Diễn đàn Lê Quý Đôn

Cấm đăng tin quảng cáo các lớp học, khoá học, hội thảo, tìm học sinh... Các bài quảng cáo sẽ bị xoá.


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 18 bài ] 

Hành tinh thứ 12 - Zecharia Sitchin

 
Có bài mới 07.06.2017, 15:44
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 29 Nữ
Bài viết: 26518
Được thanks: 4603 lần
Điểm: 9.42
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Khoa học tự nhiên] Hành tinh thứ 12 - Zecharia Sitchin - Điểm: 10
CHƯƠNG 8

VƯƠNG VỊ CỦA THIÊN ĐƯỜNG


Các nghiên cứu về “Thiên sử thi Sáng tạo” và những tư liệu liên quan (như cuốn The Babylonian Epic of Creation – tạm dịch: Sử thi Sáng tạo của người Babylon của S. Langdon) cho thấy vào khoảng sau năm 2000 TCN, Marduk, con trai của Enki là người giành chiến thắng trong cuộc đấu tranh giành ngôi vị thần linh tối cao với Ninurta, con trai của Enlil. Sau đó, người Babylon đã tiến hành chỉnh sửa “Thiên sử thi Sáng tạo” gốc của người Sumer, xóa bỏ tất cả những điều liên quan đến Ninurta và đặc biệt là Enlil, rồi đặt lại tên cho hành tinh xâm nhập là Marduk.

Sự phù hợp thực sự của Marduk với vị trí “Chúa tể của các vị Thần” trên Trái đất được đi kèm với việc gán cho vị thần này biểu tượng hành tinh của người Nefilim, Hành tinh thứ Mười hai. Ngoài ngôi vị “Chúa tể của các vị Thần trên Trời – các hành tinh”, Marduk cũng là “Vua của Thiên đường”.

Lúc đầu, một số chuyên gia tin rằng Marduk là sao Bắc Đẩu hoặc một ngôi sao sáng nào đó xuất hiện trên bầu trời Mesopotamia vào thời điểm xuân phân bởi vì Marduk được miêu tả là một “thiên thể sáng ngời”. Nhưng Albert Schott (Marduk und sein Stern – tạm dịch: Marduk và ngôi sao của mình) và những người cộng sự của mình đã chứng minh một cách thuyết phục rằng tất cả các ghi chép thiên văn cổ đại đều khẳng định Marduk là một thành viên trong Hệ Mặt trời.

Trong một số ghi chép khác, Marduk được gọi là “Thiên thể Vĩ đại” và “Đấng Soi sáng” nên có giả thuyết cho rằng Marduk là một vị Thần Mặt trời của người Babylon, giống như thần Ra của người Ai Cập, vị thần cũng được các chuyên gia coi là một Thần Mặt trời. Các ghi chép mô tả Marduk là người “cai quản những đỉnh cao của bầu trời xa… khoác trên mình vầng hào quang chói sáng huy hoàng” có vẻ ủng hộ giả thuyết này. Nhưng cũng chính các ghi chép này lại cho rằng “ngài quan sát các xứ sở như thần Shamash (Mặt trời))”. Nếu như Marduk về phương diện nào đó giống như Mặt trời thì dĩ nhiên vị thần này không thể là Mặt trời được.

Nếu Marduk không phải là Mặt trời thì là hành tinh nào? Các ghi chép thiên văn cổ đại không đưa ra một hành tinh nào phù hợp. Dựa vào các giả thuyết về những tên gọi nhất định (chẳng hạn như Con trai thần Mặt trời), một số chuyên gia cho rằng đó là sao Thổ. Với mô tả rằng Marduk là một hành tinh màu đỏ cũng đưa sao Hỏa vào vị trí ứng viên. Nhưng các ghi chép này đặt Marduk ở markas shame (“trung tâm của Trời”) và điều này thuyết phục đa số các chuyên gia rằng đặc điểm này phải thuộc về sao Mộc, hành tinh nằm ở chính giữa hàng các hành tinh:

sao Mộc

Sao Mộc Sao Kim Trái đất Sao Hỏa Sao Thổ Sao Thiên Vương

Sao Hải Vương Sao Diêm Vương

Tuy nhiên giả thuyết này lại chứa đựng mâu thuẫn. Chính những chuyên gia đưa ra giả thuyết này lại có quan điểm rằng người Chaldea không biết đến những hành tinh bên ngoài sao Thổ. Họ coi Trái đất là một hành tinh, trong khi vẫn khăng khăng quan điểm rằng người Chaldea coi Trái đất là một chiếc đĩa phẳng nằm ở trung tâm của hệ hành tinh. Và họ loại trừ Mặt trăng, hành tinh được người Mesopotamia coi là một trong số các “vị thần trên trời”. Quan điểm đánh đồng giữa Hành tinh thứ Mười hai với sao Mộc hoàn toàn không hợp lý.

“Thiên sử thi Sáng tạo” khẳng định rõ ràng rằng Marduk là một kẻ xâm nhập từ bên ngoài Hệ Mặt trời, vượt qua các hành tinh vòng ngoài (bao gồm sao Thổ và sao Mộc) trước khi va chạm với Tiamat. Người Sumer gọi hành tinh này là NIBIRU, “hành tinh băng qua” và dị bản sử thi của người Babylon chứa đựng những thông tin thiên văn sau:

Hành tinh NIBIRU:

Ngài chiếm cứ Đường xuyên Trời và Đất.

Phía trên và phía dưới, không ai được băng qua;

Họ phải chờ ngài.

Hành tinh NIBIRU:

Hành tinh rực sáng trên bầu trời.

Ngài chiếm vị trí trung tâm;

Họ phải tỏ lòng kính trọng ngài.

Hành tinh NIBIRU:

Ngài là đấng không biết mệt mỏi

Tiếp tục băng qua giữa Tiamat.

Hãy để “BĂNG QUA” là tên của ngài

Đấng chiếm giữ vị trí trung tâm.

Những dòng thơ này cung cấp cho chúng ta những thông tin bổ sung đầy thuyết phục rằng sau khi phân chia các hành tinh khác thành 2 nhóm, Hành tinh thứ Mười hai “tiếp tục băng qua trung tâm của Tiamat”: Quỹ đạo của nó không ngừng đưa hành tinh này trở lại chiến trường nơi trận chiến xảy ra, nơi Tiamat từng tồn tại.

Chúng tôi thấy rằng những ghi chép thiên văn phức tạp về các chu kỳ cũng như danh sách các hành tinh theo thứ tự sắp xếp cũng cho rằng Marduk đã xuất hiện ở đâu đó giữa sao Mộc và sao Hỏa. Vì người Sumer biết đến tất cả các hành tinh này nên sự xuất hiện của Hành tinh thứ Mười hai ở “vị trí trung tâm” càng khẳng định kết luận của chúng tôi:

Marduk

Sao Thủy Sao Kim Mặt trăng Sao Mộc Sao Thiên vương

Sao Thổ Trái đất Sao Hỏa Sao Hải vương Sao Diêm vương

Nếu quỹ đạo của Marduk đưa hành tinh này trở lại nơi Tiamat từng tồn tại, vị trí khá gần Trái đất ngày nay (giữa sao Hỏa và sao Mộc) thì tại sao chúng ta chưa từng thấy hành tinh này, vốn được cho là một hành tinh lớn và rất sáng?

Các ghi chép của người Mesopotamia cho rằng Marduk đang di chuyển tới những khu vực chưa ai biết đến trên bầu trời và những nơi xa xôi của vũ trụ. “Ngài quét qua những tri thức ẩn giấu… nhìn thấu mọi ngóc ngách của vũ trụ.” Vị thần này được mô tả là “người giám sát”, với một quỹ đạo cho phép ngài bao quát tất cả các hành tinh khác. “Ngài nắm hết dải băng [quỹ đạo] của họ”, tạo một “chiếc vòng” bao quanh họ. Quỹ đạo của ngài “cao hơn” và “rộng hơn” bất cứ hành tinh nào khác. Theo quan điểm của Franz Kugler (Sternkunde und Sterndienst in Babylon – tạm dịch: Thiên văn học và các chòm sao ở Babylon) thì Marduk là một thiên thể di chuyển rất nhanh với quỹ đạo hình elip rất lớn giống như một sao chổi.

Quỹ đạo hình elip lấy Mặt trời làm tâm trọng lực có một điểm cực viễn – điểm xa nhất tính từ Mặt trời, nơi hành tinh bắt đầu quay vòng lại – và một điểm cực cận – điểm gần Mặt trời nhất, nơi hành tinh bắt đầu trở lại khoảng không vũ trụ. Chúng tôi thấy rằng 2 điểm “căn cứ” này trong thực tế gắn liền với Marduk trong các ghi chép của người Mesopotamia. Các ghi chép của người Mesopotamia mô tả hành tinh này đi từ AN.UR (“Căn cứ của Thiên đường”) tới E.NUN (“Cung điện Chúa tể”). Thiên sử thi Sáng tạo nói về Marduk như sau:

Ngài băng qua Thiên đường và giám sát các khu vực…

Chúa tể ước tính cấu trúc của vùng Thẳm sâu.

Ngài dựng lên cung điện nổi bật E-Shara ;

E-Shara là cung điện vĩ đại trên Thiên đường mà ngài lập nên.

Một “cung điện” “nổi bật” như vậy – nằm xa xôi nơi vùng Thẳm sâu của không gian vũ trụ. Một cung điện khác được lập tại “Thiên đường”, trong vành đai thiên thể, nằm giữa sao Hỏa và sao Mộc. (Hình 111)

images
Hình 111

Tiếp nối những lời dạy của các tổ tiên người Sumer, Abraham của thành Ur, người Hebrew cổ đại cũng gắn vị thần tối cao của mình với hành tinh tối cao. Giống như những ghi chép của người Mesopotamia, Kinh Cựu ước cũng mô tả về “Thiên Chúa” với cung điện trên “tầng cao Thiên đường”, nơi ngài “quan sát những hành tinh đầu tiên xuất hiện”; một Thiên Chúa vô hình trên Thiên đường “di chuyển theo đường tròn”. Sách Job dùng những câu thơ đặc biệt để mô tả về vụ va chạm trên bầu trời, gián tiếp khẳng định với chúng ta về hành tinh, nơi Thiên Chúa đến:

Trên vùng Thẳm sâu ngài vạch ra một quỹ đạo;

Nơi ánh sáng và bóng tối [hòa trộn]

Là giới hạn xa nhất của ngài.

Sách Thánh Vịnh cũng chỉ ra hành trình vĩ đại của hành tinh này rõ ràng không kém:

Thiên đường tượng trưng cho vinh quang Đức Chúa;

Chiếc Vòng trang sức thể hiện việc làm của ngài…

Ngài tiến đến như một quan viên từ trên vòm trời;

Như một vận động viên ngài quay lại đường chạy.

Ngài xuất phát từ cuối Thiên đường,

Và chạy theo vòng tròn đến đích.

Được coi là kẻ lữ hành vĩ đại trên Thiên đường, bay trên những tầng cao vời vợi tới nơi cực viễn và rồi “đáp xuống, vòng trở lại Thiên đường” tại điểm cực cận, hành tinh này được khắc họa là một Quả cầu Có cánh.

Với bất kỳ di tích nào của các dân tộc vùng Cận Đông được khai quật ở bất cứ đâu, các nhà khảo cổ cũng tìm thấy ở đó biểu tượng Quả cầu Có cánh, nhưng chủ yếu là ở các đền thờ và cung điện, được chạm trên các tảng đá, khắc trên các con dấu lăn, vẽ trên tường. Biểu tượng này gắn liền với các vị vua và giáo sỹ, nằm trên vương miện của họ, “bay lượn” trên đầu họ trong các trận chiến, được khắc vào các cỗ chiến mã xa của họ. Các đồ vật bằng đất sét, kim loại, đá và gỗ được trang trí bằng biểu tượng này. Các vị vua của Sumer và Akkad, Babylon và Assyria, Elam và Urartu, Mari và Nuzi, Mitanni và Canaan – tất cả đều mang biểu tượng này. Các vị vua Hittite, các pharaoh Ai Cập, các shar Ba Tư – tất cả đều tuyên bố vị thế tối cao của biểu tượng này (và ý nghĩa của nó). Biểu tượng này đã tồn tại trong nhiều thiên niên kỷ. (Hình 112)

Tâm điểm của các tín ngưỡng tôn giáo và nền thiên văn học của thế giới cổ đại là niềm tin rằng Hành tinh thứ Mười hai – “Hành tinh của các vị Thần” vẫn nằm trong Hệ Mặt trời và quỹ đạo cực lớn của hành tinh này sẽ đưa nó định kỳ quay trở lại khu vực gần Trái đất. Ký hiệu tượng hình của Hành tinh thứ Mười hai, “Hành tinh Băng qua” là một hình chữ thập. Ký tự hình nêm của nó, cũng có nghĩa là “Anu” và “thần linh”, được phát triển từ chữ cái tav, trong tiếng Semite có nghĩa là “dấu hiệu”.

Thực tế, tất cả các dân tộc ở thế giới cổ đại đều coi sự xuất hiện thường kỳ của Hành tinh thứ Mười hai là một dấu hiệu của những biến cố, những thay đổi lớn và những kỷ nguyên mới. Các ghi chép của người Mesopotamia nói về sự xuất hiện thường kỳ của hành tinh này như một sự kiện có thể biết trước và quan sát được:

Hành tinh vĩ đại:

Khi ngài xuất hiện với màu đỏ thẫm.

Ngài chia đôi bầu trời

và đứng đó như Nibiru.

Đa phần các ghi chép cho rằng sự trở lại của hành tinh này là lời sấm truyền dự đoán về tác động của hiện tượng này lên Trái đất và Con người. R. Campbell Thompson (Reports of the Magicians and Astronomers of Nineveh and Babylon – tạm dịch: Báo cáo của các Pháp sư và Nhà thiên văn Nineveh và Babylon) đã tái tạo lại một số ghi chép như thế, những ghi chép lần theo đường đi của hành tinh này khi nó “bao quanh vị trí sao Mộc” và tới điểm băng qua, Nibiru:

Từ vị trí của sao Mộc

Hành tinh này đi về phía tây,

Thời kỳ cuộc sống yên bình xuất hiện.

Không khí hòa bình chan hòa bao trùm xứ sở.

Từ vị trí của sao Mộc

Hành tinh này sáng dần lên

và trở thành Nibiru trong Cung Cự Giải,

Akkad sẽ ngập tràn trong sự sung túc,

vua Akkad sẽ trở nên hùng mạnh.

Nếu Nibiru đi đến cực điểm…

Cư dân các xứ sẽ sinh sống yên bình,

Các vị vua thù địch sẽ trở nên hòa hoãn,

Các vị thần sẽ nhận những lời cầu nguyện và nghe những lời

thỉnh cầu.

Tuy nhiên, sự xuất hiện của hành tinh này cũng được dự đoán là sẽ gây ra mưa và lụt lội do tác động lớn của lực hấp dẫn của nó:

Nếu Hành tinh Vương quyền trên Thiên đường

trở nên sáng hơn,

sẽ có lụt lội và mưa gió…

Nếu Nibiru đi đến điểm cực cận

các vị thần sẽ ban hòa bình

mọi rắc rối sẽ bị quét sạch,

những lời than phiền sẽ được giải quyết.

Mưa gió và lụt lội sẽ đến.

Giống như các nhà hiền triết Mesopotamia, các nhà tiên tri Hebrew cũng coi thời điểm hành tinh này tới gần Trái đất và Con người là lúc mở ra một thời đại mới. Những nét tương đồng giữa những lời sấm truyền của người Mesopotamia về hòa bình và thịnh vượng đến cùng với Hành tinh Vương quyền trên Thiên đường với những lời tiên tri trong Kinh thánh về hòa bình và công lý được thiết lập trên Trái đất sau Ngày của Đức Chúa được thể hiện rõ nhất trong những lời sau của Isaiah:

Và nó sẽ đến để vượt qua Ngày Tận thế:

… Người sẽ đứng làm trọng tài giữa các quốc gia

và phân xử cho muôn dân tộc.

Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày,

rèn giáo mác nên liềm nên hái.

Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau.

Đối lập với những phúc lành của thời đại mới sau Ngày của Đức Chúa, Kinh Cựu ước mô tả Ngày của Đức Chúa là ngày mưa gió, lụt lội và động đất. Nếu chúng ta coi những đoạn Kinh thánh này cũng như những lời sấm truyền của người Mesopotamia đang đề cập đến việc Trái đất đến gần một hành tinh lớn có lực hấp dẫn mạnh thì ta có thể hiểu rõ những lời của nhà tiên tri Isaiah:

Trên núi non có tiếng ồn ào nhộn nhịp,

như tiếng một đoàn người đông đảo.

như tiếng náo động xôn xao ở các vương quốc,

khi các dân tộc họp lại cùng nhau:

Ðức Chúa các Đạo binh tiến quân ra trận.

Từ miền đất xa xăm, từ chân trời,

Ðức Chúa và những Vũ khí lôi đình của Người,

đến phá tan toàn cõi đất…

Vì thế, Ta sẽ làm cho Trời chấn động,

Đất chuyển rung dời chỗ

Khi Ðức Chúa các Đạo binh băng qua,

vào ngày Người nổi cơn lôi đình.

Khi trên Trái đất “các ngọn núi sẽ tan chảy… các thung lũng sẽ nứt ra” thì trục quay của Trái đất cũng bị ảnh hưởng. Nhà tiên tri Amos đã dự đoán một cách rõ ràng:

Trong Ngày ấy,

sấm ngôn của Ðức Chúa rằng

Ta sẽ truyền cho mặt trời lặn giữa trưa

và khiến cho mặt đất tối sầm giữa lúc ngày đang sáng.

Sau thông báo “Hãy nhìn xem, Ngày của Đức Chúa đang đến!”, nhà tiên tri Zechariah nói với mọi người rằng hiện tượng vòng quay quanh trục của Trái đất bị dừng lại sẽ chỉ diễn ra trong một ngày:

Và vào Ngày đó,

sẽ không có ánh sáng mặt trời – mọi thứ sẽ đứng yên khác thường.

Và sẽ chỉ có một ngày, theo lời Đức Chúa,

không phải ban ngày, cũng không phải đêm tối,

Sang ngày mới ánh sáng sẽ trở lại.

Vào Ngày của Đức Chúa, nhà tiên tri Joel nói rằng “Mặt trời và Mặt trăng sẽ tối sầm, các ngôi sao sẽ không còn tỏa sáng”; “Mặt trời sẽ bị biến thành bóng tối và Mặt trăng sẽ có màu đỏ của máu”.

Các ghi chép của người Mesopotamia ca ngợi ánh sáng của hành tinh này và nói rằng họ có thể nhìn thấy nó vào ban ngày: “hiện lên khi mặt trời mọc, lặn đi khi mặt trời lặn”. Một con dấu lăn được tìm thấy ở Nippur khắc họa một nhóm nông dân cày ruộng đang sợ hãi ngước nhìn Hành tinh thứ Mười hai (được thể hiện bằng ký hiệu chữ thập) hiện lên trên bầu trời. (Hình 113)
images
Hình 113

Người cổ đại không chỉ đoán trước được sự trở lại thường kỳ của Hành tinh thứ Mười hai mà còn vẽ đồ thị về đường đi của nó.

Trong Kinh thánh có nhiều đoạn – đặc biệt là trong các cuốn Sách Tiên tri Isaiah, Amos và Job – liên hệ đường đi của Đức Chúa qua nhiều chòm sao khác nhau. “Ngài độc hành qua các thiên đường và bước lên vùng Thẳm sâu cao nhất; ngài đến chòm sao Đại Hùng, Lạp Hộ và Thiên Lang cùng các chòm sao ở phía nam.” Hoặc “Ngài mỉm cười hướng mặt về phía Kim Ngưu và Bạch Dương; từ vị trí của Kim Ngưu ngài đi tới Nhân Mã.” Những đoạn Kinh thánh này mô tả một hành tinh không chỉ băng qua những vùng trời cao nhất mà còn đến từ phương nam và di chuyển theo chiều kim đồng hồ – giống như những gì chúng ta rút ra được từ các dữ liệu của người Mesopotamia. Nhà tiên tri Habkkuk đã khẳng định khá rõ rằng: “Chúa tể sẽ đến từ phương nam… vinh quang của ngài sẽ bao trùm Mặt đất… và sao Kim sẽ rực sáng nhờ ánh hào quang của Chúa tể ban cho.”

Trong số các ghi chép của người Mesopotamia về chủ đề này có một bản ghi chép khá rõ ràng:

Hành tinh của thần Marduk:

Phía trên nó là Sao Thủy.

Ở góc 30° của cung bầu trời là sao Mộc.

Đứng giữa nơi diễn ra trận chiến trên Bầu trời là Nibiru.

Như phần minh họa trong lược đồ đi kèm, bản ghi chép trên không đơn giản gọi Hành tinh thứ Mười hai bằng những cái tên khác (như những gì các chuyên gia nghĩ). Thay vào đó họ đề cập đến những chuyển động của hành tinh này và 3 điểm quan trọng nơi hành tinh này xuất hiện mà từ Trái đất người Mesopotamia có thể nhìn thấy và vẽ ra sơ đồ. (Hình 114)

Như vậy cơ hội đầu tiên để quan sát được Hành tinh thứ Mười hai khi quỹ đạo của nó đưa nó quay trở lại gần Trái đất là khi hành tinh này thẳng hàng với sao Thủy (điểm A) – nằm ở góc 30° tính từ trục tưởng tượng Mặt trời - Trái đất - điểm cực cận theo tính toán của chúng tôi. Khi đến gần Trái đất hơn và sau đó “mọc” ở phía xa hơn trên bầu trời Trái đất (chính xác là thêm 30° nữa), hành tinh này băng qua quỹ đạo của sao Mộc ở điểm B. Cuối cùng, khi tới nơi đã diễn ra Trận chiến trên Bầu trời, điểm cực cận, hay Chốn Băng qua, hành tinh này trở thành Nibiru tại điểm C. Nếu vẽ ra một trục tưởng tượng giữa Mặt trời, Trái đất và điểm cực cận của quỹ đạo Marduk thì đầu tiên người quan sát đứng ở Trái đất nhìn thấy Marduk thẳng hàng với sao Thủy, ở một góc 300 (điểm A). Tiếp tục vạch thêm 300 nữa thì Marduk băng qua quỹ đạo của sao Mộc tại điểm B.
images
Hình 114

Sau đó, tại điểm cực cận (điểm C), Marduk tới được Chốn Băng qua: trở lại nơi từng diễn ra Trận chiến trên Bầu trời, hành tinh này giờ đây ở gần Trái đất nhất và bắt đầu theo quỹ đạo của nó trở lại vũ trụ xa xăm.

Những dự đoán về Ngày của Đức Chúa trong các ghi chép của người Mesopotamia và người Hebrew cổ đại (lặp lại trong những kỳ vọng về sự xuất hiện của Vương quyền Thiên đường trong Kinh Cựu ước) được dựa trên những kinh nghiệm thực tiễn của con người trên Trái đất: việc họ chứng kiến sự trở lại thường kỳ của Hành tinh Vương quyền tới khu vực gần với Trái đất.

Việc người Trái đất nhìn thấy hành tinh này xuất hiện và biến mất theo định kỳ đã xác nhận cho giả thuyết về quỹ đạo ổn định trong Hệ Mặt trời của nó. Một số sao chổi mà chúng ta biết tới – như sao chổi Halley đến gần Trái đất 75 năm một lần – lại biến mất khỏi tầm quan sát của chúng ta trong một thời gian dài đến nỗi các nhà thiên văn gặp khó khăn để nhận ra rằng họ đang quan sát cùng một sao chổi. Có những sao chổi chúng ta chỉ nhìn thấy một lần trong đời và người ta cho rằng chu kỳ quay của chúng lên tới hàng ngàn năm. Chẳng hạn như sao chổi Kohoutek được phát hiện lần đầu tiên vào tháng Ba năm 1973, đi được khoảng hơn 100 triệu km trên Trái đất vào tháng Một 1974 và sau đó biến mất sau Mặt trời. Các nhà thiên văn tính toán rằng nó sẽ xuất hiện lại bất kỳ lúc nào trong khoảng từ 7.500 đến 75.000 năm sau trong tương lai.

Việc con người nhìn thấy sự xuất hiện và biến mất thường kỳ của Hành tinh thứ Mười hai chứng tỏ rằng chu kỳ quay của nó ngắn hơn thời gian tính toán đối với sao chổi Kohoukek. Nếu vậy, tại sao các nhà thiên văn của chúng ta không biết về sự tồn tại của hành tinh này? Sự thật là ngay cả với một quỹ đạo bằng một nửa chiều dài ước tính ít nhất của quỹ đạo Kohoutek thì Hành tinh thứ Mười hai cũng có khoảng cách đến Trái đất dài gấp 6 lần khoảng cách đến sao Diêm Vương – một khoảng cách mà ta không thể quan sát được hành tinh này từ Trái đất, vì nó phản xạ rất ít (nếu có) ánh sáng Mặt trời đến Trái đất. Thực tế, các hành tinh bên ngoài sao Thổ mà chúng ta biết tới đều được phát hiện lần đầu tiên không phải qua quan sát mà bằng các tính toán toán học. Các nhà thiên văn nhận thấy rằng quỹ đạo của các hành tinh mà ta biết tới chịu ảnh hưởng rõ ràng của các thiên thể khác.

Đây cũng có thể là phương thức để các nhà thiên văn “khám phá” ra Hành tinh thứ Mười hai trong tương lai. Người ta đã dự đoán rằng có một “Hành tinh X” tồn tại, tuy không nhìn thấy được nhưng có thể “cảm nhận” được qua những tác động của nó lên quỹ đạo các sao chổi nhất định. Năm 1972, Joseph L. Brady thuộc Phòng thí nghiệm Livermore của Đại học California đã khám phá ra rằng những sai lệch trong quỹ đạo của sao chổi Halley có thể là do tác động của một hành tinh có kích thước bằng sao Mộc với chu kỳ quay quanh Mặt trời là 1.800 năm. Với khoảng cách ước tính 6 tỉ dặm thì ta chỉ có thể biết đến sự hiện diện của hành tinh này qua các phép tính toán học.

Trong khi chúng ta không thể xác định được chính xác chu kỳ quay của hành tinh đó thì các nguồn tư liệu của người Mesopotamia và Kinh thánh lại cung cấp những dẫn chứng vững chắc rằng chu kỳ quay của Hành tinh thứ Mười hai là 3.600 năm. Con số 3.600 trong ngôn ngữ viết của người Sumer là một vòng tròn lớn. Tên gọi của hành tinh này – shar (“Đấng Cai trị Tối cao”) cũng có nghĩa là “một vòng tròn hoàn hảo”, một “chu kỳ hoàn chỉnh”. Nó cũng có nghĩa là con số 3.600. Và sự đồng nhất của 3 thuật ngữ – hành tinh/quỹ đạo/3.600 – không thể nào chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên.

Berossus, nhà hiền triết, nhà thiên văn, giáo sỹ người Babylon đã kể về 10 vị vua trị vì trên Mặt đất trước khi xảy ra trận Đại Hồng thủy. Khi tổng kết các ghi chép của Berossus, Alexander Polyhistor đã viết: “Cuốn sách thứ hai mô tả lịch sử của 10 vị vua Chaldea và thời kỳ của các triều đại, gồm 120 shar, hay 432.000 năm thì đến thời kỳ xảy ra trận Đại Hồng thủy.”

Abydenus, một môn đồ của Aristotle cũng trích dẫn lời của Berossus về 10 vị vua trước thời kỳ Đại Hồng thủy với tổng thời gian trị vì là 120 shar. Ông nói rõ rằng những vị vua này và các thành phố của họ đều ở Mesopotamia cổ đại:

Chuyện kể rằng vị vua đầu tiên của xứ sở là Alorus.

… Ngài trị vì trong 10 shar.

Giờ đây, 1 shar được coi là 3.600 năm…

Sau ngài, Alaprus trị vì trong 3 shar; người kế vị là Amillarus từ thành Pantibiblon trị vì được 13 shar…

Sau đó Ammenon trị vì được 12 shar; ngài ở thành Pantibiblon. Sau đó, cùng ở nơi đây Megalurus trị vì được 18 shar.

Rồi đến Daos, Đấng Chăn chiên, trị vì trong 10 shar…

Sau này có thêm nhiều Vua khác và vị vua cuối cùng là Sisithrus; nên tổng số các vị vua là 10 và tổng số thời gian trị vì của họ là 120 shar.

Nhà sử học và ghi chép thần thoại, Apollodours ở Athen cũng trình bày về những tiết lộ thời tiền sử của Berossus bằng những thuật ngữ tương tự: 10 vị vua trị vị tổng cộng 120 shar (432.000 năm) và thời gian trị vì của mỗi vị vua cũng được tính bằng đơn vị shar tương đương 3.600 năm.

Với sự ra đời của ngành Sumer học, người ta đã tìm thấy và giải mã những “ghi chép cổ” mà Berosus nhắc đến; đó là danh sách những vị vua Sumer theo truyền thuyết về 10 vị vua trị vì trên Mặt đất trước trận Đại Hồng thủy từ thời kỳ “Vương quyền được trao xuống Trái đất từ Thiên đường” cho đến khi “trận Đại Hồng thủy quét sạch Mặt đất”.

Một danh sách vua Sumer có mã hiệu W-B/144 ghi lại quá trình trị vì của các vị thần ở 5 khu định cư hay còn gọi là “thành”. Thành đầu tiên, thành Eridu, có 2 vị vua. Trong ghi chép này trước tên của các vị vua được đặt ký hiệu định danh “A”, có nghĩa là “tổ tiên”.

Khi vương quyền được trao xuống từ Thiên đường,

ban đầu vương quyền nằm ở Eridu.

Ở Eridu,

A.LU.LIM trở thành vua, ngài trị vì 28.800 năm.

A.LAL.GAR trị vì 36.000 năm.

Hai vị vua trị vì tổng thời gian là 64.800 năm.

Sau đó vương quyền được chuyển sang những vị trí khác trong chính quyền, các vị vua ở đây được gọi là en, hay “chúa tể” (và có một trường hợp được gọi bằng danh hiệu dành cho thần linh là dingir).

Ta bỏ rơi Eridu;

và vương quyền của nó được mang tới Bad-Tibira.

Ở Bad-Tibira,

EN.MEN.LU.AN.NA trị vì 43.200 năm;

EN.MEN.GAL.AN.NA trị vì 28.800 năm.

DU.MU.ZI thần thánh, Đấng Chăn chiên, trị vì 36.000 năm.

Ba vua trị vì nơi này trong 108.000 năm.

Danh sách này tiếp tục liệt kê các thành trì tiếp theo, Larak và Sippar cùng các vị vua thần thánh trị vì nơi đây; cuối cùng là thành Shuruppak do một vị thần linh cai quản. Đặc biệt, thời gian trị vì của các vị vua này đều là bội số của 3.600 mà không hề có một ngoại lệ nào:

Alulim – 8 x 3.600 = 28.800

Alalgar –10 x 3.600 = 36.000

Enmenluanna –12 x 3.600 = 43.200

Enmengalanna – 8 x 3.600 = 28.800

Dumuzi –10 x 3.600 = 36.000

Ensipazianna – 8 x 3.600 = 28.800

Enmenduranna – 6 x 3.600 = 21.600

Ubartutu – 5 x 3.600 = 18.000

Một ghi chép khác của người Sumer (W-B/62) thêm Larsa và 2 vị vua thần thánh khác vào danh sách các vua và thời gian trị vì trong danh sách mới này cũng là bội số của đơn vị shar 3.600 năm. Kết hợp với nhiều ghi chép khác, chúng ta có thể kết luận rằng thực tế đã có 10 vị vua ở Sumer trước trận Đại Hồng thủy, mỗi vị vua trị vì trong khoảng thời gian được tính bằng nhiều shar; và tổng thời gian trị vì của họ là 120 shar theo như ghi chép của Berossus.

Chính kết luận này cũng cho thấy rằng các shar thời gian trị vì này có liên quan tới đơn vị shar (3.600 năm) trong chu kỳ quay của hành tinh “Shar”, “Hành tinh Vương quyền”; rằng Alulim trị vì trong khoảng thời gian tương ứng với 8 vòng quay của Hành tinh thứ Mười hai, Alalgar trị vì trong 10 vòng quay…

Nếu đúng như suy đoán của chúng ta rằng các vị vua trước thời kỳ diễn ra trận Đại Hồng thủy là những người Nefilim đến Trái đất từ Hành tinh thứ Mười hai thì chẳng có gì ngạc nhiên khi thời gian “trị vì” của họ trên Trái đất có liên quan đến chu kỳ quay của Hành tinh thứ Mười hai. Thời kỳ nắm giữ vương quyền này kéo dài từ thời gian hạ cánh đến thời gian cất cánh; khi một vị chỉ huy mới từ Hành tinh thứ Mười hai xuống Trái đất thì vị vua cũ hết thời gian tại nhiệm. Do việc hạ cánh và cất cánh liên quan tới chu kỳ đến gần Trái đất của Hành tinh thứ Mười hai cho nên thời gian nắm quyền chỉ có thể được tính bằng các chu kỳ quay này, hay còn gọi là shar.

Dĩ nhiên, mọi người có thể thắc mắc rằng liệu có người Nefilim nào từng hạ cánh xuống Trái đất có thể sống đủ lâu để trị vì trong suốt khoảng thời gian từ 28.800 đến 36.000 năm như đã định không? Đó là lý do tại sao các chuyên gia đã gọi chiều dài những khoảng thời gian trị vì này chỉ là “chuyện cổ tích”.

Nhưng một năm là gì? “Năm” của chúng ta đơn giản là thời gian Trái đất hoàn thành một vòng quay xung quanh Mặt trời. Vì Trái đất quay quanh Mặt trời trước khi xuất hiện sự sống trên nó rồi nên sự sống trên Trái đất chịu tác động của vòng quay quỹ đạo này. (Ngay cả chu trình quay nhỏ hơn giống Mặt trăng hay chu kỳ ngày – đêm cũng đủ mạnh để ảnh hưởng đến sự sống trên Trái đất). Vòng đời của con người kéo dài nhiều năm nhờ đồng hồ sinh học của chúng ta được cài đặt gắn liền với nhiều vòng quay của Trái đất xung quanh Mặt trời.

Ta có thể tin chắc rằng sự sống trên các hành tinh khác cũng được “hẹn giờ” theo chu trình của hành tinh đó. Nếu quỹ đạo của Hành tinh thứ Mười hai quay quanh Mặt trời lớn đến mức thời gian để nó hoàn thành một vòng quay đủ cho Trái đất hoàn thành 100 vòng quay thì một năm của người Nefilim sẽ bằng 100 năm của chúng ta. Nếu quỹ đạo của hành tinh đó lớn gấp 1.000 lần quỹ đạo hành tinh của chúng ta thì 1.000 năm trên Trái đất sẽ chỉ bằng 1 năm của người Nefilim.

Điều gì sẽ xảy ra nếu quỹ đạo xung quanh Mặt trời của họ bằng 3.600 năm trên Trái đất như chúng ta đã nghĩ? Như vậy thì 3.600 năm của chúng ta chỉ bằng 1 năm trong lịch của họ và tương ứng với 1 năm trong vòng đời của họ. Như vậy thì các thời gian nắm giữ Vương quyền được đề cập trong các ghi chép của người Sumer và của Berossus không phải là “chuyện cổ tích” cũng không phải là điều hoang đường: Chúng chỉ kéo dài khoảng 5 đến 8 năm tính theo lịch của người Nefilim.

Trong các chương trước của cuốn sách này, chúng tôi đã nhấn mạnh rằng quá trình phát triển của nền văn minh Con người – qua sự can thiệp của người Nefilim – trải qua 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn cách nhau một khoảng thời gian là 3.600 năm: thời kỳ Đồ đá giữa (khoảng năm 11.000 TCN), thời kỳ Đồ gốm (khoảng năm 7400 TCN) và nền văn minh đột ngột của người Sumer (khoảng năm 3800 TCN). Như vậy rất có khả năng người Nefilim vẫn định kỳ xem xét (và quyết định tiếp tục) quá trình phát triển của Con người, vì họ có thể gặp mặt mỗi lần Hành tinh thứ Mười hai tiến đến gần Trái đất.

Nhiều chuyên gia (chẳng hạn như Heinrich Zimmern trong cuốn The Babylonian and Hebrew Genesis – tạm dịch : Sáng Thế Ký của người Babylon và Hebrew) đã chỉ ra rằng Kinh Cựu ước cũng có những truyền thuyết về các thủ lĩnh, hay tổ phụ trước thời kỳ Đại Hồng thủy và tổng số những người đó từ Adam cho tới Noah (người anh hùng trong trận Đại Hồng thủy) là 10 vị. Khi nói về hoàn cảnh trước khi trận Đại Hồng thủy diễn ra, cuốn Sáng Thế Ký (Chương 6) mô tả sự thất vọng của Đức Chúa đối với Loài người. “Và Ðức Chúa hối hận vì đã làm ra Con người trên mặt đất… và Ngài phán: Ta sẽ loại bỏ khỏi Mặt đất Con người mà Ta đã sáng tạo.”

Và Ðức Chúa phán:

Thần khí của Ta sẽ không tồn tại mãi mãi trong Con người;

vì Con người chỉ là xác phàm.

Và tuổi đời của chúng là 120 năm.

Nhiều thế hệ các chuyên gia đã coi câu “Và tuổi đời của chúng là 120 năm” đồng nghĩa với việc Đức Chúa trao cho Con người 120 năm tuổi thọ. Nhưng điều này thật vô lý. Nếu đoạn Kinh thánh này nói về ý định tiêu diệt loài người của Đức Chúa thì tại sao trong cùng một câu nói ngài vừa muốn tước đi sự sống của Con người lại vừa muốn ban cho họ cuộc sống trường thọ? Và chúng tôi thấy rằng sau khi trận Đại Hồng thủy rút đi thì Noah sống lâu hơn nhiều so với mức tuổi thọ giới hạn, 120 năm và hậu duệ của ông, Shem (600), Arpakhshad (438), Shelah (433) cũng vậy.

Trong quá trình tìm cách giải thích về tuổi thọ 120 năm của Con người, các chuyên gia đã bỏ qua thực tế rằng động từ trong Kinh thánh không được chia ở thì tương lai “Tuổi đời của chúng sẽ là” mà là ở thì quá khứ “Và tuổi đời của chúng đã là 120 năm”. Vậy cuối cùng, tuổi thọ này là của ai?

Theo kết luận của chúng tôi thì con số 120 này được dành cho Đức Chúa.

Đặt một sự kiện đáng nhớ trong bối cảnh thời gian phù hợp là một đặc điểm thường thấy trong các sử thi của người Sumer và người Babylon. “Thiên sử thi Sáng tạo” mở đầu bằng những từ Enuma elish (“Thuở ở trên cao”). Câu chuyện về lần tao ngộ giữa thần Enlil và nữ thần Ninlil được đặt trong bối cảnh thời gian “khi loài người chưa được sinh ra”, v.v…

Ngôn ngữ và mục đích của Chương 6 trong cuốn Sáng Thế Ký cũng gắn liền với mục tiêu chung này – đó là nhằm đặt những sự kiện đáng nhớ của trận Đại Hồng thủy vào bối cảnh thời gian phù hợp. Từ đầu tiên của đoạn đầu tiên trong chương 6 là từ khi:

Khi loài người

đông dần lên

trên mặt đất,

và sinh ra những con gái

Câu chuyện tiếp tục kể rằng đây là thời gian khi:

Các con trai của Thiên Chúa

thấy con gái loài người

xinh đẹp;

họ ưng cô nào

thì chọn lấy làm vợ.

Đó là thời gian khi:

Người Nefilim ở trên mặt đất

vào thời bấy giờ và cả sau đó nữa,

khi các con trai Thiên Chúa

đi lại với con gái loài người,

và sinh cho họ những người con.

Ðó là những anh hùng thuở xưa,

Chủ nhân của chiếc Shem.

Đây chính là thời kỳ mà Con người sắp bị trận Đại Hồng thủy quét sạch khỏi bề mặt Trái đất.

Vậy chính xác thời kỳ đó là khi nào?

Đoạn 3 trong chương 6 nói rõ rằng thời kỳ đó là khi Đức Chúa 120 năm tuổi. 120 “năm”, không phải năm của Con người hay Trái đất, mà là năm của những anh hùng, của “Chủ nhân những Tên lửa”, của người Nefilim. Và 1 năm của họ là một shar - tương đương 3.600 năm trên Trái đất.

Cách diễn giải này không chỉ làm rõ những đoạn Kinh thánh đầy khó hiểu trong chương 6 cuốn Sáng Thế Ký mà nó còn khẳng định những đoạn Kinh thánh này khớp với thông tin của người Sumer như thế nào: 120 shar, 432.000 năm trên Trái đất là quãng thời gian tính từ lần đầu tiên người Nefilim hạ cánh xuống Trái đất cho đến khi trận Đại Hồng thủy xảy ra.

Dựa trên những tính toán về thời điểm diễn ra trận Đại Hồng thủy, chúng tôi cho rằng lần hạ cánh đầu tiên của người Nefilim xuống Trái đất diễn ra vào khoảng 450.000 năm trước.

***

Trước khi chuyển sang nghiên cứu những tư liệu về những cuộc hành trình của người Nefilim xuống Trái đất và quá trình định cư của họ ở đây thì chúng ta cần phải trả lời được 2 câu hỏi: Liệu những sinh vật không khác mấy so với chúng ta có thể tiến hóa được trên một hành tinh khác? Liệu nửa triệu năm về trước những sinh vật đó có khả năng thực hiện những chuyến đi liên hành tinh?

Câu hỏi đầu tiên lại động chạm đến một câu hỏi khác cơ bản hơn: Sự sống như chúng ta biết tới có tồn tại ở bất kỳ đâu ngoài Trái đất hay không? Hiện nay các nhà khoa học cho rằng có vô số thiên hà giống như dải thiên hà của chúng ta với vô số những ngôi sao giống như Mặt trời, với rất nhiều hành tinh có đủ mọi sự kết hợp giữa nhiệt độ và bầu khí quyển cùng các hóa chất để tạo ra hàng tỉ cơ hội cho Sự sống.

Các nhà khoa học cũng phát hiện ra rằng khoảng không giữa các hành tinh trong Hệ Mặt trời không hề trống rỗng. Ví dụ, có những phân tử nước tồn tại trong vũ trụ, hay dấu vết còn lại của những đám mây tinh thể băng bao quanh các ngôi sao trong giai đoạn phát triển đầu tiên của chúng. Những phát hiện này ủng hộ cho quan điểm kiên định của người Mesopotamia về những dòng nước của Mặt trời trộn lẫn với những dòng nước của Tiamat.

Người ta cũng phát hiện những phân tử cơ bản của sự sống “trôi nổi” trong không gian giữa các hành tinh và quan điểm cho rằng sự sống chỉ có thể tồn tại trong những điều kiện khí quyển và nhiệt độ nhất định cũng bị phá bỏ. Ngoài ra, ý kiến cho rằng nguồn năng lượng và nhiệt lượng duy nhất cho các sinh vật sống là bức xạ của mặt trời cũng đã bị bác bỏ. Tàu vũ trụ Pioneer 10 đã phát hiện ra rằng sao Mộc tuy cách xa Mặt trời hơn Trái đất nhiều lần nhưng lại nóng đến mức chắc hẳn nó phải có những nguồn năng lượng và nhiệt lượng của riêng mình.

Một hành tinh với những nguyên tố phóng xạ phong phú trong lòng đất sẽ không chỉ tự phát nhiệt, mà còn trải qua hoạt động núi lửa phun trào mạnh mẽ. Hoạt động phun trào này tạo ra bầu khí quyển. Nếu hành tinh đó đủ lớn để tạo ra trọng lực lớn thì nó sẽ giữ được bầu khí quyển trải ra hầu như vô hạn. Bầu khí quyển đó đến lượt mình sẽ tạo ra hiệu ứng nhà kính nhằm bảo vệ hành tinh đó khỏi giá lạnh của vũ trụ và giữ cho nhiệt lượng của hành tinh này không bị phân tán ra ngoài vũ trụ − giống như lớp quần áo giữ ấm cho cơ thể chúng ta bằng cách hạn chế sự phát tán của thân nhiệt. Ý thức được điều này, chúng ta thấy rằng các ghi chép cổ đại mô tả Hành tinh thứ Mười hai được “bao bọc bởi một vầng hào quang” không chỉ mang ý nghĩa lãng mạn thi ca. Nó luôn được mô tả là một hành tinh tỏa sáng − “sáng nhất trong số các vị thần” − và các bức họa về hành tinh này đều thể hiện nó như là một thiên thể tỏa ra các chùm tia sáng. Hành tinh thứ Mười hai có thể tự phát nhiệt và giữ nhiệt cho mình nhờ lớp áo khí quyển bên ngoài. (Hình 115)
images
Hình 115

Các nhà khoa học cũng đưa ra một kết luận bất ngờ rằng sự sống không chỉ có thể tiến hóa được trên các hành tinh bên ngoài (sao Mộc, sao Thổ, sao Thiên Vương, sao Hải Vương) mà có khả năng đã tiến hóa ở đó. Những hành tinh này được hình thành từ những nguyên tố nhẹ hơn của Hệ Mặt trời, với sự kết hợp nhìn chung giống như trong vũ trụ và tạo ra các loại khí hydro, heli, metan, amoniac và có cả neon lẫn hơi nước trong bầu khí quyển của chúng − tất cả những yếu tố cần thiết để tạo nên sinh vật sống.

Để sự sống như chúng ta biết có thể tồn tại và phát triển được thì nước là một yếu tố tối cần thiết. Các ghi chép của người Mesopotamia khẳng định rằng Hành tinh thứ Mười hai là một hành tinh đầy nước. Trong “Thiên sử thi Sáng tạo”, trong số 50 cái tên của hành tinh này có một nhóm tên thể hiện rằng hành tinh này có nhiều nước. Trên cơ sở tên gọi A.SAR (“Vua nước”), “Người Thiết lập Mức nước”, còn nhiều cái tên dành cho hành tinh này như A.SAR.U (“Đức Vua nước sáng ngời, cao quý”), A.SAR.U.LU.DU (“Đức Vua nước sáng ngời, cao quý với độ thẳm sâu”), v.v...

Người Sumer tin chắc rằng Hành tinh thứ Mười hai là một hành tinh xanh tươi, mơn mởn sự sống; quả thật, họ gọi hành tinh này là NAM.TIL.LA.KU, “Thần gìn giữ Sự sống”. Vị thần này cũng là “Đấng ban Mùa màng”, “Đấng tạo ra hạt giống và cây cỏ để rau quả nảy mầm… Đấng khơi các giếng nước, cho nước tưới tràn trề” - “Nhà Thủy lợi của Thiên đường và Mặt đất”.

Các nhà khoa học đã kết luận rằng sự sống tiến hóa không phải trên những hành tinh khô cạn với những hợp chất hóa học nặng mà ở các rìa ngoài của Hệ Mặt trời. Từ những rìa ngoài của Hệ Mặt trời này, Hành tinh thứ Mười hai “chen” vào giữa, một hành tinh màu đỏ tỏa sáng rực rỡ, tự phát và bức xạ nhiệt, bầu khí quyển của nó sản sinh ra những thành phần hóa học cần thiết cho sự sống.

Sự xuất hiện của sự sống trên Trái đất mới là điều đáng thắc mắc. Trái đất được hình thành vào khoảng 4,5 tỉ năm trước và các nhà khoa học tin rằng các dạng sống đơn giản nhất đã xuất hiện trên Trái đất chỉ vài trăm triệu năm sau đó. Quá trình này diễn ra quá nhanh, ngoài sức tưởng tượng. Có một số bằng chứng cho thấy rằng những dạng sống đơn giản và cổ xưa nhất có niên đại từ 3 tỉ năm trước có nguồn gốc phân tử sinh học chứ không phải phi sinh học. Việc sự sống xuất hiện rất sớm trên Trái đất ngay sau khi Trái đất hình thành càng khẳng định sự sống trên Trái đất được tiếp nối từ một dạng sống trước đó chứ không phải là sản phẩm của sự kết hợp giữa các hóa chất và các loại khí không có sự sống.

Tất cả những điều này khiến các nhà khoa học cho rằng sự sống vốn không dễ dàng tiến hóa trên Trái đất thực sự không hề tiến hóa trên Trái đất. Trong tạp chí khoa học Icarus (tháng Mười năm 1973), 2 tác giả đã đạt giải Nobel là Francis Crick và Tiến sĩ Leslie Orgel đã phát triển một giả thuyết rằng “sự sống trên Trái đất có thể đã bắt nguồn từ những sinh vật nhỏ bé đến từ một hành tinh xa xôi”.

Họ đã tiến hành các nghiên cứu xuất phát từ những băn khoăn của các nhà khoa học đối với những giả thuyết hiện có về nguồn gốc của sự sống trên Trái đất. Tại sao tất cả sự sống trên Trái đất đều chỉ có một mã gen duy nhất? Nếu sự sống khởi nguồn từ một loại “nước súp” nguyên thủy theo quan điểm của đa số các nhà sinh vật học thì các sinh vật phải phát triển với nhiều mã gen khác nhau. Tại sao nguyên tố molyden, thành phần chủ yếu trong các phản ứng enzim cần thiết cho sự sống lại là một nguyên tố rất hiếm? Tại sao những nguyên tố khác phong phú hơn trên Trái đất, chẳng hạn như crom hay niken, lại không có vai trò gì quan trọng trong các phản ứng hóa sinh?

Giả thuyết mới mẻ của Crick và Orgel không chỉ cho rằng sự sống trên Trái đất có thể bắt nguồn từ một loài sinh vật ở hành tinh khác mà còn cho rằng việc “gieo mầm” này là có chủ đích – rằng những sinh vật thông minh ở hành tinh khác đã đưa “mầm mống sự sống” này từ hành tinh của mình tới Trái đất bằng một con tàu vũ trụ, với mục đích rõ ràng là khởi đầu cho chuỗi sự sống trên Trái đất.

Với những cứ liệu chưa hoàn chỉnh nên 2 nhà khoa học nổi tiếng trên chỉ mới đến gần được sự thật. Thực tế, không có việc “gieo mầm” có chủ đích nào thay vào đó là một vụ va chạm giữa các thiên thể. Một hành tinh mang sự sống, Hành tinh thứ Mười hai cùng các vệ tinh của mình đã va chạm với Tiamat, xẻ hành tinh này làm đôi và một nửa của Tiamat đã “tạo ra” Trái đất.

Trong vụ va chạm này, đất và không khí mang mầm sống của Hành tinh thứ Mười hai đã được “gieo” xuống Trái đất, tạo thành những dạng sống sinh học sơ khai phức tạp mà sự xuất hiện sớm của chúng không thể có cách giải thích nào khả quan hơn nữa.

Nếu sự sống trên Hành tinh thứ Mười hai bắt đầu sớm hơn dù chỉ là 1% so với Trái đất thì thời gian sớm hơn này cũng tương ứng với khoảng 45.000.000 năm. Ngay cả với tỉ lệ chênh lệch nhỏ nhoi đó thì trong khi trên Hành tinh thứ Mười hai đã xuất hiện các sinh vật tiến hóa như Con người thì trên Trái đất mới chỉ xuất hiện những loài động vật có vú nhỏ bé đầu tiên.

Với giả thuyết sự sống hình thành sớm như vậy trên Hành tinh thứ Mười hai thì con người trên hành tinh này hoàn toàn có thể tiến hành những cuộc thám hiểm vũ trụ khoảng 500.000 năm trước đây.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Xin ủng hộ:  
      
     

Có bài mới 15.09.2017, 16:17
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 29 Nữ
Bài viết: 26518
Được thanks: 4603 lần
Điểm: 9.42
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Khoa học tự nhiên] Hành tinh thứ 12 - Zecharia Sitchin - Điểm: 10
CHƯƠNG 9

ĐỔ BỘ XUỐNG TRÁI ĐẤT

    

Con người mới chỉ đặt chân lên Mặt trăng và tiến hành thăm dò các hành tinh lân cận Trái đất bằng phi thuyền không người lái. Khoảng không bên ngoài những hành tinh lân cận này vẫn còn là một ẩn số với chúng ta bởi chúng nằm ngoài tầm kiểm soát của những vệ tinh thăm dò cỡ nhỏ. Nhưng chính hành tinh của người Nefilim với quỹ đạo khổng lồ như một đài thiên văn di động đã giúp họ bao quát quỹ đạo của tất cả các hành tinh phía bên ngoài và tạo điều kiện cho họ tiến hành những quan sát đầu tiên về hầu hết các hành tinh trong hệ mặt trờiHệ Mặt trời.

Con ngườiặ vàlân cận Trái đấtKbên ngoài những hành tinh lân cận này còn là một ẩn số với chúng ta bởi chúng nằm ngoài tầm kiểm soát củavệ tinhcỡ nhưđã giúp họ bao quát phíahệ mặt trờiThế nên việc họ đổ bộ xuống Trái đất và mang theo một lượng lớn tri thức về lĩnh vực thiên văn và toán học vũ trụ là điều không có gì đáng ngạc nhiên. Người Nefilim, “Các vị Thần của Thiên đường” trên Trái đất, đã dạy Con người cách quan sát bầu trời – giống như Đức Giê-hô-va đã thúc giục Abraham làm như vậy.

Cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi ngay cả các bức tượng và hình vẽ cổ xưa nhất, thô sơ nhất đều mang các ký hiệu thiên văn về các chòm sao hay các hành tinh; và rằng khi các vị thần được mô tả hay cầu khẩn, người ta dùng các biểu tượng thiên văn của họ như một ký hiệu tạo hình. Bằng cách cầu khẩn các biểu tượng thiên văn (“thần linh”), Con người không còn cảm thấy cô đơn; những biểu tượng này kết nối Nhân loại với người Nefilim, Trái đất với Thiên đường, Con người với vũ trụ.

Chúng tôi tin rằng một vài biểu tượng trong số đó cũng chứa đựng các thông tin mà chỉ có thể liên quan đến hành trình vũ trụ tới Trái đất.

Các nguồn tư liệu cổ cung cấp cho chúng ta rất nhiều những ghi chép và danh sách về các thiên thể và các vị thần khác nhau gắn liền với chúng. Thói quen gán nhiều tên gọi khác nhau cho cả các thiên thể lẫn các vị thần của người cổ đại khiến cho việc xác định của chúng ta ngày nay gặp nhiều khó khăn. Ngay cả trong những trường hợp đã được xác minh như sao Kim/Ishtar thì bức tranh nhận thức tổng thể cũng bị xáo trộn bởi những thay đổi giữa các vị thần. Đó là lý do tại sao trước đây người ta đã từng gán hình ảnh sao Kim với vị thần Ninhursag.

Các chuyên gia đã nghiên cứu và dần có thêm những thông tin phân loại thống nhất hơn về các nguồn tư liệu cổ này như E. D. Van Buren (Symbols of the Gods in Mesopotamian Art – Biểu tượng của các vị thần trong nghệ thuật của người Mesopotamia). Ông đã thu thập và sắp xếp hơn 80 biểu tượng của các vị thần và thiên thể được tìm thấy trên các con dấu lăn, tượng điêu khắc, bia đá, phù điêu, tranh tường và đặc biệt trên các cột đá (kudurru trong tiếng Akkad). Khi việc phân loại các biểu tượng cổ hoàn tất thì người ta thấy rõ rằng ngoài việc đại diện cho một số chòm sao nổi tiếng ở phía nam hay phía bắc (chẳng hạn như biểu tượng Rắn biển cho chòm sao Thủy Xà), những biểu tượng cổ này còn đại diện cho 12 chòm sao hoàng đạo (chẳng hạn như biểu tượng Con cua cho chòm sao Hổ Cáp), 12 vị Thần của Thiên đường và Mặt đất, hay 12 hành tinh của Hệ Mặt trời. Trên chiếc cột đá kudurru được Melishipak, vua xứ Susa, dựng lên có trình bày 12 biểu tượng cung hoàng đạo và biểu tượng của 12 vị thần gắn liền với 12 thiên thể.

Một tấm bia đá của vua Assyria, Esarhaddon mô tả vị vua này đang cầm chiếc Cốc Trường sinh đối diện với 12 vị Chủ thần của Thiên đường và Mặt đất. Chúng ta nhìn thấy 4 vị thần đứng trên các con thú, trong đó ta có thể xác định rõ ràng rằng Ishtar ở trên con sư tử và Adad giữ tia chớp trên tay. 4 vị thần khác được thể hiện bằng các dụng cụ đặc biệt gắn liền với họ, như Thần Chiến tranh Ninurta là chiếc quyền trượng đầu sư tử. 4 vị thần còn lại được thể hiện bằng hình ảnh các thiên thể - Mặt trời (Shamash), Quả cầu có Cánh (hành tinh thứ Mười hai, cung điện của Anu), hình lưỡi liềm của Mặt trăng và một biểu tượng nữa gồm 7 chấm tròn. (Hình 116)

images
Hình 116

Mặc dù sau này vị thần Sin thường được gán với hình ảnh Mặt trăng với hình ảnh lưỡi liềm tượng trưng nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy ở “thời xa xưa”, hình lưỡi liềm là biểu tượng của một vị lão thần râu dài và rậm, một trong những vị “lão thần” đích thực của người Sumer. Thường được mô tả với hình ảnh những dòng nước vây quanh, vị thần này chắc chắn là thần Ea. Hình lưỡi liềm cũng gắn liền với khoa học đo lường và tính toán, lĩnh vực mà Ea là vị thần bảo trợ. Vì vậy, việc Thần Biển cả và Đại dương Ea được gán với biểu tượng Mặt trăng, thiên thể tạo nên thủy triều của đại dương là điều dễ hiểu.

