Diễn đàn Lê Quý Đôn

Chúc mừng Linh Vũ vừa nhặt được bao lì xì chứa 8 điểm! (vài giây trước) (hướng dẫn)



≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 9 bài ] 

Istanbul - Hồi ức và Thành phố - Orhan Pamuk

 
Có bài mới 23.08.2017, 11:35
Hình đại diện của thành viên
Ban quản lý
Ban quản lý
 
Ngày tham gia: 28.09.2014, 21:28
Bài viết: 1655
Được thanks: 366 lần
Điểm: 9.12
Tài sản riêng:
Có bài mới [Đương đại] Istanbul - Hồi ức và Thành phố - Orhan Pamuk - Điểm: 10

Istanbul - Hồi ức và Thành phố


images


Nguyên tác: Istanbul: Memories and the City
Tác giả: Orhan Pamuk
Dịch giả: Nguyễn Quốc Trụ
Phát hành: Nhã Nam
Nhà xuất bản: Văn học
Số trang: 550
Ngày phát hành: 21-05-2015
Thể loại: Hồi ký, Văn học đương đại
Ebook từ Dự án Ebolic #26


Giới thiệu

Đây chính là cuốn sách biến Pamuk trở thành nhà văn của thành phố Istanbul, đúng như cách thức đã từng làm cho James Joyce là nhà văn của Dublin và Paul Auster thuộc về New York. Trong một viễn tưởng hội họa, Istanbul tỏa khói những con phà, trầm lắng một nỗi buồn đế chế giữa ngổn ngang đổ nát thành quách cũ và đọng mãi trong tâm tưởng người đọc hai màu đen trắng, màu của quá khứ, của một ký ức hoang phế nhưng cũng đầy sức mạnh. Người ta chỉ có thể thực sự hiểu năng lượng văn chương của Orhan Pamuk khi thấm đẫm từng dòng ông viết về thành phố của ông, và khi ấy, sẽ không còn ai thấy kỳ lạ việc ông dành cả đời sống ở đó, trong ngôi nhà tuổi thơ, ngồi viết tại cái bàn nhìn ra mưa nắng trên mặt biển vịnh Bosphorus, điểm mốc phân chia ranh giới Đông và Tây.

Istanbul, thành phố bên vịnh Bosphorus đã được tái hiện đẹp đẽ, u buồn, váng vất những đau thương nhưng lại có sức quyến rũ mãnh liệt.

Istanbul - Hồi ức và thành phố viết về sự thay đổi của một gia đình, với nhiều biến động, đúng vào thời đại Ottoman sụp đổ. Những cãi vã, đổ vỡ, những suy tưởng của tuổi trường thành được đặt trong bối cảnh một thành phố đang suy thoái hoang tàn. Nhưng những gì Orhan cho người đọc được ngắm nhìn, lại là cái tầng ẩn sâu bên trong của mỗi thành phố, mà chỉ có sự đắm đuối si mê mới có thể nhìn thấy được.

Chàng thanh niên Orhan đã từng đi bộ xuyên qua khắp các ngõ ngách của Istanbul. Đi bộ hết ngày nọ sang ngày kia, vừa nhìn ngắm, vừa cảm nhận. Trước cái vẻ đẹp lộng lẫy của đô thành hoang phế, vì có năng khiếu vẽ, nên Orhan đã cho rằng, có thể vẽ lại thành phố, vẽ lại những cửa hiệu, những ngôi nhà, những chuyến tàu biển trên vịnh Bosphorus, và ấy cũng là cách để lưu giữ lại được vẻ đẹp khoảnh khắc của thành phố mà ông cảm thấy gắn bó thân thiết.

“Với Istanbul, có thể nói rằng Orhan Pamuk đã viết cuốn sách ám ảnh nhất, đau lòng nhất, tuyệt diệu nhất về một thành phố.”

- The San Diego Union-Tribune


Tác giả

Orhan Pamuk, “một trong những tiếng nói mới mẻ và độc đáo nhất trong văn chương đương đại” như lời Independent on Sunday nhận xét, đã viết nhiều cuốn sách trong đó có Pháo đài trắngCuộc đời mới. Năm 2003, ông nhận giải International IMPAC Dublin cho cuốn Tên tôi là Đỏ, và năm 2004, Faber ấn hành bản dịch tiếng Anh cuốn Tuyết của ông, được Margaret Atwood ca ngợi là “cuốn sách không thể thiếu của thời đại chúng ta”. Istanbul, một ghi chép của ông về cuộc sống nơi thành phố này, đã được đề cử giải Samuel Johnson của BBC4, được Katie Hickman trong New Statesman gọi là “đẹp đẽ một cách phi thường và siêu việt”. Orhan Pamuk hiện đang sống ở Istanbul.


Lưu ý: Trong sách có những bức hình, tranh ảnh đen trắng. Người đăng chỉ đăng phần text, phần chữ và không đăng tất cả những hình ảnh trên. Độc giả nên mua sách để được đọc một cách trọn vẹn.




Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 25.09.2017, 13:47
Hình đại diện của thành viên
Ban quản lý
Ban quản lý
 
Ngày tham gia: 28.09.2014, 21:28
Bài viết: 1655
Được thanks: 366 lần
Điểm: 9.12
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Đương đại] Istanbul - Hồi ức và Thành phố - Orhan Pamuk - Điểm: 10

Gửi tới cha tôi, Gündüz Pamuk (1925-2002)



Cái đẹp của một phong cảnh nằm ở trong nỗi buồn của nó.

– Ahmet Rasim



Đây chính là cuốn sách biến Pamuk trở thành nhà văn của thành phố Istanbul, đúng như cách thức đã từng làm cho James Joyce là nhà văn của Dublin và Paul Auster thuộc về New York. Trong một viễn tượng hội họa, Istanbul tỏa khói những con phà, trầm lắng một nỗi buồn đế chế giữa ngổn ngang đổ nát thành quách cũ và đọng mãi trong tâm tưởng người đọc hai màu đen trắng, màu của quá khứ, của một ký ức hoang phế nhưng cũng đầy sức mạnh. Người ta chỉ có thể thực sự hiểu năng lượng văn chương của Orhan Pamuk khi thấm đẫm từng dòng ông viết về thành phố của ông, và khi ấy, sẽ không còn ai thấy kỳ lạ việc ông dành cả đời sống ở đó, trong ngôi nhà tuổi thơ, ngồi viết tại cái bàn nhìn ra mưa nắng trên mặt biển vịnh Bosphorus, điểm mốc phân chia ranh giới Đông và Tây.





