Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 348 bài ] 

Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần

 
Có bài mới 10.05.2018, 13:28
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 34303
Được thanks: 5226 lần
Điểm: 9.58
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
GIAI THOẠI 65 - PHÉP NƯỚC ĐỜI VUA LÊ HUY TÔNG VÀ CHÚA TRỊNH CĂN

Theo thông lệ, hàng năm, hoặc giả là vài ba năm, triều đình vua Lê - chúa Trịnh lại tổ chức khảo quan. Đại đề, đây là một hình thức khảo xét quan lại các cấp để quyết định việc thăng hoặc giáng cấp của họ. Cũng có năm, việc khảo quan được tiến hành chẳng khác gì một kì thi, nghĩa là cũng có bài thi viết, có người được triều đình cử làm giám khảo để chấm hẳn hoi.

Cuộc khảo quan năm Bính Tí (1696) dưới thời vua Lê Hy Tông (1675 - 1705) và chúa Trịnh Căn (1682 - 1709) cũng có thể coi là một ví dụ tiêu biểu. Tiếc thay, cuộc khảo quan ngỡ như chặt chẽ này lại tỏ rõ phép nước lúc ấy bị khinh nhờn quá mức. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Chính biên, quyển 34, tờ 36), khi chép việc của tháng 8 năm Bính Tí (1696) đã cho biết như sau :

"Giáng chức của Nguyễn Quan Nho từ Tham tụng xuống hàng Tả thị lang bộ Binh, liền đó lại cho làm chức Đô ngự sử.

(Nguyễn) Quan Nho là người giản dị. Bấy giờ, sắp có cuộc khảo quan ở kinh thành và các trấn, chúa Trịnh Căn triệu (Nguyễn) Quan Nho và Lê Hy vào phủ để nghĩ sẵn đề thi, đồng thời căn dặn rằng :

- Không được tiết lộ cho ai biết.

(Nguyễn) Quan Nho ngồi nói chuyện chơi với Đặng Đình Tướng, có vô ý làm lộ một phần đề thi. Quan Thái giám là Ngô Phan Lân, vốn từ lâu đã không bằng lòng với (Nguyễn) Quan Nho, liền đem việc này tố cáo. Trịnh Căn giận lắm, bèn biếm chức của (Nguyễn) Quan Nho, nhưng rồi ngay hôm sau, vì có quan Đô ngự sử là Nguyễn Quý Đức bị giáng chức, Trịnh Căn cho (Nguyễn) Quan Nho làm Đô ngự sử."

Về chuyện Nguyễn Quý Đức bị giáng chức, cũng sách trên cho biết như sau :

"Con em của Đô ngự sử Nguyễn Quý Đức có người nhận của đút lót từ người bị kiện. (Nguyễn) Quý Đức biết chuyện, đem tang vật trình nạp và tâu bày mọi lẽ, nhưng triều đình xét thấy (Nguyễn) Quý Đức xử kiện không đúng lẽ, số tang vật đem trình nạp cũng không đầy đủ, nên giáng (Nguyễn) Quý Đức làm Tả thị lang bộ Binh".

Chép đến đoạn sử này các tác giả sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục đã hạ bút viết một lời phê rất nghiêm khắc như sau : "Việc làm của họ Trịnh đều không đáng bàn luận làm gì".

Lời bàn : Chư vi sử gia thời Nguyễn nói l32;n không bàn luận, nhưng thực thì đã bàn luận đó thôi.

Nội một chuyện khảo quan không thôi cũng đủ thấy phép nước thời vua Lê Hy Tông và chúa Trịnh Căn đã bị coi thường đến cỡ nào rồi. Nặng nhẹ tuy có khác nhau, nhưng lỗi của Nguyễn Quan Nho và Nguyễn Quý Đức là điều không thể chối cãi, họ bị hặc tội rồi bị giáng chức là lẽ tất nhiên. Nhưng, lỗi mình mà mình chẳng thấy, lỗi mình mà mình chẳng nghiêm với mình, thì thử hỏi, được giữ chức Đô ngự sử là chức chuyên hặc tội người khác, chuyên lo xét xử người khác, quan lớn Nguyễn Quan Nho sẽ làm sao? Chúa lấy quyền uy nhất thời của Chúa mà xét xử, thăng giáng, ... hậu sinh lấy khí khái của người học sử mà nghiêm phê rằng chính Chúa là người bẻ cong phép nước đó thôi.

Còn như hoạn quan Ngô Phan Lân, dẫu làm đến chức Thái giám, thì tâm địa nhỏ nhen vẫn cứ là tâm địa nhỏ nhen.

Chao ơi, vừa mở sử ngó vào triều vua Lê - chúa Trịnh một chút mà đã thấy ù tai hoa mắt. Chí tệ, thậm chí tệ !



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 10.05.2018, 13:29
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 34303
Được thanks: 5226 lần
Điểm: 9.58
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
THẾ THỨ CÁC TRIỀU VUA VÀ CHÚA THẾ KỈ XVI - XVII

Từ năm 1527 trở đi, ở nước ta có nhiều hệ thống chính quyền khác nhau cùng đồng thời tồn tại. Để bạn đọc (nhất là những người chưa có dịp làm quen với sử cũ) tiện theo dõi, chúng tôi xin giới thiệu thêm phần Thế thứ các triều vua và chúa thế kỉ XVI - XVII. Phần này được trình bày theo thứ tự trước sau của từng dòng, còn như việc đối chiếu thời gian nắm quyền tương ứng của các dòng, chúng tôi nghĩ là không cần thiết.

A - THẾ THỨ CÁC TRIỀU VUA

I - THẾ THỨ CÁC VUA NHÀ MẠC

01 – MẠC THÁI TỔ (1527 - 1529)

Tên thật : Mạc Đăng Dung.

- Nguyên quán : Cổ Trai, Nghi Dương (nay thuộc Hải Phòng).

- Thuở nhỏ Mạc Đăng Dung sống bằng nghề đánh cá ở quê nhà, sau, nhờ thi đỗ lực sĩ, Mạc Đăng Dung được làm quan cho nhà Lê. Dưới thời Lê Tương Dục (1509 - 1516), Mạc Đăng Dung được phong chức Đô chỉ huy sứ, tước Vũ Xuyên Bá. Mạc Đăng Dung làm quan trải thờ ba đời vua Lê là Lê Tương Dực, Lê Chiêu Tông (1516 - 1522) và Lê Cung Hoàng (1522 - 1527). Thời Lê Cung Hoàng, Mạc Đăng Dung được phong tới tước An Hưng Vương.

- Tháng 6 năm Đinh Hợi (1527), Mạc Đăng Dung cướp ngôi của nhà Lê rồi làm vua từ tháng 6 năm 1527 cho đến thắng 12 năm 1529, sau đó, nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh để lên làm Thượng hoàng.

- Mạc Đăng Dung mất ngày 22 tháng 8 năm Tân Sửu (1541). Do không rõ năm sinh nên không rõ Mạc Đăng Dưng thọ bao nhiêu tuổi.

- Trong thời gian ở ngôi (1527 - 1529), Mạc Đăng Dung chỉ đặt một niên hiệu duy nhất là Minh Đức.

02 - MẠC THÁI TÔNG (1530 - 1540)

- Tên thật : Mạc Đăng Doanh, con trưởng của Mạc Đăng Dung.

- Được truyền ngôi ngày 1 tháng 1 năm Canh Dần (1530) và ở ngôi 10 năm (1530 - 1540), mất ngày 15 tháng 1 năm Canh Tí (1540). Do chưa rõ năm sinh nên không biết Mạc Đăng Doanh thọ bao nhiêu tuổi.

- Trong thời gian ở ngôi, Mạc Đăng Doanh chỉ đặt một niên hiệu duy nhất là Đại Chính (1530 - 1540).

03 – MẠC HIẾN TÔNG (1540 - 1546)

- Tên thật : Mạc Phúc Hải (con trưởng của Mạc Đăng Doanh).

