Diễn đàn Lê Quý Đôn

Chúc mừng xuân520 vừa nhặt được bao lì xì chứa 11 điểm! (17 phút trước) (hướng dẫn)



≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 84 bài ] 

Zarathustra đã nói như thế - Friedrich Nietzsche

 
Có bài mới 26.03.2017, 15:17
Hình đại diện của thành viên
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
 
Ngày tham gia: 31.12.2016, 00:00
Tuổi: 22 Nữ
Bài viết: 5123
Được thanks: 894 lần
Điểm: 10.07
Có bài mới [Triết học Đức] Zarathustra đã nói như thế - Friedrich Nietzsche (hoàn) - Điểm: 10
ZARATHUSTRA ĐÃ NÓI NHƯ THẾ
images
Tác giả     Friedrich Nietzsche

Ngôn ngữ     Tiếng Việt

Lĩnh vực     Triết học

Dịch giả     Trần Xuân Kiêm

Năm xuất bản     2008

Đơn vị xuất bản     Văn học

Giá sách     : 84.000 VND

Số trang: 570 trang

Giới thiệu sách


“Zarathustra đã nói như thế” viết về cuộc hóa thân của tinh thần con người. Tinh thần biến thành con lạc đà, lạc đà hóa thành con sư tử và sau cùng, sư tử biến hóa thành đứa trẻ. Lạc đà biểu trưng cho thời kì tôn sùng và gửi gắm niềm tin vào các lí tưởng, kiên nhẫn tiếp nhận những giá trị lưu truyền, sư tử là biểu trưng cho sự đỗ vỡ niềm tin, cho thời kỳ của tinh thần tự do và sự trải nghiệm của chủ nghĩa hư vô; đứa trẻ biểu trưng cho thời kì tinh thần tìm cách khắc phục chủ nghĩa hư vô, cất lên tiếng vâng thuận mệnh đối với cuộc sống và sự khởi đầu cho một niềm tin mới.


Trong “Zarathustra đã nói như thế” nêu ra hai luận thuyết về con người siêu nhiên và về sự qui hồi vĩnh hằng mà cho tới nay vẫn luôn là đối tượng của mọi cuộc tranh luận khoa học gay gắt và quyết liệt, là đề tài của nhiều công trình nghiên cứu triết học hiện đại. Đây là một tác phẩm thơ - văn xuôi độc đáo mà chính tác giả của nó đã coi đó là cuốn Phúc âm thứ năm, chứa đựng những điều kỳ tuyệt vô song mà từ trước tới nay chưa có ai nói đến, chưa có ai làm được như thế.

LƯU Ý KHI ĐỌC

Với Nietzsche, khởi sinh một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của những triết gia triết lý với cây búa, cây búa của Nietzsche đập đổ tàn phá, lời lẽ của Nietzche nổ tung cày nát, để trên những hoang tàn tan nát đó vụt hiển hiện một Bình Minh Mới cho nhân loại, trong đó con người được giải phóng khỏi tôn giáo, giải phóng khỏi đạo đức cựu truyền, giải phóng khỏi hiểm họa vĩ đại nhất thế kỷ: hư vô chủ nghĩa.

Con người được giải phóng khỏi hư vô chủ nghĩa là một con người mang bộ mặt rạng rỡ hào quang tinh khôi của một thiên thần mới hiện, một kẻ cất cao tiếng cười lồng lộng giữa bầu trời mây trắng, một kẻ đã vượt quá loài người, một Siêu Nhân.

Zarathustra là tên của kẻ tiên tri tiên báo cho sự xuất hiện của mẫu người mới ấy. Zarathustra đã nói như thế vẽ lại hành trình tâm linh băng qua tầng trời cô đơn thứ bảy, tầng trời cô đơn tối hậu, của một kẻ tiên phong, với những hoan lạc, say đắm, cám dỗ, chiến đấu, thất bại, hoài nghi ngây ngất, để mở ra cho loài người một khả tính, một hy vọng mới, hát cho loài người nghe một bài ca mới.

"Mọi cái ra đi, mọi cái quay trở lại; chỉ có bánh xe của sự tồn tại là vĩnh viễn quay vòng..."

Với hệ tư tưởng "Quy hồi vĩnh hằng", Nietzsche được coi là nhà tư tưởng quan trọng nhất của giới tư sản Đức trong bước quá độ lên chủ nghĩa đế quốc, là người đại diện cho chủ nghĩa cực đoan, chủ nghĩa phi lý và ý chí luận, là một nhà thơ, triết gia có ảnh hưởng đặc biệt sâu xa đối với hệ tư tưởng tư sản. Ông được coi là triết gia của sự phủ định với bảy lần chống đối: Chống đạo đức, chống dân chủ, chống chủ nghĩa xã hội, chống bình đẳng nam nữ và giải phóng phụ nữ, chống duy ý chí, chống bi quan và chống thiên chúa giáo. Với bảy điều chống này, ông trở thành người mở đường về mặt tinh thần cho chủ nghĩa phát xít. Không phải ngẫu nhiên mà Hitler đã rất sùng bái ông.

Tuy nhiên, thoát khỏi những nhận xét của những nhà nghiên cứu Macxit và nhìn nhận Nietzsche dưới góc độ của những con người hiện đại thì tư tưởng của ông không hoàn toàn chỉ là cực đoan, phản động, bạo lực, xâm lược và tàn bạo.

Đặc biệt, mượn lời của Zarathustra, Nietzsche đã đưa ra những triết thuyết vượt khỏi thời đại của chính ông. Sự phá vỡ những lề thói cũ, đề cao ý chí và tư tưởng cá nhân chính là những quan điểm hết sức hiện đại.

- Zarathustra khẳng định rằng: con người là chiếc cầu chứ không phải một mục tiêu. Nghĩa là con người sẽ là sự nối kết chứ không phải là điểm mốc đơn thuần.

- "Ta yêu kẻ trừng phạt Thượng Đế của mình vì yêu Thượng đế đó: cần phải để cho cơn phẫn nộ của Thượng Đế làm họ diệt vong", câu này được hiểu như sự thẳng thắn trước sai lầm của bản thân. Chấp nhận mọi hậu quả phía sau của sự thẳng thắn đó.

- "Ta yêu kẻ nào tâm hồn tràn đầy viên mãn đến độ tự quên chính mình, và tất cả mọi sự đều được cưu mang trong họ: như thế tất cả mọi sự sẽ trở thành sự suy tàn của chính họ". Được hiểu như sự tự hào về bản thân, hiểu rõ mình là ai.

- Zarathustra cũng khẳng định rằng ngủ ngoan trong đời sống nhiều biến động này là một sự vô tâm với con người. (Về những giảng tòa đức hạnh).

- Sự đấu tranh với chính mình là cuộc tranh đấu lớn nhất trong đời sống (Những hoan lạc và đam mê thống khổ).

- "Chúng ta yêu thương cuộc đời không phải vì chúng ta quen thuộc với cuộc đời mà vì chúng ta quen thuộc với tình yêu. Trong tình yêu luôn luôn có một chút điên cuồng. Nhưng trong sự điên cuồng, luôn luôn có một chút lí trí. Và cả đối với ta, người yêu thương đời sống, ta thấy rằng những cánh bướm, những bọt xà phòng cùng tất cả những người nào giống như cánh bướm và bọt xà phòng đều là những kẻ nếm trải hạnh phúc tuyệt vời nhất. Chính khi thấy những tấm linh hồn nhẹ nhàng, điên rồ, duyên dáng và khoái lạc đó bay lượn thênh thang, Zarathustra mới muốn khóc oà và ca hát. Ta sẽ chỉ có thể tin vào một đấng Thượng Đế biết khiêu vũ...."(Về đọc về viết).

...

Dù không thể phủ nhận những điểm đen trong triết thuyết của Nietzsche nhưng có thể khẳng định rằng không hề thiếu ánh sáng nếu chúng ta biết cách nhìn ra chúng.

Nếu đọc và cảm nhận bằng con mắt của những nhà Macxit thì Nietzcshe vẫn chỉ là người gieo rắc những tư tưởng phản động và thiếu tinh thần dân chủ. Nhưng công bằng với cuộc đời nhiều bất hạnh của ông, với con mắt đầy ánh sáng chúng ta sẽ nhận thấy những giá trị không thể phủ nhận từ những triết thuyết của ông, đặc biệt từ tác phẩm: "Zarathustra đã nói như thế"

Và Nietzsche dạy chúng ta rằng: Sống cho khát vọng chứ không phải để đoạt được khát vọng. Sống để hy vọng chứ không phải để tìm kiếm hy vọng. Mọi tước đoạt hay tìm kiếm đều vô giá trị nếu chúng chỉ dừng lại ở tìm và đoạt mà thôi... (Về chiếc cây trên đỉnh núi).

TRÍCH DẪN ĐẶC SẮC
“Ta gọi con người đích thực là kẻ bỏ đi vào trong những vùng sa mạc không Thượng Đế, là kẻ đập vỡ tan quả tim tín mộ của mình.

Bước đi trên cát vàng nóng bỏng, bị ánh mặt trời thiêu đốt, hắn thèm khát liếc nhìn những hòn đảo với những suối nước tràn trề, nơi mà đời sống an nghỉ dưới những chiếc cây đầy bóng mát.

Nhưng cơn khát của hắn không thuyết phục hắn trở thành giống kẻ an nhàn tự mãn đó; bởi vì nơi nào có ốc đảo xanh tươi thì nơi đó cũng có những thần tượng.

Đói khát, tàn bạo, cô đơn, vô tín ngưỡng, không Thượng Đế: đấy chính là ước muốn của ý chí con mãnh sư.

Giải thoát khỏi hạnh phúc của hạng nô lệ giải phóng khỏi những thần linh, khỏi những sùng bái ngưỡng mộ, không sợ hãi và kinh hoàng, cao cả và cô đơn: đấy là ý chí của kẻ chân thực.”

(Về những nhà hiền triết nổi danh - Zarathustra đã nói như thế, Nietzsche).

THÔNG TIN KHÁC
Friedrich Wilhelm Nietzsche chào đời ngày 15/10/1844 tại Röcken bei Lützen, một tỉnh nhỏ nằm về phía tây nam của thành phố Leipzig, nước Đức. Bởi vì ngày sinh này trùng với sinh nhật thứ 49 của Vua Friedrich Whilhelm IV của nước Phổ (Prussia) nên cậu bé này được đặt tên như vậy. Cha của cậu bé là ông Karl Ludwig Nietzsche (1813-1849) đã được Vua Phổ bổ nhiệm làm mục sư của tỉnh Röcken. Ông nội của cậu bé là một học giả Tin Lành (a Protestant scholar) mà trong một cuốn sách xuất bản năm 1796, ông cụ đã xác nhận "đạo Thiên Chúa sẽ mãi mãi trường tồn".


"Zarathustra đã nói như thế" (Thus Spoke Zarathustra) là một trong các tác phẩm nổi tiếng nhất của Friedrich Nietzsche. Đây là bản tuyên ngôn về cách chiến thắng chính mình. 30 năm sau lần xuất bản đầu tiên, chính quyền Đức đã cho in 150,000 ấn bản, cùng với các cuốn Thánh Kinh, để phát không cho binh lính trẻ trong Thế Chiến Thứ Nhất.

"Zarathustra đã nói như thế" là tác phẩm chống đối quan điểm của thế giới Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo, với lời văn vừa mang vẻ thơ phú, vừa mang tính chất tiên tri, giống như lời văn của các kinh Cựu Ước và Tân Ước.

Tác phẩm này dùng tên của một nhân vật lãnh đạo tôn giáo bí ẩn, gốc người Ba Tư, là người đã sống trước Chúa Jesus hơn 500 năm. Nietzsche đã dùng tên Zarathustra này để tăng thêm phần huyền bí. Tác phẩm này đã tạo ra khá nhiều tranh luận. Có người bảo vệ tác phẩm, cho rằng đây chỉ là một cuốn sách thuộc loại nghệ thuật (a work of art), không nên đọc để tìm hiểu một chủ thuyết (doctrine), trong khi các kẻ khác, gồm cả các đảng viên Quốc Xã Nazis, đã đòi hỏi mọi người phải đọc tác phẩm này vì tính cách giáo dục triết lý, và các kẻ Tân Quốc Xã đã dùng câu nói của Nietzsche sau đây: "Những thứ gì không giết nổi chúng ta, sẽ chỉ làm cho chúng ta mạnh mẽ hơn" (That does not kill us can only make us stronger).

Khi viết ra tác phẩm kể trên, một trong các ý định căn bản của Friedrich Nietzsche là muốn chứng minh rằng các giá trị truyền thống mà đại diện là đạo Thiên Chúa, đã mất đi sức mạnh trong các đời sống cá nhân mà chỉ trình bày một thứ "luân lý nô lệ" (a slave morality), thứ luân lý tạo bởi các cá nhân yếu hèn và bực tức, những người này khuyến khích các hành vi như dịu dàng, tử tế, bởi vì thứ hành vi này phục vụ các quyền lợi của họ.

Friedrich Nietzsche đề cập tới các giá trị mới có thể tạo ra được, để thay thế các giá trị cổ truyền và các thảo luận của Nietzsche đã dẫn tới quan niệm về một thứ "siêu nhân" (overman or superman = Übermensch). Theo Nietzsche, khối đông hay tập thể làm theo tập quán, trong khi siêu nhân thì độc lập, vững tâm và rất cá nhân. Siêu nhân cảm xúc sâu xa nhưng các đam mê được kiểm soát một cách hữu lý. Trái với tôn giáo hứa hẹn các phần thưởng ở thế giới kế tới, siêu nhân xác nhận đời sống gồm cả đau đớn. Siêu nhân theo Nietzsche, là người sáng tạo ra các giá trị, là chủ của luân lý, là phản ảnh của sức mạnh và tính độc lập.

Friedrich Nietzsche cho rằng tất cả các hành vi của con người bị thúc động (motivated) do lòng ham muốn quyền lực (the will to power), đây không phải là quyền lực đối với các kẻ khác mà là đối với chính mình, đây là điều cần thiết để sáng tạo. Nietzsche đã nói tới nhiều nhân vật được coi như kiểu mẫu của "siêu nhân", trong đó có Chúa Jesus, triết gia Hy Lạp Socrates, nhà cai trị La Mã Julius Caesar, nhà khoa học xứ Florence Leonardo da Vinci, họa sĩ người Ý Michelangelo, nhà viết kịch người Anh William Shakespeare, nhà triết học người Đức Johannn Wolfgang von Goethe và Hoàng Đế Pháp Napoléon I.