Chương 1: Một Orhan khác



Ngay từ khi còn bé tí, tôi đã hồ nghi thế giới của tôi rộng hơn nhiều so với nhữn gì tôi có thể nhìn thấy: Ở đâu đó nhiều so với những gì tôi có thể nhìn thấy: Ở đâu đó, trên những con phố của Istanbul, có một căn nhà giống như căn nhà của chúng tôi, ở đó có một thằng bé Orhan khác, rất giống tôi, tôi và nó là hai đứa sinh đôi, hơn thế nữa, nó có thể là một thế thân của tôi. Tôi không thể nhớ đã lấy ý nghĩ đó ở đâu, hoặc làm thế nào mà nó đến với tôi. Hẳn là nó nảy sinh từ mớ bòng bong những câu chuyện xì xầm, nhưng hiểu lầm, những ảo tưởng, và những sợ hãi. Nhưng trong một hồi ức sớm sủa nhất còn giữ được, việc tôi cảm nhận như thế nào về cái bóng ma ấy đã rất rõ ràng rồi.

Khi lên năm tuổi, tôi được gửi tới sống trong một thời gian ngắn tại một căn nhà khác. Sau một trong rất nhiều cuộc chia ly bão tố, cha mẹ chúng tôi bằng lòng gặp nhau tại Paris, và theo quyết định, anh tôi và tôi cùng ở lại Istanbul, tuy nhiên là tại hai nơi khác biệt. Anh tôi sẽ sống với bà tôi cùng toàn thể bà con trong gia đình, tại khu nhà của dòng họ, Nhà Pamuk, tọa lạc ở Nişantaşi, còn tôi thì được gửi tới ở với cô của tôi, tại Cihangir. Trên tường nhà của cô tôi – nơi tôi luôn được tiếp đón thật là niềm nở và đầy tình yêu – có treo bức hình một đứa bé trong cái khung màu trắng. Thỉnh thoảng cô tôi hoặc dượng tôi cười cười nhìn bức hình, nhìn qua tôi, chỉ tay nói: “Cháu đó!”

Cái chú bé đang yêu ở trong bức hình, với cặp mắt to, quả có giống tôi. Chú lại còn đội một trong những cái mũ tôi vẫn đội khi đi ra đường. Tôi biết chú không phải là tôi. (Sự thực, đó là một bức hình thật kitsch chụp một “chú bé dễ thương” mà một người nào đó đã đem về từ Âu châu. Tuy nhiên, tôi vẫn băn khoăn tự hỏi, liệu đó có phải là cái thằng Orhan sống ở căn nhà khác kia không?

Lẽ dĩ nhiên, lúc bấy giờ, tôi cũng khởi sự sống trong một căn nhà khác. Như thể tôi phải chuyển nhà để gặp đứa bé song sinh với mình đang sống tại một ngồi nhà khác ở Istanbul, nhưng tôi chẳng thích thú gì khi làm quen chú bé đó, tôi chỉ muốn về căn nhà thực sự của mình. Cái trò đùa vui nho nhỏ của vợ chồng cô tôi, cái việc nói tôi là đứa bé trong bức hình, có chút chế nhạo tuy không cố tính, và lần nào nghe điều đó tôi cũng thấy tâm trí mình rối bời: những ý nghĩ của tôi về chính tôi và bức hình mà tôi giống, căn nhà của tôi và căn nhà khác – tất cả những điều này càng làm tăng thêm ước muốn lại được trở về cùng với mọi người trong gia đình.

Chẳng bao lâu, ước muốn của tôi trở thành sự thực. Nhưng cái bóng ma của một thằng bé Orhan khác, trong một căn nhà khác, đâu đó trong thành phố Istanbul chẳng bao giờ rời bỏ tôi. Suốt thời ấu thơ, và luôn cả những năm mới lớn, nó ám ảnh, quấy nhiễu tối. Vào những buổi chiều mùa đông, lang thang trên đường phố, tôi thường đưa mắt nhìn vô những căn nhà hai bên đường, qua ánh đèn vàng nhạt ở bên trong nhà, và mơ mòng tưởng tượng những gia đình hạnh phúc, bình dị sống cuộc sống thoải mái dễ chịu của họ. Thế rồi, bỗng dưng tôi giật mình đánh thót khi nghĩ đến một anh chàng Orhan khác, có thể đang sống ở một trong những căn nhà đó. Lớn dần thêm, già dặn hơn, bóng ma trở thành tai quái, và tai quái trở thành ác mộng cứ thế trở đi trở lại. Trong một vài giấc mơ, cuộc gặp gỡ giữa tôi và anh ta, một Orhan khác đó – luôn xảy ra trong một căn nhà khác – khiến tôi sợ khiếp vía; trong những lần mơ khác, hai Orhan im lặng nhìn nhau, lạnh như băng. Sau đó, trong những khoảng khắc giữa tỉnh thức và mê muội, tôi ôm ghì cái gối, bám riết căn nhà, con phố, cái chỗ của tôi trên cõi đời này. Khi cảm thấy bất hạnh, tôi tưởng tượng ra mình ở tỏng một căn nhà khác, trong cuộc đời khác, ở cái nơi mà anh Orhan khác sống, và, mặc cho mọi chuyện, tôi gần như thuyết phục chính mình rằng tôi là anh ta và thích thú khi tưởng tượng anh ta hạnh phúc, sự thích thú ấy khiến trong một thời gian tôi cảm thấy cần thiết phải tìm kiếm cho ra căn nhà khác đó, tại một nơi chốn tưởng tượng của thành phố.

Và bây giờ, chúng ta đi đến trung tâm của vấn đề: tôi chẳng bao giờ rời khỏi Istanbul, chẳng hề rời những căn nhà, những con phố và những lối xóm của thời thơ ấu của tôi. Mặc dù, lúc này lúc nọ, tôi sống trong những khu vực khác nhau, năm chục năm sau, nhìn lại, lúc nào tôi cũng cảm thấy mình đóng rễ ở Nhà Pamuk của tôi, nơi những tấm hình đầu tiên được chụp, nơi bà mẹ tôi lần đầu tiên ôm tôi trong vòng tay của bà, và phô tôi ra với thế giới. Tôi biết, sự bền bỉ này có một phần nguyên do từ người bạn tưởng tượng, anh chàng Orhan khác kia, và từ niềm an ủi mà tôi có được từ mối thân quen giữa hai chúng tôi. Và chính vì lý do đó mà tôi cảm thấy câu chuyện của tôi có một điều gì đặc biệt cho thành phố và cho chính tôi: chúng ta sống trong một thời đại được định nghĩa bằng di dân hàng loạt và bằng những người nhập cư sáng tạo, thế mà tôi cứ ở lì một chỗ, trong suốt năm mươi năm, tại cùng một căn nhà. Và giọng nói buồn phiền của mẹ tôi lại vẳng lên: “Tại sao con không đi ra ngoài một lát? Tại sao không thử thay đổi quang cảnh, làm một chuyến đi đây đi đó?”

