Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 167 bài ] 

Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa cây cảnh

 
Có bài mới 10.09.2017, 15:36
Hình đại diện của thành viên
Ban quản lý
Ban quản lý
 
Ngày tham gia: 15.01.2016, 14:24
Tuổi: 18 Nữ
Bài viết: 650
Được thanks: 295 lần
Điểm: 7.9
Có bài mới Re: Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa cây cảnh - Điểm: 10
Kỹ thuật nhân giống chè bằng giâm cành

1. Đặc điểm phương pháp nhân giống chè bằng cành.

Sau khi chọn được giống tốt hoặc những cây đầu dòng ưu tú, cần phải tiến hành nhân giống với số lượng lớn để phục vụ sản xuất. Hiện nay trong sản xuất áp dụng phương nhân giống chè vô tính (giâm cành).

Giâm cành là biện pháp nhân giống vô tính, từ một đoạn cành chè bao gồm 1 - 2 lá cùng với chồi nách đem giâm trên một nền vật liệu (đất, cát) để tạo thành cây mới.

Phương pháp giâm cành có ưu và nhược điểm sau:

1.1. Ưu điểm:
- Quần thể đồng đều, giữ nguyên đặc tính cây mẹ.

- Năng suất cao, chất lượng và tính chống chịu ổn định.

- Hệ số nhân giống cao hơn nhân giống bằng hạt từ 15 - 20 lần.

1.2. Nhược điểm:
- Đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật công phu.

- Giá thành cao hơn nhân giống bằng hạt (thông thường chi phí trồng cành gấp 6 - 8 lần so với trồng bằng hạt).

2. Kỹ thuật giâm cành

2.1. Chọn địa điểm làm vườn giâm.
- Chọn nơi đất bằng hoặc hơi thoải dưới 5 độ, thoáng, gần nguồn nước tưới.

- Mực nước ngầm nhỏ hơn 1 mét, tiện lợi giao thông đi lại.

- Gần khu vực trồng chè.

2.2. Chọn thời vụ giâm
* Ở phía Bắc có 2 thời vụ giâm cành tốt nhất là vụ đông xuân và vụ hè thu.

- Vụ đông xuân có thể giâm cành từ 15 tháng 11 năm trước đến trung tuần tháng 2 năm sau.

- Vụ hè thu có thể giâm từ trung tuần tháng 6 đến trung tuần tháng 8. Vụ hè thu tỷ lệ sống thấp hơn vụ đông xuân do nhiệt độ không khí cao, mưa nhiều rất khó điều chỉnh ánh sáng và độ ẩm hợp lý. Nếu không thiếu giống nghiêm trọng thì miền Bắc chỉ nên giâm cành vào vụ đông xuân để vừa có hiệu quả trong sản xuất cây giống, vừa để vườn giống gốc có thời gian phục hồi sức sống.

* Ở miền Nam (vùng Tây Nguyên và Bảo Lộc): Thời vụ giâm từ tháng 4 đến tháng 8.

2.3. Thiết kế luống, chọn đất và đóng bầu
Sau khi chọn địa điểm tiến hành san bằng, đóng cọc căng dây phân luống. Những nơi sản xuất nhiều cần phân nhỏ thành từng vườn, mỗi vườn khoảng 500m2, vườn nọ cách vườn kia 2 m để cho thông thoáng.

Trong vườn cần xác định vị trí để đào giếng lấy nước tưới. Luống chè là nơi đặt các bầu chè giâm.

Luống có chiều dài 15 - 20 m, chiều rộng 1,0 - 1,2 m, giữa 2 luống chừa lại 1 rãnh rộng 40 - 50 cm để đi lại chăm sóc.

Xung quanh vườn đào hệ thống rãnh tiêu nước để đảm bảo vườn không bị úng khi mưa nhiều. Để đóng bầu cần chọn đất tơi xốp, đất có thành phần cơ giới trung bình.

Ở miền B ắc đất thường có màu đỏ nâu, ở miền Nam (Bảo Lộc) đất có màu xám.Trước khi lấy đất cần gạt tầng đất mặt từ 10 - 20 cm. Đất được đập nhỏ qua sàng (đường kính viên đất nhỏ hơn 0,5 cm), nếu có điều kiện đất có thể được phơi khô trước khi cho vào bầu càng tốt.

Túi đóng bầu là túi PE thường có kích thước 10 cm (nửa chu vi) x 16 cm (chiều cao) hàn đáy và đục 6 lỗ ở phần 1/3 đáy, đường kính lỗ đục 0,8 -1,0cm (nên dùng túi có màu tối, có độ dai, bền).

Khi đưa đất vào túi bầu phải nhồi chặt, xếp bầu vào luống thật đứng và sít vào nhau, dùng che nứa nẹp xung quanh luống, giữ bầu đứng không nghiêng, không đổ.

2.4. Làm giàn che
* Tác dụng của giàn che:

- Giàn che có tác dụng che nắng, che mưa, gió.

- Giữ độ ẩm không khí và nhiệt độ thích hợp cho vườn. * Nguyên liệu làm giàn che bao gồm:

- Khung giàn thường làm bằng tre, những nơi có kế hoạch sản xuất bầu chè lâu dài, cột giàn có thể đổ bằng bê tông.

- Cọc giàn không được chôn vào rãnh luống sẽ rất khó khăn khi đi lại chăm sóc, khoảng cách 2,5 - 3m có 1 cọc.

- Mái và che xung quanh che nhiều lớp bằng lưới nilon màu đen (có thể che bằng phên nứa, cỏ tế, lá mía), nhưng tốt nhất là phên nứa, vì thuận lợi điều chỉnh ánh sáng và ẩm độ, nhiệt độ tốt hơn cho cây.

- Độ cao che giàn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng để đảm bảo cho đi lại chăm sóc tiện lợi dễ dàng ở Việt Nam nên làm cao từ 1,7m - 1,8m.

- Kiểu giàn che hiện nay rất phong phú tuỳ theo từng nơi.

Ví dụ:

- Ở Gruzia làm giàn vòm phủ kín bằng vải trắng để có ánh sáng yếu nhưng giữ ẩm tốt, bên trong có vòi tưới phun tự động.

- Srilan ka làm giàn thấp sát đất đỡ tốn vật liệu nhưng đi lại chăm sóc khó khăn.

- Trước đây Việt Nam làm nhiều kiểu giàn khác nhau, ở Tây Nguyên có kiểu giàn bể giâm cành, xây bằng gạch nửa chìm trên dậy nylon để giữ ẩm, loại giàn này thích hợp với vùng khô Tây Nguyên.

- Ở Bảo Lộc làm giàn che cao 1,8 - 1,9 m, trên che bằng lưới thưa màu đen.

images
Vườn giâm cành chè

2.5. Chọn cành, cắt hom và cắm hom
* Chọn cành:

- Chọn cành khỏe không sâu bệnh, cành bánh tẻ, độ dài và đường kính hom tùy theo giống.

- Đường kính hom từ 4 - 6mm, chiều dài hom từ 4 - 6cm (giống PH1), đường kính hom từ 2 - 3,5 mm, dài hom từ 3 - 5cm (các giống chè LDP1, LDP2).

- Màu sắc hom tùy theo giống, giống PH1 yêu cầu màu xanh. Giống TRI777 và các giống LDP1, LDP2 có màu nâu sáng.

- Cành chè khi cắt cần nguyên vẹn, tránh giập lá, gãy cành.

* Cắt hom:

- Khi cắt cành về cần cắt ra hom ngay, dụng cụ cắt hom bằng kéo sắc, vết cắt yêu cầu gọn, nhẵn không được dập xước.

- Mỗi hom có một mầm nách còn nguyên vẹn. Cắt mỗi hom 1 lá nguyên (giống lá nhỏ), cắt bớt 1/3 lá để giảm thoát hơi nước (giống lá to). Vết cắt trên và dưới theo mặt chiếu bên của hom có dạng hình thang cân.

* Cắm hom:

- Trước khi cắm hom, bầu đất cần được tưới ẩm 80 - 85% bằng ô doa, hom chè được cắm thẳng đứng, lá xuôi theo chiều gió, cuống lá gần sát đất.

- Không cắm sâu quá mầm dễ bị thối, sau khi cắm xong phải tưới ẩm ngay, tốt nhất là tưới dưới dạng sương mù.

images
Cắm hom chè

2.6. Bảo quản, vận chuyển hom
- Trường hợp cần vận chuyển hom đi xa thì nhất thiết phải bảo quản hom

trong túi PE dày 0,5 mm, kích thước túi 100 x 80 cm, đựng 300 - 4000 hom/túi, buộc kín phun ẩm, bảo quản được 5 - 7 ngày.

- Khi vận chuyển hom bằng ô tô cần phải làm giá đỡ nhiều tầng, để mỗi tầng chỉ xếp một lượt túi, tránh chống lên nhau làm cho hom giập nát. Xe vận chuyển phải có mui bạt che phủ.

- Trước khi cắm hom chè có thể xử lý bằng sunfat đồng (CuSO4) 0,1% để xử lý nấm bệnh.

2.7. Quản lý chăm sóc vườn giâm cành
Chăm sóc vườn ươm là khâu rất quan trọng quyết định trực tiếp đến tỷ lệ xuất vườn, chất lượng cây giống của vườn ươm.

2.7.1. Tưới giữ ẩm
Vườn ươm phải luôn luôn được duy trì độ ẩm thích hợp tuỳ theo từng giai đoạn phát triển của hom chè mà yêu cầu tưới nước khác nhau.

- Giai đoạn 1:

Từ khi cắm cành đến 15 - 20 ngày đầu, hom chè vừa tách khỏi cây mẹ sống tự lập, chưa ổn định, lá từ trạng thái tươi đến héo rũ, cần tưới đủ ẩm, giảm bớt sự thoát hơi nước qua mặt lá. Yêu cầu độ ẩm không khí 80 - 90%, độ ẩm đất 80%, vườn ươm cần che kín cả xung quanh. Thông thường nếu trời không mưa mỗi tưới

1 - 2 lần, lượng nước 1 - 2 lít cho 1 m2, tốt nhất dùng bình bơm tay để tưới.

- Giai đoạn 2:

Giai đoạn từ 15 - 30 ngày lúc này vết cắt của hom liền, hom chè hút nước

mạnh, mặt lá có sức căng lớn, mô sẹo bắt đầu hình thành. Lượng nước tưới lúc này vừa phải 2 ngày tưới 1 lần, mỗi lần 1,5 lít nước cho 1 m2. Độ ẩm đất yêu cầu

70 - 80% (dùng bơm tay, ô doa hoặc vòi phun mưa).

- Giai đoạn 3:

Giai đoạn từ 30 - 60 ngày. Rễ bắt đầu hình thành và phát triển, lượng nước cần phải tưới thường xuyên, 2 - 3 ngày tưới 1 lần, mỗ i lần tưới 1,5 lít nước cho 1 m2 bầu, độ ẩm đất yêu cầu 75 - 80% (dùng ô doa hoặc vòi phun mưa).

- Giai đoạn 4:

Giai đoạn từ 60 - 90 ngày. Bộ rễ hom giâm phát triển mạnh, đặc biệt là rễ hút, cây bắt đầu sử dụng dinh dưỡng trực tiếp từ bầu đất. Giai đoạn này kết hợp với việc bón phân cần duy trì lượng nước thường xuyên đầy đủ để cây phát triển tốt, 3 ngày tưới 1 lần, mỗi lần từ 1,5 - 2 lít nước cho 1 m2 bầu, độ ẩm đất yêu cầu 75-80% (dùng ô doa tưới hoặc vòi phun mưa).

- Giai đoạn 5:

Giai đoạn từ 90 - 120 ngày đây là giai đoạn sinh trưởng của mầm chè, do

vậy nhu cầu nước tưới tăng, độ ẩm đất yêu cầu 70 - 80%, 5 - 6 ngày tưới một lần, lượng nước tưới 2 lít cho 1 m2 bầu, nếu quá khô tăng số lần tưới.

- Giai đoạn 6:

Giai đoạn từ 120 - 180 ngày sau giâm. Bộ rễ lúc này bắt đầu phát triển mạnh, chiều cao cây đạt khoảng 20 - 30cm, rễ phát triển dài 10 - 20cm, cây con đã hoàn chỉnh và nhiều cây đã đủ tiêu chuẩn xuất vườn. Độ ẩm đất yêu cầu thấp hơn 70 - 75% vì vậy số lần tưới có thể thưa hơn khoảng 5 - 6 ngày tưới 1 lần, lượng nước 3 lít cho 1 m2 bầu (tưới bằng ô doa hoặc vòi phun).

images
Tưới nước

2.7.2. Điều chỉnh ánh sáng
Hom chè giâm mỗ i giai đoạn cần có lượng ánh sáng khác nhau, đòi hỏi điều chỉnh ánh sáng phù hợp.

- Vụ Đông Xuân:

Trong thời gian 60 ngày sau cắm chỉ để 15 - 20 % ánh sáng trực xạ, vì vậy lúc này cần che kín cả trên mái và xung quanh chỉ mở xung quanh khi trời râm mát.

Từ 60 - 90 ngày mở xung quanh để tăng lượng ánh sáng vì lúc này là thời gian mầm bắt đầu phát triển và mở phần rãnh khi trời râm mát (nếu che bằng lưới thì mở bớt lớp).

Từ 90 - 120 ngày mở giàn che mái 30% (phên ở rãnh), để tăng cường độ ánh sáng cho cây chè có thể quang hợp tốt.

Từ 150 - 180 ngày mở giàn che 50%. Sau 180 ngày mở toàn bộ giàn che và xung quanh để cây thích nghi với điều kiện tự nhiên.

- Vụ Hè Thu:

Sau khi cắm hom 1 - 30 ngày che xung quanh từ 7 giờ sáng đến 15 giờ chiều. Từ 60 ngày che xung quanh từ 8 giờ sáng đến 16 giờ chiều.

Từ 60 ngày - 90 ngày che xung quanh từ 10 giờ đến 13 giờ chiều. Sau 120 - 150 ngày mở phên che giãnh để đảm bảo cho cây chè có thể quang hợp (mở 50%) những ngày nắng to nhiệt độ cao phải che lại.

Từ 150 ngày trở đi có thể mở dần toàn bộ giàn che, để cây thích nghi với điều kiện ánh sáng tự nhiên.

2.7.3. Bón phân thúc cho vườn ươm
Hom chè sau khi giâm trong vòng 2 tháng đầu tuyệt đối không được bón bất kỳ loại phân gì, vì lúc này là giai đoạn hình thành mô sẹo và rễ. Trong suốt giai đoạn vườn ươm cần được cung cấp phân đạm, lân, kali ngày một tăng.

Cách bón:

Hoà tan phân vào ô doa tưới rải đều trên mặt luống (nồng độ 1%), sau đó tưới rửa lại bằng nước lã, khi mầm chè mọc cao đã có 2 - 3 lá hoàn chỉnh có thể tiến hành phun ure 2% (1 lít phun cho 5 m2 bầu) kết hợp với phun thuốc bảo vệ thực vật.