- Lên ngôi cuối tháng 1 năm 1540, ở ngôi 6 năm (1540 - 1546), mất ngày 8 tháng 5 năm Bính Ngọ (1546). Do chưa rõ năm sinh nên không biết Mạc Phúc Hải thọ bao nhiêu tuổi.

- Trong thời gian ở ngôi, Mạc Phúc Hải chỉ đặt một niên hiệu duy nhất là Quảng Hòa (1540 - 1546).

04 – MẠC TUYÊN TÔNG (1548-1561)

- Tên thật : Mạc Phúc Nguyên (con trưởng của Mạc Phúc Hải).

- Lên ngôi tháng 5 năm 1546, ở ngôi 15 năm, mất tháng 12 năm Tân Dậu (1561). Do chưa rõ năm sinh nên không biết Mạc Phúc Nguyên thọ bao nhiêu tuổi.

- Trong thời gian ở ngôi, Mạc Phúc Nguyên đã đặt ba niên hiệu sau đây :

Vĩnh Định (1547)

Cảnh Lịch (1548-1553)

Quang Bảo (1554-1561).

05 - MẠC MẬU HỢP (1562 - 1592)

- Mạc Mậu Hợp là họ và tên thật, không phải là miếu hiệu, nhưng vì Mạc Mậu Hợp bị giết nên sử cũ theo đúng điển lễ xưa, chỉ chép họ và tên mà thôi.

- Mạc Mậu Hợp là con trưởng của Mạc Phúc Nguyên, lên ngôi vào tháng 1 năm Nhâm Tuất (1562), ở ngôi 31 năm, sau, bị Trịnh Tùng giết vào tháng 12 năm Nhâm Thìn (1592). Do chưa rõ năm sinh nên không rõ Mạc Mậu Hợp thọ bao nhiêu tuổi.

- Trong thời gian ở ngôi, Mạc Mậu Hợp đã đặt 6 niên hiệu sau đây :

Thuần Phúc (1562-1565)

Sùng Khang (1566-1577)

Diên Thành (1578-1585)

Đoan Thái (1586-1587)

Hưng Trị (1588-1590)

Hồng Ninh (1591-1592)

Khi Mạc Mậu Hợp bị giết, vị trí của họ Mạc trên vũ đài chính trị của nước nhà không có gì đáng kể nữa. Tuy nhiên, dư đảng của họ Mạc vẫn còn tiếp tục hoạt động cho đến nửa sau của thế kỉ XVII. Dưới đây là thế thứ thời suy tàn cua họ Mạc.

06 - MẠC TOÀN (1592 - 1593)

- Con trưởng của Mạc Mậu Hợp, được Mạc Mậu Hợp truyền ngôi vào tháng 11 năm Nhâm Thìn (1592).

- Bị Trịnh Tùng bắt và giết vào tháng 1 năm Quý Tị (1593), vì chưa rõ năm sinh nên không biết Mạc Toàn thọ bao nhiêu tuổi.

- Trong thời gian ở ngôi, Mạc Toàn có đặt một niên hiệu là Vũ An.

07 – MẠC KÍNH CHỈ (1592 - 1593)

- Con của Mạc Kính Điển, cháu nội của Mạc Phúc Hải (chú ruột của Mạc Toàn).

- Lên ngôi ngay sau khi Mạc Mậu Hợp bị giết (tháng 12 năm 1592), dẫu trước đó một tháng, Mạc Toàn đã được cha là Mạc Mậu Hợp truyền ngôi cho.

- Bị Trịnh Tùng bắt và giết cùng với Mạc Toàn vào tháng 1 năm 1593. Do chưa rõ năm sinh nên không biết Mạc Kính Chỉ thọ bao nhiêu tuổi.

- Trong thời gian ở ngôi, Mạc Kính Chi có đặt hai niên hiệu

sau đây :

Bảo Định (1592)

Khang Hựu (1593 - vừa đặt xong thì bị giết).

08 – MẠC KÍNH CUNG (1593 – 1625)

- Tự lập làm vua vào năm Quý Tị (1593) và ở ngôi 32 năm.

- Bị Trịnh Tráng bắt được và giết vào tháng 5 năm Ất Sửu (1625). Do chưa rõ năm sinh nên không biết Mạc Kính Cung thọ bao nhiêu tuổi.

- Trong thời gian ở ngôi, Mạc Kính Cung chỉ đặt một niên hiệu duy nhất là Càn Thống.

09 – MẠC KÍNH KHOAN (1623 - 1638)

- Tự lập làm vua ngay khi Mạc Kính Cung còn ở ngôi, cho nên từ năm 1623 đến năm 1625, họ Mạc có đến hai người cùng làm vua.

- Năm 1625, Mạc Kính Khoan đầu hàng Trịnh Tráng, được Trịnh Tráng cho lên giữ đất Cao Bằng. Ngay khi đến Cao Bằng, Mạc Kính Khoan lại xưng đế như cũ. Nhưng, cũng vì sự kiện này, một số sử sách cho rằng Mạc Kính Khoan chỉ xưng đế đến năm 1625 mà thôi.

- Mạc Kính Khoan mất vì bệnh vào tháng 3 năm Mậu Dần (1638).

Do chưa rõ năm sinh nên không biết Mạc Kính Khoan thọ bao nhiêu tuổi.

- Trong thời gian ở ngôi, Mạc Kính Khoan có đặt một niên  hiệu là Long Thái.

10 - MẠC KÍNH VŨ (1638 - 1677)

- Mạc Kính Vũ (còn có tên khác là Mạc Kính Hoàn) là con của Mạc Kính Khoan.

- Nối ngôi sau khi Mạc Kính Khoan mất (1638), ở ngôi 39 năm (1638-1677). Sau, bị chúa Trịnh Tạc đánh, phải bỏ chạy sang Trung Quốc, không rõ sống chết ra sao.

- Năm 1667, Mạc Kính Vũ có đầu hàng chúa Trịnh Tạc, nhưng ngay sau đó lại tổ chức lực lượng chống lại Trịnh Tạc và tiếp tục xưng đế như cũ. Vì sự kiện này, một số sử sách cho rằng Mạc Kính Vũ chỉ xưng đế đến năm 1667 mà thôi.

- Trong thời gian ở ngôi, Mạc Kính Vũ chỉ đặt một niên hiệu duy nhất là Thuận Đức.

I I- THẾ THỨ CÁC VUA TRIỀU LÊ

Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, triều Lê vì thế bị gián đoạn một thời gian. Từ năm 1533, nhờ công giúp rập của Nguyễn Kim và nhiều cựu thần khác, triều Lê lại được dựng lên tại Thanh Hóa. Tuy nhiên, cũng kể từ dây, cuộc hỗn chiến Nam-Bắc triều (hay còn gọi là chiến tranh Lê-Mạc) bắt đầu diễn ra. Nam triều tuy đã giành được thắng lợi, nhưng quyền lực của vua Lê thì bị mất dần. Cuối cùng, vua Lê chỉ còn là hư vị mà thôi.

Trong hai thế kỉ XVI và XVII, triều Lê gồm có các vua sau đây :

01 - LÊ TRANG TÔNG (1533-1548)

- Tên thật : Lê Ninh (lại có tên khác là Lê Huyến), con của vua Lê Chiêu Tông (1516-1522) và Phạm Thị Ngọc Quỳnh (Hoàng hậu của Lê Chiêu Tông). Sử cũ chép Lê Trang Tông sinh năm Ất Hợi (1515) nhưng chúng tôi lấy làm ngờ, bởi vì năm này, Lê Chiêu Tông mới được 8 tuổi, làm sao có con !

- Lên ngôi năm Quý Tị (1533) tại Thanh Hóa và là vị vua đầu tiên của Nam triều.

- Ở ngôi 15 năm, mất ngày 29 tháng 1 năm Mậu Thân (1548), thọ 33 tuổi.