Conrad, Nabokov, Naipaul – những nhà văn này được biết đến là do đã thành công trong việc thiên di giữa các ngôn ngữ, quốc tịch, văn hóa, xứ sở, đại lục, và ngay cả nền văn minh. Trí tưởng tượng của họ lấy dưỡng chất từ sự lưu vong, một sự nuôi dưỡng được chiết ra không phải từ gốc rễ, mà từ việc không có gốc rễ. Tuy nhiên, sự tưởng tượng của tôi đòi hỏi tôi phải ở lì ở trong cùng một thành phố, cùng một con đường, cùng một căn nhà, nhìn mãi vào một cảnh tượng. Số phận của Istanbul là số phận của tôi. Tôi gắn liền với thành phố này bởi vì nó đã làm cho tôi trở thành tôi như bây giờ.

Gustave Flaubert, viếng thăm Istanbul 102 năm trước khi tôi ra đời, ngỡ ngàng vì cuộc sống đa dạng trên phố phường náo nhiệt; trong một bức thư ông đã tiên đoán, chỉ trong chừng một thế kỷ tới, thành phố sẽ trở thành thủ đô của thế giới. Thế mà lại ngược hẳn đi: Để quốc Ottoman sụp đổ, thế giới gần như quên mất là Istanbul có tồn tại. Thành phố khi tôi sinh ra trải qua những tháng ngày nghèo nhất, thê thảm nhất, u tối nhất và ít vinh quang nhất trong lịch sử hai ngàn năm của nó. Với tôi, nó luôn luôn là một thành phố của điêu tàn và của nỗi buồn mạt kỳ để chế. Tôi bỏ cả đời đánh lộn với nỗi buồn này, hay (như mọi cư dân của thành phố) để biến nó thành của riêng tôi.

Trong đời người, ít ra cũng có một lần, việc nhìn lại bản thân dẫn chúng ta tới chỗ xem xét những hoàn cảnh sự ra đời của chúng ta. Tại sao ta sinh ra, tại chính nơi đó của thế giới, vào chính ngày đó? Những gia đình nơi chúng ta sinh ra, những xứ sở, thành phố mà cuộc xổ số đời đã chỉ định cho chúng ta – chúng trông chờ tình yêu từ chúng ta, và sau cùng, chúng ta yêu chúng, từ tận cùng trái tim mình; nhưng liệu có phải chúng ta có lẽ còn xứng đáng được hưởng nhiều hơn nữa? Thinh thoảng tôi lại nghĩ mình thật đen đủi vì đã sinh ra tại một thành phố già nua, nghèo nàn, bị chôn vùi dưới những tro than của một để quốc điêu tàn. Nhưng một giọng nói từ bên trong tôi vẫn luôn khăng khăng điều này thực sự là một may mắn. Nếu đây là vấn đề của cải, giàu sang, thì chắc chắn kể như tôi là một kẻ may mắn vì đã sinh ra trong một gia đình khá giả khi ngọn thủy triều của thành phố đang ở lúc thấp nhất (dù nhiều người có thể nói ngược lại mới đúng). Nói gì thì nói, tôi không thích than vãn: tôi chấp nhận thành phố sinh ra tôi, như tôi chấp nhận hình hài của mình (tuy vẫn rất muốn đẹp trai hơn, to con hơn) và cái sự tôi sinh ra là đàn ông (dù vậy tôi vẫn thường tự hỏi một cách ngây ngô, giá như mình sinh ra là đàn bà, thì sự tình có tốt đẹp hơn chăng). Đó là số phận của tôi, và ngu gì mà sửng cồ với nó. Cuốn sách này là về số phận.

Tôi sinh vào lúc nửa đêm ngày 7 tháng Sáu năm 1952, trong một nhà hộ sinh tư nhỏ bé tại Moda. Các hành lang của nó, tôi nghe kể lại, thật là êm ả vào đêm hôm ấy, và thế giới cũng vậy. Ngoài chuyện núi lửa Strambolini hai ngày trước bất thình lình phun lửa và tro, kể như chẳng có gì xảy ra cho trái đất của chúng ta. Nhật báo toàn những tin vụn vặt: vài câu chuyện binh sĩ Thổ Nhĩ Kỳ đi chiến đấu tại Triều Tiên; vài tin đồn do người Mỹ tung ra để khơi dậy nỗi sợ về việc Bắc Hàn đang sửa soạn sử dụng vũ khí sinh học. Vào những giờ trước khi tôi ra đời, mẹ tôi mải miết theo dõi một tin địa phương: Hai ngày trước đó, mấy người gác đêm và một số cư dân “anh hùng” tại Trung tâm Sinh viên Konya đã nhìn thấy một người đàn ông đeo mặt nạ đáng sợ tìm cách leo vô một căn nhà qua cửa sổ phòng tắm; họ rượt đuổi người này qua những đường phố, tôi một nhà máy cưa thì tên tội phạm táo tợn đã tự sát, sau khi chửi rủa cảnh sát; ngày hôm sau, một người bán hàng vải nhận diện được xác chết, đó là tên găngxtơ một năm trước tại Harbiye giữa ban ngày ban mặt đã lăm lăm khẩu súng xông vào tiệm của ông ta để ăn cướp.

Khi đọc đến dòng chót của cái tin gay cấn, mẹ tôi đang ở một mình trong phòng vì, như nhiều năm sau này bà kể lại cho tôi nghe với một giọng giận dữ và buồn rầu, ông bố của tôi, sau khi đưa vợ tới nhà bảo sanh, thây tôi lâu chui ra quá, bèn bỏ bà một mình, đi du hí với đám bạn. Người độc nhất ở trong phòng sinh cùng với bà, là bà cô của tôi. Đang đêm, bà treo qua tường bao quanh khu vườn nhà báo sanh vào vớimẹ tôi. Khi nhìn tôi lần đầu, bà mẹ tôi so tôi với thằng anh ra dời trước đó hai năm, và nhận thây tôi bèo nhèo, mảnh mai hơn.

Nhưng lẽ ra tôi phái nói rằng bà “hẳn đã thấy tôi” như vậy. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, chúng tôi có một thì ngữ pháp đặc biệt cho phép chúng tôi phân biệt mấy chuyện nghe kể lại với những gì chứng kiến tận mắt; khi kể về những giấc mơ, chuyện thẩn tiên, hay sự kiện đã qua, chúng tôi sử dụng thì dặc bỉột này. Cần phải phân biệt giữa những gì chúng ta “còn nhớ” về các trải nghiệm sớm nhất trong đời, chiếc nôi, xe đẩy, những bước chân chập chững, và những gì cha mẹ chúng ta thuật lại, những câu chuyện ta thường rất say sưa chú tâm để nghe như thể nghe câu chuyện xuất chúng vể một ai đó khác. Đó là một cảm giác cũng ngọt ngào như khi nhìn thấy chính mình trong giấc mơ, nhưng chúng ta phải trả một cái giá thật đắt cho nó. Một khi đã in sâu vào trong đầu, lời người khác kể lại những gì chúng ta đã làm thường gây ấn tượng hơn nhiều so vớinhững gì bản thân chúng ta còn nhớ. Và cũng giống như việc chúng ta biết được về đời mình từ người khác, chúng ta để cho người khác tạo khuôn cho hiểu biết của chúng ta về thành phố nơi chúng ta sống.

