Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 24 bài ] 

Năm cô gái trường bay - Bernard Glemer

 
Có bài mới 28.04.2017, 14:00
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 27117
Được thanks: 4610 lần
Điểm: 9.43
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tiểu thuyết] Năm cô gái trường bay - Bernard Glemer - Điểm: 10
Chương 21


Chúng tôi đến phòng giao bao lúc 8h kém 5 và đúng 8h đến gặp Kay và Janyce ở phòng của chiêu đãi viên. Kay bảo: "Các cô đúng giờ đấy. Khá lắm". Cô ta nhìn tôi soi mói: "Carol, cô bị cảm lạnh à?"

"Đâu có. Xổ mũi buổi sớm thôi"

"Chắc chứ?"

"Chắc trăm phần trăm".

"Thôi được. Nào, chúng ta phân việc như thế này. Lúc đi, tức là sáng hôm nay, tôi sẽ là chiêu đãi viên A. Carol, cô cùng làm với tôi, là chiêu đãi viên B. Ở khoang sau, Janyce sẽ là C và Mary Ruth là D. Lúc về, chúng ta sẽ đổi khoang để mọi người đều được thay đổi không khí. Các cô có hỏi gì không?"

Không ai hỏi gì.

"Được rồi. Nào, bây giờ đến việc phục vụ bữa ăn. Tôi đã hội ý với cơ trưởng. Đây là chuyến bay xuyên lục địa đặc biệt. Ông cho biết thời gian bay vào khoảng 7 tiếng. Sẽ không có bữa sáng, vì bọn họ đã ăn ở khách sạn Charleroi. 11h phục vụ cà-phê và đồ ăn nhẹ. Bữa trưa bắt đầu vào lúc 1h kém 15. 3h chiều lại phục vụ đồ ăn nhẹ. Như thế là gọn. Có ai hỏi gì không?"

Không ai hỏi gì. Lạy Chúa, cô ta thật thành thạo.

Cô ta quay sang tôi và Jurgy: "Hai cô chưa bay chuyến thuê bao lần nào phải không?"

"Chúng tôi chưa đi lần nào".

"Thôi được rồi".

Cô ta dừng lại, rồi nói tiếp: "Mary Ruth, cô đã đính hôn với một ông trong số này đúng không? Đừng để bụng những điều tôi nói nhé. Tôi chỉ muốn cô thấy được vấn đề chung thôi". Cô ta nói tiếp một cách vui vẻ: "Chuyến đi này sẽ là điều mới mẻ đối với hai cô. Đây là những người chăn nuôi gia súc, có nghĩa là họ sẽ rất bỗ bã. Tôi không có ý nói họ không đàng hoàng, hoặc họ xử sự không đàng hoàng. Song họ thuê bao cả chuyến, và họ sẽ hành động như thể máy bay này là của họ và trong suốt cuộc hành trình, họ sẽ làm những gì họ thích. Việc chúng ta là phải cho họ ăn, cho họ uống và cung cấp đá cho họ. Và đưa túi nôn cho họ khi cần".

Cô ta dừng lại và cười với Janyce: "Tôi nói vậy nghe được chứ?"

"Tuyệt, cô bạn ạ. Ngay cả tớ cũng có ấn tượng sâu sắc"

"Còn phải nói".

Cô ta quay sang phía chúng tôi: "Tôi ghét chuyện đóng vai mẹ già, nhưng tôi phải nói điều này. Mary Ruth, rồi cô sẽ hiểu điều tôi nói. Những người này sẽ tôn trọng cô chừng nào cô biết tôn trọng mình. Cô hiểu tôi muốn nói gì, tôi không cần phải giải thích. Họ có 70 người, đông đấy. Họ muốn xả láng một chút. Suốt năm họ làm việc vất vả, giờ họ cũng muốn vui chơi thoả thích. Tôi không trách họ. Nhưng trên máy bay thì không có chuyện vui chơi đập phá được. Khi đến Paris, họ muốn vui thế nào thì tuỳ. Đây là lúc ta phải thân mật với họ, nhưng đồng thời cũng cẩn thận, đừng tỏ ra quá xô bồ. Tôi nói đúng chứ, Janyce?"

"Đúng quá đi chứ. Và tớ hiểu điều đó từ những kinh nghiệm bản thân".

"Ở đâu vậy?"

"Trong chuyến bay tới Rio"

"Ôi, hay đấy", Kay bảo. "Lúc nào nhớ kể tớ nghe nhé". Cô ta hắng giọng. "Điều cuối cùng. Hôm nay chúng ta phải tỏ ra rất trịnh trọng. Chúng ta sẽ mặc đồng phục trong suốt chuyến bay, cài khuy lên tận cổ. Ngay cả khi làm việc trong khoang nhà bếp". Cô ta nhìn tôi cười: "Sao Carol, tôi làm cô sợ à?"

Chắc hẳn mắt tôi phải trố ra. "Ồ không", tôi đáp.

"Chúng ta cũng chớ coi thường. 70 ông cao to, bỗ bã trong chuyến bay 7 tiếng đồng hồ không phải là tình huống dễ xử trí đâu. Chúng ta may là có Frank Hoffer, một cơ trưởng rất giỏi. Ông ta sẽ không cho phép những chuyện vớ vẩn". Cô ta nhướn mắt nhìn chúng tôi. "Còn hỏi gì nữa không?"

Không hỏi gì thêm.

"Thế được rồi. Ta đi thôi".

Chúng tôi mang túi đồ bay đến phòng chờ bay, ký tên vào sổ theo thứ tự thâm niên: Kay Taylor, Janyce Hinds, Mary Ruth Jurgens và Carol Thompson. Có đến nửa giới chức cao cấp của Hãng Magna đang có mặt ở đó: giám đốc dịch vụ du lịch của khu, nhân viên phòng vận chuyển, ông Barker từ phòng vé, ông Casey của Ban cung ứng, cùng một ông to béo vui nhộn của phòng giao dịch, và tất nhiên là cả một phóng viên nhiếp ảnh. Tôi nghĩ chỉ đến khi nhìn thấy tay phóng viên nhiếp ảnh, tôi mới hiểu đây thực sự là chuyến bay toàn khách sộp. 70 ông kinh doanh gia súc! Lạy Chúa. Nếu họ cùng bỏ tiền ra, họ có thể mua đứt Fort Knox (không biết là cái gì ;-) mà vẫn còn đủ tiền đi xe tứ mã về nhà.

Kay đang đứng nói chuyện với ông của phòng vận chuyển và ông Barker, nhận một tệp giấy tờ của họ và kẹp vào cặp. Tôi biết danh sách hành khách nằm trong số đó. Duer! Kay, có ai là bác sĩ Duer trong số khách đó không? Duer: D-u-e-r; Ray: R-a-y. Tôi không đủ can đảm để hỏi cô ta.

Chúng tôi lên máy bay bằng cầu thang phía đuôi. Janyce và Jurgy ở lại khoang bếp phía sau, còn Kay và tôi đi về vị trí của mình ở tít mãi phía đầu. Máy bay hình như ngày càng dài ra hay sao ấy. Thỉnh thoảng Kay dừng lại xem xét một chiếc ghế, hoặc một bộ phận nào đó trên đầu - cô ta không đừng đưọc, nó như đã trở thành bản năng của cô. Song mọi thứ đều nghiêm chỉnh, các trang thiết bị trông rất mới, thậm chí đến một vết bẩn cũng không có.

Nhiệm vụ của tôi là theo dõi việc đưa đồ ăn, đồ uống, thìa đĩa và các thứ khác lên khoang bếp, sau đó bật đèn chuẩn bị cho hành khách lên máy bay và đóng cửa khoang bếp. Kay cùng làm những việc đó với tôi, và tiếp tục kiểm tra các trang thiết bị dùng trong trường hợp khẩn cấp, nhà vệ sinh, các thứ dùng trong ca-bin và túi đồ dùng hàng ngày cho hành khách. Sau đó cô thử hệ thống loa và điện thoại nội bộ, trong khi ở khoang phía đuôi Janyce cũng làm như vậy. "Mọi việc ổn cả chứ?" Kay hỏi. "Ổn cả", Janyce trả lời. "Tốt rồi". Hai cô gác máy.

Các nhà chăn nuôi gia súc đến lúc 8h30. Qua cửa sổ, tôi thấy ông nào cũng đội mũ phớt Stetson. Nhưng tôi không thấy Ray Duer. 9h kém 20 chuẩn bị cho hành khách lên máy bay. Kay tới cửa lên phía trước, Janyce ở cửa phía đuôi. Jurgy và tôi đứng đợi ở khoang của mình. Các vị khách bắt đầu lên, chân nện thình thịch. Tôi đã gặp mấy người khi Luke đưa họ tới nhà chúng tôi, nhưng chưa thấy cả đoàn thế này bao giờ. Họ đều cao to, lực lưỡng, mặt sạm nâu vì dãi dầu mưa nắng, giọng trầm trầm rụt rè, cử chỉ chậm chạp. Một vài người nhỏ con hơn những người khác, song lại được bù một cách bí ẩn nên trong lại càng vạm vỡ và cường tráng hơn. Một số đi ủng cao gót, số khác đi giày da lộn. Một vài người mặc quần áo vải tuýt, số khác lại mặc complê chỉnh tề cứ như vừa từ văn phòng phố Wall đến. Vẫn không có Ray trong đó.