Vậy biểu tượng 7 chấm tròn có ý nghĩa gì?

Có nhiều bằng chứng khẳng định rằng đây là biểu tượng thiên thể của Enlil. Bức họa Cánh cổng của Anu (Quả cầu có Cánh) với Ea và Enlil tháp tùng 2 bên (xem Hình 87) thể hiện 2 vị thần này bằng biểu tượng hình lưỡi liềm và 7 chấm tròn. Trong số những bức họa biểu tượng thiên thể rõ ràng nhất được Ngài Henry Rawlinson (The Cuneiform Inscriptions of Western Asia – Các ghi chép chữ hình nêm của vùng Tây Á) tỉ mỉ sao chép lại thì vị trí trang trọng nhất được dành cho một nhóm 3 biểu tượng đại diện cho Anu cùng 2 người con trai tháp tùng; điều này cho thấy biểu tượng của Enlil có thể là 7 chấm tròn hoặc “ngôi sao” 7 cánh. Chi tiết đặc biệt và quan trọng trong biểu tượng thiên thể của Enlil chính là con số 7 này (Ninhursag, con gái của thần Enlil đôi khi cũng xuất hiện trong các bức họa này và được thể hiện bằng hình ảnh chiếc kéo cắt dây rốn). (Hình 117)

images

Hình 117

Các chuyên gia đã không thể lý giải được lời tuyên bố của Gudea, vua xứ Lagash, rằng “số 7 trên trời là 50”. Những nỗ lực về số học – sử dụng một số công thức để biểu diễn hoặc diễn giải mối liên hệ giữa số 7 và số 50 – đều thất bại. Tuy nhiên, ta có thể nhìn thấy một câu trả lời đơn giản: Gudea tuyên bố rằng thiên thể liên quan đến con số “7” là biểu tượng của vị thần “50”. Thần Enlil, vị thần có con số thứ bậc 50 có thiên thể đại diện là hành tinh thứ bảy.

Vậy hành tinh nào là hành tinh của Enlil? Chúng ta hãy nhớ lại những ghi chép nói về thời xa xưa trong phần trước của cuốn sách này, khi các vị thần đầu tiên xuống Mặt đất, khi Anu ngự trị trên Hành tinh thứ Mười hai và 2 người con trai của thần đã xuống Trái đất thông qua bắt thăm. Ea được giao “cai quản Vùng nước Sâu”, còn “Mặt đất chịu sự cai quản” của Enlil. Và câu trả lời cho câu hỏi trên dần được hé lộ từ ý nghĩa của những cứ liệu cổ này:

Hành tinh của Enlil chính là Trái đất. Đối với người Nefilim, Trái đất chính là hành tinh thứ bảy.

***

Vào tháng Hai năm 1971, Mỹ đã phóng một phi thuyền không người lái thực hiện nhiệm vụ dài hơi nhất cho đến nay. Phi thuyền này đã du hành suốt 21 tháng trong vũ trụ, đi qua sao Hỏa và vành đai thiên thể, tới địa điểm gặp gỡ đã được hoạch định chính xác với sao Mộc. Sau đó, đúng như dự đoán của các chuyên gia NASA, lực hấp dẫn cực lớn của sao Mộc đã “tóm lấy” phi thuyền này và phóng nó vào vũ trụ bên ngoài.

Với suy đoán rằng chiếc tàu Pioneer 10 này đến lúc nào đó sẽ bị lực hấp dẫn của một “Hệ Mặt trời” khác hút vào và rơi xuống một hành tinh nào đó trong vũ trụ, nên các nhà khoa họ của tàu Pioneer 10 đã gắn vào chiếc tàu này một tấm nhôm chứa đựng “thông điệp” đi kèm. (Hình 118)

images
Hình 118

Thông điệp này sử dụng ngôn ngữ tượng hình - với những ký tự và ký hiệu không khác nhiều so với những ký hiệu chữ viết tượng hình đầu tiên của người Sumer. Thông điệp này sẽ cho bất cứ ai tìm thấy tấm nhôm này biết rằng Con người gồm có đàn ông và đàn bà, có kích thước liên quan tới kích thước và hình dạng của chiếc phi thuyền. Nó tượng trưng cho 2 nguyên tố hóa học cơ bản của Trái đất ngày nay và vị trí của chúng ta trong mối tương quan với một nguồn phát xạ vô tuyến nhất định giữa các vì sao. Thông điệp cũng khắc họa Hệ Mặt trời của chúng ta với Mặt trời và 9 hành tinh nhằm giám tiếp nói với người tìm thấy tấm nhôm này rằng: “Chiếc phi thuyền mà bạn tìm thấy đến từ hành tinh thứ ba tính từ Mặt trời”.

Nền thiên văn học của chúng ta gắn liền với quan niệm cho rằng Trái đất là hành tinh thứ ba – đó là sự thực nếu ta bắt đầu tính từ Mặt trời, trung tâm hệ thiên văn của chúng ta.

Nhưng đối với những người ở gần Hệ Mặt trời của chúng ta tính từ bên ngoài vành đai thiên thể thì hành tinh đầu tiên mà họ gặp sẽ là sao Diêm Vương, hành tinh thứ hai là sao Hải Vương, hành tinh thứ ba là sao Thiên Vương chứ không phải Trái đất. Thứ tư là sao Thổ; thứ năm, sao Mộc; thứ sáu, sao Hỏa.

Và Trái đất sẽ là hành tinh thứ bảy.

***

Không ai ngoại trừ người Nefilim sau khi du hành tới Trái đất qua sao Diêm Vương, sao Hải Vương, sao Thiên Vương, sao Thổ, sao Mộc, sao Hỏa lại có thể coi Trái đất là “hành tinh thứ bảy” cả. Ngay cả khi có những ý kiến phản biện cho rằng chính cư dân Mesopotamia cổ đại chứ không phải những vị khách đến từ vũ trụ là người có kiến thức hay trí thông minh để tính toán vị trí của Trái đất không phải từ trung tâm Mặt trời mà từ ngoài rìa của Hệ Mặt trời thì vấn đề đặt ra là những cư dân cổ đại này phải biết về sự tồn tại của sao Diêm Vương, sao Hải Vương và sao Thiên Vương. Bởi vì họ không thể tự mình biết được những hành tinh ở phía ngoài Hệ Mặt trời này nên chúng tôi cho rằng chắc hẳn người Nefilim đã truyền lại những thông tin này cho họ.

Dù xuất phát từ bất cứ giả thuyết nào đi chăng nữa thì chúng ta đều đi đến kết luận: Chỉ có người Nefilim mới có thể biết đến sự tồn tại của các hành tinh bên ngoài sao Thổ và vì thế Trái đất khi được tính từ bên ngoài Hệ Mặt trời sẽ là hành tinh thứ bảy.

Trái đất không phải là hành tinh duy nhất có vị trí thứ tự trong Hệ Mặt trời được thể hiện bằng ký hiệu. Nhiều bằng chứng cho thấy rằng sao Kim được khắc họa thông qua hình ảnh một ngôi sao 8 cánh: sao Kim là hành tinh thứ tám, tiếp ngay sau Trái đất, khi được tính từ bên ngoài. Ngôi sao 8 cánh này cũng là biểu tượng của nữ thần Ishtar, vị nữ thần được gán với hình ảnh sao Kim. (Hình 119)

images
Hình 119

Nhiều con dấu lăn và các di vật hình ảnh khác khắc họa sao Hỏa là hành tinh thứ sáu. Một con dấu lăn thể hiện vị thần gắn liền với sao Hỏa (ban đầu là thần Nergal, sau đó là thần Nabu) ngự trên một ngai vàng bên dưới biểu tượng một “ngôi sao” 6 cánh. (Hình 120) Các biểu tượng khác trên con dấu này tượng trưng cho Mặt trời, giống như cách chúng ta khắc họa ngày nay; Mặt trăng; và hình chữ thập tượng trưng cho “Hành tinh Băng qua” − Hành tinh thứ Mười hai.

images
Hình 120

Thời Assyria, “thứ tự thiên văn” của hành tinh tương ứng với một vị thần thường được thể hiện bằng số lượng biểu tượng các ngôi sao tương ứng được đặt bên cạnh ngai vàng của vị thần đó. Vì vậy, trên một chiếc đĩa khắc họa thần Ninurta có 4 biểu tượng ngôi sao cạnh ngai vàng của vị thần này. Hành tinh sao Thổ của vị thần này trong thực tế là hành tinh thứ tư theo cách tính của người Nefilim. Người ta cũng tìm thấy những hình vẽ tương tự cho phần lớn các hành tinh khác.

***

Sự kiện tôn giáo chính của người Mesopotamia cổ đại, Lễ hội Năm Mới kéo dài 12 ngày, tràn ngập những hình ảnh tượng trưng liên quan đến quỹ đạo của Hành tinh thứ Mười hai, quá trình hình thành của Hệ Mặt trời và chuyến đi của người Nefilim tới Trái đất. Tài liệu chân thực nhất ghi lại những “lời xác nhận niềm tin” này là các nghi lễ mừng Năm Mới của người Babylon; nhưng có bằng chứng cho thấy rằng người Babylon chỉ sao chép những phong tục có nguồn gốc từ lúc khởi đầu nền văn minh Sumer.

Ở Babylon, lễ hội này được diễn ra với một nghi thức rất nghiêm ngặt, chi tiết và bài bản; mỗi phần, mỗi hành động, mỗi lời cầu nguyện đều có nguyên do phong tục và ý nghĩa nhất định của nó. Các nghi lễ bắt đầu vào ngày đầu tiên của Nisan – tháng đầu tiên của năm – trùng với thời điểm xuân phân. Trong 11 ngày đầu, các vị thần theo địa vị của mình đến gặp thần Marduk theo thứ tự định sẵn. Vào ngày thứ 12, từng vị thần lần lượt rời khỏi cung điện của Marduk và vị thần này còn lại một mình trong ánh hào quang chói lọi. Từ đây ta thấy rõ mối liên hệ về sự xuất hiện của Marduk trong Hệ Mặt trời, “chuyến thăm” của ngài đến “nhà” của 11 thành viên khác và chia tay vào ngày thứ 12 – để vị Thần thứ 12 này tiếp tục giữ vị trí Chủ thần tách biệt hẳn với những vị thần còn lại.

Các nghi thức của lễ hội mừng Năm Mới diễn ra theo hành trình của Hành tinh thứ Mười hai. 4 ngày đầu tiên là giai đoạn chuẩn bị, tương ứng với hành trình Marduk vượt qua 4 hành tinh đầu tiên (sao Diêm Vương, sao Hải Vương, sao Thiên Vương, sao Thổ). Kết thúc 4 ngày đầu tiên này, người Babylon tổ chức nghi lễ đánh dấu sự xuất hiện của hành tinh Iku (sao Mộc) trong tầm nhìn của Marduk. Lúc này Marduk đang di chuyển tới gần nơi diễn ra trận chiến; vị tư tế cấp cao của lễ hội bắt đầu ngâm “Thiên sử thi Sáng tạo” tượng trưng kể về trận chiến trên bầu trời đó.

Đêm thứ tư của lễ hội là một đêm không ngủ đối với người dân Babylon. Khi câu chuyện về trận chiến trên bầu trời được xướng lên và giây phút chuyển giao sang ngày thứ năm, theo nghi thức, mọi người tuyên bố Marduk là “Chúa tể” 12 lần, xác thực rằng sau trận chiến đó, Hệ Mặt trời có 12 thiên thể. Tiếp đến, họ xướng tên 12 thành viên của Hệ Mặt trời và 12 chòm sao hoàng đạo.

Nhiều khi, vào ngày thứ năm, thần Nabu – con trai và là người thừa kế của Marduk – đi thuyền từ nơi thờ cúng mình ở Borsippa đến đây. Nhưng vị thần này chỉ bước vào khu đền ở Babylon vào ngày thứ sáu, bởi vì vào thời kỳ này, Nabu là một thành viên trong nhóm 12 vị thần của người Babylon và hành tinh gắn liền với vị thần này là sao Hỏa – hành tinh thứ sáu.

Cuốn Sáng Thế Ký kể với chúng ta rằng vào ngày thứ sáu, “Trời đất cùng vạn vật” đã được sắp xếp đâu vào đó. Các nghi thức của người Babylon kỷ niệm những sự kiện dẫn đến sự hình thành của vành đai thiên thể và Trái đất cũng kết thúc trong 6 ngày đầu tiên của năm này.

Vào ngày thứ bảy, lễ hội này hướng trọng tâm vào Trái đất. Tuy các cứ liệu chi tiết về nghi thức của ngày thứ bảy rất hiếm nhưng H. Frankfort (Kingship and the Gods – tạm dịch: Vương quyền và các vị thần) tin rằng trong các nghi thức này có một sắc lệnh chung của các vị thần do Nabu đứng đầu tuyên bố giải phóng Marduk khỏi sự giam cầm trong “Dãy núi Đất thấp”. Sau khi tìm thấy những ghi chép mô tả chi tiết những cuộc đấu tranh giữa Marduk và và các vị thần khác đòi quyền cai trị Trái đất, chúng ta có thể nhận định rằng các sự kiện diễn ra trong ngày thứ bảy là những nghi thức tái hiện lại cuộc đấu tranh giành ngôi vị tối cao trên Trái đất (“hành tinh thứ Bảy”) của Marduk, những thất bại ban đầu, chiến thắng cuối cùng và việc soán đoạt được quyền lực của vị thần này.

Vào ngày thứ tám trong lễ hội mừng Năm Mới ở Babylon, theo bản sử thi Enuma Elish đã bị chỉnh sửa, Marduk sau khi giành chiến thắng trên Trái đất đã được trao các quyền năng tối cao. Sau đó, tất cả các vị thần với sự trợ giúp của nhà vua và dân chúng sẽ lên thuyền vào ngày thứ chín trong một lễ rước Marduk từ ngôi đền của mình trong khu cấm thành tới “Đền thờ Akita” nằm đâu đó bên ngoài thành. Marduk và 11 vị thần tới ở lại đó trong ngày thứ 11; vào ngày thứ 12, các thần chia tay và trở về cung điện của mình, lễ hội kết thúc.

Điểm nổi bật của lễ hội mừng Năm Mới ở Babylon có nguồn gốc xa xưa từ Sumer này chính là chi tiết về Đền thờ Akitu. Một số công trình nghiên cứu, như cuốn The Babylonian Akitu Festival – tạm dịch: Lễ hội Akitu của người Babylon của S. A. Pallis, cho rằng ngôi đền này là nét đặc trưng nổi bật trong các nghi lễ tôn giáo của người Sumer từ thiên niên kỷ 3 TCN. Bản chất của nghi lễ này là một đám rước đưa vị thần trị vì rời cung điện hay đền thờ của mình đi qua một số điểm dừng chân để tới một địa điểm bên ngoài thành. Người ta sử dụng một con thuyền đặc biệt được gọi là “Thuyền Thần linh” trong đám rước. Sau khi vị thần này hoàn thành bất kỳ nhiệm vụ nào ở Đền thờ A.KI.TI, ngài trở về ngôi đền cũ của mình bằng chính chiếc Thuyền Thần linh đó theo đúng tuyến đường cũ trong sự ăn mừng và hân hoan của nhà vua và dân chúng.

Thuật ngữ A.KI.TI trong tiếng Sumer (có nguồn gốc từ từ akitu trong tiếng Babylon) có nghĩa đen là “tạo nên sự sống trên Mặt đất”. Thuật ngữ trên cùng với nhiều phương diện khác nhau của cuộc hành trình bí ẩn đưa ta tới kết luận rằng đám rước này tượng trưng cho chuyến đi đầy hiểm nguy nhưng cuối cùng cũng thành công của người Nefilim từ cung điện của mình tới hành tinh thứ bảy, Trái đất.

Từ kết quả của những cuộc khai quật được tiến hành trong khoảng 20 năm trên vùng đất Babylon cổ đại kết hợp khéo léo với các ghi chép nghi thức của người Babylon, các nhóm chuyên gia do F. Wetzel và F. H. Weissback đứng đầu (Das Hauptheiligtum des Marduks in Babylon – tạm dịch: Đền thờ của Marduk ở Babylon) đã tiến hành tái tạo lại khu đền thiêng của Marduk, các đặc điểm kiến trúc của tòa kim tự tháp cổ ziggurat và Đường Rước mà phần lớn tổ hợp này được dựng lại trong Bảo tàng Cận Đông cổ đại ở Đông Berlin.

Những cái tên mang tính biểu tượng của 7 điểm dừng chân và tên gọi của Marduk tại mỗi điểm dừng chân đều được xướng lên theo cả tiếng Akkad và tiếng Sumer – chứng tỏ nguồn gốc lâu đời của đám rước này và hệ thống biểu tượng của nó từ Sumer cổ đại.

Điểm dừng chân đầu tiên của Marduk, nơi tên gọi của vị thần này là “Đấng Trị vì Thiên đường”, được gọi là “Đền Thiêng” trong tiếng Akkad và “Đền Nước Sáng” trong tiếng Sumer. Tên gọi của vị thần này ở điểm dừng chân thứ hai vẫn còn là một ẩn số, còn điểm dừng chân này được gọi là “Nơi Cánh đồng Phân chia”. Tên điểm dừng thứ ba đã bị mất một phần và chỉ còn những từ đầu tiên là “Nơi đối mặt với hành tinh…”; và tên gọi của vị thần này được đổi thành “Chúa tể Phun lửa”.

Điểm dừng chân thứ tư được gọi là “Thánh địa của Số mệnh” và Marduk được gọi là “Chúa tể Bão tố các dòng nước của An và Ki”. Tên của điểm dừng chân thứ năm ít gây tác động mạnh hơn. Nó được gọi là “Con đường” và tên gọi của Marduk là “Nơi Lời của Đấng Chăn chiên xuất hiện”. Hành trình thuận buồm xuôi gió cũng được thể hiện qua tên gọi của điểm dừng chân thứ sáu “Con tàu Lữ khách” và tên gọi của Marduk được đổi thành “Vị thần của Lối ra”.

Điểm dừng chân thứ bảy là Bit Akitu (“Đền thờ tạo nên Sự sống trên Mặt đất”). Ở đó Marduk được gọi là “Vị thần của Ngôi đền Nghỉ ngơi”.

Theo chúng tôi thì 7 điểm dừng chân này trên đường rước của Marduk tượng trưng cho chuyến hành trình vũ trụ của người Nefilim từ hành tinh của mình tới Trái đất; rằng “điểm dừng” đầu tiên, “Ngôi đền Nước sáng” tượng trưng cho sao Diêm Vương; điểm dừng thứ hai (“Nơi Cánh đồng Phân chia”) chính là sao Hải Vương; điểm thứ ba, sao Thiên Vương; điểm thứ tư – điểm dừng của của Số mệnh với những trận bão – chính là sao Thổ. Điểm thứ năm, nơi “Con đường” trở nên rõ ràng, “Nơi Lời của Đấng Chăn chiên xuất hiện” chính là sao Mộc. Điểm thứ sáu, nơi chuyến hành trình chuyển sang “Con tàu Lữ khách” chính là sao Hỏa.

Và điểm thứ bảy là Trái đất – đích đến của cuộc hành trình, nơi Marduk đến được “Ngôi đền Nghỉ ngơi” (“đền thờ tạo nên Sự sống trên Mặt đất” của vị thần này).

***

“Cơ quan Hàng không và Vũ trụ” của người Nefilim đã quan sát Hệ Mặt trời như thế nào trong chuyến hành trình tới Trái đất?

Về mặt logic – và trong thực tế – họ đã quan sát Hệ Mặt trời theo 2 phần. Phần thứ nhất là hành trình bao quanh khoảng không vũ trụ có 7 hành tinh từ sao Diêm Vương tới Trái đất. Phần thứ hai là khu vực, nằm ngoài cuộc hành trình du ngoạn bằng thuyền gồm 4 thiên thể – Mặt trăng, sao Kim, sao Thủy và Mặt trời. Trong thiên văn học và bảng phả hệ các vị thần thì 2 nhóm hành tinh này được coi là riêng biệt với nhau.

Về phương diện phả hệ, thần Sin (gắn liền với Mặt trăng) là vị thần đứng đầu nhóm “Bộ Tứ”. Shamash (Mặt trời) là con trai và Ishtar (sao Kim) là con gái của thần Sin. Người chú Adad (sao Thủy) là em trai của Sin, người luôn đồng hành với người cháu trai Shamash và (đặc biệt là) với người cháu gái Ishtar.

Trái lại, nhóm “Bộ Bảy” lại được nhóm lại với nhau trong các ghi chép về những biến cố của cả thần linh lẫn con người cùng với các sự kiện trên bầu trời. Họ là “7 vị quan tòa”, “7 sứ giả của vua Anu” và từ đó con số 7 trở thành con số thiêng. Chúng ta có “7 thành phố cổ”; các thành có 7 cửa; các cửa có 7 then cài; những lời ban phước cho 7 năm sung túc; những lời nguyền cho nạn đói và dịch bệnh kéo dài trong 7 năm; các đám cưới thần linh được tổ chức sau “7 ngày phối ngẫu”, v.v....

Trong suốt thời gian diễn ra các nghi lễ trọng thể như nghi thức kèm theo những chuyến viếng thăm hiếm hoi của thần Anu và phu nhân xuống Mặt đất, các vị thần đại diện cho Bộ Bảy Hành tinh được giao những vị trí và mặc những bộ lễ phục nhất định, trong khi nhóm Bộ Tứ được đối xử riêng biệt. Ví dụ, các quy định về nghi thức cổ cho rằng: “Các thần Adad, Sin, Shamash và Ishtar được ngồi lại trong sân điện đến tận bình minh.”

Ngưởi Sumer cho rằng mỗi nhóm trên nằm ở những khu vực riêng trên bầu trời và và tồn tại một “rào chắn vũ trụ” ngăn cách 2 nhóm này với nhau. Theo A. Jeremias (The Old Testament in the Light of the Ancient Near East – Kinh Cựu ước dưới quan điểm của vùng Cận Đông cổ đại), thì “có một ghi chép dạng thiên văn, thần thoại nổi bật” về một sự kiện vũ trụ khác thường nào đó, khi Bộ Bảy “tràn qua ‘Rào chắn’ Vũ trụ này”. Trong cuộc nổi dậy, hiện tượng 7 hành tinh sắp xếp thẳng hàng nhau một cách khác thường, “họ kết đồng minh với người anh hùng Shamash (Mặt trời) và Adad dũng cảm (sao Thủy)” – có lẽ hiện tượng này đồng nghĩa với việc tất cả các hành tinh này cùng tạo ra hấp lực tập trung vào một hướng duy nhất. “Trong khi đó, Ishtar (sao Kim) đang tìm kiếm một “nơi trú ngụ vinh quang” và phấn đấu trở thành Hoàng hậu của Thiên đường”. Người phải chịu ảnh hưởng lớn nhất chính là Sin (Mặt trăng). “Bộ Bảy không sợ các điều luật… Đấng ban Ánh sáng Sin bị vây hãm dữ dội”. Theo ghi chép này, sự xuất hiện của Hành tinh thứ Mười hai đã giải thoát Mặt trăng đang chìm trong bóng tối và giúp nó “tỏa sáng trên Thiên đường” trở lại.

Bộ Tứ các hành tinh này nằm trong vùng trời mà người Sumer gọi là GIR.HE.A (“những dòng nước vũ trụ nơi tên lửa nhiễu loạn”), MU.HE (“sự nhiễu loạn của tàu vũ trụ”), hay UL.HE (“khu nhiễu loạn”). Ý nghĩa của những thuật ngữ khó hiểu này đã được phơi bày khi ta biết rằng người Nefilim quan sát vùng không gian vũ trụ của Hệ Mặt trời dưới góc độ hành trình của họ. Mới gần đây, các kỹ sư của Comsat (Tập đoàn Vệ tinh Liên lạc) mới phát hiện ra rằng Mặt trời và Mặt trăng “đánh lừa” các vệ tinh và “khóa chúng lại”. Các vệ tinh của Trái đất có thể bị “nhiễu loạn” bởi cơn mưa các mảnh vụn bắn ra từ bão mặt trời hay bởi những thay đổi trong sự phản xạ các tia hồng ngoại của Mặt trăng. Người Nefilim cũng ý thức được rằng các tàu tên lửa hay tàu vũ trụ đi vào “vùng nhiễu loạn” khi vượt qua Trái đất và đến gần sao Kim, sao Thủy và Mặt trời.

Tách biệt với nhóm Bộ Tứ bởi một chiếc rào chắn vũ trụ tưởng tượng, nhóm Bộ Bảy nằm trong khu vực mà người Sumer gọi là UB. Vùng ub này gồm có 7 phần trong tiếng Akkad được gọi là giparu (“nơi cư trú ban đêm”). Người ta có chút hoài nghi rằng đây có thể là nguồn gốc của tín ngưỡng về “7 Thiên đường” ở vùng Cận Đông.

7 “thiên thể” hay “quả cầu” của vùng ub này tạo thành kishshatu (“sự trọn vẹn”) trong tiếng Akkad. Thuật ngữ này có nguồn gốc là từ SHU trong tiếng Sumer, ám chỉ rằng “đây là phần quan trọng nhất”, là Khu vực Tối cao. Bởi vậy đôi khi nhóm Bảy Hành tinh này được gọi là “7 vị Ngời sáng SHU.NU” – nhóm Bảy hành tinh này “nghỉ ngơi trong Khu vực Tối cao”.

Thực tế, nhóm Bộ 7 này được mô tả chi tiết hơn nhóm Bộ Tứ. Các danh sách thiên thể của người Sumer, Babylon và Assyria đều mô tả chúng với nhiều tên gọi khác nhau và liệt kê chúng theo thứ tự chính xác. Đa số các chuyên gia với quan niệm cho rằng các ghi chép thời cổ đại không thể nào đề cập tới các hành tinh bên ngoài sao Thổ nên họ gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định chính xác các hành tinh được mô tả trong các ghi chép đó. Nhưng những phát hiện của chúng tôi đã khiến cho việc xác định và hiểu được ý nghĩa những tên gọi đó trở nên khá dễ dàng.

Hành tinh đầu tiên mà người Nefilim gặp khi tiến vào Hệ Mặt trời là sao Diêm Vương. Tên gọi của hành tinh này trong các danh sách của người Mesopotamia là SHU.PA (“người giám sát SHU”), hành tinh canh gác lối vào Khu vực Tối cao của Hệ Mặt trời.

Như chúng ta sẽ thấy, người Nefilim chỉ có thể hạ cánh xuống Trái đất khi tàu vũ trụ của họ được phóng lên từ Hành tinh thứ Mười hai ngay trước khi hành tinh này đi vào vùng lân cận với Trái đất. Vì thế họ có thể băng qua quỹ đạo của sao Diêm Vương không chỉ với tư cách là những cư dân trên Hành tinh thứ Mười hai mà còn là những nhà du hành trên một chiếc tàu vũ trụ đang chuyển động. Một ghi chép thiên văn mô tả hành tinh Shupa là nơi “thần Enlil định ra số phận của Xứ sở” – nơi vị thần phụ trách chiếc tàu vũ trụ này thiết lập đường đi chính xác cho Trái đất và Xứ sở Sumer.

Tiếp sau Shupa là IRU (“vòng lượn”). Ở khu vực của sao Hải Vương, có lẽ chiếc tàu vũ trụ của người Nefilim bắt đầu hành trình theo một đường cong lớn hay “lượn vòng” về phía mục tiêu cuối cùng. Trong một bản danh sách khác, hành tinh này được gọi là HUM.BA, có nghĩa là “đầm lầy tươi tốt”. Liệu đến ngày nào đó khi chúng ta tiến hành khám phá sao Hải Vương, chúng ta có thể phát hiện ra rằng hành tinh này được gán với hình ảnh đại dương là do những đầm lầy ngập nước mà người Nefilim đã từng nhìn thấy?

Sao Thiên Vương được gọi là Kakkab Shanamma (“hành tinh kép”). Sao Thiên Vương quả thật là người anh em song sinh với sao Hải Vương về kích cỡ và diện mạo. Có một danh sách của người Sumer gọi hành tinh này là EN.TI.MASH.SIG (“hành tinh của sự sống xanh tươi sáng ngời”). Phải chăng sao Thiên Vương cũng là một hành tinh được bao phủ bởi những đầm lầy xanh tươi?

Qua sao Thiên Vương là sao Thổ, một hành tinh khổng lồ (có kích thước lớn gần gấp 10 lần Trái đất), nổi bật với vành đai có kích thước lớn gấp đôi đường kính của hành tinh thứ Mười hai này. Được trang bị lực hấp dẫn vô cùng mạnh mẽ và vành đai bí ẩn, sao Thổ là hành tinh tiềm ẩn nhiều hiểm nguy đối với người Nefilim và chiếc tàu vũ trụ của họ. Điều này lý giải tại sao họ gọi hành tinh thứ tư này là TAR.GALLU (“kẻ phá hoại khổng lồ”). Hành tinh này còn được gọi là KAK.SI.DI (“vũ khí chính nghĩa”) và SI.MUTU (“người ra tay vì công lý”). Khắp vùng Cận Đông cổ đại, hành tinh này là biểu tượng cho vị quan tòa công minh. Liệu những tên gọi này là biểu hiện nỗi sợ hãi hay là sự liên tưởng đến những tai nạn thực sự xảy ra trong vũ trụ?

Như chúng ta đã thấy, các nghi thức Akitu đề cập đến “bão tố của các dòng nước” giữa An và Ki trong ngày thứ tư khi chiếc tàu vũ trụ đi đến giữa Anshar (sao Thổ) và Kishar (sao Mộc).

Một ghi chép rất cổ xưa của người Sumer trong lần xuất bản đầu tiên của nó vào năm 1912 đã được cho là “một ghi chép cổ đại kỳ diệu” chắc hẳn đã ghi lại thiệt hại của một con tàu vũ trụ và 50 người trên đó. Ghi chép này kể lại việc Marduk khi tới Eridu đã hối hả đến thăm người cha Ea của mình và thông báo những tin tức khủng khiếp:

“Nó được tạo ra như một vũ khí;

Nó phóng về phía trước như tử thần…

Nó đã đánh trúng

50 Anunnaki

Chiếc SHU.SAR hình con chim

đã bị nó đánh trúng ngực.”

Ghi chép này không mô tả rõ “nó” ở đây là gì mà có khả năng phá hủy SHU.SAR (chiếc “tàu bay lớn nhất”) cùng với 50 phi hành gia. Nhưng nỗi sợ hãi về hiểm nguy trong vũ trụ rõ ràng chỉ có thể liên quan đến sao Thổ.

Có lẽ người Nefilim đã vượt qua được sao Thổ và thấy sao Mộc đang hiện ra trước mắt và thở phào nhẹ nhõm. Họ gọi hành tinh thứ năm này là Barbaru (“hành tinh sáng”) cũng như SAG.ME.GAR (“Đấng Vĩ đại, nơi ‘bộ quần áo vũ trụ’ bị thắt chặt). Một cái tên khác của sao Mộc là SIB.ZI.AN.NA (“người dẫn đường đích thực trong không gian”) cũng thể hiện vai trò của hành tinh này trong chuyến hành trình tới Trái đất của người Nefilim: Nó là “biển báo” giúp phi hành đoàn vượt qua khúc cua đầy khó khăn giữa sao Mộc và sao Hỏa và khu vực vành đai thiên thể đầy hiểm nguy. Từ những tên gọi này ta có thể thấy rằng dường như từ điểm mốc này người Nefilim mới khoác lên mình những bộ me, những bộ quần áo vũ trụ của họ.

Tên gọi thích hợp dành cho sao Hỏa là UTU.KA.GAB.A (“ánh sáng nơi cánh cổng của các dòng nước”), gợi cho ta nhớ về những mô tả của người Sumer và Kinh thánh về vành đai thiên thể, chiếc “vòng trang sức” vũ trụ chia tách “những dòng nước trên” với “những dòng nước dưới” của Hệ Mặt trời. Sao Hỏa còn được gọi chính xác hơn là Shelibbu (“kẻ ở gần trung tâm” Hệ Mặt trời).

Một bức vẽ lạ trên một con dấu lăn cho thấy khi vượt qua sao Hỏa, con tàu vũ trụ của người Nefilim lúc này liên tục kết nối đường truyền với “Trung tâm Điều khiển” trên Trái đất. (Hình 121)

Vật thể nằm ở trung tâm bức họa cổ đại này là Quả cầu có cánh − hình ảnh mô phỏng biểu tượng của Hành tinh thứ Mười hai. Tuy nhiên trông nó cứng cáp hơn. Những chiếc “cánh” của nó trông giống hệt như những tấm pin mặt trời trên các tàu vũ trụ Mỹ được trang bị để biến năng lượng mặt trời thành điện năng. Hai chiếc ăng-ten đặc trưng gắn liền với hình ảnh Quả cầu có cánh cũng được mô phỏng trong bức họa này.

images
Hình 121

Chiếc tàu vũ trụ thân tròn có cánh với phần đỉnh giống một chiếc vương miện và 2 chiếc “râu” này đang ở trên bầu trời, giữa sao Hỏa (ngôi sao 6 cánh), Trái đất và Mặt trăng. Trên Trái đất, một vị thần đang giơ tay chào đón nhà du hành vẫn còn đang ở trong vũ trụ gần với sao Hỏa. Nhà du hành này đội một chiếc mũ bảo hộ có tấm che mặt và che ngực. Phần dưới của bộ quần áo trông giống như “người cá” – có lẽ đây là thiết bị bảo hộ bắt buộc trong trường hợp phải hạ cánh khẩn cấp xuống đại dương. Nhà du hành này đang cầm một thiết bị trên một tay, tay còn lại đang đáp lại lời chào đón từ Trái đất.

Trái đất, hành tinh thứ bảy đang dần hiện ra. Trong danh sách “7 vị thần trên trời”, hành tinh này được gọi là SHU.GI (“chốn nghỉ ngơi của SHU”). Nó cũng có nghĩa là “nơi kết thúc của SHU”, của Khu vực Tối cao trong Hệ Mặt trời – đích đến của cuộc hành trình vũ trụ dài hơi.

Trong khi ở vùng Cận Đông cổ đại, âm gi đôi khi được biến thành âm ki (“Mặt đất”, “đất cạn”) quen thuộc hơn thì ở thời đại chúng ta cách phát âm và âm tiết gi vẫn giữ được nghĩa gốc của nó, giống như cách hiểu của người Nefilim: geo-graphy (địa lý), geo-metry (hình học), geo-logy (địa chất học).

Ở dạng chữ viết tượng hình cổ xưa nhất, ký hiệu SHU.GI cũng có nghĩa là shibu (“thứ bảy”). Và các ghi chép thiên văn giải thích như sau:

Shar shadi il Enlil ana kakkab SHU.GI ikabbi

“Chúa tể của những Dãy núi, thần Enlil, đồng nhất với h

ành tinh Shugi”

Tương ứng với 7 địa điểm dừng chân trong chuyến hành trình của Marduk, những cái tên của các hành tinh cũng cho ta biết về một chuyến bay trong vũ trụ. Điểm dừng chân cuối cùng của chuyến hành trình này chính là hành tinh thứ bảy, Trái đất.

***

Chúng ta có thể không bao giờ biết được bao nhiêu năm nữa thì có ai đó trên một hành tinh khác sẽ tìm thấy và hiểu được thông điệp khắc trên tấm bản nhôm gắn trong tàu Pioneer 10. Và chúng ta cũng cho rằng ước muốn tìm thấy trên Trái đất một tấm nhôm như vậy – một tấm biển gửi đến cho Con người những thông tin về vị trí và đường đi của Hành tinh thứ Mười hai sẽ mãi rơi vào vô vọng.

Vậy mà bằng chứng phi thường đó lại tồn tại.

Bằng chứng này là một tấm đất sét được tìm thấy tại phế tích Thư viện Hoàng gia ở Nineveh. Giống như nhiều tấm đất sét khác, đây là một bản sao mà người Assyria chép lại từ bản gốc của người Sumer. Tuy nhiên, không giống như những tấm đất sét khác, nó lại có dạng hình tròn; và mặc dù một số ký tự hình nêm trên chiếc đĩa này vẫn còn nguyên vẹn đến mức hoàn hảo nhưng các chuyên gia đảm nhiệm việc giải mã tấm đất sét này cuối cùng phải gọi nó là “tài liệu khó hiểu nhất của người Mesopotamia”.

Năm 1912, L. W. King, sau này trở thành người phụ trách các cổ vật Assyria và Babylon ở Bảo tàng Anh đã tạo ra một bản sao chính xác đến từng chi tiết của chiếc đĩa này, vốn được chia làm 8 phần. Những phần chưa bị hư hại thể hiện những khối hình học chưa từng thấy trên bất cứ đồ tạo tác cổ đại nào khác, được thiết kế và vẽ ra với sự chính xác đáng nể. Chúng gồm có những mũi tên, những hình tam giác, các đường thẳng giao nhau và thậm chí có cả một hình elip – một hình cong toán học mà trước đây được cho là chưa từng được biết đến trong thời cổ đại. (Hình 122)

images
Hình 122

Chiếc đĩa đất sét lạ thường và khó hiểu này lần đầu tiên thu hút sự chú ý của cộng đồng các nhà khoa học trong một báo cáo được đệ trình lên Hiệp hội Thiên văn Hoàng gia Anh vào ngày 9 tháng Một năm 1880. Trong một trong những bài thuyết trình đầu tiên về chủ đề “Nền thiên văn học Babylon”, R. H. M. Bosanquet và A. H. Sayce đã gọi chiếc đĩa này là một bình đồ địa cầu (mô phỏng tái hiện bề mặt của một quả cầu trên mặt bản đồ phẳng). Họ tuyên bố rằng một số ký tự hình nêm trên chiếc đĩa này “nói về các phép đo… và có vẻ như chúng chứa đựng ý nghĩa kỹ thuật nào đó”.

Nhiều tên gọi của các thiên thể xuất hiện trên 8 phần của chiếc đĩa này thể hiện tính chất thiên văn của nó khá rõ ràng. Bosanquet và Sayce đặc biệt tò mò với 7 “dấu chấm” trong một phần của chiếc đĩa. Họ nói rằng nếu không chạy dọc theo một đường thẳng gọi tên “ngôi sao của các ngôi sao” là DIL.GAN và một thiên thể có tên là APIN thì 7 dấu chấm này có thể tượng trưng cho các tuần trăng.

Các nhà khoa học này cũng cho rằng “không ai có thể nghi ngờ bức đồ hình khó hiểu này hợp với một lời giải thích đơn giản.” Tuy nhiên nỗ lực của họ trong việc đưa ra một lời giải thích đơn giản như vậy lại không có gì hơn ngoài việc đọc được chính xác các ý nghĩa ngữ âm của những ký tự hình nêm này và đi đến kết luận rằng chiếc đĩa là một bình đồ địa cầu.

Khi Hiệp hội Thiên văn Hoàng gia Anh xuất bản một bản phác thảo của bình đồ địa cầu này, J. Oppert và P. Jensen đã đạt thêm thành tựu trong việc đọc được tên của một số ngôi sao và hành tinh. Tiến sĩ Fritz Hommel trong bài báo “Die Astronomie der Alten Chaldaer – Thiên văn của người Chaldea cổ đại” đăng trên một tạp chí Đức năm 1891 đã hướng sự chú ý của mọi người tới thực tế rằng mỗi mỗi phần trong 8 phần của chiếc bình đồ địa cầu này đều tạo thành một góc 45 độ, từ đó ông kết luận rằng chiếc đĩa cổ này thể hiện bao quát toàn bộ 360° của bầu trời. Ông đưa ra ý kiến cho rằng tiêu điểm của chiếc đĩa đánh dấu một vị trí nào đó “trên bầu trời của người Babylon”.

Vấn đề không được đưa ra thảo luận cho đến khi Ernst F. Weidner trong bài báo xuất bản lần đầu vào năm 1912 (Babyloniaca: Zur Babylonischen Astronomie – tạm dịch: Babyloniaca: Thiên văn học của người Babylon) và sau đó trong cuốn giáo trình Handbuch der Babylonischen Astronomie – tạm dịch: Hướng dẫn về thiên văn học của người Babylon (năm 1915) đã tiến hành phân tích chiếc đĩa này một cách toàn diện chỉ để đi đến kết luận rằng nó chẳng có ý nghĩa gì cả.

Sự bối rối của Ernst F. Weidner là do đâu?

Chúng ta phát hiện ra rằng tuy các hình dạng hình học và tên các ngôi sao hay hành tinh được viết trong các phần của chiếc đĩa khá dễ đọc và dễ hiểu (ngay cả khi ý nghĩa hay mục đích của chúng không rõ ràng) thì những chữ khắc dọc theo các đường thẳng (tạo với nhau các góc 45 độ) lại không hề có nghĩa. Chúng luôn là một chuỗi những âm tiết lặp đi lặp lại theo ngôn ngữ Assyria. Chẳng hạn như chúng được viết như sau:

lu bur di lu bur di lu bur di

bat bat bat kash kash kash kash alu alu alu alu

Weidner kết luận rằng chiếc đĩa này được dùng cho cả mục đích về thiên văn lẫn chiêm tinh như một tấm bảng thần niệm chú, giống như những ghi chép chứa đựng các âm tiết lặp đi lặp lại khác. Với kết luận này, ông đã chôn vùi tất cả những ý định tìm hiểu thêm về chiếc đĩa độc đáo này.

Tuy nhiên, những dòng chữ được khắc trên chiếc đĩa này lại mang ý nghĩa hoàn toàn khác nếu chúng ta thử đọc chúng không phải theo dạng ký tự từ của người Assyria mà theo dạng âm tiết từ của người Sumer; vì chắc chắn chiếc đĩa này là một bản sao mà người Assyria chép lại từ bản gốc của người Sumer trước đó. Khi xem xét một trong số những miếng ghép của chiếc đĩa (mà chúng ta có thể đánh số là I), những âm tiết vô nghĩa

na na na na a na a na nu (dọc theo đường thẳng đi xuống)

sha sha sha sha sha sha (theo viền đường tròn)

sham sham bur bur Kur (dọc theo đường nằm ngang)

trở nên có nghĩa dưới góc nhìn của các âm tiết từ trong tiếng Sumer. (Hình 123)
images
Hình 123

Chúng ta sẽ nhìn thấy một bản đồ hành trình đánh dấu con đường mà thần Enlil “đã đi qua các hành tinh” kèm theo một số hướng dẫn vận hành. Đường thẳng nằm nghiêng 45° mô phỏng đường hạ xuống của con tàu vũ trụ từ một điểm “cao cao cao cao”, xuyên qua “các đám mây hơi nước” và vùng thấp hơn không có hơi nước, hướng thẳng về điểm nằm ngang, nơi gặp gỡ giữa bầu trời và mặt đất.

Trong phần bầu trời gần với đường chân trời, các hướng dẫn dành cho phi hành đoàn rất dễ hiểu: Họ được yêu cầu “cài đặt cài đặt cài đặt” các thiết bị cho lần tiếp cận cuối cùng; sau đó, khi họ đến gần mặt đất, các “tên lửa tên lửa” được kích hoạt để giảm tốc độ của phi thuyền vốn phải tăng độ cao (“bay lên”) trước khi đến điểm hạ cánh vì phải vượt qua địa hình cao hoặc gồ ghề (“núi núi”).

Các thông tin được đưa ra trong miếng ghép này rõ ràng liên quan đến về một chuyến hành trình vũ trụ của chính thần Enlil. Ở miếng ghép thứ nhất này chúng ta nhìn thấy một phác họa hình học chính xác của 2 tam giác nối với nhau bằng một đường thẳng đổi hướng tại một góc. Đường thẳng này tượng trưng cho tuyến đường đi nhờ dòng chữ rõ ràng trên phác họa: “thần Enlil đi qua các hành tinh”.

Điểm xuất phát của cuộc hành trình là hình tam giác ở bên trái, tượng trưng cho những nơi xa xôi bên ngoài Hệ Mặt trời; đích đến nằm ở bên phải, nơi tất cả các phần của chiếc đĩa đều hướng về điểm hạ cánh.

Hình tam giác ở phía bên trái với cạnh đáy mở ra giống như một ký tự trong chữ viết tượng hình ở vùng Cận Đông mà nghĩa của nó được dịch ra là “lãnh địa của Đấng Trị vì, Vùng Núi non”. Hình tam giác ở phía bên phải được xác định bằng dòng chữ shu-ut il Enlil (“Đạo Enlil”); thuật ngữ được dùng để chỉ thiên cầu phía bắc của Trái đất.

Còn đường thẳng nằm xiên nối nơi mà chúng tôi tin là Hành tinh thứ Mười hai – “lãnh địa của Đấng Trị vì, Vùng Núi non” – với bầu trời Trái đất. Tuyến đường này đi qua 2 thiên thể là Dilgan và Apin.

Một số chuyên gia vẫn giữ quan điểm rằng đây là tên của những vì sao hoặc vệ tinh của chòm sao xa xôi nào đó. Hiện nay các phi thuyền có người lái và không người lái hiện đại của chúng ta định hướng bằng cách lấy một “điểm cố định” trên những ngôi sao sáng định sẵn, nên không loại trừ khả năng người Nefilim cũng sử dụng phương pháp định hướng tương tự. Tuy nhiên ý kiến cho rằng 2 cái tên này là những vì sao xa xôi lại phần nào mâu thuẫn với nghĩa của chúng: DIL.GAN có nghĩa đen là “điểm dừng thứ nhất”; còn APIN có nghĩa là “nơi thiết lập đường đi đúng”.

Ý nghĩa của những danh từ này thể hiện các điểm dừng chân, các mốc đi qua. Chúng tôi có xu hướng nhất trí với các chuyên gia như Thompson, Epping và Strassmaier, những người xác định Apin chính là sao Hỏa. Nếu vậy thì ý nghĩa của bức hình phác họa này trở nên rõ ràng: Tuyến đường nối liền giữa Hành tinh của Vương quyền và bầu trời Trái đất đi qua sao Mộc (“điểm dừng đầu tiên”) và sao Hỏa (“nơi thiết lập đường đi đúng”).

Các thuật ngữ mà trong đó danh từ mô tả các hành tinh gắn liền với vai trò của chúng trong chuyến hành trình vũ trụ của người Nefilim này khớp với các danh từ và tên gọi trong danh sách 7 Hành tinh Shu. Dòng chữ trên chiếc đĩa nói rằng đây là tuyến đường của Enlil được viết dưới một hàng 7 dấu chấm – 7 Hành tinh trải dài từ sao Diêm Vương cho đến Trái đất càng khẳng định thêm về kết luận của chúng tôi.

Không ngạc nhiên khi 4 thiên thể còn lại, những thiên thể trong “vùng nhiễu loạn”, được trình bày riêng biệt, ở ngoài thiên cầu phía bắc của Trái đất.

Những dẫn chứng chứng tỏ rằng chiếc đĩa này là một bản đồ vũ trụ hướng dẫn bay cũng xuất hiện trên tất cả các phần chưa bị hư hại của nó. Đi tiếp theo hướng ngược chiều kim đồng hồ, những gì còn đọc được của miếng ghép tiếp theo có dòng chữ sau: “nắm nắm nắm thả thả thả hoàn tất hoàn tất”. Miếng ghép thứ ba với một phần hình elip khác thường có những dòng chữ sau: “kabkab SIB.ZI.AN.NA… phái viên của AN.NA… thần ISH.TAR” và một câu gợi trí tò mò: “Thần NI.NI giám sát việc hạ xuống”.

Miếng ghép thứ tư dường như cung cấp những hướng dẫn về cách xác định điểm đến theo một nhóm sao nhất định và đường đi xuống được xác định là đường chân trời: Từ trời được lặp lại 11 lần bên dưới đường thẳng này.

Có phải miếng ghép này mô tả giai đoạn bay đến gần Trái đất, gần điểm hạ cánh hơn của con tàu vũ trụ hay không? Đoạn chữ nằm phía trên đường chân trời: “đồi đồi đồi đồi đỉnh đỉnh đỉnh đỉnh thành phố thành phố thành phố thành phố” được cho là nhằm lý giải cho giai đoạn này. Dòng chữ ở chính giữa viết rằng: “kakkab MASH.TAB. BA [Song Tử] có điểm giao cắt cố định: kabkab SIB.ZI.AN.NA [sao Mộc] trao tri thức”.

Trong trường hợp này, nếu như các miếng ghép của chiếc đĩa được sắp xếp theo một quy trình tiếp cận thì ta có thể chia sẻ với người Nefilim cảm giác vui sướng khi đến gần “sân bay” Trái đất. Miếng ghép tiếp theo tiếp tục xác định đường xiên đi xuống là “trời trời trời” cũng có nội dung rằng:

đèn của chúng tôi đèn của chúng tôi đèn của chúng tôi

thay đổi thay đổi thay đổi thay đổi

quan sát đường và địa hình cao

… đất bằng…

Lần đầu tiên đường chân trời có các con số:

tên lửa tên lửa

tên lửa lên lượn

40 40 40

40 40 20 22 22

Đường phía trên của miếng ghép tiếp theo không còn ghi “trời trời” nữa, mà thay vào đó là các chữ “kênh kênh 100 100 100 100 100 100 100 100”. Chúng ta có thể nhận ra một hình vẽ trong phần bị hư hại nhiều này. Dọc theo một đường thẳng trên miếng ghép có chữ: “Ashur” (“Ngài là người quan sát” hay “đang quan sát”).

Miếng ghép thứ bảy bị hư hại nặng nên chúng tôi không thể nghiên cứu gì thêm; chỉ nhận ra một vài âm tiết có nghĩa là “xa xa… tầm nhìn tầm nhìn” kèm lời hướng dẫn là “nhấn xuống”. Miếng thứ 8 và thứ 9 gần như còn nguyên vẹn. Các đường chỉ hướng, các mũi tên và các dòng chữ đánh dấu một tuyến đường nằm giữa 2 hành tinh. Những hướng dẫn “vọt lên núi núi” thể hiện 4 bộ chữ thập lặp lại 2 lần cụm từ “nhiên liệu nước ngũ cốc” và 2 lần cụm từ “hơi nước nước ngũ cốc”.

Liệu miếng ghép này có phải mô tả công tác chuẩn bị cho chuyến bay tới Trái đất hay quá trình chuẩn bị nhu yếu phẩm trở về Hành tinh thứ Mười hai? Khả năng thứ hai có vẻ đúng với trường hợp này, vì đường thẳng có mũi tên nhọn chỉ về phía điểm hạ cánh trên Trái đất lại đi kèm với một “mũi tên” khác ở đầu kia chỉ theo hướng ngược lại và có dòng chữ “Trở về”. (Hình 124)

Khi Ea sắp xếp cho sứ giả của Anu “dọn đường cho Adapa lên Thiên đường” và Anu phát hiện ra mưu mẹo này, ngài đã ra lệnh được biết:

images
Hình 124

Tại sao Ea, lại tiết lộ kế hoạch Thiên đường - Mặt đất

với một con người vô giá trị

trao cho hắn quyền năng xuất chúng,

làm cho hắn một Shem?

Trong chiếc bình đồ địa cầu vừa mới được giải mã, chúng tôi thực sự đã nhìn ra một bản đồ tuyến đường, một “kế hoạch Thiên đường - Mặt đất”. Bằng ngôn ngữ ký hiệu và lời nói, người Nefilim đã vẽ ra tuyến đường nối liền hành tinh của họ tới hành tinh của chúng ta.

***

Những ghi chép bí ẩn khác về các khoảng cách vũ trụ cũng trở nên dễ hiểu khi được xem xét theo quan điểm bám sát vào cuộc hành trình vũ trụ từ Hành tinh thứ Mười hai. Một ghi chép như vậy được tìm thấy tại khu phế tích ở Nippur có niên đại được cho là khoảng 4.000 năm và hiện đang được bảo tồn tại Phòng sưu tầm Hilprecht thuộc Đại học Jena, Đức. O. Neugebauer (The Exact Sciences in Antiquity – Các khoa học chính xác thời cổ đại) cho rằng tấm bảng chi chép này chắc chắn là một bản sao “của một bản gốc có niên đại cổ hơn”; nó đưa ra các thông số về khoảng cách vũ trụ bắt đầu từ Mặt trăng tới Trái đất và sau đó tới sáu hành tinh khác trong vũ trụ.

Phần thứ hai của ghi chép này đưa ra các công thức toán học để giải quyết hầu hết các vấn đề liên hành tinh với nội dung như sau (theo một số cách hiểu):

40 4 20 6 40 x 9 là 6 40

13 kasbu 10 ush mul SHU.PA

eli mul GIR sud

40 4 20 6 40 x 7 là 5 11 6 40

10 kasbu 11 ush 6½ gar 2 u mul GIR tab

eli mul SHU.PA sud

Các chuyên gia chưa hoàn toàn thống nhất được cách hiểu chính xác đối với các đơn vị đo lường trong phần ghi chép này (có một cách hiểu khác được Tiến sỹ J. Oelsner, phụ trách Phòng Sưu tầm Hilprecht ở Jena đề xuất với chúng tôi trong một bức thư). Tuy nhiên, rõ ràng là phần thứ hai của ghi chép này tính toán các khoảng cách từ SHU.PA (sao Diêm Vương).

Chỉ có người Nefilim, những người đã đi qua nhiều quỹ đạo hành tinh khác nhau mới có thể đưa ra những công thức này và chỉ có họ mới cần đến những dữ liệu như vậy.

Xét thấy hành tinh của chính mình và mục tiêu Trái đất luôn không ngừng chuyển động, người Nefilim phải hướng phi thuyền của mình không phải tới vị trí của Trái đất tại thời điểm phóng mà là nơi nó đi qua tại thời điểm đến đích. Ta có thể lập luận chắc chắn rằng người Nefilim tính toán đường đi cho mình giống như các nhà khoa học ngày nay lên kế hoạch cho các nhiệm vụ tới Mặt trăng và các hành tinh khác.

Phi thuyền của người Nefilim ắt hẳn phải được phóng lên từ Hành tinh thứ Mười hai theo hướng quỹ đạo của hành tinh này, ngay phía trước điểm đến của nó ở khu vực gần Trái đất. Dựa trên luận điểm này và rất nhiều yếu tố khác, Amnon Sitchin, tiến sỹ về hàng không và cơ khí đã vạch ra cho chúng ta thấy 2 đường đi khác nhau của chiếc phi thuyền này. Theo đường đi thứ nhất thì người Nefilim bắt buộc phải phóng phi thuyền từ Hành tinh thứ Mười hai trước khi quỹ đạo của nó đến điểm cực viễn. Chỉ cần ít lực đẩy, chiếc phi thuyền sẽ không phải thay đổi hành trình nhiều khi giảm tốc. Trong khi Hành tinh thứ Mười hai (con tàu không gian khổng lồ) tiếp tục di chuyển theo quỹ đạo hình elip rộng lớn của nó, thì chiếc phi thuyền sẽ đi theo một đường đi hình elip ngắn hơn và đến Trái đất trước Hành tinh thứ Mười hai. Đường đi này có thể mang lại cả những thuận lợi và bất lợi cho người Nefilim.

Quãng thời gian 3.600 năm Trái đất vốn được áp dụng cho các nhiệm kỳ trị vì và nhiều hoạt động khác của người Nefilim trên Trái đất cho chúng ta thấy rằng hẳn là họ có xu hướng sử dụng đường đi thứ hai hơn, bởi vì đó là hành trình ngắn hơn và nằm ngay trên bầu trời Trái đất trùng với thời điểm Hành tinh thứ Mười hai đến gần Trái đất. Nếu vậy, người Nefilim phải phóng phi thuyền (C) khi Hành tinh thứ Mười hai đi được nửa đường từ điểm cực viễn trở về. Tốc độ của hành tinh này tăng lên nhanh chóng vì thế chiếc phi thuyền cần phải có động cực mạnh để vượt qua hành tinh mẹ và tới Trái đất (D) một vài năm Trái đất trước Hành tinh thứ Mười hai. (Hình 125)

images
Hình 125

Từ các dữ liệu kỹ thuật phức tạp, cũng như những gợi ý trong các ghi chép của người Mesopotamia, chúng ta thấy rằng dường như người Nefilim đã sử dụng cách tiếp cận Trái đất giống như cách NASA tiếp cận Mặt trăng: Khi tàu mẹ đến gần hành tinh mục tiêu (Trái đất), nó lượn vòng trong quỹ đạo quanh của hành tinh này và một phi thuyền nhỏ hơn tách khỏi tàu mẹ và thực hiện nhiệm vụ hạ cánh.