Những khi chấp nhận rằng những câu chuyện nghe kể về thành phố của tôi và bản thân tôi cũng chính là những câu chuyện của tôi, tôi rất thèm nói như sau,” Ngày xửa ngày xưa, tôi rất hay vẽ. Tôi sinh ra ở Istanbul, tôi là một đứa trẻ ưa tò mò. Rồi thì, tới năm tôi hai mươi hai tuổi, không hiểu sao, tôi lại đâm ra viết tiếu thuyết.” Tôi thèm kể câu chuyện của đời mình theo kiểu đó – như thể đời mình là một chuyện gì xảy ra cho một người khác, như thể đời mình là một giấc mơ trong đó tôi nghe tiếng nói của tôi nhạt nhòa dần đi và ý chí của tôi rơi vào sự mê hoặc. Thật là đẹp, tuy nhiên tôi nhận ra rằng kể chuyện đời mình như một sử thi như thế là không đáng tin cậy, vì tôi không thể chấp nhận rằng các huyền thoại mà chúng ta kể về những cuộc đời thứ nhất của mình sửa soạn cho những cuộc đời thứ hai sáng sủa hơn, chân xác hơn, sẽ khởi sự khi chúng ta thức dậy. Bởi vì – ít ra là với những người như tôi – cuộc đời thứ nhì đó không ở đâu khác ngoài chính cuốn sách này, mà bạn đang cầm trên tay. Và chính vì thê; hãy thật cẩn thận, bạn đọc thân mến. Hãy cho tôi nói thằng với bạn, và, đổi lại, tôi yêu cầu ở bạn, sự cảm thông.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 29.10.2017, 20:40
Hình đại diện của thành viên
Ban quản lý
Ban quản lý
 
Ngày tham gia: 28.09.2014, 21:28
Bài viết: 1655
Được thanks: 366 lần
Điểm: 9.12
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Đương đại] Istanbul - Hồi ức và Thành phố - Orhan Pamuk - Điểm: 10

Chương 2: Những bức hình trong viện bảo tàng ảm đạm



Mẹ tôi, cha tôi, anh tôi, bà tôi, các ông chú của tôi và những bà vợ của họ – tất cả chúng tôi sống trên những tầng khác nhau trong một tòa nhà năm tầng. Cho tới một năm trước khi tôi ra đời, các chi nhánh đại gia đình của tôi (giống như nhiều gia đình đông người Ottoman khác) sống chung trong một dinh cơ bằng đá; vào năm 1951 họ cho một trường tiểu học tư mướn dinh cơ này và tạo dựng trên miếng đất kế bên một tòa nhà hiện đại, đó là nhà của chúng tôi; ở mặt tiền, theo đúng tập tục hổi ấy, họ hãnh diện cho gắn một tấm bảng với dòng chữ NHÀ PAMUK[1]. Chúng tôi sống ở tầng lầu thứ tư, và khi tôi đủ lớn để nhảy ra khỏi lòng mẹ, là tôi leo lên leo xuống trọn tòa nhà, và còn nhớ là ở mỗi tầng lầu đều có ít nhất một cây đàn dương cầm. Khi ông chú độc thân sau cùng của tôi buông tờ nhật báo của mình xuống đủ lâu để lấy vợ, và khi bà vợ mới của ông dọn vô tầng lầu thứ nhất, bà mang theo cùng với bà cây đàn dương cầm, họ ở đó suốt một nửa thế kỷ tiếp theo, nhìn người qua kẻ lại trên đường đường phố qua khung cửa sổ.

[1] PAMUK APT trong nguyên bản. (Các chú thích đều của biên tập).

Không ai chơi đàn cả, trên chiếc đàn ấy cũng như bất cứ cây đàn ở nhà nào khác; có lẽ chính điều này làm tôi cảm thấy buồn đến vậy.

Nhưng không chỉ có những cây đàn câm; ở mỗi nhà còn có một cái tủ kính có khóa bên trong bày những đồ sành, đổ sứ Trung Hoa, những chén uống trà, những bộ đồ bằng bạc, bình đựng đường, hợp đựng thuốc lá, ly pha lê, binh đựng nước, đĩa, lư hương, chẳng hề có ai đụng tới, và giữa những món đồ đó, thỉnh thoảng tôi tìm ra những chỗ ẩn giấu cho những chiếc xe ôtô đồ chơi nhỏ xíu. Có những chiếc bàn giấy khảm xà cừ chẳng ai sử dụng, những giá mũ trống trơn chẳng ai treo mũ, những chiếc bình phong Nhật Bản hay Tân Nghệ Thuật đằng sau chẳng có gì. Trong thư viện, nằm phủ bụi sau mặt kính, là những cuốn sách y học của ông chú bác sĩ của tôi; trong hai mươi năm kể từ khi ông di cư qua Mỹ, chẳng hề có bàn tay con người sờ lên chúng. Với cái đầu trẻ thơ của tôi, những căn buồng này được trang trí bày biện không phải cho người sống mà là cho người chết. (Thỉnh thoảng, một chiếc bàn cà phê, hay một cái rương chạm trổ biến khỏi phòng khách tầng này chỉ để xuất hiện tại phòng khách tầng khác).

