Diễn đàn Lê Quý Đôn


≧◠◡◠≦ ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦ ≧◔◡◔≦ ≧^◡^≦ ≧❂◡❂≦

Tạo đề tài mới Trả lời đề tài  [ 52 bài ] 

Y thuật - Angie Sage

 
Có bài mới 21.04.2017, 18:44
Hình đại diện của thành viên
Tổ trưởng
Tổ trưởng
 
Ngày tham gia: 25.12.2015, 17:11
Tuổi: 16 Nữ
Bài viết: 37
Được thanks: 27 lần
Điểm: 2.92
Có bài mới Re: [Kỳ ảo] Y thuật (Septimus Heap #3) - Angie Sage - Điểm: 10
Chương 2: Chợ phiên

Sáng hôm sau Snorri khoan khoái thức dậy sớm, và Ullr, đã trở lại lốt ban ngày là một con mèo cam gầy nhẳng có chóp đuôi đen đang đả một con chuột làm bữa sáng. Snorri quên phéng bóng ma con thuyền Hoàng gia, đến khi cô sực nhớ ra nó trong lúc điểm tâm bằng cá trích muối chua và bánh lúa mạch đen, Snorri kết luận đó chẳng qua là mình mơ thôi.

Snorri lôi cái túi đựng hàng mẫu từ dưới hầm, lẳng nó lên vai và đi xuống tấm ván cầu, hoà mình vào buổi sáng mai rực rỡ, lòng phấn chấn, hạnh phúc lâng lâng. Snorri thích vùng đất lạ mình vừa mới đặt chân tới này – cô thích mặt nước sông lờ lững, xanh ngát, và mùi lá thu quyện trong khói đun củi lơ lửng trên không, và cô rạo rực trước bức tường thành cao nghễu nghện của Lâu Đài sừng sững ngay trước mặt mình, bên trong ấy là cả một thế giới hoang toàn mới cho cô khám phá. Snorri leo hết con đường dốc dẫn tới Cổng Nam và hít vào một hơi thật sâu. Không khí lẩn quẩn hơi lạnh thấu xương, nhưng chẳng giống chút nào với làn sương giá mà Snorri biết mẹ mình sẽ thức dậy với nó ở quê nhà, trong căn chòi gỗ ảm đạm bên bến sông. Snorri lắc đầu để xua tan những ý nghĩ về mẹ rồi rẽ vào lối đi dẫn tới Lâu Đài.

Khi Snorri bước qua Cổng Nam cô nhận thấy một người ăn xin già cuối đất. Liền móc một đồng 4 xu từ trong túi ra – bởi vì dân tộc cô quan niệm rằng ta sẽ gặp vận may lớn khi bố thí cho người ăn mày đầu tiên mình thấy trên đất khách – và ấn vào tay lão già. Quá trể, khi bàn tay cô thọc hẳn qua tay lão, Snorri mới nhận ra đấy là một con ma. Còn kẻ ăn mày ma thì giật mình kinh ngạc trước cú chạm của Snorri, cáu sườn vì bị Xuyên Qua liền đùng đùng đứng dậy, bỏ đi khỏi. Snorri dừng chân và thả cái bao nặng xuống đất. Cô nhìn quanh và tim cô trùng thõm xuống. Lâu Đài đông nghẹt, chật cứng và tràn ngập những con ma đủ hình thù, mà một người Kiến Vong như Snorri không còn lựa chọn nào khác là phải nhìn – bất chấp lũ ma đó có chịu Hiện Hình với cô hay không. Snorri thầm hỏi làm thế nào mình có thể tìm ra cha giữa đám đông đen đặc thế này. Suýt chút nữa thì cô đã quay ngoắt lại ngay tại chỗ và trở về nhà, nhưng cô tự nhủ rằng mình đến đây còn để buôn bán nữa, và là con gái của một nhà buôn dan tiếng, thì buôn bán đương nhiên là cái nghiệp của cô.

Cúi gằm đầu xuống và cố tránh càng nhiều ma càng tốt, Snorri đi theo bản đồ của mình. Tấm bản đồ vẽ thật chính xác, chẳng bao lâu sau cô đã bước qua mái vòm gạch cổ xưa dẫn vào thánh địa của những nhà buôn, từ đó đi thẳng tới văn phòng đăng ký. Đó là một căn lều rộng mở bên trên treo tấm biển đề NGHIỆP ĐOÀN HANSEATIC VÀ HỘI LIÊN HIỆP LÁI BUÔN PHƯƠNG BẮC. Trong lều kê một chiếc bàn bộ ngựa, hai bộ cân lỉnh kỉnh đủ các loại quả cân và thước đo, một cuốn sổ cái to đùng, và có một thương nhân già quắt quéo đang đếm tiền trong chiếc hộp kim loại tổ bố đựng tiền mặt. Bỗng dưng, Snorri cảm thấy sờ sợ, hệt như  cảm giác khi cô bước vào quán Trà và Rượu cảu Sally Mullin. Đây là khoảnh khắc cô phải chứng minh rằng mình hội đủ quyền buôn bán và mình là thành viên của Nghiệp Đoàn. Cô khó nhọc nuốt nước miếng khan, ngẩng cao đầu lên và bước và lều.

Ông già không hề ngước lên. Vẫn điềm nhiên đếm tiếp những đồng tiền lạ lùng mà Snorri chưa thông thuộc: đồng groat, đồng florin, đồng nửa crown và đồng nguyên crown. Snorri húng hắn ho hai cái nhưng ông già vẫn không ngẩn lên. Sau vài phút, Snorri không chịu nổi nữa, bèn cất tiếng. “Xin lỗi ông.”

“Bốn trăm hai mươi lăm, bốn trăm hai mươi sáu...” người đàn ông vẫn đếm to, vẫn chưa rời mắt khỏi hộp tiền.

Snorri không còn cách nào khác, đành phải đợi. Năm phút trôi qua, ông lão mới ngóng giả. “Một nghìn. Ớ, à cô gái, tôi giúp gì cho cô nào?”

Snorri đặt nguyên một đồng crown lên bàn bộ ngựa và nói rành mạch, bởi vì bao ngày qua cô đã miệt mài tập luyện nó chỉ để chờ đến giây phút này đây: “Tôi muốn đăng ký Giấy phép Bán hàng.”

Ông già nhìn xoáy vào cô gái bận trang phục thương lái bằng len thô đứng trước mặt mình và nhếch mép cười, như thể Snorri vừa mới ăn nói tầm xàm. “Xin lỗi cô gái. Cô phải là thành viên của Nghiệp Đoàn mới được cấp giấy phép.”

Snorri rất hiểu tại sao ông lại nói vậy. “Tôi chính là thành viên của Nghiệp Đoàn,” cô bảo với ông già. Rồi không để lão kịp phản đối, cô rút ngay ra Giấy Chứng Nhận Quyền Thông Thương của mình ravvaf dặt cuộn giấy da dê cột ruy băng đỏ có dấu sáp niêm to, đỏ chói trước mặt ông già. Làm như muốn trêu ngươi cô, lão ta đủng đà đủng đỉnh rút kính, lắc lắc đầu ra chiếu bất mãn với lũ trẻ xấc xược ngày nay, và chậm rãi đọc cuộn giấy Snorri trình cho mình. Ngón tay lão miết theo dòng chữ đến đâu, nét mặt lão thất sắc, không tin nổi tới đó, và khi đọc xong lão chìa cuộn giấy da dê ra trước ngọn đèn, cố soi xem có dấu hiện giả mạo gì không.

Tuyệt nhiên không hề giả mạo. Snorri biết chắc chắn thế. Và người đàn ông già cũng thấy vậy. “Thật vô phép tắc,” lão ta bảo Snorri.

“Vô-phép-tắc?” Snorri hỏi lại.

“Vô phép tắc chưa từng thấy. Cha mà trao Giấy Chứng Nhận cho con gái là bất thường.”

“Hả?”

“Nhưng xem ra tất cả đều theo đúng trình tự.” Lão già thở dài và miễn cưỡng thọc tay xuống ngăn bàn, lôi ra một chồng giấy phép. “Ký vào đây,” lão ta bảo, đẩy một cây bút về phía Snorri. Cô ký tên mình xong,lão già dán tem vào giấy phép với thái độ như thể nó chứa đựng nội dung gì thô bỉ và riêng tư lắm.

Lão lùa tờ giấy qua bàn cho Snorri. “Quầy số 1. Cô đến sớm đấy. Người đầu tiên tới đây. Hai tuần nữa kể từ Sáu phiên chợ sẽ bắt đầu lúc bình minh. Ngày cuối cùng sẽ rơi vào Trước Lễ Đông Chí. Đến chạng vạng tối là phải dọn dẹp vệ sinh xong xuôi. Đến nửa đêm thì mọi rác rưởi phải đem đổ ra bãi rác Bờ sông Thơ mộng. Lệ phí là một đồng crown.” Người đàn  ông già cầm đồng tiền Snorri để trên bàn và quẳng vào một thùng tiền khác, tiếng nó đáp xuống nghe đánh kịch, rỗng không.