Việc hạ cánh chính xác xuống địa điểm xác định trên Trái đất đã khó, việc rời khỏi còn khó khăn hơn. Chiếc phi thuyền con phải quay trở lại tàu mẹ, sau đó con tàu này khởi động và tăng tốc độ tối đa để bắt kịp Hành tinh thứ Mười hai đang di chuyển theo quỹ đạo, vượt qua điểm cực cận của nó ở giữa sao Hỏa và sao Mộc với tốc độ di chuyển cao nhất. Tiến sĩ Sitchin đã tính toán được rằng có 3 điểm trên quỹ đạo Trái đất mà chiếc tàu mẹ của người Nefilim có thể lựa chọn làm bàn đạp bắt kịp Hành tinh thứ Mười hai từ 1,1 đến 1,6 năm Trái đất.

Lộ trình phù hợp, sự hướng dẫn từ Trái đất và sự phối hợp hoàn hảo với hành tinh mẹ là những yếu tố cần thiết giúp con tàu vũ trụ của người Nefilim đã hoàn thành cuộc hành trình của mình một cách hoàn hảo.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 15.09.2017, 16:25
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 29 Nữ
Bài viết: 26518
Được thanks: 4603 lần
Điểm: 9.42
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Khoa học tự nhiên] Hành tinh thứ 12 - Zecharia Sitchin - Điểm: 10
CHƯƠNG 10

THÀNH PHỐ CỦA CÁC VỊ THẦN

    
Câu chuyện về những sinh vật thông minh đầu tiên định cư trên Trái đất là một truyền thuyết hấp dẫn không kém việc khám phá ra châu Mỹ hay chuyến hải trình vòng quanh thế giới. Câu chuyện này còn có tầm quan trọng hơn nữa, bởi nhờ công cuộc định cư này, Con người và nền văn minh của nó tồn tại đến ngày nay.

“Thiên sử thi Sáng tạo” kể cho ta về hành trình của các “vị thần” đến Trái đất theo lệnh của vị Chủ thần. Dị bản của người Babylon cho rằng vị Chủ thần ra lệnh là Marduk và ngài đợi cho đến khi bề mặt Trái đất đủ khô và cứng lại để phi thuyền có thể hạ cánh và kiến thiết. Sau đó, thần Marduk thông báo quyết định của mình tới nhóm phi hành gia:

Trên Thiên đường sâu thẳm,

nơi các người đang cư ngụ,

Ta đã dựng lên “Cung điện Thiên đường”.

Giờ đây, ta sẽ cho xây lên ở Hạ giới

một bản sao của nó.

Sau đó Marduk lý giải mục đích của mình:

Khi từ Thiên đường

các ngươi xuống Trái đất để hội họp,

Sẽ có chỗ nghỉ ngơi qua đêm

đón tiếp tất cả các ngươi.

Ta sẽ đặt tên cho nó là “Babylon”

Cánh cổng của các vị Thần.

Trái đất không chỉ đơn thuần là đích đến của một chuyến viếng thăm hay một hành trình thám hiểm; mà là một “ngôi nhà thứ hai” vĩnh cửu.

Du hành vũ trụ trên một hành tinh – một con tàu vũ trụ khổng lồ, băng qua quỹ đạo của phần lớn các hành tinh khác, người Nefilim chắc hẳn là những người đầu tiên quan sát được các bầu trời từ chính hành tinh của mình. Tiếp theo đó là những cuộc thăm dò bằng phi thuyền không người lái. Vậy thì khả năng họ có thể đưa những phi thuyền có người lái đến các hành tinh khác chỉ là vấn đề thời gian.

Trong quá trình người Nefilim tìm kiếm nơi xây dựng một “ngôi nhà” thứ hai, Trái đất có lẽ là lựa chọn hàng đầu của họ. Màu xanh của hành tinh này chứng tỏ sự tồn tại của nước và không khí, 2 yếu tố hình thành nên sự sống; màu xám của nền đất cứng; các loại cây cối, thực vật và động vật. Tuy nhiên khi người Nefilim du hành đến Trái đất thì cảnh tượng lúc đó chắc hẳn khác nhiều so với hình ảnh Trái đất được chụp từ vệ tinh ngày nay. Bởi khi người Nefilim lần đầu tiên đặt chân đến Trái đất thì Trái đất của chúng ta đang ở Kỷ Băng hà – thời kỳ băng giá này là một trong những giai đoạn đóng băng và tan băng của Trái đất:

Thời kỳ đóng băng đầu tiên – bắt đầu khoảng 600.000 năm trước.

Lần khí hậu ấm lên thứ nhất (thời kỳ xen băng) – 550.000

năm trước.

Thời kỳ đóng băng thứ hai – 480.000 đến 430.000 năm trước.

Khi người Nefilim đầu tiên đặt chân xuống Trái đất vào khoảng 450.000 năm trước, khoảng 1/3 phần đất liền trên Trái đất đang bị bao phủ bởi những lớp băng đá. Do phần lớn lượng nước trên Trái đất bị đóng băng như vậy nên lượng mưa bị giảm theo, tuy nhiên, không phải khu vực nào trên Trái đất cũng vậy. Do những đặc điểm khác biệt của nhiều yếu tố, trong đó có các loại gió và địa hình, có những khu vực rất dồi dào nguồn nước lúc đó nhưng ngày nay lại rất khô hạn, trái lại, một số khu vực chỉ có mưa theo mùa thì giờ đây lại có mưa quanh năm.

Mực nước biển cũng thấp hơn bởi phần lớn lượng nước đã bị các khối băng trên đất liền giữ lại. Các bằng chứng cho thấy với độ dày của lớp băng trong 2 Kỷ Băng hà chính thì mực nước biển thấp hơn khoảng 185 đến 220m so với ngày nay. Bởi vậy có những khu vực thời kỳ đó là đất liền thì nay là biển hoặc bờ biển. Một số dòng sông vẫn chảy, chúng tạo thành vực và các hẻm núi sâu khi đi qua địa hình núi đá, hoặc đi qua những khu vực đất mềm và đất sét, đến các đầm lầy và chảy ra các vùng biển băng giá.

Đến với Trái đất trong điều kiện khí hậu và địa lý như vậy, người Nefilim dựng nên “bản sao của Thiên đường” đầu tiên của họ ở đâu?

Hiển nhiên là họ sẽ tìm kiếm một địa điểm có khí hậu tương đối ôn hòa, nơi có đủ chỗ trú ẩn và là nơi họ có thể khoác lên mình những bộ quần áo nhẹ nhàng thay vì những bộ đồ giữ ấm nặng nề. Họ cũng phải tìm kiếm nguồn nước phục vụ sinh hoạt và công nghiệp, cũng như duy trì nguồn lương thực, thực phẩm cần thiết. Các dòng sông vừa thuận lợi cho hệ thống tưới tiêu những khu đất rộng vừa thuận lợi cho giao thông vận tải bằng đường thủy.

Chỉ có một khu vực diện tích nhỏ có khí hậu ôn hòa trên Trái đất có thể đáp ứng tất cả các yêu cầu đó, cũng như yêu cầu về một khu đất dài bằng phẳng thích hợp cho việc hạ cánh. Như chúng ta đã biết, người Nefilim hướng sự chú ý của mình vào 3 hệ thống sông ngòi lớn và vùng đồng bằng của chúng: sông Nile, sông Indus và sông Tigris-Euphrates. Lưu vực của những con sông này đều thích hợp cho công cuộc khai hóa thuở đầu; và trong tương lai mỗi khu vực này đều trở thành trung tâm của một nền văn minh cổ đại.

Người Nefilim cũng không bỏ qua một nhu cầu thiết yếu khác đó là nguồn nhiên liệu và năng lượng. Trên Trái đất, dầu mỏ là nguồn tài nguyên đa dụng và nguồn năng lượng dồi dào để sưởi ấm và thắp sáng, cũng như là loại nguyên liệu thô quan trọng để làm ra vô số hàng hóa thiết yếu. Qua thực tế đời sống và các tư liệu của người Sumer, chúng ta có thể thấy rằng người Nefilim đã sử dụng rộng rãi dầu mỏ và các dẫn xuất của nó; đó là lý do tại sao trong quá trình tìm kiếm nơi định cư phù hợp nhất trên Trái đất, người Nefilim lại ưu tiên lựa chọn khu vực nhiều dầu mỏ.

Với quan điểm này, người Nefilim chắc hẳn đã xếp vùng Indus ở vị trí cuối cùng, bởi đây không phải là khu vực có thể tìm thấy dầu mỏ. Thung lũng sông Nile có lẽ được xếp ở vị trí thứ hai; về mặt địa lý khu vực này nằm trên một vùng đá trầm tích lớn, nhưng dầu ở vùng này chỉ có ở những nơi xa thung lũng và nằm sâu trong lòng đất khiến việc khai thác trở nên khó khăn. Vùng hạ lưu hai con sông của vùng Mesopotamia, hiển nhiên được xếp ở vị trí đầu tiên. Những mỏ dầu lớn nhất thế giới trải dài từ đầu vịnh Persia tới những dãy núi nơi khởi nguồn của dòng sông Tigris và Euphrates. Và trong khi ở các nơi khác người ta phải khoan sâu xuống lòng đất mới thu được dầu thô thì ở Sumer cổ đại (miền nam Iraq ngày nay), nhựa bitum, hắc ín và nhựa đường lộ thiên trên mặt đất.

(Thật thú vị khi người Sumer có thể gọi tên tất cả các loại chất bitum từ dầu mỏ, dầu thô, atfan tự nhiên, atfan đá, hắc ín, atfan hỏa thành, mát-tit, sáp cho đến nhựa đường. Họ có 9 tên gọi khác nhau cho các chất bitum khác nhau, trong khi ngôn ngữ Ai Cập cổ đại chỉ có hai và người Sanskrit chỉ có ba.)

Cuốn Sáng Thế Ký có miêu tả cung điện của Đức Chúa trên Mặt đất – Vườn Eden – là nơi có khí hậu ôn hòa, ấm áp và những làn gió nhẹ, vì thế Đức Chúa thường ngoạn cảnh và hóng gió ở khu vườn này. Đó là nơi đất đai màu mỡ, thuận lợi cho canh tác nông nghiệp và nghề làm vườn, đặc biệt là trồng cây ăn quả. Khu vực này được bồi đắp và tưới tiêu bởi 4 con sông. “Và con sông thứ ba tên là Hidekel [Tigris]; nó là dòng sông chảy về phía đông Assyria; và con sông thứ tư là dòng Euphrates.”

Trong khi các ý kiến tranh luận để xác định 2 con sông đầu tiên là Pishon (“phong phú”) và Gihon (“chảy xuôi”) vẫn chưa ngã ngũ thì không ai thắc mắc hay nghi ngờ gì về danh tính 2 con sông còn lại là Tigris và Euphrates. Một số chuyên gia cho rằng Vườn Eden nằm ở phía bắc Mesopotamia, nơi bắt nguồn của 2 con sông này và 2 nhánh sông nhỏ hơn; một số chuyên gia khác (như E. A. Speiser trong tác phẩm The Rivers of Paradise – Những dòng sông trên Thiên đường) lại cho rằng vì 4 dòng sông này cùng đổ về đầu vịnh Persia nên Vườn Eden không phải nằm ở phía bắc mà phải là ở phía nam Mesopotamia.

Cái tên Eden trong Kinh thánh có nguồn gốc từ tiếng Mesopotamia, có gốc từ từ edinu trong tiếng Akkad, có nghĩa là “đồng bằng”. Chúng ta hãy nhớ rằng danh hiệu “thần thánh” của các vị thần cổ đại là DIN.GIR (“các Đấng Chính nghĩa của những quả tên lửa”). Người Sumer gọi cung điện của các vị thần là E.DIN, có nghĩa là “ngôi nhà của những Đấng Chính nghĩa” – một sự mô tả thật trùng khớp.

Việc lựa chọn Mesopotamia làm nơi đặt “bản sao của Thiên đường” trên Trái đất chắc hẳn còn có một lý do quan trọng khác. Mặc dù người Nefilim vào thời kỳ đó đã xây dựng một sân bay vũ trụ trên đất liền nhưng có một số bằng chứng cho thấy ít nhất vào thời kỳ đầu, họ hạ cánh bằng cách lao thẳng xuống biển trong một khoang kín. Nếu đây là phương pháp hạ cánh của họ thì Mesopotamia là nơi gần với không phải một mà là 2 vùng biển – Nam Ấn Độ Dương và Tây Địa Trung Hải – vì vậy, trong trường hợp khẩn cấp, việc hạ cánh không chỉ phụ thuộc vào một vùng biển duy nhất. Như chúng ta sẽ thấy, một khu vực vịnh thuận lợi để là điểm khởi hành những chuyến hải trình dài ngày trên biển cũng là một yếu tố thiết yếu.

Trong các ghi chép và tranh vẽ cổ đại, ban đầu chiếc phi thuyền của người Nefilim được gọi là những “Con tàu Thần thánh”. Ta có thể hình dung ra cảnh hạ cánh của các phi hành gia này được miêu tả trong các câu chuyện sử thi cổ đại: Một chiếc tàu ngầm đột ngột xuất hiện trên trời rồi lao xuống biển, từ con tàu đó những “người cá” nổi lên mặt nước và tiến vào bờ.

Thực tế, các ghi chép này cũng kể rằng có những AB.GAL điều khiển các con tàu vũ trụ mặc trang phục giống như cá. Một ghi chép về những chuyến hành trình của Ishtar kể rằng vị nữ thần này tìm cách gặp được “gallu lớn” (hoa tiêu trưởng), người đã bỏ đi “trong một chiếc tàu bị chìm”. Berossus truyền lại cho chúng ta những truyền thuyết về Oannes, “Người được trao trí khôn”, một vị thần xuất hiện từ “vùng biển Erythrea giáp với Babylon” trong năm đầu tiên khi Vương quyền được truyền từ Thiên đường xuống Mặt đất. Berossus kể rằng tuy Oannes có hình dạng giống cá nhưng lại có đầu người bên dưới đầu cá và có đôi chân người dưới chiếc đuôi cá. “Giọng nói và ngôn ngữ của ông cũng rõ ràng như con người.” (Hình 126)

images
Hình 126

Ba sử gia Hy Lạp, những người lý giải về những gì Berossus viết ra, cho rằng người cá xuất hiện theo một chu kỳ nhất định, tiến vào bờ từ “vùng biển Erythrea” – vùng biển mà hiện nay chúng ta gọi là Biển Arab (Tây Ấn Độ Dương).

Tại sao người Nefilim lại hạ cánh xuống Ấn Độ Dương, cách xa địa điểm họ chọn ở Mesopotamia hàng trăm dặm thay vì vịnh Persia, địa điểm gần hơn rất nhiều? Các ghi chép cổ xưa đã gián tiếp xác nhận kết luận của chúng tôi rằng những lần hạ cánh đầu tiên diễn ra vào thời kỳ băng hà thứ hai khi vùng vịnh Persia ngày nay không phải là biển mà là một vùng đầm lầy và các hồ nông, nơi không thuận lợi cho việc hạ cánh theo kiểu rơi xuống nước.

Hạ cánh xuống vùng biển Arab, những sinh vật thông minh đầu tiên trên Trái đất đã tìm đường hướng về Mesopotamia. Thời kỳ đó, các đầm lầy ăn sâu vào đất liền hơn bờ biển ngày nay và họ đã dựng nên khu định cư đầu tiên của mình trên hành tinh của chúng ta ở ven những đầm lầy này.

Họ đặt tên cho khu định cư này là E.RI.DU (“ngôi nhà được xây ở nơi xa”). Đây quả là một cái tên thật phù hợp!

Cho tới ngày nay, thuật ngữ ordu trong tiếng Ba Tư vẫn có nghĩa là “khu trại”. Đây là từ mà nghĩa của nó ăn sâu bám rễ vào tất cả các loại ngôn ngữ: Vùng đất định cư được gọi là Erde trong tiếng Đức, Erda trong tiếng Đức cổ (Old High German), Jördh trong tiếng Iceland, Jord trong tiếng Đan Mạch, Airtha trong tiếng Gothic, Erthe trong tiếng Anh trung cổ (Middle English); và quay trở lại về mặt địa lý và thời gian, từ “Trái đất” (Earth) chính là Aratha hay Ereds trong tiếng Xy-ri, Erd hay Ertz trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ và Eretz trong tiếng Hebrew.

Tại Eridu ở phía nam Mesopotamia, người Nefilim đã lập nên Trạm Trái đất I, một tiền đồn đơn độc trên một hành tinh phân nửa là băng giá. (Hình 127)

images
Hình 127

Những ghi chép của người Sumer được xác nhận bởi các bản dịch bằng tiếng Akkad sau này đã liệt kê những khu định cư hay “thành phố” đầu tiên của người Nefilim theo thứ tự mà họ đã xây dựng lên. Những ghi chép này còn cho chúng ta biết tên vị thần phụ trách từng khu định cư này. Một ghi chép bằng tiếng Sumer được cho là bản gốc của tác phẩm “Deluge Tablet” (tạm dịch: Hồng thủy ký) của người Akkad kể về 5 trong số 7 thành phố đầu tiên như sau:

Sau khi vương quyền được trao xuống từ Thiên đường,

sau khi vương miện cao quý, ngai vàng vương quyền

được trao xuống từ Thiên đường,

ngài… hoàn chỉnh các quy trình

lễ nghi thần thánh…

Lập nên 5 thành phố ở những chốn thuần khiết

đặt tên cho chúng,

đặt chúng làm trung tâm.

Thành đầu tiên là ERIDU,

được trao cho Nudimmud lãnh đạo,

Thành thứ hai, BAD-TIBIRA,

ngài trao cho Nugig.

Thành thứ ba, LARAK,

ngài trao cho Pabilsag.

Thành thứ tư, SIPPAR,

ngài trao cho anh hùng Utu.

Thành thứ năm, SHURUPPAK,

ngài trao cho Sud.

Thật không may là tên của vị thần đã trao Vương quyền từ Thiên đường xuống Mặt đất, người lên kế hoạch thành lập Eridu và 4 thành phố khác và bổ nhiệm các thủ lĩnh hay chỉ huy cho các thành phố này lại bị mờ không đọc được. Tuy nhiên, tất cả các ghi chép đều thống nhất rằng vị thần tiến từ bờ biển vào khu vực xung quanh vùng đầm lầy và ra lệnh rằng: “Chúng ta định cư ở đây” chính là Enki, vị thần trong ghi chép này được gọi là “Nudimmud” (“Đấng Sáng tạo ra mọi thứ”).

Hai cái tên của vị thần này – EN.KI (“Chúa tể Đất liền”) và E.A (“Thần Nước”) – là những cái tên phù hợp nhất. Eridu, thành phố luôn là nơi ngự trị và là trung tâm thờ cúng Enki xuyên suốt lịch sử Mesopotamia, được xây dựng trên nền đất san lấp từ các hồ nước nông và đầm lầy. Những thông tin này được thể hiện trong một ghi chép mà nhà khảo cổ S. N. Kramer đặt tên là “Huyền thoại Enki và Eridu”:

Chúa tể của vùng nước sâu, thần Enki…

xây lên ngôi nhà của mình…

Ở Eridu ngài dựng lên Ngôi nhà bên hồ…

Thần Enki… đã dựng lên ngôi nhà:

Eridu, vững chãi như núi,

được ngài cất lên từ mặt đất;

ngài xây dựng nó tại nơi có địa thế đẹp.

Ghi chép này và nhiều ghi chép không còn nguyên vẹn khác đều cho thấy rằng một trong những mối bận tâm hàng đầu của những “người khai hóa” này trên Trái đất là giải quyết các vấn đề liên quan đến hồ cạn và đầm lầy ngập nước. “Ngài khơi dòng…; tiến hành làm sạch những dòng sông nhỏ”. Nỗ lực nạo vét các lòng suối và nhánh sông nhằm tháo nước khỏi các đầm lầy và có được nguồn nước sạch hơn phục vụ sinh hoạt và tiến hành công tác thủy lợi có kiểm soát. Chuyện kể của người Sumer còn đề cập đến việc san lấp hoặc đắp đê để bảo vệ những ngôi nhà đầu tiên khỏi những dòng nước tràn lan khắp nơi.

Một ghi chép được các chuyên gia đặt tên là “Huyền thoại” của “Enki và Trật tự của Xứ sở” là một trong những chuyện kể bằng thơ của người Sumer dài nhất được chúng ta tìm thấy và được bảo tồn tốt nhất đến nay. Câu chuyện bằng thơ này dài khoảng 470 dòng, trong đó 375 dòng còn nguyên vẹn. Tuy nhiên, thật không may, phần mở đầu (khoảng 50 dòng) đã bị hư hại. Những đoạn thơ tiếp theo được dành để ca tụng Enki và việc vị thần này thiết lập quan hệ với vị Chủ thần Anu (cha của Enki), Ninti (chị của ngài) và Enlil (anh trai của ngài).

Sau phần giới thiệu này là đoạn “tự sự” của Enki. Nghe lạ lùng, nhưng thực tế, đoạn thơ này sử dụng ngôi thứ nhất, Enki kể về chuyến hạ cánh của mình xuống Trái đất.

“Khi ta tới gần Mặt đất,

ở đó nước ngập mênh mang.

Khi ta tới gần đồng cỏ xanh tươi,

những gò, những đống đội lên

theo lệnh của ta.

Ta xây ngôi nhà của mình ở nơi thuần khiết…

Nhà của ta –

Nằm ven Đầm Rắn…

Những con cá chép quẫy đuôi trong đầm

giữa những cây sậy gizi nhỏ.”

Bài thơ này tiếp tục với ngôi thứ ba, miêu tả những thành tự mà Enki đạt được. Sau đây là một số câu thơ chọn lọc:

Ngài chú ý tới vùng đầm lầy,

thả vào đó cá chép và… nhiều loại cá khác;

Ngài chú ý tới những bụi cây,

trồng vào đó… sậy và cây xanh.

Ngài bổ nhiệm Enbilulu,

Kiểm tra Kênh đào, phụ trách vùng đầm lầy.

Ngài làm ra chiếc lưới mắt dày, không cho con cá nào thoát,

chiếc cạm không cho… nào thoát,

chiếc bẫy không con chim nào thoát,

… con trai của… vị thần thích cá

được Enki giao phó phụ trách về cá và chim.

Enkimdu, chuyên phụ trách về mương và đập,

được Enki giao phụ trách mương và đập.

Người… hướng dẫn cách đúc,

Kulla, người làm gạch cho Xứ sở,

được Enki giao phụ trách việc đúc và làm gạch.

Bài thơ liệt kê ra nhiều thành tựu khác của Enki, trong đó có việc khơi thông và làm sạch hệ thống sông Tigris và nối 2 dòng sông Tigris và Euphrates bằng một kênh đào. Ngôi nhà bên bờ sông của ngài nằm liền kề với một bến nước, nơi những chiếc bè và thuyền bằng sậy neo đậu và khởi hành đi khắp nơi. Bởi vậy mà ngôi nhà này được gọi là E.ABZU (“ngôi nhà của Vùng Nước sâu”). Từ đó người ta đã dùng tên gọi này để chỉ khu đền thiêng của Enki ở Eridu trong nhiều thiên niên kỷ.

Enki và các vị thần thân cận của mình đã tiến hành khai phá những vùng đất xung quanh Eridu, tuy nhiên, có vẻ vị thần này lại thích đi lại bằng đường thủy hơn. Trong một bản ghi chép, vị thần này nói rằng vùng đầm lầy “là địa điểm ưa thích của ta; nó vươn những cánh tay của nó về phía ta”. Trong những ghi chép khác, Enki mô tả việc đi lại trong đầm lầy bằng chiếc thuyền MA.GUR (nghĩa đen là “chiếc thuyền vạn dặm”), một chiếc thuyền du lịch. Vị thần này kể về việc thủy thủ đoàn của mình “sải những mái chèo nhịp nhàng”, việc họ thường “hát những bài hát ngọt ngào khiến cho dòng sông cũng hân hoan”. Ngài giãi bày rằng vào những lúc đó “những bài thánh ca và thần chú ngân nga, tràn ngập Vùng Nước sâu của ta”. Ngay cả những chi tiết nhỏ như tên vị thuyền trưởng của chiếc thuyền này cũng được ghi lại. (Hình 128)

images
Hình 128

Những bản danh sách các vua của người Sumer cho thấy rằng Enki và nhóm người Nefilim đầu tiên ở lại Trái đất trong một thời gian khá dài: 8 shar (28.800 năm) trôi qua trước khi người chỉ huy thứ hai hay “trưởng khu định cư” được chỉ định mới.

Chủ đề này sẽ dần được làm sáng tỏ với nhiều điều thú vị khi ta nghiên cứu các bằng chứng về thiên văn. Các chuyên gia đã từng rất đau đầu với sự “mơ hồ” của người Sumer trong việc xác định xem trong số 12 ngôi nhà hoàng đạo thì ngôi nhà nào gắn liền với Enki. Dấu hiệu đầu dê mình cá biểu tượng của chòm sao Ma Kết rõ ràng gắn liền với hình ảnh của Enki (và có thể giải thích cho ý nghĩa tên của người sáng lập ra Eridu, A.LU.LIM, có nghĩa là “con cừu của dòng nước lấp lánh”). Tuy nhiên hình ảnh Ea/Enki lại thường được khắc họa qua hình ảnh một bình nước tuôn chảy trong tay – hình ảnh của Người Mang nước, hay chòm sao Bảo Bình; và chắc chắn ngài là Thần của các loài cá nên phải gắn liền với chòm sao Song Ngư.

Các nhà thiên văn hiện nay khó mà giải thích được làm cách nào mà các nhà chiêm tinh cổ đại có thể thực sự nhìn thấy các hình ảnh chẳng hạn như những con cá hay một người mang nước trong một chòm sao. Câu trả lời mà ta có thể nghĩ ra đó là các ký hiệu hoàng đạo không phải được đặt tên theo hình dáng của chòm sao mà được đặt theo tên gọi hay hoạt động chính của vị thần gắn liền với thời kỳ khi điểm xuân phân nằm trong ngôi nhà hoàng đạo của họ.

Theo quan điểm của chúng tôi, nếu Enki hạ cánh xuống Trái đất vào lúc bắt đầu Thời đại Song Ngư, chứng kiến sự dịch chuyển tuế sai sang Thời đại Bảo Bình và trải qua trọn một Great Year (25.920 năm) cho tới khi Thời đại Ma Kết bắt đầu thì quả thật vị thần này là người lãnh đạo duy nhất trên Trái đất suốt 28.800 năm như đã định.

Khoảng thời gian này cũng xác nhận kết luận của chúng tôi trước đó rằng người Nefilim đến Trái đất vào giữa Kỷ Băng hà. Công việc đắp đập đào kênh đầy khó nhọc được tiến hành khi điều kiện khí hậu vẫn còn khắc nghiệt. Nhưng sau thời gian vài shar kể từ khi họ đổ bộ xuống Trái đất, thời kỳ băng giá đã nhường chỗ cho một thời kỳ khí hậu ấm áp và nhiều mưa hơn (vào khoảng 430.000 năm trước). Sau đó người Nefilim quyết định di chuyển sâu hơn vào đất liền và mở rộng các khu định cư của mình. Đó cũng là lý do tại sao các Anunnaki (người Nefilim bình thường) gọi vị chỉ huy thứ hai của mình ở Eridu là “A.LAL.GAR” (“người yên tâm với thời kỳ nhiều mưa”).

Trong khi Enki phải trải qua rất nhiều khó khăn với tư cách là người tiên phong trên Trái đất, thì Anu và người con trai Enlil vẫn đang quan sát mọi diễn biến từ Hành tinh thứ Mười hai. Các ghi chép của người Mesopotamia thể hiện rõ rằng người phụ trách sứ mệnh Trái đất thực sự chính là Enlil; và ngay khi quyết định tiếp tục sứ mệnh được đưa ra, Enlil đã tự mình đến Trái đất. EN.KI.DU.NU (“Enki đào sâu”) đã xây dựng cho vị thần này một khu trại hay căn cứ đặc biệt có tên là Larsa. Khi Enlil tiếp quản nơi này, ngài được gọi là ALIM (“Cừu Đực”), trùng tên với “thời đại” của chòm sao hoàng đạo Bạch Dương.

Việc xây dựng căn cứ Larsa đã mở ra một giai đoạn mới trong quá trình định cư trên Trái đất của người Nefilim. Nó là dấu mốc cho quyết định tiếp tục các nhiệm vụ còn dang dở trên Trái đất, nhu cầu phải vận chuyển tới Trái đất thêm nhiều “nhân lực”, dụng cụ và thiết bị và để đưa những tài nguyên quý giá trở về Hành tinh thứ Mười hai.

Phương pháp hạ cánh bằng cách lao xuống biển đã không còn phù hợp cho những phi thuyền có tải trọng nặng hơn. Hiện tượng biến đổi khí hậu khiến việc tiếp cận đất liền trở nên dễ dàng hơn; đây chính là thời điểm di chuyển khu vực hạ cánh vào trung tâm Mesopotamia. Vào thời điểm này, Enlil xuống Trái đất và cho xây dựng ở Larsa một “Trung tâm điều khiển Sứ mệnh” – một đài chỉ huy phức tạp để từ đó người Nefilim trên Trái đất có thể điều phối các chuyến bay vũ trụ đi và đến hành tinh của mình, hướng dẫn các khoang đổ bộ hạ cánh và hoàn thiện quy trình cất cánh và ghép nối với tàu mẹ đang bay trên quỹ đạo Trái đất.

Khu vực mà Enlil lựa chọn cho mục đích này được ngài đặt tên là NIBRU.KI (“băng qua Trái đất”), còn được gọi là Nippur trong nhiều thiên niên kỷ (địa điểm nơi Hành tinh thứ Mười hai đi qua gần Trái đất nhất được gọi là: “Nơi băng qua trong vũ trụ”). Tại đây Enlil đã lập ra DUR.AN.KI, “điểm kết nối Trời-Đất”.

Nhiệm vụ này vô cùng phức tạp và tốn nhiều thời gian. Enlil ở lại Larsa 6 shar (21.600 năm) trong khi Nippur đang được xây dựng. Việc xây dựng ở Nippur cũng mất rất nhiều thời gian, điều này được thể hiện qua tên gọi theo chòm sao hoàng đạo của Enlil. Tên gọi ban đầu của ngài là Cừu Đực (Bạch Dương) lúc còn ở Larsa, về sau ngài lại gắn liền với hình ảnh Bò Đực (Kim Ngưu). Nippur được dựng lên trong “thời đại” Kim Ngưu.

“Bài thánh ca cho Enlil, đấng ban mọi phước lành” được soạn ra nhằm ngợi ca Enlil, người vợ Ninlil, thành Nippur và “ngôi nhà cao quý” E.KUR cho ta biết rất nhiều thông tin về Nippur. Thứ nhất, Enlil đã cho bố trí ở đây một số thiết bị rất phức tạp: một “con mắt trên cao” quan sát vùng đất, một “chùm sáng lia khắp mọi nơi”. Bài thơ này kể rằng Nippur được bảo vệ bởi những vũ khí khủng khiếp: “Ánh nhìn của nó thật khủng khiếp”; từ “vùng ngoại vi của nó, không vị thần nào có thể đến gần”. Vũ khí của nó là một “mạng lưới khổng lồ” và ở chính giữa là một “con chim chạy nhanh”, một “con chim” mà những kẻ xấu xa, ma quỷ không thể thoát khỏi “bàn tay” của nó. Phải chăng nơi này được bảo vệ bởi một loại tia sáng chết người và một trường năng lượng điện nào đó? Phải chăng chính giữa nó là một sân đỗ máy bay trực thăng, một “con chim” bay nhanh đến mức không ai có thể thoát khỏi sự truy lùng của nó?

Tại trung tâm Nippur, sừng sững trên một nền đất đắp cao là tổng hành dinh KI.UR (“nơi cội nguồn Mặt đất”) của Enlil, nơi lập nên điểm “kết nối Trời-Đất”. Đây chính là phòng liên lạc của Trung tâm điều khiển Sứ mệnh, nơi các Anunnaki trên Trái đất liên lạc với chỉ huy của họ, các IGI.GI (“người quan sát”) ở trong tàu mẹ trên quỹ đạo.

Bài thánh ca này tiếp tục kể rằng, tại trung tâm này có một “chiếc cột cao thẳng đứng chạm đến trời”. “Chiếc cột” cao ngút trời này được dựng vững chãi trên mặt đất “như một nền móng vĩnh cửu”, được Enlil sử dụng để “truyền đi lời nói của mình” tới trời. Đây là cách mô tả đơn giản cho một trạm phát sóng. Một khi “lời nói của Enlil” – những chỉ thị của ngài – “truyền lên trời, sự sung túc sẽ bao trùm Mặt đất”. Quả là một cách đơn giản để mô tả những dòng nguyên vật liệu, thực phẩm đặc biệt, thuốc men và công cụ được mang xuống Trái đất bằng chiếc tàu đổ bộ khi “chỉ thị” từ Nippur được ban ra!

Tại Trung tâm Điều khiển trên nền đất cao – “ngôi nhà cao quý” của Enlil này có một căn phòng bí ẩn được gọi là DIR.GA:

Bí hiểm như những Đại dương xa xôi,

như Thiên đỉnh trên bầu trời.

Giữa những biểu tượng của nó…

những biểu tượng của các vì sao.

Nó giúp hoàn thiện các ME.

Những lời của nó được bày tỏ…

Đó là những lời tiên tri tốt lành.

Dirga này là cái gì? Những chỗ hư hỏng trên tấm đất sét cổ xưa này hạn chế chúng ta thu thập thêm các dữ liệu, nhưng chính cái tên của nó đã nói lên tất cả, bởi dirga có nghĩa là “căn phòng tối hình vương miện”, nơi cất giữ bản đồ các vì sao, nơi đưa ra những lời dự đoán, nơi các me (liên lạc giữa các phi hành gia) được thu nhận và truyền dẫn. Cách miêu tả này làm ta nhớ đến Trung tâm Điều khiển ở Houston, Texas, Mỹ nơi giám sát các nhà du hành vũ trụ thực hiện sứ mệnh Mặt trăng, khuếch đại các tín hiệu liên lạc, lập hành trình cho họ giữa bầu trời đầy sao, đưa ra những hướng dẫn “tiên tri tốt lành” cho họ.

Đến đây ta có thể nhớ đến câu chuyện về thần Zu, vị thần đã tìm đến cung điện của Enlil và đánh cắp đi Tấm bảng Sinh mệnh, từ đó “làm đình trệ việc ban hành mệnh lệnh… căn phòng thiêng mất đi ánh hào quang của nó… sự tê liệt lan rộng khắp nơi… sự im lặng bao trùm”.

Trong “Thiên sử thi Sáng tạo”, “sinh mệnh” của các hành tinh chính là quỹ đạo của chúng. Thế nên ta có lý do để tin rằng Tấm bảng Sinh mệnh vốn có vai trò sống còn đối với các chức năng của Trung tâm Điều khiển của Enlil đồng thời cũng có vai trò điều khiển quỹ đạo và đường bay của các phi thuyền vốn đang duy trì “kết nối” giữa Trời và Đất. Đó có thể là chiếc “hộp đen” rất quan trọng chứa đựng các chương trình máy tính dẫn đường cho các phi thuyền mà nếu không có nó thì liên lạc giữa người Nefilim trên Trái đất và đường truyền kết nối họ với Hành tinh mẹ sẽ bị gián đoạn.

Đa số các chuyên gia cho rằng cái tên EN.LIL có nghĩa là “chúa tể của những cơn gió” vốn phù hợp với giả thuyết rằng người cổ đại đã “nhân cách hóa” các yếu tố của tự nhiên và gán cho một vị thần quyền cai quản các cơn gió và bão tố. Tuy nhiên một số chuyên gia đã có ý kiến cho rằng trong trường hợp này từ LIL không phải có nghĩa là gió bão trong tự nhiên mà là “gió” từ miệng – một câu nói, một mệnh lệnh, một giao tiếp bằng lời. Một lần nữa, những ký tự hình vẽ cổ xưa của người Sumer đối với từ EN – đặc biệt là trong trường hợp Enlil – và từ LIL đã soi sáng cho vấn đề này. Vì hình ảnh mà chúng ta nhìn thấy là một công trình với một tháp ăng-ten cao phía trên, cũng như một thiết bị trông rất giống hệ thống ra-đa khổng lồ của chúng ta ngày nay dùng để thu và phát tín hiệu – đó chính là “mạng lưới khổng lồ” được mô tả trong ghi chép trên. (Hình 129)

images
Hình 129

Ở “trung tâm công nghiệp” Bad-Tibira, Enlil đã trao quyền chỉ huy cho con trai mình là Nannar/Sin; một số ghi chép liệt kê các thành phố gọi tên vị thần này là NU.GIG (“vị thần của bầu trời đêm”). Chúng tôi tin rằng ở đây cặp song sinh Inanna/Ishtar và Utu/Shamash đã được sinh ra – một sự kiện được đánh dấu bằng việc gán người cha Nannar của họ với chòm sao hoàng đạo tiếp theo, chòm sao Song Tử (Song Sinh). Là vị thần chuyên về tên lửa, Shamash được gán với chòm sao GIR (vừa có nghĩa là “tên lửa” vừa có nghĩa là “càng cua”, hay Cự Giải), tiếp theo là Ishtar và chòm sao Sư tử, con vật thường được Ishtar đứng trên lưng trong các bức họa.

Người chị của Enlil và Enki, “y tá” Ninhursag (SUD) cũng không bị bỏ quên: Enlil đã giao cho bà cai quản Shuruppak, trung tâm y tế của người Nefilim – một sự kiện được đánh dấu bằng việc đặt tên cho chòm sao của vị nữ thần này là “Thất Nữ” (Xử Nữ).

Trong khi các trung tâm này đang được dựng lên, thì việc xây dựng sân bay vũ trụ của người Nefilim trên Trái đất đã được tiến hành ngay sau khi việc xây dựng Nippur hoàn thành. Các ghi chép cổ ghi rõ rằng Nippur là nơi mà những “lời nói” – những mệnh lệnh – được ban ra: Ở đó, khi “Enlil ra lệnh: ‘Hướng lên trời!’… thì những luồng sáng vọt lên như một quả tên lửa”. Nhưng hành động này diễn ra ở “nơi Shamash bay lên” và nơi đó – một “sân bay vũ trụ Kennedy” của người Nefilim – chính là Sippar, thành phố nằm dưới quyền cai quản của Đại bàng chúa, nơi những chiếc tên lửa đa tầng được phóng lên từ những hầm chứa đặc biệt, những “khu vực cấm thần thánh”.

Khi trưởng thành và đảm nhiệm chức vụ chỉ huy đội Tên lửa và đồng thời trở thành Thần Công lý, Shamash được gán với chòm sao Bọ Cạp và Thiên Bình.

Đứng cuối danh sách 7 thành phố đầu tiên của các vị thần và tương ứng với 12 chòm sao hoàng đạo là Larak, thành phố nơi Enlil trao quyền cai quản cho con trai Ninurta. Danh sách liệt kê tên các thành phố gọi vị thần này là PA.BIL.SAG (“Người Bảo vệ Vĩ đại”); đó cũng chính là cái tên mà người ta dùng để gọi cho chòm sao Nhân Mã.

***

Thật thiếu thực tế nếu ai đó cho rằng 7 thành phố đầu tiên của các vị thần được lập nên một cách tình cờ. Những vị thần có khả năng du hành trong vũ trụ này đã xác định vị trí khu định cư đầu tiên theo một kế hoạch rõ ràng nhằm phục vụ một nhu cầu cấp thiết: khả năng hạ cánh xuống Trái đất và rời Trái đất trở về hành tinh của mình.

Vậy kế hoạch tổng thể là gì?

Trong quá trình tìm kiếm câu trả lời, chúng tôi tự đặt cho mình một câu hỏi: Đâu là nguồn gốc của biểu tượng thiên văn học và chiêm tinh học trên Trái đất – một hình tròn với một chữ thập vuông ở chính giữa, biểu tượng mà chúng ta thường dùng để biểu thị “mục tiêu”?

Biểu tượng này có nguồn gốc từ nền thiên văn và chiêm tinh học của người Sumer và giống với ký tự tượng hình trong tiếng Ai Cập có nghĩa là “địa điểm”:

Đây chỉ là sự trùng hợp hay là một chứng cứ quan trọng? Phải chăng người Nefilim đã đổ bộ lên Trái đất bằng cách vẽ một ký hiệu “mục tiêu” nào đó lên trên bản đồ của mình?

Người Nefilim là những kẻ xa lạ trên Trái đất. Khi quan sát Trái đất từ ngoài vũ trụ, có lẽ họ đã đặc biệt chú ý tới những ngọn núi và các dãy núi. Những rặng núi này có thể gây nguy hiểm trong quá trình cất cánh và hạ cánh, nhưng chúng cũng có thể trở thành những cột mốc định hướng.

Giả sử như người Nefilim đang bay lượn trên Ấn Độ Dương và nhìn về Vùng đất giữa các Dòng sông, nơi họ đã lựa chọn cho nỗ lực khai phá đầu tiên của mình thì họ sẽ nhìn thấy một cột mốc bất khả xê dịch: đó là núi Ararat.

Là một dãy núi lửa không còn hoạt động, Ararat nổi bật trên vùng cao nguyên Armenia nơi ngày nay là biên giới giao nhau giữa Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và Cộng hòa Armenia. Phía sườn đông và sườn bắc của nó có độ cao hơn 900m so với mực nước biển, còn sườn phía tây bắc có độ cao 1524m. Cả dãy núi này có đường kính khoảng 40km), quả là một mái vòm cao ngất vươn lên từ bề mặt Trái đất.

Khối núi này còn có những điểm đặc biệt khác khiến nó không chỉ nổi bật ở đường chân trời mà còn ở vị trí từ trên trời nhìn xuống. Đầu tiên, nó nằm gần như chính giữa khu vực hồ Van và hồ Se-Van. Thứ hai, khối núi này có 2 đỉnh vươn lên: đỉnh Ararat Nhỏ (xấp xỉ 3.932m) và đỉnh Ararat Lớn (xấp xỉ 5.182m) trên độ cao 5.000m. Không ngọn núi nào có thể sánh được với 2 đỉnh núi quanh năm tuyết phủ này về chiều cao. Chúng giống như 2 ngọn hải đăng chiếu sáng hai khu vực hồ rộng lớn giống như những chiếc gương phản chiếu khổng lồ này.

Chúng ta có lý do để tin rằng người Nefilim đã lựa chọn địa điểm hạ cánh bằng cách xác định tọa độ giữa một đường kinh tuyến bắc-nam với một cột mốc dễ nhận biết cùng một địa điểm thuận tiện gần sông ngòi. Ở phía bắc Mesopotamia, 2 đỉnh núi Ararat đóng vai trò làm cột mốc. Một đường kinh tuyến kéo qua điểm giữa 2 đỉnh núi Ararat chia đôi dòng sông Euphrates. Đó chính là mục tiêu – địa điểm được lựa chọn để xây dựng sân bay vũ trụ. (Hình 130)

images
Hình 130

Liệu họ có thể dễ dàng hạ cánh và cất cánh ở địa điểm này?

Câu trả lời là Có. Địa điểm được chọn này nằm trong một vùng đồng bằng, nằm cách xa những dãy núi bao quanh Mesopotamia. Những ngọn núi cao nhất (về phía đông, đông bắc và bắc) đều không gây trở ngại cho con tàu đổ bộ lượn vào từ phía đông nam.

Địa điểm này có thuận tiện cho việc đi lại không – liệu có gây trở ngại cho các phi hành gia và việc vận chuyển các vật liệu đến đó không?

Câu trả lời một lần nữa lại là Có. Người ta có thể đến được địa điểm này bằng đường bộ hoặc qua ngả sông Euphrates bằng đường thủy.

Và thêm một câu hỏi quan trọng nữa: Ở gần đó có nguồn năng lượng, hay nhiên liệu để thắp sáng hay phát điện không? Câu trả lời vẫn là Có. Khúc uốn cong của sông Euphrates nơi sắp xây dựng Sippar là một trong những mỏ bitum lộ thiên phong phú nhất trong thời kỳ cổ đại, các sản phẩm dầu mỏ phun lên qua những giếng dầu tự nhiên và có thể khai thác ngay trên bề mặt mà không cần phải đào hay khoan sâu xuống lòng đất.

Ta có thể tưởng tượng ra hình ảnh Enlil đứng giữa những trợ lý của mình trên khoang chỉ huy của con tàu vũ trụ, vạch dấu chữ thập trong một vòng tròn lên bản đồ. Có thể ngài đã hỏi: “Chúng ta sẽ đặt tên cho nơi này là gì?”

“‘Sippar’ thì sao?”, một người đề xuất.

Trong ngôn ngữ vùng Cận Đông, cái tên này có nghĩa là “chim”. Sippar là địa điểm nơi những chú Đại bàng làm tổ.

Vậy những khoang tàu đổ bộ đã hạ cánh xuống Sippar như

thế nào?

Chúng ta có thể hình dung ra cảnh một hoa tiêu của tàu vũ trụ vạch ra đường bay hợp lý nhất. Phía bên trái là dòng sông Euphrates; vùng cao nguyên núi non trùng điệp ở phía tây; phía bên phải là dòng sông Tigris và dãy Zagros ở phía đông. Nếu con tàu tiếp cận Sippar theo một góc 45° so với đường kinh tuyến đi qua Ararat thì nó sẽ đảm bảo được an toàn khi bay qua giữa 2 khu vực nguy hiểm đó. Hơn nữa, khi chuẩn bị hạ cánh ở góc độ này, con tàu sẽ vượt qua ngọn núi đá Arab ở phía nam bằng đường bay cao và bắt đầu lượn xuống mặt nước vịnh Persia. Quá trình lượn lên xuống của con tàu sẽ không gặp bất kỳ trở ngại nào về tầm nhìn cũng như việc liên lạc với Trung tâm Điều khiển ở Nippur.

Sau đó trợ lý của Enlil vạch ra một phác thảo sơ bộ − một tam giác với các vùng nước và ngọn núi ở mỗi cạnh, với dấu chỉ hình mũi tên hướng về Sippar. Dấu “X” ở chính giữa đánh dấu vị trí của Nippur. (Hình 131)

images
Hình 131

Nghe có vẻ khó tin, nhưng bản phác thảo này không phải do chúng tôi làm ra; nó được vẽ trên một đồ vật bằng gốm tìm thấy ở Susa, trong một lớp địa tầng có niên đại khoảng từ năm 3.200 TCN. Nó khiến chúng ta nhớ đến bản bình đồ địa cầu mô tả đường bay và quy trình bay cũng được chia thành các phần 45° ở phần trên.

Việc người Nefilim xây dựng các khu định cư trên Trái đất không phải là nỗ lực được chăng hay chớ. Tất cả các phương án khác đều đã được nghiên cứu, tất cả các nguồn tài nguyên đề được đánh giá, tất cả các rủi ro tiềm năng đều được cân nhắc; hơn nữa, bản thân kế hoạch định cư cũng được vạch ra một cách kỹ càng để đảm bảo mỗi khu định cư sẽ trở thành một mảnh ghép trong bức tranh lớn, với mục đích vạch ra đường bay tới Sippar.

Trước đây chưa từng có ai thử tìm hiểu chiến lược tổng thể trong việc xây dựng các khu định cư rải rác khắp Sumer của người Nefilim. Nhưng nếu ta nhìn vào 7 thành phố được xây dựng đầu tiên, ta sẽ thấy rằng Bad-Tibira, Shuruppak và Nippur nằm trên một đường thẳng tạo với trục kinh tuyến qua Ararat chính xác một góc 45 độ và đường thẳng đó cắt trục kinh tuyến chính tại Sippar! 2 thành phố còn lại mà chúng ta biết tới là Eridu và Larsa cũng nằm trên một đường thẳng khác giao nhau với đường thẳng đầu tiên và trục kinh tuyến cũng chính tại Sippar!

Theo cách giải thích của chúng tôi về bản phác thảo cổ đại này, thì chúng ta hãy coi Nippur là trung tâm của một vòng tròn, rồi vẽ những đường tròn đồng tâm từ Nippur qua các thành phố khác, ta sẽ thấy rằng một thành phố Sumer cổ đại khác là Lagash cũng nằm chính xác trên một trong những đường tròn đó, trên một đường thẳng cách đều với đường thẳng Eridu-Larsa-Sippar qua trục đường thẳng 45 độ. Vị trí của Lagash nằm đối xứng với vị trí của Larsa qua trục này.

Tuy vị trí của thành phố LA.RA.AK (“nhìn thấy hào quang sáng ngời”) chưa được phát hiện nhưng vị trí phù hợp của nó sẽ là ở Điểm thứ 5, bởi theo logic thì phải có một Thành phố của các vị Thần ở khu vực này để tạo thành chuỗi các thành phố trên đường bay trung tâm với khoảng cách 6 beru: Bad-Tibira, Shuruppak, Nippur, Larak, Sippar. (Hình 132)

Hai đường thẳng phía ngoài nằm cách đều đường thẳng ở giữa chạy qua Nippur một góc 6° về mỗi bên có vai trò như những đường giới hạn phía tây nam và đông bắc cho đường bay chính. Thật phù hợp khi cái tên LA.AR.SA có nghĩa là “nhìn đèn đỏ” và LA.AG.ASH có nghĩa là “nhìn hào quang ở Điểm thứ 6”. Khoảng cách từ thành phố này đến thành phố kia trên mỗi đường thẳng trong thực tế cách nhau 6 beru (khoảng 60 km).

images
Hình 132

Chúng tôi tin rằng đây chính là chiến lược tổng thể của người Nefilim. Trong quá trình lựa chọn địa điểm phù hợp nhất để xây dựng sân bay vũ trụ (Sippar), họ đã bố trí các khu định cư khác theo mô hình đường bay trọng yếu tới sân bay này. Ở vị trí trung tâm họ xây dựng Nippur, nơi bố trí điểm “kết nối Trời-Đất”.

***

Con người ngày nay không thể nào nhìn thấy Thành phố của các vị Thần hay các di tích của chúng được nữa – tất cả chúng đều đã bị phá hủy trong trận Đại Hồng thủy quét qua Trái đất thời gian sau đó. Nhưng chúng ta vẫn có thể biết thêm được nhiều điều về chúng bởi nghĩa vụ thiêng liêng của các vị vua Mesopotamia là tái tạo lại các khu đền thiêng ở đúng các vị trí cũ và tuân thủ theo bản thiết kế gốc. Trong các ghi chép đầy sùng kính còn lại mô tả việc các vị vua tiến hành tái thiết này nhấn mạnh rằng họ phải bám sát các thiết kế nguyên bản một cách tỉ mỉ, ví dụ như trong một bản khắc được tìm thấy ở Layard:

Bản sơ đồ mặt bằng vĩnh cửu,

mà công trình

quyết định cho tương lai

[ta đã tuân theo].

Đó là bản sơ đồ chứa đựng

những bản vẽ từ Thời Xa xưa

và chữ viết của Trời Cao.

Như chúng tôi nghĩ, nếu Lagash là một trong những thành phố được coi là một đèn hiệu hạ cánh thì ý nghĩa của rất nhiều thông tin mà Gudea đưa ra từ thiên niên kỷ 3 TCN sẽ trở nên rõ ràng. Gudea viết rằng khi Ninurta hướng dẫn mình xây lại khu đền thiêng, một vị thần đi cùng ngài đã trao cho ông những bản thiết kế kiến trúc (được vẽ trên một tấm bảng bằng đá) và một vị nữ thần (người đã “du hành giữa Trời và Đất” trong chiếc “khoang” của mình) chỉ cho ông thấy một bản đồ thiên văn và hướng dẫn ông cách xác định vị trí công trình theo phương pháp thiên văn.

Bên cạnh “con chim thần” màu đen, thì còn có “con mắt khủng khiếp” của thần linh (“chùm sáng lớn chinh phục thế giới bằng năng lượng của nó”) và “thiết bị kiểm soát thế giới” (với âm thanh có thể “vang dội khắp nơi”) được lắp đặt trong ngôi đền thiêng này. Cuối cùng, khi công trình hoàn tất, “biểu tượng của Utu” được gắn phía trên ngôi đền, hướng về “nơi bay lên của Utu” – sân bay vũ trụ ở Sippar. Tất cả những thiết bị phát sáng này đều rất quan trọng với việc vận hành của sân bay vũ trụ, vì thế chính Utu đã “vui mừng đến nơi” để đích thân xem xét việc lắp đặt các thiết bị đó khi hoàn tất.

Các hình vẽ cổ xưa của người Sumer thường thể hiện những công trình lớn được xây dựng từ thời xa xưa nhất bằng cây sậy và gỗ, tọa lạc trên những cánh đồng giữa những bầy gia súc đang gặm cỏ. Giả thuyết hiện nay cho rằng đó là những chuồng nhốt gia súc lại hoàn toàn mâu thuẫn với những chiếc cột rõ ràng là nhô ra từ mái của những công trình đó. (Hình 133a)

Như chúng ta có thể nhận thấy, mục đích của những chiếc cột này là để chống đỡ một hay nhiều cặp “vòng” mà chức năng của chúng vẫn là một điều bí ẩn. Tuy các công trình này được dựng lên trên các cánh đồng nhưng ta có thể đặt câu hỏi rằng liệu có phải chúng được xây để nhốt gia súc hay không. Những chữ viết tượng hình của người Sumer (Hình 133b) thể hiện từ DUR, hay TUR (có nghĩa là “cung điện”, “nơi tụ họp”) có những nét vẽ rất giống với những công trình tương tự như vậy được thể hiện trên các con dấu lăn; nhưng chúng cho ta thấy rõ rằng đặc trưng chính của công trình này không phải là “mái lều” mà là chiếc tháp ăng-ten. Những chiếc cột với “vòng” tương tự còn được khắc trên lối vào đền thờ, trong các khu đền thiêng của các vị thần, chứ không chỉ xuất hiện trên các cánh đồng. (Hình 133c)

Phải chăng những chiếc ăng-ten này được kết nối với thiết bị phát sóng? Có phải những cặp vòng này là những thiết bị phát sóng radar được bố trí trên cánh đồng để dẫn đường cho tàu đổ bộ? Có phải những chiếc cột hình con mắt này là những bộ quét, những “con mắt nhìn thấy mọi thứ” của các vị thần xuất hiện trong nhiều ghi chép?

images
Hình 133

Chúng ta biết rằng thiết bị kết nối với những dụng cụ này là loại thiết bị di động bởi vì một số con dấu của người Sumer có khắc họa những “đồ vật của thần linh” hình chiếc hộp được chất trên thuyền hoặc lưng súc vật kéo để vận chuyển vào sâu hơn trong nội địa sau khi thuyền lớn cập bến. (Hình 134)

Những chiếc “hộp đen” này khiến ta nhớ đến chiếc Hộp Pháp điển mà Moses đã đóng theo chỉ dẫn của Thiên Chúa. Chiếc hộp này được làm bằng gỗ, được dát vàng cả bên trong và bên ngoài – 2 cực điện cách nhau bằng một miếng gỗ cách điện ở giữa. Một kapporeth cũng bằng vàng được đặt trên chiếc hộp và được cố định bởi 2 tiểu thiên sứ bằng vàng đặc. Bản chất của kapporeth (“cái nắp” theo suy đoán của các chuyên gia) không được thể hiện rõ; nhưng câu thơ sau trong Kinh Cựu ước đã nói lên mục đích của nó: “Và ta sẽ hướng dẫn cho ngươi từ trên Kapporeth, từ giữa 2 Tiểu thiên sứ”.

images
Hình 134

Ý kiến cho rằng chiếc Hộp Pháp điển này chính là một chiếc hộp liên lạc vận hành bằng điện càng được củng cố hơn bằng những hướng dẫn về khả năng cơ động của thiết bị này. Nó được vận chuyển bằng những chiếc gậy gỗ luồn qua 4 chiếc vòng vàng. Không ai được đụng vào chiếc hộp vì thế khi một người Israel chạm vào nó, anh ta bị giết chết ngay tức thì – như thể bị giật bởi một dòng điện cao thế.

Những thiết bị siêu nhiên có khả năng liên lạc với một vị thần cho dù vị thần đó đang ở xa này đã trở thành đồ vật được tôn kính, “những biểu tượng thờ cúng thiêng liêng”. Những ngôi đền ở Lagash, Ur, Mari và nhiều khu vực cổ đại khác đều khắc họa những “con mắt thần” này trong số những đồ vật thờ cúng. Trường hợp điển hình nhất được phát hiện tại một “ngôi đền mắt” ở Tell Brak, phía tây bắc Mesopotamia. Ngôi đền 4 thiên niên kỷ tuổi này có tên gọi như vậy không chỉ bởi hàng trăm biểu tượng “con mắt” được khai quật ở đây mà chủ yếu là do khu biệt điện của ngôi đền này chỉ có một bệ thờ, trên đó trưng bày một biểu tượng “đôi mắt” lớn bằng đá. (Hình 135)

images
Hình 135

Chắc hẳn đây là mô phỏng của những vật thiêng thật sự - “con mắt kinh khủng” của Ninurta, hoặc con mắt tại Trung tâm Điều khiển của Enlil ở Nippur mà những người ghi chép cổ đại từng đề cập đến: “Con mắt mở to của ngài quét khắp xứ sở… Chùm sáng của ngài lia khắp xứ sở.”