*

Trong vòng 10 phút, tất cả đã ngồi vào ghế. Tổ lái cũng đã lên máy bay; xe kéo đã móc dây vào máy bay và chúng tôi sẵn sàng cất cánh. Kay đếm số hành khách suốt từ hàng ghế đầu đến hàng ghế cuối và tôi thấy cô ta nói gì đó với Janyce, tay cầm bút chỉ chỉ vào danh sách hành khách đang cầm. Cô ta nhíu mày khi quay lại và tôi hỏi: "Có chuyện gì trục trặc à?"

"Thiếu 6 người".

"Những 6 người?"

"Thế nào họ cũng đến. Chúng ta vẫn còn thời gian".

Tôi thấy Jurgy vẫy tay và tôi vội vã đi xuống chỗ nó.

Nó hỏi nhỏ, vẻ bực bội: "Cậu thấy Luke ở trên ấy không?"

"Không. Chỗ cậu có Duer không?"

"Không"

Chúng tôi nhìn nhau.

Tôi bảo: "Còn thiếu 6 người nữa"

"Ừ, tớ biết. Bọn đốn mạt ấy chắc lại đàn đúm với mấy con gái gọi".

"Jurgy! Sao cậu lai nói thế?"

"Carol, cậu không biết tối qua bọn họ tiệc tùng thế nào đâu. Đúng là một cuộc truy hoan".

Hừ, nghe mà ớn cả người. Tôi trở lại khoang bếp, lòng nặng trĩu và bắt đầu kiểm tra các công tắc - chúng phải ở vị trí cắt khi máy bay cất cánh. Không thấy Kay đâu. Tôi đoán cô ta đang hội ý với cơ trưởng.

Mấy phút sau cô ta từ buồng lái ra và bảo: "Tôi sẽ nói chuyện với ông phụ trách vận chuyển về 6 người chưa tới này. Cô nên hướng dẫn họ sử dụng túi thở ôxy trước đi. Hướng dẫn từ đầu. Tôi sẽ hướng dẫn họ cách sử dụng phao cấp cứu sau".

"Được".

Cô ta xuống cẩu thang máy bay để tìm ông phụ trách vận chuyển, còn tôi bắt đầu bài diễn văn về ôxy. Sau mấy tháng, tôi đã thuộc kỹ và như thường lệ, mọi người lắng nghe theo phép lịch sự nhưng chẳng cần nhớ gì cả. Tuy nhiên lần này tôi chưa kịp nói hết thì một vài ông đã hét toáng lên: "Ồ, nhìn kìa" và thế là tất cả đám đàn ông cao to lừng lững chen chúc nhau bên cửa sổ máy bay, hò hét, la ó và cười vang như sấm. Tôi nghĩ: "Lạy Chúa, có chuyện gì thế không biết", và cũng chạy ra nhìn theo.

Thì ra 6 người kia đã đến. Họ cũng đều đội mũ phớt Stetson, cả bác sĩ Ray Duer yêu dấu của tôi cũng vậy. Tất cả trông cứ như đã nghỉ đêm ở ngoài rãnh. Luke dẫn đầu đám người, tay bê một bình đá to tướng có lẽ đầy rượu táo. Họ đang cãi nhau kịch liệt với ông giám đốc phó phòng dịch vụ hành khách, ông Casey của phòng cung ứng, ông Barker của phòng vé, ông phụ trách phòng vận chuyển và ông phụ trách phòng giao dịch, trong khi tay phóng viên nhiếp ảnh luôn tay bấm máy như điên ghi lại cảnh ấy cho hậu thế. Nguyên nhân của vụ cãi lộn đang lù lù ở đó, miệng rống lên ầm ầm vì nhớ mẹ - một chú bê non khốn khổ, quanh cổ cuốn vòng hoa dâm bụt, và một dây nhung đỏ to mà rõ ràng là lấy từ phòng Vua Mặt Trời ở khách sạn Charleroi chứ không ở đâu khác. Rõ ràng cái đám đội mũ Stetson ấy muốn đưa chú bê lên máy bay, để họ có thể dắt qua phố phường Paris cho dân bản xứ dốt nát ở đó biết thế nào là bê của Mỹ, trong khi người của Hãng Magna không cho phép bất cứ loại bê nào, dù của Mỹ hay không của Mỹ, được đặt chân hay đặt móng vào chiếc Boeing xinh đẹp màu huệ trắng của họ. "Chúng tôi đã trả tiền cho cả chuyến bay khốn kiếp cơ mà", Luke gầm lên, và ông giám đốc phòng dịch vụ hành khách, rõ ràng đã quyết định lành làm gáo, vỡ làm muôi, nên cũng gầm lại: "Ông đâu có trả tiền để cho cả đàn gia súc?". "Chúng tôi muốn chở đếch gì thì chở", Luke lại gầm lên, và ông giám đốc cũng gầm thẳng vào mặt ông ta: "Chở con vật khốn kiếp ấy thì không được. Chính phủ đã có quy định cấm việc đó hẳn hoi".

Kỳ lạ nhất là ở chỗ đó. Tôi cũng đã phát hiện ra điều đó. Không gì có thể chế ngự một người đàn ông Mỹ to lớn, cao 6 fut, nặng 250 pao đang nổi cơn thịnh nộ một cách có hiệu quả hơn việc bảo ông ta Chính phủ có quy định không cho phép làm việc đó. Chúng ta cần lấy làm tự hào là Chính phủ của chúng ta được kính trọng đến như vậy. Ngay đến Luke cũng như chết đứng, nhất là khi ông giám đốc phòng dịch vụ tiếp tục trích dẫn điều khoản quy định ấy: "Mục 10, đoạn 3", ông nói giọng am hiểu. "Không ai đi trên bất cứ máy bay chở khách nào ở Mỹ, hoặc ở các lãnh thổ thuộc quyền sở hữu của Mỹ như đã ghi trong luật của Quốc hội, được phép chuyên chở, ép người khác chuyên chở, hoặc lén lút chuyên chở gia cầm, gia súc gồm lợn, dê, cừu, bò hoặc bất cứ loài vật nào, dù sống hay đã chết, từ những loài vật có danh sách kèm theo duới đây trong mục 7 nhỏ. Nếu vi phạm sẽ bị phạt tiền không vượt quá 25 000 đôla hoặc 5 năm tù giam, hoặc cả hai. Đấy, ông thấy chưa?".

Đại để là như vậy. Tôi sẽ chẳng ngạc nhiên nếu ông ta sáng tác tại chỗ - tôi muốn nói nghe nó chặt chẽ hơn cả luật pháp, nhưng nó làm đám đội mũ Stetson im lặng ngay, như buồm không gió. Ông Casey của phòng cung ứng cũng nói thêm vào cho họ yên lòng là ông sẽ chăm sóc chú bê non như của chính mình (tôi dám cuộc ông sẽ làm như vậy). Ông ở phòng giao dich nói lần sau ông sẽ cố gắng thu xếp để mọi chuyện sẽ khác bây giờ, còn tay thợ ảnh gom cả 6 người và chú bê nhỏ tội nghiệp lại và chụp 16 kiểu ảnh từ các góc độ khác nhau. Cuối cùng 6 vị theo Kay lên máy bay, gặp lại các chiến hữu đang gầm gừ của họ. Máy bay chúng tôi bị chậm, nên vội vã chuẩn bị cất cánh. Kay và tôi nhanh chóng đưa 6 ông về chỗ ngồi. Luke không chịu rời chiếc bình đá to ấy, không chịu bỏ ra để thắt dây an toàn. Tôi đã đoán đúng, thứ đựng trong bình là rượu táo tự làm. "Uống thử xem", ông ta bảo Kay. "Tôi tự làm đấy. Rượu ngon nhất trên đời, thử xem cô bé". Kay đáp: "Bây giờ chưa phải lúc, ông ạ. Chúng tôi còn nhiều việc phải làm". 4 người kia cũng dễ giải quyết, song Ray Duer thì thật là quá thể. Lạy Chúa, anh trông thật thảm hại, thảm hại đến mức tôi nghĩ các quan chức chóp bu của Hãng Magna chắc gì đã nhận ra anh trong lúc cãi vã nhau về chuyện con bê, nếu không, họ đã không để anh lên máy bay, mà đã quản thúc anh vì đã hành động không xứng đáng với một người đàng hoàng, một quan chức của hãng, hoặc gì gì nữa. Anh đã rơi mất cặp kính gọng sừng. Râu ria không cạo. Mặt anh trông như được làm từ nút chai cháy nham nhở. Hai bàn tay đen sì, quần áo đầy bùn đất. Anh kiếm đâu được đôi ủng chăn bò cao gót mà rõ ràng đang tra tấn anh đến chết. Anh quả là hiện thân của vẻ đẹp và nhân phẩm của đấng trượng phu, đặc biệt là với vẻ xanh xao cùng chiếc mũ Stetson quá rộng đến nỗi trùm kín cả mắt.

Anh không thể, hoặc không dám nhìn tôi.

Tôi nói: "Tôi cất mũ của ông được không?"

"Mũ ư?"

Lạy Chúa, anh không cả biết mình đang đội nó nữa. Anh sờ tay thấy mũ trên đầu, lẳng lặng cầm đưa tôi.

"Thưa ông, đèn báo cài dây an toàn, xin ông thắt dây an toàn được không ạ?"