Snorri tươi cười hớn hở cầm giấy phép. Cô đã làm được rồi. Cô đã là một lái buôn có bằng chứng nhận, hệt như cha cô trước đây.

“ Đem hàng mẫu của cô tới kho kiểm định chất lượng. Ngày mai tới lấy đem về.”
Snorri để bao hàng mẫu nặng chịch của mình của mình vào thùng hàng mẫu bên ngoài nhà kho. Cô cảm thấy lòng nhẹ bẫng. Lúc cô nhún nhảy bước ra khỏi khu chợ, cô tông thẳng vào một cô bé gái bận áo chẽn đỏ viền vàng. Cô bé có mái tóc đen dài, đội chiếc vòng vàng như vương miện trên đầu. Sát bên cô bé có một con ma mặc áo thụng tía, đôi mắt xám hiền từ và bím tóc xám cột đuôi ngựa ngay ngắn đằng sau. Snorri cố tránh không nhìn vết máu rỉ khỏi áo thụng bên dưới tim con ma, bởi vì nhìn vào cách thức một người gia nhập kiếp ma là thất lễ.

“Ối, xin lỗi,” cô bé áo đỏ nói với Snorri. “Tôi không nhìn đường đi.”

“Không. Tôi xin lỗi mới đúng,” Snorri nói. Cô mỉm cười và bé gái cũng mỉm cười đáp lại. Snorri tiếp tục quãng đường về lại thuyền Alfrún, đầu nghĩ ngợi khôn nguôi. Cô nghe nói trong Lâu Đài có một công chúa, nhưng lẽ nào đó là cô bé đi lại điềm nhiên như bao người khác ấy?

Bé gái đó, đích thị là công chúa, đang hướng về Cung Điện cùng với con ma áo thụng tía.

“Cô ấy là người Kiến Vong,” con ma lầm bầm.

“Ai ạ?”

“Cô lái buôn trẻ ấy. Tôi không Hiện Hình với cô ấy, thế mà cô ấy vẫn nhìn thấy tôi. Trươc giờ tôi chưa bao giờ gặp người Kiến Vong. Họ rất hiếm, và thường chỉ có ở vùng đất Đêm Trường thôi.” Con ma rùng mình. “Khiến tôi ớn lạnh.”

Công chúa cười phá lên. “Cụ thật tếu ghê, cụ Alther. Con dám chắc chính cụ mới khiến người khác ớn lạnh chứ.”

“Bao giờ nào!” Con ma công phẫn bài bác. “À mà... chỉ khi nào tôi muốn thôi.”

Trong những ngày sau, tiết thu kéo về. Từng cơn gió bắc lột sách lá khỏi cây, cuốn bay là đà trên phố. Không khí trở lạnh và người ta bắt đầu cảm nhận trời nhanh tối thế nào.

Nhưng với Snorri Snorrelssen, thời tiết thật đẹp. Hàng ngày cô rảo quanh Lâu Đài, thám thính những đại lộ, ngỏ hẻm, sửng sốt ngó vào cửa sổ những gian hàng nhỏ tí hin, loth thỏm trong những hốc vòm ở khu Mở Rộng nhưng lại bày bán những mặt hàng nữ trang rất độc đáo. Cô đã choáng ngợp ngước lên tháp Pháp Sư, sững sờ nhìn dáng vẻ cực kỳ đường bệ thoáng qua của Pháp sư Tối thượng, và cô bị sốc trước những đống phân to lù lù mà cánh pháp sư ủ ngay trong sân nhà họ. Cô đã nhập vào đoàn khách xem cỗ đông hồ cổ trong khu Xưởng Dệt điểm mười hai tiếng buổi trưa, và bật cười giòn giã trước mười hai hình nhân bằng thiếc nhàn nhã đi ra từ sau chiếc đồng hồ. Bữa khác cô lại tản bộ trên đường Pháp Sư, làm một tua tham quan nhà máy in xưa nhất, nhân thể hé mắt qua hàng rào gỗ chiêm ngưỡng Cung Điện cổ xinh đẹp – nó nhỏ hơn cô hình dung. Thậm chí cô còn bắt chuyện với một con ma già khọm tên là Gudrun ở cổng Cung Điện, bà nhận ra cô là đồng hương dù họ đã cách xa nhau hàng bảy thế kỷ.

Nhưng trong lúc đi thơ thẩn con ma mà cô tha thiết và hy vọng gặp lại dường như tránh né cô. Dẫu cô chỉ biết mặt cha qua những bức ảnh mẹ để cạnh đầu giường mẹ, nhưng cô chắc chắn mình sẽ nhận ra ngay nếu trông thấy ông. Dù vậy, tuy đã liên tục quét khắp thế giới ma đông đúc tới lui, Snorri vẫn không sao gặp được cha.

Một buổi chiều tà, sau khi dò la mấy con hẻm tối tăm đằng sau khu Mở Rộng, nơi có nhiều lái buôn ở trọ, Snorri đã bị một mẻ sợ hết hồn. Hoàng hôn dần buông, cô vừa mua một cây đuốc cầm tay tại tiệm Đuốc thắp sẵn Maizie Smalls. Trong lúc trở lại hẻm Thắt Ruột để tới Cổng Nam, Snorri rờn rợn cảm thấy có kẻ đi theo mình, nhưng hễ quay lại thì chẳng thấy gì. Thình lình Snorri nghe thấy tiếng vật lộn sau lưng, quay quắt lại thì thấy... một cặp mắt tròn đỏ lòm và một cái răng dài nhọn như kim loé lên trong ánh đuốc cô dang cầm. Nhưng vừa bập trúng ánh đuốc, đôi mắt đó liền tan loãng vào bóng tối chạng vạng và Snorri không còn thấy chúng đâu nữa. Snorri bụng bảo dạ đó chỉ là chuột thôi, nhưng không lâu sau đó, lúc hấp tấp quay trở lại đường phố lớn, Snorri nghe thấy một tiếng thét rợn gáy từ hẻm Thắt Ruột vọng ra. Chắc là ai đó không đuốc liều lĩnh đi vào con hẻm đã không gặp may.

Snorri sợ bủn rủn và chợt khao khát được ở bên con người, thế là cô đến quán của Sally Mullin để ăn tối. Bà Sally rất niềm nở tiếp Snorri, bởi vì theo như lời bà kể lại với bạn bà Sarah của mình: “Ta không thể trách cứ một cô gái trẻ vì hoàn cảnh bất hạnh phải làm lái buôn, vả lại, chị không nghĩ tất cả bọ họ đều tồi. Thể nào em cũng phải thán phục con bé ấy cho coi, Sarah, nó một thân một mình lái hẳn một chiếc thương thuyền lớn tới đây. Chả biết nó xoay xở cách nào. Chị cứ tưởng điều khiển chiếc Muriel đã là khó lắm rồi chứ.”

Quán ăn tối đó vắng một cách kỳ dị. Snorri là vị khách duy nhất. Sally thêm cho Snorri một miếng bánh lúa mạch nướng và tới ngồi bên cô. “Công việc làm ăn thất bát kinh khủng, với đà dịch bệnh này,” bà than thở. “Chả ma nào dám ló mặt ra khỏi nhà khi trời tối mặc dù tôi đã bảo họ rằng chuột chạy xa cả dặm khi thấy lửa. Tất cả việc họ cần làm chỉ là vớ lấy cây đuốc mà cầm thôi. Nhưng chẳng ăn thua. Dạo này dân tình đều hồn xiêu phách lạc cả rồi.” Sally rầu rĩ lắc đầu. “Chúng cứ nhè mắt cá chân người ta mà cắn. Nhanh như chớp. Phập một cái, thế là xong. Nạn nhân sẽ tiêu luôn.”

Snorri thấy khó mà hiểu những lời nói tuôn trào như suối của Sally. “Tiêu luôn?” Cô hỏi, chỉ kịp nghe được mẩu cuối của câu.

Sally gật đầu. “Hầu như vậy. Không ngỏm ngay đâu, nhưng người ta cho rằng chết chỉ là vấn đề thời gian. Ta vẫn khoẻ bình thường, tự dưng chỗ cắn sưng tấy lên, ta chóng mặt, nhức đầu như búa bổ... kế tiếp ta chỉ còn biết mình lăn đùng ra đất, siêu thoát cùng với tiên.”

“Tiên?” Snorri thắc mắc.

“Ừ,” Sally đáp, đứng bật dậy đon đả ra đón một thực khách.