Có vẻ như vùng đồng bằng bằng phẳng của Mesopotamia đòi hỏi họ phải đắp những đài cao để bố trí các thiết bị vũ trụ. Các ghi chép và hình vẽ cổ xưa khẳng định rằng các công trình này rất đa dạng, từ những chiếc lều đầu tiên trên đồng cỏ cho tới những đài cao có bậc, có cầu thang hay sườn dốc thoải dẫn từ tầng thấp và rộng lên tầng cao và hẹp hơn dẫn lối lên tới đỉnh. Trên đỉnh của ngọn tháp này họ cho xây dựng một ngôi nhà thực thụ cho thần linh, xung quanh là một chiếc sân bằng phẳng có tường bao để chứa “con chim” và “vũ khí” của thần. Hình ảnh một ngọn tháp được khắc họa trên một con dấu lăn không chỉ thể hiện kiến trúc tầng nối tiếp tầng quen thuộc này mà còn có 2 “ăng-ten vòng” có chiều cao tương đương với 3 tầng tháp. (Hình 136)

images
Hình 136

Marduk cho rằng tổ hợp ngọn tháp và đền thờ ở Babylon (E.SAG.IL) đã được xây dựng dưới sự chỉ đạo của mình, đồng thời tuân thủ theo “ghi chép của Trời Cao”. Một tấm bảng đất sét (được gọi là Bảng Smith sau khi được giải mã) đã được André Parrot (tác giả cuốn Ziggurats et Tour de Babel – tạm dịch: Các ziggurat và tháp Babylon) phân tích cho thấy ngọn tháp 7 tầng này là một hình vuông hoàn hảo, với mỗi cạnh của tầng thứ nhất hay phần móng có kích thước 15 gar. Những tầng tiếp theo nhỏ hơn về diện tích và thấp hơn về chiều cao, ngoại trừ tầng trên cùng (ngôi nhà của thần), có chiều cao hơn hẳn. Tuy nhiên tổng chiều cao của ngọn tháp lại là 15 gar, vì vậy, cả cấu trúc hoàn chỉnh của ngọn tháp này không chỉ là một hình vuông hoàn hảo mà còn là một hình lập phương hoàn hảo.

Đơn vị gar được sử dụng trong các phép đo này tương đương với 12 cubit ngắn – khoảng 6m. 2 chuyên gia, H. G. Wood và L. C. Stecchini đã chỉ ra rằng con số 60, cơ sở hệ lục thập phân của người Sumer – quyết định đến tất cả các phép đo chính của những ngọn tháp ziggurat ở Mesopotamia. Thế nên chiều dài mỗi cạnh chân đế được tính là 3 nhân với 60 cubit (15 gar) và chu vi mặt chân đế là 60 gar. (Hình 137)

images
Hình 137

Yếu tố nào quyết định đến chiều cao của mỗi tầng tháp? Stecchini khám phá ra rằng nếu ông nhân chiều cao của tầng thứ nhất (5,5 gar) với 2 cubit thì kết quả là 33, gần đúng với vĩ độ của Babylon (32,5° Bắc). Với phép tính tương tự, tầng thứ hai nâng góc quan sát lên 51 độ và cứ mỗi tầng trong 4 tầng tiếp theo lại nâng góc quan sát thêm 6° nữa. Tầng thứ bảy của ngọn tháp nằm trên tầng có góc quan sát là 75° so với đường chân trời tại vĩ độ địa lý của Babylon. Tầng cuối cùng này nâng góc quan sát thêm 15° nữa – để người quan sát nhìn lên theo chiều thẳng đứng ở góc 90 độ. Stecchini kết luận rằng mỗi tầng tháp có vai trò như một tầng quan sát thiên văn, với một góc nâng định sẵn so với cung của bầu trời.

Dĩ nhiên trong các con số này có thể còn có nhiều “ẩn ý”. Tuy con số 33 không chính xác lắm với tọa độ Babylon nhưng nó lại hoàn toàn chính xác với tọa độ Sippar. Liệu có mối liên hệ nào giữa góc nâng 6° ở mỗi tầng và khoảng cách 6 beru giữa các thành phố của các vị thần? Liệu 7 tầng tháp này có mối liên quan như thế nào với địa điểm của 7 khu định cư đầu tiên, hay vị trí của Trái đất là hành tinh thứ bảy hay không?

G. Martiny (Astronomisches zur Babylonischen Turm – tạm dịch: Thiên văn học nghiên cứu tháp Babylon) chỉ ra rằng những đặc điểm của ngọn tháp ziggurat này khiến cho nó trở nên phù hợp với việc quan sát thiên văn và rằng tầng trên cùng của tháp Esagila hướng về phía hành tinh Shupa (mà chúng ta đã xác định là sao Diêm Vương) và chòm sao Bạch Dương. (Hình 138)

Nhưng các ngọn tháp ziggurat này được dựng lên chỉ để phục vụ mục đích quan sát các vì sao và hành tinh, hay còn để phục vụ cho các con tàu vũ trụ của người Nefilim? Tất cả các ngọn tháp này đều được định hướng sao cho các góc của chúng đều chỉ chính xác về hướng bắc, nam, đông và tây. Kết quả là các cạnh của chúng tạo thành một góc chính xác 45° so với 4 hướng chính. Điều này có nghĩa là một con tàu chuẩn bị hạ cánh có thể hướng theo những cạnh nhất định của ngọn tháp và tiến tới Sippar mà không gặp bất kỳ trở ngại nào!

images
Hình 138

Người Akkad/Babylon gọi các công trình này là zukiratu, có nghĩa là “ống của hồn thiêng”. Người Sumer gọi những ngọn tháp này là ESH, có nghĩa là “tối cao” hay “cao nhất” giống như đặc điểm thực tế của chúng. Nó cũng được dùng để chỉ một đơn vị số học liên quan đến khía cạnh “đo lường” của các ziggurat. Và nó còn có nghĩa là “một nguồn nhiệt” (“lửa” trong tiếng Akkad và Hebrew).

Ngay cả các chuyên gia từng tiếp cận với vấn đề này không thông qua cách diễn giải “vũ trụ” của chúng tôi đều không thể tránh khỏi kết luận rằng những ngọn tháp này phục vụ cho những mục đích nào đó thay vì là một cung điện “cao tầng” đơn thuần cho các vị thần. Samuel N. Kramer đã tổng kết ý kiến đồng thuận của các chuyên gia như sau: “Ngọn tháp ziggurat, ngọn tháp nhiều tầng vốn là tiêu chuẩn của kiến trúc đền thờ Mesopotamia… được xây dựng lên để trở thành nơi kết nối cả về mặt thực tế lẫn biểu tượng giữa các vị thần trên Thiên đường và người trần trên Mặt đất.”

Tuy nhiên, chúng tôi sẽ chỉ ra rằng chức năng thật sự của những công trình này là để kết nối các vị thần trên Thiên đường với các vị thần – chứ không phải người trần – trên Mặt đất.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 13.11.2017, 14:56
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 29 Nữ
Bài viết: 26518
Được thanks: 4603 lần
Điểm: 9.42
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Khoa học tự nhiên] Hành tinh thứ 12 - Zecharia Sitchin - Điểm: 10
CHƯƠNG 11

CUỘC NỔI LOẠN CỦA CÁC ANUNNAKI


Sau khi đích thân xuống Trái đất, Enlil đã tước “Bộ Chỉ huy Trái đất” khỏi tay Enki. Có lẽ đây là thời điểm mà tên gọi của Enki được đổi thành E.A (“Chúa tể các Vùng nước”) thay vì “Chúa tể Mặt đất” như trước đây.

Các ghi chép của người Sumer giải thích rằng vào giai đoạn khi các vị thần này mới đến Trái đất, họ đã đồng thuận một phương án phân chia quyền lực: Anu ở trên Thiên đường và cai trị Hành tinh thứ Mười hai; Enlil được chỉ huy dưới Mặt đất; và Enki được giao phụ trách AB.ZU (apsu trong tiếng Akkad). Lần theo nghĩa “vùng nước” của cái tên E.A, các chuyên gia đã dịch nghĩa của AB.ZU là “Vùng Nước sâu” với giả thuyết rằng trong thần thoại Hy Lạp, Enlil đại diện cho Thần Sấm sét Zeus và Ea là nguyên mẫu của thần Poseidon, vị thần của các Đại dương.

Trong các trường hợp khác, lãnh địa của Enlil được cho là Thượng Giới và lãnh địa của Ea là Âm Phủ; các chuyên gia lại một lần nữa cho rằng các thuật ngữ này đồng nghĩa với việc Enlil kiểm soát bầu khí quyển Trái đất còn Ea là Đấng Cai trị của “những vùng nước sâu dưới mặt đất” – giống như Địa ngục của người Hy Lạp. Thuật ngữ abyss của chúng ta có nguồn gốc từ từ apsu có nghĩa là những vùng nước sâu thẳm, tối tăm, nguy hiểm mà con người có thể chìm xuống đó và biến mất. Bởi vậy, khi đọc được những ghi chép của người Mesopotamia mô tả về Âm Phủ này, các chuyên gia đã dịch nó thành Unterwelt (“thế giới ngầm bên dưới lòng đất”) hay Totenwelt (“thế giới của tử thần”. Chỉ đến gần đây một số nhà Sumer học đã giảm bớt phần nào ý nghĩa tiêu cực cho nó bằng cách sử dụng thuật ngữ netherworld (thế giới dưới thấp) khi dịch nghĩa từ này.

Những ghi chép của người Mesopotamia dẫn đến cách diễn giải sai lầm như vậy chính là một loạt những nghi thức tế lễ khóc than sự biến mất của Dumuzi, nhân vật còn nổi tiếng hơn trong Kinh thánh và các ghi chép của người Canaanite dưới cái tên thần Tammuz. Vị thần này chính là người có mối tình nổi tiếng sâu đậm nhất với nữ thần Inanna/Ishtar; và khi ngài biến mất, nữ thần này đã xuống Âm Phủ để tìm ngài.

Cuốn Tammuz-Liturgen und Verwandtes của P. Maurus Witzel, một tác phẩm lớn về “những ghi chép liên quan đến Tammuz” của người Sumer và người Akkad, chỉ càng khắc sâu thêm quan niệm sai lầm đó. Câu chuyện sử thi về chuyến đi tìm chồng của Ishtar được coi là một hành trình “tới vương quốc của tử thần và cuối cùng nàng đã quay trở về với xứ sở của sự sống”.

Các ghi chép của người Sumer và Akkad kể về chuyến đi của Inanna/Ishtar xuống Âm Phủ cho ta biết rằng vị nữ thần này quyết định đến thăm người chị Ereshkigal, vị Chủ thần của nơi này. Ishtar tới đó không phải trong tình trạng đã chết hay trái với ý nguyện của mình – nàng đến đó đầy sinh khí và đường đột, mở đường tiến vào bằng cách đe dọa tên gác cửa:

Nếu ngươi không chịu mở cánh cổng để ta vào,

Ta sẽ phá tan cánh cửa, ta sẽ đánh nát cái then,

Ta sẽ phá tan khung cửa, ta sẽ quẳng cánh cửa đi.

Lần lượt 7 cánh cửa dẫn tới cung điện của Ereshkigal đều mở ra trước mặt Ishtar; nhưng khi nàng vào được cung điện và khi nhìn thấy nàng, Ereshkigal liền nổi cơn giận dữ (bản ghi chép tiếng Akkad viết rằng “nổi trận lôi đình ngay khi nàng xuất hiện”). Bản ghi chép của người Sumer không nói rõ mục đích của chuyến đi này hay nguyên nhân khiến Ereshkigal tức giận và cho hay Inanna đã đoán trước được sự đón tiếp này. Nàng đã nỗ lực thu hút chú ý của các vị thần lớn về chuyến đi của mình trước khi lên đường và đảm bảo rằng họ sẽ có những động thái giải cứu nàng trong trường hợp nàng bị nhốt dưới “Đáy sâu”.

Phu quân của Ereshkigal – Chúa tể của Âm Phủ – chính là Nergal. Cách chàng đến với thế giới Đáy sâu và trở thành chúa tể chốn này không chỉ thể hiện phần “người” của các vị “thần” mà còn cho thấy rằng Âm Phủ không phải một “thế giới của tử thần”.

Theo một số dị bản, câu chuyện bắt đầu từ một bữa tiệc với khách mời danh dự là Anu, Enlil và Ea. Bữa tiệc được tổ chức “trên Thiên đường”, nhưng không phải ở cung điện của Anu trên Hành tinh thứ Mười hai. Có lẽ nó diễn ra trong khoang một phi thuyền đang bay trên quỹ đạo, bởi vì khi Ereshkigal không thể lên dự tiệc cùng với họ, các vị thần này đã cử một sứ giả “đi xuống theo một chiếc thang dài, tới trước cửa nhà Ereshkigal”. Sau khi nhận lời mời, Ereshkigal đưa ra chỉ thị cho Namtar, cố vấn của mình:

“Namtar, hãy trèo lên chiếc thang dài đó tới Thiên đường;

Lấy đĩa thức ăn ở trên bàn, lấy phần của ta;

Bất cứ thứ gì Anu đưa cho ngươi, hãy mang về cho ta.”

Khi Namtar bước vào phòng tiệc, tất cả các vị thần ngoại trừ “vị thần trọc đầu ngồi ở phía sau” đều đứng dậy chào đón ông ta. Namtar báo cáo việc này lại với Ereshkigal khi trở về Âm Phủ. Nàng và tất cả các vị thần cấp dưới trong lãnh địa của mình đều cảm thấy bị xúc phạm. Nàng yêu cầu đưa vị thần khiếm nhã đó tới chỗ nàng để chịu trừng phạt.

Tuy nhiên, kẻ khiếm nhã này lại là Nergal, con trai của thần Ea vĩ đại. Sau bị cha mình quở trách nặng nề, Nargal được bày cho cách xuống Âm Phủ một mình, với vũ khí trong tay chỉ là những lời khuyên của người cha về cách ứng xử. Khi Nergal tới cửa điện, Namtar nhận ra chàng là vị thần khiếm nhã kia và dẫn chàng vào “sân điện lớn”, nơi chàng sẽ phải trải qua vài thử thách.

Ereshkigal đi tắm…

… nàng cởi hết xiêm y.

Việc làm bình thường đối với đàn ông và đàn bà,

chàng… trong trái tim chàng…

… họ ôm chặt lấy nhau,

họ đưa nhau vào giường trong cơn đam mê.

Họ làm tình suốt 7 ngày đêm. Ở trên Thượng Giới, báo động về sự mất tích của Nergal. “Hãy để ta đi”, chàng nói với Ereshkigal. Chàng hứa: “Ta đi và sẽ quay lại”. Nhưng ngay sau khi chàng bước đi, Namtar tới gặp Ereshkigal và cáo buộc rằng Nergal không hề có ý định trở lại. Một lần nữa Namtar được cử lên gặp Anu. Thông điệp của Ereshkigal rất rõ ràng:

Ta, con gái của Người, còn trẻ;

Ta chưa trải qua niềm vui thiếu nữ…

Vị thần mà Người cử xuống

đã ăn nằm với ta.

Hãy cử chàng xuống với ta, để chàng trở thành chồng ta,

Để chàng sống cùng ta.

Vốn chưa hề có ý định kết hôn, Nergal đem một đội quân viễn chinh và khuấy đảo những cổng thành của Ereshkigal với mục đích “cắt đầu nàng ta”. Nhưng Ereshkigal đã van nài:

“Hãy làm chồng thiếp và thiếp sẽ là vợ chàng.

Thiếp sẽ để chàng cai quản

xứ Âm Phủ bao la này.

Ta sẽ đặt Tấm bảng Trí tuệ vào tay chàng.

Chàng sẽ là Chúa tể, thiếp sẽ là Phu nhân”

Và tiếp theo là một cái kết hạnh phúc:

Khi Nergal nghe được lời nàng,

Chàng nắm lấy tay nàng và hôn nàng,

Gạt đi nước mắt của nàng:

«Những gì nàng ao ước

trong những tháng qua – giờ sẽ trở thành sự thật!”

Những sự kiện này không có vẻ gì là diễn ra trên Xứ sở của Thần chết. Trái lại, đó là nơi mà các vị thần có thể ra vào, nơi để yêu đương, nơi đủ quan trọng và tin tưởng để giao phó một cô cháu gái của Enlil vào tay một người con trai của Enki. Nhận thấy rằng những thực tế này không giống với quan niệm về một chốn tối tăm ảm đạm trước đây, W. F. Albright (Mesopotamian Elements in Canaanite Eschatology – tạm dịch: Các yếu tố Mesopotamia trong thuyết Mạt thế của người Canaanite) cho rằng cung điện của Dumuzi ở Âm Phủ là “một ngôi nhà sáng sủa và nhiều cây trái trên Thiên đường dưới lòng đất và được gọi là ‘cửa sông’ có mối quan hệ mật thiết với ngôi nhà của Ea ở Apsu”.

Chắc chắn đây là một nơi xa xôi, khó tiếp cận và phần nào mang ý nghĩa của một “khu vực cấm” nhưng lại không phải là “chốn một đi không trở lại”. Giống như Inanna, nhiều vị thần hàng đầu khác cũng được cho là đã đi đến và trở về từ Âm Phủ này. Enlil đã bị đày đi Abzu một thời gian sau khi thần cưỡng hiếp Ninlil. Ea là vị thần thường xuyên qua lại giữa Eridu ở Sumer và Abzu, mang lại cho Abzu “kỹ năng tay nghề của Eridu” và lập nên ở đó một “đền thờ cao quý” cho bản thân.

Trái ngược với quan niệm rằng đây là một nơi tối tăm hoang tàn, trong thực tế Âm Phủ này được mô tả là một nơi sáng sủa với những con sông tuôn chảy:

Vùng đất màu mỡ yêu thích của Enki;

Dư thừa của cải, hoàn toàn no đủ…

Nơi có dòng sông lớn chảy ngang qua xứ sở.

Ta thấy rằng trong nhiều hình vẽ Ea được khắc họa là vị Thần của Dòng sông tuôn chảy. Các nguồn tư liệu của người Sumer cho thấy những dòng sông này thực sự tồn tại – không phải ở Sumer và những vùng đồng bằng của nó, mà là ở Âm Phủ. W. F. Albright chú ý tới một ghi chép nói rằng Âm Phủ chính là Vùng đất của UT.TU – “ở phía tây” của Sumer. Ghi chép này kể về một chuyến đi của Enki tới Apsu:

Tới Apsu, vùng đất thuần khiết,

Nơi những con sông lớn tuôn chảy cuộn trào,

Tới Cung điện của những Dòng sông Tuôn chảy

Chúa tể trở nên mê mẩn tâm hồn…

Cung điện của những Dòng sông Tuôn chảy

Enki đắm mình trong những dòng sông thuần khiết;

Ở vùng trung tâm Apsu,

Ngài lập nên một ngôi đền lớn.

Chắc chắn là vùng đất này nằm ngoài khơi một vùng biển lớn. Lời than khóc dành cho “đứa con trai thuần khiết”, vị thần Dumuzi trẻ tuổi, nói rằng chàng được mang tới Âm Phủ trong một chiếc thuyền. Một “Lời khóc than cho sự diệt vong của Sumer” kể lại việc Inanna tìm cách trốn lên một con thuyền đang đợi sẵn. “Nàng ra khơi bằng chiếc thuyền chiếm được này. Nàng đi xuống Âm Phủ”.

Một ghi chép dài kể về cuộc tranh cãi lớn giữa Ira (danh hiệu của Chúa tể Âm Phủ Nergal) và người anh em Marduk, tuy nhiên chúng ta chưa hiểu được nhiều về nội dung vì chưa tìm thấy bản nào còn nguyên vẹn. Trong cuộc tranh cãi này, Nergal rời lãnh địa của mình và đối đầu với Marduk ở Babylon; còn Marduk thì lại đe dọa: “Ta sẽ xuống tới Apsu, dưới sự giám sát của các Anunnaki… ta sẽ dùng những vũ khí khủng khiếp của mình chống lại bọn chúng”. Để tới được Apsu, vị thần này phải rời Mesopotamia và đi qua “những dòng sông cuồn cuộn”. Đích đến của ngài là Arali trong “tầng hầm” của Mặt đất và trong ghi chép này có một chi tiết về vị trí của “tầng hầm” này:

Trong vùng biển xa xôi,

qua 100 beru đường thủy…

là vùng đất Arali…

Đó là nơi Đá Xanh khiến ta phát ốm,

Nơi những người thợ của Anu

mang theo Chiếc rìu Bạc sáng lóa như ban ngày.

Beru là đơn vị vừa đo chiều dài quãng đường vừa để đo thời gian và khi hành trình bằng đường biển thì chắc nó được sử dụng để đo thời gian. Mỗi beru là 2 giờ, như vậy 100 beru tương đương với 200 giờ lênh đênh trên biển. Chúng ta không có cách nào biết được tốc độ giả định hoặc tốc độ trung bình khi đi trên biển được sử dụng trong các phép tính quãng đường của người cổ đại. Nhưng chắc hẳn rằng họ đã đến được một vùng đất xa xôi thực sự sau một chuyến hải trình trên 3.000 đến 5.000 km.

Các ghi chép này cho thấy rằng Arali nằm ở phía tây và nam của Sumer. Một con thuyền đi từ vịnh Persia qua 2 hoặc 3.000 dặm về hướng tây nam chỉ có thể đến một nơi duy nhất: bờ biển phía nam châu Phi.

Chỉ có kết luận này mới có thể lý giải hợp lý cho thuật ngữ Âm Phủ, ở đây ám chỉ bán cầu phía nam, nơi có Vùng đất Arali, đối lập với Thượng Giới ở bán cầu bắc, nơi có Sumer. Sự phân chia các bán cầu Trái đất này giữa Enlil (phía bắc) và Ea (phía nam) tương đương với việc phân định thiên cầu phía bắc là Đạo Enlil, còn thiên cầu phía nam là Đạo Ea.

Khả năng du hành liên hành tinh, quay quanh Trái đất và đổ bộ xuống hành tinh này của người Nefilim đã loại trừ câu hỏi rằng liệu họ có thể nào biết đến vùng nam châu Phi ngoài vùng đất Mesopotamia. Nhiều con dấu lăn khắc họa những con vật chỉ có ở khu vực này (chẳng hạn như ngựa vằn hay đà điểu), khung cảnh rừng rậm, hay những vị vua mặc áo da báo theo phong tục châu Phi chứng tỏ rằng họ có một “mối liên hệ với châu Phi”.

Người Nefilim được lợi ích gì từ khu vực này của châu Phi đến mức cử đến đó thiên tài khoa học Ea và giao cho những vị thần quan trọng phụ trách xứ sở này một “Tấm bảng Trí tuệ” độc nhất vô nhị?

Chúng ta cần có một phân tích mới mẻ mang tính phản biện đối với cách diễn giải các chuyên gia rằng thuật ngữ AB.ZU của người Sumer có nghĩa là “vùng nước thẳm sâu”. Thuật ngữ này có nghĩa đen là “nguồn sâu nguyên thủy” – không nhất thiết cứ phải là các vùng nước. Theo các quy luật ngữ pháp của người Sumer, bất kỳ âm tiết nào của tất cả các thuật ngữ có 2 âm tiết đều có thể được đặt trước âm tiết kia mà không làm thay đổi nghĩa của từ, như vậy là AB.ZU và ZU.AB đều có nghĩa như nhau. Cách phát âm thứ hai của thuật ngữ này giúp ta xác định được thuật ngữ tương đương với nó trong ngôn ngữ Semite, vì thuật ngữ za-ab từ trước tới nay luôn có nghĩa là “kim loại quý”, đặc biệt là “vàng” trong tiếng Hebrew và các ngôn ngữ có quan hệ gần gũi khác.

Chữ viết hình tượng của người Sumer cho thuật ngữ AB.ZU là một cái hố đào sâu xuống lòng đất, phía trên có một đường hầm. Như vậy Ea không phải là chúa tể của một “vùng nước sâu” mơ hồ nào đó mà là vị thần phụ trách việc khai thác khoáng sản trên Trái đất! (Hình 139)

Trong thực tế, từ abyssos trong tiếng Hy Lạp bắt nguồn từ chữ apsu trong tiếng Akkad cũng có nghĩa là một cái hố đào rất sâu vào lòng đất. Các ghi chép của người Akkad viết rằng “apsu là nikbu”; nghĩa của từ này và của thuật ngữ tương đương nikba trong tiếng Hebrew rất giống nhau: một vết cắt hay lỗ khoan sâu vào lòng đất do con người thực hiện.

Năm 1890, P. Jensen (Die Kosmologie der Babylonier – tạm dich: Vũ trụ học của người Babylon) đã nhận xét rằng không nên dịch thuật ngữ Akkad thường gặp là Bit Nimiku thành “ngôi nhà thông thái” mà phải dịch là “ngôi nhà của tầng sâu”. Ông trích dẫn một bản ghi chép (V.R.30, 49-50ab) viết rằng: “Vàng và bạc đến từ Bit Nimiku”. Ông chỉ ra rằng một ghi chép khác (III.R.57, 35ab) đã giải thích cái tên “Nữ thần Shala của Nimiki” của người Akkad được dịch ra từ danh hiệu “Nữ thần Nắm giữ Đồng Sáng ngời” của người Sumer. Thuật ngữ nimiku của người Akkad xưa nay vẫn được dịch là “trí tuệ”, nhưng theo kết luận của Jensen thì nó “phải có liên quan đến kim loại”. Nhưng còn lý do tại sao thì ông lại thú nhận một cách đơn giản: “Tôi không biết”.

Một số bài thánh ca của người Mesopotamia ca ngợi Ea là Bel Nimiki, được dịch ra là “Chúa tể Trí tuệ”; nhưng cách dịch đúng phải là “Chúa tể Khai mỏ”. Giống như Tấm bảng Số mệnh ở Nippur chứa đựng các dữ liệu về quỹ đạo thì Tấm bảng Trí tuệ được giao cho Nergal và Ereshkigal này thực tế là một “Tấm bảng về Khai mỏ”, một “ngân hàng dữ liệu” liên quan đến các hoạt động khai khoáng của người Nefilim.

Là Chúa tể của Abzu, Ea có một trợ thủ là thần GI.BIL (“người nung đất”), người phụ trách công việc đốt và nung. Vị Thợ rèn của Trái đất này thường được khắc họa là một vị thần trẻ với đôi vai phát ra những tia sáng nóng đỏ hay các tia lửa, đang hiện lên từ trong lòng đất hoặc sắp chui xuống đó. Những ghi chép này nói rằng Gibil thấm nhuần “trí tuệ” của Ea, có nghĩa là Ea đã dạy cho vị thần này các kỹ thuật khai mỏ. (Hình 140)

Quặng kim loại do người Nefilim khai thác ở vùng đông nam châu Phi được chở về Mesopotamia bằng những con thuyền chở hàng có thiết kế đặc biệt gọi là MA.GUR UR.NU AB.ZU (“thuyền chở quặng từ Âm Phủ). Từ đây, các loại quặng này được đưa tới Bad-Tibira, thành phố mà cái tên của nó có nghĩa là “nơi sáng lập kỹ nghệ rèn đúc”. Sau khi được nấu chảy và tinh luyện, các loại quặng này được đúc thành thỏi mà hình dạng của chúng vẫn không thay đổi trong thế giới cổ đại qua hàng thiên niên kỷ. Người ta đã tìm thấy những thỏi kim loại này tại nhiều địa điểm khai quật ở vùng Cận Đông, chứng tỏ tính tin cậy của những chữ hình tượng của người Sumer thể hiện những đồ vật mà họ “viết ra”; ký hiệu Sumer của thuật ngữ ZAG (“tinh luyện”) là hình vẽ của một thỏi kim loại như vậy. Trong thời cổ đại chắc hẳn các thỏi này có một cái lỗ dọc theo chiều dài qua đó người ta luồn một cái gậy để mang đi. (Hình 141)

Nhiều bức họa về vị Thần của Những dòng sông Tuôn chảy cho thấy đứng bên cạnh vị thần này là những người mang các thỏi kim loại quý đó, chứng tỏ rằng ngài đồng thời cũng là Chúa tể Khai mỏ. (Hình 142)

Những tên gọi và tên hiệu khác nhau cho Xứ sở Khai khoáng ở châu Phi của Ea cho ta biết rất nhiều thông tin về địa điểm và bản chất của nó. Xứ sở này được biết đến với tên gọi A.RA.LI (“nơi của mạch quặng sáng”), nơi mà từ đây người ta chở đi các loại quặng kim loại. Trong khi lên kế hoạch cho chuyến đi xuống bán cầu nam, Inanna đã nhắc tới địa danh này là nơi “kim loại quý bị phủ đất” – nơi người ta tìm thấy nó ở dưới lòng đất. Theo Erica Reiner, có một ghi chép liệt kê các ngọn núi và con sông của xứ Sumer đã khẳng định rằng: “Núi Arali: ngôi nhà của vàng”; và một bản ghi chép không còn nguyên vẹn do H. Radau mô tả lại xác nhận rằng Arali là vùng đất mà Bad-Tibira phải phụ thuộc vào để duy trì hoạt động của mình.

Các ghi chép của người Mesopotamia mô tả Xứ sở Khai khoáng là một vùng nhiều núi non, với những sườn đồi và thảo nguyên cỏ mọc xanh rờn, cây trái sum suê. Thủ phủ của Ereskigal ở vùng đất này được các ghi chép của người Sumer mô tả là GAB.KUR.RA (“giữa bụng những ngọn núi”) sâu bên trong nội địa. Trong bài thơ của người Akkad kể về chuyến hành trình của Ishtar, người gác cửa đã chào đón nàng:

Xin mời vào thưa quý bà,

Hãy để Kutu hân hoan chào đón bà;

Hãy để cung điện của xứ Nugia

Mừng vui vì bà đến.

Mang nghĩa “ở vùng đất trung tâm” trong ngôn ngữ Akkad, thuật ngữ KU.TU cũng mang nghĩa “vùng cao nguyên sáng lạn” trong ngôn ngữ gốc Sumer. Tất cả các ghi chép đều viết rằng đây là một vùng đất ngập tràn ánh nắng. Thuật ngữ Sumer dùng để chỉ vàng (KU.GI – “sáng ngời khi ra khỏi mặt đất”) và bạc (KU.BABBAR – “vàng sáng”) vẫn thể hiện mối liên hệ với các kim loại quý ở vùng đất sáng (ku) của Ereshkigal.

Các ký hiệu hình ảnh được người Sumer sử dụng làm chữ viết đầu tiên thể hiện mối quan hệ gần gũi không chỉ với các quá trình luyện kim đa dạng mà còn với thực tế rằng nguồn gốc của các kim loại này chính là những mỏ khai thác được đào sâu vào trong lòng đất. Các thuật ngữ chỉ đồng đỏ và đồng thau (“đá sáng bóng”) vàng (“kim loại quan trọng nhất khai thác được”) hay “tinh luyện” (“sáng thuần khiết”) đều có những hình ảnh khác nhau của một giếng mỏ (“lối mở/miệng của kim loại đỏ thẫm”). (Hình 143)

Tên của xứ sở này – Arali – được viết ra theo lối chữ hình tượng cũng là một biến thể của (đất) “đỏ thẫm”, của Kush (“đỏ thẫm”, nhưng có thời gian có nghĩa là “Negro”), hay của các kim loại được khai thác ở đây; các chữ hình tượng này luôn thể hiện các giếng mỏ khác nhau. (Hình 144)

Việc các ghi chép cổ đại đề cập rộng rãi đến vàng và các kim loại khác chứng tỏ người xưa đã quen thuộc với kỹ thuật luyện kim. Việc mua bán kim loại đã diễn ra sôi động ngay từ buổi đầu của nền văn minh, thành quả của những tri thức mà con người được lĩnh hội từ các vị thần, những nhân vật theo các ghi chép cổ đại đã thực hiện việc khai khoáng và luyện kim từ rất lâu trước khi Con người xuất hiện. Nhiều nghiên cứu tiến hành đối chiếu giữa các câu chuyện thần thánh của người Sumer với danh sách các tổ phụ thời trước Đại Hồng thủy trong Kinh thánh chỉ ra rằng, theo Kinh thánh thì Tubal-cain là một “thợ chế tác vàng, đồng và sắt” từ rất lâu trước khi diễn ra trận Đại Hồng thủy.

Kinh Cựu ước coi vùng đất Ophir, vùng đất nằm đâu đó ở châu Phi, là một nguồn cung cấp vàng thời cổ đại. Những đoàn thuyền áp tải của Vua Solomon từ Ezion-geber (Elath ngày nay) xuôi xuống Biển Đỏ. “Và họ tới Ophir và đem vàng từ đó về.” Không muốn để việc xây dựng Ngôi đền Thiên chúa ở Jerusalem bị đình trệ, vua Solomon đã thỏa thuận với đồng minh của mình là Hiram, vua xứ Tyre, cho một đoàn thuyền thứ hai tới Ophir theo tuyến đường khác:

Và nhà vua có một hạm đội của Tarshish trên biển

cùng với hạm đội của Hiram.

Hạm đội của Tarshish cứ 3 năm một lần

lại mang về vàng và bạc, ngà voi, tinh tinh và khỉ.

Hạm đội của Tarshish phải mất 3 năm mới hoàn thành một hành trình vừa đi vừa về. Trừ đi thời gian cần thiết để chất hàng ở Ophir thì chuyến đi này mỗi chiều cũng phải mất đến hơn một năm. Điều này chứng tỏ tuyến đường này là tuyến đường đi vòng chứ không phải tuyến đi thẳng qua Biển Đỏ và Ấn Độ Dương – một tuyến đường vòng quanh châu Phi. (Hình 145)

Đa số các chuyên gia đều cho rằng Tarshish nằm ở phía tây Địa Trung Hải, có khả năng nằm trên hoặc gần eo biển Gibraltar ngày nay. Đây là một địa điểm lý tưởng để tiến hành chuyến hành trình vòng quanh lục địa châu Phi. Một số chuyên gia tin rằng cái tên Tarshish có nghĩa là “nấu chảy kim loại”.

Nhiều chuyên gia nghiên cứu Kinh thánh đề xuất ý kiến rằng Ophir cần được xác định là Rhodesia ngày nay. Z. Herman (Peoples, Seas, Ships – Dân tộc, Biển, Thuyền) đã tiến hành thu thập các dẫn chứng chứng minh rằng người Ai Cập cổ đại đã lấy được nhiều loại khoáng sản từ vùng Rhodesia từ thời xa xưa nhất. Các kỹ sư khai mỏ ở Rhodesia cũng như Nam Phi thường tìm vàng bằng cách lần theo những dấu vết của việc khai khoáng thời tiền sử.

Làm thế nào để đến được cung điện của Ereshkigal ở trong đất liền? Các loại quặng được vận chuyển từ “khu trung tâm” tới các cảng ven biển bằng cách nào? Hiểu được sự tín nhiệm của người Nefilim đối với vận tải đường sông, ta sẽ không ngạc nhiên khi khám phá ra một con sông lớn tàu bè có thể qua lại được ở Âm Phủ. Câu chuyện “Enlil và Ninlil” kể với ta rằng Enlil đã chịu hình phạt lưu đày tới Âm Phủ. Khi đến xứ sở này, ngài phải đi bằng phà qua một con sông rộng.

Một ghi chép của người Babylon về nguồn gốc và số phận của loài người đã nhắc tới con sông ở Âm Phủ là Sông Habur, “Con sông của Cá và Chim”. Một số ghi chép của người Sumer đặt tên cho Xứ sở của Ereshkigal là “Xứ đồng cỏ của AH.BUR”.

Trong số 4 con sông lớn của châu Phi, sông Nile chảy từ phía bắc vào Địa Trung Hải, sông Congo và Niger chảy vào Đại Tây Dương từ phía tây và sông Zambezi chảy từ trung tâm châu Phi theo hình bán nguyệt hướng về phía đông cho đến khi vươn tới bờ biển phía đông. Dòng sông này tạo ra một vùng đồng bằng châu thổ rộng lớn với những địa điểm thuận lợi để làm bến cảng và tàu bè có thể đi trên dòng sông này vào sâu trong nội địa trên hàng trăm dặm.

Phải chăng dòng sông Zambezi này là “Con sông của Cá và Chim” ở Âm Phủ? Phải chăng thác nước Victoria hùng vĩ chính là thác nước được đề cập trong một bản ghi chép như là nơi định đô của Ereshkigal?

Ý thức được rằng nhiều mỏ khai khoáng “mới phát hiện” đầy tiềm năng ở phía nam châu Phi từng là những mỏ khai khoáng trong thời cổ đại, Tập đoàn Bristish - American đã kêu gọi các nhóm khảo cổ xem xét các khu vực này trước khi các thiết bị san ủi đất hiện đại quét sạch mọi dấu vết khai mỏ cổ xưa này. Trong bài báo về các phát hiện của mình trên tạp chí Optima, Adrian Boshier và Peter Beaumont nói rằng họ đã khám phá ra các hoạt động khai khoáng thời tiền sử và cổ đại trong hết địa tầng này đến địa tầng khác. Bằng phương pháp giám định carbon, Đại học Yale và Đại học Groningen (Hà Lan) đã xác định niên đại của các đồ tạo tác này khoảng từ năm 2000 TCN tới năm 7690 TCN.

Được tiếp thêm sức mạnh bởi những khám phá cổ xưa đến không ngờ này, nhóm khảo sát đã tiến hành mở rộng khu vực tìm kiếm. Tại chân một mặt vách đứng trên những sườn dốc dựng đứng phía tây đỉnh Lion, người ta đã tìm thấy một khối quặng sắt đỏ nặng 5.000 kg lấp kín lối vào một chiếc hang lớn. Dấu vết than củi để lại thể hiện rằng các hoạt động khai khoáng trong chiếc hang này đã diễn ra vào khoảng từ năm 20000 TCN tới 26000 TCN.

Liệu người ta có khả năng khai thác kim loại trong thời kỳ Đồ đá Cũ? Với nghi ngờ này, các chuyên gia đã đào một giếng mỏ tại nơi có khả năng các thợ mỏ cổ đại đã bắt đầu các hoạt động của mình. Một mẫu than tìm thấy ở đó đã được gửi tới phòng thí nghiệm Groningen. Kết quả cho thấy nó có niên đại từ năm 41250 TCN, cộng trừ 1.600 năm!

Sau đó các nhà khoa học Nam Phi đã tiến hành thăm dò các khu vực khai mỏ thời tiền sử ở miền nam Swaziland. Trong những chiếc hang khai mỏ chưa từng được phát hiện, họ tìm thấy các cành cây, lá, cỏ và thậm chí là lông vũ – có thể tất cả những vật dụng này đã được các thợ mỏ cổ đại đưa vào đây để làm chỗ ngủ. Ở lớp địa tầng có niên đại từ năm 35000 TCN, họ tìm thấy những khúc xương có vạch khấc, “chứng tỏ khả năng đếm của con người ở thời kỳ xa xưa này”. Các dấu tích khác cho thấy niên đại của các đồ tạo tác này là vào khoảng năm 50000 TCN.

Với niềm tin rằng “niên đại thực sự của hoạt động khai mỏ đầu tiên ở Swaziland có nhiều khả năng là vào khoảng năm 70000 đến 80000 TCN”, hai nhà khoa học này cho rằng “miền nam châu Phi… rất có thể là nơi khởi nguồn của các phát minh và sáng kiến công nghệ trong thời kỳ sau năm 100000 TCN”.

Bình luận về những khám phá này, Tiến sỹ Kenneth Oakley, trước đây là nhà nhân chủng học hàng đầu của Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên, London, lại thấy rằng chúng có một ý nghĩa khác. “Nó soi rọi ánh sáng lên nguồn gốc của Loài người… giờ đây ta mới thấy có khả năng miền nam châu Phi chính là chiếc nôi tiến hóa của Loài người”, chiếc “nôi” của người Homo sapiens.

Như chúng tôi sẽ chỉ ra, đây thực sự là nơi Người Hiện đại xuất hiện trên Trái đất, qua một chuỗi sự kiện được khơi mào bởi hoạt động tìm kiếm kim loại của các vị thần.

Cả các nhà khoa học nghiêm túc lẫn các tiểu thuyết gia giả tưởng đều cho rằng lý do để chúng ta định cư trên các hành tinh hay tiểu hành tinh khác là vì trên các thiên thể này có các loại khoáng sản quý, những loại khoáng sản quá hiếm hoặc khai thác quá tốn kém trên Trái đất. Liệu đây có phải là mục đích khai hóa Trái đất của người Nefilim?

Các chuyên gia đương đại phân chia quá trình hoạt động của Con người trên Trái đất thành Thời kỳ Đồ đá, Thời kỳ Đồ đồng, Thời kỳ Đồ sắt, v.v…; còn trong thời cổ đại, chẳng hạn như nhà thơ Hesiod của Hy Lạp đã liệt kê năm thời kỳ - Vàng, Bạc, Đồng, Anh hùng và Sắt. Ngoại trừ Thời kỳ các Anh hùng, tất cả các truyền thuyết cổ đại đều thừa nhận chuỗi thời kỳ vàng-bạc-đồng-sắt. Nhà tiên tri Daniel trong một giấc mộng đã nhìn thấy “một bức tượng vĩ đại” với đầu bằng vàng ròng, ngực và tay bằng bạc, bụng bằng đồng thau, chân bằng sắt và bàn chân bằng đất sét.

Các câu chuyện thần thoại và dân gian chứa đựng rất nhiều ký ức mơ hồ về một Thời kỳ Vàng, chủ yếu gắn liền với thời kỳ khi các vị thần còn hiện diện trên Mặt đất, sau đó là Thời kỳ Bạc, rồi sau đó là các thời kỳ mà thần linh và con người cùng chung sống trên Mặt đất – Thời kỳ các Anh hùng, Thời kỳ Đồng đỏ, Đồng thau và Sắt. Phải chăng tất cả các truyền thuyết này trong thực tế chính là những ký ức mơ hồ về các sự kiện có thật đã diễn ra trên Trái đất?

Vàng, bạc và đồng đều là những nguyên tố tự nhiên của nhóm vàng. Chúng cùng nằm trong một nhóm trong bảng tuần hoàn về trọng lượng và số lượng nguyên tử; chúng có đặc tính cấu trúc tinh thể, hóa học và vật lý tương tự nhau – tất cả đều là những kim loại mềm, dễ dát mỏng và dễ kéo sợi. Trong tất cả các nguyên tố mà chúng ta biết tới, chúng là những nguyên tố dẫn điện và dẫn nhiệt tốt nhất.

Trong 3 loại nguyên tố này, vàng là nguyên tố bền vững nhất, gần như không thể bị phá hủy. Tuy công dụng phổ biến nhất của nó là được sử dụng làm tiền, đồ trang sức hay đồ tạo tác tinh xảo nhưng nó lại là chất liệu vô giá trong ngành công nghiệp điện tử. Một xã hội phát triển tinh vi cần có vàng dùng cho các bộ phận vi điện tử, cho các mạch dẫn đường và cho các “bộ não” máy tính.

Sự mê đắm của con người dành cho vàng đã có từ buổi đầu của nền văn minh và tôn giáo – thể hiện ở những mối liên hệ của con người với các vị thần cổ đại. Các vị thần Sumer yêu cầu họ phải cúng tế thức ăn trong những chiếc khay bằng vàng, nước và rượu đựng trong những chiếc bình bằng vàng và các vị thần phải được khoác lên người trang phục bằng vàng. Tuy người Israel rời khỏi Ai Cập vội vàng đến mức họ không có thời gian để ủ men cho bánh mỳ nhưng họ vẫn được ra lệnh yêu cầu người Ai Cập trao cho mình tất cả vật dụng bằng vàng hoặc bạc mà họ có. Như chúng tôi tìm hiểu ra, mệnh lệnh này cho thấy trước nhu cầu đối với các vật liệu này để tạo nên bàn thờ Tabernacle và các thiết bị điện tử của nó.

Vàng, vua của các kim loại, thực tế là kim loại của các vị thần. Trong khi nói chuyện với nhà tiên tri Haggai, đề cập đến sự trở lại để phán xét các quốc gia của mình, Đức Chúa đã nói rõ rằng: “Bạc là của ta và vàng cũng là của ta”.

Có bằng chứng cho thấy rằng sự đam mê đối với những kim loại này của con người bắt nguồn từ nhu cầu lớn của người Nefilim đối với vàng. Có vẻ như người Nefilim xuống Trái đất là vì vàng và các kim loại có liên quan với nó. Họ cũng có thể đến vì các kim loại hiếm khác, chẳng hạn như platinum (có rất nhiều ở miền nam châu Phi), thứ có thể chế tạo thành thùng chứa nhiên liệu đẩy theo cách đặc biệt. Và có một khả năng không thể loại trừ đó là họ đến Trái đất vì các nguồn khoáng chất phóng xạ, chẳng hạn như uranium hay cobalt – loại “đá xanh khiến ta phát ốm” của Âm Phủ được đề cập trong một số ghi chép. Một số bức họa thể hiện vị Thần Khai mỏ Ea đang phát ra những tia phóng xạ mạnh mẽ khi ra khỏi một hầm lò đến mức các vị thần đi cùng ngài phải sử dụng những tấm khiên che chắn; trong tất cả các bức họa này, Ea đều được thể hiện đang cầm trong tay một chiếc cưa đá của thợ mỏ. (Hình 146)

images

Hình 146

Tuy Enki là vị thần phụ trách nhóm đổ bộ đầu tiên cũng như sự phát triển của Abzu nhưng những thành quả này – giống như trường hợp những vị tướng khác – không phải do công lao một mình ngài gây dựng nên. Những người đã thực sự ngày ngày bỏ công bỏ sức lao động chính là những thành viên cấp thấp hơn của nhóm đổ bộ, các Anunnaki.

Một ghi chép của người Sumer mô tả quá trình xây dựng thủ phủ của Enlil ở Nippur: “Những vị thần của Thiên đường và Mặt đất Annuna đang làm việc. Với những chiếc rìu và gùi nắm chắc trong tay, họ đặt nền móng cho các thành phố.”

Các ghi chép cổ đại mô tả Anunnaki là những vị thần bình thường tham gia vào quá trình định cư ở Trái đất – những vị thần “thực hiện nhiệm vụ”. Thiên sử thi Sáng tạo của người Babylon coi Marduk là người giao nhiệm vụ cho các Anunnaki. (Chúng tôi có thể khẳng định chắc chắn rằng trong bản gốc của người Sumer, Enlil mới là vị thần ra lệnh cho các phi hành gia đó.)

Được giao cho Anu, lắng nghe những chỉ dẫn của ngài,

Ngài lập một trạm gác trên Thiên đường gồm 300 vị;

Và trên Mặt đất,

Ngài bố trí 600 vị.

Ngài ban ra những chỉ dẫn cho tất cả họ,

cho những Anunnaki của Thiên đường và Mặt đất

Ngài phân công nhiệm vụ cho họ.

Các ghi chép này cho thấy rằng 300 vị “Anunnaki của Thiên đường” hay Igigi này là những phi hành gia thực thụ ở lại trên con tàu vũ trụ mà không đổ bộ xuống Trái đất. Con tàu vũ trụ quay quanh quỹ đạo Trái đất này phóng đi và tiếp nhận những phi thuyền đi xuống và quay về từ Trái đất.

Là trưởng nhóm “Đại bàng”, Shamash là một vị khách anh hùng được chào đón nồng nhiệt trên chiếc “khoang lớn vĩ đại trong Thiên đường” của các Igigi. Một “Bài hát ngợi ca Shamash” kể về việc các Igigi quan sát Shamash tiến đến gần trong chiếc phi thuyền của mình:

Khi ngài xuất hiện, tất cả các hoàng tử đều vui mừng;

Tất cả các Igigi hân hoan chào đón ngài…

Dưới ánh sáng rực rỡ của ngài, đường đi của họ…

Họ không ngừng tìm kiếm tia sáng của ngài…

Cánh cửa được mở rộng hoàn toàn…

Bánh mỳ cúng tế của tất cả các Igigi [đang đợi ngài].

Rõ ràng là những Igigi ở trên cao này không bao giờ gặp Con người. Một số ghi chép viết rằng họ “ở quá cao đối với Con người” và kết quả là “họ không quan tâm đến Con người”. Trái lại, những Anunnaki đã đổ bộ và sinh sống trên Trái đất thì lại được Con người biết đến và tôn sùng. Ghi chép thể hiện “số Anunnaki trên Thiên đường… là 300” và “số Anunnaki trên Mặt đất… là 600”.

Tuy nhiên, nhiều ghi chép vẫn gọi các Anunnaki này là “50 hoàng tử vĩ đại”. Tên gọi của họ theo cách phát âm phổ biến trong tiếng Akkad, An-nun-na-ki, đã mang nghĩa là “50 vị đến từ Thiên đường xuống Trái đất”. Liệu có cách nào để khỏa lấp thực tế có vẻ trái ngược này không?

Chúng ta hãy nhớ lại ghi chép kể về việc Marduk hối hả lao tới cung điện của người cha Ea để báo cáo về việc thiệt hại mất một con tàu vũ trụ chở “50 Anunnaki” khi nó đến gần sao Thổ. Một bản ghi chép các câu thần chú có từ thời triều đại thứ ba của Ur có nói về anunna eridu ninnubi (“50 Anunnaki của thành Eridu). Điều này có thể chứng tỏ rằng số người Nefilim lập nên Eridu dưới sự chỉ huy của Enki là 50. Có lẽ nào 50 là số người Nefilim trong mỗi nhóm đổ bộ?

Chúng tôi tin rằng việc người Nefilim xuống Trái đất theo từng nhóm 50 người là khá hợp lý. Khi các chuyến viếng thăm Trái đất trở nên thường xuyên hơn, trùng với thời gian phóng tàu vũ trụ từ Hành tinh thứ Mười hai, nhiều người Nefilim hơn sẽ đổ bộ xuống Trái đất. Trong mỗi lần như thế, một số người đã xuống Trái đất trước đó sẽ bay lên bằng một mô-đun từ Trái đất và trở lại tàu mẹ để quay về nhà. Nhưng trong những lần đó lại càng có thêm nhiều người Nefilim ở lại Trái đất và con số phi hành gia của Hành tinh thứ Mười hai ở lại để khai hóa Trái đất từ một nhóm 50 thành viên đổ bộ ban đầu tăng lên thành “600 người định cư trên Trái đất”.

Làm thế nào mà người Nefilim hy vọng hoàn thành được sứ mệnh của mình – khai thác các loại khoáng sản mong muốn trên Trái đất và đưa các thỏi kim loại này trở về Hành tinh thứ Mười hai – chỉ với vỏn vẹn 600 lao động?

Hiển nhiên là họ dựa vào các tri thức khoa học của mình. Lúc này giá trị của Enki mới trở nên rõ ràng nhất – đây là lý do tại sao chính vị thần này chứ không phải Enlil là người đầu tiên đổ bộ xuống Trái đất và cũng là lý do để vị thần này được phân công tới Abzu.

Một con dấu lăn nổi tiếng hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Louvre khắc họa Ea với những dòng nước quen thuộc của mình, ngoại trừ việc những nước này dường như bắt nguồn từ, hoặc được lọc qua, một loạt các bình thí nghiệm. (Hình 147) Cách diễn giải của người xưa về việc Ea gắn liền với những dòng nước này khiến ta nghĩ rằng hy vọng ban đầu của người Nefilim là thu được các loại khoáng sản từ biển cả. Các vùng nước đại dương chứa đựng một lượng lớn vàng và các loại khoáng sản quan trọng khác, nhưng loãng đến mức cần phải có những kỹ thuật vừa rẻ vừa phức tạp để tiến hành việc “khai mỏ trong nước” này. Chúng ta cũng biết rằng dưới các đáy biển chứa lượng lớn khoáng sản dưới dạng những hòn nhỏ cỡ quả táo và chỉ thu được nếu ai đó có thể lặn sâu xuống đáy biển và múc lên.

images

Hình 147

Các ghi chép cổ đại liên tục nhắc đến một loại thuyền được các vị thần sử dụng có tên gọi là elippu tebiti (“thuyền chìm” – thứ mà ngày nay chúng ta gọi là tàu ngầm). Chúng ta đã thấy những “người cá” dưới quyền lãnh đạo của Ea. Đây có phải là minh chứng cho những nỗ lực lặn xuống đáy các đại dương và thu hoạch những nguồn khoáng sản ở đó của họ? Như chúng tôi đã đề cập, Vùng đất Khai khoáng ban đầu được gọi là A.RA.LI – “xứ sở của những dòng nước có những mỏ quặng sáng ngời”. Điều này có thể ám chỉ rằng đây là một vùng đất nơi vàng được vận chuyển bằng đường sông, cũng có thể thể hiện những nỗ lực khai thác vàng từ các vùng biển.

Nếu đây là các kế hoạch của người Nefilim thì rõ ràng là họ đã không gặt hái được gì. Bởi vì ngay sau khi lập nên những khu định cư đầu tiên, vài trăm Anunnaki đã được cử đi thực hiện một nhiệm vụ khó khăn ngoài dự kiến: đi sâu xuống lòng đất ở khu vực châu Phi và khai thác những khoáng sản cần thiết ở đó.

Những hình ảnh được tìm thấy trên các con dấu lăn khắc họa các vị thần ở nơi có vẻ như là lối vào của những giếng mỏ; một bức họa cho thấy Ea đang ở vùng đất nơi Gibil đang ở trên Mặt đất còn một vị thần khác đang chống tay, quỳ gối lao động ở bên dưới. (Hình 148)

images
Hình 148

Ở các thời kỳ sau này, các ghi chép của người Babylon và Assyria cho hay rằng đàn ông từ già tới trẻ đều bị buộc phải lao động khổ sai trong các khu mỏ ở Âm Phủ. Lao động trong bóng tối và coi bụi bặm là thức ăn, số phận không cho họ cơ hội quay trở về quê nhà. Đây là lý do tại sao cái người Sumer đặt tên cho vùng đất này là KUR.NU.GI.A, có nghĩa bóng là “xứ sở một đi không trở lại”, còn nghĩa đen của nó là “xứ sở nơi các vị thần lao động, trong các hầm sâu (quặng mỏ) chất đống”. Tất cả các nguồn tư liệu cổ đại đều khẳng định rằng thời kỳ người Nefilim định cư trên Trái đất thì con người chưa xuất hiện; và khi không có con người, một số Anunnaki phải lao động cực nhọc trong các hầm mỏ. Trong chuyến đi xuống Âm Phủ của mình, Ishtar kể rằng các Anunnaki khổ sai này phải ăn thức ăn lẫn bùn đất và uống nước đầy cặn bẩn.

Với bối cảnh này, ta có thể thấu hiểu đầy đủ một câu chuyện sử thi dài với cái tên được đặt theo câu thơ mở đầu như thường lệ là “Khi các vị thần phải lao động như con người”.

Sau khi chắp ghép nhiều mảnh ghi chép bằng cả tiếng Babylon và tiếng Assyria, W. G. Lambert và A. R. Millard (Atra-Hasis: The Babylonian Story of the Flood – tạm dịch Atra-Hasis: Câu chuyện Hồng thủy của người Babylon) đã có được một bản ghi chép liền mạch. Họ đi đến kết luận rằng câu chuyện này dựa trên các dị bản của người Sumer trước đó và có khả năng còn có nguồn gốc xa xưa hơn nữa từ những truyền thuyết truyền miệng về các vị thần viếng thăm Trái đất, về việc tạo ra Con người và việc Con người bị hủy diệt trong trận Đại Hồng thủy.

Trong khi nhiều câu thơ trong tác phẩm này chỉ có giá trị văn học đối với các dịch giả thì chúng tôi nhận thấy chúng có ý nghĩa rất lớn, bởi chúng xác thực cho những phát hiện và kết luận mà chúng tôi đưa ra ở các chương trước. Chúng cũng lý giải cho những điều kiện hoàn cảnh dẫn tới cuộc nổi loạn của các Anunnaki.

Câu chuyện bắt đầu vào thời kỳ khi chỉ có các vị thần ở trên

Trái đất:

Cũng như con người, các vị thần

phải làm việc và chịu đựng vất vả

Các vị thần lao động rất khó nhọc,

Công việc của họ rất nặng nề,

Nguy hiểm luôn cận kề.

Vào thời kỳ này, các vị thần đứng đầu đã phân chia quyền chỉ huy giữa họ:

Anu, cha của các Anunnaki, là Đức vua trên Thiên đường của họ;

Quan Chưởng ấn của họ là chiến binh Enlil.

Chỉ huy trưởng của họ là Ninurta,

Và Cảnh sát trưởng của họ là Ennugi.

Các vị thần cùng nhau vỗ tay,

Tiến hành rút thăm và phân chia nhiệm vụ.

Anu lên Thiên đường,

[Để lại] Mặt đất cho các thần dân của mình.

Biển cả bao quanh như một chiếc vòng lớn

Họ trao cho hoàng tử Enki.

7 thành phố đã được lập ra và bản ghi chép này nói rằng 7 Anunnaki đã được cử làm chỉ huy của thành phố. Kỷ luật ở đây chắc hẳn phải nghiêm khắc, vì ghi chép này nói với chúng ta rằng “7vị Anunnaki Vĩ đại đang khiến cho các vị thần thấp hơn chịu lao động khổ sai”.