Anh sờ soạng xung quanh và cuối cùng cũng cài được.

"Ông có cần tôi giải thích cách dùng túi thở ôxy không ạ?"

Anh lắc đầu.

"Hành lý của ông thế nào? Ông gửi rồi chứ?"

Anh gật đầu.

Tôi bảo: "Ngay sau khi cất cánh, chúng tôi sẽ phục vụ cà-phê. Khi nào có, tôi xin báo ông".

"Cảm ơn".

Máy bay lăn bánh ra đường băng. Tôi đi quanh cabin, kiểm tra các dây an toàn trong khi Kay đang thông báo trên loa. Sau đó tôi bật đèn chuẩn bị cất cánh, rồi Kay và tôi tới ghế của chiêu đãi viên ở phía trước sát cạnh nhau. Chúng tôi khoác dây giữ vai, cài dây an toàn và đợi máy bay vút lên.

Kay nói với vẻ rầu rĩ: "Tớ rất lo về cái lão sếu vườn ấy, cái lão đang ôm chiếc bình bằng đá ấy. Thế nào lão cũng sinh chuyện rắc rối".

"Đừng lo về ông ấy, Kay ạ"

"Mặt lão trông rất dữ, làm tớ không thích"

"Ông ấy là chồng chưa cưới của Mary Ruth. Nếu ông ta giở quẻ, chúng ta sẽ gọi nó đến".

"Chồng chưa cưới của Mary Ruth!", cô ta thốt lên với vẻ ngạc nhiên. "Chà, lạ thật! À tôi nhớ ra rồi: Molly Duprez có nói, song tôi không nghĩ lại chính là ông ta". Cô ta vặn vẹo người, điều chỉnh lại dây đeo vai. "Dù sao cũng phải để mắt đến ông ta, Carol ạ".

"Yên chí".

"Cả Ray Duer nữa", cô ta nói thêm. "Để ý xem hành khách có biểu hiện khó thở không. Chúng ta sẽ bay ở độ cao 30 000 fut. Nếu thấy mặt mày họ xanh xám, nhớ cho họ thở ôxy ngay".

"Bác sĩ Duer trông đã hơi xanh rồi đấy".

"Tôi có thấy". Cô ta lắc đầu với vẻ không hiểu. "Tôi biết Ray từ khi anh ấy vào làm cho hãng cách đây 3 năm. Chúng tôi đã tiệc tùng, hò hẹn chơi bời, đã nói với nhau nhiều về nghề bay, tôi chưa thấy ai tận tâm với công việc như anh ấy. Thú thật nếu có ai bảo tôi sẽ sống đến ngày Ray Duer bước chân lên máy bay trong tình trạng như hôm nay, chắc tôi đã cười vào mũi họ". Cô ta có vẻ bí mật: "Anh bạn Ray đáng thương. Anh ta là con người tuyệt vời, nhưng rõ tội nghiệp, gần đây anh ta có chuyện không vui".

"Thế à".

"Ừ, cái anh chàng ngốc. Anh ta phải lòng một cô học sinh lớp chiêu đãi viên ở khách sạn Charleroi. Một con chó cái, cậu biết loại đó. Cô ta đã làm anh chàng nhảy cẫng lên, sau đó bỏ rơi anh ta. Theo các nguồn tin, cho đến giờ anh ta vẫn chưa gượng lại được".

"Ôi, khiếp thế".

"Thật đáng xấu hổ. Anh ta là người tử tế thế".

"Cô gái ấy là ai vậy?", tôi hỏi.

"À, một con bò cái nào đó tôi không biết tên. Tôi nghe cô ả là người Massachussetts".

Tiếng động cơ gầm lên và máy bay bắt đầu phóng về phía trước.

*

Chúng tôi phục vụ cà-phê và đồ ăn nhẹ lúc 11h. Ray đang ngủ, chẳng để ý gì đến xung quanh. Dây an toàn vẫn còn cài như vẫn thường xảy ra với những hành khách đang ngủ, và chúng tôi quyết định chẳng nên đánh thức anh dậy làm gì. Sắc mặt anh có vẻ khá hơn. Kay đến xem nhiều lần, không thấy có dấu hiệu gì đáng ngại.

Ở lô ghế đầu, Luke đang chơi bài với 4 người khác, la hét ầm ĩ. Sắc mặt ông hồng hào. Ông đã uống mấy cốc cà-phê, ngốn hết số bánh mì kẹp thịt ( thế cũng tốt), nhưng vẫn không chịu rời chiếc bình rượu táo bằng đá - ông ta ôm khư khư cứ như trong đó đầy hồng ngọc.

Nói chung họ yên lặng hơn tôi tưởng nhiều. Khoảng một nửa số người trong khoang của tôi uống chút rượu với nhau cho vui, những người khác thì ngủ. Janyce cho biết khoang sau cũng vậy, không có chuyện gì. Tôi thấy Jurgy mấy lần và nói hãy yên tâm về Luke, song nó không muốn đến gặp ông. Trông nó hơi buồn và có vẻ lo. Tôi bảo: "Jurgy, chúng tớ sẽ chăm sóc ông ấy cẩn thận".

Một giờ chiều bắt đầu phục vụ ăn trưa. Tôi xếp các khay trong khoang bếp, Kay bưng đến các ghế. Ray vẫn còn ngủ, nhưng Kay quyết định đánh thức anh dậy sau khi cô ta đã bưng cho những người khác. "Phải nhồi thức ăn vào bụng anh ta", cô bảo. "Đó là thứ anh ta cần". Khi trở lại khoang bếp, cô nói với vẻ hài lòng: "Anh ta khoẻ rồi, thức dậy như đứa trẻ, rồi ăn món thịt bò cứ như cả tuần chưa được ăn gì".

Chúng tôi không cần phải vội. Ý của Kay là chỉ cho uống đến mức tối thiểu. Sau khi đã dọn xong các khay, Kay mang đồ ăn tráng miệng lên cho họ, còn tôi phục vụ cà-phê và mọi việc đều ổn, trừ cái đám chơi bài đang ở giai đoạn say máu nhất. Luke uống rượu táo tự làm trong chiếc bình bằng đá, mấy người kia uống bourbon và bọn họ đều nói cười ầm ĩ.

Kay bảo: "Chà, giá tớ có cách nào đó giải tán cái đám đó".

"Có muốn tôi nói với Mary Ruth không?"

"Chưa cần. Đó là phương cách cuối cùng".

Chúng tôi tiếp tục phục vụ Ray Duer. Anh ăn hết món thịt bò cùng với các thứ kèm theo, khoai tây nướng, đậu quả và tai nấm, bánh mì vòng và bơ, và tôi thấy vui trong lòng. Anh ngả người buồn rầu nhìn những đám mây dưới cửa sổ cả hai ngàn fut.

Cả hai chúng tôi đều tỏ ra trịnh trọng.

Kay bảo: "Tôi hy vọng ông ăn ngon miệng".

"Rất ngon".

"Giờ ông có ăn tráng miệng không?"

"Không, cám ơn".

"Thật chứ? Một ít hoa quả và phomat được chứ?"

"Không, cảm ơn".

Đến lượt tôi: "Ông uống cà-phê?"

"Vâng". Anh nhìn tôi một lát rồi nói với Kay: "Cũng hay đấy chứ?"

"Cái gì hay hả ông?", cô ta ngây thơ hỏi.

"Người ngợm như thế này mà lên máy bay".

"Thưa, ông đang kỳ nghỉ. Sao ông không tổ chức liên hoan trước khi đi?"

Anh làu bàu.

Tôi hỏi: "Ông uống cà-phê sữa chứ ạ?"

"Không, cà-phê đen. Kay, trông tôi thế nào?"

Cô ta cười: "Cũng không đến nỗi. Này, chúng tôi có bàn cạo râu điện, ông có thể dùng".

"Cảm ơn. Cô Thompson này"

"Vâng, thưa ông?"

Anh nhăn mặt: "À không, xin lỗi. Không có gì đâu".

Tôi biết anh muốn nói gì với tôi. Không đích xác câu chữ, nhưng chủ đề chung thì biết. Và tất nhiên, anh không thể nói khi Kay ở đó. Tôi không nghĩ anh muốn giải thích tại sao anh đến nông nỗi này. Anh sẽ không đả động gì đến chuyện đó. Tôi nghĩ anh muốn biết tôi có hài lòng hay không. Anh ngồi đó, quần đúng là tụt trễ xuống và Iago (nhân vật nham hiểm trong bi kịch "Othello" của Shakespeare) cũng không thể nghĩ ra cách trả thù nào tế nhị hơn. Tôi thấy sao về chuyện ấy?

Chắc anh sẽ ngạc nhiên. Tôi chỉ thấy buồn và yêu anh hơn, muốn anh uống nhiều cà-phê đen hơn để anh có thể trở lại trạng thái bình thường. Tôi không nỡ nhìn anh áo quần lếch thếch, râu ria lởm chởm và lòng buồn tê tái. Tôi không muốn trả thù, tôi không muốn là kẻ chứng kiến nỗi nhục nhã của anh. Tôi muốn anh lại là anh, chứ không phải là bức biếm hoạ về anh.