Có thể tăng lượng phân bón lên 1,5 - 2 lần so với lượng trên nhưng phải thêm 2 - 4 lần bón nữa (tăng số lần và lượng bón, không được tăng nồng độ mỗi lần bón, rút ngắn khoảng cách giữa hai lần bón) trong thời gian từ 2 - 8 tháng sẽ làm tăng tỷ lệ xuất vườn của vườn ươm.

images
Bón phân thúc

2.7.4. Dặm cây, phá váng, vê nụ và bấm ngọn.
Bầu chè phải thường xuyên được xăm xỉa bằng dụng cụ chuyên dùng có đầu nhọn để tạo sự thông thoáng cho cây chè sinh trưởng, phát triển. Thường khi quan sát thấy bề mặt bầu đất bị váng chặt là chúng ta cần xăm xỉa ngay. Cần chú ý trước lúc tưới phân 1 - 2 tuần bầu chè được xăm xỉa cho đất trong bầu thông thoáng.

Thường xuyên tiến hành kiểm tra vườn ươm và tiến hành giặm ngay những hom chết, hom bị sâu bệnh (cắm dự phòng 10% số hom để dặm).

Ngắt hết nụ và hoa trên hom chè để tập trung dinh dưỡng vào cho hom giâm phát triển rễ và mầm, một tháng trước khi đem trồng tiến hành bấm ngọn những cây cao khống chế cây ở độ cao 25 - 30 cm.

images
Xới phá váng, dặm cây

2.7.5. Phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại
Sau khi cắm hom 7 ngày ta nên phun kép 2 lần cách nhau 10 ngày các thuốc

sau: Comite 73EC 10ml +Manage 5WP 10 gam + Atonik 3ml cho 1 bình 10 lít phun cho 3 vạn bầu. Mục đích phun Comite để trừ nhện đỏ còn lại trên lá chè từ vườn giống gốc, thuốc manage 5WP có tác dụng làm cho nấm không xâm nhập vào các vết cắt và diệt các nấm ký sinh còn trong đất, Atonik là thuốc kích thích sinh trưởng khi phun lên đất có tác dụng làm hom chè nhanh hình thành mô sẹo và ra rễ.

Sau hai tháng hom chè đã bắt đầu nảy mầm đồng thời cũng là thời kỳ phát sinh của rầy xanh nên dùng thuốc Actara 25WG pha 1 gói 1 gam cho 10 lít nước phun cho 3 vạn bầu hoặc dùng Admire 50EC pha 10 ml cho bình 10 lít nước; Butyl 10WP pha 25 gam cho bình 10 lít nước; Padan 20 gam cho bình 10 lít nước.

Sau 5 - 7 tháng trong vườn ươm xuất hiện bọ cánh tơ ta dùng thuốc Confidoe 100 SL pha 10ml cho bình 10 lít nước. Đồng thời trong thời gian này thường có bọ xít muỗi gây h ại có thể dùng các loại thuốc sau: Bulldok 25 EC pha 15 ml cho 1 bình 10 lít nước hoặc Bestox 5EC.

Trong vườn ươm thường có nhện trắng hại lá và búp non cần phát hiện sớm phun Comite 73EC hoặc Nissorun 5EC, chú ý khi phun thuốc phải ngửa vòi phun cho ướt đều mặt dưới của lá, búp non hoặc thuốc Dandy 15EC pha 20 ml cho bình 10 lít.

Ngoài ra, trong vườn ươm còn xuất hiện một số bệnh đốm nâu, đốm xám, thối búp, rụng lá... cần vệ sinh vườn ươm thường xuyên, khi thấy bệnh xu ất hiện từng chòm nhỏ nên phun thuốc ngay, tốt nhất là dùng Manage 15WP một gói 10 gam pha cho 10 lít nước đồng thời có thể kết hợp 3-5 ml Atonik để cây chè phát triển nhanh và tăng cường sức đề kháng. Ngoài ra có thể dùng Daconil 500 SC, Til-supe và Boocđô để trừ các bệnh này.

Thường xuyên vệ sinh vườn ươm, nhặt những hom chết, que, cọc, lá rụng và nh ổ cỏ xung quanh vườn và trong bầu đất để tránh tranh chấp dinh dưỡng và giảm tác hại của sâu bệnh.

2.7.6. Luyện cây, phân loại
Luyện cây là một biện pháp kỹ thuật tổng hợp bao gồm các khâu:

Điều chỉnh ánh sáng, độ ẩm đất cho cây thích nghi dần với điều kiện tự nhiên, điều chỉnh lượng phân bón để tạo điều kiện cho cây phát triển cân đối. Luyện cây tiến hành theo các nguyên tắc sau:

- Điều chỉnh ánh sáng:

Khi cây đã đủ chiều cao cần cho ánh sáng trực xạ chiếu vào 100%, có thể đưa ra cạnh luống hoặc đưa hẳn ra ngoài vườn (không để tấm che) thời gian này trước khi trồng 1-2 tháng.

- Điều chỉnh độ ẩm:

Trước khi đưa trồng 1 - 2 tháng không nên tưới quá ẩm mà chỉ tưới giữ ẩm 70%. - Phân bón:

Trước khi xuất bầu trồng 2 tháng không được bón phân và phun thuốc kích thích. - Đảo bầu cây:

Cây cần được nhấc ra khỏ i vị trí để làm đứt những rễ bám sâu vào đất trước khi trồng 1 - 2 tháng, (có thể kết hợp tiến hành phân loại bầu).

Khi vườn ươm có 60% số cây cao > 20cm thì phân loại những cây cao chuyển sang một bên, những cây nhỏ để riêng một bên tiếp tục được chăm sóc theo chế độ riêng.

2.8. Tiêu chuẩn cây xuất vườn và vận chuyển bầu
Cây quá non khi trồng dễ bị chết, còn cây quá già thì bộ rễ thường đâm sâu xuống đất khi nhấc lên dễ bị chột. Cây con khi đem trồng yêu cầu về:

- Cao cây: ≥ 22 cm, có 6 lá trở lên, lá cứng cáp, dày, xanh hơi vàng.

- Đường kính gốc: ≥ 3mm tùy giống

- Thân hoá nâu ≥ 1/2(nửa thân phần gốc đã chuyển mầu nâu)

- Cây không còn nụ, hoa.

- Sạch sâu bệnh

- Bầu túi nilon còn nguyên vẹn

- Những cây cao > 30cm, bấm ngọn.

- Bầu đất còn nguyên vẹn

- Khi vận chuyển bầu có thể bằng xe thô sơ (khoảng cách gần), xe ô tô (nếu ở xa)

Chú ý:

Khi xếp bầu không được xếp quá nhiều lớp, khi xếp không được làm vỡ bầu, rơi đất hoặc làm dập nát thân cây.

images
Cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn

Nguồn: Giáo trình nghề trồng cây chè - Bộ NN&PT NT



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     

Có bài mới 10.09.2017, 15:38
Hình đại diện của thành viên
Ban quản lý
Ban quản lý
 
Ngày tham gia: 15.01.2016, 14:24
Tuổi: 18 Nữ
Bài viết: 650
Được thanks: 295 lần
Điểm: 7.9
Có bài mới Re: Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa cây cảnh - Điểm: 10
Chăm sóc vườn cây chè mẹ

A. Quy trình chăm sóc vườn cây mẹ

1. Tiêu chuẩn vườn cây mẹ (vườn giống gốc)
- Vườn giống gốc là vườn chè được trồng để thu hom chè giống, lấy cành hom để giâm. Vườn chè được trồng bằng cành của những giống thuần chủng đã được chọn lọc.

- Nương chè để lấy hom phải được thâm canh ngay từ giai đoạn kiến thiết cơ bản, đặc biệt là chế độ phân bón.

- Khi trồng phải bón lót 30 - 40 tấn phân chuồng, kết hợp với 600 - 800kg supe lân trên 1 ha.

- Hàng năm phải bón bổ sung cân đối NPK.

- Tùy loại đất, tuổi chè mà xác định lượng phân bón cho thích hợp.

- Trong quá trình quản lý và chăm sóc luôn luôn giữ sạch cỏ, sạch sâu bệnh.

- Đốn tỉa hợp lý đảm bảo mật độ cành đồng đều:

+ Cây chè sau 2 năm đốn tạo hình một lần, chiều cao vết đốn trên thân chính cách mặt đất 25 - 30cm và các cành bên 40 - 45cm, sau khi đốn các mầm chè đầu tiên cần được chăm sóc và bảo vệ chu đáo, khi chiều cao của các đọt chè vượt trên 1 m mới được hái tỉa.

+ Đốn tạo hình lần 2 vết đốn cách mặt đất 45cm, thời vụ đốn vào tháng 12 và tháng 1, cây chè qua 2 lần đốn thì hàng năm áp dụng đốn phớt theo quy trình.

images
Vườn chè giống

2. Chăm sóc vườn giống gốc để lấy hom giống
- Vườn giống gốc cần được chăm sóc chu đáo, luôn sạch cỏ, sạch sâu bệnh, khi trồng mới bón lót 30 - 40 tấn phân hữu cơ và 600 - 800 kg supe lân cho 1 ha.

- Hàng năm bón phân cân đối N.P.K lượng bón như chè hái búp.

- Kỹ thuật đốn hái chè kiến thiết cơ bản áp dụng như nương chè hái búp.

+ Chè tuổi 2 đốn thân chính cách mặt đất 12 - 15cm, cành bên đốn 30 - 35cm.

+ Đốn lần 2 (chè tuổi 3) thân chính đốn cách đất 30 - 35 cm, cành bên đốn cách đất 40 - 45 cm.

+ Sau khi đốn đợt đầu hái cách mặt đất 40 - 45 cm tạo mặt bằng, đợt 2 hái chừa 2 lá và 1 lá cá.

+ Sau đốn lần 2 chỉ hái nhưng búp cao hơn 70cm.

+ Khi đã đến tuổi lấy hom giống hàng năm bón lượng phân khoáng cao hơn chè kinh doanh 20 - 25% và bón bổ sung phân chuồng 15 - 20 tấn/ha, lượng phân khoáng bón bổ sung tập trung vào lúc bắt đầu để búp (không hái) để nuôi hom.

images
Chăm sóc vườn chè giống nuôi hom

B. Các bước tiến hành

Bước 1: Kỹ thuật nuôi hom

Trong điều kiện khí hậu Việt Nam hom chè giống có thể nuôi quanh năm, nhưng nếu hom giống cắm vào vụ xuân và vụ hè thì tỷ lệ sống thấp và năng suất hom cũng không cao. Do đó thường người ta chỉ nuôi hom vào 2 vụ là vụ hè thu và vụ xuân. Vụ chính là vụ đông xuân cho năng suất hom cao, chất lượng hom tốt và không ảnh hưởng nhiều đến sức sinh trưởng về sau của vườn giống gốc. Thời gian nuôi cành chè để lấy hom giâm khi cành chè có 5 - 6 lá thật lúc chè 3 đến 3,5 tháng tuổi. Nếu lấy hom giâm vào tháng 7 - 8 - 9 vụ thu thì bắt đầu chọn lứa chính không hái để nuôi từ tháng 4 - 5, còn nếu lấy hom giâm vào tháng 11 - 1 thì bắt đầu nuôi từ tháng 8 đến tháng 9.

images
Vườn chè nuôi hom

Bước 2: Bón phân cho vườn chè nuôi hom

Với nương chè vừa thu búp vừa để hom giống mỗi năm bón bổ sung 20 - 30 tấn phân chuồng/1 ha vào tháng 1 hàng năm. Trước khi để hom 15 - 20 ngày cần bón lượng phân khoáng hợp lý, cần coi trọng vai trò của kali và lân, thông thường lượng bón cho 1 gốc chè của vườn giống gốc như sau:

Urê: 10 - 12g

Kaliclorua (hoặc Kalisunphat) 10 - 15g

Supelân 20 - 25g với nương chè có năng suất xung quanh 5 tấn/ha.

(Chú ý lượng phân khoáng trên là bón bổ sung khi để nuôi hom giống không bao gồm lượng phân bón cho thời kỳ sản xuất búp trước đó). Tuỳ theo mức năng suất của nương chè để giống mà điều chỉnh tăng hoặc giảm lượng phân trên. Nếu nương chè để giống có mức năng suất dưới 5 tấn/ha thì giảm lượng phân trên 15% mỗi loại, nếu nương chè để giống năng suất trên 10 tấn/ha thì tăng lượng phân bón lê 15% mỗi loại.

Bước 3: Chăm sóc, bấm tỉa

Trong thời gian nuôi hom phải kiểm tra kịp thời thường xuyên những búp rìa tán, những búp nhỏ, sinh trưởng đợt sau, phía dưới để tập trung dinh dưỡng vào búp chính để lấy hom. Cần điều chỉnh mật độ cành để thu được hom ở mức độ hợp lý, đảm bảo hom đạt chất lượng tốt. Lượng hom thu được tính theo tuổi chè như sau:

Chè 4 - 8 tuổi: 150 - 200 hom/cây, tương đương 2 - 3 triệu hom/ha. Chè trên 8 tuổi: 200 - 300 hom/cây, tương đương 3 - 4 triệu hom/ha.

Thường xuyên phun thuốc phòng trừ sâu bệnh vì nếu để sâu bệnh phát sinh mới phun thì ảnh hưởng ngay đến chất lượng hom giống. Sâu phát sinh trong thời gian này thường là 4 đối tượng chính: rầy xanh, nhện đỏ, bọ xít muỗi, bọ cánh tơ; ngoài ra có thể có sâu cuốn lá. Bệnh thường là bệnh thối búp và bệnh chấm nâu. Phòng trừ sâu bệnh theo quy trình và lịch phòng chống sâu bệnh. Trước khi cắt cành để lấy hom giâm 10 - 15 ngày cần tiến hành bấm ngọn cành để cho những đoạn hom phần ngọn cứng cáp và kích thích mầm nách hoạt động.

Nguồn: Giáo trình nghề trồng chè - Bộ NN&PT NT


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 10.09.2017, 15:41
Hình đại diện của thành viên
Ban quản lý
Ban quản lý
 
Ngày tham gia: 15.01.2016, 14:24
Tuổi: 18 Nữ
Bài viết: 650
Được thanks: 295 lần
Điểm: 7.9
Có bài mới Re: Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa cây cảnh - Điểm: 10
Phòng trừ sâu bệnh tổng hợp trên cây chè

1. Nhận biết sâu bệnh hại và khái niệm về phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại cây trồng

1.1. Nhận biết sâu hại cây chè
Sâu hại chè: là đối tượng gây hại chủ yếu cho cây chè, sâu hại thuộc lớp côn trùng và nhện.

1.1.1. Đặc điểm cơ bản để nhận biết sâu hại (côn trùng và nhện)
Côn trùng là động vật thuộc ngành động vật không xương sống, cơ thể phân đốt. Côn trùng trưởng thành có những đặc điểm sau:

- Cơ thể chia thành 3 phần đầu ngực và bụng

- Đầu gồm có râu đầu, mắt kép, có từ 2-3 mắt đơn và bộ phận miệng

- Ngực gồm 3 đốt mỗi đốt mang một đôi chân chia đốt, và đa số côn trùng trưởng thành có 2 đôi cánh

- Bụng gồm nhiều đốt xếp lồng vào nhau

- Côn trùng hô hấp bằng hệ thống khí quản.