Có vẻ như trong tất cả các loại công việc của họ thì đào bới là công việc phổ biến nhất, nguy hiểm nhất và bị căm ghét nhất. Các vị thần địa vị thấp hơn nạo vét các lòng sông để thuyền bè có thể đi lại được; họ đào những con kênh để tưới tiêu; và họ đào lò ở Apsu để khai thác khoáng sản của Trái đất. Mặc dù họ có một số loại dụng cụ phức tạp – các ghi chép có nói về “chiếc rìu bạc sáng loáng như ban ngày”, ngay cả khi ở dưới lòng đất – thì công việc này cũng đòi hỏi rất nhiều sức lực. Trong một thời gian dài – chính xác là 40 “thời kỳ” – các Anunnaki “phải lao động khổ sai”; và rồi họ thét lên: Đủ rồi!

Họ đang kêu ca, nói xấu sau lưng,

Càu nhàu trong các hố đào.

Thời cơ nổi loạn xuất hiện khi Enlil tới thăm khu vực khai mỏ. Nắm bắt cơ hội, các Anunnaki bảo nhau:

Chúng ta hãy đối đầu với… Chỉ huy trưởng,

Để ông ta giảm bớt công việc nặng nhọc này.

Vua của các vị thần, người anh hùng Enlil,

Hãy để ông ta bất an trong ngôi nhà của mình!

Người lãnh đạo hay người đứng ra tổ chức cuộc nổi loạn nhanh chóng bị phát hiện. Ông là “cựu chỉ huy trưởng thời trước”, người chắc hẳn đã nuôi lòng hận thù với vị chỉ huy trương đương chức. Thật đáng tiếc là tên của người này không đọc được; nhưng bài diễn văn kêu gọi của ông thì khá rõ ràng:

“Nay, hãy tuyên bố chiến tranh;

Chúng ta hãy kết hợp lòng thù hận với chiến đấu.”

Cuộc nổi loạn này được mô tả sinh động đến mức khiến ta liên tưởng đến cảnh tượng bão tố của cuộc tấn công pháo đài Bastille:

Các vị thần nghe theo lời kêu gọi của ông.

Họ châm lửa vào các dụng cụ của mình;

Họ châm lửa lên những chiếc rìu;

Họ gây chiến với vị thần khai mỏ trong các đường hầm;

Họ bắt giữ vị này trên đường tiến tới

cánh cổng của người anh hùng Enlil.

Những căng thẳng và kịch tính của các sự kiện sắp diễn ra được thể hiện trong một bài thơ cổ:

Lúc đó là ban đêm, vào nửa phiên canh phòng.

Ngôi nhà của ngài bị bao vây

nhưng thần Enlil không hề hay biết.

Sau đó người quan sát Kalkal giật mình tỉnh giấc.

Anh ta kéo then cửa và quan sát…

Kalkal đánh thức Nusku;

họ lắng nghe âm thanh ồn ào của…

Nusku đánh thức Chúa tể dậy

anh ta kéo ngài dậy khỏi giường [và nói]:

“Thưa chúa tể, nhà của ngài đang bị bao vây,

chiến sự đã kéo đến ngay trước cổng.”

Phản ứng đầu tiên của Enlil là lấy vũ khí chống lại những kẻ nổi loạn. Nhưng quan chưởng ấn Nusku khuyên ngài nên triệu tập Hội đồng các vị Thần:

“Hãy chuyển một thông điệp để Anu xuống nơi này;

Để Enki xuất hiện trước mặt ngài.”

Ngài chuyển thông điệp và Anu được đưa tới;

Enki cũng xuất hiện trước mặt ngài,

Enlin đứng lên… mở miệng

Và phát biểu trước các vị thần vĩ đại.

Khi bàn về cuộc nổi loạn với tư cách cá nhân, Enlil yêu cầu

được biết:

“Có phải những hành động này là chống lại ta?

Phải chăng ta có liên quan tới sự thù địch này…?

Chính mắt ta đã nhìn thấy những gì?

Đó là chiến sự đã đến ngay trước cổng nhà ta!”

Anu đề nghị tiến hành điều tra. Được vũ trang bằng quyền năng của Anu và các chỉ huy khác, Nusku đến gặp những kẻ nổi loạn đang đóng trại. Ông ta hỏi: “Ai là kẻ xúi giục trận chiến này? Ai là kẻ kích động sự thù địch?”

Các Anunnaki sát cánh cùng với nhau:

“Tất cả mọi người chúng tôi đều là người tuyên bố chiến tranh!

Chúng tôi có… của mình ở các khu khai mỏ;

Lao động khổ sai quá mức giết chết chúng tôi,

Công việc của chúng tôi quá nặng nhọc, nguy hiểm luôn cận kề.”

Khi Enlil nghe Nusku báo cáo về những lời bất bình này, “nước mắt của ngài tuôn chảy”. Ngài đưa ra một tối hậu thư: hoặc là người lãnh đạo cuộc nổi loạn bị hành hình hoặc là ngài sẽ từ chức. “Hãy giải tán trụ sở, hãy lấy lại quyền năng của ngài”, Enlil tâu với Anu, “và ta sẽ theo ngài lên Thiên đường”. Nhưng Anu, người đến từ Thiên đường, lại đứng về phe các Anunnaki:

“Chúng ta đang buộc tội họ vì cái gì?

Công việc của họ nặng nhọc, họ gặp nhiều nguy hiểm!

Mỗi ngày…

Lời than khóc thật thống thiết thấu tận trời.”

Được khuyến khích bởi những lời nói của cha, Ea cũng “mở miệng” và lặp lại kết luận của Anu. Nhưng ngài đưa ra một giải pháp: Hãy tạo ra lulu, “Nhân công Nguyên thủy”!

“Nhân Nữ thần sinh sản cũng có mặt ở đây,

Hãy để nàng tạo ra Nhân công Nguyên thủy;

Hãy để hắn mang trên vai gánh nặng…

Hãy để hắn thực hiện công việc nặng nhọc của các vị thần!”

Đề xuất tạo ra một “Nhân công Nguyên thủy” để gánh vác công việc nặng nhọc của các Anunnaki được chấp thuận ngay. Các vị thần nhất trí biểu quyết việc tạo ra “Nhân công”. Họ nói “Con người sẽ là tên của hắn”:

Họ triệu tập và hỏi ý kiến vị nữ thần

Bà mụ của các vị thần, Nữ thần Thông thái Mami,

[và nói với bà:]

“Nàng là Nữ thần sinh sản, hãy tạo ra Nhân công!

Hãy tạo ra một Nhân công Nguyên thủy,

Để hắn mang lấy gánh nặng!

Hãy để hắn đảm đương gánh nặng mà Enlil giao cho,

Hãy để Nhân công thực hiện công việc nặng nhọc của các vị thần!”

Mami, Nữ thần Mẹ, nói rằng bà cần sự giúp đỡ của Ea, “người có nhiều kỹ năng”. Trong Ngôi nhà Shimti, một nơi giống như bệnh viện ngày nay, các vị thần đang chờ đợi. Ea giúp chuẩn bị hỗn hợp để Nữ thần Mẹ tạo ra “Con người”. Các nữ thần sinh sản đã có mặt. Nữ thần Mẹ tiếp tục công việc trong khi những câu thần chú không ngừng được xướng lên. Sau đó bà kêu lên đắc thắng:

“Ta đã tạo ra!

Bàn tay ta đã làm ra nó!”

Bà “triệu tập các Anunnaki, các vị Thần Vĩ đại… bà mở miệng nói với các vị Thần Vĩ đại”:

“Các vị giao cho ta một nhiệm vụ

Ta đã hoàn thành…

Ta đã loại bỏ cho các vị công việc nặng nhọc

Ta đã đặt công việc nặng nhọc của các vị lên vai Nhân công, ‘Con người’

Các vị hãy kêu lên với kẻ Nhân công này:

Ta đã trút được gánh nặng,

Ta đã cho ngươi tự do.”

Các Anunnaki lắng nghe thông báo của bà đầy hào hứng. “Họ ùa tới và hôn chân bà.” Từ nay trở đi, Nhân công Nguyên thủy – Con người – “sẽ nhận lấy gánh nặng”.

Người Nefilim trong quá trình đổ bộ xuống Trái đất để lập nên các thuộc địa của mình đã tạo ra một loại nô lệ, không phải nô lệ được đưa từ lục địa khác tới, mà là những Nhân công Nguyên thủy do chính người Nefilim tạo nên.

Một cuộc nổi loạn của các vị thần đã dẫn tới sự ra đời của Con người.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 13.11.2017, 15:00
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 29 Nữ
Bài viết: 26518
Được thanks: 4603 lần
Điểm: 9.42
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Khoa học tự nhiên] Hành tinh thứ 12 - Zecharia Sitchin - Điểm: 10
CHƯƠNG 12

QUÁ TRÌNH SÁNG TẠO CON NGƯỜI



Thoạt đầu, tuyên bố được người Sumer ghi chép và truyền lại rằng “Con người” được tạo ra nhờ bàn tay của người Nefilim dường như đã dội một gáo nước lạnh vào cả Thuyết Tiến hóa lẫn các giáo lý Do thái-Cơ đốc giáo dựa trên Kinh thánh. Nhưng thực tế, những thông tin chứa đựng trong các ghi chép của người Sumer – và chỉ có những thông tin đó – mới có thể chứng nhận cho giá trị của Thuyết Tiến hóa và tính xác thực của các câu chuyện trong Kinh thánh và chỉ ra rằng giữa Kinh thánh và Thuyết Tiến hóa không hề tồn tại bất cứ một mâu thuẫn nào.

Trong thiên sử thi “When the gods as men” (Khi các vị thần như con người), trong một số ghi chép khác và trong những tư liệu ngẫu nhiên, người Sumer đều mô tả Con người vừa là một sản phẩm có chủ đích của các vị thần vừa là một mắt xích trong chuỗi tiến hóa bắt đầu bằng các sự kiện diễn ra trong vũ trụ được thể hiện trong “Thiên sử thi Sáng tạo”. Với niềm tin vững chắc rằng Con người xuất hiện sau thời kỳ chỉ có người Nefilim ở trên Trái đất, nên các ghi chép của người Sumer ghi lại hết sự kiện này đến sự kiện khác (chẳng hạn như vụ việc giữa Enlil và Ninlil) diễn ra “khi Con người còn chưa được tạo ra, khi chỉ có các vị thần ngự trị ở Nippur”. Đồng thời, các ghi chép này cũng mô tả quá trình hình thành Trái đất và sự phát triển của đời sống động thực vật trên hành tinh này hoàn toàn phù hợp với các lý thuyết tiến hóa đương đại.

Các ghi chép của người Sumer khẳng định rằng khi những người Nefilim đầu tiên đổ bộ xuống Trái đất, các kiến thức về trồng lúa, trồng cây ăn quả và chăn nuôi gia súc vẫn chưa xuất hiện trên Trái đất. Tương tự, Kinh thánh cũng đặt sự xuất hiện của Con người vào “ngày” hay giai đoạn thứ sáu trong quá trình tiến hóa. Cuốn Sáng Thế Ký cũng khẳng định rằng vào giai đoạn đầu của quá trình tiến hóa:

Chưa có bụi cây ngoài đồng nào trên Mặt đất,

Chưa có đám cỏ ngoài đồng nào mọc lên…

Và không có người canh tác đất đai.

Tất cả các ghi chép của người Sumer đều khẳng định rằng các vị thần làm ra Con người để làm việc cho họ. Lý giải nguyên do bằng những lời nói của Marduk, Thiên sử thi Sáng tạo kể lại quyết định đó như sau:

Ta sẽ tạo ra một sinh vật Nguyên thủy thấp kém;

“Con người” sẽ là tên của hắn.

Ta sẽ tạo ra một Nhân công Nguyên thủy;

Hắn sẽ đảm đương công việc của các vị thần,

để họ nghỉ ngơi.

Thuật ngữ mà người Sumer và Akkad dùng để gọi “Con người” đã thể hiện vị trí và mục đích của anh ta: Anh ta là một lulu (“sinh vật nguyên thủy”), một lulu amlu (“Nhân công Nguyên thủy”), một awilum (“lao công”). Việc Con người được tạo ra để làm nô bộc cho các vị thần không hề khiến người cổ đại cảm thấy có gì khác thường. Trong Kinh thánh, vị thần đó được gọi là “Đức Chúa”, “Đấng Tối cao”, “Vua”, “Đấng Cai trị”, “Ông chủ”. Thuật ngữ avod thường được chúng ta dịch ra là “thờ phụng” trong thực tế lại là “lao động”. Con người cổ đại và Con người trong Kinh thánh không phải “thờ phụng” thần linh mà là làm việc cho thần linh.

Ngay sau khi Thiên Chúa trong Kinh thánh cũng như các vị thần trong những câu chuyện của người Sumer tạo ra Con người, ngài làm ra một khu vườn và giao nhiệm vụ cho họ làm việc ở đó:

Và Thiên Chúa đem Con người

đặt vào vườn Eden

để cày cấy và canh giữ đất đai.

Tiếp đó, Kinh thánh mô tả cảnh Đức Chúa “đi dạo trong vườn những lúc gió thổi nhè nhẹ”, khi đó “sinh vật mới” này đã thực hiện sứ mệnh canh giữ Vườn Eden. Câu chuyện này liệu có khác biệt gì so với những ghi chép của người Sumer mô tả những vị thần cai quản nhân công của mình làm việc, còn họ có thể nghỉ ngơi thư giãn?

Trong các câu chuyện của người Sumer, chính Hội đồng các vị Thần đã đưa ra quyết định tạo ra Con người. Và đáng chú ý là cuốn Sáng Thế Ký với chủ ý ca ngợi những thành tựu của một vị thần duy nhất đã sử dụng danh từ số nhiều Elohim (nghĩa đen là “các vị thần”) để biểu thị cho Đức Chúa và đưa ra một lời nhận xét đáng kinh ngạc:

Và Elohim phán:

“Chúng ta hãy làm ra Con người theo hình ảnh chúng ta,

giống như chúng ta.”

Ai là đối tượng đang cùng bàn bạc với vị Thần duy nhất nhưng ở dạng số nhiều này và ai là “chúng ta” được lấy làm khuôn mẫu để tạo ra Con người? Cuốn Sáng Thế Ký không đưa ra câu trả lời. Nhưng sau đó, khi Adam và Eve ăn quả trên Cây Nhận thức, Elohim đã đưa ra lời cảnh báo đối với những người đồng sự vô danh: “Nhìn xem, Con người đã trở thành như một phần trong giới chúng ta, chúng đã biết điều thiện điều ác.”

Vì câu chuyện Sáng tạo Thế giới trong Kinh thánh, cũng như các câu chuyện về sự khởi đầu của vạn vật trong Sáng Thế Ký đều có nguồn gốc từ Sumer nên câu trả lời rất rõ ràng. Với việc gộp nhiều vị thần lại thành một vị Thần Tối cao duy nhất, thì câu chuyện Kinh thánh chỉ là một bản tổng hợp và chỉnh sửa các câu chuyện của người Sumer về những cuộc thảo luận của Hội đồng các vị Thần.

Kinh Cựu ước phải rất cố gắng để giải thích rõ rằng Con người không phải là thần linh cũng không đến từ Thiên đường. “Thiên đường là Thiên đường của Đức Chúa, còn Ngài đưa Con người xuống Mặt đất”. Sinh vật mới này được gọi là “Adam” bởi vì anh ta được tạo ra từ adama, cát bụi của Mặt đất. Nói cách khác, anh ta là “người trần”.

Về mọi phương diện, Adam được tạo ra dựa trên hình ảnh (selem) và ngoại hình (dmut) của (những) Đấng Sáng tạo, ngoại trừ một phần nhỏ “nhận thức” và tuổi thọ của thần linh. Việc sử dụng hai thuật ngữ này trong Kinh thánh giúp ta khẳng định rằng Con người giống với (các) vị Thần cả về ngoại hình lẫn nội tâm.

Trong tất cả các bức họa cổ đại về thần linh và con người, sự giống nhau này được thể hiện rõ ràng. Tuy Kinh thánh phản đối việc thờ cúng những bức tượng tà đạo thể hiện quan điểm rằng Đức Chúa của người Hebrew không có hình ảnh và dung mạo nhưng cả Sáng Thế Ký lẫn các câu chuyện Kinh thánh khác đều khẳng định điều ngược lại. Người Hebrew cổ đại có thể nhìn thấy Đức Chúa trực diện, có thể vui đùa cùng Ngài, có thể nghe thấy tiếng nói và trò chuyện trực tiếp với Ngài; Đức chúa có hình hài và hành động như con người – bởi vì Con người được tạo tác từ nguyên mẫu các vị thần.

Nhưng sự đơn giản này lại chứa đựng một điều bí ẩn lớn. Làm thế nào mà một sinh vật mới có thể là bản sao về hình thể, tinh thần và tình cảm của người Nefilim? Thực tế, Con người đã được tạo ra như thế nào?

Trong một thời gian dài, người phương Tây gắn bó với quan niệm rằng sau khi được tạo ra có chủ đích, Con người được đưa xuống Trái đất để chinh phục hành tinh này và thống trị tất cả các loài sinh vật khác. Tháng Mười một năm 1859, Charles Darwin, nhà tự nhiên học người Anh đã xuất bản một luận thuyết về nguồn gốc các loài thông qua chọn lọc tự nhiên, hay việc gìn giữ các chủng đặc ân thông qua cuộc đấu tranh sinh tồn. Tổng kết gần 30 năm tiến hành nghiên cứu, cuốn sách đã bổ sung vào hệ thống các quan điểm trước đây về tiến hóa tự nhiên một khái niệm mới về chọn lọc tự nhiên, kết quả của cuộc đấu tranh sinh tồn của các chủng loài động thực vật.

Năm 1788, việc các nhà địa chất học nổi tiếng bày tỏ quan điểm rằng Trái đất được hình thành từ cổ xưa, xưa hơn rất nhiều so với quãng thời gian chừng 5.500 năm theo lịch của người Hebrew đã gây xôn xao trong thế giới người Công giáo. Tiến hóa cũng không phải là một khái niệm quá mới mẻ bởi vì các học giả trước đó đã từng có rất nhiều nhận định và phát biểu về quá trình tiến hóa này, đặc biệt ngay từ thế kỷ IV TCN, các học giả Hy Lạp đã thu thập rất nhiều dữ liệu về quá trình tiến hóa trong đời sống động thực vật.

Còn Darwin đã giáng một đòn mạnh vào những niềm tin lâu đời trước đó của Giáo hội bằng kết luận rằng tất cả mọi sinh vật – bao gồm cả Con người – đều là sản phẩm của quá trình tiến hóa và không được sinh ra một cách tự phát.

Phản ứng đầu tiên của Giáo hội rất dữ dội. Nhưng khi các phát hiện khoa học về tuổi thực sự của Trái đất, về quá trình tiến hóa, di truyền học, cùng các nghiên cứu sinh vật học và nhân chủng học khác được đưa ra ánh sáng, thì những chỉ trích của Giáo hội cũng yếu dần. Cuối cùng, chính những câu chữ trong Kinh Cựu ước đã khiến cho câu chuyện về Kinh Cựu ước bất khả biện hộ; vì làm thế nào mà một vị Chúa Trời “vô hình” và độc nhất trong vũ trụ lại có thể phán rằng “Chúng ta hãy tạo ra Con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta”?

Nhưng phải chăng chúng ta thực sự chỉ là “những con khỉ trần trụi” không hơn không kém? Phải chăng loài khỉ là một nhánh tiến hóa khác của chúng ta và loài thú leo cây tree-shrew (loài động vật có vú nhỏ ở vùng Đông Nam Á) mới là con người tuy vẫn chưa rụng đuôi và đứng thẳng?

Như chúng tôi đã chỉ ra ở phần đầu của cuốn sách này, các nhà khoa học đương đại đã tiến hành xem xét lại các lý thuyết đơn giản. Thuyết Tiến hóa có thể giải thích cho chuỗi các sự kiện chung hình thành nên sự sống và các dạng sống phát triển trên Trái đất, từ những sinh vật đơn bào đơn giản nhất cho tới Con người. Nhưng Thuyết tiến hóa không thể giải thích được sự xuất hiện của người Homo sapiens, sự xuất hiện diễn ra chỉ qua một đêm nếu so với hàng triệu năm tiến hóa đáng ra phải có và không có dấu hiệu của quá trình chuyển đổi từ người Homo erectus ở thời kỳ trước đó.

Chi Homo của họ Người là một sản phẩm của quá trình tiến hóa. Nhưng người Homo sapiens lại là sản phẩm của một sự kiện tiến hóa đột ngột nào đó. Chủng người này xuất hiện một cách bí ẩn vào khoảng 300.000 năm trước đây, quá nhanh so với quy trình tiến hóa hàng triệu năm.

Các chuyên gia không thể nào lý giải nổi điều này. Nhưng các ghi chép của người Sumer, người Babylon, Kinh Cựu và chúng tôi sẽ chỉ cho các bạn thấy nguồn gốc thực sự của người Homo sapiens.

Homo sapiens – Người hiện đại – đã ra đời nhờ bàn tay của các vị thần cổ đại.

Thật may mắn khi các ghi chép của người Mesopotamia có đưa ra một tuyên bố rõ ràng về thời gian Con người được tạo ra. Câu chuyện về quá trình lao động khổ sai và cuộc nổi loạn của các Anunnanki kể với chúng ta rằng: “trong cả 40 thời kỳ họ phải chịu lao động nặng nhọc cả ngày lẫn đêm”; những năm tháng khổ sai đằng đẵng của họ được kịch tính hóa bằng những câu thơ lặp đi lặp lại:

Trong 10 thời kỳ họ phải chịu lao động khổ sai.

Trong 20 thời kỳ họ phải chịu lao động khổ sai.

Trong 30 thời kỳ họ phải chịu lao động khổ sai.

Trong 40 thời kỳ họ phải chịu lao động khổ sai.

Bản ghi chép này sử dụng thuật ngữ ma để biểu thị cho “thời kỳ” và đa phần các chuyên gia dịch nghĩa từ này là “năm”. Nhưng thuật ngữ này lại có nghĩa gốc là “thứ gì đó hoàn thành chính nó và sau đó lặp lại chính nó”. Một năm Trái đất tương đương với một vòng quay hoàn chỉnh của nó xung quanh Mặt trời. Như chúng tôi đã chỉ ra, quỹ đạo hành tinh của người Nefilim là một shar, tương đương với 3.600 năm Trái đất.

40 shar, hay 144.000 năm Trái đất sau khi đổ bộ, các Anunnaki kêu lên phản đối: “Đủ rồi!” Nếu như người Nefilim hạ cánh lần đầu tiên xuống Trái đất khoảng 450.000 năm trước theo như tính toán của chúng tôi thì việc tạo ra Con người được tiến hành khoảng 300.000 năm trước đây!

Người Nefilim không tạo ra các loài động vật có vú, các loài linh trưởng hay các sinh vật giống người. “Adam” trong Kinh thánh không thuộc chủng Homo mà là sinh vật tổ tiên của chúng ta – người Homo sapiens đầu tiên. Anh ta chính là Người Hiện đại như chúng ta biết và được tạo ra bởi bàn tay của người Nefilim.

Chìa khóa để hiểu rõ được thực tế quan trọng này nằm trong câu chuyện về một Enki đang mơ màng bị đánh thức và được thông báo rằng các vị thần đã quyết định tạo nên một adamu và nhiệm vụ của vị thần này là tìm ra phương thức thực hiện. Ngài đã trả lời như sau:

“Sinh vật mà các ngài vừa nhắc tên đó

NÓ ĐANG TỒN TẠI!”

và ngài nói thêm rằng: “Hãy trao cho nó” – sinh vật đang tồn tại này – “dung mạo của các vị thần”.

Như vậy người Nefilim không “sáng tạo” ra Con người từ hư không, mà họ chọn một sinh vật đang tồn tại và “trao cho nó dung mạo của các vị thần”.

Con người là sản phẩm của quá trình tiến hóa, nhưng Người hiện đại Homo sapiens lại là sản phẩm của “các vị thần”. Vì cách đây khoảng 300.000 năm trước, người Nefilim đã trao cho những con khỉ hình người (Homo erectus) hình hài giống họ.

Thuyết Tiến hóa và những câu chuyện vùng Cận Đông về việc sáng tạo ra Con người không hề xung đột với nhau. Thay vào đó, chúng giải thích và hoàn thiện lẫn nhau. Bởi vì nếu không có hành động sáng tạo của người Nefilim thì Con người phải mất thêm hàng triệu năm nữa trên hành trình tiến hóa để đạt được đến cột mốc hiện tại.

***

Chúng ta hãy cùng trở về thời kỳ này và tìm cách minh họa những điều kiện hoàn cảnh và sự kiện đã diễn ra.

Giai đoạn gian băng lớn bắt đầu khoảng 435.000 năm trước cùng với sự ấm lên của khí hậu đã tạo điều kiện cho sự phát triển nhanh chóng của các nguồn thức ăn và các loài động vật. Nó cũng đẩy nhanh tiến trình xuất hiện và phổ biến của một loài khỉ giống người tiến bộ Homo erectus.

Khi người Nefilim chú ý tới loài khỉ giống người này, họ coi chúng không chỉ là loài động vật có vú ưu việt mà còn là loài thuộc bộ linh trưởng – trong bộ này có loài khỉ giống người. Liệu có khả năng những nhóm người Homo erectus lang thang đã bị thu hút bởi những vật thể phụt lửa bay lên trên bầu trời? Liệu có khả năng người Nefilim đã nhìn thấy, chạm trán và thậm chí bắt một vài con linh trưởng thú vị này?

Việc người Nefilim gặp gỡ những loài khỉ giống người này được thể hiện trong một số ghi chép thời cổ đại. Một câu chuyện của người Sumer về thời kỳ sơ khai kể rằng:

Khi Con người được tạo ra,

Họ chưa biết cách ăn bánh mỳ,

Không biết cách mặc quần áo;

Họ ăn cây cỏ giống như loài cừu;

Uống nước trong mương rãnh.

Loài “người” giống động vật này cũng được mô tả trong “Sử thi Gilgamesh”. Thiên sử thi này kể về hình dáng của Enkidu, “người” được “sinh ra trên thảo nguyên”, trước khi được khai hóa:

Toàn bộ cơ thể của anh ta phủ đầy lông lá,

tóc trên đầu dài như phụ nữ…

Anh ta không có ý niệm về dân tộc và xứ sở;

Trang phục của anh ta hòa vào đồng cỏ xanh;

Anh ta gặm cỏ cùng bầy linh dương;

Anh ta chen lấn với những con thú hoang

ở nơi uống nước;

Đầm mình với những sinh vật khác trong làn nước

thỏa thuê tận hưởng.

Câu chuyện này của người Akkad không chỉ mô tả về một con người mang hình hài động vật mà còn kể về cuộc chạm trán của họ với một sinh vật như vậy:

Giờ thì một thợ săn đi đặt bẫy

chạm trán anh ta tại dòng suối.

Khi người thợ săn nhìn thấy anh ta,

gương mặt anh ta trở nên lạnh lùng…

Tâm can người thợ săn rối loạn, gương mặt u ám,

vì nỗi sợ hãi cuộn lên trong lòng.

Đây không chỉ đơn thuần là nỗi sợ hãi sau khi người thợ săn nhìn thấy “kẻ hoang dã”, “gã đồng loại man di ở sâu trong thảo nguyên” này; bởi vì “kẻ man di” này cũng đã can thiệp vào cuộc săn của người thợ săn:

Anh ta lấp lại những hố bẫy mà tôi đã đào,

anh ta gỡ những chiếc bẫy mà tôi đã cài;

anh ta khiến những con thú và loài vật trên thảo nguyên

vuột khỏi tay tôi.

Bức tranh mô tả sinh vật nửa người nửa khỉ này rất rõ ràng: tóc tai rậm rạp, lông lá, một kẻ lang thang “không biết gì về dân tộc và xứ sở”, mặc trang phục bằng lá cây “giống như đồng cỏ xanh”, gặm cỏ và sống chen chúc giữa các loài vật. Tuy nhiên anh ta không phải là kẻ không có trí thông minh, bởi vì anh ta biết cách gỡ bỏ những chiếc bẫy cài và lấp những hố bẫy thú. Nói cách khác, anh ta bảo vệ những người bạn động vật của mình khỏi những người thợ săn xa lạ. Người ta đã tìm thấy nhiều con dấu lăn khắc họa hình ảnh loài khỉ hình người lông lá này giữa những bạn bè động vật của mình. (Hình 149)

Sau đó, khi phải đối mặt với nhu cầu về nhân lực và quyết tâm tạo ra Nhân công Nguyên thủy, thì người Nefilim đã tìm ra một giải pháp sẵn có: thuần hóa một loài vật thích hợp.

“Loài vật” này đã có sẵn nhưng có một vấn đề nảy sinh đối với người Homo erectus. Đầu tiên, loài vật này quá thông minh và hoang dã để có thể trở thành một loài vật lao động thuần túy giản đơn. Mặt khác, cấu tạo cơ thể của loài này cần phải thay đổi – chúng phải có khả năng cầm nắm và sử dụng công cụ của người Nefilim, đi lại và cúi xuống được để thay thế các vị thần cáng đáng công việc đồng áng và khai mỏ. Chúng cũng cần có “bộ não” thông minh hơn – tuy không cần giống y hệt như não bộ các vị thần nhưng phải đủ để hiểu được lời nói và mệnh lệnh cũng như những nhiệm vụ được phân công. Chúng cần có sự hiểu biết sơ khai để trở thành một amelu – đầy tớ biết vâng lời và hữu dụng.

Nếu đúng như các bằng chứng cổ đại và khoa học đương đại mô tả rằng sự sống trên Trái đất bắt nguồn từ sự sống trên Hành tinh thứ Mười hai thì quá trình tiến hóa trên Trái đất phải diễn ra giống như trên Hành tinh thứ Mười hai. Đương nhiên, 2 sự sống này có những đột biến, biến dị, những hiện tượng phát triển nhanh và chậm khác nhau do các điều kiện cục bộ gây ra; nhưng chúng có cùng loại mã gen, cùng “hóa chất sự sống” giống như tất cả các động thực vật trên Trái đất, chính việc này định hướng cho sự phát triển của các dạng sống trên Trái đất theo đúng quy trình chung đã diễn ra trên Hành tinh thứ Mười hai.

Sau khi quan sát các dạng sống khác nhau trên Trái đất, người Nefilim và Ea, nhà khoa học hàng đầu của họ không mất nhiều thời gian để nhận ra rằng trong vụ va chạm giữa các thiên thể, hành tinh của họ đã gieo mầm sự sống xuống Trái đất. Bởi vậy, loài khỉ hình người đang sinh sống ở đây thực sự giống như người Nefilim tuy rằng ít tiến hóa hơn.

Quy trình thuần hóa dần dần qua nhiều thế hệ bằng cách tuyển chọn, thuần hóa và chăn nuôi không phát huy được tác dụng. Thứ họ cần ở đây là một quy trình nhanh chóng, một quy trình cho phép “sản xuất hàng loạt” những nhân công mới. Công việc này được giao cho Ea, người đã ngay lập tức đưa ra giải pháp “in dấu” hình ảnh của các vị thần lên những sinh vật đang tồn tại.

Chúng tôi tin rằng quy trình mà Ea đưa ra để đạt được thành tựu tiến hóa nhanh chóng cho loài Homo erectus chính là quy trình can thiệp gen.

Hiện nay nhờ bộ mã gen chúng ta có thể tiến hành quy trình sinh học phức tạp trong đó một cơ thể sống tự tiến hành sinh sản tạo ra thế hệ con cái giống bố mẹ. Tất cả các cơ thể sống – từ loài giun kim, cây dương xỉ cho đến Con người – đều chứa đựng trong tế bào của mình các nhiễm sắc thể, những cấu trúc hình que cực kỳ nhỏ bé chứa đựng những thông tin di truyền hoàn chỉnh cho cơ thể sống đó. Khi tế bào giống đực (phấn hoa, tinh trùng) thụ thai với tế bào giống cái, 2 bộ nhiễm sắc thể kết hợp lại với nhau và sau đó phân chia thành các tế bào mới giữ nguyên những đặc tính di truyền của các tế bào bố mẹ.

Hiện nay người ta đã có thể tiến hành thụ tinh nhân tạo, ngay cả với trứng của con người. Thử thách thực sự nằm ở việc thụ tinh chéo giữa các họ khác nhau trong cùng một loài và thậm chí là giữa các loài khác nhau. Khoa học đương đại đã tiến được một bước dài từ việc phát triển những giống ngô lai đầu tiên, hay việc lai tạo giữa chó Alaska với chó sói, hay việc “sáng tạo” ra loài la (kết quả của việc thụ tinh nhân tạo giữa ngựa cái với lừa đực) cho tới khả năng can thiệp vào quá trình sinh sản của Con người.

Quy trình nhân bản vô tính (có từ gốc trong tiếng Hy Lạp là klon – “chồi”) áp dụng trên động vật theo nguyên tắc tương tự như việc cắt lát thân cây để nhân giống cây con. Kỹ thuật áp dụng trên động vật này được thực hiện lần đầu tiên ở Anh, khi Tiến sỹ John Gurdon thay thế nhân của một quả trứng ếch đã được thụ tinh bằng nhân một tế bào khác của con ếch đó. Việc những con nòng nọc nở ra thành công chứng tỏ rằng trứng ếch vẫn tiếp tục phát triển và phân chia để tạo thành nòng nọc bất kể nó nhận được bộ nhiễm sắc thể phù hợp từ đâu.

Các báo cáo thí nghiệm do Viện Xã hội, Đạo đức và Khoa học Sự sống tại Hastings-on-Hudson chỉ ra rằng chúng ta đã có những kỹ thuật cần thiết để tiến hành nhân bản vô tính người. Hiện nay người ta đã có thể lấy được nhân của bất kỳ tế bào nào trong cơ thể người (không nhất thiết phải là tế bào của cơ quan sinh sản) và bằng cách cấy 23 bộ nhiễm sắc thể hoàn chỉnh vào trứng của người phụ nữ nhằm thụ thai và sinh ra một cá thể “định trước”. Trong điều kiện thụ thai bình thường, các bộ nhiễm sắc thể “bố” và “mẹ” trộn lẫn với nhau và sau đó phân chia để duy trì mức 23 cặp nhiễm sắc thể, hiện tượng này dẫn đến những sự kết hợp ngẫu nhiên. Nhưng trong kỹ thuật sinh sản vô tính, cá thể con là một bản sao y hệt của nguồn nhiễm sắc thể không phân chia. Tiến sỹ W. Gaylin chia sẻ trên tờ New York Times rằng chúng ta đã sở hữu “thành tựu diệu kỳ có khả năng tạo ra những bản sao Con người chính xác” – vô số những Hitler, Mozart hay Einstein (nếu chúng ta vẫn còn giữ được nhân tế bào của họ).

Nhưng công nghệ kiến tạo di truyền không chỉ giới hạn trong một phương pháp. Các nhà nghiên cứu trên nhiều quốc gia đã hoàn thiện một quy trình gọi là “hợp nhất tế bào” giúp ta có khả năng hợp nhất các tế bào lại với nhau thay vì kết hợp các nhiễm sắc thể trong cùng một tế bào. Kết quả của quy trình này là các tế bào từ nhiều nguồn khác nhau có thể được hợp nhất thành một “siêu tế bào” có 2 nhân bên trong và 2 bộ nhiễm sắc thể theo cặp. Khi tế bào này phân chia, hỗn hợp giữa nhân tế bào và nhiễm sắc thể sẽ phân chia thành các mẫu vật khác với mẫu vật nguyên bản của từng tế bào trước khi hợp nhất. Kết quả thu được có thể là 2 tế bào mới hoàn chỉnh về mặt di truyền, nhưng mỗi tế bào có một bộ mã gen hoàn toàn mới và hoàn toàn khác so với các tế bào ban đầu.

Điều này có nghĩa là những tế bào của các cơ thể sống từ trước đến nay vốn được coi là không tương thích – ví dụ, tế bào của một con gà và một con chuột – có thể được hợp nhất lại để tạo thành những tế bào mới với những đặc điểm di truyền hoàn toàn mới, từ đó tạo ra những loài động vật mới không phải là gà cũng không phải là chuột như chúng ta vẫn thấy. Nếu được tinh lọc thêm, quá trình này cũng có thể giúp ta lựa chọn những đặc điểm theo ý muốn của một dạng sống để đưa vào trong tế bào kết hợp hay “hợp nhất” này.

Điều này đã dẫn tới sự phát triển của lĩnh vực “cấy ghép di truyền” rộng lớn. Con người hoàn toàn có thể lựa chọn một gen nhất định từ loài vi khuẩn nhất định và cấy gen đó vào một tế bào của động vật hay của con người để bổ sung thêm đặc tính mới cho cá thể con.

Giả sử, thời kỳ này người Nefilim – những người đã thực hiện các chuyến du hành vũ trụ cách đây 450.000 năm – cũng có trình độ phát triển tương đương như chúng ta hiện nay trong lĩnh vực các ngành khoa học sự sống (life sciences), liệu họ có biết kết hợp 2 bộ nhiễm sắc thể theo ý muốn để tạo ra kết quả di truyền định trước theo nhiều cách khác nhau; và liệu quy trình này có giống với quy trình nhân bản vô tính, hợp nhất tế bào, cấy ghép di truyền hoặc các phương pháp chúng ta chưa biết tới hay không để có thể tiến hành kỹ thuật nhân bản không chỉ trong bình thí nghiệm mà còn trên cả các cơ thể sống.

Chúng tôi tìm thấy một tư liệu về sự pha trộn 2 nguồn sống trong các ghi chép cổ. Theo sử gia Berossus, vị thần Belus (“Chúa tể”) – hay còn được gọi là Deus (“Thần”) – đã cho ra đời “những sinh vật gớm guốc được tạo ra theo nguyên tắc nửa nọ nửa kia”:

Những sinh vật ra đời với 2 cái cánh, một số có 2 hoặc 4 khuôn mặt. Chúng chỉ có một thân nhưng 2 đầu, một đầu là nam, một đầu là nữ. Tương tự, một số bộ phận trên cơ thể chúng cũng nửa nam nửa nữ.

Người ta nhìn thấy những sinh vật có phần thân người với chân và sừng dê. Một số có chân ngựa, số khác có thân dưới là ngựa, còn thân trên là hình người – nhân mã. Những con bò cũng được sinh ra với đầu người; chó có 4 chân kèm đuôi cá; ngựa đầu chó, người và các loài động vật khác có đầu và thân ngựa, đuôi cá. Tóm lại, ở đó hầu hết các sinh vật đều có một số bộ phận của những loài động vật khác nhau…

Hình vẽ của tất cả những sinh vật này được lưu giữ tại đền thờ Belus ở Babylon.

***

Những chi tiết đầy rắc rối trong câu chuyện này có thể chứa đựng một sự thật quan trọng. Có thể, trước khi dùng đến phương sách tạo ra loài sinh vật giống mình, người Nefilim đã thử tiến hành “sản xuất nô bộc” bằng cách thực hiện nhiều phương án khác nhau: tạo ra loài động vật lai giữa khỉ-người-động vật. Một số sinh vật nhân tạo này có thể sống được một thời gian nhưng hiển nhiên không thể sinh sản được. Loài nhân ngưu và nhân sư đầy bí ẩn được trang trí trong các ngôi đền ở vùng Cận Đông cổ đại có thể không chỉ là những sản phẩm tưởng tượng của người nghệ sỹ mà là các sinh vật có thực bước ra từ phòng thí nghiệm sinh học của người Nefilim – những thí nghiệm thất bại được ghi nhận bằng hội họa và điêu khắc. (Hình 150)

images
Hình 150

Các ghi chép của người Sumer cũng kể về những sinh vật dị dạng do Enki và Nữ thần Mẹ (Ninhursag) tạo ra trong quá trình nỗ lực làm ra một Nhân công Nguyên thủy hoàn hảo. Một bản ghi chép kể rằng Ninhursag, vị thần có nhiệm vụ “áp khuôn mẫu của các vị thần lên hỗn hợp”, đã say rượu và “gọi tên Enki”:

“Cơ thể Con người tốt xấu thế nào rồi?

Trái tim ta mách bảo rằng,

Ta có thể làm cho số phận nó tốt hay xấu.”

Sau đó, kết quả không như ý muốn nhưng là một phần tất yếu của phương pháp thử sai – Ninhursag đã tạo ra một người đàn ông không thể kiểm soát được khả năng tiểu tiện của mình, một người đàn bà không thể có con, một sinh vật có những bộ phận chẳng phải là nam cũng không phải là nữ. Ninhursag đã cho ra đời tổng cộng 6 người dị dạng hoặc khuyết tật. Enki cũng sáng tạo không thành công một người đàn ông với đôi mắt hỏng, bàn tay run rẩy, lá gan ốm yếu, trái tim bệnh tật; người thứ hai với những bệnh tật của tuổi già, v.v…

Nhưng cuối cùng họ cũng tạo ra được Con người hoàn hảo – con người mà Enki đặt tên là Adapa; Kinh thánh gọi là Adam; còn các chuyên gia của chúng ta gọi là Homo sapiens. Sinh vật này giống các vị thần đến mức một bản ghi chép cổ còn sót lại chỉ ra rằng Nữ thần Mẹ đã trao cho sản phẩm sáng tạo của mình, Con người, “làn da như các vị thần” – một cơ thể láng mịn, khác hoàn toàn so với loài khỉ.

Với sản phẩm cuối cùng này, người Nefilim giờ đây đã tương thích về mặt di truyền với con gái của Loài người và có thể kết hôn rồi sinh con đẻ cái cùng với họ. Nhưng sự tương thích này chỉ tồn tại nếu Loài người phát triển từ cùng một loại gen hay “mầm mống sự sống” như người Nefilim. Và điều này đã được các ghi chép cổ đại xác thực.

Theo quan niệm của người Mesopotamia cũng như trong Kinh thánh, Con người được tạo thành từ hỗn hợp giữa một nguyên tố thần thánh – máu hoặc “tinh hoa” của một vị thần – với “đất sét” của Trái đất. Thực tế, thuật ngữ lulu vừa có nghĩa là “Con người” vừa mang nghĩa “nguyên thủy” và “kẻ được nhào nặn”. Khi được yêu cầu nặn ra một con người, Nữ thần Mẹ đã “rửa tay, véo một cục đất sét, nhào nặn và đặt nó trong thảo nguyên”. (Thật thú vị khi biết rằng vị nữ thần này cũng giữ các nguyên tắc vệ sinh thể hiện qua việc “rửa tay” trước khi thực hiện nhiệm vụ. Chúng tôi cũng thấy các quy trình và biện pháp lâm sàng này trong nhiều bản ghi chép về sự sáng tạo ra con người khác.)

Việc sử dụng “đất sét” của Trái đất trộn với “máu” của thần linh để tạo ra nguyên mẫu của Con người được khẳng định chắc chắn trong các ghi chép của người Mesopotamia. Một ghi chép đề cập đến việc Enki được triệu tập để “truyền lại một công trình Trí tuệ nào đó” – công trình tri thức khoa học – với nội dung rằng Enki không gặp khó khăn gì với nhiệm vụ “nặn ra những kẻ nô bộc cho các vị thần”. Ngài tuyên bố: “Ta có thể làm được!”. Sau đó ngài hướng dẫn cho Nữ thần Mẹ:

“Nhào nặn phần cốt bằng đất sét

lấy từ Mặt đất,

ngay phía trên Abzu

và nặn nó thành hình cốt.

Ta sẽ cử những vị thần trẻ tuổi giỏi giang

chuyển cục đất sét vào điều kiện phù hợp”.

Chương 2 của Sáng Thế Ký cũng đề cập đến quy trình kỹ

thuật này:

Và Ðức Giê-hô-va, Elohim, nặn ra Adam,

từ đất sét trên mặt đất;

và Ngài thổi sinh khí vào lỗ mũi của chàng,

biến Adam thành một Linh hồn sống.

Trong tiếng Hebrew, nephesh thường được dịch ra là “linh hồn”, một loại “tinh thần” khó nắm bắt tạo sinh khí cho sinh vật sống và mất đi khi sinh vật đó chết. Thật trùng hợp, năm cuốn Kinh Cựu ước đầu tiên (Pentateuch) không ngừng hô hào chống lại sự đổ máu của con người và việc ăn uống máu động vật “bởi vì máu là nephesh”. Như vậy, các câu chuyện về sáng tạo Loài người trong Kinh thánh đã đánh đồng nephesh (“tinh thần”, “linh hồn”) với máu.

Kinh Cựu ước cũng đưa ra một dẫn chứng khác về vai trò của máu trong quá trình sáng tạo Loài người. Thuật ngữ adama (tên Adam được đặt theo thuật ngữ này) có nghĩa gốc không phải là bất cứ loại đất nào mà là đất màu đỏ thẫm. Giống như thuật ngữ tương đương adamatu (“đất đỏ thẫm”) trong tiếng Akkad, thuật ngữ adama trong tiếng Hebrew và danh từ chỉ màu đỏ trong tiếng Hebrew (adom) đều bắt nguồn từ các từ chỉ máu: adamu, dam. Việc gọi tên sinh vật được Đức Chúa tạo ra là “Adam” trong cuốn Sáng Thế Ký chính là việc vận dụng hiện tượng đa nghĩa này trong ngôn ngữ Sumer. Từ “Adam” vừa có nghĩa là “con người của cát bụi” (Người trần), “con người được làm từ đất màu đỏ thẫm”, và “con người được làm từ máu”.

Mối quan hệ tương tự giữa thành phần cơ bản của các sinh vật sống và máu cũng được thể hiện trong các câu chuyện về sự sáng tạo ra Con người của người Mesopotamia. Ngôi nhà giống như bệnh viện nơi Ea và Nữ thần Mẹ tạo ra Con người được gọi là Ngôi nhà Shimti; đa phần các chuyên gia dịch từ này thành “ngôi nhà nơi quyết định các số phận”. Nhưng thuật ngữ Shimti lại có nguồn gốc rõ ràng từ thuật ngữ SHI.IM.TI trong tiếng Sumer, được dịch nghĩa theo âm tiết là “hơi thở-gió-sự sống”. Bit Shimti có nghĩa đen là “ngôi nhà nơi ngọn gió sự sống được thổi vào”. Đây cũng là ý tưởng được thể hiện trong Kinh thánh.

Trong thực tế, từ Akkad được sử dụng trong tiếng Mesopotamia để dịch nghĩa từ SHI.IM.TI của người Sumer là napishtu – chính là từ tương đương với thuật ngữ nephesh trong Kinh thánh. Và nephesh hay napishtu này là một “thứ gì đó” rất mơ hồ có ở trong máu.

Trong khi Kinh Cựu ước chỉ đưa ra được những dẫn chứng sơ sài thì các ghi chép của người Mesopotamia lại trình bày chủ đề này khá rõ ràng. Các ghi chép cổ còn sót lại không những khẳng định rằng máu là yếu tố cần thiết cho quá trình nhào nặn hỗn hợp đất sét-máu thành Con người mà còn chỉ rõ rằng đó phải là máu của một vị thần, dòng máu thần thánh.

Khi các vị thần quyết định tạo ra Con người, vị thần đứng đầu tuyên bố: “Ta sẽ thu thập máu để biến xương cốt thành sinh vật”. Cho rằng dòng máu này phải được lấy ra từ một vị thần cụ thể, Ea lên tiếng: “Hãy để những sinh vật nguyên thủy đó được nhào nặn theo khuôn mẫu của vị thần này”. Sau khi lựa chọn được vị thần theo ý muốn,

Từ dòng máu của ngài họ nặn nên Con người;

đặt lên vai nó gánh nặng công việc nhằm giải phóng các vị thần…

Đó là một công việc vượt xa tầm hiểu biết.

Theo thiên sử thi “When the gods as men”, các vị thần đã triệu tập Nữ thần Sinh sản (Nữ thần Mẹ, Ninhursag) và yêu cầu bà thực hiện nhiệm vụ:

Khi Nữ thần Sinh sản có mặt

Hãy để Nữ thần nặn ra một đứa con.

Trong khi Mẹ của các vị Thần có mặt,

Hãy để Nữ thần nặn ra Lulu;

Hãy để nhân công này đảm đương gánh nặng công việc cho các

vị thần.

Hãy để bà tạo ra một Lulu Amelu,

Hãy để hắn mang trên vai gánh nặng.

Trong một ghi chép tương tự của người Babylon cổ có tên “Nữ thần Mẹ tạo ra Con người”, các vị thần triệu tập “Bà mụ của các vị thần, Mami thông thái” và bảo bà:

Mẹ Sinh sản

Người có khả năng tạo ra Con người.

Vậy hãy tạo ra Lulu, để hắn mang lấy gánh nặng!

Đến đây, thiên sử thi “When the gods as men” và các ghi chép tương tự khác đều hướng tới mô tả chi tiết quá trình sáng tạo Con người. Sau khi nhận lời thực hiện “công việc” này, vị nữ thần này (NIN.TI – “nữ thần mang lại sự sống”) đưa ra một số yêu cầu, trong đó có một số hóa chất như “bitum của vùng Abzu” được dùng để “tẩy rửa” và “đất sét của vùng Abzu”.

Dù các nguyên liệu này là gì đi nữa thì Ea cũng không mấy khó khăn để đáp ứng được các yêu cầu này; sau khi chấp thuận, ngài phán:

“Ta sẽ chuẩn bị một bồn tẩy rửa.

Hãy lấy máu của một vị thần…

Từ máu thịt của vị thần này,

hãy để Ninti nhào trộn với đất sét.”

Để tạo hình một con người từ phần đất sét đã nhào trộn, cần phải có sự trợ giúp của một số trợ lý nữ và cần phải trải qua các giai đoạn mang thai và sinh nở. Enki đề nghị giao công việc này cho vợ mình:

Ninki, phu nhân của ta,

sẽ là người phụ trách việc đó.

7 nữ thần Sinh sản

sẽ ở bên để giúp đỡ nàng.

Sau giai đoạn nhào trộn “máu” với “đất sét”, thì giai đoạn sinh nở sẽ hoàn tất việc trao “dấu ấn” thần linh lên sinh vật đó.

Các vị thần sẽ tuyên bố số phận của đứa trẻ mới sinh;

Ninki sẽ định hình ảnh của các vị thần lên nó;

Và nó sẽ trở thành “Con người”.

Các bức họa trên con dấu của người Assyria có thể nhằm mục đích minh họa cho các ghi chép này bằng việc thể hiện Nữ thần Mẹ (với biểu tượng là chiếc kéo cắt dây rốn) và Ea (biểu tượng hình trăng lưỡi liềm) đang chuẩn bị các hỗn hợp, xướng các câu thần chú, hối thúc nhau tiến hành công việc. (Hình 151, 152)
images
Hình 151

images
Hình 152

Vai trò tham gia của Ninki, vợ Enki trong quá trình sáng tạo ra mẫu vật Con người thành công đầu tiên này khiến cho ta nhớ đến câu chuyện về Adapa ở chương trước:

Trong những năm tháng đó,

Ea, Đấng Thông thái của Eridu,

tạo ra chàng ta là hình mẫu của con người.

Các chuyên gia đã phát hiện ra rất nhiều tư liệu thể hiện Adapa là “con trai” của Ea, điều này chứng tỏ rằng thần Ea yêu quý con người này đến mức ngài đã nhận chàng làm con nuôi. Nhưng trong bản ghi chép khác Anu lại gọi Adapa là “đứa con loài người của Enki”. Dường như việc vợ Enki “mang nặng đẻ đau” Adapa hay “Adam hình mẫu” đã hình thành nên mối quan hệ phả hệ bền chặt giữa Con người mới được tạo ra này và vị thần mẹ của mình!

Ninti chúc phúc cho đứa trẻ mới ra đời và đưa nó đến trước mặt Ea. Một số con dấu lăn thể hiện cảnh một vị nữ thần đứng bên cạnh Cây Trường sinh và những bình thí nghiệm đang giữ một đứa trẻ sơ sinh trên tay. (Hình 153)

Sinh vật vừa được tạo ra và thường được nhắc tới như là “Con người hình mẫu” hay “khuôn mẫu” trong các ghi chép của người Mesopotamia này rõ ràng là một sinh vật chuẩn mực và phù hợp, bởi sau đó, các vị thần đã yêu cầu tiếp tục tạo ra các bản sao của nó. Chi tiết dường như không mấy quan trọng này không chỉ làm sáng tỏ quy trình “tạo ra” con người mà còn lý giải cho những thông tin trái ngược trong Kinh thánh.

Chương đầu tiên của Sáng Thế Ký viết rằng:

Elohim sáng tạo con người theo hình ảnh mình,

Ngài sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa,

Ngài sáng tạo con người có nam có nữ.

Còn Chương 5, hay còn được gọi là Sách Phả hệ của Adam, lại viết rằng:

Ngày Elohim tạo ra Adam,

giống hệt Elohim.

Ngài tạo con người có nam có nữ,

Ngài ban phước lành cho họ

và đặt tên cho họ là “Adam”.

Cùng một lúc, chúng ta thấy Thiên Chúa tạo ra một sinh vật duy nhất là “Adam” theo khuôn mẫu của ngài và rồi lại thấy một nam một nữ được tạo ra đồng thời. Nghịch lý này được khắc sâu hơn trong chương 2 của cuốn Sáng Thế Ký, với nội dung cụ thể rằng Adam chỉ có một mình trong một thời gian cho đến khi Thiên Chúa khiến chàng ngủ thiếp đi và tạo ra đàn bà từ xương sườn của chàng.

Nghịch lý vốn làm đau đầu các chuyên gia và các nhà thần học này sẽ được xóa bỏ khi chúng ta nhận ra rằng Kinh thánh là một bản rút gọn từ các tư liệu có nguồn gốc Sumer. Những nguồn tư liệu này cho ta biết rằng sau khi tìm cách tạo ra một Nhân công Nguyên thủy bằng cách “pha trộn” khỉ hình người với các loài động vật khác, thì các vị thần rút ra kết luận rằng cách pha trộn giữa khỉ hình người với chính người Nefilim có hiệu quả nhất. Sau vài nỗ lực bất thành, một “mẫu hình” – Adapa/Adam – được tạo ra. Ban đầu chỉ có duy nhất một Adam.

Sau khi Adapa/Adam chứng tỏ được mình là sinh vật phù hợp, chàng được sử dụng làm “mẫu hình” di truyền hay “khuôn mẫu” để tạo ra các bản sao khác và các bản sao này không đơn thuần chỉ là đàn ông mà có cả đàn bà. Như chúng tôi đã chỉ ra, “chiếc xương sườn” tạo ra Đàn bà trong Kinh thánh chính là một phép chơi chữ từ chữ TI (“xương sườn” và “sự sống”) trong tiếng Sumer – chứng tỏ Eve được tạo ra từ “tinh chất sự sống” của Adam.

Các ghi chép của người Mesopotamia kể cho chúng ta nghe về trường hợp “mắt thấy tai nghe” quy trình sản xuất các bản sao của Adam.

Người ta tuân thủ theo các chỉ dẫn của Enki. Trong Ngôi nhà Shimti – nơi hơi thở của sự sống được “thổi vào” – Enki, Nữ thần Mẹ và 14 nữ thần sinh sản khác tập hợp lại. Họ lấy ra “tinh chất” của một vị thần, chuẩn bị “bồn tắm tẩy rửa”. “Ea cùng với bà rửa sạch đất sét; ngài không ngừng xướng lên câu thần chú”.

Ea, vị thần tẩy rửa cho Napishtu cất tiếng.

Ngồi trước mặt bà, ngài chỉ dẫn cho bà.

Sau khi xướng lên câu thần chú,

Bà đặt tay mình lên đống đất sét.

Giờ thì chúng tôi đã được bật mí về quy trình sản xuất Con người hàng loạt khá chi tiết này. Với sự tham gia của 14 vị nữ thần sinh sản,

Ninti véo ra 14 mẩu đất sét;

Bà đặt 7 mẩu phía bên phải,

7 mẩu bà đặt phía bên trái.

Ở chính giữa bà đặt cái nôi.

…lông tóc bà…

…cái kéo cắt cuống rốn.

Rõ ràng là những vị nữ thần sinh sản này được chia thành 2 nhóm. “2 nhóm, mỗi nhóm 7 nữ thần thông thái và uyên bác có mặt”, bản ghi chép này tiếp tục giải thích. Nữ thần Mẹ đặt vào trong tử cung của họ lần lượt những phần “đất sét đã được nhào trộn”. Có thể đã có một cuộc phẫu thuật bởi lông tóc được cạo đi và dụng cụ phẫu thuật là chiếc kéo đã sẵn sàng. Giờ họ không phải làm gì ngoài việc chờ đợi:

Các nữ thần sinh sản được giữ lại gần nhau.

Ninti ngồi đếm các tháng trôi qua.

Tháng thứ mười định mệnh đang đến gần;

Tháng thứ mười cuối cùng cũng đã đến;

Thời kỳ mở tử cung đã trôi qua.

Mặt bà sáng bừng:

Bà trùm đầu, thực hiện công việc bà đỡ.

Bà vòng tay quanh bụng, miệng ban lời cầu phúc.

Bà tạo hình hài; nằm trong nôi là sự sống.