Đàn bà thực sự là chìa khoá của vũ trụ. Tôi muốn nói lẽ ra Einstein (nhà bác học nổi tiếng, người tìm ra thuyết tương đối) phải bắt đầu từ đó, không phải từ những tia sáng bị cong đi khi qua gần một hành tinh, mà là bắt đầu từ chiếc rađa có sẵn trong đàn bà mà lại hoàn toàn không phải rađa. Bởi vì nói theo đúng nghĩa đen, giữa tôi và bác sĩ Duer không xảy ra chuyện gì, trừ việc tôi rót cà-phê cho anh và lúc đó anh nói với tôi đúng dăm từ, trong đó hai từ đã là tên tôi: cô Thompson. Vậy mà Kay Taylor lại bắt được tín hiệu đó. Hai tai cô ta như cánh sóng rađa các tín hiệu màu xanh hiện rõ trên màn hình rađa của cô ta và cô ta lập tức bám sát mục tiêu. Tôi không nói có tính chất ví von, đây chính là điều Einstein đã phải nghiên cứu. Bởi vì hai chúng tôi vừa quay về khoang bếp, dọn sạch những thứ khách ăn còn trên khay, cô ta bắt đầu nói chuyện về gia đình, rằng cô ta rất muốn gặp lại bố mẹ, vô cùng nhớ ông bố già nua là người thích làm mô hình tàu để trong chai, v...v.... Nhà cô ta ở bang Rhode Island. Tôi không ngạc nhiên về điều đó. Cô ta là loại con gái má hồng như táo chín, dáng to lớn khoẻ mạnh của người luôn dãi nắng. Và cũng rất tự nhiên, chuyện dẫn đến một câu hỏi tự nhiên nhất đời - giá nó mọc từ một thân cây ra chắc cũng chẳng tự nhiên bằng: "Carol, gia đình cậu ở đâu?"

"Greenwich".

"Greenwich, bang Connecticut à?"

"Không. Greenwich bang Massachussetts".

Cô ta ngạc nhiên: "Tớ không biết còn có Greenwich ở bang Massachussetts"

Sáng nay có thể là chưa có, nhưng bây giờ rõ ràng là đã có. Vậy là cô ta đã xác định được tôi là ai, từ đâu tới: con bò cái ngu ngốc vùng Massachussetts, kẻ đã làm Ray Duer nhảy cẫng lên và rồi bỏ rơi anh ta trong sầu não. Tôi tin là rađa của cô ta cũng bắt được điều đó, vì cô ta nhìn tôi chăm chú và không nói gì thêm. Khi một người hay nói như Kay mà im lặng không nói gì, thì đó là dấu hiệu chắc chắn cô ta đã nghe thấy bạn nói rất rõ.

Sau bữa trưa, không khí trong khoang có vẻ thay đổi. Tôi nhận thấy ở khoang sau cũng vậy, khi tôi tạt xuống với Jurgy một lát. Nó vẫn chưa chịu lên thăm Luke, nên tôi thấy cần qua nói cho nó biết tình hình.

"Ông ấy thế nào?", nó hỏi, chuẩn bị sẵn sàng nghe tin xấu nhất.

"Ông ấy đã ăn trưa".

"Hừm. Họ uống dữ lắm phải không?"

"À, cũng kha khá"

Miệng nó mím chặt: "Ông ấy có giở quẻ không?"

"Đám đánh bài hơi ầm ĩ một tý, thế thôi".

"Ông ấy vẫn uống nhiều rượu táo tự làm à?"

"Cũng vừa thôi".

"Tớ phải giết lão ấy. Mẹ kiếp, sao lão ấy cứ phải tọng vào người cái thứ ấy chứ?"

"Tớ đoán ông ta thích cái vị của nó. TÌnh hình chỗ cậu thế nào?"

"Họ có vẻ chồn chỗ, sốt ruột".

"Chỗ chúng tớ cũng thế. Chuyến đi khá dài".

"Ừ". Nó vẫn cười với giọng khô khốc. "Janyce buồn cười thật. Cô ta bảo tớ phải lượn lờ quanh họ, mồm lẩm bẩm hát. Cô ta bảo họ sẽ im khi thấy một cô gái trẻ bên cạnh".

Khi quay về tôi thấy rõ không khí đã thay đổi. Có đến mấy hội đang chơi bài, cười nói ầm ĩ. Họ gọi tôi mang rượu tới đến năm sáu lần. Tôi có thể hiểu điều đó: những người này đã bù khú với nhau suốt ba ngày trong cái gọi là đại hội, sau đó lại lao vào tiệc tùng suốt đêm hôm qua. Một vài người tỉnh táo sau giấc ngủ sáng, số khác lại sức sau bữa ăn trưa và bây giờ họ bắt đầu quấy phá. Một ông to như cót vựa, đôi mắt màu nâu rất lẳng nói khi gọi tôi mang rượu đến: "Này, sao cô không ngồi uống cùng bọn tôi chút rượu hả?". Tôi đáp: "Tiếc quá, thưa ông, tôi không được phép. Nếu ông cơ trưởng nhìn thấy, tôi sẽ nguy ngay". Mấy ông khác cười, nhưng ông ta thì không. Cặp mắt rất đĩ của ông nhìn dán vào khuy áo trên cùng của tôi - bước một, tôi nghĩ.

"Bậy nào", ông ta bảo. Cô cứ ngồi xuống đây một lát, chúng tôi sẽ bảo vệ cô". Tôi nhìn ông ta cười cười, như thể ông là người hóm hỉnh nhất trên đời, và bước đi. Cái ý của Janyce là lẩm bẩm hát trong khi lượn lờ quanh họ nghe có vẻ hay. Mà có lẽ chúng tôi mang theo cả trống nữa thì tốt hơn.

Không thấy Ray ngồi ở ghế. Tôi đoán anh đi rửa ráy và sửa lại quần áo cho gọn gàng. Họ đang cãi vã nhau ầm ĩ từ lô ghế trước, tiếng Luke oang oang át tiếng người khác. Tôi lưỡng lự, rồi vội đến xem có chuyện gì. 5 người vẫn đang chơi bài, mấy người khác tụ tập xung quanh theo dõi. Không phải họ đập phá bàn ghế, song nghe cứ nhu họ đang làm chuyện đó. Họ đang cười ré lên trước những trò khôi hài của Luke. Ông cũng đang la hét ầm ĩ trong khi vẫn tu rượu từ chiếc bình đá. Rượu chảy tràn cả xuống quần áo.

Ông thấy tôi và gọi ầm lên: "Carol, cô bé. Lại đây nào, lại đây". Ông dùng khuỷ tay huých người ngồi bên cạnh: "Dẹp ra, Barney, để Carol ngồi. Này các bạn. Các bạn đã bao giờ thấy con bé nào dễ thương như Carol không hả. Đã bao giờ thấy cặp mắt nào ngây thơ như thế này chưa? Lại đây Carol. Lại ngồi gần chú Luke của cháu đi nào. Dẹp ra, Barney. Nghe tôi nói không?"

Song tôi không phải trả lời vì Kay từ trong buồng lái bước ra, theo sau là cơ trưởng. Họ tới chỗ mấy người chơi bài. Frank Hoffer len qua mấy người đang đứng và nói với Luke: "Ông Lucas!".

"Ồ, chào cơ trưởng. Thế nào con, làm một choác chứ?". Luke giơ cao chiếc bình.

"Ông Lucas..."

"Bay nhanh chứ con? Đã thấy đất liền chưa?"

"Ông Lucas, tôi không muốn can thiệp vào trò vui của ông. Tôi muốn ông cùng mọi người đều thấy thoải mái trong chuyến đi này. Song tôi muốn đề nghị ông vui lòng giữ trật tự một chút".

"Trật tự ư?", Luke vừa hỏi, vừa đứng dậy. Barney ngồi cạnh vội kéo ông ta xuống.

"Ông hiẻu tôi muốn nói gì, ông Lucas", Frank bảo. Ông quay sang phía mấy người kia, giọng ông lịch sự nhưng rất nghiêm khắc: "Nào các ông, xin các ông trở lại chỗ cho. Đứng lố nhố như thế này rất không an toàn, các ông sẽ gặp rắc rối khi máy bay bay vào chỗ xóc".

"Cơ trưởng này", một ông bắt đầu.

"Xin ông cho biết tên".

"Blythe. Jim Blythe..."

"Ông Blythe, đã có lần máy bay bỗng nhiên thụt hẫng 1000 fut. Một ông bị vỡ sọ trong trường hợp như vậy. Vì vậy xin ông cảm phiền ngồi vào ghế cho, tôi sẽ rất lấy làm biết ơn".

Mấy người tản về ghế của mình.

Luke điên tiết bảo: "Này cơ trưởng".

"Gì thế ông?"

"Sao ông lại ra đây, hạ lệnh cho mọi người thế là thế nào?"

"Ông Lucas, đó là nhiệm vụ của tôi".

"Thế à? Từ khi nào vậy?"

"Từ khi máy bay cất cánh. Tôi chỉ huy máy bay này. Tôi chịu trách nhiệm về sự an toàn của hành khách và phi hành đoàn. Ông còn muốn biết them gì nữa không?"

Luke gườm gườm nhìn Frank.

"Thôi được", Frank nói. "Các ông cứ chơi, nhưng đừng ồn nhé. Chỗ bạn bè xin khuyên ông một điều, ông chớ phật ý. Tôi mà là ông, tôi sẽ đậy nắp bình và tạm cất nó đi".