- Cơ thể được bao bọc bởi 1 lớp da cứng mà thành phần chủ yếu là kitin đảm bảo là chỗ dựa cho các cơ quan bên trong của côn trùng .

- Trong quá trình sống có biến thái bên ngoài và bên trong.

- Cơ thể nhỏ bé nhưng số lượng loài lớn có thể chiếm 3/4 số loài động vật và là động vật chiếm ưu thế sinh thái trên hành tinh chúng ta.

Nhện hại chè: là động vật thuộc ngành động vật không xương sống, thuộc lớp nhện, bộ ve bét cơ thể phân đốt gồm 2 phần là thân trước và thân sau. Đầu giả, chúng chỉ có phụ miệng, não nằm phía sau đầu giả thức là trong phần thân, mắt ở trên mặt lưng hoặc mặt bên của lưng. Phía trên miệng là đôi kìm có 3 đốt, những đốt này có răng để ôm ghì vật hoặc con mồi, bên trong miệng là thực quản có tác dụng như một bơm hút thức ăn. Phần thân có chức năng của ngực bụng và một phần chức năng của dầu côn trùng. Da được bao bọc bởi lớp ki tin. Trưởng thành có 8 chân, nhện non có 4 chân hoặc 6 chân.

1.1.2. Triệu chứng gây hại do sâu
Triệu chứng gây hại do sâu là những chứng trạng biểu hiện ra ngoài khi cây chè bị sâu gây hại mà chúng ta có thể quan sát, nhận biết được.

Triệu chứng gây hại do sâu gây ra bao gồm: vết cắn khuyết, vết châm, chích, vết đục....

Nguyên nhân gây ra các triệu chứng khác nhau là do côn trùng, nhện có kiểu miệng khác nhau

1.1.3. Phân biệt các nhóm sâu hại (côn trùng, nhện)
Thông qua tranh ảnh, mẫu vật (côn trùng và nhện hại chè), học viên phân biệt các nhóm sâu hại này qua quan sát hình thái mẫu vật, tranh ảnh và thảo luận nhóm. (Trình bày trong bài thực hành ...)

1.2. Nhận biết bệnh hại
1.2.1. Bệnh hại chè là gì?
Bệnh hại chè: Hiện tượng cây sinh trưởng, phát triển không bình thường do yếu tố ngoại cảnh (thời tiết, đất đai) không thuận lợi gây ra (bệnh sinh lý) hoặc do vi sinh vật (bệnh truyền nhiễm) gây ra, kết quả dẫn đến sự phá huỷ các chức năng sinh lý, cấu tạo ngoại hình của cây, có thể làm cây chết và dẫn đến làm giảm năng suất, phẩm chất của chè.

Ví dụ: Bệnh thối búp, phồng lá chè, bệnh chấm xám chè ...

Bệnh hại chè có tác hại chủ yếu là làm giảm năng suất, phẩm chất chè

1.2.2. Nhận biết triệu chứng gây hại do bệnh gây ra
Triệu chứng chè bị hại do bệnh gây ra có khác so với sâu hại chè ở chỗ bộ

phận bị hại vẫn còn, không bị khuyết, vết bệnh có sự biến đổi màu sắc. Hình dạng vết bệnh có sự khác nhau tùy từng loại bệnh.

Thông qua 1 số mẫu bệnh, học viên quan sát, mô tả triệu chứng của một số mẫu bệnh

images
Triệu chứng cây chè bị bệnh

1.2.3. Phân biệt các nhóm bệnh hại (bệnh truyền nhiễm và không truyền nhiễm).
Bệnh truyền nhiễm là bệnh do sinh vật (nấm, vi khuẩn, vi rút .., như bệnh chấm xám chè, bệnh phồng lá chè, bệnh thối búp chè) gây nên, bệnh có khả năng xâm nhiễm, truyền lan từ vùng này sang vùng khác từ cây này sang cây khác

Bệnh không truyền nhễm là bệnh do các yếu tố không phải sinh vật mà do yếu tố khí hậu thời tiết, dinh dưỡng, đất đai không thuận lợi gây ra, bệnh không có khả năng xâm nhiễm lây lan, ví dụ bệnh vàng lá do thiếu đạm, thiếu nước...

1.3. Khái niệm về phòng trừ tổng hợp sâu, bệnh hại cây chè.
1.3.1. Khái niệm:
Phòng trừ sâu bệnh hại chè là sử dụng phối hợp các biện pháp kỹ thuật trong hệ thống phòng trừ dịch hại thích hợp, trên cơ sở sinh thái hợp lý để giữ cho mật độ sâu, bệnh hại phát triển dưới ngưỡng gây hại.kinh tế, đảm bảo an toàn cho sản phẩm chè và sức khỏe cho con người và giữ gìn môi trường sinh thái.

Tác hại của sâu bệnh hại chè.

Sâu bệnh hại chè gây ra tác hại rất lớn cho chè được thể hiện:

- Làm giảm năng suất chè:

- Làm giảm phẩm cấp chè, giá trị hàng hóa và giá trị sử dụng.

- Làm ảnh hưởng xấu đến đất trồng. Nguồn sâu bệnh được tích luỹ trong đất, hóa chất xử lý sâu bệnh có thể tích luỹ trong đất và ảnh hưởng xấu đến đất đai trồng trọt.

- Gây ô nhiễm môi trường và phá vỡ cân bằng sinh thái.

1.3.2. Hệ thống các biện pháp trong phòng trừ dịch hại chè
+ Biện pháp kỹ thuật canh tác.

+ Biện pháp sử dụng giống

+ Biện pháp cơ lý.

+ Biện pháp sinh học.

+ Biện pháp hóa học.

+ Biện pháp kiểm dịch chè

2. Nguyên tắc sử dụng thuốc BVTV.

2.1. Nguyên tắc sử dụng thuốc trên đồng ruộng.
Sử dụng thuốc BVTV phải tuân theo nguyên tắc 4 đúng.

2.1.1. Đúng thuốc:
Mỗi loại thuốc BVTV có thể tiêu diệt được một hay một số loài dịch hại. Trước khi chọn mua thuốc, cần biết loại sâu, nhện, bệnh, cỏ dại gây hại mà mình cần trừ. Không nên sử dụng cùng một loại thuốc trong suốt vụ hoặc từ năm này qua năm khác. Nên ưu tiên mua loại thuốc ít độc nhất. ưu tiên chọn mua loại thuốc có thời gian cách ly ngắn nhất. Nên ưu tiên mua những loại thuốc có tác động chọn lọc (có hiệu lực trừ sâu cao, ít gây độc hại với sinh vật có ích)


2.1.2. Đúng liều lượng, nồng độ.
Mỗi loài thuốc có hiệu quả với một loài dịch hại ở một liều lượng, nồng độ nhất định.

Dùng thuốc với liều cao hơn khuyến cáo càng làm gia tăng nguy cơ bị ngộ độc người đi phun thuốc, người sống ở gần vùng phun thu ốc và người sử dụng nông sản có phun thuốc. Ngoài ra còn có nguy cơ cây trồng bị hại do thuốc liều lượng cao gây ra. Dùng thuốc thấp hơn quy định làm cho dịch hại không chết, dịch hại có biểu hiện quen thuốc, chống thuốc..

Vậy sử dụng thuốc không đúng liều lượng, nồng độ còn làm cho dịch hại chống thuốc, quen thuốc và gây khó khăn cho việc phòng trừ.

2.1.3. Đúng lúc
Đối với dịch hại đúng lúc là phun thuốc vào thời điểm mà dịch hại trên đồng ruộng dễ bị tiêu diệt nhất. Sâu hại thường mẫn cảm nhất đối với thuốc BVTV khi chúng ở giai đoạn sâu non tuổi nhỏ. Bệnh hại nên phun thuốc lúc bệnh chớm phát. Đối với thuốc trừ cỏ thì phải tùy theo đặc điểm của từng loại thuốc và sử dụng vào lúc thuốc có tác động mạnh nhất đến cỏ dại và ít có nguy cơ gây hại cho cây.

Phun đúng lúc cũng là tránh phun thuốc khi trời sắp mưa to có thể làm rửa trôi thuốc trên mặt lá, thân cây. Phun thuốc vào lúc trời mát, không có gió to để thuốc bay vào mặt hoặc bay vào nhà ở gần nơi phun thuốc.


2.1.4. Đúng cách:
Dùng thuốc đúng cách thể hiện trước hết ở khâu pha thuốc.

Pha thuốc đúng cách làm thế nào để cho chế phẩm sử dụng được hòa thật đồng đều vào nước như vậy khi phun thuốc sẽ được trang trải thật đều trên vật phun (lá cây, mặt đất…)

Khâu tiếp theo của việc dùng thuốc đúng cách là phun rải thuốc trên đồng ruộng cho đúng cách. Phun rải thuốc đúng cách là làm sao cho thuốc BVTV tiếp xúc được với dịch hại nhiều nhất. Có những loại sâu hại chỉ tập trung phá ở gốc, có những loài chuyên sống trên lá, trên ngọn, lại có những loài chỉ sống ở mặt dưới lá. Do vậy khi phun thuốc phải hướng sao cho tia thuốc tập trung vào nơi định phun.

Dùng thuốc đúng cách còn có nghĩa là không tự ý hỗn hợp nhiều loại thuốc BVTV với nhau để phun trên đồng ruộng. Khi hỗn hợp 2 hay nhiều loại thuốc cũng có trường hợp do phản ứng với nhau mà hỗn hợp sẽ giảm hiệu lực trừ dịch hại, hoặc dễ gây cháy lá cây, hoặc dễ gây độc cho người sử dụng. Vì vậy chỉ thực hiện việc hỗn hợp nếu có hướng dẫn trên nhãn thuốc hoặc trong các tài liệu khoa học kỹ thuật hướng dẫn dùng thuốc BVTV.

2.3. Quy tắc đảm bảo an toàn khi sử dụng thuốc BVTV.
2.3.1. Đảm bảo thời gian cách ly từng loại thuốc.
+ Dư lượng thuốc BVTV trên nông sản

Sau khi một loại thuốc BVTV được phun rải lên cây hoặc bón vào đất thì thuốc sẽ để lại trên mặt lá, thân cây... và thông thường là cả ở bên trong các mô thực vật một lượng thuốc (hoạt chất) nhất định. Sau phun (rải) một thời gian (vài ngày, một vài tuần) lượng hoạt chất bám trên cây và tồn tại bên trong cây sẽ giảm dần do tác động của nhiều yếu tố: do thời tiết (nắng mưa), do hoạt động phân huỷ thuốc của các men thực vật, do sự tăng trưởng của cây được gọi là dư lượng thuốc trên thân lá, trái, củ của cây trồng. Càng xa ngày phun (rải) thuốc thì dư lượng của thuốc bên ngoài và bên trong cây càng giảm thấp.

+ Mức dư lượng tối đa cho phép (MRL)

Một loại thuốc BVTV chỉ gây độc cho cơ thể người và động vật máu nóng nếu loại thuốc xâm nhập vào cơ thể với một lượng thấp hơn lượng giới hạn nói trên thì chưa gây hại cho cơ thể. Loại thuốc nào có độc tính càng cao thì giới hạn đó càng thấp. Ngược lại loại thuốc nào có độc tính càng thì giới hạn đó càng cao. Những nông sản chứa dư lượng một loại thuốc BVTV vượt quá mức dư lượng tối đa cho phép thì không được sử dụng, những nông sản chứa dư lượng một loại thuốc BVTV ít hơn mức dư lượng tối đa cho phép thì được xem như vô hại đối với sức khỏe của người tiêu dùng.

+ Thời gian cách ly.

Thời gian của một loại thuốc BVTV đối với mỗi loại cây trồng có sự khác nhau, khi sử dụng thuốc phải đọc kỹ nhãn thuốc  để biết được thời gian cách ly đảm bảo an toàn cho sản phẩm, người tiêu dùng bảo vệ môi trường, hệ sinh thái.

3. Tình hình sử dụng thuốc BVTV cho chè và hướng sử dụng thuốc BVTV cho chè.

3.1. Tình hình sử dụng thuốc trừ sâu trên chè.
Đối với cây chè, sâu hại chủ yếu cần phải phòng trừ hiện nay gồm bọ xít muỗi, rầy xanh, bọ cánh tơ, nhện đỏ. Việc sử dụng các loại thuốc hóa học để bảo vệ cây chè với qui mô ngày càng lớn và tốc độ ngày càng nhanh. Mức sản xuất thuốc trừ dịch hại phát triển không ngừng, đặc biệt ở các nước phát triển (không những sử dụng trong nước mà còn bán sang các nước đang phát triển). Chỉ riêng nhóm thuốc lân hữu cơ hiện nay đã có hàng trăm loại. Trên chè, trong những năm qua đã dùng chủ yếu là nhóm thuốc lân hữu cơ và Carbamat như Wofatox, Bassa, Bi 58, Monitor, Nuvacron, Dimicron, Kelthane... Từ năm 1990 trở lại đây phần lớn chuyển sang dùng nhóm thuốc Pyrethroit, kết hợp dùng Padan, Trebon...

Trong quá trình mở rộng diện tích trồng chè (có vùng đã lên tới 500- 700ha), cùng với việc thâm canh tăng năng suất, cân bằng sinh học một phần bị phá vỡ, sâu bệnh trên chè ngày càng tăng, mức độ phá hại ngày càng lớn, dẫn đến xảy ra tình trạng lạm dụng thuốc hóa học.

Tình hình sử dụng thuốc trừ sâu trên chè hiện nay:
Trong điều kiện hiện nay, công tác bảo vệ thực vật đối với cây chè cần giải quyết theo hướng sau:

Không sử dụng các loại thuốc hóa học bền vững như Monitor, Wofatox, Kelthane, 666, DDT, Thiodan, Nuvacron, Dimicron, Kindane. Thay vào đó sử dụng các loại thuốc ít bền vững hơn, đảm bảo sau khi sử dụng, chúng bị phân hủy thành sản phẩm đơn giản trong thời kỳ sinh dưỡng của cây và không tồn dư trong sản phẩm chè.

Thay thế thuốc có độ độc tố cao bằng thuốc ít độc với người và động vật máu nóng. Ngoài độ độc cấp tính, cần chú ý đến tác động lâu dài ở nồng độ thấp đối với người và động vật. Đặc biệt cần chú ý mức dư lượng thuốc cho phép tối đa cho phép theo qui định của FAO trong sản phẩm chè sau khi chế biến.

Cần sử dụng một bộ thuốc mới trên chè bảo đảm chất lượng sản phẩm phục vụ tiêu dùng trong nước, đặc biệt là xuất khẩu. Hiện nay nên sử dụng các loại thuốc nhóm Pyrethroit như polytrin, Karate, Sherpa. Nhóm thuốc này có hiệu lực tiêu diệt sâu hại nhanh, ít độc, thời gian phân hủy nhanh (sau phun 7 ngày, chè có thể hái được). Song cần chú ý là nhóm thuốc này nhanh gây kháng thuốc đối với rầy xanh, bọ cánh tơ, bọ xít muỗ i và sâu ăn lá khác, vì vậy không nên dùng quá 2 lần phun liền nhau. Mặt khác nhóm thuốc này thường hay gây bùng nổ số lượng sâu hại sau khi dùng nhi ều l ần, đặc biệt là nhện đỏ và nhện trắng trên chè. Do đó, trong 1 năm chỉ dùng vài lần khi sâu hại thành dịch nặng, sau đó chuyển sang dùng thuốc khác như Padan, Trebon, comite (nên dùng luân phiên các loại thuốc này).