- Trong thời gian ở ngôi, Lê Ninh chỉ đặt một niên hiệu duy nhất là Nguyên Hòa.

02 - LÊ TRUNG TÔNG (1548 - 1556)

- Tên thật : Lê Huyên (con trưởng của Lê Trang Tông).

- Lên ngôi năm 1548, ở ngôi 8 năm, mất năm 1556, thọ 22 tuổi. Vua không có con nối dõi.

- Trong thời gian ở ngôi, Lê Trung Tông chỉ đặt một niên hiệu duy nhất là Thuận Bình.

03 - LÊ ANH TÔNG (1556 - 1573)

- Tên thật : Lê Duy Bang (cháu 5 đời của Lề Trừ, mà Lê Trừ là anh của Lê Lợi).

- Vua sinh năm 1532, lên ngôi năm 1556, ở ngôi 17 năm, bị giết năm 1573, thọ 41 tuổi.

- Trong thời gian ở ngôi, Lê Anh Tông đã đặt ba niên hiệu sau đây :

Thiên Hựu (1556-1557)

Chính Trị (1558-1571)

Hồng Phúc (1572-1573).

04 - LÊ THẾ TÔNG (1573 - 1599)

- Tên thật : Lê Duy Đàm (con thứ 5 của Lê Anh Tông).

- Vua sinh năm 1567, lên ngôi năm 1573, ở ngôi 26 năm, mất năm 1599 vì bệnh, thọ 32 tuổi.

- Trong thời gian ở ngôi, Lê Thế Tông có đặt 2 niên hiệu sau đây :

Gia Thái (1573-1577)

Quang Hưng (1578-1599).

05 - LÊ KÍNH TÔNG (1599 - 11619)

- Tên thật : Lê Duy Tân (con thứ của Lê Thế Tông).

- Vua sinh năm 1588, lên ngồi năm 1599, ở ngôi 20 năm, bị giết năm 1619, thọ 31 tuổi.

- Trong thời gian ở ngôi, Lê Kính Tông đã đặt hai niên hiệu sau đây :

Thận Đức (1600-1601)

Hoằng Định (1601-1619).

06 - LÊ THẦN TÔNG (1619 – 1643 và 1649 - 1662)

- Tên thật : Lê Duy Kỳ (con trưởng của Lê Kính Tông).

- Vua sinh năm 1607, lên ngôi vua hai lần.

Lần thứ nhất : từ năm 1619 đến năm 1643. Năm 1643, Lê Thần Tông nhường ngôi cho con trưởng là Lê Duy Hựu (tức vua Lê Chân Tông) để làm Thượng hoàng 6 năm.

Lần thứ hai : từ năm 1649 đến năm 1662. Năm 1649, vì con là Lê Duy Hựu mất, Lê Thần Tông lại tiếp tục làm vua.

Trong thời gian hai lần ở ngôi, Lê Thần Tông đã đặt 6 niên hiệu sau đây :

Vĩnh Tộ (1619-1629)

Đức Long (1629-1643)

Khánh Đức (1649-1653)

Thịnh Đức (1653-1658)

Vĩnh Thọ (1658-1662)

Vạn Khánh (1662). Niên hiệu vừa đặt xong thì Lê Thần Tông qua đời.

07 - LÊ CHÂN TÔNG (1643 - 1649)

- Tên thật : Lê Duy Hựu (con trưởng của Lê Thần Tông).

- Vua sinh năm 1630, được truyền ngôi năm 1643, ở ngôi 6 năm, mất năm 1649, thọ 19 tuổi. Nhà vua không có con nối dõi.

- Trong thời gian ở ngôi, Lê Chân  Tông chỉ đặt một niên hiệu duy nhất : Phúc Thái (1643 - 1649).

08 - LÊ HUYỀN TÔNG (1662 - 1671)

- Tên thật : Lê Duy Vũ (con thứ của vua Lê Thần Tông, em của vua Lê Chân Tông)  

- Vua sinh năm 1654, nối ngôi năm 1662, ở ngôi 9 năm, mất năm 1671, thọ 17 tuổi.

- Trong thời gian ở ngôi, Lê Huyền Tông chỉ đặt một niên hiệu là Cảnh Tự (1662-1671).

09 - LÊ GIA TÔNG (1671 – 1675)

- Tên thật : Lê Duy Cối (cũng có tên khác là Lê Duy Khoái).

- Vua sinh năm 1661, lên ngôi năm 1671, ở ngôi 4 năm, mất năm 1675, thọ 14 tuổi. Vua vốn là con thứ của Lê Thần Tông, em của Lê Chân Tông.  

- Trong thời gian ở ngôi, Lê Gia Tông có đặt hai niên hiệu sau đây :

Dương Đức (1672-1674)

Đức Nguyên (1674-1675).

10 -  LÊ HY TÔNG (1675 -1705)

- Tên thật : Lê Duy Hiệp (con thứ của Lê Thần Tông, chào đời sau khi Lê Thần Tông mất được 6 tháng).

- Vua sinh năm 1663, lên ngôi năm 1675, ở ngôi 30 năm. Năm 1705, vua nhường ngôi cho con là Lê Duy Đường (tức Lê Dụ Tông) để làm Thượng hoàng 11 năm (1705 - 1716). Vua mất năm  1716, thọ 53 tuổi.  

- Trong thời gian ở ngôi, Lê Hy Tông có đặt hai niên hiệu sau đây :  

Vĩnh Trị (1676-1679)

Chính Hòa (1680-1705).

Sau Lê Hy Tông, nhà Lê còn có 6 đời vua nữa, đó là : Lê Dụ Tông (1705-1729), Lê Đế Duy Phường (1729-1732), Lê Thuần Tông (1732-1735), Lê Ý Tông (1735-1740), Lê Hiển Tông (1740-1786) và Lê Chiêu Thống (1786-1788). Tuy nhiên, tất cả những vị vua này đều thuộc khung lịch sử của thế kỉ XVIII, chúng tôi sẽ giới thiệu ở tập sau.

B - THẾ THỨ CÁC ĐỜI CHÚA

Từ thế kỉ thứ XVI trở đi, bên cạnh các vua triều Mạc và triều Lê, guồng máy chính trị nước nhà còn có thêm các đời chúa Trịnh và chúa Nguyễn nữa. Trong thực tế, không phải ai cũng công khai nhận mình là chúa, nhưng, xem xét hành trạng của họ, ta chỉ có thể nói họ là chúa mà thôi. Cũng trong thực tế, có người đã bước đầu được trao quyền làm việc như chúa, nhưng do ảnh hưởng của họ quá ít ỏi, chúng tôi không liệt kê tên tuổi của họ ở đây.

I – THẾ THỨ CÁC ĐỜI CHÚA TRỊNH

01 – TRỊNH KIỂM (1545 -1569)

- Trịnh Kiểm sinh năm nào không rõ, chỉ biết năm 1545, sau khi Nguyễn Kim mất, ông trở thành người nhân danh vua Lê để điều khiển Nam triều.

- Trịnh Kiểm làm chúa 24 năm, mất năm 1569 không rõ thọ bao nhiêu tuổi.

02 - TRỊNH TÙNG (1570 - 1623)

- Con thứ của Trịnh Kiểm, đánh đuổi anh là Trịnh Cối để giành ngôi chúa.

- Làm chúa 53 năm, mất vì bệnh năm 1623, không rõ thọ bao nhiêu tuổi.

03 - TRỊNH TRÁNG (1623 - 1657)

- Con trưởng của Trịnh Tùng.

- Nối ngôi chúa năm 1623, ở ngôi chúa 34 năm, mất năm 1657, không rõ thọ bao nhiêu tuổi.

- Thời Trịnh Tráng là thời mở đầu của các cuộc giao tranh ác liệt giữa Đàng Ngoài với Đàng Trong.