Friedrich Nietzsche đã có thể sáng tác phong phú ra nhiều tác phẩm sâu xa và xuất sắc trong một số năm trường trong khi thân thể ở trong tình trạng bệnh hoạn, đau đớn, đây là lời xác định về các khả năng tinh thần đặc biệt và một ý chí mãnh liệt của tác giả.

Tư tưởng của Friedrich Nietzsche đã gây nên ảnh hưởng sâu đậm trong thế kỷ 20, nhất là tại lục địa châu Âu. Tư tưởng này đã hấp dẫn các nghệ sĩ tiền phong (avant-garde artists) là những người tự coi mình ở bên bờ của thứ xã hội thời trang, bởi vì Nietzsche đã kêu gọi mọi người phải bắt đầu bằng thứ mới, lành mạnh và sáng tạo...

Trong thập niên 1930, tư tưởng của Friedrich Nietzsche đã được các đảng Quốc Xã Đức và Phát Xít Ý xử dụng, họ đã dùng nhiều đoạn văn trích dẫn trong các tác phẩm của Nietzsche để biện minh cho chiến tranh, xâm lược và thống trị.

Friedrich Nietzsche cũng đặc biệt gây ảnh hưởng tới giới triết học Pháp trong các thập niên 1960 - 1980 do lời tuyên bố "Thượng Đế đã chết" (God is dead), do thuyết bi quan, do nhấn mạnh vào quyền lực (power) như là một thứ thúc động thực sự để đối đầu với thẩm quyền đã được thiết lập và để phát động các chỉ trích xã hội.



Đã sửa bởi Tiểu Cương Ngư lúc 19.06.2017, 18:40.

Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 28.03.2017, 10:23
Hình đại diện của thành viên
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
 
Ngày tham gia: 31.12.2016, 00:00
Tuổi: 22 Nữ
Bài viết: 5123
Được thanks: 894 lần
Điểm: 10.07
Có bài mới Re: [Triết học Đức] Zarathustra Đã Nói Như Thế - Friedrich Nietzsche - Điểm: 10
Chương 2: Giới thiệu - Zarathustra Đã Nói Như Thế


Friedrich Nietzsche

Friedrich Nietzsche sinh ngày 15 tháng Mười năm 1844 tại Rõcken, tỉnh Turin, nơi chào đời trước đây của nhà thần học Luther, cha đẻ ra phong trào Cải cách. Khi Nietzsche được năm tuổi thì người cha, một mục sư phái Luther, qua đời. Gia đình cậu bé dọn về ở Naumburg, một thành phố nhỏ, vào năm sau đó. Vào tuổi này, Nietzsche đã tỏ ra là một cậu bé mộ đạo, thông minh, trịnh trọng và đã được người ta đặt cho biệt danh là Ông mục sư con. Ngay từ lúc còn nhỏ và suốt thời niên thiếu, Nietzsche đã làm thơ và sáng tác nhạc, những vũ khúc, những giai khúc ca ngợi tổ tiên gốc Ba Lan của mình, những bá tước dòng họ Nietzski bị ngược đãi phải trốn khỏi quê hương.

Từ năm 14 tuổi (1858), Nietzsche được gửi vào học tại trường trung học Schulpforta, một nơi nổi tiếng đã từng đào tạo ra Klopstock, Novalis, Fichte và anh em nhà Schlegel. Đến năm 20 tuổi (1864), Nietzsche vào đại học Bonn, nhưng chỉ học ở đây một năm thì bỏ qua đại học Leipzig theo vị giáo sư ông hâm mộ, nhà ngữ học thời danh Ritschl.

Biến cố quan trọng nhất khi Nietzsche 21 tuổi là việc ông tình cờ khám phá ra tác phẩm của Schopenhauer trong một tiệm sách cũ. Như Malebranche khám phá ra Descartes, như Kant khám phá ra Hume, Nietzsche bàng hoàng ngây ngất. Nietzsche mua ngay một số sách mang về nhà đọc, đọc liên miên không ngừng nghỉ trong suốt hai tuần lễ liền, trừ vài giờ gục xuống ngủ.

Một biến cố quan trọng khác thuộc lĩnh vực tình cảm xảy ra khi Nietzsche được hội kiến nhạc sĩ tài danh mà ông hằng ngưỡng mộ, Richard Wagner. Lúc đó Nietzsche 24 tuổi. Nhà nghệ sĩ lớn và kẻ ngưỡng mộ trẻ tuổi rất tâm đầu ý hợp, vì cả hai đều cùng say mê triết học Schopenhauer.

Năm sau, do sự tiến cử của Ritschl, “đây là một thiên tài”, Nietzsche được mời làm giáo sư đại học Bâle ở Thụy Sĩ về môn ngữ học cổ điển (Hy Lạp, Latinh) dù ông chưa trình luận án tiến sĩ, và mới 25 tuổi. Giảng dạy được một năm, Nietzsche được mời làm giáo sư thực thụ.

Tháng Năm năm 1869, Nietzsche đến thăm gia đình Wagner ngụ tại Tribschen do lời mời của ông này. Nhạc sĩ tài hoa tuổi gần lục tuần lúc ấy đang sống với người vợ trẻ Cosima, con gái của nhạc sĩ Liszt và là vợ đã ly dị của nhạc trưởng Haus von Bulow. Người thiếu phụ thông minh, say đắm và cao quý ấy gợi nên trong tâm cảm Nietzsche một ngưỡng vọng đam mê nồng cháy nhưng câm nín vô vọng. Theo lời Andler, “Từ đây khởi đầu một thiên tình sử cao đẹp nhất của thế kỷ XIX, thiên tình sử câm lặng và đau xót mà mãi đến ngày nay vẫn chưa một ai biết rõ”.

Năm 1870, chiến tranh Pháp-Đức bùng nổ, lúc này, Nietzsche đã nhập quốc tịch Thụy Sĩ, nhưng vẫn tình nguyện phục vụ trong đoàn cứu thương, đưa các thương binh về Đức. Nhưng chẳng bao lâu, Nietzsche khám phá ra cuộc chiến gọi là chống “xâm lăng” đó thực chất lại là một cuộc chiến tranh xâm lược. Ông ghê tởm và quay về Bâle, sau khi đã mắc bệnh kiết lỵ và yết hầu. Từ đây sức khỏe của ông suy sụp và chẳng bao giờ phục hồi được như cũ.

Năm 28 tuổi (1872), Nietzsche xuất bản tác phẩm đầu tiên: Khởi nguyên bi kịch Hy Lạp từ tinh thần âm nhạc (Die Geburt der Tragõdie aus dem Geiste der Musik). Và năm sau, Nietzsche cho ấn hành hai phần đầu của cuốn Quan điểm phi thời (Unzeitgemãsse Betrachtungen): David Strauss, Kẻ tín ngưỡng và Nhà văn (David Strauss, der Bekenner und Schriftsteller) và Vềsự sử dụng và nguy hại của sử học đối với đời sống (Vom Nutzen und Nachteil der Historie fur das Leben).

Phần ba của cuốn Quan điểm phi thời được xuất bản năm 1874 dưới tên Schopenhauer, Nhà Giáo dục (Schopenhauer als Erzieher), và phần thứ tư cũng là phần chót, được ấn hành hai năm sau đó (1876) giới thiệu Richard Wagner tại Bayreuth (Richard Wagner in Bayreuth).

Từ 1874, sức khỏe Nietzsche càng lúc càng tồi tệ. Đến tháng Sáu năm 1875, bắt đầu bệnh nạn của Nietzsche. Những cơn đau đầu như búa bổ, dạ dày quặn thắt kinh hồn, làm nôn mửa liên miên có khi đến vài giờ, mắt nhức nhối không chịu nổi khi tiếp xúc với ánh sáng hơi chói. Mùa Hạ năm 1876, Nietzsche rời đại học lên đường dưỡng bệnh. Nietzsche từ Thụy Sĩ đi Ý, thăm Gêne, Pise, Naples và sống vài tháng tại Sorrente cùng người bạn gái quý tộc lớn tuổi, cô Malwida von Meysenbug.

Năm 1878, Nietzsche ấn hành cuốn Con người, ồ! Quá đỗi là Người (Menschliches, Allzumenschliches).

Ông cũng nộp đơn xin từ chức giáo sư đại học vì bệnh hoạn liên miên không thể giảng dạy được. Từ đây trở về sau, trong mười năm liên tiếp từ 1879 đến 1889, năm nào Nietzsche cũng cho chào đời một tác phẩm mới, mặc dầu ông sống trong tình trạng “ba phần tư là đau đớn, phần còn lại là kiệt lực”; các tác phẩm này do các bạn bè của Nietzsche chép lại ghi chú, và chữa bản thảo hộ ông.

Năm 1879: Quan điểm và Phương ngôn (Vermischte Meinungen und Sprũche) được xuất bản như phần Phụ lục của cuốn Con người, ồ! Quá đỗi là Người. Năm 1880: Kẻ lang thang phiêu bạt và Chiếc bóng (Der Wanderer und sein Schatten), được xem như đoạn thứ nhì và là đoạn chót của cuốn Con người, ồ! Quá đỗi là Người. Năm 1881: Bình minh (Die Morgenrõte). Nietzsche sống qua mùa Đông và mùa Xuân tại Gêne, mùa Hạ tại Sils Maria (Engadin), mùa Thu tại Gêne. Năm 1872: Tri thức hoan say (Die Frõhliche Wissenschaft). Nietzsche thay đổi chỗ ở luôn: mùa Đông ở tại Gêne; mùa Xuân tại Messina; mùa Hạ tại Tautenburg với cô bạn gái mới, Lou Salomé, và người em gái Elisabeth; mùa Thu sống tại Leipzig; tháng Mười một năm đó, Nietzsche đi Rapallo. Sau lần tỏ tình thất bại với Lou Salomé qua trung gian của một người bạn, Nietzsche điên cuồng toan uống độc dược tự tử ba lần.

Mùa Đông 1883, khi 39 tuổi, Nietzsche bắt đầu viết phần thứ nhất của bản trường thi Zarathustra đã nói như thế tại Rapallo. Tháng Ba và tháng Tư, Nietzsche đi Gêne; tháng Năm sống tại Rome. Mùa Hạ đi Sils Maria, nơi đây Nietzsche hoàn tất phần thứ hai của tác phẩm Zarathustra.

Trong năm năm liên tiếp, từ 1883 đến 1888, mỗi mùa Hè Nietzsche đều về Sils Maria, và mỗi mùa Đông đều đến nghỉ tại Nizza.

Tháng Giêng năm 1884, Nietzsche viết xong phần thứ ba của cuốn Zarathustra tại Nizza. Phần chót của tác phẩm được hoàn tất trong mùa Đông năm sau, 1885, tại Nizza và Mentone.

Năm 1883, xuất bản cuốn Bên kia cõi bờ Thiện Ác (Jenseits von Gut und Bõse), và năm 1887 cuốn Tiến đến một phổ hệ luân lý (Zur Genealogie der Moral).

Năm 1888 là năm sức sáng tạo của Nietzsche tuôn tràn mãnh liệt nhất. Nietzsche ấn hành cuốn Trường hợp Wagner (Der Fall Wagner) và viết xong bốn cuốn khác: Hoàng hôn của những thần tượng (Die Gõtzen-Dãmmerung) được in ra năm 1889; tác phẩm tự truyện Ecce Homo, được ấn hành lần đầu năm 1908, sau khi Nietzsche từ trần; Kẻ chống Chúa (Der Antichrist) và Nietzsche chống Wagner (Nietzsche contra Wagner) được in chung một tập năm 1895.

Sau mười năm giảng dạy tại đại học, tiếp đến mười năm ẩn dật sáng tác, năm 1889 mở ra một giai đoạn mười năm mới trong cuộc đời Nietzsche. Vào tháng Giêng năm 1889, khi chứng kiến cảnh một người phu xe đánh đập tàn nhẫn vào đầu một con ngựa ngoài đường phố Turin, Nietzsche chạy đến quỳ xuống ôm cổ con vật khốn nạn, dịu dàng hôn lên nó, rồi xây xẩm ngã lăn ra. Từ đó Nietzsche sống trong một tình trạng tê liệt hoàn toàn về thân xác lẫn tâm hồn, cho đến khi từ giã cõi đời tại Weimar, kinh đô của Goethe và Schiller, vào ngày 25 tháng Tám năm 1900. Thi hài Nietzsche đem về an táng ở nghĩa trang Rõcken.

Những ghi chú của Nietzsche từ năm 1883 đến 1888, về sau được thu tập lại và ấn hành dưới tên chung là Ý chí cường lực (Der Wille zur Macht).

Ảnh hưởng Nietzsche thật rộng rãi và sâu đậm. Ngay từ khi Nietzsche còn sống, vào năm 1888, Georg Brandes đã giảng dạy tư tưởng của ông tại đại học Copenhague. Sau đây, ta chỉ kể một số ít nhà văn, nhà thơ lớn chịu ảnh hưởng và tôn thờ ông: Rilke, Stefen George, Thomas Mann, Shaw... Trong lĩnh vực triết học, Nietzsche được xem là một trong những ông tổ của “triết học hiện sinh”; Jaspers, Heidegger, Sartre đều là những kẻ theo Nietzsche, vượt Nietzsche hoặc chống Nietzsche. Trong giới âm nhạc, Richard Strauss, Mahler và Delius đã đem tác phẩm Nietzsche phổ nhạc. Hằng năm, con số những sách vở và tạp chí viết về Nietzsche bằng đủ mọi thứ tiếng trên thế giới đạt đến một số lượng khổng lồ.