Trên chè, thuốc padan được sử dụng để trừ rầy xanh, bọ cánh tơ và nhóm sâu ăn lá như sâu róm, bọ nẹt, sâu cuốn búp, sâu chùm, sâu kèn. Khi sử dụng Padan trên chè, hàm lượng nước trong búp chè giảm nên búp chè có màu xanh vàng, phù hợp với tiêu chuẩn búp chè tươi. Các nước trồng chè ở đông Nam á và châu Phi đều dùng Padan để trừ sâu trên chè như một loại thuốc chính. Padan là loại thuốc trừ sâu sinh học, ít độc đối với người và động vật máu nóng, hiệu lực trừ sâu cao ngay cả đối với những loại sâu đã kháng thuốc khác.

Nhiều năm qua các xí nghiệp chè đã áp dụng hình thức khóan đến người lao động. Việc làm đó gây ra tình trạng không quản lý được việc sử dụng các loại thuốc cấm sử dụng trên chè, làm ảnh hưởng xấu tới chất lượng chè. Chủ trương của Tổng công ty chè Việt Nam trong việc thành lập các tổ phun thuốc trừ sâu tại các xí nghiệp để khắc phục tình trạng này là hòan toàn đúng đắn.

Những qui định về thời gian cách ly khi hái chè cần phải đảm bảo chất lượng sản phẩm chè.

3.2. Tình hình sử dụng thuốc bệnh cho chè.
Nhiều công trình nghiên cứu thuốc trừ bệnh cho chè cho thấy:

Thuốc Antracol 70WP có tác dụng phòng trừ tốt các bệnh nấm hại chè như bệnh bệnh phồng lá, chấm xám, chấm nâu, đốm mắt cua, thối búp chè, bệnh tóc đen. Ngoài tác dụng phòng trừ nấm bệnh, thuốc này còn bổ sung vi lượng kẽm (Zn++) tinh khiết giúp cho cây chè sinh trưởng tốt hơn, lá chè xanh kéo dài dẫn đến cây chè cho năng su ất cao hơn. Cơ sở của vấn đề này là do cây chè nhờ được bổ sung vi lượng kẽm đã tăng cường khả năng hút đạm và lân trong đất vùng rễ chè để sinh trưởng phát triển tốt hơn.


Thuốc xử lý đất đối với bệnh chết loang dùng Mouceren + Fudazon với tỷ lệ 1:1 hoặc riêng rẽ ở liều lượng 5g/cây tưới vào đất.

Đối với bệnh sùi cành chè dùng thuốc Benlat C, Dithane phun vào cây đã dùng tại nông trường Sông Cầu có kết quả tốt.

Thuốc Bullstar cộng với thuốc Antracol ngoài tác dụng phòng trừ các loại sâu bệnh hại trên cây chè còn có tác dụng kích thích cây chè sinh trưởng và phát triển mạnh. Đặc biệt thuốc bảo vệ cành cấp 1 là cành có chức năng quan trọng nhất, quyết định số nhánh số búp và năng suất của cây chè.

3.3. Hướng sử dụng thuốc BVTV cho chè.
Những hướng cần thiết nhằm tăng hiệu quả sử dụng thuốc trừ BVTV trên chè:

- Phải hết sức tiết kiệm thuốc, chỉ sử dụng khi cần thiết. Kịp thời dập tắt dịch sâu bệnh khi chúng mới phát sinh, tránh tình trạng để phát thành dịch mới dùng thuốc, khi đó sẽ tốn nhiều thuốc và hiệu quả thấp.

- Áp dụng hệ thống phòng trừ tổng hợp trên chè (trong đó có cả biện pháp hóa học). Chú ý bảo vệ các thiên địch của rầy xanh, bọ trĩ, nhện đỏ... trên chè. Luân phiên sử dụng các loại thuốc, không nên chỉ dùng một loại thuốc cho một loài sâu từ đầu đến cuối năm. Tuyệt đối không sử dụng các thuốc đã cấm trên chè.

- Phải có những qui định cụ thể về thời gian cách ly của từng loại thuốc khi sử dụng trên chè và cần chú ý tới mức dư lượng tối đa cho phép sử dụng thuốc mà FAO đã qui định.

- Xây dựng các lực lượng chuyên trách, các đội phòng trừ sâu bệnh để hạn chế đến mức tối đa việc sử dụng các loại thuốc đã cấm sử dụng.

4. Quy trình phòng trừ tổng hợp sâu, bệnh hại chè trong sản xuất chè búp tươi an toàn.

Quy trình phòng chống dịch hại tổng hợp (IPM) là một chiến lược phòng chống sâu bệnh sâu bệnh hại chè mang tính nguyên tắc dựa trên cơ sở sinh thái học, tùy từng hòan cảnh cụ thể mà chọn lựa giải pháp tối ưu nhằm đảm bảo sự ổn định của hệ sinh thái cây chè, an toàn với môi trường và có lợi về kinh tế.

Khi thực hiện quy trình này phải giảm bớt được việc sử dụng thuốc hóa học BVTV trong sản xuất chè nhằm góp phần sản xuất các loại chè không có hoặc có dư lượng thuốc hóa học bảo về thực vật dưới ngưỡng cho phép đáp ứng yêu cầu sản xuất chè an toàn.

4.1. Nhận biết được sâu bệnh hại chính và thiên địch phổ biến trên chè.
+ Sâu hại chính trên chè bao gồm: rầy xanh hại chè, bọ xít muỗi, bọ cánh tơ, nhện đỏ nâu, rệp muội đen, sâu cuốn búp, sâu róm, sâu gặm vỏ, sâu xếp lá.

+ Bệnh hại chính trên chè: bệnh thối búp, bệnh đốm nâu, bệnh phồng lá, bệnh sùi cành chè, bệnh chấm xám.

4.2. Quy trình phòng trừ tổng hợp dịch hại hại chè.
4.2.1. Các biện pháp kỹ thuật canh tác
- Làm đất trồng mới.

- Chọn giống kháng sâu bệnh.

- Chăm sóc (bón phân, tưới nước, tủ gốc, cây che bóng, đốn) - Thu hái.

4.2.2. Biện pháp sinh học:
+ Bảo vệ và phát triển quần thể thiên địch tự nhiên sẵn có trên nương chè bằng cách:

- Để cho các loài thiên địch tồn tại ở mật độ thấp dưới ngưỡng gây hại kinh tế, không gây ảnh hưởng đến năng suất chè.

- Áp dụng các biện pháp canh tác hợp lý tạo điều kiện thuận lợi cho cây chè sinh trưởng, phát triển, làm tăng khả năng chống chịu sâu bệnh của cây chè, tạo điều kiện thuận lợi cho thiên địch đến cư trú, góp phần giảm nhu cầu phải dùng thuốc hóa học.

- Đảm bảo tính đa dạng sinh quần trong hệ sinh thái cây chè, cây che bóng, cây trồng xen tạo điều kiện cho thành phần loài thiên địch phong phú. Duy trì các loài cây hoa có mật (đặc biệt cây hoa cứt lợn) xung quanh nương chè để hấp dẫn thiên địch đến cư trú và phát triển.

- Không sử dụng thuốc hóa học bừa bãi, chỉ sử dụng thuốc hóa học khi cần thiết, dùng thuốc đặc hiệu hoặc có phổ tác động hẹp, ít độc với thiên địch mà có hiệu quả cao với sâu hại, chỉ phun vào nơi có mật độ sâu, mức độ bệnh cao hơn ngưỡng gây hại kinh tế.

+ Tăng cường sử dụng các chế phẩm sinh học và thảo mộc

Sử dụng chế phẩm Bt để trừ sâu miệng nhai (sâu cuốn lá, sâu chùm, bọ nẹt), chế phẩm từ nấm Beauverin để trừ rầy xanh, bọ xít muỗi, Bi tadin để trừ nhện đỏ nâu, rầy xanh.

Sử dụng chế phẩm từ thảo mộc và có nguồn gốc sinh học như: Sukopi, SH01, Xanh green, Sông lam 333, Rotox, Deriss... để trừ sâu hại chính trên cây chè.

Sử dụng chế phẩm sinh học từ nấm đối kháng Trichoderma ssp trừ vi sinh vật trong dất gây bệnh cho cây chè.

Thu những cá thể sâu hại chè bị chết nghiền nát hòa với nước lã và phun lên những nơi có các loài sâu hại đó nhằm tăng thêm nguồn gây bệnh của sâu hại.

Nghiên cứu và nuôi một số loài bắt mồi, ăn thịt (bọ rùa, nhện nhỏ....) và thả vào hệ sinh tái cây chè để trừ rầy xanh, bọ xít muỗi.

4.2.3. Biện pháp cơ lý
Thu bắt sâu chùm, sâu non tuổi 1-2 của sâu róm, bọ xít non của bọ xít hoa

khi chúng còn sống tập trung, nhổ cỏ bằng tay ở gốc chè 1 năm tuổi.

Hái bỏ những lá chè, búp chè bị sâu cuốn lá, cuốn tổ, sâu xếp lá, sâu kèn Cắt tỉa cành chè bị sâu đục thân mình đỏ, rệp sáp, bệnh loét, sùi cành. Đào bỏ cây chè bị bệnh chết loang. Phát cỏ dại trên nương chè.


Đặt bẫy dự báo sự xuất hiện của sâu hại và để thu diệt chúng. Dùng bẫy đèn thu bắt các loài rầy, trưởng thành một số loài cánh vảy hại che, bẫy hố để bắt các loài côn trùng hoạt động ban đêm khi bò lên mặt đất, bẫy dính màu vàng để bẫy trưởng thành rệp muội, bọ phấn, bọ cánh tơ.

4.2.4. Biện pháp hóa học
Sử dụng thuốc hóa học phải tuân theo nguyên tắc 4 đúng và quy tắc đảm bảo an toàn khi sử dụng thuốc (đã được trình bày ở phần trên).


4.2.5. Thăm đồng thường xuyên
Hàng tuần phải thăm nương chè, quan sát kỹ, ghi nhận các thông tin về hiện trạng và xu thế phát triển của sâu bệnh, cỏ dại hại chè, của thiên địch, tình hình sinh trưởng, phát triển của cây chè, những biểu hiện cần bón phân hay tưới nước ... và tình hình thời tiết. Dựa vào các thông tin này tiến hành phân tích sinh thái để có quyết định đúng đắn chọn biện pháp tác động hợp lý để khống chế dịch hại dưới ngưỡng gây hại kinh tế.


Nguồn: Giáo trình nghề trồng chè - Bộ NN&PT NT


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
     
Có bài mới 10.09.2017, 15:57
Hình đại diện của thành viên
Ban quản lý
Ban quản lý
 
Ngày tham gia: 15.01.2016, 14:24
Tuổi: 18 Nữ
Bài viết: 650
Được thanks: 295 lần
Điểm: 7.9
Có bài mới Re: Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa cây cảnh - Điểm: 10
Kỹ thuật canh tác cây cao su: Trồng, chăm sóc và bón phân cho cây cao su

1. Chuẩn bị đất trồng cao su

images
(A) Khai hoang được tiến hành bằng cơ giới (đào gốc, rà rễ, san lấp ụ mối); (B) Dùng cày 3 chảo, cày sâu 25-35cm; (C) Dùng cày 7 chảo để làm “chín” đất trước khi thiết kế lô hàng.

2. Thiết kế lô - hàng - mật độ và khoảng cách trồng cao su

Thiết kế lô: Tùy theo địa hình để thiết kế lô có diện tích thích hợp (lớn >12ha, nhỏ <4ha)
Thiết kế hàng: Nếu đất dốc phải thiết kế hàng theo đường đồng mức.
Mật độ và khoảng cách:
- Khoảng cách 7x2,5m (mật độ 570 cây/ha).

- Khoảng cách 6x3m (mật độ 550 cây/ha).

images
(A) Thiết kế lô trồng theo địa hình; (B) Thiết kế hàng trên đất dốc; (C) Mật độ và khoảng cách trồng hợp lý.

3. Đào hố và bón phân cho cao su

Đào hố:
Hố cao su được đào:

- Dài x Rộng x Sâu = 60cm x 60cm x 70cm Bón phân (lót hố):

Phân chuồng: 10kg, phân lân: 0,2kg, vôi 0,3kg

Lưu ý: Phân + vôi + đất mặt trước khi lấp xuống hố.

Lấp hố xong trước khi trồng 20-30 ngày.

images
(A) Đào hố trồng cao su; (B) Bón lót + trồng cao su.

4. Chuẩn bị giống cây cao su

Tiêu chí chọn giống:
- Năng suất cao, sản lượng ổn định

- Chất lương và hàm lượng mủ tốt (được Bộ NN & PTNT chấp nhận)

images
(A) Vườn cao su đạt tiêu chuẩn; (B) Khai thác mủ cao su.

5. Tiêu chuẩn cây giống cao su

Cây Stum:
+ Đường kính cây đo ở độ cao 10cm phải đạt ≥16mm.

+ Mắt ghép có hạt gạo tốt, không dập, vết ghép ổn định.

+ Rễ cọc dài 40-45cm.

Cây bầu mắt ngủ:
+ Cây cao su con ươm trong bầu nylon 18x35cm

+ Ghép giống tốt, cắt ngọn cao 5cm trên mắt ghép.

Tiêu chuẩn cây giống:
+ Đường kính gốc ghép đo trên cổ rễ 10 cm phải đạt >12mm.

+ Mắt ghép sống ổn định, hạt gạo tốt.

- Cây bầu tầng lá (tương tự trồng bầu mắt ngủ). Chú ý:

+ Không để gãy chồi và vỡ bầu.

+ Khi trồng xong cắm cọc cao 70-100cm để giữ chồi.

images
Tưới nước cây cao su con.

6. Làm cỏ - tủ gốc - tỉa chồi

a. Làm cỏ:
Trên hàng cao su cách gốc 1,5m phải được làm sạch cỏ. Cỏ ở hàng luống giữa 2 hàng cao su phải được phát dọn và giữ thảm cỏ rộng 4m để bảo vệ đất chống xói mòn.

b. Tủ gốc giữ ẩm:

Cuối mùa mưa hàng năm cần dùng bã mía, rơm, cỏ khô...tiến hành tủ gốc cho cao su để giữ ẩm.

c. Tỉa chồi:
Sau khi trồng 2 tháng, thường xuyên kiểm tra để tỉa chồi dại mọc ra từ gốc.

images
(A) Chăm sóc cao su mới trồng; (B) Trồng cây che đất cho vườn cao su kiến thiết cơ bản; (C) Xới đất, bón phân cho vườn cao su.

7. Bón phân cho cây cao su

Bảng: Hướng sử dụng phân bón.

Bảng: Hướng sử dụng phân bón cho cây cao su

images
Phương pháp bón

● Năm thứ nhất:
- Lần 1 (khi cây có một tầng lá ổn định):

- Lần 2 (1 tháng sau lần 1)

- Lần 3 (1 tháng sau lần 2)

● Năm 2 - 4:
Đào rãnh sâu 7-10cm rộng 10-15cm theo hình chiếu của tán lá, sau đó rải phân đều vào rãnh và lấp đất.