Vị khách đó là một phụ nữ cao chàng dàng, tóc ngắn chĩa ra tua tủa. Mụ ta kéo áo khoát sát vào người. Snorri không thấy rõ mặt mụ, nhưng căn cứ theo dáng điệu thì mụ này đang giân sôi sùng sục. Kế tiếp là tiếng rù rù rì rì giữa mụ và bà Sally, sau đó người phụ nữ cong cớn biến thoắt đi.

Mỉm cười, Sally trở lại với Snorri, cô đang ngó mông lung ra sông. “Hừ, một luồng gió bệnh hoạn thổi đến, mang điêu đứng cho dân lành,” Sally nói trước vẻ hoang mang của Snorri. “Cái mụ Geraldine vừa xông vô đó. Đàn bà gì mà quái đản, làm cho tôi nghĩ tới một người mà tôi không nhớ ra. Hờm, mụ yêu cầu tôi cho đội trấn áp chuột tập kết ở đây trước khi đi, è, giày xéo chuột”.

Chả còn ai bén mảng vào quán nữa sau khi Geraldine tóc chỉa đi  khỏi, và không lâu sau Sally bắt đầu quăng ghế băng lên bàn rầm rầm và chuẩn bị lau sàn nhà.

Snorri hiểu ý và nói lời từ biệt bà Sally.

“Chúc ngủ ngon, cưng,” Sally vui vẻ. “Đừng có léo hánh ở ngoài đường nữa nghe chưa.”

Snorri không có ý định léo hánh ngoài đường. Cô trở về thẳng thuyền Alfrún và mừng húm thấy Ullr Đêm đi vơ vẩn trên boong. Để Ullr đứng gác ở đó, Snorri chui xuống cabin, chốt chặn cửa sập lại và để ngọn đèn dầu thắp suốt đêm.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Xin ủng hộ:  
      
     

Có bài mới 21.04.2017, 18:50
Hình đại diện của thành viên
Tổ trưởng
Tổ trưởng
 
Ngày tham gia: 25.12.2015, 17:11
Tuổi: 16 Nữ
Bài viết: 37
Được thanks: 27 lần
Điểm: 2.92
Có bài mới Re: [Kỳ ảo] Y thuật (Septimus Heap #3) - Angie Sage - Điểm: 10
Chương 3: Vị khách không mời mà đến
Đêm đó, trong khi Snorri Snorrenlssen lúi húi đóng cửa cabin, thì Jenna, Sarah và Silas Heap đang ăn tối ở Cung Điện. Mặc dù Sarah Heap thích dùng bữa ăn tại một gian nhỏ trong khu bếp Cung Điện, nhưng từ lâu bà đã khuất phục sự kiên quyết của bếp trưởng rằng hoàng thân dứt khoát không được ăn trong bếp. Không, ngay cả vào một ngày thứ Tư ướt át, im ắng, và sẽ không chừng nào mà bà ấy còn giữ chức bếp trưởng... “Thưa phu nhân Heap, tôi nói đây là lần cuối cùng.”

Vì thế trong phong ăn rộng mênh mông của Cung Điện, chơ vơ ở cuối chiếc bàn dài, có ba thân hình ngồi lọt thỏm trong khoảnh ánh sáng nến. Lò sưởi cháy lép bép, lèo xèo đằng sau họ, chốc chốc lại bắn ra một tia lửa xuống bộ lông xơ xác, cứng quèo của con Maxie to xụ đang nằm ngáy khọt khẹt trước lò sưởi, nhưng con chó không hề hay biết. Bên cạnh con chó săn lai sói, chị đầy tớ phục vụ bữa tối lượn lờ, tuy khoái hơi ấm nhưng vẫn ao ước được mau mau dọn sạch bàn ăn rồi chuồn khỏi mùi lông chó khét lẹt – cùng thứ còn tệ hơn nữa – thứ Maxie phả ra này.

Nhưng bữa tối dây dưa cả thế kỷ. Sarah Heap, mẹ nuôi của Jenna, công chúa kế vị Lâu Đài, có nhiều điều cần nói. “Này Jenna, mẹ không muốn con rời Cung Điện chút nào, thế thôi. Ngoài kia đang có vật gớm ghiếc cắn người và truyền dịch bệnh. Con phải ở đây cho an toàn tới chừng nào cái-của-nợ-gì-gì-đó bị bắt.”

“Nhưng Septimus...”

“Không nhưng nhị gì hết. Mẹ không để ý Septimus có cần con rửa ráy con rồng phát gớm của nó hay không, nhưng theo mẹ thấy thì, phải chi nó đừng kỳ cọ con vật quá thường xuyên lại hay hơn – Con đã thấy cảnh bầy hầy trên bờ sông rồi nhỉ? Mẹ không biết Billy Pot nghĩ gì, chứ đống phân rồng đó cao phảo ba thước là ít. Mẹ từng thích đi dạo bên sông lắm, nhưng giờ thì...”

“Mẹ, việc tắm táp cho Khạc Lửa chả khiến con lưu tâm tí ti nào, nhưng con phải đi thăm thuyền Rồng mỗi ngày,” Jenna nói.

“Mẹ đảm bảo thuyền Rồng tự lo liệu được mà không có con, xem ra bà ấy còn không biết con đến nữa kìa.”

“Bà ấy biết chứ, mẹ. Con chắc chắn. Bà ấy mà thức dậy ngày này nối tiếp ngày kia không thấy ai ở đó thì kinh khủng lắm.”

“Thế vẫn còn tốt hơn nhiều nếu vĩnh viễn không còn lại thấy ai lần nữa,” Sarah gay gắt. “ Con không được ra ngoài đến chừng nào dịch bệnh được khống chế sao đó đã.”

“Em có nghĩ mình đang lo nhắng nhít chuyện đâu đâu không đấy?” Silas điềm tĩnh góp lời.

Sarah không nghĩ như vậy. “Không phải tự dưng mà em vận động mở bệnh xá đâu, Silas à.”

“Cái gì, cái bãi đồng nát đó hả? Tôi ngạc nhiên sao nó vẫn còn trụ ở đó.”

“Đâu còn cách nào khác, Silas. Có quá nhiều người bệnh đến nỗi không còn chỗ để tiếp nhận họ nữa. Hẳn là ông đã nhận thấy điều gì đó rồi nếu như ông đừng suốt ngày la cà trên gác mái chơi cờ vớ vẩn...”

“Cờ Cản-Bắt không phải trò vớ vẩn, Sarah. Anh vừa mới phát hiện bộ Đấu Thủ tốt nhất cuả Lâu Đài – ước gì em thấy mặt lão Gringe lúc anh báo tin cho lão – Còn lâu anh mới để bọn Đấu Thủ sổng mất. Trong phòng Niêm Kín chúng sẽ không muốn vội vã rời đi đâu.”

Sarah Heap thở dài. Kể từ ngày họ chuyển vào sống trong Cung Điện, Silas đã bỏ hẳn công việc thường nhật của một Pháp sư Thường đẳng mà theo đuổi hàng chuỗi những thú vui – trong đó cờ Cản-Bắt là cái thú mới nhất, kéo dài lâu nhất, và khiến bà điên tiết nhất. “Ông Silas này, tôi không nghĩ hành động mở phòng Niêm Kín là tốt đâu,” Sarah trách móc. “Người ta niêm kín phòng là có lí do cả, mà khuất nẻo tận trên gác mái thì càng đặc biệt. Bọn tôi đã luận bàn vụ này tại hội Dược Thảo tháng trước rồi đấy.”

Silas bị chạm nọc. “Cái hội cây cỏ đó thì biết gì về công việc của Pháp sư hả, Sarah? Biết gì chứ?”

“Phải rồi, Silas. Tôi nghĩ thời buổi này ông ở trên gác mái với đám tàn quân gàn dở của ông thì yên thân hơn.”

“Đúng vậy. Còn bánh quy nhân không?” Silas hỏi.

“Không. Ông đã ăn cái cuối cùng rồi.” Sự im lặng căng thẳng nối tiếp theo. Và giữa cái im lặng ấy Jenna chắc chắn mình nghe văng vẳng tiếng hò hét.

“Ba mẹ có nghe thấy gì không?” Cô bé hỏi. Rồi cô đứng lên ra nhìn từ một khung cửa sổ cao xuống toàn cảnh phía trước Cung Điện. Jenna có thể nhìn rõ con đường sáng trưng ánh đuốc dẫn qua cổng lớn vào Cung Điện, vốn thường khoá vào ban đêm. Nhưng phía ngoài cổng có một đám người vừa la thét inh ỏi vừa gõ nắp thùng rác, “Chuột, chuột, bắt lấy chuột. Chuột, chuột, giết chuột!”

Sarah ra cửa sổ cùng xem với Jenna. “Đó là đội trấn áp chuột,” bà nói. “Chả biết họ đang làm gì ở đây.”