04 - TRỊNH TẠC (1657 - 1682)

- Con trưởng của Trịnh Tráng.

- Nối ngôi chúa năm 1657, ở ngôi chúa 25 năm, mất năm 1682, không rõ thọ bao nhiêu tuổi.

- Thời Trịnh Tạc là thời diễn ra những cuộc giao tranh ác liệt cuối cùng giữa Đàng Ngoài với Đàng Trong.

05 – TRỊNH CĂN (1682 - 1709)

- Con trưởng của Trịnh Tạc.

- Nối ngôi chúa năm 1682, ở ngôi chúa 27 năm, mất năm 1709, không rõ thọ bao nhiêu tuổi.

Sau chúa Trịnh Căn, họ Trịnh còn có 7 đời chúa nữa, đó là : Trịnh Cương (1709-1729), Trịnh Giang (1729-1740), Trịnh Doanh (1740-1767), Trịnh Sâm (1767-1782), Trịnh Cán (1782), Trịnh Khải (1782-1786) và Trịnh Bỗng (1786). Tuy nhiên, những đời chúa Trịnh này đều thuộc khung lịch sử của thế kỉ XVIII, chúng tôi sẽ giới thiệu ở tập sau.

II - THẾ THỨ CÁC ĐỜI CHÚA NGUYỄN

01 – NGUYỄN HOÀNG (1558 - 1613)

- Con thứ của Nguyễn Kim, sinh năm 1525.

- Được vua Lê Anh Tông cho vào trấn thủ Thuận Hóa năm 1558, và đến năm 1570 thì kiêm luôn cả trấn thủ Quảng Nam.

- Năm 1593 được vua Lê Thế Tông phong làm Thái úy tước Đoan Quốc công.

- Nguyễn Hoàng mất năm 1613, thọ 88 tuổi.

02 – NGUYỄN PHÚC NGUYÊN (1613 - 1635)

- Con thứ 6 của Nguyễn Hoàng, sinh năm 1563.

- Nối nghiệp cha từ năm 1613 cho đến năm 1635 thì mất thọ 72 tuổi.

- Thời Nguyễn Phúc Nguyên là thời mở đầu cho những cuộc giao tranh ác liệt giữa Đàng Ngoài với Đàng Trong.

03 – NGUYỄN PHÚC LAN (1635-1648)

- Con thứ của Nguyễn Phúc Nguyên, sinh năm 1601.

- Nối ngôi chúa từ năm 1635, ở ngôi chúa 13 năm, mất năm 1648, thọ 47 tuổi.

04 - NGUYỄN PHÚC TẦN (1648 - 1687)

- Con thứ của Nguyễn Phúc Lan, sinh năm 1620.

- Nối nghiệp chúa năm 1648, ở ngôi chúa 39 năm, mất năm 1687, thọ 67 tuổi.

- Thời Nguyễn Phúc Tần là thời kết thúc những cuộc giao tranh ác liệt giữa Đàng Ngoài với Đàng Trong.

05 - NGUYỄN PHÚC TRĂN (1687 - 1691)

- Con thứ của Nguyễn Phúc Tần, sinh năm 1649.

- Nối nghiệp chúa từ năm 1687, ở ngôi chúa 4 năm; mất năm 1691, thọ 42 tuổi.

06 - NGUYỄN PHÚC CHU (1691 - 1725)

- Con trưởng của Nguyễn Phúc Trăn, sinh năm 1675.

- Nối nghiệp chúa năm 1691, ở ngôi chúa 34 năm, mất năm 1725, thọ 50 tuổi.

Sau Nguyễn Phúc Chu, họ Nguyễn còn có ba đời chúa nữa, đó là Nguyễn Phúc Chú (1725-1738), Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) và Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777). Tuy nhiên, cả ba đời chúa này đều thuộc khung lịch sử của thế kỉ XVIII, chúng tôi sẽ giới thiệu ở tập sau.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 10.05.2018, 13:30
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 30 Nữ
Bài viết: 34303
Được thanks: 5226 lần
Điểm: 9.58
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Xuất bản - Lịch sử] Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần - Điểm: 10
LỜI CHÚ CUỐI SÁCH

Để bạn đọc đỡ mất công tra cứu, chúng tôi viết thêm phần Lời chú cuối sách. Với phần này, chúng tôi cố gắng giải nghĩa một cách gọn gàng mà đầy đủ những khái niệm ngày nay không còn thông dụng nữa. Tuy nhiên, chúng tôi cũng xin lưu ý rằng, tất cả những lời giải nghĩa dưới đây chỉ phù hợp với khung lịch sử nước ta trong hai thế kỉ XVI và XVII. Những con số đặt trong ngoặc đơn, nằm sát ngay sau các khái niệm được chú thích là số thứ tự của các giai thoại trong sách này.

AI LAO (31) : Tên vương quốc cổ. Nay, lãnh thổ của vương quốc này thuộc về Lào.

ÁI TỬ (08) : Tên đất, cũng là tên sông. Sông Ái Tử chảy qua tỉnh Quảng Trị. Sát sông này có xã tên là Ái Tử. Xưa, Ái Tử từng được chọn làm nơi đặt thủ phủ chung cho cả hai trấn là Thuận Hóa và Quảng Nam.

AN NAM ĐÔ THỐNG SỨ TI (18) : Cơ quan thống trị, chịu trách nhiệm về mọi vấn đề của xứ An Nam. An Nam là từ chỉ nước ta, vốn có từ thời Đường (năm 679) còn như Đô thống sứ ti là từ chỉ chung triều đình của nhà Lê. Lúc này, Trung Quốc không chính thức thừa nhận vua Lê nên mới phong vua Lê làm Đô thống sứ và gọi triều đình của vua Lê là An Nam Đô thống sứ ti.

AN THANH HẦU NGUYỄN KIM (01) : Ông Nguyễn Kim, tước Hầu, có hiệu là An Thanh. Xưa, tước bao giờ cũng ghép với hiệu và để ở sát ngay sau hiệu.

ÁN SÁT ĐỀ HÌNH SỨ TI (16) : chức đứng đầu cơ quan trông coi về xét xử và án kiện của một khu vực rộng lớn gồm hai hoặc nhiều địa phương, do triều đình (đây nói triều đình nhà Minh) lập ra.

BẮC TRIỀU (02) : Chỉ triều Mạc, mở đầu là Mạc Đăng Dung. Lúc này, nhà Mạc chiếm giữ chủ yếu là vùng phía Bắc nước ta nên sử cũ thường gọi nhà Mạc là Bắc triều.

BINH BỘ HỮU THỊ LANG (40) : Trong các bộ của triều đình xưa, đứng đầu là chức Thượng thư, sau chức Thượng thư là hai chức Tả và Hữu thị lang. Chức Tả bao giờ cũng lớn hơn chức Hữu. Như vậy chức Binh bộ Hữu thị lang là chức đứng hàng thứ ba trong bộ Binh, sau chức Thượng thư và chức Tả thị lang.

BÌNH AN VƯƠNG (21) : Tước Vương, hiệu hai chữ là Bình An. Đây chỉ Trịnh Tùng (1570-1623). Tước luôn đi đôi với hiệu và để ở sát ngay sau hiệu, nhưng, trong cùng một tước, hiệu càng ít chữ thì thứ bậc của tước càng cao hơn.

BỒI TỤNG (60), (62) : Chức quan sau chức Tham tụng. Thời này có sự lẫn lộn giữa chức và quyền. Thực ra, Tham tụng và Bồi tụng lúc này là quyền, không phải chức. Chúa chọn viên quan nào đó xét thấy có thể đảm đương được việc điều hành công việc chung của các bộ, thì trao quyền Tham tụng, đồng thời cử một số viên quan khác, trong đó có người được làm Bồi tụng, để phụ giúp công việc chung. Quyền của Tham tụng và Bồi tụng rất lớn, không khác Tể tướng và Á tướng bao nhiêu.