Dường như hiện tượng sinh muộn khiến quá trình tạo ra Con người trở nên kịch tính hơn. “Hỗn hợp” giữa “đất sét” và “máu” được sử dụng để thụ thai cho 14 vị nữ thần sinh sản. Nhưng 9 tháng trôi qua và tháng thứ mười đã tới. “Thời kỳ mở tử cung đã trôi qua.” Hiểu được tình thế lúc đó, Nữ thần Mẹ “thực hiện công việc bà đỡ” – thực hiện phẫu thuật để đưa em bé ra, điều này được thể hiện rõ ràng hơn trong một bản ghi chép tương tự (tuy có một số phần bị mất):

Ninti…đếm số tháng…

Đếm đến tháng thứ mười định mệnh;

Bà Đỡ đã đến.

Với cái… bà mở tử cung ra.

Mặt bà rạng ngời hân hoan.

Đầu của bà được trùm lại;

… thực hiện một cuộc mổ mở;

lấy ra … từ tử cung.

Ngập tràn niềm hân hoan, vị Nữ thần Mẹ này kêu lên.

“Ta đã tạo ra!

Bàn tay ta đã làm được!”

***

Quá trình tạo ra con người được hoàn tất như thế nào?

Thiên sử thi “When the gods as men” có một đoạn giải thích tại sao “máu” của một vị thần phải được trộn với “đất sét”. Yếu tố “thần thánh” ở đây không còn đơn thuần là yếu tố huyết thống của một vị thần nữa mà là điều gì đó cơ bản và bền vững hơn. Vị thần được lựa chọn là TE.E.MA – thuật ngữ mà các nhà nghiên cứu hàng đầu (W. G. Lambert và A. R. Millard thuộc Đại học Oxford) dịch là “nhân tính”. Nhưng ý nghĩa của thuật ngữ cổ xưa này cụ thể hơn nhiều với nghĩa đen là “thứ chứa đựng những kết nối ký ức”. Thêm nữa, thuật ngữ tương tự trong dị bản của người Akkad là etemu, được dịch là “tinh thần”.

Cả 2 trường hợp này đều đề cập đến “thứ gì đó” có liên quan đến máu của vị thần và chứa đựng những đặc tính cá nhân của vị thần đó. Chúng tôi tin chắc rằng đây là cách nói vòng vo nhằm khẳng định những gì mà Ea đang tìm kiếm khi ngài đưa máu của vị thần qua một loạt các “bồn tẩy rửa” chính là gen của vị thần này.

Mục đích của việc trộn lẫn “yếu tố thần linh” này với đất sét cũng được trình bày trong một ghi chép cổ như sau:

Trong đất sét, thần linh và Con người hòa quyện,

thành một thực thể thống nhất;

Để đến ngày cuối cùng

Xác thịt và Linh hồn

chín muồi trong hình hài một vị thần

Linh hồn hòa quyện trong mối quan hệ máu mủ;

Khi dấu hiệu sự sống của nó xuất hiện.

Để điều này không rơi vào quên lãng,

Hãy để “Linh hồn” hòa quyện trong mối quan hệ máu mủ.

Các chuyên gia cũng chưa thể hiểu hết được ý nghĩa của những ngôn từ mạnh mẽ này. Đoạn ghi chép mô tả việc máu của vị thần được trộn lẫn với đất sét để thần linh và Con người gắn kết lại với nhau về mặt di truyền “cho đến ngày cuối cùng” để cả xác thịt và linh hồn của các vị thần được in dấu lên Con người thông qua mối qua hệ máu mủ không bao giờ bị chia lìa.

Thiên sử thi Gilgamesh kể rằng khi các vị thần quyết định tạo ra một bản sao của á thần Gilgamesh, Nữ thần Mẹ đã trộn “đất sét” với “tinh chất” của thần Ninurta. Trong phần sau của sử thi này, sức mạnh phi thường của Enkidu được truyền cho thần qua “tinh chất của Anu” mà thần có trong người, một yếu tố mà thần có được từ Ninurta, cháu trai của Anu.

Thuật ngữ kisir của người Akkad chỉ một loại “tinh chất”, một “chất cô đặc” mà các vị thần trên Thiên đường có được. E. Ebeling đã tổng kết những nỗ lực tìm hiểu ý nghĩa đích thực của từ kisir bằng cách khẳng định rằng “Tinh chất, hay một số sắc thái của thuật ngữ này đều có thể vận dụng để chỉ các vị thần cũng như những tên lửa từ trên Thiên đường.” E. A. Speiser nhất trí rằng thuật ngữ này cũng ám chỉ “thứ gì đó từ trên Thiên đường xuống”. Chúng tôi trở lại với cách dịch đơn giản chỉ một từ duy nhất: gen.

Các bằng chứng trong những ghi chép cổ đại của cả người Mesopotamia lẫn Kinh thánh đều cho ta thấy rằng quy trình trộn lẫn 2 bộ gen thần linh và người Homo erectus được thể hiện qua việc sử dụng yếu tố thần linh là gen giống đực và đất sét là gen giống cái.

Với việc liên tục khẳng định rằng Thiên Chúa sáng tạo ra Adam theo hình ảnh của ngài và giống như ngài, sau đó cuốn Sáng Thế Ký mô tả sự ra đời của con trai Adam là Seth như sau:

Adam sống được 130 năm,

và có một con trai

theo hình ảnh ngài và giống hệt ngài;

và ngài gọi nó là Seth.

Hệ thống thuật ngữ chuyên biệt đã được vận dụng tối đa để mô tả về quá trình Thiên Chúa sáng tạo ra Adam. Nhưng ắt hẳn Seth được Adam sinh ra bằng quy trình sinh học – tinh trùng của Adam thụ tinh với trứng, sau đó là thụ thai, mang thai và sinh nở. Thuật ngữ tương tự thể hiện quy trình tương tự, vậy thì rất có thể Adam cũng được Thiên Chúa tạo ra bằng một quy trình thụ tinh trứng với tinh trùng của một vị thần.

Nếu như “đất sét” được sử dụng để trộn lẫn với yếu tố thần linh này là một yếu tố thuộc mặt đất theo như tất cả các ghi chép đề cập thì chúng ta chỉ có thể đưa ra kết luận duy nhất là tinh trùng của một vị thần – vật chất di truyền của vị thần này – đã được kết hợp với trứng của một con khỉ hình người!

Thuật ngữ tiếng Akkad – tit dùng để chỉ “đất sét” hoặc “đất sét làm khuôn”. Nhưng cách phát âm ban đầu của thuật ngữ này là TI.IT (“thứ đi cùng sự sống”). Trong tiếng Hebrew, tit có nghĩa là “bùn”; nhưng từ đồng nghĩa của nó là bos, có chung nguồn gốc với từ bisa (“đầm lầy”) và besa (“trứng”).

Câu chuyện Sáng tạo Thế giới đầy rẫy những phép chơi chữ. Chúng ta đã chứng kiến trường hợp nghĩa đôi, nghĩa ba của Adam-adama-adamtu-dam. Biệt hiệu của Nữ thần Mẹ, NIN.TI, vừa có nghĩa là “Nữ thần Sự sống” vừa có nghĩa là “Nữ thần Xương sườn”.

Vậy thì tại sao bos-bisa-besa (“đất sét-bùn-trứng”) lại không phải là một phép chơi chữ để chỉ trứng của người phụ nữ?

Trứng của một Homo erectus cái được thụ tinh bằng gen của một vị thần và sau đó được cấy vào trong tử cung của vợ Ea; sau khi có được “khuôn mẫu”, các bản sao của nó được cấy vào trong tử cung của các nữ thần sinh sản khác để họ trải qua quá trình mang thai và sinh đẻ.

Hai nhóm nữ thần sinh sản thông thái và uyên bác

Mỗi nhóm 7 vị được tập hợp lại;

7 người sinh ra con trai,

7 người sinh ra con gái.

Nữ thần Mẹ sinh ra

Ngọn gió mang Hơi thở Sự sống.

Chúng được hoàn thiện theo từng cặp,

Chúng được hoàn thiện theo từng cặp trước mặt bà.

Những sinh vật này là Con người

Những sinh vật của Nữ thần Mẹ.

Người Homo sapiens đã được tạo ra.

Các truyền thuyết và huyền thoại cổ xưa, những thông tin trong Kinh thánh cùng khoa học hiện đại đều có chung tiếng nói trên một phương diện nữa. Giống như các phát hiện của các nhà nhân chủng học đương đại rằng Con người tiến hóa và xuất hiện ở vùng đông nam Phi, các ghi chép của người Mesopotamia cho rằng sự sáng tạo ra con người diễn ra ở Apsu, vùng Âm Phủ nơi có Xứ sở Hầm mỏ. Tương tự như Adapa, “hình mẫu” của Con người, thì “Amama linh thiêng, người phụ nữ của Mặt đất” có cung điện ở Apsu cũng được đề cập đến trong một số ghi chép.

Trong bản ghi chép “Sử thi sáng tạo Con người”, Enki đã đưa ra những chỉ dẫn sau cho Nữ thần Mẹ: “Nhào nặn phần cốt bằng đất sét lấy từ Mặt đất ngay phía trên Abzu”. Một bài hát ca ngợi ơn sáng tạo của Ea, đấng “xây dựng tại Apsu nơi trú ngụ cho mình”, được mở đầu bằng lời ca khẳng định:

Thần Ea ở Apsu

véo một mẩu đất sét,

tạo ra Kulla để khôi phục các đền thờ.

Bài thánh ca này tiếp tục kể tên các chuyên gia xây dựng cũng như những người phụ trách “các sản vật dồi dào của núi và biển”, những người mà rất có thể đã được Ea tạo ra từ những mẩu “đất sét” được véo từ Abzu – Xứ sở Hầm mỏ ở Âm Phủ.

Các ghi chép này cũng đưa ra nhiều cứ liệu chứng minh rằng trong khi Ea xây dựng một ngôi nhà gạch cạnh đầm nước ở Eridu thì ở Abzu ngài cho xây một ngôi nhà trang trí bằng đá quý và bạc. Đây cũng chính là nơi ngài sáng tạo ra sinh vật giống mình, Con người:

Chúa tể của AB.ZU, đức vua Enki…

Xây dựng ngôi nhà của mình bằng bạc và đá xanh;

Bạc và đá xanh với những tia sáng lấp lánh,

Đức Cha dựng nên sự hoàn mỹ ở AB.ZU.

Những Sinh vật với diện mạo sáng lạn,

Ra đời từ AB.ZU,

Tất cả đều đứng quanh Chúa tể Nudimmud.

Từ những ghi chép khác nhau, chúng ta còn có thể kết luận rằng việc tạo ra con người đã gây nên mối bất hòa chia rẽ các vị thần. Dường như lúc đầu những Nhân công Nguyên thủy này chỉ được sử dụng ở Xứ sở Hầm mỏ. Vì vậy, các Anunnaki đang phải lao động ở Sumer không được hưởng lợi từ nguồn nhân lực mới này. Một tư liệu đầy bí ẩn được các chuyên gia đặt tên là “Huyền thoại về chiếc cuốc chim”, thực tế là bản ghi chép những sự kiện đã diễn ra mà nhờ đó các Anunnaki ở Sumer dưới quyền của Enlil đạt được quyền lợi công bằng về vấn đề Người Đầu Đen.

Trong nỗ lực lập lại “trật tự bình thường”, Enlil đã thực hiện một hành động cực đoan nhằm cắt đứt những mối liên hệ giữa “Thiên đường” (Hành tinh thứ Mười hai hoặc tàu mẹ) với Mặt đất và thực hiện một số hành động quyết liệt chống lại nơi “khởi nguồn mầm mống xác thịt”:

Chúa tể,

Điều thích đáng mà ngài sắp mang lại.

Chúa tể Enlil,

Với những quyết định không thể nào thay đổi,

Thực sự thúc đẩy quá trình chia rời Thiên đường khỏi Mặt đất

Để những Kẻ Được tạo ra có thể ra đời;

Thực sự thúc đẩy quá trình chia rời Mặt đất khỏi Thiên đường.

Ngài cắt một vết sâu vào “Kết nối Thiên đường-Mặt đất”

Để những Kẻ Được tạo ra có thể đứng lên

Từ Nơi Khởi nguồn của Xác thịt

Để chống lại “Xứ sở của Cuốc chim và Giỏ đựng”, Enlil đã tạo ra vũ khí kỳ diệu AL.A.NI (“chiếc rìu tạo ra năng lượng”). Vũ khí này có một chiếc “răng” “giống như con bò một sừng” có thể tấn công và phá hủy những bức tường lớn. Theo tất cả các bản miêu tả thì nó là một mũi khoan lớn được gắn trên đầu một phương tiện giống như xe ủi phá tan mọi vật cản phía trước nó:

Ngôi nhà chứa những kẻ nổi loạn chống lại Chúa tể,

Ngôi nhà không phục tùng Chúa tể,

AL.A.NI khiến nó phải quy phục Chúa tể.

Với… tồi, nó nghiền nát các ngọn cây;

Bật tung gốc cây, xé toác thân cây.

Trang bị một “máy xẻ đất” cho vũ khí của mình, Enlil phát động cuộc tấn công:

Chúa tể ra lệnh cho AL.A.NI tiến lên.

Ngài đặt chiếc Máy xẻ đất trên đỉnh của nó,

Và lái nó vào Nơi Khởi nguồn của Xác thịt.

Trong hố là đầu của một người đàn ông;

Từ trên Mặt đất, mọi người đang đột phá

về phía Enlil.

Ngài nhìn những Kẻ Đầu đen với ánh mắt kiên định.

Các Anunnaki đầy cảm kích đã đề đạt nguyện vọng cử các Nhân công Nguyên thủy đến và buộc họ bắt tay ngay vào công việc:

Các Anunnaki bước về phía ngài,

Giơ tay chào đón ngài,

Rót vào tim Enlil những lời thỉnh cầu.

Họ đề nghị ngài cử tới những Kẻ Đầu đen.

Họ giao những chiếc cuốc chim

Cho những Kẻ Đầu đen nắm giữ.

Cuốn Sáng Thế Ký cũng chứa đựng những thông tin rằng “Adam” được tạo ra ở đâu đó thuộc tây Mesopotamia, sau đó được mang tới đông Mesopotamia để làm việc trong Vườn Eden:

Và Đức Giê-hô-va

Trồng một vườn cây ăn quả ở Eden, về phía đông…

Và Ngài đưa Adam tới

Đặt vào vườn Eden

Để cày cấy và canh giữ đất đai.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 13.11.2017, 15:08
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 29 Nữ
Bài viết: 26518
Được thanks: 4603 lần
Điểm: 9.42
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Khoa học tự nhiên] Hành tinh thứ 12 - Zecharia Sitchin - Điểm: 10
CHƯƠNG 13

GIỜ TẬN SỐ CỦA MỌI XÁC PHÀM



Niềm tin bất diệt về một Thời kỳ Vàng nào đó từng tồn tại trong thời tiền sử không thể nào bắt nguồn từ ký ức của Con người, bởi sự kiện này diễn ra đã quá lâu và Con người lúc đó còn quá nguyên sơ để có thể ghi lại bất cứ thông tin xác thực nào cho các thế hệ tương lai. Nếu bằng cách nào đó Con người có tiềm thức tốt đẹp về những ngày xa xưa nhất khi Nhân loại đã trải qua một thời kỳ yên bình và hạnh phúc thì có lẽ là bởi vì Con người không phải được nghe những câu chuyện về thời kỳ do các bậc tiền nhân kể lại mà do chính người Nefilim truyền thụ.

Câu chuyện về Adam và Eve ở Vườn Eden trong Kinh thánh chính là câu chuyện hoàn chỉnh duy nhất về các sự kiện xảy ra với Con người sau khi được đưa tới Cung điện của các vị Thần ở Mesopotamia:

Rồi Ðức Giê-hô-va trồng một vườn cây

Ở Eden, về phía đông;

Và đặt vào đó,

Adam, con người do chính Ngài nặn ra.

Và Ðức Giê-hô-va

Khiến từ đất mọc lên

Đủ mọi loại cây

trông đẹp mắt, nếm ngon miệng;

Với Cây Trường sinh ở giữa vườn

Và Cây nhận biết Thiện – Ác…

Ðức Giê-hô-va đem Adam

Đặt vào vườn Eden,

Để cày cấy và canh giữ đất đai.

Ðức Giê-hô-va truyền lệnh cho Adam rằng:

“Ngươi có thể nếm bất kỳ trái cây nào trong vườn;

nhưng trái Cây nhận biết Thiện - Ác,

thì không được nếm;

nếu không tuân lệnh

chắc chắn ngươi sẽ phải chết.”

Tuy trong vườn có 2 loại cây ăn quả nhưng Con người chỉ bị cấm đụng đến quả Nhận thức và dường như Đức Chúa không quan tâm đến việc họ có đụng đến Quả Trường sinh hay không. Tuy nhiên, Con người đã không thể tuân theo điều cấm kị duy nhất này và bi kịch đã xảy ra.

Khung cảnh nên thơ của khu vườn Eden nhanh chóng nhường chỗ cho những diễn biến kịch tính mà các nhà nghiên cứu Kinh thánh và các nhà thần học gọi là Sự Sụp đổ của Loài người. Đó là câu chuyện với những chuỗi sự kiện như việc không tuân lệnh thần linh, những lời nói dối thần thánh, một Con rắn xảo quyệt (nhưng nói sự thật), sự trừng phạt và trục xuất.

Con rắn không biết từ đâu xuất hiện đã thử thách những cảnh báo nghiêm khắc của Đức Chúa:

Và Rắn… hỏi người đàn bà:

“Có phải Thiên Chúa bảo

‘Các ngươi không được ăn bất kỳ loại trái cây nào trong vườn không?’”

Người đàn bà đáp:

“Trái các cây trong vườn,

chúng tôi được phép ăn.

Còn trái trên cây giữa vườn,

Thiên Chúa đã bảo:

‘Các ngươi không được ăn, không được động tới, nếu không sẽ

phải chết.’”

Và Rắn nói với người đàn bà:

“Chẳng có chết chóc nào cả!

Nhưng Thiên Chúa biết rằng

ngày nào các người ăn trái cây đó,

mắt các người sẽ mở ra và sáng tỏ

giống như Thiên Chúa

biết được những điều thiện điều ác.”

Người đàn bà thấy trái cây đó trông đẹp mắt,

ăn lại ngọt mát,

Và đặc biệt là làm mình tinh khôn.

Bà liền hái trái ăn,

Rồi mời chồng cũng ăn.

Ngay sau đó, mắt 2 người mở ra,

Và họ thấy mình trần truồng;

họ kết lá lại

để làm khố che thân.

Đọc đi đọc lại câu chuyện ngắn gọn mà tỉ mỉ này, chúng ta không thể không tự hỏi về điểm mâu thuẫn ở đây. Ban đầu hai Con người này bị cấm đoán với lời đe dọa sẽ chết ngay cả khi đụng vào Trái Cây Nhận thức, nhưng rồi lại bị con rắn thuyết phục làm tới và ăn quả đó để “nhận thức” được như Thiên Chúa. Tuy nhiên, cuối cùng tất cả “nhận thức” mà họ có được chỉ là biết được mình đang trần truồng.

Tình trạng trần truồng thực chất là một khía cạnh chủ chốt của toàn bộ câu chuyện này. Câu chuyện về Adam và Eve ở Vườn Eden trong Kinh thánh bắt đầu bằng câu: “Adam và vợ mình đều trần truồng trước mặt nhau mà không xấu hổ”. Theo như cách hiểu của chúng tôi, họ đang ở giai đoạn phát triển thấp hơn so với người hiện đại: Họ không chỉ trần truồng mà còn không ý thức được ý nghĩa của việc trần truồng đó.

Khi nghiên cứu sâu hơn câu chuyện trong Kinh thánh này chúng tôi thấy rằng nó đã đề cập đến chủ đề chính là việc con người đạt được khả năng liên quan đến tình dục và sinh sản. Những “nhận thức” mà con người bị cấm đoán không phải là những thông tin khoa học mà là điều gì đó liên quan đến vấn đề giới tính giữa nam và nữ; bởi vì ngay sau khi Con người và vợ mình biết được “nhận thức” này thì “họ biết mình đang trần truồng” và tìm cách che đậy các bộ phận sinh dục.

Diễn biến tiếp theo trong Kinh thánh xác nhận mối liên hệ giữa tình trạng trần truồng và sự thiếu hiểu biết này bằng việc Thiên Chúa đã không hề mất nhiều thời gian để gọi hai người lại:

Nghe thấy tiếng Ðức Giê-hô-va

Đi dạo trong vườn lúc gió thổi trong ngày,

Adam và vợ mình trốn vào các bụi cây trong vườn,

để khỏi giáp mặt Ðức Giê-hô-va.

Ðức Giê-hô-va cất tiếng gọi Adam

hỏi: “Ngươi ở đâu?”

Adam thưa:

“Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn,

nhưng con trần truồng,

nên lẩn trốn.”

Và Ngài hỏi:

“Ai đã cho ngươi biết là mình trần truồng?

Có phải ngươi đã ăn trái cấm không?”

Sau khi thú nhận sự thật, người Nhân công Nguyên thủy này đổ lỗi cho vợ mình và đến lượt người vợ đổ lỗi cho Con Rắn. Giận dữ cực độ, Thiên Chúa trút những lời nguyền lên Con rắn và hai Con người này. Nhưng cũng thật ngạc nhiên, sau đó “Ðức Giê-hô-va làm cho vợ chồng Adam những chiếc áo bằng da thú và mặc cho họ”.

Chúng ta không thể hồ đồ cho rằng mục đích của toàn bộ câu chuyện dẫn tới việc trục xuất Con người ra khỏi Vườn Eden này nhằm lý giải một cách kịch tính lý do Con người biết mặc quần áo. Việc mặc quần áo chỉ đơn thuần là biểu hiện bên ngoài của “nhận thức” mới. Việc đạt được “nhận thức” đó và những nỗ lực của Thiên Chúa nhằm tước đi nhận thức này của Con người mới chính là những chủ đề trung tâm của các sự kiện.

Trong khi chưa tìm ra câu chuyện nào của người Mesopotamia tương đương với câu chuyện trong Kinh thánh này thì chúng ta vẫn có thể cho rằng nó có nguồn gốc từ Sumer giống như tất cả những tư liệu khác trong Kinh thánh liên quan đến sự Sáng tạo và Thời Tiền sử của Con người. Trong câu chuyện này, chúng ta cũng tìm thấy địa điểm xảy ra sự việc: Cung điện của các vị thần ở Mesopotamia. Chúng ta nhận ra phép chơi chữ qua cái tên Eve (“người đàn bà của sự sống”, “người đàn bà từ xương sườn”) và hai loại cây quan trọng, Cây Nhận thức và Cây Trường sinh, giống như trong cung điện của Anu.

Ngay cả những lời phán truyền của Thiên Chúa cũng phản ánh nguồn gốc Sumer, bởi vì vị Thiên Chúa duy nhất của người Hebrew lại bị nhầm lẫn sang ngôi số nhiều qua cuộc nói chuyện với những đồng sự thần linh của mình, câu chuyện này tuy không được thể hiện trong Kinh thánh nhưng lại được mô tả trong các ghi chép của người Sumer:

Ðức Giê-hô-va nói:

“Nhìn xem, Adam đã trở thành một kẻ trong chúng ta,

biết điều thiện điều ác.

Bây giờ, đừng để nó

hái quả ở cả trái cây Trường sinh

mà ăn để sống mãi”

Vì thế Ðức Giê-hô-va đuổi Adam

ra khỏi vườn Eden.

Theo những hình vẽ cổ xưa của người Sumer, thì đã từng có thời kỳ Con người (Nhân công Nguyên thủy) phục vụ các vị thần trong trạng thái “Adam”. Anh ta trần truồng ngay cả khi phục vụ thức ăn, đồ uống cho các vị thần lẫn khi lao động trên cánh đồng hay các công trình xây dựng. (Hình 154, 155)

images

Hình 154

images
Hình 155

Qua đây, chúng ta có thể khẳng định rằng trong con mắt của các vị thần, con người không khác nhiều so với những loài vật được thuần hóa. Các vị thần chỉ đơn thuần “nâng cấp” một loài động vật có sẵn thích hợp với nhu cầu hiện tại của mình. Vậy phải chăng với tình trạng thiếu “nhận thức”, loài sinh vật mới được tạo ra và còn trần truồng như động vật này cũng có quan hệ tính dục như các loài động vật khác hoặc quan hệ liên loài? Một số bức họa cổ còn sót lại đã cho thấy thực tế đã diễn ra đúng như vậy. (Hình 156)

images

Hình 156

Các ghi chép của người Sumer như “Sử thi Gilgamesh” cho rằng cách thức quan hệ tình dục trong thực tế là đặc điểm phân biệt giữa Người hoang dã với Người nhân tính. Khi người dân thành Uruk muốn khai hóa cho Enkidu hoang dã – “gã đồng loại man di ở sâu trong thảo nguyên” – họ đã vận động một “gái làng chơi” tham gia và đưa cô ta tới gặp Enkidu tại hồ nước nơi anh ta từng kết bạn với nhiều loài động vật khác và tại đó dâng hiến cho anh ta “sự chín muồi” của mình.

Trong bản ghi chép này, bước ngoặt của quá trình “khai hóa” Enkidu chính là việc anh ta bị những loài động vật khác từng là bạn bè chối bỏ. Người dân thành Uruk nói với cô gái như vậy để cô ta tiếp tục thực hiện “nghĩa vụ đàn bà” với anh ta đến khi “những con thú hoang trên thảo nguyên chối bỏ anh ta”. Việc làm này giúp Enkidu dần đoạn tuyệt với các hoạt động thú dâm, tạo bước tiền đề biến anh ta thành người.

Cô gái đuổi những con vật khác đi và khoe bầu ngực của mình,

anh ta hưởng thụ sự chín muồi của cô ta…

Cô chiều chuộng anh ta, kẻ man di

với tất cả nghĩa vụ đàn bà.

Rõ ràng là thủ đoạn này đã phát huy hiệu quả. Sau 6 ngày và 7 đêm, “sau khi bị sự quyến rũ của cô gái mê hoặc hoàn toàn”, anh ta chợt nhớ đến những người bạn cùng chơi đùa trước đây.

Anh ta quay mặt về phía những con thú hoang;

thế nhưng khi nhìn thấy anh ta,

những con linh dương bỏ chạy.

những con thú hoang của thảo nguyên

lánh xa người anh ta.

Mọi chuyện khá rõ ràng. Việc giao hợp với con người đã khiến Enkidu có sự thay đổi sâu sắc đến mức những con thú từng là bạn giờ “lánh xa người anh ta”. Chúng không chỉ đơn giản là bỏ chạy mà còn tránh tiếp xúc thân thể với anh ta.

Quá đỗi ngạc nhiên, Enkidu đứng như trời trồng “vì những con thú hoang đã rời bỏ mình”. Nhưng sự thay đổi đó không phải là điều gì đáng hối tiếc, bởi bản ghi chép cổ đại này ngay lập tức giải thích rằng:

Giờ anh ta đã có tầm nhìn, đầu óc được mở mang…

Cô gái làng chơi nói với Enkidu:

“Chàng đã biết nhận thức, Enkidu;

Chàng giống như một vị thần!”

Bản ghi chép này của người Mesopotamia có nội dung khá gần gũi với câu chuyện về Adam và Eve trong Kinh thánh. Đúng như dự liệu của con Rắn, sau khi cùng ăn trái Cây Nhận thức, họ trở nên “giống Thiên Chúa – biết được điều thiện và điều ác” hay có thêm “nhận thức” về phương diện tình dục.

Nếu như điều này chỉ mang ý nghĩa duy nhất là Con người đã nhận thức được rằng giao hợp với động vật là hành động không văn minh và tội lỗi, thì tại sao Adam và Eve lại bị trừng phạt vì đoạn tuyệt với hành vi thú giao? Kinh Cựu ước đầy rẫy những điều răn chống lại hành vi thú giao khiến chúng ta không thể nào hiểu được tại sao việc tuân theo một hành vi đạo đức như vậy lại khiến các vị thần nổi giận.

Vốn “Nhận thức” Con người có được trái ngược với mong muốn của Đức Chúa – hoặc một trong các vị thần này – chắc hẳn phải có nguyên do sâu sắc hơn. Có thể, đó là một dấu hiệu tốt cho Con người, nhưng lại là thứ mà các Đấng Sáng tạo không muốn Con người nắm giữ.

Chúng tôi đã nghiên cứu rất tỉ mỉ ẩn ý trong các lời nguyền đối với Eve để nắm bắt được ý nghĩa của sự việc:

Với người đàn bà, Chúa phán:

“Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhọc thật nhiều

khi thai nghén,

hay lúc sinh con.

Ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi”…

Và Adam đặt tên cho vợ là “Eve”,

vì bà là mẹ của chúng sinh.

Đây quả là một sự kiện đáng nhớ mà Kinh thánh truyền lại cho chúng ta: Khi chưa biết đến “nhận thức”, Adam và Eve sống trong Vườn Eden mà không có con cái. Sau khi có được “nhận thức”, Eve có được khả năng (đi kèm với nỗi cực nhọc) có thai và sinh con. Chỉ sau khi đôi vợ chồng này có được “nhận thức” đó thì “Adam mới biết Eve là vợ mình còn bà có thể thụ thai và sinh ra Cain”.

Xuyên suốt trong Kinh Cựu ước, thuật ngữ “biết” được dùng để chỉ quan hệ tình dục, chủ yếu là giữa người đàn ông và vợ anh ta với mục đích có con. Câu chuyện về Adam và Eve trong Vườn Eden là câu chuyện về một bước phát triển quyết định của Loài người: việc có được khả năng sinh sản.

Việc những đại diện đầu tiên của người Homo sapiens không có khả năng sinh sản không phải là điều gì quá ngạc nhiên. Dù người Nefilim có sử dụng bất cứ phương pháp nào để cấy một số vật chất di truyền của mình vào cấu trúc sinh học của các con khỉ hình người mà họ lựa chọn cho mục đích nhân giống thì loài sinh vật mới này cũng chỉ là một loài sinh vật lai. Sự pha tạp giữa 2 loài dù có liên quan nhưng vẫn tồn tại rất nhiều điểm khác nhau, ví dụ như con la (loài tạp giao giữa ngựa cái và lừa đực), những loài động vật có vú lai tạp này đều không có khả năng sinh sản. Bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo và thậm chí là các phương pháp can thiệp sinh học phức tạp hơn, chúng ta có thể tạo ra bao nhiêu con la tùy ý, nhưng không có con la nào có thể sinh sản và đẻ ra một con la khác.

Phải chăng ngay từ đầu, người Nefilim chỉ đơn giản sản xuất ra “những con la người” để phục vụ cho nhu cầu của mình?

Sự tò mò của chúng tôi càng tăng lên bởi một bức họa khắc trên đá được tìm thấy trong những ngọn núi phía nam Elam. Nó thể hiện một vị thần đang ngồi và giữ trong tay chiếc bình “thí nghiệm” rót ra chất lỏng – hình ảnh quen thuộc của Enki. Một Nữ thần Vĩ đại ngồi cạnh ngài, một cảnh tượng chứng tỏ bà là một trợ thủ hơn là vợ; vị nữ thần này không phải ai khác mà chính là Ninti, Nữ thần Mẹ hay Nữ thần Sinh sản. Bên cạnh 2 vị Chủ thần này là các nữ thần có địa vị thấp hơn, gợi cho ta nhớ đến hình ảnh những nữ thần sinh sản trong câu chuyện về Sáng tạo Con người. Đối diện với các Đấng Sáng tạo này là những hàng người nối tiếp nhau và đặc biệt, họ giống nhau như đúc – giống như các sản phẩm lấy ra từ một khuôn mẫu. (Hình 157)
images
Hình 157

Chúng tôi cũng hướng sự chú ý của mình vào câu chuyện của người Sumer kể về những người đàn ông và đàn bà khiếm khuyết được Enki và Nữ thần Mẹ tạo ra lúc đầu, những sinh vật phi tính dục hoặc khiếm khuyết về bộ phận sinh sản. Phải chăng câu chuyện này kể về giai đoạn tồn tại đầu tiên của Người lai – sinh vật được tạo ra dựa trên hình ảnh các vị thần, ngoại trừ khiếm khuyết về mặt sinh dục: biểu hiện của việc thiếu “nhận thức”?

Sau khi Enki tìm cách sản xuất được một “hình mẫu hoàn chỉnh” là Adapa/Adam, các ghi chép của người Sumer bắt đầu mô tả về các kỹ thuật “sản xuất hàng loạt”: quy trình cấy trứng vào “dây chuyền sản xuất” của các nữ thần sinh sản đã được xử lý về di truyền với tri thức tiên tiến rằng một nửa số các vị nữ thần sẽ cho ra đời con đực và một nửa cho ra đời con cái. Điều này không chỉ thể hiện kỹ thuật “sản xuất” Người lai mà nó còn ám chỉ rằng Con người không thể tự mình sinh sản được.

Gần đây, người ta khám phá ra rằng việc các giống lai không có khả năng sinh sản là do một khiếm khuyết trong các tế bào sinh sản. Mặc dù tất cả các tế bào chỉ chứa một bộ nhiễm sắc thể di truyền nhưng Con người và các loài động vật có vú khác có khả năng sinh sản bởi vì các tế bào sinh dục (tinh trùng của giống đực, trứng của giống cái) có chứa 2 bộ nhiễm sắc thể, trái lại các giống lai lại không có đặc trưng độc đáo này. Hiện nay người ta đang tiến hành các thí nghiệm thông qua kỹ thuật can thiệp di truyền nhằm tạo ra 2 bộ nhiễm sắc thể như vậy trong các tế bào sinh sản và hỗ trợ khả năng sinh sản “bình thường” cho các loài giống lai.

Liệu đây có phải là điều mà vị thần có tên hiệu “Con Rắn” đã thực hiện đối với Loài người?

Con Rắn trong Kinh thánh chắc chắn không phải là một con rắn tầm thường theo nghĩa đen – bởi vì nó biết nói chuyện với Eve, biết sự thật về vấn đề “nhận thức” và có địa vị cao đến mức không ngần ngại nói thẳng ra rằng Thiên Chúa là “kẻ nói láo”. Chúng ta biết rằng trong tất cả các câu chuyện truyền thuyết cổ đại, vị thần đứng đầu luôn chiến đấu chống lại một con Mãnh Xà – vì thế câu chuyện này có nguồn gốc rõ ràng từ các vị thần của người Sumer.

Kinh thánh thể hiện nhiều dấu tích về nguồn gốc Sumer của nó, bao gồm sự hiện diện của các vị thần khác: “Adam đã trở thành một kẻ trong chúng ta”. Khả năng hình ảnh Thiên Chúa và Con Rắn trong Kinh thánh đại diện cho 2 vị thần Enlil và Enki hoàn toàn thuyết phục chúng ta.

Như chúng ta đã biết, sự đối địch giữa 2 vị thần này bắt nguồn từ việc quyền chỉ huy Trái đất được chuyển giao cho Enlil, mặc dù Enki mới là người tiên phong đích thực. Trong khi Enlil ngự trị tại Trung tâm Điều khiển đầy tiện nghi ở Nippur thì Enki lại phải chịu trách nhiệm tổ chức các hoạt động khai mỏ ở Âm Phủ. Cuộc nổi loạn của các Anunnaki là nhằm chống đối Enlil và con trai vị thần này, Ninurta; còn vị thần cất tiếng nói bênh vực cho những kẻ nổi loạn lại là Enki. Chính Enki là người đề xuất và tiến hành việc tạo ra Nhân công Nguyên thủy; còn Enlil phải sử dụng vũ lực để có được một số sinh vật hữu ích kỳ thú này. Trong các ghi chép của người Sumer về các sự kiện diễn ra đối với con người, Enki là một đấng cai trị nổi bật với vai trò là vị thần bênh vực Con người, còn Enlil là người thi hành kỉ luật cứng nhắc, nếu không muốn nói là thù địch với Con người. Một vị thần muốn ngăn chặn khả năng sinh sản của những con người mới được tạo ra trong khi vị thần còn lại sẵn lòng và có khả năng trao cho Con người quả ngọt của “nhận thức” hoàn toàn phù hợp với Enlil và Enki.

Một lần nữa, phép chơi chữ của người Sumer và trong Kinh thánh lại cần được đưa ra phân tích. Thuật ngữ nahash trong Kinh thánh để chỉ “Serpent” có nghĩa là “con rắn”. Nhưng thuật ngữ này lại có nguồn gốc từ thuật ngữ NHSH, có nghĩa là “giải mã, tìm ra”; vì vậy thuật ngữ nahash cũng có thể được hiểu theo nghĩa “ngài là đấng có khả năng giải mã, đấng tìm ra mọi thứ”, một cách gọi phù hợp đối với Enki, nhà khoa học hàng đầu, vị thần Tri thức của người Nefilim.

Khi đúc rút được những nét tương đồng giữa câu chuyện về Adapa (người đạt được “nhận thức” nhưng không có được cuộc sống bất tử) của người Mesopotamia với số phận của Adam, tác giả S. Langdon (Semitic Mythology – Thần thoại Semite) tái hiện lại một bức họa được khai quật ở Mesopotamia, bức họa này có khả năng liên quan đến câu chuyện trong Kinh thánh: hình ảnh một con rắn quấn quanh một thân cây, hướng ánh nhìn về phía trái cây. Các ký hiệu thiên văn trong bức họa này cũng gây được chú ý: phía trên là Hành tinh Vượt qua, đại diện cho Anu, gần con rắn là hình lưỡi liềm của Mặt trăng, đại diện cho Enki. (Hình 158)

Điều hợp lý nhất trong các phát hiện của chúng tôi là thực tế rằng trong các ghi chép của người Mesopotamia, vị thần thực sự đã trao “tri thức” cho Adapa không phải ai khác mà chính là Enki:

Ngài hoàn thiện vốn hiểu biết rộng lớn cho chàng…

Ngài trao cho chàng Trí tuệ…

Ngài trao cho chàng Tri thức;

Nhưng không trao cho chàng Cuộc sống Bất tử.

Một câu chuyện bằng tranh khắc trên một con dấu lăn được tìm thấy ở Mari có thể là hình ảnh minh họa cổ xưa cho câu chuyện trong cuốn Sáng Thế Ký phiên bản Mesopotamia. Bức họa này mô phỏng một vị thần vĩ đại ngồi trên một nền đất cao giữa bốn bề sóng nước – một hình ảnh rõ ràng tượng trưng cho Enki. Từ hai bên chiếc “ngai vàng” này thò ra những con rắn đang phun nước.

Tháp tùng nhân vật trung tâm này là hai vị thần hình cây. Vị thần ở phía bên phải với những nhánh cây vươn ra có đầu hình dương vật, trong tay cầm một chiếc bát có lẽ là đựng Quả Trường sinh. Vị thần ở bên trái với những nhánh cây vươn ra có đầu hình âm đạo đang dâng lên một cành đầy quả, thể hiện cho Cây Nhận thức – món quà sinh sản của thần linh.

Bên cạnh vị Chủ thần của bức họa này là một vị Thần Vĩ đại khác; chúng tôi cho rằng vị thần này là Enlil. Vẻ giận dữ của thần đối với Enki rất rõ ràng, thể hiện qua nét mặt. (Hình 159)

Chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được nguyên cớ gây nên “xung đột ở khu vườn Eden” này. Nhưng dù động cơ của Enki có là gì đi chăng nữa thì ngài cũng đã thành công trong việc hoàn thiện Nhân công Nguyên thủy và tạo ra người Homo sapiens, những người có thể sinh sản thông qua các hoạt động giao phối cùng loài.

Sau khi Con người có được “nhận thức”, Kinh Cựu ước không còn gọi anh ta là “loài Adam” nữa mà gọi là Adam, một người cụ thể, tổ phụ đầu tiên của phả hệ loài người được đề cập trong Kinh thánh. Nhưng bước ngoặt này của Con người cũng đánh dấu sự chia rẽ giữa Thần và Người.

Với việc Con người không còn là nô bộc si đần của các vị thần mà trở thành người làm chủ được bản thân đã dấy lên những câu hỏi về nguồn gốc của sự chia lìa đôi ngả này. Theo cuốn Sáng Thế Ký thì sự chia rẽ giữa Thần và Người được cho là không phải do Con người tự quyết định mà là do việc áp dụng biện pháp trừng phạt của Đức Chúa: lo sợ Con người cũng có thể đạt đến khả năng bất tử như mình nên Ngài đã quyết định đuổi hắn khỏi Vườn Eden. Theo nguồn tư liệu này thì Con người bắt đầu tồn tại độc lập không phải ở phía nam Mesopotamia, nơi người Nefilim lập nên những thành phố và vườn cây ăn quả của họ, mà là ở phía đông, thuộc dãy núi Zagros: “Ngài trục xuất loài Adam và cho hắn ngụ tại phía đông vườn Eden”.

Vậy là một lần nữa thông tin trong Kinh thánh lại trùng khớp với các phát hiện khoa học: Văn hóa nhân loại khởi nguồn từ vùng đồi núi giáp với vùng đồng bằng Mesopotamia. Thật đáng tiếc vì thông tin về cuộc sống văn minh đầu tiên của Con người trên Trái đất này lại được đề cập quá ít ỏi trong Kinh thánh.

Bị trục xuất ra khỏi Cung điện của các vị Thần, mất đi cuộc sống bất tử nhưng lại có khả năng sinh sản, Con người đã tiếp tục hình thành như vậy. Vị Adam đầu tiên được các thế hệ sau lưu truyền lại trong Kinh Cựu ước đã “ăn ở” với vợ mình, Eve và bà hạ sinh một người con trai, Cain, người cày cấy đất đai. Sau đó Eve sinh ra Abel, làm nghề chăn chiên. Ám chỉ rằng do nguyên nhân tình dục đồng giới, “Cain xông đến bên Abel, em trai mình và giết Abel”.

images

Hình 158
images

Hình 159

Lo sợ bị mất mạng, Cain được Đức Chúa ban cho một dấu hiệu bảo vệ và ra lệnh cho ông đi về phía đông. Sau khi trải qua cuộc sống lang thang phiêu bạt, cuối cùng Cain định cư ở “Xứ sở Di cư, phía đông Eden”. Tại đây ông có một con trai và đặt tên là Enoch (“sự mở đầu”). “Ông xây dựng một thành trì và đặt tên thành trì này theo tên con trai mình”. Đến đời Enoch cũng có con, cháu và chắt. Đến đời thứ sáu tính từ thời Cain, Lamech được sinh ra; 3 người con trai của ông được Kinh thánh ghi nhận là những người góp phần xây dựng nền văn minh: Jabal là “ông tổ dân du mục”; Jubal “là ông tổ nhạc cụ”; Tubal-cain là “ông tổ nghề rèn”.

Nhưng cũng giống như ông tổ Cain của mình, Lamech cũng vướng vào một vụ giết người – lần này là giết một người đàn ông và một đứa trẻ. Chúng ta có thể cho rằng những nạn nhân này không phải là những kẻ xa lạ tầm thường, bởi Sáng Thế Ký lặp đi lặp lại sự việc này và coi đó là một bước ngoặt của dòng dõi Adam. Kinh thánh kể rằng Lamech đã gọi 2 bà vợ của mình, mẹ của 3 người con trai và thú nhận với họ rằng mình đã giết 2 người, rồi tuyên bố “Nếu như Cain bị báo thù gấp 7, thì Lamech sẽ bị gấp 77”. Ta có thể coi tuyên bố khó hiểu này liên quan đến việc nối dõi; qua lời thú nhận của Lamech và các bà vợ ta thấy được rằng niềm hy vọng lời nguyền giáng lên đầu Cain sẽ được chuộc lại bởi thế hệ thứ bảy (thế hệ con cái của ông) đã tan thành mây khói. Giờ đây một lời nguyền mới kéo dài hơn rất nhiều đã giáng lên ngôi nhà của Lamech.

Những câu thơ sau xác nhận sự kiện liên quan đến dòng dõi này và cho chúng ta thêm thông tin về việc thiết lập ngay lập tức một dòng dõi thuần chủng mới:

Và Adam lại ăn ở với vợ

bà sinh một con trai

và đặt tên là Seth [“nền tảng”]

bà nói: “Thiên Chúa đã sắp đặt cho tôi

một dòng dõi khác thay cho Abel, vì Cain đã giết chết nó.”

Đến đây, Kinh Cựu ước không còn nhắc gì đến dòng dõi đã bị vẩn đục của Cain và Lamech. Từ đây trở đi diễn biến câu chuyện về các sự kiện của con người chỉ xoay quanh dòng dõi của Adam thông qua con trai Seth và con cả của Seth là Enosh, trong tiếng Hebrew cả 2 tên này đều có nghĩa là “con người”. Sáng Thế Ký kể với chúng ta rằng “Lúc bấy giờ, người ta bắt đầu kêu cầu danh Ðức Chúa”.

Dòng chữ đầy bí ẩn này đã làm đau đầu không biết bao nhiêu thế hệ các nhà nghiên cứu Kinh thánh và các nhà thần học. Tiếp nối dòng chữ này là chương về gia phả của Adam đến Seth và Enosh qua 10 thế hệ và kết thúc là Noah, người hùng trong trận Đại Hồng thủy.

Các ghi chép của người Sumer mô tả các thời kỳ đầu tiên khi chỉ có các vị thần ngự trị ở Sumer cũng mô tả cuộc sống của người Sumer thời kỳ sau, trước khi diễn ra trận Đại Hồng thủy với độ chính xác tương đương. Nhân vật “Noah” trong câu chuyện Đại Hồng thủy phiên bản gốc Sumer chính là “một Người đàn ông của Shuruppak”, tòa thành thứ bảy do người Nefilim dựng lên khi họ đổ bộ xuống Trái đất.

Đến thời điểm nào đó, sau khi bị đuổi khỏi Vườn Eden, Con người đã được phép quay lại Mesopotamia để sống bên cạnh các vị thần, phục vụ và thờ phụng họ. Khi nghiên cứu Kinh thánh, chúng tôi nhận thấy rằng điều này xảy ra vào thời Enosh. Đó là lúc các vị thần cho phép Con người quay trở lại Mesopotamia để phục vụ các vị thần “và kêu cầu danh Ðức Chúa”.

Bởi quá háo hức chuyển sang sự kiện sử thi tiếp theo của huyền thoại loài người là trận Đại Hồng thủy nên cuốn Sáng Thế Ký chỉ đưa ra rất ít thông tin ngoài tên gọi của các vị tổ phụ sau thời Enosh. Nhưng ý nghĩa tên gọi của từng vị tổ phụ có thể cho ta thấy rằng các sự kiện này diễn ra trong thời kỳ Enosh còn sống.

Con trai của Enosh, Cainan (“Cain nhỏ”) là người tiếp nối dòng dõi thuần chủng, một số chuyên gia dịch nghĩa cái tên này là “thợ rèn”. Con trai của Cainan là Mahalal-El (“người cầu nguyện thần linh”). Đời sau của El là Jared (“người giáng xuống”); con trai của Jared là Enoch (“người được phong thánh”), người được Thiên Chúa đưa lên trời ở tuổi 365. Nhưng 300 năm trước đó, ở tuổi 65, vợ Enoch hạ sinh ra một người con trai đặt tên là Methuselah; nhiều chuyên gia đã học theo Lettia D. Jeffreys (Ancient Hebrew Names: Their Significance and Historical Value – Tên gọi Hebrew cổ: Tầm quan trọng và giá trị lịch sử) và dịch nghĩa tên Methuselah là “người của tên lửa”.

Con trai của Methuselah có tên là Lamech, có nghĩa là “người khiêm tốn”. Và Lamech sinh ra Noah (“nghỉ ngơi”) với ý nghĩa rằng: “Khi tay chúng ta phải làm lụng cực nhọc, thì đứa trẻ này sẽ đem lại cho chúng ta niềm an ủi phát xuất từ đất đai Ðức Chúa đã nguyền rủa.”

Có vẻ như nhân loại đang phải chịu những mất mát lớn vào thời Noah được sinh ra. Việc làm lụng cực nhọc không mang lại kết quả, bởi đất đai để canh tác đã bị nguyền rủa. Bối cảnh này được dựng lên cho trận Đại Hồng thủy – sự kiện đáng nhớ quét sạch không chỉ nhân loại mà còn tất cả các sinh vật sống trên Mặt đất và bầu trời.

Và Ðức Chúa thấy rằng sự gian ác của Con người

tràn lan trên Mặt đất,

và trong tâm can nó,

chỉ toàn những toan tính và ý nghĩ xấu xa.

Ðức Chúa hối hận vì đã làm ra Con người trên Mặt đất

Người buồn rầu trong lòng.

Và Ngài phán:

“Ta sẽ xoá bỏ khỏi Mặt đất

Con người mà ta sáng tạo ra.”

Đó là những lời nguyền rủa có sức ảnh hưởng rất lớn, được đưa ra như lời biện hộ cho hành động quyết liệt nhằm “xóa sổ mọi xác phàm” của Đức Chúa. Nhưng những lời nguyền rủa này lại thiếu tính thuyết phục và các chuyên gia cũng như các nhà thần học không thể tìm ra câu trả lời nào liên quan đến những tội lỗi hay “lỗi phạm” của Con người mà có thể làm phiền lòng Đức Chúa đến vậy.

Việc sử dụng nhiều lần từ xác phàm cả trong những câu thơ buộc tội và trong những lời tuyên bố phán xét cho thấy rằng những sự tha hóa và lỗi phạm này đều liên quan đến xác phàm. Đức Chúa rầu lòng trước “những toan tính xấu xa của Con người”. Liệu có phải lúc đó Con người đã khám phá ra tình dục và trở nên điên cuồng về tình dục?

Nhưng khó có thể chấp nhận rằng Đức Chúa quyết định xóa sổ loài người khỏi Mặt đất chỉ đơn giản là do người đàn ông “quan hệ” quá nhiều với vợ mình. Các ghi chép của người Mesopotamia thường đề cập một cách tự do và ấn tượng về tình dục và việc làm tình giữa các vị thần. Có những bản ghi chép mô tả tình yêu nhẹ nhàng giữa các vị thần và vợ của họ; tình yêu bất chính giữa một thiếu nữ và tình nhân; hay tình yêu bạo lực (Enlil cưỡng bức Ninlil). Có rất nhiều bản ghi chép mô tả về hoạt động tình dục và giao hợp giữa các vị thần – với những người vợ chính thức hay nàng thiếp, với chị gái hay con gái và thậm chí là cháu gái của họ (quan hệ với hậu nhân là một trò tiêu khiển ưa thích của Enki). Những vị thần như vậy không thể nào trở mặt chống lại loài người vì có những hành xử như họ được.

Chúng tôi thấy rằng động cơ của Đức Chúa không chỉ đơn thuần liên quan đến đạo đức của Con người. Sự khó chịu chồng chất của ngài là do sự đồi bại ngày càng phổ biến do chính các vị thần gây ra. Dưới cách nhìn này, ý nghĩa của những câu thơ khó hiểu trong chương 6 cuốn Sáng Thế Ký trở nên rõ ràng hơn:

Thời gian trôi đi

Khi loài người bắt đầu thêm đông

trên Mặt đất,

và sinh ra những con gái,

thì các con trai của các vị thần

thấy con gái Loài người xinh đẹp;

những cô họ ưng ý

thì họ lấy làm vợ.

Các câu thơ đã chỉ rõ cho chúng ta bít rằng đây là thời kỳ con trai của các vị thần bắt đầu có quan hệ yêu đương và tình dục với con cái của Loài người nên Đức Chúa đã kêu lên “Đủ rồi!”

Và Ðức Chúa phán:

“Thần khí của ta sẽ không ở lại mãi mãi trong con người,

vì con người lầm lạc chỉ là xác phàm.”

Tuyên bố này đã từng là một bí ẩn trong nhiều thiên niên kỷ. Dưới góc nhìn theo các kết luận của chúng tôi về phương pháp can thiệp di truyền được sử dụng để tạo ra Con người, những câu thơ này truyền tải một thông điệp cho chính các nhà khoa học ngày nay. “Thần khí” của các vị thần ở đây chính là sự hoàn hảo về mặt di truyền của Con người và “thần khí” này đang dần thoái hóa. Con người đã “lầm lạc”, bởi thế mà họ bắt đầu quay trở về tình trạng “xác phàm” gần hơn với nguồn gốc loài khỉ hoang dã của mình.

Bây giờ, chúng ta có thể hiểu được việc Kinh Cựu ước nhấn mạnh đến sự khác nhau giữa Noah “con người công chính… hoàn hảo về dòng dõi” và “toàn bộ Mặt đất đầy hư hỏng”. Với việc kết hôn với loài người không còn thuần chủng về mặt di truyền, các vị thần cũng là đối tượng của sự thoái hóa. Với việc chỉ ra rằng Noah là người duy nhất tiếp tục được dòng dõi thuần chủng về mặt di truyền, Kinh thánh đã lý giải cho mâu thuẫn của Đức Chúa: Tuy vừa quyết định quét sạch mọi sự sống khỏi bề mặt Trái đất, Ngài lại quyết định cứu Noah cùng hậu duệ của ông và “tất cả những loài vật thanh sạch khác “để giữ gìn giống nòi trên Mặt đất”.

Đức Chúa đã hủy bỏ mục đích ban đầu của chính mình bằng việc cảnh báo cho Noah biết về thảm họa sắp tới và hướng dẫn ông đóng một con thuyền chống thấm nước để chở người và những sinh vật đáng được cứu. Lời cảnh báo được đưa ra cho Noah trước 7 ngày, một khoảng thời gian quá ngắn ngủi cho việc chuẩn bị đối đầu với một trận Đại Hồng thủy hủy diệt. Bằng cách nào đó, Noah đã đóng được con thuyền và trám nhựa cây xung quanh, thu thập tất cả các sinh vật, đưa chúng cùng gia đình mình kèm thực phẩm dự trữ lên thuyền đúng thời gian mà Đức Chúa truyền đạt. “Và rồi 7 ngày sau, nước hồng thủy tràn ngập Mặt đất.” Diễn biến tiếp theo được mô tả rất rõ ràng trong Kinh thánh:

Vào ngày đó,

tất cả các mạch nước của vực thẳm vĩ đại nổ tung,

các cống trời mở toang…

Cơn hồng thủy kéo dài 40 ngày trên Mặt đất,

nước dâng lên cao và nâng thuyền lên khỏi Mặt đất.

nước tràn ngập Mặt đất,

và thuyền lênh đênh trên biển nước.

Nước dâng càng ngày càng cao,

và mọi núi cao khắp gầm trời đều bị phủ lấp.

Nước dâng lên cao hơn núi 7 thước

khiến các ngọn núi bị phủ lấp.

Mỗi xác phàm trên Mặt đất đều tắt thở…

Từ con người cho đến gia súc, giống vật bò dưới đất

và chim bay trên trời

đều bị xoá sổ khỏi Mặt đất,

chỉ còn lại Noah

và những gì trên thuyền.

Mặt đất ngập nước suốt 150 ngày, đến tận khi Đức Chúa:

cho một cơn gió thổi ngang qua Mặt đất,

và nước bắt đầu hạ xuống.

Các mạch nước của vực thẳm

và các cống trời đóng lại;

trời tạnh mưa.

Nước bắt đầu rút dần khỏi Mặt đất;

Và sau 150 ngày

thì nước rút hoàn toàn;

và chiếc thuyền đậu lại trên vùng núi Ararat.

Theo Kinh thánh thì sự phán xử nhân loại này bắt đầu vào “Năm 600 đời ông Noah, tháng Hai, ngày 17 tháng ấy”. Chiếc thuyền đậu lại trên Núi Ararat “vào tháng Bảy, ngày 17 tháng ấy”. Như vậy, thời kỳ nước dâng lên và “rút xuống” dần – đủ thấp để con thuyền có thể đậu lại trên đỉnh Ararat – kéo dài đúng 5 tháng. Sau đó “nước tiếp tục rút xuống, cho đến khi các đỉnh núi” – không chỉ là đỉnh núi Ararat sừng sững – “hiện ra vào ngày 11 tháng Mười”, gần 3 tháng sau đó.

Noah đợi thêm 40 ngày nữa. Sau đó ông thả một con quạ và một con bồ câu “để xem nước rút đến đâu rồi”. Lần thứ ba, con bồ câu quay lại với một nhành lá ô-liu ngậm trên mỏ, điều này chứng tỏ rằng nước đã rút xuống đủ để nhìn thấy các ngọn cây. Sau đó, Noah tiếp tục thả con bồ câu ra một lần nữa, “nhưng nó không trở về với ông nữa”. Trận Đại Hồng thủy thực sự đã qua.

Ông Noah dỡ mái thuyền

nhìn và thấy:

Mặt đất đã khô ráo.

“Tháng Hai, ngày 27 tháng ấy, đất đã khô.” Đó là năm 601 đời Noah. Trận lụt này kéo dài 1 năm 10 ngày.

Sau đó Noah cùng gia đình và các loài vật ở cùng ông ra khỏi thuyền. Ông dựng một bàn thờ rồi dâng lễ toàn thiêu cho Đức Chúa.

Ðức Chúa ngửi mùi thơm ngon,

và Ngài tự nhủ:

“Ta sẽ không bao giờ nguyền rủa đất đai

vì Con người nữa;

bởi vì những toan tính xấu xa đó là do chúng còn bồng bột.”

