâu. “Ở lại… đây,” ông gọi với, giọng yếu ớt. “Cha không muốn đi.”

Tôi như bị xé vụn ra, nhưng cuối cùng tôi cũng không đưa ông đi. Với một người đàn ông của những thói quen, tôi nhận ra bệnh viên không chỉ là một nơi xa lạ, mà còn là một nơi nguy hiểm, nơi ông phải tập hợp nhiều năng lượng để thích ứng hơn là ông có thể. Sau đó, tôi nhận ra ông đã làm b mình và chiếc khăn trải giường.

Khi người hàng xóm tới vào ngày hôm sau, từ đầu tiên vọt ra khỏi miệng bà là lời xin lỗi. Bà giải thích rằng bà đã không lau chùi căn bếp vài ngày nay bởi một đứa con gái của bà bị ốm, nhưng bà đã thay khăn trải mỗi ngày và đảm bảo ông được cho ăn đầy đủ. Khi bà đứng trước mặt tôi dưới hàng hiên, tôi có thể nhìn thấy vẻ kiệt sức trên khuôn mặt bà, và tất cả những lời tôi đạ chuẩn bị bay biến đâu mất. Tôi nói với bà rằng tôi rất biết ơn vì những việc bà đã làm còn hơn cả những gì bà có thể biết.

“Tôi rất vui được giúp đỡ,” bà nói. “Ông ấy đã rất tử tế suốt những năm qua. Ông ấy chưa bao giờ phàn nàn về những tiếng ồn của lũ trẻ hồi tụi nó mới lớn, ông luôn mua bất kỳ thứ gì chúng bán khi chúng cần tiền cho những buổi dã ngoại ở trường hay bất cứ thứ gì tương tự. Ông luôn giữ cho cái sân sạch sẽ, và bất cứ khi nào tôi nhờ ông trông nàh giúp, ông luôn sẵn sàng. Ông ấy là một hàng xóm hoàn hảo.

Tôi mỉm cười. Như được khích lệ bà tiếp.

“Nhưng cậu nên biết rằng ông không thích để tôi vào trong nhà. Ông nói rằng ông không thích tôi đặt đồ ở những chỗ đó. Hay cách tôi lau dọn. Hay cái cách tôi sắp xếp mớ giấy tờ trên bàn làm việc của ông. Thường thì tôi sẽ cố lờ đi, nhưng thỉnh thoảng khi ông cảm tâhý khá hơn, ông khá cứng rắn trong việc đuổi tôi đi, và còn dọa sẽ gọi cảnh sát nếu tôi làm quá. Tôi chỉ không…” Bà ngần ngừ và tôi nói nốt hộ bà.

“Bà chỉ không biết phải làm gì.” Câu trả lời rành rành trên mặt bà ấy.

“Không sao,” tôi nói. “Nếu không có bà, tôi không biết giờ này ông ấy đã tệ đến thế nào rồi.”

Bà gật đầu nhẹ nhõm trước khi lảng nhìn nơi khác. “Tôi mừng là cậu đã về,” bà bắt g9ầu ngập ngừng, “ bởi vì tôi muốn nói với cậu về tình trạng của ông ấy.” Bà phủi đi thớ xơ vải vô hình trên áo. “Tôi biết một nơi rất tốt ông ấy có thể đến, nơi ông ấy sẽ được chăm sóc chu đáo. Những nhân viên ở đó rất tuyệt. Chỗ đó gần như đã kín chỗ rồi, nhưng tôi quen với giám đốc ở đó, và ông ấy cũng biết bác sỹ của cha cậu. Tôi biết nói thế này thật khó nghe, nhưng tôi nghĩ đó là điều tốt nhất cho ông ấy, và tôi hy vọng…”

Bà ngừng lại, phần còn lại của câu nói lơ lửng trong không khí, tôi cảm nhận được mối quan tâm chân thực của bà đối với cha tôi, và tôi mở miệng trả lời. Nhưng tôi đã chẳng thể nói gì. Đó không phải là chuyện dễ quyết. Ngôi nhà là nơi duy nhất cha tôi biết, nơi duy nhất ông cảm thấy thoải mái. Đó là nơi duy nhất, những thói quen của ông có thể tồn tại. Nếu sống ở bệnh viện khiến ông lo sợ, bắt ông chuyển đến sống ở nơi khác cũng chính là giết ông. Vấn đề đặt ra không phải là ông sẽ chết ở đâu mà là ông sẽ ra đi như thế nào. Một mình ở nhà, trên tấm ga giường bẩn thỉu và có thể đói lả đến chết? Hay với những người sẽ cho ông ăn và làm vệ sinh cho ông, ở một nơi khiến ông sợ hãi?