“Tìm chuột chứ còn làm gì,” Silas nói, miệng ông căng phồng bánh nhân táo. “Quanh đai đầy nhóc. Không chừng tối nay nhà mình đã xơi một con trong súp rồi cũng nên.”

Tiếng thét lác của đội trấn áp chuột ngày càng dồn dập. “Bắt chuột, bắt chuột, đập, đập, đập! Bắt lấy nó, bắt lấy, đập, đập, đập!”

“Tội nghiệp lũ chuột,” Jenna lầm bầm.

“Chưa chắc là chuột lây lan dịch bệnh,” Sarah nói. “Hôm qua mẹ tới phụ giúp bệnh xá, thấy những vết cắn chắc chắn không phải là vết chuột cắn. Chuột làm sao có mỗi một cái răng. Trời ơi, họ rẽ vào khu đầy tớ ở rồi kìa. Ối, lạy trời.”

Nghe vậy, người đầy tớ buổi tối bèn ra tay hành động. Chị vơ vội chồng đĩa, giằng luôn miếng bánh nhân táo cuối cùng khỏi tay Silas và phóng ù ra khỏi phòng. Một tiếng choang đanh gọn khi chị ta thảy chồng đĩa vào cái cầu trượt rác cho nó trượt xuống khu bếp bên dưới. Xong chị bay về khu nhà mình ở để coi Percy, con chuột cưng của mình có sao không.

Bữa tối tới đó là kết thúc. Sarah và Silas tới phòng khách nhỏ của Sarah ở chái Cung Điện, nơi Sarah đang đọc dở một quyển sách và Silas đang bận viết cẩm nang Mười bí quyết hàng đầu chơi cờ Cản-Bắt, cuốn sổ tay hướng dẫn mà ông đặt vào đó bao nhiêu kỳ vọng.

Jenna quyết định về phòng mình đọc sách. Cô bé thích ở một mình và khoái đi lòng vòng Cung Điện, nhất là về đêm khi nến toả sáng khắp các hành lang và có nhiều con ma Cổ Nhân thức giấc. Đêm đến Cung Điện mất đi cảm giác trống vắng mà ban ngày nó gồng chịu để biến thành một nơi tấp nập, chất chứa đầy chủ ý như thuở nào. Hầu hết Cổ Nhân đều chọn Hiện Hình với Jenna và sung sướng được dịp trò chuyện với công chúa, dẫu nhiều người trong số họ không nhớ đích xác cô bé là công chúa nào. Thường thì Jenna vui vẻ tán gẫu với họ, dù nhanh chóng khám phá ra rằng đêm nào mỗi con ma cũng chỉ nói chính xác một điều và chẳng mấy chốc cô bé đã thuộc nằm lòng những lời thoại của chúng.

Jenna đủng đỉnh lên dãy cầu thang rộng bát ngát dẫn tới phòng trưng bày tranh ở ngay phía trên tiền sảnh, và dừng lại đối đáp với con ma từng là bảo mẫu già của hai công chúa nhỏ, bà này suốt đêm cứ lùng sục khắp mọi ngõ ngách để tìm những người mình chăm nom.

“A... Chào công chúa Esmeralda,” bà bảo mẫu mang vẻ mặt lo lắng vĩnh cửu nói.

“Chào bà Mary,” Jenna đáp, từ lâu cô bé đã thôi giải thích với Mary rằng mình là Jenna nữa, vì thể nào cũng chẳng có tác dụng.

“Ôi, thấy cô vẫn an toàn và mạnh khoẻ tôi mừng quá,” bà bảo mẫu xúc động.

“Cảm ơn, bà Mary.”

“Cẩn thận đấy, ối trời ơi,” bà bảo mẫu hốt hoảng như bà luôn hốt hoảng vậy.

“Dạ vâng,” Jenna đáp như mọi khi, chân vẫn tiếp tục bước. Loáng sau cô bé từ phòng tranh ngoặt vô một hành lang rộng, thắp nến sáng trưng, cuối hành lang là cánh cửa cao phòng cô bé.

"Chào ngài Hereward,” Jenna chào Cổ Nhân đứng gác phòng ngủ Hoàng gia, một con ma tóc xoã, mờ nhạt đã tại vị suốt tám trăm năm hay hơn nhưng không hề có ý định nghỉ hưu. Ngài Hereward bị mất một cánh tay, trên người vẫn còn nguyên si bộ giáp trụ, bởi vì ngõ vào kiếp ma của ngài là kết cuộc của một trong những trận chiến tranh giành đất cuối cùng giữa Lâu Đài và Bến Cảng. Ngài là một trong những con ma Jenna quý mến nhất và cô bé thấy an tâm khi có ngài đứng gác – ông hiệp sĩ già này có phong thái vui tính, ưa hài hước và, thật bất thường đối với Cổ Nhân, luôn cố không lập lại mình quá thường xuyên.

“Chào công chúa yêu kiều. Có cái này hay lắm: con voi với trái chuối khác nhau như thế nào?”

“Cháu không biết,” Jenna mỉm cười. “Vậy, con voi với trái chuối khác nhau như thế nào?”

“Ừm, thế thì tôi sẽ không nhờ công chúa đi mua sắm giùm tôi đâu. Khà khà!”

“Ôi... tức cười quá. Hi hi!”

“Mừng là cô thích. Tôi biết mà. Chúc ngủ ngon, công chúa.”

Ngài Hereward cúi đầu rồi ngẩng phắt lên đứng nghiêm, hãnh diện trở lại bổn phận của mình.

“Chúc ngủ ngon, ngài Hereward.” Jenna đẩy cửa ra và lướt vào phòng mình.
Đã phải mất khá lâu Jenna mới làm quen được với căn phòng lộng lẫy khổng lồ này, sau mười năm toàn ngủ trong giường cũi, nhưng giờ thì cô bé rất yêu nó, nhất là vào những lúc sẩm tối, khi mà căn phòng vừa rộng vừa dài, có bốn cửa sổ cao vọi nhìn ra những khu vườn Cung Điện này hứng ánh hoàng hôn. Nhưng giờ đây, trong cái lạnh đêm thu, Jenna kéo những tấm rèm nhung nặng chịch che cửa sổ lại, làm cho căn phòng nhanh chóng chìm vào bóng tối. Cô bé lần mò tới lò sưởi lớn xây bằng đá bên cạnh chiếc giường bốn cọc và đốt đống củi để sẵn trong vỉ lò lên, dùng phép Thắp Sáng mà Septimus đã dạy trong sinh nhật vừa rồi của cô. Khi những lưỡi lửa nhảy múa toả hơi ấm áp trong phòng, Jenna lên giường ngồi, quàng tấm chăn độn lông chim và cầm lấy quyển lịch sử gối đầu giường của mình – Chuyện Lâu Đài chúng ta.

Mê mải với quyển sách, Jenna không nhận thấy một hình ma cao, gầy đét từ phía sau rèm bao quanh giường hiện ra. Thây ma đứng bất động, nhìn Jenna chằm chằm với vẻ bất bình chòng chọc trong đôi mắt tròn sáng quắc. Jenna bất chợt rùng mình trong vòng khí buốt thấu con ma phả ra, kéo sát chăn vào người hơn, nhưng vẫn không ngẩng đầu lên.

“Ta sẽ chẳng mất công đọc cái thứ rác rưởi về Nghiệp đoàn Hanseatic ấy là gì,” một giọng lảnh lót khoang xoáy vào không khí đằng sau vai trái của Jenna. Cô bé giật mình đứng thót dậy như con mèo bị bỏng, buông rơi quyển sách, định kêu ngài Hereward thì một bàn tay băng giá bịt chặt lấy miệng cô bé. Cú chạm của con ma tống một luồng khí lạnh lẽo thẳng xuống buồng phổi cô bé và Jenna ngồi phịch xuống giường, ho rũ rượi. Con ma vẫn bình thản như không. Mụ nhặt quyển sách lên rồi đặt xuống giường sát bên chỗ Jenna đang ngồi cố lấy lại hơi thở.

“Lật tới chương Mười ba, cháu gái,” con ma ra lệnh. “Không cần phí thì giờ đọc về bọ lái buôn tầm thường. Lịch sử duy nhất đáng đọc là lịch sử về những vị Vua và Nữ Hoàng – mà Nữ Hoàng thì hay hơn. Ngươi sẽ đọc thấy ta ở trang hai trăm hai mươi. Nhìn chung nó miêu tả rất huy hoàng về triều đại của ta, tuy cũng có một hay hai, ờm, vụ hiểu lầm, nhưng đấy là do một dân quèn viết ra, vậy nên, ai mà thèm mong đợi điều gì ở đấy, hả?”