Trong thiên tự truyện Ecco Homo (Đây là con người ấy!). Nietzsche đã thuật lại tỉ mỉ sự khai sinh và phôi dựng khúc trường thi Zarathustra mà ta có thể ghi thành niên biểu như sau:

Tháng 8.1881: tại Surleij, bên một tảng đá dựng, Nietzsche đột nhiên bị tràn ngập chói lòa bởi thị kiến về sự Quy hồi vĩnh cửu của vạn vật. Từ đây, thị kiến này sẽ ám ảnh tâm hồn Nietzsche khôn nguôi và sẽ trở thành một trong những chủ đề chính yếu của tư tưởng Nietzsche.

20.8.1881: Nietzsche phác họa dự định viết một bài trường thi gồm bốn phần, liên quan đến nhà tiên tri Zarathustra, lấy tên là Ngọ thiên và Vĩnh cửu (Mittag und Ewigkeit).

Tháng 1.1883: mười tám tháng sau thị kiến ở Surleij, Nietzsche nhìn thấy “... Một hóa thể thành Hai - Và Zarathustra bước qua bên cạnh tôi...” ở Rapallo. Đã đến lúc chín mùi cho trái cây sáng tạo. Nietzsche thường nói đùa là ông giống như loài voi, phải hoài thai suốt mười tám tháng trời mới sinh hạ.

Từ 1 đến 10.2.1883: trong mười ngày liền, Nietzsche viết liên miên một mạch xong phần thứ nhất của tác phẩm. Đến tháng Sáu năm 1883, phần này được ấn hành bởi nhà xuất bản Schmeitzner ở Leipzig.

Từ 26.6 đến 6.7.1883: cũng liên tục một mạch trong vòng mười ngày, Nietzsche viết xong phần thứ hai, sau đó được nhà Schmeitzner ấn hành vào tháng Chín cùng năm.

Từ 8 đến 20.1.1884: tại Nizza, Nietzsche hoàn thành phần thứ ba của tác phẩm, được ấn hành vào tháng Ba năm 1884 bởi cùng nhà xuất bản.

Tháng 1 đến tháng 2.1885: viết xong phần thứ tư tại Nizza và Mentone, sau chỉ in thành bốn mươi bản vào tháng Tư năm 1885 bằng tiền riêng của Nietzsche, dành tặng bạn bè. Nietzsche chỉ gửi tặng bảy bản.

Đến năm 1892, lần đầu tiên tác phẩm gồm cả bốn phần mới được in chung thành một tập. Về sau Nietzsche dự định viết tiếp phần thứ năm để kết thúc bản trường thi bây giờ được quan niệm như một bi kịch, trong đó Nietzsche dự tính trình bày cái chết của nhà tiên tri Zarathustra. Zarathustra chết vì đã rao giảng chân lý khủng khiếp nhất về sự Quy hồi vĩnh cửu, chân lý dạy rằng vạn sự sẽ quay trở về thêm vô lượng lần trong vòng tròn trầm luân vô hạn, Zarathustra dạy con người chúc phúc cho thế giới, cho loài người, và thốt lên tiếng Vâng thuận mệnh với tấm lòng biết ơn thâm tạ. Nhưng phần thứ năm này, không bao giờ chào đời, một phần vì cảm hứng của Nietzsche đã cạn, một phần vì những nhu cầu phê bình, bút chiến khác.

Nietzsche thẩm định rất sáng suốt về công trình sáng tạo và suy tư của mình. Ông viết trong thư gửi cho nhà xuất bản. “Đây là một bài thơ, một cuốn Phúc Âm thứ năm, một điều mới lạ tuyệt vời chưa có tên gọi”. Và viết cho Rohde: “Tất cả những điều chứa đựng trong cuốn Zarathustra đều độc đáo, kỳ diệu vô song, từ trước giờ chưa từng có ai nói đến. Kẻ nào đã trầm mình đắm say trong tác phẩm, sẽ trở lại sống giữa loài người với một bộ mặt đổi mới”. Rồi trong Ecce Homo: “Chưa từng có kẻ nào đã viết được một bài thơ như thế, chưa từng bao giờ có người nào mà lại cảm xúc và đau khổ sâu xa đến thế. Chỉ có một vị thần linh, một Dionysos mới có thể đau khổ đến như vậy”. Zarathustra mang chứa tất cả những bình minh, những chiều tà, những hang động, những núi đá, những ẩn sĩ, những đám đông, những con dã thú, những thất vọng, những hân hoan, những đớn đau câm nín, những phũ phàng tàn bạo mà thơ mộng vô song... và theo lời những nhà phê bình trứ danh: “chưa bao giờ ngôn ngữ Đức lại được đưa dẫn đến một hình thức phô diễn diễm lệ đến thế”.

Về nội dung, Zarathustra chứa đựng tất cả những ý tưởng nền tảng của tư tưởng Nietzsche: Siêu nhân, Quy hồi vĩnh cửu, Ý chí cường lực.

Đối với những độc giả cần đào sâu tư tưởng triết học Nietzsche trong cuốn Zarathustra, chúng tôi xin đặc biệt giới thiệu hai tác giả sau đây:

1) Martin Heidegger: Nietzsche hai tập, n. x. b. Pfullingen (1961), Was heisst denken? Tũbingen (1954), từ trang 19-47 và trang 61-78; và bài Zarathustra là ai? trong cuốn Vortrãge und Aufsãtze (1954).

2) Eugen Fink: Nietzsche Philosophie, n. x. b. Kohlhammer (1960), từ trang 59-110. (Ngoại trừ hai tập Nietzsche của Heidegger, tất cả các tác phẩm vừa kể đều đã dịch sang Anh ngữ hay Pháp ngữ).

Zarathustra là tên một nhà tiên tri Ba Tư được Nietzsche sử dụng làm nhân vật chính cho bài trường thi, vì Nietzsche cho rằng người Ba Tư là những người đầu tiên đã quan niệm được lịch sử như một toàn bộ vĩ đại gồm những loạt tiến hóa kế tục, mỗi giai đoạn lại được tiên báo bằng sự xuất hiện của một vị tiên tri. Tên tác phẩm Zarathustra đã nói như thế được Nietzsche cảm hứng từ lời mở đầu của tất cả những kinh điển Phật giáo: evam me sutam, có nghĩa là: tôi đã nghe (đức Thế Tôn thuyết) như thế. Ảnh hưởng Phật giáo mà Nietzsche tiếp nhận được qua Schopenhauer, rồi qua sự tìm hiểu của riêng ông, rọi chiếu những luồng sáng mới trên khuôn mặt và nhân cách của Zarathustra. Do đó, nhìn Zarathustra như một thiền sư Phật giáo, với tất cả cung cách tàn bạo ngang tàng của một thiền sư, hoặc nhìn Zarathustra như một bồ tát thị hiện nghịch hạnh, chúng ta sẽ dễ dàng tâm lĩnh được những gì Zarathustra đã nói và những gì còn được phong kín ẩn mật sau lời nói của Zarathustra.

Tác phẩm gồm có bốn phần và một phần Tự Ngôn khai tấu, được xếp vào phần thứ nhất. Sự phân chia thành bốn phần tương ứng với những khoảng thời gian mà Zarathustra trở lại với nỗi cô đơn, quê hương muôn thuở. Phần thứ nhất bắt đầu khi Zarathustra giã biệt quê hương và hồ biếc của quê hương để lên núi vào năm ba mươi tuổi. Mười năm sau, Zarathustra hạ san rao giảng đạo lý. Trong rừng sâu, Zarathustra gặp một bậc thánh ẩn sĩ chưa biết rằng “Thượng đế đã chết”; ở chốn công trường, nơi Zarathustra ngỏ lời cùng đám đông dân chúng và bị chế giễu cười cợt, Zarathustra làm bạn với xác chết của người đi dây làm trò xiếc và gặp gỡ thằng hề.

Bậc thánh ẩn sĩ không ngỏ lời với con người vì điều kiện sinh hoạt của một ẩn sĩ đưa ông vượt quá thân phận con người bình thường và tiến đến gần Thượng đế. Ngôn từ đối thoại thường nhật của vị ẩn sĩ là sự cầu nguyện. Nhưng còn ẩn sĩ Zarathustra, một ẩn sĩ biết rằng Thượng đế đã chết và chỉ còn lại con người, thì phải nhất thiết ngỏ lời với con người về khả tính tối thượng của con người: Siêu nhân. Siêu nhân (Ũbermensch) là kẻ đã vượt thắng được (ũberwunden) Con người, nghĩa là vượt thắng được chính mình. Đám đông dân chúng ở chốn công trường tượng trưng cho loài người. Chàng đi dây làm trò xiếc giữa hai ngọn tháp là hình ảnh của con người đang bước trên con đường giữa quá khứ và tương lai, giữa con thú và Siêu nhân. Thằng hề có thể chính là Zarathustra, và cũng có thể biểu trưng cho con người mạt hậu (der letzte Mensch), con người hạ đẳng xuất hiện sau cùng vào buổi hoàng hôn của nhân loại, trước khi một Bình minh mới rực hiện.

Thấy rằng đám đông dân chúng chưa có đôi tai được sửa soạn để nghe đạo lý Siêu nhân, Zarathustra trở lại với nỗi cô đơn cùng con ó và con rắn kiên nhẫn chờ đợi giờ của mình.

Trọn vẹn chủ đề phần thứ nhất là vạch ra hình ảnh Siêu nhân, qua bối cảnh cái chết của Thượng đế. Thượng đế đã chết, con người phải sống đời sống của mình một cách bi tráng và phải khai mở tất cả khả tính tiềm ẩn trong mình: Siêu nhân phải sống. Trong 22 bài thuyết giáo của phần thứ nhất, Zarathustra đồng thời tấn công đập phá những thù địch, những chướng ngại và xây dựng hình ảnh Siêu nhân.

Zarathustra tấn công thù địch hư vô chủ nghĩa thời hiện đại dưới hình thức những nhà luân lý truyền bá giấc ngủ, sự buồn chán và nghệ thuật ngủ ngon (Về những giảng tòa về đức hạnh, t. 52); dưới hình thức những kẻ tin tưởng vào linh hồn bất tử và một cõi bên kia tốt đẹp hơn sau khi chết (Về những người nuôi ảo tưởng thế giới bên kia, t. 57), những người khổ hạnh, tìm cách dập tắt tiếng nói của thân xác (Về những kẻ khinh miệt thân xác, t. 62); dưới hình thức những kẻ chán nản mệt mỏi rao giảng sự khước từ đời sống (Về những kẻ rao giảng sự chết, t. 80). Zarathustra đập phá những chướng ngại cho sự khai mở khả tính của con người, đập phá những định chế xã hội, đập phá nhà nước hay quốc gia, đập phá báo chí, quân đội, công lý (Về thần tượng mới, t. 88; Về người tội nhân mặt mét, t. 68; Về chiến tranh và các chiến sĩ, t. 84; Về đọc và viết, t. 72), đập phá đám đông nhốn nháo và những thần tượng của đám đông (Về những con ruồi ở công trường, t. 93), những kẻ có lòng xót thương bác ái (Về tình yêu kẻ láng giềng, t. 109), Zarathustra thống mạ giới phụ nữ (Về những thiếu nữ và bà già, t. 116), tố giác tính chất tương đối của các giá trị đạo đức (Về một nghìn lẻ một mục đích, t. 105). Xuyên qua những sự tấn công, đập phá, thống mạ dữ dội này, dần dần hiển lộ hình ảnh Siêu nhân, ý nghĩa và chiều hướng phải tiến tới của mặt đất trần gian. Siêu nhân là kẻ đã tự thành tựu cho chính mình ba cuộc hóa thân: từ lạc đà thành sư tử, và từ sư tử thành trẻ thơ (Về ba cuộc hóa thân, t. 48). Siêu nhân tạo thành một bầu không khí mới, trong đó đau khổ và hân hoan biến đổi ý nghĩa (Về những hoan lạc và đam mê, t. 65), trong đó thoát sinh những đức hạnh mới: ý chí sáng tạo (Về những con đường của kẻ sáng tạo, t. 112), sự trinh khiết hồn nhiên bột phát tươi vui (Về sự trinh khiết, t. 98), tình bạn (Về bằng hữu, t. 101), sự trân trọng tôn kính đời sống chung đôi (Về con cái và hôn nhân, t. 123), sự cao nhã của tâm hồn (Về cái cây trên đỉnh núi, t. 75), cái chết (Về cái chết tự nguyện, t. 127), tình yêu những gì xa xôi vời vợi và đức hạnh hiến tặng triền miên (Về tình yêu kẻ láng giềng, t. 109; Về đức hạnh ban phát, t. 131).

Phần thứ hai quy tụ quanh chủ đề chính yếu là Ý chí cường lực (der Will zur Macht). Cái chết của Thượng đế ngoài ý nghĩa giải phóng tất cả những khả tính ẩn giấu của con người, còn mang ý nghĩa quan trọng thứ hai là hoàn trả thời gian lại cho con người để từ đây thời gian là kích thước đích thực của con người, một kích thước trước đấy đã bị tước đoạt và gán cho Thượng đế. Trong kích thước mới này, con người sáng tạo lao tác và chơi đùa như “một đứa trẻ chơi đùa” (Héraclite), con người sáng tạo in hằn ý chí của mình lên thời gian, nghĩa là trên dòng biến dịch, vì như Nietzsche đã viết ở một nơi khác: “in hằn ấn tích của tính thể lên dòng biến dịch - đấy là ý chí cường lực tối thượng”. Chủ đề Ý chí cường lực cũng được trình bày qua một vận chuyển nhịp đôi: vừa tấn công tàn phá vừa hiển bày phôi dựng.

Zarathustra tiếp tục xông trận đập phá. Sau khi tỉnh dậy từ một giấc mơ thấy rằng đạo lý của mình đang bị xuyên tạc, biến tướng (Đứa bé với tấm gương, t. 141), Zarathustra quyết định lên đường tìm đến quần đảo Vĩnh Phúc, nơi những đứa con lý tưởng của hắn cùng những bạn bè, những môn đệ hắn đang trú ngụ (Trên những hòn đảo Vĩnh Phúc, t. 146). Zarathustra tấn công trở lại những mục tiêu trước đấy: những kẻ có lòng thương xót (t. 151-155), những con người đức hạnh (t. 161-165), đám tiện dân (t. 166-169), những nhà hiền triết nổi danh (t. 176-180), những nhà học giả (t. 213-216), những nhà siêu hình học chủ trương “tri thức thuần khiết băng trinh” (t. 208-212), những “con nhện độc” biểu trưng cho tinh thần cừu hận và rao giảng sự bình đẳng, bình đẳng chính trị như của chủ nghĩa xã hội, chế độ dân chủ hay bình đẳng trước mặt Thượng đế như của Ki-tô giáo (t. 170-175), những kẻ lập thuyết cách mạng (t. 222-227).