BỒI TỤNG, CHỨC LỄ BỘ TẢ THỊ LANG (54) : Viên quan giữ chức Tả thị lang của bộ Lễ (là chức lớn thứ hai sau chức Thượng thư của bộ Lễ) được trao quyền làm Bồi tụng.

CAI ĐỘI (34) : Chức võ quan, đứng đầu một đội quân. Chúa Nguyễn chia quân thành các dinh, đứng đầu mỗi dinh có chức Chưởng dinh, trong mỗi dinh lại có nhiều đội, đứng đầu mỗi đội có chức Cai đội.

CAI HỢP (31 ) : chức quan có vị thế tương tự như là phó của chức Cai đội.

CẤP SỰ TRUNG (80) : Trong triều đình lúc này, dưới cấp bộ còn có hai cơ quan trực thuộc là Khoa và Tự. Quan được giữ chức Cấp sự trung là quan làm việc ở các Khoa, thường có hàm Chánh bát phẩm.

CON ĐỎ (54) : nguyên nghĩa là con mới sinh ra, sắc da còn đỏ, âm Hán Việt của từ này là xích tử. Sách Đại học (một trong Tứ thư) có nói đến cửu thường (chín điều tâm niệm của quân tử), trong cửu thường có Tử thứ dân (nghĩa là thương dân như con), và khi phân tích vế Tử thứ dân, sách này cũng nói rõ là phải Bảo xích tử (nghĩa là phải thương như thương đứa trẻ sơ sinh). Nho gia từ đó gọi dân là con đỏ.

CON HỒNG CHÁU LẠC (10) : Chỉ chung nhân dân nước ta. Tổ tiên ta vẫn coi mình là dòng dõi Lạc Hồng, cho nên nói con Hồng cháu Lạc cũng tức là nói chung toàn thể nhân dân nước ta.

CÔNG BỘ HỮU THỊ LANG (40) : Chức quan hàng thứ ba trong bộ Công, sau chức Thượng thư và chức Tả thị lang của bộ này.

CÔNG BỘ TẢ THỊ LANG (18) : chức quan đứng hàng thứ hai của bộ Công, sau chức Thượng thư của bộ này.

CÔNG KHOA CẤP SỰ TRUNG (29) : Chức quan làm việc ở Công Khoa. Ở dưới các bộ của triều đình lúc này là các Khoa và các Tự. Công Khoa là Khoa của bộ Công.  

CƠ TỬ (25) : Tên một viên quan có tài của Chu Vũ Vương (Trung Quốc cổ đại).

CUNG CHẤN (50) : Trong bát quái, chấn là phương đông. Cung chấn ở đây chỉ vòm trời phía đông.

CỬA KHUYẾT (04) : ở phía nam của hoàng thành thường có một cửa lớn, trên cửa có lầu. Cửa ấy gọi là cửa khuyết, cũng tức là cửa quyết. Lầu ấy gọi là lầu khuyết hay lầu quyết. Đây là nơi ban bố mọi mệnh lệnh của triều đình cho thiên hạ hay.

CHU THƯ (25) : sách (của Trung Quốc) thời nhà Chu.

CHU VŨ VƯƠNG (25) : Tức Tây Bá Phát, vị vua đầu tiên của nhà Chu, người đã giết vua Trụ tàn bạo tủa nhà Ân (cũng tức là nhà Thương). Nhà Chu là một trong tam đại (Hạ, Thương, Chu) của Trung Quốc cổ đại.

CHÚC SƠN (40) : Cũng tức là Chúc Động, tên một xã thuộc huyện Chương Đức, tỉnh Hà Đông cũ, nay thuộc tỉnh Hà Tây.

CHƯỞNG CƠ (28) : Chức võ quan cao cấp nhất của các chúa Nguyễn ở xứ Đàng Trong.

CHƯỞNG DINH (26) : Chức quan (thường là võ quan) đứng đầu một dinh. Dinh là đơn vị hành chánh địa phương lớn nhất của xứ Đàng Trong. Mỗi dinh cũng là một đơn vị quân đội. Chức Chưởng dinh cũng đồng thời là chức đứng đầu đơn vị quân đội này.  

CHƯỞNG GIÁM (27) : Tên chức quan, chức này thường được dùng để ban cho người đứng đầu một Khoa của một bộ nào đấy.

CHƯỞNG TƯ LỄ GIÁM (45) : Chức quan đứng đầu bộ phận trông coi về việc hành lễ ở bộ Lễ.

DA CHÂU (05) : Cũng tức là châu Quan Da, nay thuộc Thanh Hóa.

ĐẤT MÂN (42) : Vùng đất này thuộc tỉnh Phúc Kiến của Trung Quốc. Lúc này, vì bị nhà Thanh tấn công, triều đình nhà Minh phải bỏ kinh thành mà chạy về Phúc Kiến.

ĐOAN VŨ HẦU (04) : Tước Hầu, hiệu là Đoàn Vũ. Đây chỉ tước của Lê Cập Đệ.

ĐÔ ĐỐC (26) : Chức võ quan cao cấp, ngang với các hàm Thái tử Thái sư, Thái tử Thái phó và Thái tử Thái bảo của văn quan. Đô đốc có hai viên là Tả và Hữu, cùng có hàm tòng Nhất phẩm.

ĐÔ ĐỐC ĐỒNG TRI (49) : chức võ quan cao cấp, ở dưới chức Đô đốc thường có hàm tòng Nhị phẩm.

ĐÔ THỐNG SỨ (18) : Tên quan chức của nhà Minh, nhưng đây lại là chức vụ mà nhà Minh phong cho vua Lê, coi vua Lê cũng chỉ như một viên quan của nhà Minh mà thôi.

ĐÔ THỐNG TI (42) : Chỉ triều đình nước ta. Đô thống ti Lê Hựu là triều đình Lê Hựu (tức triều đình vua Lê Chân Tông : 1643-1649).

ĐỐC ĐỒNG (56) : Chức quan trông coi việc xét xử, án kiện ở các trấn. Những quan có hàm từ Ngũ phẩm đến Tứ phẩm đều có thể được trao chức này.

ĐỐC THỊ (49) : Quan trông coi các vấn đề về biên cương ở các trấn tiếp giáp với nước ngoài. Những người có hàm tử Tứ phẩm đến Tam phẩm đều có thể được trao chức này.

ĐỐC CHIẾN (50) : chức võ quan. chỉ đặt ra trong khi có chiến trận. Chức này lớn nhỏ tùy quy mô của chiến tranh, đại để, nhiệm vụ của Đốc chiến là đốc thúc quân sĩ theo đúng mệnh lệnh mà chiến đấu.

ĐỐC SUẤT (56) : Chức võ quan, chỉ đặt ra khi có chiến trận, đại để cũng gần giống như Đốc chiến.

ĐỐC TRẤN (58) : chức Võ quan được bổ nhiệm làm người đứng đầu của một trấn.

ĐÔNG CÁC ĐẠI HỌC SĨ (16) : Học sĩ làm việc ở Đông Các thì gọi là Đông Các Học sĩ. Quan Đông Các Đại học sĩ là quan có hàm lớn nhất trong số các quan làm việc ở Đông Các, quan này thường có hàm từ tòng Tứ phẩm trở lên.

ĐỒNG TRI ĐÔ ĐỐC, TƯỚC THỤY QUẬN CÔNG (55) : Chức quan dưới chức Đô đốc, tước Quận công, hiệu là Thụy. Chức Đồng tri Đô đốc thường do văn quan nắm giữ.

GIA ĐỊNH (61) : Tên đất. Tên đất này bắt đầu có kể từ năm 1698, dùng để chỉ vùng tương ứng với miền Đông Nam Bộ ngày nay, nhưng rồi dần dần, được dùng để chỉ toàn bộ Nam Bộ. Năm 1832, nhà Nguyễn chia Nam Bộ làm sáu tỉnh, gọi là Nam Kì Lục tỉnh. Trong số sáu tỉnh này, có tỉnh Phiên An. Năm 1836, tỉnh Phiên An đổi gọi là tỉnh Gia Định. Thời Pháp, Gia Định là tên một tỉnh nhỏ mà cơ quan đầu não của tỉnh này đặt ở khu vực quận Bình Thạnh (thành phố Hồ Chí Minh) ngày nay.