"Ông cơ trưởng này!"

"Gì vậy?"

"Ông cơ trưởng, tôi muốn bàn với ông thế này. Ông chơi bài thay tôi, tôi sẽ lái máy bay thay ông. Thê nào? Được chứ?"

Frank cười và trở lại buồng lái. Song chắc ông ta đã làm đúng điều Kay yêu cầu: ông đã giải tán đuợc đám đánh bài ồn ào, khôi phục đuợc trật tự chỉ trong vài giây. Bằng cách nào một người có thể làm thế, chắc phải có phép màu.

Trở lại khoang bếp, Kay bảo: "Tớ phải làm thế. Tớ đã cố hết sức thuyết phục cái lão chó đẻ ấy, thế mà lão đâu có nghe. Tớ đành phải gọi Frank".

"Chắc chắn ông ta đã bảo được họ".

"Ồ tất nhiên. Ông ấy tài lắm".

Chuông gọi réo liên hồi. Đèn xanh nhấp nháy liên tục. Tôi bảo Kay: "Lạy Chúa, năm sáu ngưòi đã gọi rượu. Chắc họ cáu lắm".

"Cứ để họ đợi".

"Nhưng họ đã đợi rồi..."

"Thế thì tới trấn an họ".

"Tôi phải nói thế nào?"

"Nói với họ hệ thống điện trục trặc, thế thôi".

Lẽ ra tôi phải nghĩ ra được điều đó. Nó có tác dụng ngay, cứ như phép màu vậy. Tôi đi tới các hàng ghế, làm ra vẻ rất tiếc, nói thầm thì: "Ôi, thưa ông, rất tiếc chưa mang đồ uống cho ông được vì hệ thống điện trong khoang bếp đang bị trục trặc", và những người này tỏ ra thông cảm ngay. Họ hiểu. Ngay cả cái ông có cặp mắt nâu rất lẳng cũng lặng thinh, thôi không nghĩ ngợi xem dưới lần áo của tôi có món gì ngon miệng nữa. "Cháy cầu chì à?", ông ta hỏi và tôi đáp: "Không biết có phải không, nhưng chúng tôi sẽ cố gắng sửa nhanh". Tôi cảm thấy ngượng ngùng vì không quen nói dối kiểu này. Mặt khác tôi lại thấy thích thú - chúng tôi thực sự đang ban ơn cho họ, họ có thể yên tâm nghĩ tới những trò tiêu khiển ở Folies Bergere hoặc bất cứ chỗ nào khi họ vừa tới Paris; chắc họ sẽ tận hưởng được nhiều hơn trong kỳ nghỉ này.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Xin ủng hộ:  
      
     

Có bài mới 28.04.2017, 14:02
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 27117
Được thanks: 4610 lần
Điểm: 9.43
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tiểu thuyết] Năm cô gái trường bay - Bernard Glemer - Điểm: 10
Chương 22


Rồi, trên đường quay về khoang bếp, tôi gặp Ray Duer đang lững thững đi tới. Cuối cùng, sau hàng tháng trời, chúng tôi lại giáp mặt nhau. Anh đã cạo râu và rửa ráy, trông anh lại như ngày nào, trừ đôi ủng chăn bò của anh - nhìn chung vẫn là Ray Duer mà tôi đã biết trong vài giờ ngắn ngủi, đã yêu, đã thổn thức vì tình, vẫn là người tôi đã dâng trọn trái tim của mình, chỉ để được ném trả thẳng vào mặt.

Anh sững lại.

Tôi sững lại và mọi bộ phận trong người tôi cũng như ngừng hoạt động.

Anh chào điềm đạm: "Chào Carol".

"Chào ông".

Khi không mang cặp kính gọng sừng, mắt anh đẹp vô cùng, nhưng cũng lạnh lùng đầy vẻ dò xét, tựa như anh tò mò nhìn tôi chỉ vì mục đích nghiên cứu khoa học, tựa như muốn biết các bộ phận trong người tôi hoạt động ra sao. Anh nói: "Anh muốn nói chuyện với em. Em ngồi đây một lát thôi, được không?"

"Thưa ông rất tiếc, chúng tôi đang gặp trục trặc trong hệ thống điện ở khoang..."

Khi nói điều đó, tôi nghèn nghẹn ở cổ và cảm thấy ngượng với mình. Sao tôi cứ phải cự tuyệt anh mãi - như kiểu một cô gái hư hỏng? Tôi vẫn chưa thành người, vẫn chưa lớn lên được lấy vài phân trong suốt hàng ngàn năm cô đơn ư?

Anh cười hồ hởi, cứ như trên cơ sở các dữ liệu khoa học thu thập được cho thấy nhận định của anh là chính xác thì lại là sự né tránh, lại bắt đầu với câu thật dễ thương: "Tiếc quá thưa ông" như trước. Anh bảo: "Chẳng có gì đâu. Anh chỉ muốn nói với em là tối qua anh đã quyết định không đi chuyến này". Anh lại cười: "Song Luke Lucas lại nghĩ khác. Anh không trách ông ấy, chung quy là tại anh cả, thế thôi".

"Ray..."

"Đừng lo. Anh sẽ không làm phiền em nữa".

"Em rất mừng..."

Anh nói cộc lốc: "Anh nghĩ em sẽ thấy mừng" và bắt đầu lách người qua chỗ tôi.

Tôi nói, cố giữ giọng thật nhỏ: "Sao anh không để em nói nốt? Em mừng là Luke đã nghĩ khác. Em mừng vì anh có mặt ở đây. Khi em nói mừng là có ý như vậy".

Anh quay lại, có vẻ tức giận như thể tôi đã giễu cợt anh, song anh không thể không thấy sự thật. Chúng tôi nhìn nhau, thế giới như ngừng hoạt động. Anh nói: "Carol!" nhưng tôi phải tạm rời anh. Tôi đã nói rõ lòng tôi, tôi không thể nói gì thêm trước mặt mọi người mà lại không oà lên khóc một cách lộ liễu được. Vả lại cũng cần để anh giữ kín trong một giờ tới, khi máy bay đang bay với tốc độ của âm thanh về phía bờ biển nước Pháp. Ở đó, chúng tôi chỉ có hai người với nhau và có thể nói với nhau hàng giờ mà không sợ bị cái đám chăn nuôi bò kia dỏng tai lên nghe lỏm.

Kay vẫn đang chuẩn bị đồ uống. Cô ta không nhìn tôi, không nhận thấy giọng nói của tôi đã thay đổi - giá là Alma chắc đã nhận thấy ngay điều đó. Và đột nhiên khi đứng đó, nhìn cô ta mải mê làm việc, hình ảnh cô bạn Donna của tôi lại hiện lên trong đầu, và ai đó như Thompson mà cũng không chắc là Thompson bảo: "Lạy Chúa, rất mừng cô ta không có mặt ở đây". Thật đúng là bội bạc. Đã bao lần trên các chuyến bay tới New Orleans, Washington và New York tôi đã nghĩ: Ôi, giá như có Donna cùng đi trên chuyến bay này, hai đứa sẽ tha hồ mà chạy nhảy. Ôi Donna, cô bạn tốt. Một cô gái dễ thương là thế. Xinh đẹp, vui nhộn và hồn nhiên là vậy. Tôi nhớ nó như nhớ cánh tay trái của mình.

Song không phải hôm nay, không phải trên chuyến bay này. Tôi sẽ không thể chịu được cảnh nó õng ẹo lượn lờ quanh đám 70 người to khoẻ vạm vỡ này, cho dù một phút cũng không chịu đuợc. Tôi tự bảo: "Dẹp đi, Thompson. Rồi cô đến nhà thờ mà xưng tội". Song quả thật đây là lần đầu tiên tôi không hề thấy nhớ nó, không hề thích thấy có nó ở đây, lúc này, vui vẻ, tươi trẻ, hồn nhiên và nghịch ngợm. Đây là lúc cần có Kay Taylor và Janyce Hinds người cùng một mẫu; và Mary Ruth Jurgens, người mà giá có Nữ hoàng Anh đi trên chuyến bay cũng chẳng buồn để mắt nhìn.

"Cậu đang mơ màng cái quái gì thế, Carol?", Kay hỏi. Đừng đứng đực ra đấy, mang đồ uống đến cho khách đi chứ".

"Ôi, đầu óc tớ để đâu ấy".

"Nào, tỉnh lại đi. Bác sĩ Duer ra sao rồi?"

"Ông ta vẫn khỏe".

"Hỏi xem ông ta có uống cà-phê không. Có lẽ ông ta cần đấy. Và đừng có lề mề. 3h rồi, chúng ta sắp phải phục vụ đồ ăn nhẹ đấy".

Tôi bưng hai khay ra khỏi khoang bếp. Lô ghế đầu lại ầm ĩ, giọng Luke lại càng át hết cả người khác và tôi tự hỏi không biết đã đến lúc Jurgy nên đến gặp ông ta và dịu dàng, dễ thương nói với ông yên lặng một chút chưa. Tôi đoán nó cảm thấy không nên can thiệp khi ông đang vui vẻ với đám bạn bè, làm thế có thể ông bị mất mặt. Song một cuộc viếng thăm xã giao đâu có sao. Ông ta quả thật quá to mồm.

Tôi không dám đến gần Ray trước khi đem đồ uống cho tất cả mọi người. Tôi không tự kìm mình được, người tôi lại run lên. Anh chăm chú nhìn khi tôi đến gần.