Zarathustra còn châm ngòi cho một cuộc tấn công mới nhắm đến mẫu người cao nhã hay tự cho mình là cao cả: những linh mục (t. 156-160), những người anh hùng, đối nghịch với các “chiến sĩ” (t. 200-203), những thi sĩ (t. 217-221), và cả hình bóng của Schopenhauer xuyên qua viên bốc sư tiên tri rao giảng sự bất hạnh thống khổ (t. 228-233). Giữa hai cuộc tấn công là ba ca khúc vang vọng ngậm ngùi: Dạ khúc, Vũ khúc và Mộ khúc.

Cuộc tấn công lần này để chuẩn bị đất đai cho đạo lý mới của Zarathustra về Ý chí cường lực được nhắn gửi đến những thính giả chọn lọc hơn và thu hẹp hơn. Zarathustra không ngỏ lời cùng đám đông dân chúng nữa như trong phần thứ nhất, mà chỉ ngỏ lời với những môn đệ, những bằng hữu và những đứa con - tượng trưng cho hy vọng nấu nung nhất của hắn. Sau ba ca khúc, đạo lý về Ý chí cường lực hiển hiện minh bạch trong bài thuyết giáo Vềsự chiến thắng tự thân (t. 194). Con người chiến thắng tự thân không phải theo lối chủ nghĩa khắc kỷ, mà là để vươn lên việc sáng tạo những hình thể mới của cường lực, vươn lên cao vời mạnh mẽ mãi mãi như một ngọn tháp vươn cao. Về sự cứu chuộc (t. 234) ngoài công tác chống đối lại ý tưởng cứu rỗi của Ki-tô giáo và của siêu hình học nói chung, ngoài việc xiển dương sự cứu rỗi con người bằng lý tưởng siêu nhân, còn đào sâu chủ đề Ý chí cường lực bằng cách đặt chiều hướng cứu chuộc vào trong tương quan giữa quyền lực và thời gian. Thời gian thì bất khả phục phản, ý chí cường lực thì khao khát những hình thể mới của tương lai, vậy có thể nào ý chí cường lực ấy khao khát ngược trở lại, nghĩa là khao khát quá khứ chăng? Câu trả lời đã đến với Zarathustra trong Giờ phút im lặng nhất (t. 246), kết thúc phần thứ hai. Zarathustra đã run rẩy, hãi kinh, khóc lóc trước câu trả lời quá khủng khiếp, và cho rằng mình “chưa đủ sức mạnh của con mãnh sư để rống lên chân lý ấy”.

Phần thứ ba là tuyệt đỉnh của tác phẩm, cũng là tuyệt đỉnh tư tưởng Zarathustra. Zarathustra lên đường trở lại quê hương u tịch của hắn để chờ đợi giờ phút tối hậu cho đạo lý hắn chín mùi. Dẫu hắn có lần ngỏ lời với những thủy thủ hay với gã điên ở đại đô thị (Về ảo tượng và ẩn ngữ, t. 258; Về sự tha thứ bỏ qua, t. 292), tất cả phần ba thực ra chỉ là những lời độc thoại của Zarathustra với chính mình về đạo lý tối thượng của hắn: sự Quy hồi vĩnh cửu (die Ewige Wiederkunft).

Rao giảng về Siêu nhân, Zarathustra ngỏ lời với đám đông dân chúng; rao giảng Ý chí cường lực, Zarathustra ngỏ lời với môn đệ, bằng hữu; rao giảng đạo lý về sự Quy hồi vĩnh cửu, Zarathustra chỉ thủ thỉ với tâm hồn mình. Đạo lý bí ẩn, khủng khiếp này dạy rằng tất cả chúng ta, những con người thượng đẳng, những con người hạ đẳng, cùng tất cả vạn sự, sẽ quay trở lại dưới cùng hình thức này, từ nỗi đau đớn quằn quại, cơn hoan lạc ngây ngất cho đến tiếng thở dài mây khói nhất, tất cả sẽ quy hồi trở lại vô số lần trong vòng trầm luân vô hạn của vạn kiếp thiên thu. Đạo lý về sự quy hồi vĩnh cửu được trình bày trong các chương: Về ảo tượng và ẩn ngữ (t. 258), Trước buổi rạng đông (t. 272), Kẻ bình phục (t. 356), Về nỗi khát vọng mênh mông (t. 366). Trước chân lý kinh hoàng ấy, Zarathustra đã bao phen do dự, thụt lùi, sợ hãi. Hắn phải tìm về an ủi trong nỗi cô đơn heo hút, tự phủ dụ mình bằng những hạnh phúc đuổi theo sau (Về niềm lạc phúc bất đắc dĩ, t. 266; Trên núi Ôliu, t. 287; Trở lại quê hương, t. 304); hắn phải đập vỡ một lần cho mãi mãi tất cả những ảo tưởng xưa cũ (Về những bảng giá trị cũ và mới, t. 325), phải đánh những đòn chí tử vào kẻ thù cố cựu là Tinh thần Trì độn Nặng nề, tinh thần làm trì trệ không cho con người phóng mình nhảy múa thênh thang (t. 318-324) biểu hiện là conrắn đen trong cổ họng mục tử và thằng lùn; hắn phải xưng dương những điều bị cấm đoán (Về ba điều xấu ác, t. 310). Phần thứ ba được kết thúc bằng hai ca khúc: Vũ khúc thứ nhì (t. 370) là tiếng hoan ca của niềm vui trên đau khổ. Bảy ấn tích hay là Khúc ca thuận mệnh (t. 376) là ấn tích của tiếng “Vâng” linh thánh đóng trên vòng biến dịch của sự quy hồi vĩnh viễn. Bài thơ ở phân đoạn ba của Vũ khúc thứ nhì, sau này đã được nhạc sĩ Mahler phổ vào trong “Hòa tấu khúc số 3” và được nhạc sĩ Delius dùng làm phần trang trọng nhất trong bản “Lễ đời”.

Phần thứ tư của tác phẩm mang một đặc chất riêng biệt, trái nghịch với ba phần trước cả về văn thể lẫn trong dự định. Phần này được xây dựng lớp lang như một đoản kịch. Trong khi vui hưởng sự cô đơn phong mật của mình tại thạch động cùng hai con thú thân yêu, Zarathustra gặp lại viên bốc sư tiên tri và lão này muốn đem lòng xót thương bác ái, “tội lỗi cuối cùng”, để quyến dụ thử thách hắn. Tâm trí Zarathustra rối loạn tơi bời, nhưng hắn đã vượt thắng được cám dỗ cuối cùng đó. Trong lúc ấy, Zarathustra nghe một tiếng kêu đầy thống khổ điêu linh xui hắn lên đường tìm kiếm Con người thượng đẳng, kẻ đã phát ra tiếng kêu thống khổ. Hắn lần lượt gặp hai ông vua dắt một con lừa, một người bị đỉa bám vào tay hút máu, viên pháp sư, vị giáo hoàng cuối cùng nay đã nghỉ việc vì Thượng đế đã chết, kẻ xấu xí nhất loài người đã giết chết Thượng đế, một kẻ giàu sang vô hạn đã từ bỏ của cải của mình để biến thành người ăn xin tự nguyện, và cuối cùng là chiếc bóng lang thang phiêu bạt của hắn. Trong khi tất cả đều tề tựu đến hang đá của Zarathustra, hắn nằm ngủ giữa buổi Ngọ Thiên, “trong nỗi lặng yên tịch mịch cùng niềm bí ẩn của cỏ dại muôn màu”, vui hưởng hạnh phúc triền miên. Về đến hang khi chiều xuống, Zarathustra nhận ra rằng Con người thượng đẳng mà hắn lao đao tìm kiếm suốt ngày hôm nay, chính là tất cả những kẻ hắn đã từng gặp gỡ. Hắn dự Bữa ăn cuối cùng với bọn họ, thuyết giáo về Con người thượng đẳng, rồi lẻn ra khỏi hang tìm lại bầu không khí lồng lộng thuần khiết trên cao. Hang đá ồn ào những tiếng cười nói của những con người thượng đẳng, Zarathustra quay vào hang một lần, rồi lại lẻn ra khỏi hang vui hưởng cô đơn. Khi nghe hang đá đột nhiên im bặt tiếng người, Zarathustra quay trở vào thì bắt gặp những con người thượng đẳng đang tôn vinh và sùng bái con lừa lên ngôi Thượng đế. Zarathustra phá vỡ lễ trọng dành cho con lừa và dẫn tất cả ra ngoài hang đá. Đêm đã đến. Nửa Đêm đang đến, và những con người thượng đẳng cười tươi hoan hỉ trong hạnh phúc huyền diệu vô ngần. Sáng hôm sau, trong khi tất cả những con người thượng đẳng còn đang mê ngủ, Zarathustra thức giấc cùng mặt trời, một mình ra khỏi hang và nhìn thấy Dấu hiệu báo tin cho hắn đã xuất hiện: con sư tử tươi cười hoan hỉ và đàn bồ câu bay quanh. Giờ cho đạo lý tối thượng của Zarathustra đã đến. Tác phẩm kết thúc với quang cảnh Zarathustra lại rời hang đá để bắt đầu một cuộc đăng trình mới, “mạnh mẽ như một mặt trời ban mai”.

Nhằm mục đích giúp bạn đọc nắm vững ý nghĩa những nhân vật biểu tượng trong phần thứ tư này, chúng tôi xin mô phỏng theo Gilles Deleuze trong cuốn Nietzsche (P. U. F, 1965, t. 42-43) để dựng lại những khuôn mặt của Con người thượng đẳng:

1) Vị giáo hoàng cuối cùng: kẻ biết rằng Thượng đế đã chết, nhưng lại tin rằng Thượng đế chết vì ngạt thở bởi lòng xót thương bác ái dành cho con người. Không còn chủ nhân nữa, nhưng ông ta vẫn chẳng tự do và chỉ sống trong hoài niệm.

2) Hai ông vua: biểu trưng cho trào lưu của “đạo đức phong tục” một thứ đạo đức muốn đào luyện và huấn luyện con người trở thành con người tự do bằng những phương tiện tàn bạo, bức bách nhất. Vì thế, mới có hai ông vua, ông vua bên trái tượng trưng cho những phương tiện, ông vua bên phải tượng trưng cho những cứu cánh. Thế nhưng, trước hay sau cái chết của Thượng đế, nền đạo đức đó cũng đều suy đồi và chỉ đưa tới sự chiến thắng của đám tiện dân, nô lệ. Hai ông vua dắt theo Con lừa, về sau được những người Thượng đẳng tấn phong làm Thượng đế mới.

3) Con lừa (hay Con lạc đà ở phần I): những con thú của miền sa mạc (hư vô chủ nghĩa). Chúng mang vác, mang vác những gánh nặng đến sa mạc. Hai khuyết điểm của con lừa: tiếng “Không” khước từ của nó xuất phát từ tinh thần cừu hận và tiếng “Vâng” chấp nhận của nó (I-A, I-A) là một tiếng Vâng giả mạo, tiếng Vâng ấy đồng nghĩa với mang vác, đảm đương. Thoạt tiên, con lừa tượng trưng cho người Ki-tô giáo: nó mang vác những giá trị gọi là “siêu việt bên trên đời sống”. Sau cái chết của Thượng đế, tự nó mang vác chính mình, mang vác sức nặng những giá trị của “con người trần thế”. Vì cho rằng mình đảm nhận “thực tại như nó là thế” cho nên con lừa được những người Thượng đẳng phong làm Thượng đế mới. Con lừa chỉ là hình ảnh méo mó buồn cười và phản bội của tiếng “Vâng” linh thánh theo tinh thần Dionysos. Con lừa khẳng định, nhưng chỉ khẳng định những sản phẩm của hư vô chủ nghĩa. Hai lỗ tai dài của nó đối nghịch với những lỗ tai thanh mảnh nhỏ nhắn khúc khuỷu của Dionysos và Ariane.

4) Kẻ xấu xí nhất loài người: là kẻ đã giết chết Thượng đế vì không chịu đựng nổi lòng xót thương bác ái của Thượng đế. Thế nhưng, sau khi Thượng đế chết rồi, con người y vẫn là con người cũ; và lại còn xấu xí hơn nữa: thay vì sống trong ý thức bất ổn rằng Thượng đế đã chết cho mình, giờ đây y lại sống trong ý thức bất ổn rằng Thượng đế đã chết vì tay mình; thay vì lòng thương xót đến từ Thượng đế, bây giờ y phải chịu đựng lòng xót thương càng khó chịu đựng hơn nữa của đám tiện dân. Chính y là kẻ làm chủ lễ tấn phong con lừa lên ngôi Thượng đế mới, và khiến con lừa thốt ra tiếng “Vâng” (I-A) giả mạo.

5) Kẻ tận tâm của tinh thần: là kẻ muốn thay thế những giá trị thiêng liêng, thay thế tôn giáo và ngay cả đạo đức nữa bằng tri thức. Tri thức phải có tính cách khoa học, chính xác, rạch ròi, bất luận đối tượng của nó là lớn hay nhỏ. Tri thức chính xác về sự vật nhỏ nhoi nhất sẽ thay thế cho lòng tin tưởng của chúng ta vào những giá trị “lớn lao, vĩ đại” đầy chất mơ hồ. Vì vậy, gã mới chìa tay cho đỉa cắn và mới chú tâm thực hiện lý tưởng của mình là nghiên cứu một đối tượng vô cùng nhỏ bé: bộ óc loài đỉa. Nhưng gã chẳng biết rằng tri thức cũng chính là loài đỉa, tri thức thay thế cho tôn giáo và đạo đức bằng cách theo đuổi cùng một mục tiêu như chúng: cắt xén, phân xẻ, phán đoán cuộc sống.