Cái kết đẹp này cũng đầy mâu thuẫn giống như câu chuyện về trận Đại Hồng thủy. Nó bắt đầu với một bản cáo trạng dài về những tội lỗi ghê tởm của Loài người, trong đó có việc làm ô uế sự thanh sạch của các vị thần trẻ. Đức Chúa đã đưa ra một quyết định quan trọng nhằm xóa sổ mọi xác phàm và quyết định này có vẻ hoàn toàn đúng đắn. Thế rồi cũng chính Đức Chúa lại là người mong muốn bảo tồn giống nòi Loài người và các sinh vật khác trong 7 ngày ngắn ngủi. Khi cơn sang chấn qua đi, Đức Chúa bị hấp dẫn bởi mùi thịt nướng và quên hết ý định xóa sổ loài người ban đầu với lời bào chữa rằng những toan tính xấu xa của Loài người là do trẻ người non dạ.

Tuy nhiên, những nghi vấn về tính xác thực của câu chuyện này biến mất khi chúng ta biết rằng Kinh thánh là một bản biên tập từ các câu chuyện của người Sumer. Giống như các trường hợp khác, Kinh thánh với Thuyết Đơn thần đã tổng kết và tập hợp vai trò của nhiều vị thần và thể hiện thông qua hình ảnh một vị Đức Chúa duy nhất tuy các vị thần này không giống nhau hoàn toàn và không phải lúc nào cũng hòa hợp với nhau.

Trước khi các nhà khảo cổ học khám phá ra nền văn minh Mesopotamia và các chuyên gia giải mã được nền văn học Akkad và Sumer thì câu chuyện về trận Đại Hồng thủy trong Kinh thánh chỉ là một câu chuyện riêng lẻ, được củng cố bằng những chuyện thần thoại nguyên thủy rải rác khắp nơi trên thế giới. Việc phát hiện ra “Sử thi Gilgamesh” của người Akkad đã đặt câu chuyện Đại Hồng thủy trong Sáng Thế Ký vào vị trí người đồng hành cao niên và đáng kính, được hậu thuẫn bằng những khám phá sau này với các tư liệu cổ xưa hơn có nguồn gốc Sumer.

Người anh hùng trong trận Đại Hồng thủy phiên bản Mesopotamia là Ziusudra ở Sumer (Utnapishtim trong tiếng Akkad), người đã được đưa tới Thiên Cung của các vị Thần sau trận Hồng thủy để sống hạnh phúc ở đó mãi mãi. Trong hành trình tìm kiếm sự bất tử, khi Gilgamesh đến được nơi này, ông xin lời khuyên của Utnapishtim về sự sống và cái chết. Utnapishtim tiết lộ với Gilgamesh – và thông qua ông truyền đạt tới loài người sau trận Đại Hồng thủy – bí quyết tồn tại của mình, “một điều giấu kín, một bí mật của các vị thần” – một câu chuyện thực (ta có thể nói như vậy) về trận Đại Hồng thủy.

Bí mật mà Utnapishtim đã tiết lộ mang nội dung rằng trước khi tiến hành chiến dịch Hồng thủy, các vị thần đã thành lập một hội đồng và biểu quyết về vấn đề hủy diệt loài người. Kết quả biểu quyết và quyết định đưa ra được giữ bí mật. Nhưng Enki đã tìm Utnapishtim, Vua xứ Shuruppak, để thông báo cho ông biết về tai họa sắp tới. Bằng phương pháp bí mật, Enki đã cảnh báo cho Utnapishtim từ phía sau một tấm màn sậy. Ban đầu lời cảnh báo của Ngài rất khó hiểu. Sau đó lời cảnh báo và chỉ dẫn được thể hiện rõ ràng hơn:

Vua của Shuruppak, con trai của Ubar-Tutu:

Hãy dỡ nhà, đóng một con thuyền!

Bỏ lại tài sản, cứu lấy mạng sống!

Đừng màng của cải, hãy giữ linh hồn!

Hãy mang giống của mọi sinh vật sống lên thuyền;

Con thuyền mà người đóng

kích thước của nó sẽ được đo đạc.

Những nét tương đồng của câu chuyện này với câu chuyện trong Kinh thánh được thể hiện rất rõ ràng: Một trận Hồng thủy sắp đến; một người được cảnh báo trước; ông ta tự cứu lấy mình bằng cách đóng một con thuyền đặc biệt; ông ta mang theo và cứu lấy “giống của mọi sinh vật sống”. Tuy nhiên câu chuyện của người Babylon nghe có vẻ hợp lý hơn. Quyết định hủy diệt loài người và nỗ lực cứu rỗi không phải là những hành động trái ngược đầy mâu thuẫn của một vị Đức Chúa, mà là hành động của những vị thần khác nhau. Hơn nữa, quyết định báo trước và chỉ dẫn cách thức cứu lấy giống nòi của Loài người chính là hành động thách thức của một vị thần (Enki) được tiến hành bí mật, trái ngược với quyết định chung của các vị Thần Vĩ đại khác.

Tại sao Enki lại liều lĩnh thách thức các vị thần khác như vậy? Phải chăng ngài chỉ quan tâm đến việc gìn giữ “công trình nghệ thuật kỳ diệu” của mình hay đó là một hành động trong bối cảnh sự cạnh tranh, thù địch giữa ngài và người anh em Enlil ngày càng được đẩy lên cao trào?

Mối xung đột như thế giữa 2 người anh em này được tô đậm trong câu chuyện về trận Đại Hồng thủy.

Utnapishtim đã hỏi thẳng Enki rằng làm thế nào mà mình có thể giải thích cho các công dân khác của thành Shuruppak về việc đóng một con thuyền hình dáng kỳ lạ và từ bỏ tất cả mọi của cải của bản thân, lênh đênh cùng con thuyền? Enki đáp lại:

Ngươi hãy nói với họ rằng:

“Ta vừa biết được rằng Enlil đang chống lại ta,

vì vậy ta không thể ở lại trong thành này nữa,

cũng không thể đặt chân lên lãnh thổ của Enlil được nữa.

Ta sẽ đi về hướng Apsu,

để sống cùng Chúa tể Ea của ta.”

Như vậy theo cách biện hộ này thì Utnapishtim, một môn đồ của Enki, không thể cư ngụ ở Mesopotamia được nữa, ông ta đóng một chiếc thuyền với ý định xuôi xuống vùng Âm Phủ (thuộc miền nam châu Phi ngày nay theo như phát hiện của chúng tôi) để trú ngụ ở đó cùng Chúa tể Ea/Enki của mình. Những câu thơ tiếp theo nói rằng khu vực này sắp phải chịu một trận lụt hoặc nạn đói lớn; Utnapishtim (theo lời khuyên của Enki) sẽ thuyết phục người dân trong thành tin rằng nếu Enlil nhìn thấy ông ra đi, “xứ sở sẽ lại tràn đầy những vụ mùa bội thu”. Lời biện hộ này nghe rất hợp lý với cư dân trong thành.

Trước những lời biện hộ này, người dân không chất vấn mà còn xắn tay giúp ông đóng thuyền. Bằng cách thết đãi người dân bằng thịt bò, cừu với “rượu nho, rượu vang, dầu và rượu trắng hàng ngày”, Utnapishtim động viên họ làm việc nhanh hơn. Thậm chí cả trẻ con cũng được khuyến khích đi lấy nhựa bitum để trám chống ngấm nước xung quanh con thuyền.

“Vào ngày thứ bảy, con tàu được đóng xong. Việc hạ thủy gặp rất nhiều khó khăn, thế nên họ phải tháo rời những tấm ván sàn ở phía trên và phía dưới đến khi 2/3 con thuyền được hạ thủy” xuống sông Euphrates. Sau đó Utnapishtim đưa toàn bộ gia đình dòng tộc lên thuyền, mang theo “bất cứ sinh vật sống nào có thể” cũng như “các loài động vật trên đồng, các loài thú hoang trên thảo nguyên”. Câu chuyện này với câu chuyện trong Kinh thánh có những điểm tương đồng khá rõ ràng, ngay cả với thời hạn 7 ngày để đóng thuyền. Tuy nhiên Utnapishtim còn tiến xa hơn Noah một bước, đó là ông còn đưa lên thuyền tất cả những người thợ thủ công đã giúp ông đóng con thuyền.

Còn ông chỉ lên thuyền khi nhận được một tín hiệu cụ thể, tín hiệu mà Enki đã tiết lộ với ông trước đó – một “thời điểm định trước” được quy định bởi Shamash, vị thần phụ trách những quả tên lửa. Sau đây là mệnh lệnh của Enki:

“Khi Shamash tạo ra trận rung chuyển lúc trời nhá nhem

một cơn mưa lửa sẽ trút xuống

Hãy lên thuyền, trám kín lối vào!”

Chúng ta chỉ có thể suy đoán về mối liên hệ giữa việc Shamash phóng lên một con tàu vũ trụ và thời khắc Utnapishtim lên thuyền và chốt chặt lối vào. Nhưng thời khắc đó đã đến; tên lửa đẩy của con tàu vũ trụ tạo ra một “trận rung chuyển lúc chạng vạng” và một cơn mưa tro bụi rơi xuống. Lúc này Utnapishtim “đóng kín toàn bộ con thuyền” và “giao con thuyền cùng những thứ chứa bên trong” cho “Thủy thủ Puzur-Amuri”.

Cơn bão ập đến “lúc tia sáng bình minh đầu tiên ló rạng”. Những tiếng sấm rền vang. Một đám mây đen ùn ùn kéo lên từ phía đường chân trời. Cơn bão cuốn phăng cột trụ của các ngôi nhà và bến phà, rồi sau đó các con đê bị vỡ. Bóng tối bao trùm Mặt đất, “nuốt chửng tất cả vào màn đêm” và “cả xứ sở rộng lớn vỡ tan như một chiếc bình”.

“Cơn bão từ phía nam” này hoành hành 6 ngày và 6 đêm.

Nó di chuyển với tốc độ càng lúc càng nhanh và mạnh,

nhấn chìm những đỉnh núi,

ập đến với chúng sinh như một trận chiến…

Đến ngày thứ bảy,

Cơn bão từ phía nam mang theo lụt lội

tàn phá tất cả Mặt đất

dần tan

Biển cả trở nên yên ả,

Cơn bão dần lặng yên,

nước lụt không còn dâng lên.

Ta ngắm nhìn bầu trời.

Sự tĩnh lặng đã trở lại.

Và tất cả nhân loại đều trở lại thành đất sét.

Ý định của Enlil và Hội đồng các vị Thần đã được thực hiện.

Nhưng họ không biết rằng kế hoạch mà Enki vạch ra cũng có hiệu quả: Con thuyền chở theo đàn ông, đàn bà, trẻ em và các sinh vật khác đã nổi được trong dòng nước lũ.

Khi cơn bão qua đi, Utnapishtim “mở một cánh cửa; ánh sáng ngập tràn trên gương mặt của ta”. Ông nhìn quanh, “quang cảnh xung quanh mênh mang bằng phẳng như mái nhà”. Cúi xuống thấp hơn, ông bàng hoàng, ngồi thụp xuống và khóc, “nước mắt lã chã trên khuôn mặt”. Ông đưa mắt tìm kiếm bến bờ của đại dương rộng lớn nhưng không thấy gì. Rồi sau đó:

Một ngọn núi hiện ra;

Con tàu dừng lại ở núi Nisir;

Núi Nisir (“Cứu thế”) giúp con thuyền đứng lại

không còn lênh đênh.

Trong suốt 6 ngày Utnapishtim quan sát xung quanh từ trên con thuyền bất động bị mắc kẹt lại trên đỉnh Nisir, đỉnh Ararat trong Kinh thánh. Sau đó, cũng như Noah, ông thả một con chim bồ câu ra để tìm nơi đậu, nhưng nó quay về. Một con chim nhạn được thả ra và nó cũng quay về. Sau đó một con quạ được thả ra, bay đi và tìm được nơi đậu. Tiếp đó Utnapishtim thả tất cả các loài chim và động vật trên thuyền ra, rồi tự mình bước ra. Ông dựng một bàn thờ và “làm lễ hiến tế” – giống hệt những gì Noah đã làm.

Nhưng đến đây sự khác biệt giữa Thuyết Đơn thần và Thuyết Đa thần lại xuất hiện một lần nữa. Khi Noah dâng lễ toàn thiêu, “Đức Giê-hô-va ngửi thấy mùi thơm ngon”; nhưng khi Utnapishtim dâng lễ hiến tế, “các vị thần ngửi thấy mùi thơm ngào ngạt. Các vị thần tụ tập xung quanh lễ hiến tế.”

Trong câu chuyện Sáng Thế Ký, chính Đức Giê-hô-va đã thề sẽ không bao giờ hủy diệt Loài người nữa. Còn trong phiên bản Babylon, chính Nữ thần Vĩ đại đã thề: “Ta sẽ không quên… Ta sẽ ghi nhớ những ngày này, không bao giờ quên”.

Tuy nhiên, đây không phải là vấn đề. Bởi vì khi Enlil tới nơi này, ngài không màng đến đồ tế lễ. Ngài vô cùng giận dữ khi thấy còn người sống sót. “Có sinh vật nào thoát được ư? Không kẻ nào có thể sống sót sau trận hủy diệt đó!”

Ninurta, con trai và là người kế vị của ngài, ngay lập tức chỉ tay về phía Enki. “Có ai ngoài Ea có thể nghĩ ra được kế hoạch như thế cơ chứ? Chính Ea là kẻ biết mọi chuyện.” Không chỉ chối bay chối biến, Enki còn đưa ra những lập luận bào chữa thuyết phục nhất. Sau khi tán tụng sự thông thái của Enlil và cho rằng Enlil không thể nào “vô lý” như thế được – hay ngài là một người có đầu óc thực tế – Enki vừa chối vừa thú nhận. “Ta không phải là người tiết lộ bí mật của các vị thần”; ta chỉ để một Người, một kẻ “vô cùng thông minh” đã lĩnh ngộ được bí mật của các vị bằng chính trí thông minh của mình. Và Enki đề xuất với Enlil rằng nếu quả thật Con người này thông minh như thế, thì đừng bỏ qua những khả năng của hắn. “Giờ thì hãy bàn bạc về số phận của hắn!”

Theo “Sử thi Gilgamesh”, thì tất cả những điều này là “bí mật của các vị thần” mà Utnapishtim kể với Gilgamesh. Sau khi bị lý lẽ của Enki thuyết phục,

Enlil bước lên thuyền.

Ngài nắm tay ta và dắt ta lên thuyền.

Ngài đưa vợ ta lên thuyền,

để cho nàng quỳ cạnh ta.

Ngài đứng giữa hai ta,

chạm vào trán chúng ta và ban phước:

“Từ nay trở đi Utnapishtim không còn là con người nữa;

từ giờ về sau Utnapishtim và vợ

sẽ đến với chúng ta như những vị thần.

Utnapishtim sẽ được ở tại vùng Xa Xăm,

nơi Ngọn nguồn của những Dòng nước!”

Và Utnapishtim kết thúc câu chuyện kể với Gilgamesh. Sau khi được đưa tới vùng Xa Xăm, ông được Anu và Enlil

trao cho cuộc sống như một vị thần,

Ban cho ông cuộc sống bất tử như một vị thần.

Nhưng điều gì đã xảy ra với loài người nói chung? Câu chuyện trong Kinh thánh kết thúc với sự khẳng định rằng Đức Chúa đã cho phép và ban phước cho con người “sinh sôi nảy nở gấp bội lần”. Câu chuyện Đại Hồng thủy phiên bản Mesopotamia cũng kết thúc với những câu thơ nói về quá trình sinh sôi nảy nở của con người. Một số ghi chép cổ đại không còn nguyên vẹn kể về quá trình phân chia Loài người thành nhiều “loại”:

… Hãy thêm một loại thứ ba giữa Loài người:

Hãy để giữa loài người

Đàn bà có thể sinh đẻ và đàn bà không thể sinh đẻ.

Và rõ ràng là đã có những hướng dẫn mới đối với việc giao hợp của con người:

Quy định đối với loài người:

Hãy để đàn ông… với phụ nữ trẻ…

Hãy để thiếu nữ trẻ…

Thanh niên đối với phụ nữ trẻ…

Khi giường được trải ra

hãy để vợ và chồng ngủ với nhau.

Enlil đã thua keo này. Loài người đã được cứu và được phép sinh sôi. Các vị thần đã mở cửa Trái đất cho Loài người.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 13.11.2017, 15:15
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 29 Nữ
Bài viết: 26518
Được thanks: 4603 lần
Điểm: 9.42
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Khoa học tự nhiên] Hành tinh thứ 12 - Zecharia Sitchin - Điểm: 10
CHƯƠNG 14

KHI CÁC VỊ THẦN RỜI KHỎI TRÁI ĐẤT


Trận Đại Hồng thủy với những dòng nước lụt tràn ngập Trái đất này là gì?

Một số chuyên gia giải thích trận Hồng thủy này liên quan đến những trận lụt lội diễn ra hàng năm ở vùng đồng bằng châu thổ sông Tigris-Euphrates. Họ phỏng đoán rằng đã có một trận lụt như thế với mức độ hủy diệt nghiêm trọng trước đây. Những cánh đồng, làng mạc, con người và động vật đều bị nước lụt cuốn trôi; và người nguyên thủy coi sự kiện này là sự trừng phạt của các vị thần và bắt đầu truyền tai nhau về truyền thuyết Đại Hồng thủy.

Trong cuốn sách Excavations at Ur (Những cuộc khai quật ở thành Ur), Ngài Leonard Woolley kể về sự kiện diễn ra năm 1929, khi việc khai quật Nghĩa trang Hoàng gia ở thành Ur sắp kết thúc, các công nhân đã đào một hố nhỏ trên một quả đồi cạnh đó và chạm đến lớp mảnh gốm và gạch vụn. Đào sâu thêm gần 1m nữa, họ bắt gặp một lớp bùn cứng – tầng đất đánh dấu vị trí nơi nền văn minh bắt đầu. Nhưng một đô thị trải qua hàng ngàn năm lịch sử mà chỉ để lại 1m địa tầng khảo cổ thôi sao? Ngài Leonard hướng dẫn các công nhân của mình đào sâu thêm. Họ đào thêm 1m nữa, rồi thêm 2m nữa. Nhưng những gì họ đào được vẫn chỉ là đất thô không hề có dấu tích của đời sống con người. Nhưng sau khi đào xuống độ sâu hơn 3,3m qua lớp bùn khô, các công nhân gặp một lớp địa tầng chứa nhiều mảnh gốm vỡ màu xanh và dụng cụ đánh lửa. Một nền văn minh lâu đời hơn đã bị chôn vùi dưới hơn 3,3m bùn đất!

Ngài Leonard nhảy xuống chiếc hố và bắt đầu xem xét, nghiên cứu những gì đào được. Ông triệu tập các trợ lý và tham khảo ý kiến của họ. Không ai đưa ra được một giả thuyết nào thuyết phục. Sau đó vợ của Leonard vô tình cất tiếng: “Ồ, dĩ nhiên đấy là do trận Đại Hồng thủy rồi!”

Tuy nhiên, các đoàn khảo cổ khác tới Mesopotamia lại nghi ngờ nhận định mang tính trực giác này. Những địa tầng bùn đất không có bất kỳ dấu vết nào của đời sống con người rõ ràng thể hiện sự lụt lội; nhưng trong khi các lớp bùn lắng ở Ur và al-Ubaid cho thấy trận lụt này diễn ra vào khoảng từ năm 3500 tới 4000 năm TCN thì một lớp bùn lắng tương tự được khám phá ở Kish lại có niên đại ước tính vào khoảng năm 2800 TCN. Đây cũng là niên đại ước tính (năm 2800 TCN) của địa tầng bùn đất được tìm thấy ở Erech và Shuruppak, tòa thành nơi có nhân vật Noah của người Sumer. Tại Nineveh, các nhà khảo cổ tìm thấy 13 địa tầng bùn đất và cát ven sông khác nhau, có niên đại từ năm 4000 đến 3000 TCN ở độ sâu khoảng 20m so với mặt đất.

Bởi vậy đa số các chuyên gia đều tin rằng những gì mà Woolley phát hiện được chỉ là dấu vết của nhiều trận lụt cục bộ khác nhau thường xuyên xảy ra ở Mesopotamia, nơi những cơn mưa như trút cùng nguồn nước của 2 con sông lớn và dòng chảy thay đổi của chúng gây ra sự tàn phá đó. Các chuyên gia kết luận rằng tất cả những tầng bùn đất khác nhau này không phải là một thảm họa thiên tai trên diện rộng hay sự kiện đáng nhớ thời tiền sử như trận Đại Hồng thủy.

Kinh Cựu ước là một kiệt tác về tính súc tích và chính xác của văn học. Từ ngữ luôn được chọn lọc để thể hiện các sự kiện một cách chính xác; các câu thơ đều rất vừa vặn, cách sắp xếp chúng có mục đích; độ dài vừa phải. Điều đáng chú ý là toàn bộ câu chuyện từ lúc Sáng tạo Thế giới cho tới khi Adam và Eve bị trục xuất khỏi Vườn Eden nằm trọn trong 80 câu thơ. Toàn bộ hồ sơ về Adam và phả hệ của ông, ngay cả với việc Cain và dòng dõi của ông cùng Seth, Enosh và các hậu duệ cũng chỉ gói gọn trong 58 câu thơ. Còn câu chuyện về trận Đại Hồng thủy lại được kể bằng 87 câu. Xét theo bất cứ tiêu chuẩn biên tập nào thì đó là một “câu chuyện lớn”. Nó không chỉ đơn thuần là một sự kiện cục bộ mà là một thảm họa ảnh hưởng tới toàn bộ Trái đất, toàn thể Loài người. Các ghi chép của người Mesopotamia mô tả rõ rằng “cả bốn phương, 8 hướng Mặt đất” đều bị ảnh hưởng.

Nếu như vậy thì đó là một điểm đáng chú ý trong thời kỳ tiền sử của vùng đất Mesopotamia. Có những sự kiện, những thành phố và con người trước trận Hồng thủy, đi kèm những sự kiện, những thành phố và những con người sau trận Hồng thủy. Có những chiến công của các vị thần và Vương vị được trao xuống từ Thiên đường trước trận Hồng thủy và những sự kiện liên quan đến các vị thần và con người khi Vương vị lại được trao xuống Mặt đất sau trận Hồng thủy. Trận Hồng thủy này đóng vai trò là một mốc phân chia thời gian vĩ đại.

Không chỉ có bản danh sách các vị vua mà cả các ghi chép riêng lẻ về dòng dõi của họ đều đề cập đến trận Hồng thủy. Chẳng hạn như một ghi chép cổ khác mô tả về Ur-Ninurta đã kể lại trận Hồng thủy như một sự kiện thời xa xưa:

Vào ngày đó, vào ngày xa xưa đó,

Vào đêm đó, vào đêm xa xưa đó,

Vào năm đó, vào năm xa xưa đó

Khi trận Đại Hồng thủy diễn ra.

Vua Ashurbanipal của Assyria, người bảo trợ các môn khoa học, người đã dựng lên thư viện khổng lồ toàn những tấm đất sét ở Nineveh, đã tuyên tố trong một bài văn tưởng niệm rằng ông đã tìm thấy và có thể đọc được “những bản khắc trên đá có từ thời trước Hồng thủy”. Một ghi chép của người Akkad về các tên gọi và nguồn gốc của chúng cũng liệt kê tên gọi “các vị vua sau Hồng thủy” và rất nhiều ghi chép khoa học cũng ghi nguồn từ “những nhà hiền triết cao niên thời trước Hồng thủy”.

Câu chuyện Kinh thánh và những ghi chép của người Mesopotamia mà chúng ta nghiên cứu đến giờ vẫn còn chứa đựng nhiều bí ẩn cần giải đáp. Thách thức mà Loài người phải chịu đựng là gì mà từ đó, Noah được đặt tên là “Nghỉ ngơi” với hy vọng rằng sự ra đời của ông sẽ đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ khó khăn? “Bí mật” mà các vị thần thề sẽ giữ kín và Enki bị cáo buộc đã tiết lộ là gì? Tại sao việc phóng một con tàu vũ trụ ở Sippar lại là tín hiệu cho Utnapishtim bước lên và đóng kín con thuyền để chờ đón trận Đại Hồng thủy? Các vị thần đã ở đâu trong khi nước lụt ngập nhấn chìm cả những đỉnh núi cao nhất? Và tại sao họ lại thích món thịt nướng mà Noah/Utnapishtim hiến tế đến vậy?

Trong quá trình tìm câu trả lời cho các câu hỏi trên và nhiều câu hỏi khác nữa, chúng tôi phát hiện ra rằng trận Đại Hồng thủy không phải là một biện pháp trừng phạt định trước được thực hiện theo ý chí của các vị thần. Chúng tôi khám phá ra rằng tuy trận Đại Hồng thủy là một sự kiện có thể đoán trước được nhưng lại không thể tránh khỏi, một thảm họa tự nhiên mà trong đó các vị thần không phải ở thế chủ động mà hoàn toàn bị động. Chúng tôi cũng sẽ chỉ ra rằng bí mật mà các vị thần thề sẽ giữ kín chính là một âm mưu chống lại Loài người – nhằm bưng bít không cho Loài người biết những thông tin mà họ có được liên quan đến trận lụt sắp tới nhằm xóa sổ Loài người trong khi người Nefilim vẫn tự cứu được mình.

Phần lớn những tri thức mà chúng tôi thu thập được ngày càng nhiều về trận Đại Hồng thủy và các sự kiện diễn ra tiếp theo đều đến từ thiên sử thi “When the gods as men”. Trong thiên sử thi này người anh hùng của trận Hồng thủy có tên là Atra-Hasis. Trong đoạn kể về Hồng thủy của “Sử thi Gilgamesh”, Enki đã gọi Utnapishtim là “kẻ vô cùng thông minh” – trong tiếng Akkad là atra-hasis.

Các chuyên gia đưa ra giả thuyết rằng các ghi chép kể về người anh hùng Atra-Hasis đều có thể là các phần của một câu chuyện Hồng thủy từ thời xa xưa hơn của người Sumer. Đến nay, người ta đã tìm thấy đủ những tư liệu của người Babylon, Assyria, Canaanite và thậm chí là các bản gốc của người Sumer để chắp nối thành một thiên sử thi Atra-Hasis lớn, một công trình kỳ công với sự đóng góp lớn lao của W. G. Lambert và A. R. Millard (Atra-Hasis: The Babylonian Story of the Flood – tạm dịch: Atra-Hasis: Câu chuyện Hồng thủy của người Babylon).

Sau khi kể lại những tháng ngày lao động cực nhọc của các Anunnaki, cuộc nổi loạn của họ, nguyên nhân dẫn đến việc sáng tạo ra Nhân công Nguyên thủy, thiên sử thi này đề cập đến việc Con người (như chúng ta cũng đã biết trong Kinh thánh) bắt đầu sinh sôi nảy nở và gia tăng về số lượng. Đến lúc đó, Loài người bắt đầu làm rầu lòng Enlil.

Đất đai được mở mang, con người sinh sôi lên gấp bội;

Trải khắp xứ sở như những con bò hoang.

Thần linh khó chịu trước sự cấu kết của họ;

Thần Enlil nghe được những tuyên bố của họ,

và nói với các vị thần vĩ đại rằng:

“Những tuyên bố của Con người đang trở nên ngạo mạn;

Sự cấu kết của chúng khiến ta mất ăn mất ngủ.”

Lại một lần nữa Enlil buộc tội Con người và sau đó ra lệnh thi hành biện pháp trừng phạt. Chúng ta đang chờ đợi thông tin về một trận Hồng thủy sắp đến nữa. Nhưng, trái với sự mong đợi của chúng ta, lần này Enlil không đề cập đến Hồng thủy hay bất cứ thử thách lụt lội tương tự nào. Thay vào đó, ngài yêu cầu tiêu diệt loài người bằng bệnh tật và dịch bệnh.

Phiên bản Akkad và Assyria của thiên sử thi này kể về những “cơn đau đớn, choáng váng, ớn lạnh, sốt cao” cũng như “bệnh tật, ốm đau, ôn dịch và dịch hạch” hành hạ con người và súc vật theo yêu cầu trừng phạt của Enlil. Nhưng kế hoạch của Enlil đã không có hiệu quả. “Kẻ thông minh vượt bậc” Atra-Hasis tình cờ lại là người thân cận đặc biệt của Enki. Khi kể về câu chuyện của mình trong một số dị bản, ông nói rằng: “Ta là Atra-Hasis; Ta sống trong ngôi đền của chúa tể Ea.” Với “chủ tâm cảnh báo với Chúa tể Enki”, Atra-Hasis đã khẩn cầu ngài phá hoại kế hoạch của người em Enlil:

“Hỡi Chúa tể Ea, Loài người đang rên xiết;

cơn giận dữ của các vị thần đang tàn phá xứ sở.

Mà ngài là đấng đã tạo ra chúng con!

Xin hãy chấm dứt những cơn đau đớn, choáng váng

những cơn ớn lạnh và sốt cao!”

Vì chưa tìm ra những mảnh bị vỡ của các tấm bảng ghi chép này nên chúng ta không biết được lời khuyên Enki đưa ra là gì. Ngài đã nhắc đến điều gì đó “… để xuất hiện trên xứ sở”. Dù đó là điều gì đi nữa thì nó cũng đã phát huy hiệu quả. Ngay sau đó, Enlil phàn nàn một cách cay đắng với các vị thần rằng: “Loài người không hề bị tiêu diệt; chúng còn đông đúc hơn trước kia!”

Sau đó ngài tiếp tục vạch kế hoạch hủy diệt Loài người bằng nạn đói. “Hãy cắt các nguồn tiếp tế cho Con người; hãy để bụng dạ của chúng luôn thèm muốn rau quả!” Nạn đói được tiến hành thông qua các thế lực tự nhiên như việc thiếu mưa và khô hạn.

Hãy để thần Mưa giữ lại mưa ở trên cao;

Hãy để nước không chảy ra khỏi nguồn dưới Mặt đất.

Hãy để gió thổi làm khô cằn đất đai;

Hãy làm cho mây mỏng đi và mưa không trút xuống.

Ngay cả nguồn hải sản cũng biến mất: Enki nhận được lệnh phải “cài then, đóng cửa biển” và “canh gác” nguồn thực phẩm không cho con người tiếp cận.

Đợt hạn hán này nhanh chóng tàn phá Mặt đất trên diện rộng.

Từ trên cao, sức nóng không…

Ở dưới đất, nước không chảy ra từ nguồn.

Mặt đất không còn sinh sôi;

Rau quả không chịu mọc…

Những cánh đồng phì nhiêu trở thành bạc trắng;

Cả đồng bằng rộng lớn ngập đầy muối.

Nạn đói do trận hạn hán gây ra đã hủy hoại con người. Càng ngày điều kiện sống càng trở nên tệ hại hơn. Các ghi chép của người Mesopotamia kể về 6 sha-at-tam ngày càng kinh khủng, thuật ngữ này được một số người dịch là “năm”, nhưng nghĩa đen của nó là “vượt qua” và theo như dị bản của người Assyria thì nó có nghĩa là “một năm của Anu”:

Đến sha-at-tam thứ nhất họ phải ăn cỏ.

Đến sha-at-tam thứ hai họ chịu đựng sự trả thù.

Sha-at-tam thứ ba đến;

Nạn đói đã làm thay đổi nét mặt của họ,

Khuôn mặt họ trở nên sần sùi…

họ đang sống trên bờ vực tử thần.

Khi sha-at-tam thứ tư đến,

khuôn mặt họ trở nên bủng beo;

lom khom đi lại trên đường phố;

[Đôi vai] rộng của họ chùng xuống.

Đến kỳ “vượt qua” thứ năm, nhân sinh bắt đầu suy đồi. Những bà mẹ chốt chặt cửa trước mặt những đứa con gái đói khát. Những đứa con gái dò xét mẹ mình có giấu đồ ăn không.

Đến kỳ “vượt qua” thứ sáu, nạn ăn thịt người lan tràn.

Khi sha-at-tam thứ sáu đến

họ làm thịt con gái để ăn;

họ lấy trẻ con làm thực phẩm…

Nhà này cắn xé nhà kia.

Các bản ghi chép kể về lời cầu khẩn kiên trì của Atra-Hasis với thần Enki. “Bước chân ông in dấu trong ngôi đền của thần… hàng sáng ông đều than khóc khi dâng đồ cúng lễ… ông gọi tên vị thần của mình” với hy vọng Enki sẽ giúp họ chấm dứt nạn đói.

Thế nhưng có lẽ Enki cảm thấy bị ràng buộc bởi quyết định của các vị thần khác nên ban đầu ông không có phản hồi. Rất có thể ông đã náu mình khỏi “kẻ thờ phụng trung thành” này bằng cách rời bỏ ngôi đền và đi vào vùng đầm lầy quen thuộc. “Khi mọi người ở trên bờ vực của cái chết”, Atra-Hasis đã “đặt chiếc giường của mình hướng về dòng sông”. Nhưng không có sự hồi đáp nào.

Cảnh tượng loài người đói khát, chia rẽ, bố mẹ ăn thịt chính con đẻ của mình cuối cùng đã dẫn tới điều không thể tránh khỏi: một cuộc đối đầu nữa giữa Enki và Enlil. Đến kỳ “vượt qua” thứ bảy, khi những người đàn ông đàn bà còn sót lại “dật dờ như những bóng ma tử thần”, họ nhận được một thông điệp từ Enki. Ngài phán: “Hãy tạo ra tiếng động lớn trên xứ sở”. Ngài cử các sứ giả đi hiệu triệu mọi người: “Đừng tôn sùng các vị thần nữa, đừng cầu nguyện cho các vị nữ thần nữa”. Một hành động thể hiện sự bất tuân hoàn toàn!

Dưới vỏ bọc của sự náo loạn này, Enki lên kế hoạch cho một hành động chắc chắn hơn. Bản ghi chép không còn nguyên vẹn đúng đoạn này kể rằng ngài triệu tập một hội đồng “bô lão” bí mật tại ngôi đền của mình. “Họ bước vào… họ tiến hành bàn bạc trong Ngôi đền của Enki.” Đầu tiên Enki tự bào chữa cho mình, kể với họ việc ngài đã chống lại hành động của các vị thần khác như thế nào. Sau đó ngài vạch ra một kế hoạch hành động; có vẻ như kế hoạch này có liên quan đến quyền chỉ huy các vùng biển và vùng Âm Phủ của ngài.

Chúng ta có thể lượm lặt những chi tiết bí mật của kế hoạch này từ những câu thơ đã bị vỡ một phần: “Trong đêm… sau khi ông ta…”, ai đó phải có mặt “cạnh bờ sông” vào một thời gian nhất định, có lẽ là để đợi Enki trở về từ Âm Phủ. Từ đây Enki “mang theo các chiến binh nước” – có lẽ là một số Nhân công Nguyên thủy trong các hầm mỏ trước đây. Vào thời điểm đã định, mệnh lệnh được ban ra: “Tiến lên!… thứ tự…”

Tuy một số dòng và một số chữ bị mất nhưng ta vẫn có thể đoán được điều gì đã xảy ra qua phản ứng của Enlil. “Ngài bừng bừng phẫn nộ”. Ngài triệu tập Hội đồng các vị Thần và cử Quan Chấp pháp tới giải Enki về. Sau đó ngài đứng lên và buộc tội anh mình đã phá vỡ kế hoạch giám sát-và-ngăn chặn:

Tất cả chúng ta, những Anunnaki Vĩ đại,

đã đi tới một quyết định…

Ta đã ban hành quyết định đó trên Chim Trời

rằng Adad canh giữ những vùng phía trên

rằng Sin và Nergal canh giữ

những khu vực Mặt đất;

và rằng còn nhiệm vụ chốt chặn vùng cửa biển

thì ngươi [Enki] phải đảm nhiệm cùng sự hỗ trợ của những quả tên lửa.

Nhưng ngươi đã nới lỏng nguồn cung cấp cho Con người!

Enlil cáo buộc anh mình đã phá vỡ “hàng rào ngăn biển”. Nhưng Enki chối rằng việc đó không phải do chủ ý của mình:

Chốt chặn, hàng rào ngăn biển

Ta đã cho canh gác bằng tên lửa của mình.

[Nhưng] khi… thoát khỏi tay ta…

Rất nhiều cá… biến mất;

Chúng phá vỡ chốt chặn…

chúng đã giết những người canh biển.

Ngài tuyên bố rằng mình đã bắt được thủ phạm và đã trừng phạt chúng, nhưng Enlil vẫn chưa thỏa mãn. Ngài yêu cầu Enki “ngừng việc cung cấp thực phẩm cho loài người”, rằng Enki không được “cung cấp các khẩu phần ngô mà nhờ đó loài người phát triển được”. Phản ứng của Enki thật đáng ngạc nhiên:

Ngài chán ngấy chiếc ghế

trong Hội đồng các vị Thần,

ngài cất tiếng cười vang dội.

Chúng ta có thể mường tượng ra cảnh tượng hỗn loạn này. Enlil nổi cơn giận dữ. Đã có những lời qua tiếng lại đầy tức giận giữa hai anh em và Enki hét lên: “Ngươi đang vu khống!” Khi Hội đồng các vị Thần rốt cuộc cũng vãn hồi được trật tự, Enlil lại tiếp tục cất tiếng. Ngài nhắc nhở các đồng sự và và thuộc cấp nhớ rằng đó đã là một quyết định được toàn thể mọi người nhất trí. Ngài nhắc lại những sự kiện dẫn tới việc tạo ra Nhân công Nguyên thủy và khăng khăng rằng Enki “đã phá luật”.

Nhưng vẫn còn một cơ hội nữa để xóa sổ Loài người, ngài nói tiếp. Một “trận lụt tử thần” đang ở ngoài khơi. Các vị thần phải giữ kín bí mật về thảm họa sắp xảy đến này để không cho Con người biết. Ngài yêu cầu Hội đồng phải thề giữ bí mật và quan trọng nhất là để “ràng buộc hoàng tử Enki bằng một lời thề”.

Enlil mở miệng cất tiếng nói

và hướng đến tất cả các thành viên trong Hội đồng:

“Tất cả chúng ta hãy đến đây và đưa ra lời thề

về Trận lụt Tử thần!”

Anu thề đầu tiên;

Enlil thề, các con trai của ông cũng thề cùng.

Đầu tiên, Enki từ chối. “Tại sao các người lại ràng buộc ta bằng một lời thề?”, ngài chất vấn. “Ta sẽ cất tay chống lại những con người mà chính ta đã tạo ra ư?” Nhưng cuối cùng ngài cũng bị ép phải tuyên thệ. Một ghi chép viết rằng: “Anu, Enlil, Enki và Ninhursag, các vị thần của Thiên đường và Mặt đất đã đưa ra lời thề”.

Cái chết đã giáng xuống.

Lời thề này ràng buộc Enki những việc gì? Khi diễn giải ra, Enki đã thề rằng sẽ không tiết lộ bí mật về trận Đại Hồng thủy sắp xảy ra với con người, nhưng ngài có thể nói với một bức tường được không? Sau khi gọi Atra-Hasis tới ngôi đền, ngài cho ông đứng đằng sau một bức mành. Sau đó Enki giả vờ như đang nói chuyện với bức tường chứ không phải với người tôi tớ trung thành này. “Hỡi bức mành sậy”, ngài nói:

Hãy lắng nghe những chỉ dẫn của ta.

Một cơn bão sẽ quét qua

Tất cả những khu dân cư, tất cả các thành phố.

Giống nòi của Con người sẽ bị nó hủy hoại…

Đây là quyết định cuối cùng,

phán quyết của Hội đồng các vị Thần,

phán quyết của Anu, Enlil và Ninhursag.

(Mánh khóe này biện hộ cho lý lẽ của Enki sau này, khi các vị thần phát hiện ra kẻ sống sót là Noah/Utnapishtim, ngài không hề phản bội lời thề mà chỉ do “con người vô cùng thông minh” [atra-hasis] nên đã tự mình khám phá ra bí mật về trận Hồng thủy bằng cách diễn giải chính xác các dấu hiệu.) Nhiều bức họa khắc trên dấu lăn thể hiện một người hầu giữ tấm mành trong lúc Ea – vị Thần Rắn – đang tiết lộ bí mật cho Atra-Hasis. (Hình 160)

Lời khuyên của Enki dành cho người tôi tớ trung thành của mình là đóng một con tàu chống nước; nhưng người tôi tớ này đáp lại rằng: “Con chưa từng đóng một con tàu nào… xin ngài cho con bản thiết kế để con xem qua” và Enki trao cho ông những hướng dẫn chính xác về kích thước và cách đóng con tàu này. Từ câu chuyện trong Kinh thánh, ta có thể hình dung được rằng đó là một “con tàu” rất lớn có nhiều khoang và tầng. Nhưng thuật ngữ teba được sử dụng trong Kinh thánh lại có từ gốc là “chìm” và ta có thể kết luận rằng Enki đã hướng dẫn cho Noah của mình đóng một con tàu có thể lặn được – một chiếc tàu ngầm.
images

Hình 160

Bản ghi chép của người Akkad ghi rằng Enki yêu cầu đóng một chiếc tàu “kín cả trên lẫn dưới”, được trét kín bằng “hắc ín thô”. Chiếc tàu đó không có boong, không có cửa mở “để bên trong không nhìn thấy ánh mặt trời”. Đó là một chiếc tàu “giống như tàu Apsu”, chiếc tàu sulili; đây chính là thuật ngữ ngày nay được sử dụng trong tiếng Hebrew (soleleth) để chỉ tàu ngầm.

Enki phán rằng: “Hãy đóng một con tàu MA.GUR.GUR” – “một con tàu có thể đổi hướng và quay tròn”. Quả thật, chỉ có một con tàu như vậy mới có thể sống sót được trước những đợt sóng kinh hoàng.

Giống như các dị bản khác, câu chuyện Atra-Hasis cũng nhắc lại rằng tuy thảm họa này chỉ còn 7 ngày nữa là ập tới nhưng mọi người đều không ý thức được hiểm họa đang đến. Atra-Hasis đã mượn cớ rằng ông đóng “con tàu Apsu” để rời bỏ cung điện của Enki và điều đó mới làm nguôi đi cơn giận dữ của Enlil. Cái cớ này được mọi người chấp nhận. Cha của Noah đã từng hy vọng rằng sự ra đời của đứa trẻ này sẽ kết thúc một thời kỳ dài khổ đau. Vấn đề của người dân ở đây là nạn hạn hán, đã lâu trời không mưa và họ đang phải đối mặt với vấn đề thiếu nước trầm trọng. Ai mà ngờ được rằng họ sắp bị hủy diệt trong một biển nước cơ chứ?

Trong khi Con người không hiểu được các dấu hiệu của thảm họa thì người Nefilim lại có thể. Đối với họ, trận Đại Hồng thủy này không phải là một biến cố bất ngờ; tuy không thể tránh khỏi, nhưng họ biết trước được diễn biến của nó. Trong kế hoạch hủy diệt Loài người thì các vị thần không đóng vai trò chủ động mà hoàn toàn bị động. Họ không gây ra trận Đại Hồng thủy; mà chỉ âm mưu bưng bít thông tin không cho Loài người biết rằng thảm họa này sắp diễn ra.

Tuy nhiên, ý thức được thảm họa sắp diễn ra và tác động toàn cầu của nó, người Nefilim đã tiến hành các bước tự cứu mình. Vì Trái đất sắp bị bao phủ bởi nước nên cách duy nhất để họ có thể bảo vệ mình là bay lên trời. Khi cơn bão trước trận Hồng thủy bắt đầu gào thét, người Nefilim đã nhanh chóng lên các khoang tàu vũ trụ và ở lại trên quỹ đạo Trái đất cho đến khi nước bắt đầu rút xuống.

Chúng tôi sẽ chỉ ra rằng ngày diễn ra trận Đại Hồng thủy cũng là ngày các vị thần rời khỏi Trái đất.

Dấu hiệu để Utnapishtim nhìn thấy và cùng những người khác bước lên con tàu của mình và đóng kín lại là:

Khi Shamash,

tạo ra trận rung chuyển vào lúc nhá nhem

một cơn mưa lửa sẽ trút xuống

Hãy lên tàu, trám kín lối vào!”

Như chúng ta đã biết, Shamash là vị thần phụ trách sân bay vũ trụ ở Sippar. Chúng tôi tin chắc rằng Enki đã hướng dẫn cho Utnapishtim quan sát dấu hiệu đầu tiên của vụ phóng tàu vũ trụ ở Sippar vào thời điểm đó. Shuruppak, nơi Utnapishtim sinh sống, chỉ cách Sippar 18 beru (khoảng 180 km) về phía nam. Do những vụ phóng tàu vũ trụ này được tiến hành lúc trời tối nên việc nhìn thấy “cơn mưa lửa” mà các con tàu tên lửa “trút xuống” không mấy khó khăn.

Tuy người Nefilim đã chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với trận Đại Hồng thủy nhưng đó vẫn là một trải nghiệm đầy hãi hùng đối với họ: “Âm thanh của trận Hồng thủy… khiến các vị thần run rẩy”. Nhưng đến thời khắc rời khỏi Trái đất, các vị thần “lùi lại và bay lên Thiên đường của Anu”. Dị bản câu chuyện Atra-Hasis của người Assyria kể rằng các vị thần sử dụng rukub ilani (“cỗ xe của các vị thần”) để thoát khỏi Trái đất. “Các Anunnaki bay lên”, những phi thuyền tên lửa của họ như những bó đuốc “đốt cháy mặt đất bằng chùm lửa phụt ra từ đuôi”.

Trong khi bay vòng quanh Trái đất, người Nefilim thực sự ấn tương sâu sắc khi nhìn thấy cảnh tượng tàn phá của trận Đại Hồng thủy. Sử thi Gilgamesh kể với chúng ta rằng khi cường độ cơn bão mạnh lên, “không ai có thể nhìn thấy nhau” mà “cũng không ai từ trên trời cao nhìn thấy con người”. Đứng chen chúc trong phi thuyền vũ trụ, các vị thần căng thẳng quan sát những gì đang diễn ra trên hành tinh của mình.

Các vị thần co rúm mình lại,

thu mình vào tường.

Ishtar khóc rống lên như người đàn bà trong cơn đau đẻ:

“Chao ôi những ngày xưa đang biến thành bùn đất”…

Các Anunnaki khóc cùng với nàng;

môi họ mím chặt… tất cả mọi người.

Các ghi chép về câu chuyện Atra-Hasis cũng lặp lại chủ đề này. Các vị thần đang quan sát sự hủy diệt diễn ra phía dưới. Nhưng tình hình trong các phi thuyền vũ trụ của họ cũng không được sáng sủa cho lắm. Rõ ràng họ được chia ra để di tản bằng nhiều phi thuyền vũ trụ khác nhau; tấm bảng thứ ba của sử thi Atra-Hasis mô tả về tình hình trên phi thuyền vũ trụ nơi một số Anunnaki đang ở chung với Nữ thần Mẹ:

Các Anunnaki, các vị thần vĩ đại…

đang ngồi trong đói khát…

Ninti nức nở, không kìm nén được cảm xúc của mình;

nàng khóc lóc cho dịu bớt.

Các vị thần khóc than tiếc thương xứ sở cùng nàng.

Tâm hồn nàng tràn ngập nỗi buồn đau,

nàng muốn uống rượu.

Nơi nàng ngồi, các vị thần cũng khóc;

cúi gằm như những con cừu cạnh máng ăn.

Môi họ khô nẻ vì cơn khát,

cơn đói khiến cho họ bị co rút.

Chính Nữ thần Mẹ Ninhursag cũng bị sốc với sự tàn phá khủng khiếp này. Bà khóc than trước những gì đang chứng kiến:

Nữ thần nhìn thấy quang cảnh xung quang và bà khóc…

môi bà trở nên khô nẻ…

“Những sinh vật của ta giờ như bầy ruồi

chúng tràn ngập dòng sông như những con chuồn chuồn,

tình phụ tử đã bị sóng biển cuốn trôi.”

Làm sao bà có thể tự cứu mình trong khi Loài người, những sinh vật mà bà góp phần tạo ra đang bị hủy diệt? Làm sao bà có thể rời bỏ Trái đất, bà kêu lên:

“Làm sao ta có thể đành lòng bay tới Thiên đường,

tới ở trong Ngôi nhà Ban phát,

nơi Chúa tể Anu đã ra lệnh di tản?”

Mệnh lệnh ban ra cho người Nefilim trở nên rõ ràng: Rời bỏ Trái đất, “bay lên Thiên đường”. Đó là thời kỳ khi Hành tinh thứ Mười hai đến gần Trái đất nhất, phía trong vành đai thiên thể (“Thiên đường”), với bằng chứng là Anu đã có thể tham gia các cuộc hội họp quan trọng chỉ một thời gian ngắn trước khi trận Hồng thủy xảy ra.

Có lẽ Enlil và Ninurta cùng với những tinh hoa trong số các Anunnaki, những người từng điều hành Nippur đang ở trên một phi thuyền và chắc chắn là đang bàn tính việc quay trở lại tàu mẹ. Trong khi các vị thần khác lại không có được quyết tâm đó. Khi bị buộc phải rời bỏ Trái đất, họ chợt nhận ra rằng mình đã gắn bó với hành tinh này và cư dân nơi đây đến nhường nào. Trong một phi thuyền, Ninhursag và nhóm Anunnaki của mình đang cân nhắc lẽ phải trái trong mệnh lệnh của Anu. Trong một phi thuyền khác, Ishtar gào lên: “Chao ôi những ngày xưa đang biến thành bùn đất”; các Anunnaki ở trong cùng phi thuyền này đều “khóc cùng nàng”.

Còn Enki rõ ràng là ở trong một phi thuyền khác, hoặc giả ngài đã tiết lộ với các vị thần khác rằng mình đang tìm cách cứu lấy dòng giống của loài người. Chắc hẳn ngài có lý do để cảm thấy bớt đau buồn hơn, vì có bằng chứng cho thấy ngài đã lên kế hoạch hội ngộ với con người tại Ararat.

Các câu chuyện cổ xưa này có vẻ như muốn ám chỉ rằng con tàu của Utnapishtim được những con sóng lớn đẩy về vùng Ararat; và một “cơn bão lớn từ phía nam” sẽ đẩy con tàu trôi về phía bắc. Nhưng ghi chép của người Mesopotamia nhắc lại rằng Atra-Hasis/Utnapishtim mang theo một “Thủy thủ” có tên là Puzur-Amurri (“người phương tây biết các bí mật”). Vị Noah của người Mesopotamia đã “giao phó cả con tàu cùng tất cả những gì bên trong” cho người thủy thủ này ngay khi cơn bão bắt đầu. Sao phải cần đến một hoa tiêu dày dạn kinh nghiệm trên tàu nếu không phải đưa nó đến một địa điểm nhất định?

Người Nefilim đã sử dụng các đỉnh của núi Ararat làm cột mốc ngay từ thời kỳ đầu tiên. Là những đỉnh núi cao nhất ở khu vực này, chúng có thể là những điểm nổi đầu tiên trên Mặt đất ngập nước khi cơn bão đi qua và mực nước rút dần. Vì Enki, “Đấng Thông thái, đấng biết hết thảy mọi thứ” chắc chắn biết điều này nên chúng ta có thể phỏng đoán rằng ngài đã hướng dẫn cho người tôi tớ của mình hướng con tàu về núi Ararat và lên kế hoạch cho ngày tái ngộ ngay từ đầu.

Theo lời kể của sử gia Hy Lạp Abydenus thì câu chuyện Hồng thủy của Berossus viết rằng: “Kronos tiết lộ cho Sisithros biết rằng sẽ có một trận Đại Hồng thủy vào ngày 15 của Daisios [tháng Hai] và ra lệnh cho ông cất giấu mọi tư liệu hiện có ở Sippar, thành phố của Shamash. Sau khi Sisithros hoàn thành tất cả những nhiệm vụ đó, ông lập tức lên tàu tới Armenia và mọi chuyện đã xảy ra đúng như vị thần này cảnh báo.”

Berossus cũng nhắc lại các chi tiết liên quan đến việc thả các con chim. Khi Sisithros (dạng đảo ngược của atra-asis) được các vị thần đưa tới cung điện của mình, ông giải thích với những người trong con tàu rằng họ đang “ở Armenia” và hướng dẫn họ quay lại (bằng đường bộ) về Babylon. Trong câu chuyện này chúng tôi không chỉ nhận ra mối liên hệ tới sân bay vũ trụ Sippar mà còn có sự xác thực rằng Sisithros đã được hướng dẫn “lập tức lên tàu tới Armenia” – tới xứ sở Ararat.

Ngay sau khi Atra-Hasis bước xuống Mặt đất, ông đã làm thịt một vài con vật và nổi lửa nướng chúng lên. Đó là lý do tại sao các vị thần kiệt sức và đói khát “bu lại như bầy ruồi quanh đồ hiến tế”. Đột nhiên họ nhận ra rằng Con người và những thực phẩm mà họ trồng cấy cùng súc vật mà họ chăn nuôi quả là cần thiết. “Khi Enlil tới nơi và nhìn thấy con tàu, ngài vô cùng tức giận.” Nhưng logic của hoàn cảnh và lời biện minh của Enki đã thắng thế; Enlil giảng hòa với những người sống sót và đưa Atra-Hasis/Utnapishtim vào phi thuyền của mình bay lên Cung điện Vĩnh hằng của các vị Thần.

Một yếu tố khác góp phần làm nên quyết định hòa giải nhanh chóng của các vị thần với Con người có thể là việc nước lụt rút nhanh để lộ ra vùng đất khô ráo và cỏ cây trên đó. Chúng tôi đã từng chỉ ra rằng người Nefilim đã biết trước được thời gian diễn ra thảm họa; nhưng đó là trải nghiệm đầu tiên mà họ gặp phải nên họ sợ rằng Trái đất sẽ vĩnh viễn trở thành nơi không thể cư ngụ được nữa. Nhưng khi hạ cánh xuống Ararat, họ nhận thấy rằng Trái đất vẫn là chốn có thể dung thân và để tiếp tục sống ở đây, họ phải cần đến con người.

Vậy thảm họa biết trước nhưng không thể tránh khỏi này là gì? Một chìa khóa quan trọng để mở ra câu đố về trận Đại Hồng thủy đó là nhận thức rằng trận Đại Hồng thủy không phải là một sự kiện đơn lẻ, đột ngột mà là đỉnh điểm của một chuỗi sự kiện.

Những bệnh dịch bất thường ảnh hưởng đến con người và gia súc cùng một đợt hạn hán nghiêm trọng xảy ra trước thảm họa lụt lội – một quá trình diễn ra trong 7 lần “vượt qua”, hay 7 sar – theo các nguồn tư liệu của người Mesopotamia. Những hiện tượng này chỉ có thể là kết quả của những biến đổi lớn về khí hậu. Trong lịch sử Trái đất, những biến đổi này gắn liền với chu kỳ tuần hoàn giữa các kỷ băng hà và các giai đoạn gian băng đã từng thống trị Trái đất. Lượng mưa giảm, mực nước biển và sông ngòi hạ thấp kéo theo sự khô cạn của các nguồn nước ngầm là những dấu hiệu của thời kỳ băng hà sắp diễn ra. Vì sau trận Đại Hồng thủy kết thúc một cách đột ngột, những hiện tượng này là dấu hiệu khởi đầu của nền văn minh Sumer và nền văn minh của chúng ta hiện nay, thời kỳ hậu băng hà, vì vậy ta có thể khẳng định rằng đó là thời kỳ băng hà cuối cùng.

Kết luận chúng tôi đưa ra bao gồm những sự kiện diễn ra trong trận Đại Hồng thủy có liên quan tới thời kỳ băng hà cuối cùng của Trái đất và kết cục thảm họa của nó.

Sau khi tiến hành khoan xuống các dải băng ở Bắc Cực và Nam Cực, các nhà khoa học có thể tính toán được lượng khí oxy được giữ lại trong các dải băng khác nhau, để từ đó đánh giá được kiểu khí hậu phổ biến trên Trái đất hàng thiên niên kỷ trước. Những lõi đá được lấy lên từ đáy các vùng biển, chẳng hạn như vịnh Mexico, thể hiện mức độ sinh sôi nảy nở hoặc giảm bớt của các loài sinh vật biển, đồng thời cho phép các nhà khoa học ước tính được nhiệt độ của từng thời kỳ trong quá khứ. Dựa trên những phát hiện này, hiện nay các nhà khoa học có thể chắc chắn rằng thời kỳ băng hà cuối cùng bắt đầu cách đây khoảng 75.000 năm và trải qua giai đoạn ấm dần lên vào khoảng 40.000 năm trước. Khoảng 38.000 năm trước, một thời kỳ khắc nghiệt hơn, lạnh hơn và khô hơn đã diễn ra. Rồi sau đó, cách đây khoảng 13.000 năm, kỷ băng hà đột ngột kết thúc và hình thái khí hậu ôn hòa như hiện nay của chúng ta bắt đầu.

Sau khi sắp xếp các thông tin của Kinh thánh và người Sumer, chúng tôi thấy rằng thời kỳ khó khăn, thời kỳ “đất đai bị nguyền rủa”, bắt đầu vào thời Lamech, cha của Noah. Hy vọng của ông rằng sự ra đời của Noah (“nghỉ ngơi”) đánh dấu điểm mốc kết thúc của thời kỳ khó khăn này đã trở thành hiện thực theo cách thức không ngờ tới, thảm họa Đại Hồng thủy.