Tôi hỏi: "Ông có dùng cà-phê không ạ?"

Anh không trả lời. Anh nhìn tôi ngờ vực. Tôi không trách anh. Đó đâu phải là câu để hỏi người mà bạn yêu.

Tôi nói: "Xin ông hiểu cho. Cô Duprez chỉ thị chúng tôi phải hết sức trịnh trọng trong suốt chuyến bay này. Tôi không được phép cởi bỏ áo khoác nữa. Ông có dùng cà-phê không, thưa ông?"

"Đừng gọi tôi là ông".

"Đâu được, thưa ông".

"Hãy trả lời thẳng câu anh hỏi nhé. Em có vui lòng ăn chiều với anh khi tới Paris không?"

"Em rất vui lòng, thật đấy. Nhưng em nghĩ đến Paris chắc là quá muộn. Giờ của Pháp khác giờ bên ta, anh nhớ chứ?"

Mắt anh vẫn có vẻ canh chừng: "Vậy thì bữa tối vậy".

"Vâng", tôi đáp. "Không gì làm em sung sướng hơn".

"Ở nhà hàng Maxim", anh bảo, và trước khi tôi kịp trả lời anh, trong khoang có chuyện lộn xộn.

*

Vẫn lại là Luke. Ông ta thật sự phát khùng. Đôi mắt màu xanh nhạt của ông như lồi ra sau cặp kính gọng vàng. Mồ hôi chảy ròng ròng trên mặt. Ông ta luôn mồm hò hét, chửi rủa, một tay vẫn ôm khư khư bình rượu, tay kia lôi xềnh xệch một người. Đó là Barney ngồi chơi bài ngay cạnh Luke, một người to lớn hiền lành mà tôi ít để ý đến. Luke túm cổ áo ông ta mà lôi, nên con quỷ đáng thương đó chẳng làm gì được. Những ngón tay xương xẩu của Luke chẹt ngang cổ họng làm ông ta ngạt thở. Rõ ràng Barney hoàn toàn không thể gỡ ra được.

Mọi người nhốn nháo. Luke gầm lên, còn Barney thở dốc, chân tay chới với ở phía sau. Tôi hét to: "Xin các công dừng lại và ngồi xuống đi", rồi nói vội với Ray: "Anh cứ ở yên đây". Sau đó tôi chạy lại chỗ Luke.

Tôi bảo: "Luke, dừng lại".

Ông ta đã hoá rồ. Ông hình như không nhìn thấy tôi.

Tôi cố kéo tay ông khỏi cổ họng Barney.

Giọng ông khản đặc: "Tránh ra, cô bé. Cái thằng chó đẻ hôi thối này dám nói xấu Mary Ruth của tôi. Hắn sẽ phải xin lỗi cô ấy, phải liếm giày của cô ấy, nếu không tôi sẽ giết hắn".

Thật đáng sợ, vì người ta chỉ ăn nói kiểu này trong các phim vô tuyến thời xưa, chứ trong đời thực thì hầu như không có. Thế nhưng đây đang là đời thực, trên chiếc máy bay phản lực chở khách bay với tốc độ hơn sáu trăm dặm một giờ, ở độ cao cách mặt đất 30 000 fut. Có Chúa mới biết cái anh chàng Barney này là ai, ở đâu đến, và rất có thể anh ta đã nói xấu Mary Ruth - ở cái lô ghế đầu này có thể xảy ra bất cứ chuyện gì, mà đám đàn ông đã mụ người đi vì rượu. Chỉ có điều, anh ta dễ dàng chết vì chuyện đó.

Tôi bắt đầu hét ầm lên vì chuyện khủng khiếp quá, nhưng ông ta không nghe, không thấy tôi, vẫn cứ xăm xăm bước tới tựa như không có tôi, mồm gầm gừ, đầu lắc lắc cho mồ hôi khỏi vào mắt, tay vung bình rượu làm gậy mở đường. Rồi tôi nhận ra Ray đã ở ngay sau tôi và tôi vội hét: "Ray! đừng. Đừng dính vào chuyện này". Nhưng cũng ngay lúc ấy tôi thấy Frank Hoffer đang chạy lại phía chúng tôi, theo sau là Kay Taylor. Chắc nghe thấy tiếng huyên náo, cô ta lao ngay vào buồng lái. Lạy Chúa, cô ta đã không để phí một giây.

Frank quát: Lucas! Này Lucas!".

Luke đứng phắt lại, mắt nheo nheo. Ông ta kéo mạnh Barney, đẩy anh ta xa khỏi tầm tay của Frank. Lúc này ông ta càng phát khùng lên, gân guốc nổi cuồn cuộn.

"Có chuyện gì thế hả?", Frank hỏi. Ông ta sấn vào, đưa mắt nhìn Barney một lát: "Lạy Chúa, ông định giết ông ta hay sao? Buông ông ta ra, đồ ngốc".

"Ông cơ trưởng, về chỗ lái máy bay đi".

Frank gọi: "Ray", và Ray len lên phía trước tôi.

Luke từ từ quay đầu sang hai phía mắt nhìn hai người. Trông ông ta như một con khủng long già, to cao lừng lững, đang nổi cơn điên, rất nguy hiểm, mắt dán vào hai người, biết rằng hai kẻ thù bé nhỏ này đang áp sát ông ta. Ông ta bảo: "Hai người tránh ra. Đừng làm chuyện ngu ngốc nữa."

Frank bảo: "Buông anh ta ra".

"Mẹ kiếp, đừng hòng", Luke nói và lại dúi mạnh Barney xuống sàn.

Frank hét: Ray, túm tay kia của ông ta" và cùng một lúc họ nhào vào. Họ túm chặt nhưng không giữ nổi ông ta. Ông ta hình như thừa sức đẩy họ bật ra. Frank rối rít gọi: "Mấy ông vào giúp với nào", và một vài người dùng dằng đứng dậy. Họ bảo: "Thôi nào, Luke, dẹp đi ông bạn", song ông ta trợn mắt lên với họ, mồm sùi bọt mép.

"Hãy vì Chúa, túm tay ông ta lại", Frank hét. "Giật cái bình khỏi tay ông ta".

Hai người khác cố túm tay ông ta.

"Chiếc bình, lấy chiếc bình", Frank nói với họ. "Lấy nó đi. Ông ta sắp vung nó lên đấy".

Bốn người cố sức ghìm ông ta xuống. Ông ta khoẻ như vâm. Cặp kính gọng vàng trễ xuống tận mũi, mồ hôi chảy ròng ròng, nhãi nhớt túa ra ở miệng, ông ta vẫn túm chặt cổ áo Barney, người gồng lên cưỡng lại 4 người. Ông ta khuỵu xuống độ một insơ, rồi một insơ nữa, rồi đầu gối dần khuỵu xuống. Đột nhiên ông ta buông Barney ra, dùng khuỷu tay huých túi bụi vào 4 người.

"Giật lấy cái bình", Frank hét toáng lên.

Họ cố túm chặt, song hình như ông ta càng khoẻ hơn, càng gân guốc và say máu hơn. Ông ta hít mạnh rồi vùng thoát khỏi cả 4 người. Ông ta bảo: "Lạy Chúa, đây là cái các ông không khi nào có thể lấy được của tôi". Hai cánh tay gân guốc của ông giơ cao chiếc bình trên đầu, và ông dùng hết sức ném mạnh nó vào cửa sổ gần nhất.

Trong 4 ngày học về máy bay phản lực, chúng tôi cũng biết đôi chút về những cửa sổ này. Không phải vì mỗi tuần chúng tôi có nhiệm vụ phải lau chúng một lần, hoặc có thể tháo rời nó ra chẳng hạn, song đó là một mục trong các bài học của chúng tôi. Tất cả các cửa sổ dọc hai bên sườn máy bay đều có ba lớp kính đã được gia cố thật chắc: tấm kính ngoài, lượt kính giữa và lượt kính trong cùng gắn thật kín cho không khí không thể lọt nổi vào, được vít lại bằng các chốt lò xo, các vít, và có Trời biết là bằng gì nữa. Hình như trên đời không có thứ gì có thể đập vỡ được cả ba lớp kính ấy, thế mà cái ông Luke say rượu to như con khủng long già ấy hầu như lại làm được. Chiếc bình rượu bằng đá đập vỡ tan lớp kính trong, lớp kính giữa và làm rạn lớp kính ngoài cùng. Và rồi có lẽ vì nó đập vào mấy cái chốt lò xo ở bên trong, nó bật trở lại, rơi xuống ghế, rồi lăn xuống sàn.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 28.04.2017, 14:03
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 27117
Được thanks: 4610 lần
Điểm: 9.43
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Tiểu thuyết] Năm cô gái trường bay - Bernard Glemer - Điểm: 10
Chương 23


Chỉ nghe tiếng rít rất mạnh như tiếng bom nổ xé nát máy bay. Gió xộc vào, nghe như tiếng sấm rền giận dữ. Toàn bộ các ca-bin tối mò đầy bụi. Các mảnh vỡ bay tứ tung, giấy báo bay vù vù theo gió. Tôi thấy Frank chạy về buồng lái, rúm người lại trong bóng tối đầy bụi đất. Tai tôi ù đặc, các bộ phận trong ngực như đổ vỡ.