Với giọng nói run run hoàn toàn không thể kiểm soát được, tôi hỏi,”Chỗ đó ở đâu?”

Tôi dành ra hai tuầ kế tiếp chăm sóc cha tôi. Tôi cho ông ăn, đọc bảng Grey sheet cho ông nghe khi ông tỉnh táo, và ngủ trên sàn cạnh giường ông. Ông tự mình vấy bẩn mỗi đêm, buộc tôi phải mua cho ông mấy cái tã dành cho người già, khiến ông rất xấu hổ. Ông luôn ngủ hết cả buổi chiều.

Trong khi ông nghỉ ngơi trên chiếc đi văng, tôi đi hỏi thăm một số viện dưỡng lão: không chỉ mỗi cái người hàng xóm đã đề xuất mà tất cả những trung tâm trong bán kình hai giờ chạy xe. Sau cùng người hàng xóm đã nói đúng. Chỗ bà ấy đề nghị rất sạch sẽ, nhân viên cũng có vẻ rất chuyên nghiệp, nhưng quan trong trọng hơn cả, giám đốc ở đó khá quan tâm đến trường hợp của cha tôi. Không biết vì người hàng xóm hay bác sỹ của cha tôi đã nhờ cậy, tôi không bao giờ tìm ra lý do.

Giá cả không phải là vấn đề. Viện dưỡng lão nổi tiếng là đắt đỏ, nhưng vì cha tôi có trợ cấp của chính phủ, an sinh xã hội, bảo hiểm y tế, và bảo hiểm tư nữa ( tôi có thể tưởng tượng ông ký những giấy tờ này với người bán bảo hiểm mà thực tế còn chả quan tâm ông đang trả tiền cho cái gì đâu), tôi được đảm bảo rằng khoản chi trả duy nhất sẽ chỉ là tình cảm. Vị giám đốc – trạc tuổi tứ tuần, tóc nâu, vẻ cởi mở khiến tôi nghĩ ngay đến Tim – sự thấu hiểu, cảm thông và không gấy bất kỳ áp lực phải đưa ra quyết định vội vã nào. Thay vào đó, ông chỉ trao tôi một chồng tài liệu, những giấy tờ thủ tục và chúc cha tôi những lời chúc tốt đẹp nhất.

Chiều hôm đó, tôi mở lời thuyết phục cha tôi. Tôi sẽ phải rời đi sau vài ngày nữa và không còn sự lựa chọn nào khác, dù tôi có cố tránh thế nào.

Ông chẳng hề hé lời khi tôi nói. Tôi giải thích những lý do của mình, những mối quan tâm, niềm hy vọng rằng ông sẽ hiểu. Ông chẳng câu nào, nhưng mắt ông mở lớn ngập vẻ choáng váng như thể ông đang lắng nghe tuyên án tử hình vậy.

Nói xong, tôi rất cần được ở một mình một lát. Tôi vỗ nhẹ vào chân ông và đi xuống bếp để lấy một ly nước. Khi tôi quay trở lại phòng khách, ông đang gập mình trên chiếc đi văng, mắt cụp xuống và run rẩy. Đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy ông khóc.