Bà tôi, mỗi khi thấy chúng tôi ngồi ngả ngớn trên chiếc ghế phô tơi bọc vải bạc, là lên tiếng: “Ngồi thẳng lên!” Phòng khách không phải là nơi bạn tha hồ ngồi thế nào thì ngổi, sao cho thoái mái; chúng là các bảo tàng viện nho nhỏ, được bày biện, bố trí để chứng tỏ cho một người khách giả định nào đó rằng đây là một gia đình đã được Tây phương hóa. Lương tâm một người không nhịn ăn trong tháng chay Ramadan sẽ cảm thấy bớt áy náy khi ngồi giữa những chiếc tủ kính đựng những bộ chén đĩa uống trà, những cây đàn dương cầm chết đó, so với khi ngôi bắt chéo chân trong những căn phòng đầy những gối nệm và đi văng. Tuy ai cũng biết điều này là vi phạm giới luật của Hồi giáo, nhưng không ai hay sự Tây phương hóa còn có thể dùng làm gì khác nữa. Bởi vậy không phải chỉ ở trong các gia đình giàu có ở Istanbul bạn mới nhìn thấy những viện bảo tàng nho nhỏ nơi phòng khách; trong vòng trên năm chục năm tiếp theo sau, bạn có thể nhìn thấy những bày biện phòng khách hổ lốn, ảm đạm (đôi khi cũng nên thơ) ảnh hưởng Tây phương trên toàn xứ Thổ Nhĩ Kỳ; mãi đến thập niên 1970 khi tivi du nhập, thì chúng mới trở nên lỗi thời. Một khi người ta khám phá ra cái thú túm năm tụm ba lại coi tin tức buổi chiều, thì phòng khác liền biến đổi, từ bảo tàng nho nhỏ thành rạp hát nho nhỏ – mặc dù bạn vẫn còn nghe nói về những gia đình cổ hủ đe tivi của họ tại hành lang chính, khóa cửa nhà bảo tàng nho nhỏ, và chỉ mở ra vào những ngày nghỉ, hoặc để tiếp những vị khách đặc biệt.

Bởi sự qua lại lên xuống giữa các tầng trong nhà không lúc nào ngớt, giống hệt như lúc còn ở tòa dinh cơ Ottoman trước đây, các cửa phòng trong tòa nhà hiện đại thường không đóng bao giờ. Khi anh tôi bắt đầu đi học, mẹ tôi để cho tôi leo cầu thang một mình, hoặc đi cùng bà lên thăm nội tôi, vẫn chưa dậy khỏi giường. Những tấm màn vải tuyn trong phòng khách của bà nội luôn được rủ xuống, nhưng điều này chẳng tạo nên khác biệt nào đáng kể; tòa nhà kế bên xây gần quá, thành thử lúc nào căn phòng cũng tối, nhất là vào buổi sáng, vì vậy tôi có thể ngồi trên những tấm thảm rộng thật dày và bày ra đủ thứ trò chơi cho riêng mình, sắp xếp những chiếc xe nhỏ xíu một ai đó từ Âu châu đem về cho thành hàng lối ngay ngắn tới mức ám ảnh, và sau đó cho từng chiếc vô nhà để xe. Giả đò coi những tấm thảm là biển cả, những cái ghế, những cái bàn là các hòn đào, tôi nhảy từ hòn đào này qua hòn đảo khác mà không đụng xuống nước (đâu có thua gì Nam tước của Calvino phi thân từ cây này qua cây khác, không đụng đất, suốt cuộc đời). Khi chán trò phiêu lưu trên không, hay trò cưỡi thành ghế bành thay cho ngựa (trò này chắc là được gợi hứng từ những chiếc xe ngựa mà tôi đã từng nhìn thấy ở Heybeliada), tôi bèn tưởng tượng ra một trò chơi mà tôi vẫn tiếp tục chơi ngay cả khi đã trở thành người lớn, mỗi khi cảm thấy buồn bực: tôi tưởng tượng, nơi mà tôi đang có mặt đó (trên giường, trong phòng khác, tại lớp học, ở trại lính, bệnh viện, văn phòng nhà nước), thực sự là một nơi nào khác; và khi mệt nhoài vì cái trò mơ ngày này, tôi bèn nghỉ xả hơi với những tấm hình đặt trên mọi cái bàn, và trên tường.

Vì chưa bao giờ thấy những chiếc đàn dương cầm được dùng vào một việc gì khác, tôi cho rằng chúng là trưng bày các bức hình. Không có một khoảng bề mặt nào trong căn phòng khách của bà tôi không được phủ lên bởi các thứ khung đủ kích thước. Bề thế nhất là hai bức chân dung khổng lồ treo bên trên cái lò sưởi không bao giờ được sử dụng: Một là hình bà tôi, đã được tô màu lại, tấm kia chụp ông nội tôi, đã mất năm 1934. Từ cách thức hai bức hình được treo trên tường và kiểu làm dáng của ông bà tôi (hơi nghiêng người về nhau, giống như các ông hoàng bà chúa ở Âu châu trên mấy con tem), bất cứ ai bước vô căn phòng viện bảo tàng, gặp cái nhìn đầy kiêu kỳ của ông bà, là hiểu liền câu chuyện giữa họ đã bắt đầu ra sao.

Cá hai đều xuất thân từ cùng thị trân Gördes, gần Manisa; gia đình được gọi tên là Pamuk (bông gòn) bởi làn da lợt lạt và mái tóc trắng của họ. Bà nội tôi là người Circassia (những cô gái Circassia nổi tiếng vì dáng người cao và xinh, thường được tuyển vô hậu cung hoàng đế Ottoman). Ông thân sinh của bà tôi di cư tới Anatolia khi xảy ra cuộc chiến giữa Nga và Đế quốc Ottoman (1877-78), lúc đầu định cư tại Izmir (thinh thoảng trong gia đình vẫn có người nhắc tới căn nhà bỏ hoang ở đó), sau chuyển tới Istanbul, nơi ông tôi học học ngành kỹ sư dân sự. Kiếm được bộn tiền vào đầu thập niên 1930, khi Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ đổ hết tiến bạc vào công việc xây dựng ngành hỏa xa, ông tôi bèn dùng tiền đó xây dựng một nhà máy lớn, sản xuất đủ thứ từ dây thừng cho tới một loại sợi nhỏ dùng để phơi thuốc lá. Nhà máy ở bên bờ Göksü, một con suối đổ xuống vịnh Bosphorus. Khi mất, vào năm 1934 ở tuổi năm mươi tư, ông tôi để lại một gia tài lớn lao đến nỗi cha và ông chú của tôi chẳng bao giờ tìm được ra cách làm cạn đi nổi, mặc dù cứ làm ăn thua lỗ liên tiếp một thời gian dài.

Chuyển sang thư viện, chúng ta thấy những bức chân dung lớn chụp thế hệ mới, được treo thật đối xứng trên các bức tường; nhìn cách dùng màu để tô điểm những bức hình, chúng ta có thể biết đây là tác phẩm của cùng một ông thợ ảnh. Ở bức tường phía đằng xa là bức chân dung của ông chú Özhan của tôi, mập nhưng gân guốc. Ông qua Mỹ học ngành y, quên không thi hành nghĩa vụ quân sự, thành ra không thể trở về, và thế là, ông mở đường cho bà tôi sống suốt quãng đời còn lại trong u sầu buồn bã. Còn kia là ông em trai của chú Özhan, chú Aydin, với cặp mắt kính, ở tầng trệt. Cũng như cha tôi, ông học kỹ sư xây dựng và hầu như suốt đời tham gia những đề án xây dựng lớn chẳng bao mọc lên được. Trên bức tường thứ tư là cô em của cha tôi, du học dương cầm ở Paris trong nhiều năm. Chồng bà là một ông trợ giảng trường đại học luật, và họ sống nơi tầng chót, trên đỉnh tòa nhà, nơi nhiều năm sau này, tôi dọn lên để sống, và viết cuốn sách này.