Tôi nghĩ trong khoảnh khắc đó chỉ có Arnie Garrison, Peg Webley, Janet Pierce và Ann Shearer mới đang thực sự tồn tại bởi vì sau giây phút sững sờ, tôi mất hết mọi cảm giác, tôi hầu như không còn là người, mà trở thành một loại máy - các bánh xe và các tay đòn trong tôi lập tức hoạt động. Bởi cái tiếng rít chát chúa ấy là do không khí trong máy bay chúng tôi phụt ra ngoài khoảng không. Cái tiếng như sấm rền ấy cũng chính là tiếng không khí từ trong máy bay phụt ra; cái không khí đã giữ ấm cho chúng tôi, đã giữ cho tim làm việc bình thường, cung cấp năng lượng cho bộ não và giúp chúng tôi nghe thấy tiếng của nhau. Tất cả đều đã mất. Áp lực trong máy bay hầu như ngang áp lực của khoảng không gian tối đen bên ngoài, loãng và băng giá, không giúp ích gì cho sự sống. Garrison và hãng đã cầm chắc cho tôi biết cách xử trí trong tình huống này. Nhanh chóng làm giảm áp lực trong máy bay. Lạy Chúa, tôi biết rõ cách làm giảm nhanh áp lực như biết rõ bảng chữ cái vậy.

Trên các giá ở hàng ghế thứ bảy giữa khoang trước và hàng ghế thứ 23 ở cuối khoang sau có các chai ôxy rời - nhưng khoang sau là của Janyce và Jurgy, nếu họ vẫn còn đứng vững được. Tôi tới ghế số 7 lôi chai ôxy ra, khoác dây qua vai, điều chỉnh mặt nạ thở, xoay chiếc nút vàng ngược chiều kim đồng hồ để ôxy thoát ra - ngược chiều kim đồng hồ, ngốc ạ, giống như mở nắp thùng rượu ấy. Tôi kiểm tra dòng phun của khí ôxy bằng cách bóp cái ống ghen dưới đáy túi thở, chiếc túi bắt đầu căng lên, thế là ổn. Cạnh tôi, Kay cũng đang làm như vậy. Tôi không ngạc nhiên khi thấy cô ta ở đây - cô ta buộc phải ở đây cũng giống như tôi. Tôi cũng biết các việc đang diễn ra trong buồng lái. Máy bay đang giảm độ cao rất nhanh, không phải cắm mũi xuống như tàu ngầm khi lặn gấp, mà là từ từ trên một khoảng đường dài. Trong vòng một phút, máy bay có thể từ độ cao 30 000 fut xuống tới độ cao 5000 fut, và ở độ cao này, chúng tôi có thể sống nếu như chúng tôi vẫn còn tỉnh táo qua cái phút đầu tiên không có không khí và áp lực trong ngoài bằng nhau ấy.

Qua màn bụi mờ hiện rõ đèn hiệu: "Không hút thuốc lá, cài dây an toàn". Các cửa ngăn chứa đồ thở ôxy trên đầu các ghế đã tự động mở ra, từ mỗi cửa rơi ra 4 mặt nạ thở ôxy treo lủng lẳng trước mặt đám người đang kinh hoảng. Kay vẫy tay ra hiệu cho tôi tới phía cuối khoang, sau đó cô đi lên phía trước. Ông Barney tội nghiệp đang từ sàn cố bò lên ghế; cô lấy tay xốc nách lôi ông ta dậy và dúi mặt nạ thở ôxy vào tay ông. Luke vẫn trong cơn bàng hoàng, cô cũng dúi vào tay ông ta bộ đồ thở. Ray Duer đang đứng đó nhìn chúng tôi, giống hệt một nhà khoa học ngốc nghếch đang theo dõi một thí nghiệm lý thú. Và đội ơn Chúa, cô không phí thời gian vào chuyện xã giao lịch thiệp; cô để tay lên ngực anh và ấn xuống ghế rồi chụp luôn chiếc mặt nạ ôxy lên mặt anh. Sau đó, cô tới lô ghế đầu.

Hầu như không nghe ai nói, không thấy ai động đậy. Trong khoang lạnh buốt như băng, các cửa sổ mờ đi vì đọng hơi nước. Một vài người ngồi rũ ra trên ghế, tôi vội vàng chạy đến từng ghế, nhấc đầu họ lên, giữ mặt nạ đúng vị trí mũi và mồm cho họ thở đến khi họ có thể tự giữ nó được. Mắt họ dõi theo từng hành động của tôi, họ đều trong tình trạng bị choáng, không hiểu chuyện gì đã xảy ra, không đoán được điều sắp xảy ra. Tôi có thể nhìn thấy Janyce và Jurgy ở khoang sau, với bộ đồng phục và mặt nạ với chai ôxy, trông họ càng tuyệt vời, cứ như hai cô gái đẹp nghiêng nước nghiêng thành từ Sao Hoả đến. Họ cũng đang làm những gì chúng tôi làm, đi dọc các hàng ghế, cúi xuống giúp một người nào đó, để ông ta có thể hít thở sự sống làm hồi tỉnh bộ óc, sau đó họ lại chuyển qua người khác. Lạy Chúa, họ làm rất khéo, rất tuyệt vời với vẻ đầy tự tin, cứ như họ đã quen phân phát ôxy từ thuở mới lọt lòng.

*

Mới có một phút mà cảm thấy dài hơn cả một năm. Đây là một phút dài nhất, lạnh nhất và đen tối nhất mà tôi đã trải qua trong cả cuộc đời. Nhưng cần phải sống qua cái phút này. Ông cơ trưởng nói trên loa, giọng rin rít và nghiêm trang: "Thưa các vị, tôi nghĩ chúng ta đã qua được phút hiểm nghèo". Rồi vài giây sau, ông nói: "Mời hai cô lớn tới gặp tôi". Chúng tôi có thể nghe thấy tiếng ông, thật là kỳ diệu. Đã có không khí để truyền âm thanh, để thở, để làm cơ thể chúng tôi đỡ lạnh. Tôi tháo mặt nạ, khoá chốt chai ôxy và đặt nó lại vị trí trên giá ở hàng ghế số 7. Tôi bỗng nhận thấy nó nặng đến cả tấn, bỏ nó ra, người tôi bỗng nhẹ như lông hồng. Janyce đi ngang qua chỗ tôi trên đường vào buồng lái, cô ta vỗ vào sườn tôi và bảo: "Thế nào, cô bạn?". Tôi đáp: "Bình thường, còn cô thế nào?". Cô ta đáp: "Không đến nỗi, không đến nỗi nào".

Những người xung quanh bắt đầu thở mạnh và duỗi chân tay, một số vẫn còn đeo mặt nạ thở ôxy, vài người cười sợ sệt, nói thầm thì với nhau. Một vài người ngỏ lời cảm ơn tôi. Một ông dúi vào tay tôi tờ 20 đôla và tôi hết sức nhã nhặn từ chối. Tôi đưa mắt quan sát rất nhanh: tất cả mọi người hình như đều còn sống và khá mạnh khoẻ. Người có cặp mắt nâu rất lẳng xem ra hồi phục nhanh tới mức kỷ lục - tôi đoán là ôxy đã kích thích các tuyến nội tiết của ông ta hay sao đó. Ông ta dán mắt nhìn vào ngực tôi, cười nhăn nhở và nói: "Cô em này, ta uống chút gì trong khi chờ đợi chứ?. Chờ đợi gì mới được chứ, tôi nghĩ bụng. Ông ta có vẻ như sắp vồ lấy tôi. Tôi đáp: Tôi còn phải gặp cơ trưởng, thưa ông", rồi đi luôn.

Hai người đàn ông đang dùng chiếc bàn đánh bài bịt cửa sổ bị vỡ. Tôi nói: "Cám ơn các ông đã giúp đỡ" và họ nhìn tôi cười. Một ông bảo: "Cần phải làm chứ cô. Gió lọt qua hơi mạnh".

Và cuối cùng, tôi thấy Ray.

Anh ngồi, còn tôi đứng cạnh và chúng tôi nhìn nhau. Mặt anh phờ phạc. Anh dịu dàng hỏi: Em không sao chứ?"

"Vâng. Còn anh?"

"Bình thường"

Anh đưa mắt nhìn ra chỗ khác. Tôi không nói nên lời, tôi không biết phải nói gì. Tình cảm dâng trào trong tôi và tôi biết anh cũn đang ở trong tâm trạng như thế. Chúng tôi vừa cùng nhau trải qua cơn hoạn nạn.

Anh bảo: "Đúng lúc mình đang bàn kế hoạch tối nay thì bị dừng lại. Em nhận lời đi ăn tối với anh chứ?"

"Vâng, Ray ạ".

"Nhà hàng Maxim?"

"Vâng"

"Anh nghĩ chúng ta sẽ uống sâmbanh, được chứ?"

"Thế thì tuyệt vời".

Tôi đứng nhìn anh một lúc, không nói gì bởi vì bây giờ không cần phải nói nữa. Sau đó tôi qua hàng ghế khác, nơi Luke đang ngồi. Hai bàn tay xương xẩu của ông để hờ trên mắt.

Tôi không kịp nói chuyện với ông, vì Jurgy đang đi tới. Mặt nó tái đi vì tức giận. Tôi nói: "Chào Jurgy" nhưng nó không hé môi trả lời.