Jenna rốt cuộc cũng ngừng ho, đủ để nhìn kỹ vị khách không mời mà đến này. Mụ đúng mười mươi là con ma nữ hoàng, lại là ma Cổ Nhân, Jenna chắc chắn thế căn cứ vào kiểu áo chẽn và viền cổ cao xếp nếp hồ cứng của mụ. Con ma, hiện rõ đến kinh ngạc đối với Cổ Nhân, đứng thẳng đơ thẳng đuột. Mái tóc xám xịt quấn thành hai bím cuộn áp vào hai cái tai nhọn hoắt, và đội chiếc vương miện vàng, kiểu dáng thô mộc.

Đôi mắt tím rịm của mụ dán tịt vào Jenna đầy vẻ bất bình khiến Jenna bất giác cảm thấy như mình vừa phạm phải tội lỗi chi đó.
“B... bà là ai?” Jenna lắp bắp.

Nữ hoàng nóng nảy nhịp nhịp bàn chân. “Chương Mười ba, cháu gái. Ta đã bảo ngươi rồi. Ngươi phải lắng nghe. Tất cả nữ hoàng đều phải học lắng nghe.”

Jenna không thể tưởng tượng nổi bà nữ hoàng này lại chịu lắng nghe ai bao giờ, nhưng cô bé nín thít. Điều làm cho cô bé bận tâm là tại sao con ma này lại gọi mình là cháu gái. Đây là lần thứ hai mụ xưng hô như vậy. Chắc chắn con ma kinh khủng này làm sao có thể là bà ngoại của mình được? “Nhưng... tại sao bà cứ gọi cháu là cháu gái?” Jenna hỏi, hy vọng mình đã nghe nhầm.

“Bởi vì ta là bà tằng-tằng- tằng-tằng- tằng-tằng- tằng-tằng- tằng-tằng- tằng-tằng- tằng-tằng- tằng-tằng- tằng-tằng- tằng tổ của ngươi. Nhưng ngươi hãy gọi ta là cụ tổ là được rồi.”

“Cụ tổ!” Jenna thốt lên, kinh khiếp.

“Đúng. Vậy là hoàn toàn thích hợp. Ta không cần ngươi phải gọi đủ tước vị của ta.”

“Tước vị đầy đủ của bà là gì?”

Con ma nữ hoàng sốt ruột thở ra cái phùùù và Jenna cảm thấy hơi thở băng giá của mụ thổi tung tóc mình. “Chương Mười ba, ta không nhắc lại nữa,” mụ nói một cách ác nghiệt. “Ta thấy rõ là ta chưa thể tới thoáng thoáng rồi đi ngay được. Ngươi cần sự chỉ bảo trầm trọng. Mẹ của ngươi phải chịu trách nhiệm vì đã chểnh mảng trong việc dạy dỗ ngươi về hoàng gia và về những phép tắc cư xử.”

“Mẹ cháu là một người thầy tuyệt vời,” Jenna phẫn nộ phản đối. “Bà ấy không chểnh mảng bất cứ điều gì cả.”

“Mẹ... mẹ? Mẹ... là mẹ nào?” Nữ hoàng ráng tỏ ra vừa bối rối mà vẫn vừa bất bình cùng lúc. Kỳ thực, suốt bao thế kỷ qua mụ đã hoàn thiện được một nghệ thuật cao siêu là pha trộn tất cả mọi cảm xúc vào vẻ bất bình cố hữu của mụ, đến mức mà, ngay cho dù mụ có muốn chăng nữa, mụ cũng không thể nào bứt rời chúng ra khỏi nhau được. Nhưng mụ không hề muốn tách các cảm xúc khỏi vẻ bất bình. Mụ hạnh phúc với cái vẻ bất bình của mình, vấn đề là vậy.

“Mẹ là mẹ. Tức là mẹ cháu,” Jenna cáu kỉnh.

“Tên bà ta là gì, nói?” Con ma hỏi, ngó trừng trừng xuống Jenna.

“Không phải việc của bà,” Jenna cấm cẳn đáp lại.

“Phải Sarah Heap không?”

Jenna cố ý không trả lời. Cô bé hằm hằm nhìn lại con ma, quyết đuổi mụ đi.
“Không, không, ta không đi đâu, cháu gái. Ta có bổn phận phải cân nhắc. Cả hai chúng ta đều biết Sarah Heap này không phải là mẹ thật của ngươi”.

“Với cháu thì phải,” Jenna làu bàu.

“Ba cái hiểu biết ngươi thu nạp đó, cháu gái, chẳng để làm gì sất. Sự thật là mẹ thật của ngươi, hoặc hồn ma của cô ta, đang ngồi trên tháp nhỏ đó, đã làm ngơ không dạy dỗ cho ngươi có được một sự giáo dục xứng tầm hoàng gia, vì vậy mà nguoie hay đi lung tung như con gái kẻ tiện dân đầy tớ hơn là một công chúa uy quyền. Thế mới ô nhục. Ô nhục làm sao – chính đó là điều ta phải ra tay chấn chỉnh, vì lợi ích của Lâu Đài của ta... và Cung Điện của ta – nơi đây đã biến thành chốn lầm than, dốt nát như nông nỗi này đây.”

“Đây không phải là Lâu Đài của bà, cũng không phải Cung Điện của bà,” Jenna phản kháng.

“Đó, cháu gái, là điều ngươi lầm to. Trước kia nó đã là của ta, và chẳng bao lâu nữa nó sẽ lại là của ta.”

“Nhưng...”

“Đừng ngắt lời. Ta rời ngươi đi đây. Đã quá giờ đi ngủ của ngươi lâu rồi.”

“Không, chưa quá,” Jenna điên tiết.

“Vào thời của ta, tất cả mọi công chúa đều phải đi ngủ lúc 6 giờ cho đến khi họ trở thành nữ hoàng. Chính ta hàng đêm đều đi ngủ lúc 6 giờ cho đến khi ta ba mươi lăm tuổi, vậy mà ta có bao giờ bị tổn hại vì điều đó đâu.”

Jenna bạt xiêu hồn vía nhìn con ma. Bỗng nhiên, cô bé mỉm cười trước ý nghĩ rằng tất cả mọi người trong Cung Điện thời đó, cách đây lâu thật lâu rồi, hẳn sẽ nhẹ nhõm biết chừng nào sau 6 giờ trở đi.”

Nữ hoàng diễn giải sai nụ cười của Jenna. “A ha, cuối cùng ngươi cũng hiểu rồi, cháu gái. Ta sẽ rời ngươi đi ngay để ngươi còn đi ngủ bởi vì ta còn việc quan trọng phải can dự. Ngày mai ta sẽ lại gặp ngươi. Giờ thì ngươi có thể hôn chúc ta ngủ ngon được rồi.”

Trông Jenna khiếp đảm đến nỗi mụ nữ hoàng phải lùi lại một bước và bảo, “Hừm, xem ra, ta thấy ngươi chưa quen với cụ tổ thân  yêu của ngươi. Chúc ngủ ngon, cháu gái.”

Jenna không đáp.

“Ta bảo chúc ngủ ngon, cháu gái. Ta sẽ không đi chừng nào ngươi chưa chúc ta ngủ ngon.”

Im lặng căng thẳng cho đến khi Jenna quyết định mình không chịu nổi cảnh đứng chết trân nhìn con ma mũi nhọn nữa. “Chúc ngủ ngon,” cô bé nói lạnh trơ.

“Chúc ngủ ngon, cụ tổ,” con ma chỉnh lại.

“Tôi sẽ không bao giờ gọi bà là cụ tổ,” Jenna nói, và thật nhẹ cả người, con ma bắt đầu mờ đi.

“Rồi ngươi sẽ phải,” con ma quẳng lại cái giọng khoan xoáy vào không trung. “Ngươi phải...”

Jenna chộp lấy một cái gối, sùng tiết ném theo cái giọng ma kia. Không có phản hồi – con ma đi rồi. Làm theo lời khuyên của dì Zelda, Jenna đếm đến mười thật chậm cho đến khi cảm thấy hồi tâm lại, xong cầm quyển Chuyện Lâu Đài chúng ta lên, hấp tấp lật những trang sách dày vàng vọt đến chương Mười ba. Cái chương có tựa đề: “Nữ hoàng Etherlredda bạo chúa”.



Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
Có bài mới 04.05.2017, 10:56
Hình đại diện của thành viên
Tổ trưởng
Tổ trưởng
 
Ngày tham gia: 25.12.2015, 17:11
Tuổi: 16 Nữ
Bài viết: 37
Được thanks: 27 lần
Điểm: 2.92
Có bài mới Re: [Kỳ ảo] Y thuật (Septimus Heap #3) - Angie Sage - Điểm: 10
Chương 4: Quán rượu Hốc Tường

Trong khi Jenna ngồi đọc chương Mười ba thì Septimus Heap, Học Trò của Pháp sư Tối thượng cũng bất chợt nảy ra ý muốn đọc cai thứ mà nó không hề định đọc. Bà Marcia Overstrand, Pháp sư Tối thượng của Lâu Đài tạm thời đành rút lui khỏi trận cãi vả trong bếp giữa bình cà phê và bếp lò. Bực điên người, bà bỏ mặc chúng đó để đi kiểm tra cậu Học Trò của mình. Bà tìm thấy thằng nhỏ trong thư viện Kim Tự Tháp, đang lặn hụp trong một chồng sách giáo khoa cũ rách tơi tả.