Buổi sáng, tôi bắt đầu thu dọn đồ đạc của cha. Tôi mở ngăn kéo, đống tài liệu, và các ngăn tủ. Trong ngăn kéo để tất của ông, tôi tìm thấy toàn tất; trong ngăn để áo sơ mi, chỉ toàn là áo sơ mi. Trong tủ đựng hồ sơ, mọi thứ đều được treo thẻ và sắp xếp rất thứ tự. Không nên ngạc nhiên về điều đó, luôn là vậy mà. Cha tôi không giống với phần lớn nhân loại, ông không có bất kỳ bí mật nào. Không một thói xấu ẩn giấu nào, không nhật ký, không có những sở thích tồi bại, không có những chiếc hộp đựng đồ bí mật cá nhân. Tôi nhận ra sự giác ngộ của bản thân tôi với cuộc sống nội tâm của ông sẽ không thể giúp tôi hiểu gì hơn về ông sau khi ông ra đi. Cha tôi, từ khi tôi biết nhận thức thì ông đã luôn có vẻ như vậy rồi, và đột nhiên tôi nhận ra rằng mình đã ngưỡng mộ ông biết bao.

Khi tôi hoàn tất việc sắp xếp hành lý, cha tôi vẫn nằm thao thức trên đi văng. Sau vài ngày ăn uống đều đặn, ông đã khỏe hơn được một chút. Có những tia mờ đục trong mắt ông, và tôi để ý thấy một cái xẻng dựng dưới bàn. Ông đang giữ trong tay một mẩu giấy. Trên đó xuất hiện một sơ đồ nguệch ngoạc được vẽ vội vàng, có dán nhãn “SÂN SAU” trong một đôi tay run rẩy.

“Cái này để làm gì?”

“Của con đấy,” ông nói, chỉ vào cái xẻng.

Tôi nhặt cái xẻng lên, theo những chỉ dẫn trong bản đồ tới cây sồi ở sân sau, lựa thế và bắt đầu đào. Mất vài phút cái xẻng chạm tới một vật bằng kim loại, tôi lấy ra một hộp. Và một hộp khác bên dưới nó. Một hộp nữa ở một bên. Tất thảy mười sáu cái hộp rất nặng. tôi ngồi dưới mái hiên, đưa tay quệt mồ hôi trước khi mở chiếc hộp đầu tiên.

Tôi biết mình đã tìm thấy cái gì rồi, tôi nheo mắt trước ánh phản chiếu của những đồng tiền vàng lung linh dưới ánh mặt trời khắc nghiệt của miền nam. Chính giữa cái hộp, tôi tìm thấy đồng xu mạ kền 1926-D buffalo, cái mà chúng tôi đã cùng nhau tìm ra, biết rằng đó là đồng xu duy nhất thựx sự có ý nghĩa với tôi.

Ngày kế tiếp cũng l ngày phép cuối cùng, tôi sắp xếp lại căn nhà: tắt tất cả những thiết bị, giao nhận những bức thư, tìm ai đó chăm sóc bãi cỏ. Tôi gửi những đồng xu vừa đào được trong một ngăn tủ an toàn trong nhà băng. Xoay xở mọi thứ chi tiết cũng mất đến một ngày. Sau đó, chúng tôi cùng nhau ăn tô súp gà cuối cùng và một hộp rau xào mềm cho bữa tối trước khi tôi đưa ông đến viện dưỡng lão. Tôi mở hành lý ra cho ông, cố bày biện căn phòng với những đồ đạc mà tôi nghĩ ông muốn và đặt một khoản tiền trị giá khoảng mười hai năm đọc Greysheet trên sàn dười bàn ông. Nhưng chưa đủ, sau khi giải thích tình hình với ngài giám đốc, tôi quay lại căn nhà kiếm thêm vài thứ đồ đạc linh tinh, trong khi đó ước mình hiểu cha nhiều hơn để có thể liệt kê ra những thứ thật sự quan trọng đối với ông.

Dù tôi có đảm bảo với ông bao nhiêu lần, ông vẫn tê liệt vì sợ hãi, ánh mắt ông khiến tôi đau như xé. Hơn một lần, tôi mắc kẹt với cái khái niệm rằng phải chăng tôi đang giết chết ông. Tôi ngồi cạnh ông trên giường, ý thức rằng chỉ còn vài giờ ngắn ngủi nữa là tôi sẽ phải đến sân bay.

“Sẽ ổn thôi,” tôi nói. “Họ sẽ chăm sóc cha thật chu đáo.”

Tay ông vẫn tiếp tục run rẩy. “Được rồi,” ông nói giọng vừa đủ nghe.