6) Người ăn xin tự nguyện: một kẻ đã từ khước ngay cả chính tri thức. Gã chỉ tin vào hạnh phúc của con người và đi tìm hạnh phúc ấy trên mặt đất trần gian. Nhưng một hạnh phúc dẫu tầm thường đến đâu, cũng không thể tìm thấy được nơi đám tiện dân, tức bọn người đầy tinh thần cừu hận phục thù và đầy ý thức bất ổn. Hạnh phúc chỉ được tìm thấy nơi những con bò.

7) Viên pháp sư: là con người của ý thức bất ổn, tự giày vò hành hạ mình thường trực, khi Thượng đế còn sống cũng như khi Thượng đế đã chết. Ý thức bất ổn nhất thiết mang tính cách phô bày, trình diễn. Nó trình diễn đủ mọi vai trò, ngay cả vai trò của kẻ vô thần, của thi sĩ, của Ariane. Nhưng ý thức ấy luôn luôn dối trá và mắng rủa lại. Khi than trách rằng “đây là lỗi của tôi”, nó muốn gợi lòng thương xót, gợi ra ngay cả mặc cảm phạm tội nơi những con người hùng mạnh, nó muốn làm hổ thẹn tất cả những gì sống động, nó muốn tung rải nọc độc khắp nơi. Trong lời than vãn của nó, vẫn có “một chiếc còi rúc giả tiếng chim”.

8) Chiếc bóng: biểu trưng cho hoạt động của văn hóa, ở bất cứ chỗ nào, nó cũng tìm cách thực hiện mục tiêu của mình là trở thành một con người tự do, được tuyển lựa và đào luyện: trong tri thức, trong hạnh phúc, khi còn Thượng đế, lúc Thượng đế đã chết... Nhưng mà nơi nào nó cũng chộp hụt mục tiêu của mình vì chính mục tiêu ấy cũng là một Chiếc bóng. Mục tiêu Con người thượng đẳng ấy bị thất bại, hụt hỏng. Chiếc bóng đã lang thang phiêu bạt theo Zarathustra đi khắp mọi nơi, nhưng lại vắng mặt vào hai giờ phút quan trọng nhất báo hiệu sự Hóa thân: giờ phút nửa trưa đứng bóng của buổi Ngọ Thiên và giờ phút Nửa Đêm.

9) Viên bốc sư tiên tri: rao giảng rằng “mọi sự đều vô bổ”. Y báo trước giai đoạn cuối cùng của chủ nghĩa hư vô: lúc mà con người thấy nỗ lực thay thế Thượng đế của mình là phù phiếm, thấy rằng chẳng thà đừng ước muốn gì cả còn hơn là ước muốn hư vô. Vì thế, viên bốc sư tiên tri tiên báo sự xuất hiện của con người mạt hậu hay con người hạ đẳng. Vì biểu trưng trước được kết cục của hư vô chủ nghĩa, nên y đã tiến bước xa hơn những con người thượng đẳng. Nhưng điều thoát vuột khỏi lão, chính là điều hãy còn nằm ở quá bên kia con người mạt hậu hạ đẳng: con người ước muốn sự suy tàn của chính mình. Với mẫu người này, hư vô chủ nghĩa được thành tựu thực sự và được thắng vượt bởi chính sức mạnh của mình: đã gần đến giờ phút hóa thân, giờ phút của Siêu nhân.

*

* *

Trên tất cả, vẫn là ẩn ngữ của nhân vật Zarathustra. Zarathustra là ai? Heidegger đã từng có phen nêu ra câu hỏi.

“Zarathustra đã nói như thế” đồng vọng lại lời kinh Phật. Tôi đã nghe như thế, như thị ngã văn. Thế nhưng cái “Như Thị” của cái “Ngã Văn” ấy là gì? Đạt đến cái Như Thị ấy là bước vào cõi miền lồng lộng của Như Lai.

Zarathustra đã nói như thế. Nhưng Zarathustra là ai? Là một kẻ phá hoại lẫm liệt thênh thang trong thiện và ác? Một kẻ nuôi dưỡng mối nguy hiểm lớn lao nhất, cơn đau bệnh tàn tạ triền miên trong tâm hồn? Một tảng đá ném vỡ những vì sao? Một kẻ bỉ báng vô luân, sẵn sàng bắt tay với quỷ dữ? Một kẻ dạy con người ám sát Thượng đế để Siêu nhân ngự trị? Một kẻ rao giảng về vòng trầm luân của sự quy hồi vĩnh cửu? Một kẻ tung hoa hồng chúc phúc cho thế giới trong niềm hoan lạc triền miên ngây ngất? Một tiếng hát thiêng liêng vút lên trong Đêm tối? Một nguồn suối buốt lạnh trên đỉnh cao đang mơ mộng một bầu trời thiên thanh vĩnh thúy? Một kẻ mang mặt nạ la hét cô đơn trong một “tác phẩm dành cho tất cả và không dành cho một ai”?

Câu hỏi vẫn còn rớt lại từ bao giờ trên một Cõi miền phong kín thiên thu.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 28.03.2017, 10:24
Hình đại diện của thành viên
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
V.I.P of CLB Tiểu Thuyết
 
Ngày tham gia: 31.12.2016, 00:00
Tuổi: 22 Nữ
Bài viết: 5123
Được thanks: 894 lần
Điểm: 10.07
Có bài mới Re: [Triết học Đức] Zarathustra Đã Nói Như Thế - Friedrich Nietzsche - Điểm: 10
Chương 3 - Zarathustra Đã Nói Như Thế


TỰ NGÔN CỦA ZARATHUSTRA

“ZARATHUSTRA ĐÃ NÓI NHƯ THẾ” Tác phẩm dành cho tất cả và không dành cho một ai.

Năm ba mươi tuổi, Zarathustra rời xứ và hồ lên núi. Trên núi cao, Zarathustra hưởng thụ tinh thần và nỗi cô đơn của mình triền miên không hề mỏi mệt trong suốt mười năm. Nhưng sau cùng, tâm hồn Zarathustra biến đổi; một buổi sáng nọ, thức giấc cùng bình minh, Zarathustra tiến đến trước mặt trời và thốt ra những lời sau:

Hỡi thiên thể vĩ đại kia! Hạnh phúc của mi sẽ ra sao nếu không có những người mà mi soi chiếu?

Mười năm nay kể từ khi đến với hang đá của ta, mi sẽ chán nản mệt mề với ánh sáng và quỹ đạo của mi, nếu không có ta cùng con ó và con rắn của ta.

Nhưng chúng ta đã đợi chờ mi mỗi sáng mai, chúng ta đã dùng phần dư thừa của mi và đã cảm tạ mi.

Giờ đây, ta đã chán ngán sự khôn ngoan của ta, như con ong đã hút quá nhiều mật. Ta cần có những bàn tay vươn về với ta.

Ta muốn ban cho và phân phát, mãi đến lúc những kẻ hiền minh giữa loài người lại trở nên hạnh phúc vì sự điên cuồng của họ, và những kẻ nghèo nàn được sung sướng vì sự giàu có của mình.

Chính vì thế ta phải đi xuống tận những chiều sâu tương tự như mi mỗi buổi chiều khi mi biến mình sau biển cả, mang theo ánh sáng rạng rỡ cho thế giới dưới lòng đất, hỡi vì tinh tú giàu sang vô lượng kia!

Ta phải biến mất như mi, ta phải lặn tắt[1] - nói theo những người mà ta khát khao xuống cùng họ.

Vậy thì, hỡi con mắt tĩnh lặng kia ơi, hãy chúc phúc cho ta, mi, kẻ có thể ngắm nhìn mà không thèm thuồng đố kỵ một hạnh phúc dẫu có quá đà.

Mi hãy chúc phúc cho ly rượu muốn tràn, cho chất nước óng vàng chảy tuôn từ đó và mang theo khắp nơi phản ánh hạnh phúc tối đại của mi.

Mi hãy nhìn đây! Chén rượu này lại muốn cạn không và Zarathustra muốn trở lại làm người.

Cuộc hạ san[2] của Zarathustra bắt đầu như thế.

2

Zarathustra một mình xuống núi và không gặp một ai. Nhưng khi Zarathustra tiến vào rừng, trước mặt hắn bất ngờ hiện ra một lão trượng, ông lão đã rời chiếc chòi tranh thánh thiện của mình để đi tìm rễ cây trong rừng. Và lão trượng đã nói với Zarathustra như thế vầy:

- Người lữ khách này không xa lạ với ta; cách đây nhiều năm rồi hắn đã có lần qua đây. Hắn tên là Zarathustra, nhưng hắn đã biến đổi.

Lúc ấy ngươi đã mang tro tàn của ngươi về núi; nay ngươi lại muốn mang lửa nồng về thung lũng hay sao? Ngươi há không sợ hình phạt dành cho kẻ gây ra hỏa hoạn?

Phải rồi, ta đã nhận ra Zarathustra. Mắt hắn trong suốt và miệng hắn chẳng biểu lộ nét nào chán ngán. Hắn chẳng bước đi như kẻ đang khiêu vũ đó sao?

Zarathustra đã biến đổi. Hắn đã tự hóa thân thành trẻ thơ, hắn đã giác ngộ: giờ đây ngươi còn tìm chi bên những người đang mê ngủ?

Ngươi đã sống trong cô đơn như sống giữa lòng biển cả dạt dào, và biển cả mang ngươi đi. Khổ thân cho ngươi, vậy ra giờ ngươi lại muốn dạt tấp vào bờ? Khổ thân cho ngươi, giờ ngươi lại muốn tự mình kéo lôi theo thân xác?

Zarathustra trả lời: “Tôi yêu loài người”.

- Vậy thì, nhà hiền triết bảo, tại sao ta lại đi vào rừng và đi vào trong nỗi cô đơn? Không phải vì ta đã quá yêu thương loài người sao?

Giờ đây ta yêu thương Thượng đế; ta không thương yêu loài người. Dưới mắt ta, loài người là một cái gì quá đỗi bất toàn. Tình yêu loài người sẽ giết chết ta.

Zarathustra đáp: “Nào tôi có nói đến tình yêu! Tôi đến hiến cho loài người một tặng phẩm”.

Vị thánh tiếp lời:

- Đừng ban cho loài người điều gì cả. Tốt hơn ngươi nên tháo gỡ họ ra khỏi một cái gì đó và giúp họ mang vác nó, chẳng gì quý hơn thế đối với họ: miễn là, điều đó cũng làm chính bản thân ngươi thỏa dạ!

Và nếu ngươi muốn ban cho, thì đừng ban cho họ cái gì vượt quá một của bố thí và hãy chờ họ đến ăn mày nơi ngươi!

Zarathustra đáp:

- Không, tôi không bố thí. Tôi không đủ nghèo để làm việc bố thí.

Vị thánh bật cười vì lời lẽ của Zarathustra và nói như vầy: “Vậy thời ngươi hãy cố gắng làm cho họ chấp nhận kho tàng của ngươi. Họ nghi ngờ những ẩn sĩ cô đơn và không tin rằng chúng ta đến để gia ơn ban phát cho họ.

Đối với họ, những bước chân của chúng ta vang lên trên đường phố mang một âm thanh quá đỗi tịch liêu. Họ lại còn sinh lòng lo ngại khi ban đêm nằm ngủ trên giường, họ nghe tiếng một người lặng lẽ bước đi ngoài đường phố, rất lâu trước khi mặt trời ló dạng, có lẽ họ tự hỏi mình: “Kẻ trộm kia đang làm gì vậy?”

Ngươi đừng nên đến với loài người, hãy ở lại với rừng cao! Tốt hơn nữa ngươi nên đến với những con thú! Tại sao ngươi lại không muốn được như ta, một con gấu giữa đàn gấu, một con chim giữa bầy chim?”

“Và vị thánh làm gì trong rừng sâu?” Zarathustra lên tiếng hỏi.

Vị thánh trả lời: “Ta sáng tác những bản nhạc và hát lên, và khi sáng tác, ta cười, ta khóc, ta gầm gừ: đó là cách ta ngợi ca Thượng đế.

Bằng những bài ca, những tiếng khóc, tiếng cười, tiếng gầm gừ, ta tạ ơn Thượng đế của ta. Nhưng còn ngươi, ngươi mang đến món quà gì cho chúng ta?”

Khi Zarathustra nghe hết những lời này, hắn cúi chào vị thánh và bảo: “Tôi có thể cho ngài gì đây? Thôi, xin ngài hãy để tôi đi ngay, cốt cho tôi đừng lấy của ngài món gì cả!” Rồi hai người, ông lão và người đàn ông, chia tay nhau như thế, tươi cười như hai đứa bé.

Nhưng khi Zarathustra một mình, hắn tự hỏi lòng: “Có thể như thế được chăng? Vị thánh già nua sống trong rừng thẳm ấy hãy còn chưa nghe nói rằng Thượng đế đã chết rồi sao?”

3

Khi Zarathustra đặt chân vào thành phố gần nhất ven rừng, hắn gặp một đám đông đang tụ họp trên công trường, vì người ta báo trước rằng một người làm trò đi dây xiếc sắp biểu diễn. Và Zarathustra nói với dân chúng như vầy:

Ta rao giảng với các ngươi về Siêu nhân. Con người là cái gì cần phải được vượt qua. Các ngươi đã làm gì để vượt qua con người?

Cho đến nay, tất cả những sinh vật đều đã sáng tạo nên một cái gì vượt quá chúng, các ngươi lại muốn mình là nghịch triều trong cơn sóng lớn ấy, muốn quay trở lại với con thú hơn là vượt qua con người sao?

Con khỉ đối với con người là gì? Một đối tượng cười nhạo hay một sự hổ thẹn đầy đớn đau. Và con người cũng phải như thế đối với Siêu nhân: một đối tượng để cười nhạo hay một hổ thẹn đớn đau.

Các ngươi đã vượt qua con đường dẫn từ loài sâu bọ đến loài người, nhưng về nhiều phương diện, các ngươi vẫn còn là loài sâu bọ. Xưa kia các ngươi đã là loài khỉ và cả bây giờ nữa, con người còn khỉ hơn bất luận con khỉ nào.

Ngay kẻ hiền triết nhất trong các ngươi cũng chỉ là một cái gì phân tán và hỗn tạp: nửa cây nửa ma. Thế mà, ta có mời gọi các ngươi trở thành cây cối hay ma quỷ không?