“Chính xác là con đang làm gì thế?” Bà Marcia tra hỏi.

Septimus giật thót mình tẽn tò đứng lên, vội đẩy tập giấy xuống dưới quyển sách mà đáng lý ra nó đang phải đọc. “Không làm gì ạ,” Nó láp váp.

“Đó chính xác là điều ta nghĩ con đang làm,” bà nghiêm khắc. Bà dò xét thằng Học Trò, cố gắng, nhưng xem ra không thành công, giữ vẻ nghiêm nghị. Trong ánh mắt xanh lá cây thông minh của Septimus thoáng có nét hoảng hốt và mái tóc quăn màu rơm của nó rối bù, theo kiểu bà Marcia biết là tại nó xoắn vặn tóc trong khi tập trung. “Để phòng trường hợp nó thoát khỏi trí nhớ của con rồi, ta nhắc là con phải ôn tập để kiểm tra Thực hành Tiên tri vào sáng mai đấy.Đừng phí phạm thời gian đọc cái đống cũ rích năm trăm năm đó nữa.”

“Không phí phạm đâu ạ,” Septimus phản bác. “Nó...”

“Ta biết nó rõ mười mươi là cái gì. Ta đã dặn con hoài. Giả Kim thuật là đồ nhảm nhí và hoàn toàn mất thời gian. Thà con đi luộc vớ của con rồi chờ chúng biến thành vàng còn hơn.”

“Nhưng con không đọc về Giả Kim thuật,” Septimus phản đối. “Con đọc về Y thuật.”

“Có gì khác nhau,” bà Marcia nói. “Là Marcellus Pye chứ gì?”

“Dạ, phải. Ông ấy giỏi lắm.”

“Lão ấy chẳng ích lợi gì hết, Septimus.” Bà Marcia lần xuống dưới quyển Những Nguyên lí Thực hành Tiên tri Cơ bản mà Septimus vừa luýnh quýnh đặt lên trên cùng, và rút ra một thếp giấy vàng vọt, bở bùng bục đầy những dòng chữ cụt lủn, mờ mịt. “Ái chà chà. Đây chỉ là những dòng ghi chú của lão ấy thôi.”

“Con biết. Tiếc là quyển sách của ông ấy đã biến mất.”

“Hừmm. Đến giờ con phải đi ngủ rồi. Ngày mai còn dậy sớm nữa. Đúng bảy giờ bảy phút, không chậm một giây. Hiểu chứ?”

Septimus gật đầu.

“Ừ, thế thì đi đi.”

“Nhưng, thưa bà Marcia...”

“Hả?”

“Con thật sự mê thích Y Thuật. Bà Marcellus lại kiệt xuất nhất về nó. Ông ấy biết tất cả các loại thuốc và những phương pháp chữa bệnh hiệu dụng, ông ấy cũng hiểu rõ tại sao con người mắc bệnh. Bà nghĩ con có thể học về nó được không?”

“Không,” bà Marcia thẳng thừng. “Con không cần nó,Septimus. Pháp Thuật có thể làm được tất cả những gì Y Thuật làm.”

“Nhưng nó không chữa được dịch bệnh,” Septimus bướng bỉnh.

Mà Marcia dẩu môi. Septimus không phải là người đầu tiên chỉ ra điều này. “Được chứ,” bà khăng khăng. “Chữa được mà. Ta chỉ phải nghiên cứu thôi... Cái gì thế?”
Một tiếng xoảng chói tai vọng tới từ nhà bếp cách hai tầng lầu bên dưới và bà Marcia vọt biến đi.

Septimus thở dài. Nó cất xấp giấy của Marcellus trở vào chiếc hộp cũ nó đã tìm thấy trong xó bụi, thổi tắt nến và xuống lầu đi ngủ.

Septimus ngủ chập chờn.  Cả tuần nay đêm nào nó cũng mơ đúng cơn ác mộng về kì kiểm tra đó, và đêm nay cũng không ngoại lệ. Nó mơ thấy mình thi trượt, bị bà Marcia đuổi bắt, và ngã vào một ống khói, rơi xuống, rơi, rơi mãi... Nó cố tóm víu vách tường để ngừng rơi nhưng vẫn cứ rơi... rơi... rơi... vô tận.

“Vật nhau với chăn mền hả, Septimus?” Một giọng nói quen thuộc cất vang vang từ ống khói. “Trông như con đánh mất cái gì vậy,” vẫn giọng nói đó kèm theo tiếng cười khà. “Đắp tới hai cái mền là chẳng thông minh đâu, chàng trai. Một còn được, chứ hai thì thảo nào chúng kéo bè ăn hiếp con. Cái lũ chăn mền ác ôn.”

Septimus cố bứt mình ra khỏi giấc mơ và ngồi dậy, thở dốc trong luồng không khí mùa thu lạnh ngắtđã theo ngài Alther Mella vào phòng qua đường cửa sổ.

“Con ổn chứ?” Ngài Alther lo lắng hỏi. Con ma thoải mái ngồi xuống giường Septimus.

“É... é... gì ạ?” Septimus lúng búng, khó nhọc tập trung vào hình hài hơi trong suốt, nhẹ bâng của ngài Alther Mella, cựu Pháp sư Tối thượng, vị khách quen của tháp Pháp sư. Không khó nhìn thấy ngài Alther như mấy con ma già trong Lâu Đài, nhưng đêm đến, lớp áo thụng màu tía đã phai của ngài rất dễ nhòa tan vào cảnh vật, và ánh sáng lù mù càng khiến ta khó thấy vệt máu màu nâu sậm nơi tim ngài, cái vệt máu mà Septimus luôn bị hút mắt vào, bất chấp nó cố cưỡng lại thế nào đi chăng nữa. Đôi mắt xám xanh lá cây già nua của ngài Alther nhìn đứa Học Trò cưng của mình với vẻ điềm tĩnh và hiền từ.

“Lại ác mộng đó à?” Ngài Alther hỏi thăm.

“Ừm. Dạ phải,” Septimus thú nhận.

“Lần này con có nhớ dùng bùa Khinh Công không?”

“Không ạ. Có lẽ lần sau con sẽ nhớ.  Có điều con hy vọng đừng có lần sau nữa. Thật là một giấc mơ khủng khiếp.” Septimus rùng mình kéo một trong những tấm mền khó bảo lên tận cằm.

“À... àm. Giấc mơ đến với chúng ta đều có lí do cả. Có khi nó báo cho ta về điều ta cần biết,” ngài Alther đăm chiêu, trôi lều phều lên khỏi gối và duỗi thẳng người ra cùng với tiếng rên rẩm của ma. “Nào, ta nghĩ có lẽ con sẽ thích một chuyến đi ngắn xuống nơi mà ta biết là không xa đây lắm.”

Septimus ngáp. “Nhưng còn bà Marcia thì sao?” Nó hỏi với giọng ngái ngủ.

“Bà Marcia lại tái phát cơn nhức đầu nữa rồi,” ngài Alther bảo. “Ta chả hiểu sao cô ấy lại mất công đi nổi tam bành với cái bình cà phê ngang ngược đó. Phải ta thì ta đã vứt quách nó đi lâu rồi. Cô ấy ngủ rồi nên không cần quấy rầy cô ấy. Vả lại, chúng ta sẽ trở về trước khi cô ấy biết chúng ta đã đi.”

Septimus không muốn ngủ tiếp, sợ lại mơ nữa. Nó lảo đảo ra khỏi giường và khoác chiếc áo chẽn Học Trò bằng len – được xếp ngay ngắn ở thành giường đúng cách như nó để đồng phục Thiếu sinh quân hàng đêm trong suốt mười năm đầu đời của nó – và thắt đai lưng bạc của Học Trò vào.

“Sẵn sàng chưa?” Ngài Alther hỏi.

“Sẵn sàng,” Septimus đáp. Nó hướng ra cửa sổ mà ngài Alther đã khiến cho mở lúc ngài tới. Leo lên bậu cửa sổ thông thống bằng gỗ và đứng hẳn trong khung cửa sổ mở, nhìn xuống khoảng không dựng đứng hai mươi mốt tầng, một việc mà cách đây vài tháng trong mơ nó cũng không dám làm, bởi vì nó vốn sợ độ cao. Nhưng bây giờ Septimus không còn sợ nữa, căn nguyên là nhờ cái vật nó đang nắm chắc trong bàn tay trái mình – bùa Khinh Công.