Tôi cảm thấy nước mắt chực trào ra. “Con muốn nói với cha điều này, được chứ?” Tôi hít một hơi cố tập trung vào những suy nghĩ của mình. “Con chỉ muốn cha biết rằng con nghĩ cha là người cha tốt nhất trên đời. Cha đã phải rất tuyệt vời mới có thể dạy dỗ nổi một đứa trẻ như con.”

Cha tôi không trả lời. Trong im lặng, tôi cảm thấy tất cả những lời tôi muốn nói với ông chỉ có thể diễn ta bề ngoài sự việc, những từ ngữ đó không thể gói gọn được cả một đời người.

“Con nói thật đấy, cha à. Con xin lỗi về tất cả những rắc rối con đã kéo cha vào, và con cũng xin lỗi vì con đã không ở đủ bên cạnh cha. Cha là người tốt nhất con từng gặp. Cha là người duy nhất chưa từng nổi giận với con, cha cũng chưa bao giờ phán xét con, và bằng cách nào đó chaa đã dạy con về cuộc đời nhiều hơn bất kỳ đứa con trai nào có thể đòi hỏi ở cha mình. Con xin lỗi vì giờ đây con không thể ở đây cùng cha nữa, và con đang căm ghét mình vì điều đó. Nhưng con sợ, cha à. Con không biết phải làm gì khác hơn.”

Giọng tôi khàn khàn và đứt quãng truềyn tới tai tôi, và tôi không muốn gì hơn là được ông vòng tay ôm lấy. “Được rồi,” cuối cùng ông nói.

Tôi mỉm cười trước câu trả lời của ông. Tôi không ngừng được. “Con yêu cha.”

Đáp lại câu này ông biết chính xác sẽ phải nói gì, đó luôn là một phần trong thói quen của ông.

“Cha cũng yêu con, John à.”

Tôi ôm ông, rồi đứng dậy và mang đến cho ông bản mới nhất của tờ Greysheet. Khi tôi đi tới cửa, rồi ngừng lại ngoái đầu nhìn ông lần nữa.

Lần đầu tiên kể từ khi ông đến đây, nỗi sợ gần như đã biến mất.

Ông giữ tờ báo gần mặt, và tôi có thể nhìn tâhý những trang báo đang run rẩy nhè nhẹ. Môi ông di chuyển khi ông tập trung vào những con chữ, và tôi buộc bản thân mình nhìn ông thật kỹ, hy vọng có thể khắc ghi khuôn mặt ông mãi mãi. Đó cũng là lần cuối tôi thấy ông còn sống.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 23 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Thành viên đang xem chuyên mục này: hh09 và 547 khách


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Xuyên không] Hoàng gia tiểu kiều phi - Ám Hương

1 ... 136, 137, 138

2 • [Xuyên không] Trời sinh một đôi - Đông Thanh Liễu Diệp

1 ... 158, 159, 160

3 • [Cổ đại - Điền văn] Bỏ ta còn ai - Nam Lâu Họa Giác

1 ... 66, 67, 68

4 • [Cổ đại - Trọng sinh] Trọng sinh chi thứ nữ tâm kế - Tô Tiểu Lương

1 ... 59, 60, 61

5 • [Hiện đại - Quân nhân] Quân hôn Chọc lửa thiêu thân - Minh Lam Phong

1 ... 54, 55, 56

6 • [Cổ đại - Trùng sinh] Nàng phi chuyên sủng của vương gia ngốc - Huyền Nhai Nhất Hồ Trà

1 ... 56, 57, 58

7 • [Hiện đại] Hôn nhân bất ngờ Đoạt được cô vợ nghịch ngợm - Luật Nhi

1 ... 96, 97, 98

8 • [Xuyên không] Túng sủng đụng ngã sư muội - Như Nhược Yên

1 ... 55, 56, 57

9 • [Hiện đại - Trùng sinh] Sống lại cải tạo vợ cám bã - Mặc Vũ Vũ

1 ... 29, 30, 31

10 • [Cổ đại] Thịnh sủng - Cống Trà

1 ... 52, 53, 54

11 • [Hiện đại] Ép yêu 100 ngày - Diệp Phi Dạ (Phần II)