Này đây, ta rao dạy cho các ngươi Siêu nhân!

Siêu nhân là chiều hướng, là ý nghĩa của trái đất. Ý chí các ngươi phải bảo: Siêu nhân phải là chiều hướng, ý nghĩa của trái đất.

Hỡi những người anh em, ta van xin các ngươi, hãy trung thành với mặt đất và chớ có tin những kẻ nói với các ngươi về những hy vọng lững lờ bên trên mặt đất! Họ là những kẻ đầu độc, dẫu họ có ý thức điều đó hay không.

Họ là những kẻ khinh miệt đời sống, những kẻ hấp hối và cũng chính là những kẻ bị đầu độc, mặt đất đã quá mỏi mệt chán chê họ: họ hãy cút đi cho khuất mắt!

Xưa kia, báng bổ Thượng đế là lời báng bổ nặng nhất, nhưng Thượng đế đã chết và cũng chết theo Thượng đế là những kẻ báng bổ ấy. Giờ đây, điều đáng kinh khiếp hơn nhiều, là báng bổ mặt đất và coi trọng ruột rà của cái bất khả thấu nhập hơn ý nghĩa, chiều hướng của mặt đất!

Xưa kia, linh hồn đưa mắt nhìn thân xác với vẻ khinh miệt, và lúc bấy giờ, chẳng có gì cao cả hơn sự khinh miệt ấy: linh hồn muốn cho thân xác ốm o, khả ố, đói khát! Làm thế, linh hồn tưởng là đã thoát được thân xác, thoát được thân xác và mặt đất!

Ôi! Linh hồn ấy chính nó cũng còn ốm o, khả ố và đói khát: và sự tàn bạo là nỗi khoái lạc của linh hồn này.

Nhưng cả các ngươi nữa, hỡi những anh em của ta, hãy nói cho ta biết: thân xác các ngươi báo hiệu gì được cho linh hồn các ngươi? Linh hồn các ngươi há chẳng phải là sự nghèo nàn, nhơ bẩn cùng sự tự mãn đáng thương sao?

Thật ra, con người là một dòng sông nhơ bẩn. Phải là biển cả bao la mới có thể dung thông tiếp nhận một dòng sông uế trược mà không bị nhiễm ô.

Này đây, ta rao giảng cho các ngươi về Siêu nhân: Siêu nhân là biển cả bao la nơi cơn khinh bỉ ngút ngàn của các ngươi có thể đến dìm mình vào đó.

Còn gì cao nhã trác việt có thể đến với các ngươi cho bằng giờ phút của sự khinh bỉ ngất trời? Giờ phút mà ngay cả hạnh phúc, lý trí cùng đức hạnh của các ngươi cũng biến thành kinh tởm.

Giờ phút mà các ngươi bảo rằng: “Sá gì hạnh phúc của ta! Hạnh phúc ấy là sự nghèo nàn, nhơ bẩn và sự tự mãn đáng thương. Thế mà, hạnh phúc của ta lẽ ra phải làm cho chính cuộc hiện sinh thành chính đáng!”

Giờ phút mà các ngươi bảo rằng: “Sá gì lý trí ta! Lý trí ấy có khát khao hiểu biết, như con sư tử khát khao lương thực không? Lý trí chỉ là sự nghèo nàn, nhơ bẩn và sự tự mãn đáng thương!”

Giờ phút mà các ngươi bảo rằng: “Sá gì đức hạnh của ta! Nó hãy còn chưa làm ta thành mê sảng. Ta chán nản mệt mỏi với những điều thiện và điều ác của mình lắm rồi! Tất cả những thứ đó chỉ là sự nghèo nàn, nhơ bẩn và sự tự mãn đáng thương!”

Giờ phút mà các ngươi bảo rằng: “Sá gì sự công chính của ta! Chẳng có lửa nồng nào bao phủ trong ta. Thế mà, kẻ công chính giống như một thỏi than nóng bỏng!”

Giờ phút mà các ngươi bảo rằng: “Sá gì sự thương hại nơi ta! Lòng thương hại há chẳng phải là cây thập giá nơi thiên hạ đóng đinh kẻ yêu thương loài người sao? Nhưng lòng thương hại của ta không phải là một cuộc đóng đinh.”

Các ngươi đã từng nói như vậy bao giờ chưa? Các ngươi đã từng thét lớn như vậy bao giờ chưa? Hỡi ôi! Giá gì ta đã được nghe các ngươi thét to lên những lời như thế!

Không phải tội lỗi, nhưng chính sự tự mãn của các ngươi đang kêu gào chống lại trời xanh, chính sự bủn xỉn của các ngươi, ngay cả trong tội lỗi, đang ra sức kêu gào với trời xanh!

Vậy thời, đâu là lằn chớp dữ đến liếm lưỡi vào các ngươi? Đâu là cơn điên cuồng phải thấm nhập vào các ngươi?

Này đây, ta rao dạy cho các ngươi về Siêu nhân: Siêu nhân chính là lằn chớp dữ, chính là cơn điên cuồng đó!

Khi Zarathustra đã nói như thế, có một kẻ trong đám đông kêu to lên: “Chúng tôi nghe nói khá nhiều về người đi dây làm xiếc rồi: giờ hãy cho chúng tôi thấy mặt y thôi!” Và cả đám dân chúng rộ lên cười Zarathustra. Nhưng người đi dây làm xiếc lại tưởng thiên hạ nói đến mình, nên liền khởi đầu biểu diễn.

4

Trong khi đó, Zarathustra lặng nhìn đám dân chúng, lòng đầy kinh ngạc. Rồi Zarathustra lên tiếng:

Con người là một sợi dây căng thẳng giữa con thú và Siêu nhân - sợi dây căng ngang một hố thẳm.

Vượt qua hố thẳm: nguy hiểm; cất bước giữa đường đi: nguy hiểm; nhìn lại đằng sau: nguy hiểm - rùng mình sởn ốc và đứng dừng: nguy hiểm.

Điều cao đại nhất nơi con người nằm ở chỗ con người là một chiếc cầu chứ không phải một mục tiêu; điều mà ta có thể yêu thương nơi con người là: con người là một sự chuyển tiếp và một sự suy tàn[3].

Ta yêu những kẻ nào chỉ biết sống bằng cách làm cho mình trầm một, diệt vong, vì họ đang bước qua bờ bến bên kia.

Ta yêu những kẻ khinh bỉ ngất trời, vì họ chính là những kẻ ngưỡng mộ mê cuồng, những mũi tên của khát vọng lao vút qua bến bờ bên kia.

Ta yêu những kẻ không để tâm tìm kiếm bên kia những vì sao một lý lẽ để diệt vong hay để hy sinh, mà trái lại chỉ hy sinh dâng hiến cho mặt đất, để một ngày kia, thời đại của Siêu nhân ngự trị trên mặt đất.

Ta yêu kẻ nào sống để hiểu biết và muốn hiểu biết để cho một ngày kia Siêu nhân được sống mãi. Như thế là họ cũng ước muốn chính sự suy tàn của mình.

Ta yêu kẻ nào làm việc và phát minh, để xây dựng nơi trú ngụ cho Siêu nhân, để sửa soạn đất đai, thú vật cùng cây cối cho Siêu nhân xuất hiện: vì như thế là ước muốn chính sự suy tàn của mình.

Ta yêu kẻ nào yêu mến chính đức hạnh của họ: bởi vì đức hạnh là một ý chí muốn sự suy tàn, và một mũi tên của khát vọng.

Ta yêu kẻ nào không dành lại cho chính mình một mảnh nhỏ nào của tinh thần, kẻ nào muốn hoàn toàn là tinh thần của đức hạnh mình: vì với tư cách là tinh thần như thế, họ băng vượt qua cầu.

Ta yêu kẻ biến đức hạnh mình thành ý hướng và vận mệnh của chính mình: vì như thế, do tình yêu đức hạnh của chính mình, họ mới khát khao sống thêm và không sống thêm nữa.

Ta yêu kẻ nào không khát khao có quá nhiều đức hạnh. Có nhiều đức hạnh trong một đức hạnh duy nhất hơn là trong hai đức hạnh: đấy là một nút thắt nơi số mệnh đan kết.

Ta yêu kẻ nào có linh hồn phung phá, không muốn người khác cảm ơn mình và cũng chẳng hồi trả lại: bởi vì họ luôn luôn ban phát và không muốn trì thủ lấy cho mình.

Ta yêu kẻ nào hổ thẹn khi vận may ngả về với mình, và tự đặt câu hỏi: ta có gian lận chăng? - bởi vì họ muốn diệt vong.

Ta yêu kẻ nào ném ra những lời vàng ngọc đằng trước những hành vi của họ và luôn luôn giữ đúng hơn những gì mình hứa: bởi vì họ muốn chính sự suy tàn của mình.

Ta yêu kẻ nào biện chính cho những người trong tương lai và giải thoát cho những người trong quá khứ, vì họ muốn diệt vong bởi những người hiện tại.

Ta yêu kẻ trừng phạt Thượng đế của mình vì yêu Thượng đế đó: cần phải để cho cơn phẫn nộ của Thượng đế họ làm họ diệt vong.

Ta yêu kẻ nào tâm hồn sâu thẳm, ngay cả trong vết thương, kẻ mà một tai ương nhỏ bé nhất cũng có thể làm họ diệt vong; vì họ sẽ hân hoan vượt qua cầu không hề do dự.

Ta yêu kẻ nào tâm hồn tràn đầy viên mãn đến độ tự quên chính mình, và tất cả mọi sự đều được cưu mang trong họ: như thế tất cả mọi sự đều sẽ trở thành sự suy tàn của chính họ.

Ta yêu kẻ nào tự do tự tại trong tâm hồn và trong tinh thần: như thế đầu óc họ chỉ dùng làm ruột rà cho quả tim, nhưng quả tim họ kéo họ về sự suy tàn.

Ta yêu những kẻ nào tựa như những giọt nặng đang kiên trì rơi từng giọt một từ tảng mây tối ám lơ lửng trên đầu loài người: họ báo trước lằn chớp dữ đang đến và diệt vong với tư thế là những người tiên báo.

Này đây, ta là một đấng tiên tri của sấm sét, một giọt nặng rơi từ mây xuống: sấm sét đó tên là Siêu nhân.

5

Khi Zarathustra đã nói xong những lời này, hắn lại nhìn đám dân chúng lần nữa, rồi im lặng tự nhủ lòng mình:

Họ đang phá ra cười kìa; họ chẳng hề hiểu ta, miệng ta không hợp cho những lỗ tai đó.

Liệu ta có phải chọc thủng tai họ để cho họ học nghe bằng mắt? Liệu ta có phải đánh chũm chọe và la gào như những linh mục thuyết giáo trong tuần chay? Hoặc giả dân chúng chỉ tin vào những kẻ ăn nói cà lăm?

Họ có một cái gì đó làm họ hãnh diện. Vậy, họ gọi tên cái đang làm họ hãnh diện là gì? Họ gọi đó là nền văn minh, chính nền văn minh làm họ khác biệt với kẻ chăn dê.

Chính vì thế, về những người đó, họ không thích nghe chữ “khinh bỉ”. Vậy thời ta sẽ ngỏ lời với lòng kiêu hãnh của họ.

Ta sẽ nói cho họ nghe về điều đáng khinh bỉ hơn cả: đấy là con người cuối cùng hay con người hạ đẳng nhất.[4]

Và Zarathustra nói với dân chúng như vầy:

“Đã đến lúc con người tự đặt cho mình một mục tiêu. Đã đến lúc con người vun trồng mầm mống hy vọng cao đại nhất của mình.

Đất đai con người hiện giờ hãy còn khá màu mỡ. Nhưng một ngày kia, đất đai ấy sẽ thành khô kiệt nghèo nàn, và chẳng một cây đại thụ nào còn có thể mọc lên ở đó nữa.

Than ôi! Đã gần đến lúc mà con người không còn bắn vượt qua con người mũi tên của khát vọng họ, lúc mà dây cung của họ sẽ không thể rung vang nữa!

Ta nói thật cùng các ngươi điều này: phải còn mang theo mình sự hỗn mang, mới có thể làm nảy sinh một ngôi sao lung linh điệu vũ. Ta nói thật cùng các ngươi điều này: các ngươi đang mang trong bản thân mình một sự hỗn mang.

Hỡi ôi! Đã gần đến lúc mà loài người không còn khai sinh ra những vì sao mới trên trần thế nữa. Hỡi ôi! Đã gần đến lúc xuất hiện kẻ đáng khinh bỉ nhất của loài người, kẻ không còn tự biết khinh bỉ chính mình.

Này đây, ta tả cho các ngươi về con người hạ đẳng nhất.

“Tình yêu? Sáng tạo? Khát vọng? Sao trên trời? Mấy cái đó là thứ gì vậy?” Con người hạ đẳng nhất hỏi như thế và nheo nheo một mắt.

Mặt đất sẽ trở thành chật hẹp hơn và con người hạ đẳng nhất nhảy cà tưng cà tang trên đó, con người thu nhỏ tất cả mọi sự lại. Dòng giống hắn cũng vững bền không thể hủy diệt được như loài rệp cây; con người hạ đẳng nhất là kẻ sống rất dai.

“Chúng tôi đã phát minh ra hạnh phúc”, những người hạ đẳng nhất nói như thế và họ nheo nheo một mắt.

Họ đã bỏ rơi những xứ miền ở đó đời sống kham khổ: vì họ đang cần sức nóng. Họ hãy còn yêu kẻ láng giềng đồng loại và họ cọ xát vào người này: vì họ đang cần hơi nóng.

Đối với họ, ngã bệnh hoặc sống với lòng hoài nghi là một tội lỗi: họ thận trọng tiến bước trên đời. Thật quả là kẻ điên mới còn va chạm những hòn đá hay những con người!

Một ít thuốc độc nơi này, nơi nọ: điều đó ban cho họ những giấc mộng thoải mái. Và sau cùng, nhiều thuốc độc để được chết một cách thoải mái.

Người ta cũng hãy còn làm việc, vì việc làm là một sự phóng tâm tiêu khiển. Nhưng người ta cẩn trọng lưu tâm sao cho sự phóng tâm tiêu khiển ấy không làm mình mệt.