● Cao su kinh doanh (cây giao tán):
Phân được trộn đều, rải giữa đường băng (rải phân vào ngày mưa nhỏ, đủ ẩm độ).

images
(A); (B) Bón phân cho cao su thời kỳ khai thác.

Nguồn: syngenta.com.vn


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 10.09.2017, 16:10
Hình đại diện của thành viên
Ban quản lý
Ban quản lý
 
Ngày tham gia: 15.01.2016, 14:24
Tuổi: 18 Nữ
Bài viết: 650
Được thanks: 295 lần
Điểm: 7.9
Có bài mới Re: Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa cây cảnh - Điểm: 10
Kích thích mủ, thiết kế miệng cạo và kỹ thuật cạo mủ cao su

1. Tổ chức khai thác cây cao su

1.1. Tiêu chuẩn cây cao su:
Khai thác mủ khi vườn cây được 5-7 năm tuổi, có ≥70% số cây có chu vi thân >50cm và chiều cao từ mặt đất lên đạt 1m.

Việc thu hoạch mủ cao su thường kéo dài liên tục 8-10 tháng trong năm. Để thu hoạch mủ, người ta dùng dao cạo đi một lớp vỏ mỏng trên thân cây nhằm gây ra vết thương để mủ chảy ra và hứng vào chén.

1.2. Số cây trên một phần cạo (số cây một người có thể cạo trong ngày)
Tùy theo địa hình, tuổi cây cạo và sức khỏe của người công nhân cạo mủ. Một người có sức khỏe bình thường có thể cạo miệng ngửa được 400-500 cây/ngày.

Trong trường hợp cạo hai miệng úp và ngửa thì số cây cạo chỉ trong khoảng 320-380 cây/ngày.

1.3. Trang bị vật tư cho cây cạo mủ:
Cây cạo được trang bị đầy đủ các vật tư: Kiềng, chén, máng. Máng đóng nghiêng dưới miệng tiền 10cm, kiềng buộc cách miệng tiền 25-35cm, không được đóng kiềng vào thân cây cao su.

Trang bị vật tư cho cây cạo mủ

Chén hứng mủ làm bằng đất nung, trong lòng chén có tráng lớp men sứ để dễ bóc mủ chén.

Vào mùa mưa phải trang bị máng chắn nước mưa cho cây cao su.

images
Trang bị vật tư cho cây cạo mủ.

1.4. Thiết kế miệng cạo
a) Chiều cao miệng cạo: miệng cạo cây mới mở có miệng tiền đo 1,3m cách mặt đất.

b) Độ dốc miệng cạo:

Tùy theo tuổi cây, độ dốc miệng cạo so với trục ngang là:

- Cây mới cạo (tuổi cạo 1-10) : 340

- Cây trung niên (tuổi cạo 11-17)       : 320

- Cây già (trên 17 tuối cạo)                  : 300

- Cây cạo úp                                               : 450

c) Hướng miệng cạo: Miệng tiền được mở đồng loạt cùng một hướng trong lô.

d) Mở thêm (mở dặm): Vào tháng 4 và tháng 10 dl hàng năm, mở cạo thêm những cây đã đủ tiêu chuẩn mở miệng cạo. Đầu năm cạo thứ 3, mở cạo tất cả các cây vanh > 40 cm. Miệng cạo có cùng độ cao hiện tại của các cây mở trước.

1.5. Mở miệng cạo.
Sau khi thiết kế, cạo xả miệng 3 nhát dao:

- Nhát 1: Cạo chuẩn.

- Nhát 2: Vạt nêm.

- Nhát 3: Hoàn chỉnh miệng cạo, cạo ép má dao từ từ đến độ sâu cạo quy định, tránh không để cạo phạm khi mở miệng cạo.

Mức độ hao vỏ cạo khi mở miệng cho phép tối đa từ 1,5-2,0 cm.

images
Mở miệng cạo và hứng mủ cây cao su.

2. Chế độ cạo

Chế độ thông dụng hiện nay là cạo nử a vòng thân cây (S/2), nhịp độ cạo có thể là D2 hoặc D3. Không nên áp dụng chế độ cạo D1 vì mau hết vỏ cạo, cây bị kiệt sức sau vài năm cạo, năng suất thấp, hàm lượng mủ thấp. Nên áp dụng chế độ cạo D3 kết hợp với bôi chất kích thích nồng độ 2,5% vì chế độ cạo này ít gây vết thương cho cây cao su, tiết kiệm vỏ cạo do vậy sẽ bảo đảm năng suất về lâu dài đạt hiệu quả cao.

images
Cạo nửa vòng thân cây (S/2).

3. Một số chỉ tiêu kỹ thuật chủ yếu trong việc cạo mủ

a. Thời vụ cạo mủ:
Việc mở miệng cạo các vườn cây mới được tiến hành vào các tháng 3-4 dl (trước mùa mưa) và cuối tháng 10 dl (sau mùa mưa).

Vườn cây đang khai thác cho nghỉ cạo lúc cây cao su ra lá mới (tháng 1-2 dl). Cây

được cạo lại khi đã có tầng lá đã ổn định (vào tháng 3-4 dl).

b. Độ sâu cạo mủ
Quy định từ 1,0-1,3mm cách tượng tầng. Tránh cạo cạn, cạo sát, tuyệt đối không được cạo phạm.

images
Độ sâu cạo mủ cao su từ 1,0-1,3mm cách tượng tầng.

c. Mức độ hao dăm - Đánh dấu hao dăm
Đối với miệng cạo ngửa, hao dăm 1,1-1,5 mm/lần cạo. Hao vỏ cạo tối đa 16cm/năm đối với nhịp độ cạo D3; 20 cm/năm đối với nhịp độ cạo D/2.

Đối với miệng cạo úp có kiểm soát, hao dăm không quá 2 mm/lần cạo. Hao vỏ tối đa 3cm/tháng.

Đối với miệng cạo úp ngoài tầm kiểm soát, hao dăm không quá 3mm/lần cạo. Hao vỏ tối đa 4,5cm/tháng.

Hàng năm, trước khi bắt đầu cạo lại, dùng móc hoặc dao đánh dấu hao vỏ cạo, dùng rập vạch trên vỏ cạo các vạch chuẩn để khống chế mức hao vỏ từng tháng, quý kết hợp khống chế độ dốc miệng cạo.

d. Tiêu chuẩn đường cạo
Đường cạo đúng tiêu chuẩn khi có đúng độ dốc, có lòng máng, vuông tiền, vuông hậu, không lệch miệng, không vượt tuyến, không gợn sóng.

images
Đường cạo đúng tiêu chuẩn.

e. Giờ cạo mủ - Trút mủ
- Giờ cạo mủ:
Chi bắt đầu cạo khi thấy rõ đường cạo. Vào mùa mưa không nên cạo khi vỏ cây bị ướt. Phải chờ đến khi ráo nước mới cạo.

- Trút mủ:
Khi mủ ngưng chảy thì tiến hành trút mủ, nếu trời chuyển mưa thì trút mủ sớm để tránh mủ bị rửa trôi.

Cây nào cạo trước trút trước. Dùng vét tận thu mủ trong chén. Trút mủ cao su mỗi buổi sáng.

images
Công nhân trút mủ cao su.

f. Dụng cụ cạo mủ cần có:
- Dao cạo mủ.

- Đá mài dao (1 viên đá xả, 1 viên đá bùn).

- 1 giỏ đựng mủ tạp và mủ dây.

- Trang bị vật tư cho cây cạo mủ.

- 1 thùng trút 15 lít.

- 1 thùng chứa 25 - 30 lít.

- 1 vét mủ.

- 1 nạo vỏ.

- 1 đòn gánh.

- 1 ống thuốc mỡ.

- 1 giẻ lau.

Các dụng cụ này phải thật sạch sẽ, dao được mài bén thường xuyên.

images
Dụng cụ cạo mủ cần có.

g. Công việc trước và sau khi cạo mủ từng cây
Trước khi cạo, phải bóc mủ dây, mủ chén, sửa lại kiềng, máng, úp chén trên kiềng. Cạo xong, ngửa chén lên và dẫn mủ chảy vào chén rồi mới qua cạo cây khác.

Hướng đi cạo theo những cây kế cận nhau, sau mỗi lần cạo phải đổi đầu cạo. Sau khi trút mủ xong đặt chén lại vị trí cũ để hứng mủ chảy trễ, tránh trút sót mủ.

Những điều cần lưu ý
- Cạo mủ được tiến hành đều đặn theo đúng nhịp độ D2 hoặc D3 (không cạo D2 lẫn lộn với D3). Cạo hết, không bỏ sót cây.

- Thường xuyên làm vệ sinh cho cây cạo, vệ sinh dụng cụ, sửa lại miệng cạo, bôi thuốc mỡ cho các vết cạo phạm, bôi phòng bệnh mặt cạo vào mùa mưa.

- Khi nghỉ cạo tận thu hết mủ tạp, mủ đất, thu máng, thu kiềng, chén úp dưới gốc cây. Quét dọn, gom lá vào giữa hàng cây.

- Tuyệt đối không đốt lá khô trong vườn cao su.

4. Kích thích mủ cao su

Việc sử dụng chất kích thích mủ cho thấy không bị ảnh hưởng đến sức sống cũng năng suất lâu dài của cây nếu sử dụng đúng:

Chỉ sử dụng cho vườn cây cạo D3, D4 và vườn cây chuẩn bị thanh lý. Không sử dụng cho vườn cây cạo D1 hoặc D2.

a. Loại chất kích thích và nồng độ sử dụng
- Ethephon (acid 2- chloroethyl phosphonic):

* 2,5% a.i cho cây nhóm I và II

* 5,0% a.i. cho các vườn cây nhóm III và vườn cây trước khi thanh lý.

b. Thời vụ áp dụng kích thích mủ, thời điểm bôi:
* Chỉ bôi chất kích thích vào các tháng 5, 6, 7, 10, 11 và 12 dl.

* Bôi chất kích thích trước nhát cạo kế tiếp 24-48 giờ.

Không bôi khi cây còn ướt hoặc lúc trời sắp mưa.

Tuyệt đối không được bôi trong mùa khô, mùa rụng lá.

c. Phương pháp bôi chất kích thích mủ:
- Bôi trên vỏ tái sinh (Pa: Panel application): Sau khi khuấy đều chất kích thích, dùng cọ nhỏ bôi một băng rộng 1cm, mỏng đều trên vỏ tái sinh tiếp giáp với miệng cạo.

Phương pháp này áp dụng cho miệng cạo ngửa.

- Phương pháp bôi trên miệng cạo không bóc lớp mủ dây (La: Lace application): Sau khi khuấy đều chất kích thích, dùng cọ nhỏ bôi một lớp mỏng đều ngay trên miệng cạo.

Phương pháp này áp dụng cho miệng cạo úp.

images
Xử lý chất kích thích lên miệng cạo.

d. Dụng cụ bôi chất kích thích
1 cọ bôi số 8 có bề rộng 0,8cm.

1 hộp đựng chất kích thích có ghi rõ nồng độ.

e. Liều lượng sử dụng, nhịp độ bôi chất kích thích
Cây có tuổi cạo từ 1-5, bôi từ 0,5-1 gam/cây/lần theo phương pháp Pa. Cây có tuổi cạo từ 6-10, bôi từ 0,75-1,5 gam/cây/lần theo phương pháp Pa.

Cây có tuổi cạo trên 10, bôi từ 1-2 gam/cây/lần theo phương pháp Pa; từ 0,75-2 gam/cây/lần theo phương pháp La.

Khoảng cách giữa 2 lần bôi ít nhất là 3 tuần.

f. Tiêu chuẩn cây được sử dụng chất kích thích
Bôi chất kích thích cho những cây sinh trưởng bình thường, kỹ thuật cạo tốt. Không bôi chất kích thích cho những cây bị bệnh nấm hồng gây cụt ngọn, cây bị bệnh loét sọc miệng cạo nặng, cây đã rụng hết lá do bệnh rụng lá mùa mưa, cây có dấu hiệu khô miệng cạo hoặc những cây quá nhỏ.

g. Tiêu chuẩn vườn cây sử dụng chất kích thích mủ
Nếu hàm lượng cao su khô (DRC) của vườn cây dưới 25% thì không sử dụng chất kích thích.

Nếu tỷ lệ cây khô miệng cạo toàn phần cao hơn lần kiểm kê trước đó theo mức quy

định sau thì không nên bôi chất kích thích: Năm cạo 1-10 > 3% Năm cạo 10-20 >10 %.

h. An toàn lao động khi sử dụng chất kích thích
Tránh để chất kích thích dính trên da, mắt. Trong trường hợp bị dính chất kích thích vào da phải rửa ngay bằng xà phòng và nước ấm. Nếu bị dính chất kích thích vào mắt phải rửa mắt ngay nhiều lần bằng nước sạch.

Sau khi sử dụng phải hủy bỏ bao bì đựng chất kích thích, không sử dụng lại.

Khi bôi chất kích thích cho miệng cạo cao, phải mang kính phòng hộ để tránh thuốc rơi vào mắt.

i. Bảo quản chất kích thích khi chưa sử dụng
Chất kích thích phải luôn được giữ trong mát, tránh ánh nắng trực tiếp. Tuân thủ theo hạn sử dụng ghi trên bao bì.

5. Kỹ thuật cạo dao kéo trên miệng cạo ngửa

a. Cầm dao và tư thế đứng
- Tay phải cầm cán dao và cung cấp lực chính để kéo dao cạo. Khi nâng cán dao lên hoặc hạ cán dao xuống sẽ điều chỉnh mức độ dầy dăm cạo. Áp cán dao vào thân cây hoặc dang ra khỏi thân cây sẽ điều chỉnh độ sâu cạo mủ.

- Tay trái cầm sóng dao để giữ thăng bằng.

- Tư thế đứng: Hai bàn chân hơi dạng ra một góc 900 là tốt để trọng lượng phân bố

đều trên hai chân.

b. Lấy vuông hậu
Đặt dao trên miệng cách ranh hậu khoảng 2-3cm, đẩy ngược dao lên phía trên đến ranh hậu. Tay phải hạ cán dao xuống để lấy vuông hậu.

c. Cạo nhát chuẩn
Sau khi lấy vuông hậu xong, cạo một nhát chuẩn dài 4-5cm để định đúng vị trí dao bảo

đảm độ hao dăm và độ sâu cạo mủ.

images
Cầm dao và tư thế đứng cạo mủ cao su

d. Thao tác cạo và di chuyển
Đó là sự phối hợp nhịp nhàng giữa tay và chân.

- Khi cạo mủ cần kéo dao dứt khoát làm đứt ngọt lớp dăm cạo. Áp má dao sát vào vỏ tái sinh bên trên để tạo lòng máng trên miệng cạo.