HẠC HẢI (31) : Tên bãi cát ở Quảng Bình.

HÀN LÂM HỌC SĨ (42) : Học sĩ làm việc tại viện Hàn Lâm. Thường thì các học sĩ đều là Tiến sĩ.

HÁN TUYÊN ĐẾ (42) : Vị Hoàng đế thứ bảy của nhà Tiền Hán (Trung Quốc), làm vua từ năm 73 trước Công nguyên đến năm 49 trước Công nguyên.

HIẾN SÁT (31), (35) : Viên quan chịu trách nhiệm giám sát hoạt động của quan lại từ cấp trấn trở xuống, đồng thời, trông coi các việc xét xử và án kiện của các trấn. Quan Hiến sát thường có hàm Chánh lục phẩm.

HÌNH TÀO THAM PHÁN (18) : Chức vụ của triều đình Triều Tiên, chưa rõ cụ thể như thế nào. Tuy nhiên, có thể suy đoán rằng, sử cũ đã chọn một chức vụ tương đương ở nước ta cho viên sứ giả người Triều Tiên này. Nếu suy đoán này đúng, thì Hình tào Tham phán tương đương với chức đứng đầu cơ quan bộ Hình nhưng lại làm việc trong phủ chúa. (Bộ Hình của triều đình chỉ tồn tại trên danh nghĩa chứ không có vị trí gì, tất cả công việc của bộ Hình thực chất là do Hình tào của phủ chúa đảm trách).

HIỆU THẢO (63) : Chức quan lo việc đọc lại để kiểm tra độ chính xác của các văn kiện. Mỗi một Khoa đều có chức quan này. Hiệu thảo làm việc dưới quyền chỉ huy của các quan Cấp sự trung.

HY TÔNG HIẾU VĂN HOÀNG ĐẾ (29) : Miếu hiệu được truy tôn của Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635).

HOÀNG GIANG (22) : Tên sông ở Hà Nam.

HỒ XÁ (08) : Tên đất ở Quảng Bình.

HỒ GẶP GIÓ, RỒNG GẶP MÂY (02) : Dịch từ câu Hổ tùng phong, long tùng vân, ý nói cơ may đã đến.

HỘ KHOA CẤP SỰ TRUNG (40), (49) : Chức quan Cấp sự trung làm tại Hộ Khoa. (Xem thêm : Cấp sự trung)

HUÂN VƯƠNG (20) : Vị vương tước có công lao. Đây chỉ chúa Trịnh Tùng (1570-1623), tước Bình An Vương.

KẺ NÔNG TANG (42) : Kẻ làm ruộng và trồng dâu, đây ý muốn chỉ những người có địa vị thấp hèn trong xã hội cũ.

KINH ẤP (10) : cũng tức là kinh đô. Đây chỉ Thăng Long.

KINH BẮC (40) : Tên trấn. Trấn Kinh Bắc xưa có đất đai đại để tương ứng với vùng Hà Bắc cũ.

LAI QUẬN CÔNG (04) : Tước Quận công, hiệu là Lai. Đây chỉ tước của Phan Công Tích.

LẠI BỘ HỮU THỊ LANG (35) : Chức vụ ở hàng thứ ba của bộ Lại, sau Thượng thư và Tả thị lang.

LẠI BỘ HỮU THỊ LANG (35) : Chức vụ đứng hàng thứ hai của bộ Lại, sau Thượng thư.

ANH VŨ ĐIỆN ĐẠI HỌC SĨ, HÀM THIẾU BẢO, KIÊM THÁI TỬ THÁI BẢO, CHỨC LẠI BỘ THƯỢNG THƯ (18) : Quan đứng đầu bộ Lại (đây chỉ bộ lại của Trung Quốc), được phong hàm Thiếu bảo, lại kiêm thêm cả hàm Thái tử Thái bảo (tức là kiêm giữ những hàm lớn nhất trong hệ thống các hàm thuở xưa), cũng là bậc Đại học sĩ của điện Anh Vũ (vinh quang dành riêng cho những người được tôn là bậc hiền tài của triều đình).

LỄ KHOA CẤP SỰ TRUNG (49) : Quan Cấp sự trung, làm việc tại Lễ Khoa. (Xem thêm : Cấp sự trung)

LÔI DƯƠNG (05) : Tên huyện. Huyện này nay thuộc Thanh Hóa.

LŨY PHẬT CƯƠNG (39) : Tên một chiến lũy ở phía Bắc sông Gianh (Quảng Bình). Lũy này do quân Trịnh đắp nên.

LƯƠNG QUẬN CÔNG (04) : Tước Quận công, hiệu là Lương.

MINH LINH (33) : Tên đất, nay thuộc Quảng Bình.

NAM TRIỀU (02) : Tức triều Lê nhưng thực quyền lúc đầu nằm trong tay Nguyễn Kim, sau đó lại nằm trong tay Trịnh Kiểm (là con rể của Nguyễn Kim) và con cháu của Trịnh Kiểm. Sở dĩ gọi là Nam triều vì lúc này, triều Lê mới được dựng lại, chỉ chiếm được vùng phía Nam, còn vùng phía Bắc thì vẫn do triều Mạc (Bắc triều) nắm giữ.

NỘI GIÁM (21) : Quan Thái giám, làm việc dưới quyền của quan Tổng thái giám, chuyên lo giúp việc chủ yếu trong nội phủ.

NỘI TÀN (38) : Tên chức quan thời chúa Nguyễn, phẩm hàm tương đối cao, tuy nhiên, công việc và vị trí cụ thể như thế nào, hiện vẫn chưa rõ.

NỘI THỦY (34) : Tên đơn vị quân đội. Số lính của mỗi quân thường hay thay đổi, tuy nhiên, đại để thì mỗi quân gồm có từ 2 thuyền trở lên, mỗi thuyền vẫn thường có khoảng 500 người.

NỘI VIỆN THỊ ĐỘC (58) : Tên chức quan của nhà Minh. Những người có hàm từ Chánh ngũ phẩm trở lên đều có thể được hổ nhiệm giữ chức này.

NÔNG CỐNG (05) : Tên một huyện ở Thanh Hóa.

NÚI ĐÂU MÂU (33) : Tên núi ở Quảng Bình, gần cửa Nhật Lệ.

NÚI TRƯỜNG DỤC (31) : Tên núi ở Quảng Bình.

NHA GIANG (22) : Tên sông đổ ra cửa Đại Yên (hay cửa Liêu) ở Nam Hà cũ.

NHA ÚY NỘI TÁN (30) : Chức võ quan cao cấp của chúa Nguyễn, được quyền hầu cận và bàn việc quân cơ với chúa.

NHÂN MỤC (27) : Tên chợ, cũng là tên làng, tục gọi là làng Mọc, nay là xã Nhân Chính, ngoại thành Hà Nội.

NHẬT LỆ (33) : Tên sông, cũng là tên cửa biển ở Quảng Bình.

NGỌC CUNG CẦU (42) : Chưa rõ điển tích, chỉ biết cả câu này ý nói phải thực hiện đúng phận sự của mình.

NGÔ-VIỆT (42) : Nước Ngô và nước Việt, hai nước nhỏ ở Trung Quốc thời Xuân Thu. Đây chỉ đất xưa của nước Ngô và nước Việt, nơi vua nhà Minh đang bôn tẩu tới để lánh nạn và mong hưng phục cơ nghiệp cho mình.

NGÙ (19) : Vật trang sức, thường có hình cầu, dưới có dính tua đủ màu.