Người ta không còn trở thành nghèo hay giàu nữa: chuyện đó quá đỗi khó nhọc. Ai là kẻ còn muốn cai trị? Ai là kẻ còn muốn được vâng lời? Chuyện đó quá đỗi khó nhọc.

Chẳng có lấy một người chăn chiên, chỉ rặt một đàn cừu! Ai nấy đều ước muốn cùng một điều; mọi người đều bình đẳng: kẻ nào mang một tâm trạng khác sẽ sẵn lòng vào nhà thương điên.

“Ngày xưa, mọi người đều điên cả”, những kẻ tinh tế nhất trong bọn họ bảo thế, và họ nheo nheo một mắt.

Họ thận trọng và biết tỏ tường những gì đã xảy ra: đến độ họ không ngớt chế giễu mình về chuyện ấy. Họ cũng còn cãi vã nhau đấy, nhưng để rồi hòa giải với nhau ngay - sợ rằng làm đau dạ dày.

Họ cũng hơi thinh thích ban ngày và hơi thinh thích ban đêm: nhưng điều họ tôn sùng là sức khỏe.

“Chúng tôi đã phát minh ra hạnh phúc”, những con người hạ đẳng bảo thế, và họ nheo nheo một con mắt”.

Đến đây kết thúc bài thuyết pháp đầu tiên của Zarathustra, bài thuyết pháp cũng được người đời gọi là “Tự ngôn”[5], bởi vì vào lúc ấy, Zarathustra bị ngắt lời bởi những tiếng kêu thét và nỗi vui mừng nhốn nháo của đám đông. “Hỡi Zarathustra! Hãy ban cho chúng tôi con người hạ đẳng nhất ấy - họ kêu lên, - hãy làm cho chúng tôi trở thành giống như những người hạ đẳng nhất ấy! Chúng tôi sẽ khỏi mang nợ Siêu nhân của Zarathustra!” Và toàn thể dân chúng vui mừng sung sướng chậc lưỡi nghe rào rào. Song Zarathustra buồn bã tự nhủ lòng mình:

“Họ chẳng hề hiểu ta: miệng ta không có lời hợp cho những lỗ tai đó.

Hẳn là ta đã sống quá lâu trên núi, ta lắng nghe quá nhiều âm thanh suối nước róc rách cùng tiếng cây cối rì rào: giờ đây ta lại nói với họ như nói với những kẻ chăn dê.

Linh hồn ta thanh thản trong sáng như một ngọn núi ban mai. Nhưng họ lại tưởng ta là người lạnh lẽo và xem ta như một kẻ làm trò hề đang thốt những lời bông lơn trâng tráo.

Và kìa, họ đang nhìn ta và cười rộ: trong khi cười, họ vẫn còn thù ghét ta. Có nỗi gì băng giá trong tiếng cười của họ”.

6

Nhưng vào lúc ấy xảy ra một điều làm cho mọi cửa miệng đều câm tiếng cười và mọi con mắt đều nhìn sững. Vì trong thời gian ấy, người đi dây làm trò xiếc đã khởi sự biểu diễn: anh ta bước ra từ một con đường ngầm ở bờ thành rồi bước đi trên sợi dây căng thẳng giữa hai ngọn tháp, bên trên công trường và đám đông dân chúng. Vào lúc anh ta đang ở ngay giữa đường dây, cánh cửa lại bật mở ra lần nữa, rồi một gã thanh niên quần áo sặc sỡ trông giống như một thằng hề, nhảy ra ngoài rượt mau theo anh chàng đi dây xiếc. Gã cất cái giọng khủng khiếp kêu to: “Tiến lên, đồ khập khễnh, tiến lên mau, đồ chậm chạp, nham hiểm, đồ mặt tái xanh vì sợ hãi! Mau lên không thôi ta sẽ thọc lét mi bằng gót chân ta! Mi đang làm gì giữa hai ngọn tháp vậy? Lẽ ra mi phải bị nhốt trong tháp mới đúng; mi đang cản đường một kẻ tài giỏi hơn mi!” - Và cứ dứt mỗi lời gã lại tiến đến gần anh chàng đi dây thêm một tý; nhưng khi gã chỉ còn cách anh chàng đi dây một bước thì xảy ra chuyện khủng khiếp này làm mọi cửa miệng đều câm tiếng và mọi con mắt đều sững sờ: thằng hề rú lên một tiếng kêu quái dị rồi nhảy qua đầu anh chàng đi dây đang cản đường. Khi nhìn thấy kẻ địch mình chiến thắng, anh chàng đi dây điên đầu lảo đảo hụt chân khỏi dây; chàng ta mất thăng bằng và nhanh như chớp, rơi vào hố thẳm, như một cơn lốc xoáy bằng tay chân người. Công trường và đám đông dân chúng tựa như biển cả khi dông tố nổi lên. Mọi người bỏ chạy hỗn loạn, nhất là đúng nơi mà thân xác chàng đi dây sắp rơi xuống.

Trong lúc đó Zarathustra chẳng hề nhích động, và tấm thân ấy rơi đúng ngay cạnh hắn, rách nát, gãy vụn, nhưng hãy còn sống. Một lúc sau, người bị thương định tỉnh lại và nhìn thấy Zarathustra đang quỳ gối gần anh ta; “Ngài làm gì đấy? chàng ta lên tiếng hỏi. Từ lâu tôi biết rằng sẽ có lúc ma quỷ ngáng chân cho tôi ngã. Giờ đây ma quỷ đang lôi tôi về hỏa ngục: ngài muốn cản đường ma quỷ đừng làm thế chăng?”

- Bạn hỡi, tôi xin đem danh dự bảo cùng bạn: tất cả những điều bạn nói đều không có thực; chẳng có ma quỷ, cũng chẳng có hỏa ngục. Linh hồn bạn sẽ chết, còn chết nhanh hơn là thân xác bạn nữa: vậy, bạn chớ sợ hãi bất luận điều gì!”

Chàng đi dây ngước mắt lên nhìn, ngờ vực. Rồi sau đó chàng ta trả lời: “Nếu quả ngài nói thực, tôi chẳng mất mát gì khi mất đi sự sống. Tôi chỉ còn là một con vật mà người ta bắt nhảy múa bằng những nhát roi và những cái miệng ốm o”.

- Không đâu, Zarathustra đáp, bạn đã lấy nguy hiểm làm nghề của mình, chuyện đó chẳng có gì đáng khinh cả. Giờ đây nghề nghiệp bạn xô bạn vào cõi chết, vì vậy ta sẽ tự tay mai táng bạn”.

Khi Zarathustra dứt lời, kẻ hấp hối không trả lời nữa; nhưng bàn tay chàng ta sờ soạng như muốn tìm bàn tay Zarathustra để tạ ơn.

7

Trong khi đó, hoàng hôn chậm buông và công trường phủ đầy bóng tối; đám đông tản mát ra về vì ngay cả sự tò mò và sự sợ hãi cũng làm cho họ chán. Nhưng Zarathustra vẫn ngồi trên mặt đất, cạnh xác chết, tâm hồn chìm đắm trong những suy tư: Zarathustra đã quên bẵng thời gian. Sau cùng, đêm xuống và một ngọn gió lạnh thổi qua con người cô đơn. Lúc ấy, Zarathustra mới đứng dậy, tự nhủ lòng mình:

“Ngày hôm nay, thật ra Zarathustra đã đánh được một mẻ cá hời! Zarathustra đã không đánh lưới được người sống, nhưng là một xác chết.

Đời sống con người quả thật lạ lùng và bao giờ cũng tối ư vô nghĩa: một thằng hề cũng có thể trở thành điều bất hạnh giáng lên đầu nó.

Ta muốn giảng dạy cho loài người chiều hướng cùng ý nghĩa của cuộc hiện sinh: đó là Siêu nhân, lằn chớp dữ lóe ra từ đám mây ảm đạm là con người.

Nhưng ta hãy còn xa cách họ và tinh thần ta không nói cùng lương năng họ. Đối với loài người, ta hãy còn đứng giữa một thằng điên và một xác chết.

Đêm tối thật mịt mùng, và mịt mùng là những con đường Zarathustra dấn bước. Hãy đến đây, hỡi người bạn đồng hành cứng đơ giá lạnh! Ta mang bạn đến một nơi mà tự tay ta sẽ mai táng bạn”.

8

Khi Zarathustra đã tự nhủ lòng như thế rồi, hắn vác xác chết trên vai và khởi sự lên đường. Nhưng đi chưa được trăm bước thì có một người lẻn đến bên Zarathustra thì thầm bên tai hắn - kẻ đang thì thầm với hắn lại chính là thằng hề trên tháp! Gã thì thào: “Hỡi Zarathustra! Hãy mau rời khỏi thành phố này vì nơi đây có quá nhiều người thù ghét ngài. Những người thiện hảo và công chính thù ghét ngài, họ gọi ngài là kẻ thù và người khinh miệt họ; những tín đồ của đức tin đích thực thù ghét ngài và gọi ngài là mối nguy hiểm cho đám đông. Ngài hãy còn may là được người ta chế giễu, vì thực sự ngài đã ăn nói như một thằng hề. Ngài hãy còn may vì làm bạn với tên chó chết: khi tự hạ mình như thế, ngài đã tự cứu mình được lần này. Nhưng ngài hãy mau lìa bỏ thành phố - bằng không, ngày mai là người sống, tôi sẽ nhảy qua một xác chết”. Sau khi thì thầm như vậy với Zarathustra, thằng hề biến dạng; và Zarathustra tiếp tục hành trình qua những con đường tối ám.

Ở cổng ra vào thành phố, những người phu đào huyệt bắt gặp Zarathustra; họ đưa đuốc soi mặt hắn, và khi nhận ra Zarathustra, họ chế giễu: “Zarathustra mang theo thằng chó chết! Hoan hô, Zarathustra làm kẻ đào huyệt! Vì chúng ta có những bàn tay quá sạch để đào mồ chôn con thịt ấy. Vậy ra Zarathustra muốn ăn trộm thức ăn của quỷ à? Can đảm dữ. Thích thú tợn! Miễn là quỷ sứ đừng ăn trộm khéo hơn Zarathustra! - Quỷ sứ sẽ ăn trộm cả hai người, hắn ta sẽ ngấu thịt cả hai người!” Rồi họ cùng chụm đầu cười vang với nhau.

Zarathustra không thốt một lời, tiếp tục con đường. Sau suốt hai giờ đi dọc theo những khu rừng cùng những đầm lầy, Zarathustra cứ nghe mãi những tiếng chó sói tru rống vì đói mồi đến đỗi cơn đói cũng cào xé chính lòng hắn. Vì vậy, Zarathustra dừng bước trước một căn nhà lẻ loi, bên trong có ánh lửa lập lòe soi chiếu. Zarathustra tự nhủ lòng mình:

“Cơn đói bắt chộp lấy ta như một tên cướp. Giữa những khu rừng cùng những đầm lầy, cơn đói bắt chộp lấy ta, trong đêm tối dày đặc mịt mùng.

Cơn đói của ta có những ý thích bốc đồng. Thường ta chỉ thấy đói sau bữa ăn, và suốt ngày hôm nay, cơn đói chẳng chịu đến: vậy thì cơn đói đã lê lết chậm trễ nơi nao?”

Nhủ xong, Zarathustra gõ cửa. Một lão trượng xuất hiện; ông lão mang theo đèn và lên tiếng hỏi: “Ai đến với ta cùng giấc ngủ trằn trọc của ta đó?”

- Một người sống và một kẻ chết, Zarathustra trả lời. Xin lão trượng cho tôi ăn uống; cả ngày nay tôi đã quên ăn uống. Kẻ nào cho người đói khát ăn uống sẽ bồi bổ nguyên khí tâm hồn mình: minh triết khôn ngoan dạy như thế”.

Ông lão trở vào nhà, nhưng rồi lại trở ra ngay, và đưa cho Zarathustra bánh cùng rượu: “Đây là một vùng tàn bạo cho những kẻ đói khát, ông lão lên tiếng: vì vậy ta mới cư ngụ tại đây. Người và vật đến với ta, nhà ẩn sĩ. Nhưng ngươi hãy mời người bạn đồng hành của ngươi ăn uống đi chứ, y coi bộ còn mỏi mệt hơn ngươi”.

Zarathustra trả lời:

“Bạn đồng hành của tôi đã chết rồi, tôi sẽ khó mà ép y ăn uống”.

Ông lão càu nhàu:

“Chuyện đó chẳng liên can gì với ta; kẻ nào gõ cửa nhà ta phải dùng những gì ta dâng mời. Các ngươi hãy ăn uống và chúc các ngươi sức khỏe!”

Sau đó, Zarathustra còn đi bộ thêm hai giờ nữa, dò dẫm theo những con đường và tin vào ánh sáng của những vì sao: vì hắn đã quen đi đêm và thích nhìn tận mặt những gì còn đang say ngủ. Nhưng khi ánh triêu dương ló dạng, Zarathustra thấy mình đang ở trong một khu rừng sâu mịt mùng chung quanh chẳng thấy rõ một lối đi nào. Lúc bấy giờ Zarathustra đặt xác chết vào một thân cây rỗng, cao hơn tầm đầu - hắn muốn lũ chó sói khỏi với tới - rồi ngả người nằm nghỉ trên rong rêu xanh mát. Liền đó, Zarathustra thiếp ngủ, thân thể mệt nhoài, nhưng linh hồn thanh thản.

9

Zarathustra ngủ thật triền miên, không những ánh triêu dương vờn trên mặt hắn mà cả ánh sáng ban mai. Sau cùng Zarathustra mở mắt: kinh ngạc, Zarathustra ngắm nhìn khu rừng và sự tĩnh mịch, kinh ngạc, Zarathustra nhìn bản thân mình. Rồi như một gã lính thủy đột nhiên nhìn thấy đất liền, hắn vụt đứng dậy, thét lên một tiếng mừng rỡ: hắn vừa nhìn thấy một chân lý mới. Và Zarathustra tự nhủ lòng mình như sau:

“Ta bắt đầu thấy rõ: ta đang cần những người bạn đồng hành, những người bạn đồng hành còn sống - chứ không phải những người bạn đồng hành đã chết và những tử thi mà ta mang theo nơi nào ta muốn tới.