1 ... 189, 190, 191

12 • [Hiện đại] Người phụ nữ của Tổng giám đốc - Minh Châu Hoàn

1 ... 160, 161, 162

13 • List truyện ngôn tình hoàn + Ebook [Update 9/1]

1 ... 52, 53, 54

14 • [Hiện đại] Hào môn thừa hoan Mộ thiếu xin anh hãy tự trọng! - Mộc Tiểu Ô

1 ... 198, 199, 200

15 • [Hiện đại - Trùng sinh] Gia khẩu vị quá nặng - Hắc Tâm Bình Quả

1 ... 118, 119, 120

16 • [Hiện đại] Ép yêu 100 ngày - Diệp Phi Dạ (Phần I)

1 ... 167, 168, 169

17 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 176, 177, 178

18 • [Xuyên không] Bần hàn tức phụ - Vọng Giang Ảnh

1 ... 35, 36, 37

19 • [Hiện đại] Cuộc hôn nhân mù quáng - Phong Tử Tam Tam

1 ... 29, 30, 31

20 • [Hiện đại] Hôn trộm 55 lần - Diệp Phi Dạ

1 ... 236, 237, 238


Thành viên nổi bật 
Sát Phá Lang
Sát Phá Lang
Phèn Chua
Phèn Chua
cò lười
cò lười

LogOut Bomb: Windwanderer -> Windwanderer
Lý do: úa òa
thanhkk: có ai không.mấy bạn tìm tên truyện này dùm mình với,lâu rồi mình quên mất tên
Ngọc Nguyệt: ...-_- Tỷ ấy lặn rồi.
Đường Thất Công Tử: mà linh thích thể loại gì? :D3
Đường Thất Công Tử: viewtopic.php?t=409022&p=3310154#p3310154
Đường Thất Công Tử: có =))
Hoàng Phong Linh: thất: có xem tr đam mỹ ko? cho linh xin vài bộ đi~~
LogOut Bomb: Băng Khiết Tâm -> Băng Khiết Tâm
Lý do: đừng tưởng ông không biết mk của mày =))
Siêuquậy JK: -_- hay lắm, dám bomb ông, còn dùng chính nick của ông để bomb ông. tiểu tử thúi, nhớ đấy
Đường Thất Công Tử: xem bói cuối năm nào cả nhà :D : viewtopic.php?t=409262
Băng Khiết Tâm: hi hi, linh tỷ tỷ, đi vui vẻ~~
LogOut Bomb: ღ_lucia_ღ -> ღ_lucia_ღ
Lý do: Tự sát
Angelina Yang: à, tớ nhầm
Siêuquậy JK: yang: hả??
Angelina Yang: JK : nàng hử?
ღ_lucia_ღ: i'sorry :(
LogOut Bomb: Preiya -> cò lười
Lý do: iu ss <3
Siêuquậy JK: CMN băng tiểu tử, lăn ra đây, ông giết chết mày!!!
LogOut Bomb: Hoàng Phong Linh -> Hoàng Phong Linh
Lý do: ha ha
Preiya: hahahahahaaa
LogOut Bomb: ღ_lucia_ღ -> Nguyệt Hoa Dạ Tuyết
Angelina Yang: có nàng muốn edit, hỏi tớ
Nguyệt Hoa Dạ Tuyết: Yang, éc, :think2: là sao nàng? Nàng hỏi truyện nào á?
Preiya: Nam ơi, tét chưa có ck, tét chỉ mới có vợ thôi
Hoàng Phong Linh: Nam: ko phải nói nam đâu :D3
Angelina Yang: Tuyết : nàng có chap xuyên ko nào ko?
Trần Hướng Nam: Nam có chê đâu, tại chưa muốn cưới
Angelina Yang: chào cả nhà
Nguyệt Hoa Dạ Tuyết: mi miêu tả về ta "tuyệt" quá -_- _=_ ghim ghim ghim và ghim ngàn kiếp
Preiya: k cảm ơn ta thì thôi, còn bắn ta, bạn bè tốt v đó

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.