PHỤ QUỐC CHÍNH (42) : Chức tự phong của Trịnh Tráng. Với chức đó, Trịnh Tráng có danh nghĩa lớn là giúp vua trị nước, nhưng thực chất, Trịnh Tráng đã nắm hết mọi quyền bính trong tay.

PHỔ QUẬN CÔNG (4) : Tước Quận công, hiệu là Phổ.

QUYỂN THỦ (Lời trích ở trang đầu của sách) : Quyển mở đầu.

Sách Đại Việt sử kí toàn thư gồm có : 1 quyển thủ, 5 quyển ngoại kỉ (giới thiệu lịch sử nước ta từ đầu đến Ngô Quyền), 10 quyển bản kỉ (giới thiệu lịch sử nước ta từ Ngô Quyền đến hết thời Lê Lợi), 5 quyển bản kỉ thực lục (giới thiệu lịch sử nước ta từ Lê Thái Tông đến hết thời Lê Cung Hoàng) và 7 quyển bản kỉ tục biên (giới thiệu lịch sử nước ta từ nhà Mạc đến giữa thế kỉ XVII), tổng cộng 28 quyển.

Quyển thủ là quyển giới thiệu lời tựa, lời biểu dâng sách, phàm lệ và mục lục.

SAO BẮC ĐẨU (50) : Là chòm sao ở phía Bắc, gồm có 7 vì sao, cho nên cũng gọi là chòm Thất tinh.

SAO CHẨN (50) : Tên của một ngôi sao trong Nhị Thập Bát Tú.

SAO KHÔI (50) : Tên một ngôi sao trong số 7 ngôi sao Bắc Đẩu.

SÔNG TAM CHẾ (51) : Tên sông ở Hà Tĩnh.

SỞ - THỤC (42) : Tên hai nước chư hầu ở Trung Quốc thời Xuân Thu. Đây chỉ vùng đất từ tỉnh Tứ Xuyên sang phía Đông, giáp với Phúc Kiến, vốn là đất của nước Thục và nước Sở cũ.

TẢ THỊ LANG BỘ BINH (65) : Chức vụ hàng thứ hai sau Thượng thư của bộ Binh.

TẢ GIANG BINH TUẦN ĐẠO (16) : Chức vụ của nhà Minh đặt ra khi cử quan đi kiểm tra tình hình ở phía tả ngạn sông Trường Giang.

TẢ TƯỚNG TIẾT CHẾ THỦY BỘ CHƯ BINH (40) : Chức Tả tướng, nắm giữ quyền chỉ huy tất cả các dinh quân, thủy cũng như bộ. Chức này chỉ có Tả mà không có Hữu, chỉ dành riêng cho chúa mà thôi.

TÀM CHÂU (5) : Tên đất, nay thuộc Thanh Hóa.

TÁN LÍ (40) : Chức quan giúp việc cho các quan trấn thủ ở các xứ. Sau, chức này bị bãi bỏ, chỉ khi nào xuất quân đi xa mới đặt chức Tán lí, để giúp việc cho chủ tướng mà thôi. Hết việc phải xuất quân, chức Tán lí đương nhiên bị bãi bỏ.

TÀO THÁO (31 ) : Tên nhân vật nổi tiếng của Trung Quốc thời Tam Quốc. Lúc đầu, Tào Tháo chỉ là quyền thần thời Hán Hiến Đế sau, Tào Tháo cùng Lưu Bị và Tôn Quyền cùng tranh hùng, tạo ra cuộc hỗn chiến Tam Quốc (Ngụy, Thục và Ngô). Đến khi con của Tào Tháo là Tào Phi cướp ngôi vua của nhà Hán, Tào Tháo được truy tôn là Vũ Đế.

TAM TI (31) : Ba cơ quan cùng trông coi việc nước ở một trấn. Tam ti gồm : Thừa ti (trông coi về hành chính và thuế khóa), Hiến ti (trông coi về tư pháp, xét xử và án kiện), Đô ti (trông coi về quân sự).

TÂY DƯƠNG (31) : Chỉ chung các nước phương Tây. Lúc này, thực dân phương Tây đang tìm cách bành trướng.mạnh mẽ sang phương Đông.

TẤT ĐỒNG (47) : Vùng đất tiếp giáp giữa Hà Tĩnh với Quảng Bình ngày nay.

TIÊN KHẢO (21) : Người cha đã khuất. Trịnh Tùng là con thứ của Trịnh Kiểm, mà Trịnh Kiểm thì đã mất (năm 1569), nên Trịnh Tùng gọi Trịnh Kiểm là tiên khảo.

TIỀN BỘ DINH, QUỲNH QUẬN CÔNG (22) : Chức quan chỉ huy dinh Tiền Bộ, tước Quận công, hiệu là Quỳnh.

TIẾT CHÊ (10) : Người đứng đầu lực lượng vũ trang.

TIẾT CHẾ SINH QUỐC CÔNG (22) : Người đứng đầu lực lượng vũ trang, tước Quốc công, hiệu là Sinh. Đây là chức hiệu tự xưng, không phải chức hiệu chính thức của nhà nước.

TÔN VÕ TỬ (34) : Cũng tức là Tôn Võ hay Tôn Tử, nhà binh pháp nổi tiếng của Trung Quốc thời cổ đại.

TỔNG BINH (31) : Chức võ quan đứng đầu lực lượng vũ trang của một xứ nào đó.

TƯỚNG THẦN LẠI (31) : Chức quan chuyên lo việc thuế khóa.

TRẤN THỦ (36) : Người đứng đầu một trấn.

TRUNG ĐẠO (47) : Quân đội xưa thường chia làm năm đạo (hoặc năm dinh hay năm quân), gồm : Tả, Hữu, Tiền, Hậu và Trung. Vậy, Trung Đạo là một trong năm đạo quân đương thời của chúa Nguyễn.

THÁI BẢO (02) : Một trong Tam thái (Thái sư, Thái phó và Thái bảo). Tuy nhiên, đây chỉ là vinh hàm ban riêng cho đại thần, không phải là thực hàm.

THÁI BỘC TỰ KHANH (49) : Chức quan đứng đầu một Tự trong triều đình. (Xem thêm : Cấp sự trung). Chức này thường có hàm từ Ngũ phẩm trở lên.

THÁI TỂ HƯNG QUỐC CHIÊU HUÂN TĨNH CÔNG (21) : Tước và hiệu của Nguyễn Kim.

THÁI THƯỜNG TỰ KHANH (18), (40) : Tên chức quan làm việc trong các Tự của triều đình. (Xem thêm Cấp sự trung)

THAM CHÍNH (35) : Chức quan ở địa phương cấp trấn, sau chức Trấn thủ, thường có hàm Tứ phẩm.

THAM ĐỐC (6) : Chức quan giúp việc cho quan Trấn thủ ở các trấn.

THAM TỤNG, LỄ BỘ THƯỢNG THƯ, KIÊM ĐÔNG CÁC ĐẠI HỌC SĨ, THIẾU

BẢO, TUỚC YÊN QUẬN CÔNG (53) : Chỉ chức tước của Phạm Công Trứ. Ông có tước Quận công, hiệu là Yên, hàm Thái bảo, là Thượng thư bộ Lễ, kiêm coi Đông Các Viện, lại được giao giữ chức Tham tụng.

THANH ỨNG (47) : Đây nói tạo ra sự hỗ trợ khi cần thiết cho nhau.

THANH TƯƠNG (8) : Tên đất ở Quảng Bình.

THIÊM ĐÔ NGỰ SỬ (21) : Tên chức quan làm việc ở Ngự Sử Đài, dưới quyền của Đô ngự sử, chức này thường dùng những người có hàm chánh Ngũ phẩm.

THỔ TI VÂN NAM (56) : Chức quan trông coi đất Vân Nam của Trung Quốc.