Septimus cẩn thận cầm lấy mũi tên nhỏ bằng vàng có chùm đuôi bạc tinh tế ra cầm giữa ngón trỏ với ngón cái. “Chúng ta sẽ đi đâu?” Nó hỏi ngài Alther – ngài đang lượn lờ trước mặt nó, mãi lo hoàn thiện cú nhảy giật lùi.

“Hốc Tường,” ngài Alther đáp, lộn ngược đầu xuống đất. “Một nơi tuyệt vời. Đáng lẽ ta phải nói cho con biết về nó rồi.”

“Nhưng đó là quán rượu,” Septimus phản đối. “Con còn quá nhỏ để vào quán rượu. Bà Marcia bảo nơi đó toàn...”

“Dào, con để ý những điều Marcia rủa xả về quán rượu làm gì,” ngài Alther bảo nó.

“Marcia có một học thuyết rất lạ đời rằng thiên hạ tới quán rượu chỉ để nói xấu sau lưng cô ấy. Ta đã bảo cô ấy là người ta còn thiếu gì thứ thú vị hơn cô ấy nhiều để mà thảo luận – như giá cá tép chẳng hạn – nhưng cô ấy không tin ta.”

Ngài Alther lộn lên trở lại và giữ thăng bằng tại chỗ ngay trước mặt Septimus. Con ma ngắm cái thân hình mảnh khảnh trên bậu cửa sổ, mái tóc xoăn thổi tốc trong gió rít quanh đỉnh tháp Pháp sư, và đôi mắt xanh lá cây lóe lên ánh sáng Pháp Thuật khi bùa Khinh Công ấm lên trong tay nó. Dẫu đích thân ngài Alther đã hướng dẫn Septimus thực hành Khinh Công suốt ba tháng qua – kể từ khi thằng bé tìm thấy bùa Khinh Công – nhưng ngài vẫn thấy chờn chợn khi nhìn thằng bé đứng trên độ cao chết người này.

“Ngài bay trước đi ạ,” Septimus nói, giọng nó bị gió đánh bạt.

“Hả?”

“Ngài bay trước được chứ, thưa ngài Alther?”

“Được. Nhưng trước tiên ta phải nhìn con xuất phát đã. Để bảo đảm con làm đúng và giữ được thăng bằng.”

Septimus không phản đối. Nó thích bay cùng với ngài Alther, và hồi đầu mới tập Khinh Công, nó đã một hay hai lần mừng húm vì có lời khuyên của con ma, trong đó đáng nhớ nhất là cú đáp kinh hoàng suýt đâm sầm xuống mái Văn phòng Sao lục. Lần ấy Septimus định bụng sẽ khoe tài với anh bạn Beetle, nhưng hên nhờ ngài Alther tạo một làn khí dâng lên đột ngột, đỡ lấy Septimus và đưa nó an toàn xuống sân sau. Thoát nạn, Septimus không hó hé gì đến chuyện tạo ấn tượng nữa.

Bùa Khinh Công bắt đầu nóng ran trong tay Septimus. Giờ xuất phát điểm rồi. Hít vào một hơi thật sâu, Septimus quăng mình vào màn đêm. Trong khoảnh khắc, nó cảm thấy trọng lực nặng như chì lôi tuột thân mình về phía mặt đất, và rồi điều nó yêu thích xảy ra: lực kéo xuống biến mất và nó tự do, tự do như chim bay vút lên, nhào lộn và xoáy tít trên bầu trời đêm, được bùa Khinh Công nâng đỡ an toàn.

Ngay lúc bùa Khing Công kích hoạt, ngài Alther thả lỏng người, bay vượt lên trước Septimus, cánh tay dang rộng như đôi cánh chim ưng lướt gió, trong khi Septimus theo sau loạng choạng hơn, cố thử những chiêu mới – vượt chướng ngại vật hình dích dắc.

Họ lao đến quán Hốc Tường một cái bùm – hay đúng hơn chỉ có Septimus rớt cái bùm. Ngài Alther xuyên thẳng qua bức tường, bỏ lại Septimus áp dụng những kỹ thuật vượt chướng ngại vật hình dích dắc và đáp phịch vô đám bụi rậm mọc kín lối vào xiêu vẹo của quán rượu.

Vài phút sau ngài Alther quay trở ra thì thấy Septimus lồm cồm chui khỏi bụi rậm. “Xin lỗi, Septimus,” ngài Alther áy náy. “Ta vừa gặp Olaf Snorrelssen xong. Một tay dễ mến đó. Một lái buôn phương Bắc, không bao giờ về được nhà để nhìn mặt đứa con mới sinh của mình. Buồn thảm thiết. Âu sầu không người, nhưng hắn là người tốt. Ta luôn bảo hắn hãy bứt khỏi đây mà đi thăm thú Lâu Đài đi, nhưng hắn chả đi đâu được ngoài khu Chợ Phiên và quán Cá Bơn. Cho nên đành ngồi tịt ở đây ngó vại bia của mình.”

Septimus phủi mấy chiếc lá dính vào áo chẽn, nhét bùa Khinh Công trở lại đai lưng Học Trò và khảo sát lối vào Hốc Tường. Nó thấy nơi này chả có gì giống quán rượu. Trông như một đống đá đắp vào chân tường Lâu Đài hơn. Không thấy vết tích cửa ra vào đâu. Mà thực ra cũng không có cửa, không có cả cửa sổ sáng choang, mời gọi mà Septimus quen thấy ở các quán rượu, bởi vì, làm gì có cửa sổ. Trong khi Septimus đang bán tính bán nghi ngài Alther chơi khăm mình, thì một con ma nữ tu bay sượt qua.

“Chào ngài Alther,” nữ tu cất giọng du dương.

“Chào xơ Bernadette,” ngài Alther cười tươi đáp lại. Bà xơ vẫy ngài một cái tình tứ rồi biến bụt vào đống đá. Có một hiệp sĩ đeo băng treo cánh tay bám theo bà, ông này cẩn thận cột con ngựa khập khiễng của mình vào một cây cột vô hình rồi lết vào bụi rậm nơi Septimus vừa cố thoát ra. “Xem ra đêm nay là một đêm bận rộn đây, chúng ta có vài vị khách mới,” ngài Alther tư lự, gật đầu kiểu cách chào ông hiệp sĩ.

“Nhưng... họ là ma mà,” Septimus bảo.

“Phải, dĩ nhiên họ là ma. Đó là bản chất của quán rượu này. Mọi con ma đều được đón tiếp nồng hậu ở đây; nhưng người sống phải có lời mời mới vào được. Không dễ gì nhận được lời mời đâu đấy, ta cam đoan với con thế. Ít nhất phải có hai con ma mời một lúc. Đương nhiên, bao năm rồi cũng có nhiều kẻ hấp hơi chuồn vào, nhưng nơi này vẫn là nơi tuyệt mật.”

Có ba vị Pháp sư Tối thượng Cổ Nhân mờ nhạt vừa tới, đang bít lối vào vì bận lưỡng lự xem ai sẽ qua trước. Septimus lễ phép gật đầu chào hỏi họ và hỏi ngài Alther, “Thế con ma kia mời con là ai vậy?”

Ngài Alther, mải nhìn ba vị Pháp sư Tối thượng cười khà quyết định đi vào chung một lượt, nên không trả lời. “Đi, theo ta nào cưng,” ngài nói rồi tan biến qua bức tường. Một lát sau ngài Alther trở lại và giục giã, “Mau lên, Septimus, không nên để Nữ hoàng Etheldredda chờ.”

“Nhưng con...”

“Cứ lách qua bụi rậm rồi vòng ra sau đống đá. Con sẽ tìm thấy lối vào.”

Septimus ép mình chui qua bụi rậm, mò mẫm đi trong ánh sáng trợ giúp từ chiếc Nhẫn Rồng nó đeo ở ngón trỏ tay phải; nó thấy một lối đi chật hẹp đằng sau đống đá, dẫn nó tuồn sâu vào một không gian rộng, thấp, khuất bên trong bức tường thành Lâu Đài – quán rượu Hốc Tường.