Nó nhìn Luke trừng trừng. Ông ta biết có Jurgy ở đó, song vẫn giữ tay che mắt như thể không dám nhìn cảnh xung quanh. Nó bảo: "Luke, tôi vừa nghe mấy người nói ông đã đập vỡ cửa sổ nên mới có sự cố vừa rồi".

"Đúng vậy, Mary Ruth", ông từ từ bỏ tay xuống.

"Thật vậy à?"

"Thật, Mary Ruth ạ".

Nó tháo chiếc nhẫn có tảng đá eo biển Gibralta ra khỏi ngón tay giữa của bàn tay trái và đưa cho ông ta: "Này, cầm lấy".

Ông ta đờ đẫn nhìn nó, giọng nài nỉ: "Mary Ruth, tình yêu của tôi..."

"Tôi không muốn cãi lộn. Cầm lấy".

Giọng ông thật tội nghiệp: "Nhưng Mary Ruth, tình yêu của tôi. Ai cũng có thể phạm sai lầm nhỏ".

"Sai lầm nhỏ!", nó điên tiết hét lên. "Đồ sâu rượu ngu ngốc! Suýt nữa ông đã giết chết tất cả mọi người trên máy bay này".

Nước mắt chảy dài trên má ông.

Nó bảo: "Tôi hy vọng họ tống ông vào tù ít ra là 5 năm. Ông đáng được như thế. Đấy còn là nhẹ".

"Em nói đúng, Mary Ruth ạ. Tôi biết điều đó".

Nó khóc và bảo: "Luke Lucas, hãy nghe tôi nói. Tôi thề có trời chứng giám, nếu tôi còn thấy ông nốc rượu, tôi sẽ lột da ông. Tôi thề sẽ làm thế, ông nghe rõ chưa?"

Tôi cảm thấy thương hại ông già tội nghiệp. Nếu Jurgy đã nói sẽ lột da ông, nó sẽ chẳng ngại cầm dao đâu. Ông ta đã chọn cho mình thứ đó ở Mary Ruth Jurgens.

Tôi trở lại khoang bếp. Kay đang dọn sạch các mảnh vỡ. Cô ta bảo: "À, cậu đây rồi. Chuẩn bị đi cô bạn, chúng ta đổi hướng bay tới Shannon".

Tôi hỏi: "Chúng ta làm sao?"

"Chúng ta đổi hướng bay tới Shannon để sửa chữa và kiểm tra lại máy bay. Chúng ta sẽ nghỉ đêm ở đó".

Tôi thở dài. Đời là thế. Tôi chỉ mới bắt đầu quen với các trò trớ trêu của nó. Bạn chuẩn bị sẵn sàng cho câu chuyện tình lãng mạn vào mùa xuân ở Paris để rồi thấy mình lưu lạc ở Shannon. Bạn hẹn hò ăn tối có sâmbanh ở nhà hàng Maxim, để rồi cuối cùng ngồi nhai bánh mì kẹp thịt ở một phòng chờ lộng gió nào đó.

Nhưng cũng đâu có sao? Ở Shannon chắc cũng phải có khách sạn, phải có chỗ dành cho chuyện riêng tư chứ. Ray và tôi vẫn có thể có chỗ ngồi riêng với nhau.

Kay bảo: "Này, cậu định đứng đó mà mơ mộng suốt đêm sao? Hai mươi phút nữa máy bay hạ cánh, và chúng ta phải thu dọn cabin cho gọn gàng".

"Tất nhiên rồi", tôi đáp. Và chúng tôi xắn tay áo lao vào việc.

HẾT


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 24 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Thành viên đang xem chuyên mục này: A Thụy và 249 khách


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Xuyên không] Ác Nhân Thành Đôi - Quỷ Quỷ Mộng Du

1 ... 77, 78, 79

[Cổ đại] Chỉ yêu nương tử tuyệt sắc - Mẹ Của Hiên Thiếu Gia

1 ... 51, 52, 53

3 • [Hiện đại - Trọng sinh] Sống lại có anh bên em là đủ - Liễu Như An

1 ... 35, 36, 37

4 • [Hiện đại] Hôn nhân bất ngờ Đoạt được cô vợ nghịch ngợm - Luật Nhi

1 ... 86, 87, 88

5 • [Xuyên không - Thú nhân] Kiếm sống nơi hoang dã - Tiêu Dương

1 ... 36, 37, 38

6 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 165, 166, 167

7 • [Hiện đại] Ông xã thần bí không thấy mặt - Cát Tường Dạ

1 ... 122, 123, 124

8 • [Hiện đại] Nhà tù nóng bỏng Tổng giám đốc tha cho tôi đi - Ái Tình Hoa Viên

1 ... 93, 94, 95

9 • [Xuyên không] Đích nữ nhị tiểu thư - Tình Đa Đa

1 ... 44, 45, 46

10 • List truyện ngôn tình hoàn + Ebook [Update 1/12]

1 ... 52, 53, 54

11 • [Hiện đại] Chọc vào hào môn Cha đừng động vào mẹ con - Cận Niên

1 ... 78, 79, 80

12 • [Hiện đại] Định mệnh anh và em - Quai Quai Băng

1 ... 132, 133, 134

13 • [Xuyên không] Tà vương phúc hắc sủng cuồng phi - Nạp Lan Dạ Anh

1 ... 38, 39, 40

[Cổ đại - Trọng sinh] Sủng thê làm hoàng hậu - Mạt Trà Khúc Kỳ

1 ... 53, 54, 55

15 • [Xuyên không] Cuộc sống điền viên của Tình Nhi - Ngàn Năm Thư Nhất Đồng

1 ... 180, 181, 182

16 • [Hiện đại - Trùng sinh - Điền văn] Tam cô nương nhà nông - Ma Lạt Hương Chanh

1 ... 47, 48, 49

17 • [Hiện đại] Nếu em nở rộ gió mát sẽ đến - Thịnh Thế Ái

1 ... 14, 15, 16

18 • [Xuyên không - Trùng sinh] Cách phát tài của thương phụ - Tiêu Tùy Duyên

1 ... 25, 26, 27

List truyện Xuyên không + Chủng điền văn + Trùng sinh hoàn (Update ngày 25/11)

1 ... 65, 66, 67

20 • [Hiện đại] Khinh Ngữ - Cửu Lộ Phi Hương

1 ... 22, 23, 24


Thành viên nổi bật 
Thư Niệm
Thư Niệm
Hạ Quân Hạc
Hạ Quân Hạc
Sunlia
Sunlia

Shop - Đấu giá: Hoa Lan Nhỏ vừa đặt giá 350 điểm để mua Lồng đèn vàng
Shop - Đấu giá: tuantrinh vừa đặt giá 210 điểm để mua Giấy chứng nhận kết hôn
Ma Nhỏ: Lâu lâu mới lên chưa gì đã bị bom
Ma Nhỏ: Í í  .. mới đi có cái mà không biết mình bị bomb
LogOut Bomb: Windwanderer -> Nhok Alone ( Bin)
Lý do: cẩn thận lựu đạn
Nhok Alone ( Bin): Xin chào ...
Thư Niệm: Bất an
Ma Nhỏ: ....
Shin-sama: hồi hộp
Shop - Đấu giá: phinny vừa đặt giá 204 điểm để mua Giấy chứng nhận kết hôn
Thư Niệm: Phan là thành viên mới nên ko dẫn link đc :)) có gì phan pm nhờ mod
__Phan__: chỉ là link bài viết mà ta @@
__Phan__: là sao @@
__Phan__: Xin lỗi bạn, nội dung bài này chứa thông tin (hoặc chứa đường link) vi phạm quy định. Tài khoản của bạn có thể bị khoá vĩnh viễn nếu bạn vẫn cố tình phát tán tràn lan (spam) nội dung này.

Nội dung spam được tìm thấy trong bài là xxx
Thư Niệm: Quà noel
Đào Sindy: Quà gì thế :D2
__Phan__: sao bỏ link vào thì không đăng tin nhắn được nhỉ @@
__Phan__: Mọi người ủng hộ truyện mình với nhé.
Truyện Thuần Việt: Anh có thích em không?
Cám ơn mn nhiều <3
__Phan__: ư ư
Thư Niệm: Nhận được quà rồi Q nhá :bird: còn ống tiêu bạch ngọc của tuôi đâu :cry2:
Đường Thất Công Tử: 10k đứt ruột :lol:
Cô Quân: Mời you tới box Thú cưng - Cây cảnh
Cùng xem Điểm tin thú cưng, động vật được cập nhật thường xuyên.
Chơi game kiếm điểm
Game giải đố có thưởng
Hay các Mẹo vặt làm vườn cho vườn cây nhà bạn luôn xanh mát~~
Nminhngoc1012: Em cầu bao nuôi ~*o*~
Nminhngoc1012: Sếp hét giá vậy em sợ, em ko dám mua
Nminhngoc1012: sếp mua rồi tặng em đi sếp ;)
Đường Thất Công Tử: chuẩn bị 8k - 10k đi :lol:
Kyz: @tuantrinh: Bao tiền thế ạ?
Shop - Đấu giá: Đường Thất Công Tử vừa đặt giá 265 điểm để mua Cô dâu miu và chú rể cún
Đường Thất Công Tử: em táng gia bại sản rồi, cũng muốn lắm :lol:
tuantrinh: không ai giành nhẫn của mình à?

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.