Nhiều chuyên gia tin rằng 10 vị tổ phụ trước Hồng thủy trong Kinh thánh (từ Adam tới Noah) có sự tương đương nào đó với 10 vị vua trước Hồng thủy trong danh sách các vua của người Sumer. Những bản danh sách này không sử dụng thần hiệu DIN.GIR hay EN cho hai vị vua cuối cùng trong số 10 vị và coi Ziusudra/Utnapishtim và người cha Ubar-Tutu của ông là con người. Hai người này tương đương với Noah và người cha Lamech của mình; và theo danh sách các vua của người Sumer thì tổng thời gian trị vì của hai vị vua này là 64.800 năm cho đến khi trận Hồng thủy xảy ra. Thời kỳ băng hà cuối cùng từ 75.000 năm tới 13.000 năm trước đây kéo dài trong 62.000 năm. Vì thời kỳ khó khăn bắt đầu khi Ubartutu/Lamech đã trị vì cho nên con số 62.000 năm này hoàn toàn khớp với con số 64.800 năm.

Hơn nữa, theo sử thi Atra-Hasis thì thời kỳ đặc biệt khó khăn kéo dài 7 shar, tương đương 25.200 năm. Các nhà khoa học đã tìm ra một số bằng chứng cho thấy đã có một thời kỳ đặc biệt khó khăn xảy ra vào khoảng thời gian 38.000 đến 13.000 năm trước – quãng thời gian này là 25.000 năm. Một lần nữa, các bằng chứng của người Mesopotamia và các phát hiện khoa học hiện đại lại chứng thực cho nhau.

Từ đây nỗ lực của chúng tôi nhằm làm sáng tỏ những bí ẩn của trận Đại Hồng thủy tập trung vào các hiện tượng biến đổi khí hậu của Trái đất và sự kết thúc đột ngột của kỷ băng hà vào khoảng 13.000 năm trước đây.

Điều gì gây nên sự biến đổi khí hậu đột ngột ở quy mô lớn như vậy?

Trong nhiều giả thuyết do các nhà khoa học đưa ra, chúng tôi rất thích thú với giả thuyết của Tiến sỹ John T. Hollin thuộc trường Đại học Maine. Ông cho rằng dải băng Nam Cực thường định kỳ tách ra và trượt xuống biển, tạo nên một cơn sóng thần khủng khiếp và bất ngờ!

Giả thuyết được nhiều nhà khoa học chấp nhận và nghiên cứu kỹ này cho rằng khi dải băng này ngày càng mỏng dần, nó không chỉ giữ lại nhiều nhiệt lượng của Trái đất bên dưới dải băng hơn mà còn tạo ra (bằng áp suất và ma sát) một lớp tuyết lầy trơn trượt ở đáy băng. Đóng vai trò như một lớp bôi trơn giữa dải băng dày phía trên và nền đất rắn phía dưới, đến một lúc nào đó lớp tuyết lầy này sẽ khiến cả dải băng trượt xuống đại dương xung quanh.

Hollin tính toán rằng chỉ cần nửa dải băng hiện tại của Nam Cực (có độ dày trung bình hơn 1.609m) trượt xuống vùng biển phía nam thì cơn sóng thần khổng lồ mà nó tạo ra sẽ tăng mực nước của tất cả các vùng biển trên toàn cầu lên khoảng 18,3m, nhấn chìm các thành phố và các vùng đồng bằng ven biển.

Năm 1964, A. T. Wilson thuộc Đại học Victoria New Zealand đưa ra một giả thuyết rằng các kỷ băng hà thường kết thúc một cách đột ngột với những vụ băng trượt như vậy, không chỉ ở Nam Cực mà còn ở cả Bắc Cực. Những tư liệu và dữ kiện thực tế mà chúng tôi thu thập được chứng minh cho kết luận rằng trận Đại Hồng thủy này là kết quả của việc một khối băng nặng hàng tỉ tấn trượt xuống các vùng biển Nam Cực, chấm dứt một cách đột ngột kỷ băng hà cuối cùng.

Sự kiện bất ngờ này đã châm ngòi cho một cơn sóng thần khổng lồ. Bắt đầu từ vùng biển Nam Cực, nó lan lên phía bắc tới Đại Tây Dương, Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Sự thay đổi đột ngột về nhiệt độ chắc hẳn đã tạo ra những cơn bão dữ dội kèm theo mưa lớn. Di chuyển với tốc độ nhanh, các cơn bão, mây đen và bầu trời tối sầm này là tín hiệu báo trước của thảm họa sóng thần.

Đó chính là những hiện tượng đã được miêu tả trong các ghi chép cổ đại.

Nhận được sự chỉ đạo của Enki, Atra-Hasis đưa mọi người lên tàu, còn ông vẫn đứng bên ngoài chờ đợi tín hiệu đóng kín cửa. Nhấn mạnh vào “khía cạnh tâm lý” của nhân vật, bản ghi chép cổ xưa này kể với chúng ta rằng tuy được lệnh phải chờ đợi bên ngoài con tàu nhưng Atra-Hasis “hết ra lại vào; ông không thể ngồi, không thể cúi… trái tim ông tan nát; lòng ông cay đắng”. Nhưng sau đó:

... Mặt trăng biến mất….

Tình hình thời tiết thay đổi;

Mưa gào thét trong những đám mây…

Những cơn gió lồng lộn…

… trận Hồng thủy ập tới,

nó đổ ập xuống đầu dân chúng như một trận chiến;

Người ta không nhìn thấy nhau,

không thể nào nhận ra họ trong cơn hủy diệt.

Trận Hồng thủy gào rống như một con bò;

Những cơn gió hú lên như lừa hoang.

Bóng tối đặc quánh;

Mặt trời bị che phủ.

“Sử thi Gilgamesh” còn đề cập chi tiết hướng bão: Nó ập tới từ phía nam. Những đám mây, gió, mưa và bóng tối xuất hiện trước khi cơn sóng thần phá hủy “các căn cứ của Nergal” ở Âm Phủ:

Khi tia sáng đầu tiên của bình minh ló rạng

một đám mây đen dâng lên ngùn ngụt từ phía chân trời;

Thần Bão tố phóng ra sấm chớp trong đám mây…

Cảnh vật đang sáng sủa

bỗng trở nên đen kịt…

Cơn bão từ phía nam quần thảo suốt một ngày,

Nó di chuyển với tốc độ càng lúc càng nhanh,

nhấn chìm những đỉnh núi…

Gió gào thét suốt 6 ngày đêm

khi Cơn bão Phía nam quét qua xứ sở.

Đến ngày thứ bảy,

Nước lụt dần rút xuống.

Những chi tiết về “cơn bão phía nam”, “gió nam” chỉ rõ hướng đến của trận Hồng thủy khi những đám mây, cơn gió, “những tín hiệu báo trước của cơn bão” tràn qua “những ngọn đồi và vùng đồng bằng” để tới Mesopotamia. Trong thực tế, một cơn bão và trận sóng thần xuất phát từ Nam Cực sẽ đến Mesopotamia qua Ấn Độ Dương, sau khi nhấn chìm những ngọn đồi ở Arabia rồi tràn ngập vùng đồng bằng châu thổ sông Tigris-Eupharates. “Sử thi Gilgamesh” cũng kể với chúng ta rằng trước khi người dân và đất đai của họ bị nhấn chìm, “những con đập của vùng đất khô” và các con đê đều bị “xé toang”: vùng duyên hải cũng bị sóng thần tràn qua và quét sạch mọi thứ.

Câu chuyện Hồng thủy trong Kinh thánh viết rằng “các mạch nước của Vực thẳm Vĩ đại bật tung” và sau đó là “các cống trời mở toang”. Đầu tiên, các mạch nước của “Vực thẳm Vĩ đại” (cách gọi hoa mỹ cho các vùng biển lạnh giá ở tận Nam Cực) thoát khỏi sự giam hãm của các tầng băng; chỉ sau đó thì mưa mới bắt đầu trút xuống. Sự xác thực cho cách hiểu này của chúng ta về trận Hồng thủy một lần nữa được lặp lại khi nước lụt rút đi. Đầu tiên là “các mạch nước của Vực thẳm được đóng lại”; rồi sau đó “trời tạnh mưa”.

Sau cơn sóng thần khổng lồ đầu tiên, các đợt sóng lớn vẫn tiếp tục “tràn vào và rút đi”. Sau đó nước bắt đầu “rút bớt” và “nước xuống” sau 150 ngày, khi con tàu đậu giữa các đỉnh núi của ngọn Ararat. Cơn sóng thần đến từ vùng biển phía nam đã trở về nơi nó bắt đầu.

***

Làm sao mà người Nefilim có thể dự đoán được thời điểm bùng nổ của Nam Cực?

Các ghi chép của người Mesopotamia khẳng định rằng các biến đổi khí hậu xảy ra trước trận Hồng thủy 7 kỳ “vượt qua” chắc chắn có liên quan đến thời gian Hành tinh thứ Mười hai đi qua vùng lân cận Trái đất. Chúng ta biết rằng ngay cả Mặt trăng, vệ tinh nhỏ của Trái đất, cũng tạo ra lực hấp dẫn đủ để gây nên thủy triều. Các ghi chép của người Mesopotamia và Kinh thánh đều mô tả việc Trái đất rung chuyển khi Hành tinh Chúa tể đi ngang qua vùng lân cận. Có thể nào người Nefilim trong khi quan sát những biến đổi khí hậu và tính bất ổn định của dải băng Nam Cực đã nhận ra rằng kỳ “vượt qua” thứ 7 tới sẽ châm ngòi cho thảm họa sắp xảy ra?

Các ghi chép cổ xưa đã chỉ ra đúng như vậy.

Ấn tượng nhất phải kể đến một ghi chép khoảng 30 dòng được viết bằng chữ hình nêm thu nhỏ trên 2 mặt của một tấm đất sét dài khoảng 2,5cm). Tấm đất sét này được khai quật ở Ashur, nhưng những từ ngữ Sumer được sử dụng trong bản ghi chép tiếng Akkad này khiến ta tin rằng nó có nguồn gốc từ Sumer. Tiến sỹ Erich Ebeling cho rằng nó là một bài thánh ca được xướng lên trong Đền thờ Thần chết, bởi vậy ông đã đưa bản ghi chép này vào tác phẩm Tod und Leben – Cái chết và sự sống ở Mesopotamia cổ đại của mình.

Tuy nhiên, khi xem xét cặn kẽ hơn, chúng tôi thấy rằng tác phẩm này “gọi tên” Chúa tể Thiên đường, Hành tinh thứ Mười hai. Nó đề cập tỉ mỉ ý nghĩa những tên hiệu khác nhau bằng cách đặt chúng trong mối liên hệ với sự trở lại nơi đã diễn ra trận chiến ngày xưa giữa Tiamat và hành tinh này – sự trở về gây nên trận Đại Hồng thủy!

Bản ghi chép này bắt đầu bằng việc thông báo rằng hành tinh này (“Đấng Anh hùng”) tuy có sức mạnh và kích thước khổng lồ nhưng vẫn quay theo quỹ đạo xung quanh Mặt trời. Hồng thủy chính là “vũ khí” của hành tinh này.

Vũ khí của Ngài là trận Hồng thủy;

Vũ khí của Chúa tể mang lại chết chóc cho những kẻ xấu xa.

Đấng Tối cao, Đấng Tối cao, Đấng Cứu thế…

Rực rỡ như Mặt trời, Ngài băng qua xứ sở;

Thần Mặt trời cũng phải khiếp sợ Ngài.

Sau khi xướng lên “tên gọi đầu tiên” của hành tinh này – thật không may là phần này không đọc được – bản ghi chép mô tả nó băng qua sao Mộc, hướng về nơi đã xảy ra trận chiến với Tiamat:

Tên gọi đầu tiên:….

Đấng đã dát nên chiếc vòng trang sức;

Đấng đã xẻ đôi và thổi bay Kẻ chiếm cứ.

Chúa tể, vào thời Akiti

Đã đem lại hòa bình sau trận chiến với Tiamat…

Hạt giống của ngài là những người con Babylon;

Ngài không bị chệch đường bởi sao Mộc;

Ngài phát ra ánh sáng rực rỡ.

Tiến vào gần hơn, Hành tinh thứ Mười hai được gọi là SHILIG.LU.DIG (“người lãnh đạo đầy quyền lực của các hành tinh vui mừng”). Hiện hành tinh này đang ở gần nhất với sao Hỏa: “Thần [hành tinh] Anu khoác lên thần [hành tinh] Lahmu [sao Hỏa] ánh sáng rực rỡ”. Sau đó hành tinh này gây ra trận Đại Hồng thủy trên Trái đất:

Đây là tên của Chúa tể

Từ tháng Hai tới tháng Addar

Ngài dâng nước lên cao.

Việc đề cập đến hai tên gọi của Hành tinh thứ Mười hai trong ghi chép này chứa đựng nhiều thông tin đáng kể về lịch. Hành tinh thứ Mười hai đi qua sao Mộc và đến gần Trái đất “vào thời Akiti”, khi Năm Mới của người Mesopotamia bắt đầu. Đến tháng Hai hành tinh này ở gần sao Hỏa nhất. Như vậy là “từ tháng Hai tới tháng Addar” (tháng Mười hai), hành tinh này đã gây ra trận Đại Hồng thủy trên Trái đất.

Kết luận này hoàn toàn phù hợp với khẳng định trong Kinh thánh rằng “các giếng trời mở toang” vào ngày thứ bảy của tháng Hai. Con tàu đến đậu trên đỉnh Ararat vào tháng Bảy; các vùng đất khô khác xuất hiện vào tháng Mười; và trận Đại Hồng thủy kết thúc vào tháng Mười hai – vì vào “ngày đầu tiên của tháng Một” của năm tiếp theo, Noah mở cửa con tàu này để ra ngoài.

Bước sang giai đoạn hai của trận Đại Hồng thủy, khi nước bắt đầu rút xuống, bản ghi chép gọi tên hành tinh này là SHUL.PA.KUN.E:

Đấng Anh hùng, Chúa tể Giám sát

Người thu thập những dòng nước;

Người được tạo nên từ những dòng nước

Những dòng nước công chính quét sạch mọi xấu xa;

Giữa ngọn núi 2 đỉnh

Neo đậu một…

… cá, sông, sông; nước lũ dừng lại.

Giữa núi non, một con chim nghỉ chân trên cây.

Ngày mà… nói.

Tuy một số dòng không thể đọc được, nhưng ta vẫn có thể thấy rõ những điểm tương đồng giữa Kinh thánh và các câu chuyện Hồng thủy của người Mesopotamia: Nước lụt dừng lại, con tàu “neo lại” giữa 2 đỉnh của một ngọn núi; các dòng sông lại bắt đầu chảy từ ngọn nguồn trên núi và đưa nước trở về đại dương; cá đã xuất hiện; một con chim được thả ra từ con tàu. Thảm họa kết thúc.

Hành tinh thứ Mười hai đã băng qua “điểm vượt qua” của nó. Nó đã đến gần Trái đất và bắt đầu cùng các vệ tinh của mình di chuyển ra xa:

Khi Đấng Thông thái kêu lên: “Lũ lụt!”

Đó là thần Nibiru [“Hành tinh Vượt qua”];

Đó là Đấng Anh hùng, hành tinh 4 đầu.

Vị thần với vũ khí là Bão tố Lụt lội,

sẽ quay lại;

Ngài hạ xuống nơi nghỉ ngơi của mình.

(Ghi chép này khẳng định hành tinh này trên đường trở ra sẽ lại cắt qua đường đi của sao Thổ vào tháng Ululu, tháng Sáu của năm.)

Kinh Cựu ước thường nhắc tới thời kỳ khi Đức Chúa còn làm cho mặt đất bị bao phủ bởi nước của vực thẳm. Bài Thánh Vịnh thứ 29 mô tả về “tiếng gọi” cũng như sự “quay lại” của “nước lũ mênh mông” của Đức Chúa:

Hãy dâng Chúa, hỡi chư thần chư thánh,

dâng Chúa quyền lực và vinh quang…

Tiếng Chúa rền vang trên sóng nước,

Thiên Chúa hiển vinh cho sấm nổ ầm ầm,

ngự trị trên nước lũ mênh mông…

Tiếng Chúa thật hùng mạnh,

Tiếng Chúa thật uy nghiêm;

Tiếng Chúa đánh gãy ngàn hương bá…

Người làm cho [dãy] Lebanon thành như bê nhảy nhót,

[Đỉnh] Sirion khác nào nghé tung tăng.

Tiếng Chúa phóng ra ngàn tia lửa,

Tiếng Chúa lay động vùng sa mạc…

Còn trong Thánh điện của Người,

tất cả cùng hô: “Vinh danh Chúa!”

Chúa [nói] với cơn Hồng thủy: “Hãy quay lại!”

Chúa là Vua ngự trị muôn đời.

Trong bài Thánh Vịnh thứ 77 đầy hoành tráng – Tôi cất lời kêu lên cùng Chúa – Vua David đã hồi tưởng lại sự xuất hiện và biến mất của Đức Chúa thời xa xưa:

Tôi hồi tưởng lại bao ngày xa cũ,

Những năm tháng của Olam…

Con tưởng nhớ bao việc Ngài làm,

Tưởng nhớ những kỳ công của Ngài thuở trước.

Lạy Thiên Chúa, đường lối Ngài quả là thánh thiện,

Có thần nào cao cả như Thiên Chúa…

Nước đã thấy Ngài, lạy Thiên Chúa, nước rùng mình khiếp sợ,

Ngang dọc khắp trời, tên lửa Ngài bay.

Tiếng sấm của Chúa ầm ầm vang dội,

Ánh chớp chói loà soi sáng thế gian,

Khắp địa cầu lung lay rung chuyển.

Ðường của Chúa băng qua biển rộng,

Lối của Ngài rẽ nước mênh mông,

Mà chẳng ai nhận thấy vết chân Ngài.

Bài Thánh Vịnh thứ 104 ca ngợi những chiến công của Thiên Chúa hồi tưởng lại thời kỳ khi các đại dương ngập tràn lục địa và sau đó phải rút lui:

Chúa lập địa cầu trên nền vững,

Khôn chuyển lay muôn thuở muôn đời!

Áo đại dương Ngài choàng lên trái đất,

Khối nước nguồn tụ lại đỉnh non cao.

Khi Ngài cất tiếng, nước bỏ chạy;

Sấm Ngài mới rền vang, chúng kinh hoàng trốn đi.

Chúng băng qua núi qua đồi, chảy xuôi ra đồng nội

về nơi Chúa đã đặt cho.

Ngài vạch đường ranh giới ngăn cản chúng vượt qua,

Không còn cho trở lại dâng lên ngập địa cầu.

Những lời của nhà tiên tri Amos thậm chí còn rõ ràng hơn:

Khốn cho những kẻ khát mong ngày của Ðức Chúa.

Ngày của Ðức Chúa sẽ là gì cho các ngươi?

Ngày đó sẽ là tối tăm, chứ không phải ánh sáng…

Ðấng đổi ánh sáng ra bóng tối chết chóc,

Biến ngày thành đêm tối tăm,

Ðấng gọi nước biển lên

rồi tưới chúng xuống Mặt đất.

Như vậy đây chính là những sự kiện đã diễn ra trong “những ngày xưa cũ”. “Ngày của Đức Chúa” chính là ngày diễn ra trận Đại Hồng thủy.

Chúng tôi đã từng chỉ ra rằng sau khi đổ bộ xuống Trái đất, người Nefilim đã gắn những thời gian trị vì đầu tiên ở các thành phố đầu tiên với các thời đại hoàng đạo – nghĩa là đặt tên cho các cung hoàng đạo theo tên của các vị thần khác nhau. Giờ đây chúng tôi phát hiện ra rằng bản ghi chép do Ebeling tìm thấy chứa đựng những thông tin không chỉ về lịch của con người mà còn về lịch của người Nefilim. Nó cho chúng ta biết rằng trận Đại Hồng thủy diễn ra vào “thời đại của chòm sao Sư tử”:

Đấng Tối cao, Đấng Tối cao, Đấng Cứu thế;

Chúa tể với vương miện sáng ngời gây bao nỗi kinh hoàng.

Hành tinh Tối cao: Chiếc ghế mà ngài tạo nên

Đối diện với quỹ đạo nhỏ bé của hành tinh đỏ [sao Hỏa].

Ngày ngày ngài rực cháy trong cung Sư tử;

Vương vị rực rỡ của ngài chiếu sáng trên toàn cõi đất đai.

Giờ thì chúng ta cũng có thể hiểu được một câu thơ bí ẩn trong những bài ca mừng Năm Mới rằng chính “chòm sao Sư tử đánh giá những dòng nước của vực thẳm”. Những tuyên bố này đặt thời kỳ diễn ra trận Đại Hồng thủy vào một khuôn khổ rõ ràng, vì tuy rằng hiện nay các nhà thiên văn không thể xác định chính xác nơi người Sumer bắt đầu một ngôi nhà hoàng đạo, nhưng thời gian biểu sau đây của các thời đại hoàng đạo được coi là chính xác.

Năm 60 TCN đến năm 2100 sau CN - Thời đại Song Ngư

Năm 2200 TCN đến 60 TCN - Thời đại Bạch Dương

Năm 4380 TCN đến 2220 TCN - Thời đại Kim Ngưu

Năm 6540 TCN đến 4380 TCN - Thời đại Song Tử

Năm 8700 TCN đến 6540 TCN - Thời đại Cự Giải

Năm 10860 TCN đến 8700 TCN - Thời đại Sư Tử

Nếu như trận Đại Hồng thủy diễn ra trong Thời đại Sư tử hay khoảng thời gian nào đó từ năm 10860 TCN đến 8700 TCN thì thời gian diễn ra trận Đại Hồng thủy này nằm chính ngay trong thời gian biểu của chúng ta: Theo khoa học hiện đại, kỷ băng hà cuối cùng kết thúc một cách đột ngột ở bán cầu nam vào khoảng 12.000 đến 13.000 năm trước và ở bán cầu bắc vào 1.000 hoặc 2.000 năm sau đó.

Hiện tượng tuế sai hoàng đạo còn củng cố thêm một cách toàn diện hơn cho kết luận của chúng tôi. Chúng tôi đã cho rằng người Nefilim đổ bộ xuống Trái đất 432.000 năm (120 shar) trước khi trận Đại Hồng thủy diễn ra vào Thời đại Song Ngư. Theo chu trình tuế sai, 432.000 năm tạo nên 16 chu trình hoàn chỉnh, hay còn gọi là Năm Lớn (Great Year) và quá nửa một Năm Lớn nữa vào “thời đại” của chòm sao Sư tử.

Giờ đây chúng tôi có thể dựng lại thời gian biểu hoàn chỉnh cho các sự kiện gắn liền với các phát hiện của mình.
Số năm trước đây     SỰ KIỆN
445.000     Người Nefilim do Enki lãnh đạo từ Hành tinh thứ Mười hai đến Trái đất. Eridu – Trạm Trái đất I – được xây dựng ở miền nam Mesopotamia
430.000     Các dải băng lớn bắt đầu tan bớt. Khí hậu ôn hòa ở vùng Cận Đông.
415.000     Enki di chuyển vào trong nội địa, lập nên Larsa.
400.000     Thời kỳ gian băng lớn diễn ra trên toàn cầu. Enlil tới Trái đất, lập Nippur làm Trung tâm Điều khiển Sứ mệnh.
360.000     Người Nefilim lập Bad-Tibira làm trung tâm luyện kim để nấu chảy và tinh luyện kim loại. Sân bay vũ trụ Sippar cùng các thành phố của các vị thần khác được xây dựng.
300.000     Cuộc nổi loạn của các Anunnaki. Con người – “Nhân công Nguyên thủy” – được Enki và Ninhursag tạo ra.
250.000     Những người “Homo sapiens” đầu tiên sinh sôi nảy nở trên khắp các lục địa.
200.000     Sự sống trên Trái đất suy thoái trong thời kỳ băng hà mới.
100.000     Khí hậu ấm áp trở lại.

Con trai của các vị thần cưới con gái của Loài người làm vợ.
77.000     Ubartutu/Lamech, con trai của thần, được trao vương vị ở Shuruppak dưới sự bảo trợ của Ninhursag.
75.000     Thời kỳ “Mặt đất bị nguyền rủa” – một kỷ băng hà mới – bắt đầu. Những giống người thoái hóa lang thang khắp Mặt đất.
49.000     Thời kỳ trị vì của Ziusudra (“Noah”), “tôi tớ trung thành” của Enki bắt đầu.
38.000     Thời kỳ khí hậu khắc nghiệt “7 kỳ vượt qua” bắt đầu hủy diệt loài người. Người Neanderthal ở châu Âu biến mất, chỉ có Người Cro-Magnon (sinh sống ở vùng Cận Đông) tồn tại được.

Enlil quá thất vọng với Loài người và tìm cách xóa sổ Loài người.
13.000     Người Nefilim biết được trận sóng thần sắp xảy ra sẽ được châm ngòi bởi việc Hành tinh thứ Mười hai đang đến gần nên đã âm mưu để Loài người bị hủy diệt.

Trận Đại Hồng thủy tràn qua Trái đất, kết thúc kỷ băng hà một cách đột ngột.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 13.11.2017, 15:37
Hình đại diện của thành viên
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
Zmod of Trao Đổi - Học Hỏi
 
Ngày tham gia: 02.05.2014, 01:36
Tuổi: 29 Nữ
Bài viết: 26518
Được thanks: 4603 lần
Điểm: 9.42
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Khoa học tự nhiên] Hành tinh thứ 12 - Zecharia Sitchin - Điểm: 10
CHƯƠNG 15

VƯƠNG VỊ TRÊN TRÁI ĐẤT


Đại Hồng thủy, một trải nghiệm kinh hoàng đối với Loài người và cũng không phải là điều gì tốt đẹp đối với “các vị thần” – những người Nefilim.

Đại Hồng thủy và đối vớiTheo lời kể trong những bản danh sách các vị vua của người Sumer, “trận Đại Hồng thủy đã tràn qua” và bao công sức xây dựng suốt 120 shar đã đổ xuống sông xuống bể chỉ trong một đêm. Những khu mỏ ở miền nam châu Phi, những thành phố ở Mesopotamia, trung tâm điều khiển ở Nippur, sân bay vũ trụ ở Sippar – tất cả đều bị chôn vùi dưới nước lũ và bùn. Ngồi trong những chiếc phi thuyền bay lượn trên Mặt đất tan hoang, người Nefilim sốt ruột chờ đợi nước rút để có thể đặt chân lên nền đất cứng một lần nữa.

Sau này họ sẽ sống như thế nào trên Trái đất khi các thành phố và các cơ sở biến mất và ngay cả nguồn nhân lực của họ – Loài người – cũng bị hủy diệt hoàn toàn?

Cuối cùng khi những nhóm người Nefilim sợ hãi, kiệt sức và đói khát hạ cánh xuống những đỉnh núi của ngọn “Núi Cứu thế”, họ thực sự cảm thấy nhẹ nhõm hơn khi phát hiện ra rằng Loài người và các loài động vật không hoàn toàn bị xóa sổ. Ngay cả Enlil, tuy ban đầu rất tức giận khi biết rằng mục đích của mình không được trọn vẹn như ý muốn nhưng sau đó đã nhanh chóng thay đổi cách nghĩ.

Quyết định mà các vị thần đưa ra là một quyết định đầy tính thực tế. Đối mặt với những điều kiện kinh khủng hiện tại, người Nefilim phải gạt sang một bên những tham vọng đối với Loài người, xắn tay áo lên và không bỏ phí thời gian truyền lại cho con người những kỹ thuật cày cấy và chăn nuôi gia súc. Bởi vì sự sinh tồn rõ ràng phụ thuộc vào tốc độ phát triển nền nông nghiệp và thuần dưỡng súc vật nhằm duy trì sự sống cho bản thân các vị thần và loài người đang sinh sôi nảy nở nhanh chóng, nên người Nefilim đã ứng dụng những tri thức khoa học tiên tiến của mình để thực hiện nhiệm vụ này.

***

Vì không ý thức được rằng những thông tin này có thể đúc rút từ Kinh thánh và các ghi chép của người Sumer nên nhiều nhà khoa học nghiên cứu về nguồn gốc ra đời của nông nghiệp đã đưa ra kết luật rằng việc con người “khám phá” ra cách thức sản xuất nông nghiệp vào khoảng 13.000 năm trước đây có liên quan tới hiện tượng khí hậu “vừa ấm lên” diễn ra sau khi kỷ băng hà cuối cùng kết thúc. Tuy nhiên, trước các nhà khoa học hiện đại ngày nay một thời gian dài, Kinh thánh cũng đã đặt sự khởi đầu của nền nông nghiệp trong mối tương quan với thời kỳ hậu Hồng thủy.

“Mùa gieo và Mùa gặt” được Sáng Thế Ký mô tả như là món quà của thần linh ban cho Noah và con cái của ông trong giao ước hậu Hồng thủy giữa Đức Chúa và Con người:

Bao lâu Đất này còn,

Sẽ không ngừng đắp đổi

Mùa gieo và Mùa gặt,

Trời lạnh và Trời nóng,

Tiết hạ và Tiết đông,

Ban ngày và ban đêm.

Sau khi được truyền lại kiến thức về nông nghiệp, “Noah làm nghề nông, ông là người đầu tiên trồng nho”: Ông trở thành người nông dân đầu tiên sau trận Hồng thủy tham gia vào nhiệm vụ trồng cấy thâm canh đầy phức tạp.

Các ghi chép của người Sumer cũng mô tả việc các vị thần truyền lại cho con người cả kiến thức về nông nghiệp và cách thuần hóa các loài vật.

Trong quá trình lần theo thời kỳ đầu tiên của nền sản xuất nông nghiệp, các chuyên gia đương đại đã phát hiện ra rằng có vẻ như nền nông nghiệp xuất hiện đầu tiên ở vùng Cận Đông, nhưng không phải trên những vùng đồng bằng và thung lũng màu mỡ, dễ trồng cấy. Thay vào đó, nền nông nghiệp bắt đầu trên những rặng núi dọc theo những vùng đồng bằng thấp tạo thành hình bán nguyệt. Tại sao các nông dân thời cổ đại không lựa chọn vùng đồng bằng mà lại giới hạn việc gieo trồng và gặt hái trong địa hình đồi núi khó khăn hơn nhiều?

Câu trả lời hợp lý duy nhất cho câu hỏi trên là những vùng đất thấp này vẫn chưa có bóng người vào thời kỳ nền nông nghiệp xuất hiện; 13.000 năm trước các khu vực thấp trũng này vẫn chưa đủ khô ráo sau trận Hồng thủy. Phải mất nhiều thiên niên kỷ thì các đồng bằng và thung lũng này mới đủ khô ráo để con người từ những dãy núi bao quanh Mesopotamia di chuyển tới đây và định cư trên các vùng đồng bằng thấp trũng này. Quả thực đây chính là những gì mà Sáng Thế Ký nói với chúng ta: Sau nhiều thế hệ kể từ trận Đại Hồng thủy, Con người đến “từ phía đông” – từ những khu vực đồi núi phía tây Mesopotamia – “tìm thấy một vùng đồng bằng ở xứ Shin’ar [Sumer] và định cư ở đó”.

Các ghi chép của người Sumer khẳng định rằng ban đầu Enlil rải hạt ngũ cốc “ở vùng đồi núi” – không phải đồng bằng – và rằng ngài có thể thu hoạch được ở vùng đồi núi bằng cách giữ cho nước lụt không dâng lên. “Ngài chặn các quả núi bằng một cánh cửa.” Tên của vùng đất đồi núi ở phía đông Sumer này, E.LAM, có nghĩa là “ngôi nhà nơi cây cối nảy mầm”. Sau đó, hai trợ thủ của Enlil là thần Ninazu và Ninmada đã mở rộng việc trồng ngũ cốc xuống các vùng đồng bằng trũng thấp để cuối cùng “Sumer, xứ sở không biết đến thóc lúa, rồi cũng biết thóc lúa là gì”.

Các chuyên gia với quan điểm hiện tại cho rằng nền nông nghiệp bắt đầu với việc thuần dưỡng lúa emmer hoang để làm lúa mỳ và lúa mạch lại không thể giải thích được làm thế nào mà những giống lúa cổ xưa nhất (như giống lúa được tìm thấy trong chiếc hang Shanidar) đều đồng nhất và mang tính chuyên biệt cao. Tự nhiên phải mất hàng ngàn thế hệ chọn lọc gen để đạt được một mức độ phức tạp dù là khiêm tốn nhất. Vậy mà chúng ta không hề tìm thấy dấu vết về thời kỳ, thời gian hay địa điểm diễn ra quá trình lâu dài và chậm chạp đó trên Trái đất. Kỳ tích về di truyền thực vật này không thể nào giải thích nổi, trừ phi đó không phải là quá trình chọn lọc tự nhiên mà là có sự can thiệp nhân tạo.

Lúa mỳ Spelt, một loại lúa mỳ hạt nhỏ, còn là một bí ẩn lớn hơn nữa. Nó là sản phẩm của “một hỗn hợp khác thường của gen thực vật”, không phải là sự phát triển hay biến đổi từ một nguồn gen nhất định. Rõ ràng nó là kết quả của việc trộn lẫn các gen của một số loài thực vật. Còn việc con người thay đổi các loài động vật thông qua quá trình thuần hóa chỉ trong vài ngàn năm cũng là một vấn đề gây nhiều tranh cãi.

Các chuyên gia đương đại không có câu trả lời cho những vấn đề này và cũng không giải thích được cho câu hỏi chung rằng tại sao vùng bán nguyệt đồi núi ở vùng Cận Đông cổ đại trở thành nơi cung cấp liên tục các giống ngũ cốc, thực vật, cây trồng, cây ăn quả, rau và động vật thuần hóa mới.

Nhưng người Sumer lại biết câu trả lời. Họ cho rằng, những hạt giống này là món quà được Anu từ trên Thiên Cung gửi xuống Trái đất. Lúa mỳ, lúa mạch và cây gai dầu được đưa xuống Trái đất từ Hành tinh thứ Mười hai. Nền nông nghiệp và việc thuần hóa động vật là những món quà theo thứ tự được Enlil và Enki trao cho Con người.

Không chỉ sự xuất hiện của người Nefilim mà những lần Hành tinh thứ Mười hai đến gần Trái đất dường như cũng đóng một vai trò quan trọng trong 3 giai đoạn phát triển chủ yếu diễn ra cách nhau 3.600 năm của văn minh nhân loại hậu Hồng thủy: văn minh nông nghiệp vào khoảng năm 11000 TCN, thời kỳ Đồ đá mới vào khoảng năm 7500 TCN và nền văn minh đột ngột vào năm

3800 TCN.

Có vẻ như người Nefilim đã truyền thụ kiến thức cho Con người theo mức định sẵn, theo chu trình trùng với chu kỳ Hành tinh thứ Mười hai trở lại gần Trái đất. Như thể trước khi ban ra mệnh lệnh “tiếp tục”, giữa các “vị thần” đã có một số hoạt động xem xét thực địa, tham vấn trực tiếp vốn chỉ có thể tiến hành trong thời kỳ “cửa sổ”, thời kỳ có thể thực hiện các chuyến bay giữa Trái đất và Hành tinh thứ Mười hai.

“Sử thi Etana” cho ta cái nhìn tổng quát về những cuộc tranh luận đã diễn ra. Thiên sử thi này kể rằng trong những ngày tháng hậu Hồng thủy:

Các Anunnaki vĩ đại quyết định số mệnh

ngồi trao đổi ý kiến của mình về xứ sở.

Họ đã lập nên 4 vùng,

những đấng góp tay dựng nên các khu định cư, trông nom toàn

xứ sở,

họ quá cao quý so với Con người.

Câu chuyện kể rằng người Nefilim đã đi đến kết luận rằng họ cần có một đối tượng trung gian giữa họ và đám đông người phàm kia. Họ quyết định rằng mình phải là các vị thần – các elu trong tiếng Akkad, có nghĩa là “những Đấng Cao quý”. Để tạo nên chiếc cầu nối giữa họ, những chúa tể, với Loài người, họ đã tạo nên “Vương vị” trên Trái đất: bổ nhiệm một con người làm vua để đảm bảo sự phụng sự của Con người đối với các vị thần và đóng vai trò là kênh truyền đạt tri thức và luật pháp của các vị thần tới cho Con người.

Một bản ghi chép về chủ đề này mô tả tình hình trước khi Con người được trao vương miện hay được ban quyền trượng, tất cả những biểu tượng của Vương vị này – cộng thêm cả chiếc gậy của Đấng Chăn chiên, biểu tượng của công bằng và chính nghĩa – đều “được đặt trước mặt Anu trên Thiên đường”. Tuy nhiên, sau khi các vị thần đi đến quyết định này, “Vương vị đã được trao từ trên Thiên đường” xuống Trái đất.

Các ghi chép của cả người Sumer và người Akkad đều khẳng định rằng người Nefilim đã giữ lại “Địa vị Chúa tể” trên các vùng đất và để con người lần đầu tiên xây dựng lại những thành phố từ thời trước Hồng thủy đúng tại nơi mà chúng từng tồn tại và theo đúng như kế hoạch: “Hãy đặt những viên gạch của tất cả các thành phố vào những vị trí đã định, hãy để tất cả [những viên gạch] này nằm trên các thánh địa.” Sau đó, Eridu là thành phố đầu tiên được xây dựng lại.

Sau đó người Nefilim đã giúp con người lên kế hoạch xây dựng kinh thành đầu tiên và họ ban phước cho nó. “Thành này sẽ là chiếc nôi nơi Con người nghỉ ngơi. Đức Vua là Đấng Chăn chiên.”

Các ghi chép của người Sumer cho ta biết rằng kinh thành đầu tiên của Con người chính là Kish. “Khi Vương vị một lần nữa được trao xuống từ Thiên đường, Vương vị nằm ở Kish.” Tuy nhiên bản danh sách các vua của người Sumer lại bị vỡ ngay tại nơi khắc tên vị vua đầu tiên của Loài người. Nhưng chúng ta vẫn biết rằng ông ta đã bắt đầu một triều đại kéo dài qua nhiều đời với kinh thành được dời từ Kish tới Uruk, Ur, Awan, Hamazi, Aksak, Akkad, sau đó tới Ashur và Babylon và các kinh thành sau này.

“Bảng danh sách các Nước” trong Kinh thánh cũng coi Nimrud – vị tổ phụ của các vương quốc Uruk, Akkad, Babylon và Assyria – là người đến từ thành Kish. Nó ghi lại quá trình mở rộng của Con người, xứ sở và Vương vị của họ, cũng như kết quả của việc Loài người được chia thành 3 nhánh sau trận Đại Hồng thủy. Được đặt tên theo tên gọi của các ông tổ là 3 người con trai của Noah, họ gồm có người dân và xứ sở của Shem, những người sinh sống ở Mesopotamia và vùng Cận Đông; người Ham, những người định cư ở châu Phi và một số khu vực của Ả-Rập; và người Japheth thuộc hệ Ấn-Âu ở vùng Tiểu Á, Ấn Độ và châu Âu.

Hiển nhiên 3 nhánh này là 3 “vùng” định cư đã được các Anunnaki vĩ đại bàn bạc. Mỗi vùng được giao cho một trong số các vị thần đứng đầu phụ trách. Dĩ nhiên một trong 3 vùng đó là Sumer, khu vực của người Semite, nơi nền văn minh lớn đầu tiên của con người nở rộ.

Hai khu vực còn lại cũng trở thành nơi chứng kiến sự phát triển của các nền văn minh thịnh vượng. Vào khoảng năm 3200 TCN – khoảng nửa thiên niên kỷ sau sự bùng nổ của nền văn minh Sumer – một quốc gia với Vương vị và nền văn minh lần đầu tiên xuất hiện trong thung lũng sông Nile và trở thành nền văn minh Ai Cập vĩ đại thời kỳ đó.

Mãi đến 50 năm trước đây chúng ta mới biết về sự tồn tại của nền văn minh Ấn-Âu lớn đầu tiên. Đến nay chúng ta có thể khẳng định rằng đã có một nền văn minh tiến bộ với những thành phố lớn, nền nông nghiệp phát triển, giao thương thịnh vượng tồn tại ở thung lũng sông Ấn thời kỳ cổ đại. Các chuyên gia tin rằng nền văn minh này hình thành khoảng 1.000 năm sau khi nền văn minh Sumer bắt đầu. (Hình 161)

Các ghi chép cổ đại và những bằng chứng khảo cổ đã chứng minh cho mối liên hệ gần gũi về văn hóa và kinh tế giữa các nền văn minh ở lưu vực 2 con sông này với nền văn minh Sumer có từ trước. Hơn thế nữa, đa số các chuyên gia đều bị thuyết phục bởi các bằng chứng trực tiếp và gián tiếp rằng các nền văn minh của sông Nile và sông Ấn không chỉ có liên hệ mà thực sự là sản phẩm của nền văn minh Mesopotamia lâu đời hơn.

Người ta đã phát hiện ra rằng dưới lớp “da” bằng đá của các kim tự tháp, những lăng mộ hùng vĩ nhất của Ai Cập mô phỏng theo kiểu tháp ziggurat của người Mesopotamia; và chúng ta có lý do để tin rằng kiến trúc sư thiên tài tạo ra các bản thiết kế và giám sát việc xây dựng các kim tự tháp vĩ đại này là một vị thần được người Sumer sùng kính. (Hình 162)

images

Hình 161

Người Ai Cập cổ đại đặt tên cho xứ sở của mình là “Xứ sở được Nâng lên” và trong ký ức tiền sử của họ có “một vị thần vĩ đại đến đây từ thời xa xưa nhất” phát hiện ra vùng đất này nằm ngập dưới nước và bùn lầy. Ngài đã tiến hành những công việc cải tạo vĩ đại để “nâng” vùng đất Ai Cập từ dưới nước lên. “Huyền thoại” này mô tả chính xác vùng thung lũng thấp trũng của sông Nile thời kỳ hậu Hồng thủy; và ta có thể chỉ ra rằng vị lão thần đó không ai khác chính là Enki, kỹ sư trưởng của người Nefilim.

images

Hình 162

Cho đến nay tuy nền văn minh châu thổ sông Ấn vẫn còn rất nhiều bí ẩn nhưng chúng ta biết rõ rằng nền văn minh này cũng tôn sùng con số 12 là con số thần thánh tối cao; rằng họ khắc họa các vị thần của mình có hình dáng như con người với những chiếc mũ có sừng; và rằng họ sùng kính biểu tượng chữ thập – ký hiệu của Hành tinh thứ Mười hai. (Hình 163, 164)

Nếu cả 2 nền văn minh này đều bắt nguồn từ Sumer, thì tại sao ngôn ngữ viết của chúng lại khác nhau? Các nhà khoa học khẳng định rằng các loại chữ viết này không hề khác nhau. Điều này được công nhận lần đầu tiên vào năm 1852, khi Reverend Charles Foster (The One Primeval Language – tạm dịch: Một ngôn ngữ nguyên thủy) chứng tỏ rằng tất cả các ngôn ngữ cổ đại được giải mã cho đến thời bấy giờ, bao gồm cả tiếng Trung Quốc cổ và các ngôn ngữ Viễn Đông khác đều bắt nguồn từ một ngôn ngữ nguyên thủy – và ngôn ngữ đó được chỉ ra là tiếng Sumer.

images

Hình 163

Một số loại chữ tượng hình không chỉ đơn thuần là có nghĩa giống nhau, vốn có thể là kết quả của sự trùng hợp, mà chúng còn có nhiều nghĩa khác giống nhau và có cùng âm thanh ngữ âm – điều chỉ xảy ra khi chúng có cùng một nguồn gốc. Gần đây, các chuyên gia đã chỉ ra rằng những bản khắc đầu tiên của Ai Cập sử dụng một loại ngôn ngữ biểu thị sự phát triển từ trước về mặt chữ viết; nơi duy nhất có ngôn ngữ viết với trình độ phát triển trước chính là Sumer.

Vậy là chúng ta có một ngôn ngữ viết không hiểu vì lý do nào đó đã phân tách thành 3 ngôn ngữ khác nhau: tiếng Mesopotamia, tiếng Ai Cập/Hamitic và tiếng Ấn-Âu. Sự phân tách này có thể là quá trình tự diễn ra theo thời gian, không gian và khoảng cách địa lý. Tuy nhiên các ghi chép của người Sumer nói rằng nó là kết quả của một quyết định do các vị thần đưa ra và lại là do Enlil khởi xướng. Những câu chuyện của người Sumer về chủ đề này cũng xuất hiện trong câu chuyện Kinh thánh nổi tiếng về Tháp Babel với nội dung: “mọi người đều nói một thứ tiếng và dùng những từ như nhau”. Nhưng sau khi những người này đến định cư ở Sumer, biết được kỹ thuật làm gạch, xây dựng thành phố và dựng lên những tòa tháp cao (ziggurat), họ đã lên kế hoạch tự chế tạo cho mình một chiếc shem và một chiếc tháp để phóng nó. Vì lẽ đó “Ðức Chúa đã làm xáo trộn tiếng nói của mọi người trên Mặt đất”.

Việc Ai Cập được nâng lên từ vùng nước lầy lội đi kèm với những dẫn chứng về ngôn ngữ và các ghi chép của người Sumer cùng với Kinh thánh càng củng cố vững chắc cho kết luận của chúng tôi rằng 2 nền văn minh vệ tinh kia đã không phát triển một cách ngẫu nhiên. Ngược lại, chúng đều được lên kế hoạch và được thực hiện theo quyết định mà người Nefilim đưa ra.

Rõ ràng là do lo sợ Loài người thống nhất về văn hóa và mục đích, người Nefilim đã áp dụng chính sách đế quốc: “Chia để trị”. Vì khi Loài người đạt đến trình độ văn hóa có thể chinh phục được bầu trời và từ đó “chẳng có gì chúng định làm mà không làm được” thì vị thế của chính bản thân người Nefilim sẽ bị giảm sút. Đến thiên niên kỷ 3 TCN, những vị thần con cháu, chưa kể các vị á thần, đang gây áp lực lớn lên các vị thần già cả vĩ đại.

Cuộc đối đầu đầy cay đắng giữa Enlil và Enki được truyền lại cho những người con trai của họ và những cuộc đấu đá dữ dội tranh giành địa vị tối cao nổ ra liên miên không dứt. Ngay cả các con trai của Enlil – như ta đã thấy ở các chương trước – cũng lao vào cuộc chiến huynh đệ tương tàn và các con trai của Enki cũng vậy. Đúng như những gì được ghi chép lại trong lịch sử Loài người, các đấng chúa tể tìm cách giữ hòa khí giữa các con của mình bằng cách phân chia lãnh địa cho từng người thừa kế. Ít nhất trong một trường hợp mà chúng ta biết, một người con trai (Ishkur/Adad) đã được Enlil cố ý đẩy đi làm vị thần địa phương ở Xứ sở Đồi núi.

Thời gian trôi qua, các vị thần trẻ này rồi cũng trở thành chúa tể, mỗi vị bảo vệ lãnh thổ, lĩnh vực hay ngành nghề mà mình được trao quyền cai quản trong sự đố kỵ. Các vị vua con người là mối liên hệ trung gian giữa các vị thần và loài người đang phát triển lan rộng khắp nơi. Chúng ta không nên phớt lờ tuyên bố của các vị vua cổ đại rằng họ tiến hành chiến tranh, chinh phục những vùng đất mới hay khuất phục những dân tộc xa xôi “theo mệnh lệnh của thần linh”. Nhiều ghi chép đã khẳng định rằng điều đó hoàn toàn đúng đắn theo nghĩa đen. Các vị thần nắm giữ quyền tiến hành các hoạt động đối ngoại, bởi các hoạt động này liên quan đến các vị thần khác ở những lãnh thổ khác. Bởi vậy, họ có quyền đưa ra tiếng nói quyết định trong các vấn đề về chiến tranh và hòa bình.

Với sự phát triển nhanh chóng của con người, bang thành, đô thị và các làng quê, việc tìm ra những cách thức để nhắc nhở con người nhớ về chúa tể hay “Đấng Cao quý” của họ càng trở nên bức thiết. Kinh Cựu ước cũng đề cập đến vấn đề con người cần trung thành với Đức Chúa của họ và không “bán rẻ mình theo các vị thần khác”. Giải pháp được đưa ra là xây dựng thật nhiều nơi thờ cúng và đặt vào trong mỗi đền thờ những biểu tượng và hình ảnh của những vị thần “xứng đáng”.

Kỷ nguyên của tôn giáo đa thần bắt đầu.

***

Các ghi chép của người Sumer cho ta biết rằng, sau trận Hồng thủy, người Nefilim đã tiến hành những buổi bàn bạc trong thời gian dài về tương lai của các vị thần và con người trên Trái đất. Kết quả của những cuộc tranh luận đó là họ đã “tạo ra 4 vùng”. Ba vùng trong số đó – Mesopotamia, thung lũng sông Nile và thung lũng sông Ấn – đã được con người đến định cư.

Vùng thứ tư là “vùng thiêng” – một thuật ngữ có nghĩa gốc là “chuyên biệt, hạn chế”. Đây là một “xứ sở thuần khiết” chỉ dành riêng cho các vị thần, một vùng đất chỉ đến được khi được phép; việc xâm nhập có thể dẫn đến những cái chết nhanh chóng bởi những “vũ khí khủng khiếp” được những người lính canh dữ dằn sử dụng. Xứ sở hay vùng đất này được gọi là TIL.MUN (nghĩa đen là “nơi của những tên lửa”). Đó là khu vực cấm nơi người Nefilim xây dựng lại căn cứ vũ trụ của mình sau khi căn cứ tại Sippar bị trận Đại Hồng thủy cuốn trôi.

Một lần nữa khu vực này được đặt dưới quyền chỉ huy của Utu/Shamash, vị thần phụ trách những quả tên lửa. Những vị anh hùng cổ đại như Gilgamesh đã tìm cách đến được Xứ sở Trường sinh, được một chiếc shem hay một Đại bàng đưa tới Thiên Cung của các vị thần. Chúng ta hãy nhớ lại lời khẩn cầu của Gilgamesh hướng tới Shamash:

Xin hãy để con bước vào Xứ sở, hãy cho con phóng chiếc Shem

của mình…

Bằng cuộc sống của vị nữ thần đã sinh ra con,

với vị vua trung thành thuần khiết, người cha của con

con thẳng bước tới Xứ sở!

Những câu chuyện từ thời cổ đại – và thậm chí là lịch sử được ghi chép lại – đều nhắc đến những nỗ lực không ngừng nghỉ của con người để “đến được xứ sở này”, tìm thấy “Cây Trường sinh”, có được niềm hạnh phúc vĩnh cửu giữa các vị thần của Thiên đường và Mặt đất. Khát vọng này là cốt lõi của tất cả các tôn giáo với cội rễ bắt nguồn từ Sumer: Niềm hy vọng rằng công lý và chính nghĩa mà con người theo đuổi trên Trái đất sẽ đưa đến một “kiếp sau” ở nơi Thiên đường nào đó.

Nhưng xứ sở xa vời của thần linh này nằm ở đâu?

Câu hỏi này có thể trả lời được. Các bằng chứng đều ở đó nhưng lơ lửng phía trên nó lại là những câu hỏi khác. Từ bấy đến nay Loài người đã chạm trán với người Nefilim chưa? Điều gì sẽ xảy ra khi chúng ta lại chạm trán với họ lần nữa?

Và nếu như người Nefilim là những “vị thần” đã “sáng tạo” ra Con người trên Trái đất thì phải chăng người Nefilim được tạo ra trên Hành tinh thứ Mười hai chỉ thông qua quá trình tiến hóa?

HẾT.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 18 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
1 • [Hiện đại] Hôn nhân bất ngờ Đoạt được cô vợ nghịch ngợm - Luật Nhi

1 ... 26, 27, 28

2 • [Xuyên không] Đích nữ nhị tiểu thư - Tình Đa Đa

1 ... 12, 13, 14

3 • [Hiện đại] Chỉ hoan không yêu Tổng giám đốc xấu xa chớ thô lỗ - Hải Diệp

1 ... 18, 19, 20

4 • [Hiện đại - Trùng sinh] Chồng trước có độc - Khu Khu Nhất Nhật

1 ... 8, 9, 10

5 • [Hiện đại] Vợ yêu thịnh thế của thiếu tướng - Nguyên Cảnh Chi

1 ... 11, 12, 13

6 • [Xuyên không - Trùng sinh] Cách phát tài của thương phụ - Tiêu Tùy Duyên

1 ... 7, 8, 9

7 • List truyện ngôn tình hoàn + Ebook [Update 10/11]

1 ... 14, 15, 16

8 • [Xuyên không] Sủng thê manh y tài nữ - Thích Hề

1 ... 6, 7, 8

9 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 44, 45, 46

10 • [Xuyên không] Thứ nữ yểu điệu - Đông Ly Cúc Ẩn

1 ... 13, 14, 15

11 • [Xuyên không] Cuộc sống điền viên của Tình Nhi - Ngàn Năm Thư Nhất Đồng

1 ... 53, 54, 55

12 • [Hiện đại] Vợ yêu tổng tài phóng ngựa tới đây - Lăng Thanh Điểu

1 ... 12, 13, 14

13 • [Xuyên không - Dị giới] Nam thừa nữ thiếu thật đáng sợ - Kim Đại

1 ... 10, 11, 12

14 • [Hiện đại] Thượng tá không quân xấu xa - Thỏ Thỏ Hồng Nhan Nhiễu

1 ... 28, 29, 30

15 • [Hiện Đại] Những bí ẩn của lãnh đạo thú tính - Lý Tiểu Lang

1 ... 64, 65, 66

[Cổ đại - Trọng sinh] Sủng thê làm hoàng hậu - Mạt Trà Khúc Kỳ

1 ... 15, 16, 17

17 • [Hiện đại] Chồng tôi ít tuổi hơn tôi - Hùng Tiên Sinh

1, 2, 3

[Hiện đại] Kẻ lập mưu - Tổng Công Đại Nhân

1 ... 5, 6, 7

19 • [Hiện đại] Cướp tình Tổng giám đốc ác ma rất dịu dàng - Nam Quan Yêu Yêu

1 ... 18, 19, 20

List truyện Xuyên không + Chủng điền văn + Trùng sinh hoàn (Update ngày 14/10)

1 ... 18, 19, 20


Thành viên nổi bật 
Hạ Quân Hạc
Hạ Quân Hạc
Tuyền Uri.
Tuyền Uri.
Vu Kỳ
Vu Kỳ

Lâm Mỵ Mỵ: Duyên phận kiêu ngạo: viewtopic.php?style=2&t=407217
ღ_kaylee_ღ: 358 phế hậu của lãnh hoàng:
viewtopic.php?t=337915&p=3287294#p3287294
ღ๖ۣۜMinhღ: Màu cam @@
ღ_kaylee_ღ: 153 phế sài muốn nghịch thiên, ma đế cuồng phi:
viewtopic.php?t=404940&p=3287291#p3287291
Tuyền Uri: Nùi quà :lol: :sofunny:
Cô Quân: Mờiyou tới box Thú cưng - Cây cảnh
Cùng xem Điểm tin thú cưng, động vật được cập nhật thường xuyên.
Hay các Mẹo vặt làm vườn cho vườn cây nhà bạn luôn xanh mát~~
Tuyền Uri.: Về nào, 3h trôi nhanh gớm quẩy chưa đã :cry5:
Đường Thất Công Tử: tội em nhỏ :cry:
Thư Niệm: Khóc mẹ nó rồi :cry: :cry: :cry: cả khán phòng cùng hát my heaven :cry:
Đường Thất Công Tử: nghĩ lại xem đoạn cuối thaasy cảm động :cry:
Đường Thất Công Tử: thư niệm  :yeah:
Thư Niệm: Mới bay hôm qua :)2 t còn 2 vé nữa
Đào Sindy: hay thím ở Nhật vậy
Thư Niệm: Khụ.. bị nhắc ko cho quay video :cry2:
Đào Sindy: sang Nhật luôn à
Thư Niệm: Nhật má ơi :cry2:
Đào Sindy: sang hàn sao :no3:
Thư Niệm: Phì bổn cung đang ở 1 nơi xa vn :no3:
Đào Sindy: bigbang sang việt nơm à
Thư Niệm: Đang quẩy :lol:
Đào Sindy: đi concert ư?
Đào Sindy: à
Thư Niệm: Đào =.,= uri
Thư Niệm: Oppa uy vũ :dance: 7 bài dòi oa oa còn thíu bài mụ tỏi
Đào Sindy: idol bạn là ai?
Thư Niệm: Cảm giác khi thấy thần tượng mình ngày đêm ngóng trước mặt muốn khóc  :cry:
baobaomoon: hm...tám ở chỗ này hở các thím :3
Gián: Ôi mở màn là sober bài bạn Ri thết :love3: thương
Gián: Cảm thấy hơi quê :cry2: oppa chưa ra mà cả đám hét ầm ầm
Lãng Nhược Y: :sofunny: Cả box màu cam :lol:

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.