Septimusb bàng hoàng sửng sốt – chưa bao giờ trong đời nó thấy nhiều ma tụ tập tại một chỗ đến thế. Septimus đã quen thấy ma quanh Lâu Đài, bởi nó vốn dĩ là típ bé trai nhạy cảm mà ma rất thích Hiện Hình với nó, kể từ khi khoác bộ áo thụng xanh lá cây của Học Trò Pháp sư Tối thượng, Septimus để ý thấy thậm chí còn nhiều ma muốn Hiện Hình với mình hơn. Thế nhưng trong bầu không khí xuề xòa của quán Hốc Tường – cộng với việc nó đi cùng với ngài Alther, một trong những khách quen nổi tiếng nhất nơi này – có điều gì đó hàm ý rằng hầu hết ma đều muốn để cho Septimus trông thấy họ. Quả là một khung cảnh choáng sốc: những con ma Pháp sư Tối thượng mang phong thái bình dân, tất cả đều diện áo thụng màu tía nhưng đủ kiểu khác nhau, phản ánh mốt thời trang qua nhiều thời đại – Septimus thường thấy những kiểu áo này đi loanh quanh Cung Điện và tháp Pháp sư. Lại còn một số lượng công chúa và nữ hoàng đông đến kinh ngạc. Tuy nhiên cũng có nhiều con ma Septimus chưa từng thấy bao giờ: những hiệp sĩ đi cùng tiểu đồng, những nông dân dắt theo vợ, rồi thủy thủ và nhà buôn, thợ chép và học giả, kẻ lang thang và thợ hàn nồi, và tất tật các tầng lớp cư dân của Lâu Đài trong suốt mấy ngàn năm qua, ai nấy đều đang bưng đúng chiếc cốc vại mà quán Hốc Tường đã phục vụ họ trong lần đầu tiên đến quán và không bao giờ cần phải rót đầy lại.

Tiếng nói chuyện âm âm u u kiểu ma chiếm lĩnh bầu không khí, tiếp nối những cuộc đàm đạo bắt đầu từ nhiều thiên niên kỷ trước theo một cung cách lờ lững, uể oải. Nhưng ở một góc xa tít kia, có một hình ma vương giả nghe thấy tiếng bước chân ngập ngừng của một thằng bé còn sống len lỏi qua đám đông. Mụ liền đứng dậy khỏi chiếc ghế bên cạnh đống lửa và lướt ào ào qua biển ma, và biển ma ấy kính cẩn rẽ đường cho mụ đi.

“Septimus Heap,” Nữ hoàng Etheldredda nghiến ngấu. “Trễ năm phút rưỡi, nhưng không sao. Ta đã đợi năm trăm năm rồi. Theo ta.”


Tìm kiếm với từ khoá:
Được thanks
Xem thông tin cá nhân
      Xin ủng hộ:  
       
Trả lời đề tài  [ 52 bài ] 
     
 



Đang truy cập 

Không có thành viên nào đang truy cập


Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể viết bài trả lời
Bạn không thể sửa bài của mình
Bạn không thể xoá bài của mình
Bạn không thể gởi tập tin kèm
Hi, Khách 
Anonymous

Tên thành viên:

Mật khẩu:


Đề tài nổi bật 
[Cổ đại - Trùng sinh] Nữ nhi Lạc thị - Yên Nùng

1 ... 114, 115, 116

2 • [Hiện đại] Mật máu cố yêu - Thủy Nguyệt Huyên

1 ... 27, 28, 29

3 • [Hiện đại - Trùng sinh] Vợ xấu thành vợ hiền - Thiển Toái Hoa

1 ... 14, 15, 16

4 • [Hiện đại] Gái ế khiêu chiến tổng tài ác ma - Tịch Mộng

1 ... 106, 107, 108

5 • [Hiện đại] Tình yêu bá đạo Triền miên với đệ nhất phu nhân - Thiên Diện Tuyết

1 ... 76, 77, 78

6 • [Hiện đại] Không yêu sẽ không quay lại - Gia Diệp Mạn

1 ... 35, 36, 37

7 • List truyện ngôn tình hoàn + Ebook [Update 14/09]

1 ... 51, 52, 53

8 • [Hiện đại] 1001 Đêm Tân Hôn - Thiên Nam Hy

1 ... 172, 173, 174

9 • [Xuyên không] Nữ nhân sau lưng đế quốc Thiên tài tiểu vương phi - Vệ Sơ Lãng (phần 1)

1 ... 165, 166, 167

10 • [Xuyên không - Trùng sinh - Dị giới] Độc y thần nữ phúc hắc lãnh đế cuồng sủng thê - Nguyệt Hạ Khuynh Ca

1 ... 133, 134, 135

11 • [Xuyên không] Nữ nhân sau lưng đế quốc Thiên tài tiểu vương phi - Vệ Sơ Lãng (phần 2)

1 ... 165, 166, 167

12 • [Cổ đại] Tiểu sủng phi của nhiếp chính vương - Thụy Tiếu Ngốc

1 ... 50, 51, 52

13 • [Hiện đại] Tình sinh ý động - Tùy Hầu Châu

1 ... 36, 37, 38

List truyện Xuyên không + Chủng điền văn + Trùng sinh hoàn (Update ngày 14/9)

1 ... 64, 65, 66

15 • [Cổ đại Trùng sinh] Sủng Phi Đường - Đinh Đông Nhất

1 ... 37, 38, 39

16 • [Hiện đại] Sổ tay yêu đương của người sói - Khấu Tử Y Y

1 ... 36, 37, 38

17 • [Cổ đại] Thiên kim sủng Tà y hoàng hậu - Thiên Mai

1 ... 49, 50, 51

18 • [Xuyên không] Nữ nhân sau lưng đế quốc Thiên tài tiểu vương phi - Vệ Sơ Lãng (phần 3)

1 ... 166, 167, 168

[Cổ đại - Trùng sinh] Cuồng hậu ngoan ngoãn để trẫm sủng - Thủy Thanh Thiền

1 ... 39, 40, 41

20 • [Hiện đại] Quỷ xâm - Chích Thì Giới 99

1, 2, 3, 4, 5


Thành viên nổi bật 
Nminhngoc1012
Nminhngoc1012
Nana Trang
Nana Trang
Tuyết Vô Tình
Tuyết Vô Tình

Tiểu Linh Đang: bạn xem những điều đổi mới ở đây để được rõ hơn nhé viewtopic.php?t=407286
Phan Quyên: thân, là tại diễn đàn đổi mới nhanh quá hay tại mình vào nhầm?
Tiểu Linh Đang: pr viewtopic.php?t=394850&p=3256548#p3256548
Tú Vy: Hầy bạn bàng hoàng... sau nhiều năm bạn vẫn thích tanemura arlna...
Tiểu Cương Ngư: Ahihi oppa lại pm :D3
Tú Vy: Mới thấy rank thành viên xuất sắc dễ thương ghê... ahihi...
Tuyết Vô Tình: ==
Tú Vy: Haizz... Hồi đầu đọc ngược... đọc ngược một hồi thấy cẩu huyết quá thì chuyển sang nữ cường... đọc riết thấy bàn tay vàng quá chuyển qua đọc sủng... giờ sâu răng rồi chuyển qua sắc cho tình thú... cơ mà sắc thì cũng chai chai rồi giờ ngược sủng... ôi... :hixhix:
Tiểu Cương Ngư: Giề
Nalu0o0: Tiêu Dao trụ trì đã lâu ko gặp
Tiêu Dao Tự Tại: Haha đang đinh cho tình ra đảo. Hay lắm sun
Tiêu Dao Tự Tại: Tình :chair: có thích ra đảo k
LogOut Bomb: Nalu0o0 -> Tuyết Vô Tình
Lý do: Con ko thích ra ĐẢO!!! Cho con ra đảo nè :v
Độc Bá Thiên: Tiễn Heo vô giấc mộng đẹp :sleep: ầu ơi à ời
Tuyết Vô Tình: pp heo con :P
Heo Heo Con: That wa,,,oi ngu day bye
Tuyết Vô Tình: thiên tiêu ngọc vẫn :P
Độc Bá Thiên: Tiêu *chụt chụt kịt kịt*
Tiêu Dao Tự Tại: Thiên kk :">
LogOut Bomb: Tuyết Vô Tình -> Sunlia
Lý do: =))) cho con ra đảo nhé nhớ mặt sư phụ :P
Heo Heo Con: Oi minh wen chuc tinh nua cu say giac nong,khong can mong mi.cu y nhu 1 giac ngu ngan nam y,dung bac chuoc heo nha hihi
Sunlia: tối mát ^^
Tuyết Vô Tình: gì ủi "Hey" chi?
Tuyết Vô Tình: hòm thì cất giữ   búp bê rồi tùy phong :D2
Tiểu Cương Ngư: 헤이
Heo Heo Con: Duong nhien ,ngu la bon su cua heo ma,  con ai kia xin bao trong,.
Độc Bá Thiên: Thiên ko nuôi thiếp...Thiên chỉ có honì , và Tiêu thôi
Tuyết Vô Tình: bình an say giấc :P cứ giốnng như mãi mãi chìm vào giấc ngủ ý :P
Độc Bá Thiên: Chúc Heo bình an say giấc :wave3: :sleep:
Tiểu Cương Ngư: ???

Powered by phpBB © phpBB Group. Designed by Vjacheslav Trushkin.