- Hai chân đứng ở vị trí miệng hậu, chân trái phía trước. Khi cạo dần dần chuyển trọng tâm về chân phải, sau đó chân trái bước lui vòng theo đằng sau gót chân phải. Lúc này trọng tâm đặt ở chân trái, tiếp theo bước chân phải và trở lại tư thế ban đầu. Bước chân liên tục theo tư thế trên đến khi cạo xong miệng cạo.

e. Thu dao
Khi cạo tới miệng tiền, tay trái hơi ấn sâu vào, đồng thời tay phải vừa áp cán dao vào thân cây vừa nâng ngược dao lên để tạo mang cá (vuông tiền).

Lưu ý:
- Dao phải luôn luôn được mài bén.

- Khi cạo xong liếc ngay dao, rửa sạch và bọc bằng nắp chụp dao.

6. Kỹ thuật cạo miệng úp

a. Thao tác cầm dao và tư thế đứng
- Tay phải cầm phía dưới cán dao, dùng để điều chỉnh độ hao dăm, độ sâu vết cắt và cung cấp lực chính để đẩy.

- Tay trái để ngửa cầm phía trên cán dao để điều chỉnh thăng bằng.

- Vị trí của 2 tay trên cán dao tùy thuộc vào độ cao miệng cạo và lưu ý tránh nâng khuỷu tay phải quá cao dễ gây mỏi tay và vai.

- Khi bắt đầu cạo, đứng trước miệng tiền, trọng lượng phân bổ đều trên 2 chân, 2 bàn

chân cách nhau khoảng 25-30cm, góc giữa 2 bàn chân ≈ 900, chân trái đặt hơi chếch về phía thân cây.

b. Lấy vuông tiền
Đặt mũi dao ngay miệng tiền, lưỡi dao song song với đường miệng cạo, nhấc nhẹ tay phải lên, khẽ nhấn mũi dao vào vỏ để bấm vuông tiền.

c. Thao tác cạo và di chuyển
- Sau khi bấm vuông tiền, hạ đường miệng cạo. Điều chỉnh (1,5-2,0mm). cánh tay phải xuống để lưỡi dao trở lại song song với cánh tay phải để cắt một lớp dăm đúng độ dày quy định

- Đẩy lưỡi dao dần từ dưới lên để cắt vỏ cạo.

- Trong khi cạo, má dao hướng dẫn phải hơi nghiêng tạo thành một góc khoảng 100 với mặt vỏ tái sinh, sống dao phải luôn tựa vào đáy lòng máng để duy trì độ sâu và độ dày dăm. Để đạt được điều này, chân cần phải di chuyển nhịp nhàng với tay cạo để thân người lúc nào cũng ngang với mũi dao.

- Trước tiên trọng tâm dồn trên hai chân, sau đó theo sự di chuyển của mũi dao, trọng tâm từ từ chuyển sang chân trái. Để di chuyển thân người, bước chéo chân phải về phía sau chân trái, từ từ dồn trọng tâm từ chân trái sang chân phải. Khi trọng tâm hoàn toàn dồn trên chân phải, bước chân trái sang ngang vừa tầm như tư thế bắt đầu cạo. Cứ như thế di chuyển cho đến khi mũi dao đạt đến miệng hậu. Khi di chuyển luôn giữ đều khoảng cách giữa người và thân cây.

- Trong trường hợp miệng cạo còn thấp, hơi khuỵu gối, hạ thấp thân người, mắt luôn nhìn phía trong lòng máng để kiểm soát đường cạo.

d. Thu dao (lấy vuông hậu)
Khi mũi dao đến miệng hậu, hơi nâng tay phải lên và lắc dao ra phía ngoài để lấy vuông hậu.


Nguồn: syngenta.com.vn


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 10.09.2017, 16:18
Hình đại diện của thành viên
Ban quản lý
Ban quản lý
 
Ngày tham gia: 15.01.2016, 14:24
Tuổi: 18 Nữ
Bài viết: 650
Được thanks: 295 lần
Điểm: 7.9
Có bài mới Re: Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa cây cảnh - Điểm: 10
Bệnh khô miệng cạo ở cây cao su đã không còn

Đối với dân trồng cao su, bệnh khô miệng cạo (KMC) lâu nay được ví là “bệnh nan y” do chưa có giải pháp trị bệnh hiệu quả. Loại bệnh sinh lý gây thiệt hại nặng nề cho những người làm cao su. Tuy nhiên, gần đây, người trồng cao su tại các tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh rất vui mừng khi sử dụng thuốc ARGO 2 trị bệnh rất hiệu quả.

Hiệu quả ngoài mong đợi

Khô mặt cạo còn gọi là khô miệng cạo (KMC), chỉ những cây cao su không cho mủ, trước đây gọi là bệnh vỏ nâu. Bệnh này là hiện tượng sinh lý, hậu quả của việc khi giá mủ lên cao, người dân cạo quá cường độ cho phép, sử dụng chất kích thích không hợp lý, trong khi bón phân ít, làm cây không đủ thời gian và dinh dưỡng để tái tạo mủ. Thông thường có hai loại KMC: Loại khô mủ toàn phần thì miệng cạo bị khô hoàn toàn, mặt cạo bị khô và xuất hiện các vết nứt trên vỏ cạo...

images

Trong chuyến đi thực tế ngày 23/8, chúng tôi cảm thấy vui lây trước sự phấn khởi của bà con khi tìm được giải pháp điều trị căn bệnh này. Ông Vũ Ngọc Đoàn, người có kinh nghiệm trồng cao su lâu năm tại xã Minh Thạnh (huyện Dầu Tiếng, Bình Dương), cho biết số cây bị KMC trên vườn chiếm từ 20 đến 30%. Năm ngoái, ông phối hợp với một công ty của Thái Lan để trị bệnh nhưng sau 6 tháng vẫn không có hiệu quả. Đầu tháng 5/2013, ông dùng thử nghiệm thuốc ARGO 2 phun cho 30 cây KMC đã lâu. “Sau một tháng, với 4 lần phun, tôi thấy vỏ cây mềm, dễ cạo. Tôi xả thăm dò thấy cây cho mủ. Tiếp tục phun trong 3 tháng, cây cho mủ ổn định và tôi đưa vào khai thác luôn. Số cây mà tôi thử nghiệm đều bị khô mủ 4 - 5 năm rồi. Giờ đây tôi sử dụng thuốc ARGO 2 cho toàn bộ cây KMC trong tổng diện tích hơn 20 ha”, ông Đoàn cho hay.

Còn ông Đỗ Thành Như, chủ vườn cao su 40 ha tại xã Long Tân (Dầu Tiếng, Bình Dương) không giấu hết niềm vui: “ARGO 2 làm tôi bất ngờ quá. Không ngờ những cây cao su tưởng như bỏ đi bây giờ hồi phục lại”. Nói rồi ông nhẩm tính, cứ 1 cây khai thác bị KMC, mỗi năm thất thu 300.000 đồng, bình quân 1 ha (500 cây) có khoảng 20% cây KMC, như vậy, số tiền mất đi 30 triệu/ha mỗi năm.

Cây khỏe mạnh, gia tăng sản lượng

Tại buổi tập huấn cho các chủ vườn cao su ở Bình Dương, ông Huỳnh Thiếu Dũng - Giám đốc Công ty TNHH TM Cao su Xanh (Quận Tân Bình, TP.HCM), cho biết AGRO 2 là chất dinh dưỡng dưới dạng dung dịch, thành phần có nhiều Vitamin và khoáng chất đặc biệt dành riêng cho cây cao su, giúp sinh lý cây cao su luôn khỏe mạnh, đồng thời giúp phục hồi cả những cây cao su bị bệnh khô miệng cạo…

“Cây cao su bình thường hay bị KMC đều dùng sản phẩm này được. Với cây bình thường thì phun xịt AGRO 2 là để bổ sung Vitamin, khoáng chất, giúp sinh lý cây khỏe mạnh, cho nhiều mủ và duy trì độ ổn định của mủ. Còn cây cao su bị KMC thì tùy vào mức độ bệnh nhẹ hay nặng sẽ phun xịt AGRO 2 theo liều lượng và thời gian nhất định giúp cây cao su sớm phục hồi hoàn toàn bệnh khô miệng cạo trở lại cho mủ bình thường”, ông Dũng giải thích.

Để sử dụng thuốc trên cây KMC đạt hiệu quả cao nhất, ông Dũng khuyến cáo, trước khi phun nên cạo sạch lớp da bần bên ngoài thân cây, phun thuốc vào thân cây từ gốc lên trên khoảng 3,5 đến 4 m và phun sương tròn thân cây. Thuốc đã pha chỉ dùng trong 12 giờ và phun trước 10 giờ sáng. Tùy vào tình trạng của cây KMC mà sử dụng liều lượng thuốc, nước, cây cây và số lần phun hợp lý.  Đối với cây khô mủ hoàn toàn thì sử dụng 150 ml ARGO 2, pha với 20 lít nước phun cho 50 - 60 cây.    Thời gian trị bệnh 12 tháng, mức độ phục hồi bệnh nhanh hay chậm còn tùy vào điều kiện sinh lý của từng cây (nhanh 1 tháng, chậm 3 tháng sau khi phun xịt). Nếu phun khoảng 2 đến 3 tháng cây cho mủ trên 80% thì có thể tiến hành khai thác luôn, tuy nhiên trong quá trình khai thác phải tiếp tục phun đủ 12 tháng để cây hoàn toàn bình phục và cho mủ ổn định.  

Ngoài ARGO 2, còn có sản phẩm giúp gia tăng sản lượng là HEVEA 3 SYSTEM. Sau khi dùng thử nghiệm sản phẩm này nửa tháng, ông Nguyễn Đức Nhân, ấp 4, xã Tiến Hưng (T.X Đồng Xoài, Bình Phước), kết luận sản lượng mủ tăng gấp đôi. Sản phẩm gồm bộ thiết bị Hevea 3 và hỗn hợp khí H-H288. Sản phẩm này đã được dùng thử nghiệm 10 năm ở Malaysia và áp dụng thực tế tại thị trường các nước Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Myanmar… từ năm 2009 đến nay. Sản phẩm H-H288 là hỗn hợp khí đặc biệt giúp cây cao su khỏe mạnh và tự sản xuất được nhiều mủ hơn mà chất lượng mủ vẫn không giảm. Theo đó, khi dùng công nghệ này, sản lượng mủ cao su sẽ tăng dần theo thời gian sử dụng, từ tăng 100% thời gian đầu, sau đó là 300%, 400% sau 1-2 năm sử dụng.

ARGO 2 và HEVEA 3 SYSTEM là sản phẩm của Tập đoàn SDN BHD Malaysia, Công ty TNHH TM Cao su Xanh là đơn vị được chuyển giao công nghệ và phân phối.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 13.09.2017, 19:42
Hình đại diện của thành viên
Ex-moderator
Ex-moderator
 
Ngày tham gia: 26.06.2017, 21:53
Bài viết: 594
Được thanks: 319 lần
Điểm: 7.95
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: [Sưu tầm] Kỹ thuật dành cho cây cảnh, hoa cảnh - Điểm: 10
Kỹ thuật lão hóa cây cảnh: lão hóa vỏ cây

Một trong những câu hỏi được đạt ra nhiều trong khi mua – bán hay các cuộc triển lãm cây cảnh là “Cây này bao nhiêu tuổi/ bao nhiêu năm rồi?”. Điều đó chứng tỏ tiêu chí đầu tiên của một cây cảnh nghệ thuật là vẻ cổ lão của cây trong ba tiêu chí “Cổ - kỳ - mỹ”.
images
Bonsai nước ngoài (Ảnh: Internet)

Sự cổ lão của cây cảnh nghệ thuật có ý nghĩa vô cùng quan trọng như thế, vậy ta có thể “làm giả” được tuổi của nó nếu như ta không muốn trông chờ vào thiên nhiên mà ngược lại muốn tự mình thức đẩy quá trình lão hóa của nó.

Bài viết này chỉ trình bày kỹ thuật lão hóa cây cảnh đặc biệt là kỹ thuật lão hóa vỏ cây, tuy là một kỹ thuật nhưng thiếu nó không thể trở thành nghệ thuật được. Xuất phát của kỹ thuật này cũng học theo thiên nhiên mà có.

Trong thiên nhiên, tuổi cây ứng với thời gian sống dài hay ngắn của nó và nó biểu hiện rất rõ: khi cây già thì thân cành thường mỡ màng vươn thẳng, lá to và non xanh; cành xù xì, khúc khuỷu, còn chi tán thư thoáng, lá nhỏ và sậm màu.

Dĩ nhiên sẽ có lợi hơn nhiều nếu ta sử dụng một cây phôi đã sẵn có một số hoặc tất cả các đặc điểm kể trên. Một cây già thường cho phép rút ngắn thời  gian, nhưng chúng cũng có những mặt hạn chế khiến ta sẽ phải cắt bỏ, đục khoét rất nhiều để làm giảm kích thước cây cảnh và phải che dấu các vết cắt bỏ đó là việc rất khó khăn nếu muốn thực hiện một cách thuyết phục.

Vậy muốn thiết kế một cây cảnh nghệ thuật nhằm thể hiện một cây đã già, tức là đã cổ lão thì phải sử dụng các kỹ thuật để làm cho các cây đó phải có tất cả những đặc điểm của một cây đã già như trong tự nhiên. Bằng chứng của sự lão hóa về mặt sinh học, tựu trung lại, chúng có những đặc điểm cơ bản sau:

Ngọn cây có dạng vòm chứ không nhọn và mâm rễ thường nổi trên mặt đất.
Cành nhánh thường cân đối, gấp khúc.

Các tán lá thường thưa, thoáng tách biệt rõ ràng.

Cấu tạo của vỏ cây đã già: sần sùi, nứt nẻ…
Trong bốn đặc điểm trên thì ba đặc điểm đầu ta có thể thực hiện được khá dễ dàng bằng cách cắt, tỉa, uốn, kéo…. nhưng còn đặc điểm thứ tư về cấu tạo của vỏ cây già là rất khó thực hiện nếu ta không muốn chờ đợi ở thời gian tự nhiên của tạo hóa. Thời gian lão hóa tự nhiên của vỏ cây cảnh có thể phải chờ đợi hàng chục năm thậm chí hàng trăm năm.

Kiểu vỏ có đặc trưng của cây đã già thì thường vỏ cây có dạng sần sùi, nứt nẻ hoặc có cấu tạo lớp vỏ cứng bao bọc, hoặc có vỏ tróc ra từng miếng lớn để lộ những mảng bóng màu hồng xanh vàng sẫm…

Các nghệ nhân cây cảnh xưa và nay từng tìm ra các tác động từ bên ngoài để lão hóa cây bằng cách làm bầm dập vỏ cây, thậm chí dùng cả đèn phun cháy từng mảng vỏ để làm lũa thân cây vv… và hiện nay đang phổ biến một kỹ thuật chưa biết: đó là việc tạo môi trường trực tiếp bằng cách bao quanh vỏ cây một lớp thực vật – cụ thể là rêu để thích thích cây chóng già.