Rời thư viện trở về phòng chính của viện bảo tàng dừng một lát bên những ngọn đèn pha lê chỉ làm tăng thêm vẻ u tối ảm đạm, chúng ta thấy cả một lố bức hình đen trắng không được tô màu nói cho chúng ta biết rằng cuộc sống đang lấy lại cái đà của nó. Ở đây, chúng ta thấy tất cả những đứa trẻ chụp hình trong tiệc hỏi, cưới, hay những dịp trọng đại khác trong đời chúng. Bên cạnh những bức hình màu đầu tiên của ông chú ở Mỹ gửi về là những bức chụp cảnh gia đình mở rộng, thêm bà con, cùng ăn uống nhậu nhẹt nhân ngày nghỉ nơi công viên thành phố; quảng trường Taksim và bờ vịnh Bosphorus; bên cạnh một bức hình của tôi và ông anh cùng cha mẹ chúng tôi trong một bữa tiệc cưới, là bức hình ông tôi, đứng bên cạnh chiếc xe hơi mới, trong vườn căn nhà cũ, và một bức khác chụp chú tôi đứng bên cạnh chiếc xe hơi mới tại lối đi chính dẫn vào Nhà Pamuk. Ngoại trừ những biến cố khác thường, thí dụ ngày bà tôi gỡ bỏ bức hình của bà vợ đầu của ông chú ở Mỹ, thay bằng bức hình bà vợ thứ nhì, cũng của ông, những gì cũ kỹ luôn chiếm ưu thế: Một khi đã ở vào cái chỗ được chỉ định cho mình, bức hình không bao giờ bị gỡ bỏ; và mặc dù đã nhìn từng cái một hàng trăm lần, mỗi lần vô viện bảo tàng là tôi lại đưa mắt nhìn đám đông đó.

Nghiền ngẫm mãi những bức hình khiến tôi cảm khái về tầm quan trọng của việc gìn giữ các khoảnh khắc cho hậu thế và tôi cũng nhận ra ảnh hưởng quan trọng của những bức hình đóng khung đó lên chúng tôi trong cuộc sống hàng ngày. Nhìn ông chú ra một bài toán cho ông anh tôi giải, và cùng lúc, nhìn ông trong bức hình trước đó ba mươi năm; nhìn cha tôi chúi mắt vào trang báo, cùng lúc nhếch một nửa nụ cười, cố bắt kịp một câu chuyện tiếu lâm của đám đông xung quanh, và cùng ngay lúc đó, nhìn bức hình khi ông mới năm tuổi – bằng tuổi tôi – với mớ tóc dài như của một cô bé tôi ngộ ra một điều, bà tôi cho đóng khung và làm đông lạnh những kỷ niệm đó là để đẩy chúng vào hiện tại cho chúng tôi. Khi, bằng cái giọng chỉ dùng lúc bàn thảo về các vấn đề lập quốc, bà nói về ông tôi, người chết quá trẻ, và chỉ tay lên những khung hình trên bàn, trên tường, có vẻ như bà tôi – cũng như tôi – bị đẩy về hai phía, vừa muốn cứ thế mà đi tới trong đời lại vừa cố nắm bắt khoảnh khắc của sự toàn hảo, vừa nhâm nhi cái bình thường lại vừa vinh danh cái lý tưởng. Nhưng, dù cho vật lộn mãi với những nan đề – liệu khi bạn lấy ra một khoảnh khắc đặc biệt của cuộc sống rồi đóng khung, làm đông lạnh nó, thì bạn đang thách đố cái chết, sự lão hóa, bước đi của thời gian, hay là bạn quy phục trước nó? – tôi ngày càng chán nản bực bội với chúng.

Rồi cũng đến lúc tôi kinh hãi những bữa tiệc ban trưa dài dặc ấy, những lễ lạt bất tận vào buối tối, những ngày Năm Mới khi cả gia đình sau bữa ăn xúm nhau choi lô tô ấy– năm nào cũng vậy, tôi lại thề bồi với chính mình rằng đây sẽ lần cuối cùng tôi tới, nhưng chẳng hiểu sao tôi chưa bao giờ đủ sức phế bỏ thói quen. Vậy mà, khi còn nhỏ, tôi mê những bữa ăn gia đình như thế lắm. Và khi theo dõi những câu chuyện khôi hài chạy quanh bàn ăn đông người, các ông chú cười hả hê (dưới ảnh hưởng của rượu vodka hay raki[2]”) và bà tôi mỉm cười (dưới ảnh hưởng của một ly bia nho nhỏ mà bà tự cho phép mình), tôi không thể không nhận ra cuộc sống bên ngoài khung hình vui hơn biết bao nhiêu. Tôi cảm thấy cái cảm giác yên ổn khi thuộc về một gia đình lớn, hạnh phúc và không thể dứt bỏ ảo tưởng rằng chúng tôi sinh ra là để mang sự hoan lạc vào trong cuộc đời. Không phải là tôi không biết rằng những bà con trong gia đình chúng tôi đang cười nói, bỡn cợt ăn uống một cách vô tư vào một ngày nghỉ đó lại cũng là những con người chẳng vô tư một chút nào trong những cuộc tranh cãi về tiền bạc và tài sản. Khi chỉ có chúng tôi trong phòng riêng, mẹ tôi luôn than vãn với ông anh tôi và tôi về những sự độc ác của “bà cô của các con,” “ông cậu của các con,” “bà nội của các con”… Trong những lần đụng chạm để phân định phần tài sản này thuộc về ai, làm sao chia những cổ phần nhà máy sản xuất dây, gia đình nào chiếm tầng nào trong tòa nhà, điều duy nhất chắc chắn là sẽ không bao giờ có cách giải quyết hết. Những vết rạn nứt có thể dịu đi trong bữa ăn ngày nghỉ, nhưng, ngay từ khi còn nhỏ, tôi đã hiểu ra rằng đằng sau sự vui vẻ nhộn nhịp là cả một núi những trận đấu chưa ngã ngũ, và cả một biển những lời buộc tội, xỉ vả lẫn nhau.

[2] Loại nước uống có cồn pha anis.

Mỗi gia đình trong đại gia đình có một người làm riêng, và mỗi người làm riêng này có bổn phận trung thành với chủ trong những cuộc chiến. Esma Hanim, làm cho mẹ tôi, sẽ đi thăm İkbal, người giúp việc của cô tôi. Sau đó, vào bữa ăn sáng, mẹ tôi hỏi: “Mày có nghe được Aydin nói gì không?”