THUYỀN ĐỊCH CẦN (34) : Thuyền là đơn vị quân đội xưa, nếu đầy đủ thì mỗi thuyền có chừng 500 người. Địch Cần là tên riêng của đơn vị quân đội (thuyền) này.

THỰ VỆ (6) : Tên chức quan Vệ là vệ quân (thường có quân số tương đương với một thuyền). Mỗi vệ có chức Chưởng vệ (là chức đứng đầu) và chức Thự vệ (là chức phó, giúp việc cho Chưởng vệ).

THƯỢNG PHỤ (3) : Tiếng tôn xưng, đây chỉ Trịnh Kiểm.  

THƯỢNG SƯ TÂY VƯƠNG (53) : Tước và hiệu Trịnh Tạc tự phong cho mình vào tháng 9 năm 1659.

THƯỢNG TƯỚNG THÁI QUỐC CÔNG (4) : Chức Thượng tướng, tước Quốc công hiệu là Thái. Đây chỉ Trịnh Kiểm.

VẠN TƯỢNG (31) : Tên tiểu vương quốc. Lãnh thổ của vương quốc này nay thuộc Lào.

VĂN CHỨC (36) : Tên chức quan, chưa rõ cụ thể ra sao.

VĂN PHONG HẦU (4) : Tước Hầu, hiệu là Văn Phong

VỊ DƯƠNG HẦU (4) : Tước Hầu, hiệu là Vệ Dương.

VIỆC THỔ MỘC (38) : chỉ việc xây cất.

VIÊN KÌ TRƯỞNG (34) : Người chịu trách nhiệm chính trong việc cầm cờ hiệu của quân đội xưa.

VƯƠNG MÃNG (31) : Viên quyền thần dưới thời Ai Đế nhà Tây Hán. Năm 8, Vương Mãng cướp ngôi nhà Tây Hán, lập ra nhà Tân. Nhà Tân tồn tại từ năm 8 đến năm 25.

XỨ ĐÀNG TRONG (24) : vùng đất do chúa Nguyễn cai quản, gồm từ sông Gianh trở vào.

HẾT TẬP 6.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 348 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:



Đề tài nổi bật 
1 • [Cổ đại] Hoàng sủng - Hoa Khai Bất Kết Quả

1 ... 33, 34, 35

2 • [Xuyên không - Cổ xuyên hiện] Ảnh hậu đối mặt hàng ngày - Ngã Yêu Thành Tiên

1 ... 35, 36, 37

3 • [Xuyên không] Nịch sủng Chí tôn cuồng phi - Mặc Thập Tứ

1 ... 52, 53, 54

[Hiện đại] Hôn nhân ngọt ngào - Đam Nhĩ Man Hoa

1 ... 19, 20, 21

5 • [Quân nhân] Không nghe lời vậy mời xuống giường - Ngô Đồng Tư Ngữ

1 ... 21, 22, 23

6 • [Hiện đại] Đợi mưa tạnh - Úy Không

1 ... 23, 24, 25

7 • [Xuyên không] Ma y độc phi - Phong Ảnh Mê Mộng

1 ... 73, 74, 75

8 • [Hiện đại] Ý tưởng ham muốn - Niệm Niệm Bất Xá X

1 ... 23, 24, 25

9 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 120, 121, 122

10 • [Hiện đại] Hôn nhân giá ngàn vàng - Cẩm Tố Lưu Niên (102/104]

1 ... 176, 177, 178

11 • [Cổ đại - Trùng sinh] Nàng phi chuyên sủng của vương gia ngốc - Huyền Nhai Nhất Hồ Trà

1 ... 57, 58, 59

[Cổ đại - Trùng sinh] Trọng sinh cao môn đích nữ - Tần Giản

1 ... 137, 138, 139

13 • [Xuyên không] Nàng phi lười có độc - Nhị Nguyệt Liễu

1 ... 90, 91, 92

14 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 244, 245, 246

15 • [Xuyên không] Thú phi thiên hạ Thần y đại tiểu thư - Ngư Tiểu Đồng

1 ... 90, 91, 92

16 • [Hiện đại] Ngọt khắc vào tim - Thời Câm

1 ... 29, 30, 31

17 • [Cổ đại cung đấu] Nhật ký xoay người ở hậu cung - Dạ Chi Dạ

1 ... 43, 44, 45

18 • [Hiện đại - Trùng sinh] Sống lại tại cửa cục dân chính - Bạo Táo Đích Bàng Giải

1 ... 20, 21, 22

19 • [Cổ đại] Thiên tuế sủng phi - Biện Bạch Anh

1 ... 32, 33, 34

20 • [Hiện đại] Hạnh phúc nhỏ của anh Đông Bôn Tây Cố (Trọn bộ 2 tập)

1 ... 23, 24, 25


Thành viên nổi bật 
Nminhngoc1012
Nminhngoc1012
Mẹ Bầu
Mẹ Bầu
susublue
susublue

Shop - Đấu giá: Đường Thất Công Tử vừa đặt giá 1155 điểm để mua Quà tặng Hamster
Shop - Đấu giá: ღ_kaylee_ღ vừa đặt giá 378 điểm để mua Audi
Shop - Đấu giá: Hoa Trà Mi vừa đặt giá 310 điểm để mua Lắc tay đá Sapphire
Shop - Đấu giá: Phượng Ẩn vừa đặt giá 250 điểm để mua Giày quà
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 1099 điểm để mua Quà tặng Hamster
Shop - Đấu giá: Sunlia vừa đặt giá 364 điểm để mua Bé mua sắm
Shop - Đấu giá: Sam Sam vừa đặt giá 341 điểm để mua Bé nấm
Shop - Đấu giá: Thanh Hưng vừa đặt giá 1045 điểm để mua Quà tặng Hamster
Shop - Đấu giá: Táo đỏ phố núi vừa đặt giá 323 điểm để mua Bé nấm
Shop - Đấu giá: Độc Bá Thiên vừa đặt giá 2330 điểm để mua Nữ hoàng 2
Shop - Đấu giá: Mai Tuyết Vân vừa đặt giá 1373 điểm để mua Thần nước
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 1306 điểm để mua Thần nước
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 345 điểm để mua Bé mua sắm
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 2218 điểm để mua Nữ hoàng 2
Shop - Đấu giá: Trang bubble vừa đặt giá 294 điểm để mua Lắc tay đá Sapphire
Shop - Đấu giá: Đường Thất Công Tử vừa đặt giá 994 điểm để mua Quà tặng Hamster
Shop - Đấu giá: Lavender - Blue vừa đặt giá 945 điểm để mua Quà tặng Hamster
Shop - Đấu giá: Đường Thất Công Tử vừa đặt giá 899 điểm để mua Quà tặng Hamster
Shop - Đấu giá: Lavender - Blue vừa đặt giá 855 điểm để mua Quà tặng Hamster
Shop - Đấu giá: Đường Thất Công Tử vừa đặt giá 813 điểm để mua Quà tặng Hamster
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 773 điểm để mua Quà tặng Hamster
Shop - Đấu giá: Nguyệt Hoa Dạ Tuyết vừa đặt giá 303 điểm để mua Gà sừng sộ
Shop - Đấu giá: Dịch Tử Hiên vừa đặt giá 735 điểm để mua Quà tặng Hamster
Shop - Đấu giá: Dịch Tử Hiên vừa đặt giá 322 điểm để mua Kẹo trái tim
Shop - Đấu giá: Sunlia vừa đặt giá 327 điểm để mua Bé mua sắm
Shop - Đấu giá: Mai Tuyết Vân vừa đặt giá 1242 điểm để mua Thần nước
Sunlia: bão về r bà con ơi ==
Shop - Đấu giá: Lavender - Blue vừa đặt giá 699 điểm để mua Quà tặng Hamster
Shop - Đấu giá: susublue vừa đặt giá 1181 điểm để mua Thần nước
Shop - Đấu giá: Thanh Hưng vừa đặt giá 2111 điểm để mua Nữ hoàng 2

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.