Ta đang cần những người bạn đồng hành còn sống theo bước ta, vì họ muốn tự theo bước chính họ - khắp mọi nơi ta muốn đến.

Ta bắt đầu thấy rõ: Zarathustra chẳng nên ngỏ lời cùng đám đông mà chỉ nên lên tiếng với những người bạn đồng hành! Zarathustra chẳng nên biến thành người chăn chiên và con chó canh giữ một đàn chiên!

Ta đã đến chính là để tách lìa nhiều con chiên khỏi đàn chiên. Đám đông dân chúng và bầy chiên sẽ căm phẫn ta: những kẻ chăn chiên sẽ xem Zarathustra là tên trộm đạo.

Ta gọi họ là những kẻ chăn chiên, nhưng thật ra họ có tên là những con người thiện hảo và những kẻ công chính. Ta gọi họ là những kẻ chăn chiên, nhưng thực ra họ có tên là những tín đồ của đức tin đích thực!

Hãy nhìn những con người thiện hảo và những kẻ công chính! Họ thù ghét kẻ nào nhất? Kẻ đứng lên đập vỡ những bảng giá trị của họ, kẻ hủy hoại, kẻ phạm tội trọng[6]: thế mà, đó là kẻ sáng tạo.

Hãy nhìn những tín đồ của đức tin đích thực! Họ thù ghét kẻ nào nhất? Kẻ đứng lên đập vỡ những bảng giá trị của họ, kẻ hủy hoại, kẻ phạm tội trọng: thế mà, đó là kẻ sáng tạo.

Điều mà kẻ sáng tạo tìm kiếm, chính là những bạn đồng hành, chứ không phải những xác chết, những bầy chiên và những đám tín đồ. Những con người sáng tạo như hắn, đấy chính là điều mà kẻ sáng tạo tìm kiếm - những con người ghi khắc những giá trị mới trên những tấm bảng tinh khôi.

Điều mà kẻ sáng tạo tìm kiếm, chính là những bạn đồng hành, những người thợ gặt để trợ giúp hắn: vì nơi hắn, mọi sự đều chín muồi cho mùa gặt. Nhưng hắn lại thiếu trăm ngàn lưỡi hái: vì thế kẻ sáng tạo giận dữ điên cuồng bứt ra những bông lúa của mình.

Điều mà kẻ sáng tạo tìm kiếm, chính là những bạn đồng hành, những người biết mài sắc lưỡi hái của mình. Người ta sẽ gọi họ là những kẻ phá hoại và những kẻ khinh miệt thiện ác. Nhưng chính họ là những con người sẽ gặt hái và cử hành lễ vui.

Những con người sáng tạo như mình, đấy là điều mà Zarathustra đang tìm kiếm, những con người gặt hái và vui hưởng cùng với mình: nào có làm gì được với những đàn chiên, những kẻ chăn chiên và những xác chết!

Còn ngươi, người bạn đồng hành đầu tiên của ta, xin hãy an nghỉ! Ta đã mai táng ngươi cẩn thận trong lòng cây rỗng, ta đã cẩn trọng đề phòng cho ngươi khỏi bị sói tha.

Nhưng ta rời ngươi đây, thời gian đã trọn rồi. Giữa hai buổi bình minh, một chân lý mới đã hiện đến với ta.

Ta chẳng nên làm người chăn chiên, cũng chẳng nên làm kẻ đào huyệt. Ta sẽ chẳng bao giờ ngỏ lời với dân chúng; đây là lần cuối cùng, ta ngỏ lời với một xác chết.

Ta muốn tìm gặp những con người sáng tạo; những con người gặt hái và vui hưởng: ta muốn chỉ cho họ thấy bảy sắc cầu vồng cùng tất cả những bậc thang dẫn đến Siêu nhân.

Ta sẽ ca hát bài ca của ta cho những nhà ẩn sĩ, những con người hai bóng trong cô đơn; và cho bất luận ai còn tai nghe được những điều kỳ diệu, ta sẽ làm tim ta trĩu nặng vĩnh phúc tuyệt vời.

Ta tiến bước về mục tiêu của ta, ta đi trên con đường của ta; ta sẽ nhảy qua đầu những kẻ ngập ngừng do dự và những kẻ trì chậm lối đi. Bước đi của ta sẽ là sự suy tàn của bọn chúng!”

10

Zarathustra tự nhủ lòng mình như thế, trong khi mặt trời nằm trên thiên đỉnh; rồi hắn ngước mắt nhìn dò hỏi - vì hắn nghe trên đầu mình tiếng kêu sắc lạnh của một con chim. Và kìa! Một con ó lượn thành những vòng tròn rộng trên trời, và một con rắn treo tòn ten nơi cổ ó, không giống như một con mồi nhưng như một người bạn: vì rắn quấn vòng quanh cổ ó.

“Những con thú của ta!” Zarathustra bảo thế và lòng hắn dấy lên nỗi hân hoan êm ả.

“Con vật kiêu hãnh nhất dưới ánh mặt trời và con vật giảo hoạt nhất dưới ánh mặt trời - chúng đã lên đường trong sự biết ơn.

Chúng đã muốn biết xem liệu Zarathustra có còn sống không. Thật ra, ta hãy còn sống chăng?

Ta đã gặp nhiều nguy hiểm giữa loài người hơn là giữa loài thú. Zarathustra đang theo những con đường nguy hiểm. Cầu xin những con vật của ta hướng dẫn ta!”

Khi Zarathustra đã nói như thế xong, hắn nhớ lại những lời của vị thánh già nua trong khu rừng, hắn thở dài nhủ với lòng mình như vầy:

“Ta còn phải khôn ngoan trí huệ hơn nữa! Ước gì ta giảo hoạt từ tận đáy lòng, như con rắn của ta.

Nhưng ta đang đòi hỏi điều không thể được: vậy thì ta cầu xin cho lòng kiêu hãnh luôn đi đôi với trí huệ hiền minh của ta.

Và nếu có một ngày nào trí huệ hiền minh bỏ ta: - Hỡi ôi! Nó thích cất cánh tuyệt mù - thì ít ra lòng kiêu hãnh cũng tiếp tục tung bay cùng cơn điên của ta!”

Cuộc hạ san của Zarathustra đã bắt đầu như thế.

Chú thích:

[1] và [2] “cuộc hạ san” dịch chữ Untergehen, vốn mang ba ý nghĩa khác nhau mà bản Việt ngữ không chuyển nổi: 1) đi xuống; 2) lặn tắt; 3) bị tàn hoại hủy diệt, đi xuống dưới thấp. Zarathustra hạ san: Zarathustra đi xuống: lặn tắt: sa đọa và bị tàn hoại.

[3] “con người là một sự chuyển tiếp và một sự suy tàn” dịch chữ Ũbergang und Untergang. Tính chất tương phản giữa ũber (bên trên) và unter (bên dưới) hay được Nietzsche sử dụng, cũng không thể diễn tả trong Việt ngữ. Ngoài ra chữ unter và Untergang còn được hiểu theo ba nghĩa của chú thích trang 26.

[4] “con người cuối cùng hay con người hạ đẳng nhất” trong nguyên bản là dertetzte Mensch: con người mạt hậu, xuất hiện sau cùng khi nhân loại bước vào hoàng hôn và đêm tối để chờ đón một bình minh mới. Chữ “hạ đẳng” chỉ tính cách nhố nhăng của mẫu người cuối cùng mà chúng tôi muốn nhấn mạnh.

[5] “Tự ngôn”: Vorrede, nếu diễn nghĩa ra, sẽ là: “phần đặt trước (vor) những bài thuyết giáo (Rede)”. Sau phần này là những bài thuyết giáo của Zarathustra (die Reden Zarathustras). Một lối chơi chữ không dịch được

[6] “Kẻ đứng lên đập vỡ những bảng giá trị của họ, kẻ hủy hoại, kẻ phạm tội trọng”, Nietzsche chơi chữ bằng cách liên kết chữ Brecher (kẻ đập vỡ) với chữ Verbrecher mà ý nghĩa thông thường là: kẻ phạm tội. Verbrecher phân tích ra còn mang ý nghĩa: kẻ-đập-vỡ-lề-luật”.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 84 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
[Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào có chút bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 160, 161, 162

2 • [Cổ đại - Trùng sinh] Cung khuyết - Trịnh Lương Tiêu

1 ... 51, 52, 53

3 • [Xuyên không] Quỷ vương độc sủng Sát phi - Phi Nghiên

1 ... 32, 33, 34

4 • [Hiện đại] Ông xã xấu xa anh đừng hư quá - Phong Phiêu Tuyết

1 ... 48, 49, 50

5 • [Hiện đại] Kinh thành Tam thiếu Ông xã gõ cửa lúc nửa đêm - Cát Tường Dạ

1 ... 110, 111, 112

6 • List truyện ngôn tình hoàn + Ebook [Update 7/2]

1 ... 52, 53, 54

7 • [Hiện đại - Nữ phụ văn] Bản lĩnh của nữ phụ - My Ngoc 132

1 ... 20, 21, 22

8 • [Mau xuyên - Sắc] Nữ tiến sĩ điên cuồng Chế tạo người máy Dục Niệm Nô - Trần Hướng Nam

1 ... 19, 20, 21

9 • [Hiện đại] Chọc giận cô vợ nhỏ Ông xã tổng tài quá kiêu ngạo - Xảo Linh

1 ... 74, 75, 76

10 • [Xuyên không] Hoàng gia tiểu kiều phi - Ám Hương

1 ... 135, 136, 137

11 • [Xuyên không - Dị giới] Tiểu thư phế vật thật yêu nghiệt - Bồ Đề Khổ Tâm

1 ... 105, 106, 107

12 • [Hiện đại - Hắc bang] Huyết tình hắc đạo - Huyền Namida

1 ... 26, 27, 28

13 • [Cổ đại] Xướng môn nữ hầu - Tần Giản

1 ... 78, 79, 80

14 • [Hiện đại - Trùng sinh] Gia khẩu vị quá nặng - Hắc Tâm Bình Quả

1 ... 121, 122, 123

15 • [Hiện đại] Hôn trộm 55 lần - Diệp Phi Dạ

1 ... 236, 237, 238

16 • [Hiện đại] Cục cưng vô địch Cha người bị Fire rồi! - Nam Quan Yêu Yêu

1 ... 93, 94, 95

17 • [Xuyên không] Trời sinh một đôi - Đông Thanh Liễu Diệp

1 ... 158, 159, 160

18 • [Cổ đại] Thịnh thế đế sủng Đích nữ hoàng hậu - Thiên Mai

1 ... 34, 35, 36

19 • [Cổ đại - Trọng sinh] Trọng sinh chi thứ nữ tâm kế - Tô Tiểu Lương

1 ... 60, 61, 62

20 • [Hiện đại] Cục cưng yêu quý nhất của Boss - Lại Ly Hôn

1 ... 52, 53, 54



Lì xì 2018: Chúc mừng Số 15 vừa nhặt được bao lì xì chứa 19 điểm!
Lì xì 2018: Chúc mừng NguyenThuyLinh99 vừa nhặt được bao lì xì chứa 19 điểm!
Lì xì 2018: Chúc mừng saoxoay vừa nhặt được bao lì xì chứa 19 điểm!
Lì xì 2018: Chúc mừng Mymyyyy vừa nhặt được bao lì xì chứa 19 điểm!
Lì xì 2018: Chúc mừng Khánh Huyền vừa nhặt được bao lì xì chứa 19 điểm!
Lì xì 2018: Chúc mừng @van vừa nhặt được bao lì xì chứa 19 điểm!
Lì xì 2018: Chúc mừng Angelish_Earnest vừa nhặt được bao lì xì chứa 20 điểm!
Lì xì 2018: Chúc mừng Heohong vừa nhặt được bao lì xì chứa 19 điểm!
Lì xì 2018: Chúc mừng Midi vừa nhặt được bao lì xì chứa 20 điểm!
Lì xì 2018: Chúc mừng phuongtrang vừa nhặt được bao lì xì chứa 19 điểm!
Lì xì 2018: Chúc mừng NGO THI NGOC DIEP vừa nhặt được bao lì xì chứa 20 điểm!
Lì xì 2018: Chúc mừng tramanh894 vừa nhặt được bao lì xì chứa 19 điểm!
Lì xì 2018: Chúc mừng tnq.nhu02 vừa nhặt được bao lì xì chứa 20 điểm!
Lì xì 2018: Chúc mừng lathienthien vừa nhặt được bao lì xì chứa 19 điểm!
Lì xì 2018: Chúc mừng hoacodat vừa nhặt được bao lì xì chứa 19 điểm!
Lì xì 2018: Chúc mừng nhungbaboi vừa nhặt được bao lì xì chứa 19 điểm!
Lì xì 2018: Chúc mừng fanykute1403 vừa nhặt được bao lì xì chứa 19 điểm!
Lì xì 2018: Chúc mừng Phèn Chua vừa nhặt được bao lì xì chứa 20 điểm!
Lì xì 2018: Chúc mừng becuacon vừa nhặt được bao lì xì chứa 20 điểm!
Lì xì 2018: Chúc mừng nhim.coi vừa nhặt được bao lì xì chứa 20 điểm!
Lì xì 2018: Chúc mừng anbuchihi vừa nhặt được bao lì xì chứa 19 điểm!
Lì xì 2018: Chúc mừng Khải Khải 21 vừa nhặt được bao lì xì chứa 20 điểm!
Lì xì 2018: Chúc mừng songngu79 vừa nhặt được bao lì xì chứa 20 điểm!
Lì xì 2018: Chúc mừng thibebon vừa nhặt được bao lì xì chứa 20 điểm!
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 324 điểm để mua Khủng long Dino
Lì xì 2018: Chúc mừng chillisama vừa nhặt được bao lì xì chứa 20 điểm!
ღ๖ۣۜBảo๖ۣۜTâm: :v
Thiên Linh Sư: mn cho mk hỏi muốn viết truyện trên diễn dnf thì làm thế nào vạy
Lì xì 2018: Chúc mừng Ida vừa nhặt được bao lì xì chứa 20 điểm!
Lì xì 2018: Chúc mừng Hai.Lua vừa nhặt được bao lì xì chứa 20 điểm!

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.