Cha tôi cũng sẽ tò mò muốn biết, nhưng khi nghe xong câu chuyện, ông chỉ nói: “Chúa ôi, dẹp ba cái chuyện phiền hà đó đi,” và trở lại với tờ báo của ông.

Tuy còn quá trẻ chưa hiểu nổi duyên do thầm kín nằm bên dưới những cuộc cãi lộn – rằng gia đình tôi, tuy vẫn sống nếp sống thời còn dinh cơ Ottoman, thực sự là đãng rã ra từng mảnh – nhưng làm sao tôi không nhận thấy những lần vỡ nợ của cha tôi, và chuyện ông gần như thường xuyên vắng mặt trong gia đình. Tôi có thể nghe được một cách chi tiết hơn về việc mọi chuyện tệ hại ra sao môi lần mẹ tôi đưa hai anh em đi thăm bà ngoại của chúng tôi, tại căn nhà có ma của bà ở Şişli. Trong khi hai anh em chơi đùa, mẹ tôi ngồi than vãn và bà tôi khuyên mẹ phải kiên nhẫn. Có thể do âu lo mẹ tôi muốn trở về căn nhà ba tầng bụi bặm, và bà ngoại tôi lúc này sống một mình trong căn nhà, sẽ thêm một lần nói cho chúng tôi nó đã xuống cấp thê thảm đến cỡ nào.

Ngoài đôi lần để lộ sự bồn chồn, bực bội, cha tôi ít khi than vãn; ông hớn hò như một đứa trẻ về những nét bảnh trai, về cái đầu thông minh, và về gốc gác giàu sang của mình, chẳng thể che giấu. Ở trong nhà, ông luôn huýt sáo miệng, ngắm nghía mình trong gương, thoa miếng chanh thay cho dầu bóng brillantine lên mái tóc. Ông ưa nói giễu, khoái chơi chữ, những trò ngạc nhiên, đọc thơ, phô ra trí thông minh, thích du lịch bằng máy bay. Ông không giống mấy ông bố thích la lối, ngăn cấm hay trùng phạt con cái. Khi ông dẫn chúng tôi lang thang khắp thành phố, tới đâu là kết bạn tới đó; chính là qua những cuộc dã ngoạn như vậy mà tôi cảm tưởng thế giới là một nơi để hưởng lạc thú.

Nếu cái ác, cái xấu ở đâu xớ rớ tới, cái buồn bực, cái khó chịu xuất hiện, cha tôi sẽ ngoảnh mặt quay lưng làm thinh. Mẹ tôi, người đề ra các quy tắc, là người sẽ nhướng lông mày và chỉ dẫn chúng tôi ở trong cái phần tối tăm của cuộc đời. So với cha tôi, một ông bố ham vui, thì mẹ tôi không bằng, nhưng chúng tôi thật phụ thuộc vào mẹ tôi, vào tình yêu, sự quan tâm của bà. Bà dành nhiều thời gian cho con cái hơn hẳn cha tôi, người cứ có dịp là chuồn khỏi nhà.

Bài học đầu đời cay nghiệp nhất mà tôi học được là vừa lọt lòng mẹ, tôi phải chiến đấu với ông anh để tranh đoạt tình cảm của bà. Có lẽ chính là do ông bố ít chứng tỏ quyền lực với con cái mà tình anh em có nét đặc thù như trên chăng: Ông anh tôi quá đúng là địch thủ của tôi, trong cuộc tranh đoạt tình yêu của mẹ. Và lẽ dĩ nhiên chúng tôi chẳng hề biết cái gọi là tâm lý học, cuộc chiến luôn bật ra dưới vỏ bọc một trò chơi con nít, hai anh em đóng những vai khác, giả đò là những người khác. Không còn là Orhan thằng em và Şevket thằng anh bị khóa cứng vào trong một trận đánh chết người, mà là người hùng, hay cầu thủ đá banh số một của tôi đấu với của ông anh. Cứ nghĩ mình là người hùng của mình, chúng tôi chơi tới bến; và khi trận đấu kết thúc trong máu và nước mắt, sự giận dữ và lòng ghen tuông khiến chúng tôi quên mất mình là anh em ruột thịt.

Cứ khi nào cảm thấy buồn bực, không thoải mái, hay chán nản, là tôi rời nhà, không thèm nói một tiếng, hoặc xuống gác chơi với thằng con trai của cô tôi, hoặc thường xuyên hơn là lên phòng bà tôi. Mặc dù mọi căn nhà trông đều như nhau, cũng bàn cũng ghế cũng bộ đồ ăn, bình đựng đường, gạt tàn thuốc, tất cả đều được mua từ cùng một cửa tiệm, mỗi một căn phòng như thế là một xứ xở khác, một vũ trụ tách biệt. Và trong căn phòng khách âm u bề bộn của bà tôi, đặc biệt là, trong bóng tối của những chiếc bàn cà phê, những tủ kính, những chiếc bình, những bức hình đóng khung, tôi có thể mơ mộng mình đang ở một nơi chốn khác.

Vào buổi tối, khi cả nhà chúng tôi tụ tập trong căn phòng này, tôi thường chơi một trò chơi, trong đó tôi tưởng tượng căn phòng của bà tôi là boong của một con tàu lớn Trò chơi kỳ dị này thoát thai từ sự di chuyển của những con tàu trên vịnh Bosphorus, tiếng còi tàu rền rĩ lừng lững đi vào giấc mơ của tôi khi nằm trên giường. Và khi lái con tàu tưởng tượng xuyên qua giông bão, thủy thủ đoàn cùng hành khách vật lộn với những đợt sóng dữ, tôi mang niềm tự hào của viên thuyền trưởng biết rằng con tàu của chúng tôi, gia đình của chúng tôi – số phận của chúng tôi – nằm trong tay tôi.