Trong thiên nhiên, hầu hết các loài cây cho lớp vỏ già nhanh hơn nếu thân cây được bao quanh bằng một lớp thực vật. Vì môi trường ẩm ướt (của lớp thực vật – rêu) bao bọc liên tục nơi vỏ cây với những vét xước nông có thể đẩy nhanh một cách đáng ngạc nhiên qua trùng lão hóa vỏ cây, nó tạo cho vỏ cây sự cạnh tranh với đám thực vật bao quanh để dành lấy dinh dưỡng. Chúng ta có thể với hầu hết cây cảnh ở bất cứ độ tuổi nào hoặc bất cứ kích thích nào lớn nhỏ nào để đẩy nhanh sự lão hóa của vỏ cây. Kỹ thuật này thực hiện bằng ba bước như sau:

B1: Dùng giấy nháp thô chà nhẹ trên thân cây theo chiều dọc nhằm làm xước lớp vỏ ngoài của vỏ cây ở một số chỗ, nhưng không làm rách sâu vào tầng phát sinh gỗ. Cố gắng chà lên cao đến mức có thể ở thân cây, kể cả các cành lớn.

B2: Giữ cho rêu luôn ẩm bao quanh khu vực đã chà xước vỏ cây một lớp dày khoảng 2 cm rồi cố định rêu ở đúng vị trí bằng dây buộc không quá chặt.

B3: Giữ cho rêu luôn ẩm ngay cả khi đã đặt cây trong bóng mát. Kiểm tra thân cây mỗi tháng, nếu thấy có rễ cây mọc ra dám rêu thì phải tháo rêu để cắt bỏ rễ đó đi. Sau vài ngày khi cây khô trở lại phải bó rêu ẩm lại ngay.

Việc bó rêu ẩm để tăng cường lớp mô tích tụ lại theo dạng tổ ong và thời gian cần có để các vết sần sùi nứt nẻ xuất hiện phụ thuộc vào độ dày của vỏ cây và số lượng lớp mô mới được sản sinh ra quá trình bó rêu. Xin lưu ý thêm là trong quá trình bó rêu cần để cho cây phát triển lá càng nhiều càng tốt để tối đa hóa sự sản sinh ra lớp mô. Lớp mô sản sinh nhanh thì vỏ cây càng dày và nhanh già. Thường phải giữ lớp rêu ẩm bao quanh vỏ cây khoảng trên dưới 2 năm mới đạt hiệu quả mong muốn. Như vậy ta có thể rút ngắn thời gian lão hóa so với tự nhiên khoảng 5 – 7 năm. Điều đó thật là kỳ diệu trong tạo tác một cây cảnh nghệ thuật mà các nghệ nhân thường mơ ước.

Quốc Anh

Theo yeucaycanh


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 13.09.2017, 21:20
Hình đại diện của thành viên
Ex-moderator
Ex-moderator
 
Ngày tham gia: 26.06.2017, 21:53
Bài viết: 594
Được thanks: 319 lần
Điểm: 7.95
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa cây cảnh - Điểm: 10
Kỹ thuật trồng và chăm sóc giàn Nho cho quả sai trĩu cành

Theo nhiều chuyên gia ngành dinh dưỡng, quả Nho là tặng vật của thiên nhiên dành cho con người. Không có gì khó hiểu nếu nhiều công ty mỹ phẩm đang áp dụng hoạt chất của trái nho trong kem dưỡng da chống nếp nhăn. Vì vậy ăn Nho giúp con người trẻ lâu, làm giảm nếp nhăn, tăng sức đề kháng, chống lại sự xâm nhập của các loại virus. Ngoài ra trong quả Nho còn chứa nhiều đường gluco và fructose dễ hấp thụ, các vitamin và khoáng chất có tác dụng tăng sức đề kháng cho cơ thể.

Đúng vậy, Nho là một loại cây vừa cho bóng mát lại vừa cho trái ngon, ngọt. Vì vậy để có được một giàn nho Ninh Thuận ngay chính trên sân thượng nhà mình bạn chỉ cần áp dụng các bước kỹ thuật trồng cây đúng cách và một chút tỉ mỉ trong khâu chăm sóc. Chỉ trong thời gian ngắn chắc chắn cả nhà bạn sẽ có trái Nho thơm ngon để ăn.

images
Để có giàn Nho trên sân thượng sai trĩu cành bạn cũng phải có quy trình kỹ thuật trồng cây và cách chăm sóc đúng cách. Ảnh minh họa

Chọn giống và cách trồng
Có rất nhiều loại Nho khác nhau để chúng ta lựa chọn nên tùy thuộc vào ý thích của gia đình mà chọn Nho đỏ, Nho xanh...Dù trồng loại nào thì cũng đều co trái sai, quả ngọt.

Kỹ thuật trồng cây Nho trên sân thượng

Kỹ thuật trồng cây Nho trên sân thượng đòi hỏi người trồng phải chú ý, nếu đất hẹp nên trồng trong các chậu đáy sâu 60cm và có đường kính lớn trên 50cm. Trước khi đặt gốc nho, chúng ta nên bón 8-10kg phân hữu cơ (NPK) cho một gốc.

Sau khi trồng Nho xong bạn nên tiến hành làm giàn leo. Việc làm giàn leo cho cây Nho cũng hết sức quan trọng. Muốn Nho ra trái, phải trồng ở những nơi nhiều nắng. Vì vậy, nho nên được đặt giàn ở sân thượng, nơi thoáng mát và ánh nắng chiếu nhiều nhất là sự lựa chọn tối ưu.

Phòng bệnh

Vì sâu cây Nho rất độc lại to nên nhiều người sợ không dám trồng. Tuy nhiên nếu bạn chăm sóc cẩn thận bằng cách phun thuốc trừ sâu mỗi năm/lần sẽ hạn chế được rất nhiều sâu bệnh hại cây.

Nhân giống

Để tiếp tục nhân giống trồng thêm giàn mới bạn có thể tiến hành chiết cành. Nên chọn cành bánh tẻ có đường kính bằng chiếc đũa ăn, dùng dao chiết cành khoanh và lột sạch đoạn vỏ 3 cm. Sau 1 – 1,5 tháng rễ từ vết cắt phía trên ra đầy bầu có thể cắt khỏi thân cây, cắt bớt đầu cành, đưa vào bầu đất giâm, sau 2 – 3 tháng mang trồng.

(Nguồn: vietq)


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 13.09.2017, 21:40
Hình đại diện của thành viên
Ex-moderator
Ex-moderator
 
Ngày tham gia: 26.06.2017, 21:53
Bài viết: 594
Được thanks: 319 lần
Điểm: 7.95
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa cây cảnh - Điểm: 10
Cách trồng và chăm sóc cây tường vi
  
Tường vi được trồng như một loại cây cảnh. Để có một cây Tường vi đẹp, trước hết bạn phải biết được đặc điểm sinh trưởng của cây, phải biết cây cần chăm sóc vào thời kỳ nào là thích hợp.

images
Tường vi là cây bản địa của Đông Á, xuất hiện nhiều ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ (Ảnh: saigonhoa.com)


Để cây cho hoa bền, đẹp, bạn nên làm như sau: khi xuân về, cây bắt đầu phát chồi, bạn nên chăm sóc bình thường, không bón quá nhiều để các chồi ra ngắn đốt. Khi chồi ra dài khoảng 5cm, bạn ngắt búp chỉ để từ 2-4 nách lá và cứ làm thế cho cây đâm nhiều chồi mới. Đến khoảng 20 tháng 3 âm lịch thì ngừng không ngắt chồi nữa. Trong thời gian này, nên cho cây đủ nước và tăng cường lượng lân (hoặc pha tro bếp vào nước tưới 2 lần / tháng). Khi ta tăng lân cho cây làm cho đốt cây ngắn, cành cứng đủ sức mang những chùm hoa to. Khoảng trung tuần tháng 4 âm lịch, cây sẽ có hoa, khi đó bạn sẽ có một cây với những cành hoặc rỡ, hoa không bị cúi rủ.

Ta phải thường xuyên loại bỏ những chồi phát từ gốc đi, nhất là đối với cây trồng trong chậu. Hàng năm, sau thời kỳ hết hoa, dùng mũi kéo tách hết phần chồi đến sát thân mẹ. Nếu ta không thường xuyên bỏ chồi gốc, qua thời gian từ 1-2 năm, cây mẹ sẽ yếu và chết từng phần.

Cây ra hoa tháng 2 đến tháng 5, có quả tháng 9 đến tháng 12. Ở Việt Nam phổ biến là loại Tường vi có hoa hồng nhạt, chúng được dùng trang trí cho các sân vườn biệt thự, khuôn viên công sở, trường học, công viên, dải phân cách đường bộ…

Cách trồng:

Cây tường vi thích hợp với khí hậu ấm áp ôn hòa, ít chịu được khô hạn, có tốc độ sinh trưởng trung bình.

– Trồng cây ngoài đất: Chọn nơi có đầy đủ ánh sáng không bị che khuất, đất thoát nước tốt. Đào hố sâu và rộng gấp đôi kích thích bầu đất, bón lót các loại phân hữu cơ, vi sinh cho cây như phân chuồng ủ hoai, phân rác, NPK,…Tùy theo cây giống lớn hay nhỏ mà bón lót với hàm lượng thích hợp rồi tưới nước đầy đủ giúp cây phát triển ổn định.

images
Trồng tường vi trong chậu (Ảnh: saigonhoa.com)
– Trồng cây trong chậu: Đặt cây ở ban công, bệ cửa sổ, sân vườn, nếu che mát quá nhiều cây sẽ sinh trưởng yếu, hoa ít hoặc không nở hoa. Nên đặt dưới đáy chậu một tấm lưới hay dùng mảnh sành, sứ đặt ngay tại lỗ thoát nước để nó không bị bít lại do hệ thống rễ ăn sâu xuống. Đất trồng cây là loại đất chứa nhiều dinh dưỡng: đất trồng, tro trấu, xơ dừa, phân chuồng hoai…, chú ý cần nén chặt gốc cây để cây không bị gió lung lay làm ảnh hưởng đến bộ rễ (đặc biệt là rễ non).

Chăm sóc:

- Nước tưới:

Cần tưới đầy đủ nước cho cây, thời kỳ ra hoa càng phải tưới nhiều hơn nhưng không làm tích nước lại cho cây quá nhiều, thời kỳ ngủ đông nên hạn chế tưới cây.

- Phân bón: Bón thúc phân định kì cho gốc tường vi vào khoảng tháng 5-6, mỗi năm bón 2 lần, các loại phân như NPK, phân vi sinh, Dynamic… Đối với cây bonsai cần kiểm soát lượng đạm để cành lá không phát triển quá rậm rạp. Đối với cây trong chậu nên bón định kỳ hàng tháng.

- Thay chậu: Hai năm cây tường vi nên được thay chậu 1 lần, tốt nhất là vào khoảng tháng 3-4. Sau khi thay chậu chỉ những cây có bộ rễ cứng cáp khỏe mạnh mới được bón phân, với những cây vừa cắt tỉa rễ thì ít nhất sau khoảng 15-20 ngày mới được bón phân.

- Cắt tỉa: Sau khi hoa tàn cần được cắt bỏ cành hoa đến sát thân mẹ chỉ để lại 2-4 nách lá và loại bỏ những chồi mọc từ gốc, nhất là đối với cây trồng trong chậu. Nếu không thường xuyên bỏ chồi gốc, qua thời gian từ 1-2 năm, cây mẹ sẽ yếu và chết từng phần. Sau khi cắt tỉa cần được tưới nước bình thường. Sau khoảng 1 tuần, từ những nách lá kia sẽ cho ra chồi mới và từ những chồi ấy cho ra những chùm hoa.

- Sâu bệnh: Cây thường bị một số loài sâu bệnh như sâu bông, ve lá có thể dùng dung dịch 80% DDVP 1000 lần dạng sữa để phun diệt.  Các loại rệp muội hay rệp bông hút chích nơi dưới lá kèm theo nấm đen bọ hóng khiến cho lá cây trở nên xấu xí và rụng đi, cần dùng các loại thuốc luân phiên phòng trừ rầy rệp như Bassa, Karate, Ofatoc….kết hợp thuốc trừ nấm như Kasumin, Valythamicin, Carbenzim, Anvil…và phân bón lá như Vitamin B1…

Khi phun thuốc trừ nên phun đều, phun mặt sau lá, nên tiến hành phun vào lúc trời râm mát hoặc gần tối, không có gió.

Hi vọng với cách trồng và chăm sóc cũng như trị một số bệnh hại trên cây tường vi, thì các bạn sẽ sở hữu cho mình những cây tường vi cánh mỏng xinh xắn.

Bạn nên chú ý khi các cành đã nở hết hoa, bạn nên cắt cành đó đi, cũng chỉ để lại 2-4 nách lá và lại bón thêm lân và chăm sóc bình thường. Sau khoảng 1 tuần, từ những nách lá kia sẽ cho ra chồi mới và từ những chồi ấy lại cho bạn những chùm hoa. Nếu chăm sóc tốt, làm đúng như đã nêu trên, bạn sẽ có cây tường vi ra hoa liên lục đến tận tháng 10 âm lịch.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 14.09.2017, 14:58
Hình đại diện của thành viên
Ex-moderator
Ex-moderator
 
Ngày tham gia: 26.06.2017, 21:53
Bài viết: 594
Được thanks: 319 lần
Điểm: 7.95
Tài sản riêng:
Có bài mới Re: Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa cây cảnh - Điểm: 10
Cách trồng hoa Dạ Yến Thảo

Hoa dạ yến thảo là loài hoa đẹp được ưa chuộng nhất hiện nay, thích hợp trồng ở ban công là đẹp nhất. Hoa dạ yên thảo rủ chậu treo thường được dùng trang trí nhà ở, quán cafe, nhà hàng… Cây hoa dạ yên thảo rủ có cành nhánh mềm mại rũ xuống quanh chậu treo và cho hoa nở nhiều màu sắc đẹp

images

Hoa dạ yến thảo làm hoa treo đẹp rực rỡ cả không gian

Hoa dạ yên thảo có tên gọi khác: Yên thảo hoa, hoa dạ yến thảo, hoa dã yến thảo. Màu sắc đa dạng gồm trắng, hồng, đỏ… Cây dạ yên thảo là loại cây thân thảo thuộc họ Cà, đường kính hoa dạ yến thảo: 5 cm, chiều cao thân: 30 – 50 cm. Thời kỳ nở hoa dạ yên thảo từ tháng 5 – 10. Dáng hoa phong phú, đa dạng. Cây hoa dạ yên thảo là loại cây chịu nhiệt, lạnh, rất dễ sống, nếu chăm sóc đầy đủ cây có thể ra hoa quanh năm, hết đợt này đến đợt khác.

Dạ Yến Thảo được chia thành 2 kiểu cây: -Dã Yên Thảo kép: Cây thân leo, hoa lớn, cánh kép với nhiều cánh (grandiflora), đường kính của hoa có thể lên tới 13 cm. -Dã Yên Thảo đơn: cây bụi, có rất nhiều hoa nhưng hoa chỉ có một lớp cánh (mulitflora), đường kính của hoa khoảng 5 – 7.5 cm, dễ trồng và ít bị ảnh hưởng bởi sâu bọ.

images

images

Hoa dạ yến thảo mix màu đẹp mắt độc đáo

Ý nghĩa của hoa dạ yến thảo

Hoa dạ yến thảo có nhiều ý nghĩa khác nhau với từng mục đích, trong tình bạn thì hoa dạ yến thảo như một lời nhắc nhở “Bạn luôn trong trái tim tôi” Còn trong tình yêu thì dạ yến thảo thể hiện tình yêu mộng mơ, hư ảo.