Mặc dù có lẽ giấc mơ này là do những cuốn truyện tranh phiêu lưu của ông anh truyền cảm hứng, tôi vẫn nhận ra chuyện này y hệt như khi tôi suy nghĩ về Thượng Đế. Thượng đế chọn cách buộc chặt chúng tôi với số phận của thành phố không phải chỉ vì chúng tôi giàu có. Nhưng khi cha và chú tôi cứ đâm đầu vào hết cú vỡ nợ này tới cú vỡ nợ khác, khi gia tài của cải của chúng tôi cứ thế đội nón ra đi, và gia đình chúng tôi phân rã, và những cuộc cãi lộn về tiền bạc ngày một dữ dội, cứ mỗi lần mẹ tôi đi thăm bà ngoại là tôi lại tiến gần thêm đến nhận định này: Bằng một con đường thật xa, thật vòng vèo, bằng một thời gian thật dài, đám mây của âm u và sự mất mát bao trùm khắp Istanbul bắt nguồn từ sự sụp đổ của Đế quốc Ottoman sau cùng đã đến với gia đình chúng tôi.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 9 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
[Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào có chút bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 167, 168, 169

2 • [Hiện đại] Chọc giận cô vợ nhỏ Ông xã tổng tài quá kiêu ngạo - Xảo Linh

1 ... 74, 75, 76

3 • [Cổ đại - Trùng sinh] Cung khuyết - Trịnh Lương Tiêu

1 ... 51, 52, 53

4 • [Hiện đại] Em gái anh yêu em - Nguyên Vịnh Mạt

1 ... 13, 14, 15

5 • [Xuyên không] Quỷ vương độc sủng Sát phi - Phi Nghiên

1 ... 32, 33, 34

6 • [Hiện đại] Kinh thành Tam thiếu Ông xã gõ cửa lúc nửa đêm - Cát Tường Dạ

1 ... 110, 111, 112

7 • [Hiện đại] Ông xã xấu xa anh đừng hư quá - Phong Phiêu Tuyết

1 ... 48, 49, 50

8 • List truyện ngôn tình hoàn + Ebook [Update 19/2]

1 ... 52, 53, 54

9 • [Xuyên không - Điền văn] Cuộc sống khó khăn của thứ nữ - Nhân Sinh Giang Nguyệt

1 ... 32, 33, 34

10 • [Xuyên không] Hoàng gia tiểu kiều phi - Ám Hương

1 ... 135, 136, 137

11 • [Mau xuyên - Sắc] Nữ tiến sĩ điên cuồng Chế tạo người máy Dục Niệm Nô - Trần Hướng Nam

1 ... 24, 25, 26

12 • [Xuyên không - Dị giới] Tiểu thư phế vật thật yêu nghiệt - Bồ Đề Khổ Tâm

1 ... 105, 106, 107

13 • [Xuyên không] Phế hậu của lãnh hoàng - Hồ Tiểu Muội

1 ... 117, 118, 119

14 • [Xuyên không] Hoàng thượng có gan một mình đấu bản cung? - Abbyahy

1 ... 63, 64, 65

15 • [Hiện đại - Trùng sinh] Gia khẩu vị quá nặng - Hắc Tâm Bình Quả

1 ... 121, 122, 123

16 • [Hiện đại] Hôn trộm 55 lần - Diệp Phi Dạ

1 ... 236, 237, 238

17 • [Xuyên không] Trời sinh một đôi - Đông Thanh Liễu Diệp

1 ... 158, 159, 160

18 • [Cổ đại] Xướng môn nữ hầu - Tần Giản

1 ... 78, 79, 80

19 • [Hiện đại - Nữ phụ văn] Bản lĩnh của nữ phụ - My Ngoc 132

1 ... 20, 21, 22

20 • [Hiện đại - Hắc bang] Huyết tình hắc đạo - Huyền Namida

1 ... 26, 27, 28


Thành viên nổi bật 
lamhan0123
lamhan0123
Nminhngoc1012
Nminhngoc1012
cò lười
cò lười

Shop - Đấu giá: tuantrinh vừa đặt giá 200 điểm để mua Chuông vàng
Ngọc Nguyệt: ...
Hách Mi: Nắng nà nà :)2
༄༂Tuyền Uri༂࿐: 248 điểm của Rj :cry2: sao chưa ai gởi
Hoàng Phong Linh: Mn tối hảo
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 631 điểm để mua Khủng long Dino
Bối Bối: tìm truyên: các nàng cho ta hỏi truyện nữ 9 ở mạt thế xuyên không về cổ đại, nữ 9 là người duy nhất miễn dịch với virus zombie ở mạt thế nên bị những người ở đó lùng bắt đem về nghiên cứu. vì k muốn mình làm chuột bạch nên nữ 9 bự nổ banh xác mình và xuyên không về cổ đại. thân thể nữ 9 xuyên k vào chết khi thử thuốc giải độc cho nam 9 vì tiền giúp vị hôn phu từ nhỏ làm ăn. vị hôn phu đó chỉ giả vờ nói vậy để thử tấm lòng thân thể đó và nữ phụ bạch liên hoa, vị hôn phu đó vì k biết thân thể nữ 9 xuyên vào đã làm gì cho mình mà tưởng thân thể đó tham phú quý nên từ hôn.
Shop - Đấu giá: ChieuNinh vừa đặt giá 750 điểm để mua Điện thoại Samsung Galaxy S8
Shop - Đấu giá: Lily_Carlos vừa đặt giá 999 điểm để mua Điện thoại Iphone X
BigPep: met qua
Shop - Đấu giá: tuantrinh vừa đặt giá 300 điểm để mua Giấy chứng nhận kết hôn
Chu Ngọc Lan: phamanh1982 đồng chí ngó qua hộ đồng chí Rj nhắc lần 2 nhé :)2 một lần nữa ra đảo chơi vs khỉ nhà Rj nhá :">
Chu Ngọc Lan: Bay mô :)2 bay bay
Lãng Nhược Y: Sam, mụi đang sưu búm :">

Nương, đá nương bay theo nó :shock4:
Chu Ngọc Lan: Mới đáp xuống nảy bay dòi :)2
Sam Sam: bà bay đi luôn đi :))
Chu Ngọc Lan: Cầu nó bay đi lun :)2 bay bay~~~~
Sam Sam: muốn học ở trung tâm thì học giao tiếp hoy
Sam Sam: học ai eo thì học ở nhà cho khỏe bạn ơi :)2
dts2018: Mọi người ơi cho mình hỏi có ai biết nơi nào học IELTS ok mà chi phí phải chăng không?
dts2018: Mọi người ơi cho mình hỏi có ai biết nơi nào học IELTS ok mà chi phí phải chăng không?
dts2018: Mọi người ơi cho mình hỏi có ai biết nơi nào học IELTS ok mà chi phí phải chăng không?
Sam Sam: Y mọi mọi thích bướm :D3
Lãng Nhược Y: Em chỉ cầu có bướm thôi. Thấy có mấy con hết hạn lâu lắm rồi mà không bay ra shop :cry3:
lamhan0123: Mai êm rảnh êm đi lôi đảo khỉ nhà em gởi sếp bán :)2
lamhan0123: chiếc này mất tích dòi. Còn nữa chỗ gởi đồ cho sếp bán cả chục món sếp giục ra hết đi. Sợ gì k có ai mua :)2
Sam Sam: sếp tính bán Ip X giá nhiu :D3 e biết đường tích điểm :)2
tuantrinh: Chứ đâu xoá bỏ làm gì
tuantrinh: Hết hạn thì mang về kho, vài giờ sau mang ra bán.
Shop - Đấu giá: Hoa Mẫu Đơn vừa đặt giá 421 điểm để mua Túi đựng tim

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.