Những người yêu thích hoa dạ yến thảo thường là những người có rất giàu tình cảm, ấm áp. Họ thường là người bình tĩnh điềm đạm trong cuộc sống.

images

Hoa dạ yến thảo hoa đẹp cho mọi không gian

Ứng dụng của hoa dạ yến thảo

Hoa dạ yến thảo loài hoa xinh xắn luôn thu hút mọi ánh nhìn, được trồng để trang trí cho không gian ngoại thất của ngôi nhà. Thường được sử dụng làm hoa chậu treo cho mọi không gian. Mỗi không gian có thể đặt treo 3 đến 4 chậu dạ yến thảo nhiều màu khác nhau sẽ làm cho không gian trở lên rực rỡ, sinh động hơn rất nhiều
images

Hoa dạ yến thảo trồng treo ngoài quán cafe nhìn rất đẹp và bắt mắt

images

images

Dạ yến thảo được nhiều người yêu hoa sử dụng để trang trí cho ban công, trang trí cho lan can nhà thêm không gian thơ mộng hơn.

images

Một ô cửa nhỏ với nhiều hoa đẹp rực rỡ

images

Một tường hoa rực rỡ lúc nào cũng thu hút mọi ánh nhìn

images
Hoa dạ yến thảo trồng trang trí cho tường rào cũng rất đẹp

Dạ yến thảo là hoa dễ trồng và chăm sóc có thể được trồng ở các bồn, chậu quanh nhà

I.Sau đây là một số cách chăm sóc cây hoa dạ yến thảo và cách trồng hoa

Chuẩn bị trước khi trồng hoa dạ yến thảo.

Giống tốt: Hoa dạ yến thảo trồng từ hạt đa phần là được nhập từ Trung Quốc, giá thành rẻ chất lượng trồng cũng không quá kém nhưng về độ đặc sắc thì không có nhiều. Hiện nay giống dạ yến thảo tốt nhất là các giống hoa đơn, kép mix màu của các nước Châu Âu như Đức, Nga, Hoặc Ba Lan, giá không quá đắt đa dạng màu sắc và chất lượng tốt nhất.

Đất trồng: Hoa dạ yến thảo yêu cầu đất tơi xốp, thoát nước tốt, đặc biệt đối với đất phải có nhiều chất dinh dưỡng. Tốt nhất là đất trộn giá thể tỷ lệ 1:1 (đất phù xa trộn với phân chùn quế tỷ lệ 1:1)

images

Gieo hạt dạ yến thảo trong khay trồng

II.Sau khi đã chuẩn bị xong ta bắt đầu gieo hạt cây hoa dạ yến thảo

Khi chuẩn bị khay ươm xong bạn rải đất 3-5cm lên khay, sau đó làm ẩm đất bằng bình phun sương nhỏ, rải hạt đều lên bề mặt các lỗ trên khay..

Tiếp tục rải một lớp đất mỏng chừng 0,5cm lên trên các bề mặt cây. Những ngày sau tưới 4-6 lần/1 ngày bằng vòi phun sương loại nhỏ. Yêu cầu của khay ươm hạt dạ yến thảo lúc này là cần chỗ thoáng khí, mát mẻ. Sau 5-7 ngày hạt nẩy mầm. Tiếp tục chăm sóc đến khi cây có 3 đến 5 lá non, thường có chiều cao từ 15 – 20cm thì đưa cây ra trồng riêng. Một chảo treo bình thường trồng 1 đến 2 cây dạ yến thảo là vừa đủ

images

III.Chăm sóc hoa dạ yến thảo

– Sau khi trồng cây vào chậu hoặc giỏ treo, trong vài ngày đầu nên đặt giỏ/chậu vào chỗ mát để cây bén rễ.

– Khi cây cứng cáp, chuyển ra chỗ có nhiều ánh sáng để cây quang hợp. Tưới nước từ 1-2 lần/ngày cho cây, chú ý dùng bình dạng xịt vì nếu tưới quá nhiều cây sẽ bị úng nước.

– Mỗi tuần, bón phân NPK cho cây bằng cách hòa loãng 1 muỗng phân với 2 lít nước. Tưới đều xung quanh gốc cây và tưới thêm nước sạch.

– Khi cây cao chừng 20 cm thì nên bấm ngọn để cây mọc thêm nhiều nhánh nhỏ, sẽ cho nhiều hoa hơn.

images

Cắt tỉa dạ yến thảo để cây khỏe mau ra hoa

– Thường xuyên nhổ cỏ dại để tạo điều kiện cho cây phát triển.

Sang chậu: Khi cây con được 10cm bạn có thể chuyển sang chậu lớn hơn. Trước khi sang chậu mới, dùng dao cắt dọc cốc rồi bỏ lớp nhựa cốc ra ngoài. Chậu nhựa chuyên dùng trồng dạ yến thảo dùng  chậu nhựa thông minh , chậu hoa móc treo, chậu ốp tường. Đổ đất đầy chậu, làm hốc sâu bẳng bầu ươm, đặt bầu ươm vào hốc, ấn nhẹ đất cho chặt.

– Chú ý loại bỏ lá khô, già úa để tránh sinh nấm bệnh, lây lan sang các cây khác.

– Nếu trời mưa to, nên di chuyển cây vào trong nhà vì dạ yến thảo là loại thân thảo, không chịu được úng nước.

images

Chăm sóc cây sau khi sang chậu đảm bảo cây khỏe mạnh, ra hoa

– Đất trồng chậu phải là đất có thoát nước tốt. Sử dụng đất sạch dinh dưỡng Tribat hoặc có thể tham khảo cách trộn đất như sau:

+ 1 phần đất tơi xốp ( là chỗ bám của rễ cây)

+ 1/2 phân chuồng mục ( cung cấp chất dinh dưỡng)

+ 1 phần than củi đập nhỏ ( khoảng 3mm) ( Làm cho tháng đất, thoát nước tốt)

+ 1 Phần trấu. ( Vừa thoáng đất, vừa giữ nước)

+ 1/3 Đá mài garito (Thoát nước)

– Tưới đẫm nước cho tới khi thấy nước chảy ra ở lỗ thoát nước. Tùy theo thời tiết có thể tưới ngày 2 lần hoặc 1 lần hoặc nhiều hơn làm sao đất chỉ đủ ẩm

– Tiếp tục bốn phân NPK pha loãng loại phân bón lá

– Khi cây cao 20 cm thì ngắt ngọn cây và tỉa bớt lá sẽ ra nhiều nhánh chùm kín chậu.

Chăm số cây trong giai đoạn ra hoa:
– Chú ý quan sát bệnh của cây.

– Nên ngắt các hoa héo, lá vàng…

– Để hoa có thể chơi lâu hơn ngắt các nhánh già để cây đẻ thêm nhánh mới

– Để cây nơi có nhiều ánh sáng sẽ ra nhiều hoa hơn

Chỉ cần một  thời gian ngắn bạn đã có những chậu hoa dạ yến thảo trang trí tuyệt đẹp cho ngôi nhà bạn.

– Dạ yên thảo cần một nơi thoáng mát & nhiều ánh sáng (không phải ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp) để nảy mầm.

Vùng có khí hậu lạnh thời điểm gieo trồng thích hợp nhất là tháng 2 – 4 khi tiết trời đã mát & ấm áp. Với khí hậu khu vực phía Nam thì có thể gieo trồng dạ yên thảo quanh năm.

– Gieo hạt lên giá thể ươm, không cần lấp đất lên trên. Tưới nước phun sương & phủ tấm plastic bọc khay ươm lại & đặt nơi thoáng mát, có ánh sáng nhẹ, ấm áp, tránh ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp vào.

– Giữ cho giá thể luôn ẩm nhẹ.

– Khi đường kính cây tỏa ra khoảng 15cm bạn cần tỉa cành & cắt nhánh thường xuyên để kích thích cây tăng trưởng, đâm chồi nhảy nhánh & ra hoa nhiều.

– Bón bổ sung tin rong biển hỗ trợ cây ra hoa & hoa sẽ rực rỡ hơn, lâu tàn hơn (mỗi tuần bón 1 lần cho cây vào lúc chiều mát)

– Sau khi hoa nở: ngắt bỏ cả cuống hoa thì chồi nách sẽ phát triển và hoa tiếp tục nở.

images

Một vài lưu ý đối với hoa dạ yến thảo

Khi cây quá già chúng ta cắt bớt thân ngọn, giữ gìn các phần thân (Thực hiện vào ngày mát) có thể thay đất hoặc chậu to hơn (vào mùa xuân), bổ sung dinh dưỡng cây sẽ bật mầm lộc dày và trong thời gian ngắn lại tiếp tục cho hoa nhiều vì cây được trẻ hóa.

Tránh đặt chậu cây nơi gió lớn, cây hoa dễ bị tổn thương.

Khi cây già cỗi có biểu hiện lá nhỏ, cành gầy, sắc hoa không thắm, cần bổ xung thêm phân giàu đạm.


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 167 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
[Hiện đại - Trùng sinh] Sống lại tái hôn lần nữa - Tiểu Thạc Thử 5030

1 ... 19, 20, 21

2 • [Xuyên không - Cung đấu] Thế nào là hiền thê - Nguyệt Hạ Điệp Ảnh

1 ... 11, 12, 13

3 • [Xuyên không] Thú phi thiên hạ Thần y đại tiểu thư - Ngư Tiểu Đồng

1 ... 16, 17, 18

4 • [Hiện đại] Nhìn người không thể nhìn bề ngoài - Nguyệt Hạ Điệp Ảnh

1 ... 9, 10, 11

5 • [Xuyên không - Điền văn] Hán tử trên núi sủng thê Không gian nông nữ Điền Mật Mật - Thấm Ôn Phong

1 ... 10, 11, 12

6 • [Hiện đại - Trùng sinh] Cô vợ ngọt ngào bất lương - Quẫn Quẫn Hữu Yêu

1 ... 31, 32, 33

7 • [Hiện đại - Trùng sinh] Xin chào tình yêu - Lan Chi

1 ... 13, 14, 15

8 • [Cổ đại - Trùng sinh] Đích nữ vương phi - Nam Quang

1 ... 20, 21, 22

9 • [Cổ đại - Trùng sinh] Độc hậu trùng sinh nàng thê hung hãn của lãnh vương phúc hắc - Thu Thủy Linh Nhi

1 ... 17, 18, 19

10 • [Hiện đại] Theo đuổi nam thần - Thiên Phàm Quá Tẫn

1 ... 5, 6, 7

11 • [Hiện đại - Trùng sinh] Siêu mẫu - Hồ Ly Xù Lông

1 ... 6, 7, 8

12 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 71, 72, 73

13 • [Hiện đại - Trùng sinh] Nữ phụ trùng sinh - Mỉm Cười Wr

1 ... 19, 20, 21

[Hiện đại - Trùng sinh - Hắc bang] Quân sủng thiên kim hắc đạo - Huân Tiểu Thất

1 ... 17, 18, 19

15 • [Xuyên không] Đặc công tà phi - Ảnh Lạc Nguyệt Tâm

1 ... 35, 36, 37

16 • [Hiện đại - Quân nhân] Hợp đồng quân hôn - Yên Mang

1 ... 28, 29, 30

[Cổ đại] Xà công tử Tiểu tướng công? Cút đi! Thiên Lạc Họa Tâm

1 ... 13, 14, 15

18 • [Xuyên không - Dị giới] Phế sài muốn nghịch thiên Ma Đế cuồng phi - Tiêu Thất Gia - New C618

1 ... 22, 23, 24

19 • [Xuyên không] Giáo chủ phu nhân bảo ngài đi làm ruộng - Nông Gia Nữu Nữu

1 ... 14, 15, 16

20 • [Hiện đại] Hợp đồng phúc hắc Cô bé chỉ cho yêu tôi! - Cô Nàng Mèo

1 ... 15, 16, 17


Thành viên nổi bật 
Mía Lao
Mía Lao
The Wolf
The Wolf
Nguyên Tĩnh Nhã
Nguyên Tĩnh Nhã

Shop - Đấu giá: Cô Quân vừa đặt giá 345 điểm để mua Chậu hoa hồng
TranGemy: Nhân dịp sinh nhật diễn đàn, hãy chia sẻ về Lê Quý Đôn trong bạn và nhận quà bự tại Cuộc thi viết: Diễn đàn trong bạn, trong tôi được tổ chức bởi Box Nhật Ký và CLB Văn Học nhé
Shop - Đấu giá: The Wolf vừa đặt giá 1100 điểm để mua Hamster màu cam
Tuyền Uri: Tiểu Tây: vào đây xen và làm theo hướng dẫn viewtopic.php?t=406446
Shop - Đấu giá: Sunlia vừa đặt giá 645 điểm để mua Love Me
Tiểu Tây: truyện mình tự viết thì up ở đâu nhỉ
Shop - Đấu giá: Đường Thất Công Tử vừa đặt giá 4000 điểm để mua Hamster làm xiếc
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 3151 điểm để mua Hamster làm xiếc
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 1046 điểm để mua Hamster màu cam
Shop - Đấu giá: The Wolf vừa đặt giá 900 điểm để mua Cung Thiên Bình
Shop - Đấu giá: Đường Thất Công Tử vừa đặt giá 3000 điểm để mua Hamster làm xiếc
Shop - Đấu giá: The Wolf vừa đặt giá 995 điểm để mua Hamster màu cam
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 2101 điểm để mua Hamster làm xiếc
Shop - Đấu giá: MỀU vừa đặt giá 946 điểm để mua Hamster màu cam
Etalts: PR: Trùng sinh chờ em lớn
Shop - Đấu giá: Đường Thất Công Tử vừa đặt giá 2000 điểm để mua Hamster làm xiếc
Shop - Đấu giá: The Wolf vừa đặt giá 1051 điểm để mua Hamster làm xiếc
Shop - Đấu giá: The Wolf vừa đặt giá 900 điểm để mua Hamster màu cam
Shop - Đấu giá: The Wolf vừa đặt giá 427 điểm để mua Love Tea
Shop - Đấu giá: The Wolf vừa đặt giá 2019 điểm để mua Nữ hoàng Ai Cập 2
Shop - Đấu giá: Cổ Thể Ni vừa đặt giá 405 điểm để mua Love Tea
Shop - Đấu giá: Cổ Thể Ni vừa đặt giá 1921 điểm để mua Nữ hoàng Ai Cập 2
Mía Lao: Bom tui ư =.,=
Shop - Đấu giá: Hồng_Nhung vừa đặt giá 613 điểm để mua Love Me
Tiểu Tây: truyện mình tự viết thì post vào đâu nhỉ ?
Tiểu Tây: truyện mình tự viết thì post vào đâu nhỉ ?
Shop - Đấu giá: Đường Thất Công Tử vừa đặt giá 1000 điểm để mua Hamster làm xiếc
Độc Bá Thiên: Lão đi mạnh khỏe nhớ :wave3:
Khi nào lên thì bom Ri nhờ hú tui :hug:
Độc Bá Thiên: -_- sẽ khỏe còn chờ bắt lão :)2
Shop - Đấu giá: Linh Ngọc vừa đặt giá 560 điểm để mua Hamster làm xiếc

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.